IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

8 Pages: V « < 5 6 7 8 >  
Reply to this topicStart new topic
> VềPHẬT (Của HOAHẠ)
hoaha
post Mar 18 2016, 07:56 AM
Gửi vào: #121


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



PHÁP NHẪN BA LA MẬT
Tác giả : Gyalwang Drukpa XII
http://www.google.com/url?q=http%3A%2F%2Fw...jxHGqnoOqE578uQ

Thế nào là "pháp nhẫn ba la mật"?

Đó là phương pháp nhẫn nhịn, kham nhẫn, chịu đựng mọi chuyện trên đời, mọi cơn sóng gió của thế gian. Đó là phương pháp "nhẫn nhịn mà không thấy nhục nhã" như người đời thường nghĩ. Bởi vì, nếu nhẫn nhịn mà còn thấy là nhục nhã, thì chúng ta chỉ có thể nén giận để nhịn, chắc là không lâu, không quá ba lần.
Chúng ta nên nhận định một cách sáng suốt rằng những lời thị phi "không có nghĩa" gì cả, cho nên chúng ta "không cần chấp" làm gì. Chúng ta không chấp vào những lời nói, phê bình, chỉ trích, mạ lị, miệt thị, vu khống, vu cáo, thay trắng đổi đen, lộng giả thành chơn, thì chắc chắn chúng ta sẽ an ổn, bình yên, không ai xâm phạm được.
Thí dụ như khi người ta đưa lửa tới đốt, chúng ta đưa bổi ra đón, lửa có điều kiện cháy lớn hơn. Nếu chúng ta không đón ngọn lửa do người ta đem tới, thì ngọn lửa đó chỉ đốt hư không mà thôi, hư không không có gì để đốt cháy được, lúc nào đó lửa cũng sẽ tắt queo, không gây thiệt hại gì! Cũng vậy, khi bị người khác công kích, chỉ trích, mạ lị, miệt thị, chúng ta không chấp vào đó, coi chuyện đó là những chuyện "đương nhiên phải có" ở thế gian đầy tranh chấp, ganh tị, đố kỵ, chúng ta sẽ an ổn, bình yên, không ai xâm phạm được.
Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, gọi tắt là Kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy: đó là "thập như thị", tức là mười thứ như thị, gồm có: như thị tánh, như thị tướng, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhơn, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh.
Nghĩa là: do tâm tánh của con người như vậy cho nên hình tướng của con người là như vậy; do bản thể của con người như vậy cho nên nghiệp lực của con người là như vậy; do tạo tác của con người như vậy gây ra nghiệp nhơn như vậy cộng thêm nghiệp duyên như vậy cho nên nghiệp quả của con người là như vậy; vì nghiệp báo của con người như vậy cho nên từ xưa đến giờ cứu cánh của con người cũng là như vậy.
Hiểu được mười điều đương nhiên như thị, như thế, như vậy, tức là chúng ta đã thấy tột chơn tướng của mọi pháp trên thế gian này. Được như vậy, được như thế, được như thị, chúng ta sẽ sống đời an lạc và hạnh phúc, bởi vì chúng ta đã giác ngộ và giải thoát. Nhưng làm thế nào thực hành được pháp nhẫn ba la mật?

Câu trả lời đó là: "Người muốn thực hành được pháp nhẫn ba la mật, phải đạt được trạng thái vô ngã".
Trước hết, người đạt được "trạng thái vô ngã" là người không còn chấp "cái ta" tầm thường, như mọi người trên thế gian này thường chấp.
Người đời thường chấp, thường cho rằng, tấm thân tứ đại mấy chục ký lô chính là "mình", chính là "ta".
Khi được hỏi mình là ai, người đời thường chỉ ngay ngực, hay chỉ vào tấm thân tứ đại nặng nề và trả lời: Ta đây nè! Cho nên, hể ai đụng đến "ta", thì phải phản ứng ngay, phải đối phó ngay, nhịn không nổi, nín không được.
Trái lại, người đạt được "trạng thái vô ngã" là người hiểu rõ ràng: tấm thân, do đất nước gió lửa hợp thành này, không phải là "ta" thực sự.
Đó chỉ là cái trạm dừng tạm thời của kiếp này, trong vô số kiếp, của "ta" mà thôi. Đến khi mãn kiếp này đời này, "ta" sẽ bỏ lại cái tấm thân đó mà ra đi, tìm cái thân xác khác, trong sáu nẻo luân hồi. Nếu không khéo, do lòng tham lam lâu đời dẫn dắt, "ta" lại chọn nhằm cái thân con heo, hoặc do lòng sân hận lâu đời dẫn dắt, "ta" lại chọn nhằm cái thân con rắn mãng xà, hay do lòng si mê lâu đời dẫn dắt, "ta" lại chọn nhằm cái thân con bò, thì khốn khổ biết là bao nhiêu.
Sở dĩ gọi đó là "tấm thân tứ đại", do "đất nước gió lửa" hợp thành, bởi vì nếu không có những chất từ đất ra như thức ăn, những chất từ nước như thức uống, những chất từ gió như dưỡng khí, những chất từ lửa như hơi ấm, bồi bổ liên tục mỗi giây, mỗi phút, mỗi giờ, mỗi ngày, thì chúng ta đã vong mạng từ lâu rồi vậy.
Đó chỉ là "tấm thân tứ đại", không phải thực là "ta" vậy.

Thứ đến, người đạt được "trạng thái vô ngã" là người hiểu rõ ràng: tâm trạng của mình luôn luôn thay đổi trong từng sát na, trong từng giây phút. Những tâm niệm, những suy tư, nghĩ tưởng trong giây phút trước đây, bây giờ đã khác đi hay không còn nữa. Tâm tánh của mình có khi hiền thiện như thánh nhơn, cũng lắm khi độc hại còn hơn ác quỉ. Mình chỉ thấy mọi người khác gian ác, mọi người khác nguy hiểm, mọi người khác sai lầm, đáng bị trừng phạt, đáng bị bỏ tù, đáng bị xử tử, để cho xã hội này, cho thế gian này, trong đó có mình, được sống bình yên, được hưởng sung sướng! Con người thường thấy là mình đúng, khi đòi hỏi phải trừng phạt thật nặng, đòi hỏi phải bỏ tù rục xương, đày đọa địa ngục, xô xuống hỏa ngục, những người khác phạm tội ác.
Con người thường suy nghĩ, sáng chế, yêu cầu thi hành những hình phạt ghê rợn nhất để trừng phạt, trừng trị đích đáng những phạm nhân đã sát hại thân nhân mình và nghĩ rằng người quá cố sẽ vui lòng nơi suối vàng. Thực ra, đó là tâm trạng của chính mình muốn như vậy mà thôi. Người đã chết có nói gì đâu, có yêu cầu gì đâu, có đòi hỏi gì đâu? Bởi vậy có câu: "Suy bụng ta ra bụng người... chết! ".
Mấy ai nghĩ được rằng: nếu làm như vậy, cả hai gia đình phạm nhân và nạn nhân cũng đều thiệt hại một nhân mạng, đều cùng đau khổ như nhau. Thỉnh thoảng báo chí cũng có đăng các tin rất cảm động, gia đình nạn nhân xin giảm tội, xin xử nhẹ tội, hay xin tha tội cho phạm nhân.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ân báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Con người thường nhân danh công lý, nhân danh tôn giáo, nhân danh lẽ phải, nhân danh thượng đế, nhân danh đủ các thứ có thể nhân danh được, để kết án, kết tội, trừng trị tất cả mọi người khác. Còn nếu mình phạm tội thì đáng được tha thứ, phải được tha thứ, người khác thì không đáng được! Cái chỗ bất công này là nguyên nhân chính, đưa tới xáo trộn, biến loạn trong xã hội là như vậy.
Cuối cùng, người đạt được "trạng thái vô ngã" chính là người không còn chấp "cái ta" tầm thường như mọi người trên thế gian này thường chấp. Người đạt được"trạng thái vô ngã" là người hiểu rõ ràng rằng: "ta" không phải là cái thân tứ đại nặng nề, và cũng không phải là cái tâm suy nghĩ lăng xăng lộn xộn thường ngày, bởi vì những thứ đó bị vô thường chi phối, nay còn mai mất, chợt hiện chợt biến, không tồn tại vĩnh viễn.
Như vậy, "cái gì" tồn tại vĩnh viễn, không bị vô thường chi phối, "cái gì" bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, theo như Đức Phật chỉ dạy trong Bát Nhã Tâm Kinh?
Đó chính là "cái ta chơn thật", đó chính là "con người chơn thật" của tất cả chúng ta.
Mục đích cứu kính rốt ráo tột cùng của Đạo Phật chính là nhằm khai mở, chỉ bày "con người chơn thật" đó cho mọi người biết được, hiểu được, ngộ được, nhập được, sống được. Người nào được như vậy tức là được giác ngộ và giải thoát, được an lạc và hạnh phúc hiện đời.
Trong kinh sách, Đức Phật có dạy: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn".Nghĩa là trên trời dưới đất chỉ có "cái ta chơn thật" là điều độc nhứt đáng tôn trọng, đáng trân quí mà thôi.

Cũng trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật có dạy:
Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn.
Nghĩa là:
Nếu chúng ta ngộ được, nhập được, sống được bằng "con người chơn thật" không tướng mạo, nên không dơ, không sạch, không tăng, không giảm, không kẹt nhị biên, thể nhập bất nhị pháp môn, thì tâm chúng ta không bị bất cứ cái gì có thể khủng bố, nên không còn sợ hãi, do không còn sợ hãi nên không có gì có thể khiến cho mình kinh khiếp hoảng sợ, chúng ta xa lìa được tất cả các chuyện điên đảo đảo điên, các chuyện mộng mơ mơ tưởng, các chuyện không thực ở thế gian, cuối cùng đạt được cảnh giới niết bàn vô sanh, không còn phiền não khổ đau, không còn sinh tử luân hồi.Đó mới chính thực là mục đích cứu kính của người theo đạo Phật bằng trí tuệ bát nhã.

Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy rằng: Người nào ôm ấp tâm niệm nó mắng tôi, nó chửi tôi, thì không phải là người trí, chỉ chuốc khổ vào thân thôi. Người nào không ôm ấp những tâm niệm như vậy, thì người đó dẹp được lòng sân hận.
Nghĩa là chúng ta đã thấy rõ như trên, bất cứ ai dù bị mắng chửi, bị mạ lỵ hay không bị mắng chửi, không bị mạ lỵ, mà cứ ôm ấp tâm niệm đó trong lòng, thì chỉ chuốc lấy phiền não và khổ đau cho chính mình, có khi còn đem lại bất an cho gia đình, cho những người chung quanh nữa mà thôi.
Trong suốt những năm dài thuyết pháp độ sanh, Đức Phật luôn luôn khuyến khích mọi người nên thực hành hạnh nhẫn nại, nhẫn nhịn đến mức rốt ráo, cao tột, trong kinh điển gọi là "pháp nhẫn ba la mật". Đức Phật luôn luôn hành pháp nhẫn nại, dù lắm khi Ngài cũng bị chỉ trích, bị chửi mắng, thậm chí bị tấn công. Nhẫn nại không bao giờ là dấu hiệu của sự yếu đuối, ươn hèn, kém cỏi, chủ bại, đầu hàng, nhục nhã.
Trái lại, nhẫn nại là sức mạnh bất khuất, sức mạnh vạn năng, sức mạnh vô song của người tự chủ, của người đã ngộ được và sống được với "cái ta chơn thật", cho nên không còn sợ bị chúng khinh khi, không còn sợ chúng "được đằng chân lân đằng đầu", không còn sợ chúng "được nước làm tới".
Tại sao vậy?
Bởi vì "cái ta chơn thật" không phải là tấm thân tứ đại, không có tướng mạo, cho nên không ai có thể xâm phạm được.
Điều nên sợ, đáng sợ chính là mình không thể kham nhẫn được, không thể chịu đựng nỗi, không thể tự thắng mình, không thể tự chủ được bản thân và bản tâm mình trước những thử thách, trước những sóng gió của cuộc đời mà thôi.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 21 2016, 11:47 AM
Gửi vào: #122


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Bài kệ Thị Tịch của Thiền Sư Tịnh Giới

Lê Huy Trứ

Bài kệ nổi tiếng Thị Tịch của Thiền sư Tịnh Giới đã được rất nhiều bật ‘sư tổ’ luận bàn nên tôi không dám múa rìu qua mắt thợ bằng cách nhai đi nhai lại ý của những tiền bối. Tôi chỉ xin trình bài nó qua một lăng kính khác...thường, không giống ai vì tôi bị méo mó tuệ nhãn thấy cái gì cũng ‘sang trang chạy quàng’ như thi sĩ ‘không tỉnh’ Bùi Giáng.

THIỀN SƯ TỊNH GIỚI

Thiền sư Tịnh Giới (?-1207) họ Chu tên là Hải Ngung, người đất Giang Mão (?) Lúc nhỏ theo học Nho, năm 26 tuổi xuất gia, đắc pháp nơi Thiền sư Bảo Giác, chùa Viên Minh, là thế hệ thứ 10 của thiền phái Vô Ngôn Thông đời Lý. (Thiền Sư Việt Nam, Phần II, Thi Tụng Các Thiền Sư Đời Lý, trang 193.)
Sau đây là một trong hai bài kệ thị tịch nổi tiếng của Ngài :

示寂
秋來涼氣爽胸襟,
八斗才高對月吟。
堪笑禪家癡鈍客,
為何將語以傳心

Âm:
Thử thời thuyết đạo hãn tri âm
Chỉ vị như tư tán đạo tâm.
Hề tợ Tử Kỳ đa sảng sấm,
thính lai nhất đạt Bá Nha cầm.
*
Thu lai lương khí sảng hung khâm,
Bát đấu tài cao đối nguyệt ngâm.
Kham tiếu thiền gia si độn khách,
Vi hà tương ngữ dĩ truyền tâm.
Dịch:
Thời nay giảng đạo hiếm tri âm,
Chỉ bởi vì người mất đạo tâm.
Nào khác Tử Kỳ giỏi nghe nhạc,
Nghe qua suốt cả Bá Nha cầm.
*
Thu về mát mẻ thích trong lòng,
Tám đấu tài cao hát thong dong.
Cửa thiền những thẹn người si độn,
Biết lấy câu gì để truyền tâm.

Giảng:
Đại khái, trong bài thơ ‘than thở’ này bốn câu đầu Ngài than thời Ngài giảng đạo có hiếm người hiểu mình vì họ đã đánh mất đạo tâm, không được hữu duyên thiên lý năng tương ngộ với kẻ tri âm, tri kỷ tri bỉ, như chuyện của quân tử Tàu Bá Nha và Tử Kỳ.

Bốn câu sau Ngài cũng than vì Thu về làm Ngài ngộ ra thực tại lòng rất vui thích mà không biết dùng âm gì để tri cho kẻ si độn nghe. Tôi đồng ý với Đào Nguyên là “câu cuối nơi Bài kệ Thị Tịch của Thiền sư Tịnh Giới (Vi hà tương ngữ dĩ truyền tâm) nên hiểu là chỉ cho khách si độn. Khách si độn ở đây là những học tăng hay kẻ cầu đạo thuộc loại độn căn, hoặc do tham cứu chưa thấu đáo, thiếu tinh tấn, hoặc tâm thức đầy ắp những kiến thức sách vở, chỉ biết cầu tìm giác ngộ nơi bên ngoài. Chính những khách si độn ấy đã luôn mong cầu chư vị thiền sư, những vị khai thị nên dùng ngôn ngữ để giảng giải: Thế nào là đạo? Thế nào là đại ý của Phật pháp? Thế nào là Tổ sư Tây lai ý? v.v…” Thật ra câu thơ này diễn tả quá rỏ ràng về ý này nhưng không biết tại sao có nhiều người lại si độn giảng ra nghĩa trái ngược với ý của Thiền sư Tịnh Giới?

Đào Nguyên viết tiếp: Qua những nêu dẫn trên, ngoại trừ Ngô Tất Tố, các bản dịch chú còn lại về Bài kệ Thị Tịch của Thiền sư Tịnh Giới, đều cho “Thiền gia si độn khách” là những kẻ si độn trong làng thiền, vì đã đem ngôn ngữ để truyền tâm. (Nguyệt San Giác Ngộ Số 188, Khái Niệm Thời Gian Trong Phật Giáo, Về bài kệ Thị tịch của Thiền sư Tịnh Giới, Đào Nguyên)

Biên tập từ bản dịch của Ngô Tất Tố bài kệ ấy có thể dịch rất đúng ý Tịnh Giới là:

Êm dịu trời thu mát cõi lòng
Bài thơ ngâm đối bóng trăng trong
Cửa thiền cười bấy khách si độn
Luôn cầu ngôn ngữ để truyền tâm.

Điều này đã làm sáng tỏ lời Đức Thế Tôn dạy: Chúng sinh tuy đồng nhất thể nhưng tâm trí thì bất đồng. Và cái câu chuyện ngụ ngôn về người mù sờ voi của Ngài đã được chứng minh cho rất nhiều trường hợp bất đồng tâm trí này. Theo tôi thì họ còn bệnh nặng hơn nữa vì những người mù này không những chưa sờ voi mà đã tưởng tượng ra con voi ảo đó như thế nào.

Điều này cũng không trách khách si muội vì hình như các Tổ cũng hơi khùng khùng. Theo ‘Về bài kệ Thị tịch của Thiền sư Tịnh Giới,’ Đào Nguyên viết: “Theo Ngôn ngữ ở đây, xin nhấn mạnh lần nữa, đều là ‘ngôn ngữ khai thị,’ như nơi một số lời tán của sách ấy đã nói là, “Chỉ Đông nói Tây, chỉ trời nói đất,” mục đích là nhằm làm lay động, xô đẩy tâm thức của đối tượng, giúp cho tuệ giác của họ bừng sáng.”

Họ hiểu lầm ý nghĩa câu kệ của Giáo Sư Suzuki, ‘Trực Chỉ Nhân Tâm’ diễn tả ý của Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Ngài Suzuki nói tiếp,‘Bất Lập Văn Tự’ nên hiểu là phá vỡ những khái niệm cứng nhắc của văn tự để hội nhập chân lý, chứ không phải là chối bỏ văn tự, phủ nhận văn tự như có một ít người đã hiểu không đúng. Tổ Bồ đề Đạt Ma từ Tây sang, với ý gì không rõ, chỉ nghe tương truyền Ngài ‘diện bích tham thiền’ 9 năm ở Thiếu Lâm, núi Tung Sơn bên Tàu, không nói một chữ vì ông ta đâu có biết một chữ Tàu nào đâu mà nói? Cũng vì ngôn ngữ bất đồng nên Tuệ Khả ‘khả tuệ’ si muội chặt cánh tay mình để cầu đạo ‘tiếng vỗ tay của độc thủ tàn phế?’ Sau khi Tuệ Khả thành Nhị Tổ, ngài càng ngày càng điên nặng, đốt tượng Phật, chẻ chùa, bị quan giam cầm trong ngục cho đến chết. Tôi nhớ ‘mang máng’ như vậy?

Những khách ‘mê si muội,’ những người mù chưa sờ voi này không dễ gì giác ngộ, chiếu kiến được thực tại như nhạc sĩ và ca sĩ mù Louis Armstrong của Hoa Kỳ trong bài ca:


What A Wonderful World Lyrics
Louis Armstrong

I see trees of green, red roses too
I see them bloom for me and you
And I think to myself what a wonderful world.

Tôi thấy những cây xanh, cũng như sắc hoa hồng đỏ
Tôi thấy chúng nở rộ cho tôi và bạn
Rồi tôi tự nhủ thế gian đẹp tuyệt vời

I see skies of blue and clouds of white
The bright blessed day, the dark sacred night
And I think to myself what a wonderful world.

Tôi thấy những bầu trời xanh and những đám mây trắng
Ban ngày chúc lành, ban đêm thiêng liêng
Và tôi tự nhủ thế giới quá tuyệt diệu

The colors of the rainbow so pretty in the sky
Are also on the faces of people going by
I see friends shaking hands saying how do you do
But they're really saying I love you.

Màu sắc của cầu vồng quá xinh đẹp trên bầu trời
Nó cũng đi qua trên diện mục của chúng sinh
Tôi thấy những bạn bắt tay nhau hỏi thăm nhau
Nhưng họ thật sự đang nói tôi thông cảm với bạn.

I hear baby's cry, and I watched them grow
They'll learn much more than I'll ever know
And I think to myself what a wonderful world.
Yes, I think to myself what a wonderful world.

Tôi nghe tiếng trẻ khóc, và tôi quan sát chúng nó lớn lên
Chúng sẽ học nhiều hơn là tôi sẽ chưa bao giờ biết
Và tôi tự nhủ đời quá tuyệt đẹp
Vâng, tôi tự nghĩ thế giới thật tuyệt vời.

(Songwriters: GEORGE DAVID WEISS, GEORGE DOUGLAS, BOB THIELE,
What A Wonderful World lyrics © CARLIN AMERICA INC, BMG RIGHTS MANAGEMENT US, LLC, IMAGEM U.S. LLC)

Dĩ nhiên vì thời của Thiền sư Tịnh Giới, 888 năm về trước (?), không có internet cho nên mới than dài chứ bây giờ thiếu gì Bá Nha Tử Kỳ cần gì phải hữu duyên thiên lý để năng tương ngộ. Cho dù chúng ta vô duyên đối diện online với những kẻ không đồng tâm trí thì cũng không cần phải tương phùng online dài dài cho mệt xác.

Tóm lại, 4 câu đầu thì chả có gì khó hiểu lẫn xuất sắc để lạm bàn nhưng 4 câu sau thì là một rừng ‘suy bụng thiền sư ra bụng tục tử.’
Như đã thấy, bài kệ Thị Tịch trên có thể chia ra hai phần và cả hai đều viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Bài viết ở đây chỉ xin chú tâm đề cập đến phần hạ (Thơ văn Lý Trần I, NXB.KHXH 1977, tr.535.)
Thu lai lương khí sảng hung khâm
Bát đẩu tài cao đối nguyệt ngâm
Kham tiếu thiền gia si độn khách
Vi hà tương ngữ dĩ truyền tâm?
Tôi xin chỉnh lại 2 câu cuối:
Thu đến, khí trời dịu mát, tâm thần sảng khoái,
Các nhà thơ tài cao "bát đẩu" nhìn trăng ngâm vịnh.
Thiền gia mĩm cười những khách si ngộ,
Vì sao tưởng ngôn ngữ có thể truyền tâm?



Trước khi đi sâu vào vấn đề, chúng ta cũng nên ôn lại một chút luật lệ của thơ Đường. Trong 101 chuyện thiền của Nhật, ‘Làm sao để viết một bài thơ Đường, Tứ Tuyệt,’ một thi sĩ nổi tiếng của Nhật giải thích rất siêu việt như sau:

“Thơ Tàu thường có 4 hàng,” thi sĩ giải thích. “Hàng đầu là câu đầu tiên; hàng thứ nhì là tiếp tục của câu đầu; hàng thứ ba bỏ chủ đề này và bắt đầu chủ đề mới; và hàng thứ tư liên kết ba hàng đầu với nhau. Đó là, bốn câu thơ trong một bài tứ tuyệt gồm có Khởi, Thừa, Chuyển, Hợp.
Một bài hát phổ thông của Nhật Bản thể hiện rốt ráo điều luật này:

Hai tiểu thơ nhà bán lụa ở Kyoto
Cô chị hai mươi em mười tám
Chiến binh giết người bằng gươm dáo
Hai cô giết người bằng đôi mắt
(Trần Đình Hoành dịch)

Vua Trần Nhân Tông cũng có những bài thơ Đường Tứ Thuyệt thể luật tương tự:

Da phấn, tóc thơm với má đào,
Khi nhìn, ai cũng thấy nao nao.
Thực chất chỉ toàn xương với thịt,
Giết người đau đớn chẳng cần dao.
~ Trần Nhân Tông ~

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền.
~ Trần Nhân Tông ~

Điều này cho chúng ta thấy là cái thơ Tàu được gọi là Tứ Tuyệt này thực sự là tứ tuyệt quái đản kém logic luận văn đúng như Bùi Giáng đã nói là nó ‘sang trang chạy quàng.’ Nó như kẻ say lái xe không theo con Đường (Đạo, đường, nhà Đường) nào cả. Có thể vì vậy mà nó thích hợp cho con ma men Lý Bạch?

Tôi thắc mắc:

“Hàng đầu là câu đầu tiên; hàng thứ nhì là tiếp tục của câu đầu.” Nghe có lý và logic có thể chấp nhận được.
Rồi thì “hàng thứ ba bỏ chủ đề này và bắt đầu chủ đề mới.” Cái này gọi là lạc đề hay trật đường rầy.
Và “hàng thứ tư liên kết ba hàng đầu với nhau.” Làm sao mà liên kết cái nhị nguyên: lạc đề với không lạc đề với nhau được?

Theo ngu ý, phần hạ của bài kệ Thị Tịch này của Thiền Sư Tịnh Giới cũng đã nói lên tâm trạng phân vân của Đức Thế Tôn sau khi thấy Sao Mai mọc nên Ngài đã bừng đại Ngộ. ‘Rồi thì là,’ Ngài phân vân phân nên ‘sống giữ, tịch mang theo’ hay nên dùng ngôn ngữ để giảng Phật Pháp thâm diệu cho những kẻ si muội?

Theo tôi, sở dĩ hai câu cuối trong phần hạ của bài thơ tứ tuyệt này trở thành một rừng tranh luận của những kẻ mù chưa sờ voi mà đã ‘tả chân’ về con voi tưởng tượng. Tại vì họ chỉ chú tâm đến ý nghĩa của hai câu cuối: ‘Cửa thiền những thẹn người si độn, Biết lấy câu gì để truyền tâm’ thay vì quán lại cái nguyên nhân của hậu quả đó là: ‘Thu về mát mẻ thích trong lòng, Tám đấu tài cao hát thong dong.’

Mà cái nguyên nhân của hai câu trên có chả dính dấp gì đến với hai câu dưới. Nó không những lạc đề, trật đường rầy mà có thể bất cứ hai câu nào khác cũng ráp vào được cứ như là ‘râu ông nọ cắm cằm bà kia’ chẳng hạng như:

Thu về mát mẻ thích trong lòng,
Tám đấu tài cao hát thong dong.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền.
*
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Cửa thiền những thẹn người si độn,
Biết lấy câu gì để truyền tâm.

Tuy nhiên, luật thơ Đường Tứ Tuyệt vô tình giải mã được luật ‘gieo nhân gặt quả’ của Phật Giáo nhưng chưa hẳn là gặt được cái quả mà ta cầu mong vì chúng ta luôn luôn ‘sang trang chạy quàng.’ Cho dù tâm lòng không nghĩ ác, nghĩ thiện cũng vẫn không dễ dàng gì diễn tả đúng thực tại của Tánh Không để gặt hái nó đúng lúc.

Tuệ Thiền đã diễn tả rốt ráo thực tại:
Cõi tâm lộ ánh trăng thiền
Tri ân sâu nặng cơ duyên cuộc đời
Vô ngôn sáng giữa muôn lời
Dấn thân thế sự, chẳng rời Tánh Không
~ Tuệ Thiền ~

References:
Nguyệt San Giác Ngộ Số 188, Khái Niệm Thời Gian Trong Phật Giáo, Về bài kệ Thị tịch của Thiền sư Tịnh Giới, Đào Nguyên
Thiền Sư Việt Nam, tác giả?
http://www.thientongvietnam.net/kinhsach-t...code/p2-25.html


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 27 2016, 07:23 AM
Gửi vào: #123


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Kinh tạng Pali Nykaya (Tăng Chi Bộ -chương 8: Tám Pháp)
V. Phẩm Ngày Trai Giới
(I) (41) Các Trai Giới
1. Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì tại Jetanava, khu vườn ông Anàthapindika, ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo", - "Bạch Thế Tôn".
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
2. - Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn?
3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành trai giới ". Ðây là chi phần thứ nhất được thành tựu.
4. "Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới ". Ðây là chi phần thứ hai được thành tựu.
5. "Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới ". Ðây là chi phần thứ ba được thành tựu.
6. "Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới ". Ðây là chi phần thứ tư được thành tựu.
7. "Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới ". Ðây là chi phần thứ năm được thành tựu.
8. "Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới ". Ðây là chi phần thứ sáu được thành tựu.
9. "Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới ". Ðây là chi phần thứ bảy được thành tựu.
10. "Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới ". Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu.
Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần được thực hành như vậy, thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn.
(II) (42) Ngày Trai Giới
1. - Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn?
2-3. ... (giống như kinh 41 trên, từ đoạn số 22 đến 10) ... (Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu )
- Này các Tỷ-kheo, ngày trai giới thành tựu tám chi phần, được thực hành thời có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn; có biến mãn lớn. Ðến như thế nào là quả lớn? Ðến như thế nào là lợi ích lớn? Ðến như thế nào là rực rỡ lớn? Ðến như thế nào là biến mãn lớn?
4. Ví như, này các Tỷ-kheo, có người áp đặt chủ quyền cai trị trên mười sáu quốc độ lớn này tràn đầy bảy báu, như Anga, Magadha, Kàsìkosala, Vajjì, Cetì, Vamsà, Kurù, Pancàlà, Macchà, Sùrasenà, Asska, Avantì, Gandhàrà, Kambojà. Nhưng chủ quyền ấy không bằng một phần mười sáu của một ngày trai giới thành tựu tám chi phần. Vì cớ sao? Nhỏ nhoi, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên.
5. Năm mươi năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên Bốn thiên vương. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên Bốn thiên vương. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: "Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên Bốn thiên vương". Do vậy, Ta nói: "Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên ".
6. Một trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: "Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Ba mươi ba". Do vậy, Ta nói: "Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên ".
7. Hai trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Yàma. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Hai ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Yàma. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: "Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Yàma". Do vậy, Ta nói: "Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên".
Bốn trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tusità (Ðâu-Xuất). Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tusità. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: "Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tusità". Do vậy, Ta nói: "Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên ".
Tám trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Tám ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Hóa lạc. Sự kiện này có xảy ra, ... với hạnh phúc chư Thiên ".
Mười sáu trăm năm của một đời người, này các Tỷ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: "Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới thành tựu tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Do vậy, Ta nói: "Nhỏ nhoi thay, này các Tỷ-kheo, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên ".

Chớ giết hại loại sanh, Chớ lấy của không cho, Chớ nói lời nói láo, Chớ uống thứ rượu say, Từ bỏ phi Phạm hạnh , Từ bỏ không dâm dục, Không ăn vào ban đêm , Tránh không ăn phi thời, Không mang các vòng hoa
Không dùng các hương lieu, Hãy nằm trên tấm thảm, Trải dài đất làm giường, Chính hạnh trai giới này, Ðược gọi có tám phần, Do đức Phật nói lên, Ðưa đến đoạn tận khổ
Mặt trăng và mặt trời, Cả hai thấy lành tốt, Chỗ nào chúng đi tới, , Chúng chói sáng hào quang, Chúng làm mây sáng chói, Giữa hư không chúng đi, Trên trời chúng chói sang, Sáng rực mọi phương hướng, Trong khoảng không gian ấy, Tài sản được tìm thấy, Trân châu và ngọc báu, Lưu ly đá cầu may, Vàng cục trong lòng đất, Hay loại Kancana, Cùng loại vàng sáng chói, Ðược gọi Hataka, Tuy vậy chúng giá trị, Chỉ một phần mười sáu, Với hạnh giữ trai giới, Ðầy đủ cả tám mặt, Kể cả ánh sáng trăng, Với cả vòm trời sao,Vậy người nữ, người nam, Giữ gìn theo tịnh giới, Hành Bồ-tát trai giới, Ðầy đủ cả tám mặt, Làm các thiện công đức, Ðem lại nhiều an lạc , Ðược sanh lên cõi trời, Không bị người cười chê.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 2 2016, 06:25 AM
Gửi vào: #124


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Làm sao để luôn thấy vui vẻ và hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh?


Có một thanh niên 16 tuổi đến bái lạy một vị thiền sư cao tuổi với vẻ mặt u sầu và thất vọng. Anh ta hỏi vị thiền sư: “Thưa ngài, con phải làm thế nào mới trở thành một người vui vẻ hạnh phúc ạ? Và làm thế nào mới có thể đem lại niềm vui cho mọi người?”
Vị thiền sư nhìn người thanh niên trẻ tuổi vừa cười vừa nói: “Cậu bé! Ở tuổi của cậu mà có nguyện vọng như vậy là đáng quý nhưng cũng khó đạt. Rất nhiều người lớn tuổi hơn cậu, cũng có câu hỏi như thế này nhưng cho dù có giải thích cho họ bao nhiêu thì họ vẫn không hiểu được đạo lý trọng yếu.”
Người thanh niên trẻ tuổi vẫn chăm chú nghe từng lời của vị thiền sư.
Vị thiền sư nói tiếp: “Ta tặng cho cậu 4 câu. Câu thứ nhất: Hãy đặt bản thân mình trở thành người khác. Cậu có hiểu hàm nghĩa của câu này không?”
Người thanh niên trả lời: “Có phải là khi mình khổ sở, nếu như coi bản thân mình là người khác thì nỗi khổ sẽ tự nhiên giảm bớt đi. Còn khi mình vui mừng quá mức mà coi mình là người khác thì mình sẽ bình tĩnh trở lại và thản nhiên hơn không ạ?”
Vị thiền sư gật đầu rồi nói tiếp: “Câu thứ hai là đặt người khác trở thành bản thân mình.”
Người thanh niên suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Khi đặt người khác trở thành bản thân mình, mình có thể hiểu được nỗi khổ cũng như những mong muốn nguyện vọng của họ để thông cảm và giúp đỡ họ khi cần thiết, phải không ạ?’
Vị thiền sư vui vẻ biểu lộ ra sự hài lòng rồi nói tiếp câu thứ ba: “Xem người khác là chính bản thân họ.”
Người thanh niên nhanh nhảu trả lời: “Thưa ngài, câu này có phải có ý là: Tôn trọng sự riêng tư của mỗi người, không xâm phạm vào điều của riêng người khác.”
song-khoe
Vị thiền sư bật cười ha ha rồi nói: “Tốt lắm, tốt lắm, đứa trẻ này cũng rất dễ dạy bảo! Câu thứ tư chính là xem bản thân mình là chính bản thân mình!”
Câu nói này có vẻ khó với người thanh niên trẻ, cậu ta suy nghĩ mãi một hồi lâu rồi mới chậm rãi nói: “Thưa ngài, câu nói này con nhất thời chưa thể hiểu được. Nhưng trong bốn câu nói này con thấy có sự bất đồng, con phải làm thế nào để thống nhất chúng lại ạ?”
Vị thiền sư trả lời: “Rất đơn giản cậu bé ạ! Con haỹ dùng thời gian và kinh nghiệm của bản thân mình rồi con sẽ làm được!”
Người thanh niên không hỏi thêm mà quỳ gối cáo biệt vị thiền sư. Nhiều năm sau này, cậu thanh niên đã trở thành một người đàn ông trưởng thành rồi một ông lão vui vẻ hạnh phúc. Ông cũng thường xuyên đem bài học này và kinh nghiệm của mình chia sẻ với những người xung quanh, đặt biệt là những thanh niên trẻ tuổi. Sau khi trãi qua nhiều điều trong cuộc sống, ông đã hiểu được 4 câu nói vủa vị thiền sư khi xưa là:
1. Khi đặt bản thân mình là người khác để đối đãi thì chính là vô ngã.
2. Khi đặt người khác là bản thân mình để đối đãi thì đó chính là từ bi.
3. Khi đặt người khác chính là bản thân họ để đối đãi thì đó chính là trí tuệ.
4. Khi đặt bản thân mình là bản thân mình để đối đãi thì đó chính là tự tại.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 10 2016, 07:31 AM
Gửi vào: #125


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Bài học từ sinh hoạt hằng ngày của đức Đạt Lai Lạt Ma
Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn » Bài học từ sinh hoạt hằng ngày của đức Đạt Lai Lạt Ma – Rộng mở tâm hồn – Cộng đồng chia sẻ tri thức và kinh nghiệm sống.

Victor Chan, người viết chung với ngài Dalai Lama cuốn “The Wisdom of Forgiveness” (Trí tuệ của sự tha thứ), có được cơ hội quý báu trải qua một khoảng thời gian riêng cùng ngài Đạt Lai Lạt Ma. Dưới đây là lá thư ông viết cho các con của mình và kể lại những gì ông học được trong buổi sáng đặc biệt ấy.

Lina và Kira yêu quý,
Bây giờ, các con đã 16 và 19 tuổi rồi, bắt đầu hoạch định cho cuộc sống của chính mình. Thời gian qua là chuỗi ngày dường như vô tận, chúng ta chỉ mải mê ngồi đó và tán gẫu suốt ngày. Cha tiếc thời gian chúng ta hoang phí rong ruỗi ngoài bãi biển và những chuyến đi chơi dài ngày trong lần đi cắm trại ở Westfalia của gia đình mình trong khi các con chỉ ngoan ngoãn làm theo những gì cha bảo.

Một câu chuyện cha muốn chia sẻ với các con là về buổi sáng cha có dịp sống với ngài Đạt Lai Lạt Ma. Đây là một sự trải nghiệm có ý nghĩa sâu sắc của đời cha. Mấy tiếng đồng hồ cùngngài đã cho cha hiểu rõ cách ngài sử dụng thời gian cho riêng mình đằng sau ánh hào quang củangài. Ngài hầu như không nói gì nhiều với cha trong buổi sáng hôm ấy, nhưng những gì ngàilàm đã nói thay ngài rất nhiều và có liên quan đến tất cả chúng ta.

Do đó, cha quyết định viết thư này chia sẻ với các con.

Thời điểm ấy, khi đang viết bản thảo cho cuốn The Wisdom of Forgiveness (Trí tuệ của sự tha thứ), cuốn sách cha viết chung với ngài Đạt Lai Lạt Ma, ngài mời cha đến cùng ngài trải qua một buổi sáng tại tịnh thất của ngài ở Dharamsala, Ấn Độ. Cha đã từng cùng ngài đi qua bốn châu lục và nhiều lần thực hiện phỏng vấn cùng ngài, nhưng cha chưa bao giờ có được cơ hội vào nơi tịnh thất của riêng ngài. Chỉ một lần thôi, cha không ngại thức dậy vào lúc nửa đêm, với cha, có thể nói như vậy, lúc nửa đêm các con ạ.

Lúc 3:45 sáng, cha đang ngồi trên một tấm thảm nhỏ đặt trên nền nhà ở trong phòng hành thiền của ngài Đạt Lai Lạt Ma. Không gian nơi đây thật yên tĩnh và kỳ diệu, trang nhã, nhẹ nhàng. Trong phòng, có bài trí một chiếc bàn, một góc dành để ngồi thiền và một khu vực nhỏ để ngồi và dùng bữa. Có nhiều chiếc kệ trưng bày các loại pháp khí bằng đồng đủ các kích cỡ lớn nhỏ và nhiều giá sách đựng các tập kinh viết bằng chữ Tây Tạng. Những tấm rèm dày che cửa sổ buông dài từ trần nhà đến sàn và trong ánh sáng mờ mờ trước lúc rạng đông, cha có thể thấy thấp thoáng ảnh hiện dãy núi Hy mã lạp sơn.

Vào thời điểm mà chỉ có những chú chó không chủ ở ngoài đường phố thức dậy, ngài Đạt Lai Lạt Ma đã bắt đầu một ngày của mình bằng việc lễ lạy. Từ tư thế đứng, ngài buông dài người ra sàn nhà, với chỉ một tấm đệm mỏng trải trên tấm ván đủ cho phần thân mình. Hai tay ngài đưa thẳng lên khỏi đầu, lòng bàn tay tựa vào miếng vải vuông, tạo nên một góc với các ngón tay đang chỉ thẳng lên trần nhà.

Rồi với một động tác điêu luyện, ngài trượt hai tay xuống dần đến đùi để lấy đà chống đỡ, gấp người về vị trí quỳ trên gót chân, rồi đứng thẳng lên. Ngài đặt lòng hai bàn tay lên đỉnh đầu, nhẹ nhàng đưa dần xuống ngực và trượt người nằm dài trên sàn trở lại. Thế rồi ngài tiếp tục quy trình như vậy nhiều lần.

Cha quên đếm một lát, nhưng cha ước chừng ngài lạy theo cách như vậy ít nhất là 30 lần. Ngài Dalai Lama đã lạy như thế hầu như mỗi ngày trong suốt cuộc đời ngài, và nếu có ai đó đếm số lần ngài lạy, cha đoan chắc rằng, phải hơn một ngàn lần lặp đi lặp lại như thế trong suốt hơn bảy chục năm qua.

Sau khi lạy xong, ngài đến máy đi bộ (máy tập thể dục) đặt ở góc cửa sổ. Ngài treo xâu chuỗi niệm Phật trên một thanh nắm cạnh cái khăn choàng và bắt đầu bước nhanh trên thanh trượt của máy tập đang di chuyển. Hầu như ngay tức khắc, ngài nhắm mắt lại theo điệu nhạc phát ra từ máy và cứ thế, ngài thực hành thiền khi đang tập thể dục. Điệu nhạc dành cho thiền hành có tiết tấu nhanh hơn.

Sau khi tắm, ngài Đạt Lai Lạt Ma đưa cha đi vòng bên ngoài tịnh thất của ngài. Những rặng núi bao quanh vẫn còn chìm trong màn đêm, hầu như mặt trời chưa chạm tới. Những làn khói mỏng cuộn tròn bay lên từ những ống khói ẩn khuất đâu đó từ từ lan nhẹ trong làn sương lạnh. Xa xa dưới thung lũng Kangra, lác đác những tia sáng từ các phố thành Ấn Độ có thể nhìn thấy ẩn hiện từ xa. Còn quá sớm, chim vẫn chưa cất tiếng gọi đàn.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu từ đằng xa, hòa mình vào không gian yên tĩnh, để tất cả các căn của ngài hòa quyện vào sự thanh tịnh đến huyền diệu của môi trường xung quanh. Ngài thật bình an trong hiện tại, không hề dao động mảy may với sự hiện diện của cha bên cạnh. Khi quan sátngài, cha đứng đó trong tĩnh lặng, một tay nhẹ chạm vào rào chắn bằng kim loại sơn màu xanh, sự thanh thoát không bút mực nào có thể tả được đã chạm vào trái tim cha.

Trời lạnh nên ngài và cha không ở lâu bên ngoài tịnh thất. Ngay sau khi trở lại phòng,ngài lập tức ngồi thiền. Ngài ngồi trên tấm tọa cụ trải sau chiếc bàn, có một tấm pa-nô bẵng gỗ gụ nhũ vàng hình tròn đặt phía sau lưng ngài. Ngài gỡ đôi kính ra khỏi mắt, thần thái thanh thoát, hiện thân của sự sống viên mãn nhất, được thể hiện trọn vẹn nơi ngài. Có vết thâm quầng ở dưới mi mắt ngài và những nếp nhăn chạy dài từ hai má đến cằm. Khuôn mặt ngài thật bình thản, nghiêm trang và đầy trí tuệ.

Khi ngài Đạt Lai Lạt Ma hành thiền, ngài luôn rung lắc thân mình, nhịp nhàng như cái máy. Đôi mắt ngài khép hờ, nhưng cha có thể thấy thỉnh thoảng con ngươi ngài di chuyển nhẹ trong hố mắt. Có những lúc con ngươi đưa lên, cha có thể thấy tròng trắng trong mắt Ngài. Hai bàn tayngài đặt trên đùi, các ngón tay ngài gõ theo một cách nhịp nhàng. Cha cảm thấy không thoải mái, có cảm giác như sự hiện diện của mình đã xâm phạm vào không gian vô cùng riêng tư này.

Một điều chắc chắn rằng ngài Dalai Lama đi vào một trạng thái sâu lắng và vô cùng đặc biệt. Sau đó, ngài có chia sẻ với cha rằng, khi hành thiền, tâm ngài không hoàn toàn tĩnh lặng theo cách nói của các thiền sư. Một cách năng động, tâm ngài định hướng những mong muốn, hoạch định ngài sẽ làm trong ngày, ngập tràn với ý niệm làm thế nào để tâm từ bi phát triển sâu rộng hơn. Ngài mong ước đem tâm từ trải đến mọi người và giúp họ vơi đi nỗi khổ bằng bất cứ cách nào ngài có thể. Sự phân tích hợp lý trong lúc này giúp ngài nuôi lớn trí tuệ để thấy rằng, bằng cách trải tâm từ đến người khác, bản thân ngài vẫn có được lợi ích là tâm trở nên an tịnh.

Sau 4 tiếng đồng hồ, đã đến lúc cha chào ngài ra về. Ngài nắm chặt tay cha và đưa cha đến một căn phòng nọ. Từ đây, ngài lấy ra một viên đá nhỏ màu xám có khắc một ngôi tu viện Ấn Độ được trang trí bởi cái tháp ở phía trên cùng của một cái bục có hai tầng. Bốn ngọn tháp nhỏ an trí ở bốn hướng. Ngài nói “Tháp ở Bồ-đề đạo tràng đây, riêng dành tặng anh”.

Ngài đưa cha ra cửa thì dường như có một ý tưởng lóe lên trong đầu ngài. Ngài hướng cha đến một cái thùng chứa đầy các vật thể đẹp. Ngài vui mừng reo lên “À đây!”. Ngài cẩn thận lấy ra và trao cho cha một mảnh gỗ gụ có khắc một ông già râu dài đến tận thắt lưng. Đó là biểutượng cho sự hoàn hảo ở một vị thánh Trung Hoa.

Ngay lúc đó, Paljior la, thị giả của ngài Đạt Lai Lạt Ma, nhẹ nhàng bước vào phòng. Vị này dâng lên ngài Đạt Lai Lạt Ma một phong bì nhỏ màu đỏ để Ngài trao cho cha. “Một bao lì xì đỏ dành cho anh, theo phong tục của người Trung Hoa. Tạm biệt anh”. Ngài nói trong sự chân tình, ấm áp. Bên trong bao lì xì là một xấp tiền đô-la Mỹ. Cảm giác ngại ngùng lan tỏa khắp khuôn mặt cha. Cha cảm thấy xấu hổ. Quá bất ngờ khi ngài Đạt Lai Lạt Ma cho cha những món quà, kể cả những vật quý giá với lai lịch đặc biệt của chúng. Và biết rằng cha khá eo hẹp, ngài còn cho tiền nữa.

Khi cha bước ra khỏi phòng thiền, ngay giây phút ấy, cha chạm phải ánh nhìn vô cùng hoan hỷ của ngài Đạt Lai Lạt Ma. Khuôn mặt ngài rạng ngời. Dường như khi cho cha những món quà ấy, ngài rất hài lòng. Điều này thể hiện trên nét mặt rạng rỡ của ngài. Vài nếp nhăn dọc theo hai gò má ngài dường như căng ra, vầng trán như bớt nhăn đi và bọng nước dưới mi mắt ngài dường như bớt thâm quầng. Tất cả toát lên vẻ bình yên và an lành nơi ngài.

Lina và Kira, từ kinh nghiệm cá nhân của mình, các con đã biết ít nhiều về những lợi ích của sự cho đi. Gia đình chúng ta đã từng sống ở Ấn Độ một năm khi Lina lên 7 và Kira lên 9. Các con có lẽ còn nhớ thời gian vài tuần đầu, chúng ta khó khổ như thế nào. Các con đã phải khổ sở với sự khác biệt quá lớn về văn hóa khi phải đối đầu với đói nghèo và khổ sở bao vây. Các con cảm thấy thật khủng khiếp. Rồi các con biết được những học sinh đường phố ở Dharamsala và rất vui khi được chăm sóc các bạn.

Cha còn nhớ rất rõ hai con đã bò qua những rãnh nước hôi hám dơ dáy để mang thức ăn và nước uống cho các con vật nhỏ. Rồi khi chúng bắt đầu chết vì sự lan tràn của vi rút gây bệnh, các con lại dấn thân vào việc kêu gọi mọi người chung tay để mua thuốc phòng bệnh cứu chúng. Hành vi chăm sóc, đặt lợi ích của người khác lên trên bản thân mình đã khơi dậy và làm cho tinh thần các con phấn chấn đáng kể.

Như tôn giả Tịch Thiên (Shantideva), một vị Thánh người Ấn vào thế kỷ XIX và chủ trương học thuyết của vị này ảnh hưởng sâu sắc đến ngài Đạt Lai Lạt Ma, từng viết rằng: “Tất cả niềm vui mà thế gian này chứa đựng đến từ mong ước người khác có hạnh phúc”. Cũng như ngài Đạt Lai Lạt Ma thường nói rằng “Nếu bạn muốn người khác hạnh phúc, hãy thực hành tâm từ. Nếu bạn muốn bản thân mình hạnh phúc, hãy thực hành tâm từ”.

Sau khi rời chỗ ở của ngài Đạt Lai Lạt Ma, cha đến một quán cà phê trong khu chợ ở Dharamsala. Ngồi nhâm nhi ly cà phê sữa ngon lạ, cha hồi tưởng lại những gì mình vừa trải nghiệm trong mấy tiếng đồng hồ qua. Cha thấy cuộc sống hằng ngày của ngài rất đơn giản, thậm chí bình thường. Ngài lạy, đi trên máy đi bộ, đi dạo vòng quanh tịnh thất, hành thiền và biếu quà cho cha. Không có việc nào ra ngoài quỹ đạo của cuộc sống bình thường cả, thật sự là như vậy. Khi nói với các con đây, cha vẫn còn cảm nhận được nguồn an lạc toát ra từ ngài.

Cha đã từng gặp ngài, một người biết tự chăm sóc mình, cả về phương diện vật lý cũng như tinh thần. Cha biết công việc thường ngày trong mỗi buổi sáng của ngài cứ như thế, từ năm này sang năm khác, diễn ra một cách nhẹ nhàng. Nó diễn ra một cách có nguyên tắc, kiên trì và tự chủ, thức dậy lúc 3:30, thực hành tâm linh trong mấy tiếng đồng hồ trước khi bắt đầu những công việc đa đoan ở văn phòng. Ngài Đạt Lai Lạt Ma vẫn đều đặn thực hành như thế trong suốt mấy chục năm qua, ngay cả khi ngài đi xa với sự khác biệt múi giờ.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma nhiều lần bảo cha rằng, ngài không thích tập thể dục. Thế nhưng, với cái đầu thiên về khoa học, không ngừng cập nhật những ưu điểm mới nhất trong lãnh vực sức khỏe, ngài hiểu rằng thể dục là quan trọng. Ngài ý thức rõ ràng về thời gian, sự tương đối và không phung phí nó. Khả năng của ngài là càng hoàn thiện sứ mạng giúp người càng tốt và tất cả đều phụ thuộc vào sức khỏe của ngài có cho phép hay không.

Cha cũng biết rằng ngài không phải là một học trò ngoan khi còn nhỏ. Ngài có tính khí thất thường và bốc đồng. Nguyên tắc tu viện (giới luật) như thiền định và học kinh điển không phải đến với ngài một cách tự nhiên.

Trong một cuộc nói chuyện trước đây, với ánh mắt xen lẫn một chút tinh nghịch, ngài Đạt Lai Lạt Ma nói với cha rằng, “lúc khoảng lên 7 hay 8 tuổi, tôi không hề ham học. Chỉ thích chơi thôi. Thế nhưng có một điều: đầu óc tôi lúc đó vì còn nhỏ, nên sắc bén lắm, có thể học dễ dàng. Vì lẽ đó mà chủ quan sinh ra lười. Do vậy, mấy vị thầy dạy tôi luôn giữ cái roi bên mình, cái roi màu vàng. Khi trông thấy cái roi màu vàng, cái roi thánh thiện dành cho cậu học trò thánh thiện Đạt Lai Lạt Ma, tôi học. Vì sợ mà học. Ngay cả khi đến tuổi có hiểu biết, khi tôi học, không có sự đau đớn thánh thiện nào”.

Mặc dù không mấy ham học khi còn nhỏ, ngài Đạt Lai Lạt Ma đã toàn tâm toàn ý thực hành mỗi buổi sáng. Với sự kiên trì và tự chủ, Ngài đã tập ngồi tĩnh lặng trong thời gian khá lâu. Dần dần, ngài có thể kiểm soát tốt hơn những bản năng sai lầm. Thiền định và học pháp trở thành quan trọng hơn việc chơi; không đáp ứng ngay những gì mình muốn thỏa mãn trở thành điều tất nhiên.

Trong một thời gian dài, các nhà tâm lý học tập trung vào phương diện hiểu biết thuộc tri thức và xem đó là yếu tố quan trọng nhất để dự đoán sự thành công trong cuộc sống. Ngày nay, phần đông đều nhất trí rằng chỉ số trí tuệ IQ phần lớn tùy thuộc vào khả năng tự chủ. Những đứa trẻ thông minh nhất không thể luôn luôn y cứ thuần túy vào khả năng của não bộ. Sự thành công lâu dài phụ thuộc vào khả năng tự điều chỉnh, làm giảm đi những bản năng không tốt và tăng cường những gì tốt đẹp cho cuộc sống.

Kira, cha nghĩ con có thể liên hệ đến vấn đề này. Suốt ngày ở trường, con cứ lao đầu vào mớ bài tập, cắm cúi cho đến phút cuối. Điều này nói lên rằng, con có khả năng tự chủ tốt, không đáp ứng ngay những thỏa mãn mang tính bản năng. Cha nghĩ con cảm nhận được khi làm xong trách nhiệm đúng lúc, con đã hoàn thành công việc. Điều này dỡ đi gánh nặng từ đôi vai con và để con rảnh rang làm việc khác, những công việc có lẽ đem lại nhiều niềm vui hơn. Cha rất vui khi con có thể rèn cho mình có thói quen hữu ích này, một việc quan trọng trong đời sống của con.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma thường giảng về tầm quan trọng của tự chủ. Ngài tin rằng tự chủ là yếu tố cần thiết trong sự thực hành tâm linh. Nó cho chúng ta phương tiện để thực hành và nuôi lớn những đặc tính cần thiết quyết định cho cuộc sống. Nó cho phép chúng ta thẩm vấn những hành vi của mình và mở đường cho sự sửa đổi ngày càng tốt hơn. Nó ví cái tâm chưa được thuần hóa của chúng ta với con voi nổi loạn chưa được huấn luyện. Nếu có thể dần thuần hóa được nội tâm, chúng ta sẽ có cơ hội nuôi dưỡng tâm từ, nền tảng của hạnh phúc thuần chân một cách dễ dàng hơn.

Rõ ràng rằng đối với ngàiĐạt Lai Lạt Ma, thiền định rất quan trọng. Ngài dành một khoảng thời gian lớn trong ngày cho việc hành thiền, và cha đã từng chứng kiến ngài được nạp thêm nguồn năng lượng sau thời khóa buổi sáng. Câu nói của ngài Dalai Lama được trích dẫn nhiều trong thời gian gần đây là “Nếu mọi đứa bé lên tám được dạy thiền, chúng ta sẽ chấm dứt bạo lực trên thế giới chỉ trong một thế hệ mà thôi”.

Càng ngày càng có nhiều người thực hành thiền. Nhưng điều cha lo ngại là mặc dù họ có thiện chí đó, nhưng được bao nhiêu người có thể kiên trì thực hành thiền trong cuộc sống của mình. Sớm muộn gì những công việc cấp bách cần giải quyết của đời thường sẽ làm trở ngại việc thực hành thiền hằng ngày của nhiều người.

Với ngài Đạt Lai Lạt Ma, việc hành thiền tự nhiên như việc đánh răng vậy thôi. Đó là một thói quen trong cuộc sống hằng ngày. Cha thử nhẩm tính, hẳn ngài đã dành ra hơn 100 ngàn tiếng đồng hồ để thực hành thiền. Và không nghi ngờ gì nữa, ngài là người hạnh phúc nhất mà cha từng biết. Sự hài hước của ngài, khả năng gây cười và niềm hoan hỷ trong cuộc sống của ngài thật là thần kỳ. Ngài Đạt Lai Lạt Ma đã chỉ cho cha một số cách đơn giản để ứng dụng thiền vào trong công việc hằng ngày. Đừng quá tham vọng làm điều gì to tát; hãy kềm chế sự nóng nảy. Lúc mới bắt đầu thực hành thiền, đừng ngồi quá lâu, mỗi lần chỉ nên ngồi chừng 10 đến 15 phút thôi. Có điều là cần thực hành thường xuyên, nhiều lần trong một ngày và duy trì để nó trở thành một thói quen thường xuyên trong cuộc sống.

Làm cho việc hành thiền trở thành một công việc nhịp nhàng như một thói quen hằng ngày, đó là bí quyết để ngài Dalai Lama nuôi dưỡng suối nguồn bình an. Và trong những năm gần đây, khoa học cũng đã xác chứng sự liên quan mật thiết giữa thiền định và hạnh phúc thuần chân.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma bảo cha “thế nhưng muốn tiến bộ, cần kiên trì với thời gian. Hành thiền không giống như mở công tắc bóng đèn, mà giống như nhen một ngọn lửa: bắt đầu từ một đốm lửa nhỏ, nó cháy to dần, mỗi lúc một to dần, sáng hơn, mỗi lúc một sáng hơn. Hành thiền là giống như vậy đó”.

Đây là đôi điều cha học được trong buổi sáng hôm ấy. Hãy rèn luyện. Điều này tốt cho cả thân và tâm. Thiền định cũng rất tốt. Không có gì đáng ngạc nhiên ở đây. Cha không nói với các con điều gì mới mẻ cả. Thế nhưng cha ấn tượng với sự thấu hiểu hàm chứa trong công việc buổi sáng của ngài Đạt Lai Lạt Ma. Không có gì to tát cả, nhưng thật ý nghĩa khi chứng kiến những kinh nghiệm sống động như thế.

Đầu tiên là sự tự chủ và tất cả những gì nó hàm chứa: không đáp ứng ngay những gì mình muốn thỏa mãn, sống có nguyên tắc, bền bỉ kiên trì. Thứ hai là thói quen. Hình thành một thói quen hằng ngày một cách nhẹ nhàng giúp chúng ta có được sự kiên trì và thành công trong mỗi việc mình muốn thực hiện. Thứ ba là chúng ta có được sự hài lòng từ sự cho đi, từ sự giúp đỡ người khác. Tất cả những điều này đều hiện thực, xác chứng những phương cách ta có thể sử dụng để làm cho cuộc sống mình thêm thành công và tươi đẹp hơn.

Hiểu biết sâu thẳm nhất đến một cách nhanh chóng với cha khi ở bên ngoài tịnh thất cùng ngàiĐạt Lai Lạt Ma. Ngay cả lúc này, nó vẫn còn thoáng hiện trong tâm trí cha, tuy không được trọn vẹn như lúc đó. Cha không mong hai con có thể liên hệ đến việc ấy trong lúc này, nhưng các con nên lưu tâm điều này. Đó là khi ở bên ngoài tịnh thất hôm đó, cha đã cảm nhận một cách khái quát về sự duyên sinh và tầm quan trọng trong mối quan hệ tùy thuộc vào nhau trong cuộc sống này. Ngài Dalai Lama luôn sống với tâm ở trạng thái phản tỉnh, và ngài hầu như không nói gì với cha. Thế nhưng những khoảnh khắc ngắn ngủi trong sương lạnh trước lúc rạng đông trong buổi sáng hôm ấy đã đánh động mãnh liệt đến tâm thức cha một cách không ngờ.

Cha trực nhận năng lực của ngài và sự liên kết rất thật với những gì quanh ngài, một sự kết nối làm thăng hoa ý tưởng.

Cha xin được nhắc lại trong một cuộc phỏng vấn ngài trước đó. Ngài đã nói với cha về nhiều điều ngài trải nghiệm lúc ngài hơn 20 tuổi. Bất cứ cái gì ngài nhìn – một chiếc bàn, chiếc ghế, hay một người nào đó – ngài đều thấy nó không có một thực thể, không thật tồn tại. Có một “cái không trong cái có hiện hữu”, ngài nói với cha như thế.

Nhìn thấy cha bối rối chưa hiểu gì, ngài giải thích “những khoảnh khắc này giống như những bức tranh xuất hiện, giống như xem ti vi hay xem phim vậy. Đặc biệt rất giống như xem phim. Ta có cảm giác những gì đang diễn ra là thật, nhưng đồng thời, trong khi mắt ta nhìn thấy các cảnh ấy, tâm ta biết đó chỉ là bức tranh. Chỉ là sự diễn xuất, không thật có”.

Cách nhận thức này, sự cảm nhận vi tế về thực tại này là nền tảng trong đời sống tâm linh của ngàiĐạt Lai Lạt Ma. Ngài biết, trên phương diện tri thức cũng như phương diện trải nghiệm, rằng vạn vật đều chịu sự chi phối của luật vô thường và rằng sự tồn tại của mình tùy thuộc vào một mạng lưới phức tạp trong các mối quan hệ khác. Trên cơ sở này, các ranh giới cá nhân đều tan ra. Kết quả là, ngài cảm nhận được sự gắn kết quyến thuộc với tất cả vạn vật và mọi người.

Lina và Kira, cha khép lại những chia sẻ về những gì đi qua tâm trí cha về buổi sáng hôm ấy. Cha vẫn luôn nhớ về mấy tiếng đồng hồ quý báu cha có mặt cùng ngài Đạt Lai Lạt Ma. Ngài chẳng giảng cho cha những giáo lý cao siêu nào, cũng không phải theo cách thông thường. Hầu như trong mọi lúc, ngài không đoái hoài gì đến sự có mặt của cha. Nhưng các con có thể nói rằng, cha đã học được những điều quan trọng – những điều không dễ dùng ngôn ngữ mà diễn đạt được.

Yêu hai con nhiều,

Cha các con

Vitor Chan.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 27 2016, 10:03 AM
Gửi vào: #126


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Làm cách nào nói cho vong nghe


http://lacphap.com/item/312-lam-cach-nao-d...i-cho-vong-nghe
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 27 2016, 10:09 AM
Gửi vào: #127


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ðạt Tới Cảnh Giới Bất Ðộng Tâm

Người học Phật pháp, phải biết Phật pháp, phải tu trì Phật pháp. Cũng có thể nói là ăn bằng Phật pháp, mặc áo Phật pháp, ngủ trong Phật pháp, đi, đứng, nằm, ngồi thảy đều trong Phật pháp. Người biết Phật pháp, luôn luôn vị tha, để lợi ích của mọi người ở phía trước, tuyệt đối không nghĩ cho quyền lợi của mình. Nói tóm lại, phải đả phá bệnh "chấp ngã." Chỉ biết người, không biết mình, tới được trình độ ấy mới gọi là người biết Phật pháp.
Người tu trì Phật pháp thì bất cứ ở trong hoàn cảnh nào cũng không bao giờ động tâm. Tại sao vậy? Bởi vì nếu công phu tu hành tới mức thì ắt có đạo lực, và từ đó biết phân định cảnh giới nào là chân thực, cảnh giới nào là hư dối. Chẳng kể trước mắt là cảnh giới nào, chân thực cũng tốt, hư dối cũng tốt, chẳng có gì làm cho tâm động. Cho nên chúng ta thấy trong nhà Thiền thường có câu nói: "Phật đến chém Phật, ma đến chém ma," ý nghĩa là không chấp trước bất cứ thứ gì. Không chấp trước là giải thoát, giải thoát là tự tại. Học Phật là cầu giải thoát, cầu tự tại, tức là không còn bị ngũ dục trói buộc, vậy mới ra khỏi được tam giới, đến được cõi tịnh độ Thường Tịch Quang, gần gũi chư Phật và các vị Bồ-tát.
Thế nào là cảnh giới thực? Khi nào trong tâm không khởi lên động niệm thì mọi cảnh giới trước mắt đều là chân thực. Một khi tâm ngu si vọng động, tâm tưởng thấy cái này cái kia, thì cảnh giới lúc ấy phần nhiều là hư dối. Cảnh giới của Ðại Viên Kính Trí là thực, nhưng cảnh giới hiện lên trong tâm thức phân biệt là giả, cho nên có câu rằng: "Có tâm tức thị vọng tưởng, vô tâm tức thị cảm ứng." Ai học Phật pháp phải cố ghi nhớ! Tất cả mọi cảnh giới đến với chúng ta, ta phải có con mắt trạch pháp (chọn lựa pháp). Ta nhận thức cảnh giới mà không chấp vào nó. Bất luận đó là thực hay giả, ta đều không chấp trước. Nếu chấp thì cảnh giới chân cũng thành ra giả, nếu chẳng chấp thì giả sẽ biến thành chân. Nghĩa lý như thế nào? Lấy nước và băng chẳng hạn, băng vốn từ nước, nhưng nước chẳng phải băng, tính chất vật lý của nước là như thế, ai cũng biết. Như trong câu: "Phiền não tức Bồ-đề, Bồ-đề chẳng phải phiền não," thì phiền não có thể dụ cho băng, Bồ-đề là nước, còn vô minh là độ lạnh. Vì vô minh, nước kết băng; không vô minh, băng hóa ra nước. Khi là băng thì ở trong tam giới, chịu vòng sanh tử; khi là nước thì ra khỏi tam giới chẳng sanh tử.
Xin quý vị chú ý, quý vị phải dụng công ngay chỗ này. Lục Tổ đã từng nói: "Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, ngay lúc đó, cái gì là bổn lai diện mục của thượng-tọa Minh." Nghĩa lý như vậy đó. Nếu như chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, tức là không có niệm nào; vô niệm, vô trụ, nhất thiết không, chẳng có cái gì hết. Tới lúc đó sẽ thấy được bổn lai diện mục của mình, tức gốc gác của mình vậy.

TỰ TẠI PHI THA TẠI

(Vạn Phật Thành ngày 16 tháng 9 năm 1982)

Trên thế giới mỗi ngày mọi chuyện đều biến. Loài người, vạn vật, thời gian, không gian đều biến.
Mùa này đáng lẽ không mưa, song lại mưa; đó là khí hậu bất thường. Do có nhiều nhân duyên đặc thù nên nó mới biến. Như núi lửa bộc phát là vì lòng đất tích chứa áp lực lên khối đất bên trên quá lớn; đó cũng gọi là biến. Con người thất thường thì ta gọi là điên (bịnh thần kinh). Khí hậu thất thường thì ta gọi đó là bịnh thần kinh của khí hậu; chắc chắn là có chuyện bất thường xảy tới. Ðó đều không phải là hiện tượng tốt.
Trong lúc này, đủ thứ tai ương, tật bịnh phát sinh, mình cần phải dụng công tu hành, phải biến điều u tối thành điều kiết tường, phải làm cho tai họa trở thành bình an. Nếu mình không tu cho tốt thì khi khí hậu thay đổi, mình cũng thay đổi theo! Khi con người biến đổi về tâm lý thì nhiều vấn đề phát sinh. Nên kẻ học Phật Pháp, lúc có sự biến hóa phát sinh thì phải đặc biệt dụng công tu hành, hoặc là niệm Phật cho nhiều, hoặc là trì chú, tụng kinh cho nhiều. Khi có sức lực thì phải ráng làm nhiều chuyện tốt lành, bởi:

Ðức đại oan nghiệp tiêu.

(Ðức lớn thì oan nghiệp mới tiêu trừ được.)

Ở vào thời không bình thường thì mình phải "tùy duyên bất biến," theo duyên mà không thay đổi. Ðiều quan trọng nhất là đừng sinh lòng nóng giận, vì nóng giận thì tức là biến, là thay đổi. Con người muốn liễu sinh tử thì phải chịu nỗ lực. Nỗ lực tức là sao? Nghĩa là bất cứ làm việc gì đều phải hết sức chân thật. Khi gặp điều tai hoạ, chuyện nghịch ý, rắc rối thì đừng động tâm, đừng sinh lòng bực tức, nóng giận. Ðó tức là nuôi dưỡng cái tánh Trời, tánh Ðất trong người mình. Làm đặng như vậy thì có thể vá trời lấp biển, trở thành kẻ chân chánh tu Ðạo, chân chánh học Phật, cầu Pháp. Cho nên cần phải nghiên cứu một cách rõ ràng sâu sắc, không nên chấp trước mọi chuyện, mọi việc. Hễ chấp trước thì mình không giải thoát, tự tại.
"Khán phá, phóng hạ, tự tại." Khán phá tức là nhìn suốt; phóng hạ tức là buông xả, vất bỏ. Hễ khán phá thì hiểu suốt rõ ràng mọi sự; hễ phóng hạ thì giải thoát; hễ giải thoát thì mới chân chánh tự tại. Không giải thoát thì không thể tự tại được. Tự (mình) mà không tại thì tha (kẻ khác) tại. Tha tại tức là vọng tưởng đầy dẫy. Nếu theo mặt chữ mà nói thì đầy ý nghĩa: Tha tại tức là người khách chiếm đoạt cương vị người chủ; người chủ bây giờ không còn làm chủ nhà nữa. Các vị chú ý điểm đó: Người chủ mà không quản lý được nhà mình thì thật là điên đảo! Chuyện gì cũng sẽ không có quy củ!
Phóng hạ tức là giải thoát, nghĩa là đã tốt nghiệp trường Giới Luật rồi, và đã ra khỏi nhà phiền não, vô minh. Khi tốt nghiệp, lãnh bằng cấp chứng nhận tức là đã giải thoát. Có giải thoát thì mới tự tại; nếu tự mà không tại thì tha tại! Giặc mà lại thì bao nhiêu vật báu trong nhà đều bị y vét sạch cả. Tha tức là vô minh, vọng tưởng, phiền não, thiên ma, ngoại đạo, quỷ quái. Nếu mình không thể chăm sóc được nhà của mình thì đương nhiên kẻ khác sẽ chiếm đoạt. Cho nên các vị phải hết sức chú ý, cẩn thận: nhất định là phải tự tại!
Nhưng muốn tự tại thì trước hết mình phải nhìn cho xuyên thủng, phải thấu suốt rõ ràng mọi sự:

"Nguyện tiêu tam chướng, trừ phiền não,
Nguyện đắc trí huệ chân minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ Tát Ðạo."
Dịch là:

"Nguyện tiêu ba chướng, sạch phiền não,
Nguyện đạt trí huệ, thật suốt rõ,
Tất cả tội chướng nguyện tiêu trừ,
Ðời đời luôn tu Bồ Tát Ðạo."

Ðó là tự tại, tự làm chủ chính mình. Nếu muốn giải thích một cách sâu xa thì tự mà không tại tức là Phật tánh không hiện tiền; khi đó ma vương ngự trị bên trong nhà, và chính mình bị Lục tặc xâm phạm, nên dù muốn về nhà cũng về không đặng. Do đó từ sáng đến tối, mình cứ luôn luôn có ý nghĩ phạm giới. Tuy chưa thật sự phạm giới, nhưng lúc nào cũng có tư tưởng phạm giới, vậy không phải ngu si thì là gì?
Cho nên tự mà không tại thì bị giặc xâm phạm; tự mà tại thì mới làm được chủ nhà mình. Tự mà không tại thì không tự chủ, cứ như bị giòng nước trôi, tùy theo cảnh giới mà luân chuyển. Hợp với người mà không a dua với đám đông, đó là ý nghĩa không bị cảnh giới làm lay chuyển. Cho nên kẻ tu hành dụng công chẳng ở đâu khác: ngay nơi thân này, nơi mạng này, nơi tánh này. Làm chuyện gì mình cũng phải thấu suốt rõ ràng. Ðược vậy mình sẽ không làm chuyện hồ đồ, mà sẽ đạt đến chỗ tri hành hợp nhất!

Tự Xét Sai Lầm Của Mình


Như bảo rằng: "Tôi có thể nghe được tiếng nói ở không trung," đây tức là cảnh giới ma, không phải là cảnh giới của người vào định. Người tu đạo không thể nói như vậy mà phải theo được các câu sau :
Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ.
Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn.
Tự tánh pháp môn thệ nguyện học.
Tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành.
Người tu học phải luôn luôn quay lại chiếu soi mình, chớ không phải hướng ra ngoài tìm cầu, bởi ở bên ngoài không có cái gì để kiếm được. Ngay trong tự tánh của mình, mọi thứ đều có sẵn, đều hoàn bị. Chúng ta hãy tự hỏi mình có tu hay không tu? Có hạ công phu không? Ðừng hỏi gì khác, chỉ hỏi ta có tham không? Có tham, tức là không tu hành. Không tham, tức là có tu hành. Cái đó mới là quan trọng nhất.
Lại tự hỏi mình, có tâm sân không? Bỗng dưng người ta đánh mình, mình có nổi nóng không? Nếu quý vị nổi nóng tức là quý vị chưa có công phu. Nếu quý vị thực không nổi nóng, quý vị cũng không nên tự cho là mình hết chấp ngã, cái đó chỉ là giảm phần nào tâm chấp ngã đó thôi. Chúng ta phải theo cho được các câu sau: "Ðánh ta, coi như không thấy; mắng ta, lấy lẽ đối xử" - Ðả ngã, một khán kiến; mạ ngã, bả lý phục - Hy vọng quý vị ở đây theo đó dụng công phu.
Nếu nổi nóng, tức chưa có tu hành, chưa buông xả. Buông xả được thì ai là người phiền não? Ai là kẻ trêu chọc? Nếu không phiền não, cũng sẽ không nổi nóng, đây là bổn phận của người tu. Cũng không thể nói là ta tu hay, cái đó chỉ là tiến được một bước. Không thể có lòng cống cao ngã mạn, tự coi mình giỏi. Như nói: "Này! Các người đến đây coi chúng tôi tu, số một thế giới đấy!" Ðấy chính là đại ngã mạn! Ðại ma vương! Ngàn vạn lần quý vị không nên có những ý nghĩ như vậy, bởi nói cách đó chính là tà tri tà kiến.
Soi lại chính mình, thử xét mình có ngu si không? Có điều gì không được hiểu rõ, còn bị chướng ngại? Một điều thông, mọi thứ đều thông, và đây cũng chỉ là bước đầu của việc tu tập. Không thể nói rằng ta biết đã đủ rồi, tất cả đều viên mãn, nói như vậy là tính cuồng mạn. Có câu nói: "Chân không vô nhân ngã, đại đạo vô hình tướng." Ðã là chân không thì cái gì là người? Cái gì là ta? Làm sao còn vọng tưởng? Như chứng được tam-ma-địa thì tự nhiên nước cam-lồ hiện tiền, đâu cần phải chạy đi đâu tìm kiếm, tất cả đã ở trong tự tánh rồi.
Người tu đạo không thể mang bộ mặt giả dối, mang cái nhãn hiệu tu mà sự thực chẳng tu, cái đó người ta nói là: "Treo đầu dê, bán thịt chó," làm những việc không đúng pháp làm sao chứng được tam-ma-địa! Kẻ tu hành chân chánh mà chuyên tâm niệm Quán Âm thì sẽ chứng tam-muội. Cảnh giới tam-muội thì gặp trời lạnh không cảm thấy lạnh, trời nóng không thấy nóng, thiếu nước không biết khát, thiếu ăn không thấy đói, diệu dụng như vậy, nhiệm mầu không thể nói hết.
Người tu đạo phải thực lòng mà tu hành, cốt lấy cái thực chớ không tham cái danh giả. Tu hành là nói tới cái công phu thực sự, đem ra mà khảo nghiệm. Không thể tự mình đánh trống thổi kèn, rêu rao rằng ta là người đạo hạnh. Giả hay thực, nhìn qua là biết. Người tu không thể dối người khác, dối người là tội đọa địa ngục. Lại cũng không thể tu được chút ít mà đã tự coi là đầy đủ, giống như cái bánh vẽ không thể làm cho no bụng được. Tuy có câu nói rằng "thấy trái mơ thì hết khát nước," nhưng cảm giác này chỉ là tạm thời, chớ không làm cho hết khát thực sự. Phải noi theo cho đúng phép tắc thì mới là con đường chánh để tu hành.


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 28 2016, 01:29 PM
Gửi vào: #128


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tỉnh thức

Thiền sư Vô Căn trong một lần nhập định 3 ngày, thần thức của ông xuất khỏi thân thể. Các đệ tử tưởng lầm rằng ông đã tịch diệt nên mang nhục thân ông đi hỏa táng. Sau 3 ngày thần thức của ông trở về nhưng không tìm được nhục thân. Tìm không được nhục thân nên thần thức thiền sư Vô Căn quanh quẩn nơi căn phòng ông ở, liên tiếp than thở nhiều ngày đêm thống thiết : Tôi ơi, Tôi ở đâu?… Tôi ơi, Tôi ở đâu?…
Điều này làm cho các đệ tử của ông rất kinh sợ. Một người bạn của thiền sư Vô Căn là thiền sư Diệu Không nghe tin liền đến thiền viện và bảo các đệ tử của thiền sư Vô Căn là đêm đó thiền sư sẽ nghỉ lại trong phòng của thiền sư Vô Căn rồi nhờ họ mang đến cho ông một thau nước và một bếp lửa.
Đêm đến, thiền sư Diệu Không nghe thấy tiếng than thống thiết của bạn : Tôi ơi, Tôi ở đâu ...?… Tôi ơi, Tôi ở đâu?…
Thiền sư Diệu Không liền nói với thần thức của thiền sư Vô Căn :
- Ông ở trong bùn.!
Thần thức thiền sư Vô Căn liền lao xuống bùn tìm kiếm. Một lát sau thần thức thiền sư Vô Căn trở lại gặp thiền sư Diệu Không nói :
- Tôi tìm mãi mà không có Tôi trong bùn.
Thiền sư Diệu Không chỉ tay vào thau nước nói :
- Ông ở trong nước.!
Thần thức thiền sư Vô Căn lẩn vào trong nước tìm kiếm. Lát sau thần thức của ông trở lại gặp thiền sư Diệu Không nói :
- Tôi tìm Tôi mãi trong nước, vẫn không có ...!
Thiền sư Diệu Không lại chỉ tay vào bếp lửa nói :
- Ông ở trong lửa.!
Thần thức thiền sư Vô Căn lao vào trong lửa tìm kiếm. Lát sau thần thức của ông trở lại gặp thiền sư Diệu Không nói :
- Tôi tìm Tôi trong lửa mãi vẫn không có.!
Lúc này thiền sư Diệu Không chỉ tay vào hư không nói :
- Ông ở trong hư không.!
Thần thức của thiền sư Vô Căn bay vào trong hư không tìm kiếm. Lát sau thần thức của ông trở lại gặp thiền sư Diệu Không nói :
- Tôi tìm Tôi khắp nơi trong hư không mà vẫn không tìm được ...
Khi ấy thiền sư Diệu Không lại nói :
- Ông là người có đầy đủ thần thông, thần lực, an nhiên tự tại đi và đến khắp mọi nơi mọi chổ từ bùn đến nước, từ nước đến lửa, từ lửa đến hư không như thế thì lý do gì mà ông cứ phải dính mắc với cái thân thể hôi dơ đó chứ.?
Nghe vậy, thần thức của thiền sư Vô Căn liền tỉnh thức. Kể từ đó không còn ai nghe tiếng thở than thống thiết của thần thức thiền sư Vô Căn.”
(Trích theo một truyện thiền Nhật Bản)
Hầu như tất cả mọi người sống trên trái đất này không một ai tránh khỏi một lần vấp ngã và nhận chịu khổ đau ! Có khi còn phải đối mặt với những việc làm cho mình khổ đau đến cùng tận, những tưởng rằng mình đã cùng đường, cứ đắm chìm, ngụp lặn, lăn lộn, vướng mắc trong nỗi khổ đau tưởng như "cùng tận" ấy và chẳng còn nhớ gì đến những hạnh phúc, những nỗi vui hiện diện xung quanh mình.!
Người bạn này không trung nghĩa thì mình còn nhiều người bạn trung nghĩa khác. Chổ này công việc không tốt thì còn vô số chỗ khác công việc tốt hơn. Thất bại hôm nay nhưng còn có ngày mai. Thi rớt kỳ này nhưng vẫn còn kỳ tới. Đứa con dâu ngỗ nghịch với mình thì mình còn đứa con trai. Đứa con trai ngỗ nghịch với mình thì mình còn đứa con gái. Đứa con gái ngỗ nghịch với mình thì mình còn đứa con rể. Đứa con rể ngổ nghịch với mình thì mình còn đứa con dâu. Tất cả đều ngỗ nghịch với mình thì mình còn có ông chồng (bà vợ). Ông chồng (bà vợ) phản bội mình thì mình còn có cha mẹ, anh chị em, bạn hữu, con cái, cháu chắt, và thậm chí là chính bản thân mình.
Đừng cho phép bất cứ ai làm mình đau khổ.! Khổ hay vui là do chính bạn đấy. Bạn là người có toàn quyền quyết định cái khổ, cái vui cho mình trong mọi biến cố xảy ra trong đời bạn.
Bạn đau khổ vì bạn cho rằng người khác làm cho bạn đau khổ ! Trong khi người làm cho bạn khổ đau luôn tự tại an nhiên !
Vậy tại sao bạn lại tự làm mình đau khổ ...?
Hơn hết, Khổ đã tận, thì Cam sẽ lai, như là giờ phút thần thức thiền sư Vô Căn được thiền sư Diệu Không giúp cho tỉnh thức.
Thân chúc các bạn luôn tỉnh thức !
................................
Trần Lê Túy Phượng.

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 15 2016, 08:32 AM
Gửi vào: #129


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Bài học về Lòng từ bi từ Đức Đạt Lai Lạt Ma

“Love and compassion are necessities, not luxuries. Without them humanity cannot survive.”
Dalai Lama 14

Tác giả​ ​:​ ​Margaret Moodian: Educator, Nonprofit Leader,
Court Appointed Special Advocate for Foster Youth, Ed.D.
Dịch gỉa: Tường Anh Xuân Hà

Bài học về Lòng từ bi từ Đức Đạt Lai Lạt Ma

Nhân dịp Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng về “Sức Mạnh của Lòng Từ Bi, chìa khoá để hoàn thành các giá trị lớn cho bản thân và cho người khác” (The Power of Compassion as Key to Accomplishing Greater Values to Self and Others) vào lúc 9 giờ sáng ngày 18/6/2016 tại chùa Điều Ngự, TP. Westminster, bang California, chúng tôi giới thiệu bài viết của Tiến sĩ Margaret Moodian về “Bài học về lòng Từ Bi từ Đức Đạt Lai Lạt Ma” vào dịp bà nghe Ngài giảng nhân buổi lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Ngài. Bài do Tường Anh chuyển ngữ.

“Nếu bạn muốn người khác hạnh phúc, hãy thực hành tâm từ bi.
Nếu bạn muốn mình hạnh phúc, hãy thực hành tâm từ bi.”
Đức Dalai Lama 14

Gần đây tôi đã tham dự buổi thuyết giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại trường Đại Học California, Irvine nhân buổi lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Ngài. Ngài nói rằng tất cả những điều Ngài muốn cho ngày sinh nhật của mình là lòng từ bi; một đặc điểm mà Ngài tin là có thể chiến thắng được bất cứ việc gì. Việc đó đã kích thích sự tò mò nơi tôi. Với tất cả những sự xung đột diễn ra trên thế giới và các vấn đề có thể được giải quyết nếu có thêm lòng từ bi, tôi nghĩ nó sẽ làm sáng tỏ cho việc nghiên cứu các quan điểm của Đức Đạt Lai Lạc Ma về lòng từ bi.

Các giảng thuyết về lòng từ bi của ngài được đặt trên căn bản của Phật Giáo Tây Tạng. Thuật ngữ lòng từ bi của tiếng Tây Tạng là nying je, mà theo lời nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma, “có nghĩa là tình yêu, tình thương, sự ân cần, nhẹ nhàng, tinh thần rộng lượng và nhiệt tình.” Những người có những đặc điểm này muốn giúp đỡ những người đau khổ. Nếu các bạn nhìn vào gốc chữ La-tinh của từ lòng từ bi, chúng là com, có nghĩa là với, và pati, có nghĩ là đau khổ. Do đó, nghĩa đúng của từ lòng từ bi là đau khổ.

Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Dưỡng đường Mayo (Mayo Clinic) tại Rochester, MN để kiểm tra sức khỏe định kỳ, Ngài đã trao đổi ý kiến về tầm quan trọng của việc thực hành tâm từ bi để hóa giải tâm trạng căng thẳng. Ngài đã nói với một vài bác sỹ và các chuyên viên y tế khác, “Lòng từ bi mở lòng chúng ta. Sợ hãi, tức giận, và ganh tị làm tâm chúng ta trở nên nhỏ hẹp.” Ngài cho rằng có lòng từ bi đối với người khác là một cách giúp con người có được sức mạnh khi đối mặt với những vấn đề sức khỏe và những sự lo lắng.

Ngài giảng rằng lòng từ bi và sự bình yên nội tâm là điều quan trọng và điều đó dẫn đến những điều khác. Khi thực hành tâm từ bi, bạn cũng sẽ giúp cho chính bản thân mình. Có được tâm bình an trước khi giúp người khác là điều quan trọng. Chăm sóc cho chính bản thân bạn trước khi giúp người khác cũng là điều quan trọng. Một khi có được sự bình yên nội tâm thì bạn có thể bắt đầu giúp người khác và khi bạn giúp người khác, bạn tiếp tục làm cho tâm bình an của mình mạnh hơn. Việc thực hành tâm từ bi giúp con người quan hệ với nhau tốt hơn. Chúng ta cần nỗ lực để nhìn thấy một thế giới như thực thay vì làm thế nào để hiệu chỉnh chúng. Có rất nhiều nỗi đau trên thế gian này mà chúng ta vờ như không biết đến. Nếu mở mắt nhìn rõ nó, chúng ta sẽ gần với hiện thực hơn mà trong đó mọi người đều có lòng từ bi và sự hiểu biết. Tôi là một thành viên hội đồng quản trị Trung Tâm Giáo Dục Trẻ Em Mù (Blind Children’s Learning Center) tại North Tustin, bang California. Đôi khi cha mẹ đăng ký cho con mình với đầy đủ thị giác học cùng với những trẻ bị giảm thị lực tại trường này. Đây là một loại hình giáo dục tốt nhất mà một đứa trẻ có thể có được. Khi trẻ được tiếp xúc với những trẻ khác ít may mắn hơn chúng, việc này làm cho chúng mạnh mẽ hơn nhiều. Có một sự khác biệt giữa lòng thương hại và lòng từ bi. Khi trẻ có thị giác biết tốt hơn về trẻ bị giảm thị giác thì chúng có khả năng có lòng từ bi hơn đối với những trẻ giảm thị giác đó.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng lòng từ bi “thuộc về loại tình cảm mà nhận thức đã phát triển hơn.” Lòng từ bi là một sự trộn lẫn giữa lòng cảm thông và lý trí. Khi chúng ta thực hành tâm từ bi, chúng ta sẽ có thêm sức mạnh, sự bình an, lòng hoan hỷ và việc này sẽ lan tỏa tới tất cả mọi người mà chúng ta giao tiếp. Chúng ta càng có lòng từ bi hơn đối với người khác, chúng ta sẽ càng nhận được nhiều tình thương và sự ân cần hơn. Lòng từ bi lan toả từ người này sang người khác. Khi bạn có lòng (từ bi) với người khác, họ sẵn lòng (từ bi) hơn với bạn. Ví dụ, một trong những người bạn tốt của tôi đã bất ngờ đãi tôi ăn tối vào một đêm nọ. Khi tôi về nhà, tôi cảm thấy ngọt ngào hơn đối với họ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng có ba mức độ của lòng từ bi. Mức đầu tiên là sự đồng cảm: hãy tưởng tượng bạn sẽ cảm thấy như thế nào nếu bạn đi trong giày của người khác. Giai đoạn thứ hai là gây nguồn cảm hứng để luyện tập. Giai đoạn này đòi hỏi người ta đặt lòng từ bi lên trên cuộc sống khoái lạc. Một ví dụ cho việc này là gần đây bạn tôi, Fred, đang vui ở nhà khi bạn anh ấy gọi điện nói anh ta bị mắc kẹt giữa sa mạc cách xa đây 4 giờ lái xe. Fred ra ngoài để trợ giúp bạn mình. Luyện tập liên tục ở giai đoạn này là cần thiết và là giai đoạn khó khăn nhất trong ba giai đoạn vì nó liên quan đến quyết định liên tục. Người thực hành tâm từ bi trong giai đoạn này có thể trở nên mệt mỏi và nản chí như Fred có thể trở nên như vậy khi lái xe đến sa mạc. Tính kiên nhẫn thông qua điều này sẽ làm tăng trưởng lòng từ bi. Giai đoạn thứ ba là “sự hiện diện liên tục của lòng từ bi lớn hơn.” Mọi người trong giai đoạn này liên tục cảm thấy người khác đau khổ như chính họ đau khổ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng chúng ta nên thực hành tâm từ bi ngay cả với những người làm hại chúng ta. Ngài nói rằng bạn không nên gán cho người khác là bạn hay là thù vì một người nào đó có thể một lần đã giúp bạn và lần khác làm tổn thương bạn. Đức Đạt Lai Lạc Ma nói rằng người nào mà bạn xem là kẻ thù có thể giúp bạn thực hành tâm từ bi. Ngài nói rằng họ cũng sẽ giúp chúng ta luyện tập sự khoan dung và tính kiên nhẫn. Chúng ta không thể luyện tập lòng khoan dung với người mà chúng ta tôn trọng. Nếu suy nghĩ cách này không có hiệu quả thì chúng ta có thể tưởng tượng một người khác làm những việc tốt đẹp cho chúng ta cho đến khi những cảm giác ghét bỏ tiêu tan.

Điều thiết yếu là hãy thương yêu lấy chính bản thân mình. Nếu không thương yêu chính bản thân mình thì làm sao chúng ta có thể mở rộng lòng thương yêu đó đối với người khác? Lòng từ bi chúng ta dành cho người khác là một sự mở rộng lòng từ bi chúng ta dành cho chính mình. Khi chúng ta tặng món quà lòng từ bi cho người khác, đây là một bước tiến đến sự thay đổi thế giới.

“Tình thương và lòng từ bi là cần thiết chứ không xa xỉ. Không có tình thương và lòng từ bi, nhân loại không thể sống còn.”
Đức Đạt Lai Lạt Ma.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 23 2016, 08:43 PM
Gửi vào: #130


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Đón mừng Đức Đạt lai lạt Ma tại chùa Điều Ngự:
https://youtu.be/yxEnOR3yJDs


Nhà báo Vũ Chung kể chuyện gặp gỡ vị lãnh đạo tinh thần Phật Giáo Tây Tạng: Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14:

https://youtu.be/4QMyYkj6DeA
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 27 2016, 01:23 AM
Gửi vào: #131


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Quán niệm Cái Chết

Thinh thoảng trong đời chúng ta nên suy nghiệm về cái chết. Ðúng ra, chúng ta nên nghiệm về nó hàng ngày. Ðức Phật khuyên nên nghĩ về cái chết thường xuyên ( Maraṇānussati ) vì làm vậy có nhiều cái lợi.Chúng ta hãy xem suy nghiệm về cái chết thì được lợi như thế nào.
Trước tiên, chúng ta cần nói rõ rằng suy nghiệm về cái chết không có nghĩa chúng ta phải trở nên buồn rầu, sợ hãi, bệnh hoạn, hoặc ngã lòng, chỉ muốn tự tử. Không, trái lại khi nghiệm một cách hiểu biết về cái chết chúng ta càng có thể sống một cách hiểu biết và từ bi hơn.
Thí dụ: Mỗi khi bực mình khó chịu, tôi thường suy nghiệm như thế này (nếu tôi không bị mất tỉnh giác lắm): “Ðời sống rất ngắn, ai cũng sẽ chết đến nơi. Vậy gây gỗ cãi nhau với người khác thì được ích lợi gì?
Nổi cơn nóng giận thì được ích lợi gì?
Hoàn toàn không được gì cả. Tốt hơn là mình nên giữ lòng bình an. Cãi nhau hay nổi nóng không giải quyết vấn đề, mà chỉ tạo thêm hận thù phiền toái”Nghĩ như vậy giúp tôi nguôi lại, tự kiểm soát lấy mình không để bị cảm giác sai lôi cuốn, và quan hệ với người khác nhẹ nhàng khéo léo hơn. Ðương nhiên điều này không phải luôn luôn dễ làm và đôi khi (có lẽ rất nhiều khi) tôi quên đi và bị vướng vào những đại ngôn và xúc cảm quá mức, nhưng khi tôi đã tự nhắc được mình về sự ngắn ngủi của cuộc đời và sự phi lý của việc nổi nóng, tôi nguôi lại và ăn nói với sự dịu dàng và tự chế. Cũng vậy, khi tôi bị kích động hoặc lo lắng về một chuyện gì đó, tôi tự hỏi:
“Lo lắng bồn chồn có được ích gì?
Cuộc đời sẽ trôi qua và cái chết chờ đón tất cả mọi người. Không ai trên thế giới này có thể thoát được cái chết. Cái chết làm bình đẳng tất cả mọi người. Do đó, khi còn sống thì tôi nên sống cách tốt nhất mà tôi có thể làm được, tức là sống theo đạo pháp, sống với tỉnh giác, sống từng giây phút một, từng ngày một, làm hết sức của mình cho ngày đó”.Nghĩ minh mẫn như vậy, thì tôi sẽ bỏ qua mọi lo lắng và sống một cách nhẹ nhàng hạnh phúc hơn.
Hơn nữa, chúng ta có thể suy luận rằng: “Dù có lo hay không lo, tất cả chúng ta đều sẽ già và chết. Vậy thà chúng ta già mà không lo lắng thì chẳng hay hơn không!” Ðó là điều sáng suốt hơn. Không ai có thể chối cãi sống không lo là sướng. Ngược lại lo nhiều làm chúng ta rút ngắn tuổi thọ, gây thêm bệnh và chết sớm. Nghĩ được như vậy cũng giúp chúng ta bỏ qua mọi lo lắng và sống hạnh phúc hơn.
Do vậy, suy nghĩ về cái chết một cách hiểu biết thì chúng ta càng bao dung nhẫn nại hơn, tử tế dịu dàng hơn, đối với bản thân chúng ta cũng như đối với người khác. Và rồi chúng ta cũng ít
bám víu vào của cải vật chất, ít tham lam hơn. Vâng, khi chúng ta nhận rõ sự ngắn ngủi của cuộc đời, và cho dù chúng ta tích lũy của cải được bao nhiêu, khi chết chúng ta cũng chẳng mang theo được một xu, thì chúng ta sẽ ít tính toán hơn. Chúng ta có thể nới lỏng ra và bắt đầu hưởng trọn niềm vui chia xẻ và ban bố, yêu thương và quan tâm người khác. Chúng ta sẽ nhận ra rằng cuộc đời không phải chỉ là tích lũy dành dụm của cải. Chúng ta sẽ thích rộng rãi hơn, chia xẻ và đem niềm vui và hạnh phúc đến cuộc đời người khác. Mang lại niềm vui và hạnh phúc đến cho người khác chính là cái làm cho cuộc đời có ý nghĩa và đẹp hơn. Ðó mới là điều quan trọng.
Lòng thương yêu và trắc ẩn có thể mọc chồi và nở hoa trong chúng ta giống như một cây đầy hoa đẹp. Chúng ta có thể trở thành những con người thật sự tốt đẹp đầy lòng từ bi, đáp ứng bằng cả con tim mà không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, v.v… Cuộc đời chúng ta sẽ có thêm ánh sáng mới và chúng ta có thể nói mình thật sự hạnh phúc và nhân bản. Và khi cái chết đến chúng ta sẽ không có gì ân hận. Chúng ta có thể chết một cách hạnh phúc và an bình, với một nụ cười trên môi.
Sẽ không buồn những buổi chiều
Khi mình đã Sống rất nhiều.. ban mai..
Như Nhiên -(Yêu và Chết)

Về Trong Tỉnh Thức

Em đừng mãi loay hoay tìm chỗ đứng
Cần hỏi mình rằng: ” phải Sống làm sao? ”
Vẫn có đấy, những người trong thầm lặng
Cúi xuống tận cùng mà hồn lại thanh cao!.

Đời lắm lúc vui cũng làm ta khóc,
Mà buồn tênh.. vẫn khiến rộ môi cười?
Hạnh phúc đến từ những điều bình dị
Trong chập chùng mưa nắng, giữa buồn, vui..

Đời đau khổ vì biến thành nô lệ
Cho ” hồn ma bóng quế ”, những phù hư..
– Người nghèo khó dẫu tiền rừng bạc bể
Còn ta giàu dù.. túi chẳng một xu.

Em đừng mãi đi xa tìm hạnh phúc
Hãy yên ngồi nhận diện ở chung quanh..
Có đôi lúc thiên đường và địa ngục
Chỉ cách nhau bằng một sợi tơ mành..

Đời bể khổ – ta có quyền không khổ
Thân buộc ràng, ai nhốt được hồn mây?
Lòng thanh thản niềm vui tìm bến đổ
Khổ vì ưa ước hẹn kiếp lưu đày.

Thôi đừng mãi băn khoăn tìm lẽ sống
Lý tưởng là… tưởng có lý thôi em!
Sống Tỉnh Thức giữa chập chùng ảo mộng
Hạnh phúc theo hơi thở đến bên thềm…
Như Nhiên – (Thích Tánh Tuệ)

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 1 2016, 07:19 AM
Gửi vào: #132


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Xin hãy lắng lòng nghe, chiêm nghiệm, và thực hành những lời dặn dò cuối cùng của Đức Phật để thân tâm an lạc thật sự.

Thật ra Phật đã đau yếu từ ba tháng trước và đã khởi sự dặn dò người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà. Phật bảo A-nan-đà tập họp các đệ tử để nghe giảng và thông báo trước sự tịch diệt của mình. Lúc ấy Phật đã 80 tuổi. Trong những tháng cuối cùng, Phật đã gầy còm và mệt mỏi, nhưng vẫn đi thuyết giảng như thường, tuy không còn đi xa được nữa. A-nan-đà xin Phật hãy tĩnh dưỡng trong những ngày còn lại, nhưng Ngài khoát đi và dạy rằng :

"Thân ta tuy có kém mạnh khoẻ, nhưng lòng từ bi của ta, trí sáng suốt của ta không kém sút. Ta còn tại thế ngày nào thì ngày ấy không phải là một ngày vô ích".

Trong một khu rừng cạnh thị trấn Câu-thi-na (Kusinaga, còn viết là Kuçinagara), ngày nay là một thị trấn nhỏ tên là Kasia, cách 50 cây số về phía đông tỉnh Gorakhpur, và cách 150 kilomét về phía bắc-đông-bắc Varanasi (Bénarès), Phật nằm nghỉ giữa hai gốc cây sa-la. Ngài tự gấp áo cà sa làm bốn, rồi nằm nghiêng về phía tay phải, đầu hướng về phía bắc, mặt hướng về phía tây, hai chân duỗi thẳng, chân này gác lên chân kia. Sau đó Phật ngỏ những lời cuối cùng với các đệ tử để nhắc lại một lần nữa tầm quan trọng của Đạo Pháp. Phật nhắc nhở các đệ tử phải hiểu rằng vị thầy của họ không phải là một nhân vật nào cả, dù đó là Phật, vị thầy đích thực của họ chính là Đạo Pháp. Phật cất tiếng và nhắn nhủ các đệ tử đang ngồi chung quanh Ngài như thế này :

"Này các đồ đệ, các con hãy tự làm đuốc để soi sáng cho các con, hãy trông cậy vào chính sức mạnh của các con; không nên lệ thuộc vào bất cứ ai. Những lời giảng huấn của ta sẽ làm ngọn đuốc dẫn đường cho các con, làm nơi nương tựa cho các con; không cần phải lệ thuộc thêm vào những lời giảng huấn nào khác nữa.

Hãy nhìn vào thân xác các con, các con sẽ thấy cái thân xác đó ô uế biết chừng nào. Khi các con hiểu được rằng lạc thú lẫn đớn đau của thân xác cũng chỉ là cội nguồn chung của khổ đau, khi hiểu được như thế, các con sẽ không thể nào tự buông lỏng cho dục vọng chi phối các con.

Hãy nhìn vào tâm thức các con, các con sẽ thấy cái tâm thức đó biến dạng không ngừng. Vì thế các con sẽ không thể nào tự buông rơi vào chính những ảo giác của tâm thức, để rồi tự duy trì những kiêu căng và ích kỷ do tâm thức tạo ra, nhất là khi các con đã hiểu rằng những xúc cảm đó nhất định chỉ mang đến khổ đau mà thôi.

Hãy nhìn vào tất cả các vật thể chung quanh xem có vật thể nào trường tồn hay chăng? Có vật thể nào không phải là những cấu hợp sinh ra hay không? Tất cả sẽ gẫy nát, tan rã và phân tán. Các con chớ sợ hãi khi nhận thấy khổ đau cùng khắp mọi nơi, hãy noi theo những lời giáo huấn của ta, kể cả sau khi ta đã tịch diệt. Như thế các con sẽ loại bỏ được khổ đau. Thật vậy, cứ noi theo những lời giáo huấn của ta, rồi nhất định các con sẽ trở thành những đồ đệ thật sự của ta.

Này các đồ đệ của ta, những lời giáo huấn ta giảng cho các con, các con đừng bao giờ quên, đừng bao giờ để cho mai một đi. Phải bảo tồn những lời giáo huấn ấy, đem ra nghiên cứu và thực hành. Nếu theo đúng những lời giáo huấn ấy, các con sẽ đạt được an vui.

Những gì hệ trọng nhất trong những lời giáo huấn của ta là các con phải kiểm soát được tâm thức các con. Hãy gạt bỏ mọi thèm muốn và giữ cho thân xác đứng thẳng, tâm thức tinh khiết và ngôn từ chân thật. Nếu các con biết tự nhắc nhở là cuộc sống của các con chỉ là tạm bợ, các con sẽ đủ khả năng loại bỏ mọi thèm khát và hung dữ đưa đến khổ đau.

Nếu các con nhận ra được là tâm thức các con đang có xu hướng bám níu hay vướng mắc vào ham muốn, các con phải gạt bỏ ngay sự ham muốn và chận đứng sự cám dỗ đó. Các con phải làm chủ được tâm thức các con.

Tâm thức có khả năng biến một con người thành một vị Phật hay một con thú. Khi rơi vào sự lầm lẫn, ta có thể trở thành quỷ sứ, nhưng khi Giác ngộ ta sẽ thành Phật. Vì thế, các con phải kiểm soát lấy tâm thức các con và không đi lạc ra ngoài Chính Đạo.

Để có thể giữ đúng như lời giáo huấn của ta, các con hãy kính trọng lẫn nhau và đừng cãi vã. Đừng bắt chước như nước với dầu xô đẩy lẫn nhau; hãy bắt chước như nước với sữa, có thể hoàn toàn hòa lẫn vào nhau.

Hãy cùng nghiên cứu với nhau, cùng giảng giải cho nhau, thực hành với nhau. Không nên phí phạm tâm thức của các con và thời giờ của các con trong sự cãi vã hay lười biếng. Hãy hân hoan đón nhận hoa thơm của Giác ngộ vào lúc ra hoa và hái lấy quả ngọt trên Đường Ngay Thật.



Những lời giáo huấn ta ban cho các con là do nơi kinh nghiệm của chính ta, và chính ta đã noi theo con đường đó. Các con nên tuân theo những lời giáo huấn ấy và giữ đúng như thế dù phải gặp hoàn cảnh khó khăn nào. Nếu các con xao lãng, có nghĩa là các con chưa hề gặp được ta, các con thật sự còn đang ở một nơi nào đó thật xa, dù cho trong lúc này đây các con đang ngồi bên cạnh ta cũng vậy. Nhưng nếu ngược lại, các con chấp nhận và đem ra thực hành những lời giáo huấn của ta, thì dù cho các con ở thật xa trong một chốn tận cùng của thế giới, nhưng cũng giống như các con đang ở bên cạnh ta trong lúc này.

Hỡi các đồ đệ, phút cuối cùng của ta đã gần kề, phút xa lìa giữa ta và các con không còn bao lâu nữa. Tuy nhiên các con không nên than khóc. Sự sống là một sự đổi thay không ngừng và không có gì cản trở được sự tan rã của xác thân. Cái sự thực đó, ta đang chứng minh cho các con thấy ngay trên thân xác của ta, thân xác ta sẽ tan rã như một cỗ xe hư nát. Đừng than khóc một cách vô ích, trái lại các con phải hân hoan khi nhận ra được cái quy luật biến đổi ấy và hiểu được rằng sự sống của con người chỉ là trống không mà thôi. Đừng cố gắng duy trì cái khát vọng phi lý, mong muốn những gì tạm bợ phải nhất định trở thành trường tồn.

Con quỷ của những dục vọng thế tục luôn luôn tìm cách đánh lừa tâm thức các con. Nếu có một con rắn độc trong phòng, các con sẽ không thể nào ngủ yên nếu chưa đuổi được nó ra ngoài. Các con phải cắt đứt những mối dây ràng buộc của thèm khát thế tục và dứt bỏ những mối dây đó như các con đã đuổi bỏ con rắn độc ra khỏi phòng. Các con phải bảo vệ thật cẩn thận tâm thức các con.

Này các môn đệ của ta, giây phút cuối cùng của ta đã đến, tuy vậy các con phải hiểu rằng cái chết chỉ là sự tan rã của xác thân vật chất mà thôi. Thân xác được cha mẹ sinh ra, nó lớn lên nhờ thức ăn, nó không có cách gì tránh khỏi bịnh tật và cái chết. Một vị Phật đích thực không mang thân xác con người, mà vỏn vẹn chỉ là sự Giác ngộ. Chỉ có sự Giác Ngộ mà thôi. Thân xác con người phải tiêu tan, nhưng Trí tuệ của Giác ngộ sẽ trường tồn vô tận trong thực thể của Đạo Pháp, trên con đường tu tập Đạo Pháp. Nếu có ai chỉ thấy thân xác ta thì kẻ ấy không thấy ta một cách thật sự. Chỉ có người nào chấp nhận những lời giáo huấn của ta mới thật sự nhìn thấy ta.

Sau khi ta tịch diệt, Đạo Pháp thay ta làm vị thầy cho các con. Biết noi theo Đạo Pháp, ấy chính là cách các con tỏ lòng trung thành với ta. Trong bốn mươi lăm năm sau cùng trong cuộc đời của ta, ta không hề giấu giếm điều gì trong những lời giáo huấn. Chẳng có một lời giáo huấn nào bí mật, không có một lời nào mang ẩn ý. Tất cả những lời giảng của ta đều được đưa ra một cách ngay thật và minh bạch.

Này các con yêu quý của ta, đây là giây phút chấm dứt. Trong một khoảnh khắc nữa ta sẽ nhập vào Niết bàn. Những lời này là những lời dặn dò cuối cùng của ta cho các con".

Người chép lại những lời này của Phật xin chắp tay mong rằng :

- Vì Phật, chúng ta hãy đọc lại những lời nhắn nhủ trên đây thêm một lần.

- Vì tất cả chúng sinh, vì sự đau khổ của muôn loài, chúng ta lại đọc thêm một lần nữa.

- Để gửi đến từng đơn vị nhỏ nhoi nhất của sự sống, chúng ta lại đọc thêm một lần nữa, đọc thêm một lần nữa…

Chúng ta nguyện sẽ đọc lên và đọc lên cho từng chúng sinh một, ta đọc cho đến khi nào những lời dặn dò trên đây của Phật trở thành những lời dặn dò xuất phát từ chính tâm thức ta, để nhắn nhủ cho chính ta, nhắn nhủ những người chung quanh ta, kể cả những sinh linh nhỏ nhoi nhất của sự sống. Khi những lời nhắn nhủ chân thật và tràn đầy Từ bi trên đây của Phật trở thành làn hơi thở của của chính ta, thì biết đâu lúc ấy ta cũng sẽ là một vị Phật?

Bures-Sur-Yvette (Pháp quốc)

(Biên soạn dựa theo một bài viết của Thiền sư và Giáo sư Triết học ngưới Pháp Gérard Pilet, đăng trong nội san của Hội Thiền học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale), trụ sở tại Paris, và tài liệu của Bukkyo Dendo Kyokai (Society For the Promotion of Bouddhism), trụ sở tại Tokyo).

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 11 2016, 05:18 AM
Gửi vào: #133


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Nếu bạn có 10 điều sau đây, chứng tỏ bạn là người có duyên với Phật


Con người sinh ra ai cũng mang trong mình cái bản tính lương thiện từ tiên thiên. Chỉ có điều, theo thời gian nó đã bị lu mờ bởi những phong trần nơi thế tục. Muốn gột rửa tâm lẫn thân này, hãy tu dưỡng bản thân, cũng chính là gieo thiện duyên với Phật.

Trong tâm có Phật chính là Phật duyên.

Con người chúng ta như những hòn ngọc quý nằm trong đá, nếu không mài không thể phát sáng được. Bạn có thể tự mình tôi luyện để một ngày nào đó có thể phát sáng như những viên ngọc quý, tự rèn luyện bản thân cũng chính là tự gieo duyên với Phật, chờ đợi Phật ân. Dưới đây là mười điều chứng minh bạn có duyên với Phật.

1. Trong tâm có Phật chính là Phật duyên


Phật vô xứ bất tại, tu Phật không ở vẻ bên ngoài mà ở tại trong tâm, bạn có tâm như thế nào, có tin Phật tồn tại hay không… chỉ cần trong tâm có Phật chính là đang kết duyên với Phật.

2. Vứt bỏ đi cái dục vọng xấu chính là Phật duyên


Phật duyên chính là giảm bớt những dục vọng quá đà. Trong kinh Phật nói chưa đoạn đứt tự ngã, tình ái, thì khó nhập cảnh giới thuần tịnh. Tất cả những đau khổ của con người đều do việc theo đuổi những thứ sai trái. Sự cố chấp của ngày hôm nay có thể tạo thành sự hối hận của ngày hôm sau.

Nếu như bạn không đem lại phiền não cho chính bạn thì người khác cũng chẳng bao giờ có thể đem lại phiền não cho bạn. Mọi thứ đều là vì nội tâm của bạn không dứt bỏ được cái dục vọng xấu. Có thể buông bỏ được dục vọng xấu đó cũng chính là có duyên với Phật.

3. Đối diện với cuộc sống một cách bình hòa chính là Phật duyên


Phật duyên chính là một loại tâm thái bình hòa. Tư tưởng của con người thường không ổn định, nó rất dễ bị dẫn dụ, nhất là những cám dỗ càng dễ làm người ta mất phương hướng.

Con người ta nếu trong tâm muốn chiếm hữu thì khó có được khoảnh khắc thanh nhàn, không những mất đi niềm vui trong cuộc sống mà còn đem lại sự căng thẳng và phiền não.

Phật dạy chúng ta biết cách dùng cái tâm bình lặng để nhìn nhận cuộc sống được và mất. Bình hòa đối diện với cuộc sống đó chính là có duyên với Phật. Bình hòa đối diện với cuộc sống chính là có duyên với Phật.

4. Có trách nhiệm với việc làm của mình là Phật duyên

Phật duyên chính là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Người có tâm Phật không nhìn vào sai lầm của người khác, nếu chỉ nhìn vào sai lầm của người khác thì không nhìn thấy được sai lầm của mình.

Do vậy cần phải hiểu rõ bản thân, nhìn rõ những việc mình cần làm cũng như hậu quả của nó, bởi vì bạn cần có trách nhiệm với cái hậu quả đó. Đừng để cuộc đời của bạn lãng phí vào nơi mà bạn nhất định hối hận. Có trách nhiệm với việc làm của mình chính là có duyên với Phật.

5. Có tín niệm tốt lành chính là Phật duyên


Phật duyên là trong tâm có tín niệm. Trong lúc bạn đau khổ nhất chỉ cần bạn có niềm tin rằng đau khổ không phải là mãi mãi bạn nhất định sẽ có sức mạnh để chiến thắng đau khổ, đây chính là một dạng tín niệm.

Có thể nói tín niệm chính là con đường chủ đạo của đời người, thành Phật hay thành ma cũng chính là ở tại một niệm, nếu có tín niệm tốt đó cũng chính là có duyên với Phật.

6. Làm việc có trí huệ chính là Phật duyên

Phật duyên là trí huệ thông suốt đại ngộ. Trong cuộc sống, nếu có thể dùng trí huệ để nhìn nhận vấn đề thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức, cũng có thể giảm bớt rất nhiều phiền não và ràng buộc, lại còn có hiệu quả làm ít hưởng nhiều.

Nhận biết bản thân, hàng phục chính mình là trí huệ. Nếu có được dạng trí huệ này mới có thể thay đổi người khác, chỉ biết nói không biết làm không phải là trí huệ chân chính. Người hiểu được nhìn đời bằng trí huệ, làm việc có trí huệ cũng chính là có duyên với Phật. Rộng lượng đối với người chính là Phật duyên.

7. Giỏi kiềm chế chính là Phật duyên

Phật duyên là kiềm chế tất cả, kiềm chế chính là sự rèn luyện trí huệ, cũng chính là tích lũy năng lượng, nó dùng ngọn lửa vô hình làm tan chảy băng đá. Kiềm chế có thể sẽ khiến bạn đau khổ lúc ban đầu, nhưng những ngày sau nó tất thành mật ngọt.

Kiềm chế không giống với trốn chạy, bởi vì trốn chạy là sự thất bại của ý chí, mà kiềm chế lại là không quên sứ mệnh của bản thân, làm cho ý chí thêm kiên định, thêm chữ Nhẫn. Hãy học cách cảm ơn những người đem lại cho bạn nghịch cảnh. Giỏi kiềm chế cũng chính là có duyên với Phật.

8. Rộng lượng đối với người chính là Phật duyên

Phật duyên là biết rộng lượng. Từ bi chân chính không phải là yêu thương những người yêu thương bạn mà còn phải khoan dung và yêu quý những người đối lập với bạn. Hãy yêu người khác như yêu chính bản thân mình.

Trong lúc người khác vì một sự hiểu lầm nào đó mà đối xử không tốt với bạn, cần phải đem cái tâm từ bi mà bao dung người đó. Hãy đem lý trí để cảm hóa người đó. Rộng lượng đối với người cũng chính là có duyên với Phật.

9. Biết chờ đợi chính là Phật duyên

Lúc cơ duyên ở tại nhân gian đã thành thục, Phật duyên tự nhiên sẽ đến bên chúng ta.

Chưa có duyên không có nghĩa là không bao giờ có duyên, mỗi người đều có Phật tính, ai cũng có tâm tu Phật. Biết ơn hoàn cảnh xung quanh cho dù là nghịch cảnh, biết chờ đợi Phật duyên tới cũng chính là có duyên với Phật.

10. Thiện từ chính là Phật duyên


Phật duyên là thiện, tức là sống thiện đã hướng tới Phật duyên, là gieo mầm nhân quả cơ duyên với Phật Pháp rồi.

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Aug 1 2016, 11:55 PM
Gửi vào: #134


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



CHỈ CÓ 2 THỨ THÔI - ĐẠT LAI LẠT MA

+ Có 2 thứ bạn nên tiết kiệm, đó là sức khỏe và lời hứa.
+ Có 2 thứ bạn phải cho đi, đó là tri thức và lòng tốt.
+ Có 2 thứ bạn phải thay đổi, đó là bản thân và nhận thức.
+ Có 2 thứ bạn phải giữ gìn, đó là niềm tin và nhân cách.
+ Có 2 thứ bạn phải trân trọng, đó là gia đình và hiện tại.
+ Có 2 thứ bạn phải tự mình thực hiện, đó là lao động và chịu trách nhiệm với việc mình làm.
+ Có 2 thứ bạn phải lãng quên, đó là đau thương và hận thù.
+ Có 2 thứ bạn phải khắc ghi, là công ơn Mẹ Cha và sự giúp đỡ của người khác.
+ Có 2 thứ bạn buộc phải có để là người thành công, đó là đam mê và lòng kiên trì.
+ Có 2 thứ bạn không được làm, đó là hãm hại người khác và phản bội lòng tin.
+ Có 2 thứ bạn phải bảo vệ, đó là danh tín và lẽ phải.
+ Có 2 thứ bạn phải chấp nhận, là cái chết và sự khác biệt.
+ Có 2 thứ bạn phải kiểm soát, đó là bản năng và cảm xúc.
+ Có 2 thứ bạn phải tránh xa, đó là cám dỗ và sự ích kỷ.
+ Có 2 thứ bạn luôn phải xử dụng mà đừng hà tiện, là tiền bạc và kinh nghiệm.
+ Có 2 thứ bạn không được sợ sệt, là cái ác và sống thật.
+ Có 2 thứ bạn phải nuôi dưỡng, là tình yêu và sự bao dung.
+ Có 2 thứ mà bạn cần phải đạt được trong cuộc sống, đó là thành đạt và hạnh phúc.
+ Có 2 thứ bạn phải luôn sẵn sàng, đó là khó khăn và ngày mai
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Aug 3 2016, 01:10 PM
Gửi vào: #135


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Phàm Làm Việc Gì Cũng Tùy Duyên Chớ Nên Phan Duyên.

Chúng ta phải ghi nhớ một nguyên tắc quan trọng là: phát nguyện phải chân thật, tiếp tục huệ mạng của Phật, hoằng pháp lợi sanh, phải ghi nhớ là tùy duyên chứ không phan duyên. Khi duyên chưa hiện tiền thì không miễn cưỡng, không cầu. Không đi tạo cơ hội, nếu tạo điều kiện, vậy là sai rồi. Có ý niệm tạo cơ hội, tạo điều kiện, thì tâm không thanh tịnh, sẽ không như pháp. Cho nên, phải chờ đợi đến khi nhân duyên chín muồi; nhân duyên chưa chín muồi thì phải chăm chỉ tu hành, tu tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng của chính mình, hạ công phu ở phương diện này. Chờ đợi cơ duyên chín muồi, quyết định không được phan duyên.
Hoằng pháp lợi sanh làm hay không? Phải làm, phải tùy duyên mà làm, không được phan duyên mà làm. Có cơ hội thì làm, không có cơ hội thì không đi tìm để mà làm, vậy là đúng rồi. Làm cũng như không làm. Nếu kể công, tôi đã làm được bao nhiêu việc tốt, đây là chấp trước tướng mà tu phước, sẽ không có công đức gì cả. Phải “Tam luân thể không”, trong tâm một lòng một dạ niệm Phật.
Có cơ hội thì tùy duyên giúp đỡ chúng sanh, tùy duyên cũng phải tận tâm tận lực, công việc mới làm được viên mãn. Nếu không có cơ hội thì tự mình lão thật niêm Phật. Thật sự chân thành niệm Phật, thì sẽ được đứng mà vãng sanh, ngồi mà vãng sanh, biết trước ngày giờ, lâm chung không có đau khổ.
Trên thế gian này làm mọi việc tốt, mọi thứ công đức, đều không bằng câu “A Di Đà Phật”. Tất cả hành vi thiện, việc thiện, chúng ta tùy duyên làm, quyết không phan duyên. Phan duyên là có ý muốn làm, vậy là tâm đã xen tạp. Tùy duyên là nguyện lực làm, là gặp thì làm; khi chưa gặp thì ý niệm cũng không có. Khi gặp rồi, làm xong cũng không nghĩ tới nữa, đây là tùy duyên. Tuy làm mọi việc thiện, tâm địa thanh tịnh, trong tâm vẫn là một câu “A Di Đà Phật” quyết định không có thay đổi, quyết định không có xen tạp.
Phải tu phước, tu huệ, không cần tu thứ khác, lão thật niệm câu “A Di Đà Phật” là được rồi. Niệm đến thân tâm thanh tịnh, phước huệ sẽ hiện tiền, đạo lý này phải tin sâu không hoài nghi. Nếu không thể tin sâu như vậy, thì trong xã hội ngày nay đề xướng những việc làm từ thiện, chúng ta nên làm nhiều việc tốt, tùy duyên tu phước là đúng, chấp có ý tu phước là sai rồi.
Niệm Phật niệm đến tâm thanh tịnh, cái được đó là phước vô lậu. Phước vô lậu thì tương lai được vãng sanh Tịnh độ, y (báo) chánh (báo) trang nghiêm với Phật không hai không khác, phước hữu lậu làm sao sánh bằng? Không phải nói người học Phật không đi làm việc thiện, việc thiện phải tùy duyên mà làm, không phan duyên thì tâm chúng ta sẽ được thanh tịnh.
Người học Phật tâm địa phải thanh tịnh, hàng ngày đối nhân, xử thế, tiếp vật đều phải tùy duyên. “Tùy duyên” là không tự mình chủ trương (theo ý riêng). Trong tùy duyên mà đoạn ác tu thiện…
Phàm là đối với mình có lợi đều là ác. Phàm là đối với cả Phật pháp có lợi ích, đối với chúng sanh có lợi ích, đều là thiện. Phật pháp từ đầu đến cuối là phá ngã chấp, phá pháp chấp. Có ý kiến là có chấp trước, có chấp trước đó là ác, thì có ngã chấp, có pháp chấp… Tùy duyên là cái gì cũng tốt, thuận cảnh cũng tốt, nghịch cảnh cũng tốt, ta đều hoan hỉ mà cùng cư xử với họ, vì họ có chấp trước, ta thì không có; họ có phân biệt, ta không có phân biệt, họ có vọng tưởng, ta không có vọng tưởng; không có, thì cái gì cũng tùy thuận; có rồi, thì đối lập, thì có đụng chạm. Đâu có hoàn cảnh nào mà không thể cùng sống chung? Đâu có nhân sự nào mà không thể cùng cư xử?
Có nguyện mà không cầu thì được tự tại. Có nguyện, sau cái nguyện còn có một cái tâm hy cầu (hy vọng và cầu xin), đây là gánh nặng rất lớn, cũng rất khổ não. Cái gì khổ? Cầu không được thì khổ. Khi cầu được thì lại lo lắng được mất, sợ mất đi, thì khổ lại đến nữa. Cho nên, Phật dạy chúng ta “Tùy duyên mà không phan duyên”, đây thì được đại tự tại rồi. Cho dù hoằng pháp lợi sanh, cũng không ngoại lệ. Có duyên thì chúng ta làm cho tốt, không có duyên thì chúng ta niệm Phật cho tốt, càng tự tại. Có duyên, quý vị phải tận tâm tận lực mà làm thì mới viên mãn; không có duyên, tâm của ta vừa phát là viên mãn rồi, không cần đi làm, đây là tùy duyên.
Trích từ sách Niệm Phật Thành Phật Inline image

Pháp sư Tịnh Khôn
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 1 2016, 07:04 AM
Gửi vào: #136


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



DẪN VÀO THẾ GIỚI VĂN HỌC PHẬT GIÁO

Thích Tuệ Sỹ

thichtuesyTrong bất cứ nền văn học nào của Phật giáo, chúng ta có thể thấy rằng, dù khởi sự từ đâu, tất cả mọi nguồn cảm hứng đều qui về nhân cách và đời sống của đức Phật. Đây là điều mà chúng ta không thể quên, khi bước vào thế giới văn học Phật giáo. Nếu ở nguyên thủy, nhân cách của Thích tôn là hình ảnh của một con người, thì tất cả cảm hứng văn học đều khơi nguồn từ lẽ vô thường, từ tính chất mong manh của cuộc sống.

Còn ở Đại thừa, đức Phật là một nhân cách siêu việt, do đó cảm hứng văn học cũng được khơi nguồn từ thế giới siêu việt. Tất cả tùy thuộc quan niệm về Phật thân.

I. Giới hạn của Văn học Phật giáo

Ý nghĩ đầu tiên của một người vừa bước đến văn học Phật giáo, tất nhiên sẽ coi đây chỉ là một nền văn học tôn giáo không hơn không kém, trong tính cách "văn dĩ tải đạo" của nó. Đối với ý nghĩ bàng quan này, một nền văn học như vậy chỉ có nội dung là đủ, còn hình thức diễn đạt chỉ là vấn đề phụ thuộc…; rượu ngon không hệ trọng ở bình chứa. Sự kết cấu của văn học không hệ trọng bằng chân lý tôn giáo đã có sẵn: chân lý thành kiến. Bởi vì chỉ có nội dung, hình thức không cần thiết lắm, do đó, chân lý của tôn giáo sẽ tùy nghi được phô diễn bằng cách vay mượn bất cứ thể tài văn học nào đã được thông dụng.

Người ta sẽ không đòi hỏi tác giả phải có một phong cách độc đáo trong đường lối phô diễn; y khỏi phải nỗ lực vận dụng mọi khả năng sáng tạo đến mức tuyệt động, vốn là giá trị đặc sắc của một tác giả văn học - thuần túy. Như vậy, một khi nội dung của kinh nghiệm tôn giáo càng được nới rộng, thể tài văn học càng bị thu hẹp lại. Cho đến một lúc nào đó, lúc mà kinh nghiệm tôn giáo được mở rộng đến vô hạn và tận cùng trong tuyệt đối bất khả tri, người ta bị bắt buộc phải khước từ mọi phương tiện diễn đạt qua các thể tài văn học. Đây là một song quan luận của phương tiện (văn học) và cứu cánh (tôn giáo).

Khai triển phương tiện đến tận cùng thì cứu cánh sẽ vắng bặt. Ngược lại, nếu tiến đến chỗ tuyệt đối cứu cánh, phương tiện sẽ hết còn là phương tiện. Nói cách khác, hình như cứu cánh tôn giáo, với những chân lý thành kiến của nó, lúc nào cũng sẵn sàng phản bội mọi tính cách sáng tạo của văn học. Văn học không phải là phương tiện của bất cứ một chân lý cứu cánh nào, thành kiến hay không thành kiến, dù là chân lý về sự sống và cuộc đời; vấn đề sẽ mở sang một chiều hướng khác: đâu là phương tiện và đâu là cứu cánh của văn học?

Ở đây, chúng ta có hai lãnh vực mà sự diễn đạt của văn học có thể vươn tới. Trước hết, là hai trích dẫn điển hình, thường được nhắc nhở rất nhiều:

Thứ nhất, kinh Tương ưng bộ (Samyutta – Nikàya): "Thánh nhân không tranh luận với thế gian. Những gì kẻ trí trong thế gian nói là không, ngài cũng nói là không. Những gì kẻ trí trong thế gian nói là có, ngài cũng nói là có".
Trong trích dẫn này, mọi diễn tả của ngôn ngữ không được phép vượt qua giới hạn của tri thức thường nghiệm. Chân lý chỉ tuyệt đối ở tự thân của nó, nhưng là tương đối ở lãnh vực diễn đạt của ngôn ngữ.

Vì vậy, các tác giả của Phật học có thói quen mở đầu tác phẩm của mình bằng một thái độ khiêm tốn: những gì họ sẽ trình bày không liên hệ đến tự thân của chân lý mà họ muốn hướng đến. người ta không thể nhầm lẫn giữa ngón tay và mặt trăng. Dĩ nhiên, ngôn ngữ ở đây tác động trong những tâm trí bình thường. Hậu quả của nó sẽ là khuôn mẫu để phân tích và phân loại các sự thực của kinh nghiệm. Tức là ngôn ngữ của triết lý.

Thứ hai, kinh Bát nhã (Prajnàpàmità-sùtra): "Bất hoại giả danh nhi thuyết thật nghĩa". Giả danh, tức biểu tượng và danh ngôn trong tính cách ước lệ của chúng. Những thứ này không liên hệ đến chân lý tuyệt đối, tức thật nghĩa. Do đó, muốn đạt đến chân lý tuyệt đối này, phải vượt qua mọi khả năng của ngôn ngữ và biểu tượng, như người ta cần lìa bỏ tầm mắt khỏi ngón tay để nhìn thẳng vào mặt trăng. Tuy nhiên, trích dẫn của chúng ta nói: ngay nơi biểu tượng và ngôn ngữ mà thể nhận chính bản thân của sự thật.

Và đây chính là lý tưởng của văn học Đại thừa. Bởi vì, theo lý tưởng này, vắn tắt, không phải do người nói đã nói ra như vậy, rồi người nghe theo đó mà nghe như vậy và sự thực được phô diễn như vậy nên có ý nghĩa như vậy; nhưng, chính sự thật là như vậy. Những vị đã từng làm quen với văn học Bát nhã sẽ không lấy làm thắc mắc quá đáng về lề lối diễn tả như vậy.

Theo tinh thần này mà nói, cái cảm hứng đưa đến sự thành hình của một tác phẩm, bất kể dưới cách thức phô diễn nào, phải là một cảm hứng toàn diện, trong đó không có giới hạn phân biệt giữa một nhãn quan - một ý tưởng - cần được phô diễn và hình thức phô diễn. Tất cả, từ tác giả cho đến độc giả, phải được đặt trong mối tương quan vô phân biệt, như sự phản chiếu giữa các mặt kính đối diện nhau, phản chiếu trong một thế giới trùng trùng vô tận.

Vì vậy, kinh điển Bát nhã thường chọn những vị chưa chứng ngộ chân lý về tánh Không mà lại có tư cách giảng thuyết về tánh Không. Tất nhiên, trong trường hợp này người ta phải hiểu rằng tánh Không tự phô diễn lấy chính nó, mà người giảng thuyết, sự thực được giảng thuyết, cho đến người nghe, tất cả chỉ như là ráng nắng, mộng ảo, huyễn hóa… Từ đây gợi lên cho chúng ta ý tưởng rằng, một tác phẩm, dù là luận thuật tư tưởng hay văn học thuần túy, không thể nào vượt qua khỏi giới hạn của ngôn ngữ.

Nhưng, chính cái cảm hứng bàng bạc từ đầu đến cuối tác phẩm mới tạo cho nó một kích thước rộng rãi, một sức hàm chứa vô biên. Lẽ cố nhiên, cảm hứng thì không thể bị điều động bởi bất cứ ý tưởng nào, mà bộc phát với một thế giới kỳ diệu đột nhiên xuất hiện. Một cách khác, chúng ta nói rằng, tất cả các tác phẩm của văn học Phật giáo đều cố gắng cắm sâu gốc rễ vào tánh Không.

Rồi sau đó, vươn mình khỏi lòng đất với tàn lá sầm uất của một thế giới trong trùng trùng vô tận.

Trong ý nghĩa vừa nói, một tác phẩm xứng đáng với một kích thước rộng lớn, nó phải khởi lên từ cảm hứng của thực tại; vì rằng, ngay qua đó, người ta sẽ thấy một cách như thực đâu là tiếng nói của thực tại và đâu là tiếng nói của lòng người: thực tại tức là lòng người. Và cũng từ đó, người ta sẽ tìm thấy đâu là khát vọng sâu xa đang ẩn kín trong lòng người. Một tác phẩm mà không đủ sức chấn động lòng người để mở ra một thế giới như vậy không thể xứng danh là một tác phẩm văn học. Bởi vì, một tác phẩm tường thuật, về triết lý v.v…, chỉ cần ý tưởng, cần nội dung súc tích là đủ; những gì đáng nói đã được nói hết.

Hình thức phô diễn chỉ là phương tiện tùy cơ duyên mà thôi. Nhưng một tác phẩm văn học phải đặt hết tâm tình và cảm xúc ngay ở hình thức phô diễn; và đây không phải là tâm tình và xúc cảm được khơi dậy bởi một chân lý thành kiến nào đó. Như vậy ngay nơi tác phẩm văn học, không phân biệt giữa nội dung và hình thức, mà ngay nơi tính cách phô diễn đương trường của nó, là cả một thế giới sống thực triền miên. Y như Phật quả Viên Ngộ Thiền sư (Bích nham lục); "Ẩn mật toàn chân, đương đầu thủ chứng". Đấy chính là khởi điểm và cũng chính là đích điểm của văn học Đại thừa Phật giáo.

Quan điểm của chúng ta sẽ được tóm tắt như sau:

1. Sơ khởi văn học Phật giáo không từ chối vai trò "truyền đạo" của nó. Tức là, chân lý của tôn giáo này, tùy trường hợp, được phô diễn tự do trong mọi thể tài văn học, và coi văn học chỉ như một phương tiện, thứ yếu, không quan trọng cho bằng nội dung.

2. Nhưng, chân lý ở đây mang tính cách nội tại và cá biệt nơi mỗi người, do đó, sự phô diễn của nó cũng bắt đầu như sự bắt đầu của một tác phẩm văn học, nghĩa là, khởi đi từ cảm hứng bộc phát trước một thế giới của kinh nghiệm tâm linh.

3. Trên khía cạnh tôn giáo, chân lý được chứng ngộ là phản ảnh của một thế giới sống động. Trên phương diện diễn đạt của văn học là cảm hứng tự phát của một tình tự cá biệt. Do đó, lấy tánh Không làm chất, lấy thế giới trùng trùng vô tận làm văn. Văn và chất phản chiếu lẫn nhau tạo thành thế giới toàn diện của văn học Phật giáo.

Như vậy, chúng ta có thể nhớ lại phát ngôn của Tăng Triệu (Tựa kinh Duy ma cật):

Thánh trí vô tri nhi vạn phẩm cu chiếu
Pháp thân vô tượng nhi thù hình tịnh ứng
Chi vận vô ngôn nhi huyền tịch di bố
Minh quyền vô mưu nhi động dữ sự hội.

Hoặc giả, của Ngạn Hòa Thích Huệ Địa (Văn tâm điêu long):

Tịch nhiên ngưng lụ, tứ tiếp thiên tải
Tiểu yên động dung, thị thông vạn lý
Vân… vân…

II. Khởi điểm của Văn học Phật giáo: Cảm hứng từ đời sống cá biệt

Đời sống cá biệt là hình ảnh nổi bật nhất trong các kinh điển của Nguyên thủy Phật giáo. Đó là hình ảnh lẻ loi của tăng lữ tại các núi rừng, bởi vì, luôn luôn, "một vị tỳ khưu hãy đi cô đơn như con tê giác". Chế độ tăng lữ nguyên thủy không cho phép một thầy tỳ khưu sống giữa đám đông, giữa các thành phố rộn rịp, và chứa đựng tư hữu. Họ không sống quá xa làng mạc, nhưng cũng không quá gần gũi.

Tư hữu chỉ gồm một ít vật dụng cần thiết: ba chiếc y, một bình bát, một đảy lọc nước, một khăn ngồi, một dao cạo, và kim chỉ. Trừ những trường hợp khẩn thiết, họ không định cư ở đâu hết; và hình ảnh của đức Phật được mô tả là: Một bình bát với cơm ăn của thiên hạ. Một mình lẻ bóng lang thang trên khắp mọi nẻo đường.

Một mục đích duy nhất của đời sống là giải quyết vấn đề sống chết. Một sứ mệnh duy nhất là cởi bỏ mọi ràng buộc cho chúng sinh:

Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Kỳ vi sinh tử sự
Giải thoát độ quần mê.

Hình ảnh này là nguồn cảm hứng bất tận của văn học Phật giáo nguyên thủy. Và cả nơi Đại thừa, nhưng với cường độ khốc liệt và cực đoan hơn: "Nhất thiết vô úy nhân, nhất đạo xuất sinh tử"; tất cả các bậc Vô úy, không còn sợ hãi, chỉ có một con đường độc nhất phải đi là qua bên kia bờ của sự sống và sự chết. Qua bên kia bờ là chứng ngộ tính tịch diệt của Niết bàn, nơi đây chính là thế giới của cô liêu tuyệt đối.

Thực sự, lối diễn tả rầm rộ của văn học Đại thừa sau này, với thế giới quan trùng trùng vô tận, với khả năng được nói là biện tài vô ngại, tất cả chỉ làm cho hình ảnh cô liêu của đức Phật càng tuyệt đối khốc liệt. Kinh Pháp hoa (Saddharma – Pundarika), một tác phẩm quan trọng của Đại thừa, là một thí dụ điển hình cho chúng ta.

Đức Phật xuất hiện giữa thế gian như sư tử giữa đám thú rừng, không sợ hãi gì hết. Nhưng cũng cô đơn như người cha già cả sống giữa đám tùy tùng, chỉ mong đợi duy nhất ngày trở về của đứa con hoang. Khi hội diện, lại còn phải dùng bao nhiêu phương tiện, phải chờ đợi biết bao nhiêu cơ duyên, đứa con hoang mới nhận ra đây quả thực là cha già của nó.

Theo hình ảnh lý tưởng đó, một vị tỳ khưu, trước khi thể hiện được chân lý tuyệt đối của sự sống, đã phải nỗ lực cho một cuộc đời "lẻ bóng": "Người ngồi một mình, nằm một mình, đi đứng một mình không buồn chán; người ấy ưa tìm sự vui thú trong chốn rừng sâu". (Dhammapada, 306). Đây là một lối diễn tả, về đời sống cô liêu, độc đáo nhất trong văn học Phật giáo nguyên thủy.

Rồi ra, hương vị của chánh pháp là gì? Chính là sự cô liêu ấy. Chánh pháp là dòng suối mát và ngọt của sự sống, rửa sạch tất cả những uế trược của cuộc đời. Bởi vậy, một tâm hồn khi đã chứng nhập chánh pháp, cũng trong và mát như dòng suối ngọt ấy. Kinh Pháp cú (Dhammapada) có câu: "Ai đã từng nếm mùi vị cô liêu, người ấy càng ưa nếm hương vị của Chánh pháp." Bởi vì, Chánh pháp là Niết bàn tịch tĩnh. Trong nguồn cảm hứng này, mọi luận biện về Niết bàn, rằng đây là hư vô, đây là bất tử, đây là vân vân, thảy đều không quan hệ. Mà vắn tắt, có thể nói, Niết bàn là gì? Là cõi miền trầm lặng sâu xa, nơi đó vắng bặt mọi uế trược và mọi náo động tạp loạn, mọi tranh chấp thế tục của sự sống.

Cố nhiên, đây là hình ảnh Niết bàn tịch tĩnh hay tịch diệt trong nguồn cảm hứng văn học chứ không thể trong suy tư triết lý. Và như vậy, cùng một đoạn trong kinh Pháp cú: "Như một hồ nước sâu, trong suốt và yên lặng; kẻ có trí sau khi nghe Pháp thì cũng trầm lặng sâu xa như vậy." Sự trầm lặng này, nếu không phải là khí vị hiu hắt của cô liêu, thì là gì? Thế là, cô đơn trong hành đạo, những người theo đạo Phật trước kia, như một con tê giác, một mình lẻ bóng giữa cuộc đời trên một con đường cô đơn từ đầu đến cuối. Bàng Uẩn, một tục gia đệ tử của Thiền tông Trung hoa, thời nhà Đường, đặt câu hỏi: "Ai là kẻ trơ trọi không cùng Vạn Pháp làm bạn lữ?"

Trong cuộc đời ấy, cô đơn là người bạn. Nhưng, đồng thời nó lại là một kẻ thù sinh tử. Làm thế nào để chịu đựng đời sống cô liêu giữa núi rừng hoang dại? Câu hỏi này được đặt ra bởi một người Bà la môn tên Janussoni. Phật trả lời rằng: "Tất cả những ẩn sĩ, với những hành vi của thân, miệng và ý mà không trong sạch, khi họ sống trong sự cô liêu của núi rừng, vì các hành vi bất tịnh của họ, khiến họ nổi lên sợ hãi, run rẩy khôn cùng.

Còn Tôi, mà các hành vi thảy đều trong sạch, tôi sống trong sự cô liêu của núi rừng. Nếu có những bậc Thánh mà các hành vi thảy đều trong sạch, sống trong sự cô liêu của núi rừng, Tôi là một trong những vị đó. Này, Bà la môn, khi tôi sống đời sống trong sạch của các hành vi của tôi thì hương vị của đời sống cô liêu thâm nhập trong tôi."

Vậy ra, đời sống cô liêu không chỉ là con đường hành đạo, mà còn là kết quả của những hành vi đã rủ sạch mọi bất tịnh.

Chúng ta thấy rõ, phần lớn của nền văn học Phật giáo nguyên thủy bàng bạc những hình ảnh của đời sống cô liêu. Tuy nhiên, chủ đích không phải là trình bày một thứ cá nhân chủ nghĩa nào đó, mà đời sống của Tăng lữ phải rút lui khỏi thế gian, đắm mình trong hư vô chủ nghĩa. Nhưng vì chân lý được nhắc nhở trong các kinh điển nguyên thủy vốn được coi là sở đắc nội tại và cá biệt. "Tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình là nơi nương tựa cho chính mình", đây là lời dạy cuối cùng của đức Phật, được ghi lại trong kinh Đại bát Niết bàn.

Chúng ta có thể trích dẫn dài hơn một chút: kinh chép, khi A nan xin Phật để lại những lời dạy dỗ cuối cùng, Phật trả lời: "Này A nan da, Như lai không nghĩ rằng: "Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ kheo", hay "chúng Tỳ kheo chịu sự giáo huấn của Ta", thời, này A nan da, làm sao Như lai có lời di giáo cho chúng Tì kheo… Vậy nên này A nan da, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một cái gì khác."

Văn học nguyên thủy hay Tiểu thừa không chỉ dừng lại nơi đây. Mặc dù, đây là thời kỳ mà đời sống của Phật giáo duy nhất là đời sống hành đạo của tăng lữ; tất cả mọi nỗ lực đều cốt chinh phục khổ não và hệ lụy nhân sinh; giải thoát và Niết bàn là mục đích tối thượng; và đời sống của tục gia đệ tử không liên hệ gì đến Phật pháp, ngoại trừ công việc hộ đạo. Nhưng ở vài nơi, kinh điển nguyên thủy cũng đã dành chỗ cho các sinh hoạt mang tính cách thế tục. Về điểm này, chúng ta phải kể đến trước tiên là văn học Jataka và kế đến là văn học Avadana.

Jataka hay Bản sinh truyện là những mẫu chuyện tiền thân của đức Thích tôn, trải qua nhiều kiếp với những hành vi như một anh hùng hiệp sĩ vĩ đại xuất hiện giữa thế gian, luôn luôn đem cả thân mạng làm lợi ích cho mọi người. Những mẩu chuyện này, ngoài ước vọng giải thoát để làm lợi ích toàn diện cho thế gian của đức Thích tôn, không chứa đựng giáo lý cốt yếu nào hết. Vì ở đây, Bồ tát (Bodhisattva) – một danh hiệu trước khi Thích tôn thành đạo, sống giữa thế gian, làm tất cả những gì mà thế gian cần có không phải vì giải thoát tối thượng, mà vì sự an lành trong cuộc sống bình nhật. Ngài là một mẫu hiệp sĩ cứu khổ phò nguy, giữa quần chúng bình dân, yếu đuối, bất lực dưới mọi bất công.

Đằng khác, văn học Avadana hay Thí dụ, vốn là những mẫu chuyện ngắn mô tả những xấu xa, ngu muội của mọi người trong đời sống bình nhật; cũng không liên hệ nhiều với giáo pháp cốt yếu của đạo Phật.

Đấy là hai nền văn học đặc trưng của Phật giáo trong sinh hoạt nhân gian. Chúng có cùng tính chất với loại văn chương bình dân. Vai trò của chúng không phải là không quan trọng. Bởi vì, trong nguyên thủy, đời sống tăng lữ vốn ở giữa nhân gian, không quá xa, cũng không quá gần; không mang tính chất của sinh hoạt thị thành. Tùy cơ duyên, các tăng lữ sáng tác những mẫu chuyện vừa tầm để nhắc nhở mọi người đời sống hướng thiện.

Đối với những hạng người ít bị sinh kế quẫn bách, kinh điển dành cho họ vai trò hộ đạo tích cực hơn. Đời sống của họ, ngoài bổn phận của một người cha trong gia đình, công dân trong một nước, họ còn có bổn phận hộ trì Chánh pháp, và tìm những cơ duyên thuận tiện để học hỏi Chánh pháp, gieo hạt giống tốt trong Chánh pháp để một khi thời cơ đến họ sẽ hiến mình trọn vẹn cho mục đích tối thượng là giải thoát và Niết bàn.

Đoạn kinh trích dẫn dưới đây cho thấy điều đó. Kinh mô tả cơ duyên theo đạo Phật của ông Cấp Cô Độc (Anathapindika), một phú hộ đương thời Thích tôn tại thế.

Trưởng giả Anathapindika, ở thành Rajagaha (Vương xá), nước Magadha (Ma kiệt đà), một hôm, vào lúc tản sáng, đến thăm một thân nhân. Vị này, thức dậy từ sáng sớm đang bận rộn với các tôi tớ, hình như đang sửa soạn một bữa tiệc gì đó. Anathapindika tự nghĩ: "Trước kia, khi ta thường đến đây, vị gia chủ này gác lại mọi công việc, không làm gì hết, trao đổi những lời chào hỏi với ta.

Nhưng nay ông có vẻ bận rộn, đang vui vẻ với các tôi tớ, học thức dậy từ sáng sớm và nấu nướng rất nhiều món. Họ đang làm tiệc cưới chăng? Hay đang sửa soạn một cuộc tế lễ lớn lao gì đây, hay sáng mai họ mời vua Tần-bà-sa-la (Seniya Bimbisara) của nước Magadha, cùng với đoàn tùy tùng của vua?" Rồi ông hỏi vị gia chủ. Vị này đáp:

"Không có tiệc cưới, cũng không phải mời vua Seniya Bimbisara và đoàn tùy tùng. Nhưng tôi đang sửa soạn một cuộc lễ lớn để cúng dường chúng tì khưu và Phật"
"Ông nói đức Phật phải không?"
"Đúng thế, tôi nói đức Phật."
Ba lần hỏi, và ba lần trả lời như vậy. Anathapindika muốn gặp đức Phật. Vị gia chủ nói: "Không phải hôm nay, mà sáng mai."

Rồi Anathapindika tâm niệm đức Phật đến độ ông thức dậy ba lần trong đêm vì tưởng rằng trời tảng sáng. Khi ông tới cổng thành để đi đến động Thanh lương, có hàng phi nhân mở cho. Nhưng khi ông ra khỏi thành phố, ánh sáng biến mất và bóng tối hiện ra, thế rồi trong lòng ông nổi lên mối kinh sợ, hãi hùng, khiến ông muốn quay trở lại. Nhưng thần dạ xoa (yakkha) tên là Sivaka, vị thần vô hình, thốt lên lời này:

"Một trăm voi, ngựa hay xe với những con la cái,
Một trăm nghìn thiếu nữ trang sức những hoa tai,
Thảy không bằng phần mười sáu của một bước dài.
Này trưởng giả, hãy bước tới, hãy bước tới.
Hãy nên bước tới, đừng thối lui."

Tức thì, bóng tối biến mất, ánh sáng hiện ra, và nỗi kinh sợ hãi hùng của Anathapindika cũng tiêu tan.

Rồi ông đi tới động Thanh lương và khi đức Thế tôn đang đi lên đi xuống trong hư không, ngài thấy ông, liền bước xuống khỏi nơi ngài đang đi lến đi xuống, ngài gọi Anathapindika: "Lại đây, Sudatta."

Sudatta là tên riêng của Anathapindika. Ông nghĩ: "Đức Thế tôn gọi chính tên ta", bèn cúi đầu dưới chân đức Thế tôn mong ngài sống an lạc. Đức Thế tôn đáp: "Đúng vậy, bậc Tịnh hạnh đã đạt đến Niết bàn luôn luôn sống trong an lạc. Ngài không bị nhiểm ô bởi khát ái, không còn sợ hãi, không còn tái sinh. Đã cởi bỏ mọi ràng buộc, xa lìa tâm ái dục, Ngài sống tịch tĩnh trong an lạc, đã đạt được sự thanh bình của tâm trí."

Rồi đức Thế tôn giảng giải nhiều điều cho trưởng giả Anathapindika; về Thí, về giới, về thiền; ngài cắt nghĩa sự nguy hiểm, sự phù phiếm, sự bại hoại của những vật dục, sự ích lợi khi trừ bỏ chúng. Khi đức Thế tôn biết rằng tâm trí của trưởng giả Anathapindika đã thành thục, nhu nhuận, dứt khỏi những ngăn che, cao diệu, hòa duyệt, ngài mới giảng thuyết cho ông về Pháp (Dharma) mà chư Phật đã tự mình tỏ ngộ: khổ, tập, diệt và đạo.

Và cũng như một chiếc áo sạch không có những vết đen, thì sẽ dễ nhuộm, cũng vậy, ngay từ chỗ ngồi này, với Pháp nhãn, không nhiểm ô, đã trổi dậy trong trưởng giả Anathapindika, rằng "Những gì có sinh tất có diệt," Rồi thì, sau khi đã thấy Pháp, chứng Pháp, biết Pháp, thâm nhập Chánh pháp, sau khi đã vượt lên nghi ngờ, dứt trừ sự bất định, tự mình tín thuận giáo huấn của đấng Đạo sư, Anathapindika bạch đức Thế tôn rằng:

"Hay thay, bạch đức Thế tôn. Cũng như một người dựng dậy những gì bị ngã xuống, vén mở những gì bị che đậy, chỉ đường cho kẻ lạc lối, rọi đèn vào chỗ tối tăm để những ai có mắt thì có thể thấy; cũng vậy, Chánh pháp được đức Thế tôn giảng dạy bằng nhiều thí dụ. Bạch đức Thế tôn, nay con xin nương mình theo Thế tôn, nương mình theo Chánh pháp và chúng tỳ kheo. Xin đức Thế tôn nhận con làm đệ tử tại gia từ đây cho đến trọn đời. Và, bạch đức Thế tôn, xin ngài nhận thọ trai tại nhà con vào sáng mai cùng với Chúng Tì khưu." Đức Thế tôn nhận lời im lặng.

Sau đó, Anathapindika mua khu rừng của Thái tử Jeta, thiết lập tinh xá để Phật dừng chân giảng pháp. Đây là một trong những tinh xá lớn nhất và nổi tiếng trong thời đức Thích tôn tại thế, gọi là Kỳ viên hay Kỳ hoàn (Jetavana).

Những hạng người như Anathapindika, tâm trí đủ mở rộng để lãnh hội Chánh pháp. Nhưng chỉ đến một giới hạn nào đó. Đời sống của họ không được coi là ở giữa lòng Chánh pháp. Thực sự, văn học nguyên thủy phần lớn chỉ dành cho hạng người xuất gia, với lý tưởng khước từ tuyệt đối. Vì Chánh pháp chỉ có thể thực hiện ở những nơi tịch tĩnh của núi rừng. Nhân cách lý tưởng mà nền văn học này mô tả chính là các vị A la hán (Arhat), là đức Như lai. Và chúng ta đã biết, đó là nhân cách của đời sống cô liêu tuyệt đối:

Ta hành đạo không thầy dạy dỗ
Chỉ hành đạo một mình, không bè bạn
Tích chứa một hạnh mà thành Phật
Tự nhiên thấu suốt nẻo thành đạo.

Theo gương đó, ước vọng của những người theo đạo Phật bấy giờ là:

"Như giữa lòng biển sâu không gợn sóng, mà hoàn toàn yên lặng tịch mịch; thầy Tì khưu cũng vậy, hãy trầm lặng, không buông lung dù ở bất cứ đâu."

Như vậy, đủ để chúng ta tóm tắt rằng, từ nguồn suối của đời sống cá biệt vì những gì sở đắc đều cá biệt và nội tại, cảm hứng của văn học Phật giáo nguyên thủy bộc phát:

- Từ nhân cách với đời sống của đức Phật;

- Từ Chánh pháp, tức chân lý cao cả về khổ đau của sự sống và về lẽ tịch tĩnh của Niết bàn.

Trên tất cả là hương vị cô liêu tuyệt đối. Bởi vì, hương vị của Chánh pháp chính là hương vị cô liêu của sự sống.

III. Cảm hứng trong Văn học Đại thừa

Tư tưởng Đại thừa bắt đầu xuất hiện với nền văn học bát nhã. Nội dung của các kinh điển thuộc văn học Bát nhã đều thuyết minh về ý nghĩa tánh Không. Tư tưởng này là triết lý hành động của lý tưởng Bồ tát đạo.

Trong lý tưởng Bồ tát đạo, có hai ý niệm quan hệ: Đại Trí và Đại Bi (hay Đại Hạnh). Đại Trí chỉ cho khả năng siêu việt soi thấu bản tính của vạn hữu. Đại bi hay Đại hạnh là tác dụng của Trí tuệ siêu việt ấy trong một thế giới quan được mô tả là trùng trùng vô tận. Như vậy, cỗ xe của Bồ tát (Bồ tát thừa) có hai bánh, Trí và Bi, cùng song song vận chuyển (Bi Trí song vận) để đạt đến giải thoát tối thượng.

Bởi vì tác dụng của Trí tuệ là khả năng soi thấu bản tính của hiện hữu, do đó, lấy tánh Không làm nền tảng. Tuy nhiên, trên phương diện luận thuyết triết lý, chúng ta biết rằng tánh Không có hai tác dụng: phá hủy và kiến thiết. Cả hai tác dụng đều qui tâm trên một mối: tương quan hiện hữu hay lý duyên khởi. Hiện hữu do tương quan, do đó hiện hữu không thực tính. Đây là tác dụng phá hủy. Và do không thực tính, nên hiện hữu mới có thể có tương quan để hiện khởi. Đây là tác dụng kiến thiết.

Kinh Lăng già mô tả sự vận dụng Đại Trí và Đại Bi của bậc giác ngộ rằng:

Thế gian ly sinh diệt
Do như hư không hoa
Tri bất đắc hữu vô
Nhi hưng Đại bi tâm
Nhất thiết pháp như huyễn
Viễn ly ư tâm thức
Trí bất đắc hữu vô
Nhi hưng Đại bi tâm
Viễn ly ư đoạn thường
Thế gian hằng như mộng
Trí bất đắc hữu vô
Nhi hưng Đại bi tâm.

Hiện hữu của thế gian như hoa đốm giữa trời, không từng có sinh khởi, không hề có hủy diệt. Tất cả các pháp như huyễn hóa, vượt ngoài mọi tác động của tâm thức; vượt ngoài mọi ý nghĩa thường tồn và gián đoạn, vì rằng như một giấc mộng. Do đó, trong sở đắc của Trí tuệ chân thật, không có ý nghĩa hữu hay vô. Từ Trí tuệ không còn bị ràng buộc ở hữu hay vô đó mà các bậc đã giác ngộ, hay những vị đang đi trên con đường tiến đến sự giác ngộ, phát khởi tâm nguyện Đại bi.

Tri nhân pháp vô ngã
Phiền não cập nhĩ diệm
Thường thanh tịnh vô tướng
Nhi hưng Đại bi tâm.

Các ngài thấy và biết rõ rằng mọi hiện hữu đều không có tự tánh, tự thể hay bản thể. Phiền não chướng và sở tri chướng vốn thanh tịnh, vô tướng. Từ bi kiến đó mà các ngài khởi lên tâm nguyện Đại bi.

Nhất thiết vô Niết bàn
Vô hữu Niết bàn Phật
Vô hữu Phật Niết bàn
Viễn ly giác sở giác
Nhược hữu nhược vô hữu
Thị nhị tất câu ly.

Hoàn toàn không có cái gì mệnh danh là Niết bàn. Không có một vị Phật nào chứng nhập Niết bàn, cũng không có Niết bàn mà Phật chứng nhập. Vượt ra ngoài nhân cách giác ngộ và chân lý được giác ngộ. Hữu hay vô hữu, cả hai đều bị vượt qua.

Nói cách khác, trong lý tưởng hành động, trước tiên Bồ tát phải quan sát để thể chứng tánh Không. Tức là, sự xuất hiện của thế gian như hoa đốm giữa trời, bản chất của nó không bị ràng buộc bởi ý nghĩa xuất hiện hay biến mất. Từ sở chứng đó, Trí tuệ không bị ràng buộc giữa hữu hay vô, và chính nơi đây là cứ điểm để Bồ tát thể hiện tâm nguyện Đại bi của mình. Nếu vậy, phải chăng Bồ tát hành đạo giữa thế giới của hư vô, của mộng tưởng? Thế giới này là hư vô, và mộng tưởng, hầu như là một nhãn quan không thể chối cãi, vì đấy là hình ảnh bàng bạc trong các tác phẩm Đại thừa, Kinh Kim cang nói:

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như lộ, diệc như điện
Ứng tác như thị quán.

Tất cả mọi hiện hữu do tương quan đều y như là mộng, huyễn, bọt nước, bóng trong sương; như sương mai, như điện chớp.

Làm thế nào để thể hiện tâm nguyện Đại bi trong cái thế giới dẫy đầy tính cách mộng tưởng, không hư như vậy? Nạn vấn này không thể không biết tới. Lối diễn tả trong các kinh điển Bát nhã không nói theo thông lệ. Do đó, sơ khởi, người ta chấp nhận mọi mâu thuẫn nội tại như là lý lẽ đương nhiên. Thí dụ, sinh tức vô sinh, vân vân. Lý luận của tánh Không ban đầu còn theo thông lệ, nhưng đến một lúc, nó trở thành cực đoan không thể tả.

Nghĩa là, trước hết, người ta còn có thể vay mượn những gì đã được chứng kiến trong kinh nghiệm thông tục để diễn tả: như ráng nắng, như mộng tưởng, như sao xẹt, như hoa đốm giữa trời... đến kỳ cùng, là Pháp nhĩ như thi: Như vậy là như vậy. Một trong danh hiệu của Phật, Như lai, vốn chỉ cho ý nghĩa này.

Luận Đại trí độ nói: "Như pháp tướng mà hiểu. Như pháp tướng mà giảng thuyết. Như con đường an ổn của chư Phật mà đến... nên gọi là Như lai." Nói gọn hơn, Như lai tức là đến như vậy và đi như vậy. Đây mới thiệt là lý tưởng hành động của Bồ tát đạo. Công nghiệp đó sẽ được mô tả như là những dấu chân của con chim trong bầu trời. Bồ tát đến với thế gian cũng vậy. Tất cả mọi công trình đã từng thực hiện và đã để lại cho thế gian chẳng khác nào như sự tích lũy của bao nhiêu dấu chân của cánh chim bay giữa bầu trời. Lối diễn tả này quả thực mang một khí vị văn chương đặc biệt. Theo thuật ngữ, hành động này được mệnh danh là Vô công dụng hạnh: hành động không cần dụng công, ví như hư không. Đây là ý nghĩa: "Như pháp tướng mà hiểu, như pháp tướng mà giảng thuyết".

Ý nghĩa sáng tác (văn học) của Đại thừa cũng theo đó. Kinh Bát nhã nói: "Các đệ tử của Phật làm gì có chuyện giảng thuyết. Tất cả đều do năng lực của Phật. Bởi vì họ y theo những gì Phật đã dạy mà học tập, nhờ đó mà chứng được các pháp tướng. Sau khi đã chứng, tất cả những gì được họ nói ra đều không trái với pháp tướng. Vì chính năng lực của pháp tướng vậy." Đại ý đoạn kinh này nói là sự giảng thuyết của đệ tử Phật không phải do họ muốn bày tỏ một quan điểm nào đó của mình, nhưng đấy là sự bộc phát tự nhiên của những gì mà họ đã chứng đắc.

Bình thường mà nói, đây há không phải là lý tưởng sáng tác của bất cứ một tác giả nào, kể riêng gì các nhà Đại thừa? Một tác phẩm văn học phải xuất hiện từ nguồn cảm hứng chân thành và bộc phát tự nhiên.

Trên đây, chúng ta lấy Tánh Không làm khởi điểm của cảm hứng văn học trong Phật giáo Đại thừa. Tuy nhiên, cảm hứng này phần lớn đi vào đường hướng minh giải triết lý, hơn là cảm thức văn chương. Rồi từ nền tảng tánh Không ấy mà mở tầm mắt vào thế giới trùng trùng vô tận, đây mới thật là phong cách văn chương, theo nghĩa thông tục của chữ này.

Trong bất cứ nền văn học nào của Phật giáo, chúng ta có thể thấy rằng, dù khởi sự từ đâu, tất cả mọi nguồn cảm hứng đều qui về nhân cách và đời sống của đức Phật. Đây là điều mà chúng ta không thể quên, khi bước vào thế giới văn học Phật giáo. Nếu ở nguyên thủy, nhân cách của Thích tôn là hình ảnh của một con người, thì tất cả cảm hứng văn học đều khơi nguồn từ lẽ vô thường, từ tính chất mong manh của cuộc sống. Còn ở Đại thừa, đức Phật là một nhân cách siêu việt, do đó cảm hứng văn học cũng được khơi nguồn từ thế giới siêu việt. Tất cả tùy thuộc quan niệm về Phật thân.

Có hai quan niệm chủ yếu về Phật thân: Sanh thân và Pháp thân. Sanh thân chỉ cho thân thể thụ bẩm của cha mẹ. Pháp thân vốn là hiện thân của chân lý. Nơi nguyên thủy, hay cả Tiểu thừa, Pháp bao gồm lý Tứ đế và Niết Bàn. Đích thực, đây là Pháp duyên khởi. Pháp duyên khởi này được đức Phật giảng dạy để đưa đến chỗ chứng nghiệm về những chân lý cao cả của Khổ, Tập, Diệt, Đạo, cuối cùng là đạt đến giải thoát và Niết bàn.

Các nhà Đại thừa sau này mang đến cho Pháp duyên khởi nhiều giải thích mới mẻ. Đặc biệt là triết học về tánh Không của Long Thọ (Nàgàrjuna). Đại khái, nguyên thủy, pháp Duyên khởi có nhiệm vụ giải thích nguồn gốc của sự khổ, để bộc lộ những đặc tính vô thường và vô ngã của sự sống, và từ đó quyết định đường hướng diệt khổ.

Nhưng các nhà Đại thừa y cứ trên pháp Duyên khởi để chứng tỏ rằng tự tính của vạn hữu là Không. Tức là, do duyên khởi nên không tự tính. Như vậy, sơ bộ, pháp Duyên khởi chứng tỏ rằng tất cả hiện hữu – nhất thiết pháp – đều là giả ảo, không có bản tính chân thực. Rồi kỳ cùng, không có sự thực nào ngoài giả ảo đó. Do kết quả này, các nhà Đại thừa quả quyết rằng những gì đức Phật nói thảy là chân lý ước lệ, tạm bợ, bởi vì chân lý cứu cánh siêu việt tri kiến và siêu việt ngôn thuyết.

Điều đó bắt buộc chúng ta không thể quên thắc mắc này: với danh hiệu Như lai, mà Đại thừa giải thích rằng Pháp Như vậy thì Phật giảng thuyết Như vậy, tại sao sự thực lại không được bao hàm ngay trong tính cách Như vậy đó? Chúng ta có thể tìm thấy một vài giải thích, trực tiếp trong các kinh điển Đại thừa.

Thứ nhất, kinh Pháp hoa tuyên bố: "Bản tính của các pháp là vắng bặt mọi dấu vết của tri kiến và ngôn thuyết. Nhưng chính do phương tiện, phát xuất từ Đại bi tâm vô lượng mà đức Phật giảng thuyết những pháp gọi là chân lý cao cả như Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Kỳ thực, chân lý cứu cánh không nằm ở trong đó". Kinh Bát nhã (tiểu phẩm), quyết liệt hơn: Dù có Pháp nào cao cả hơn Niết bàn cũng là Không nốt.

Đây là nói về mối tương quan giữa những gì được nói và những gì không thể nói. Tăng Duệ, trong bài tựa viết cho bản dịch Trung quán luận (tác phẩm của Long Thọ), giải thích ý nghĩa tương quan này: "Thật phi danh bất ngộ, cố ký Trung dĩ tuyên chi. Ngôn phi thích bất tận cố giả luận dĩ minh chi, kỳ thật ký tuyên, kỳ ngôn ký minh, ư Bồ tát tọa đạo tràng chi chiếu lãng nhiên huyền giải hỉ".

Theo đó, Thật hay Thật tướng, chân lý cứu cánh, nếu không có Ngôn thuyết thì không thể có con đường dẫn đến tỏ ngộ. Do đó, mới tựa vào con đường giữa để công bố. Con đường giữa tức là con đường không bị ràng buộc bởi những siêu việt và nội tại, giữa khả thuyết và bất khả thuyết. Đó chính là con đường im lặng trong nói năng và nói năng trong im lặng. Và rồi, như vậy, ngôn thuyết phải cần được minh giải để có thể lãnh hội thấu đáo.

Do đó, mượn hình thức một tác phẩm luận thuyết để tỏ bày. Sau cùng, một khi sự Thật đã được công bố nơi Ngôn thuyết, và Ngôn thuyết đã được tỏ bày thấu đáo trong cõi miền trầm lặng, thì bấy giờ, trong giây phút chứng ngộ tuyệt đối, Bồ tát soi tỏ thấu suốt tất cả tương quan giữa Danh và Thật.

Giải thích trên có thể biện hộ cho công trình của một tác giả Phật học. Biết rằng những gì mình nói đến không liên hệ đến sự Thật tuyệt đối, dù vậy, vẫn có thể nói và không trái ngược với sự thật. Nghĩa là, mọi tác giả đều có khả năng nói láo, nhưng trong cái láo đó lại có thể phản ảnh cái Thật. Không có giới hạn phân biệt giữa cái Thật và cái Láo.

Từ quan niệm vừa kể, chúng ta có một hệ luận vô cùng quan trọng để thấy phong độ các tác giả Đại thừa. Ngôn ngữ không phải là chân lý tuyệt đối, nhưng cũng chính ngôn ngữ vốn là biểu tượng của chân lý tuyệt đối. Nếu vậy, không chỉ riêng ngôn ngữ, mà bất cứ một sự thể nào cũng là biểu tượng của chân lý tuyệt đối. Tức là, theo một khẩu quyết của Đại thừa: sinh tử tức niết bàn.

Theo hệ luận này, chúng ta sẽ bắt gặp trong các tác phẩm Đại thừa hai phong cách diễn đạt. Hoặc bằng ngôn ngữ, hoặc bằng ảnh tượng. Và chúng ta được gán cho hai lối thuyết pháp của Phật. Hoặc thuyết trong khi ngài nhập định. Hoặc thuyết trong khi ngài ra khỏi thiền định. Khi nhập định, ánh sáng từ thân thể đức Phật tỏa ra. Ngang qua ánh sáng này, những bậc thượng trí trực ngộ ngay pháp sâu xa mà Phật muốn giảng thuyết. Khi ra khỏi cơn thiền định, ngài sẽ dùng ngôn ngữ, với lời lẽ khúc chiết, với thí dụ điển hình, với âm thanh dịu ngọt, Phật sẽ phân trần, giải thuyết những gì cần phải nghe, phải hiểu cho hạng người căn tính thấp hơn.

Hai cách thuyết pháp phù hợp với quan niệm về Phật. Ứng thân (một danh hiệu khác của sanh thân) xuất hiện giữa thế gian, chịu

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Sep 1 2016, 07:20 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 1 2016, 07:15 AM
Gửi vào: #137


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



(tiếp theo)

Trong tư tưởng Đại thừa, có hai quan niệm đặc trưng về duyên khởi. Quan niệm thứ nhất, y theo duyên khởi để đạt đến Pháp Không, thể hiện khả năng siêu việt hữu vô đối đãi, như đã thấy. Quan niệm khác, y trên pháp duyên khởi để chứng nhập thế giới tương giao trong trùng trùng vô tận, tức là Pháp giới duyên khởi. Ở đây, cũng giải thích về tương quan hiện hữu. Nhưng mỗi hiện hữu được quan niệm là một thực tại toàn diện - vì sinh tử tức Niết bàn - do đó, mối tương quan hiện hữu cũng toàn diện.

Thí dụ, tương quan giữa hai tấm kính đối diện. Một mặt kính không phải chỉ duy là một mặt kính; nó bao hàm tất cả những gì không phải nó nhưng có quan hệ với nó. Như vậy, hai mặt kính phản chiếu nhau không chỉ là hai, mà là Tất cả, và Tất cả. Danh từ Pháp giới muốn nói rằng tất cả giới hạn vô biên và toàn diện của sự thực đều ở ngay nơi sự thực cá biệt đó. Vậy, Pháp tức là Pháp giới, và như vậy, Pháp thân tức là Pháp giới thân.

Phật giáo Mật tông gọi Pháp thân hay Pháp với Thân là pháp giới thể tánh trí và biểu tượng là Mặt trời: Đại nhật như lai. Ánh sáng mặt trời vốn bình đẳng và phổ biến. Pháp thân cũng vậy. Chỉ cần có mắt là có thể thấy. Hễ thấy được mặt trời là thấy được tất cả vạn vật. Các Thiền sư thường nói:

Thanh thanh túy trúc
Tận thị Pháp thân
Uất uất hoàng hoa
Vô phi Bát nhã.

Trúc biếc xanh xanh, đâu cũng là pháp thân. Hoa vàng rậm rạp, đâu cũng là Bát nhã. Như vậy, lý tưởng của các nhà Đại thừa là không chỉ học hỏi Chánh Pháp từ kinh điển. Họ học bất cứ ở đâu, từ những sự thể vụn vặt trong cuộc sống hằng ngày. Để có thể được như vậy, phải trải qua những thời đào luyện tâm linh, sao cho tâm trí sẵn sàng mở rộng để đón nhận những chân lý cao cả được giảng thuyết nơi từng hạt bụi. Họ nói: Phá vi trần xuất kinh quyển. Chẻ hai hạt bụi ra thì sẽ thấy kho tàng bất tận của chân lý. Tâm hồn của chúng ta có thể chỉ là đá cuội, nhưng phải đào luyện nó cho đến khi một ngọn gió nhẹ thoảng qua, như một bài thuyết pháp bất tận, là đá cuội ấy gật đầu.

Rồi sau đó, đến lượt ta: gia lai thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu, đến lượt ta khi ta lên tiếng thì (những) đá cuội (khác) cũng gật đầu đáp lại. Đây mới chính là lý tưởng của văn học Đại thừa. Nó có thể là không tưởng, nhưng chỉ với một khát vọng bao la như vậy cũng đủ lần hồi trải rộng tấm lòng của chúng ta khắp cả đại thiên thế giới. Kinh Phổ hiền Hạnh nguyện nhắc nhở lý tưởng ấy rằng: "Hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng". Hư không còn có thể có chỗ tận cùng, nhưng tâm nguyện (Đại bi) của ta thì không bao giờ có thể cùng tận.

Nếu chúng ta không hay biết tí gì về tâm nguyện đại bi ấy mà mong bước vào thế giới văn học Đại thừa, đây mới thật là một không tưởng trên mọi không tưởng. Không tưởng này được bộc lộ quá lộ liễu và thô thiển khi người ta đánh giá một tác phẩm Đại thừa qua cái gọi là sự khám phá về những thế giới bên ngoài thế giới này, thế giới vô cùng, vô tận, mà các tác phẩm Đại thừa thường mô tả, có thực như vậy hay không chẳng có gì quan hệ phải bận tâm.

Nếu tâm trí của chúng ta không mở rộng kịp với thế giới vô tận được mô tả ấy, thì dù đó có là sự thực, cũng chỉ là sự thực của bóng vẽ. Nghĩa là, nói tóm lại, hương vị của Chánh pháp vẫn là hương vị cô liêu của sự sống. Và đây mới đích thực là tinh chất của toàn thể văn học Phật giáo, bao trùm tất cả mọi khuynh hướng, mọi tông phái của nó.

Thích Tuệ Sỹ
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 11 2016, 05:38 AM
Gửi vào: #138


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tại Sao Tôi Theo Phật.

Đại Dương

Con người hay thiên nhiên - chỉ với mỗi trái đất thôi - con người cũng đã là quá nhỏ bé, huống chi với vũ trụ thì rõ ràng con người không biết có tỉ lệ nào với vũ trụ cả. Và từ ngàn xưa khi văn minh khoa học chưa có gì để giải thích các hiện tượng xảy ra ở quả địa cầu chúng ta, lúc đó con người trong cuộc sống hằng ngày thường hay sợ hãi đối với năng lực của thiên nhiên . Do vậy mà con người thường tưởng tượng các vị thần hoặc giả tưởng tượng ra có ông trời là bậc sinh ra mọi việc. Thật vậy chúng ta cũng đã từng thấy trong thần thoại phương đông cũng như phương tây có thần mặt trời, thần sức mạnh, ở núi có sơn thần, ở sông có giang thần , ở biển có long vương, có thần sấm ,thần mưa lũ vv và vv…Lý do con người tạo ra những đấng siêu việt như thế là cốt để làm điểm tựa cho tư tưởng trong việc cầu xin ,và vì lòng tham của con người nên việc cầu xin các đấng siêu nhân đến nay vẫn còn tồn tại đầy rẫy.

Nhưng sự thật có vị thần linh nào ban cho ta những gì ta cầu xin ở họ không ? Chắc chắn rằng chẳng bao giờ có hiện thực. Và vì vậy Tàu có câu nói để đời là :"Nhân nguyện như thử, như thử, thiên ý dị nhiên dị nhiên", nghĩa là người nguyện là như thế, nhưng ý trời đâu phải vậy. Nói trắng ra chẳng có cái ông trời hay vị thần nào giúp ta cả. Cách đây hơn 2500 năm, xứ Nepal thuộc Ấn Độ, có một vị thái tử sinh ra và ông đã mặc thị “ thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn” nghĩa là trên trời, dưới cũng trời, chỉ có con người là duy nhất, tức là chẳng có ai khác con người, hay chẳng có ai làm gì cho con người. Và cũng vì con người phải tự lo cho con người, hay mỗi bản thân phải tự lo cho mỗi bản thân, nên một hôm, Ngài trong một ngày đã thấy cảnh sinh, lão, bệnh, tử. Ngài đã suy tư và đi tìm con đường làm sao thoát được bốn cái khổ nầy. Thật vậy khi ta sinh ra có gì sung sướng đâu, ngay cả ta cũng chẳng có ý niệm nào muốn sinh ra, rồi đến già rõ ràng cũng khổ, không biết bao nhiêu việc phiền toái mình không muốn nhưng nó vẫn đến với mình, rồi bịnh cũng khổ và cuối cùng đến chết cũng khổ. Cũng vì để đi tìm con đường làm sao con người thoát được bốn cái khổ lớn ấy, Ngài đã rời gia đình, rời yêu thương quyền quý, tự tu tập, suy nghĩ trong bảy năm. Cuối cùng Ngài đắc đạo dưới cây đại thụ. Người đời sau đó để kỷ niệm sự đạt chính quả của Ngài mà gọi cây nầy là bồ đề vì đạo của Ngài là đạo Bồ Đề. Mà đạo Bồ Đề là gì ? Bồ Đề chẳng phải là cái cây hay bất cứ hình thức nào. Ngài Lục Tổ Huệ Năng cũng đã cho ta biết Bồ Đề là thế nào theo bài kệ dưới đây:

Bồ Đề bổn vô thọ
Minh kính diệt phi đài
Bản lai vô nhứt vật
Hà xứ nhạ trần ai.

Nghĩa là Bồ Đề gốc không phải là cây, gương sáng cũng chẳng phải là đài, mà tất cả đều là không, thành ra chẳng ở đâu mà bụi bám vào được. Bồ Đề là vô tướng vô sắc. Và người ta tôn ngài là Phật. Phật không tự là một đấng siêu nhiên nào, tự nhiên mà có, mà là tên gọi một nhân vật đã đạt được sự toàn thiện, toàn mỹ. Như vậy hễ ai đạt đến độ toàn thiện, toàn mỹ như Ngài thì được tôn xưng là Phật . Vì thế mà ta đã có hằng hà sa số Phật.

Trở lại như ta đã biết từ ngàn xưa, con người thường tưởng tượng ra những đấng siêu nhân, ví dụ người ta cho có thần mặt trời, thần sấm, thần làm mưa…rõ ràng là chẳng thật. Mặt trời soi sáng, sấm sét, gió bão đó là những sự kiện theo qui luật vật lý. Vũ trụ này đang như hôm nay thì cũng là theo quy luật vật lý mà thành. Khoa học đã chứng minh vụ nổ lớn (big bang) cách đây hơn 13 tỉ năm làm cho nhiều khối tinh vân vô cùng to lớn đã tự tách ra từ đại thể và những khối nhỏ bay ra trong không gian, sau đó sau đó theo định luật hấp dẩn của Newton các khối tinh vân đó tạo thành các hệ, như hệ thái dương, hệ ngân hà, hệ sao chổi v.v… nghĩa là mọi sự việc xảy ra đều do một nhân duyên nào đó thế thôi, chẳng ai tạo ra, và vũ trụ luôn biến đổi chẳng bao giờ ngừng nghỉ.

Bây giờ ta thử xem đạo của ngài thái tử đắc đạo là như thế nào?

1.Khi đạt được chánh đẳng chánh giác, ngài đã bảo với mọi người là: "Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành, tức là, ai cũng có thể thành Phật". Đây là điều nói lên sự bình đẳng, nghĩa là ta cũng chẳng có gì khác người, các người cũng như ta, miễn là cũng tu tập như ta. Trong thân phận trước khi xuất gia, Ngài là một thái tử quyền uy và giàu có, lại là người đã thành chánh quả, nhưng Ngài không độc tôn, tự tôn. Rõ ràng Ngài là hiện thân cái vĩ đại của những vĩ đại. Ngài bình đẳng như mọi người, cái mà chẳng ai làm được.

2.Về con đường tu tập, Ngài cũng đã nói rất rõ con đường đó, nhưng về cách đi thì Ngài dạy rằng: "Các người hãy thắp đuốc các người đi ". Đây là điều nói lên sự tỉnh thức và giác ngộ trong tinh thần tích cực. Đúng, như chúng ta bây giờ chúng ta muốn đến đâu thì chúng ta tự đến đó, sẽ không có chuyện tự nhiên mà ta từ điểm A đến điểm B. Ta muốn đắc đạo thì ta phải tu tập. Như ngay cả việc muốn trở thành người thì loài linh trưởng, như khoa học đã chứng mimh, phải tự tiến hóa hàng triệu triệu năm, không ai sinh ra con người cả.

3.Về nhân và quả, Ngài cũng dạy rằng nhân nào thì quả ấy. Hễ nhân lành thì quả sẽ lành, còn nhân ác thì sẽ gặp xấu. Đây là một điều công bình, không có gì phải cầu xin, và cầu xin thì cũng chẳng bao giờ có. Chỗ này cũng xin nói đến Phật giáo có cầu siêu không ?

Trong quan niệm chết là sự biến dạng của nghiệp thức về sự sinh và tử nầy, Phật giáo có hai quan điểm, một là tái sinh tức thì, hai là qua giai đoạn chuyển tiếp thân trung ấm nghiệp lực của mỗi chúng sanh. Quan điểm đầu cho rằng tái sanh xảy ra tức thời trong một sát na niệm tưởng, không để trống một khoảng khắc nào. Sự sinh tử theo quan điểm này xảy ra cực kỳ nhanh chóng và được xem là một tiến trình liên tục. Còn quan điểm thứ hai cho rằng một số trường hợp phải qua một sự chuyển tiếp, ở đó chúng sinh mang dạng “thân trung ấm “ lưu lại trong khoảng thời gian từ một đến bảy tuần lễ, thông thường thì thọ sinh là bảy ngày, tuy cũng có thể lâu hơn nữa do sở duyên chưa thích hợp.

Quan điểm tái sinh tức thời được khẳng định bởi giáo lý nguyên thủy. Do quan niệm hiện tượng chết và tái sinh diễn ra tức thời và không có cái gọi là linh hồn người chết tạm trú ở một nơi nào của Phật giáo nguyên thủy, nên có thể nói rằng Phật giáo không có nghi lễ cầu siêu, vì cầu siêu không có tác dụng gì đến người đã chết, chỉ tốn công mất của mà thôi. Có nghĩa là khi người nào đã tạo ra nhân thế nào thì quả của họ là thế ấy, không có gì để cầu xin, ví như ta bỏ thùng dầu dưới đáy hồ rồi đập thùng đi thì chắc chắn dầu sẽ nổi lên dù cho một số đông đảo quần chúng có cầu khẩn, chắp tay cầu rằng số dầu ấy chìm thì dầu cũng không làm sao chìm được.

Thật ra Phật giáo Bắc tông truyền từ Ấn Độ qua các nước phương Bắc như Trung hoa, Triều tiên, Nhật bản và Việt Nam trong khoảng 500 năm đầu cũng không có nghi lễ cầu siêu cho người đã chết. Nghi lễ này thật sự chỉ bắt đầu từ đời Lương Vũ Đế (464-549) qua lễ từ bi đạo tràng sám pháp và lễ Thủy lục Không pháp hộ siêu độ. Đến đời vua Đường Minh Hoàng (685-762) Thủy lục Không trở nên rất phổ biến và trở thành nghi lễ chính thức để cứu độ những người chết trong chiến tranh và lễ nầy được truyền sang Việt Nam sau đó. Vì thế lễ cầu siêu đó ngày nay tại Việt Nam chỉ là hình thức văn hóa của Trung hoa pha trộn cho với đạo Phật.

Theo pháp sư Đạo An (sinh vào khoảng 312 -314(?) dưới thời Hoài Đế nhà Đông Tấn ) Ngài là ưu kiệt danh tăng của Phật giáo Trung hoa. Ngài là người đầu tiên khởi xướng việc lấy họ Thích làm họ chung cho người xuất gia và điều nầy đã thành thông lệ cho đến ngày nay thì nguồn gốc siêu độ ở thời đức Phật không có. Phật giáo truyền đến Trung quốc ở thời kỳ đầu cũng không ghi chép sự việc nầy. Thời Đường Minh Hoàng vì quá sủng ái Dương quí Phi nên có loạn An lộc Sơn. Nhờ Quách Tử Nghi, đại tướng đương thời mới bình định được cuộc nổi loạn, triều đình lệnh tại mỗi chiến trường chính xây dựng một miếu thờ gọi là Khai Nguyên tự vì đúng vào niên hiệu Khai Nguyên, thỉnh cao tăng, đại đức tụng kinh bái sám truy điệu cho quân dân tử nạn. Đây là lễ truy điệu do triều đình cử hành gọi là pháp hội siêu độ. Từ đó dân chúng học theo, mỗi khi có người qua đời người dân cũng thỉnh pháp sư đến làm Phật sự siêu độ tạo ra phong tục cho đến ngày nay. Nói tóm lại Phật giáo không có lễ Cầu siêu.

4 Mặc dù Ngài đã đắc đạo, và những gì Ngài nói đều chân thật và rõ ràng, nhưng Ngài cũng đã nói: "Ta nói nhưng các ngươì chớ vội nghe ta". Đây là sự tự do chọn lựa, không bắt buộc ai chưa rõ, chưa biết mà tin. Cứ tự do suy nghĩ rồi đến với ta hay không đến với ta. Đây là tinh thần dân chủ không giáo điều.

5 .Đức Phật chẳng ban cho ai cái gì và cũng chẳng ban được cho ai cái gì. Mà cái gì ta có là tất cả do ta làm, chẳng khác gì một người cha có sự học vấn uyên bác, nhưng người con không chịu học, lêu lỗng thì người cha cũng không thể cho con cái uyên bác của mình được. Con muốn uyên bác thì phải học tập như người cha, thế thôi, công bình.

6. Đức Phật cũng không phải tu tập riêng cho cá nhân mình, mà chính Ngài đã đi tìm con đường cho chúng sinh, nên đã đem tất cả những gì ngộ chứng truyền đạt lại cho chúng sinh. Ngài muốn tất cả chúng sinh cũng đều đạt được như Ngài. Đây là tinh thần bác ái vĩ đại. Ngài đã vì chúng sinh.

7. Đức Phật vì chúng sinh cho nên Ngài cũng khuyên ta không được sát sinh. Ngài quan niệm tất cả động vật, kể cả con người đều là chúng sinh. Rõ ràng Ngài là người vô cùng nhân ái, đạo đức. Ngài không bao giờ nói đến sự trừng phạt ai. Ngài cũng chẳng bao giờ nói rằng nếu không nghe ta người sẽ vào địa ngục. Không và không bao giờ.

8. Đạo của Ngài là đạo khoa học: trong quy trình cấu tạo vũ trụ hoặc nhân sinh, Ngài cho rằng đều do từ mười hai nhân duyên mà thành. Ngài cho rằng, nhà bác học Pháp Lavoisier cũng đã chứng minh: vật chất không thể mất đi mà chỉ biến dạng hình hài. Còn vấn đề chẳng dơ chẳng sạch thì sao? Lấy ví dụ khi ta ăn thức ăn, lúc đó ta cho là sạch nhưng khi thức ăn được tiêu hóa thì nó được ta gọi là dơ. Vậy dơ hay sạch chỉ là do sự biến hóa qua lại. Miếng cá sống ta không thể ăn được vì cho nó là tanh, nhưng khi nấu chín thì nó trở thành ngon. Tại sao cũng miếng cá đó mà lúc thì cho là tanh, lúc thì cho là ngon? Ấy cũng chỉ vì tác dụng qua lại của vật chất và nhiệt. Cho nên nói về khoa học trong học thuyết của Phật, nhà bác học Albert Einstein có phát biểu như sau :" nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó là Phật giáo."

"Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học, cũng như vượt qua khoa học. Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên, đặt trên căn bản đạo lý phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lãnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng các điều kiện đó."

Trong Phật giáo không chấp nhận cầu xin, số mạng. Cầu xin tức là tiêu cực, còn Phật giáo là đạo tích cực, đạo của tỉnh thức và giác ngộ. Phật giáo cũng không công nhận ai có quyền ban cho, và cũng chẳng ai ban cho được. Còn số mạng thì rõ ràng chẳng có, bởi nếu con người có số tức có đấng nào đó ban cho mỗi cá nhân mỗi số mệnh. Và trong thực tế mỗi người có cuộc sống và tư tưởng hoàn toàn khác nhau: kẻ giàu sang, kẻ khốn cùng, kẻ thông minh, kẻ u tối. Như vậy đấng nào đó đã không công bình khi ban cho con người một cái số như vậy. Như thế ta có thể nào tôn trọng đấng đó không, vì đấng ấy rõ ràng đã hành động không công bình. Như vậy rõ ràng là chẳng có gì là số mạng cả vì chẳng ai ban cho ta cái số. Nghĩa là tất cả đời ta đều do duyên và nghiệp cấu thành.

Trong chế độ (Không dùng từ này), ai cũng biết là (Không dùng từ này) chủ trương ba không: không gia đình, không tổ quốc, không tôn giáo. Với tôn giáo họ cho đó là thuốc phiện, là thứ ru ngủ tâm hồn yếu đuối. Với gia đình, họ cho đảng là đại gia đình, theo đảng là phải bỏ gia đình, nên trong cuộc cải cách ruộng đất, tổng bí thư Trường Chinh đã đấu tố cha mẹ. Còn vô tổ quốc vì họ chỉ biết một thế giới đại đồng trong chủ nghĩa (Không dùng từ này), không có ranh giới quốc gia. Cũng vì thế mà (Không dùng từ này) luôn đánh phá tôn giáo và Phật giáo không nằm ngoài mục tiêu của họ.

Sau 30-4-1975 khi Mỹ bỏ miền nam Việt Nam, (Không dùng từ này) có dịp đánh phá Phật giáo toàn diện và rộng rãi. Họ dựng ra cái gọi là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam“ trên thực tế là giáo hội quốc doanh và cấm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hoạt động. Đã gọi là quốc doanh có nghĩa là kinh doanh cho nhà nước, và muốn như thế (Không dùng từ này) đã dùng những đảng viên đầu trọc giả sư vào các chùa trong nước cũng như xuất khẩu ra ngoài nước ở những nơi có người Việt sinh sống. Những sư giả này cũng tạo lập chùa theo chỉ đạo của các tòa đại sứ hay lãnh sự của (Không dùng từ này) , để lừa phỉnh những người có tâm Phật đến chùa, thứ nhất để đưa họ lạc đường chánh đạo, hai là để làm tiền cho nhà nước Việt Nam. Họ đưa những người có tâm Phật lạc đường chánh đạo bằng cách: không bao giờ giảng về Phật pháp mà chỉ nói những ngày lễ mời Phật tử về dự. Việc không giảng về Phật Pháp cũng dễ hiểu: Giảng để làm gì, vã lại họ đâu phải là sư thật mà biết Phật Pháp để giảng. Mấy tên giả sư nầy nói nhiều về sự cúng dường: Cúng dường là công đức vô lượng, nên những người không hiểu Phật Pháp cứ tin mình cúng dường tức là đã có công đức. Lại có nơi, những giả sư bày ra trò “cúng sao, giải hạn, xin xăm…”(tạo mê tín sai chánh pháp) dể cho mấy người còn đầy sân si tin theo.

Thực tế sao hạn là cái gì? Mà làm sao giải? Phật có nói chổ nào trong kinh là sao hạn đâu? Những giả sư nầy cố tạo những người có tâm phật thành mê tín vu vơ. Nếu có nhiều người mê tín tức là (Không dùng từ này) đã thành công vì đã phá hoại được Phật Giáo chân chính lại được có nhiều tiền. Khi ta tới những chùa của các giả sư nầy, ta có cảm tưởng đây là một hồi trong truyện Tây Du Ký Diễn nghĩa của Ngô Thừa Ân. Trong truyện, bọn yêu quái thường biến những cảnh chùa thành tiểu lôi Âm đánh lừa thây Đường Tăng vào bắt để ăn thịt. Bọn yêu quái cho rằng ăn được thịt Đường Tăng thì sẽ sống cả ngàn năm. Mà Thầy Đường Tăng trong truyện là đại diện cho tâm Phật, Tôn Ngộ Không đại diện cho trí tuệ, Bát Giái đại diện cho bản chất trần tục, Sa Tăng đại diện cho tâm, con ngựa đại diện cho phương tiện.

Ở đâu, trong nước hay ngoài hải ngoại, bọn giả sư cũng giống như bọn quỷ trong truyện Tây Du. Tất cả đều muốn ăn thịt hút máu những người có tâm Phật. Tuy nhiên, trong truyện Tây Du, bọn quỷ không bao giờ ăn thịt được Đường Tăng, nhưng bọn giả sư ấy giờ đã hút được khá nhiều máu của những người có tâm Phật hiện tại. Và như vậy, trong tương lai, (Không dùng từ này) có triệt tiêu được Phật Giáo không? Xin thưa: không bao giờ. Không phải ai cũng mê tín nghe theo bọn đầu trọc giả sư đó. Từ xưa, ở nước ta cũng đã có nhiều lần Phật Giáo bị đánh phá, nhưng Phật Giáo vẫn tồn tại và phát triễn đến ngày nay. Như Đại Sư Mãn Giác đời Lý (ông tên tục là Nguyễn Trường – thường gọi là Lý Trường – Thân phụ là Hoài Tố, người dất Lũng Triền, Hương An) có thơ rằng

“Mạc vi xuân tàn hoa lạc tận
“Tiền đình tạc dạ nhất chi mai”
(Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai)
Xuân có tàn, hoa vẫn còn chẳng bao giờ rụng hết!

Tóm lại, đạo của Phật là đạo của: tự do, dân chủ, công bình, bác ái, tích cực, tỉnh thức, giác ngộ, khoa học, không giai cấp, không tự tôn. Những điều nầy là những điều mà tất cả loài người tiến bộ trên thế giới đang đấu tranh để đạt đến. Cũng vì thế nên tôi theo đạo Phật.

Đại Dương


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 20 2016, 12:33 PM
Gửi vào: #139


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Khiêm cung

Một lúc nào đó, biết ngồi lại để thấm thía tinh thần uyên áo mà giản dị của Phật pháp, chúng ta có thể sẽ thấy được ý nghĩa quan trọng tuyệt vời của cái gọi là cách đối nhân xử thế hay nói gọn hơn, là phép sống ở đời. Ở đây chúng ta sẽ có được những kinh nghiệm quý giá về quy luật đối xứng trong từng hành động, ngôn ngữ và cả ý nghĩa của mình nữa. Mọi sự luôn để lại một hiệu quả thích đáng. Tôi đặc biệt nhấn mạnh và có hứng thú trong đề tài này vì qua chính nó, ta sẽ có rất nhiều vấn đề để nói. Cái tuyệt vời của phép sống mà tôi sắp nói tới không phải chỉ được quan tâm vì nó đã được nói tới nhiều trên các trang sách mà hơn thế nữa, nó là một thứ kinh nghiệm tâm linh tự chứng hết sức đặc thù đòi hỏi một công phu trau luyện của bản thân.

Tôi đang đứng trên bục giảng nên cứ xem là tôi đang có một cơ hội để san sẻ thứ kinh nghiệm đó của mình. Tôi đã từng được dạy cách phơi mở từng phút giây thực tại để tận dụng khả năng cao nhất của mình nhằm có thể học được cách nói chuyện bằng chính ngôn ngữ của trái tim, thứ tiếng nói được phát biểu bằng chính kinh nghiệm nội tại. Từ lâu, tôi vẫn hướng tâm về một bài học duy nhất là làm sao có thể sống ban phát một cách đúng mức. Tư tưởng đó dĩ nhiên đã đem lại cho tôi rất nhiều đạo lực giá trị nhưng rồi đôi lúc, trong đầu tôi lại chập chờn những câu hỏi: "Liệu người ta có cần đến thái độ đó của mình hay không? Thật ra thiên hạ cần đến một sự tương giao như thế nào?".
Trong những lúc nhức đầu với mấy tự vấn đó, tôi lập tức cố gắng quay lại với chính mình bằng một thái độ buông xả rồi lại tự hỏi: "Cái Tôi từ đâu đến mới được chứ? Mình từ đâu đến đây nhỉ?"

Theo tôi, tính trung thực là một trong những giá trị tinh thần thù diệu nhất mà con người cần thiết phải phát huy, trưởng dưỡng. Ðức tính này cũng là một trong mười hạnh Ba La Mật của Phật Giáo. Cho dẫu có tự xét mình theo quan điểm đạo đức hay tôn giáo, chúng ta cũng sẽ thấy rằng một khi ngay trong chính thâm tâm mình đã thiếu tính trung thực, chân thực thì bước đi tiếp theo sẽ là việc dối người dối đời. Sự dối lòng thì tinh vi lắm, rất khó phát hiện, nên ta còn có thể tự dung túng nó. Nhưng để dối người thì vấn đề hơi gay go.
Hiệu quả của lòng trung thực kỳ lạ lắm. Những khi sống với nó, tôi tự nhiên thấy mình trở nên khiêm tốn hơn để có thể chịu thua thiệt với bất cứ ai một cách dễ dàng. Nhờ nó, tôi đủ can đảm chấp nhận đời sống dù có phải ra sao. Quý vị hãy nhớ lại đi, nền văn hóa hiện đại thật ra vẫn chưa hề dạy ta cái tinh thần khiêm tốn ngay cả những khi danh từ này được nhắc tới một cách trịnh trọng nhất. Nào có gì đâu, trong một định nghĩa bội bạc nào đó, người ta còn bảo khiêm tốn hay khiêm cung chỉ là cái cử chỉ khom mình thật thấp về cả ý nghĩa sinh lý lẫn từ ngữ. Thậm chí có người còn nói thái độ khiêm tốn, về mặt ngữ nghĩa, chỉ là động tác tự gây cho mình cái cảm giác thấp kém và bé mọn hơn. Từ đó, người ta thường cứ thấy ấm ức khi phải tỏ dấu thi lễ, nhún nhường với ai đấy.
Kỳ thật, trong từng cái cúi đầu như vậy, cái Tôi trong chúng ta coi như đã ít nhiều được đè nén nhưng hãy nhớ đấy, hãy luôn cảnh giác với chính mình khi cử chỉ khiêm cung đó chỉ còn là một động tác máy móc.

Trong đời sống tu tập của một Phật tử, đức tính khiêm tốn không chỉ là một dấu hiệu văn hóa mà còn là một pháp tu nữa. bởi cũng chính từ đây, sự tiến bộ của chúng ta được thực hiện và thể hiện. Tôi biết có người sẽ cho thái độ khiêm tốn là phương hại cho dũng khí nhưng rõ ràng những gì tôi vừa nói trên đâu có nghĩa là chúng ta phải nhắm mắt để mặc cho người khác chà đạp. Tôi không hề kêu gọi các vị hãy nằm dài xuống mặt đường cho mọi người dẫm lên để trau dồi được tính khiêm tốn. Ðiều chúng tôi đề nghị ở đây chính là thái độ tâm lý của mỗi người trong từng cuộc đối diện và phản ứng với đời sống chung quanh. Tấm thân sinh lý này thật ra chẳng nghĩa lý gì đâu, chúng ta nên học cách cúi thấp ngay từ trong tư tưởng, trong từng quan điểm của mình kìa!

Hãy thử quan sát điều gì sẽ xảy ra khi ta không có phản ứng đối kháng trước lời công kích của ai đó. Phải nói rằng khi xúc phạm chúng ta, thiên hạ luôn chờ xem một sự trả đũa nào đấy để họ có thể phỉ dạ, hả hê. Nhưng nếu về phía mình, chúng ta không có một đối kháng nào để áp dụng thù tạc lại thì những thị phi kia lúc này coi như bị tung trợt ra ngoài như một quả banh bị đánh vào khoảng không. Tôi nhắc lại, chúng ta không có đối kháng mà chỉ nên bao dung thôi. Và vấn đề không chỉ dừng lại ở tinh thần bao dung, chúng ta còn phải hiểu rõ bằng cách nào mình đã thực hiện được điều đó.

Tôi đã thực tập được điều này trong thời gian còn sống ta bà. Ngoài những lời mỉa mai, phỉ báng còn biết bao thứ phũ phàng khác nữa mà thiên hạ đã trút lên tôi. Chẳng hạn, ngoài cảm giác tâm lý khó chịu dĩ nhiên phải có khi biết người chung quanh chẳng ưa mến gì mình, tôi còn phải chấp nhận cái đinh tai nhức óc khi có người muốn đuổi theo sau hoặc muốn sánh bước với mình. Những khi đó, tự trong người tôi quả là đang trào dâng một nguồn sinh lực bản năng nào đấy để sẵn sàng bật tung ra cho một đối kháng nhưng cũng may, bao giờ tôi cũng kịp thời giữ mình và tiếp quản lập tức nguồn sinh lực đối kháng ấy.
Ðúng là chuyện khó tin khi trong lòng cùng lúc tất cả phức loạn tâm sinh lý lại tương quan với nhau một cách nhịp nhàng đến thế. Lúc đó tôi có cảm giác như sức phản ứng của mình được di chuyển khắp vùng lục phủ, bàn tay nắm chặt lại để sẵn sàng hành động nhưng rồi khi nội tâm được dàn xếp, sức mạnh sinh lý kia trở nên nhẹ nhàng, ngoan ngoãn cho một sự khuất phục. Như vậy có thể nói đây là con đường để tận dụng một cách hữu ích và nhuần nhuyễn mọi tình huống trong đời sống, biến trở lực thành ra pháp tu mà ý nghĩa căn bản của nó nằm trong hai tiếng: "khiêm cung".

Có thể nói hầu như cuộc đời của tôi đã đi qua những chỉ số tiêu chuẩn nhất, trong một hình hài cao trên một mét tám và hạng nặng những một trăm ký. Nhưng đối với tôi, mấy con số đó không hề là cái gì cả như bọn thiếu niên dậy thì vẫn mong mỏi có được để tự khẳng định sức vóc và tuổi trẻ của mình. Nhờ biết quên đi, biết coi nhẹ cái mình đang có, nên tôi xem như có thể dửng dưng tẩy xóa được cái ám thị "Cơ bắp, phái mạnh, anh hùng" trong chính bản thân. Ngày nào chúng ta còn bị vướng vít với những "tầm vóc, kích thước" thì công phu thiền quán phải nói là cả một vấn đề và cũng có thể nói rằng chính nhờ biết quên đi những ám thị không cần thiết nên tôi đã tìm thấy cái đẹp thật sự trong đời sống phạm hạnh của mình. Khái niệm thẩm mỹ cao khiết này đã vạch ra cho tôi một hướng sống hết sức tuyệt vời, ngay từ những sinh hoạt bình thường nhất. Chẳng hạn ở đây mỗi ngày chúng ta có những nghi thức tôn giáo thoạt xem qua thì rất giản dị như động tác chắp tay và tụng kinh. Cái khó nhất vẫn là động tác chấp tay cúi đầu. Chỉ riêng động tác đó thôi, trên hình thức, thì có gì đâu. Chỉ có điều là chúng ta thực khó mà "biết chấp tay ngay tự đáy lòng mình". Ðể thực hiện được điều này ta phải tự đối diện với sự tự kháng quyết liệt của nội tâm. Chúng ta thực ra đâu có muốn chấp tay, bởi có biết bao là những quan niệm đối lập lại với động tác khiêm cung xem ra có vẻ quá đáng ấy. Nhưng nói cho cùng thì chúng ta làm những cái gì?

Ngay chính bản thân tôi trong cuộc đời tu học của mình cũng đã nhận ra những rắc rối này từ rất sớm. Nhưng tôi đã may mắn gặp được thiền sư Ajahn Chah, người mà theo tôi là một bậc chân sư khả kính nhất. Tôi đã sụp mình đảnh lễ dưới chân Ngài một cách dễ dàng. Ngài không hề bảo tôi làm thế, dĩ nhiên, nhưng tôi đã đảnh lễ Ngài vì tự nhiên muốn làm như vậy. Tôi đã bất chợt nhận ra là tư thế phủ phục đó đẹp quá, thay vì đứng thẳng người lên, nói một câu nào đó thật sáo rỗng mà trong đầu vẫn tồn đọng một cái Tôi to tướng. Tư thế sụp mình đưới đất như vậy đã đem lại cho tôi một cảm giác làm sao ấy, nó như tưới mát cả tim mạch...
Ðể mọi người có thể cùng chia xẻ với chúng tôi cái cảm nghiệm đó quả là khó khăn. Lớn lên trong nền văn hóa Tây phương, chúng ta thường có khuynh hướng chú trọng đến cái gì thực tế. Khách viếng chùa nhìn thấy những gì hình thức lễ bái, rất có thể sẽ cho là chúng tôi đã nhồi sọ tín đồ hoặc những nghi thức hạ mình đó còn là một cách lập dị để nuôi lớn một cái Tôi.

Người Tây Phương chỉ có thể xem nghi thức chắp tay gần như là biểu cử của cấp dưới cho nên khó mà thực hiện và càng không thể hiểu được ý nghĩa tuyệt vời của nó. Trong khi đó, đứng trước một cái cúi đầu của mọi người - Theo tập tục Thái Lan chẳng hạn - thì tự nhiên tôi thấy mình phải tự biết khiêm tốn bằng cái gật đầu đáp lại với một sự trân trọng thiệt lòng. Cách cúi đầu của người Thái xem ra cũng có ý nghĩa tương đương với cái chấp hai bàn tay (ànjali) của cổ tục Ấn Ðộ mà người xứ này vẫn gọi là phép chào hỏi cung kính nhất (Namaste). Họ chỉ chắp tay lại thôi nhưng trong động tác ấy ngầm chứa một lời chào "Tôi xin cung đón, cung tiễn hay phủ phục trước bạn". Ở phương Tây, đặc biệt tại Mỹ, bạn chỉ cần đưa tay ra nắm lấy bàn tay người đối diện rồi nói một câu khuôn sáo cho xong "rất hân hạnh" chỉ vậy thôi. Tôi là một người Mỹ nhưng cho tới bây giờ vẫn cứ thấy cách chấp tay chào nhau là một biểu lộ tình cảm đẹp nhất.

Mấy năm trước, lúc còn ở Thái Lan, tôi đã từng sống gần một nữ tu người Tây Tạng, cô biết nói tiếng Anh và cũng là học trò của Ngài Ajahn Chah. Có một buổi chiều phải sang thăm dãy thiền phòng dành cho các nữ thiền sinh, Ngài Ajahn Chah bảo tôi đi theo để thông dịch. Sau thời giảng về thiền như một bài học thêm cho các cô, Ngài thiền sư dành đôi ba phút còn lại để trả lời các câu hỏi. Một ngày trước đó, Ngài Ajahn Chah đã nhìn thấy cô thiền sinh Tây Tạng đi nhiễu quanh ngôi chánh điện của chùa rồi chốc chốc lại buông mình trải người xuống đất để đảnh lễ theo nghi thức Tây Tạng. Chiều nay, trước đám đông các thiền sinh, Ngài đề nghị cô hãy làm lại động tác lễ bái đó cho mọi người cùng được xem. Cô thiền sinh đã vâng lời và lập lại trọn vẹn nghi thức lễ bái đó.
Cô đã giải thích rằng đôi tay trong lúc này mang ý nghĩa như một lễ phẩm của toàn bộ thân khẩu ý chính mình. Ðộng tác duỗi tay và xoay vần quanh người rồi cuối cùng đặt lên đầu là để tượng trưng cho tất cả tấm lòng mình đã trao gởi vào động tác đảnh lễ. Sau đó, cô thả mình nằm dài trên nền nhà với hai bàn tay chấp lại để sau đầu, rồi lập lại mọi động tác ban đầu, cô trải mình xuống đất lần thứ nhì và đôi bàn tay đặt trên đỉnh đầu để kết thúc nghi thức. Chăm chú theo dõi từ đầu đến cuối, Ngài Ajahn Chah đã buông một câu nhận xét: "Ðây cũng là một phép tu về hạnh khiêm cung và xả thân!".

Tôi không bao giờ quên được buổi chiều hôm đó với câu nói của Ngài Ajahn Chah. Ngài đã kín đáo nhấn mạnh cái đẹp của một hình thức sinh hoạt tuy có vẻ vật chất nhưng lại chứa đựng trọn vẹn tinh thần xả kỷ vong thân. Bởi nếu có được một cái nhìn chuyên biệt, ta sẽ thấy rằng chỉ cần một vài động tác khiêm hạ cũng đã quá đủ để nói lên tấm lòng chân thành nhất. Tôi nghĩ rằng đến cả những người ích kỷ và tự đại nhất có lẽ cũng không thể phủ nhận điều tôi vừa nói trên đây.

Ngay trong đời sống tu viện, chúng tôi gần như luôn có nhiều cơ hội để tự tìm lấy những bài thực tập về hạnh khiêm cung thông qua từng cái cúi đầu của người khác đối với mình cũng như của mình đối với người khác. Ðối với chúng tôi, chỉ riêng có chừng đó cũng gần như một pháp môn để tu học rồi. Vì ít ra đây cũng là biện pháp để chấm dứt rất nhiều thứ cần được chấm dứt và đây cũng là một hạnh tu khá đơn giản bởi ngay cả lúc rảnh rỗi nhất cũng phải nhớ tới. Có khó gì đâu, chỉ bỏ ra tí thời gian để tự nhìn lại mình và nuôi dưỡng tâm hồn chỉ bằng từng cái chấp tay hay cúi đầu thôi. Và đối tượng cho thái độ tôn kính đó nào có phải đòi hỏi một thần tượng vĩ đại nào đâu. Chúng tôi chấp tay, cúi đầu và thật đơn sơ, hướng về một nhân cách, đức tính, phẩm hạnh nào đó như nhân ái, từ bi và hiểu biết...
Mỗi đêm, trước khi vào giường ngủ, tôi đều cúi đầu trong tinh thần đó đúng sáu lần và trước khi rời giường vào buổi sáng hôm sau tôi cũng lập lại sáu lần động tác đó như một công việc đầu tiên trong ngày. Không chỉ riêng ở đâu hết, kể cả những lần qua đêm ở nhà cư sĩ, tôi vẫn luôn giữ đúng thói quen đó, và sẽ thú vị hơn nữa nếu trên tường của căn phòng có được đôi ba câu cách ngôn nào đó. Trong trường hợp không có một đối tượng nào cả, ảnh Phật hay cách ngôn, lúc đó tôi có thể sẽ tự mình làm một buổi kinh cầu ngay trong nội tâm mình bằng những suy tưởng về các phẩm chất tinh thần nào mà mình có thể vận dụng. Tôi nghĩ rằng điều này, ai trong số chúng ta ở đây cũng có thể thực hiện được cả.

Việc thực hiện được hay không, những điều tôi vừa nói, dĩ nhiên vẫn là sự lựa chọn của mỗi người. Ðiều đó chúng ta nếu muốn thì cũng có thể thực hiện bất cứ lúc nào mà, chẳng hạn ngay từ bây giờ. Và bài học coi như bắt đầu từ đây thưa quý vị: khi thấy không ai chào mình thì dù không có phản ứng gì rõ ràng, tôi vẫn cảm thấy một chút buồn đi qua lòng mình và khi bắt gặp được một cái cúi đầu, tôi dĩ nhiên nghe mình dễ chịu hơn. Tôi hiểu được cái khó khăn trong bài học này, nhưng bởi vì quí vị đã thật lòng muốn học hỏi nó thì đây sẽ là một bài học tuyệt vời. Ðại khái, bài học về đức tánh khiêm cung đòi hỏi ở chúng ta một sự cố gắng tương xứng như thể một cuộc chiến không hơn không kém.
Ðại Ðức Pabhakaro

Tiểu Sử Tác Giả:

Ðại Ðức Pabhakaro thế danh là Gordon Kappel sinh năm 1948 tại Seattle, Washington. Nhập ngũ năm 1967, từng có mặt tại chiến trường Việt Nam (1969) với cấp bậc đại úy không quân. Trong một chuyến đi sang Thái Lan, đại đức đã đến viếng các chùa và tình cờ gặp được chư tăng người Tây Phương đang tu học tại đây.
Năm 1970, về lại Alabama (Hoa Kỳ), đại đức dành trọn thời giờ để nghiên cứu Phật Giáo một cách nghiêm túc, dần dần phát nguyện bát quan trai giới và học Thiền. Sau đó trở qua Thái Lan, đại đức tu sa-di ở chùa Wat Bovornives rồi năm 1972 chính thức thọ giới tỳ kheo tại chùa Wat Pah Pong.
Năm 1977, khi đại đức Samedho rời Thái Lan để sang hoằng pháp tại Anh Quốc, đại đức Pabhàkaro coi như trở thành vị viện chủ của tu viện Nanajat. Năm 1979, sau khi tháp tùng Thiền sư Ajahn Chah trong một chuyến đi vòng quanh Châu Âu và Hoa Kỳ, đại đức trở về Thái Lan bỏ ra 18 tháng sống hạnh Ðầu Ðà giữa rừng sâu rồi sau đó quay về chăm sóc Thiền sư Ajahn Chah lúc này đang trở bệnh nặng, đồng thời quán xuyến luôn cả các Phật sự tại chùa Wat Pah Pong.
Năm 1984 đại đức đi Anh quốc để cùng các huynh đệ thành lập trung tâm Phật Giáo Amaravatì. Ðại đức hiện là trụ trì chùa Harnham Vihara và đã từng xuất hiện trên đài truyền hình trong một chương trình có tên là "Cuộc hóa duyên về Newcastle".
Bài viết sau đây là nội dung được phỏng lại của một thời giảng do đại đức Pabhàkaro thực hiện vào tháng tám, năm 1984 tại Scotland.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 10 2016, 03:57 AM
Gửi vào: #140


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



CÁI THẤY
Nguyễn Thế Đăng

Hoa sen“Nói kinh Đại thừa vô lượng nghĩa xong, Đức Phật ngồi kiết già nhập trong định ‘Vô lượng nghĩa xứ’, thân tâm chẳng động.

Bấy giờ, Đức Phật nơi tướng lông trắng giữa hai lông mày, phóng ánh sáng chiếu khắp cả một vạn tám ngàn thế giới phương Đông, dưới đến địa ngục A-tỳ, trên đến trời Sắc Cứu Cánh. Chúng ở thế giới này đều thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia”. (Phẩm Tựa, kinh Pháp Hoa).

Ánh sáng chiếu khắp này là ánh sáng của Phật tánh. Ánh sáng ấy khiến tất cả “thông làm một cõi nước Phật” (Phẩm Hiện Bửu tháp, kinh Pháp Hoa). “Chúng ở thế giới này đều thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia”, đều thấy tức là ai cũng thấy, ai cũng có và cũng ở trong ánh sáng của Phật tánh này. Chúng sanh đều có ánh sáng của Phật tánh này nhưng chưa biểu hiện ra được. Đức Phật đã chứng đắc hoàn toàn ánh sáng Phật tánh , nên biểu lộ ra để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập cái vốn có sẵn nơi mỗi người.

“Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, nên tất cả chúng sanh đều có ánh sáng Phật tánh, đều ở trong ánh sáng ấy, nên chúng sanh ở thế giới này đều thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia. Trong ánh sáng Phật tánh này, tất cả các cõi và chúng sanh thông làm một.

Đức Phật phóng ánh sáng chiếu khắp cả để hiển bày Trí như tấm gương sáng tròn lớn (Đại viên cảnh trí), tức là Phật tánh sáng khắp. mà chúng sanh chúng ta ai cũng có và sống ở trong đó. Trong tấm gương sáng ấy, các cái được thấy, các bóng trong gương và các người thấy đều thông nhau “làm một cõi nước Phật”, làm một với tấm gương. Cho nên thấy không chỉ là các bóng trong gương , mà phải thấy chính tấm gương, nói theo kinh Pháp Hoa, là thấy “thật tướng của tất cả các pháp”.

Trong Phật tánh tròn sáng hay Trí như tấm gương sáng tròn lớn này, tất cả thông làm một, tất cả đều bình đẳng vì đồng một tánh, đây là Bình đẳng tánh trí. Các hình bóng khác nhau hiện ra, nhưng cùng nằm trong một nền tảng, một bản tánh là tấm gương, trí nhìn thấy sự khác biệt nhưng không khác biệt là Diệu quan sát trí. Cuối cùng là sự hoạt động, sự thành tựu công việc trong thế giới khác biệt mà không khác biệt là Thành sở tác trí.

Phóng ánh sáng lớn thông làm một cõi nước Phật, tấm gương sáng tròn lớn này là Nền tảng chung, Bản tánh chung của chư Phật, chư Bồ-tát và của tất cả chúng sanh. Nền tảng ấy là Pháp thân, là Phật tánh, là Như Lai tạng… Thực hành là thấy trực tiếp nền tảng ấy, và nhập sâu vào cho đến khi tấm gương sáng ấy mở khắp đến vô biên, ánh sáng tròn đầy viên mãn và gồm chứa cả ba trí kia.

Kinh nói trong đoạn kế tiếp:

“Lại thấy chư Phật ở các cõi kia và nghe chư Phật ấy thuyết kinh pháp. Cũng thấy các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Cư sĩ nam, Cư sĩ nữ, những người tu hành đắc đạo ở các cõi kia.

Lại thấy các Đại Bồ-tát, dùng thảy thảy nhân duyên, thảy thảy tín giải, thảy thảy tướng mạo, hành bồ-tát đạo. Lại thấy các Đức Phật nhập Niết-bàn, các đệ tử lấy xá-lợi Phật dựng tháp bảy báu”.

Trong tấm gương tròn sáng ấy có đủ chúng sanh sáu cõi, bốn chúng, cho đến các Đại Bồ-tát, chư Phật. Thấy các Đại Bồ-tát đang hành Bồ-tát đạo, nghe chư Phật đang thuyết pháp, đây là cái thấy hiện tại. Thấy các Đức Phật đã nhập Niết-bàn, các đệ tử xây tháp bảy báu để cất giữ xá-lợi, đây là cái thấy về quá khứ. Trong tấm gương ấy chỉ có một vị hiện tại trùm khắp, tất cả quá khứ hiện tại tương lai đều ở trong đó.

Thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia, chư Phật thuyết pháp, các Đại Bồ-tát hành Bồ-tát hạnh…, cái thấy như tấm gương tròn sáng này bao gồm trong nó tất cả không gian. Thấy các Đức Phật đã nhập diệt, cái thấy ấy bao gồm trong nó tất cả thời gian. Tóm lại tất cả không gian thời gian, tất cả vũ trụ đều in hình trong tấm gương tròn sáng cũng là “thật tướng của tất cả các pháp”. Cái thấy như tấm gương tròn sáng ấy là của chung, từ chúng sanh cho đến chư Phật, có điều chúng sanh thì vì phiền não chướng và sở tri chướng do mình tự tạo nên bị che lấp hoặc chỉ thấy được ít phần.

Cái thấy ấy, mà Duy thức tông gọi là Đại viên cảnh trí, kinh Lăng-già gọi là Viên thành thật tánh, Kinh Lăng Nghiêm gọi là tánh thấy, thông tất cả không gian và thời gian làm một. Đây là cái thấy vẫn tiềm ẩn nơi mỗi chúng sanh, cho nên kinh Pháp Hoa khai thị cho chúng ta ngộ nhập cái thấy “thật tướng của tất cả các pháp” này.

Cái thấy ấy là vô ngại: “…ở thế giới này đều thấy sáu loài chúng sanh ở các cõi kia”; không có trung tâm vì “…tất cả đều thấy…”; không phân biệt các tướng khác nhau vì “ánh sáng lớn” thì chiếu sáng đồng đều khắp cả, “…từ địa ngục A-tỳ đến trời Sắc Cứu Cánh”; không có điểm quy chiếu, nên đó là cái thấy khách quan, không trụ chấp, thiên lệch. Tóm lại, đó là cái thấy thật tướng của tất cả các pháp. Các pháp xuất hiện từ thật tướng đó và tiêu tan trong thật tướng đó.

Sự tin hiểu Pháp Hoa là tin và hiểu rằng chúng sanh chúng ta luôn luôn ở trong cái thấy thấu suốt trùm khắp vô ngại ấy, luôn luôn ở trong ánh sáng của “thật tướng của tất cả các pháp”, tức là tấm gương tròn sáng này. Trong tấm gương tròn sáng này, chúng ta học tập thấy theo Bồ-tát Di-lặc, thấy tất cả các bóng đều là tấm gương, nói cách khác, thấy tất cả tướng là tánh,

Thấy sáu nẻo sanh tử luân hồi đồng một màu sắc vàng, đồng một vị Phật tánh:

Ánh sáng chặng mày,Soi suốt phương Đông,Vạn tám ngàn cõi,Đều như sắc vàng.,Từ ngục A-tỳ,Đến trời Hữu đảnh,Trong thế giới ấy ,Sáu loài chúng sanh ,Các nẻo sanh tử, Nghiệp duyên thiện ác,Thọ báo tốt xấu,Ở đây đều thấy...

Thấy chư Phật và hoạt động độ sanh của các Ngài:

Lại thấy chư Phật
Thánh chúa Sư tử
Diễn nói kinh điển
Vi diệu đệ nhất…

Thấy các Bồ-tát đang hành Bồ-tát hạnh:

Thưa ngài Văn-thù
Tôi ở tại đây
Thấy nghe như vậy
Ngàn ức sự việc
Như thế rất nhiều
Nay lược nói ra:
Tôi thấy cõi kia

Hằng sa Bồ-tát

Thảy thảy nhân duyên
Mà cầu Phật đạo.
Hoặc hành bố thí
Vàng bạc san hô
Vui vẻ bố thí
Hồi hướng Phật đạo…
Tôi thấy các vua
Qua đến chỗ Phật
Hỏi đạo vô thượng
Bèn bỏ nước vui
Cung điện thần thiếp
Cạo sạch râu tóc
Mả mặc y pháp.
Hoặc thấy Bồ-tát
Hiện làm Tỳ-kheo
Một mình yên tịnh
Vui tụng kinh điển
Lại thấy Bồ-tát
Dũng mãnh tinh tấn
Vào nơi núi sâu
Tư duy Phật đạo…
Lại thấy Bồ-tát
Ở rừng phóng quang
Cứu khổ địa ngục
Khiến vào Phật đạo.
Lại thấy Phật tử
Chưa từng ngủ nghỉ
Kinh hành trong rừng
Siêng cầu Phật đạo…
Lại có Bồ-tát
Giảng pháp tịch diệt
Thảy thảy lời dạy
Vô số chúng sanh.
Hoặc thấy Bồ-tát
Quán tánh các pháp
Không có hai tướng
Giống như hư không…

Đây là cái thấy tất cả phàm thánh đang làm Phật sự , đang hành hạnh Bồ-tát để siêng cầu Phật đạo, và tất cả những hoạt động ấy đều nằm trong chính Phật đạo, trong chính Phật tánh. Cái thấy này thấy tất cả đều thanh tịnh vì tất cả đều đang hoạt động trong Phật pháp hay trong Pháp thân Phật.

Cái thấy này là sự hợp nhất của trí huệ và từ bi, nghĩa là mở rộng khắp vũ trụ đồng thời thông tất cả làm một.

“Ở đây” và “tại đây”, cái thấy phổ quát ấy (Bồ-tát Phổ Nhãn, kinh Viên Giác) hiện có ở đây và lúc này. Tin Pháp Hoa là tin hiện giờ và tại đây chúng ta đang ở trong cái thấy ấy. Và học Pháp Hoa là học cái thấy này.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Oct 10 2016, 03:59 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

8 Pages: V « < 5 6 7 8 >
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 18th October 2019 - 01:50 PM