IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

6 Pages: V « < 4 5 6  
Reply to this topicStart new topic
> Vệt nắng cuối chiều
hoaha
post Nov 9 2017, 02:28 AM
Gửi vào: #101


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Đá Nát Vàng Phai

Thưa quý vị, quý bạn,
Cuối tuần, xin gửi lại một bài đã cũ cho những bạn mới và những bạn thân quen (xin đừng vội xóa), kể về cơn bĩ cực, sau biến cố 30 tháng 4, 1975, của một chiến binh Miền Nam tên Nguyễn. Trong bài, mỗi đồng đội bại trận của tác giả sẽ thấy ít nhiều hình ảnh của chính mình cách đây 42 năm, tại những trại tù cải tạo khủng khiếp, mà họ bị VC lừa đi vào. Ở đó, một số đông đã mất tuổi trẻ, hy vọng và tương lai, kể cả mạng sống. Ở đó, một số nhỏ hơn đã mất vợ hay người yêu. Ở đó, tất cả đã mất quê hương. Chỉ còn quyết tâm làm lại cuộc đời, mong hồi thái lai, một mai, ở những phương trời khác, tốt đẹp hơn. Nhờ mối hận thù đằng đằng...
Bài viết đã cũ, nhưng vết thương vẫn còn mới, và hận thù đối với VC còn nguyên, không bao giờ nguôi, dù phải mang theo qua bên kia đời. Chỉ những kẻ mất trí nhớ mới kêu gọi hòa hợp, hòa giải với VC. Chỉ những kẻ ngu muội mới cho chiến tranh Việt Nam là huynh đệ tương tàn, vì VC không có gia đình, cha mẹ, anh em. Chiến tranh Việt Nam là do Hồ Chí Minh gây ra, theo chỉ thị của Liên Xô và Tàu Cộng, để du nhập vào VN chủ thuyết (Không dùng từ này) ngoại lai, phi nhân, quái đản, độc hại -vẫn còn gieo tai họa cho đến hôm nay trên quê hương nghèo nàn, khốn khổ.
Tác giả không đề cao, cổ võ thù hận, nhưng cũng không dễ chìa má kia cho kẻ thù, như lời Chúa dạy. Và trong trường hợp VC mà Chúa biết còn tàn ác hơn cả Satan, Chúa cũng sẽ hiểu và thông cảm cho tác giả. KT

Thẹn mình đá nát vàng phai
(Kiều)

1. Đầu năm 1976, từ trại Long Giao, Nguyễn bị đưa ra Bắc, cùng với các thành phần “ác ôn, có nợ máu” gồm An Ninh, Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị (CTCT), Cảnh Sát, Tuyên Úy, có cả Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận –toàn là hàng độc, dữ dằn dưới mắt ######. Gần ba ngàn người bị xếp như cá hộp dưới hai khoang hầm tàu chở than, nguyên là của Việt Nam Thương Tín được cải danh Sông Hương. Ai ở đâu là chết dí chỗ đấy, tiểu tiện phải bước qua những thân người nằm rũ liệt, nghe chửi thề inh ỏi khi lỡ đạp lên bụng một ông khó tính, mới đến được cái thùng gỗ nhỏ đặt ở cầu thang. Nước uống và lương khô được thòng dây xuống, y như cảnh trong một phim buôn bán nô lệ đã xem đâu rồi. Hai ngày sau cập bến Hải Phòng, ở đó một đêm. Sáng sớm hôm sau, xe lửa và molotova bít bùng dàn chào sẵn để rước về các vùng biên giới, như Yên Bái, Lao Kay, Quảng Ninh... Bạn bè lạc nhau từ đây. Nguyễn đi Hoàng Liên Sơn. Cửa toa đóng kín, khiến hai ông trung tá chết ngộp, xác vứt xuống bên đường. Ngồi xe hơi thì bị trẻ con ném đá, và bị những bà già Bắc kỳ răng đen mã tấu tốc váy, xỉa xói, chửi rủa tục tằn, với sự làm ngơ đồng lõa của lũ cán bộ: “Giết hết bọn ngụy chúng mày! Chúng mày hiếp dâm, cắt cổ người, cướp của, ăn thịt trẻ con. Đồ ngụy chuyên ăn cứt Mỹ…”
Hoàng Liên Sơn với rặng Fansipan trùng điệp. Những ngày vào rừng hoặc lên núi đốn tre, chặt gỗ, giơ tay vóc từng nắm sương la đà dày đục, nếm thử thấy tê buốt –như môi hôn phút chia lìa vội vã. Những đêm lạnh cóng phải đứng ngủ cho bớt run rẩy trong chiếc chăn đơn cũ mục. Trên đường lao động, Nguyễn gặp lại bằng hữu thất tán từ các chiến trường xưa, không hẹn mà được “gom bi” đầy đủ. Nhìn nhau cười như mếu, thấm thía lời huênh hoang của một tên cán bộ: “Các anh có mà chạy đằng giời!” Thỉnh thoảng lên núi, Nguyễn và đồng tổ đội gặp một nhóm Biệt Kích, bị bắt từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, đang lao động tự giác, không có vệ binh canh giữ. Họ nhìn đám tân tù binh, vẻ thương hại, lắc đầu thông cảm, nhưng cũng có anh không dằn được bực tức, lớn giọng: “ĐM, các anh làm ăn, đánh đấm thế nào mà bây giờ kéo nhau ra đây cả lũ?” Cả lũ xấu hổ, im lặng, không biết trả lời sao, chỉ nghe lòng xót xa bởi câu trách móc không sai chút nào. Nói thế, nhưng khi thấy bọn Nguyễn lóng cóng không buộc chặt nổi bó nứa, họ ùa đến ân cần phụ giúp, hướng dẫn tận tình, hoặc chia cho sắn luộc và bánh in khô Trung Cộng.
Sức khỏe suy sụp dần. Sau một lần khiêng gỗ té xỉu giữa đường, Nguyễn được chuyển vào đội Rau Xanh, gồm toàn bô lão –còn gọi là đội “sứt cán gãy gọng.” Vì còn trẻ và tạm lành lặn, chàng bị nhường ngay chức trưởng tổ phân, ngày ngày phải hốt đủ mười chuyến phân bắc, tức phân người, “có chất lượng” giao cho tổ khác đem ủ thẳng dưới các luống khoai, hoặc chế biến thành nước tưới rau. Lúc đầu thấy hãi hùng, muốn nôn oẹ, rồi ráng nhập thiền mất đi cảm giác, ý niệm, nhìn nhưng chẳng biết đó là gì nữa. Hết phân bắc đến phân chuồng (trâu bò), cũng tởm không kém, rồi phân xanh (lá ngâm mục).

Mới đầu, đa số còn phát biểu linh tinh lắm. Hệ thống ăng ten chưa được thiết lập qui mô. Trong đội Rau Xanh có ông Đại úy Cảnh sát già gân Hoàng Bá Linh. Ông Linh là người Quảng Bình, hay Quảng Trị, trực tánh, ưa kể chuyện tiếu lâm và chuyện chế độ cũ, nói năng rất “phản động”, thuộc loại điếc không sợ súng. Trong một buổi học tập của đội, ông đã phát biểu, lên án “bọn CTCT ngụy” như sau: “Bọn ngụy tuyên truyền rất bố láo bố lếu về Bác Hồ vĩ đại, vô vàn kính yêu của ta, ví dụ họ nói nguyên văn như ri, tổ cha thằng già Hồ Chí Minh là tên giết người bán nước, làm tay sai cho thằng Xịt Ta Lin và thằng Mao Xếnh Xáng... Họ xuyên tạc bộ đội anh hùng của ta nguyên văn như ri, là chúng nó ốm đói quá, bảy thằng ###### đu một cọng đu đủ mà không gãy... Thật là mất dạy hết sức!” v.v... Và cứ thế ông nói dai, nói dài, nói lớn “nguyên văn như ri, như ri”, với giọng nặng trịch, nhừa nhựa thuốc lào. Tất cả sĩ quan cải tạo xanh mặt, cản không được, ngồi im, lo lắng cho ông. Phải hơn hai phút sau thằng cán bộ quản giáo mới hiểu ra, lên tiếng cắt ngang, hầm hầm quát bảo ông im ngay. Nó ức lắm, nhưng lúc ấy vì quá bất ngờ chưa biết kết ông vào tội gì. Hôm sau, ông bị dẫn đi “làm việc” khá lâu, rồi bị biệt giam một tháng. Ra khỏi phòng biệt giam, ông tiếp tục mở máy, như cũ, cười hề hề: “Tui đâu ngán thằng mô”.

Sau tám tháng, cả trại bị “biên chế” đi Sơn La, ở chung với tù hình sự, loại “đầu gấu” chuyên giết người, hiếp dâm, trộm cướp. Một vùng đèo heo hút gió, nước độc rừng thiêng, gần Điện Biên Phủ, qua hết dãy núi cao là sang đất Lào. Quanh năm chỉ thấy mây trời lơ lửng và đám người Mán, người Mèo tiếng nói líu lo, mỗi lần xuống núi mặc áo quần sặc sỡ, đàn ông thổi kèn mở đường, đàn bà gồng gánh theo sau. Cùng trại có các linh mục, cảnh sát, sĩ quan đủ binh chủng, vài nhà văn quân đội như, Nguyễn còn nhớ, Thảo Trường, Văn Quang và Phan Lạc Phúc. Có nhị vị cựu và đương kim Đại tá Linh mục Tuyên úy Lê Trung Thịnh và Đinh Cao Thuấn. Nguyễn nằm kế bên Trung tá Đặng Bình Minh, phi đoàn trưởng phi đoàn trực thăng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, mùa đông được anh cho một áo jacket nhà binh rằn ri cũ. Cách Nguyễn hai người là Trung tá Vũ Hoài Đức, chỉ huy phó trường ĐH/CTCT, người hiền lành, đạo đức y như Đại tá Chỉ huy trưởng Nguyễn Quốc Quỳnh. Ở một đội khác có một cựu tùy viên của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, hình như là Lê Tử Hùng (?). Ai nấy thiếu ăn, xác xơ, bắt đầu thấm đòn độc của ######: chủ trương cải tạo bao tử, nghĩa là bắt đói triền miên, để chế ngự ý chí, và cả tư cách nữa! Lao động vinh quang là trồng lúa, sắn, ngô, khoai trên những thửa đất hoang, khô cằn sỏi đá.

2. Hơn hai năm sau, Trung Cộng uy hiếp biên giới, ###### lo sợ, vội vàng chuyển tất cả về Vĩnh Phú mà chúng gọi là miền trung du, đất tổ Hùng Vương. Hùng Vương ở đâu chả biết, chỉ thấy toàn núi rừng thâm u và bộ mặt kinh niên hắc ám của các cai tù, và những tên Ăng Ten, Trật Tự, Thi Đua ngu ngốc làm khổ đồng đội còn hơn chính kẻ thù. Trại rộng thênh thang chia làm bảy khu, gọi là K, cách nhau trung bình năm, sáu cây số, nằm tít phía sau thung lũng sông Hồng. Từ Sài Gòn ra Vĩnh Phú thăm chồng, các bà “vợ ngụy” xem như chặng đường thánh giá mới, phải vượt rừng băng sông, đi đủ các loại xe, kể cả xe trâu và xe đạp ôm. K7 gần nhất, giam riêng các biệt kích. Ở giữa, một K dành cho các thiếu niên phạm pháp, đa số về tội ăn cắp –có đứa chỉ mới tám tuổi. Nguyễn ở K1, xa nhất, tuốt sâu trong núi.

Tại Vĩnh Phú, có anh bạn cùng trường Đại Học CTCT Đà Lạt, Nguyễn Ngọc Nhung, Đại úy phòng Khảo Hạch, kiếm đâu ra được chức thủ kho dụng cụ lao động, cũng nhàn. Một hôm, Nhung kể, một tên công an vẻ phách lối đến mượn cái xẻng. Theo thủ tục phải ghi tên vào sổ. Thủ kho, người Bắc, lịch sự hỏi:
- Xin cán bộ cho biết quý danh.
Thằng nọ không hiểu “quý danh”, há mồm, ngơ ngác, suy nghĩ một hồi, rồi đột nhiên sừng sộ:
- Anh vi phạm lội qui. Ai cho anh lói tiếng lước ngoài hử?
Nhung sửng sốt, á khẩu. May phước, nhờ các bạn tù xúm vào thông dịch giùm, anh mới thoát nạn, sau khi bị xỉ vả tận tình:
- Giờ lày mà còn ôm chân đế quốc, lói tiếng nóng...

Nhung không phải là trường hợp duy nhất. Bọn cai tù ###### là chúa nghi ngờ, nhạy cảm và mặc cảm. Một câu nói vô tình, vô tội, đùa vui cũng bị “nâng cao quan điểm” và những phát biểu viên linh tinh đều bị gọi đi “làm việc” tận tình. Một thiếu úy trẻ, một bữa trưa Chúa Nhật nghỉ lao động, vừa phơi chiếu bắt rệp vừa cao hứng hát bài “Giết người trong mộng” và gào lên thống thiết, giết người đi, giết người đi, bị ăng ten báo cáo và tên quản giáo xuống điều tra, qui tội phản động, âm mưu sát hại Cách mạng, và xách đi biệt giam một tuần lễ. Hay một anh khác, không hiểu sao, một hôm lớn tiếng chửi đổng: “ĐM thằng Mỹ-Thiệu”, cũng bị buộc là “tư tưởng còn lấn cấn, anh tức giận bọn Mỹ-Thiệu là vì chúng nó bỏ rơi anh, chứ gì, đúng không?” Hay các linh mục tuyên úy trồng cây cột, đóng với một thanh gỗ ngang, để căng dây phơi quần áo, cũng bị kết tội cố tình dựng cây thánh giá, và bắt tháo xuống và viết tờ kiểm điểm.

Ở trại mới, Nguyễn “được” chỉ định về đội Nông Nghiệp. Phải lội vào một thửa ruộng bỏ hoang từ bao đời để luân phiên kéo cày thay cho trâu bò. Nước bùn đen đặc quánh, đỉa bơi lổn ngổn, thò chân xuống thấy ghê rợn –làm chàng nhớ những đầm lầy cũng kinh khiếp dưới địa ngục mà thi hào Ý Dante Alighieri phải vượt qua với Virgile, trong Inferno. Ba hôm sau, một số đội viên –có Ðại úy Cảnh sát Phạm Bá Ðiềm, bạn thân từ Sơn La– lên cơn sốt cấp tính, chỉ hai ngày là hôn mê, rồi chết. Người sống sót rụng dần lông chân, không bao giờ mọc lại được nữa. Phải mất thêm vài mạng, đội mới có lệnh “giải thể.”

Thửa ruộng lại bị bỏ hoang, Nguyễn trở về đội Rau Xanh, như hồi ở Hoàng Liên Sơn, lại vào tổ phân, lần này giao cho thợ bón kiêm tưới viên là phi công Air Vietnam Trí (Nguyễn Hữu?), trung tá biệt phái. Nói chuyện mới biết Trí bay đường Hồng Kông và Tokyo, có chuyến với Bội Trân, em gái Nguyễn, mà anh tả đúng hình dáng, nên chàng tin lắm. Chim bằng gãy cánh, Trí tiếc nhớ trời xanh, giờ giải lao ngước nhìn lên cao, uất ức, thở dài.
Tết đầu tiên tại Vĩnh Phú, trại được nghỉ lao động ba ngày, và tự do đi lại các khu vực. Nguyễn tìm đến dãy nhà giam riêng “bò lục” (tiếng lóng chỉ đại tá) để thăm Ðại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, vị chỉ huy trưởng kính thương của trường Ðại Học CTCT Ðà Lạt –nơi mà chàng được phục vụ gần ba năm trong chức vụ Trưởng khoa Nhân Văn Xã Hội và Sĩ quan Phụ khảo cho đến ngày tan hàng. Nguyễn thấy ông cũng vừa bước ra sân, nơi đang diễn nhiều trò vui do tù sáng chế để giết thời gian và nỗi nhớ nhà. Ông nhận ra chàng ngay. Chung quanh rất đông người, và dĩ nhiên ăng-ten được rải đầy. Gặp ông, chàng mừng quá, nói lớn:
- Chào bác, bác vẫn khỏe chứ ạ?
Ông nắm tay chàng một lúc lâu, và chậm rãi nói, giọng xúc động:
- Cám ơn anh, tôi vẫn khỏe. Còn anh thế nào, có bệnh hoạn gì không? Tôi biết anh ở đây lâu rồi, mà không gặp được.
Nguyễn cố nuốt những giọt lệ làm nghẹn cổ họng, xót thương cho phận vàng phai và đá nát. Cho đất nước bất hạnh. Cho cả chính mình. Hồn bỗng rưng rưng, thầm gọi tên một thời yêu thương và thù hận tưởng đã chết theo cùng với mùa xuân tang tóc và những giấc mơ phai. Một thời vì ông chợt hiện về nguyên vẹn. Như mới hôm qua...
Sài Gòn, đầu tháng 5, 1975. Hai ngày sau khi đứng nhìn từ một góc đường Lê Văn Duyệt, uất hận và nước mắt lưng tròng, những chiếc xe tăng chở đầy Cộng quân vào thủ đô, nghe tên nằm vùng Trịnh Công Sơn hớn hở ca mừng chiến thắng, kêu gọi nối vòng tay lớn tay nhỏ, và chạy tới chạy lui dò la tin tức người thân, bạn bè ai còn ai thoát, tôi tìm được địa chỉ của ông và đạp xe đến thăm cùng với hai cựu SVSQ khóa 4, Nguyễn Gia Hưng và Nguyễn Dự, bất ngờ gặp lại trên đường. Phu nhân và cô con gái, vì quen mặt hồi ở Ðà Lạt, tiếp tôi không e dè. Ðại tá Quỳnh ra phòng khách, áo sơ mi bỏ trong quần tây, chân đi săng đan. Trông ông mệt mỏi, có vẻ chán nản, dù bề ngoài vẫn giữ phong cách nho nhã, lịch sự cố hữu. Chúng tôi không nói gì nhiều. Có lẽ trước thảm họa chung ai cũng có nỗi ưu tư riêng, cùng nặng nề như nhau. Suốt ba hôm liền, tôi bị hối hận dày vò, tự trách đã vụng suy, khí khái hão, không nghe lời cô em tiếp viên đưa gia đình lên chuyến Air Vietnam cuối cùng, và sau đó, chuyến Galaxy của một viên phi công Mỹ bất ngờ gặp em tại phi trường, và có cảm tình với em. Khiến tất cả đành phải ở lại, dắt díu nhau trở về Nha Trang để thấy cửa nhà, tài sản rơi vào tay bọn cách mạng 30 –hạng khố rách áo ôm trước kia đã chịu ơn ba mẹ tôi, nay trở mặt, gán lên đầu ông bà đủ thứ tội. Còn Ðại tá Quỳnh, tôi không biết ông đang tiếc gì, nghĩ gì, vì suốt buổi chỉ nghe ông lặp đi lặp lại:
- Không thể ngờ nhanh như thế!

Ðâu phải mình ông. Không ai ngờ, kể cả Dương Văn Minh, viên tướng thiếu tài, khờ dại, được sinh ra chỉ để phản bội và bọn “hàng thần lơ láo” tại dinh Ðộc Lập trưa ngày 30/4. Kể cả lũ vượn người khoác lác ở Bắc bộ phủ. Kể cả tên đồng minh Kissinger xảo quyệt, tác giả của cái gọi là hiệp định Paris quái gở bán đứng miền Nam, người được báo chí Mỹ bơm lên như nhà ngoại giao vĩ đại, nhưng thực chất chỉ là một anh trí thức cơ hội chủ nghĩa và đầy ảo tưởng, chưa tiêu hóa kịp những bài học bang giao quốc tế ở trường Harvard. Kể cả anh tướng hai sao và ba hoa nọ đã thề thốt ở lại để ăn mắm tôm cà pháo với đồng bào (di cư Tân Sa Châu), vậy mà vào phút chót nhờ có trực thăng riêng mới vọt ra được hạm đội Mỹ. Không thể ngờ nhanh như thế! Tôi chỉ biết gật đầu, đồng ý với ông. Cuối cùng, tôi cất tiếng hỏi:
- Ðại tá có ý định sẽ làm gì ?

Ông lưỡng lự vài giây, rồi trả lời:
- Tôi chưa biết sẽ phải làm gì. Nhưng ở hoàn cảnh nào tôi cũng chấp nhận những gì tệ hại nhất sẽ xảy đến cho tôi.
Như là mặt trái của bổn phận và vinh quang, tôi hiểu như thế qua những lời chậm rãi, đắn đo của ông. Những lời tôi nghe quen từ đâu rồi bỗng mang một ý nghĩa cao đẹp, phi thường trong bối cảnh bấy giờ. Những lời đã theo tôi suốt tám năm đày ải, và cùng với hình ảnh của Guillaumet, viên phi công lâm nạn lầm lũi bước lê trên cát sa mạc, không chịu ngồi chờ chết, trong Terre des hommes của Saint-Exupéry học lúc trẻ, đã khích lệ, vực tôi đứng dậy để tiếp tục sống còn. Tôi cảm động, và khi từ biệt, siết chặt tay ông, khẽ nói:
- Có một điều Ðại tá nên chắc chắn là dù ngày mai ra sao tôi sẽ không bao giờ quên Ðại tá và những gì Ðại tá đã làm cho tất cả chúng tôi.
Và cho riêng tôi. Ông là một chỉ huy trưởng nhân hậu, có đức có tài, hơn ai hết, đã làm tôi thấy yêu thích và kiêu hãnh với đời quân ngũ không chọn lựa. Một chỉ huy trưởng quả cảm và xứng đáng, có tinh thần trách nhiệm cao độ –quyết ở lại với thuộc cấp cho đến phút cuối, mặc dù nghe nói ông có một người con rể là đại tá không quân Mỹ và đủ phương tiện để tẩu thoát một mình như đám tướng tá tham sinh úy tử kia đã tranh nhau đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Quả vậy, chín giờ sáng 30/4, tại Tiểu đoàn 50 CTCT, đường Phan Ðình Phùng, bấy giờ là bộ chỉ huy tiền phương của trường Ðại Học CTCT, ông vẫn chỉ thị các sĩ quan hiện diện và sinh viên sĩ quan các khóa tiếp tục chiến đấu và phòng thủ, để rồi, cuối cùng, phải buông súng, bất lực trước mệnh nước. Tôi không bao giờ quên được khẩu lệnh cuối cùng, ngắn ngủi, thật buồn bã của ông cho ban tham mưu, sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng:
- Phát hết lương khô và cho anh em tan hàng!

Hơn hai năm phục vụ trường Ðại học CTCT, không biết bởi chủ quan chăng mà tôi có cảm tưởng được ông biệt đãi. Cả Alain Bichet, giáo sư Lycée Yersin, mà tôi giới thiệu như một người bạn quý, cũng được ông dành cho cảm tình nồng hậu, và ngược lại. Ngoài ra, ông chẳng những chấp thuận mà còn khuyến khích tôi dạy vài lớp Pháp văn tại Viện Ðại học Ðà Lạt do lời mời của Phó Khoa trưởng Văn Khoa, Tiến sĩ Sử Nguyễn Hồng Giáp –một bạn học cũ– mới từ Paris về, và sau này, qua trung gian tôi, nhận dạy một lớp cho trường CTCT. Rồi đến mùa văn hóa tôi được ông mời dự tiệc với các giáo sư tại tư gia và thỉnh thoảng nhờ đưa đón họ bằng chíếc Peugeot 203 bụi đời của tôi. Khi giáo sư Xã hội học Phạm Thị Tự nghỉ dạy, ông bổ nhiệm tôi thay bà, bắt đầu năm cuối của khóa 4. Những sự việc trên, tôi xem như vinh dự, nếu không nói đặc ân, nhận được từ Ðại tá Quỳnh, dù tôi biết ông đối xử công bằng, tử tế, dễ thương với tất cả mọi người, không riêng ai... Và một chuyện, rất cá nhân, tôi còn nhớ mãi.
Hè 1974, trường mở cuộc thi tuyển khóa 6. Tôi được cử làm trưởng trung tâm Nha Trang. Các bài thi được mang từ các trung tâm về trường để các sĩ quan Văn Hóa Vụ chấm. Mẹ tôi gửi gấm con bà xui gia, tức em chồng của một cô em tôi, Thể Trân, kèm theo nửa mảnh giấy nháp do anh ta viết để tôi thuộc lòng nét chữ. Tôi “dạ” cho qua chuyện, vì biết trước sẽ chẳng làm gì cả. Xưa nay tôi vốn ghét việc ăn gian với chữ nghĩa, nhất là “quay phim” trong trường thi, hoặc cuỗm bài người khác, xào nấu lại thành của mình, để in báo hay đọc trên đài phát thanh, như một số “văn sĩ” hải ngoại đang làm. Kết quả, con bà xui gia rớt, tôi đoán thế, vì không thấy tên trên bảng. Mẹ và em gái tôi lúc đó có mặt tại Ðà Lạt, ở nhà tôi, chắc cũng biết, nhưng không nói năng gì. Hôm sau, Ðại tá Quỳnh cho gọi tôi lên. Ông đưa tôi xem ba bài Pháp văn rọc phách, không đề tên, đều bị hai con số không to tướng. Và nhỏ nhẹ bảo:
- Mẹ và em của Ðại úy sáng nay có đến gặp tôi, xin vớt một người bà con được đỗ kỳ này. Tôi xem lại điểm thì thấy anh ấy và hai người nữa bị loại vì bài Pháp văn. Ðại úy chấm rất đúng, vì họ trả lời kém thật. Tuy nhiên, Ðại úy xem có thể nâng điểm lên cho thân nhân của Ðại úy, và vì anh này, cho hai người kia nữa được đỗ không?

Sự việc quá bất ngờ, tôi chưa biết trả lời sao, thì ông vội tiếp, vẫn nhỏ nhẹ:
- Nhưng điều ấy cũng tùy Ðại úy thôi. Tôi không có quyền gì.
Suy nghĩ giây lâu, tôi mới lên tiếng hỏi:
- Ðại tá thấy họ cần bao nhiêu điểm nữa?
Ông nói từ 3 đến 4. Tôi bèn sửa, và ký tên trước mặt ông. Sự tế nhị và lòng độ lượng của Ðại tá Quỳnh làm mẹ và em tôi cảm phục, hân hoan. Riêng tôi thầm cám ơn ông đã khéo léo giải quyết mọi chuyện êm đẹp, nếu không chắc phen này tôi “khó sống” với mẹ, bà xui gia, em gái. Tại bến xe đi Nha Trang, khi hôn từ giã tôi, Thể Trân nói nhỏ vào tai:
- May phước còn có ông Ðại tá chỉ huy trưởng của anh... Anh lý tưởng vừa chứ. Mẹ giận anh lắm đó, nói sẽ cúp viện trợ cho anh... Anh liệu lời xin lỗi mẹ đi!

... Thế rồi, mỗi người chia một nẻo. Ông cũng đi trình diện “cải tạo” ở một nơi nào đó. Tôi bị tống vào Long Giao để gặp lại gần toàn bộ sĩ quan Ðại Học CTCT, trong số có người bạn thân, Đại úy Đỗ Huy Hoàng, chủ bút tờ Ức Trai của trường. Những chiều lao động về rảnh rỗi, tôi mò sang đội của Hoàng, hoặc Hoàng sang tôi, để tâm sự vụn cho bớt nhớ nhà. Nhất là bớt tức. Có cái gì uẩn ức, hằn học nằm trong tiềm thức của mỗi tên tù. Đau xót và căm giận còn hơn bị tình phụ. Nhưng không biết tức ai. Lãnh đạo hèn nhát đã cao bay xa chạy. Thù hận (Không dùng từ này) thì chẳng ai dám hé môi nói với ai. Cuối cùng, chỉ có Thượng Đế nghe đủ những lời ta thán, chửi thề vu vơ. Trong câu chuyện, chúng tôi điểm mặt từng người quen, và khi biết toàn trường vào tù, cả hai cùng thở dài, ngán ngẩm. Tôi còn gượng chọc Hoàng:
- Ức Trai hay Ức Gái gì rồi cũng chui vô rọ hết!

Tại Long Giao, tôi ở cùng đội, cùng tổ với Đặng Phùng Hậu, bác sĩ trưởng bệnh xá trường Đại Học CTCT, và một nhóm quân y. Cả tổ, vì tự ái, tự trọng, không ai than vãn về chuyện ăn uống, đói khát trong tù, kể cả sau này khi viết hồi ký. Hậu vui tính, kể đủ chuyện, nhờ vậy những ngày ảm đạm, bực bội qua khá nhanh. Mỗi tối, Hậu thì thầm nói chuyện với tôi về thời cuộc, và lần nào anh cũng lẩm bẩm kết thúc bằng câu:
- Địt cụ, đau như hoạn, tức như bò đá!

Bên dãy cấp tá có Lê Ân, thiếu tá Văn Hóa Vụ trưởng của trường. Những lần thấy nhau qua hàng rào kẽm gai, ông lộ vẻ mừng rỡ, rồi lắc đầu nói, giọng Quảng lai Huế rất “trademark” của ông:
- Cháng gướm (chán gớm)!

Trong câu chuyện, anh em thường hỏi nhau về Ðại tá Chỉ huy trưởng. Không ai biết chính xác ông ở đâu. Có tin ông đã chết. Hoặc đang ở ngoại quốc. Hoặc trốn trong một khu rừng. Nhiều đêm trằn trọc, tôi khổ tâm vì dĩ vãng, cứ ám ảnh mãi, như cuốn phim quay lại, tự động, chậm chạp, lê thê. Nhớ không sót từng khuôn mặt, từng buổi giảng dạy, từng dịp lễ. Nhớ từng đêm Giáng sinh giá buốt và tiếng chuông nhà thờ ngân nga, từng buổi dạ vũ tưng bừng, mệt nhoài, từng con phố chìm trong sương mờ che khuất đường về...

Bây giờ Đại tá Quỳnh đứng đó, bên Nguyễn, giữa một ngày xuân héo hon. Người gầy nhom, gương mặt hốc hác, má trũng sâu. Nhìn lại hình hài mình, chàng thấy đâu hơn gì. Chỉ một thoáng mơ, bỗng hiện về trong đáy hồn rời rã cả khung trời yêu thương Ðà Lạt và kỷ niệm rực rỡ của tháng ngày cũ có hạnh phúc còn thơm hương mimosa, có tình yêu chưa biết nói lời phản trắc, có một Ðại tá Quỳnh uy nghi trong quân phục đại lễ gắn cấp hiệu cho sinh viên các khóa, nay còn đâu! Mới có bốn năm vật đổi sao dời mà cả hai đã trở thành thảm hại đến thế ư? Ông mặc bộ treillis bạc màu, chân đi dép râu, sau lưng viết chữ Quỳnh thật to bằng mực tím. Thấy không ai để ý, Nguyễn bèn hỏi rất khẽ:
- Ðại tá nghĩ sẽ có ngày về không?
Ông lấy tay che một bên tai, có vẻ chú ý lắm mới nghe lọt hết. Và trả lời nhanh, chắc ngại bọn ăng-ten cứ lượn qua lượn lại trước mặt:
- Tôi nghĩ là rất khó lòng, mặc dù vẫn cố hy vọng. Ðiều quan trọng là anh gắng giữ gìn sức khỏe tốt để có sức chịu đựng. Gặp anh em khác cho tôi gửi lời thăm!
Một thằng sà tới. Nguyễn vội nói lớn:
- Bác được thư gia đình thường chứ ạ?
Ðại tá Quỳnh chưa kịp đáp thì hắn đã gay gắt bảo Nguyễn, giọng trọ trẹ:
- Tôi lưu ý anh, không được quan hệ với các anh đại tá.
Chàng phản pháo liền:
- Nhưng anh là ai? Hôm nay ngày Tết được miễn!
Thằng nọ mặt hầm hầm, lớn tiếng:
- Tôi ở trong ban Trật Tự. Ðề nghị (tiếng ###### có nghĩa "yêu cầu") anh chấm dứt quan hệ linh tinh.
Chàng quay sang Ðại tá Quỳnh :
- Thôi xin từ giã bác, chúc bác mạnh khỏe, bình an trong năm mới.
Rồi nhìn thẳng mặt thằng Trật Tự, giận dữ bỏ đi. Nguyễn gặp Ðại tá Quỳnh được một tháng thì hai đội bò lục –đội trưởng là Lê Ðình Luân và Dương Hiếu Nghĩa– chuyển xuống K5, cách đó độ sáu cây số, cùng với các linh mục tuyên úy mà bọn Công an đặc biệt căm thù.

Rồi một hôm, mẹ tôi lặn lội đến thăm, có Bội Trân hộ tống. Lần đầu được phép, sau năm năm chờ đợi. Mất ba ngày đường trên hai chuyến xe lửa từ Nha Trang ra Hà Nội, từ Hà Nội lên Ấm Thượng. Qua sông Hồng bằng phà máy, tới K1 bằng xe trâu. Tại nhà tiếp tân, lúc đó khá đông người, ba mẹ con ôm nhau khóc, rồi nói cười, mừng mừng tủi tủi, trước những cặp mắt cú vọ của lũ vệ binh và quản giáo. Mẹ thút thít, xoa nắn hai cánh tay và ngực tôi, như lúc nhỏ tôi từ Sài Gòn về quê Nha Trang nghỉ hè, chê con gầy quá, tội con quá! Mẹ bạc gần nửa mái đầu, da sạm nắng, tay nổi gân xanh. Suốt năm, Bội Trân nói, mẹ đi thăm nuôi “mệt nghỉ” rồi lo tìm đường cho con vượt biên, làm sao mà không già yếu cho được. Ba ông con trai lớn và một chàng rể tương lai đi cải tạo bốn nơi khác nhau, cô con gái út bị bắt ngay trên ghe nhỏ, giam tại A30. Chưa đứa nào thoát được, mẹ tiếp lời, trừ Thể Trân ra riêng, vì cả nhà bị chúng nó theo dõi sát nút.

Bội Trân đẹp như trước kia, nổi bật giữa phòng tiếp, dù thôi trang điểm. Nhưng tóc cài hờ hững, mắt buồn vời vợi, mất hết vẻ hồn nhiên, tinh nghịch cố hữu, khiến tôi ngậm ngùi tưởng đến những mỹ nhân tự thuở xưa hương sắc không phai giữa gió đời vùi dập, kiêu sa trước nghịch cảnh, như các nhân vật nữ trong những vở kịch Hy Lạp cổ. Em kể, và mẹ lắng nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu, phụ họa:
- Nhà mình bị tịch thu được chúng nó trả một nửa, nửa kia làm trụ sở thanh niên phường. Ba làm rẫy, mẹ lén nấu rượu chuối cho ba uống thay Martel. Em phụ bán nước mía với em Huyền Trân. Chị Thể Trân đến được Mã Lai với chồng con. Chị vẫn nhắc chuyện anh cho cậu em chồng hai quả trứng vịt lộn trong kỳ thi ở trường Chiến Tranh Chính Trị và ông Ðại tá chỉ huy trưởng hiền từ của anh. Chị nói anh ngang tàng, đôi lúc chị tức anh lắm, nhưng vẫn thương anh, hơn bất cứ ai, bởi anh là mẫu người của đàn ông, có chết cũng không than van, cầu khẩn, lúc nào cũng hào hùng, kiêu hãnh, giống như con chó sói bị thương trong bài “La mort du loup” của Vigny mình học năm nào đó... Anh nhớ không, hồi nhỏ, một lần anh đánh lộn với mấy thằng lối xóm chuyên chận đường chọc ghẹo tụi em, bị chảy máu mũi, mắt sưng vù, mà anh vẫn cắn răng chịu đau, không khóc, lại còn bị ba mắng cho nữa...
Tôi lắc đầu, cười buồn. Ôi, xa rồi kỷ niệm, nhắc làm chi hỡi em? Và đổi đề tài:
- Em đã đi thăm Kha chưa? Anh không biết Kha hiện ở trại nào.

Kha là hôn phu của Bội Trân, phi công A37, dưới tôi hai lớp ở Jean-Jacques Rousseau. Sắp cưới thì mất nước. Vì Bội Trân ở lại, Kha cũng không đi.
Nghe tôi hỏi, Bội Trân chớp mắt, buồn rầu nhìn ra sân. Bầu trời thấp, đục, giăng mây xám, như sắp đổ mưa. Gió rừng tuôn qua vách nứa ngập gian nhà trống trải, không cửa, lạnh từng cơn. Em thì thầm:
- Mẹ và em đã ghé thăm Kha ở Hà Nam Ninh trên đường lên anh đây. Cũng tàn úa, như anh, như mọi người, sức khỏe giảm sút nhiều... Em sẽ chờ anh ấy, bao lâu cũng được.
Tôi quay sang mẹ, bùi ngùi nói:
-Tất cả đều do lỗi của con. Phải chi ngày đó con biết nghe lời em đưa gia đình...
Mẹ ngắt lời:
- Cả nước đều lầm, đâu phải riêng con. Chuyện cũ, thôi đừng nghĩ đến nữa.
Bội Trân tiếp:
- Nhưng có thế này em mới được về vườn, ở hẳn với ba mẹ chứ! Em vẫn thương anh và hãnh diện vì anh.
Mẹ và em nói đủ thứ chuyện, nhưng không đề cập đến một tin tôi chờ mà ngại không dám hỏi. Dường như hiểu ý, lúc mẹ quay qua tiếp một bà đồng hành ngồi cùng bàn, Bội Trân nắm bàn tay tôi, siết chặt, và khẽ nói:
- Lệ Ngà đã lấy chồng. Hai năm sau khi anh ra đi. Em đâu ngờ!
Tự dưng tôi buột miệng, không chút mỉa mai:
- Hai năm là còn khá thủy chung đấy chứ em!

Tôi tưởng sẽ phải đứng tim, ngất xỉu. Nhưng lạ quá, chỉ thấy buốt nhói một chút như kim châm. Có lẽ vì đã chuẩn bị đón nhận sự thật quá lâu, từ năm năm rồi. Một thiên thu. Chợt nhớ một anh bạn Thiết giáp vừa vào Long Giao mấy tháng đã nhận được thư vợ xin anh cho phép “bước thêm một bước nữa” và ký vào tờ đơn ly dị và giấy nhường tài sản kèm theo, và cả đời tôi không quên được giọng cười khinh bạc của anh sau khi viết trả lời: “Nhất trí. Cho cô hết. Nhưng khuyên cô không nên bước, mà nên chạy cho nó nhanh.” Tôi không được như anh ta. Bởi vô vàn kỷ niệm ngát hương ngày mới yêu ùa về, thay nhau vỡ như bong bóng. Lệ Ngà. Bạn học thân thiết của Bội Trân. Tà áo thiên thanh và dòng tóc buông lơi trong nắng sớm phi trường Liên Khương, những lần em bay lên gặp anh. Lệ Ngà. Những chiều đi dưới mưa lất phất qua những đồi thông, em hát nho nhỏ bài “Le jour où la pluie viendra... Ngày mà mưa đến, sẽ có bao nhiêu là giọt kim cương cho tình ta...” Những ly rượu Bordeaux sóng sánh ngọt lịm môi em trong quán L’eau Vive và bản sonate 23 của Beethoven, “Appassionata”, trên phím dương cầm thánh thót như từng giọt lệ rơi, thiết tha như lời tuyệt vọng gọi người tình về. Những vòng tay cuống quýt tìm nhau trong hoàng hôn tím trên đồi Cù. Những chân bước tung tăng qua những đồi thông dưới mưa, từng hạt long lanh như kim cương. Những lời thề nguyền yêu đương cho đến lúc đầu bạc răng long. Lệ Ngà. Hạnh phúc dối gian và ảo vọng phù du. Tôi nhắm mắt giây lâu, nghe vị đắng và cơn giận thấm dần xương tủy. Và thở dài nhè nhẹ, nhìn Bội Trân không nói. Ðâu phải tình cờ em nhắc đến con chó sói bị thương, cùng đường, của Vigny.
Em tiếp, giọng trầm buồn:
- Không hiểu sao Ngà biết em sắp đi thăm anh. Ðến gặp em, lần đầu tiên sau mấy năm biệt tích. Em không nỡ đuổi.
Khóc suốt buổi, nhưng không nói một lời gì về anh. Khi chia tay, chị ta nhờ em trao anh những phong chocolat Meunier mà chị ta nói ngày xưa anh rất thích, và cho em một số tiền làm lộ phí, nhưng dĩ nhiên em không nhận gì hết... Em biết tính anh quá mà!
Tôi nói cám ơn em. Rồi cả hai im lặng, đuổi theo ý nghĩ riêng...

Hai giờ trôi qua mau. Tên cán bộ vén tay áo xem đồng hồ, bảo tất cả chuẩn bị ra về, vác quà vào trại. Khi ôm hôn tôi từ biệt, lợi dụng tiếng ồn ào, Bội Trân nói nhỏ, một hơi, thật nhanh, qua màn lệ, bằng tiếng Pháp:
- Ba dặn anh đừng tin bọn (Không dùng từ này), đừng khai thật, khai sao lặp lại y như vậy, đừng tin các phong trào phục quốc, tất cả đều là cạm bẫy của ######. Em nghe đài VOA và BBC nói các nghị sĩ, dân biểu Mỹ, và cả thế giới đang quan tâm đến số phận của các anh. Ðừng tuyệt vọng nghe anh. Nhớ đọc kinh, cầu nguyện nhiều xin Chúa và Ðức Mẹ che chở. Cả nhà chờ anh đó. Em thương anh. Em thương anh.

3. Mẹ và em về hơn hai tháng, Nguyễn được chỉ định vào đội Xây Dựng, có nhiệm vụ cất nhà ở cho tù, heo, và cán bộ, và bắc cầu qua suối cho dân. Lúc đầu chàng phụ tá cho Lưu Ninh, Thiếu tá, trong tổ vữa (trộn hồ), và sau khi Ninh qua “khâu” lợp chàng được thăng chức tổ trưởng, và tổ phó là Ðào Văn Bảnh, Trung tá Bộ Tổng Tham Mưu. Bảnh tính tình điềm đạm, cởi mở, sau trở thành một trong những bạn tù thân thiết nhất. Không có tổ viên. Suốt ngày hai tên hì hục trộn hàng đống vữa lớn, nhỏ, để sẵn, chờ một toán đem xe cải tiến, do ông nhà báo Việt Tấn Xã Đinh Phụng Tiến chỉ huy, đến xúc giao cho các thợ xây. Trong đội, nằm cạnh chàng, có Ðại đức Nguyễn Long, quê Quảng Ngãi, lo nấu nước, làm tạp dịch. Ông hiền lành, thật thà, ưa giúp đỡ mọi người. Nhiều đêm, vài anh nổi hứng, oang oang kể chuyện đàn bà con gái, chơi bời trước kia. Ông cũng bị nghe, và lần nào cũng lầm rầm bên tai Nguyễn:
- Mô Phật! Chơi chi mà chơi dữ rứa hè!

Bữa nọ, một bà già khu gia binh cho đội một con chó con vừa chết. Một anh gốc Hố Nai xung phong trổ tài nấu rựa mận với muối, rau muống, và củ riềng –mọc đầy bên vệ đường. Mỗi người được chia hai miếng bằng ngón chân cái. Ai cũng “hồ hởi” ăn, trừ Ðại đức Long. Ông đi tìm Nguyễn, cho phần của ông, mặc dù quanh năm ai cũng thiếu chất thịt và ông chưa được thăm nuôi. Ông nói:
- Tôi còn tu. Anh ăn giùm cho!
Đổi lại, Nguyễn tặng ông phần sắn, nhưng ông nhất quyết không nhận.

Một hôm, đội được điều động làm công tác "đột xuất" (bất ngờ) là ra "nghĩa địa", tức một bãi đất trống sát chân núi, làm cỏ và cắm mộ bia cho các anh em đã nằm xuống. Nguyễn đếm gần hai trăm mộ –kỳ thực chỉ là những nấm đất vùi sơ với mảnh gỗ nhỏ ghi vội tên người chết. Trong số có vài ông tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng. Có Trung tá Nguyễn Văn Năm, thuộc trường Ðại học CTCT, người hiền như Bụt, nổi tiếng về khoa bói toán, bấm độn, và một người quen biết từ trại Sơn La, Trung tá Ðặng Bình Minh –cả hai trúng nắng cùng một lúc ngoài hiện trường lao động, được chở về trại cùng trong một chiếc xe trâu, hôn mê và qua đời cùng một giờ. Anh em kể, vợ phi công Minh, một dược sĩ trẻ đẹp, từ Hà Nội trở lại thăm khi anh vừa mất, được dẫn ra nghĩa địa, khóc như mưa, rồi cắt tóc để lại trên mộ cùng với một bài thơ. Nguyễn vừa giẫy cỏ vừa thầm khấn các anh phù hộ cho tất cả tai qua nạn khỏi và mau về sum họp với gia đình. Và thắc mắc không hiểu sao bữa nay bọn cai tù lại tử tế như vậy. Thì ra, về sau mới biết, có một phái đoàn cao cấp đến thăm trại.

Cuối năm 1980, cả đội của Nguyễn được điều động đến K5 xây hội trường và khu gia binh cho công an. Tại đây, Nguyễn rất mừng được thấy lại Ðại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, mỗi buổi sáng tập họp. Kỳ này, trông ông đỡ tiều tụy. Tết 1981, mẹ chàng và Bội Trân ra Vĩnh Phú lần thứ hai, với Huyền Trân, cô em út xinh đẹp vừa tròn mười tám. Chàng soạn một ít bánh mì khô, đường và mì gói, mấy viên thuốc cảm, bỏ vào một bọc ni-lông, chờ buổi chiều các đội đi tắm suối chung lẻn đến phía các bò lục, gặp Ðại tá Quỳnh trao cho ông, nói:
- Tôi mới được thăm, xin biếu Ðại tá.

Hai tháng sau, đến lượt ông được thăm, và một buổi sáng Nguyễn đang đánh vữa thì đội của ông đi ngang. Ông gật đầu ra dấu cho chàng đến sát hàng rào kẽm gai và dúi vào tay một gói lương thực khô đủ loại. Thằng vệ binh thấy được, chạy tới khám. Không có thư từ, mật hiệu, nó trả lại, mồm càu nhàu:
- Quà với cáp linh tinh!
Lúc này, tổ vữa làm việc gần bếp và giếng nước cơ quan. Một hôm, một trung sĩ công an còn trẻ, lạ hoắc, lén vệ binh, đến gần, run run hỏi nhỏ:
- Các anh có B6, cho tôi xin một ít. Nhà tôi mới sinh bị phù (thủng) nặng.
Việc xảy ra đột ngột, Nguyễn và Bảnh đưa mắt nhìn nhau, không đáp, sợ bị gài bẫy. Anh ta vội tiếp:
- Nói thật đấy mà! Không tin, các anh cứ vào đây xem.
Suy nghĩ một hồi, Nguyễn đánh liều đi theo anh ta, còn Bảnh ở lại canh chừng đống vữa và tên vệ binh. Vào nhà, thấy chị vợ da mét xanh, mặt mày, tay chân sưng húp, nằm bên đứa con đỏ hỏn, bé như con chuột. Chị ta nói thuốc bệnh xá cấp thiếu, và không có thức ăn bổ dưỡng.

Hai đứa phân vân mãi. Ðối tượng giúp đỡ phải là bạn tù chứ, của đâu mà lo cho Công an! Nhưng hầu hết anh em đều đã được thăm nuôi, hoặc nếu chưa, đã được Bảnh, Nguyễn và bạn bè chia sẻ phần nào rồi. Cuối cùng, động lòng trắc ẩn, cả hai góp lại được chừng bốn mươi viên B6 để dành từ các lần tiếp tế, đã quá hạn, nhưng không còn gì hơn, và một chén sữa bột cho đứa bé, đem giấu dưới một gốc cây, làm hiệu cho anh ta đến lấy. Hai tuần sau, một buổi trưa, chị vợ đang nấu bếp cơ quan thấy hai chàng thợ vữa đến, vội tiến ra, nhìn trước nhìn sau, bảo:
- Cảm ơn hai anh, hôm nay em đã đỡ nhiều. Có xuất cơm trắng và miếng thịt trâu bồi dưỡng em mang cho hai anh ở gốc cây kia. Nhớ xem chừng cán bộ bảo vệ, kẻo em bị kiểm điểm...

4. Rồi từ đội Xây Dựng, Nguyễn được Linh mục Trần Thanh Cao, giỏi nhạc, đẹp trai, vui tính, có quen biết ngoài đời, bốc về đội văn nghệ mới thành lập do ông làm đội trưởng, để tỵ nạn lao động vài tháng, mặc dù chàng dốt đặc về ca nhạc kịch. Nhân tài, cũng cỡ chàng, biệt phái từ các đội. Có ba anh giả ba sơn nữ Phà Ca mang gùi, đeo vòng, lắc lư múa theo bài Tiếng chày trên sóc Bom Bo, trông xa, và vì vắng đàn bà lâu ngày, thấy cũng hấp dẫn không thua Thanh Nga. Có tổ cải lương với đầy đủ vai hề, đào thương, kép độc. Ðội được lệnh trình diễn giúp vui một phái đoàn thanh tra trung ương. Cha Cao cho Nguyễn vào ban hợp xướng, bè alto ngang phè phè. Ông khuyến khích các ca viên:
- Ăn sắn và hút thuốc lào mà hát như vậy là được rồi!
Một hôm, trại phó đến thăm. Ban hát đang tập một bài có nhắc tên Hồ Chí Minh và hang Pắc Pó, hay ao sen, ao cá gì đó, do cha

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 9 2017, 02:36 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 9 2017, 02:34 AM
Gửi vào: #102


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



(tiếp theo)

Năm sau, đội Xây Dựng được trở về K1. Mỗi tối, khi cửa buồng giam đóng lại, từng nhóm tụm năm tụm ba nhỏ to nói chuyện, đánh cờ, uống nước trà, hoặc bàn luận thời cuộc từ những tin tức hiếm hoi, thường phóng đại, do các bà thăm nuôi cung cấp. Thời gian này, Nguyễn được nhóm thân hữu đặt biệt danh “bình luận gia tin tức quốc tế”. Một cách thành thật, tự tin, chàng phân tích theo chiều hướng có lợi, hợp với ước vọng của mọi người, trong khi thực tế có lẽ khác xa. Bọn cán bộ hình như về sau cũng muốn thả lỏng, miễn đừng ai phá phách, trốn trại, trốn lao động, hoặc công khai "phản động". Những giàn ăng-ten bị bứng hết, và anh em có thể phát biểu vung vít, thoải mái, trong nội bộ từng nhóm. Bảy năm rồi còn gì! Ðau khổ đã thành thói quen. Nhớ vợ thương con cũng đã chìm sâu vào tận cuối hồn. Không còn những anh đêm khuya khóc rưng rức trong chăn của thời gian đầu xa gia đình êm ấm. Trái tim hóa thành đá hết rồi. Giờ đây, phản kháng, dưới hình thức nào đó, bùng lên từ sự chịu đựng câm nín dồn ép qua nhiều năm. Có người khai bệnh nghỉ lao động dài dài. Hoặc giả khùng chửi xéo chế độ. Hoặc còn đập cả vệ binh hỗn láo để rồi, dĩ nhiên, bị biệt giam và hành hạ dã man. Nguyễn bắt đầu để râu, làm tên quản giáo Vinh –nói ngọng, chữ tr thành t, l thành n– rất ngứa mắt, bắt kiểm điểm, nên thấy hắn từ xa chàng lánh mặt.

Trong buồng giam, có một anh, tên Nguyễn Xuân Trung (mà sau này, qua Mỹ, Nguyễn mới biết là cựu SVSQ khoá 1 trường Đại Học CTCT, ra trường khá lâu trước khi chàng được thuyên chuyển về Đà Lạt), chuyên chiếu phim, tức kể chuyện, thật hay và duyên dáng. Tối đến, tù nhân bu quanh, thay nhau rót trà, mời kẹo, đấm lưng cho anh ta, để được nghe kể đủ thứ chuyện, từ Cô gái Ðồ Long đến La valse dans l’ombre qua Thần điêu đại hiệp. Một anh nữa, Trung úy Phạm Hữu Lý, khóa 2, cũng trường CTCT, bạn đồng tù rất tư cách và tự trọng của Nguyễn, hát nhạc vàng rất mùi. Suốt một đêm giao thừa, Lý ca một hơi hơn một chục bản tình lâm ly, như Chiều mưa biên giới anh đi về đâu hoặc Xuân này nếu con không về, chắc mẹ buồn lắm, làm ai nấy mắt cay sè, muốn khóc. Bọn vệ binh gác cửa, đa số là thanh niên mới lớn, nghệt cổ ra nghe, thậm chí còn bảo “anh lào đó hát nại” vài câu.

Ðại tá Nguyễn Quốc Quỳnh và hầu hết các nhân vật trong “truyện” này kẻ trước người sau đã đến bến bờ tự do. Từ Portland, thỉnh thoảng tôi gọi ông hay viết thư thăm hỏi. Tôi được tin Đại úy Hoàng Bá Linh, Đại úy Nguyễn Ngọc Nhung, Thiếu tá Lê Ân, Trung tá Ðào Văn Bảnh đã tạ thế, trong những hoàn cảnh khác nhau. Cha Trần Thanh Cao, nghe nói, đang là cha xứ, quốc doanh, của một họ đạo Sài Gòn. Bác sĩ Đặng Phùng Hậu và nhà báo Đỗ Huy Hoàng định cư tại Texas. Còn phi công Nguyễn Hữu Trí không rõ trôi dạt phương nào, cũng như thầy Nguyễn Long.
Mẹ tôi, đã ngoài tám mươi, vẫn còn nơi quê nhà, ở với Huyền Trân và chồng con. Ba tôi mất, không được gặp mặt. Những người em “cải tạo” lần lượt định cư tại các nước, trừ Kha chết trong tù. Bội Trân ở vậy, không yêu ai nữa, đúng theo lời thề hứa, trước khi trở thành một nữ tu dòng kín Carmel, giữa tuổi thanh xuân, làm nhiều con tim tan nát. Lệ Ngà yên ngủ giấc ngàn thu, sau một cơn bạo bệnh, trả hết cho dương gian những si mê và tình yêu mật đắng. Còn tôi, sau bao năm vật vã để vá lại mảnh đời rách nát, đã bắt tay được với hạnh phúc –nhỏ nhoi so với nỗi đau ngút ngàn phải trải qua. Nhưng hồn vẫn chơi vơi theo kỷ niệm chỉ chực òa vỡ mỗi năm vào cuối tháng 4, hay mỗi lần nhớ đến mẹ và em từ bên trời cũ, hoặc mỗi lần ở đầu dây tiếng Ðại tá Quỳnh, từ Florida, vang lên trong điện thoại.

Nữ tu Marie-Amélie Bội Trân nhắc Nguyễn hãy quên, hãy tha thứ, tha thứ, tha thứ và nói tất cả chỉ là thử thách Chúa gửi đến. Nhưng đối với bạo quyền ######, chàng nói, làm sao tha thứ cho được? Ðó là một bọn người gian manh, độc tài, chuyên chế, đã dìm cả đất nước vào cảnh lầm than, đói khổ, qua ba mươi năm, và bây giờ lại còn đốn mạt dâng đất, dâng biển cho quan thầy Trung Cộng, mối họa muôn đời của dân tộc. Hận thù, Nguyễn sẽ không bao giờ quên, mặc ai phỉnh gạt, kêu gào hòa giải hòa hợp. Vì chàng vẫn tin –theo lời viên tổng tài (consul) La Mã, Quintus Arrius, nói với Juda Ben Hur lúc còn là một tù nhân chèo thuyền (galérien) trong phim cùng tên, Ben Hur– rằng hận thù cho sức mạnh, làm ta tỉnh táo, đề phòng ■

Kim Thanh__._,_.___
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 13 2017, 03:46 AM
Gửi vào: #103


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tôi, ̣Đứa Con Người Tù “Học Tập Cải Tạo” - Lê Xuân Mỹ

Những ngày cuối tháng Tư 1975, Sài Gòn đắm chìm trong cơn hỗn loạn. Tin tức về một cuộc chiến kết thúc bi thảm được truyền đi kéo theo một dòng người tìm mọi cách vượt thoát khỏi Quê hương. Không nhận được tin người đến đưa toàn bộ gia đình ra đi như đã hứa, tôi cùng ba và gia đình người em gái trên chiếc xe Jeep hối hả đi về Bến Bạch Đằng nơi con tàu VNTT đang ngập tràn những dòng người từ khắp nơi đổ về... Hai vợ chồng em gái lên tàu trước. Tôi và ba chần chờ sửa soạn lên sau.

Trong cái dòng người hoảng loạn, trong cái âm thanh cuồng nộ những ngày cuối cùng của tháng Tư, hai cha con vẫn còn nhìn về hướng Lăng Ông Bà Chiểu, nơi nhà tôi ở đó. Vẫn còn hy vọng mẹ và các em đến kịp để cùng đi. Phép lạ đã không xảy ra. Tàu sắp nhổ neo, mẹ và các em tôi vẫn biệt tăm. Ba bảo thôi con lên trước đi, ba đợi thêm một tí nữa, mình gặp nhau trên tàu. Trong mắt ba vẫn còn ánh lên một tia hy vọng. Nhưng tôi biết là đã hết. Thời gian không còn kịp nữa. Ba hối thúc tôi lên tàu, riêng ba không đành bỏ vợ và 8 đứa con con nhỏ dại, quyết định quay lại. Với tôi, ra đi hay ở phải là một quyết định trong chớp mắt. Nhưng sao đành bỏ lại ba một mình với khuôn mặt và cặp mắt thất thần như vậy. Tôi lắc đầu. Thế là tôi và ba quay ngược lại dòng người vẫn cuống cuồng chạy về phía bờ sông, dù con tàu đã từ từ rời bến. Cùng với hàng triệu người miền Nam Việt Nam, tôi và gia đình bắt đầu sống những tháng ngày đen tối nhất.

Đêm đầu tiên, khi nghe tin ĐT Dương Văn Minh đầu hàng trên đài phát thanh, ngoài đường những nhóm người đội mũ cối cầm súng đi qua đi lại, cả gia đình tôi chui dưới chân cầu thang, tắt đèn tối thui, ẩn trốn, và ba đã khóc. Thế là chấm dứt một quảng đời, lịch sử đã sang trang và chúng tôi đã cảm thấy một tương lai mịt mù sắp tới.

Trong những ngày sau đó, ba tôi sống trong hoang mang, lo sợ, không dám bước ra khỏi nhà. Mặt ba lúc nào cũng căng thẳng. Riêng tôi mỗi ngày vẫn lên trình diện cơ quan rồi về. Lên để biết thì ra có những bạn bè cùng sở làm ngày xưa, từng cùng vui chơi sinh hoạt với mình bây giờ đội mũ cối, cầm súng lầm lì đi ra đi vào. Có người còn chào hỏi tử tế nhưng có đứa mặt mày vênh váo, kênh kiệu, những nhân viên còn lại, không phải dân (Không dùng từ này) nằm vùng tụm lại một phòng trên lầu, co cụm đến tội nghiệp.

Trong những ngày đầu mất nước tháng 5 năm 1975, tôi biết ba vẫn còn hy vọng về một người, người em út đi “tập kết” từ những năm 1954, nghe đâu đang làm lớn và hình như đang có mặt tại Sài Gòn. Chính ủy chính iết gì đó. Ba kể hồi nhỏ ba và chú rất thương yêu nhau, ngày chú đi vào rừng theo kháng chiến, ba là người cuối cùng gặp và đưa chú vào chiến khu. Ba vẫn nghĩ nếu có chú chắc ba sẽ không sao.

Như một người sắp sửa bị chìm tàu, cố bám víu một chút hy vọng nào đó để sống, dù rất mỏng manh. Với riêng tôi, hình ảnh về chú không hiền lành như ba tưởng tượng mà là những con người tôi đã từng xem qua cuốn phim “Chúng tôi muốn sống”, lạnh lùng và tàn ác. Tôi nghĩ ba quá ngây thơ, nhưng biết làm sao được, một người lính thất trận, một vợ và 9 đứa con nheo nhóc trong một Thành phố đã không còn thuộc về mình, chung quanh đầy rẫy những bóng đen rình rập. Có thể ba đang cố quên nhưng với tôi, ký ức về một Mậu Thân khủng khiếp ở Huế vẫn còn đó, không thể nào không nhớ. Những cuộc trả thù tàn khốc chắc chắn sẽ xảy ra. Không ảo tưởng như ba, tôi chờ đợi và biết rằng ngày đó sẽ đến, không xa.

Một ngày đầu tháng Sáu, giống như ba đang mong đợi, chú tôi đi cùng một vài Bộ đội cầm súng ghé nhà thăm gia đình chúng tôi. Một Trung tá Chính ủy thuộc đơn vị Phòng không Không quân CS Hà Nội, ghé thăm cựu Trung tá Cảnh sát chế độ cũ. Hai anh em thuộc hai chiến tuyến gặp nhau tại Sài Gòn sau 20 năm xa cách. Hai người đi hai con đường khác nhau, cuối cùng hội tụ tại một điểm. Cũng chào hỏi, cũng mừng mừng tủi tủi, cũng nhắc lại chuyện xưa, nhưng tôi biết quan hệ đã không còn như trước nữa, ngượng ngùng, khách sáo. Nói thật lòng, chú tôi nhìn bề ngoài gầy gò khắc khổ, ít nói và trông có vẻ hiền lành chứ không đến nỗi dữ dằn như trong tưởng tượng của tôi. Nhưng tôi vẫn không thể chuyện trò thân mật với chú được. Một bức tường vô hình đã chắn ngang trong quan hệ của chúng tôi.

Sau ngày đó thỉnh thoảng chú đến thăm ba tôi, và cũng kể từ ngày đó những đồ đạc quí giá còn sót lại trong gia đình cũng dần dần ra đi. Khi thì cái tủ lạnh, khi thì cái truyền hình trắng đen hiệu Denon 4 cửa xếp. Mẹ nói riêng với tôi:

- Cho chú, thôi kệ của đi thay người, hy vọng sau này có gì nhờ chú giúp ba con cũng đỡ khổ phần nào.

Mẹ nghĩ vậy thì hay vậy, chứ trong thâm tâm tôi mẹ đã không biết gì về (Không dùng từ này) rồi. Xin tiền thì có thể chú sẽ cho nhưng để bảo lãnh cho một Sĩ quan Cảnh sát như ba tôi chắc chắn là không. Biết vậy, nhưng thôi cứ để mẹ bám víu một chút hy vọng dù rất mong manh. Nói một cách trung thực, từ ngày có chú đến thăm gia đình, thái độ của các Công an CS, Cán bộ Phường đối với gia đình tôi cũng có chút thay đổi, không giống như những ngày đầu mất nước.

Nhớ lại ngay ngày mồng 2 tháng Năm, vừa mới sáng sớm một đoàn người đông đảo, “Cán bộ” có Công an có ghé vào nhà, kêu ba tôi ra trình diện, ra lệnh ba tôi trong thời gian này phải ở nhà, không được đi đâu cả cho đến khi có lệnh mới. Sau đó đi một vòng quanh nhà tôi, ngang phòng khách, giật đứt chiếc điện thoại để bàn, xem giấy tờ từng người và trước khi ra về, lấy luôn chiếc đồng hồ đeo tay của ba trên đầu tủ thờ. Chiếc đồng hồ kỷ niệm của ông nội mà ba rất quý. Mẹ chắc lưỡi - thôi kệ, của đi thay người.

Một ngày cuối tháng Sáu, cái ngày tôi biết chắc chắn phải đến, cuối cùng đã đến. Ba tôi nhận giấy đi “trình diện học tập cải tạo” dành cho đối tượng Sĩ quan “Nguỵ quân, Nguỵ quyển”. Địa điểm tập trung: trường Trung Học Chu Văn An. Trong giấy ghi rõ “đem theo dồ dùng cá nhân để sử dụng trong 30 ngày”. Nhận được giấy báo, ba mừng như thoát được gánh nặng canh cánh bao lâu nay. Ba bảo:

- Tôi nói có sai đâu bà, bây giờ hoà bình rồi họ không trả thù như hồi Mậu Thân đâu. Kỳ này tôi chỉ đi học có 30 ngày mà ngay tại Sài Gòn này thôi. Xong kỳ học tập này rồi mình sẽ được đối xử như những người dân bình thường. Tôi tính gia đình mình sẽ về lại Đà Nẵng sinh sống. Có mắm ăn mắm có rau ăn rau. Khoẻ rồi, hoà bình rồi, hết chiến tranh rồi bà ơi.

Mẹ tôi, với linh cảm và yếu đuối của đàn bà, lên tận sân bay Tân Sơn Nhất xin gặp chú nhờ chú giúp đỡ. Liếc sơ qua giấy báo “trình diện học tập” chú nói:

- Chị đừng lo, Cách mạng khoan hồng, anh cứ đi, học tập khoảng một tháng là xong. Cứ học tập thật tốt, về sớm đúng ngày, không sao đâu.

Mẹ tôi an lòng chuẩn bị mền, mùng, thức ăn khô cho ba. Riêng tôi, qua trực giác và qua sách báo đã đọc, tôi nghi ngờ về chữ “học tập tốt” mà chú đã nhấn mạnh. Tôi biết là mọi chuyện chỉ mới bắt đầu. Để xóa đi ký ức của một Sĩ quan Cảnh sát 51 tuổi đời, 25 năm quân ngũ, và để đào tạo thành một người “công dân chế độ Xã hội Chủ nghĩa”, chắc chắn không thể là 30 ngày ngắn ngủi như thế. Tôi biết là chú đã không nói thật, và ba thì ảo tưởng hoặc có thể đã biết nhưng muốn che giấu mẹ, cố gượng vui chờ ngày lên đường trình diện. Có những đêm thức giấc giữa đêm khuya tôi thấy ba ngồi lặng lẽ và hút thuốc liên tục ngoài hiên. Đôi vai như quằn xuống, tôi chua xót nhận ra chỉ trong một thời gian quá ngắn ba đã già đi rất nhiều. Trong cái bóng tối mênh mông, tôi cảm thấy mình nhỏ bé và vô dụng vô cùng.

Một ngày trước khi đi, ba dặn riêng tôi không cho mẹ biết, hai cha con ra chợ Bến Thành. Ba nói ba còn để dành 2 lượng vàng, bán xong con nhớ đem về cất riêng, khi nào mẹ và các em cần tiền thì con đưa cho mẹ. Ba không biết khi nào về, con nhớ phụ mẹ lo cho các em. Thì ra ba không ngây thơ như tôi tưởng, tất cả nụ cười trên khuôn mặt ba thường ngày chỉ là giả tạo. Không có mẹ bên cạnh, ánh mắt ba bây giờ mới là thực. Nhìn khuôn mặt hoang mang đến tội nghiệp của ba, tôi thấy mắt mình cay cay. Thương ba vô cùng.

Cuộc mua bán 2 lượng vàng diễn ra nhanh chóng và lén lút. Tôi ngồi canh chừng Công an, ba đưa vàng, người bán đếm tiền gói lại đưa cho ba, ba đưa tôi. Liếc ngang liếc dọc, bỏ vô túi xách, ôm kè kè bên mình, về nhà cất kỹ trong két khoá lại, phòng khi bất trắc.

Sáng sớm hôm sau, không nhớ ngày, tháng 8 năm 1975, Ba từ giã gia đình đi “trình diện”. Ba ôm mẹ, hôn các em. Mẹ, các em đều khóc. Bé út khóc to nhất. Tôi ráng cắn chặt răng, mắt cay xè, hối hả đạp xe chở ba đến trường Chu Văn An. Không ai nghĩ rằng, đó là lần cuối cùng mẹ và các em gặp ba. Trước cổng trường, đông nghẹt những người đi trình diện và những thân nhân lóng ngóng bên ngoài. Tay xách ba lô, ba lủi thủi đi vào, trước khi bước qua cánh cửa sắt có mấy tên Công an đứng gác, ba quay lại nhìn tôi như nhắc nhở con nhớ thay ba lo cho mẹ và các em. Khi bóng ba mờ khuất sau dãy lớp, nỗi đớn đau kềm hãm bấy lâu vỡ oà, tôi khóc ngon lành như một đúa trẻ. Tôi biết rằng ngày ba trở về còn xa lắc xa lơ.

Từ khi ba đi, căn nhà trở nên vắng vẻ vô cùng. Mẹ phần lo chạy gạo hằng ngày, phần lo lắng nhớ ba, gầy đi trông thấy. Tuy nhiên mẹ vẫn hy vọng 1 tháng sẽ trôi qua nhanh chóng, ba trở về và mọi chuyện sẽ trở lại như xưa. 30 ngày rồi 45 ngày trôi qua, tôi và mẹ bắt đầu sốt ruột lo lắng. Mẹ cứ mỗi ngày hết đi ra lại đi vào, hết lên Phường hỏi thăm rồi lại lên Tân Sơn Nhất tìm gặp chú. Vẫn là 1 câu trả lời:

- Chắc sắp được về thôi. Anh học tập tốt thì cách mạng sẽ cho về, chị đừng lo.

Câu chị đừng lo càng lúc càng trở thành vô dụng khi bao tháng trôi qua, vẫn không một tin tức gì về ba. Vừa phải lo cuộc sống vừa phải chạy đôn chạy đáo hỏi thăm đầu này đầu nọ, mẹ già hẳn đi. Cuộc sống càng ngày càng khó khăn cho một gia đình 11 miệng ăn. Đồng lương ít ỏi của tôi không đủ nuôi sống cả gia đình, mẹ bắt đầu đem đồ đạc trong nhà ra chợ bán. Chú thì thỉnh thoảng vẫn ghé thăm nhưng thưa thớt hơn nhiều. Có lẽ vì bận rộn nhưng cũng có lẽ sợ không biết phải trả lời sao với mẹ. Không lẽ đợi anh “học tập tốt, Cách mạng khoan hồng”, hay là chắc mai về khi mà ngày mai của chú có thể là một ngày không bao giờ đến.

Thấm thoát rồi cũng qua một năm. Mẹ vẫn mỏi mòn chờ đợi trong vô vọng, ba vẫn biền biệt phương nào. Không một tin tức, không một dấu vết, dù nhỏ nhoi. Những đồ vật có giá cuối cùng trong nhà cũng đã bán hết. Hai mẹ con ôm nhau khóc. Bỗng nhiên tôi chợt nhớ đến số tiền bán 2 cây vàng giấu trên gác. Một số tiền khá lớn thời bấy giờ. Ai ngờ khi mở gói tiền tôi sững sờ nhìn thấy nguyên bó tiền chỉ có hai tờ đầu là tiền thật, ở giữa toàn là giấy báo. Thì ra lợi dụng việc mua bán chui lén lút, vừa bán vừa canh chừng công an, khi đưa tiền, người bán đã tráo đổi gói tiền đang đếm bằng gói tiền gói sẵn. Cho đến khi chết chắc ba cũng không thể ngờ những đồng tiền cuối cùng ba để dành cho mẹ là con số không to tướng.

Trong những tháng năm sau đó, cuộc sống càng ngày càng khó khăn. Không còn cách nào khác, mẹ vẫn mỗi ngày tiếp tục ra bán chui trước chợ Tân Định. Sạp hàng là một tấm vải ni lông, cột dây bốn góc để dễ túm lại khi có công an đến. Thời đó buôn bán trên vĩa hè là phạm pháp. Vừa mua bán vừa láo liên canh chừng công an. Nếu công an tới thì túm tấm nilông bỏ chạy vào nhà lồng chợ. Công an đi khỏi, đem hàng ra bày bán tiếp. Đồ bán khi thì một đôi giày, một chiếc áo cũ hay có khi chỉ là lớp vải lông thú tách ra từ những chiếc áo lính ngày xưa.

Có gì bán nấy. Khởi đầu là đồ đạc trong nhà, sau đó là đồ mua lại từ những người có cùng hoàn cảnh đem bán. Cũng có khi là đồ chôm đồ chỉa, cũng lây lất qua ngày. Các em còn quá nhỏ, chỉ mình tôi với mẹ, sĩ diện, lòng tự trọng của một kỹ sư cũng đem chôn chặt trong lòng. Tôi mỗi ngày, sau giờ làm việc cũng ra phụ mẹ, cũng chạy ra chạy vào, cũng cặp mắt nhìn trước, ngó sau, vừa bán vừa mua, vừa canh chừng Công an. Trong những ngày vô cùng khốn khó đó, thỉnh thoảng chợt nhớ về thời thơ ấu cũ lòng thật buồn. Những ngày tươi đẹp ấy đã quá xa. Những lo lắng về cuộc sống và một tương lai mù mịt, làm tôi trở nên lạnh lùng chai đá. Dù rằng cũng có đôi khi, tôi một mình khóc thầm trong đêm.

Như một định mệnh, trong những ngày cùng cực khốn khó đó tôi gặp C. vợ tôi bây giờ. Người ta hay nói vợ chồng là duyên là nợ. Điều này rất đúng với chúng tôi. Trước 1975 tôi và C. cùng làm chung tại Trung Tâm Bưu Chính Viễn Thông thuộc Bưu Điện thành phố Sài Gòn. Gặp nhau thường xuyên nhưng ít khi nói chuyện.

Nàng làm thư ký cho Desai, giám đốc chương trình đào tạo của Liên Hiệp Quốc. Hồi đó C. là một người đẹp, nhiều người theo đuổi.

Tôi là Kỹ sư mới ra trường. Tốt nghiệp Bách Khoa Phú Thọ, tôi chọn vào Trung Tâm vì tại đó có học bổng đi học cao học về Viễn thông. Tôi ghét cái kênh kiệu và lạnh lùng của nàng. Nàng thì ghét cái giọng Huế nặng trịch của tôi. Tôi càng ghét nàng khi bài thi xếp hạng để đi du học của tôi bị cộng sai điểm. Tôi khiếu nại không được. Và vì vậy tôi bị sắp đi đợt 2 vào tháng 12 thay vì đợt đầu vào tháng giêng năm 1975.

Chuyến đi du học tháng 12 bị bãi bỏ do biến cố 1975. Tự an ủi xem như chưa có số xuất ngoại dù trong lòng tôi buồn và tưng tức. Có lẽ, do nợ tôi một món ân tình quá lớn nên sau này nàng đã phải trả lại tôi gấp nhiều lần hơn. Cùng hoàn cảnh, cùng thuộc gia đình “ngụy quân ngụy quyền”, cùng ghét ###### như nhau, chúng tôi gặp nhau thường xuyên trong những lần đi nghe các buổi nói chuyện về chính trị, về “chủ nghĩa Mac Lenin”..... Chúng tôi thường chọn ngồi dưới hàng ghế cuối cùng. Để ngáp, và để ngủ không bị để ý. Những hàng ghế cuối cùng trở thành nơi chúng tôi chia sẻ những đắng cay, những mất mát và những yêu thương. Cuối cùng chúng tôi quyết định nên vợ nên chồng. Dám yêu đứa con Cảnh sát chế độ cũ, tương lai mờ mờ mịt mịt, chắc chắn chỉ có thể nàng đã quá yêu tôi.

Đám cưới được tổ chức đơn giản. Không rễ phụ không dâu phụ, không rước dâu. Lạy cha mẹ, lạy bàn thờ gia tộc hai bên, đơn giản chỉ như vậy. Chỉ một số ít bạn bè thân thiết và bà con gần. Không có gì phải phô trương khi ba tôi vẫn mịt mù đâu đó trong “trại cải tạo”, không biết sống chết ra sao. Em yêu tôi và tôi cũng rất yêu em. Thế là đủ.

Một ngày trước đám cưới chúng tôi nhận được giấy báo từ Phường, yêu cầu gia đình ra khỏi nhà trong vòng 48 giờ. Lý do gia đình thuộc diện 28, Sĩ quan Cảnh sát làm việc cho “chế độ Mỹ Ngụỵ”. Giấy báo còn cho biết Phường sẳn sàng “giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để gia đình có thể lập nghiệp trên vùng kinh tế mới”.

Kết thúc vội vàng buổi tiệc mừng đám cưới, hai vợ chồng đạp xe lên sân bay Tân Sơn Nhất xin chú can thiệp giúp đỡ. Chú nói:

- Theo chú thấy đi Kinh tế mới dầu sao cũng tốt cho mẹ và các cháu. Cực khổ lúc ban đầu nhưng sau này sẽ khá hơn. Hồi chú ở ngoài Bắc cực khổ hơn gấp trăm lần, có sao đâu. Sau này ba con về còn có chỗ sinh sống.

Trả lời như chú vậy thì chẳng thà nói với đầu gối sướng hơn. Hai đứa chỉ biết nhìn nhau, thầm nghĩ với tình thế này chắc cũng phải lên đường đi lập nghiệp trên vùng đất mới mà thôi. Trong lúc cùng đường, vợ tôi chợt nhớ đến ông xếp cũ từ thời trước 1975, một kỹ sư tốt nghiệp từ Pháp, cựu Giám đốc Bưu điện nay là Cán bộ cao cấp làm việc trong “Thành ủy”. Nghe trình bày hoàn cảnh, nghĩ đến mối giao tình thầy trò ngày xưa, ông nói để ông xuống phường xem thử. Không hiểu ông can thiệp như thế nào, hai ngày sau Phường gửi giấy quyết định cho gia đình tạm thời ở lại cho đến khi chồng đi “cải tạo” trở về. Nói theo ngôn ngữ bóng đá bây giờ, vợ tôi đã cứu gia đình tôi một bàn thua trông thấy vào phút 90.

Từ khi lập gia đình, tuy có thêm đồng lương của vợ tôi, nhưng vẫn không thể nào đủ cho một gia đình 11 miệng ăn. Bán chợ chạy của mẹ thì vất vả mà thu nhập quá kém cỏi. Hai đứa bắt đầu làm thêm đủ thứ ngành nghề.

Khởi đầu là nuôi heo. Nhờ giấy giới thiệu của cơ quan, mỗi tháng vợ tôi được mua một cặp heo con với giá rẻ. Chiếc cầu tiêu duy nhất tuy nhỏ cũng được ngăn ra dành chỗ để nuôi 2 con heo mọi mới đẻ. Mỗi ngày đi tiêu đi tiểu trong tiếng kêu ủn ỉn của chúng, mới đầu rất khó chịu, nhưng rồi nghe riết cũng quen, cũng ghiền. Nuôi 1, 2 tháng, đem ra chợ bán. Lại lên trại mua 2 con khác nuôi tiếp.

Chỉ nuôi heo không cũng chưa ăn thua. Bắt đầu nuôi thêm gà công nghiệp. Cũng xin giấy giới thiệu lên trại gà mua vài chục gà con, nuôi vài tháng hơi lớn lớn rồi đem bán. Được vài tháng xuông sẻ, gặp mùa toi dịch, gà heo chết hàng loạt, cụt vốn, hai vợ chồng nhảy qua làm bánh đậu xanh, khô, ướt. Mẹ ngâm, đãi đậu, tôi cắt giấy, vợ tôi gói. Mỗi chiều đi làm về, hai vợ chồng đèo nhau trên chiếc xe đạp cũ kỷ đi giao bánh cho mấy tiệm ăn quanh xóm. Không phải bán đứt, ký gửi thì đúng hơn. Giao bánh, vài ngày sau quay lại. Bán hết thì lấy tiền, giao bánh mới. Gặp lúc bán không hết, bị mốc, đem về không biết làm gì cho hết, trộn vô cám cho heo gà ăn.

Cứ vậy, những tháng ngày tiếp tục trôi. Vợ chồng ốm tong ốm teo như ma đói, nhưng cũng phải ráng chịu cực mong đợi ngày ba về.

Đến một ngày đầu tháng 2 năm 1978, bỗng nhiên chúng tôi nhận được thư ba, lần đầu tiên. Góc thư tôi còn nhớ rõ địa chỉ Trại K2 Tân Lập, Vĩnh Phú. Trong thơ ba hỏi thăm mẹ và các em. Ba kể ba đang học tập cải tạo tốt. Thư ngắn chưa đầy một trang giấy. Ba nhắc tôi ráng chăm sóc mẹ và các em. Đợi ngày ba về. Miền bắc lúc đó đối với tôi vô cùng xa lạ..... Nếu có biết cũng chỉ biết qua sách vở. Vĩnh Phú ở đâu, ra sao, xa xôi như thế nào, không quan trọng, ít nhất là ba vẫn còn sống.

Thế là đủ. Quá mừng rỡ mẹ biểu tôi viết thư thăm ba và mỗi đứa em viết một câu cho ba. Mẹ nói tôi kể cho ba về cuộc sống ngoài này. Tôi ầm ừ cho qua chuyện, trong thư chỉ viết là nhớ ba, mong ba học tập tiến bộ để sớm về với gia đình. Tôi không kể về cuộc sống gia đình từ ngày ba đi. Không lẽ cho ba hay rằng căn nhà đã bị tịch thu, gia đình suýt nữa bị đi “kinh tế mới”, hay lại kể với ba rằng mẹ mỗi ngày đang bán từng chiếc áo cũ của ba ngoài lề đường. Hoặc kể cho ba chuyện 2 cây vàng. Thôi thì cứ để ba vui khi nghĩ rằng vợ và các con của ba dù là con của Sĩ quan “chế độ Mỹ ngụỵ, vẫn được Cách mạng CS đùm bọc thương yêu”..... Thôi thì cứ như vậy cho ba yên lòng và ít nhất thư cũng đến được với ba. Kể từ hôm đó khoảng hơn mỗi tháng một lần gia đình tiếp tục nhận được thư ba. Mỗi lần chỉ hơn một trang giấy, nhưng cũng mang đến cho chúng tôi một niềm vui và hy vọng. Sẽ có ngày ba trở về.

Cho đến một ngày, Cũng từ K2 trại cải tạo Tân Lập Vĩnh Phú. Cũng nội dung “ba đang học tập tốt, Cán bộ đố xử với ba rất tốt”, cũng khuyên “các con cố gắng học tập trở thành cháu ngoan của “Bác”, nhưng nét chữ run run, nguệch ngoạc, khó đọc và ngắn hơn rất nhiều so với các thư trước. Mẹ và các em vẫn mừng rỡ như mọi lần, nhưng riêng tôi linh cảm một điều gì đó không hay đang xảy ra. Hai vợ chồng đem thư ba lên phòng đọc đi đọc lại nhiều lần. Hình như chữ “tốt” (Học tập tốt, sức khoẻ ba vẫn rất tốt được viết đậm hơn, to hơn các chữ khác). Chữ ba viết quá xấu so với bình thường. Rất bất thường. Không tốt nghĩa là xấu. Không khoẻ nghĩa là bịnh.

Quá lo lắng, tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện đi thăm ba. Lên Phường xin giấy phép đi ra Bắc, bị từ chối. Phải có giấy phép thăm nuôi từ trại gửi về. Hồi đó muốn đi Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, người dân bình thường như tôi phải làm đơn xin phép, phải có lý do chính đáng và phải có người bảo lãnh. Thời gian được cấp giấy phép thường rất lâu nhất là đối với những gia đình thuộc diện Nguỵ quân Nguỵ quyền như chúng tôi. Lên gặp chú nhờ chú can thiệp giúp đỡ, chú nói cũng y hệt như mấy “ông cán bộ” Phường:

- Khi nào họ cho phép thăm nuôi thì ba con sẽ gửi giấy tờ về.

Chú trả lời như vậy thì kể như không nói. Thật lo lắng cho ba, nhưng không biết làm sao, đêm đêm tôi chỉ biết cầu nguyện cho ba sức khoẻ, và mong chờ một phép lạ. Và phép lạ cuối cùng cũng đã xảy ra.....

Ở hiền gặp lành. Tháng 8 Hiệu trưởng loan báo có đợt cho “Nhân viên và giáo viên trường Bưu Điện đi tham quan miền Bắc, Xã hội chủ nghĩa và du ngoạn tại bãi biển Đồ Sơn 1 tuần”. Tôi và vợ tôi có tên trong danh sách được đi. Lúc đó vợ tôi đang mang thai đứa con đầu được 5 tháng. Phần làm việc vất vả, phần thể trạng yếu đuối, khộng dám đi xa, vợ tôi đành ở nhà. Tôi đi ra miền Bắc một mình. Không phải vì yêu “Hà Nội, Xã hội chủ nghĩa” cũng không phải để tắm biển Đồ Sơn, mà trong lòng tôi đang hình thành một kế hoạch đi tìm ba.

Cả đoàn đi ra Hà Nội bằng xe lửa. Chuyến đi gồm hai phần. Phần đầu là phần nghe giảng về “Chính trị, về Chủ nghĩa Mac Lenin, về miền Bắc, Xã hội chủ nghĩa” 4 ngày tại Hà Nội. (Phần này bắt buộc không ai được vắng mặt). Phần sau 3 ngày là về nghỉ ngơi vui chơi tại bãi biển Đồ Sơn. Phần này kỹ luật tương đối lỏng lẻo hơn. Đa số các “cán bộ” quê miền Bắc nhân thời gian này “tranh thủ” về thăm gia đình, chỉ có những người miền Nam lần đầu tiên ra Bắc là theo đoàn về Đồ Sơn. Tôi thì đã có kế hoạch từ trước xin trưởng đoàn ở lại Hà Nội với lý do thăm gia đình ông chú ruột là “Trung tá Chính ủy” đơn vị Phòng không Không quân (Không dùng từ này). Cũng phải viện một lý do gì đó để đơn xin có “trọng lượng”. Cũng phải cho trưởng đoàn biết là “con nguỵ nhưng cũng có bà con là cán bộ (Không dùng từ này)” dù trong thâm tâm tôi biết ông chú đi “cách mạng” có cũng như không, khó nhờ vả sơ múi gì đuợc. Hồn ai người nấy giữ.

Thế là những ngày đầu tháng 9 năm 1978, tôi bắt đầu chuyến hành trình tìm cha. Chưa một lần ra miền Bắc. Với tôi tất cả điều xa lạ. Manh mối duy nhất là địa chỉ trên thư: K2 Trại cải tạo Tân Lập Vĩnh Phú. Phương tiện di chuyển: chiếc xe đạp Phượng Hoàng mượn của ông chú.

Sáng mồng 3 tôi bắt đầu ra đi từ nhà chú: khu Tập thể Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội. Trạm đầu tiên: Ga xe lửa Hàng Cỏ. Hỏi thăm các người bán hàng rong ở ga. Vĩnh Phú thì nhiều người biết nhưng trại Tân Lập ở đâu thì không ai hay. Thôi thì cứ lên tàu đi về hướng Vĩnh Phú trước đã.

Đúng là tàu chợ, xe lửa thì củ kỹ, hôi hám, trên các toa đông nghịt người, đa số là người lao động và người bán hàng rong. Vì vướng chiếc xe đạp, chật vật lắm tôi mới leo được lên toa cuối cùng khi tàu bắt đầu chuyển bánh. Vì lên sau cùng, tàu đông kịt người, chỗ đứng chổ ngồi hầu như không còn, tôi ngồi xuống một khoảng trống sát vách cầu tiêu. Lần đầu tiên tôi cảm thấy nỗi cô đơn giữa một rừng người cùng tiếng nói, cùng một màu da.

Mỗi một trạm tàu dừng, tôi đều hỏi thăm những người khách và những em bé bán chè xanh nhảy lên từ mỗi trạm. Cuối cùng cũng có được một tin tức mơ hồ từ một em bé:

- Có lần đi bán nước chè, em có gặp một đoàn người hình như ở trong Nam ra vì không giống người ngoài này, đi lao động, hình như ở gần ga Ấm Thượng, Vĩnh Phú. Em bé nói thêm hình như có trại giam giữ những người miền Nam gần đó.....

Tôi bám tàu đi tiếp. Tàu lắc lư đi về hướng Cao Bằng, Lạng Sơn. Mùi hôi thúi bốc lên từ cái cầu tiêu công cộng cộng hoà quyện vào cái mùi mô hôi của hàng trăm người đứng ngồi lóc nhóc không làm tôi bận tâm. Tôi mãi suy nghĩ khi nào thì đến ga Ấm Thượng? Vì không nhìn được qua cửa sổ, tôi đành nhờ một bà lão ngồi sát cửa sổ nhắc giùm khi đến ga.

Xuống được ga Ấm Thượng thì cũng đã giữa trưa. Phải nói là trạm thì đúng hơn. Nhà ga là một căn nhà nhỏ, vách lá, trống huơ trống hoác. Vùng đất thật hoang vu, dân di lại thưa thớt. Ra khỏi ga là một con đường đất đỏ duy nhất về một làng nào đó ở xa xa. Tôi vừa đi, vừa hỏi đường. Hỏi xem có ai biết về trại Tân Lập không? Không ai biết. Phải đến lần thứ 9 hay thứ 10 gì đó, khi tôi đã vào sâu khoảng 5, 7 cây số, mới có được câu trả lời tương đối rõ ràng:

- Phải đi thêm 20 đến 25 Km về phía dãy núi, bên này là Trại Tân lập, bên kia là biên giới Trung Quốc.

Đoạn đường đi xa diệu vợi, chân tay rã rời, đôi khi tôi kiệt sức muốn bỏ cuộc quay về. Nhưng nghĩ đến ba, tôi gắng gượng tiếp tục lên đường. Con đường càng vào sâu càng lúc càng khó đi. Khi thì ngoằn ngoèo, khi thì lồi lõm. Có những đoạn không đạp xe được vì mưa trơn trợt, tôi xuống xe dắt bộ. Nhà cửa càng lúc càng thưa thớt, càng ít người qua lại. Tôi vừa mệt, vừa sợ, vừa đi vừa nhìn chung quanh, dáo da, dáo dác. Nói thật lúc đó có ai nhảy ra, phang cho mình một gậy, cướp xe đạp, vất xác xuống ven đường, chắc cũng không ai hay.

Từ cha sinh mẹ đẻ đến nay có bao giờ tôi đi đâu một mình như thế này đâu. Hồi nhỏ thì có cha có mẹ, vào trường thì có bạn có bè. Đi đâu cũng đi với người này hay người khác. Ngay cả khi đi trồng cây si, cũng rủ thêm Trường Thọ hay Quốc Chính (đã mất) cùng đi. Đi đâu cũng xe đạp hay xe Jeep của Ba. Đi bộ thì nhiều nhất là một cây số. Chạy thì nhiều nhất một vòng sân trường là thở dốc. Vừa mệt vừa sợ cướp, vừa sợ ma, tôi vừa đạp xe vừa lẩm bẩm cầu nguyện, nhiều lúc nản quá muốn quay về. Rồi lại nhớ đến ba, nhớ đến khuôn mặt buồn thê thảm của ba trước cổng trường Chu Văn An ngày nào, tôi lại lê lết lên đường đi tiếp.

Đúng là lê là lết. Đường càng lúc càng khó đi. Mưa phùn, đường hẹp, đất bùn quyện nước mưa nhão nhoẹt bám vào bánh xe càng làm nặng nề. Tôi bắt đầu cảm thấy lạnh. Một cái lạnh cắt da cắt thịt. Nhưng nỗi khổ chưa dừng ở đó. Trên con đường độc đạo duy nhất về trại “Cải tạo” Tân Lập, tôi phải vượt qua hai con sông.

Quen với cái hiền hòa của giòng sông Hương thuở nhỏ, chưa bao giờ tôi thấy con sông nước chảy dữ dằn như vậy. Dòng nước đục ngầu và đỏ như máu chảy cuồn cuộn. Đứng bên này nhìn thấy bờ bên kia nhưng không biết cách nào qua. Không cầu không cống. Không một bóng người. Men theo bờ sông, tôi đi về hướng ánh đèn leo lét xa xa. Hỏi thăm, thì ra muốn qua sông thì đi một đoạn nơi có bờ đá dô ra ở mé sông, chụm hai tay gọi lớn sang bên bờ bên kia “ Đò ơi… ơi” Thế là từ bên kia bờ, chênh chếch phía trên có một thuyền nhỏ một người chèo qua. Nói thì rất dễ dàng nhưng để băng qua được bên này không dễ chút nào. Khoảng cách hai bên bờ không lớn lắm, nhưng do nước chảy xiết, từ bên kia muốn qua bên này, người lái đò phải khéo léo dựa theo dòng nước chảy, từ trên xa trôi xuống, tắp đúng vào kè đá nơi tôi đứng. Điều khiển không khéo thì thuyền lật như chơi, còn nếu không thì thuyền tắp xuống quá kè đá, không đúng chỗ đón khách.

Bác lái đò giúp tôi đưa xe đạp và tôi xuống thuyền. Nhìn người lái đò, nhìn dòng nước sông đục ngầu cuồn cuộn chảy, tôi nhớ các đoạn văn của Nhất Linh, của Khái Hưng thời Tự Lực Văn Đoàn kể về các tỉnh miền Bắc xa xôi này. Hình như nơi đây, bánh xe thời gian đã ngừng lại. Giống y chang như trong các bài văn ngày nào. Vẫn như xưa, nếu không nói là cũ kỹ hơn, nghèo khổ hơn. Và có lẽ vì vậy người dân ở miền đất sát biên giới Việt Trung này hiền lành và chơn chất gấp vạn lần những con người tôi gặp ở Hà Nội. Vì vậy, may mắn tôi vẫn còn cái mạng quay về.

Đi thêm một đoạn dài, vượt qua thêm một nhánh sông tương tự thì trời đã tối đen. Lúc này tôi không còn đạp xe được nữa..... Tôi dắt xe, vừa đi vừa run cầm cập. Dân thành thị như tôi, lần đầu tiên mới cảm thấy nỗi sợ hãi cùng cực khi một mình giữa đồng không mông quạnh, âm thanh là tiếng côn trùng ếch nhái, thỉnh thoảng là những ánh đom đóm lập loè. Lại thêm cái lạnh cắt da của ban đêm và mưa phùn miền Bắc. Khổ không thể cực khổ hơn. Sợ không thể nào sợ hơn. Nếu không vì ba tôi đã bỏ cuộc từ lâu. Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng gặp được một căn chòi trống ven đường. Đây có thể là nơi tạm trú của những nông dân hay của những em bé chăn trâu nào đó.

Căn nhà (cái chòi thì đúng hơn) nhỏ xíu, trống không, có một cửa bằng tre nhỏ xíu. Đặt chiếc xe đạp sát vách, tôi ngồi xuống tựa lưng nghỉ mệt. Có thể nói trong đời đây là căn nhà ấm áp nhất mà tôi từng ở dù rằng những giọt mưa vẫn từ các khe hở nhỏ xuống lạnh buốt. Bây giờ mới cảm thấy đói. Bữa ăn tối đầu tiên trên miền đất tận cùng biên giới của người con đi tìm cha đang “học tập cải tạo” là một cái bánh bao không nhân mua vội trên tàu. Cái gọi là bánh bao thật ra chỉ là một cục bột hôi mốc nhờ mưa ẩm ướt làm mềm đi nếu không chắc sẽ cứng như đá. Nhưng không sao, khi đói thì đất cát vẫn thấy ngon như thường. Vừa ăn tôi vừa cố nuốt đi những giọt nước mắt. Cùng với cơn lạnh ban đêm, dù trải qua một ngày không ngủ, mệt lã, tôi vẫn không tài nào chợp mắt được. Tôi ngồi bó gối co ro ở một góc nhà. Lần đầu tiên tôi thấy cái vô tận của đêm dài.

Trời vừa hơi sáng là tôi lên đường ngay. Đi thêm một chặng đường đất khá dài, khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ, cuối cùng tôi cũng đến được trại Tân Lập. Thật ra cái tôi gặp đầu tiên ở giữa cái đồng không cô quạnh này là một ngôi nhà tranh, tương đối lớn, phía trước có treo một tấm bảng nhỏ “K10 Tân Lập”. Bên trong là một cái bàn dài có hai dãy ghế bằng tre. Không thấy có ai canh gác. Tôi nghĩ đây là nhà khách. Đợi một lúc quả nhiên tôi thấy một công an đi ra. Tôi trình giấy tờ, ghi rõ là “cán bộ Bưu Điện” ra Hà Nội công tác luôn tiện thăm cha đang học tập tại K2 Tân Lập.

Mừng hụt. Trại “cải tạo” Tân Lập thì đúng rồi nhưng đây là nhà khách thuộc K10. Toàn trại gồm có 10 khu vực. Nếu tính từ ngoài vào trong thì bắt đầu từ khu K10, K9… cuối cùng sát biên giới là khu K1. K10 là khu vực đầu tiên của trại Tân Lập. Từ đây sẽ không có nhà dân mà chỉ có những trại giam, “cán bộ” và tù nhân. Sau này tôi mới biết khu trại Tân Lập không chỉ giam giữ các tù nhân từ trong Nam mà còn là nơi giam giử các thành phần bất hảo ăn cắp ăn trộm ngoài Bắc. Thành phần này được giam ở các khu K10, K9 gần phía nhà dân.


Các tù nhân Sĩ quan từ miền Nam được phân loại và giam giử theo thứ tự, chức vụ càng cao, càng "ác ôn" thì được đưa về các khu số nhỏ K1, K2 sát núi gần biên giới, khí hậu khắc nghiệt và rất khó trốn thoát. Nếu có vượt thoát được Công an ở các khu vực K1, K2, K3… thì chắc không qua được các thành phần bất hảo của K9, K10. Ai nói ###### ngu. Có đào thoát khỏi trại, mặc áo tù đi lang thang 30 km, ra khỏi đây không bị bắt trở lại mới lạ.

Lại tiếp tục lên đường. Hai bên đường là nhũng cánh đồng khoai mì, những cánh đồng trà cằn cỗi. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp từng toán người mặc áo tù đang cuốc đất. Từng nhóm làm việc lặng lẽ. Lúc này đường đất tương đối dễ đi hơn. Tôi cúi thấp người cố gắng đạp thật nhanh. Đi riết rồi cũng đi qua hết khu K3 và bắt đầu vào địa phận K2. Có lẽ khoảng 10 giờ sáng, mưa phùn vẫn còn rơi. Tính ra từ sáng tới giờ tôi đã đi một lèo gần 4 tiếng đồng hồ. Không ăn uống gì nhưng tôi vẫn không cảm thấy đói. Tôi đang náo nức với cái cảm giác sắp được gặp lại ba. Vừa đi tôi vừa suy nghĩ những chuyện sẽ hỏi ba, chuyện gì sẽ kể cho ba. Tự nhủ phải thật bình tĩnh, phải không được xúc động, phải không được khóc. Nghĩ tới lúc sắp gặp ba, quên cả mệt nhọc, tôi ráng sức đạp thật nhanh.

Qua khỏi khúc quanh cuối K3 để vào K2, tôi thấy cách đường đất đỏ khoảng 5 đến 10 mét một nhóm khoảng mươi người áo quần lam lũ, người đang cuốc đất, người đang vác những bó củi khô, cạnh đó mấy tay mặc áo vàng đội mũ cối, cầm súng đi qua đi lại. Tôi biết chắc chắn đó là những tù nhân đang lao động cải tạo. Như một phản xạ tự nhiên, tôi đạp xe chậm lại, đưa mắt nhìn quanh. Cùng lúc một tù nhân đang đội nón lá lui cui gần vệ đường ngước mắt nhìn về phía tôi. Dù đã bao năm qua không gặp, dù bây giờ đã quá khác xưa, gầy gò, mặt mày đen thui, râu tóc dài bạc phơ, nhưng tôi vẫn nhận ra đó là Ba. Nhảy ra khỏi xe, tôi thảng thốt kêu lên một tiếng Ba thật to. Tiếng kêu làm nhiều người quay lại hướng về phía tôi trong đó có mấy tên công an cầm súng đứng ven đường. Trong khoảnh khắc, tôi bắt gặp đôi mắt hoảng hốt của ba, cặp mắt ngây dại và đầy vẻ lo sợ, ba vừa chớp mắt vừa lấy tay xua lia lịa như muốn tôi đứng lại và chỉ về phía căn nhà xa xa. Tôi khựng lại, tôi biết tôi không được quyền đứng lại hay trò chuyện với ba. Nuốt giọt nước mắt đang chực chờ chảy, tôi lên xe phóng nhanh về căn nhà khách, không quên nhìn lại ba. Vẫn kịp thấy ba đang cúi xuống, tấm lưng gầy gò yếu đuối run run ngã quị bên đường!

Tiếp tôi trong căn nhà khách K2 là một công an mặt áo vàng, gương mặt gầy nhọn, non choẹt và giọng nói rặt Bắc Nghệ An. Tôi đưa giấy tờ chứng nhận là “cán bộ giáo viên trong nam ra công tác Hà Nội tranh thủ thăm cha đang học tập cải tạo” ngoài này. Sau khi xem giấy tờ, tên cán bộ hỏi tại sao tôi biết nơi này. Không lẽ nói do tự tìm kiếm, tôi nói do chú là Trung tá chính ủy chỉ đường. Thái độ có vẻ nhã nhặn hơn nhưng gã ta cho biết là tôi không thể thăm được ba tôi lần này được với lý do: “Ông nhà đang trong thời kỳ bị kỷ luật do vi phạm nội quy của trại, đang bị biệt giam”.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 13 2017, 03:49 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 13 2017, 03:47 AM
Gửi vào: #104


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Thú thật nếu không gặp mặt ba ngoài kia, chắc chắn tôi đã phải tin lời quay về. Tôi biết hắn đang làm khó dễ. Tôi nắm chặt bàn tay dằn cơn giận dữ. Xuống nước:

- Nhưng thưa Cán bộ tôi mới gặp ba tôi ở ngoài kia.

Tên cán bộ gằn giọng:

- Anh có chắc không? Ông đang bị biệt giam, ai cho ra ngoài, chắc anh nhìn lầm.

Sao có thể lầm ba với ai được..... Dù có bị đày đọa cỡ nào, dù ba có thay đổi bao nhiêu, thì tôi vẫn không bao giờ lầm ba với ai khác. Cặp mắt ấy, con người ấy với tôi là duy nhất. Đuối lý nhưng tay công an vẫn khăng giữ vững ý định không cho tôi gặp ba. Nhiều lý do được đưa ra: Thứ nhất đây không phải là mùa thăm nuôi, thứ hai tôi cũng không có giấy phép (Hèn chi các nhà khách tôi đi qua vắng như chùa bà đanh).

Tôi cố gắng trình bày là đi công tác đột xuất, hơn nữa đường đi xa xôi, đã lỡ đến đây rồi, xin Cán bộ thông cảm. Làm ra vẻ tử tế, lão cán bộ chép miệng:

- Thật ra tôi cũng muốn thông cảm cho anh, không phải tôi làm khó dễ nhưng thú thật không thể cho anh gặp được.

Tôi càng năn nỉ, tên cán bộ càng cứng rắn. Lão nỗi nóng:

- Nhưng tôi nói không gặp được là không gặp được, anh về khi nào có giấy tờ thăm nuôi thì chúng tôi sẽ giải quyết.

Nhìn khuôn mặt tên “Cán bộ” mặt mày lấc cấc, máu tôi sôi lên, tôi muốn đấm cho nó một cái, ra sao thì ra. Nhớ đến ánh mắt của ba ngoài kia, cặp mắt ngây dại của ba đang co cụm dẫy chết. Nhớ đến đôi vai gầy gò run rẫy trong gió lạnh ngoài kia, lòng tôi dịu lại, tự nhiên tôi bật khóc, khóc ngon khóc lành. Vừa khóc tôi vừa năn nỉ tên cán bộ đáng tuổi em mình. Tiếng khóc động đến lòng trời, đúng lúc một tay cán bộ nữ bước vào. Có lẽ khuôn mặt một người đàn ông đang khóc nhìn thê thảm, xấu xí và cảm động quá, sau khi bàn bạc, cán bộ nữ đồng ý cho tôi được gặp ba nhưng chỉ được gặp đúng 15 phút mà thôi. Dù sao đàn bà vẫn là đàn bà, vẫn tình cảm hơn.

Chờ khoảng một tiếng, một tên Công an đi vào, theo sau là ba tôi. Lúc này tôi mới có cơ hội nhìn rõ ba. So với hồi ở nhà, hoàn toàn khác hẳn. Khuôn mặt đen sạm, tóc tai bạc trắng, râu dài tới ngực, mặc bộ đồ tù cũ kỹ, tay cầm chiếc nón lá rách tả tơi. Không kềm được tôi phóng người về phía ba, hai tay dang rộng. Ba giật mình bước tránh qua một bên miệng lắp bắp “Dạ thưa Cán bộ, tại con tôi không biết”. Nói xong ba lầm lủi theo tên Công an đến chiếc bàn tre chính giữa phòng. Đợi tên công an ngồi xuống chiếc ghế ở giữa hất đầu ra lệnh, ba ngồi xuống ở chiếc ghế đầu kia đối diện với tôi. Tên CA hất hàm:

- Anh có 15 phút để nói chuyện với ông.

Dù tự nhủ phải cố gắng bình tĩnh nhưng vẫn không thể được, tôi oà khóc như một đứa bé..... Trong khi đó ngoài trừ cặp mắt ánh lên một nỗi niềm khổ đau vô hạn, ba bình tĩnh hơn tôi nhiều. Ba nói trước, ba hỏi thăm về mẹ, về các em. Cũng vẫn là lời lẽ như trong các thư ba gửi về. Thỉnh thoảng dù rất cố gắng kìm lại nhưng ba vẫn húng hắng ho. Tiếng ho vẫn đục như có đàm chận trong cổ. Vừa khóc, vừa trả lời tôi mãi nhìn ba, muốn nhảy đến ôm ba vào lòng. Nhưng khoảng cách hai đầu chiếc bàn quá xa và tên công an ngồi chính giữa như một bức tượng lạnh lùng, đe doạ. Tôi để cho ba hỏi ba nói và tôi trả lời. Có nhiều điều muốn hỏi, muốn kể với ba nhưng nỗi xúc động làm tôi không nói được nên lời.

Thật ra nếu nhớ ra, có hỏi, chắc chắn cũng là câu “Cách mạng khoan hồng, ba học tập tốt sẽ được cho về”. Nhìn ánh mắt ba, tôi biết sẽ không bao giờ ba “học tập tố” được, ngày về sẽ còn xa lắc xa lơ. Tôi lấy từ trong túi xách, mấy gói thực phẩm khô, chuối khô do mẹ làm, một ít bánh đậu xanh, mấy hộp diêm một tút thuốc lá đen đẩy về giữa bàn về phía Ba. Ba đẩy tất cả về phía tên CA, miệng nói: “nhờ cán bộ giữ giùm”. Cặp mắt sáng lên, mặt bớt lạnh lùng, tên CA đem các món đồ vào chiếc tủ nhỏ ở góc phòng. Không biết ba sẽ nhận được lại các món này hay không, tôi không có tâm trí để nghĩ đến.

Tôi cứ mãi nhìn người đàn ông gầy gò tội nghiệp và yếu ớt đang ngồi trước mặt mình không nói được lời nào. Nước mắt cứ không ngừng tuôn. Nói chuyện được khoảng 15 phút tên công an lạnh lùng đứng dậy tuyên bố hết giờ. Ba chậm chạp đứng lên, cặp mắt nửa như ngây dại, nửa thảng thốt, nửa tiếc nuối nhìn tôi, bước theo tên công an ra khỏi nhà khách. Không kìm được, tôi vùng chạy tới, ôm choàng lấy ba khóc như mưa. Lần đầu tiên tôi thấy mặt gã công an như dịu lại, quay mặt ra nơi khác. Bây giờ thì ba cũng khóc. Không biết chúng tôi đứng bên nhau được bao lâu cho đến khi tên CA kéo tay Ba tôi đi. Ba lủi thủi đi không quay lại. Cái dáng đi khòm khòm, nhẫn nhục đến tội nghiệp. Và đó là lần cuối cùng tôi gặp ba. Còn sống.

Sau chuyến đi gặp ba trở về, biết được địa điểm, lo lắng về tình trạng sức khoẻ của ba, mẹ suốt ngày hối thúc tôi đưa mẹ đi thăm ba. Thời đó người dân bình thường nếu muốn ra Bắc phải làm đơn ra phường xin phép. Với gia đình “nguỵ quân nguỵ quyền” như gia đình tôi, xin giấy phép càng khó khăn hơn, thời gian chờ đợi lâu hơn. Phường thì bảo phải có giấy phép thăm nuôi từ trại gửi về mới cấp. Đợi giấy phép thì không biết đến khi nào. Lên gặp chú thì chú chỉ ngược về phường. Cũng như không. Mẹ thì cứ sốt ruột, đi ra đi vào. Suốt ngày mẹ như lửa đốt, bỏ ăn bỏ làm. Các em thì còn nhỏ dại, cũng chỉ hai vợ chồng chúng tôi trăm phương nghìn kế,tính đủ mọi cách cũng chưa biết phải làm thế nào.

Tình cờ (đến lúc này thì tôi tin có những sự tình cờ do ơn trên sắp đặt), tôi được “lệnh ra Hà Nội tham gia lớp tập huấn dành cho Giáo viên môn mạch điện tử”. Lấy lý do là lần trước vợ tôi chưa đi Hà nội, tôi xin phép Hiệu trưởng cho vợ tôi được nghỉ phép cùng đi. Do “quan hệ tốt” và có lý do chính đáng, hiệu trưởng đồng ý ký giấy phép dù bây giờ vợ tôi mới sinh con đầu lòng, sức khoẻ còn yếu lắm. Thật ra chúng tôi đã có kế hoạch từ trước. Giấy phép đi Hà Nội có ghi rõ tên tôi và vợ tôi NGUYEN THI CUC, “cán bộ Trường Bưu Điện Thành phố ra Hà Nội công tác”. Chữ trên giấy phép do chúng tôi điền và đưa Hiệu trưởng ký. Chữ CUC sau này được sửa thành chữ LOC, tên của mẹ tôi..... Thế là tôi và mẹ có giấy phép ra Hà Nội “công tác”, dĩ nhiên chính là để thăm cha.

Lần trước khi thăm ba, do không biết đường đi cũng như không hy vọng gặp được ba tôi chỉ đem một ít đồ dùng. Kỳ này mẹ chuẩn bị chu đáo hơn. Bao nhiêu tiền dành dụm, mẹ đem ra mua hết. Sửa đặc, cơm khô, thịt chấy, bánh đậu xanh, áo quần, thuốc lá (nên nhớ hồi đó mọi nhu yếu phẩm, gạo cơm, thức ăn đồ dùng đều được cung cấp theo chế độ tem phiếu, có tiền cũng rất khó mua). Chúng tôi phải dùng mọi cách, từ vay mượn đến năn nỉ xin xỏ gom góp cũng được khoảng hai bao tải gần 60 kg.

Hai mẹ con ra Hà Nội bằng xe lửa. Sau khi xong công việc thanh thủ cuối tuần hai mẹ con cùng người gánh hàng thuê lên tàu chợ hướng Cao Bằng Lạng Sơn về ga Ấm Thượng. Do đã biết trước địa điểm, lại háo hức mong gặp ba, chuyến đi này diễn ra suông sẻ nhanh chóng hơn lần trước. Vượt 30 km đường bộ, cuối cùng chúng tôi cũng đến được nhà khách K2 vào lúc nửa đêm. Mẹ chịu đựng gian khổ và khoẻ hơn tôi tưởng tượng rất nhiều. Nghĩ đến lúc gặp lại ba vào ngày mai, hai mẹ con suốt đêm thao thức không ngủ được.

Tiếp chúng tôi là một tay Công an khá lớn tuổi với khuôn mặt rất hình sự. Tôi trình bày lý do, giấy tờ và xin phép được gặp ba. Gã cầm giấy tờ đi vào bên trong. Độ khoảng 15 phút, gã đi ra vẫn với khuôn mặt khó đăm đăm. Gã nói: “Rất tiếc không thể để hai người gặp tù nhân này được. Ông nhà đang bị kỷ luật vì vi phạm nội quy trại. Hai người có thể để thức ăn và đồ dùng lại chúng tôi sẽ chuyển cho ông”. Mẹ tôi bắt đầu khóc lóc và năn nỉ. Gã một mực cương quyết lắc đầu. Mẹ tôi càng lúc càng khóc to hơn.

Càng bị từ chối, nỗi uất ức càng lớn, bà càng lớn tiếng. Không có nỗi đau nào bằng nỗi thất vọng lúc này của chúng tôi. Khóc hết nước mắt vẫn không lay chuyển, mẹ tôi càng la càng hét. Gã công an lúng túng không biết xử như thế nào với tình thế phát sinh lúc này. Mẹ tôi lúc này như một người mất trí, khuôn mặt nhuể nhoại mồ hôi. Cặp mắt đỏ ngầu. Những người đến thăm nuôi và cả những “Cán bộ” của các bàn bên cạnh đều hướng về phía bàn chúng tôi. Tình hình căng thẳng đến nỗi đến tai cấp chỉ huy trại. Một Sĩ quan Công an bước vào. Hai người thầm thì nhỏ to gì đó. Cuối cùng viên Sĩ quan đến gặp chúng tôi, dịu giọng:

- “Thật ra chúng tôi rất muốn giúp bà nhưng quả thật hiện nay ông nhà đang bị kỷ luật bị giam ở ngoài trại cách đây rất xa. Thôi bà về đi. Tuần sau bà quay lại. Tôi sẽ cho bà gặp ưu tiên với thời gian gấp đôi bình thường. Còn bây giờ bà cứ để thức ăn và đồ dùng chúng tôi hứa sẽ đưa tận tay ông nhà, không thiếu một thứ gì”.

Năn nỉ ỉ ôi cách mấy cùng không lay chuyển tên “cán bộ quản giáo”, tôi nghĩ chắc là hết cách..... Chắc phải ở lại Hà Nội thêm một tuần. Nhìn khuôn mặt hiền lành của viên Sĩ quan Công an, tôi nghĩ gã đã rất thiệt tình. Tôi nói nhỏ với mẹ, mình về thôi. Tuần sau lên lại hy vọng họ giữ lời hứa cho gặp được Ba lâu hơn.

Trong khi quay lại bàn tiếp tân để làm thủ tục đưa thức ăn và đồ dùng cho ba bỗng dưng tôi thấy một ánh mắt hơi khác lạ của một tù nhân làm nhiệm vụ đem nước chè xanh cho những người đến thăm nuôi. Để ấm nước xuống bàn, người này đi chầm chậm về phía chòi vệ sinh sau khi ngoái lại nhìn tôi, đôi mắt nhấp nháy kỳ lạ. Tôi xin phép gã Cán bộ Công an đi vệ sinh.

Bước vội nhanh vào phía trong vừa kịp thấy dáng khòm khòm của người tù nhân bước ra. Tôi bước vào, nhìn quanh chòi vệ sinh được xây tạm bợ bằng lá tranh với cánh cửa nửa kín nửa hở. Tôi ngồi xuống và nhìn quanh vách tre lá. Tôi có linh cảm hình như người tù nhân muốn cho tôi biết một điều gì đó. Tôi nhìn quanh, quả đúng như linh cảm, trên góc đòn tre phía trái, tôi thấy một mảnh giấy nhỏ, trên đó viết nguệch ngoạc một dòng chữ: “Ông D. bệnh nặng”.

Hoảng hốt tôi vội chạy ngược vào phòng tiếp tân. Dù rất xúc động nhưng tôi vẫn còn giữ chút bình tĩnh kéo mẹ ra góc phòng báo tin. Mẹ vững vàng và khôn ngoan hơn tôi tưởng rất nhiều. Bà quay trở lại bàn tiếp tân và nói:

- Xin Cán bộ cho tôi ở lại đây đợi chồng tôi về chứ bây giờ vừa đi vừa về Hà Nội cũng mất hai ngày. Gã Cán bộ nói láo trơn tru:

- Ông bị biệt giam, không được phải cả tuần chúng tôi mới đưa ông nhà ra gặp bà được.

Đến lúc này nỗi uất ức trong lòng mẹ tôi bùng nổ, bà khóc và la hét to hơn:

- Mấy ông nói láo, tôi biết chồng tôi đau nặng, đồ sát nhân, sao không cho chúng tôi gặp. Các ông có còn là con người không?

Đến lúc này thì mẹ tôi không còn biết sợ là gì nữa, tất cả những oán hận chất chứa trong lòng bao lâu này được dịp thoát ra, không ai có thể ngăn được. Cả phòng khách của K2 bắt đầu nhốn nháo, ồn ào. Nhiều người bu quanh mẹ tôi lúc này đang nằm lăn lộn dưới sàn đất cứng ngắc. Gã Cán bộ chạy vào trong và đi ra cùng với viên Sĩ quan lúc nãy. Gã dịu giọng nói với chúng tôi:

- Xin bà bình tĩnh, mời bà và anh vào trong, chúng tôi sẽ giải quyết.

Nói xong gã ra lệnh cho hai Công an dìu mẹ tôi vào căn phòng phía trong. Có lẽ không muốn những người thăm nuôi khác biết chuyện. Căn phòng sạch sẽ hơn phòng bên ngoài nhiều. Viên Sĩ quan Công an nói:

- Bây giờ tôi xin nói thật về tình trạng của ông nhà. Thật ra ông đang bệnh và chúng tôi đang tích cực chữa chạy cho ông. Nay bà đã biết, tôi sẽ thu xếp cho bà vào gặp ông. Ông nhà đang nằm ở Bệnh xá, tôi sẽ cho người dẫn ông bà đi. Xin ông bà đợi một lát.

Nói xong gã bước ra, nói nhỏ gì đó với tay Công an trực. Tay Công an bước đi thật nhanh. Khoảng 40 hay 50 phút gì đó gã trở về, bước đi gấp gáp, hấp tấp. Lại thì thầm to nhỏ với viên chỉ huy.

Linh cảm không hay đến với tôi. Lần này viên Sĩ quan trầm giọng:

“Thưa bà, chúng tôi vừa mới nhận được tin, mặc dù chúng tôi đã tận tình chữa trị, nhưng vì sức yếu, ông nhà vừa mất cách đây 5 phút. Chúng tôi xin chia buồn với bà. Chúng tôi sẽ lo chôn cất ông nhà đàng hoàng tử tế”.

Nghe tin dữ, mẹ tôi như điên cuồng. Bà nằm lăn ra đất. Vừa khóc vừa la. Không từ nào mà bà không đem ra. Không nhân vật nào bà không đem ra chửi. Vừa chửi vừa khóc, khóc đến khan cả giọng. Mồ hôi quyện với đất đỏ dính đầy áo quần, mặt mũi. Hết khóc rồi bắt đầu cười ngây dại. Tôi ôm mẹ không nói được nên lời. Nỗi đau quá lớn làm thần kinh tôi như tê liệt. Ôm mẹ với trái tim nhói đau như kim châm và mẹ ngất đi!

Chúng tôi được dẫn đi gặp ba lần cuối. Nơi ba nằm là một căn nhà nhỏ đơn sơ gọi là Bệnh xá nằm sâu trong K2 cách nhà khách khoảng 30 phút đi bộ. Ba nằm trên một giường tre, thân hình gầy guộc, khuôn mặt ốm nhom như bộ xương khô. Hàm râu lổm chổm có lẽ được cắt ngắn một cách vội vàng không dài thòn như lần đầu tôi gặp. Hình như đã hết nước mắt, mẹ không khóc yên lặng ngồi xuống đất vói tay ôm lấy ba. Tôi ngồi xuống phiá bên kia. Hai mẹ con ôm chầm lấy ba.

Vẫn còn hơi ấm của một cơ thể vừa mới qua đời. Mẹ vuốt mắt ba. Mắt trừng trừng nhìn ba. Hình như tôi thấy trong mắt mẹ màu đỏ của máu. Sẽ không bao giờ tôi quên được cái hình ảnh của ba mẹ tôi trong bệnh xá trại K2 Tân Lập hôm đó. Mẹ không khóc nhưng lại ngất thêm một lần nữa khi tôi kéo mẹ đứng lên.

Sau này qua một người bạn tù của ba, lúc mẹ con tôi đến thăm trại, đang hấp hối nhưng ba tôi biết. Lúc đó ba rất yếu. Ba nói ba sẽ cố gắng sống để găp mẹ một lần và ba cố gắng húp được một muỗng cháo trắng. Muỗng cháo trắng cuối cùng trước khi ra đi mãi mãi. Giá mà tay Cán bộ có một chút tình người thì có lẽ mẹ cũng được gặp ba một lần sau chót. Chỉ cần một lần mà thôi, của một cuộc tình ba mươi mấy năm. Tôi biết ba đã không đành lòng ra đi. Đành lòng sao được hả ba, khi vượt hàng ngàn cây số từ Nam ra Bắc, chỉ còn cách một bước chân thôi mà mẹ không thể nói với ba những lời yêu thương sau chót, để được nghe một lời trăn trối sau cùng..... Tức tưởi và uất hận lắm ba. Mà thôi ba ơi. Cứ yên lòng ra đi rồi có ngày mẹ ba và chúng con sẽ lại gặp nhau một nơi nào đó, trên Thiên Đàng. Chúng ta sẽ lại có những ngày tháng hạnh phúc bên nhau như thuở nào.

Để xoa dịu mẹ con chúng tôi, lần đầu tiên K2 có tổ chức một đám ma tù nhân tương đối đàng hoàng. Có rất nhiều tù nhân chết ở đây. Toàn bộ được bó vào các manh chiếu mây tre rách rưới và được vùi sơ sài trong các khuôn đất trống bên trong trại. Ba có lẽ là người đầu tiên đưọc ưu tiên có hòm làm bằng gỗ ván thông mỏng dính. Chôn theo với ba là mấy bộ đồ rách bươm. Cũng có 4 người tù khiêng quan tài. Phía trước và phía sau có 4 Công an đi cùng. Cũng có ly hương là cái chén ăn cơm cũ kỹ. Tôi cầm bài vị là một bức ảnh căn cước nhỏ xíu của ba còn sót lại trong trại. Mẹ đi sau quan tài. Đoàn đưa tang gồm 10 người lặng lẽ đi về phía 1 đồi trọc xa xa, phiá ngoài hàng rào trại K2. Trên đường đi, tôi để ý thấy có những gò đất với rất nhiều ngôi mộ vô danh. Nơi chôn ba là một ngọn đồi, chỉ có một cây đa thật to. Những người tù đào vội 1 lớp đất không sâu lắm, hòm được đặt xuống và lấp lại. Thế là xong. Ba tôi, một Sĩ quan Cảnh sát miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa “thua cuộc”, cuối đời nằm ở đây, một vùng đất gần tận cùng biên giới Việt Trung. Một mình, lạnh lẽo. Mẹ không còn nước mắt để khóc. Suốt buổi nhìn trừng trừng. Một khuôn mặt tưởng như vô hồn, nhưng tràn đầy oán hận. Một nỗi hận đến vô cùng. Tôi cắn chặt môi đến tươm máu. Thôi ba ơi, hãy yên nghỉ tạm nơi đây, con sẽ quay trở lại một ngày không xa.

Trước khi trở về, tôi cẩn thận ghi dấu vị trí ngôi mộ với một chữ thập ghép bằng hai nhánh tre và khắc tên ba trên gốc cây to trước mộ.

Tin “chồng bà bún bò Huế chết trong trại học tập cải tạo” lan truyền một cách nhanh chóng khu Hồ Tắm Chi Lăng và cả khu chợ Cây Quéo, Phú Nhuận. Có thể có những người chết trước ba nhưng có lẽ ở khu phố Lam Sơn Phú Nhuận ba tôi là Sĩ quan đầu tiên chết trong trại cải tạo được gia đình chôn cất đàng hoàng. Từ lúc trở về mẹ tôi ngày nào cũng đi khắp xóm. Gặp ai cũng khóc cũng kể về cái chết của ba, về nỗi uất ức của một người đàn bà đi cả ngàn cây số để cuối cùng không gặp mặt chồng trước khi lìa đời. Xa ngàn dặm và chỉ gần một bước chân mà vợ chồng không thể gặp nhau lần cuối. Đớn đau và tàn nhẫn quá. Mẹ khóc, mẹ kể với sự đồng cảm của bạn bè, của thân nhân và của cả những người không quen biết. Công an phường và Cảnh sát Khu vực nhiều lần gặp mẹ, an ủi xoa dịu và cả đe dọa nhưng mẹ không từ bỏ.

Con người khi đã mất đi phần đời yêu quý nhất của mình thì còn nỗi sợ nào hơn. Tôi thì rất lo dù sao tôi vẫn đang làm việc. Các em đang còn nhỏ dại. Nếu bị trả thù hay mẹ bị bắt vì “tội phản động” thì gia đình sẽ ra sao? Nhưng khuyên cách mấy cũng không làm mẹ thay đổi. Tính mẹ tôi thuở nào cũng như vậy. Khi bà muốn làm điều gì thì làm cho bằng được. Đã nhiều lần bị đưa ra “kiểm điểm” trong các buổi “họp tổ Dân phố” nhưng mẹ vẫn như cũ. Gặp ai cũng kể gặp ai cũng khóc cho đến ngày chúng tôi nhận được giấy triệu tập lên Phường.

Lo sợ có chuyện không lành xảy ra cho gia đình, tôi báo tin và xin chú cùng chúng tôi lên Phường. Không biết có phải vì muốn xoa dịu chúng tôi hay không, hôm đó Phường mời chúng tôi lên chỉ để đọc “quyết định trả quyền công dân” cho ba. Công an phường sau khi thuyết giảng tràng giang đại hải về “lòng khoan dung của đảng và nhà nước đã trao cho mẹ giấy trả quyền công dân vì thành tích học tập tốt của ba trong thời gian trong trại cải tạo”. Sau này tôi mới biết qua người bạn tù của ba, ba là người thường xuyên bị “kỷ luật và biệt giam”. Thường xuyên không tuân thủ “nội quy trại”. Trả quyền công dân cho một người đã chết, thật quá tức cười và quá nỗi đắng cay.

Cuối cùng với những vất vả lo toan cho cuộc sống, qua thời gian, mẹ và chúng tôi cũng phải làm quen những ngày tháng không có ba. Các em vẫn hằng ngày cắp sách đến trường. Vợ chồng chúng tôi đã có đứa con đầu tiên. Đứa cháu ra đời chưa bao giờ thấy được ông nội bằng xương bằng thịt. Mỗi khi nhìn con tôi lại nhớ đến ba. Cháu bao nhiêu tuổi, bấy nhiêu năm ba rời xa chúng tôi. Cho đến bây giờ sau bao nhiêu năm tháng tôi vẫn không quên khuôn mặt ốm nhom ốm nhách của ba trong trại K2 năm nào.

Những năm sau đó, dù vất vả, cuộc sống khó khăn, chúng tôi cùng mẹ cũng kiên cuờng sống tiếp nuôi các em ăn học. Có những ngày ăn bo bo thay cơm. Có những ngày liên tiếp không có gạo chỉ có bột mì. (Thời đó tại Sài Gòn chúng tôi phải làm quen với chế độ tem phiếu như ngoài bắc). Tùy theo lúc, có khi được cấp gạo, có khi nhận toàn bột mì, có khi cả tuần nhận toàn bo bo. Số luợng nhận tùy theo nhân khẩu của mỗi hộ gia đình. Mẹ xoay xở chế biến thành đủ thứ món ăn bằng bột mì cho đỡ ngán. Dù sao thì cũng không thể gian khổ bằng ba trong những ngày trong tù miền Bắc. Tôi tự an ủi như vậy để sống. Mẹ bề ngoài rất can trường nhưng trong lòng lúc nào cũng canh cánh nỗi lo về ba. Mẹ ray rứt nghĩ về nơi lạnh lẽo ba nằm, về nắm mộ hoang phế nơi tận cùng biên giới.Mẹ thường nói không biết ba mày nằm ngoài đó như thế nào. Đêm nào mẹ cũng khóc một mình. Càng ngày càng héo hon. Mẹ lúc nào cũng ao ước đem được ba về. Hết than ngắn lại thở dài.

Ba chết chưa đầy 3 năm, quá sốt ruột, thương mẹ và thương ba nằm lạnh lẽo hiu quạnh, tôi xin nghỉ phép cùng mẹ ra Hà Nội một lần nữa. Lần này với ý định đem ba về chôn cất tại Huế bên cạnh ông bà ngoại. Nhờ người giới thiệu, tại Hà Nội chúng thuê được 1 người chuyên về đào mộ cùng đi. Từ sáng sớm 3 người chúng tôi lên ga Hàng Cỏ và đến tối thì chúng tôi đến trại K2. Sáng hôm sau chúng tôi gặp cán bộ trại xin đào lấy xác ba đem về chôn tại quê nhà và bị từ chối. Lý do phải có giấy cho phép của cấp trên. Thời gian chờ đợi ít nhất cũng phài trên 3 tháng. Không còn cách nào khác, không lẽ về tay không, chúng tôi quyết định đào trộm.

Đến lúc này mỗi khi nhớ lại tối hôm đó tôi vẫn còn rùng mình. Tôi vẫn không hiểu tại sao mình lại quyết định liều lĩnh như vậy. Đào mộ chui, chết hoặc ở tù như chơi. Có lẽ phần vì còn trẻ liều lĩnh, phần thương ba và một phần do sự khuyến khích của tay đào mộ thuê. Cũng may là ngôi mộ của ba nằm ngoài vòng đai trại, nếu không ai biết trước việc gì sẽ xảy ra cho chúng tôi.

Đêm đó đợi lúc trời chạng vạng tối, trời mưa lất phất, 3 người chúng tôi đi đến khu mộ ba. Tôi vẫn nhớ rất rõ đường đi. Vẫn không thay đổi gì nhiều, chỉ khác là cỏ mọc um tùm hơn. Cây thành giá trước mộ vẫn còn đó, xiêu vẹo. Dấu khắc trên cây vẫn còn dù có mờ đi. Và cũng chỉ một mình ngôi mộ của ba nằm ở đó, lạnh lẽo, hiu quạnh. Chung quanh không có ngôi mộ nào khác. Có lẽ chỉ một mình ba tôi là có thân nhân đến tiễn đưa khi chết.

Chúng tôi bắt đầu công việc bốc mộ trong cái ánh đèn cầy leo lét. Người đào mộ làm việc chuyên nghiệp và nhanh chóng chạm đến nắp hòm. Nén xúc động, tôi mở nắp quan tài. Ba nằm đó bộ xương còn nguyên vẹn với da thịt và tóc chưa phân hủy hết. Chúng tôi đem bộ xương ba lên theo thứ tự đầu, chân,tay, bên phải bên trái. Mẹ nức nở vừa khóc vừa rửa xương ba bằng nước cánh hồi, sau đó bỏ vào hai bao lác mang theo. Một bao tôi xách gồm phần đầu và phần tay chân bên trái. Bao lác của mẹ gồm xương sống và phần tay chân bên phải. Người đào mộ dặn phải làm như thề để khi về đem chôn trở lại với hình hài còn nguyên vẹn.

Chúng tôi lặng lẽ vượt 30km lên đường trở ra ga Ấm Thượng trong đêm. Về đến ga Hàng Cỏ Hà Nội thì cũng đã xế chiều hôm sau. Mệt lã người vì thiếu ăn và thiếu ngủ nhưng chúng tôi rất vui vì đã đem ba về an toàn. Bây giờ tôi mới cảm thấy đói. Hai mẹ con ngồi tựa cột đèn trước ga, mỗi người ôm chặc một bị lác chứa xương người. Chúng tôi ăn những ổ bánh mì dai nhách, uống những ly chè xanh đắng chát, nhưng thật ngon lành.

Đang nằm thiu thiu ngủ bỗng dưng tôi thấy tay mình nhẹ tưng, bừng tỉnh cũng là lúc tôi thấy một bóng người phóng qua mình tôi về phía trái. Ôi cái bị lác của tôi. Tôi phóng người đuổi theo, vừa chạy vừa la: xương người, xương người. Đứa bé ăn trộm bị tôi đuổi kịp quăng bị lác xuống đất chạy vào bóng đêm mất dạng. Tôi lượm bị lác lên và ôm chặt vào lòng. Đêm đó hai mẹ con ngồi tựa cột đèn, thức trắng. Lại một đêm thật dài, dài vô tận.

Trời mới tờ mờ sáng, chúng tôi đáp chuyến tàu đầu tiên xuôi nam và đến ga Huế vào nửa đêm. Nhà ông bà ngoại tôi nằm dưới chân núi Ngự Bình, cách lăng Thành Thái không bao xa. Ngôi nhà cổ với sân vườn sau là các ngôi mộ của gia tộc bên ngoại. Về nhà nửa đêm nhưng đã có rất đông họ hàng, các em cùng vợ con tôi về Huế từ ngày hôm trước. Và có cả ông Cặn hàng xóm, người chuyên môn lo về đám ma với hòm rương nhang đèn đầy đủ.

Đám ma của ba tôi được tổ chức đơn giản nhưng với đầy đủ thủ tục lễ nghĩa như với một người vừa mới qua đời. Xương của ba được sắp xếp lại theo thứ tự tay chân trái phải và đưọc đặt vào quan tài cùng với các đồ dùng còn sót lại của ba. Bà con hàng xóm láng giềng khu vực An lăng có mặt thật đông. Hôm đó mẹ đã khóc ngất đi nhiều lần dù ba qua đời gần 3 năm. Dù sao mẹ cũng đã mãn nguyện thực hiện được ước muốn từ bao năm qua: đưa được ba về, nằm ấm cúng trong mảnh vườn nhỏ gia tộc bên cạnh ôn mệ. Hôm đó tôi đã khấn trước mộ ba: Ba ơi, hãy yên nghỉ, chúng con thương ba vô cùng. Ba có linh thiêng xin phù hộ cho mẹ và các em được bình an.

Tôi tin là có một thế giới, nơi ba đang sống, thật gần với chúng tôi, luôn theo dõi phù hộ chúng tôi. Độ 3 tháng sau ngày đem ba về Huế, gia đình tôi bỗng nhận được tin về đưá em gái kế. Người duy nhất trong các anh em tôi ra đi tại bến bạch Đằng 6 năm về trước..... Chúng tôi nhận được thư của em gái kèm tờ giấy bạc 50 dollars. Không thể nào kể hết được nỗi xúc động và sung sướng của gia đình chúng tôi lúc đó. Đã sáu năm trôi qua, tưởng chừng như đã mất em vĩnh viễn. Hạnh phúc lớn nhất kể từ ngày ba mất đi.

Ngoài niềm vui về đứa em gái, số tiền 50 dollar đối với gia đình tôi hồi đó là một tài sản đáng kể. Kể từ ngày liên lạc được với gia đình, thỉnh thoảng, em tôi gửi về lúc thì tiền lúc thì xà phòng, kẹo bánh, đồ dùng điện tử. Quà nhận được, hầu như tất cả đều được đem bán thành tiền để chi dùng trong gia đình. Họa hoằn lắm thì chúng tôi mới giữ lại một vài gói kẹo M. M. Chia cho các em thì mỗi đứa cũng được độ 5-10 viên nhỏ xíu. Hồi đó cái gì từ Mỹ cũng quý vô cùng.

Dù không biết về thế giới bên kia, nhưng tôi vẫn luôn tin rằng có ba luôn ở quanh quẩn đâu đây, cùng với gia đình và luôn phù hộ cho mẹ con chúng tôi. Cuộc sống gia đình chúng tôi từ cuối năm 1981 trở đi bớt cơ cực hơn. Tôi ngoài giờ đi dạy học ở trường Bưu Điện, còn đi dạy luyện thi vào Đại học tại nhà học sinh trong xóm. Vợ tôi nhờ “quan hệ tốt” với các Cán bộ trong trường, khi thì mua thêm được gạo, khi thì mua thêm được thịt, các bữa ăn trong gia đình cũng được khá hơn lên.

Các em, kể từ ngày ba “được trả quyền công dân”, sự phân biệt đối xử tuy vẫn còn nhưng không quá nhiều như ngày đầu sau 1975. Mẹ tôi mở gánh bán bún bò tại nhà. Gia đình không dư giả giàu có gì nhưng cũng sống được qua ngày một cách hiền lành, lương thiện. Sau ngày ba mất, chú tôi thi thoảng có ghé thăm nhưng tôi vẫn cảm thấy một nỗi ngượng ngùng nào đó trong quan hệ của chú cháu chúng tôi. Mỗi lần nhìn hình ba trên bàn thờ tôi lại nhớ đến khuôn mặt gầy gò, râu tóc bạc phơ ngày nào trong trại K2 Vĩnh phú. Đôi mắt trừng trừng tức tưởi của ba cứ ám ảnh trong tôi hằng đêm. Còn lâu tôi mới có thể tha thứ cho chú được. Giá mà ngày đó chú thu xếp để mẹ tôi ra thăm ba sớm hơn thì có lẽ ba sẽ không ra đi như thế. Nghĩ như vậy nhưng tôi biết, dù có thương ba bao nhiêu, chú cũng không thể làm gì khác được.

Trong những đứa em của tôi, đứa thứ ba là đứa ít nói nhưng ghét chú và căm thù chế độ CS nhiều nhất. Thái độ bất mãn trong học hành và trong sinh hoạt hàng ngày nhất là với các “cán bộ” miền Bắc khiến tôi vô cùng lo lắng, bất an. Em thường có những lời nói và biểu hiện mà các “cán bộ” cho là phản động. Có khuyên mấy cũng không được. Lo sợ em gặp sự không may, tôi bàn với mẹ đưa em ra Đà Nẵng sống với gia đình người chị con bà dì ruột. Và từ Đà Nẵng em là người đầu tiên trong gia đình tôi vượt biên sang Mỹ sau 1975.

Năm 1982, chúng tôi nhận giấy tờ bảo lãnh đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình ODP. Chúng tôi nộp đơn xin đi Mỹ và ngay năm đó cả hai vợ chồng cùng nhận giấy tờ cho thôi việc. Lý do: “anh chị đã nộp đơn đi nước ngoài, không còn đủ tư cách làm việc tại cơ quan Bưu Điện được nữa”. Đây là điều chúng tôi đã luờng trước nhưng không ngờ đến quá nhanh như vậy. Vào những năm 81-82, gia đình có thân nhân ở nước ngoài được xem là “phản quốc”. Nhất là với những người có tư tưởng ra sống ở nước ngoài như chúng tôi. Chấp nhận bị đuổi việc môt cách bình thản, vợ chồng chúng tôi bắt đầu khoảng thời gian lăn lóc với đủ thứ nghề để kiếm sống và tồn tại.

Thời đó nhờ những lần đi chầu chực lãnh quà từ nước ngoài tại phi trường Tân Sơn Nhất rồi đem bán tại chợ đồ ngoại cuối đường Nguyễn Thông, tôi làm quen với nhiều bạn hàng và cả những người đi lãnh quà như tôi. Mới đầu bán đồ của mình, sau đó mua lại của những người khác, tôi bắt đầu gia nhập hàng ngũ những người mua đi bán lại. Có mặt từ sáng sớm tại phi trường, theo chân những người lãnh hàng về tận nhà, mua rồi đem ra chợ bán kiếm chênh lệch. Hàng hoá từ kẹo, bánh đến nước hoa, đồ điện tử. Thượng vàng hạ cám, bất kỳ thứ gì miễn là của Mỹ là mua, là bán. Làm cái công việc không dính dáng gì đến cái bằng cấp tốt nghiệp của mình.Chỉ cần cái miệng thật dẽo, thật trơn tru. Một đôi khi nhớ lại những ngày tháng trước Năm 1975, thấy mình thật nhiều thay đổi. Cái hiền lành chơn chất thuở nào như không còn nữa. Thật buồn, thật tiếc nuối.

Cũng may, tôi vẫn còn duy trì lớp dạy sửa chữa Radio TV tại nhà vào buổi tối. Đó là thời khắc vui nhất trong ngày của tôi. Ít nhất là lúc đó tôi còn thấy mình còn có ích, còn giống đứa con của ba mẹ thuở nào. Lớp ít học sinh nhưng tôi đã giảng dạy một cách say sưa…

Trong những năm giữa thập niên 80, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện hàng điện tử second hand. Đây là những mặt hàng điện tử như Tivi, tủ lạnh, Radio cassette hư cũ đã qua xử dụng được các thủy thủ tàu Viễn dương đem về bán lại. Các tàu chở hàng đậu ngoài cảng xa. Mỗi khi có hàng về, chúng tôi đi từng nhóm dùng thuyền nhỏ cặp ra tàu lớn mua lúc từ 5 đến10 cái. Dĩ nhiên đây là buôn bán “trái pháp luật nhà nước”. Bị bắt thì hàng bị tịch thu, phạt tiền và ở tù. Nhưng nếu thoát được thì kiếm tiền nhiều. Đem về sửa lại rồi đem ra chợ bán.Thời đó có ăn nhất là chuyển hệ TV để xem hình có màu trên TV. Dĩ nhiên không đẹp và rõ như bây giờ nhưng thời đó là cái mốt của các “cán bộ” miền Bắc có tiền. Chợ trời điện tử Huỳnh Thúc Kháng hình thành và lớn mạnh trong khoảng thời gian đó. Sau đó là một loạt các chợ trời Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Chợ Lớn được thành hình giúp những người có một chút tay nghề về điện tử như tôi sống sót và tồn tại.

Nhưng cũng chỉ một thời gian. Lúc đầu, buôn bán rất khá, lợi nhuận cao, sau đó càng ngày càng khó khăn khi mà có nhiều tay trùm có quá nhiều tiền nhảy vào. Họ không mua từng 5-10 cái như chúng tôi mà họ mua nguyên cả tàu khi vừa cập cảng. Những tay trùm cán bộ có thế lực và có rất nhiều tiền. Họ có quan hệ và quyền lực mà những người ít tiền như chúng tôi không cạnh tranh nổi. Phải là con ông cháu cha. Phải đợi chia lại hàng từ những trùm lớn hơn. Đôi khi phải qua trung gian 2,3 cấp. “Chất lượng” hàng cũng kém đi rất nhiều.

Bỏ nghề điện tử, nhảy qua buôn trầm từ Đà Nẵng về Saigon. Nói là buôn trầm cho oai chứ mình làm gì có tiền nhiều như thế. Thường chỉ ra Đà Nẵng nhận trầm từ ngươi quen, đem vào Sài Gòn giao cho mối, ăn tiền chênh lệch. Đi đuợc chục chuyến có lời dù cũng rất vất vả. Lúc thì lăng lóc trên xe đò khi thì la lết trên tàu chợ nam bắc. Tôi càng ngày càng ốm nhom ốm nhách. Mặt mũi đen thui. Chỉ lạ một điều là thời đó dù đi nhiều, tôi lại rất ít gặp người quen, bạn bè. Nếu có gặp, bạn bè chắc cũng không nhận ra chàng Kỹ sư hiền lành chơn chất trắng trẽo thư sinh thuở nào.

Đi thoát được khoảng chục lần, đến lần thứ 11 thì tôi bị “Quản lý Thị trường” bắt. Trầm bị tịch thu, riêng tôi bị giam tại Công an Quảng Ngãi. 2 ngày trong trại tạm giam tôi đã suy nghĩ thật nhiều về những ngày tháng đã qua trong cuộc đời. Hình như tôi đã thay đổi quá nhiều, không còn là tôi của năm xưa. Cái được thì quá ít, cái mất đi thì quá nhiều..... Tôi cay đắng nhận ra rằng nếu tôi không dừng lại, tôi cũng sẽ mất tôi vĩnh viễn trong một thế giới không thuộc về tôi. Một thế giới bụi bặm, luờng gạt và xảo trá khác xa với thế giới ngày tôi sinh ra, lớn lên. Tôi biết, ba ở một nơi nào đó đã rất buồn.

Bỏ nghề buôn bán, bỏ qua ý tưởng làm giàu nhanh chóng, tôi quay lại nghề dạy điện tử của mình. Vẫn là nghề phù hợp vói mình nhất. Dù không có nhiều tiền nhưng 1+1 là 2 thì vẫn dễ hơn là 1+1=3. Vẫn là vợ tôi bên cạnh trong những thời khắc khó khăn với những an ủi và chia sẻ. Nàng luôn ủng hộ tôi trong những quyết định quan trọng và chúng tôi có đứa con thứ nhì. Con gái. Tôi thầm nghĩ, ba đã cầm tay, dẫn dắt tôi bắt đầu làm lại.

Năm 1988, gia đình được gọi đi phỏng vấn ở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài gòn. Với giấy tờ đầy đủ, hợp lệ cuộc phỏng vấn đáng lẽ đuợc diễn ra một cách nhanh chóng đột nhiên bị dừng lại khi có phái đoàn cấp cao từ Thái Lan ghé thăm, lúc đó trong phòng, mẹ đang chuẩn bị trả lời. Vị trưởng đoàn có vẻ ngạc nhiên khi đọc hồ sơ của gia đình, nhất là chuyện liên quan đến ba tôi, người Sĩ quan Cảnh sát chết trong trại cải tạo sau 2 năm 6 tháng học tập. Ông ta có vẻ ngạc nhiên về tờ “giấy trả quyền công dân của ba tôi”. Có lẽ là lần đầu tiên ông thấy được một loại giấy tờ như vậy. Giấy trả quyền công dân cho một người đã chết.

Mẹ tôi vừa khóc vừa kể chuyện của ba. Câu chuyện về một cái chết và một chuyến đi thăm nuôi tức tưởi đã làm ngươì lãnh đạo đoàn thanh tra ODP cảm động. Chỉ một thời gian ngắn mẹ và các em tôi được giấy chấp thuận đi Mỹ theo diện HO thay vì theo diện đoàn tụ gia đình dù rằng ba tôi ở tù chưa đến 3 năm. Tôi biết có sự can thiệp đặc biệt của phái đoàn từ Thailand và tôi thầm tin có sự phù hộ của ba. Riêng vợ chồng chúng tôi tôi ở lại vì lúc đó có gia đình và sổ “hộ khẩu” riêng.

Vài tháng sau Mẹ và các em tôi đi Mỹ. Vợ chồng chúng tôi ở lại với 2 con nhỏ và bà cô em ông nội không chồng. Cũng may nếu tôi cùng đi thì không biết bà cô sẽ ra sao. Cuộc sống sau những năm 1990 của chúng tôi ngày càng ổn định. Lúc này, ngành điện tử và vi tính bắt đầu phát triễn. Các công ty nước ngoài bắt đầu thiết lập các văn phòng đại diện và quan hệ buôn bán tại Việt nam. Tôi được tuyển vào làm việc lần lượt tại các Văn phòng đại diện của Hewlett Packard, Brother, AT&T và cuối cùng là AMP tại Việt nam.

Đó là khoảng thời gian tôi sống sung túc nhất kể từ ngày mất nước 1975. Thời kỳ này, tôi sống và làm việc đúng với khả năng, với kiến thức từ khoa điện trường đại học Phú Thọ. Nếu không có thời kỳ này, nếu không có những công ty nước ngoài, có lẽ suốt đời, tôi đứa con một Sĩ quan Cảnh sát chế độ cũ, đã sống một cách tối tăm và mất hút đâu đó trên chính quê hương đen tối của mình. Vào những năm 90, tiền lương 700 usd của là một con số không nhỏ nêu không muốn nói là lớn. Quan trọng hơn, đó là khoảng thời gian tôi được tiếp xúc với thế giới bên ngoài qua những chuyến đi học tập ngắn ngày tại Singapore, Thailand, Malayia, Indonesia, và Philipine.

Đi học và về, tôi liên tục tổ chức các buổi hội thảo giới thiệu các sản phẩm và công nghệ mới của HP. Brother, AT&T và AMP tại Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng... Tên, hình ảnh tôi được đăng trên báo. Ra đường tôi đã có quyền ngẫng cao đầu. Ba tôi chắc chắn đã rất sung sướng, tự hào về tôi. Một khoảng thời gian hạnh phúc và có ích. Tôi đã tìm lại chính con người thật của mình.

Năm 1998, tôi được chấp thuận đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình. Bấy giờ tôi đã có 3 đứa con với cuộc sống rất ổn định, sung túc. Những chuyến đi nước ngoài thường xuyên. Có nhà riêng. Con đầu đang học Đại học. Mọi chuyện suông sẻ, thuận lợi. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Đi hay ở. Một quyết định không dễ dàng. Với tuổi gần 50 làm gì nơi đất khách quê người. Đã quá già để làm lại từ đầu... Xin hoãn ngày đi 3 tháng rồi cũng đến lúc phải quyết định, nếu không hồ sơ sẽ được xếp lại. Cơ hội đi đoàn tụ sẽ không còn. Phải từ bỏ tất cả thật sự là một quyết định quá khó khăn. Và còn mộ ba ở đây nữa, ai lo? Phải, có rất nhiều lý do để ở lại, không đi. Đã nhiều lần đứng trước bàn thờ ba, mong ba một lời khuyên. Đi hay ở. Quá khó.

Cuối cùng tôi chọn giải pháp ra đi. Không phải vì vợ chồng riêng tôi mà vì gia đình, vì mẹ, vì các em, vì tương lai các con của tôi và vì lời hứa với ba, “Mãi mãi thay ba vì cái gia đình này”. Tôi biết những ngày sắp đến tôi sẽ phải bắt đầu trở lại một cuộc phiêu lưu mới. Sẽ không dễ dàng với một người quá tuổi như tôi trên một đất nước hoàn toàn lạ lẫm và quá xa xôi. Nhưng tôi sẽ không bao giờ hối hận về quyết định của mình. Cũng còn một lý do thật sâu kín không ai biết ngoại trừ vợ tôi: Vết thương mất cha ngày nào trong “trại học tập cải tạo”mãi mãi không lành.

Mỗi lần nhìn những tay Công an, những “Cán bộ”
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 21 2017, 02:22 PM
Gửi vào: #105


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tình yêu đẹp

Vài năm trước, mỗi ngày đi làm, Jim đều được ông Jake, một người hàng xóm đã cao tuổi đưa cho một tờ tiền mặt 5 đôla. Ông nhờ Jim ghé qua một quán cà phê trên đường để mua hộ ông một gói cà phê có giá 4 đôla.

Thói quen này của ông Jacke đã duy trì đến mấy năm nay rồi. Và để đáp trả lòng tốt của Jim, ông Jake sẽ nhận làm cỏ, tỉa cây trong vườn nhà anh ấy.
Sau một thời gian lâu, bà chủ quán cà phê cũng đã quen với Jim. Bà ngày nào cũng chuẩn bị một gói cà phê và một đồng đô la tiền lẻ để trả lại.
Đôi lúc, Jim cũng rất tò mò và hỏi ông Jake: “Cà phê có hạn sử dụng rất lâu, tại sao ông không mua một lần nhiều nhiều một chút?”
ông Jacke lắc đầu và cười nói: “Không, tôi thích như thế này hơn, mỗi ngày một gói cà phê mới tốt.”

Có một lần, Jim vội vã tới nhà bạn để tụ tập cùng bạn bè nên anh liền mua cà phê ở tạm một cửa hàng khác.Không ngờ, ông Jake khi nhận được cà phê dù còn chưa mở ra đã nói: “Đây không phải loại cà phê mà tôi muốn.”
Jim cảm thấy bất ngờ, anh liền thử mấy lần sau đều mua ở nơi khác, nhưng dù cà phê đã được đóng gói y như vậy, mà ông Jake chỉ liếc mắt qua đã phát hiện ra rồi.
Từ đó, Jim không còn thử ông nữa.
Mấy năm sau, sức khỏe của ông Jake đã không còn được tốt như trước đây. Nhưng hàng ngày ông vẫn đều nhờ Jim mua cho mình một gói cà phê. Mỗi lần khi đưa 5 đôla cho Jim, hai ánh mắt của ông lại chất chứa đầy sự chờ mong.

Cho đến một hôm, khi Jim lại sang nhà ông Jake mua cà phê giúp ông.. Ông Jake sức khỏe suy yếu nằm trên giường bệnh đưa tay ra, rồi nhẹ nhàng cầm tờ một đôla và hỏi Jim: “Thời gian lâu như vậy, chẳng lẽ cậu không biết gì sao?”
Jim nhìn ông lão hàng xóm và lắc đầu.
Ông lão nói tiếp: “Tôi luôn luôn muốn mua cà phê ở cửa hàng đó, là vì người bán cà phê cho cậu là Elina.”

Giọng nói của ông Jake trầm xuống rất nhiều: “Bà ấy là người mà tôi yêu nhất. Năm đó, mẹ của bà ấy chê tôi là một kẻ nghèo nàn, nên đã chia rẽ chúng tôi…Tôi cũng chỉ có thể đau lòng mà rời đi. Nhiều năm sau này, vợ tôi bị bệnh qua đời, các con cũng đã trưởng thành có gia đình. Tôi đã quay trở lại nơi đó tìm hiểu và biết bà ấy bán cà phê ở cửa hàng đó. Bà ấy cũng đã sớm mất chồng. Cả hai người chúng tôi đều không quên ước định của tình yêu đầu năm xưa. Nhưng tôi không muốn quấy rầy đến cuộc sống bình yên của bà ấy, nên lặng lẽ sống ở đây. Cũng từ đó, tôi nhờ cậu mua cà phê hộ tôi.”

Jim đứng im lặng nhìn ông lão hàng xóm rồi bất chợt hỏi với vẻ khó hiểu: “Chẳng lẽ, ông chưa từng đến thăm bà ấy sao?”
Ông Jake lắc đầu.
“Năm đó, lúc chúng tôi yêu nhau thường không có cách để gặp mặt nên đã đặt ra một ám hiệu. Đó là lấy tờ một đô la gấp thành một hình tam giác, để trong một bì thư, rồi nhờ người gửi thư đưa đến đối phương, ngụ ý nói rằng mình vẫn bình an. Cho nên, mỗi lần nhờ cậu mua cà phê, tôi đều gấp tờ tiền thành một hình tam giác. Còn Elina, mỗi lần trả lại tôi tờ một đô la, bà ấy cũng đều gấp thành một hình tam giác. Cứ như thế, dù chúng tôi không gặp lại nhau nhưng đều biết người kia vẫn bình an, khỏe mạnh…Bây giờ, tôi sắp phải đi gặp thượng đế rồi, nhưng nếu Elina không nhận được tin tức của tôi, bà ấy hẳn sẽ rất lo lắng. Dưới giường của tôi có một chiếc hòm, bên trong đều là những tờ tiền tôi đã gấp thành hình tam giác rồi. Xin cậu hãy giúp tôi tiếp tục mua cà phê …Tôi xin nhờ cậu…”

Ông Jake nói xong, liền nhắm mắt lại và ra đi.
Không ngờ, trong đám tang của ông Jake, Jim đã mang đến một chiếc hòm khác. Trong chiếc hòm ấy, toàn là những gói cà phê đã được đóng sẵn và còn có rất nhiều những tờ tiền một đôla được gấp sẵn thành hình tam giác.

Vào nửa năm trước, bà Elina đã bị bệnh nặng mà qua đời. Trước khi rời đi, bà đã giao chiếc hòm này cho Jim để nhờ Jim thay thế mình chuyển lời nhắn bình an đến ông Jake….
Đây hẳn là một tình yêu đích thực!
Có thể quý trọng tất cả những người bên cạnh mình, thì đó chính là một loại hạnh phúc!

Theo Cmoney.tw
Mai Trà biên dịch
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 14 2018, 10:04 AM
Gửi vào: #106


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Mời đọc một câu chuyện của người già VN ở xứ Mỷ.



Xế Bóng Cuộc Đời.

Tác giả: Phan

Hồi mới qua Mỹ, lần đầu thấy tấm bảng ghi là Estate Sale cắm ở góc đường, tôi đoán là một hình thức bán bớt đồ cũ trong nhà. Như bày bán ở garage thì gọi là Garage Sale, bày bán ở sân sau nhà thì gọi là Yard Sale, dọn nhà thì người ta bán bớt những thứ không tiện đem theo với bảng cắm là Moving Sale, còn Estate Sale… chắc cũng tương tự.

Tự dặn là về phải tra tự điển, nhưng rồi tôi quên luôn! Nhớ lại những ngày mới đến Mỹ, ra đường thấy chữ gì không hiểu thì cứ nhủ lòng về tra tự điển, nhưng bao giờ cũng quên nhiều hơn là nhớ. Cho tới một hôm tình cờ nghe cô bạn Mỹ làm chung kể chuyện, tôi mới hiểu chính xác Estate Sale là bán sạch gia tài.

Cổ kể là vợ chồng cổ mua được bộ bàn ăn thuộc loại đắt tiền, còn rất mới, nhưng với giá chỉ một phần mười giá trị thực của bộ bàn ăn đó. Cô ấy cho biết bộ bàn ăn trị giá năm ngàn đô la Mỹ, dù nó chỉ còn mới được tám mươi phần trăm nhưng nếu phải mua với giá một, hai ngàn đô la Mỹ thì cổ cũng đồng ý mua. Vậy mà vợ chồng cô ấy mua được với giá chỉ năm trăm đô la từ một căn nhà treo bảng Estate Sale.

Cô ấy phải ghi xuống giấy ngày, giờ và địa chỉ của căn nhà đó. Rồi thông báo cho chồng cô ta biết trước mấy ngày để đến đúng hôm đó, hai vợ chồng dậy sớm mà đi xếp hàng. Khi lọt được vào ngôi nhà Estate Sale, cô nhanh chóng quyết định, nhưng phải kể là may mắn nên cô đã mua được bộ bàn ăn thuộc loại đắt tiền với giá quá rẻ. Trò chuyện thêm với cô bạn, tôi mới hiểu ra Estate Sale là bán toàn bộ đồ đạc trong nhà: từ ly tách muỗng chén, đến quần áo, giường ngủ, tủ trà, bệ thờ; tới cả tranh, tượng, đồ kỷ niệm…

Nhưng giá bán của Estate Sale không rẻ như Garage Sale, Yard Sale hay Moving Sale vì không phải là đồ thừa trong nhà. Lý do bán hết các thứ trong nhà vì chủ nhà phải vô viện dưỡng lão chẳng hạn; những người già neo đơn ấy không có thân nhân để có thể cho lại, nên họ bán hết, bán sạch, với giá cao hơn bán đồ cũ, đồ thừa của Garage Sale, Yard Sale hay Moving Sale… Người Mỹ đi Estate Sale như đi hội chợ, nhất là Estate Sale ở những khu nhà giàu. Ngay từ sáng sớm thiên hạ đã xếp hàng ghi tên, xe đậu dài hai ba "block" đường. Tới giờ mở cửa, người ta tranh nhau mua. Sau đó bưng bê nườm nượp, náo nức như được chia của.

Câu chuyện về Estate Sale như một hiểu biết thêm về đời sống Mỹ trong đầu óc mới tới định cư của tôi. Rồi thời gian và cuộc sống cá nhân quay cuồng theo cơm áo gạo tiền nên chả nhớ gì tới Estate Sale nữa. Cho tới một sáng cuối thu, dù đã 7 giờ nhưng mặt trời còn chưa ló dạng. Không gian yên ắng tới nỗi chỉ nghe mỗi tiếng đồng hồ tích tắc trên tường. Ngoài cửa sổ, sương còn phủ ngọn đồi sau nhà mờ ảo màu lá vàng phai. Không gian đẹp nhưng buồn quá, nhất là cái lạnh đã len lỏi về trên những ngón tay cảm giác điêu tàn. Tôi đi thay quần áo để lên đường, đi giúp một ông bạn già. Hôm nay ổng bán Estate Sale.

Tuy hẹn 9 giờ nhưng tôi đi sớm để có thời gian ngồi uống với ông bạn bình trà, bởi tôi nghĩ hôm nay có thể là lần cuối tôi gặp ông ấy. Nhớ lại, tôi quen biết ông chừng năm, bảy năm trước ở trung tâm sinh hoạt cao niên trong thành phố. Bữa đó chính ông đã đến bắt tay tôi trước, hỏi tôi có phải là Phan mà ông thường đọc đó không? Tôi có cảm tình ngay với một người lớn tuổi, hiền lành, đôn hậu. Tình thân chưa có nhưng lòng cảm mến thì nhiều, tôi cho ông số điện thoại để tiếp tục nói chuyện vào dịp khác bởi tôi đang bận với một cuộc phỏng vấn…

Rồi tình thân nảy nở sau những lần ông mời tôi đi uống cà phê, rất thỉnh thoảng, nhưng ông thực sự có hiện diện trong tôi như một người bạn mà tôi thường tự trách là ít thăm hỏi ông, hay mời ông đi uống nước. Giao tiếp với người già chỉ mất ít thời gian mà được lợi rất nhiều về kiến thức và kinh nghiệm sống. Biết thế, nhưng khi có thời gian rảnh thì tôi vẫn đi chơi với bạn trẻ nhiều hơn. Chỉ khi cần hỏi, là cần tới người già thì tôi mới nhớ tới ông, gọi ông, mời ông đi uống ly cà phê…

Tôi là một con người hiện đại qua cách tìm thông tin là biết hỏi ai; và ông bạn già là người thuộc thế hệ cũ sẵn sàng cho không kiến thức, kinh nghiệm tích lũy cả đời. Sự cho và nhận co giãn theo tuổi đời thì tôi co ông giãn. Đó là ý nghĩ hôm trời mới chớm thu, tôi gọi ông, mời ông đi uống ly cà phê vào một sáng cuối tuần. Hôm đó, tôi không có gì để hỏi ông mà chỉ là bỗng nhớ tới một người bạn mà quỹ thời gian của người đó không còn nhiều nên tôi dành thời gian rảnh rỗi cho ông. Hôm đó ông nói với tôi là “Anh cũng đã già...”. Tôi tin nhận xét của ông vì tôi đã vừa từ chối bạn bè trang lứa rủ nhau đi nông trại của một người bạn từ sáng sớm để hạ một con dê và nhậu tới chiều. Chắc chắn là một cuộc vui nhưng rồi cuộc vui nào cũng tàn. Bạn bè chưa già thì còn dịp khác để gặp. Nhưng ông bạn già hiu hắt như gió thu, hôm tình cờ gặp nhau ngoài chợ, lòng tôi bất an sau khi chia tay…

Hôm đầu thu đó, hỏi thăm ra mới biết, vợ ông đã qua đời hồi hè. Bà đi thăm con gái với cháu ngoại bên Cali, bị đột quỵ và mất luôn ở bên ấy. Ông muốn đưa bà về Dallas để lo ma chay vì bà đã sống ở Dallas mấy chục năm. Nhưng người con trai sống ở Dallas thì lại muốn em gái lo ma chay cho mẹ bên Cali cho tiện. Cái lý anh ta đưa ra là chết ở Mỹ thì lo ma chay ở đâu cũng chỉ là cái nhà quàn như nhau. Tôi chỉ quen biết ông như một người viết và một độc giả, chưa bao giờ tôi uống với ông một ly bia vì ông không rượu bia, không thuốc lá. Nhưng hôm đầu thu đó, ông tự tay mượn điếu thuốc đang cháy dở trên tay tôi; ông hút một hơi thuốc thật sâu, rồi trả lại. Tôi sợ ông sặc, nhưng ông đã không sặc.

Ông nhả khói chậm rãi và chìm vào tâm sự: “Tôi chưa bao giờ nói với anh, cũng không nghĩ tới chuyện nói với ai. Nhưng nỗi buồn trong tâm khảm tôi lớn dần như mầm bệnh ung thư tới hồi bộc phát. Tôi biết là trước sau gì cũng chết, tôi không sợ chết, chỉ buồn lòng người làm cha mà không biết dạy con mình. Vợ chồng tôi chỉ có hai người con. Lo được cho thằng lớn ăn học tới ra đại học không phải nợ tiền học đồng nào. Nó đi làm, lãnh lương cất riêng vào trương mục nhà băng của nó. Ngày ngày vẫn về nhà ăn ở, cha mẹ lo. Nó cho đó là lối sống Mỹ và nó chọn cách sống ấy. "Cha mẹ đừng tọc mạch vào thu nhập của con cái". Nhưng khi nó muốn lấy vợ thì nó chọn lối sống của người Việt là dù sống ở đâu trên địa cầu thì chuyện cưới hỏi của con cái, cha mẹ người Việt cũng đứng ra lo cho con. Thế là vợ chồng tôi lo cưới vợ cho con trai.

Tôi không lấy gì làm buồn lòng vì cha mẹ tôi cũng đi cưới vợ cho tôi khi xưa. Nhưng rồi con tôi muốn mua nhà. Nó trình bày với vợ chồng tôi là nó mua nhà trăm rưỡi, cần mượn nhà băng một trăm ngàn, nếu trả trong ba mươi năm thì tổng số tiền nó phải trả cho nhà băng lên tới ba trăm ngàn. Nghĩa là một trăm ngàn vốn với hai trăm ngàn tiền lời trong ba mươi năm. Nó muốn cha mẹ giúp đỡ cho nó mượn một trăm ngàn để nó trả dứt căn nhà ngay khi mua, không phải trả tiền lời cho nhà băng. Nếu nó phải trả số tiền ba trăm ngàn trong ba mươi năm, thì mười năm cho một trăm ngàn. Nó sẽ trả cho cha mẹ một trăm ngàn trong mười năm là khả năng có thể.

Tôi bắt đầu thất vọng về con trai tôi. Vì gom hết tiền 401-K của cha mẹ thì đủ một trăm ngàn cho nó mượn. Vợ chồng đã về hưu thì tiền già gói ghém cũng đủ sống, nhưng tiền đâu lo cho con em nó còn trong đại học để khỏi mượn nợ? Tôi suy nghĩ nhiều đêm và chợt nghĩ đằng nào cũng mất con rồi! Đó là cái giá phải trả cho mưu cầu tương lai của con cái. Tôi đưa nó đến Mỹ chứ tự nó đâu đi một mình được. Tôi sinh ra nó chứ nó đâu tự xuất hiện trên đời này được…



Nhưng tôi thất bại trong chuyện dạy nó sống đùm bọc với người thân. Tôi có lỗi đã để nó hấp thụ lối sống ích kỷ của xứ sở này. Đằng nào tôi cũng mất con rồi. Nếu đồng ý cho nó mượn một trăm ngàn không tiền lời là tôi đã thẳng thắn nhìn nhận mình thua cuộc; không bao giờ dạy được con quay lại lối sống đùm bọc nhau của người Việt mình nữa. Nhưng từ chối nó… thì tôi mất luôn vợ! Vì mẹ nào chả thương con, thương càng mù quáng tình mẫu tử càng lên ngôi.

Nó trả lời cho tôi câu hỏi: “Tiền đâu để lo cho em nó?”. “Thì ba mẹ lấy tiền con trả hàng tháng để lo cho nó”. Tôi định hỏi câu hỏi quan trọng nhất theo kinh nghiệm của tôi là: “Nhưng con có chắc là con sẽ trả cho ba mẹ hàng tháng, hay trả vài tháng… rồi quên luôn?”. Tôi thương vợ tôi nên đã cho con trai tôi mượn một trăm ngàn. Vợ tôi mất tinh thần nhiều năm sau đó vì đúng là nó không trả.

Nhưng chúng tôi được trời phật cho lại đứa con gái muộn màng nhưng hết mực hiếu thảo. Nó là nguồn an ủi, niềm vui còn lại cho vợ chồng tôi. Lúc nào nó cũng vui vẻ nói là ba mẹ chết rồi thì tài sản cũng để lại cho anh em con thôi. Anh Hai cần trước thì anh Hai lấy trước. Ba mẹ đừng có giận anh Hai nữa, chỉ tổn hao sức khỏe cho ba mẹ thôi. Còn con, nợ học thì ai đi học ở Mỹ mà không nợ. Chừng con ra trường thì con trả. Ba mẹ đừng lo nữa.

Con bé lạc quan nói sao làm vậy. Về sau, nó lấy chồng bên Cali nên về Cali sống. Vợ tôi muốn bán nhà, dọn về Cali ở với con gái thì thằng con trai không cho đi vì bà nội phải ở Dallas để trông con cho vợ chồng nó đi làm… Đến cái chết đột ngột của mẹ nó. Tôi muốn đưa bà ấy về Dallas để lo ma chay vì bà ấy sống ở đây đã như là quê hương. Nó ngại tốn kém nên lý lẽ bất dung tình với cả cha mẹ. Tôi không buồn sao được anh…”.

Ôi, cái hôm đầu thu đó! Nhớ lại sao mà buồn. Và tại sao lại có hôm nay, tôi đến giúp ông bạn bán Estate Sale, bán hết gia tài một lần để giã biệt. Buổi chiều cuộc đời như không gian thu tràn ngập lá vàng bay, những nảy nở mùa xuân, khoe sắc hạ, thu úa, đông về…

Ông bạn già có sống tới trăm tuổi thì mùa thu thứ một trăm của cuộc đời cũng phải rời bỏ ngôi nhà không cần bật đèn giữa nửa đêm cũng biết lối đi; bán bỏ cả cái thìa khuấy ly cà phê mỗi sáng mà người gia chủ chắc là khuấy ly cà phê bằng cái thìa khác sẽ không ngon. Rồi bức tranh mua Garage Sale có vài đồng bạc hồi mới qua Mỹ, nhưng không có nó trên tường nhà thì cứ tưởng mình đang ở chơi nhà bạn, hay nhà bà con chứ không phải nhà mình; đến tiếng cái đồng hồ nhà mình cũng khác hẳn tiếng đồng hồ nhà khác mà chỉ có mình phân biệt được… lại còn nắm đất quê hương trên bàn thờ hồi ra đi mình mang theo để nhớ đường về. Nhưng nó nằm im lặng đã bốn mươi năm. Bây giờ người đem nó đi còn gửi lại nắm xương ở quê người thì nắm đất quê hương ấy trở thành oan nghiệt.

Cho không ai lấy, bán chẳng ai mua, mà ném qua cửa sổ thì hóa ra mình đã biến thành thú vật. Tôi ứa nước mắt trên tay lái, làm sao ông bạn tôi có thể sống sau hôm nay khi chính tay tôi bán hết những gì đã gắn bó với ông cả đời. Tôi, chính tôi, đã tiếp tay thần chết sớm bắt ông rời bỏ thói quen và kỷ niệm; rồi rời bỏ tới người thân; cuối cùng là rời bỏ cuộc đời… Nhưng nhớ lại tâm sự đầu thu của ông, ông đi dự đám tang của vợ bên Cali như người quen biết cũ, mấy chục năm vợ chồng còn lại cái trống không trong lòng già. Con trai ông đi dự đám tang của mẹ dửng dưng đến mức lúc về, anh ta nhắc ông là ba phải làm di chúc căn nhà lại cho con, vì ba đi đột ngột như má thì chính phủ lấy nhà…

Tôi nghĩ chắc anh ta không chỉ muốn lấy căn nhà đã trả hết mà muốn lấy luôn cả phần bảo hiểm nhân thọ của cha nên mới chọc giận ông đúng thời điểm tinh thần và thể lực của ông suy kiệt nhất sau mấy ngày đám tang bên Cali. Tôi biết anh ta và từng gặp mặt vì Dallas đâu có mấy nhà hàng của người Việt. Anh là ai trong gia đình lớn của anh, gia đình nhỏ của anh, trong xã hội anh đang sống… tôi không quan tâm tới địa vị hay tên tuổi của anh ở địa phương. Tôi chỉ biết là tôi đã có lỗi với một người không có lỗi gì với tôi là anh. Tôi đã đồng tình với ý kiến của con gái ông, dù chỉ nghe ông kể.

“… con còn phải đi làm và lo lắng cho gia đình con. Con không thể chăm sóc cho ba mỗi ngày như má. Nhưng má mất rồi thì ba không thể ở một mình. Ba có chuyện gì, không ai biết, không ai hay… làm sao con yên tâm. Con xin ba giao hết nhà cửa cho anh Hai muốn làm gì làm. Ba về Cali với con. Ba phải ở viện dưỡng lão vì con không thể và không có thời gian để lo cho ba như má. Nhưng vài hôm con sẽ ghé thăm ba một, hai tiếng đồng hồ; con nấu được gì ngon, con đem vô cho ba ăn. Ba có chuyện gì, người chăm sóc cho ba sẽ báo ngay cho con, con vô ngay với ba…”.

Tôi có tào lao lắm không khi không lên tiếng về chuyện nhà người khác? Tôi nói với ông hôm đầu thu: “Chia buồn với ông về sự mất mát người thân nhất của ông mà tôi không biết, cho dù ông có cho hay thì tôi chắc cũng không có điều kiện bay qua Cali để viếng tang của bà. Thôi thì ngày nào còn sống hãy tính chuyện đời cho xong để êm xuôi khi ra đi. Ông bà đã giúp con trai không phải nợ tiền học. Tôi tính nhanh là đã cho anh ta năm chục ngàn. Ông bà cho anh ta mượn một trăm ngàn mua nhà và không hoàn lại. Vậy là ông bà đã cho con trai một trăm năm chục ngàn. Bây giờ ông bán căn nhà mà ông đang ở cũng cỡ một trăm năm chục ngàn. Số tiền đó cho hết con gái là công bằng với con cái. Ông về Cali sống với đề nghị của con gái là hoàn toàn hợp lý.

Số tiền bảo hiểm nhân thọ của vợ ông, gửi con gái để lo cho ông những ngày cuối đời. Thừa thiếu gì thì tôi tin là con gái ông không tính toán với ông. Còn phần bảo hiểm nhân thọ của ông thì di chúc lại cho con gái. Nhưng chỉ nhờ cô ta quản lý số tiền đó để về sau chia đều cho hết cháu nội, cháu ngoại của ông bà. Cứ đứa nào vô đại học thì được nhận một khoản tiền do ông bà để lại cho con cháu ăn học. Tôi biết, với đà lạm phát và trượt giá ở nước Mỹ thì số tiền học bổng miễn hoàn lại cho con cháu sẽ không nhiều, nhưng rất có ý nghĩa về mặt tinh thần với đời thứ ba của gia đình ông trên nước Mỹ…”.

Câu chuyện đầu thu mới đó mà đã cuối thu rồi! Ông bạn tôi đúng là người độ lượng như tôi đã tin ông như thế! Ông giao căn nhà cho con dâu để cho mướn kiếm thêm tiền chợ cho cháu nội ông được sống sung túc hơn. Ông di chúc lại căn nhà cho con dâu của ông chứ không bán. Giấy tờ xác quyết là tài sản riêng của con dâu, “để nhỡ… vợ chồng con xảy ra chuyện bất trắc gì sau khi ba mất, thì ba mẹ chỉ giúp được con một chỗ ở để nuôi mấy đứa cháu nội của ba mẹ. Cảm ơn con”.

Ông cho hết con gái khoản tiền bảo hiểm nhân thọ của mẹ cô ấy. Ông nghe tôi về khoản tiền bảo hiểm nhân thọ của ông. Ông chỉ còn giữ lại hàng hà kỷ niệm trong từng đồ vật mà tôi đang bán cho những người không quen biết. Thế nên mắt ông lạc thần trông theo từng kỷ niệm vĩnh biệt ông lần cuối khi bước ra khỏi cửa một mái ấm gia đình đã tới hồi kết. Đó là buổi sáng một ngày cuối thu mà tôi sẽ không bao giờ quên với hình ảnh một người đàn ông biệt xứ lúc cuối đời, tay khép lại cánh cửa nhà mình lần cuối, bình thản nói: “Thôi, mình đi nghe em…”, là di ảnh của bà mà ông kẹp ở nách để khóa cửa ra đi...


Ngoài đường, những trang trí cho ngày lễ Halloween đã lên đèn dọc lối đi. Tôi nhìn ông thả bộ ra xe mà thấy một kiếp người đến với cuộc đời cách nay tám mươi năm, chỉ có tiếng khóc là gia tài thì hôm nay là món cuối cùng Estate Sale. Ông trầm ngâm buổi sáng, thở dài buổi trưa, rồi ngấn lệ buổi chiều theo từng kỷ niệm vĩnh biệt ông ra đi. Nhưng cuối ngày ông lại mỉm cười với di ảnh vợ lúc khóa cửa. Cái nháy mắt tinh nghịch của ông với di ảnh bà là bằng chứng ông đến với cuộc đời này bằng một tiếng khóc nhưng khi ra đi ông đã đem theo một người tình.


Tôi nhìn theo ông ấy tan vào màn đêm phủ về. Nhìn lại mình sau một ngày tiếp tay thần chết, nách tôi kẹp chai rượu thần chết thưởng cho tôi nhưng quân sĩ của thần chết đã giao lộn vào nhà một người không uống rượu nên phải nằm chờ tới Estate Sale này. Tới Estate Sale của tôi, cũng là kinh doanh từ vốn liếng là tiếng khóc chào đời, tôi sẽ kẹp nách mang theo được gì lúc ra đi? Chỉ biết chai rượu thường nhưng để lâu năm cũng ngon như nước cam tuyền… từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau. Đâu đó là thơ Bùi Giáng. Uống xong ly rượu cùng nhau / Hẹn rằng mãi mãi quên nhau muôn đời… Khi hiểu được thơ Bùi Giáng thì cuộc đời coi như đã tàn thu. Còn bạn?


Phan.

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 24 2018, 03:25 PM
Gửi vào: #107


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Nín đi ông nội...


“Á… ách…chù…ù! … Ách…xù!... Ách…”

Ông Khiêm nhẩy mũi liên tục mấy cái. Làm như môi trường chung quanh cũng đồng lõa tiếp tay với nỗi buồn bực sẵn có trong lòng mà hành hạ, quấy rầy cái thân già lẻ loi thui thủi của ông cho đến nơi đến chốn vậy. Mỗi năm cứ vào đầu Xuân, trong vườn sau nhà ông đủ loại hoa nở rộ cũng chính là lúc ông khổ sở nhất vì chứng dị ứng với phấn hoa. Lúc con trai ông còn ở nhà cứ nhằn ông sao trồng quá nhiều hoa để cho không khí kém trong lành. Nó đâu biết rằng mỗi loại hoa nở vào từng mùa khác nhau - đặc biệt là dịp Tết - có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với ông. Đó là vì ông vốn là người luôn thích sống theo thói quen xưa, lề lối cũ, luôn giữ đúng lễ nghĩa, đạo đức, bảo vệ nề nếp, gia phong và tập quán cổ truyền một cách cực đoan, cố chấp. Thêm vào tuổi tác cao cũng góp một phần ảnh hưởng đến sự bảo thủ, tư duy, khó chấp nhận những đổi thay đồng thời tạo nên sự cản trở khó khăn cho việc hội nhập và thích ứng với đời sống mới trên xứ người của ông.

Công việc vườn tược gần như chiếm hết thời giờ trong ngày của ông Khiêm. Mùa Đông ông chăm sóc từng gốc magnolia tím, hoa đào quince, tâng tiu từng giò thủy tiên, vun xới mấy khúm cúc đủ màu. Ông trân quý từng cụm jasmine mùa đông* mà ông dùng thay thế cho hoa mai vàng ở quê nhà và cố sao cho chúng trổ hoa vào đúng thời điểm Tết thôi. Rồi những chậu lan bướm đủ màu sắc nữa, chúng là bậu bạn của ông trong những ngày tháng lạnh lẽo. Vào tháng Hai tháng Ba ông có nào hoa mận plum, hoa đào lông peach, đào trơn nectarine, hoa táo, hoa lê, hoa trà camelia cùng đám lan đất với những ngồng cao mang hai hàng bông to rực rỡ. Đến tháng Tư ông lại có mấy gốc anh đào Cherry Blossom, hoa hồng rose đủ màu, rồi hoa Tử Đằng Wisteria nở rộ tím và thơm ngát, hoa đỗ quyên Azalea pha sắc, hoa tuyết Snowball trắng nuốt nuột.... Ôi thôi, kể hoài không hết tên các loài hoa nở quanh năm trong vườn nhà ông. Và rồi chính vì thế mà ông luôn bận rộn quanh năm suốt tháng, làm quần quật cả ngày không hết việc. Nhờ thế mà ban ngày ông quên khoắng đi nỗi buồn cô quạnh, ngày dài đìu hiu cuối đời; tạm gác một bên cái buồn xa con cứ đeo đẳng bên lòng và cái tuổi tác nó cứ leo thang vùn vụt mà lại ngược chiều với sức bền bỉ dẻo dai của cơ thể ông. Có lúc ông cũng cũng thấy cơ thể mỏi nhừ tử chứ, đau đớn chỗ này, nhức nhối chỗ nọ, nhất là cái lưng dạo này hành hạ ông thường xuyên hơn. Nhưng ông vẫn không màng quan tâm đến, vì ông cần một giấc ngủ mê mệt thiếp đi lúc đêm về. Ông tự nhủ: cứ ngủ đêm đến sáng là sẽ khỏe lại ngay. Và ông tiếp tục miệt mài trong thú đam mê hoa lá và cây kiểng của mình. Thế mà cứ mỗi khi quanh quẩn bên chúng vào lúc bông nở rộ đẹp nhất thì ông không sao tránh khỏi bị ngứa ngáy mắt, mũi, tai, cuống họng và nhảy mũi liên miên. Thoạt đầu ông còn chịu khó đi Bác sĩ lấy thuốc uống ngừa. Lâu dần ông lười rồi cứ để vậy chịu trận. Ông bảo để cho cơ thể quen dần, cũng chẳng chết ai. Thế mà… thế mà…

”Ách… xi… i… xì!” Lại nữa, ông phàn nàn. Thế mà… lâu nay nó có chịu quen đâu!
“God bless you.” Bên kia rào nhà ông có tiếng non nớt của trẻ con nói vói sang.
“Thank you.” Ông cũng vội vàng đáp lễ theo phép lịch sự.

Chủ cũ ngôi nhà sát cạnh nhà ông trước kia đã dọn đi cả nửa năm rồi. Nhà để trống cho đến bây giờ mới có người mới dọn vào được vài hôm. Theo như sự tò mò, xoi mói của ông Quỳnh - bạn ông - thì hình như chỉ thấy có một người đàn bà và hai đứa trẻ. Ông nghe vậy thì biết vậy thôi, chẳng để ý làm chi. Đến nay nghe tiếng trẻ con ông độ chừng là bé gái chỉ khoảng 5 hay 6 tuổi là cùng. Có lẽ gia đình hàng xóm mới là cặp vợ chồng hãy còn trẻ.
Ôi chao! Cái cổ của ông sao mà nó ngứa khốn ngứa khổ thế này. Ông phát ho lên mấy tiếng cho thông cuống họng. Bên kia rào lại vọng lên tiếng trong trẻo, non nớt và đãi nhựa kéo dài:

“Are you O.K… ê… ế…?” Giọng như săn đón, lo lắng và dễ thương làm sao!
“Yes, I am OK. Thank you.” Ông Khiêm mỉm cười và trả lời.
“Where is your mom?”

Bây giờ thì ông thật sự bật cười thành tiếng vì đứa bé này có sự ân cần, quan tâm cho người khác đến hay.

“I am an old man and I don’t need my mom.”
“Oh!”

Sau tiếng “oh” như trút được nỗi lo âu thì ông nghe có tiếng kéo lê vật nặng nề một cách khó khăn. Rồi một cặp mắt tròn xoe với khuôn mặt bầu bĩnh, xinh xắn, đẹp như tiên đồng ngọc nữ nhô lên khỏi hàng rào, vẫy vẫy tay về phía ông.

“Hello! Oh! Oh! You look like my Gran Pa. Sonny! Get up here. Look at him. See? See?

Con bé này thật lanh lợi, nói không ngừng miệng. Nó đi xuống và ông nghe lục đục một lát thì một đứa bé trai kháu khỉnh lại cố rướn đầu nhìn sang bên ông nhưng cứ bị thậm thụt vì còn quá thấp. Bây giờ thì đến phiên ông Khiêm đâm lo lắng, sợ chúng bị té lỗ đầu gẫy cẳng. Ông lật đật chạy đến bên rào để chúng nhìn ông cho rõ và trả lời mấy câu hỏi tò mò, ngây thơ của chúng. Chúng cứ quả quyết là ông giống y ông nội của chúng trong hình. Thằng bé Sonny thì bảo râu của ông giống râu ông nội nó. Đứa con gái tên Annie thì chỉ vào kiếng ông đang mang và bảo kiếng của ông nó cũng như vậy đó. Ông phải phì cười và giảng giải cho chúng là những người già đều có điểm chung là để râu và mang kiếng. Cuối cùng ông bảo chúng vào trong nhà vì ông bận việc nên không ở ngoài sân nữa.

“Can I call you ‘Gran Pa’?” Chúng vâng lời ông, nhưng trước khi đi còn ngoái cổ hỏi.
“If it’s OK with your mom.”

Ông trả lời cho qua chuyện rồi thong thả đi vào với một thoáng lâng lâng, nhẹ nhàng và háu hức như đứa trẻ vừa được quà. Dường như có một cái gì là lạ vừa mới len lỏi vào con tim nguội lạnh, khô cằn của ông. Có tiếng reo vui lào xào từ khóm hoa, ngọn cỏ đang đuổi theo sau lưng. Mùi hương tổng hợp của hoa Xuân thoang thoảng quyện bước chân ông vào đến tận trong nhà.

Đã lâu rồi, từ khi thằng con trai bỏ đi, ông chưa bao giờ có được giây phút vui vẻ như chiều hôm nay. Hai đứa trẻ con nhà hàng xóm mới dọn tới thật dễ thân thiện và đáng yêu làm sao. Những đứa trẻ sinh đẻ trên xứ người hình như dạn dĩ và niềm nỡ hơn trẻ ở xứ mình. Giá ông có được mấy đứa cháu nội bên cạnh thì hẳn giờ này chúng cũng lớn chừng này và cũng khôn ngoan, mau mắn như thế. Ơ, mà nào phải ông không có đâu chứ!... Rồi theo dòng suy tư một cách vô thức, ông lần hồi quay trở về với cuốn phim cũ kỹ đã làm nhức nhối, tê buốt cả cõi lòng trong phần đời còn lại của ông.

Vợ ông mất sớm, để ông lại một mình cu ky nuôi thằng con trai mới 15 tuổi. Ông chỉ mong sao lo cho nó học hành xong rồi cưới một con vợ đàng hoàng tử tế và đẻ cho ông vài đứa cháu nội để nối dõi. Thế là ông đã làm tròn bổn phận đối với tổ tiên, giữ vẹn lời hứa với bà, vì nhà ông mấy đời vốn chỉ một cây một trái đơn độc. Thế mà bao nhiêu hy vọng ông đặt vào thằng con trai nay đã tiêu tan theo mây khói.

Trăm chuyện chỉ tại bắt nguồn từ một con đầm lai mà thôi! Khi Nhân – thằng con trai duy nhất của ông - ra trường rồi tìm được một việc làm tương đối tốt và gần nhà thì ông Khiêm bắt đầu dò la, tìm cách làm mai mối ngầm những cô gái trong đám con cháu của bạn bè ông cho nó. Mỗi lần ông dẫn đi coi mắt đứa con gái nào thì nó đều gạt ra và viện hết lý này lẽ nọ để thối thoát. Lúc thì nó bảo chờ có công ăn việc làm thật vững chắc đã. Khi thì nó muốn để thong thả học lên cao nữa. Hoặc chưa gặp phải người đồng tâm hợp ý… Mãi cho đến khi ông Khiêm sốt ruột, lo nghĩ có lẽ mình sẽ không kịp thấy mặt cháu nội trước ngày nhắm mắt - thì đùng một cái - thằng con xin phép ông cho nó cưới một con đầm lai. Lai gì thì ông chẳng cần hỏi, chỉ chắc một điều là nó không phải con gái Việt Nam thuần túy như ông đã trừu định. Ông Khiêm đón tin này như trời long đất lở. Cái điều ông lo sợ sẽ bị tuyệt dòng, tuyệt giống, mất gốc nay sắp thành sự thật rồi. Làm sao ông chấp nhận được chứ? Tổ tiên nhà ông có chịu nhìn nhận đám cháu ngoại lai chẳng giống ai trong họ hàng xưa nay không? Ông vừa lo sợ vừa tức giận phừng phừng. Thế là ông làm toáng lên, la rầy thằng con không tiếc lời. Cha con cứ lời qua tiếng lại. Thằng con nhất định không nhượng bộ bố nó nửa bước. Còn ông cương quyết không thừa nhận con dâu người nước ngoài. Cuối cùng ông tuyên bố thẳng thừng:

“Mày còn nhìn nhận tao là cha mày thì kiếm một con vợ Việt Nam mà mang về đây. Còn muốn lấy Tây Tàu gì thì cứ đi theo nó. Tao cấm mày không được mang những thứ ấy vào nhà này. Kể như tao không có con có cháu vậy.”

Nhân chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng bỏ đi. Vài hôm sau nó trở về với lão Quỳnh – bạn của ông Khiêm – để nhờ lão năn nỉ phụ. Nó biết ông Khiêm thường nể lời ông Quỳnh vì họ là bạn nối khố lâu đời với nhau. Nhưng lần này thì dù ông Quỳnh nói phải nói trái gì đều bị ông Khiêm gạt qua một bên và khăng khăng giữ vững lập trường của mình: không thừa nhận con dâu ngoại quốc. Cuối cùng ông Quỳnh đành nói huỵch toẹt cái sự thật phũ phàng trước mắt:

“Ông bạn già à, tôi nói thiệt nghen, lớp mình rồi nay mai gì cũng theo ông theo bà chớ đâu có lột da mà sống đời với con cháu đâu. Thôi thì mình ở xứ người được sao thì bằng lòng vậy đi, miễn tụi nó thuận thảo, hạnh phúc với nhau là mừng rồi. Như con cái tôi ấy…”

“Ông khác tôi khác. Ông có tới 3 thằng con trai, mất đứa này còn đứa kia. Còn tôi chỉ có một mống, thử hỏi cháu nội tôi một lũ ngoại lai làm sao tôi ăn nói với tổ tiên chớ?”
“Ối, thời nay mà. Ông bà mình rồi cũng châm chước chứ hơi đâu mà bắt bẻ, trách móc con cháu.”
“Không! Tôi đã bảo không là không. Anh đừng có vẽ đường cho hưu chạy nữa bằng không tình bạn bè của mình sẽ bị sứt mẻ đó..” Ông Khiêm bực tức trả lời.
“Là bằng hữu với nhau lâu nay, tôi chỉ mong cha con anh được vui vẻ, gia đình anh yên ấm thôi. Tôi hy vọng anh nhẹ tay cho cháu nó nhờ. Đừng để đi đến cảnh “già néo đứt dây” nghe ông bạn già.” Ông Quỳnh hơi bị phật lòng nên nói xẵng. Xong ông quay sang Nhân và nói:
“Chú xin lỗi đã không giúp được gì cho cháu.. Chuyện này chú đã đoán trước với cháu vậy đó. Khó lắm.”

Nói xong ông Quỳnh bỏ ra về. Một mình Nhân vẫn tiếp tục xuống nước nài nỉ:

“Ba, tụi con lỡ thương nhau rồi. Ba cho con cưới Jeannette nghe.”
“Không cưới xin gì cả. Mày muốn thì dắt đi cho khuất mắt tao. Đừng bước chân vào nhà này nữa. Lời tao như đinh đóng cột.” Nói xong ông Khiêm bỏ ra sau vườn.

Nhân buồn bã, lặng lẽ mấy hôm rồi báo cho ông biết nó đã nhận việc làm ở Âu Châu và có lẽ sẽ ở bên ấy một thời gian. Ông Khiêm kinh ngạc đến lịm đi, đớ người ra khi biết tin này. Rồi tiếp đến là những chuỗi ngày quay quắt với nỗi xót xa thắt thẻo, buồn rầu áo não. Ông chỉ tính làm cứng cho thằng con thấy khó khăn mà thôi con đầm chứ ông đâu có nghĩ tới nước nó cũng cứng đầu cứng cổ và ngang bướng, dám thi gan với ông. Ông thầm ước phải chi còn bà thì những chuyện nhức đầu này đã không xẩy ra. Bây giờ ra nông nổi này ông chỉ còn nuôi hy vọng thời gian sẽ làm cho thằng con sớm chán con đầm, suy nghĩ lại rồi trở về nhà.

Bẵng đi thời gian dài cha con xa cách. Mỗi năm Nhân ghé qua nhà vài hôm thăm ông rồi lại đi tiếp, còn thì chỉ gọi điện thoại hỏi thăm sức khỏe, việc nhà cửa, linh tinh vậy thôi. Cả hai cha con cùng tránh nhắc nhở đến chuyện xưa. Có nhiều lúc nói chuyện với con trai ruột thịt của mình qua điện thoại mà ông tưởng như đang nói vu vơ, gượng gạo với người xa lạ, chưa đủ thân thiết để có thể cởi mở hàn huyên mọi chuyện vậy. Bức tường chia cách cha con ông ngày một dầy hơn, kiên cố hơn. Vì đâu nên nỗi này? Nỗi đau nỗi buồn khó giải! Tại sao thằng con không biết giữ đạo làm con? Trời không chịu đất thì đất phải chịu trời chứ, chẳng lẽ ông phải xuống nước đầu hàng? Bao đêm ông Khiêm nhớ đến người vợ quá cố của mình và thầm trách sao bà đi trước để khổ lại cho ông. Nếu bà còn sống bà sẽ xử trí ra sao đây? Ông già rồi nhưng cái lòng tự ái vẫn còn to bằng trái núi, tánh tự cao tự đại vẫn cứ y nguyên như thuở còn trẻ. Ông không thể hạ mình để lên tiếng tha thứ hay năn nỉ thằng con quay lại. Mới cách đây mấy tháng thôi, Nhân trở về một mình và ở nhà khoảng hai tuần lễ. Ông Khiêm mừng lắm, tưởng mọi chuyện đã qua đi và sẽ trở lại bình thường như xưa. Ngờ đâu trước ngày đi nó xin ông tha lỗi rồi lại xin phép được đem vợ con về tạ tội. Thế là niềm hy vọng mới chớm trở lại của ông đã vội tan vỡ, cơn giận ngỡ rằng đã nguôi ngoai bây giờ lại bùng lên như ngọn lửa gặp phải gió to.

“Tưởng mày bỏ con đó mà về đây để tao lo vợ con đàng hoàng tử tế cho mày chứ còn cái thứ vợ con lượm đầu đường xó chợ thì đừng hòng tao nhìn nhận.”

Ông quát tháo to tiếng và tức giận quá độ khiến áp huyết lên ầm ầm đến nỗi phải chở vào bịnh viện cấp cứu. Từ đó ông mang thêm chứng bịnh cao máu. Và cũng từ đó thằng Nhân không gọi về nữa. Vậy đó. Cảnh gà trống nuôi con của ông bây giờ thành gà trống cui cút một mình. Ông rơi vào tận cùng của nỗi cô đơn, chán chường và thất vọng vì thấy mình bất lực.

Càng ngày ông càng cảm thấy những quyết định của mình ngày ấy dường như có điều quá đáng, không ổn. Ngày xưa cha mẹ ông ở dưới quê tận Phong Điền - Cần Thơ, cho ông lên Sài Gòn học rồi cũng muốn ông về lấy con gái vùng quê đó để có con dâu biết cách ăn thói ở cho thích hợp với gia đình chồng. Nhưng nào ông có nghe lời đâu. Ông chống đối quyết liệt và nhất định đòi cưới An, một cô gái gốc Sài Gòn đang học trường Marie Curie. Dạo ấy để được cưới An ông đã dọa cha mẹ nếu không bằng lòng thì ông sẽ cạo đầu đi tu. Dòng họ ông chỉ trông cậy vào một mình ông để nối dõi tông đường sau này. Thế là cha mẹ ông đành phải chìu thằng con. Nhờ vậy ông mới cưới được vợ theo ý mình. Phải chăng sóng trước đổ đâu sóng sau đổ đó? Phải chăng cha mẹ ông đã có tầm hiểu xa, thấy rộng và cảm thông cho thế hệ kế tiếp nhiều hơn ông, đã khôn ngoan sáng suốt hơn ông vạn lần? Ông suy nghĩ, cân nhắc nhiều lần trong những đêm thâu trăn trở không ngủ được, rồi tự hỏi có phải mình đã tính toán sai lầm. Làm sao lật ngược thế cờ đây? Mới đó mà đã năm năm trời!

Một tuần sau bà hàng xóm dẫn hai đứa con và mang một dĩa bánh nướng còn nóng hổi sang thăm ông. Bà bảo lẽ ra bà định sang thăm ông ngay hôm mới đến nhưng vì dọn nhà một mình quá lu bu nên không làm được. Ông Khiêm cũng lấy làm tiếc vì đúng ra chính ông phải là người đến thăm láng giềng mới dọn đến trước mới phải, nhưng vì vợ ông mất rồi nên ông chẳng biết tính toán sao coi cho được. Janne – tên người hàng xóm và bà yêu cầu ông gọi như vậy - tánh tình bặt thiệp, cởi mở, vui vẻ, dí dỏm, đôi lúc khôi hài rất duyên dáng. Tuy mang vẻ đẹp rạng rỡ của người Tây phương, nhưng bà vẫn không thiếu nét nhu mì, hiền hậu và tế nhị. Janne cho ông biết sau mùa hè năm nay sẽ vào dậy môn Ngôn ngữ học cho một trường College gần khu ông ở. Còn chồng bà vài tháng nữa sẽ chuyển công tác về hãng gốc cũng tại đây, lâu nay ông ta đã làm cho một chi nhánh của hãng này nhưng ở nơi khác.
Hai đứa trẻ một gái một trai thật xinh xắn, khôn ngoan và lễ phép. Chờ khi người lớn ngừng chuyện mới xen vào.

“Mom, can I call him “ông nội”? Con Annie hỏi mẹ nó.

Ông Khiêm chưng hửng một cách thích thú và trố mắt nhìn vì ông nghe rõ ràng nó phát âm hai chữ “ông nội” đúng y tiếng Việt Nam. Đoán được sự ngạc nhiên của ông, Janne giải thích:

“Tôi dạy cháu tiếng Việt đấy. Vì chuyên môn của tôi là Ngôn ngữ học nên tôi cũng biết được vài thứ tiếng. Hơn nữa chồng tôi và tôi luôn cho rằng càng biết được nhiều thứ tiếng thì càng tốt. Tôi đoán chừng ông là người Việt Nam nên rất mừng là mẹ con tôi được ở cạnh làm quen với ông và có cơ hội thực tập nói tiếng Việt luôn.”
“Ồ, tôi rất lấy làm vinh dự được cái may nắm đó. Tôi cũng nghĩ như bà, biết thêm nhiều thứ tiếng rất có lợi cho bọn trẻ về sau.”

Ông Khiêm trả lời vội vàng như sợ lỡ mất cơ hội hiếm có vậy. Dầu gì thì cũng là cái tự hào dân tộc mà.

“Và ông cho phép chúng nó gọi bằng “ông nội” nhé?
“Được. Được lắm.” Ông Khiêm toét miệng cười.
“Theo phong tục người Việt nam thì cháu chỉ đáng tuổi con cháu ông thôi và sẽ gọi ông theo con cái mình, tức là cũng gọi ông bằng “ông nội” để cho bọn trẻ noi theo.”

Lần này bà Janne nói tiếng Việt hẳn hoi và rõ ràng. Ông không ngờ bà chẳng những nói được mà còn am hiểu sâu xa phong tục, lễ nghĩa của người mình nữa. Ông thật hỉ hả trong lòng và có cảm tình với gia đình này ngay. Ông thầm hy vọng người chồng của Janne cũng sẽ có sự thông hiểu văn hóa Á đông như vậy.

Bỗng nhiên ông Khiêm có được một người láng giềng tốt bụng, hiểu biết và bải bui cùng hai đứa cháu nội “hờ” thật dễ thương giống như cơ may từ trên trời rớt xuống vậy. Họ qua lại với ông thường xuyên hơn. Hai đứa nhỏ quấn quit, líu lo bên ông mỗi khi chúng sang chơi làm ông tạm quên được nỗi buồn quạnh hiu. Janne nấu được món ăn gì lạ và ngon đều chia sẻ với ông một cách vồn vã, nhiệt tình. Nhất là sau này cô tuyên bố đang học nấu thức ăn Á đông và đặc biệt là món ăn của người Việt Nam. Lúc đầu ông nghĩ đó chỉ là cử chỉ lịch thiệp, ân cần của người Tây phương. Nhưng lâu dần thì ông thấy cả mấy mẹ con họ đều tỏ ra nồng nhiệt, thân thiện thật sự và luôn quan tâm đến ông một cách đặc biệt khiến ông cảm động và thấy trong lòng cũng nẩy sinh một thứ tình cảm quyến luyến, quí mến họ không kém. Cảm giác hơi lạ lẫm, ngỡ ngàng, nhưng thật dễ chịu.

Ông Khiêm vui cùng cái vui chung với gia đình hàng xóm mà lâu nay ông không hề trải qua. Ba mẹ con họ thường mời ông tham dự những buổi picnic ngoài công viên do ông hướng dẫn địa điểm, hay những bữa tiệc nướng nho nhỏ nhưng đầy thích thú cho cả người già lẫn trẻ con trong sân sau nhà. Thét rồi ông đề nghị và được sự ủng hộ nhiệt liệt của cả 3 mẹ con là mở một cửa nhỏ giữa hàng rào ngăn hai bên vườn sau để thông thương hai nhà cho dễ dàng và an toàn cho 2 trẻ. Ông tự coi cái trọng trách lưu truyền văn hóa và dạy tiếng nước mình cho người khác là bổn phận của ông, của những người Việt lưu vong còn nhớ gốc. Vì vậy ông soạn thảo chương trình dạy bọn trẻ nói và đọc chữ Việt một cách kỹ càng, có phương pháp hẳn hoi, vừa hấp dẫn, vừa vui lại dễ nhớ. Ông thầm tự hào dầu gì thì mình cũng từng làm việc phiên dịch sách ngoại ngữ cho bộ giáo dục trước đây chứ tệ gì. Bọn trẻ học nói tiếng Việt nhanh chóng và tiến bộ thấy rõ, chúng thường thỏ thẻ kể chuyện cho ông nghe về ba nó.. Thằng em có lúc mếu máo nói với ông “con nhớ Ba lắm”. Còn con chị hay nhắc đến ông nội mà nó chưa bao giờ biết mặt, chỉ thấy qua hình. Nó bảo “Ba hứa đem con về thăm ông Nội nay mai mà”. Có lúc nó lại bảo ba nó lấy tên bà nội đặt cho nó đó.. Bà nội nó chết rồi. Ông chạnh lòng nghĩ đến thằng con mình và ước gì mấy đứa này là con của nó thì chắc ông sẽ thương yêu chúng vô vàn. Còn Janne, có lúc cô gọi ông bằng “ông nội” theo hai đứa con, có lúc cao hứng cô gọi ông là “Papa” ngon ơ, ngọt xớt luôn làm ông rưng rưng nghĩ đến người con dâu không bao giờ có được của mình mà mủi lòng. Vì sao nên nỗi này? Ông vẫn thường tự hỏi. Có phải vì ông quá khắt khe, quá cố chấp không? Tại sao cứ là người Việt mới thương yêu, quí mến được? Biết đâu cháu ông nó cũng đáng yêu như hai đứa trẻ này thì sao? Dẫu chúng có lai căng thì vẫn còn một phần máu mủ của ông chứ nào phải nước lã? Ờ, mà ông nghe đâu hình như thằng Nhân cũng đã có hai đứa con rồi. Nhưng biết nó ở đâu mà hỏi bây giờ? Lòng ông chùng xuống, trĩu nặng như bầu trời mùa Đông thê lương, ảm đạm.

Năm nào cũng vậy, từ khi thằng Nhân bỏ đi, cứ hễ đến ngày sinh nhật của ông Khiêm là ông Quỳnh hẹn đến để chúc thọ ông rồi họ rủ nhau đi đây đi đó để giúp ông tạm quên nỗi buồn cô quạnh. Sau cùng ông Quỳnh trao cho ông món quà gọi là của riêng thằng Nhân nhờ ông trao lại. Còn thằng Nhân chỉ gọi về chúc mừng sinh nhật ông qua loa là xong chuyện. Mấy lần đầu ông Khiêm buồn và giận thằng con lắm vì nó chẳng nhân nhượng và nể nang ông chút nào. Nó cứ đi biệt không về! Giống như tình phụ tử giữa ông và nó nhẹ tênh như lông hồng vậy. Lâu dần ông cũng đành làm ngơ cho qua ngày đoạn tháng. Vì ông không thể hạ mình mà xoay chuyển thế cờ được.

Năm nay thì hơi đặc biệt khác. Ông Quỳnh hẹn sẽ chuẩn bị thức ăn và mang đến nhà ông để họ cùng nhau nhậu nhẹt một bữa cho đến quắc cần câu. Nói nghe hùm hổ thế thôi chứ thật ra hai ông chỉ lai rai dăm ba sợi là đã đầu hàng thua trận tại chiến trường rồi. Còn sức đâu mà chiến đấu đến cùng chứ! Họ đều thừa nhận như vậy. Nhưng vẫn đủ sức tạo bầu không khí sôi nổi, vui vẻ, hào hứng cho hai ông già sống lại giây phút hào hùng của mình ngày xửa ngày xưa. Mới đó mà đã mấy mươi năm rồi còn gì!

Ông Quỳnh mang đến hai chai rượu đỏ, một gói khô mực cáng mỏng, tơi và mềm chấm với tương ớt, một dĩa gỏi chân gà rút xương mà ông Khiêm thích.

“Gỏi của bà nhà tôi gửi ông đấy. Còn khô mực này con dâu về VN mua qua cho tôi cùng cái máy cán cho mềm chứ răng cỏ đâu mà nhai nổi khô mực như xưa.” Ông Quỳnh giải thích.

Trong lúc ông Khiêm loay hoay dọn thức ăn bày ra bàn rồi với tay lấy hai cái ly uống rượu thì có tiếng gọi cửa. Mở cửa ra ông thấy người hàng xóm mới khệ nệ mang hai dĩa thức ăn thật to cùng lổm ngổm nào gói nào bọc. Vừa thấy mặt ông Janne nói “Happy birthday, papa”. Ông Khiêm hơi sửng sốt bất ngờ xong vui ra mặt, rồi đưa tay đỡ phụ một dĩa thức ăn và mời rối rít:

“Vào đây, vào đây tôi giới thiệu cho. Ông Quỳnh ơi, đây là…”
“Ồ! Chúng tôi đã biết nhau. Hôm đến đây không có ông ở nhà nên tôi đã sang làm quen với Janne và đã thay mặt ông mời cháu ấy sang dự tiệc sinh nhật .” Ông Quỳnh cướp lời. Rồi ông quay sang lấy bớt những bao bọc to trên tayJanne và giục:
“Vào đi cháu. Chà! Bánh xèo và chả giò. Toàn món ông ưa thích cả đây nhé.”

Ông Khiêm ngớ ra một tí rồi cười thầm trong bụng: Lão già này môi mép, lẹ chân lẹ tay và ghê gớm thật. Thảo nào lúc trẻ luôn đắt đào nhất trong bọn.

Thức ăn được bày dọn khéo léo đẹp đẽ ra bàn nhờ sự phụ giúp của Janne. Ông Khiêm bốc thử cái chả giò còn nóng hổi và miếng bánh xèo giòn tan rồi buộc miệng:

“Chà, ngon tuyệt. Giống y như chả giò và bánh xèo bà nhà tôi thường làm lúc còn sinh tiền.”
“Đấy, đó là cái lợi của thời buổi văn minh Hitech mà. Ông muốn học nấu nướng thức ăn của bất cứ nước nào trên thế giới thì chỉ cần ấn nút computer là biết cách làm ngay.” Ông Quỳnh giải thích.
“Cháu cho hai đứa nhỏ sang chơi nhé.” Không thấy hai đứa trẻ, ông Khiêm quay sang bảo Janne.
“Vâng, chúng sắp qua tới, Papa.” Janne trả lời không đắn đo.

Đang khi ông Khiêm bận rộn xếp thêm ghế cho hai đứa nhỏ thì cửa trước bật mở toang và thằng con trai ông bước thẳng vào nhà. Ông Khiêm ngạc nhiên và mừng rỡ đến thốt không nên lời.

“Ba, con về để chúc mừng sinh nhật của Ba. Nhờ chú Quỳnh giúp nên con mua được căn nhà ở cạnh đây để gần gũi và chăm sóc Ba lúc tuổi già. Ba tha thứ cho vợ chồng con nghe Ba.”

Quá đột ngột và bất ngờ nên ông Khiêm đứng trơ như phỗng, chẳng kịp thời giờ cho những lời nói mà ông chờ đợi từ cửa miệng Nhân xuyên vào cái đầu chậm chạp của ông. Một lát sau ông đưa mắt nhìn ra cửa để tìm vợ con nó thì Janne bước đến cầm tay ông và nài nỉ:

“Papa, con xin lỗi đã làm Papa buồn lâu nay. Papa đừng giận con nữa nghe.” Rồi quay ra gọi to “Annie, Sonny vào chào ông nội.”

Phải mất mấy phút đồng hồ cho cái bộ óc già nua đang bất động của ông Khiêm hoạt động trở lại, cho ông thấy mọi chuyện rơi đâu vào đấy đúng như ý ông mong muốn mà đã không làm được. Ông xúc động đến đứng không vững và ngồi thụp xuống chiếc ghế trống cạnh đấy. Hai đứa nhỏ ùa vào chia ra đứng hai bên ông, miệng nói đồng loạt

“Happy birthday ông nội.”
“Ông bạn già ơi! Vợ chồng nó có lòng thành và gắng công lắm mới tạo được ngày hôm nay. Thôi thì ông mở lượng hải hà tha thứ cho chúng để ông cháu ông hủ hỉ những ngày còn lại.” Nãy giờ ông Quỳnh lặng thinh bây giờ mới lên tiếng phụ họa.

Cảm giác mừng mừng tủi tủi, sung sướng, hối hận, nuối tiếc… lẫn lộn trào dâng, tuôn chảy ra như nước vỡ bờ khiến ông nghẹn ngào, không cầm được nước mắt. Rồi hai giọt lệ từ từ lăn xuống, chảy dài trên đôi gò má đã không còn đầy đặn của ông. Ông Quỳnh cũng xúc động không kém, nhưng thấy vai tuồng mình đóng đã xong, không còn cần thiết nữa nên ông lặng lẽ bỏ ra về mà không ai hay.. Nãy giờ hai đứa cháu nội im thin thít, chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra. Chúng lo lắng, sợ sệt, hết nhìn người này lại quay sang nhìn người khác, ngạc nhiên, ngơ ngác vì thấy gương mặt người lớn sao quá nghiêm trọng. Khi thấy ông Khiêm khóc thằng Sonny vội cầm bàn tay ông bóp nhè nhẹ. Còn con Annie – bây giờ ông mới nhận ra nửa phần đầu tên nó là tên vợ ông – vòng tay lên cổ ông, rồi hạ xuống dần vừa vuốt vuốt, vỗ vỗ cái lưng hơi còng của ông vừa dỗ dành:

“It’s OK. It’s OK. Nín đi ông nội”

Ông quàng tay ghì sát hai đứa trẻ vào lòng. Thằng con trai ông đã phải đánh một vòng thật lớn để cuối cùng mới được ông nhìn nhận bầu đoàn thê tử của nó. Còn ông Khiêm, một cái gật đầu rất nhẹ hay một tiếng “ừ” thật ngắn gọn vậy mà ông phải mất đến 5 năm dài mới thực hiện được! Thời gian trôi vùn vụt và nghiệt ngã, liệu còn chờ đợi ông được bao lâu nữa để cho ông tiếp tục tận hưởng cái hạnh phúc đoàn tụ quí báu này?


Cỏ Hoang


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 18 2018, 07:58 AM
Gửi vào: #108


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Đánh rơi quá khứ
Hiền Victoria

Nó và cậu chơi thân với nhau từ hồi còn ở nhà trẻ. Nó khóc, cậu dỗ dành. Nó bị bắt nạt, cậu xông ra bảo vệ. Thậm chí, cậu còn ăn dùm món cà rốt mà nó không ưa nhất dẫu chính cậu cũng rất ghét.Không biết tự lúc nào, cậu đã trở thành một hình bóng thân thuộc trong lòng nó. Chỉ cần một ngày cậu không tới trường, nó sẽ lo lắng, sẽ khóc, sẽ nháo. Nhưng nếu được nghe giọng nói của cậu, lòng nó lại trở nên bình an tới lạ kì.
– Thành à, chúng ta mãi là bạn, được không?
– Tất nhiên là được rồi, Như à. Tớ sẽ luôn ở bên cạnh cậu!
Những năm thơ ấu qua đi, nó và cậu tung tăng dắt tay nhau trên con đường nhỏ, bước vào cánh cổng tri thức. Cả hai cùng học chung một trường, vào cùng một lớp, thậm chí, xin cô giáo cho ngồi chung một bàn. Cậu học giỏi lắm, đứng đầu lớp mấy năm liền. Còn nó, khó khăn mãi vẫn không làm xong một bài toán. Những lúc đó, cậu chỉ cười rồi cốc trán nó:
– Cô ơi, tôi phục cô về khoản đội sổ Toán rồi đó!
– Ai cho ông cốc tôi!!! Tôi chỉ hơi kém chút thôi!!!
– Tôi biết mà, haha! – Cậu cười vang rồi chạy biến mất
– Đứng lại!! Ông đứng lại mau!!! Tôi mà bắt được thì…thì…
– Thì sao hả cô nàng khó tính? – Chạy ra từ một hành lang, cậu tiếp tục chòng ghẹo nó.
-. Thì…sẽ bắt ông làm bài cho tôi!!!
– Không bao giờ!! Haha!!
Sau mỗi lần rượt đuổi nhau vòng quanh khu phố mà nó không tài nào bắt được cậu, nó đều giận mất mấy ngày liền. Nhưng chỉ cần cậu mang đồ ăn vặt tới dỗ dành vài câu là nó lại tươi tỉnh ngay. Có thể mọi người cho rằng nó dễ dụ, nhưng thực sự nó không thể cưỡng lại được ánh mắt thôi miên đó của cậu.

Mười hai tuổi, hai đứa bước vào cấp hai. Cậu quay cuồng với các kì thi học sinh giỏi toán. Còn nó, sau khi phát hiện ra niềm đam mê văn học, cũng đã xung phong vào đội tuyển văn của trường. Bài vở bộn bề, gánh nặng điểm thi, tất cả mọi thứ khiến nó mệt mỏi. Nhưng ngược lại, dù bận tới mấy cậu cũng dành ra chút ít thời gian giảng toán cho nó, giống những ngày tiểu học. Điểm toán của nó nâng dần, nâng dần… Cậu cũng vì thế mà vui ra mặt. Năm lớp tám, nó đạt giải Nhất trong kì thi học sinh giỏi văn cấp thành phố, cậu khao một chầu kem. Cả hai thân thiết với nhau tới mức bạn cùng lứa xung quanh thường chỉ trỏ và cười khúc khích.
Có lần, cô bạn bàn dưới đập tay lên vai nó trong canteen:
– Này Như, Thành là bạn trai của bà hả?
Nó đỏ bừng mặt, vội xua tay:
– Không!!! Làm gì có!!! Tôi chỉ coi ông ấy là bạn thôi!!!
Nhưng khi nói khéo với bạn nữ đó rồi chạy vào nhà vệ sinh, đóng sập cửa lại, nó cảm thấy tim đập thình thịch. Một cảm giác thật lạ! Chuyện này là sao đây?
Chiều hôm đó, tan học về, đi cùng nhau trên con đường quen thuộc, nó mới để ý cậu thật đẹp trai. Sống mũi cao, mắt sáng và cực kì tinh anh, nụ cười phóng khoáng mà hút hồn…Ôi, nó đang nghĩ gì thế này? Thành chỉ là bạn, bạn, bạn thôi, Tố Như, mày hiểu không?

Năm lớp chín, nó phát hiện cậu có bạn gái. Đó là một học sinh lớp bên. Cô gái đó là hoa khôi toàn trường, tên Bảo. Mái tóc xoăn tự nhiên, mắt to tròn, đen láy, thuần khiết như con búp bê. Cô ấy và cậu đi cùng nhau thật xứng đôi, như một đôi Kim Đồng Ngọc Nữ vậy. Cậu càng ngày càng lạnh lùng với nó, không còn đi cùng nó mỗi khi tới lớp. Tan trường, cũng là Bảo yêu kiều khoác tay cậu trên con phố nhỏ. Nó bỗng thấy tim nhói lên từng cơn, đau lắm. Vẫy tay chào tạm biệt họ mà trái tim nó rỉ máu không thôi. Giờ phút đó, nó biết mình đã yêu cậu mất rồi. Yêu nụ cười dịu dàng của cậu, yêu cái cách cậu làm đủ trò để chọc cười nó, yêu sự bình yên cậu mang lại cho nó.
Đáng tiếc…không còn nữa…
Nó quyết định học thật giỏi, chôn chặt nỗi đau đó trong trái tim. Chuyển cấp, nó thi đỗ vào Chuyên Văn, còn cậu, thủ khoa một trường điểm khác. Hai trường cách nhau rất xa nên họ không còn gặp nhau nữa. Áp lực nặng nề của một học sinh chuyên và gánh nặng Đại học đè lên đôi vai nó. Mệt mỏi, nhưng nó vẫn gắng hết sức để học. Tố Như của năm mười lăm tuổi đã không còn nữa, thay vào đó là một cô gái thông minh, chăm chỉ, là học trò cưng của các thầy cô giáo. Nó cũng chăm chút vẻ bề ngoài, đổi mái tóc xoăn thành suối tóc thẳng rất dễ thương, cặp kính cận tròn được cất đi, thay vào đó là kính sát tròng, khoe ra đôi mắt trong vắt xinh đẹp từng chỉ mình cậu thấy được. Nó sẽ khiến mọi người thay đổi cái nhìn về bản thân mình.
Một chiều nọ, chậm rãi đi bộ dưới bóng cây phượng đỏ rực, nó thoáng thấy bóng cậu và đám bạn đạp xe ngang qua đường. Nghe nói cậu cũng đã chia tay cô bạn gái tên Bảo năm nào. Nó muốn quay đi, nhưng ánh mắt cậu đã rơi xuống người cô học sinh bên kia đường, thấy được ánh mắt bối rối của cô gái. Lòng cậu se lại, bàn tay siết tay cầm xe đạp thêm chặt hơn.
Nhưng cả hai không hề nói gì, tiếp tục bước qua nhau như hai người dưng. Nó biết cậu nhận ra, nhưng lại bàng quang bỏ đi. Khóe môi nở nụ cười chua chát, bao năm rồi, sao nó vẫn không quên nổi mối tình đầu đó? Mối tình cay đắng thấm nhuần nước mắt mà nó từng muốn chôn vùi vĩnh viễn. Quên đi, quên đi, Tố Như ơi…
Kết thúc ba năm phổ thông, nó tiến vào giảng đường đại học. Vì trường ở xa nên hàng ngày nó phải đi xe buýt. Như trò đùa của số phận, cậu cũng lên cùng một tuyến xe giống nó. Dù ngồi cạnh nhau, hay chỉ cách nhau một hàng ghế, cả hai đều im lặng như người dưng nước lã, tựa hai kẻ qua đường. Lên cùng một bến, nhưng khi xuống lại rẽ về hai lối ngược nhau, như hai đường thẳng song song, vĩnh viễn không bao giờ cắt nhau…

Nhiều năm sau, hai cô cậu học trò năm nào giờ đã lớn, đã trưởng thành và có địa vị trong xã hội. Họ vẫn giao lưu với nhau vì công việc, nhưng chẳng ai biết rằng họ từng có một thời ấu thơ thật đẹp đẽ. Nụ cười cô gái Tố Như hay chàng trai tên Thành dành cho người kia chỉ còn là sự hờ hững và lạnh nhạt. Họ vẫn gặp nhau, bởi lẽ cùng làm chung một công ty, giống như trò chơi nghiệt ngã mà ông Trời tạo ra. Thậm chí, khi người ấy kết hôn, người còn lại đứng trong hàng khách mời tới dự vẫn vỗ tay với vẻ mặt mừng rỡ, nhưng trong đôi mắt lại hiện lên một nét phức tạp và nhoi nhói ở tận tim gan.
Họ không nói, chẳng phải vì đã quên, mà bởi lẽ không ai còn có thể quay lại khoảng thời gian tuyệt vời năm xưa được nữa…
Một chiều nọ, tại công viên Thái Hà người ta trông thấy hai cụ già tóc bạc ngồi tâm tình dưới bóng cây đại thụ. Cụ ông bảy mươi tuổi ngồi xe lăn nước mắt giàn giụa gục đầu trong lòng bà lão khóc như một đứa trẻ.Hơn nửa thế kỷ trôi qua, thời gian đã khắc trên gương mặt hai người vẻ nhăn nheo và dấu hiệu của tuổi tác. Đến lúc này, khi con cháu đầy đàn, hồi tưởng lại quá khứ, Tố Như và Thành mới giật mình nhận ra bóng hình năm ấy vẫn còn lưu lại thật sâu trong tim, nó chỉ lặng yên nằm đấy, chứ chưa hề tan biến dù họ có cố gắng chôn vùi như thế nào…./.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 22 2018, 05:03 AM
Gửi vào: #109


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



TRUYỆN NGẮN MÀ THÚ VỊ...


Mày Tao
Có lần giận con quá vì nó nói dối, tôi đã quát to :
-Mày là đứa nói láo, không ai thương mày nữa!
Thằng nhỏ mếu máo trả lời :
-Mẹ có thể đánh con, nhưng đừng gọi con là mày!

Tôi giật mình, nó sanh ra và lớn lên ở Mỹ, tiếng Việt không giỏi nhưng sao hiểu được chữ « mày » là rất nặng, rất xấu. Tôi xấu hổ lắm và từ đó về sau không gọi con là mày nữa, dù giận tới đâu.
Có những người chồng hay quát nạt, gọi vợ là mày, mắng chửi nặng lời. Nếu có quyền, tôi sẽ gạch bỏ chữ « mày, tao » trong tự điển tiếng Việt.



Lời cầu nguyện
Tôi rất sợ phải nghe ba mẹ cãi nhau. Tôi thường phải làm quan tòa và lẫn lộn không biết nên nghĩ gì. Mẹ hay nói:

-Con thấy ba kỳ cục không, nếu gặp người đàn bà khác, bà ta đã đập tan mọi thứ trong nhà ra rồi.
Ngược lại ba hỏi:
-Con gái, tuy con còn bé nhưng con thấy ba chịu đựng mẹ như thế nào. Ba phải làm sao đây?

Tôi hay nhìn những tấm hình ba mẹ chụp thời mới cưới treo trên tường, hai người nhìn nhau tươi cười hạnh phúc làm sao. Họ đã từng yêu nhau thắm thiết, tại sao tình yêu lại thay đổi mau chóng và thê thảm như vậy. Họ rất khó quên, khi gây gỗ thường kể đi kể lại những chuyện giận hờn xảy ra năm xửa năm xưa, rồi từ từ nặng lời với nhau. Tôi và em gái cũng hay có chuyện vì giành đồ chơi, hay vì phân công dọn dẹp nhà cửa không đều, nhưng chỉ chút sau là chúng tôi quên và tiếp tục chơi với nhau vui vẻ. Tôi muốn gia đình hòa thuận, êm ấm như hồi tôi còn bé. Lâu rồi chúng tôi không được đi picnic, đi câu cá với nhau.

Ngày ba tôi đập tan những tấm hình đám cưới treo trên tường, là ngày ông bà quyết định ly dị. Ba mẹ gọi hai chị em tôi vào phòng, chúng tôi đứng trên những mảnh vụn và được hỏi:
-Hai đứa con phải quyết định, đứa nào muốn ở với mẹ, đứa nào muốn ở với ba. Chúng ta phải chia hai.

Tôi và em gái chỉ biết khóc. Cách đây mấy tháng, tôi cũng giúp ý kiến thằng Tâm để nó chọn lựa bố hay mẹ. Bây giờ tới phiên nó sẽ giúp tôi?!!! Tôi biết Tâm rất khổ, trong lớp nó không còn muốn chơi với ai cả ngoại trừ tôi. Cô giáo và những bạn hiểu chuyện nói lời an ủi, thương hại cũng làm nó bực mình, muốn lẩn tránh. Nó trở nên ít nói và không cười nữa. Tôi sẽ phải trải qua những chuyện y như vậy. Tôi rất sợ.

Đêm hôm đó tôi không ngủ được, chạy sang phòng em thấy nó còn thức, tôi rủ nó ra bàn thờ cùng đọc kinh. Chúng tôi chỉ thuộc kinh Lạy cha và Kính mừng, tôi ước gì có thể đọc được những kinh thật dài như người ta đã đọc trong nhà thờ để Chúa hiểu và lắng nghe chúng tôi hơn. Một chút sau ba má tôi cũng ra phòng khách cùng quỳ đọc kinh với chúng tôi - có lẽ vì nửa đêm tiếng cầu kinh của chị em tôi lớn quá làm họ không ngủ được. Thật là nhiệm mầu, ba má tôi xin lỗi nhau và quyết định không ly dị nữa. Tất cả chúng tôi cùng khóc.

Tôi nghe mẹ tôi kể với bạn của bà, nhờ sự thành khẩn của hai đứa tôi trong lần đọc kinh đó mà bà đã suy nghĩ lại. Tình trạng gia đình tôi khá hẳn. Ba đã treo lại những tấm hình đám cưới lên tường và treo thêm tấm bốn người vừa chụp ở tiệm.

Tôi tin lời cầu nguyện sẽ luôn được Chúa chấp nhận nếu mình cầu xin hết lòng và ở trong một hoàn cảnh thật sự cần giúp đỡ. Tôi cũng an tâm không cần phải học nhiều kinh dài và mới, Lạy cha và Kính mừng có thể tạm đủ.

Thiếu sót
Chúng tôi đi xem văn nghệ do trường Trung Học của con trình diễn. Mỗi năm trường đều có International Night để các học sinh thuộc các sắc dân phô bày văn hóa, âm nhạc đặc thù của dân tộc mình. Tôi thích thú theo dõi, tới phần học sinh Việt Nam , tôi bật cười vì thấy các cháu mặc áo dài đi cấy lúa. Có đứa lại mặc áo dài với quần jean, mang giày thể thao. Đa số các quan khách, học sinh ngoại quốc đều vỗ tay tán thưởng vì động tác nhịp nhàng, vành nón lá xinh tươi, âm nhạc vui nhộn ca ngợi cảnh thanh bình trên đồng lúa.

Tối về, tôi hỏi:
-Sao tụi con lại mặc áo dài đi cấy lúa. Dân quê phải mặc áo bà ba chứ.
Cháu cười hồn nhiên:
-Hôm rồi tổng dợt ở nhà mình, tụi con có mặc áo dài múa thử, sao lúc đó mẹ không nói?
Tôi không trả lời được. Bận rộn quá, tôi đâu có giờ để ý.

Trách nhiệm dạy con biết về quê hương, văn hóa cội nguồn không phải dễ, còn rất nhiều điều tôi đã thiếu sót


Bộ quần áo cũ
Sống chung với một ông bố chồng già yếu, bướng bỉnh là chuyện không dễ. Ông hay than phiền, hỏi những câu không đúng lúc và từ chối các món ăn cần thiết. Ông hãnh diện về thời trai trẻ, cứ kể đi kể lại các câu chuyện của thời vàng son. Hồi đó, là chỉ huy trong quân đội...ông luôn đặt lý trí lên trên tình cảm. Tôi biết ông là người tốt, nhưng có cảm giác ông sống vì khối óc chứ không vì con tim, thiếu sự thông cảm

Hôm nay đưa ông đi lễ ở nhà thờ, một lần nữa ông lại mặc bộ đồ vest cũ sờn rách mang từ Việt Nam sang. Tôi nhẹ nhàng:
-Bố nên thay bộ đồ con mua hôm trước, bộ quần áo này cũ quá.
-Nhưng bố thích mặc bộ này!
Tôi bắt đầu cau có:
-Nhưng mặc như vậy đi chỗ đông người rất kỳ, người ta sẽ nghĩ tụi con bỏ bê không chăm sóc bố.
Ông già buồn rầu, lập lại:
-Bố thích bộ quần áo này lắm.
Tôi cũng cương quyết:
-Bố nên thay ngay kẻo trễ, con không thấy có lý do gì để bố thích nó.
Ông già trả lời rất gọn ghẽ, chân thành, lâu nay ít khi nào tôi thấy ông minh mẫn như vậy:
-Chính mẹ đã tặng bố bộ quần áo này để mặc ngày kỷ niệm thành hôn. Khi chồng con ra trường, bố cũng mặc bộ quần áo này. Ngày đưa mẹ con ra nghĩa trang, bố cũng mặc bộ đồ này, bố thấy thật vui và xúc động khi mặc nó.

Nước mắt ông già hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo. Tôi hụt hẫng và hết sức bối rối. Bố chồng tôi sống tình cảm và có lý hơn tôi nghĩ.
Trước khi quyết đoán người nào đó khô khan không có trái tim, tôi nên xét lại trái tim mình đã.

Bệnh và Lười
Cũng như các bà vợ khác ở hải ngoại, vợ tui kỳ này làm biếng quá. Đi làm về là nằm trên giường xem phim bộ, chẳng chịu nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa gì ráo. Tôi có la, nó ấp úng trả lời:
-Em thấy mệt quá, chẳng làm gì được cả. Nằm nhưng không ngủ được nên mới bật máy xem phim, chứ không cố ý xem phim.
Con vợ tui chơi chữ ghê, xem mà không xem, nó biện hộ kiểu này ai nghe cho được.

Tui định bụng hôm nay về mà bếp núc lạnh tanh, sẽ đập tan cái TV ra cho biết mặt. Về nhà, quả nhiên cơm canh không có, đứa con nhỏ hoảng hốt:
-Ba ơi, anh Hai đưa má vào bệnh viện rồi, má bị xỉu phải cấp cứu.

Tui vội vã vào nhà thương. Người ta đã chẩn bệnh xong. Vợ tui có lẽ bị ung thư xương. Hèn chi mấy tuần nay nó đau nhức, than thở mà tui nghĩ nó giả bộ nên không thèm nghe, cũng chẳng đưa đi bác sĩ.Bệnh ung thư phát mạnh quá, sau vài tuần, bác sĩ cho biết nó không còn ở với tui được bao lâu nữa. Ung thư ngực thì cắt vú, ung thư xương không biết cắt ở đâu! Phổi vợ tui cũng có vấn đề, vì bao năm qua phải hửi mùi thuốc lá tui hút. Tui không dám nói với nó tui đã nghĩ xấu và giận nó không chịu nấu cơm, dọn dẹp. Cô vợ đầu ấp tay gối bao nhiều năm mà nó đau đớn, bịnh nặng tui cũng không biết. Vậy mà nó vẫn cố gắng đi làm kiếm tiền, chỉ khi về mới nằm liệt ra thôi. Tui hối hận quá chừng, trốn vào nhà vệ sinh của bệnh viện khóc rấm rứt. Thằng Tây đen nhìn tui ái ngại, hỏi tui có OK không.. Tui không biết than thở cùng ai, nên dù tiếng Anh dở ẹt, cũng sổ một tràng. Nó có vẻ thông cảm nhưng chỉ phán được một tiếng “sorry” rồi đi ra.

Tui trở vào phòng thăm vợ. Mới mấy tuần mà nó ốm nhom xanh lè, tay chân dây rợ, kim chích chằng chịt. Nó thì thầm:
-Ở đây buồn và ồn quá, em muốn về nhà. Em sẽ nấu món giả cày mà anh thích đó.
Tui vỗ về:
-Em ráng lo nghỉ ngơi, đừng bận tâm..

Tui ráng nấu mấy món ngon đem vào nhà thương, nhưng nó không ăn được nữa. Tui lại khóc. Lạ ghê, trước giờ tui rất oai phong, la…

Tình vợ chồng
Chị thắc mắc:
-Anh có còn thương em không?
-Tại sao phải hỏi?
-Từ ngày lấy nhau, mình hết thơ mộng, anh hết lãng mạn với em rồi.
-Bận thấy mồ, còn lo cho con, nhưng anh chẳng thấy gì khác.
-Em thấy khác!
-Anh đi sửa cửa sổ đây.
-Em ghét anh, anh giả bộ bận rộn.
Trời bỗng đổ mưa, nước tạt vào nhà, may quá chồng chị vừa sửa xong cánh cửa.

Kỷ niệm Giáng Sinh
Tôi có đọc câu chuyện, đại khái người mẹ bị ung thư, phải chữa trị bằng chemo nên rụng hết tóc. Ngày con gái ở xa về thăm, bà sợ con buồn nên đội tóc giả. Đứa con biết mẹ bệnh, không còn tóc nên để tỏ lòng thông cảm, cô đã húi cua ngắn ngủn. Khi gặp nhau, hai mẹ con đều ứa nước mắt cảm động. Người đáng lẽ tóc dài thì lại cụt ngủn, người đáng lẽ trọc lóc lại có tóc giả thật dài.

Giáng Sinh vừa qua hai mẹ con tôi cũng dở khóc dở cười. Con gái tôi cũng đi học xa, bận rộn và không đủ tiền nên quyết định không về nhà ăn Noel. Tôi thương con nên dù khó khăn, cũng ráng dành dụm tiền để mua vé máy bay đi thăm con. Tôi muốn cháu ngạc nhiên nên không cho cháu biết trước, nhưng cũng thật là ngạc nhiên, trước ngày tôi lên đường, cháu lại bất ngờ về nhà. Tôi phải bỏ vé máy bay của mình, tiếc tiền lắm nhưng cháu an ủi:
-Mẹ con mình đã được gặp nhau, mình quan tâm cho nhau là chuyện quan trọng. Chút tiền có mất nhưng con sẽ nhớ mãi kỷ niệm này. Con không muốn mẹ ăn Giáng Sinh một mình, bên đó con còn có bạn, mẹ ở đây chẳng có ai!

Tôi rưng rưng nước mắt. Cuộc đời người đàn bà bị chồng bỏ, phải nuôi con một mình cũng được chút ủi an.


Đôi giày trắng
Ngày cưới có lẽ là ngày bận rộn, có nhiều chuyện vui nhất trong đời. Tôi biết có cô dâu mang theo áo dài để thay, nhưng quên mang quần.

Hôm đám cưới tôi, mọi người đều rộn ràng. Tôi cũng chiều vợ, sáng mặc bộ vest trắng đi nhà thờ, chiều thay bộ vest đen tới tiệc. Tới nhà hàng tôi mới hết hồn, vì biết mình quên không mang theo đôi giày đen. Chú rể xúng xính trong bộ đồ đen, chân mang giày trắng bóng, coi sao đưọc! Chưa biết tính sao thì thằng bạn lên tiếng :
-Trễ rồi, thôi mang giày của tui đi. Mới tậu hôm qua đó, chắc là vừa.

Tôi mang ơn thằng bạn này hết sức.. Cứu người như cứu hỏa. Nó cũng biết mắc cỡ, dấu đôi chân mang giày trắng dưới gầm bàn, không dám đi đâu, kể cả vào nhà vệ sinh vì nó cũng mặc vest đen.
Sau này khi có đứa con trai đầu lòng, tôi nhờ thằng bạn này làm bố đỡ đầu. Nó rất vui và hãnh diện vì lần đầu tiên được lên chức God Father, tôi chọc nó:
-Hôm rửa tội con tui, nếu anh dám mặc đồ đen và đi giày trắng, tui sẽ đãi thêm một chầu seafood ở nhà hàng nổi tiếng Toronto .

Nó nhìn tôi ấm ức, nhưng nó biết tôi vẫn nhớ và cám ơn thật nhiều.
Giúp người vào lúc người đó gặp hoàn cảnh khó khăn, nguy ngập nhất là chuyện nên làm. Lý do, hậu quả như thế nào sẽ tính sau.


Nói thật
Thái ơi!
Miên xấu hổ quá, không nói được nên viết email này cho Thái giải thích việc hôm qua nhé. Mình là bạn trai, bạn gái của nhau, đáng lẽ Miên nên thành thật nói rõ hơn về gia đình mình.

Nhà Miên nghèo lắm, ba má mới sang Mỹ diện HO nên còn rất vất vả xây dựng cuộc sống. Người đàn ông cắt cỏ trước sân nhà Thái ngày hôm qua là ba của Miên đó. Khi tới nhà Thái chơi, Miên hoàn toàn không nghĩ tới chuyện gặp ba trong hoàn cảnh này. Ba trong bộ quần áo làm vườn cũ kỹ, cặm cụi cắt cỏ, tỉa cây. Khi Thái rủ Miên ra sân chơi trả tiền cho ba, Miên trốn vào nhà vệ sinh nói mình bị đau bụng và bỏ về. Tối qua Miên mất ngủ, vừa thấy mình có lỗi với ba, vừa xấu hổ vì đã nói dối với Thái. Miên tệ quá phải không? Bây giờ Thái biết sự thật rồi đó, Thái bỏ Miên, Miên cũng không buồn đâu. Miên sẽ cố gắng học giỏi để lo cho ba má, giúp gia đình vượt qua cái nghèo. Xứ này ai cố gắng thì sẽ thành công thôi.

Chúc Thái luôn vui và tìm được người bạn khác xứng đáng hơn. Xin lỗi Thái thật nhiều....


Hờ hững

Chị mỉm cười nhìn cô cháu gái được người yêu âu yếm nâng bàn chân lên xem, khi cháu đạp phải vật gì nhọn dưới đất. Chị nói với bạn bè chung quanh:
-Thời của mình qua rồi, nhìn đôi tình nhân trẻ kia thấy mà ham, bây giờ mình có đạp phải đinh chảy máu mấy ổng cũng không quan tâm, có khi còn chửi mình sớn xác nữa!

Hôm sau chị và chồng có dịp ghé thăm tiệm Nail của chị bạn, anh ân cần quỳ xuống xem chân chị và hỏi ý chị bạn làm sao chữa được những cục chai trên bàn chân chị. Chị cảm động lắm và nhận ra mình rất nhậy cảm ở ... bàn chân. Chồng chị không hờ hững như chị hằng nghĩ.

Sau này mỗi lần đi ngang tiệm Nail, mà có chồng đang đi bên cạnh, chị đều muốn cả hai ghé vào, không phải để làm móng tay, nhưng để anh giúp chị làm mòn những cục chai.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 18 2018, 01:46 AM
Gửi vào: #110


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




SỰ CÒN MẤT CỦA MỘT NGƯỜI EM
Nguyễn-Đại-Thuật

Tôi nhớ rất rõ chuyện xảy ra rất lâu khi tôi gần tròn bốn tuổi.

Hồi đó, gia-đình tôi sống gần một làng chài ở Mỹ-khê, Đông-Giang thuộc quận ba thành-phố Đà nẵng.

Ba tôi phục-vụ trong quân-đôi VNCH, đơn-vị đóng ngoài Quảng-tri, cấp bậc hạ-sĩ. Mẹ tôi bán cá ngoài chợ Sơn-trà. Mẹ tôi mua cá của những ghe chài cập bến vào sáng sớm để đem ra chợ bán. Một buổi trưa,hai anh em tôi chơi banh ngoài sân cỏ bên cạnh nhà, chờ mẹ về cho ăn cơm. Ngày Chúa nhật, hai anh em tôi không đi học. Anh tôi học lớp đệ thất trường Trung-học Đông-Giang, tôi học lớp mẫu-giáo của một trường tư trong phường. Đang chơi banh, vô tình trái banh do anh tôi đá quá mạnh, tôi đỡ không nổi nên bị trái banh trúng vào mặt. Đau quá tôi khóc ầm lên, anh tôi chạy đến dỗ dành tôi, lấy tay lau nước mắt cho tôi, xoa nhẹ vào má tôi, nơi bị đau. Vừa lúc đó mẹ tôi từ chợ về. Thấy mẹ tôi càng khóc lớn thêm, khi biết được sự việc, mẹ tôi quơ tay đập nhẹ mấy cái vào đầu anh tôi mắng: "cha mi, làm em đau" rồi vội dẫn tôi vào nhà, lấy khăn ướt lau mặt cho tôi, để tôi vào võng đưa qua đưa lại: "nín đi con,sau nầy đừng chơi banh nữa, tháng tới sinh nhật, ba về mẹ nói ba mua cho con chiếc xe đạp nhỏ, con đạp đi học giống như anh Hai của con" Nói xong, mẹ tôi đi vào bên trong nhà rồi trở ra, một lá thơ trên tay. "Đây là thơ của ba con gởi về hôm tháng rồi" mẹ tôi đọc: "Tháng tới, ngày 27 tháng 4 sinh-nhật của cu Tấn, anh sẽ xin phép về vài ngày.

Em xem mấy cửa hàng bên chợ Hàn nơi nào bán xe đạp vừa tầm cở cu Tấn, anh về sẽ mua cho con một chiếc". Nghe vậy, tôi ngừng khóc. Mẹ tôi ngồi vào võng, ôm tôi nằm sấp vào lòng, vừa đưa võng vừa nói: "Bữa ni mới 10 tây tháng hai, còn hơn hai tháng nữa ba mới về. Từ đây đến ngày đó, nếu con còn nhõng nhẽo không nghe lời của mẹ và anh hai thì mẹ nói ba không mua xe đạp cho con đâu."

Tiếng mẹ tôi nghe nhỏ dần, trong mơ tôi nghe tiếng ba tôi khen “Cu Tấn đạp xe giỏi quá", tiếng mẹ và anh Hai: “coi chừng té, coi chừng té", và tiễng vỗ tay của ba người.

***********

Một buổi sáng,tôi thức dậy nhưng còn nằm trên giường với mẹ. Hôm đó biển động nên không có cá bán, mẹ ở nhà. Mẹ tôi ôm tôi: "Còn gần một tháng nữa, ba con về phép mua xe cho con, con lớn rồi, bốn tuổi đâu còn nhỏ nữa mà hở đâu khóc đó". Tôi mắc cở, dụi đầu vào lòng me thì nghe có tiếng đập cửa rất mạnh. Tiếng bác Hội hỏi lớn: "Thiếm Tiếng có nhà không? thiếm Tiếng có ở nhà không? "Mẹ tôi vùng ngồi dậy, trả lời: Dạ, có tôi ở nhà, hôm nay biển động nên không có cá. Có chuyện gì không anh ?"

Mẹ tôi mở cửa. Tôi nghe tiếng bác Hội:

- Tụi Việt-cọng đang tấn công vào Quảng-trị. Kỳ nầy nghe đâu bọn nó tấn công khắp nơi. Đơn vị của chồng thiếm bị tan hàng, một số bị bắt, một số bỏ chạy, một số bị thương trước đó được đưa vào bịnh-viện Huế. Chú Tiếng, chồng thiếm nghe nói bị thương, đang nằm ở bịnh-viện Huế. Tin nầy do thằng Báu vừa chạy về cho biết. Hai đứa nó cùng đơn-vị."

Mẹ tôi khóc. Tôi thấy mẹ tôi như tàu chuối héo, rũ người trên ghế. Tôi và anh Hai tôi chạy vội đến bên mẹ, cũng khóc. Nghe tiếng ồn, bà con hàng xóm chạy qua, mỗi người một tiếng khuyên mẹ tôi bình-tĩnh nhưng mẹ tôi vẫn khóc.
Hai ngày sau mẹ tôi đi Huế để tìm ba. Hai anh em tôi được mẹ nhờ bác Hội trông nom săn sóc. Mẹ tôi mua một bao gạo và kho sẵn mấy nồi cá dành cho hai anh em tôi ăn dần khi bà đi Huế.

Bác Hội là bạn cùng xóm với ba tôi. Nhà hai gia-đình sát vách nhau. Hai người chơi với nhau khi cả hai còn chưa biết hổ thẹn khi chỉ mặc áo. Bác hơn ba tôi năm tuổi. Ba tôi rất thương bác Hội vì ba là con duy nhất của ông bà nội. Bác cũng thương ba tôi như em. Sau nầy tôi được biết bác đã muốn gã em gái cho ba tôi, nhưng chuyện hôn nhân không thành. Bác Hội thi tú tài không đậu nên bác tình nguyện xin đi học Trung-sĩ để khỏi bị bắt làm lính khi đến tuổi thi hành quân-dịch. Bác phục-vụ tại sư-đoàn 2 bộ-binh đóng tại Quảng-ngãi. Năm 1972, bác bị thương, mất một chân và được giải ngũ. Ngày bác cưới vợ, ba tôi dự tiệc, uống rượu rồi gây gỗ ồn ào với một ông khách tham dự lễ cưới. Cảnh-sát quốc-gia can thiệp, bắt và chuyển ba qua Quân-cảnh tư pháp vì tội trốn thi hành nghĩa vụ quân-sự. Ra tòa án quân-sự, ba tôi bị xử đi thi hành nghĩa vụ quân-sự. Ba tôi được đưa đi huấn-luyện tại Trung tâm huấn luyện Hòa-cầm ở quận Hiếu-Đức, Tỉnh Quảng- nam. Lúc đó ba tôi đã có vợ và anh Hai tôi độ chừng bảy tuổi. Ba tôi đóng quân tại tỉnh Quảng-trị và hai lần được thưởng Anh-dũng bội tinh tại mặt-trận. Bác Hội thường nói với anh Hai tôi: ”Ba mầy hiền lành như con gái nhưng ra ngoài mặt trận với địch quân, ba mầy gan dạ, không biết sợ chết là gì, được gắn huy chương, được thăng cấp ngoài mặt trận, còn bác chẳng được gì ráo, lúc nào cũng chỉ mang lon trung-sĩ quèn".

Mẹ tôi đi Huế tìm thăm ba đã mấy tuần mà chưa thấy về. Ba nồi cá kho ăn đã gần hết. Hai anh em tôi ngày nào cũng khóc vì nhớ mẹ. Buổi tối bác Hội thường qua nhà ngồi an ủi hai anh em tôi đến khuya mới về lại nhà bác. Và từ đó hai anh em tôi không còn gặp lại ba và mẹ.

**************
Một hôm, trong xóm bỗng nhiên tiếng chó sủa vang, tiếng người gọi nhau inh-ỏi, tiếng súng nổ, lính tráng từ đâu đổ về đầy xóm, đầy bãi biển. Xe cộ nối đuôi nhau nằm ụ hai bên vệ đường. Người dân đủ cỡ, đàn bà con nít, ông già bà cả dìu dắt nhau đi, vừa hớt hãi chạy, vừa khóc, tất cả đều theo huớng ra bờ biển.Trong xóm tôi, vài gia đình cũng bồng bế nhau chạy ra bãi biển. Vài người gọi với vào nhà tôi: "Chạy đi, cọng-sản sắp vào tới rồi! ". Hai anh em tôi đứng trong nhà nhìn đoàn người lũ lượt đi... và nhớ đến ba mẹ, chỉ biết khóc. Tôi nghe tiếng bác Hội nói với những người cùng xóm rủ bác đi lánh nạn: "Tôi chỉ còn có một chân mà đi đâu? "

Tối hôm đó bác qua nhà tôi bảo anh Hai tôi hạ cây cờ vàng ba sọc đỏ xuống. Bác nói: "thằng Tấn anh, mày leo lên đem lá cờ xuống dấu kỹ một chỗ nào đó, sau nầy dùng lại, nếu không lũ khốn-nạn đó vào mà thấy được, chúng sẽ không để yên cho sống đâu." Anh hai tôi đem lá cờ xuống xếp nhỏ lại, rồi thoăn thoắt leo lên cột nhà để vào chỗ nứt của đầu kèo nhà, nơi mà anh tôi dấu những đồ chơi quý mà anh không muốn cho tôi phá vì sợ bị làm hư.

Rồi một ngày, đồng loạt tất cả nhà nhà trong xóm đều treo cờ đỏ sao vàng. Anh em tôi được phát mỗi đứa một khăn quàng đỏ và ngày nào cũng đi sinh hoạt thiếu nhi, có ngày mệt quá hai anh em tôi không ăn uống gì hết, tối về đến nhà là lăn ra ngũ, quên cả khóc nhớ ba mẹ.

Ông ông thợ may đầu xóm thành ông tổ trưởng dân phố. Mấy con ông, cả trai và gái đứa nào cũng có súng, đi lục soát từng nhà tìm bắt những người đã làm việc cho "ngụy". Tôi nghe bác Hội gọi lén lũ nầy là bọn “ôn dịch", "ăn cơm quốc gia thờ ma cọng-sản". Cá kho hết, anh em tôi ăn cơm với nước mắm. Hết nước mắm, anh em tôi ăn cơm với muối. Đến khi hết gạo thì bác Hội cho ăn cơm độn khoai mì. Nhà bác Hội nghèo, có bác gái và đứa con nên phần cơm chia sẽ cho anh em tôi không đủ no bụng. Bác Hội giúp anh Hai tôi bán cái Radio, rồi đến chiếc xe đạp... rồi đến một ngày trong nhà không còn gì để bán. Nhà bác Hội cũng không còn gì để bán. Bắt chước mấy người trong xóm, hai anh em tôi đi khắp nơi lượm bao nylon đem ra biển rửa sạch, phơi khô, vài ba ngày gom lại đem bán lấy tiền mua gạo. Những lúc phơi bao nylon trên bãi biển,tôi phải ngồi canh chừng,nếu không kẻ khác lấy mất. Có lúc canh chừng mà tôi ngũ quên, kẻ gian lấy hết. Anh Hai tôi không nói gì, nhưng nhìn thấy mặt anh buồn thiu.
**************
Bác Hội gái không còn đuợc cho đi dạy học. Bác chuyển sang mua cá ngoài bến ghe chài đem bán dạo trong xóm. Nhớ trước đây mẹ tôi bán cá trong chợ, tôi hỏi tại sao bác không bán trong chợ như mẹ tôi trước đây ? Bác nói: "Bác không vào hợp tác xã nên không bán ngoài chợ đươc." Bác phải mua cá của những ghe chài bán lậu trước khi cập bến. Để tránh sự dành giật nhau khi mua cá lậu, bác rủ anh tôi cùng phụ bác đi mua bán cá. Khi ghe bán lậu cá còn xa bờ, anh hai tôi bơi ra ghe mua cá rồi đem vào. Cá được cho vào một sô nhựa, bác Hội gái và anh tôi thay nhau xách đi bán khắp nơi trong phường, khóm, có khi đi qua trung tâm thành phố. Công việc kéo dài được vài tháng thì bị công an phường cấm. Anh em tôi không còn gì để ăn, tôi đói nên lúc nào cũng đòi ăn. Hàng xóm thương tình, người cho củ khoai, người cho củ sắn nhưng không làm sao hết đói.

Rồi một buổi sáng sớm,anh hai tôi dắt tôi đến bịnh-viện, anh tôi bảo tôi ngồi chờ anh trước cổng, anh đi vào bên trong.Tôi ngồi chờ lâu quá nên tựa lưng vào tường ngủ gật. Khi anh đánh thức tôi dậy thì mặt trời đã chiếu ngay trên đầu. Anh kéo tôi đi nhanh khỏi bịnh viên, anh nói: "Tấn em chắc đói nhiều lắm rồi phải không ?".

Tôi chưa kịp trả lời anh rẳng " từ hôm qua đến giờ em có gì để ăn đâu" thì anh nói tiếp:"Anh cũng đói lắm, hai ngày ni anh cũng chẳng có gì để ăn hết... bây giờ anh em mình tìm gì để ăn." Anh đi vào con hẻm bên kia đường. Tự nhiên tôi đứng lại không chịu đi theo anh. Kéo mạnh tay tôi, anh nói: “Vào đây anh em mình ăn bún." Tôi lắc đầu: "Mình không có tiền mà!". Anh khựng lại nhìn tôi, hai mắt anh sáng lên, giọng anh như reo vui: “Hôm nay anh có tiền !" Anh cho tay vào túi rút ra mấy tờ giấy bạc cho tôi thấy, lúc đó tôi mới chịu đi theo anh. Gánh bún bên lề đường đông người, hai anh em phải chờ khá lâu. Bụng tôi cứ vang lên tiêng rột...rột... nước miếng cứ chảy ra. Hôm đó anh mua ba tô bún, mỗi người một tô, tô thứ ba được chia làm hai, nhưng anh dồn hết phần thịt cho tôi, anh chỉ lấy phần bún.

Ăn xong tôi theo anh vào chợ mua gạo khoai mì và nước mắm. Ngày hôm sau anh thức dậy sóm, nấu cơm ghế khoai mì. Hai anh em ăn cơm ghế khoai với nước mắm.

Bắt đầu một ngày mới; hai anh em tiếp tục đi nhặt bao nylon.

Hai tuần sau, anh lại đưa tôi đến trước bịnh-viện, tôi đúng chờ trước cổng, anh đi vào trong và khi anh trở ra anh lại đưa tôi đi ăn bún. Anh cũng mua ba tô, mỗi người một tô, tô thứ ba chia hai, anh dành hết phần thịt cho tôi.Từ hôm đó tôi cứ trông đến ngày anh hai tôi dẫn tôi đến trước bịnh-viện, tôi sẽ đứng bên ngoài chờ, anh đi vào bên trong, lúc trở ra anh lại đưa tôi đi ăn bún.



Lần thứ ba, anh hai tôi dẫn tôi đến bịnh-viện, tôi cũng đứng trước cổng chờ. Lần này tôi nhìn thấy bác Hội từ bên trong bịnh-viện đi ra, cùng lúc ấy bác cũng nhìn thấy tôi, bác hỏi: "Tấn em làm gì đứng đó ?". Tôi trả lời: "Con đợi anh hai con, anh ấy vào trong đó" tôi vừa nói, vừa chỉ tay vào bịnh viện. Bác nói: “Anh hai con vào trong đó làm gì vậy kìa ? Nó có nói với con không?". Tôi lắc đầu. Bác đứng lại với tôi, lấy thuốc ra hút... Anh hai tôi từ trong bịnh-viện đi ra. Bỗng nhiên anh đứng khựng lai, vẻ mặt sợ hãi, có lẽ vì nhìn thấy bác Hội ? Cùng lúc ấy, bác Hội hỏi:
“- Con vô đây làm chi rứa?"
Anh hai tôi không trả lời, mặt nhìn xuống đất, tôi nhìn thấy trong mắt anh chớp chớp, như có những giọt nước. Bác Hội sẵng giọng: "Con vào đó bán máu phải không?”. Anh tôi không trả lời, hai vai anh run nhẹ, những tờ giấy bạc rơi lả tả xuống đất. Bác Hội lê bước tới nắm tay anh kéo đi. Tôi lượm lại mấy tờ giấy bạc chạy theo. Đến một khoảng vắng, bác vứt cây nạng gỗ xuống đất, bác kéo anh tôi vào lòng, bác khóc, anh hai tôi khóc và tôi cũng khóc.

Về đến nhà, bác hỏi anh hai tôi ai chỉ vẽ cho anh đi bán máu, anh nói:"Trong xóm mình nhiều người đi bán máu lắm, họ rũ con đi". Bác thở dài, lẩm bẩm: "Khốn nạn cho cái xã-hội mới nầy"!

**********

Một hôm trời mưa, hai anh em tôi không đi lượm bao nylon. Tôi qua chơi với hai đứa con của bác Hội. Buổi trưa về, vừa mở cửa vào phòng, tôi thấy tên công an Được đang ở trong nhà. Nó vứt mấy đồng bạc trên giường và nói: "Giữ lấy mà mua gạo ăn!". Tôi nhìn anh tôi dò hỏi nhưng anh im lặng.

Từ đó, anh tôi không còn vui cười, mặt lầm lì, hay tránh mặt tôi. Vài ngày sau, bác Hội đưa anh vào bịnh-viện vì anh bị đi cầu ra máu. Về nhà, bác lẩm bẩm suốt ngày: "Tên khốn khiếp! có súng, tau bắn nát đầu mầy".

Bác Hội xin được cho anh hai tôi công việc gỡ lưới bắt cá trên một ghe chài của một người bà con bên vợ.



Hàng ngày tôi đi lượm bao nylon một mình. Buổi tối tôi ngủ một mình. Anh hai tôi theo ghe chài hai ngày mới về bến một lần. Tôi ăn uống bên nhà bác Lộc.

Một đêm, tôi đang ngủ, có cảm giác như có ai ôm mình vào lòng. Tôi nghĩ chắc anh hai tôi đã đi biển về, tôi quay người lại nhưng cái cảm giác chạm vào da thịt của anh hai tôi không giống như thuờng ngày, tôi mở mắt, qua ánh sáng đèn từ ngoài đường chiếu vào, tên Được đang nằm bên tôi. Tôi hoảng sợ, dùng hết sức mạnh hai chân đạp vào bụng tên Được rồi nhảy xuống guờng chạy ra khỏi nhà. Tiếng tên Được gọi theo:" Đừng chạy, tau bắt đưa về công an phường bây giờ". Nhưng tôi vẫn chạy, chạy qua bao nhiêu con hẽm trong xóm, chạy ra huớng biển và thẳng đến bến ghe chài.

Tôi ngồi tựa lưng vào cái thúng chài trên bờ. Trước mặt tôi một màu đen mênh-mông, tiếng gió hòa cùng tiếng sóng biển tạo ra một âm thanh kỳ lạ làm tôi sợ hãi. Tôi ngồi chờ anh hai tôi trở về bến. Tôi không dám quay trở về nhà, tôi phải trốn tên công-an Được.

Bỗng có tiếng chân người đi ven mé biển trước mặt tôi, càng lúc càng nhiều.Tiếng thì thầm thúc dục mà mang âm điệu sợ hãi. Tiếng trẻ con khóc, tiếng "xuỵt xuỵt " bảo im lặng. Tiếng gọi tên nhau thì thầm. Tôi nghe tiếng máy nổ của một chiếc ghe từ xa càng lúc càng gần. Ở quanh tôi đám đông đã lên hết trên cầu tàu.

Chiếc ghe đã cập cầu bến cá. Mọi người lần lượt lên ghe... Tôi nghe tiếng một người đàn ông hỏi:
- Bà con lên hết chưa ? Đếm xem đủ người của mình chưa? Nhanh lên! để ghe rời bến, nhanh lên ! nhanh lên! công an nó đuổi tới nơi bây giờ!" Tôi nghe mấy tiếng "công-an đuổi đến bây giờ", tôi nhớ đến lời của tên Được: "Tau bắt đưa về công-an phường bây giờ! " Sợ hãi, tôi chạy nhanh lên cầu tàu. Một người chạy đến túm lấy tôi ném lên ghe: "Còn một đứa nhỏ, con ai đây? ...xong rồi! mở máy cho ghe chạy đi, trời bắt đầu sáng rồi."

Trong ghe tối đen, tôi không nhìn thấy ai là ai. Một người lay tôi dậy. Trời đã sáng. Mọi người ngồi ép vào nhau.Vài người lao nhao hỏi tôi: "Cháu là con ai vậy? Tên là gì ? Đi với ai?. Tôi bật khóc, không biết trả lời như thế nào. Một bà dang tay ra ôm và an ủi tôi. Tôi nói với bà: "Con chờ anh con đi theo ghe đánh cá trở về..rồi một người nào đó ném con lên ghe này khi ghe bắt đầu chạy".

Buổi chiều hôm đó, mọi người được phép lần lượt ra khỏi lòng ghe để thở chút gió mát. Quanh tôi, biển mông mênh không thấy đâu là bờ. Tôi nhớ đến anh hai tôi, nhớ ba mẹ tôi, nhớ gia đình bác Hội, nhớ mọi người trong xóm.

Tôi nghe hai người đàn ông nói chuyện với nhau:

- Chuyến này như vậy là thành công, hai lần truớc bị bắt khi ghe vừa rời bến, nhưng lần nầy thì ghe mình thoát, đang chạy trong hải phận quốc tế rồi..."

Hai ngày sau ghe chết máy, thả bồng bềnh trên biển. Trong lúc nguy khổn, may sao ghe được một tàu hàng Do-Thái đi ngang cứu và chúng tôi được đưa đến trại tỵ nạn cọng-sản ở đảo Galang của nước Nam-dương.

*********

Tôi được một gia-đình người Pháp gốc Do-Thái nhận làm con nuôi, định-cư tại Tel-Aviv,sau mấy tháng sống tại tỵ-nạn Galang.

Hôm xuống tàu để sang Singapour, những người tỵ-nạn còn đang bị tạm lưu lại đảo, tụ tập ngoài cầu tàu để tiễn những người được đi định cư đến các nước đã nhận cưu mang họ. Con tàu xa dần bến, người đưa tiễn khuất dần trong tầm nhìn. Nỗi cô-đơn ngập trong tôi, tôi cảm nhận kể từ phút đó, tôi mất tất cả những gì gọi là hình bóng Viêt-Nam. Tôi gục đầu vào thành tàu, nghe những thổn thức tràn ngập trong lòng. Tôi khóc.

*******

Ba mẹ Do-Thái của tôi không có con. Bà đã có hai người con nuôi trước khi nhận tôi. Ba nuôi tôi có một nông trại trồng cam còn mẹ nuôi tôi là một giáo sư ngôn ngữ học. Hai người anh của tôi là một người da màu, gốc Madagascar còn nguời anh kia gốc Ai-cập.Trong ba người, tôi nhỏ tuổi nhất, kém người anh cả tám tuổi, kém người thứ hai năm tuổi.

Chúng tôi được nuôi ăn học đàng-hoàng, sống rất hòa thuận và đều theo Do-Thái giáo. Bà mẹ nuôi tôi hay than với tôi: "Đất nước của con sao mà nhiều thống khổ quá! chỉ tội cho người dân. Con cố học và đừng quên tiếng Việt; sẽ cần cho con sau nầy khi con muốn tìm về cội nguồn. Khi tôi bắt đầu lên trung học, mẹ nuôi tôi bắt đầu dạy tôi học tiếng Việt. Trong những giờ dạy tiếng Việt, bà yêu cầu tôi kể những gì liên quan đến gia đình tôi mà tôi còn nhớ được. Tôi kể bằng tiếng Việt những gì tôi còn nhớ được về hoàn cảnh của tôi. Mẹ tôi đã ghi lại trên giấy và vào buổi cơm tối ngày hôm sau bà đọc lại cho mọi người trong gia-đình cùng nghe bằng tiếng Do-Thái. Sự việc nầy kéo dài hàng năm cho đến lúc tôi không còn nhớ gì để kể lại. Sau này những lúc chỉ có hai người, mẹ nuôi tôi thường nói tiêng Việt với tôi. Bà bảo đã hai lần đi Việt-nam, tìm đến những nơi mà tôi đã kể cho bà nghe để tìm tin tức gia-đình tôi nhưng vô hiệu. Có lẽ trí nhớ và số tuổi nhỏ của tôi đã không kể lại đủ chuyện gia-đình tôi cũng như nơi chốn gia-đình tôi sinh sống trước đây cho bà nghe.

Sau khi tốt nghiệp đại-học, tôi được học bổng của trường đại học Sorbonne Pháp để học tiếng Pháp tại Paris. Một hôm đang ăn trưa tại một tiêm phở thuộc khu phố người Việt quận 13, một bác phục vụ nhà hàng lại bàn nói chuyện với tôi. Bác hỏi thăm và cho biết bác cũng là người gốc quận ba Đà-nẵng trước đây. Bác và gia-đình vượt biển sau khi thành-phố Đà-nẵng bị mất vào tay cộng-sản. Bác có trở về Đà-nẵng vài lần, nên bác cho biết các sự đổi thay và chỉ dẫn tôi cách tìm đường về nơi tôi đã đuợc sinh ra và lớn lên sau khi khuyên tôi nên về Đà-nẵng một chuyến để tìm lại gốc gác gia đình.

**********

Tôi đi dạy được hai năm thì cưới vợ và có hai con, một trai một gái. Khi con trai đầu của tôi được tròn bốn tuổi, tôi mua cho nó một chiếc xe đạp nhân ngày sinh-nhật của nó. Khi đem chiếc xe về nhà, tôi nhớ đến ngày còn ở quê nhà mẹ tôi đọc thơ của ba tôi viết từ chiến trường hứa về mua cho tôi chiếc xe đạp nhân ngày sinh-nhật nhưng rồi điều đó không xẩy ra. Nhìn con trai tập đạp xe, tôi ứa nước mắt, bùi ngùi nhớ lại tuổi thơ của mình, tội nghiệp cho thằng bé là mình hai chục năm trước.

Nếu ngày đó tôi có được chiếc xe, không biết tôi có những cử chỉ vụng về, loạng quạng khi tập đạp xe như con tôi bây giờ?

Tôi hay nói với vợ tôi, "Cho đến tuổi nầy, anh chưa bao giờ bước lên yên xe đạp". Vợ tôi an ủi: "Anh lại trở về với quá khứ rồi, hãy quên đi !"

Tôi chỉ biết thở dài...làm sao mà quên được !

**********
Mùa hè năm 2010, mẹ nuôi tôi khuyên tôi nên trở về Đà-nẵng tìm thăm tin-tức gia-đình; nếu tôi tìm được bà định sẽ đem hết đại gia đình cùng đi với tôi trong một chuyến đi sau.

Tôi về đến Đà-nẵng, theo lời hướng dẫn của cô tiếp-viên khách-sạn và những chi tiết bác đồng-hương tại một nhà hàng bên Pháp cho biết năm nào. Tôi tìm đuờng ra bờ sông Hàn rồi tìm phà qua sông. Bến phà này mấy mươi năm trước anh hai đã đưa tôi qua lại mấy lần để đến bịnh-viện bán máu lấy tiền mua gạo. Mọi vật đã đổi thay, phà đã ngừng đưa khách, những chiếc cầu mới đã được bắt ngang hai bờ sông. Bác xe ôm lớn tuổi chở tôi chạy vòng qua bao nhiêu khu phố mà ở cái tuổi tôi thời ấy chưa có, bây giờ các khu phố đã mọc lên che lấp những bờ dương và bãi cát cùng sóng biển. Tôi ra đi ở cái tuổi lên năm, chưa có ý-niệm gì về tên làng, tên xóm, tên phường, tên con đường hẻm chạy qua trước nhà... nên bao nhiêu năm qua tôi không thể nào liên lạc về nhà cũ; quê hương dường như đă chết trong tôi. Tôi nhờ bác lái xe ôm hỏi thăm và đưa tôi đến bến ghe cá mấy mươi năm trước. Tôi hy vọng từ đó tôi sẽ tìm ra nhà cũ của ba mẹ tôi. Bác lái xe ôm đã đưa tôi đến bến ghe cá cũ, nay chỉ còn cái danh của ngày trước vì bến đã dời đi nơi khác, thay vào đó là một khách-sạn đã được xây lên cùng những ngôi nhà cao tầng. Tôi hỏi thăm nhà ba mẹ tôi, hỏi thăm nhà bác Hội, hỏi thăm tên anh hai tôi, mọi người đều lắc đầu, trả lời với một giọng nói có âm sắc mà tôi chưa hề được nghe khi còn thuở thơ ấu. Lòng nặng chĩu và thấy lạc-lõng, tôi rưng rưng muốn khóc. Cả một buổi trưa tôi lang-thang, từ khu nầy qua khu khác, áo đẫm mồ hôi, tôi đứng tựa vào một tường nhà có bóng mát tránh nắng. Tôi định quay trở về khách sạn để tiếp tục trở lại khu nầy ngày hôm sau. Bỗng tôi nghe có tiếng ve sầu vang lên đâu đây, buồn não. Ngày xưa trong xóm chỉ có nhà tôi có cây phượng vĩ. Mùa hè hoa nở đỏ rực, lũ ve sầu từ đâu đến buông tiếng kêu râm ran và rầu rĩ, như ru tôi ngủ vào những buổi trưa nóng bức. Khi có cơn gió mạnh, những cánh phượng rơi lả tả xuống sân nhà, mẹ tôi cầm chỗi quét. Một lần tôi nghe mẹ tôi phàn nàn với ba tôi: "Anh ơi, hãy đốn cây phượng làm củi cho rồi. Ngày nào cũng quét hoa rụng, mệt quá". Ba tôi cười trả lời: "Cây phượng nầy do ông nội trồng để tưởng nhớ bà nội sau khi bà nội chết, bà nội mấy đứa nhỏ tên Phượng, mình không đốn cây được đâu." Tôi lần đi về hướng có tiếng ve rên-rĩ... màu đỏ của hoa phượng chan hòa trước mắt tôi: một cây phượng to lớn im lìm dưới nắng chói chang... Tôi dừng chân bên cây phượng mọc ngay bên cổng vào một căn nhà... tôi nhìn kỹ, hình ảnh ngôi nhà xa xưa của tôi hiện ra rõ ràng trong trí nhớ. Tôi đã tìm ra được nhà tôi. Hàng hiên không có gì đổi thay, tất cả còn nguyên như cũ. Tôi lặng nguời vì vui mừng. Lòng hồi hộp nhưng cố giữ bình -tĩnh, một hồi lâu tôi gọi vọng vào bên trong:

- Có ai trong nhà không, cho tôi hỏi thăm? Tôi gọi đến lần thứ ba thì cánh cửa nhà hé mở, một đứa bé trai bước ra nhìn tôi rồi vội quay vào đóng cửa lại. Tôi kiên nhẫn chờ. Cánh cửa lại mở, một người đàn ông râu tóc bạc phơ chống nạng bước ra. Tôi nhận ra ngay bác Hội ngày xưa của tôi. Bác già quá nhiều. Bác chống cây nạng gỗ mà người cứ run run. Bác lấy tay che trán nhìn tôi. Tôi bồi-hồi, xúc-động nói lớn:

- Bác Hội còn nhớ con không? Con là Tấn em đây. Bác đi khập khiễng ra cổng, giọng lắp bắp:

- Tấn em hả? con còn sống hả? Trời ơi! con còn sống hả?.. Vào đi, vào đi con.

Hai bác cháu loạng choạng ôm nhau, cả hai cùng khóc, khóc vì mừng gặp lại nhau và khóc cho thân phận của mỗi người và thân phận của nhau. Tôi theo bác vào nhà, đưa mắt nhìn quanh, vội hỏi bác:

- Ba mẹ cháu đâu? anh hai cháu đâu bác?" Bác khựng lại rồi nói:

- Chuyện còn dài, rồi bác sẽ kể lại cho con nghe. Con ngồi nghỉ cho khỏe đã!
*********
Và bác kể:
"Ngày mẹ con đi Huế tìm thăm ba con bị thương ở Quảng-tri và được đưa vào điều trị tại bịnh-viện Huế đến nay, bác chỉ nghe bạn đồng đội của ba con kể lại. Khi mẹ con ra đến bịnh viện thì ba con đã bị chính quyền mới của Cọng-sản đuổi ra khỏi bịnh viên cùng với các đồng đội khác cũng bị thương. Những người thương-binh và các nguời nuôi bệnh cùng cảnh này tụ-tập sống dưới chân cầu Tràng-tiền, nhờ vào sự giúp đỡ của dân chúng. Sau đó họ dìu dắt nhau theo quốc lộ 1 trở về Đà-nẵng, ngày xin ăn, tối ngủ bờ ngủ bụi. Khi đến Cầu-Hai thì ba con kiệt sức vì vết thương làm độc nên chết tại đây. Sau khi được dân Cầu-Hai giúp chôn cất ba con xong thì ngày hôm sau mẹ con, lúc đó cũng đau yếu, thất thểu đi một mình trên đuờng vào Đà Nẵng. Rồi từ ngày ấy đến nay, không ai biết tăm tích của mẹ con ở đâu nữa. Chắc là chết ở đâu rồi, vì nếu còn sống mẹ con thế nào cũng tìm về nhà ở Đà nẵng với hai anh em con."

Tôi gục đầu xuống bàn, thổn thức. Giọng bác đều đều:

" Khi con mất tích, anh hai con, gia-đình bác cùng bà con lối xóm ngày đêm tìm kiếm hoài không ra. Anh hai con buồn lắm, sống như một cái bóng thui thủi trong căn nhà này - bác nhìn quanh nơi bác và tôi đang ngồi. Ba năm sau, anh hai con đến tuổi "thi hành nghiã vụ quân sự" thì bị đưa qua chiến trường Campuchia. Chỉ sáu tháng sau, địa phương báo cho bác biết anh hai con đã tử thương. Người ta hứa sẽ đưa xác về, nhưng đó chỉ là lời hứa suông thôi, không bao giờ có xác về. Bác đã lấy một mảnh đất sau vườn nhà con xây một ngôi mộ nhỏ, lập bia chung cho cả ba người, ba mẹ con và thằng Tấn anh của con. Hằng ngày bác thắp nhang cho linh hồn ba mẹ con và anh hai con khỏi lạnh lẽo. Còn riêng phần con, bác nghĩ là con không chết, có lẽ con đã đi lạc đến một nơi nào đó, có người đem về nuôi, một mai khôn lớn con sẽ tìm ra gốc gác gia đình để trở về... Anh hai con cũng có ý nghĩ như bác nên trươc ngày bị đưa đi Campuchia, anh con đã giao hết giấy tờ nhà đất cho bác giữ hộ và dặn: "Nếu con có mệnh hệ nào thì xin bác giao lại cho thằng Tấn em con." Bác giữ đã lâu mà vẫn không có tin tức gì của con, bác sợ chính quyền sẽ tịch thu căn nhà nên bác đã xoay sở sang tên ngôi nhà cho bác, nhờ vậy, cái nhà vẫn còn. Nay con trở về, bác sẽ giao nhà lại cho con.



Tôi theo bác ra sau vườn, ngôi mộ nằm bên một góc vườn. Mộ bằng xi-măng, sạch sẽ. Tôi đọc tên ba, mẹ và anh hai tôi ghi trên mộ bia. Tôi quỵ người xuống, gục đầu vào thành bia, nước mắt trào ra. Lòng tê tái, tôi đau đớn nghĩ đến cha mẹ, đến anh hai tôi và tự xót thuơng cho thân phận mình mồ côi, cô độc, tìm ra gốc gác gia đình chỉ để nhận thêm một sự thực rằng trước sau gì tôi vẫn không còn cha mẹ, anh em, không có ai là người ruột thịt... đến lúc bác Hội nắm tay kéo tôi đứng lên, đèn trong nhà bác đã thắp sáng.

Ngày hôm sau, tôi vẫn giữ căn phòng ở khách-sạn nhưng về sống với gia-đình bác Hội. Một hôm bác đưa tôi dạo quanh xóm cũ, phần lớn dân cư từ nơi khác đến.Tình cờ ngang qua một tiệm sửa xe, tôi gặp Hiền, người bạn cùng học lớp mẫu giáo với tôi ngày xưa. Hai đứa nhận ra nhau. Cả hai bồi hồi, xúc-động. Bằng tuổi tôi nhưng Hiền mang dáng dấp của một ông lão. Ba của Hiền, ngày xưa là Trung-úy của quân lực Việt Nam Cọng-hòa. bị chính-quyền mới bắt đi tù cải-tạo ở Trung-phước rồi chết tại đó. Vì có lý-lịch con của "ngụy" nên Hiền không tìm đươc công ăn việc làm, nên đành lấy hiên nhà làm tiệm sửa xe từ mấy chục năm nay. Con cái học hành không tới đâu, nhà quá nghèo.Vợ cũng phải phụ chồng sửa xe. Bất chợt cơn mưa rào chợt đến. Hiền vội vã tìm thau và chậu đề hứng nhưng cả tiệm sửa xe vẫn tràn đầy nước từ trên mái đổ xuống. Hiền nói: "Cái nhà đã 'rệu' từ chục năm nay, không tiền để sửa, bây giờ lo cái ăn cho gia-đình khỏi đói là đủ mệt rồi". Tôi nghe mà lòng bỗng dưng cồn-cào như bị cái đói ngày xưa hành hạ, cái đói mà anh Hai tôi phải bán máu, chất dinh dưỡng cơ thể để đổi lấy cái ăn mà sự dinh-dưỡng cơ thể đang cần... một cái vòng lẩn quẩn khốn-nạn của nhu cầu sinh tồn.

Buổi chiều truớc ngày từ giả gia-đình bác Hội để về lại Do-Thái, bác cùng tôi ngồi tâm-sự trong phòng khách. Bác kể lại tình bạn giữa bác và ba tôi, kể đến đâu, bác thở dài đến đó, bác ngậm ngùi nhớ đến kỷ niệm của một thời đă qua.Tôi tựa đầu vào thành ghế, tai chăm chú nghe nhưng mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà. Tôi hướng mắt về phía cái kèo nhà có cái khe nứt, sực nhớ lại chuyện ngày trước bác Hội đã thúc hối anh hai tôi tháo cờ ba sọc đỏ dấu đi....anh hai tôi đã leo cột nhà đem dấu vào chỗ khe nứt đó...bỗng nhiên tôi đứng lên đi vòng vòng trong phòng khách, mắt cứ nhìn chăm chăm vào khe nứt trên kèo nhà. Có lẽ bác Hội ngạc nhiên nên hỏi tôi:

- Con tìm cái chi rứa? Tôi trả lời:

- Bác còn nhớ,ngày xưa khi cọng sản vào thành phố, bác thúc anh hai con đem cây cờ ba sọc đỏ giấu đi và anh Hai con đã đem lá cờ giấu vào cái lỗ đó", tôi vừa nói vừa chỉ tay lên lỗ nứt trên kèo nhà. Bác Hội "ờ" lên một tiếng rồi nói "thằng ni nhớ dai ghê, như vậy thì nó còn ở đó; từ đó cho tới ni, chỗ đó không ai động đến, mà lâu quá không biết lá cờ có mục có nát không?"

Nói xong bác tiến đến cửa lớn nhìn ra ngoài và nói với vẻ thận trọng:

- Sắp nhỏ chạy chơi đâu hết rồi, con muốn xem cái đó thì leo lên xem thử.

Nói xong bác khép cửa lại, gài chốt ngang.Tôi đã định xin phép bác leo lên xem thử lá cờ còn đó không, thì nghe bác khuyến khích làm tôi vừa sung-sướng vừa hồi hộp. Tôi đang loay hoay tìm cách leo lên cây cột (nhà xây theo kiểu xưa, có nhiều cột) thì bác đẩy cái bàn đến sát cây cột nhà rồi để thêm cái ghế lên trên bàn, bác nói:

- Làm như thế ni leo dễ hơn!
Tôi thận trọng bước lên bàn, bước lên ghế, dùng hai tay đu lên sà nhà. Tôi chợt nhớ đến anh hai tôi, hồi đó anh leo lên cột sao dễ dàng và nhanh nhẹn như sóc vậy.

Tôi thọc tay vào khe hở bên kèo nhà, tay chạm vào một vật mèm mềm, kéo ra, một cuộn vải màu vàng đã phai màu..Tôi nói với bác Hội:

- Nó còn đây bác ơi!. Tôi ném cuộn vải màu vàng xuống cho bác. Bác nhặt cuộn vải lên, mở ra, tay giũ giũ mấy lần, lá cờ ba sọc đỏ hiện ra trước mắt tôi...tôi nghe bác nói:

- Còn nguyên si, chỉ bạc màu chút thôi. Tôi tuột xuống đứng bên bác. Bác trùm lá cờ lên đầu bác. Tôi nghe bác hít... mấy cái rồi bác lặng yên, chừng một phút sau bác lấy lá cờ ra khỏi đầu. Tôi nhìn thấy hai mắt bác đỏ và long lanh nước. Bác trao lá cờ cho tôi giữ và mở cửa đi ra ngoài rồi quay lại với một lọ thủy tinh trên tay, bác nói với tôi:
- Con cuộn lá cờ lại bỏ vài cái lọ ni, đem ra chôn bên mộ của ba con, ba con chết không có ai phủ cờ, mình nay đem chôn cạnh ba con như rứa ba con cũng ấm lòng.

Tôi cuộn lá cờ cho vào lọ, đậy nắp lại. Bác và tôi cùng đi ra ngôi mộ sau vườn. Bác dùng con dao chẻ củi đào một cái lỗ trên đầu mộ, tôi để cái lọ vào đó và bác lấp đất lại. Tôi nghe giọng bác thì thào như nguời tâm sự:

- Tổ quốc chưa kịp ghi ơn em thì Tổ quốc đã mất.Tổ quốc chỉ còn một chút nầy, em mang theo để sống với kỹ niệm của một giai đoạn lịch-sử... và biết đâu Tổ quốc sẽ sống lại với con cháu của chúng ta sau nầy.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 23 2018, 03:57 AM
Gửi vào: #111


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,528
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



HÔN THÚ

Nhóm H.O. chúng tôi rủ nhau về Orlando làm đủ thứ nghề trong Disney World. Công việc của tôi là giữ an toàn cho du khách lên xuống ở bến tàu. Theme Park này có một hồ lớn ở giữa,chung quanh hồ là từng khu văn hóa của mấy nước tiêu biểu như Anh, Pháp, Ý, Nga, Ai cập, Nhật, Trung Hoa, Ấn độ…Du khách hoặc đi bộ hoặc ngồi tàu chạy quanh hồ và đậu lại từng bến trước khu văn hóa.
Một hôm có một du khách nhận ra tôi là bạn học Pétrus Ký từ 50 năm trước.Ngó bảng tên “ON LE”trên ngực tôi,anh hỏi :
--Phải anh là Lê văn On học Pétrus Ký không ? Tôi là Bá ngồi bên anh suốt 3 năm đệ nhị cấp đây.
Chúng tôi mừng rỡ bắt tay nhau.Vì Bá phải đi theo “Tour” nên chúng tôi chỉ kịp trao nhau số điện thoại để liên lạc với nhau sau.

Tôi nhớ lại hồi đó Bá rất thắc mắc về tên ON của tôi. Theo hắn,ON chẳng có nghĩa gì cả. Tôi giải đáp:
--Thằng em kế tao tên là ĐƠ.Ba tao đặt tên anh em tao theo âm tiếng Pháp.Tuy tao số 1 ( un ) nhưng trong nhà vẫn kêu là thằng Hai,em tao số 2 (deux ) nhưng vẫn là thằng Ba.
Bá cười thích thú :
--UN ! DEUX ! Nghe như diễn hành. Tao khoái cách đặt tên của người Nam nôm na mà lạc quan : Lắm,Sang,Đày,Mạnh,Tươi ,Vui,Đẹp…
Thấy hắn thật tình,tôi muốn kể thêm cho hắn nghe :
--Mày có nghe tên RI và BE bao giờ chưa ?
-- Mẹ tao dạy học cuối tháng đem sổ điểm về nhà,tao tò mò mở ra coi có thấy mấy tên như Võ văn Ri, Huỳnh văn Be.Tao đoán xuất xứ từ những câu “ khóc như ri “ và “kêu be be “.
--Trật lất ! Đó là tên rút ngắn của tiếng Pháp HENRI và ROBERT .
Bá vỗ bàn cười sặc sụa:
--Không ngờ người Nam tếu đến thế ! Cách đặt tên của người Nam phản ánh đúng tâm hồn người Nam.

Ngay tối hôm đó Bá gọi xin lỗi không gặp tôi được vì hôm sau phải theo Tour thăm NASA . Bá mời tôi sang COLORADO chơi với anh 1 tuần vào đầu mùa thu. Anh cho biết đó cũng là dịp giỗ đầu vợ anh. Tôi nhận lời.

Bá đón tôi tại sân bay Denver.Kiến trúc sân bay rất lạ mắt. Mái gồm mấy chóp nhọn như lều cổ truyền của người Da đỏ,lợp bằng một thứ giống như vải màu trắng.
Cách đây 40 năm Bá cùng vài bạn độc thân và hơn chục gia đình được một Nhà thờ bảo trợ về Fort Collins. Hồi đó thành phố này đìu hiu nằm dưới chân dãy ROCKIES , cách Denver chừng 3 giờ lái xe về phía bắc. Vậy mà cũng có một trường đại học thành lập từ cuối Thế kỷ 19.
Cộng đồng Việt nam nhỏ bé nương tựa vào nhau như một đại gia đình.
Thế hệ con cháu lớn lên vỗ cánh bay xa chỉ còn lại những người hưu trí và những người mệt mỏi muốn yên phận.

Giỗ chị Bá rất đặc biệt. Anh Bá giải thích:
--Tất cả đều là ý muốn của nhà tôi.
Theo ý chị, giỗ không có tính cách tín ngưỡng nhưng là nghi thức tưởng nhớ người đã khuất,tương tự như lễ Memorial của Mỹ. Tuy nhiên gia đình và bạn bè vẫn tụ tập ăn uống vui vẻ để kết chặt tình yêu thương.

Anh chị có một gái đã có chồng và một trai chưa vợ. Chúng từ Tennessee và Indiana bay về từ 2 ngày trước.
Bàn thờ chị Bá rất đơn giản : một tấm hình,một bình hoa,một bát nhang và cặp đèn cày .
Buổi sáng ngày giỗ,từ sớm mấy cha con đã chỉnh tề đứng hàng ngang trước bàn thờ. Mỗi người một nén nhang cùng một lượt lạy 3 lạy. Cắm nhang vào bát nhang,cha con đứng yên tưởng niệm . Anh Bá có lúc bặm môi để ngăn xúc động. Con gái đã sẵn tissue trong tay,đôi lúc đưa lên chấm nước mắt. Tôi được nhờ đứng ngoài chụp hình . Cuối cùng tới lượt tôi thắp nhang và lạy chị Bá.

Sau nghi thức đơn giản nhưng nghiêm trang, mấy cha con chia nhau nấu ăn. Góc vườn là lò gas, bếp điện và lò than. Anh Bá nấu dựa mận bằng thịt heo rừng. Con trai nướng sườn bò và đùi gà. Con rể hấp vịt ướp chao. Con gái ở trong bếp lo nấu xôi vò và làm gỏi tôm thịt. Tôi giúp kê 2 bàn nối nhau ở giữa vườn và đặt ghế rải rác dưới gốc cây. Sau đó tôi ướp lạnh thùng đồ uống gồm Coca Cola và Heineken.

Khách là bạn của anh chị và bạn của các con anh. Tôi được Bá giới thiệu với mọi người. Hầu hết là những người ra đi từ 1975, chỉ có tôi thuộc thành phần ở lại. Do đó tôi phải trả lời nhiều câu hỏi.
Khi khách về hết,Bá kéo tôi vảo nhà uống cà phê, để con cái và bạn chúng dọn dẹp ngoài vườn.
Bây giờ chúng tôi mới thong thả nói chuyện với nhau. Bá kể ::
--Nhà tôi chết vì tái phát ung thư vú. Từ chối hóa trị, nhà tôi bình tĩnh chấp nhận số mệnh. Nhà tôi nói :”Em sống với anh và các con tới đây là mãn nguyện. Em không buồn tại sao anh buồn ?” Có lúc nhà tôi vui đùa :”Sang thế giới bên kia em sẽ về đón anh sang với em. “
Thân mật cầm tay Bá , tôi ngỏ lời muốn đi thăm mộ chị. Bá nói :
--Nhà tôi muốn thiêu,tôi và các cháu làm theo ý nhà tôi.Nhà tôi còn muốn răc tro xuống một cái hồ của một thành phố gần đây. Thành phố này có tên rất nên thơ “ LOVELAND “.
--Người ta dễ dãi cho rắc tro xuống hồ vậy sao ?
--Đâu có được phép.Tôi phải giả câu cá rồi lén liệng hũ tro xuống hồ.
--Bộ chị tin tưởng điều gì chăng ?
--Tôi cũng hỏi nhà tôi câu ấy,nhà tôi thì thầm vào tai tôi :”Để nhớ tới hồ Than thở Đà lạt.Lần đầu tiên anh hôn em ở đó. Quên rồi hả ? “

Bá kể tôi nghe mối tình đầu tiên.
Hồi đó học trường Võ bị quốc gia Đà lạt,thú vui cuối tuần của anh là tìm cảnh đẹp để chụp hình nghệ thuật. Khi hết cuốn phim anh đem sang hình tại một tiệm gần chợ. Tiệm có trưng tấm chân dung một cô gái tuy không kiều diễm nhưng gương mặt toát ra một vẻ thông minh. Bà chủ tiệm thấy anh nhiều lần đứng ngắm liền nói :
--Cháu tôi đấy,con của anh tôi.
Ngó bà chủ,Bá nhận ra cô cháu giống nhau ở cặp mắt sâu và sáng. Bá hiểu bà chủ gợi ý nên đáp ứng liền :
--Cô làm mai cho cháu đi.
Bà chủ gật đầu cười :
--Chưa gì đã cô cháu rồi.

Bá được mời ăn giỗ ông nội cô gái. Cô tên là Tràng Thi,đang học trường Bùi thị Xuân. Ông nội đặt tên cho cháu để nhớ tới ngôi nhà của tổ tiên ở phố Tràng Thi Hà nội.
Lần đầu tiên gặp Bá,Tràng Thi vượt qua được e lệ vì tự tin nơi mình. Chàng và nàng tiếp chuyện vui vẻ và cởi mở. Mọi người trong gia đình cũng tỏ ra niềm nở với Bá.
Từ đó mỗi cuối tuần Bá đều ghé chơi và được giữ lại ăn trưa. Thỉnh thoảng Tràng Thi được phép đi chơi với Bá. Nàng không thích song đôi dạo phố. Bá thường đưa nàng đi chụp hình ở các thác , các hồ và đồi thông.
Bữa chơi ở hồ Than thở , chàng và nàng ngồi bên nhau trên thân cây thông bị trốc gốc đã lâu năm. Tràng Thi đang kể chuyện về lũ bạn học thì bị phấn thông bay vào mắt. Ngăn không cho nàng lấy tay dụi mắt, Bá kề miệng vào đuôi mắt thổi mạnh cho phấn thông trôi ra. Mặt giáp mặt, Bá thừa dịp hôn nàng.Tuy không cưỡng lại nhưng nàng cảm thấy bẽn lẽn. Để trấn tĩnh , nàng nghĩ được một câu nửa trách nửa khen :
--Bộ hôn nhiều người rồi hay sao mà rành quá vậy ?
Bá thật tình :
--Bắt chước phim ảnh,tối nằm ngủ tập hôn lên cánh tay.
--Ngộ ha ! Mà có tưởng tượng cánh tay là ai không ?
-- Sao không ?
-- Ai ?
--Còn ai vào đây nữa..
Lần này cả hai hôn nhau biểu lộ mối tình bấy lâu chưa nói.

Tràng Thi thi đậu tú tài . Bá còn 2 tháng tới ngày mãn khóa. Bá muốn làm đám cưới sau khi ra trường ..Nhưng Tràng Thi chỉ muốn làm lễ hỏi vì nàng có ý định học Chính Trị Kinh Doanh tại Đà lạt.
Lễ hỏi nhờ bà cô lo giúp nên bố mẹ Bá đỡ vất vả. Sau đó Bá về trình diện Quân đoàn 4 và được bổ sung cho Sư đoàn 21 . Từ đó kẻ bận hành quân, người bận học, chàng và nàng chỉ gắn bó nhau qua thư từ. Mỗi kỳ hè Tràng Thi về Sài gòn được mẹ chồng tương lai đưa xuống Cần thơ thăm Bá. Bá chỉ xin được phép về Cần thơ nửa ngày . Chưa chính thức là vợ lính nhưng đêm nghe tiếng súng xa xa Tràng Thi đã hiểu thế nào là “ sầu lên ngọn ải,oán ra cửa phòng “.

Ngày 30-4-75 Vùng 4 chiến thuật bỏ ngỏ, các đơn vị theo nhau rã ngũ trừ một vài đơn vị chiến đấu tới cùng .Khi ấy Đơn vị của Bá đang hành quân phối hợp với một Giang đoàn. Bá cùng một số sĩ quan được một tàu của Giang đoàn đưa ra khơi.

Tôi không muốn nghe Bá kể tiếp vì nỗi nhục của kẻ ra đi và nỗi nhục của kẻ ở lại đều là nỗi nhục của kẻ bại trận. Tôi lái sang chuyện khác :
--Rồi bằng cách nào anh đưa chị qua đây ?
Rót thêm cà phê vào ly của anh và tôi, anh nói :
--Do áp lực của quốc tế , phía VN chịu thi hành chương trình ra đi trật tự của Cao ủy tị nạn Liên hiệp quốc. Chúng tôi viết thư hướng dẫn gia đình làm hồ sơ gửi sang tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok. Bố mẹ và các em tôi đều đủ điều kiện nhưng tôi không bảo lãnh được Tràng Thi vì chúng tôi chưa có hôn thú.Nghe nói ở VN bây giờ người ta làm giấy tờ giả mạo khéo lắm,tôi viết thư cho bố : “ Tràng Thi làm mất hôn thú nên con không bảo lãnh được. bố xin bản sao khác giúp chúng con “ Bố tôi hiểu. Vài tuần sau tôi được thư bố cho biết đã xin được hôn thú và hồ sơ của Tràng Thi đã gửi sang Bangkok. Kết quả bất ngờ là Tràng Thi được sang Mỹ trước bố mẹ và các em tôi một năm.
Chúng tôi cùng cười vui.

Bá ngó lên bàn thờ rồi tủm tỉm cười như vừa nhớ ra một chuyện,tôi liền hỏi :
--Có gì vui kể nghe coi.
--Chỉ là chuyện nằm mơ. Cách đây một tuần tôi nằm mơ thấy nhà tôi. Tôi hỏi : “Em về đón anh phải không ? “ Nhà tôi lắc đầu nói :“ Về thăm anh thôi. Hồ sơ em bảo lãnh anh sang với em bị bên kia người ta bác rồi. “ Tôi hỏi “Tại sao ? “ Nhà tôi thở dài : ” Vì hôn thú giả mạo “

BQC
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

6 Pages: V « < 4 5 6
Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 23rd July 2018 - 10:57 AM