IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

3 Pages: V < 1 2 3  
Reply to this topicStart new topic
> VềNhữngNhânVậtNổiTiếng
BenTreHome
post Jan 30 2013, 08:47 PM
Gửi vào: #41


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,990
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





Subject: Phạm Duy: Còn gì đâu trong cuộc được thua
Châu Đình An





Tháng 4 năm 1981 tôi bước chân xuống phi trường Los Angeles, California trong bỡ ngỡ của một “dân giả quê mùa” lần đầu tiên đặt chân đến thành phố sầm uất nổi tiếng của Hoa Kỳ. Đang long ngóng thì có tiếng reo “A! đây rồi…”. Một người đàn ông ăn bận giản dị, chân đi dép và mái tóc hoa râm đến bên tôi “Phải An không?”.


Tôi nhận ra nhạc sĩ Phạm Duy, ông dẫn tôi đến bên chiếc xe Buick cũ đời 1977 màu cam nhạt, cất hành lý vào khoang xe và trực chỉ về nhà ông ở Midway City, Quận Cam Cali.

Trên đường đi từ Los Angeles đến Midway City vào khoảng gần 1 tiếng lái xe, ông hỏi thăm tôi về cuộc sống mới đến Mỹ ra sao, và một vài chi tiết thân thế long đong của tôi. Quen biết ông qua sự giới thiệu của cựu dân biểu VNCH Nguyễn Văn Cội, và khi tôi gửi đến ông 10 ca khúc để nhờ ông giúp thực hiện một băng nhạc Cassettes. Những bài nhạc tôi viết từ trại tỵ nạn Hồng Kông cho đến khi qua định cư ở Kenosha, Wisconsin Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 1980. Trong đó có những bài như Đêm Chôn Dầu Vượt Biển, Tâm Động Ca, Như Những Lời Ca Thép, Trại Tù Chữ S, Sẽ Có Sáng Mai Này, Như Một Lời Thề Nguyền…

Khi nhận được 10 bài nhạc, ông đã nhanh chóng hồi âm sau hai tuần lễ và một cuộc nói chuyện với ông dẫn tôi đến Los Angeles, mà tôi đâu biết đã bắt đầu đưa tôi bước chân vào giới nghệ thuật. Qua thư trao đổi, ông khen nhạc tôi có nét lạ của một người vừa vượt thoát từ Việt Nam sau 5 năm dưới chế độ (Không dùng từ này), và ông nhận lời đứng ra làm Producer, nghĩa là nhà thực hiện và sản xuất cho băng nhạc đầu tay trong đời sáng tác của tôi.

Bước chân vào căn nhà xinh xắn ở Midway City, tôi được chào đón bởi bà Thái Hằng, phu nhân của ông với một nụ cười hiền hậu, bà vui vẻ, dễ thương ân cần hỏi han và chỉ tay trên vách phòng ăn một bức hình tôi ở đấy. Ngạc nhiên thì bà bảo là “bác trai dán hình cháu để nhận diện đi đón cho dễ, mấy em ở nhà cứ thì thầm với bác là, có lẽ đây là con rơi hay sao mà bố lo lắng ân cần quá!” Mà cũng dễ nghi lắm, vì khuôn mặt tôi và Duy Minh có phần giống nhau lắm. Tôi cười và cảm thấy gần gũi ngay với không khí gia đình ông bà Phạm Duy. Đến chiều Duy Quang đi làm về, lịch thiệp trong quần Jean và áo sơ mi trắng, nụ cười hiền hậu, Duy Quang thiện cảm chào tôi. Chúng tôi bắt tay nhau và Quang hỏi đã ăn uống gì chưa rồi không đợi tôi trả lời anh đưa tôi ra xe bảo là đi uống cà phê và thăm phố Bolsa cho biết cộng đồng mình. Mặc cho bà Thái Hằng căn dặn là chiều về ăn cơm cả nhà.

Đó là những kỷ niệm đầu tiên của tôi với gia đình nhạc sĩ Phạm Duy mà tôi còn nhớ. Đến chiều về, cả nhà đông đủ, lần đầu tiên tôi dự bữa cơm gia đình gồm có ông bà Phạm Duy và các con Quang, Minh, Hùng, Cường, Hiền, Thảo, Đức, Hạnh, 10 người ăn và thêm một miệng mới nữa là tôi. Bữa cơm rất ngon vì vui, và từ lâu tôi chưa hề có cái không khí gia đình, thân mật, ấm cúng.

Là một gia đình nghệ sĩ, các con của nhạc sĩ Phạm Duy nói chuyện thoải mái, đùa cợt với bố mẹ, nhưng vẫn có sự kính phục. Đây là một gia đình Bắc Kỳ chính hiệu có truyền thống và nề nếp. Cho dù 4 chàng con trai (Quang, Minh, Hùng, Cường) và 2 cô con gái (Hiền, Thảo) đã trưởng thành, nhưng vẫn ở chung với bố mẹ. Nhà nhỏ, nhưng ngăn chia nhiều phòng, có phòng thì hai người, chỉ riêng Duy Quang có riêng một phòng lớn là cái gara để xe trưng dụng thành phòng ngủ, và Duy Cường có một phòng riêng vì bận làm hoà âm cho nhạc. Ngoài công việc đi làm thường ngày, nhạc sĩ Phạm Duy và các con vẫn dựng lại ban nhạc The Dreamer và mỗi cuối tuần chơi nhạc tối thứ sáu, thứ bảy tại vũ trường ở Quận Cam thời bấy giờ.

Tôi ngụ lại nhà nhạc sĩ Phạm Duy suốt thời gian hai tuần lễ thực hiện thu âm cho dĩa nhạc, phải nói là ông rất chu đáo về tổ chức, ngày nào thu thanh ai hát, xem lại bài nhạc, xem lại hoà âm, và cuối cùng, trong tay chúng tôi có dĩa master nhạc Châu Đình An, và thời bấy giờ Master băng rất to, đến hai dĩa băng nhựa nặng tay.

Nhạc sĩ Phạm Duy liên lạc với hoạ sĩ Hồ Đắc Ngọc vẽ cho tôi cái bìa băng Cassettes, chở tôi đến nhà in AnNam của ông Lê Ngọc Ngoạn để xem giá cả và ấn loát, những buổi đi làm việc như thế chỉ có ông và tôi trên chiếc xe cũ của ông băng qua những con đường trong sương mù buổi sáng, và trong xe thì luôn phát ra các ca khúc mới toanh của tôi. Bạn tưởng tượng xem, tôi hạnh phúc và ngây ngất như thế nào bên một nhạc sĩ lừng lẫy nghe nhạc của tôi mới ra lò.

Ông còn thủ bút viết cho tôi những lời sau:

“Nhạc Châu Đình An vì có nội dung rất tích cực, hy vọng sẽ là người đại diện cho những ai vừa vượt thoát từ Trại Tù Chữ S, sẽ có ngày trở về dựng cờ Quốc Gia trên đất nước thân yêu”. Ký tên Phạm Duy

Ông không ngần ngại khen ngợi nhạc tôi viết hay, và ca khúc của tôi nhan đề Tâm Động Ca do Thái Hiền trình bày đã làm ông xúc động rưng rưng khoé mắt, lời bài hát tôi viết sau 5 năm tả tơi trong chế độ mới từ 1975 đến 1980:

“Khóc cho người ở lại Việt Nam

Một tiếng khóc thương cho đồng loại

Một tiếng khóc thương em khờ dại

Một tiếng khóc nhăn nheo mẹ già

Có tổ quốc, mà không có quê hương

Có đồng bào mà sao xa lạ

Có Việt Nam mà tôi mất đâu rồi

Có giòng sông mà con nước khô cạn

Có tình yêu mà không có bè bạn

Đứng bên này bờ biển đại dương

Nhìn chẳng thấy quê hương chỗ nào

Nhìn chỉ thấy thêm thương đồng bào

Lời tổ quốc trong tim dạt dào

Và nghe tiếng trong tôi thì thào

Giọt nước mắt lưu vong chợt trào

Tạm biệt

Tổ quốc thương yêu…

Của tôi”

(CDA 1980)

Ông xúc động và chắt lưỡi thốt lên “hay lắm!” không những vì giòng nhạc tôi mà còn vì giọng con gái ông là Thái Hiền cao vút kết thúc câu tạm biệt tổ quốc thương yêu của tôi. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ một hình ảnh của nhạc sĩ Phạm Duy ngồi sau tay lái chiếc xe và nỗi rung động thiết tha với quê hương đang đau khổ. Cứ thế, hằng ngày, những câu chuyện ông kể, từ đời sống âm nhạc của ông, lộ trình vượt thoát đến Mỹ, và đến nỗi đau đớn dày vò suốt bao năm tháng dài khi 4 người con trai còn kẹt lại quê hương. Ông cũng kể là cả hai ông bà in roneo, loại giấy copy để đóng thành tập nhạc dạy đàn guitar do Phạm Duy biên soạn để bán kiếm tiền sinh sống, và nhận lời đi hát dạo cho cộng đồng người Việt phôi thai hình thành. Ban nhạc gia đình với Phạm Duy, Thái Hằng, Thái Hiền, và Thái Thảo, ông luôn nghĩ là mình không lúc nào quên được cách để kiếm tiền, hầu có phương tiện tìm cách cứu thoát Quang, Minh, Hùng, Cường còn lại quê nhà. Bà Thái Hằng còn cho tôi biết, những ngày bận rộn sinh kế thì thôi, còn khi về đến nhà, là ông Phạm Duy nằm dài ra thừ người, đau đớn, ray rứt với 4 người con trai mà ông đang suy tính tìm đủ cách để đoàn tụ.

Ở đây tôi muốn nói đến tình yêu con quá sức nơi nhạc sĩ Phạm Duy, cả nhà 10 miệng ăn, và từ khi còn ở Việt Nam qua đến Mỹ, nhất nhất do bàn tay của ông làm ra, từ viết nhạc, viết bài và làm những việc liên quan đến âm nhạc để nuôi sống gia đình. Các con của ông dựa vào ông, chỉ vì yêu quá, săn sóc và lo lắng thái quá, do vậy đã dẫn đến tình trạng sau này, là ông đánh đổi tất cả sự nghiệp âm nhạc tiếng tăm, để chọn một lối thoát kinh tế cho các con khi về sinh hoạt trong một nước Việt Nam do (Không dùng từ này) cai trị.

Đây là một sự thực mà ít ai hiểu được.

Trong email với nhà báo Hoàng Lan Chi, khi chị đề cập về thái độ và lời nói của ông trong các cuộc phỏng vấn của báo chí “lề phải” trong nước, đã dấy lên sự phản ứng bất bình của cộng đồng hải ngoại, về những bức ảnh ông cầm tấm thẻ “chứng minh nhân nhân”, “chứng minh hộ khẩu”, tôi đã trình bày cho chị về những điều tôi biết, và nhà báo Hoàng Lan Chi, một người quen biết với gia đình ông.

Chế độ ###### và nhạc sĩ Phạm Duy chơi “game” với nhau, cả hai lợi dụng nhau, và cả hai đều có đường tính toán khác nhau. Chắc chắn một điều là Phạm Duy không thể nào theo cái gọi là chủ nghĩa (Không dùng từ này), và ông đã nhận ra chế độ hiện nay ở Việt Nam, không còn thứ (Không dùng từ này) của thời Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, mà là cái vỏ bọc (Không dùng từ này) che chắn cho cái thực chất là chế độ tư bản đỏ, độc tài toàn trị và cái ruột chính vẫn là mô hình tư bản kinh tế, hay rõ hơn là tham nhũng, bán tài sản quốc gia làm giàu cho các lãnh tụ và phe cánh. Ông Phạm Duy chọn một lối đi như tôi đã nói ở phần trên là, lối đi kinh tế cho các con của ông sau này, mà nhìn phiến diện đó là sự thoả hiệp dễ nhạy cảm phát sinh ra sự chê trách, chống đối từ phía cộng đồng người Việt quốc gia, cái nôi đã cho ông hít thở, phát triển gần như toàn diện sự nghiệp âm nhạc của ông. Do vậy, người ta giận dữ cũng chỉ vì tiếc cho ông, một tài năng, một biểu tượng văn hoá còn sót lại của Việt Nam Cộng Hoà.

Tôi đoan chắc là chỉ vì quá yêu thương các con, ông đã chọn về Việt Nam trong chế độ độc tài hiện hữu để có ba việc:

Thứ nhất: Cái chết của vợ là bà Thái Hằng đã làm ông hụt hẫng năm 1999, dù ai nói ra sao về cuộc đời tình ái phiêu lưu thêu dệt của người nhạc sĩ, nhưng, có lần ông cho tôi nghe ca khúc “Nắng Chiều Rực Rỡ” mà ông bảo là viết riêng cho bà, vì cả ngàn ca khúc của ông chưa có bài nào viết cho bà. Trong đó có câu “thế kỷ này, đang trong nắng ban chiều. Cho lòng mình bâng khuâng nhớ nhau”. Ông bắt đầu cô độc thực sự sau ngày bà ra đi.

Thứ hai: Người già cô độc, và đơn chiếc, dễ tủi thân mủi lòng, nếu ông mất sớm vào khoảng 70 tuổi thì thôi không có chuyện nói đến, và bây giờ Phạm Duy vẫn là thần tượng, nhưng ông sống đến trên 80 tuổi mà quê hương với ngày về thực sự vẫn xa vời vợi, chế độ (Không dùng từ này) chưa sụp đổ như bao người trông chờ, không biết đến bao giờ quay trở lại cố hương. Ông mất sự kiên nhẫn, ông muốn về một lần rồi nhắm mắt xuôi tay ở cái quê hương khốn khổ đã cho ông nếm trải nhục vinh rồi ra sao thì ra.

Thứ ba: Sau hết là cuộc sống các con, khi ông chết rồi con mình sẽ ra sao, chẳng ai có nghề nghiệp cố định, chẳng ai có bằng cấp gì cả, chỉ hoàn toàn sống bằng âm nhạc của chính ông dạy dỗ, tạo dựng. Và môi trường hải ngoại thì không đủ điều kiện để các con sinh sống, làm thầy thì không được, làm thợ thì khó, do vậy, ông lợi dụng chính sách gọi là “nghị quyết 36” hoà giải dân tộc để trở về, mở đường máu tồn tại và nuôi sống “âm nhạc của ông và các con”, bất chấp sự phản đối, bất chấp, ông biết là người ta sẽ thất vọng vì sự sụp đổ hình ảnh thần tượng nghệ sĩ quốc gia nơi ông.

Người nghệ sĩ Việt Nam đứng giữa hai lằn đạn của hai chiến tuyến khác nhau trong mọi thời kỳ, dù chiến tranh hay hoà bình hiện nay. Và người nghệ sĩ trong một giây khắc xúc cảm rất dễ trở nên yếu đuối. Vì tâm hồn không yếu đuối, không thể là nghệ sĩ.

Cái còn lại, tôi nghĩ xa hơn, một khi tâm hồn chúng ta yếu đuối, cần có nơi nương tựa, cần có nơi chở che. Cộng đồng hải ngoại là nơi để nương tựa, nơi để thở than và mong nhận che chở. Dù sao thì, cộng đồng chúng ta ở hải ngoại khi thương thì hết lòng, khi ghét thì hết tình. Ngay như bản thân tôi về ở Orlando, Florida hơn 20 năm qua, chuyên làm kinh tế, nghĩa là lo đi làm ăn, mà vẫn không yên, tôi hiểu con người ta, chỉ có một thiểu số có sự ganh ghét, đố kỵ, chụp mũ và thiếu sự cảm thông. Do vậy, không riêng gì ông Phạm Duy, mà còn nhiều nữa, cộng đồng nói chung, đôi khi vì quá nhiệt tình, quá sôi nổi, quá bức xúc vì chế độ (Không dùng từ này) Việt Nam, do vậy vô tình đã thiếu sự khoan dung, thiếu sự che chở, không có trái tim bao dung che chở, nương tựa cho những nhà văn hoá, chính trị, tôn giáo. Cuối cùng, chỉ xô đẩy người ta sống theo cách sống của họ là bất chấp, và họ trở thành ích kỷ. Điều này đã xảy ra ở các hiện tượng Nguyễn Cao Kỳ, Thích Nhất Hạnh và bây giờ là Phạm Duy.

Ông Phạm Duy đã nằm xuống, nhắm mắt xuôi tay suốt 93 năm làm con người sống thở trên cõi đời này. Chắc chắn là các báo lề phải trong nước sẽ có nhiều bài “vinh danh” ông, ca ngợi sự nghiệp âm nhạc và con người ông. Chế độ (Không dùng từ này) hiện nay luôn nhận vơ cho mình những khuôn mặt lớn của văn học nghệ thuật, từ Văn Cao, Trịnh Công Sơn và bây giờ là Phạm Duy là người của họ, là những kẻ thành danh do bởi chế độ, hoặc là tài sản chung của đất nước. Bởi vì có mất mát gì đâu, khi một cái “Game” mà chế độ lúc nào cũng là kẻ thắng bởi vì cầm quyền ban phát “xin và cho”.

Đây là một bài học cho giới làm nghệ thuật một khi thoả hiệp trong một trận đấu “Game”.

Ở sao cho vừa lòng người

Ở rộng người cười, ở hẹp người chê!

Châu Đình An


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jan 31 2013, 08:22 AM
Gửi vào: #42


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8






Ông NGUYỄN NGỌC TƯƠNG

(Giáo Tông Ban Chỉnh Đạo (BếnTre) /Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Nguyễn Ngọc Tương)

Xin xem các mục từ khác có tên tương tự ở Nguyễn Ngọc Tương (định hướng)

Nguyễn Ngọc Tương (1881 - 1951) là một nhân sĩ trí thức Việt Nam thời hiện đại. Ông cũng là một trong những tín đồ quan trọng của tôn giáo Cao Đài trong thời kỳ hình thành và là Giáo tông thuộc Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo.

Mục lục

1 Thân thế
2 Sự nghiệp đời
3 Sự nghiệp đạo
3.1 Công tích khai đạo
3.2 Phụng sự tại Tòa Thánh Tây Ninh
3.3 Thành lập Ban Chỉnh Đạo
4 Vinh danh
5 Gia đình
6 Chú thích
7 Liên kết ngoài


Thân thế

Ông sinh ngày 22 tháng 6 năm 1881 (tức ngày 26 tháng 5 năm Tân Tỵ) tại làng An Hội, tổng Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre. Thân phụ ông là cụ Nguyễn Ngọc Đẫu, thân mẫu ông là bà Võ Thị Sót.

Do thân phụ mất sớm khi ông mới 13 tháng tuổi, tuổi thơ lớn lên nhờ sự nuôi dạy của ông nội Nguyễn Đức Loan và người cô ruột. Thuở nhỏ, ông học chữ Nho và chữ quốc ngữ tại nhà, do ông nội dạy. Lên 14 tuổi, ông vào học lớp 3 trường tỉnh, 17 tuổi thi đậu vào trường Trung học Mỹ Tho (Collège de My Tho). Năm 19 tuổi, ông lên học tại trường Collège Chasseloup-Laubat (Sài Gòn).
[

Sự nghiệp đời

Sau khi tốt nghiệp Tú tài, năm 21 tuổi, ông thi đậu ngạch Thơ ký, được bổ dụng làm việc tại Dinh Thượng Thư Sài Gòn một năm, rồi về Bến Tre làm việc từ 1903 đến 1919. Tại Bến Tre, ông tham gia nhiều hoạt động văn hóa, giáo dục, đạo đức (như cùng tổ chức thành lập hội Buôn An Nam, hội Khuyến Văn...).

Đến cuối năm 1919, ông thi đậu ngạch Tri huyện, làm chủ quận Châu Thành (Cần Thơ) được ba tháng thì đổi đi quận Hòn Chông, tỉnh Hà Tiên. Năm 1924, ông được đổi làm chủ quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn. Thời gian này, ông được thăng ngạch Tri phủ và nhập môn Cao Đài (khoảng hạ tuần tháng Chạp năm Ất Sửu).

Năm 1927, ông được đổi sang làm chủ quận Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa. Ông tiếp tục làm công chức cho đến năm 1930 thì từ quan để chuyên tâm lo cho việc đạo. Ông được chính quyền thực dân cho trí sĩ và phong hàm Đốc phủ sứ.

Trong suốt thời gian làm công chức, ông được đánh giá là một quan cai trị thanh liêm và có nhiều công đức với địa phương. Ông thường tổ chức khai hoang, mở trường, lập chợ... được dân chúng yêu thương. Đặc biệt, thời gian làm chủ quận Xuyên Mộc, cho ông từng đắp đường nối Long Hải với Nước Ngọt... giúp cho công cuộc khai phá vùng đất này, bấy giờ hãy còn rất hoang sơ. Ông được dân chúng ca tụng "Ông Phủ Ba hiền như Phật, Ông Phủ Ba thật từ bi" cũng như lưu lại nhiều giai thoại về ông[cần dẫn nguồn].


Sự nghiệp đạo

Công tích khai đạo

Thời gian ông làm chủ quận Cần Giuộc, khoảng hạ tuần tháng chạp năm Ất Sửu, sau một thời gian tìm hiểu Đạo Cao Đài ông xin nhập môn vào Đạo. Là một nhân sĩ trí thức yêu nước, ưu đời mẫn thế, ông trở thành một tín đồ tích cực truyền giảng giáo lý Cao Đài, đóng góp đặc biệt trong việc phát triển nhanh chóng tôn giáo Cao Đài trong thời kỳ sơ khai. Ngày 17 tháng Năm năm Bính Dần, ông được phong phẩm Phối Sư phái Thượng, Thánh danh là Thượng Tương Thanh, đến ngày 3 tháng Bảy năm Bính Dần ông được thăng Thượng Chánh Phối Sư tại Vĩnh Nguyên Tự.

Để thuận tiện cho việc xây dựng Tòa Thánh, năm 1927, ông cùng bà Phối sư Lâm Ngọc Thanh được Hội Thánh Cao Đài giao đứng bộ tài sản, đất đai của các tín đồ quyên góp cho Đạo. Trong thời gian xây dựng Tòa Thánh, Hội Thánh cũng cho xây dựng một biệt xá có lầu bằng cây lợp tranh, gần Đại lộ Bình Dương Đạo, để dành làm nơi cư ngụ cho ông để tiện việc theo dõi thi công.

Tuy nhiên, thời gian này, ông vẫn còn làm công chức. Mãi đến tháng Hai năm Tân Mùi (1930), ông mới chính thức phế đời, hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh. Trong Đạo Nghị Định thứ Nhì ban hành ngày 3 tháng Mười năm Canh Ngọ (1930), Điều thứ nhì, đã chỉ định ông làm Chánh Phối Sư, kiêm Quyền Thượng Đầu Sư.

Theo sự phân công của Hội Thánh, Quyền Giáo tông Lê Văn Trung có gửi một văn bản gửi đến Thống đốc Nam Kỳ với nội dung giao cho ông Nguyễn Ngọc Tương làm chấp chưởng, phụ trách giao thiệp với chánh phủ và lo xin phép khai thác các Thánh Thất. Bản thân ông cũng gửi một bức thơ cho Thống đốc Nam Kỳ xác nhận việc này, do cả quyền Giáo tông Lê Văn Trung và ông Lê Bá Trang kí tên xác nhận. Với vai trò là chưởng quản (đại diện) Hội Thánh, văn bản đầu tiên của ông (số 1, gởi đến các Thánh thất) ban hành vào ngày 2 tháng 2 năm 1931.

Phụng sự tại Tòa Thánh Tây Ninh

Trong thời gian phụng sự tại Tòa Thánh Tây Ninh, ông đã thực hiện nhiều công việc truyền bá đạo, lập nhà Dưỡng nhi nuôi 94 trò nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, mở 4 lớp dạy chữ và Đạo Lý Phổ Thông, tổ chức 1 lớp dạy hàng chức sắc ở làm việc tại Tòa Thánh... Ông cũng cho lập Y viện – Dưỡng đường tại Tòa Thánh để có chỗ cho người làm công quả khi ốm đau, tổ chức thành lập nhiều cơ sở như : Trại hòm, trại cưa, trai mộc, sở đương mây, sở làm củi,… để người về Tòa Thánh đều có việc làm công quả, và phục vụ mọi nhu cầu của Tòa Thánh được tương đối, ít tốn kém.

Ông còn cho khai phá đất hoang, mở mang 9 cơ sở hàng bông rau cải, cung cấp thức ăn hằng ngày cho Tòa Thánh, tổ chức các tín đồ làm Phước điền, để có chổ công quả và tài chính, lương thực cho bổn Đạo.


Thành lập Ban Chỉnh Đạo

Ngay từ trước khi quyền giáo tông Lê Văn Trung qua đời, Hội Thánh Cao Đài có những mâu thuẫn nghiêm trọng giữa các chức sắc cao cấp, dẫn đến việc ly khai và hình thành nhiều chi phái độc lập. Bản thân ông, với vai trò là một chức sắc lo việc giáo đạo, ông nhiều lần thuyết phục các chức sắc cao cấp tránh việc ly khai, nhưng không thành công. Cho rằng trong nội bộ Hội Thánh có những bất cập trong việc tổ chức, ông đã đứng ra tổ chức Ban Chỉnh Đạo với mục đích chấn chỉnh lại nền đạo theo quan điểm cởi mở. Bấy giờ, Ban Chỉnh Đạo vẫn là một tổ chức thuộc Hội Thánh Cao Đài Nguyên Thủy, tuy nhiên, quan điểm chỉnh đốn đạo của ông cũng gặp sự bất đồng sâu sắc.

Sự bất đồng này càng thể hiện rõ ngay sau khi quyền giáo tông Lê Văn Trung qua đời. Mâu thuẫn này lên đỉnh điểm đối với ông khi vào năm 1934, một Đại Hội Vạn Linh được tổ chức tại Bến Tre đã công cử ông lên phẩm Giáo tông kế nhiệm quyền Giáo tông Lê Văn Trung. Tuy nhiên, quyết định này không được Tòa Thánh Tây Ninh công nhận. Do đó, ông trở về Thánh thất An Hội để tiếp tục sự nghiệp đạo. Tuy chưa bao giờ tuyên bố ly khai, nhưng trên thực tế, các tín đồ tu tập theo quan điểm Ban Chỉnh Đạo đã hình thành tổ chức Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo và ông được suy tôn là Đệ Tam Giáo tông thuộc Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý.

Từ khi trừ quan hành Đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh song song với công việc phổ độ, hành đạo ông rất chú trọng vào phương pháp tu tập, đặc biệt là pháp môn tu tịnh. Đặc biệt, trong thời gian từ 1934 đến 1942, ông qua 10 kỳ đại tịnh, có đợt đến 120 ngày. Đó là phương châm hành đạo "tiêu tích cực hóa hợp" (vừa hành đạo, vừa tịnh luyện) mà ông hằng dạy trong mỗi khóa hạnh đường dành cho chức sắc, tín đồ. Các kỳ tịnh của ông được tín đồ đặt các tên gọi riêng như "Bá nhựt trúc cơ", "Thập nhị hoài thai", "Tam niên nhũ bộ", "Cửu cửu thần du". Kỳ đại tịnh cuối cùng của ông từ 22 tháng Hai năm Nhâm Ngọ (1942) đến ngày ông "ra tịnh"[1] vào giờ Tý rạng ngày Rằm tháng Năm năm Tân Mão (tức 18 tháng 6 năm 1951), thời gian tổng cộng 9 năm 81 ngày, được gọi là "Cửu niên diện bích".

Sau khi ông qua đời, liên đài của ông an vị trước Thánh Thất An Hội, được xem là Tòa Thánh tạm cho Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo [2].


Vinh danh

Trong thời gian 72 sau năm 1945 đến khi qua đời, ông nhiều lần biểu lộ thái độ ủng hộ phong trào giành độc lập dân tộc của Việt Minh. Do ảnh hưởng của ông, các tín đồ Ban Chỉnh Đạo hầu hết đều bất hợp tác khi người Pháp tái chiếm Đồng Dương, thậm chí còn tham gia tích cực kháng chiến, đặc biệt là 2 người con trai của ông là Nguyễn Ngọc Bích và Nguyễn Ngọc Nhựt.

Thạc sĩ Lữ Văn Châu, một tín đồ Cao Đài Ban Chỉnh Đạo[3], từng phát biểu về ông như sau: “Nói chung, phần thế Đạo, Người đã lưu lại tiếng thơm nơi chốn quan trường và gia tộc. Ngày nay, các huyện Châu Thành, Cần Thơ, Hòn Chông, Cần Giuộc, Xuyên Mộc còn lưu lại nhiều huyền thọai rất tốt trong những năm tháng Người đảm nhiệm vai trò Chủ quận. Có thể nói Đức Giáo tông Nguyễn Ngọc Tương có cái nhìn rất sâu, rất xa về tương lai đất nước, dân tộc. Từ đầu thế kỷ XX, Người đã lập ra Hội buôn An Nam, Hội khuyến Văn… để nâng cao dân trí và tạo lập hạnh phúc cho dân sinh. Tuy gặp lúc nước mất chủ qưyền, làm quan thời vận nước suy vong, nhưng Người đã khơi mạch sống cho các con, dạy con biết sống vì đời, hiến dâng đời mình để giữ gìn độc lập, tự do xây dựng quê hương. Mặt thế Đạo của gia đình Nguyễn Ngọc Tương được người đời trân trọng.Nhà nước đang xem xét công nhận di tích lịch sử Quốc gia ngôi Tổ Miếu do các con Người dâng hiến cho Đạo. Công đức xã hội của Anh Cả theo thời gian được chứng minh là bậc hiền tài của đất nước."

Ghi nhận những đóng góp của ông, Nhà nước Việt Nam đã truy tặng ông Huân chương Kháng chiến. Cuộc đời ông đã được nhà văn Trầm Hương dựng lại thành tiểu thuyết "Đêm trắng của Đức Giáo tông".[4]

Ngôi nhà Nguyễn Từ Đường của ông nằm tại làng An Hội, tổng Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre, hiện đang được Bảo tàng Bến Tre làm hồ sơ khoa học xin xếp hạng Nguyễn Từ đường là di tích cấp quốc gia về nơi sống và lớn lên, nơi lưu giữ nhiều kỉ vật của ông Nguyễn Ngọc Tương, và các con ông. Ngoài ra còn có 3 sắc phong, 12 chiếu chỉ, 245 quyển sách tiếng Pháp loại quý,...


Gia đình

Ông từng lập gia đình 2 lần. Năm 1902, ông lập gia đình với bà Trương Thị Tài (1886–1906),hạ sinh được 2 người con là Nguyễn Thị Tú (1903–1926) và Nguyễn Ngọc Hớn (1906–1951). Tuy nhiên, bà mất sớm sau 4 năm chung sống.

Vài năm sau, ông tái hôn với bà Bùi Thị Giàu (1884-1937) và có thêm 5 người con, gồm 3 trai là Nguyễn Ngọc Kỷ (1910-1978), Nguyễn Ngọc Bích (1911-1966), Nguyễn Ngọc Nhựt (1918-1952) và 2 gái là Nguyễn Thị Yến (1913-2006) và Nguyễn Thị Nguyệt (1915-2009).

Là một nhân sĩ trí thức, có địa vị xã hội, dưới sự dạy dỗ của ông, các con ông đều học rất giỏi, là những nhân tài đóng góp cho đất nước.

Cả ba con trai ông là Nguyễn Ngọc Kỷ, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Ngọc Nhựt đều đi du học ở Pháp và đậu bằng kỹ sư Pháp. Hai ông Nhựt, Bích sau năm 1945 đều về nước tham gia phong trào độc lập dân tộc do Việt Minh lãnh đạo và giữ những vị trí cao.

Ông Nguyễn Ngọc Bích từng tốt nghiệp Kỹ sư cầu cống trường “École Polytechnique”, vốn chỉ dành riêng cho sinh viên ưu tú nhất của nước Pháp bấy giờ. Năm 1945 ông về nước tham gia Việt Minh và được cử làm Khu bộ phó Khu 9. Đầu năm 1946, ông bị quân Pháp bắt tại Sóc Trăng. Do có quốc tịch Pháp cùng với sự can thiệp của nhiều bạn bè có thế lực tại Pháp, ông không bị kết án mà chỉ bị trục xuất về Pháp. Sau khi về Pháp, theo học trường Y khoa và trở thành Bác sĩ. Tuy nhiên, ông không hành nghề bác sĩ và lại trở thành giáo sư dạy môn Vật Lý tại trường Y Khoa. Cuối đời, ông sống với người bạn gái là Henriette Bùi, con gái ông Bùi Quang Chiêu, nữ bác sĩ bản xứ đầu tiên của Đông Dương.

Ông Nguyễn Ngọc Nhựt từ tốt nghiệp Kỹ sư tạo tác trường "École centrale Paris", lấy vợ người Pháp. Đầu năm 1946, ông tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, bấy giờ đang sang thăm và tìm cách thương lượng với chính phủ Pháp về quy chế độc lập cho Việt Nam. Bị thuyết phục trước phong thái của vị chủ tịch, ông quyết định về nước với sự giúp đỡ của người anh trai Nguyễn Ngọc Bích (bấy giờ đã bị trục xuất sang Pháp). Sau khi về nước, ông tham gia kháng chiến, trở thành kỹ sư quân khí. Ông cũng được bầu làm Phó chưởng quản Hội Thánh Cao Đài 12 phái thống nhứt[5], quy hợp các hệ phái Cao Đài kháng chiến. Năm 1948, ông được cử làm Ủy viên Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ, phụ trách công tác thương binh và xã hội, trở thành Ủy viên trẻ nhất trong Ủy ban. Năm 1949, ông bị quân Pháp bắt. Không như anh mình, ông cầm tù và tra tấn và qua đời năm 1952, lúc vừa tròn 34 tuổi. Ông được Nhà nước Việt Nam công nhận Liệt sĩ và tuy tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhứt[6]

Bà Nguyễn Thị Nguyệt về sau trở thành Nữ Đầu Sư của Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo.



Chú thích

^ Viên tịch.
^ Địa đặt tại đường Trương Định (còn gọi là đường Thất Cao Đài), phường 6, Thành phố Bến Tre.
^ Ông còn có tên là Lữ Minh Châu, Thạc sĩ Văn chương, Bảo quan pháp quân, Tổng Biên tập tạp chí Cao Đài.
^ Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 2006.
^ Do ông Cao Triều Phát là Chưởng quản.
^ Nguyễn Ngọc Nhựt (1918 – 1952)




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jun 11 2013, 10:23 PM
Gửi vào: #43


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,990
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





CÁI CHẾT TRONG NHÀ TÙ CỘNG SẢN CỦA CỰU THỦ TƯỚNG PHAN HUY QUÁT



Bác Sỹ Phan Huy Quát

Cựu Thủ Tướng VNCH Phan Huy Quát

LGT:

Bác Sĩ Phan Huy Quát sinh năm 1908 tại Nghệ Tĩnh, tham chính nhiều lần từng làm Tổng Trưởng Giáo Dục, Tổng Trưởng Quốc Phòng, lần cuối cùng giữ chức vụ Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, vào năm 1965. Ông cũng là Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng, phân bộ Việt Nam, và là chủ nhiệm tuần báo Diễn Ðàn, Sài gòn, 1972. Ngày 16 Tháng Tám 1975 Bác Sĩ Quát bị (Không dùng từ này) bắt do nội phản trên đường vượt biên; và chưa đầy bốn năm sau ông từ trần trong nhà tù Chí Hòa. Bài dưới đây do ký giả kỳ cựu Nguyễn Tú, bạn ông, và cũng là bạn tù (người đã sống bên cạnh Bác Sĩ Quát trong những ngày tháng và giờ phút cuối cùng tại khám Chí Hòa), kể lại “như một nén hương chiêu niệm chung.”
Trong thời gian bị cầm tù, Bác Sĩ Quát bị bệnh gan rất nặng song ###### không cho chữa chạy, thuốc men do gia đình tiếp tế không được nhận. Người con trai út bị giam ở phòng bên, có thuốc cho bố, cũng không làm sao mang sang. Khi biết ông không thể nào qua khỏi, chúng mới đem ông lên bệnh xá. Ông chết ở đó vào ngày hôm sau, 27 Tháng Tư 1979.
Tang gia đã được phép để mang thi hài ra quàn tại chùa Xá Lợi và phát tang ở đấy vào ngày hôm sau, song phút chót, Hà Nội ra lệnh phải an táng ngay, vì ngày đó, 28 Tháng Tư 1979, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc tới Sài Gòn; ###### sợ dư luận quốc tế – nếu biết đến cái chết bị bỏ mặc của một cựu Thủ Tướng Miền Nam – có thể ngó tới tình trạng giam cầm của hàng trăm ngàn người khác. Cũng bởi thế, rất ít người nghe biết đến sự đày đọa tù nhân Phan Huy Quát cũng như cái chết trong tù của ông – bên cạnh các trường hợp tương tự của các trí thức văn nghệ sĩ khác – của nhà cầm quyền Hà Nội.
Chí Hòa, Sài Gòn – Một ngày cuối Tháng Tư 1979
Hôm nay đến lượt bốn phòng 5-6-7-8-, gác 1, khu ED được đi tắm, giặt. Mọi người đều rộn rạo, hối hả chuẩn bị, cười hô hố. Cứ ba ngày rưỡi mới được sối nước trên thân thể hôi hám, ngứa ngáy và vò vội quần áo đã tích trữ kha khá mồ hôi, đất ghét, thì trước cái hạnh phúc nhỏ nhoi chỉ được phép hưởng hai lần mỗi tuần, ai mà không “vui vẻ, hồ hởi, phấn khởi” dù, trên lý thuyết, thời gian tắm được quy định 30 phút cứ bị cán bộ ăn bớt, chỉ còn vỏn vẹn 15 phút.
Cả bốn phòng đã lần lượt ra hành lang ngồi xổm sắp hàng đợi cán bộ gác đến điểm số. Lần đó, viện cớ bị cảm, tôi xin phép ở lại trong buồng. Tôi có mục đích riêng. Kiểm tra xong số người ở lại mỗi buồng, cán bộ ra hiệu cho mọi người đứng dậy, tiến về phía cầu thang. Tiếng guốc, tiếng dép khua trên cầu thang, tiếng nói lao xao của đoàn người xa dần rồi lắng hẳn. Từ dưới sân đã bắt đầu vọng lên tiếng sối nước ào ào, tiếng nói oang oang, tiếng cười khanh khách thỉnh thoảng xen tiếng chửi thề thân mật, tiếng sặc nước, tiếng rú khoái trá của các bạn tù được làn nước mát như nước lũ chẩy dồn dập trên da. Hạnh phúc thật!
Buồng 5 chúng tôi ở đầu dãy, sát với đầu cầu thang, nơi đây đặt một cái bàn và một cái ghế cho cán bộ gác. Chỗ tôi nằm sát hàng song sắt. Tôi đứng dậy, nhìn về phía đầu cầu thang chỉ cách chừng ba thước rồi quay người, đảo mắt suốt dọc hành lang. Không có bóng cán bộ. Căn phòng vơi đi 58 người như rộng ra. Hơi nồng của 60 mạng tù tích tụ từ suốt ngày và đêm trước tự giải phóng dần dần đem lại một cảm giác thoáng khí hơn.
Căn phòng chỉ còn lại hai người không đi tắm là tôi và một người nữa đang nằm ở hàng giữa, sát tường, trên diện tích vỏn vẹn có 60 phân tức 2/3 của một chiếc chiếu hẹp. Ðó là khoảng không gian đã được chia rất đều cho 60 tù nhân mà ###### đã cải cho cái danh từ mỹ miều là “trại viên” Người đồng phòng này nằm, hai chân duỗi thẳng, hai cánh tay gập lại trên bụng, hai bàn chân chắp vào nhau, mắt nhắm, vẻ mặt bình thản. Ông bị bệnh đã hơn một tuần, không thuốc men. Nước da mặt đã chuyển sang màu tai tái càng nổi bật với màu trắng của chòm râu và mái tóc. Bệnh nhân nằm im, không cựa quậy, thân hình như đã quen đóng khung trong không gian 60 phân của chiếc chiếu. Ông là Bác Sĩ Phan Huy Quát đã từng là Tổng trưởng nhiều lần, chức vụ cuối cùng và cao nhất trong hoạt động chính quyền của ông là chức Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa vào Mùa Xuân 1965. Năm 1979 ông đã trên 70 tuổi.
Tôi đảo mắt một lần nữa suốt dọc hành lang, dõng tai nghe ngóng. Vẫn không một bóng người, không một tiếng động khả nghi nào trên tầng gác vắng lặng. Tôi bước vội tới chiếu của Bác Sĩ Quát rồi ngồi sát bên. Bệnh nhân vẫn nằm im, mắt nhắm, không một phản ứng nào chứng tỏ ông cảm giác thấy có người bên cạnh. Hơi thở yếu. Bộ đồ ngủ của ông bận có cũ nhiều nhưng không bị xô lệch. Ðôi ống quần được kéo thẳng tới cổ chân. Ðôi tà áo được khép gọn, ôm kín thân trên. Cánh tay áo trùm tới tận cổ tay. Chẳng phải vì cuộc sống tạm bợ trong tù rất nhiều hạn chế khắc nghiệt cộng thêm lâm bệnh nặng đã hơn một tuần – một trường hợp bất cứ ai cũng có thể buông thả, mặc cho thân phận nổi trôi và có thể kém đi nhiều, ít cảnh giác về cách phục sức và tư thế – mà Bác Sĩ Quát thiếu chững chạc. Và từ cái chững chạc này như toát lên một cái gì có vẻ nghịch lý đến độ vừa đau đớn vừa dũng mãnh giữa thân phận con người và hoàn cảnh.
Tôi khẽ lên tiếng: “Anh Quát! Anh Quát!” Không một phản ứng của bệnh nhân. Tôi lắc nhẹ cánh tay bệnh nhân, hơi cao giọng: “Anh Quát! Anh Quát!” Vẫn không một phản ứng, tôi đưa ngón tay trỏ qua mũi bệnh nhân. Hơi thở quá yếu. Dưới sân, tiếng sối nước bắt đầu thưa dần. Thời gian tắm giặt sắp hết. Tôi không muốn mục đích khai bệnh giả của tôi bị lộ là cố ý ở lại buồng để đích thân nói ít điều cho là cần thiết với Bác Sĩ Quát và cả với tôi nữa.
Buồng 5 chúng tôi vẫn được ###### coi là một buồng “phản động” nhất trong số bốn buồng của lầu 1, khu ED vì chứa một cựu Thủ tướng, 3 cựu Tổng trưởng, nhiều sĩ quan cấp tá, một số ít dân sự “đầu chai đá, khó cải tạo, phần tử rất xấu, mất dậy.” Một buồng “ngụy nặng” nên được ###### tận tình “chiếu cố” trong sinh hoạt hàng ngày. Ngoài ra, còn phải kể tới một vài tên “ăng ten” tức chỉ điểm được cài trong buồng. Tóm lại, chúng tôi đều bị theo dõi rất sát, rất chặt. Tôi phải làm gấp. Tôi lắc mạnh hơn cánh tay bệnh nhân, cao giọng thêm: “Anh Quát! Anh Quát!”
Bệnh nhân vẫn lặng im. Phải làm thật gấp. Tôi xoay nghiêng mình, tỳ tay xuống chiếu, ghé miệng sát tai Bác Sĩ Quát, cố nói thật rành rẽ: “Anh Quát! Anh Quát! Nhận ra tôi không?” Lần này đôi mi bệnh nhân hơi động đậy rồi dướng lên, hé mở. Tôi thoáng thấy lòng trắng mắt vàng khè. Chẳng cần phải học ngành y mới biết bệnh gan của Bác Sĩ Quát coi mới nặng. Bệnh nhân vắn tắt thều thào: “Anh Tú!” Tôi hơi yên tâm. Miệng lại sát tai Bác Sĩ Quát, tôi nói: “Anh mệt lắm phải không?” Ðầu bệnh nhân hơi gật gật. Không hiểu lúc đó linh cảm nào xui khiến, tôi cố rót vào tai Bác Sĩ Quát, giọng hơi nghẹn: “Anh có nhắn gì về gia đình không?” Bệnh nhân cố gắng lắc đầu, mắt vẫn nhắm. Dưới sân không còn tiếng sối nước nữa. Có tiếng các buồng trưởng dục anh em tập hợp để điểm số lại trước khi lên buồng. Chỉ còn độ hơn một phút. May lắm thì hai phút. Tôi dồn dập bên tai Bác Sĩ Quát: “Ai đặt bày, lừa bắt anh? Ai phản anh? Thằng Liên phải không? Nói đi! Nói đi!” Ðôi môi bệnh nhân như mấp máy.
Tôi vội nhổm lên, ghé sát tai tôi vào miệng bệnh nhân. Một hơi thở khò khè, theo sau là vài tiếng khô khốc, nặng nhọc như cố trút ra từ một chiếc bong bóng đã dẹp hơi đến chín phần mười: “Thôi! Anh Tú ạ.” Tiếng guốc, dép, tiếng cười, nói ồn ào đã bắt đầu từ chân cầu thang. Tôi chưa chịu buông: “Nói đi! Anh Quát! Nói đi!” Một hơi thở một chút gấp hơn, như làn hơi hắt vội ra lần chót! “Thôi! Thôi! Bỏ đi!” Tiếng guốc, dép, tiếng cười, nói ồn ào đã tới quá nửa cầu thang. Tôi vội nhổm dậy, bước nhanh về chiếu mình, nằm thẳng cẳng, vắt tay lên trán.
Ngoài hành lang, các bạn tù hối hả, xôn xao phơi quần áo mới giặt. Vài tiếng kỳ kèo nhau về chỗ dây phơi. Rồi như một đội quân đã chọc được phòng tuyến địch, họ ùa vào phòng, đứng lố nhố nghẹt lối đi quá nhỏ giữa ba hàng chiếu. Căn phòng như bị co hẹp lại. Tiếng cười đùa thưa dần khi tất cả đã về được chiếu mình. Khói thuốc lá bắt đầu tỏa. Ðây đó tiếng rít của vài bình thuốc lào nổi lên sòng sọc. Bây giờ thì mọi người, sau trận tắm thỏa thuê, đã ngả lưng trên chiếu. Cả phòng lặng tiếng. Tôi ngồi dậy, hỏi vọng qua hàng chiếu giữa, phía sát tường: “Anh Châm! Anh coi lại xem anh Quát bệnh tình hôm nay ra sao?” Bác Sĩ Hồ Văn Châm, cựu Tổng trưởng Thông tin, Chiêu hồi và Cựu chiến sĩ, có phần chiếu liền bên Bác Sĩ Quát. Ông Châm quay về phía Bác Sĩ Quát, tư thế nằm vẫn y như trước.
Cảnh lộn xộn, ồn ào, ầm ĩ vừa qua của căn phòng không làm Bác Sĩ Quát động đậy chút nào. Cái gì đã như làm tê liệt bộ phận giây thần kinh điều khiển nguồn năng ý chí con người đến nỗi Bác Sĩ Quát không phản ứng gì, hay không còn muốn phản ứng gì dù chỉ là một phác họa – trước cảnh huống bên ngoài? Một hình ảnh buồn thảm lóe lên trong tưởng tượng; nếu không phải là mùa oi bức thì một tấm nền mỏng đắp lên người dong dỏng và gầy guộc của Bác Sĩ Quát thừa đủ để đóng vai trò một tấm khăn liệm.
Bác Sĩ Châm hướng về phía tôi, lắc đầu. Tôi lên tiếng với buồng trưởng: “Anh Phương! Báo cáo cán bộ xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh xá chứ!” Phương là hạ sĩ quan binh chủng nhẩy dù, tuổi khoảng 30. Tuy còn trẻ, tóc Phương đã trắng xóa, có lẽ vì “xấu máu.” Anh em bèn dán cho cái nhãn hiệu “Phương đầu bạc.” Phương lặng thinh, coi bộ ngần ngại. Nói cho ngay suốt hơn một tuần lễ Bác Sĩ Quát lâm bệnh Phương đã mấy lần báo cáo xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh xá, nhưng đều bị từ chối. Tôi quay về phía Bác Sĩ Châm: “Anh Châm! Nói cho Phương biết bệnh trạng của Bác Sĩ Quát đi!” Ông Châm bèn bảo: “Anh Phương! Báo cáo cán bộ ngay đi!” Phương không đáp, lộ rõ vẻ ngần ngại. Trong phòng bỗng nhao nhao nhiều giọng thúc giục, gay gắt: “Báo cáo đi! Chờ gì nữa? Bệnh như vậy mà không đi báo cáo, còn chờ gì nữa? Chờ người ta chết à?” Căn phòng đang im ắng, sống động hẳn lên.
Nhiều bạn đang nằm, nhóm người nhìn về phía Phương. Ðang cởi trần, Phương uể oải đứng dậy, bận áo, ra khỏi phòng, đi về phía đầu cầu thang. Một lát khá lâu, cán bộ gác tới, có Phương theo sau. Anh chàng cán bộ, mặt hơi khinh khỉnh, từ bên ngoài song sắt cộc lốc hỏi vọng: “Ðâu?” Bác Sĩ Châm nhích người qua một bên, chỉ vào Bác Sĩ Quát: “Ðây, cán bộ!” Nhìn một lát, cán bộ quay lưng, Phương lẳng lặng về chiếu mình. Những anh em khác lại đặt mình nằm. Căn phòng chìm trong im lặng hoàn toàn như thể hồi hộp chờ đợi một phán quyết sinh tử của trại.
Chừng 20 hay 30 phút sau, có tiếng lao xao ở đầu cầu thang. Hai bạn tù được làm ở bệnh xá, đem một băng ca tới cùng với cán bộ gác và một cán bộ khác, chắc là ở bệnh xá. Căn phòng lại náo động. Mọi người đều ngồi dậy hoặc đứng lên phần chiếu của mình.
Phương “đầu bạc” dẫn hai anh mang băng ca đến chỗ Bác Sĩ Quát. Bệnh nhân như mê man, tự mình không ngồi dậy được. Bốn anh em khỏe mạnh trong phòng xúm nhau nâng bệnh nhân đặt trên băng ca. Trong lúc đó Bác Sĩ Châm vội nhét vào một túi nhỏ vài đồ cần thiết cho Bác Sĩ Quát: Kem và bàn chải đánh răng, vài đồ lót, thêm một bộ đồ ngủ, đũa, muỗng, chén… Băng ca được khiêng đi. Bệnh nhân vẫn nằm, mắt nhắm, không một phản ứng. Dưới sân, một tiếng kêu lớn! “Lấy cơm!” Căn phòng trở lại cuộc sống đơn điệu hàng ngày của một trại tù. Lúc đó khoảng 10 giờ rưỡi.
Trưa hôm sau, khi lấy cơm trở về, anh em thì thầm rỉ tai nhau: “Bác Sĩ Quát chết rồi!” Cả phòng nhao nhao : “Hồi nào? Hồi nào? Chết mau quá vậy?” Một anh đáp: “Nghe nói, hồi trưa hôm qua thì phải.”
Chỉ một lát cáo phó miệng của các bạn tù đi lấy cơm đã lan truyền khắp khu ED. Bữa cơm trưa hôm đó ít ồn ào hơn thường lệ. Có ai trong phòng thốt một câu: “Bệnh như vậy, suốt hơn một tuần xin đi bệnh xá, không cho. Ðợi gần chết mới cho thì còn gì!” Một điếu văn ngắn, gọn, hàm súc cho một bạn tù đã nằm xuống. Một lời ngắn, gọn, hàm xúc lên án chế độ bất nhân, ác nghiệt của (Không dùng từ này). Căn phòng gần như lặng đi. Không bao lâu sau bữa cơm, cán bộ gác tới, bảo buồng trưởng thu dọn đồ của Bác Sĩ Quát. Trước khi quay lưng, hắn còn nói với: “Nhớ làm bản kê khai, nghe không!” Ðối với tù nhân, đó là lời công nhận chính thức cái chết của bất cứ “trại viên” nào.


Lần này, là cái chết của một vị cựu thủ tướng
Manh chiếu của Bác Sĩ Quát đã được gỡ đi theo giỏ đồ còn lại của ông xuống văn phòng khu. Chỗ nằm cũ của ông trơ ra phần sân xi măng đã xỉn đen thời gian, mồ hôi, đau khổ và uất ức dồn nén của hàng hàng lớp lớp thế hệ tù chính trị mà ông đã là một trong biết bao người kế tiếp bất tận. Trí tưởng tượng của ta có mặc sức tung hoành sáng tác biết bao nhiêu chuyện về trại tù và thân phận tù nhân dưới chế độ (Không dùng từ này), thì mảnh không gian xi măng đen kia thầm lặng mà hùng hồn nói lên còn hơn thế nữa. Những ngày kế tiếp, cái chết tức tưởi mang nhiều vẻ không rõ ràng của Bác Sĩ Quát còn là đề tài bàn tán của nhiều người trong phòng được tóm gọn trong hai chữ “nghi vấn.” Nhiều người cho rằng nếu được đi bệnh viện sớm hơn, hoặc nếu không, mà được phép biên thư về nhà để thân nhân kịp thời gửi thuốc thì có thể Bác Sĩ Quát đâu ra đến nông nỗi đó.
Năm 1979 vẫn còn nằm trong thời kỳ mà ###### gọi là “rất căng.” Cuộc cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, nếu xuôi xẻ về mặt quân sự, thì về mặt dân tình và chính trị lại chẳng xuôi xẻ chút nào. Nhiều nơi đã nổi lên những phong trào chống đối vũ trang làm cho ###### vô cùng lo lắng trong việc ước lượng tầm cỡ của mỗi phong trào để liệu cơ đối phó. Ngay tại Sài gòn, năm 1976, vụ Vinh Sơn xẩy ra chưa đầy một năm sau “đại thắng Mùa Xuân” của ###### đã làm chúng thất điên bát đảo và mặc dù những người chủ trương và lãnh đạo vụ Vinh Sơn cùng với một số chiến hữu đã bị ###### thẳng tay đàn áp và thanh toán, dư âm và ảnh hưởng của vụ ấy vẫn còn kéo dài mãi tới 1979 và sau nữa. Lại thêm cuộc chiến với Trung Cộng Mùa Xuân 1979 ở miền Bắc và cuộc chiến với Căm Bốt ở miền Nam khởi sự từ 1978. Do đó ###### càng siết chặt kỷ luật đối với tù chính trị. Tuy không có bằng chứng rõ ràng, nhiều người trong phòng có cảm giác “ăng ten,” tức chỉ điểm viên, đã được tăng cường.
Cuộc sống tiếp tục trong bầu không khí càng ngày càng ngột ngạt. ###### “dư” lý lẽ để đối xử với tù nhân tàn nhẫn hơn, bất nhân hơn. Bác Sĩ Quát đã lâm bệnh trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó. Con trai út của ông là Phan Huy Anh bị bắt cùng với ông ngày 16 Tháng Tám 1975 không được ở chung cùng buồng, mà bị giam ở buồng 6 sát bên. Hai cha con chỉ trông thấy nhau những lần đi tắm, tức hai lần một tuần. Khi tắm cũng không được liên hệ với nhau. Huy Anh dù có muốn giúp bố giặt quần áo hay một vài việc vặt vãnh cũng không bao giờ được phép. Còn nói chuyện với nhau thì tuyệt đối cấm. Nếu bị bắt quả tang hay có người tố cáo, hai cha con sẽ bị cúp viết thư về nhà với hậu quả kèm theo là bị cúp thăm nuôi. Ấy là chưa kể có thể bị kỷ luật đưa đi biệt giam. Việc thăm nuôi của gia đình cũng tách rời, riêng biệt: không bao giờ hai cha con được thăm nuôi, gặp gỡ thân nhân cùng một lúc, cùng một ngày. Hai cha con sống sát buồng nhau mà còn hơn hai kẻ lạ. Hai kẻ lạ còn có thể xin phép trao đổi với nhau chút quà, nói với nhau dăm ba câu. Bác Sĩ Quát và Huy Anh luôn luôn bị từ chối và bị theo dõi kỹ. Khi được tin bố lâm bệnh, Huy Anh nhiều lần xin phép qua thăm và đem thuốc cũng không được. Chỉ tới phiên đi lãnh cơm, Huy Anh mới được bước ra khỏi buồng. Những lúc đó tôi thoáng bắt gặp ánh mắt buồn bã của Huy Anh kín đáo nhìn qua song sắt tới chỗ bố đang nằm lịm. Tôi còn nhớ hai ngày trước khi Bác Sĩ Quát được đưa đi bệnh xá, cán bộ gác mới cho phép Huy Anh đem thuốc cho bố, sau không biết bao nhiêu lần năn nỉ. Huy Anh chỉ được phép đứng ngoài cửa nhìn vọng vào. Thuốc thì do buồng trưởng nhận đưa cho Bác Sĩ Quát. Thuốc đến quá muộn, dù chỉ là thứ thuốc thông thường trị bệnh gan. Lần “nhìn thăm” thầm lặng được phép công khai đó dài không quá hai phút. Và đó cũng là lần chót Huy Anh được chính thức nhìn bố qua chiều dài gần 8 thước của căn buồng dưới đôi mắt cú vọ của cán bộ gác ngồi phía đầu cầu thang giám sát.
Hôm Bác Sĩ Quát được khênh đi bệnh xá, Huy Anh cũng không được phép ra khỏi buồng dù chỉ để nói ít câu thăm hỏi và nhìn bố nằm thoi thóp trên chiếc băng ca. Một ngày sau khi Bác Sĩ Quát chết, Huy Anh được trại cho phép về thọ tang bố. Nhiều người trong chúng tôi hi vọng sẽ có tin thêm về tang lễ và nhất là về cái chết quá đột ngột của Bác Sĩ Quát khi Huy Anh trở lại trại. Thói quen giấu diếm, bưng bít đã trở thành một thứ siêu vi trùng trong máu của ######, thế nên khi Huy Anh trở về, chúng tôi chẳng biết tin gì thêm ngoài việc tang lễ đã xong xuôi. Sau này có tin là Huy Anh sẽ được thả nếu “thật tâm cải tạo tốt.” Có nghĩa là không được tiết lộ bất cứ điều gì liên quan đến cái chết, đến tang lễ của bố, đến bất cứ những gì Huy Anh đã nhìn được, nghe được ở xã hội Sài Gòn bên ngoài trong thời gian được về nhà. Phải thừa nhận ###### rất “siêu” về thủ đoạn dọa nạt, nhất là đối với những ai đang bị gọng kìm của chúng siết chặt. Dù Bác Sĩ Quát đã chết, không còn là một mối lo chính trị đối với ######, do vậy không còn cần thiết giữ Huy Anh làm con tin để đe dọa, đầy đọa tinh thần ông bố nữa, cũng phải đợi đến cuối năm 1979, Huy Anh mới được thả.
Trong thập niên 1940, Bác Sĩ Phan Huy Quát đã được nhiều người ở Hà Nội biết tiếng là một lương y. Bệnh nhân của ông, cả Việt lẫn Pháp, rất tín nhiệm ông vì tư cách đứng đắn và lương tâm nghề nghiệp rất cao của ông. Ngay cả một số người Pháp đã chọn ông làm bác sĩ gia đình của họ, một trường hợp rất hiếm trong y giới người Việt thời ấy. Một đề tài nghiên cứu y học của ông có liên quan đến bệnh đau mắt của Hoàng Ðế Bảo Ðại thời đó đã được tặng giải thưởng đặc biệt của Hoàng Ðế. Cuộc đời chính trị của ông chỉ thực sự bắt đầu sau khi cựu Hoàng Bảo Ðại đã ký hiệp ước Vịnh Hạ Long với Cao ủy Bollaert của Pháp ngày 8 Tháng Ba 1949. Trong chính phủ đầu tiên của quốc gia Việt Nam do cựu Hoàng Bảo Ðại lãnh đạo, Bác Sĩ Quát tham chính với tư cách Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Sau đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng. Từ giữa năm 1953 trở đi, tình hình cuộc chiến với Việt Minh ở miền Bắc Việt Nam ngày càng tồi tệ. Thất trận của Pháp ngày 07 Tháng Năm 1954 ở Ðiện Biên Phủ mở màn cho Hội Nghị Genève về Ðông Dương với hậu quả là Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17 do Hiệp Ðịnh Genève được ký kết giữa Pháp và Việt Minh ngày 20 Tháng Bảy 1954. Ở Pháp, Quốc Trưởng Bảo Ðại phong ông Ngô Ðình Diệm làm thủ tướng. Ngày 7 Tháng Bảy 54, ông Diệm về nước. Ðược ủy toàn quyền lãnh đạo Việt Nam, ông Diệm thành lập nội các mới và kiêm nhiệm luôn Bộ Quốc Phòng.



Bác Sĩ Quát trở lại nghề cũ, mở một phòng mạch ở Dakao gần đầu cầu Phan Thanh Giản. Suốt chín năm ông Diệm cầm quyền, Bác Sĩ Quát không tham chính: ông khó có thể thuận với Tổng Thống Diệm về lề lối làm việc quá quan liêu, hống hách và độc đoán của gia đình họ Ngô. Thêm nữa ông là một thành viên trong nhóm Caravelle đã công khai đưa ra bản tuyên bố chỉ trích chế độ và đòi chính quyền Diệm thực hiện tự do, dân chủ. Cuộc đảo chính ngày 01 Tháng Mười Một 1963 do một số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa lãnh đạo chấm dứt chế độ Ngô Ðình Diệm theo liền cái chết bi thảm của vị tổng thống và hai em ông là Ngô Ðình Nhu và Ngô Ðình Cẩn. Ðại Tướng Dương Văn Minh và Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ cầm quyền mới được ba tháng thì bị Tướng Nguyễn Khánh, tư lệnh vùng II chiến thuật, chỉnh lý ngày 30 Tháng Giêng 64. Bác Sĩ Quát được mời làm Tổng Trưởng Ngoại Giao. Ông ở chức vụ này tới khoảng Tháng Chín, 1964 rồi lại trở về phòng mạch.
Cuộc đời chính trị của ông đạt tuyệt đỉnh danh vọng khi, vào giữa Tháng Hai năm 1965, ông được Tướng Nguyễn Khánh triệu mời thành lập nội các mới. Giữ chức thủ tướng được khoảng ba tháng thì ông trao quyền lại cho Hội Ðồng Quân Lực vì những mâu thuẫn khó bề giải quyết giữa ông và Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu. Ông lui về, trực tiếp điều khiển phòng thí nghiệm y khoa của ông ở đường Hai Bà Trưng. Hoạt động chính trị của ông thu hẹp lại trong khuôn khổ của Liên Minh Á Châu Chống Cộng mà ông là chủ tịch phân hội Việt Nam cho tới ngày Sài Gòn thất thủ 30 Tháng Tư 1975.
Nhưng ngày kết liễu nền Ðệ Nhị Cộng Hòa chưa phải là ngày chấm dứt hoạt động của Bác Sĩ Phan Huy Quát. Nó đưa hoạt động ấy sang một hướng khác, hoàn toàn xa lạ với con người vốn dĩ trong bao năm đã quen và chỉ quen hoạt động chính trị theo lối “chính quy,” trong “đường lối chính quy.” Và con người thận trọng trong ông đã lao vào một trận địa mà trước kia ông chưa từng một lần lưu tâm và nghiên cứu địa hình phức tạp, hết sức bất thường do vậy cũng hết sức bất ngờ: địa hình của trận địa hoạt động bí mật, mà vì tính chất của riêng nó, đòi hỏi một cách suy nghĩ khác, một thứ thông minh khác, một loại bén nhạy khác, thậm chí đến cái can đảm trong hoạt động bí mật cũng phải là cái can đảm khác. Vị cựu thủ tướng, tự thân, chưa được chuẩn bị kỹ càng cho hình thái hoạt động bí mật nó có những điều luật, những nguyên tắc đặc thù của riêng nó. Ðiều này cũng dễ hiểu: ông chưa từng thấy có nhu cầu đó. Hoạt động chính trị của ông từ trước không cần đòi hỏi ông có những nhu cầu đó. Vậy mà trước hoàn cảnh đất nước rối bời đang diễn tiến trước mắt, ông đã chọn dấn thân vào con đường mới mẻ này. Một quyết định dũng cảm của một con người ngày ấy đã gần 70 tuổi, và chắc chắn không phải là một quyết định dễ dàng.
Sau ngày Saigon thất thủ 30 Tháng Tư 1975, Bác Sĩ Phan Huy Quát không đáp “lời mời” ra trình diện của ###### được phổ biến trên đài phát thanh, truyền hình và báo chí của chúng cho tất cả “ngụy quân, ngụy quyền”. Liền sau khi cộng quân ào ạt tuôn vào Saigon từ hai hướng Bắc và Nam ngày 30 Tháng Tư 1975, Bác Sĩ Quát đã dời tư thất ở đường Hiền Vương và bắt đầu cuộc đời “du mục” trong Saigon, quyết không để cho ###### bắt. Cứ đôi ba ngày các con ông thay phiên nhau dẫn ông đi thay đổi chỗ trú ngụ. Sau gần ba tháng trốn tránh như thế, ông có dấu hiệu mệt mỏi. Các con ông khuyên ông trốn “trụ” hẳn một nơi. Ông nhượng bộ, về nhà trưởng nữ trong một hẻm khuất ở quận Phú Nhuận.
Những ai đã sống ở Saigon sau ngày 30 Tháng Tư 1975 chắc khó quên cái không khí ồn ào, nhộn nhạo, hỗn tạp bao trùm khắp nơi, khắp chốn của cái thành phố hơn ba triệu người này hầu như ngày nào cũng hối hả tuôn ra đầy nghẹt đường phố. Vẻ mừng rỡ bề ngoài vì chiến tranh đã chấm dứt không che đậy nổi nhiều nỗi lo âu âm ỉ bên trong: Kẻ chiến thắng sẽ định đoạt số phận của Saigon như thế nào? Thái độ nào tốt nhất để đối phó với kẻ chiến thắng đang huênh hoang, ngạo mạn? Tùy hoàn cảnh và cương vị riêng của mỗi cá nhân, người thì chọn lối âm thần sống ẩn, người thì mặc, muốn ra sao thì ra, cứ sống “tự nhiên cái đã”. Nhưng đại đa số thì tính chuyện trốn khỏi Việt Nam bằng đường biển sau khi Mỹ đã vĩnh viễn phủi tay. Một số khác thì tính chuyện tiếp tục tranh đấu chống Cộng. Ðã manh nha những sự thăm dò, móc nối nhau, tìm ngõ ngách trong hai lãnh vực chính yếu: thứ nhất vượt biên, thứ nhì chống Cộng.
Hai lãnh vực này tưởng là hoàn toàn riêng biệt, trái lại, thường xoắn vào nhau khá chặt, bởi lẽ nhiều khi tìm đường vượt biển lại dẫn đến mối chống Cộng, tìm đường chống Cộng lại dẫn tới mối vượt biên. Bất cứ ai chọn dấn thân vào một trong hai lãnh vực này đều bị lôi cuốn vào cái vòng luẩn quẩn lưỡng nguyên bi hài kịch đó. Bác Sĩ Quát không ngờ sẽ rơi vào chính cảnh huống ấy. Trong thâm tâm, ông không muốn bỏ chạy: ông vốn nặng tình quê hương. Nhưng gia đình ông 14 người, mặc nhiên là một áp lực tinh thần, thầm lặng đấy, nhưng đáng kể, buộc ông không thể không nghĩ đến sự an toàn cho vợ, con, dâu, rể và các cháu nội ngoại, nghĩa là phải nghĩ đến chuyện vượt biên. Ngoài tình quê hương ông cũng nặng tình gia đình không kém.
Thực ra, khoảng một tuần trước ngày 30 Tháng Tư 1975 lịch sử, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã ra lệnh cho ông Ðại sứ của mình ở Saigon nhân danh chính phủ mời Bác Sĩ Quát qua Ðài Bắc trú ngụ nếu như phía Mỹ chưa lo liệu cho bác sĩ. Lúc đó Bác Sĩ Quát chưa quyết tâm ra đi nên chỉ cảm ơn và nói sẽ liên lạc sau. Về phía Mỹ, khi hay tin Bác Sĩ Quát còn ở Saigon, ngày 28 Tháng Tư 1975 đã liên lạc với ông, hứa đưa hai ông bà qua Mỹ. Bác Sĩ Quát trả lời không thể nhận sự giúp đỡ quý hóa ấy nếu tất cả gia đình ông gồm 14 người không được cùng đi. Phía Mỹ ngần ngại, nhưng rồi cũng thuận ý muốn của Bác Sĩ Quát và cho ông một điểm hẹn. Ðiểm hẹn này sau bị lộ. Thêm nữa ngày 29 Tháng Tư 1975, tình hình căng thẳng tột độ, chính phủ Dương Văn Minh ra tối hậu thư buộc Mỹ phải triệt thoái toàn bộ nhân viên D.A.O. tức bộ phận tùy viên Quốc Phòng của Mỹ trong thời hạn 24 tiếng đồng hồ. Liên lạc giữa phía Mỹ và Bác Sĩ Quát bị tắc nghẽn. Chuyến trực thăng cuối cùng chở người Việt tị nạn không có Bác Sĩ Quát và gia đình.
Như đã nói, ông nặng tình gia đình, không muốn gia đình bị khổ trong vòng kìm kẹp của (Không dùng từ này) và muốn gia đình sống một nơi an toàn. Ðồng thời ông cũng không muốn làm “kẻ bỏ chạy” vì ông cũng rất nặng tình quê hương, đất nước. Ông muốn, nếu đi thì cả nhà cùng đi. Nếu ở lại thì cả nhà cùng ở lại. Nhưng sau hai lần lỡ dịp di tản gia đình, Bác Sĩ Quát ý thức rất rõ hai mối tình song hành kia, tình gia đình và tình quê hương, đất nước, khó mà dung được với nhau và chỉ có thể chọn một. Và ông đã chọn.
Ông bằng lòng cho con trai út Phan Huy Anh đi thăm dò đường lối. Do một người bạn của Huy Anh giới thiệu, Bác Sĩ Quát thuận gặp một người tên Nguyễn Ngọc Liên. Liên tự xưng là một thành viên quan trọng của một tổ chức chống Cộng nhận nhiệm vụ bắt liên lạc với Bác Sĩ Quát, mời ông gia nhập tổ chức và nơi tổ chức có thể giúp gia đình ông vượt biên. Bác Sĩ Quát đồng ý về đề nghị thứ hai của Liên. Còn về đề nghị gia nhập tổ chức, ông nói sẽ có quyết định sau khi gặp người đại diện có thẩm quyền của tổ chức. Ðôi bên đồng thuận. Gia đình Bác Sĩ Quát gồm bà Quát, các con, cháu hơn mười người được dẫn đi trước xuống Cần Thơ, ở lại đó hai ngày. Hôm sau lên xe đi tiếp, dọc đường bị chận lại, đưa về khám Cần Thơ. Cả nhà biết là đã bị mắc lừa. Một tuần sau bị giải về trại giam Chí Hòa, Saigon. Bà Quát, tuy tuổi đã cao và mắc bệnh đau tim, vẫn bị biệt giam, điều kiện sinh hoạt rất khắc nghiệt. Do con, cháu bà năn nỉ mãi, ###### cho phép một cháu ngoại gái của bà mới 12 tuổi qua ở biệt giam để chăm sóc bà. Ðược mấy tháng, vì tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi, bà Quát được đưa ra ở phòng tập thể với các con cháu. Ðược hơn một năm, có lẽ vì xét thấy gia đình bà Quát đại đa số là giới nữ và khai thác cũng không thêm được gì, ###### bèn thả hết. Riêng người con rể còn bị giữ lại, đưa đi trại cải tạo Hàm Tân, gần mười năm sau mới được thả.
Về phần Bác Sĩ Quát và con trai út của ông là Huy Anh thì được tên Liên đưa đi tạm trú tại một căn nhà kín đáo ở Chợ Lớn. Hai ngày sau, theo kế hoạch, tên Liên đưa Bác Sĩ Quát và Huy Anh ra khỏi Saigon. Khi xe ô-tô tới một điểm hẹn vắng vẻ thuộc tỉnh Biên Hòa thì đã có một xe ô-tô khác đậu bên đường, nắp ca pô mở sẵn theo mật hiệu đã quy định. Xe chở Bác Sĩ Quát và Huy Anh dừng lại. Một toán người đi tới, vây quanh xe, rút súng hăm dọa. Bác Sĩ Quát biết mình bị lừa. Ông và Huy Anh được giải về Bộ Tư lệnh Cảnh Sát, đường Võ Tánh, Saigon. Hôm đó là ngày 16 Tháng Tám 1975, khởi đầu cuộc thử thách chót trong đời vị cựu Thủ tướng. Một cuộc thử thách không giống bất cứ một thử thách nào ông đã đương đầu trước kia. Một cuộc thử thách mà chủ đích của ###### nhằm hạ nhục con người chỉ chấm dứt sau khi vị cựu Thủ tướng đã vận tất cả năng lượng vật chất và tinh thần ném hết vào cuộc đấu tranh cuối cùng của ông, lần này mới thực là mặt đối mặt với quân thù với không biết bao nhiêu căng thẳng, gay go về nhiều mặt. Cuộc đấu tranh riêng lẻ mà ông chưa từng có một ý niệm và không bao giờ ngờ có ngày phải tiến hành trong đơn độc, đã kết thúc vào trưa ngày 27 Tháng Tư 1979, đúng ba hôm trước ngày Kỷ niệm Saigon thất thủ.
Cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát đã vĩnh viễn nằm xuống sau ba năm, tám tháng đấu tranh không nhượng bộ trong gọng kìm ######.
Ngày 30 Tết, năm Mậu Ngọ (dương lịch: 1978)
Gần một tháng trước Tết Mậu Ngọ tôi bị chuyển về phòng 1, gác 1, khu BC. Ba phòng 2, 3, 4 bỏ trống. Chỉ riêng phòng 1 có “khách hàng”. Bác Sĩ Quát và tôi gặp lại nhau ở đó. Trong mấy ngày Tết, kỷ luật nới lỏng, mọi người được đi lại thăm bạn bè ở các phòng khác, gác khác trong cùng một khu. Bác Sĩ Quát và tôi không ra khỏi gác 1. Chúng tôi thường đi bộ dọc hành lang trống vắng vẻ, Bác Sĩ Quát bắt nhịp đi theo tiếng chống nạng của tôi lúc đó chân bị tê liệt. Mấy ngày Tết quả là một dịp hiếm có để có thể nói với nhau nhiều chuyện, khỏi sợ bị để ý hay soi mói quá đáng. “Ăng ten” cũng phải ăn Tết chứ! Bác Sĩ Quát đã tóm lược cho tôi nghe cuộc “phiêu lưu” của ông và gia đình. Tôi có hỏi ông về thời gian ông giữ tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát, đường Võ Tánh. Ông kể:
“Chúng bắt tôi viết bản tự khai tất cả những gì tôi làm khi tôi giữ chức Thủ tướng. Bản viết của tôi không dài quá một trang tôi viết vắn tắt là trong thời gian tôi ở cương vị Thủ tướng, tôi lãnh đạo việc nước, tôi chỉ đạo cuộc chiến chống Cộng. Tất cả mọi cấp, từ cấp thấp nhất, đến cao nhất gần gũi với Thủ tướng ở mọi ngành quân, dân, chính đều làm việc theo chỉ thị và mệnh lệnh của tôi. Một mình tôi trách nhiệm. Chúng không bằng lòng, bắt tôi viết lại. Tôi viết y như trước. Cù cưa như vậy đến hơn một tháng, gần hai tháng. Chúng bèn chuyển sang thẩm vấn. Hỏi câu nào tôi trả lới vắn tắt: Tôi trách nhiệm. Chúng đủ trò áp lực như anh biết đấy. Sau đó, để bớt căng thẳng, tôi nhận viết. Vả lại, thú thực lúc đó nhịp tim đập của tôi loạn xạ đã nhiều ngày, và tôi không có thuốc trợ tim. Tôi cảm thấy chóng mệt. Tôi cứ từ từ viết được hơn 70 trang, trong đó tôi nêu một số nhận định về thời cuộc, đưa ra một số đề nghị kiến thiết quốc gia. Trên trang nhất, tôi đề tên người nhận văn bản của tôi là Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Chúng bắt tôi xóa, chỉ được viết là bản tự khai. Tôi không chịu. Sau cùng chúng cũng nhận tập viết của tôi.”
Tôi hỏi Bác Sĩ Quát: “Anh có tin là chúng chuyển tập viết của anh tới Nguyễn Hữu Thọ không?”. “Tôi ngờ lắm.” Ông đáp. “Nhưng không sao. Tôi mượn cớ đề tên Nguyễn Hữu Thọ để ngầm bảo chúng rằng tôi không biết tới Hà Nội trong khi tất cả chúng ta đều rõ là Nguyễn Hữu Thọ và Mặt trận Giải phóng Miền Nam chỉ là công cụ của Hà Nội và Hà Nội thừa biết điều đó hơn ai hết.”
Tôi bật cười, Bác Sĩ Quát cũng cười theo. Chúng tôi hiểu nhau. Trong buồng có một vài bạn tù đứng đắn, chúng tôi có thể nói chuyện thẳng thắn, cởi mở, không nghi ngại. Tôi nhớ một lần, vẫn trong dịp Tết Mậu Ngọ, chúng tôi năm người đứng nói chuyện gần ở một góc hành lang, câu chuyện loanh quanh thế nào mà dẫn đến việc một bạn tù hỏi Bác Sĩ Quát về một vài cộng sự viên thân cận nhất của ông mà ông thật tâm tác thành cho: “Có thật hay không, tiếng đồn có người đá ngầm anh khi có dấu hiệu anh trên đà xuống dốc?” Bác Sĩ Quát mỉm cười, trả lời, giọng bình thản: “Tôi đã có nhiều dịp gần cụ Trần Trọng Kim khi sinh thời cụ. Tôi nhớ mãi một lời cụ dậy: sống ở đời phải cho nó chững. Tôi thường kể lại cho các con, cháu trong nhà nghe lời của cụ Trần, kẻo uổng.” Câu nói của Bác Sĩ Quát không trả lời thẳng vào câu hỏi của anh bạn. Nhưng có vẻ như mấy bạn biết thưởng thức câu trả lời đó vì họ cười ha hả.
Sau Tết, chúng tôi bị chuyển sang phòng 5, gác 1, khu ED. Ðược vài hôm, phòng nhận thêm một tù nhân từ biệt giam qua. Người này, khi nhận thấy Bác Sĩ Quát thì tỏ vẻ lúng túng, ngượng ngập. Có chi lạ đâu? Hắn là Nguyễn Ngọc Liên, người mời chèo Bác Sĩ Quát vào khu để rồi rơi vào bẫy sập ở Biên Hòa. Trong phòng ngoài Bác Sĩ Quát và tôi, không một ai khác biết mối liên hệ giữa Bác Sĩ Quát và hắn. Bác Sĩ Quát cư xử rất tự nhiên, không tỏ vẻ gì khó chịu bực tức, nóng nẩy. Riêng tôi cũng không để lộ cho tên Liên rõ là tôi biết chuyện của hắn. Cuộc sống ở Chí Hòa đơn điệu, buồn tẻ, ngột ngạt.
Ngày này sang ngày khác, mọi người như chết đi trên 2/3 manh chiếu của mình. Không bao giờ tôi nghe thấy Bác Sĩ Quát thốt lên dù chỉ nửa lời than van về số phận của mình hay của gia đình về sự mất mát tài sản mà ###### đã tịch thu toàn bộ chỉ để lại cho ông hai bàn tay trắng. Ông sống lặng lẽ, trầm ngâm, kín đáo. Nhiều lần, cán bộ ###### cố ý công khai làm nhục ông trước mặt mọi người. Ông giữ im lặng, cái im lặng kẻ cả. Không ai nhận thấy ở ông một vẻ gì kiêu kỳ, của một người đã từng giữ những chức vụ cao sang trong chính quyền cũ.
Ông biết hòa mình một cách đúng mức. Với anh em cùng cảnh ngộ và cái đúng mức không gượng ép ấy tự nhiên bảo vệ tư thế riêng của ông bằng một khoảng cách mà chẳng ai dám nghĩ muốn vượt qua. Ngay đối với tên Liên mà nhiều yếu tố trong vụ Biên Hòa đủ để được xứng đáng nhãn hiệu “tên phản bội, tên lừa bịp”, ông vẫn giữ được cách lịch sự bao dung buộc kẻ kia tự mình phải có thái độ ăn năn, kính cẩn đối với ông. Thế nên tôi rất hiểu tâm địa ông khi ông thều thào: “Thôi! Bỏ đi!” để trả lời câu hỏi dồn ông về tên Liên bên chiếu bệnh. Ông biết vì ông mà vợ, con, cháu ông đang dũng cảm chịu khổ, chịu nhục, chịu thiếu thốn ở khu phụ nữ. Ông biết một cháu nội gái của ông, con gái đầu lòng của Huy Anh, mới ba tháng đã “được” ###### bỏ tù vì bố mẹ và đang thiếu sữa.
Ông biết chừng nào ###### chưa bẻ gãy được ý chí đối kháng thầm lặng của ông thì gia đình ông, đa số là phụ nữ và con nít vần là những con tin hữu hiệu trong tay ###### dùng làm lợi khí đe dọa, đầy đọa tinh thần ông, nghiền nát những gì là nhân tính trong ông, buộc ông phải thốt lên một lời quỵ lụy quy hàng, Nhưng ông đã đứng được đầu gió. Vì ông đã cứng.
Tôi thường nghĩ, trong suốt cuộc đời tham chính, thành tựu của Bác Sĩ Phan Huy Quát có ý nghĩa lớn lao nhất, có ích cho quốc dân nhất, do đó quan trọng vào bậc nhất vì trực tiếp liên quan sâu sắc nhất đến tiền đồ tổ quốc, là ông đã giành được chủ quyền cho ngành giáo dục Việt Nam, khi ông được Cựu Quốc Trưởng Bảo Ðại phong ông làm Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục trong chính phủ đầu tiên của Quốc gia Việt Nam mới được Pháp thừa nhận nền độc lập. Do lòng trí kiên nhẫn, thái độ khéo léo, mềm dẻo nhưng không thiếu cương quyết trong thương thảo rất khó khăn, nhiều khi đến độ rất căng thẳng với phái đoàn Pháp mà một số thành viên lại là thầy học cũ của ông ở Ðại học Y khoa Hà Nội. Ông đã thuyết phục được phía Pháp trao trả Việt Nam trọn quyền của ngành giáo dục. Ông đã đặt nền móng vững chắc cho việc dùng Việt ngữ là ngôn ngữ chính trong mọi giáo trình, mở đầu kỷ nguyên cải
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jul 22 2013, 12:58 AM
Gửi vào: #44


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Số phận 10 nhân vật quyền lực nhất Sài Gòn trước 04/1975.





Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) là Tổng thống từ 1967-1975. Đêm 25/4/1975, ông rời VN đi Đài Loan dưới danh nghĩa phúng điếu Tưởng Giới Thạch, rồi bay thẳng sang Anh định cư. Đầu thập kỷ 1990, ông Thiệu chuyển sang sống tại Foxborough, Massachusetts, Mỹ và sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây. Ông qua đời ngày 29/9/2001, sau khi đột quỵ tại nhà riêng ở Foxborough, thọ 78 tuổi.


[Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu -
"Có hai lối có tên trong lịch sử"...

"Tôi thiết tha kêu gọi những ai, ở miền Nam này, đang ăn cơm miền Nam, đang thở không khí miền Nam, đang được sự che chở của xương máu Dân Quân miền Nam, mà đến ngày nay, còn âm thầm tiếp tay với C..., còn lén lút đi đêm với thực dân, ngụy hòa, còn tính đâm sau lưng chiến sĩ đồng bào…Tôi kêu gọi lương tri của mấy người, vì đất nước, vì dân tộc, hãy dừng chân lại, hãy dừng tay lại, hãy từ bỏ ý định đó đi mà cùng với 17 triệu rưỡi Dân Quân miền Nam chiến đấu chống kẻ thù C.... Tôi kêu gọi mấy người hãy suy nghĩ, nếu thích C... thì hãy có can đảm ra ngoài Bắc ở với C..., như vậy C... còn ít khinh rẻ mấy người hơn là làm tay sai cho chúng ở miền Nam này.Có thể không ai ở miền Nam tự do này giết mấy người đâu, nhưng chính C... sẽ giết mấy người.

Mấy người nếu muốn có tên trong lịch sử, thì cũng có hai lối có tên trong lịch sử. Một đàng khi nhắc đến, thì toàn dân cúi đầu khâm phục, con cháu lại ngẩng đầu lên hãnh diện. Một đàng khác, khi nhắc đến, thì toàn dân ngẩng đầu lên nguyền rủa, còn con cháu mấy người lại cúi đầu tủi nhục. Tôi chắc mấy người sẽ được lịch sử ghi tên vào hạng thứ hai này.

Nếu mấy người không cầm súng xông pha lửa đạn để chiến đấu, nếu không làm được một việc gì hữu ích cho hậu phương thì mấy người đừng làm gì hại dân bán nước

Một hành động ngu xuẩn, phản bội Tổ Quốc, Chiến Sĩ và Nhân Dân, dù có gạt được ai 5, 3 tháng, 5, 3 năm, rồi cũng sẽ bị lịch sử lôi ra chứng minh và cũng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc."]




Dương Văn Minh (1916-2001) là Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Sau năm 1975, ông sống tại TPSG, cho đến năm 1983 thì sang Pháp định cư. Nhưng ngay sau đó, ông lại chuyển sang California (Mỹ), sống với gia đình con gái. Ông qua đời ngày 6/8/2001, thọ 86 tuổi.



Trần Văn Hương (1902-1982) là cựu Thủ tướng (1964–1965; 1968–1969), phó tổng thống(1971-1975), rồi Tổng thống trong thời gian 7 ngày (21-28/4/1975) của chế độ VCNH. Sau 1975, ông chọn ở lại quê hương, tiếp tục sống ở căn nhà của mình ở Sài Gòn. Những năm tháng cuối đời, ông sống chung với em gái, em rể, và người con trai lớn là Lưu Vĩnh Châu – từng là một đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tham gia trận Điện Biên Phủ. Ông mất ngày 27/1/1982, hưởng thọ 80 tuổi.



Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) là một sĩ quan cao cấp và là cựu Thủ tướng và Phó Tổng thống của chế độ Sài Gòn. Năm 2004, ông đã về thăm quê hương trong tinh thần hòa giải dân tộc. Ông mất ngày 23/6 tại một bệnh viện ở Malaysia, thọ 81 tuổi.



Nguyễn Xuân Oánh (1921–2003), là cựu Phó Thủ tướng kiêm Thống đốc Ngân hàng, 2 lần là quyền Thủ tướng trong chính phủ Sài Gòn. Sau 1975, ông tiếp tục được chính quyền mới trọng dụng. Trong tiến trình Đổi mới cuối thập niên 1980, ông đã có đóng góp lớn vào việc cải cách các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, đầu tư nước ngoài… tại VN. Ông từng là cố vấn kinh tế cho Tổng bí thư CS Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng CS Võ Văn Kiệt và cũng là Đại biểu Quốc hội, Ủy viên UBTW Mặt trận Tổ quốc VN. Ông mất ngày 29/8/2003 tại TP SG.



Vũ Văn Mẫu (1914-1998) là một chính trị gia kiêm học giả về ngành luật nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông từng giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao rồi Thủ tướng của chế độ Sài Gòn. Sau 1975, ông ở lại VN trong một thời gian, rồi sau đó sang Pháp và định cư ở đây cho đến tận cuối đời. Ông Vũ Văn Mẫu mất ngày 20/8/1998 tại Paris, thọ 84 tuổi.



Nguyễn Hữu Có (1925-2012) là cựu Phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng và tổng tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn. Sau năm 1975, ông ở lại VN và phải đi cải tạo đến năm 1987. Tuy vậy, đến cuối năm 2004, ông được bầu làm Ủy viên UBTW Mặt trận Tổ quốc VN và được CS VN xem như một biểu tượng của sự hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù của 30 năm chiến tranh. Ông mất tại TPSG ngày 3/7/2012, hưởng thọ 87 tuổi. Trong ảnh là vợ chồng ông Nguyễn Hữu Có, chụp vào tháng 2.2012.



Trần Văn Đôn (1917-) là tướng lĩnh cao cấp của Quân lực Sài Gòn và là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng trong nội các cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Vào ngày 29/4/1975, ông là một trong những người di tản trên chuyến trực thăng nổi tiếng của Mỹ xuất phát từ tầng thượng tòa nhà 22 phố Gia Long (nay là phố Lý Tự Trọng) ở Sài Gòn. Sau đó, ông sang Pháp định cư và sinh sống ở đó cho tới nay.



Cao Văn Viên (1921-2008) là 1 trong 5 người được phong hàm đại tướng quân lực VNCH. Ông là vị tướng giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng trong thời gian lâu nhất (1965-1975) và cũng là người cuối cùng giữ cương vị này của chế độ Sài Gòn. Năm 1975, trước các thất bại quân sự, ông từ nhiệm ngày 27/4 và lên máy bay di tản sang Mỹ. Sau 1975, ông sống lặng lẽ tại Arlington, Virginia. Ông mất ngày 22/1/2008 tại viện dưỡng lão, thọ 87 tuổi.



Vương Văn Bắc (1927-2011) là một luật sư và Tổng trưởng Ngoại giao vào những năm cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Sau ngày 30/4/1975, ông sang Pháp định cư. Nhờ học vấn uyên thâm, ông được ngành luật của nước Pháp trọng dụng và làm việc cho đến năm 80 tuổi mới nghỉ ngơi. Ông mất ở Paris ngày 20/6/2011.


><><><



Cựu ngoại trưởng Vương Văn Bắc qua đời

Luật sư Vương Văn Bắc
Luật sư - Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đã tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa tại Hoàng Sa và Trường Sa

Cựu Ngoại trưởng của Chính quyền Sài Gòn trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng nhất ở thập niên 1970, ông Vương Văn Bắc đã qua đời.

Tin từ Pháp cho hay luật sư Vương Văn Bắc qua đời tại Paris hôm 20/6.

Sinh năm 1927, quê Bắc Ninh, ông Vương Văn Bắc cũng từng làm đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Anh Quốc năm 1972.

Báo chí của người Việt ở hải ngoại cũng nhắc rằng ông Vương Văn Bắc có mặt trong phái đoàn của Chính quyền Sài Gòn tham dự hòa đàm Paris năm 1973 và thay ông Trần văn Lắm làm Tổng trưởng Ngoại giao sau đó.

Nhân danh quốc gia

Được biết vào tháng 1/1974, ông đã lên án trước thế giới hành động xâm lấn của Trung Quốc và tuyên bố tác khẳng định chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên quần đảo Hoàng Sa sau vụ tiến chiếm của hải quân Trung Quốc cộng sản.

Văn bản này hiện được nhiều trang web tiếng Việt ở nước ngoài lưu lại có nội dung như sau:

Sự kiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những phần tử bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa là một sự kiện hiển nhiên và không chối cãi được
Bộ trưởng Vương Văn Bắc

“Ngày 11/1/1974, Bộ Ngoại Giao Trung Cộng bỗng nhiên lên tiếng mạo nhận chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa. Ngay ngày hôm sau, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa đã bác bỏ đòi hỏi vô căn cứ đó. Mặc dầu vậy, trong những ngày gần đây, nhà cầm quyền Trung Cộng không những đã không rút lại sự đòi hỏi vô lý của mình lại còn ngang nhiên xâm phạm vào chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa bằng cách cho người và tàu bè xâm nhập vào vùng lãnh hải chung quanh các đảo Cam Tuyền (Robert), Quang Hòa (Duncan), Duy Mộng (Drummond) thuộc quần đảo Hoàng Sa (Paracels Islands) của Việt Nam Cộng Hòa. Thậm chí bọn người này còn dám đặt chân lên các hòn đảo này, dựng chòi và kéo cờ Trung Cộng, trắng trợn chà đạp lên chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa."

Nhân danh chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, Luật sư - Ngoại trưởng Vương Văn Bắc nói:

"Trước những sự vi phạm thô bạo đó, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam Cộng Hòa rất công phẫn và quyết không dung thứ. Sự kiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những phần tử bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa là một sự kiện hiển nhiên và không chối cãi được, căn cứ trên những dữ kiện địa lý, lịch sử và pháp lý quốc tế..."

Cũng vào giữa năm 1974, ông Vương Văn Bắc đã phát biểu tại Hội Nghị Liên Hiệp Quốc Kỳ III về Luật Biển ở Caracas gồm 150 nước tham dự về Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo lời kể của ông Bấm Trần Văn Khởi, nguyên Tổng Cục Trưởng Dầu Hỏa và Khoáng Sản VNCH thì ông Bắc đã "lưu loát trình bày nội dung khúc chiết lập trường chính thức của Việt Nam Cộng Hòa để đưa vào biên bản của Liên Hiệp Quốc".

Như thế, vẫn theo ông Khởi trong bài trên trang web của mình, "Lịch sử Hoàng Sa- Trường Sa ở Liên Hiệp Quốc, trước đây đã có tuyên bố Trần Văn Hữu ở San Francisco 1951, nay lại ghi thêm tuyên bố Vương Văn Bắc ở Caracas 1974".

Theo các báo tiếng Việt ở Mỹ, vào những giờ phút nóng bỏng nhất của chế độ Sài Gòn, tháng 4 năm 1975, ông Vương Văn Bắc được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử sang Ảrập Saudi để tìm cách vay tiền cho Việt Nam Cộng Hòa.

Khi Sài Gòn thất thủ, ông Vương Văn Bắc bị kẹt lại ở Anh Quốc lúc ghé thăm gia đình trên đường về nước.

Sau cuộc chiến Việt Nam, ông định cư tại Pháp cho tới lúc qua đời.


Mộng trở về

Là một luật sư, một nhà chính trị, ông còn là một họa sĩ, một người viết văn, làm thơ. Văn ông tuy không tuyệt vời, thơ ông tuy không bóng bẩy, nhưng nó đến từ những cảm xúc chân thành trong ông, nó là ông, một con người suốt đời chân thành với bạn bè, nghiêm khắc với bản thân, trung nghĩa với lý tưởng của mình.

Nay ông đã ra đi, xin gửi đến ông một nén hương lòng qua bài thơ của chính ông, bài thơ "Mộng trở về" nói lên nỗi niềm hoài vọng một ngày trở về quê hương, một bến bờ Tự Do của ông qua giọng đọc của cô con gái đầu lòng Vương Hồng Hạnh:

Lòng chán ngán những tình hờ, danh hão,
Tai nhàm nghe toàn Paul, Jacque, Henri.
Mười năm sống kiêm lưu linh, gượng gạo,
Quá lâu rồi đất Mẹ mộng quay về.
Bỏ lại hết những lâu đài xa lạ,
Những cánh đồng không ngập lúa quê hương.
Không vương vấn những vườn nho, tượng đá,
Ta ra đi nhằm nẻo Thái Bình Dương.
Qua sa mạc cận đông thiêu lửa Hạ
Ghé Chiraz thu tời trải hoa vàng.
Âm thầm vượt thành Afgang băng giá,
Hướng về đông, thuyền ngược Ấn Độ giang.
Nắng nhiệt đới làm bỏng da, cháy thịt,
Gió nồm lên, hơi thở nghẹn bụi đường.
Ta ngưng bước trên đồi cao nghĩ mệt,
Thấy mây trôi lòng dào dạt nhớ thương.
Ta tưởng thấy tháp rùa in đáy nước,
Ngỡ nghe chuông Thiên Mụ vọng bên đò.
Lòng rộn rã lại hăng say cất bước,
Đã đến ngày hò hẹn với Tự Do!

(Vương Văn Bắc, sáng tác ngày 25 tháng 5 năm 1985)




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Apr 27 2014, 12:32 AM
Gửi vào: #45


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





LÁ THƯ CUỐI CÙNG CỦA
TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU


(Vũ Hải Hồ)

Trong khi mất quân Đoàn I và quân Đoàn 2 vào tay bắc Việt, thì Hoa Kỳ cúp viện trợ, đồng thời, tìm cách bỏ chạy, do Kissinger chủ trương với luận cứ :"Tái lập hoà bình Việt Nam trong danh dự". Ông Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001), như người sắp chết đuối, không còn con đường nào khác hơn là tiếp tục "năn nỉ, van xin" người Mỹ đừng bỏ rơi miền Nam. Và đây là lá thư cuối cùng của Ông, đề ngày 29-03-1975, gởi cho Tổng Thống Gerald Ford (1913-2006), viết với lời lẽ thống thiết để cầu xin Hoa Kỳ giúp đỡ tổ quốc Ông. Nhưng, miền nam phải mất, bởi vì, Mỹ đã thật sự muốn: "lịch sử phải sang trang" :

" Kính Ngài Tổng Thống.

Những sự kiện trong vài tuần gần đây đã đưa miền nam Việt nam vào 1 tình huống mới và nghiêm trọng. Hiện nay chúng tôi phải đương đầu với lực lượng địch quân đông hơn và trang bị tối tân hơn. Khi quân Cộng Sản đang tập trung cửa ngõ vùng đồng bằng, nhân dân và quân đội chúng tôi đã chuẩn bị với quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ lãnh thổ và sự Tự Do của dất nước. Để thực hiện thành công của sự quyết tâm này, chúng tôi vô cùng cần đến những phương tiện chiến đấu, đó là vũ khí và đạn dược. Vì vậy, tôi rất biết ơn Tổng Thống tích cực vận dộng, thúc giục Quốc Hội biểu quyết chấp thuận việc viện trợ thêm về quân sự cho Việt Nam Cộng Hoà. Tuy nhiên vì việc viện trợ quân sự cho VNCH đã là 1 vấn đề được mọi người biết đến và đang nóng lòng mong chờ nếu Quốc Hội biểu quyết từ chối chắc chắn sẽ là 1 ngón đòn mãnh liệt giáng xuống tinh thần quân đội chúng tôi khi chúng tôi đang chuẩn bị cho những trận đánh quyết định sắp tới. Chúng tôi muốn điều này sẽ không xẩy ra.

Chúng tôi trân trọng và biết ơn sâu sắc với tất cả những hy sinh xương máu và tài sản của người dân nước Mỹ trong thời gian qua để giúp chúng tôi bảo vệ sự Tự Do của miền Nam Việt nam.

Chúng tôi hoàn toàn hiểu rõ những vấn đề đạo đức và chính trị mà những nhà lập pháp Hoa Kỳ phải đương đầu khi họ xem xét vấn đề viện trợ cho VNCH. Nếu vì lý do nào đó họ thấy không thể cung cấp viện trợ quân sự cho VNCH, tôi có 1 đề nghị với Tổng Thống và mong Tổng Thống cứu xét cho.

Thưa Tổng Thống, tôi đề nghị Tổng Thống yêu cầu Quốc Hội đồng ý cho chúng tôi vay dài hạn lần cuối cùng số tiền 3 tỷ đô la, được phân chia trong 3 năm và kỳ hạn hoàn trả là 10 năm với mức lãi suất do Quốc Hội quyết định. Tiềm năng về dầu hỏa và nguồn lợi về nông nghiệp của chúng tôi sẽ thế chấp cho món nợ này. Số tiền vay này được gọi là "Freedom Loan".

Số tiền này sẽ cho phép chúng tôi 1 cơ hội để được tồn tại trong 1 đất nước Tự Do và Dân Chủ.

Chúng tôi kêu gọi lương tâm và lòng nhân đạo của nhân dân Hoa Kỳ đối với cảnh ngộ của đất nước chúng tôi, 1 người bạn đồng minh trung thành với nhân dân Hoa Kỳ trong suốt 20 năm sóng gió, 1 dân tộc đã chịu nhiều hy sinh vì chiến tranh, đau khổ vì Cộng sản trong 2 thập niên chiến đấu để giữ mảnh đất Tự Do này. Một dân tộc như vậy xứng đáng với lòng thông cảm và sự giúp đỡ.

Trong giờ phút vô cùng khẩn thiết, chúng tôi mong muốn Tổng Thống thúc giục Quốc Hội xem xét dễ dàng, cấp bách cho lời yêu cầu của tôi là được vay "số tiền vì Tự Do". Đây sẽ là hành động cầu xin cuối cùng của tôi, 1 người bạn đồng minh, gởi đến Tổng Thống và toàn thể nhân dân Hoa Kỳ.

Trân trọng kính chào.

Nguyễn Văn Thiệu
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà



><><><><><


Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu -
"Có hai lối có tên trong lịch sử"...


"Tôi thiết tha kêu gọi những ai, ở miền Nam này, đang ăn cơm miền Nam, đang thở không khí miền Nam, đang được sự che chở của xương máu Dân Quân miền Nam, mà đến ngày nay, còn âm thầm tiếp tay với C..., còn lén lút đi đêm với thực dân, ngụy hòa, còn tính đâm sau lưng chiến sĩ đồng bào…Tôi kêu gọi lương tri của mấy người, vì đất nước, vì dân tộc, hãy dừng chân lại, hãy dừng tay lại, hãy từ bỏ ý định đó đi mà cùng với 17 triệu rưỡi Dân Quân miền Nam chiến đấu chống kẻ thù C.... Tôi kêu gọi mấy người hãy suy nghĩ, nếu thích C... thì hãy có can đảm ra ngoài Bắc ở với C..., như vậy C... còn ít khinh rẻ mấy người hơn là làm tay sai cho chúng ở miền Nam này.Có thể không ai ở miền Nam tự do này giết mấy người đâu, nhưng chính C... sẽ giết mấy người.

Mấy người nếu muốn có tên trong lịch sử, thì cũng có hai lối có tên trong lịch sử. Một đàng khi nhắc đến, thì toàn dân cúi đầu khâm phục, con cháu lại ngẩng đầu lên hãnh diện. Một đàng khác, khi nhắc đến, thì toàn dân ngẩng đầu lên nguyền rủa, còn con cháu mấy người lại cúi đầu tủi nhục. Tôi chắc mấy người sẽ được lịch sử ghi tên vào hạng thứ hai này.

Nếu mấy người không cầm súng xông pha lửa đạn để chiến đấu, nếu không làm được một việc gì hữu ích cho hậu phương thì mấy người đừng làm gì hại dân bán nước

Một hành động ngu xuẩn, phản bội Tổ Quốc, Chiến Sĩ và Nhân Dân, dù có gạt được ai 5, 3 tháng, 5, 3 năm, rồi cũng sẽ bị lịch sử lôi ra chứng minh và cũng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc."



--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Feb 22 2015, 11:19 PM
Gửi vào: #46


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Nữ tỉ phú trẻ tuổi nhất thế giới nhờ phát minh kỳ diệu: Xét Nghiệm Máu Đơn Giản
Câu chuyện về quyết tâm của cô Elizabeth Holmes, một thiếu nữ làm thay đổi hẳn kỹ nghệ xét nghiệm máu. Cô trở thành nữ tỉ phú trẻ tuổi nhất thế giới nhờ phát minh kỳ diệu này.


Cô Elizabeth Holmes. Photo courtesy: www.mercurynews.com

Cali Today News - Vào một ngày đẹp trời của tháng Chín, tại phòng hội của Cung Mỹ Thuật San Francisco -Palace of the Fine Arts, San Francisco, cô Elizabeth Holmes đăng đàn đứng diễn thuyết nói chuyện về MÁU. Cô là đại diện của công ty Theranos trong nhóm TEDMED. Công ty Theranos đóng góp một phần trong chương trình triển lãm về Y Tế, Kỹ Thuật và Hoạ Kiểu.

Năm nay, cô Holmes được 30 tuổi, hiện là CEO, Chủ tịch của công ty Theranos, một công ty ở Silicon Valley đang làm đảo lộn kỷ nghệ thử nghiệm máu, ngành công nghiệp sinh lợi rất nhiều. Phân tích máu là một phần trong toàn bộ ngành y khoa. Khi một y sĩ muốn kiểm tra vài khía cạnh về tình trạng sức khoẻ của bạn, họ cần phải làm xét nghiệm máu. Nhờ thử máu, y sĩ có thể biết mức cholesterol, mức đường có trong máu, hay tìm ra những chỉ dấu cho thấy thận và gan có vấn đề. Thông thường khi thử nghiệm máu, người ta phải đâm cây kim dài vào mạch máu, rút máu đầy hai ba ống nghiệm, sau đó gửi đi phòng thí nghiệm phân tích. Tựu chung qúa trình xét nghiệm máu như phân tích, định bệnh đều do hai công ty thử máu chủ yếu là công ty Quest và Laboratory Corporation of America. Họ kiếm được lợi nhuận khoảng 75 tỉ đô la mỗi năm.

Cô Holmes nói với khán giả dự hội nghị rằng xét nghiệm máu có thể được làm nhanh chóng hơn, dễ dàng hơn, và ít tốn kém hơn. Do đó, nó sẽ giúp cứu thêm nhiều sinh mạng. Đứng trên sân khấu, trước một số đông khán giả, cô Holmes vẫn mặc bộ đồ đồng phục hàng ngày: một chiếc áo cao cổ mầu đen, tương tự như ông Steve Jobs trước đây thường mặc. Tóc của cô chỉ vấn sơ sài thành một nùi tóc để phía sau. Trong lúc thuyết trình, cô có thói quen đi tới đi lui, chậm rãi, trên sân khấu, mắt cô nhìn thẳng, ít khi chớp mắt, hai tay chống nạnh bên hông. Cô Holmes thành lập công ty Theranos vào năm 2003, khi cô mới được 19 tuổi. Năm sau, cô quyết định bỏ học, không học tiếp ở trường đại học Stanford nữa. Cô nói với khán giả rằng từ ngày đó đến nay công ty của cô đã phát minh phương pháp làm thử nghiệm máu mới chỉ cần hai giọt máu chích từ đầu ngón tay là có thể khám phá ra hàng chục căn bệnh, từ mức mỡ cao trong máu đến bệnh ung thư. Hiện nay, công ty Theranos đang giúp đem phương pháp thử nghiệm máu đơn giản này vào trong bệnh viện. Công ty thảo luận chi tiết với Y Viện Cleveland Clinic. Công ty Theranos đã mở ra 41 trung tâm thử nghiệm máu tại các tiệm bán thuốc của hệ thống Walgreens, và dự trù sẽ mở ra hàng ngàn trung tâm mới nữa. Nếu bạn xuất trình thẻ căn cước, thẻ bảo hiểm y tế, hay giấy giới thiêu của bác sĩ là bạn có thể được thử nghiệm máu ngay tức khắc. (Máu được trích ra từ ngón tay, và gửi đến phòng Lab của công ty Theranos.). Từ mẫu máu xét nghiệm, công ty của cô sẽ phân tích, thực hiện những cuộc xét nghiệm theo tiêu chuẩn Medicare đặt ra với độ chính xác 90%, và ít tốn kém. Thông thường thử nghiệm máu để biết mức cholesterol trong máu phải tốn $50 hay hơn. Công ty Theranos chỉ lấy $2.99 (Hai đô la, 99 xu).

Khi nói chuyện, cô Holmes nói nhỏ nhẹ, gần như là thì thầm. Khi đăng đàn diễn thuyết, cô nói với một cao độ lớn hơn một chút, và giữ nhịp điệu đều đều của người đứng thuyết giảng. Khán giả dự hội nghị TEDMED lắng nghe một cách chăm chú khi cô phân tích sự thiếu xót trong kỹ nghệ xét nghiệm máu. Dịch vụ xét nghiệm máu quá tốn tiền, được thực hiện ở thời điểm, và điạ điểm bất tiện, phải lấy máu bằng ống chích. Cô Holmes kể lại câu chuyện về mẹ cô và bà ngoại cô bị ngất xỉu khi trông thấy máu được rút ra, cho vào ống nghiệm.

Cô Holmes nghĩ rằng phải làm cách nào để biến việc thử máu trở thành một kinh nghiệm “tuyệt vời”, thoải mái, và công ty Theranos của cô nhắm biến việc thử máu trở thành chuyện bình thường. Cô cho hay có đến 40% hay 60% số người được bác sĩ yêu cầu xét nghiệm máu đã tìm cách thoái thác không đi thử nghiệm vì sợ lấy máu. Nhiều căn bệnh như bệnh tiểu đường, bệnh phong tình vì giao hợp, và nhiều bệnh thông thường khác có thể chẩn đoán ra ngay nếu việc xét nghiệm máu được làm dễ dàng. Biết bao lần chúng ta nghe bệnh nhân than: “Phải chi tôi biết được mình mắc bệnh từ trước, thì đâu đến nỗi như thế này…”.

Công ty Theranos vừa là một công ty chế tạo máy móc, và làm công việc ngành y khoa. Đây là một công ty tư nhân, mới được sáng lập tại Silicon Valley trong ít năm gần đây. Giáo sư Channing Robertson dạy môn kỷ sư hoá học ở trường Stanford là thành viên trong ban quản trị của công ty nói với chúng tôi: “Trong một thời gian dài, tôi không biết phải mô tả cho vợ tôi ra sao, để bà ấy hiểu công ty của tôi làm cái gì.”. Trong ít tháng gần đây, cô Holmes đi thuyết trình tại nhiều nơi về công ty Theranos, giống như tại hội nghị TEDMED . Các nhà đầu tư ước tính giá trị của công ty Theranos vào khoảng hơn 9 tỉ đô la. Cô Holmes làm chủ hơn 50% cổ phần của công ty. Cả hai tạp chí tài chánh Fortune và Forbes đều liệt kê cô là nữ tỉ phú trẻ tuổi nhất thế giới, khởi đầu sự nghiệp từ hai bàn tay trắng. Trong hội đồng quản trị của công ty Theranos, người ta thấy có mặt những nhân vật nổi tiếng trong chính phủ trước đây: ông George P. Shultz, Henry Kissinger, Sam Nunn, và ông William H. Foege, cựu giám đốc trung tâm kiểm soát, phòng ngừa bệnh dịch. Bác sĩ Delos M. Cosgrove, Chủ tịch, kiêm Tổng Giám Đốc Y viện Cleveland Clinic. Ông này hết lòng ủng hộ công ty Theranos. Ông nói: “Tôi cho rằng công ty là một thành công bộc phá trong y tế. Nó thể hiện một thay đổi quan trọng trong việc chăm lo sức khoẻ cho người dân.”.

Sự thăng tiến của công ty xảy ra đúng vào lúc đa số người tiêu thụ hăm hở muốn biết tài liệu thông tin riêng tư của mình. Những công ty như 23andme giúp người ta tìm hiểu về DNA của mình, các loại smartphone giúp người dùng đo được nhịp đập của tim. Trong buổi thuyết trình, cô Holmes giải thích: “Tất cả công việc tôi muốn thực hiện khi lập ra công ty Theranos nhằm đưa ra định nghĩa lại về cơ cấu của thủ tục định bệnh. Tôi muốn mọi người đều có thể tìm hiểu về căn bệnh mình có trong người, không bắt buộc họ phải có tiền hay không. Bất cứ lúc nào họ cũng có thể tìm hiểu về bệnh trạng của mình.”. Bác sĩ Grove tiên đoán rằng rồi đây việc thử nghiệm máu để tìm biết về những căn bệnh thông thường sẽ do cả bệnh nhân lẫn bác sĩ yêu cầu thực hiện. Những triệu chứng như mức cholesterol, mức đường có trong máu là những vấn đề rất thông thường, người có bệnh cứ việc ghé qua cửa hàng dược phẩm của CVC, Walgreens, hay Walmart là làm được. Dễ dàng như vậy, nên sẽ tạo ảnh hưởng rất lớn trong ngành y khoa.

Nhưng việc thu thập, và tiết lộ tài liệu y khoa của mỗi cá nhân là điều cơ quan US Food and Drug Administration muốn đặt ra giới hạn. Năm ngoái cơ quan FDA đã cấm công ty 23andme phổ biến tin tức cá nhân, sợ rằng tin tức đó bị lạm dụng, dùng sai với mục đích của nó. Ông Lakshman Ramamurthy, một nhà sinh vật học, trước đây từng làm phó giám đốc cơ quan FDA cho rằng tư liệu y khoa không phải là một mặt hàng tiêu dùng, phải dùng thông tin đó cho mục đích y khoa, dùng để chữa trị căn bệnh, không thể phổ biến bừa bãi được.”.

Cô Holmes phản biện lại lập luận trên, cô cho rằng công ty Theranos chỉ muốn bảo vệ công ty của mình, trong lúc thực một công tác duy nhất chỉ công ty Theranos làm được. Cô nói: “Chưa có một công ty nào làm được việc làm như chúng tôi. Chúng tôi tạo ra một thị trường mở rộng cho những ai không muốn bị kim chích vào người để lấy máu xét nghiệm.”.


MỘT NGÀY SAU BUỔI THUYẾT TRÌNH TẠI HỘI NGHỊTEDMED, tôi gặp cô Holmes trong phòng hội của công ty Theranos, một bin dinh nhỏ, một tầng, cách khuôn viên trường đại học Stanford hai dẫy phố. (Từ tháng 11, công ty sẽ dọn đến một khu lớn hơn, cách đó vài dậm). Cô Holmes sống trong một căn condo hai phòng ngủ trong tỉnh Palo Alto, với một cuộc sống hết sức thanh đạm. Mặc dù cô là người đọc sách rất nhiều từ khi còn nhỏ, nhưng bây giờ vì bận rộn quá, cô không còn dành thì giờ để đọc tiểu thuyết, và gặp gỡ bạn bè. Cô cũng chẳng có thì giờ để hò hẹn với ai,.Cô không có truyền hình trong nhà, và từ 10 năm nay cô chưa hề đi nghỉ mát ngày nào. Trong tủ lạnh ở nhà, hầu như trống trơn, cô thường ăn ngay tại văn phòng làm việc. Cô ăn uống rất kỹ, theo lối vegan, tức là chỉ ăn rau qủa, và cá, không ăn thịt. Mỗi ngày cô uống nước cốt xay rau quả gồm dưa leo, pasrsley, rau kale, xà lách, spinach, và celery.

Khi còn thiếu thời, cô Holmes sống với gia đình, và thường xuyên phải dời chỗ ở. Cha của cô, ông Chris làm việc cho chính phủ, phần lớn là cho cơ quan Phát Triển Quốc Tế -US AID, trực thuộc Bộ Ngoại Giao. Ông phải đi công tác nhiều nơi trên thế giới, với nhiệm vụ giúp cứu trợ, xoá bỏ bệnh tật ở nhiều nước khác, và ông phụ trách việc phối hợp nguồn cung cấp nước trên toàn cầu, một bộ phận của cơ quan AID. Mẹ của cô, bà Noel, từng làm việc hàng chục năm cho chương trình ngoại viện và quốc phòng của Quốc Hội Hoa Kỳ, cho đến khi cô Elizabeth và em trai của cô là Christian ra đời. Gia đình dời chuyển chỗ ở vài lần, điều này khieén cho cô Holmes không có một nơi nào để gắn bó lâu dài. Cô thường tự mô tả mình là một lữ hành cô đơn, nhưng rất hạnh phúc. Cái thú du nhất của cô là sưu tầm côn trùng và đi câu với bố.

Nói về con người mình, cô mô tả như sau: “Có lẽ tôi là một người không bình thường. Tôi đọc hết cuốn sách “Moby Dick” từ năm chín tuổi. Tôi đọc hàng trăm cuốn sách, và tôi vẫn tiếp tục ghi chép tất cả những gì mình từng đọc. Điều thích thú nhất trong việc giáo dục con người tôi là cha mẹ tôi, không ai nói với tôi cụm từ “con không thể làm được điều đó”. Cha mẹ tôi tin rằng tôi có thể làm bất cứ điều gì mình muốn làm.

Ông nội của cô Holmes là cụ Chris Holmes, một người di dân từ nước Đan Mạch sang Hoa Kỳ. Ông cụ học ngành kỹ sư, sống ở Cincinnati, và sau đó trở thành y sĩ. Khi cô Elizabeth được tám tuổi, ông nội dẫn cháu vào bệnh viện địa phương nơi cụ làm, và cho cháu đi xem khắp nơi. Sau đó, tên của cụ được dùng để đặt tên cho bệnh viện này để tưởng nhớ đến công đức của cụ. Ông bác sĩ kết hôn với con gái của một bệnh nhân, ông Charles Fleischmann. Ông cụ Fleischman là người đầu tiên sản xuất loại kem sữa đóng hộp, và trở thành giầu có. (Một người cháu của cụ là Raoul Fleischmann từng làm chủ tờ báo lớn hồi năm 1925, chung với ông Harold Ross). Cô Holmes tâm sự rằng tôi lớn lên trong bối cảnh nhiều người trong gia đình làm được những việc vĩ đại, những quyết định đáng kể đem lại nhiều thay đổi cho người khác.”.

Năm 1993, khi Elizabeth được chín tuổi, cha của cô làm phụ tá Tổng Giám Đốc công ty dầu hoả Tenneco ở Houston. Đây là một công ty sản xuất năng lượng rất lớn. Cô biết cha cô cảm thấy áy náy, cắn rứt lương tâm, khi đem gia đình dời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn về Texas. Cô viết cho cha một lá thư để an ủi ông: “Bố đừng lo, điều con muốn làm là phải khám phá ra một cái gì mới, có ích cho đời. Con thấy ở Texas hợp với con lắm. Nơi đây mọi thứ đều to lớn, vĩ đại.”.

Trong vài năm của thập niên 1980, ông Chris Holmes thường phải đi sang Trung Hoa công tác, mỗi chuyến hai tuần, để giúp công ty Mỹ đầu tư vào những dự án lớn ở Trung Hoa. Sau khi gia đình dọn đến Houston một thời gian ngắn, Elizabeth bắt đầu đi học tiếng Quan Thoại. Từ năm lớp 10 ở trung học, cứ hè đến là cô đi học tiếng Tầu. Cô đến trường Stanford, xin lớp Quan Thoại học vào muà hè. Cô gọi điện thoại rất nhiều lần cho văn phòng nhà trường để xin vào học. Nhưng nhân viên nói rằng họ không nhận học sinh trung học.Một hôm chính cha cô gọi điện thoại để hỏi cho ra lẽ. Người đứng đầu chương trình bực mình vì bị quấy rầy nhiều qua, ông trực tiếp trả lời cha con ông Holmes. Ông nói:”Mấy người gọi điện thoại nhiều quá, tôi chịu không nổi nữa. Đâu để tôi trắc nghiệm ngay, thử xem có học nổi hay không.”. Ông ta xoay qua nói chuyẹn với Elizabeth bằng tiếng Quan Thoại, và cô bé trả lời trôi chảy. Thế là ông ta nhận cô bé học sinh trung học vào trường Stanford học tiến Tầu trong mùa hè. Elizabeth hoàn tất chương trình của sinh viên đại học về môn Quan Thoại khi còn là học sinh trung học.

Năm 2001, khi đang học lớp 12 cô làm đơn xin vào học trường Stanford, và đưoộc chấp nhận ngay. Cô được chọn vào chương trình President’s Scholar, tức là có thêm ít tiền khi làm dự án nghiên cứu. Cha mẹ cô gửi con gái vào học ở trường Stanford, gói theo trong hành trang cuốn “Thiền Học” của Marcus Aurelius, nhắn nhủ cô con gái hãy sống một cuộc đời có mục đích, và có ý nghĩa. Khi vào trường, cô chọn học ngành Kỹ sư Hoá Học. Cô được mời tham gia dự án nghiên cứu của Giáo sư Channing Robertson. Lúc đó ông là khoa trưởng phân khoa kỹ sư hoá học. Năm nay, GS Robertson được 71 tuổi, dáng cao, gầy, khoẻ mạnh, lúc nào cũng thoải mái, cười tươi. Tôi có dịp ghé thăm ông tại nhà của ông trong khuôn viên trường đại học. Lớp học đầu tiên cô Holms theo học với giáo sư là buổi hội thảo về những loại dụng cụ làm ra để kiểm soát lượng thuốc đưa vào cơ thể con người. Một hôm, GS Robertson kể lại là cô Elizabeth xin ông cho được làm việc trong phòng lab chung với các sinh viên Tiến sĩ. Lúc đầu Giáo sư từ chối, nhưng cô sinh viên năn nỉ quá, ông bèn cho cô vào học. Vào cuối khoá muà Xuân, cô nói với giáo sư cô có ý định đi làm việc mùa Hè ở Gerome Institute bên Singapore. Ông cảnh báo với cô trước rằng muốn học ở viện nghiên cứu này cô phải biết nói tiếng Quan Thoại.

Cô trả lời: “Tôi nói thông thạo tiếng Quan Thoại.”.

Vị giáo sư này nghĩ trong đầu: “Không biết con nhỏ sinh viên này sẽ còn đòi hỏi làm chuyện gì nữa đây?”. Mới là sinh viên năm thứ nhất mà đã vào làm việc trong phòng Lab với sinh viên học Ph.D. Ông cảm thấy hình như ông cứ phải nghe theo đòi hỏi, ý kiến của cô sinh viên trẻ tuổi này, hơn là giảng dạy, hay ra chỉ thị cho cô ta. Rõ rệt cô sinh viên này là một con người khác lạ với đám đông sinh viên.



MÙA HÈ NĂM ĐÓ, tại Gerome Institute, cô Holmes làm việc trong những xét nghiệm về bệnh SARS, một căn bệnh gây nhiều tử vong ở Trung quốc. Các xét nghiệm được làm theo lối cổ điển, nghĩa là rút máu vào xi ranh, và lấy nước mũi của người bệnh để xét nghiệm. Những phương pháp này giúp tìm ra ai bị vướng bệnh, nhưng cần một phiả có một hệ thống khác để đưa thuốc vào người bệnh, và sau đó là theo dõi kết quả của việc dùng thuốc. Cô Holmes đặt câu hỏi về hệ thống làm việc. Hồi còn học trong trường Stanford, cô đã được học về một phương pháp gịi là lab-on-a chip technology. Kỹ thuật này giúp đo lường một lượng máu rất nhỏ, một chút nước mũi, và số lượng thuốc cần bỏ vào người bệnh, tất cả cho vào một microchip. Do đó, với hệ thống chemical engineering cô đã học cho thấy người ta có thể làm nhiều việc khác nhau trong một phương pháp thật đơn giản.

Trước khi quanh trở về trường Stanford để tiếp tục học, cô Holmes ứng dụng thử phương pháp này bằng cách làm nhiều xét nghiệm khác nhau với cùng một giọt máu mẫu. Sau đó, gửi kết quả thử nghiệm về cho bác sĩ biết. Muà hè năm đó, cô hoàn tất thử nghiệm của mình, và làm đơn xin “patent” bằng sáng chế về việc làm của mình. Cuối cùng bằng sáng chế này được chấp thuận vào tháng 11 năm 2007. Khi trở lại trường, cô đi gặp giáo sư Robertson và nói với ông rằng cô muốn thành lập một công ty riêng. GS Robertson rất thích thú khi nghe cô trình bầy ý kiến này, song ông muốn cô hảy học cho xong văn bằng cử nhân rồi hãy ra lập công ty.

Cô trả lời: “Tại sao phải chờ? Tôi biết rõ tôi muốn làm gì.”.

Cô Holmes giữ ý định thành lập công ty, và quyết chí theo đưởi đến cùng ý kiến này. Cô suy nghĩ: “Mình đã biết mình sẽ làm gì khi ghi danh học những lớp mình chọn. Cha mẹ đã bỏ tiền cho mình học, tại sao mình không làm gì để kiếm ra tiền đền đáp lại công lao của cha mẹ. Mình sẽ dành toàn thời gian để làm việc này.”. Cha mẹ cô cho phép cô dùng toàn bộ số tiền còn lại trong ngân qũi để dành riêng cho cô theo học. Tháng Ba năm 2004, cô xin rút tên ra khỏi trường Stanford. Một tháng sau, cô thành lập công ty Theranos (danh xưng này kết hợp hai chữ “therapy” và “diagnosis” nghĩa là trị liệu và chẩn đoán). Cô thuyết phục giáo sư Robertson dành ra mỗi tuần một ngày làm cố vấn kỹ thuật cho công ty của cô, và trở thành hội viên đầu tiên trong Hội Đồng Quản Trị của công ty. Cuối cùng thì chính ông cũng xin nghỉ dạy học, làm việc toàn thời gian cho công ty Theranos.

Giáo sư Robertson giới thiệu vài nhà đầu tư tư bản, venture capitalist, những người có khả năng thành lập, và phát triển công ty một cách qui mô. Cô đòi hỏi chỉ dùng những tay venture capitalist nào làm đúng theo điều kiện của cô. Trước hết, cô phải làm chủ, nắm giữ quyền kiểm soát công ty. Điều kiện thứ hai là đem hết tiền lời của công ty trở lại cho công ty để phát triển công ty. Đến tháng 12 năm 2004, cô đã gây dựng được vốn tư bản cho công ty khoảng $6 triệu đô la. Cô làm việc với các nhà hoá học, và các kỹ sư đưa đến năm kết quả như sau:1.) Họ có thể lấy máu không cần ống xi ranh. 2.) Làm chẩn đoán từ vài giọt máu. 3.) Các xét nghiệm được làm bằng máy, tự động để tránh những lầm lẫn do con người gây ra. 4.) Làm xét nghiệm nhanh, rút ra kết quả rất nhanh. Và 5.) Làm việc xét nghiệm tốn kém rất ít.

Chìa khoá chính đem lại sự thành công cho công ty Theranos là việc tuyển dụng Sunny Balwani, một kỹ sư nhu liệu điện toán, năm nay được 49 tuổi. Cô Holmes gặp kỹ sư Balwani lần đầu tiên tại Bắc Kinh khi cô còn đang học lớp 12 bậc trung học. Khi đó, Balwani đang học chương trình MBA của trường Berkeley. Ông từng làm việc cho các công ty điện toán lớn như công ty Lotus, và Microsolf. Ông cũng là mợt doanh nhân rất thành công. Từ năm 2004, ông theo học chương trình cao học về điện toán ở trường Stanford. Balwani và Holmes thường hay thảo luận với nhau, học có chung một niềm tin cho rằng ngành nhu liệu điện toán mới giữ vai trò chủ yếu, không phải ngành hoá học hay ngành sinh vật. Nếu công ty Theranos có thể phân tích vài giọt máu được, thì kỹ sư điện toán phải làm ra được nhu liệu để giúp thực hiện việc này. Từ năm 2009, ông Balwani gai nhập với công ty Theranos, giữ vai trò Tổng Giám Đốc. Ông chủ trương: “Điạ bàn hoạt động của chúng tôi bây giờ là phải tự động hoá chu trình xét nghiệm máu, tự động hoá từ đầu cho đến cuối.”.


CÔNG TY THERANOS TÌM CÁCH GIỮ BÍ MẬT kỹ thuật của mình trong suốt gần mưới năm, kể từ ngày khai sinh, bởi vì công ty này rất ngại vướng vào những trói buộc rắc rối của luật lệ. Phần lớn các phòng thí nghiệm của hai đại công ty chuyên về xét nghiệm máu, công ty Quest và công ty Laboratory Corporation of America đều được trang bị bằng máy móc do các công ty ở ngoài cung cấp, chẳng hạn như công ty Siemens và Roche Diagnostics. Trước khi những trang thiết bị này đưoợc bán cho phòng thí nghiệm họ đều phải được sự chấp thuận của cơ quan FDA, tức là Cơ quan kiểm soát Thực phẩm và Dược phẩm. Đòi hỏi này của luật lệ khiến cho các kỹ thuật xét nghiệm do công ty làm đều dễ dàng lộ cho công chúng biết. Nhưng trường hợp công ty Theranos thì khác, vì họ làm bằng máy móc riêng của họ, nên họ không cần sự chấp thuận của FDA cho đến khi nào họ bán phòng thí nghiệm cho công ty khác, hay dọn đi nơi khác. Cô Holmes cho biết công ty Theranos tránh không muốn thảo luận về kỹ thuật riêng của công ty, vì cô sợ sẽ bị lộ bí mật nghề nghiệp cho đối thủ biết.

Công ty hiện nay có 700 nhân viên, chưa kể một trụ sở trung ương ở thành phố Newark, California, mộ cơ sở rộng hơn hai tra7m ngàn thước vuông, chuyên sàn xuất máy móc thử máu. Theo cô Holmes, hiện công ty Theranos đang có dư giả tiền mặt luân chuyển, vì thế chắc chắn công ty sẽ bành trướng lớn hơn. Trong nhiều năm, công ty kiếm lời nhờ làm việc chung với các hãng dược phẩm lớn như Pfizer, GlaxoSmithKline. Họ dùng kết qủa thử nghiệm của Theranos để thực hiện trên các loại dược phẩm còn trong vòng thử nghiệm. Công ty Theranos cũng kiếm khá nhiều tiền nhờ việc ra những trung tâm bảo vệ sức khoẻ “wellness centers” trong các cửa tiệm thuốc Walgreens, những nơi làm việc liên quan đến bệnh viện, và các cơ sở quân đội Hoa Kỳ. Cô Holmes không muốn bàn vào chi tiết những cộng tác với phía quân đội.

Năm 2013, Theranos công bố việc cộng tác lâu dài với hệ thống cửa hàng Walgreens, đưa đến việc thành lập các “wellness centers” tại hầu hết 8200 cửa hàng Walgreens. Cửa hàng Walgreens ở Palo Alto có một trung tâm, và cửa hàng ở Phoenix, Arizona cũng có một trung tâm.. Cô Holmes hy vọng sẽ thiết lập tại mỗi cửa hàng Walgreens hay cửa hàng Duane Reade một trung tâm. Như vậy mọi người Mỹ đều có thể đến Theranos ở gần nhà, trong phạm vi năm dậm đường. Theranos dự tính sẽ ký hợp đồng với hệ thống dược phòng CVS, đối thủ cạnh tranh của Walgreens. CVS có khoảng 7800 cửa hàng.

Một hôm, tôi đi đến tiệm Walgreens ở palo Alto để thử máu. Một nhân viên chuyên môn thoa ngón tay tôi, và cánh tay tôi để giúp máu chạy đều, và chùi ngón tay tôi bằng miếng khăn tẩm alcohol để sát trùng. Sau đó, cô lấy ra một họp dụng cụ nhỏ, gồm một kim chích, và một bình chứa nhỏ bằng đồng 10 xu. Cô lấy hai giọt máu từ đầu ngón tay của toi, bỏ vào bình chứa nhỏ xiú, trên đó có ghi mã số. Bình chứa này được bỏ vào trong mộ họp lớn đông lạnh, chờ người khác đến đem về phòng thí nghiệm của Theranos, cách đó vài dậm. Công ty cử người đi nhận hàng đem về phòng thí nghiệm của Theranos ba lần mỗi ngày.

Phòng thí nghiệm của công ty là một nơi làm việc khá lớn, sặc mùi thuốc sát trùng, nơi đó có nhiều nhân viên cán sự hoá học làm việc bận rộn suốt ngày với hàng trăm dẫy máy móc. Các bình chứa mẩu máu cần thử nghiện được đem về đây. Những công tác của máy làm việc đây là một bí mật chuyên môn mà công ty Theranos giữ kín. Cô Holmes chỉ mô tả một cách chung chung là: “Một loạt các thử nghiệm hoá học được sử dụng để tìm ra những phản ứng, tín hiệu, do hai giọt máu mẫu đem lại. Chúng tôi có thể làm được rất nhiều thử nghiệm với hai giọt máu nhờ kỹ thuật của ngành khoa học tự động, và kỷ nghệ vi tiểu phân tích máu từ đơn vị rất nhỏ.”.

Công ty Theranos thành công cũng một phần nhờ vào uy tín của một hội đồng quản trị gồm nhiều nhân vật nổi danh trong chính quyền. Cựu Ngoại trưởng George Schultz, một cư dân ở Palo Alto, từng phục vụ trong bốn nội các với nhiều chức vụ khác nhau, như Bộ trưởng Tài Chánh, và Bộ trưởng Ngoại giao. Ông Shultz năm nay được 93 tuổi, và là một học giả của Viện Hoover Institution. Lần đầu tiên cô Holmes gặp ông Shultz vào năm 2011. Cô kể lại là cuộc hẹn dự trù kéo dài chừng 10 phút, rút cuộc trở thành buổi họp kéo dài hai tiếng đồng hồ.

Ông Shultz đồng ý ngồi vào Hội Đồng Quản trị và họp với cô Holmes mỗi tuần môt lần. Ông giới thiệu cô Holmes với một số nhân vật quan trọng khác như bác sĩ Bill Frist một chuyên gia gỉai phẫu tim, và trước đây cũng là một Thượng Nghị Sĩ chủ tịch nhóm thiểu số Cộng Hoà. Cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger, Thượng Nghị Sĩ Sam Nunn, một TNS Dân chủ từng làm Chủ tịch Ủy Ban Quốc Phòng trong Thượng Viện. Ông William J Perry, cựu Bộ trưởng Quốc Phòng, và ông Richard Kovacevich, cựu Chủ tịch ngân hàng Wells Fargo. Tất cả đều được hưởng thù lao bằng cổ phiếu của công ty Theranos. Ông Henry Kissinger năm nay 91 tuổi, nói với chúng tôi về cô Holmes: “Cô ấy có tinh thần đạo đức làm việc đáng khen, và rất thực tế. Tuy mới chỉ có 19 tuổi, nhưng cô ta hiểu rất rõ công việc của công ty.”.

Hầu hết các vị trong HĐQT đều hài lòng, và thích làm việc với cô Holmes nhờ sự nhiệt tình và duyên dáng của cô. Cô là người chịu khó lắng nghe, và cô sẵn sàng đưa ra những ý kiến táo bạo. Nhân viên dưới quyền rất sợ về phản ứng của cô, không biết lúc nào cô sẽ nổi cơn giận, lớn tiếng. Ông Perry so sánh cô với ông Steve Jobs, chủ nhân công ty Apple như sau: “Nhiều người nói rằng cô là một chủ nhân kiểu ông Steve Jobs, nhưng tôi không đồng ý. Steve Jobs là thiên tài, song ông ta thiếu thái độ nhân ái của cô Holmes. Cô cũng là một thiên tài, song có tấm lòng tốt bao la.”.

Cô Holmes cho biết trong số 12 thành viên HĐQT, cô cố gắng tìm người thuộc nhiều điạ hạt khác nhau. Khi tôi hỏi cô vì sao không có phụ nữ trong HĐQT, cô mỉm cười nói: “Thì có tôi, đại diện cho phụ nữ rồi.”. Thành phần HĐQ được phân chia đồng đều giữa các nhân vật dân cử, công chức liên bang, và viên chức cao cấp trong quân đội. Ngoài TNS Bill Frist là một y sĩ, còn có Bác sĩ William Foege, cựu giám đốc Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Dịch toàn quốc.Cô Holmes còn lập ra một ủy ban đặc nhiệm chuyên phụ trách những vấn đề y khoa, do Bác sĩ David Helfet, Giám đốc trung tâm phục hồi ở bệnh viện New York lãnh đạo. Ông là y sĩ chuyên chữa trị những trường hợp chấn thương, hôn mê. Tôi hỏi cô Holmes phải chăng HĐQT thành hình như vậy là để tìm kiếm nhiều hợp đồng với chính phủ hay chăng? Cô trả lời: “Chúng tôi không có hợp đồng với chính phủ. Tôi chưa bao giờ xin hợp đồng với chính phủ, và tôi không dự tính làm chuyện đó.”.

Công ty Theranos thú nhận họ thu hoạch nhiều lợi nhuận nhờ vào quân đội, nhưng cô khẳng định công ty cộng tác với quân đội nhiều chỉ vì công ty Theranos muốn cưú sống nhiều nhân mạng, những chiến sĩ trong quân đội, chỉ có thế thôi. Cô nói thêm rằng cho đến nay công ty của cô tính tiền rất hạ, thấp hơn mức ấn định của chính phủ rất nhiều. Cô cho rằng người nào nói công ty của cô vận động hành làng để có hợp đồng với chính phủ, đó là một sự lăng nhục, nói xấu không căn cứ. Cô coi những nhân vật trong HĐQT là người cộng tác giúp cô hoạch định sách lược cho công ty. Ông Kovacevich cho biết ông đem lại nhiều mối kinh doanh cho công ty vì ông biết nhiều về hệ thống bán lẻ. Ông nói với tôi: “Tôi quen với hầu hết các CEO của hệ thống bán lẻ.”. Chẳng hạn như các ông Gregory D. Wasson, CEO của hệ thống Walgreens. Tiến sĩ Kissinger khuyên cô Holmes nên tập trung vào việc xây dựng nền móng của công ty ở trong nước Mỹ, sau đó mới đưa sang những nước đang phát triển. Theo ông, làm như vậy để không bị hiểu lầm là chúng ta đem thân xác các nước kém phát triển ra làm vật thí nghiệm.



CÔ HOLMES VÀ HĐQT NHẤN MẠNH ƯU THẾ KỸ THUẬT TỐI TÂN CỦA CÔNG TY, cô so sánh công ty Theranos với các công ty xét nghiệm máu lớn như công ty Quest Diagnostics. Theo cô, kỹ nghệ xét nghiệm máu từ trước đến nay có xu hướng: “độc đoán, ra lệnh cho bá tánh phải làm cái gì, chỉ vì họ có những dàn máy móc vĩ đại.”. Bác sĩ Frist nhận xét: “rõ ràng kỹ nghệ xét nghiệm máu hiện vẫn cố tình muốn duy trì lề lối làm việc cũ. Đó là kỹ thuật cổ lỗ hũ, có từ thời 1940.”.

Ông Nigel Clarke, Giám đốc Nghiên Cứu Khoa Học của công ty Quest không đồng ý với lời chỉ trích của công ty Theranos. Hồi cuối tháng Chín, chúng tôi ghé thăm ông tại trung tâm thí nghiệm của hãng Quest ở gần phi trường Teterboro, New Jersey. Ông cho tôi biết hãng Quest điều hành khoảng 30 phòng thí nghiệm trang bị đầy đủ, ở rải rác trên toàn quốc, thực hiện khoảng 6 triệu cuộc xét nghiệm mỗi năm. Công ty Theranos chỉ đặt mục tiêu thực hiện khoảng 1 triệu xét nghiệm trong năm 2015, và họ có bốn ngàn chiếc xe đi nhận và giao hàng mẫu máu để đem về xét nghiệm. Dàn máy xét nghiệm của Theranos gọn nhẹ, kích thước chỉ bằng một chiếc xe SUV. Ông Clarke thú nhận dàn máy của hãng Quest vào hàng cổ điển của thời 1940, nhưng theo ông dàn máy này rất tốt và quí như những chiếc xe cổ đắt tiền Lamborghini. Ngày nay, công ty chỉ lấy đầy hai ống nghiệm máu là đủ để làm thí nghiệm.

Bác sĩ Frist và cô Holmes khoe rằng việc làm của công ty Theranos được tự động hoá tinh vi, từ giai đoạn lấy máu, đóng dấu mã số, và xét nghiệm, đều được làm bằng máy, tự động, và ở những điạ điểm thuận tiện. Do đó, công chúng không còn e ngại khi cần làm xét nghiệm máu. Hiện nay tỉ lệ người bỏ không làm xét nghiệm máu lên đến 30% hay 40% vì lấy bị lấy nhiều máu bằng kim chích, và phải đến bệnh viện, hay phải đến trung tâm xét nghiệm ở xa nhà. Ông Clarke phản biện rằng thực ra chỉ có khoảng 30% công chúng từ chối không làm xét nghiệm máu. Ông tin rằng lấy máu qua mạch máu chính xác hơn là lấy máu từ đầu ngón tay.

Khi được hỏi về hồ sơ hậu kiểm việc làm xét nghiệm của công ty Theranos, cô Holmes cho biết việc làm của công ty được rất nhiều cơ quan, bệnh viện kiểm tra lại. Họ chấp nhận phương pháp lấy máu ở đầu ngón tay. Hiện nay, Công ty Theranos được 48 tiểu bang cấp giấy phép cho hoạt động, hai tiểu bang còn lại đang chờ cứu xét.

Việc công ty Theranos từ chối chia sẻ kết quả xét nghiệm, và trình bầy kỹ thuật làm việc của máy xét nghiệm khiến cho cơ quan FDA hoài nghi. Thông thường FDA đòi áp đặt những nguyên tắc cứng rắn nếu một ty xin chấp thuận để bán một loại sản phẩm. Nhưng trong vấn đề xét nghiệm máu việc lấy máu từ ngón tay không bị áp đặt những tiên chuẩn cứng rắn.

Cô Holmes cho biết công ty Theranos sẵn sàng hoan nghênh việc kiểm tra, giám sát của chính phủ. Theo cô việc FDA đóng dấu chấp thuận việc làm của công ty Theranos cho thấy chất luợng tốt của sản phẩm. Tuy nhiên, theo ông Eric Topol, Giám đốc viện khoa học Scripps Translationl Science Institute ở La Jolla, California: nếu như công ty Theranos công khai nói rõ kỹ thuật xét nghiệm của mình hẳn là đồng nghiệp trong ngành cảm thấy thoải mái hơn, và không coi công ty Theranos như một đe doạ.


CÔNG TY THERANOS GÂY QŨI ĐƯỢC HƠN 400 TRIỆU từ nhiều nhà đầu tư khác nhau, trong đó có cả chủ nhân công ty Oracle, ông Larry Ellison. Cô Holmes tin rằng thị trường xét nghiệm máu hiện đang ở mức 75 tỉ đô la, có thể tăng lên đến mức 200 tỉ đô la nếu công chúng được tự ý đi thẳng đến cửa hàng dược phẩm, yêu cầu thử nghiệm máu để biết mức cholesterol có trong máu, biết xem mình có mang thai hay không, và nhiều vấn đề y khoa thông thường khác. Cho đến nay, hầu hết các yêu cầu xét nghiệm máu phải do bác sĩ giới thiệu. Cô Holmes cho rằng điều này sẽ phải thay đổi. Cô cho biết ở Hoa Kỳ có những tiểu bang cho phép người dân tự ý đi làm xét nghiệm máu. Song cũng có nhiều tiểu bang cho rằng bất hợp pháp khi có người đòi hỏi tài liệu căn bản về thân thể của họ.

Trong bài thuyết trình của cô Holmes, khi nói về ky thuật làm xét nghiệm, cô Holmes gặp khó khăn khi trình bầy, cô tỏ ra thiếu rõ ràng khi nói rằng công ty Theranos cố gắng đạt nhiều kết quả trong lãnh vực y tế phòng ngừa. Trong lần hội thào của TEDMED, cô nói cho mọi người biết bệnh tiểu đường là một căn bệnh gây tốn tiền y tế rất nhiều, mọi người có thể tránh được bệnh này nếu biết thay đổi lối sống. Tuy nhiên theo cô, hiện đang có khoảng 80 triệu người Mỹ đang ở giai đoạn “pre-diabetic”, sắp bị b5ênh tiểu đường, và có đến 90% số người này không hay biết mình đang ở giai đọan “tiền tiểu đường.”. Họ không biết vì họ không đi khám bác sĩ, hay vì họ không đi làm xét nghiệm máu, hay cả hai. Chính vì vậy, công ty Theranos muốn biên việc xét nghiệm máu trở thành một việc đơn giản, không đau đớn, thành một tài liệu dễ làm để bác sĩ và bệnh nhân dùng nó làm tài liệu để thảo luận, chữa trị.

Cô Holmes khẳng định, công ty Theranos chỉ xin đóng vai trò phụ giúp bác sĩ, không hề có tham vọng thay thế bác sĩ. Cô nói với tôi: “Khi kết quả xét nghiệm cho thấy có điều bất thường, đa số công chúng đều muốn đi chữa bệnh trong người.”. Nhiều người đặt câu hỏi công ty Theranos muốn làm gì?. Chúng tôi chỉ muốn thực hiện một nửa đầu của phương trình, tức là phần khám phá – detection- ra những gì trông thấy trong xét nghiệm máu, phần còn lại là phương pháp trị liệu – therapy- , chúng tôi để cho bác sĩ và bệnh viện.

Thử nghiệm máu không cần toa, hay giấy giới thiệu của bác sĩ, sẽ đưa đến một loạt những câu hỏi như: “Liệu công ty bảo hiểm có chịu trả cho chi phí xét nghiệm máu do bệnh nhân yêu cầu hay không?”. Bác sĩ Bruce Deitchman, một chuyên gia trong Hiệp Hội Y Khoa Mỹ cho rằng công ty bảo hiểm cần phải tra tiền theo tiêu chuẩn của Medicare ấn định. Câu hỏi kế tiếp là liệu công ty Theranos có nhất định đòi bác sĩ phải theo dõi, và cấp cho người bệnh một bản riêng để làm tài liệu hay không? Bác sĩ Deitchman cho rằng bác sĩ là người có trách nhiệm phải theo dõi kết quả thử máu, để chữa trị cho bệnh nhân, và người bệnh cũng nên tham dự, thảo luận việc chữa bệnh của bác sĩ để đem lại kết quả tốt.

Mọt số chuyên gia tin rằng rồi đây sẽ có những thay đổi trong ngành y tế, những gì công ty Theranos tiên đoán là điều không thể tránh được. Bác sĩ Andy Ellner Giám đốc Primary Care của trường Y Khoa Havard nói: “Bất kể bác sĩ, chuyên viên y tế nghĩ thế nào, song sẽ nhiều thay đổi tương tự xảy ra trong ngành y tế.”. Riêng vấn đề xét nghiệm máu cho bệnh tiểu đường, quả thực đây là điều tốt, song nó không mang tính chất quyết liệt, thiết yếu như mổ tả ở trên. Giá trị đích thực của xét nghiệm máu trong thời kỳ pre-diabetic chẳng qua chỉ để nói với người bệnh rằng ông hay bà đang có vấn đề về mức đường trong máu. Vì vậy, ông bà nên tập thể dục nhiều hơn, và thay đổi cách ăn uống hàng ngày.

Trong lúc theo đuổi thực hiện kế hoạch lâu dài trong tương lai của công ty Theanos, cô Holmes sẽ phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách. Trước hết là vấn đề hệ thống cung ứng tiếp liệu. Em trai của cô Holmes, cậu Christian, tốt nghiệp ngành quản trị ở đại học Duke, vào làm cho công ty được ba năm, hiện đang giữ chức giám đốc quản trị bộ phận sản xuất, nói rằng công ty Theranos cần phải làm nhẹ, cắt giảm hệ thống cung ứng tiếp tiệu, nếu không sẽ bị khai tử. Một điểm khác nữa là kỹ thuật “miniaturization” (thử nghiệm vật thể rất nhỏ) hiện đang bị những phát minh mới cạnh tranh gay gắt. Nhiều công ty đang tìm cách làm những xét nghiệm không cần dùng kim chích. Họ sẽ dùng tia lasers, oximetry, biosensor, và medical image ví dụ như máy MRI’s.

Cô Holmes nói rằng cô ý thức rất rõ những khó khăn này, kỹ thuật mới có thể đánh gục công ty Theranos bất cứ lúc nào. Cô nói: “Chúng tôi tập trung rất nhiều vào vấn đề khi nào việc làm của chúng tôi sẽ bị gián đoạn. Thực tế cho thấy ở Silicone Valley này có rất nhiều khám phá mới làm thay đổi cả thế giới. Và chính những khám phá đó một ngày nào đó sẽ bị đào thải.”.

VÀO MỘT BUỔI XẾ CHIỀU tháng Chín, cô Holmes lái xe từ Palo Alto lên phi trường San Francisco. Ở đây cô có sẵn một máy bay bảy chỗ ngồi hiệu Gulfstream 150, đưa cô đi Chicago. Đến Chicago, cô sẽ thuyết trình trước một ủy ban, sau đó, cô sẽ bay đi Cleveland để dự phiên họp tại Y viện Cleveland Clinic. Cô Holmes thường đi công tác một mình. Thành viên trong Hội Đồng Quản Trị lo ngại cho cô. Ông Geroge Schultz có lần nói với tôi: “Nhà tôi và tôi nghĩ rằng chúng tôi có trách nhiệm phải mang cô bé này ra khỏi công ty để cô ấy nghỉ ngơi một chút.”. Họ mời cô Holmes đi xem hát, coi phim xi nê, tổ chức sinh nhật 30 tuổi cho cô tại nhà của họ. Hôm đó có cha mẹ cô, cậu em trai, ông Balwani, Giáo sư Roberson và vài thành viên khác trong HĐQT, mang theo các bà vợ đến dự tiệc. Ông Henry Kissinger và bà Nancy vợ ông tìm cách giới thiệu một bạn trai cho cô, nhưng chưa có kết quả. Thân mẫu của cô có ý hơi lo. Bà nói: “Là mẹ của Liz, tôi mong có ngày nào đó cháu sẽ dành ít thì giờ cho riêng mình.”.

Mối lo của bà mẹ bay theo gió khi cô con gái yêu đang bay trên trời cao trên chiếc máy bay riêng. Trên đó, cô ngồi uống nước rau quả màu xanh. Cô nói với tôi: “Tôi đã làm một số việc, đang làm một vài việc, và sẽ làm những việc đem lại ích lợi cho người, cho đời. Tôi thà là sống một cuộc đời có mục đích, hơn là có đủ thứ mà không có mục đích.”. Rồi cô mỉm cười nói với tôi: “Tôi nghĩ tôi vẫn còn trẻ lắm.”


Bài tường thuật của Ken Auletta trên THE NEW YORKER ngày 15/12/2014

Nguyễn Minh Tâm dịch


--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Mar 23 2015, 08:48 PM
Gửi vào: #47


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8









Đã ngừng đập một trái tim
Đã ngừng đập một cánh chim đại bàng...
Xin nghiêng mình vĩnh biệt ông - Lý Quang Diệu!


Ông Lý Quang Diệu từ trần


(TNO) 'Cha đẻ' của nước Cộng hòa Singapore, Lý Quang Diệu, vừa 'qua đời nhẹ nhàng' lúc 3 giờ 18 phút sáng nay 23.3 tại Bệnh viện Đa khoa nước này (SGH), hưởng thọ 91 tuổi.


Ông Lý Quang Diệu từ trần - ảnh 1Ảnh chụp cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu hồi tháng 3.2013 - Ảnh: AFP
Văn phòng Thủ tướng (PMO) “với niềm đau buồn sâu sắc” loan đi chính thức lúc 4 giờ 11 sáng nay, 23.3, kết thúc một tháng hồi hộp, lo âu, hy vọng rồi thất vọng, sau khi PMO ngày 21.2 cho hay ông Lý đã nhập viện SGH từ hôm 5.2.2015 trong tình trạng bệnh phổi nghiêm trọng, phải nằm trong phòng cấp cứu và thở bằng máy.

Ngày 25.2, tin đồn ông Lý qua đời lan khắp cả nước khiến sáng 26.2 PMO có thông cáo cho biết ông vẫn còn đó, trong trạng thái thở bằng máy và dùng kháng sinh và thuốc an thần. Chiều 27.2, tin đồn ông qua đời lại xuất hiện và sáng 28.2 thì có thông cáo PMO nói rằng tình hình của ông “có cải thiện”, khiến nhiều người hy vọng.

“Về việc bố trí để công chúng viếng thăm và tang lễ sẽ được thông báo sau”, thông cáo về sự qua đời của ông Lý cho hay.

Người dân Singapore mà Thanh Niên tiếp xúc đều có ý mong ông Lý sống qua lễ Quốc khánh kỷ niệm 50 năm lập quốc vào ngày 9.8 tới. Ngày đó cách đây nửa thế kỷ, ống kính máy ảnh đã ghi được hình ảnh ông Lý Quang Diệu rớt nước mắt tuyên bố tách Singapore ra khỏi liên bang Malaysia, bắt đầu cuộc hành trình độc lập của một đảo quốc nhỏ bé.

Ông Lý đã làm thủ tướng Singapore từ năm 1959 đến năm 1990 và được đánh giá là người có công lớn nhất trong việc đưa hòn đảo diện tích tự nhiên chưa đầy 600 cây số vuông ở Đông Nam Á “từ Thế giới thứ ba lên Thế giới thứ nhất”.

Nhưng một số người trong bộ máy nhà thạo tin đã dự báo với Thanh Niên rằng tình trạng của ông Lý khó kéo dài được, chỉ có thể tính bằng ngày.

Quả vậy, đến chiều 17.3, PMO cho hay tình trạng của ông Lý “xấu đi”, và ngày 18.3 thì “tồi tệ thêm” so với hôm trước. Những cập nhật đó đẩy Singapore vào không khí ngột ngạt.

Một số phóng viên từ các quốc gia lân cận đã đổ về Singapore, túc trực tại bệnh viện SGH chờ đợi giây phút người được gọi là cha đẻ của Singapore, một bộ óc lỗi lạc của khu vực và thế giới, về cõi vĩnh hằng ở tuổi 91.

Căng thẳng hơn, đúng 18 giờ ngày 18.3 (giờ địa phương), Thủ tướng Lý Hiển Long, con trai cả của ông Lý, bất ngờ thay ảnh đại diện tươi cười trên Facebook cá nhân bằng bức ảnh trầm tư, ánh mắt như ngân ngấn lệ.

Hàng trăm người Singapore hiểu chuyện đã nhanh chóng vào Facebook ông Lý nói lời chia buồn và động viên. “Không ai tránh được chuyện sinh tử... Chuyến đi này là một phần của cuộc sống. Điều quan trọng hơn chính là người đó đã sống một cuộc đời đáng giá. Cả dân tộc sẽ ghi nhớ”, facebooker có tên Amy Lee viết.

Hơn 5 vạn facebookers đã đánh dấu “thích” và hơn 700 người đăng tải lại bức ảnh này.

Khoảng 10 giờ đêm 18.3, trên mạng xuất hiện một thông cáo giả mạo PMO loan tin ông Lý đã qua đời. Nhiều đài truyền hình lớn như CNN của Mỹ, CCTV của Trung Quốc đã lập tức phát đi thông tin này, nhưng sau đó đã rút lại và xin lỗi.

PMO đã báo cảnh sát. Và trong vòng 24 giờ, thủ phạm, một học sinh 16 tuổi, đã bị tóm. Cậu này cho biết đã chỉnh sửa bản thông cáo ngày 2.10.2010 của PMO về sự qua đời của phu nhân ông Lý, bà Kha Ngọc Chi.
Tính toán thời điểm
Một nguồn thạo tin chính phủ nói với Thanh Niên rằng thời điểm ông Lý “ra đi” được tính toán rất cẩn thận; trong khi một nguồn khác cho biết Thủ tướng Lý Hiển Long muốn kết thúc sớm sự chịu đựng của cha mình, trong khi cô con gái là bác sĩ muốn giữ cha lâu hơn.

Trong vài năm qua, ông Lý đã nhiều lần nhập viện trong tình trạng nghiêm trọng do viêm phổi, theo sau là tin đồn ông qua đời.

Thông tin về việc ông Lý nằm viện lần cuối chỉ được tiết lộ vào chiều tối ngày 21.2 (nhằm ngày mồng 3 Tết Ất Mùi, tức sau 2 ngày nghỉ Tết chính thức của Singapore kết thúc) bằng một thông cáo của PMO.

“Ông Lý Quang Diệu đã vào Bệnh viện Đa khoa Singapore hôm 5.2.2015 vì bệnh phổi nghiêm trọng... PMO sẽ cập nhật cho công chúng bất kì diễn biến quan trọng nào về sức khỏe của ông ấy”, bản thông cáo ngày 21.2 viết.

Liền sau đó, trên Facebook cá nhân, đương kim Thủ tướng Lý Hiển Long, con trai cả của ông Lý Quang Diệu, chia sẻ tiếp thông tin này một cách rất xúc động kèm bức ảnh vợ chồng ông và cậu con trai bị bạch tạng chụp cùng ông Lý cha vào dịp Tết năm 2013.


Tiết lộ lần đầu về tình trạng sức khỏe của cha mình trên Facebook của thủ tướng Lý Hiển Long. -Ảnh chụp trang Facebook Lee Hsien LoongTiết lộ lần đầu về tình trạng sức khỏe của cha mình trên Facebook của thủ tướng Lý Hiển Long - Ảnh chụp trang Facebook Lee Hsien Loong
“Tôi đã vào bệnh viện thăm bố sáng nay. Tôi đã không thể thăm ông vào ngày đầu tiên của Năm Mới, theo lời khuyên của các bác sĩ (của ông lẫn của tôi). Vậy nên hôm nay tôi đã chúc ông Năm Mới và sớm bình phục. Đây là lần đầu tiên trong một thời gian dài chúng tôi không thể dự bữa tiệc đoàn viên gia đình nhân dịp năm mới. Bức ảnh này được chụp vào dịp Tết 2013, năm con rắn”, ông Lý Hiển Long viết.

Trước đó, hôm 15.2, ông Lý Hiển Long cũng nhập viện SGH và trải qua cuộc phẫu thuật mổ khối u ung thư tuyến tiền liệt vào ngày 16.2. Ông nhanh chóng hồi phục và trở về nhà trước khi năm Ất Mùi kịp đến.

Chiều 20.3, sau khi PMO tiếp tục loan báo về diễn biến xấu trong tình trạng sức khỏe của cha, Thủ tướng Lý Hiển Long lại đưa lên Facebook một bức ảnh cha ông bế ông lúc chưa đầy 2 tuổi, với mẹ ông đứng bên cạnh. “Cảm ơn tất cả những lời chúc và cầu nguyện mà các bạn dành cho bố tôi. Tôi thật sự xúc động. Tôi đang xem lại những bức ảnh cũ trong bộ sưu tập ảnh của gia đình. Có quá nhiều kỷ niệm hạnh phúc qua thời gian”, ông Lý Hiển Long viết.

Hơn 130.000 người đã “thích” và gần 6.000 người đăng lại bức ảnh này.

Cầu nguyện
Hàng ngàn bức thiệp, lời chúc từ công chúng đã được gửi đến bệnh viện, Văn phòng Thủ tướng và nhà riêng của ông Lý, hay được viết trên các mảnh giấy nhỏ tại hàng chục sự kiện mừng năm mới và đánh dấu 50 lập quốc (1965) diễn ra khắp đảo quốc, cầu chúc ông qua khỏi cơn bạo bệnh.



Những bức thiệp cầu chúc ông Lý Quang Diệu sớm bình phục được xếp trưng bày trong phòng làm việc của ông với mong muốn ông sẽ trở lại nơi này sau khi bình phục. -Ảnh do Thủ tướng Lý Hiển Long chụpNhững bức thiệp cầu chúc ông Lý Quang Diệu sớm bình phục được xếp trưng bày trong phòng làm việc của ông với mong muốn ông sẽ trở lại nơi này sau khi bình phục - Ảnh do Thủ tướng Lý Hiển Long chụp
“Tôi chỉ muốn nói đến sự bình phục của ông Lý thôi. Tôi cầu mong điều đó. Ông ấy mà ra đi vào lúc này thì SG50 (đại lễ mừng Singapore 50 tuổi - PV) sẽ ảm đạm và chẳng còn ý nghĩa gì nữa”, một tài xế taxi với tấm bảng mang dòng chữ “không muốn nói chuyện chính trị với hành khách ” nói với phóng viên.

Từ hôm 20.3, bệnh viện SGH và một số nơi khác đã lập ra những khu vực riêng để người dân đến đặt hoa, quà và thiệp chúc phúc cho ông Lý.

Tối 20.3, công dân Malaysia mang quy chế thường trú nhân tại Singapore, kỹ sư tin học Chandrasekaran Sundaraju 48 tuổi, đã cùng vợ đến SGH cầu nguyện cho ông Lý.

“Tôi sống ở Singapore đã 20 năm và biết ông Lý đã 40 năm qua, tôi ngưỡng mộ ông ấy. Những gì ông đã làm cho Singapore sẽ còn mãi. Đặc biệt, những nguyên tắc, trật tự xã hội và tinh thần chuộng người tài mà ông ấy định hình sẽ giúp Singapore tiếp tục đi lên”, ông Chandrasekaran nói với Thanh Niên.

Cựu nhà báo Chin Kah Chong 83 tuổi với “60 năm quen biết ông Lý” thì nói khi được tin ông Lý qua đời: “Dù gây nhiều tranh cãi, dù có nhiều người yêu và cũng lắm kẻ ghét, ông Lý đã làm được rất nhiều việc để Singapore có được như hôm nay mà ai cũng phải công nhận”.

Thục Minh
(Văn phòng Singapore)


Cựu nhà báo Chin Kah Chong (trái) trong lần trả lời phỏng vấn phóng viên THỤC MINH Báo Thanh Niên năm 2011 - Ảnh:



--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Apr 9 2015, 02:25 AM
Gửi vào: #48


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





NHÂN PHÁI ĐOÀN VUA QUAN AN NAM SANG TRIỀU CỐNG NƯỚC TÀU BẤT CHẤP ANH LINH TỬ SĨ ĐÃ HY SINH CHỐNG GIẶC PHƯƠNG BẮC, BẤT CHẤP NHIỀU THẾ HỆ NGƯ DÂN DŨNG CẢM BẢO VỆ QUẦN ĐẢO NGƯ TRƯỜNG TRƯỚC SỰ XÂM LƯỢC CỦA TÀU LẠ, TỰ NHIÊN SỰC NHỚ ĐẾN THẢM CẢNH MẠC ĐĂNG DUNG TRÓI MÌNH HIẾN ĐẤT NƠI BIÊN GIỚI, SỰC NHỚ ĐẾN LÊ CHIÊU THỐNG CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ MÀ ĐĂNG LẠI BÀI THƠ DƯỚI ĐÂY...

BÙI CHÍ VINH


MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY

Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc
Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp”
Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”
Chào một ngày giống hệt mọi ngày
Đọc báo thấy cha ông mất hút
Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích…
Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng
Chào một ngày đất nước tự lưu vong
Cội rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc
Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc
Pa-nô giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười
Chào một ngày phát triển giống đười ươi
Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ
Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ
Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì… tiền
Chào một ngày vong bản vì… hèn
Sống chết mặc bây, túi thầy vô cảm
Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa-rồi-Diễm…
Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận… nước Tàu
Chào một ngày bãi biển hoá nương dâu
Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh
Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh
Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều
Chào một ngày hình chữ S tong teo
Tài nguyên bôxit bị bới đào như… bọ xít
Nhôm và đô la chẳng thấy đâu, chỉ thấy đất Tây Nguyên rên xiết
Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng
Chào một ngày long mạch bị xới tung
Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo
Ai cho phép Hoàng Sa Trường Sa thành Tam Sa lếu láo
Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng
Chào một ngày giống hệt cõi âm
Những xác chết anh hùng bật dậy
Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy
Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền
Chào một ngày soi rõ mặt anh em!

BCV


--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Aug 20 2015, 08:11 PM
Gửi vào: #49


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Tài liệu đặc biệt: CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH

20/08/2015

“Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm“.

___





Thủ bút Trần Trọng Kim: Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

Nguyễn Đức Toàn – Viện Nghiên cứu Hán Nôm

20-08-2015

H1Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt.

Nội dung như sau :

Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471

Ông Hãn2

Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.

Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.

Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8.

Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.

Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12.

Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.

Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.

Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:

身 在 南 蕃 無 所 預

心 懐 百 憂 復 千 慮

(Thân tại Nam phiên vô sở dự,

Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.

= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,

Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)

Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.

Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.

Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:

Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ

Đất khách mơ – màng những thở – than,

Mảng tin bác bị lũ hung tàn.

Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,

Căm giận quân thù đã tím gan.

Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.

Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19 gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.

Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22

Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.

Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?

Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.

Nay kính thư

Trần Trọng Kim [tr4]

______

Chú thích :

8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.
Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.
Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.
Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…
hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”
ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)
Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.
Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.
Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.
Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc” và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.
Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)
ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
“Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.
Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).
Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chương là tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà “Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà.
_____________

Thư mục tham khảo

Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)











--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jan 18 2016, 09:55 PM
Gửi vào: #50


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8






VĂN TẾ 74 TỬ SĨ TRONG TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA ngày 17 – 19.01.1974



Hỡi ơi!

Nhẹ tựa lông hồng,

Nặng tày non Thái.

Những cái chết đã đi vào quốc sử, con cháu nghe mà xót dạ bàng hoàng,

Bao con người vì gánh vác giang sơn, cây cỏ thấy cũng chạnh lòng tê tái.

Anh linh kia hoài phảng phất thiên phương,

Chính khí đó sẽ trường tồn vạn tải.

Mới hay,

Giòng giống Việt luôn còn nòi nghĩa dũng, thịt tan xương nát sá chi,

Trời đất Nam đâu thiếu bậc anh hùng, máu đổ thây rơi nào ngại.

Kính các anh vị quốc thân vong

Bày một lễ thâm tình cung bái.

Nhớ các anh xưa,

Tuổi trẻ thanh xuân,

Khí hùng chí đại.

Thời binh hỏa đâu màng gì nhung gấm, chọn tri âm tri kỷ chốn sa trường,

Thuở can qua há tiếc chút bình an, nguyền báo quốc báo dân nơi hiểm ải.

Một tấc đất vẫn là cương thổ, ông cha xưa bao đời gầy dựng, sao cam lòng để vuột mất đi.

Dăm hòn đảo ấy vốn bản hương, anh em nay mấy độ canh cày, quyết tận sức ra gìn giữ mãi.

Từ Chúa Nguyễn sách văn1 chép rõ, nhân dân Nam từng khai thác làm ăn,

Đến Pháp Thanh công ước2 còn ghi, chủ quyền Việt chẳng luận bàn tranh cãi.

San Francisco hội nghị3, mừng biết bao, thấy thế giới đồng lòng,

Việt Nam Quốc gia chính quyền4, vui xiết kể, đón sơn hà trở lại.

Thế nên,

Đất cát ông cha thì phải giữ, dẫu mũi tên hòn đạn không sờn,

Núi sông tiên tổ sao chẳng gìn, mặc ăn gió nằm mưa chi nại.

Trùng dương sóng dữ, mập mờ thuyền viễn thú, thân trai há sợ kiếp gian nan,

Hải đảo gió cuồng, vời vợi biển quê hương, vai lính thêm bền lòng hăng hái.

Hội khao lề lại trống chiêng bi tráng, tiễn người đi mờ bóng cuối chân trời,

Nơi quê nhà đành con vợ u buồn, thương kẻ đợi trông buồm về trước bãi.

Có ngờ đâu,

Giặc ác hiểm quen tuồng xâm lược, máu tham tàn không giấu kín ý gian,

Ta hiền lương chuộng đạo hiếu hòa, tình hữu nghị có đâu ngoài lẽ phải.

Địch thả câu nước đục, hai ba lần chiếm đảo5, xây đồn đắp lũy đó đây,

Chúng luồn gió bẻ măng, bốn năm dạo lên bờ, dựng trại cắm cờ lải rải.

Ngày 16 Quang Hòa, Hữu Nhật6,… giặc đã nuốt tươi,

Đến 17 Duy Mộng, Quang Ảnh6,.. chúng đang xơi tái.

Lửa hờn bốc tận thanh vân.

Khí uất tràn đầy thương hải.

Ghìm máu nóng, thông tin bằng quang hiệu, giặc cứ ngang tàng,

Hạ quyết tâm, biệt hải tiến vào bờ, ta ôm thất bại.

Không nản chí, Thường Kiệt, Nhật Tảo băng băng pháo đạn xông pha,

Chẳng dùi lòng Bình Trọng, Khánh Dư7 né né tiễn lôi lèo lái.

Vẳng đôi tai còn nghe khúc “Thuật Hoài”8

Bừng con mắt đà thấy câu “Trung Ngãi”9

Thế nhưng,

Lực bất tòng tâm,

Thiên dung vô lại10.

Giặc đã nhiều chuẩn bị, nào tảo lôi, nào liệp đỉnh, tàu nhiều quân bộn giàn hàng,

Ta mất thế thượng phong, này sóng dữ, này đá ngầm, biển rộng đường xa phải trải.

Phía chếch đông tàu Mỹ đứng mà nhìn,

Phương chính bắc hạm Tàu nằm sắp phái.

Dù như thế ta vẫn quyết thư hùng

Có ra sao mình cứ liều sống mái.

Đùng đoành trọng pháo nổ thấp cao,

Sàn sạt hỏa tiễn bay trái phải,

Ngụy Văn Thà11 trúng thương trước ngực, máu anh hùng đẫm ướt chiến y,

Lý Thường Kiệt12 lãnh đạn ngang hông, nước đại hải ngập đầy buồng máy.

Khói mù tàu giặc cháy bốc lên,

Pháo nổ thuyền mình câu vọng lại.

Thương ơi!

Thế lực không cân

Thời cơ cũng trái.

Bảy tư người bỏ mình vì nước, biển sâu ký gởi thân phàm,

Cả bốn tàu trúng pháo quân thù, bờ cạn lui về gác mái.

Cờ quốc gia phủ người ra trận, toàn quân dân uất ức trẻ như già

Vành khăn tang chít tóc đang xanh, bao thân quyến nghẹn ngào trai lẫn gái.

Công các anh,

Tổ quốc thề không quên,

Toàn dân nguyền nhớ mãi.

Chống ngoại xâm là truyền thống muôn đời

Giữ lãnh thổ vốn luân thường vạn đại.

Máu tử sĩ sẽ nuôi khôn dân tộc, mau kiên trì giành lại giang sơn,

Xương anh linh rồi nung chín hùng tâm, sớm quyết liệt san bằng oan trái.

Nước cường thịnh khi dân biết kết đoàn,

Dân phú túc lúc người luôn thân ái.

Hôm nay.

Sơ sài lời điếu câu văn,

Đạm bạc chùm hoa dĩa trái.

Xót uy linh, xin tượng tạc bia xây,

Tỏ thâm tạ, khiến dân quì quan vái.

Mong các anh siêu độ tái sinh,

Cầu đất nước dân an quốc thái.

Hỡi ơi!

Xót xa tiếng mất ý còn,

Tha thiết lòng phơi ruột trải.

Hồn có linh thiêng

Niệm tình thụ bái.

Huế, ngày 18.01.2014

Nguyễn Phúc Vĩnh Ba


_____

Ghi chú:

Đầu TK 17, Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm.
Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.

Ngày 9 tháng 6 năm 1885: Hòa ước Thiên Tân kết thúc chiến tranh Pháp Thanh. Ngày 26 tháng 6 năm 1887: Pháp và nhà Thanh xúc tiến ấn định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Hoa.
Ngày 6 tháng 9 năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị.
Năm 1954 – Hiệp định Geneva quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển). Quần đảo Hoàng Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, được giao cho chính quyền Quốc gia Việt Nam (quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu) quản lý.
Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quy định của Hiệp định Geneva và trong khi chính quyền miền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa theo như thỏa thuận của hiệp định này, Trung Quốc đã thừa cơ đưa quân ra chiếm đóng bất hợp pháp nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa bao gồm Phú Lâm và Linh Côn. (Trần Công Trực)
Tên các hòn đảo bị Trung Quốc xâm chiếm.
Tên bốn chiến hạm tham gia trận hải chiến Hoàng Sa: HQ4 (Trần Khánh Dư), HQ5 (Trần Bình Trọng), HQ10 (Nhật Tảo), và HQ16 (Lý Thường Kiệt).
Tên bài thơ của danh tướng Phạm Ngũ Lão đời Trần được Hạm trưởng HQ4 Trung tá Vũ Hữu San đọc để cổ võ tinh thần binh sĩ trước giờ khai hỏa.
Tức là Trung Nghĩa, bổn phận của người lính.
Trời dung tha phường vô lại.
Thiếu tá Ngụy Văn Thà là hạm trưởng HQ10 Nhật Tảo.
Lý Thường Kiệt là tàu HQ16.



--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jan 29 2016, 06:34 AM
Gửi vào: #51


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Tuổi thọ phiếm bàn

24/07/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn



Nhân dịp cư dân mạng bàn tán xôn xao về ông Phùng Quang Thanh, tôi tò mò thử làm một ước tính tuổi thọ của một số uỷ viên Bộ Chính Trị (BCT) trong các khoá gần đây. Tôi thu thập được số liệu của 68 người (chưa hẳn đầy đủ, nhưng mẫu cũng khá). Trong số này, có 32 người chết và 36 người còn sống. Tuổi thọ của những người đã chết là 80. Trong số 36 người còn sống, tính đến năm 2015, tuổi thọ của họ là 74. Ông PQT sinh năm 1949, năm nay mới 66 tuổi. So với các đồng nghiệp khác, ông còn đến 15 năm nữa để đóng góp.

Trong số các uỷ viên BCT đã chết, người sống lâu nhất dĩ nhiên là ông Võ Nguyên Giáp (102 tuổi), và người yểu mạng nhất là Nguyễn Chí Thanh (qua đời năm 53 tuổi). Độ lệch chuẩn của tuổi thọ là 10 tuổi. Nếu thích thống kê, các bạn có thể ước tính khoảng tin cậy 95% tuổi thọ của các uỷ viên BCT là từ 60 đến 100 tuổi.
H1Giả định rằng tuổi thọ của các uỷ viên BCT tuân theo luật phân bố chuẩn với trung bình 80 và độ lệch chuẩn 10, thì xác suất chết ở tuổi thấp hơn hoặc bằng 66 là chỉ 8%. Trong thời gian hơn 60 năm qua, chỉ có 4 người uỷ viên BCT chết ở độ tuổi 66 hoặc thấp hơn. Đó là Nguyễn Chí Thanh (53 tuổi), Trần Quốc Hoàn (65), Nguyễn Đình Tứ (64), và Hồ Đức Việt (66). Nếu ông PQT thật sự qua đời như DPA nói (ở tuổi 66) thì ông thuộc vào nhóm tương đối hiếm.

Xem qua những con số này, chúng ta phát hiện một xu hướng cực kì rõ ràng: đó là các uỷ viên BCT có tuổi thọ cao hơn hẳn so với quần chúng. Theo thống kê, tuổi thọ trung bình của VN năm 2014 là 70.6 tuổi (nam giới) và 76 tuổi (nữ giới) (1). Tất cả các uỷ viên BCT đã chết là nam. Như vậy, so với quần chúng, các uỷ viên BCT có tuổi thọ cao hơn trung bình là ~10 tuổi. Ngay cả những người sinh vào thập niên 1920 trở về trước, tuổi thọ trung bình của họ là 84.4 tuổi, hơn hẳn tuổi thọ trung bình của dân số thời đó đến 17 tuổi!

Tại sao các uỷ viên BCT có tuổi thọ tốt hơn dân số như thế? Rất có thể họ biết giữ gìn sức khoẻ tốt, cộng với bộ máy chăm lo sức khoẻ cho họ làm việc tốt. Chẳng những họ được chăm sóc tốt, tôi đoán rằng họ còn được hưởng những đặc quyền, đặc lợi trong đời sống (mà tiếng Việt gọi là “chế độ”). Theo hồi kí của những người trong nội bộ như Bùi Tín, Trần Đĩnh, Vũ Thư Hiên, v.v. thì các uỷ viên BCT có chế độ thực phẩm rất ưu đãi, có ruộng được trồng trọt theo qui trình hữu cơ, gia cầm, thịt thà, rau quả cũng được chăn nuôi hoặc trồng riêng cho họ. Khi mắc bệnh, họ được điều trị và chăm sóc bởi các bác sĩ giỏi nhất, thường là ở nước ngoài, một điều kiện mà người dân thường không thể nào có khả năng theo đuổi. Theo cách các tác giả trên mô tả thì các uỷ viên BCT có một cuộc sống rất khác với người dân. Họ sống trong một thế giới rất khác với tuyệt đại đa số quần chúng.



Có thể kết luận rằng các uỷ viên BCT là những người thuộc giai cấp “top” của thượng tầng xã hội. Do đó, họ có tuổi thọ tốt là điều không quá ngạc nhiên. Tôi chỉ ước mong rằng tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt được tuổi thọ của các uỷ viên BCT, thì ngày đó chắc là đất nước chúng ta “nở hoa”.

Tuổi thọ của uỷ viên BCT VN và tổng thống Mĩ

Nhờ một bạn đọc “đưa đường chỉ lối” tôi mới biết đã có một công bố về tuổi thọ của tổng thống Mĩ dưới dạng một “Letter” trên Tập san y khoa lừng danh JAMA (1). Theo bài báo này, tính chung cho 34 tổng thống Mĩ chết vì nguyên nhân bệnh tật, thì tuổi thọ trung bình của họ là 73.3 tuổi. So với tuổi thọ trung bình của dân số (76.4 tuổi, số liệu 2014) (2) thì các tổng thống Mĩ có tuổi thọ thấp hơn.

Tuổi thọ trung bình của 32 uỷ viên BCT (đã qua đời) là 80 tuổi, với độ lệch chuẩn là 10. Tính trung bình tuổi thọ của các uỷ viên BCT cao hơn tuổi thọ người dân là 10 tuổi.

Nhưng câu hỏi đặt ra là sự khác biệt về tuổi thọ của các uỷ viên BCT và tổng thống Mĩ (80 và 73.3 tuổi) chỉ là ngẫu nhiên hay có hệ thống? Cách trả lời câu hỏi này là dùng thống kê. Chúng ta thấy, tuổi thọ của uỷ viên BCT cao hơn tổng thống Mĩ là d = 80 – 73.3 = 6.7 tuổi. Nhưng chúng ta cần tính sai số chuẩn của d, và số này là se = 10/sqrt(32) = 1.77. Do đó, nếu lấy mẫu nhiều lần, chúng ta kì vọng rằng 95% mẫu sẽ có độ khác biệt [giữa 2 nhóm] dao động trong khoảng 6.7 +/- (1.96*1.77) = 3.1 đến 10.3 tuổi.




Hình 2: Biểu đồ so sánh tuổi thọ trung bình của các tổng thống Mĩ và uỷ viên BCT Việt Nam
Nếu cần, chúng ta có thể tính trị số P cho sự khác biệt. Để tính trị số P, chúng ta cần tính chỉ số t = d / se = 6.7 / 1.77 = 3.79. Nói cách khác, tuổi thọ trung bình của uỷ viên BCT cao hơn tuổi thọ tổng thống Mĩ đến gần 3.8 sai số chuẩn, tức khá cao. Trị số P cho khác biệt này là 2*(1-pt(3.79, 31)) = 0.0007. Nói cách khác, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Như vậy, chúng ta đã khá chắc chắn rằng sự khác biệt về tuổi thọ giữa hai nhóm không phải là ngẫu nhiên. Nếu không phải ngẫu nhiên thì ắt phải do các yếu tố / nguyên nhân khác mang tính cơ chế. Tôi nghĩ tổng thống Mĩ cũng có thể tiếp cận các phương tiện y khoa hiện đại và bác sĩ giỏi như các uỷ viên BCT bên Việt Nam. Các tổng thống Mĩ tuy không có nông trại riêng nuôi trồng cho họ, nhưng họ thừa khả năng có chế độ ăn uống bổ dưỡng và “cao lương mĩ vị” như các uỷ viên BCT thôi.

Chỉ còn 2 yếu tố khác có thể giải thích sự khác biệt về tuổi thọ: đó là gen và sức khoẻ tinh thần. Chúng ta chưa biết gen nào có liên quan đến tuổi thọ, nên khó kết luận. Nhưng một điều chắc chắn là làm tổng thống Mĩ khó hơn và căng thẳng hơn làm một uỷ viên BCT bên VN, vì tổng thống lúc nào cũng nơm nớp lo sợ thất cử, phải đối phó với đảng đối lập và các nhóm xã hội dân sự, phải suy nghĩ chiến lược toàn cầu, phải làm cảnh sát trưởng quốc tế lo đảm bảo an ninh cho thế giới, v.v. Do đó, không ngạc nhiên khi họ lão hoá khá nhanh khi tại chức (1). Chính sự căng thẳng trong công việc dẫn đến lão hoá nhanh, và sau cùng là cái chết yểu so với các đồng nghiệp của họ bên VN.

====

(1) http://thegioitiepthi.net/suc-khoe/tuoi-th...am-la-732-tuoi/

(2) http://jama.jamanetwork.com/article.aspx?articleid=201958

(3) http://www.usatoday.com/story/news/nation/...-high/16874039/

___

Tuổi thọ của vua chúa Việt Nam

Nguyễn Văn Tuấn

23-07-2015

Tiếp tục câu chuyện tuổi thọ của uỷ viên BCT, hôm nay tôi chia sẻ cùng các bạn một vài con số về tuổi thọ của các vua chúa VN thời xưa. Một cách ngắn gọn, các vua chúa ngày xưa có tuổi thọ trung bình chỉ 44 tuổi, tức thấp hơn các uỷ viên BCT ngày nay khoảng 36 năm. So sánh với các vua chúa Tàu cùng thời, tuổi thọ vua chúa VN khá tốt.

Bấy lâu này tôi tự hỏi vua chúa Việt Nam ta thời xưa sống bao lâu. Tìm số liệu này cũng không khó, nhưng đòi hỏi thời gian. May mắn thay, trong chuyến công tác ở VN vừa qua tôi vớ được một số sách tương đối “cổ” ở đường Nguyễn Thị Minh Khai, và qua các sách này tôi có thể thu thập khá đầy đủ số liệu về tuổi thọ, thời gian trị vì của các vua chúa (thật ra thì phần lớn là vua) qua các triều đại. Tôi bèn làm ngay một bảng thống kê để phân tích cho biết.

Số liệu tuổi thọ chỉ có cho 90 vua chúa. Tính trung bình, tuổi thọ của 90 vua chúa này là 44.2 năm. Khoảng 39% (n = 35) có tuổi thọ thấp hơn 40 tuổi, và chỉ có 12% (n = 10) thọ trên 60 tuổi. Vua có tuổi thọ cao nhất là Trịnh Tùng (74 năm), Lê Hiển Tông (70 năm), chúa Nguyễn Phúc Tần (68 năm), Lý Nhân Tông (63 năm). Vua có tuổi thọ thấp nhất là Nguyễn Kiến Phúc (15 tuổi), Lê Gia Tông (15), Lê Túc Tông (17) và Lê Nhân Tông (19).
Phân tích theo triều đại cho thấy triều Chúa Trịnh có tuổi thọ trung bình khá cao (59 tuổi), kế đến là Chúa Nguyễn (55 tuổi). Triều đại có vua thọ thấp nhất là Tây Sơn (30 tuổi), Lê Sơ (30 tuổi), Tiền Lê (37). Còn các triệu đại lâu đời và danh tiếng như Lý (46 tuổi), Trần (45 tuổi), và Nguyễn (47 tuổi) chỉ trên dưới trung bình.

Sau đây là bảng thống kê cho thấy trung bình và độ lệch chuẩn của tuổi thọ của các vua chúa qua từng thế kỉ:

Thế kỉ, tuổi thọ trung bình và độ lệch chuẩn
<1000: 44.1 (16.1)
1000 – 1099: 57.3 (24.1)
1100 – 1199: 45.0 (17.2)
1200 – 1299: 51.3 (10.0)
1300 – 1399: 39.6 (19.6)
1400 – 1499: 37.6 (17.1)
1500 – 1599: 34.5 (18.4)
1600 – 1699: 53.6 (23.4)
1700 – 1799: 42.2 (13.5)
1800 – 1899: 44.9 (18.7)

So với tuổi thọ trung bình của dân số thời đó thì ra sao? Trang wikipedia có một thống kê về tuổi thọ trung bình trên thế giới từ thời tiền sử đến nay như sau:

Thế kỉ và tuổi thọ trung bình
Neanderthal (350 đến 500 ngàn năm trước): 20
Upper Paleolithic (10 đến 40 ngàn năm trước): 33
Neolithic (8500 năm trước CN): 20
Bronze Age (3000 năm trước CN): 18
Classical Greece Thế kỉ 4 và 5): 20-30
Classical Rome (Thế kỉ 5 ?): 20-30
Pre-Columbian North America: 25-35
Medieval Britain (Thế kỉ 5-6): 20-30
Early 20th century: 30-40
Current world average: 66.12 (2008 est.)

Như vậy, nói chung, tuổi thọ các vua chúa ta ngày xưa có vẻ trên trung bình so với tuổi thọ dân số thế giới. Nhưng có lẽ so sánh như thế thiếu tính khách quan, bởi vì vua chúa ở một giai cấp khác, họ được cung phụng, ăn trên, ngồi trước thiên hạ nên tuổi thọ của họ cao hơn trung bình là có thể hiểu được. Cần phải so sánh tuổi thọ vua chúa VN và vua chúa các nước khác thì có lẽ công bằng hơn.

Tôi thấy trên một tập san khoa học vào năm 1999, tuổi thọ trung bình của các vua chúa Anh tính từ 1000 đến 1600 là 48 tuổi. Một anh bạn bên Nhật cho biết rằng tuổi thọ trung bình của vua Trung Quốc tính từ thời Tần Thủy Hoàng là dưới 40 tuổi. Ở Trung Quốc, Hán Vũ Đế, Càn Long, v.v… là những ông vua sống lâu. Càn Long sống đến 90 tuổi, vì sách nói rằng ông ấy “xa hậu cung gần võ tướng” và “nữ sắc có mức độ”. Trong thời gian này, tuổi thọ trung bình của các vua chúa Việt Nam là 44.6 tuổi. Như vậy tuổi thọ của vua chúa ta rất tương đương, thậm chí cao hơn so với các vua chúa trên thế giới.

===

PS: Tiện đây cũng xin nói thêm với các bác là những gì tôi đếm và tính toán chẳng có gì để gọi là “phân tích thống kê” cả, càng chẳng có gì để gọi là “nghiên cứu”. Tôi phì cười muốn té xuống ghế khi thấy có bạn nói những cách đếm của tôi là “thống kê”! Hahaha. Bất cứ một ai, từ học sinh trung học, đều có thể làm những gì tôi làm, đều có thể nghĩ đến những gì tôi nghĩ. Điều đó chứng tỏ rằng một số bạn hoặc là chưa có kĩ năng suy nghĩ tốt, hoặc là kĩ năng thống kê còn quá kém. Vấn đề là cách đặt câu hỏi, chứ chẳng có thống kê gì cả — một môn học mà tôi rất dở.


--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 19 2016, 12:12 AM
Gửi vào: #52


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8







Thủ tướng Phan Huy quát trong một buổi họp báo quốc tế.



Bài đọc suy gẫm: “Thôi! bỏ đi!” câu nói lịch sự, bao dung của bác sĩ Phan Huy Quát khi được hỏi về người đã gài bẫy bắt ông và gia đình. Bài của ký giả Nguyễn Tú viết về ” Cái chết trong tù việt cộng của vị cựu Thủ Tướng miền nam Việt Nam Cộng Hòa”. Hình ảnh chỉ là minh họa.



Ngoại trưởng Phan Huy Quát gặp gỡ Tổng Thống Johnson tại Hoa Kỳ, June 04 1964.



Cái chết trong tù việt cộng của cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát.

Nguyễn Tú

Thủ Tướng Phan Huy Quát.

Bác Sĩ Phan Huy Quát sinh năm 1908 tại Nghệ Tĩnh, tham chính nhiều lần, từng làm Tổng Trưởng Giáo Dục, Tổng Trưởng Quốc Phòng, lần cuối cùng giữ chức vụ Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, vào năm 1965. Ông cũng là Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng, phân bộ Việt Nam, và là chủ nhiệm tuần báo Diễn Ðàn, Sài gòn, 1972. Ngày 16 Tháng Tám 1975 Bác Sĩ Quát bị Cộng Sản bắt do nội phản trên đường vượt biên; và chưa đầy bốn năm sau ông từ trần trong nhà tù Chí Hòa. Bài dưới đây do ký giả kỳ cựu Nguyễn Tú, bạn ông, và cũng là bạn tù (người đã sống bên cạnh Bác Sĩ Quát trong những ngày tháng và giờ phút cuối cùng tại khám Chí Hòa), kể lại “như một nén hương chiêu niệm chung.”
Trong thời gian bị cầm tù, Bác Sĩ Quát bị bệnh gan rất nặng song Việt Cộng không cho chữa chạy, thuốc men do gia đình tiếp tế không được nhận. Người con trai út bị giam ở phòng bên, có thuốc cho bố, cũng không làm sao mang sang. Khi biết ông không thể nào qua khỏi, chúng mới đem ông lên bệnh xá. Ông chết ở đó vào ngày hôm sau, 27 Tháng Tư 1979.
Tang gia đã được phép để mang thi hài ra quàn tại chùa Xá Lợi và phát tang ở đấy vào ngày hôm sau, song phút chót, Hà Nội ra lệnh phải an táng ngay, vì ngày đó, 28 Tháng Tư 1979, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc tới Sài Gòn; Việt Cộng sợ dư luận quốc tế – nếu biết đến cái chết bị bỏ mặc của một cựu Thủ Tướng Miền Nam – có thể ngó tới tình trạng giam cầm của hàng trăm ngàn người khác. Cũng bởi thế, rất ít người nghe biết đến sự đày đọa tù nhân Phan Huy Quát cũng như cái chết trong tù của ông – bên cạnh các trường hợp tương tự của các trí thức văn nghệ sĩ khác – của nhà cầm quyền Hà Nội.
*
Nếu tôi biết hát, tôi sẽ cất giọng ca vừa đủ nghe tù khúc:
“Anh nằm đây,
Bạn bè anh cũng nằm đây…”
Gọi là một chút để ấm lòng người đã khuất.

Chí Hòa, Sài Gòn – Một ngày cuối Tháng Tư 1979



Hôm nay đến lượt bốn phòng 5-6-7-8-, gác 1, khu ED được đi tắm, giặt. Mọi người đều rộn rạo, hối hả chuẩn bị, cười hô hố. Cứ ba ngày rưỡi mới được sối nước trên thân thể hôi hám, ngứa ngáy và vò vội quần áo đã tích trữ kha khá mồ hôi, đất ghét, thì trước cái hạnh phúc nhỏ nhoi chỉ được phép hưởng hai lần mỗi tuần, ai mà không “vui vẻ, hồ hởi, phấn khởi” dù, trên lý thuyết, thời gian tắm được quy định 30 phút cứ bị cán bộ ăn bớt, chỉ còn vỏn vẹn 15 phút.
Cả bốn phòng đã lần lượt ra hành lang ngồi xổm sắp hàng đợi cán bộ gác đến điểm số. Lần đó, viện cớ bị cảm, tôi xin phép ở lại trong buồng. Tôi có mục đích riêng.
Kiểm tra xong số người ở lại mỗi buồng, cán bộ ra hiệu cho mọi người đứng dậy, tiến về phía cầu thang. Tiếng guốc, tiếng dép khua trên cầu thang, tiếng nói lao xao của đoàn người xa dần rồi lắng hẳn. Từ dưới sân đã bắt đầu vọng lên tiếng sối nước ào ào, tiếng nói oang oang, tiếng cười khanh khách thỉnh thoảng xen tiếng chửi thề thân mật, tiếng sặc nước, tiếng rú khoái trá của các bạn tù được làn nước mát như nước lũ chẩy dồn dập trên da. Hạnh phúc thật!
Buồng 5 chúng tôi ở đầu dãy, sát với đầu cầu thang, nơi đây đặt một cái bàn và một cái ghế cho cán bộ gác. Chỗ tôi nằm sát hàng song sắt. Tôi đứng dậy, nhìn về phía đầu cầu thang chỉ cách chừng ba thước rồi quay người, đảo mắt suốt dọc hành lang. Không có bóng cán bộ. Căn phòng vơi đi 58 người như rộng ra. Hơi nồng của 60 mạng tù tích tụ từ suốt ngày và đêm trước tự giải phóng dần dần đem lại một cảm giác thoáng khí hơn.
Căn phòng chỉ còn lại hai người không đi tắm là tôi và một người nữa đang nằm ở hàng giữa, sát tường, trên diện tích vỏn vẹn có 60 phân tức 2/3 của một chiếc chiếu hẹp. Ðó là khoảng không gian đã được chia rất đều cho 60 tù nhân mà Việt Cộng đã cải cho cái danh từ mỹ miều là “trại viên” Người đồng phòng này nằm, hai chân duỗi thẳng, hai cánh tay gập lại trên bụng, hai bàn chân chắp vào nhau, mắt nhắm, vẻ mặt bình thản. Ông bị bệnh đã hơn một tuần, không thuốc men. Nước da mặt đã chuyển sang màu tai tái càng nổi bật với màu trắng của chòm râu và mái tóc. Bệnh nhân nằm im, không cựa quậy, thân hình như đã quen đóng khung trong không gian 60 phân của chiếc chiếu. Ông là Bác Sĩ Phan Huy Quát đã từng là Tổng trưởng nhiều lần, chức vụ cuối cùng và cao nhất trong hoạt động chính quyền của ông là chức Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa vào Mùa Xuân 1965. Năm 1979 ông đã trên 70 tuổi.
Tôi đảo mắt một lần nữa suốt dọc hành lang, dõng tai nghe ngóng. Vẫn không một bóng người, không một tiếng động khả nghi nào trên tầng gác vắng lặng. Tôi bước vội tới chiếu của Bác Sĩ Quát rồi ngồi sát bên. Bệnh nhân vẫn nằm im, mắt nhắm, không một phản ứng nào chứng tỏ ông cảm giác thấy có người bên cạnh. Hơi thở yếu. Bộ đồ ngủ của ông bận có cũ nhiều nhưng không bị xô lệch. Ðôi ống quần được kéo thẳng tới cổ chân. Ðôi tà áo được khép gọn, ôm kín thân trên. Cánh tay áo trùm tới tận cổ tay. Chẳng phải vì cuộc sống tạm bợ trong tù rất nhiều hạn chế khắc nghiệt cộng thêm lâm bệnh nặng đã hơn một tuần – một trường hợp bất cứ ai cũng có thể buông thả, mặc cho thân phận nổi trôi và có thể kém đi nhiều, ít cảnh giác về cách phục sức và tư thế – mà Bác Sĩ Quát thiếu chững chạc. Và từ cái chững chạc này như toát lên một cái gì có vẻ nghịch lý đến độ vừa đau đớn vừa dũng mãnh giữa thân phận con người và hoàn cảnh.
Tôi khẽ lên tiếng: “Anh Quát! Anh Quát!”
Không một phản ứng của bệnh nhân. Tôi lắc nhẹ cánh tay bệnh nhân, hơi cao giọng: “Anh Quát! Anh Quát!” Vẫn không một phản ứng, tôi đưa ngón tay trỏ qua mũi bệnh nhân. Hơi thở quá yếu. Dưới sân, tiếng sối nước bắt đầu thưa dần. Thời gian tắm giặt sắp hết. Tôi không muốn mục đích khai bệnh giả của tôi bị lộ là cố ý ở lại buồng để đích thân nói ít điều cho là cần thiết với Bác Sĩ Quát và cả với tôi nữa.
Buồng 5 chúng tôi vẫn được Việt Cộng coi là một buồng “phản động” nhất trong số bốn buồng của lầu 1, khu ED vì chứa một cựu Thủ tướng, 3 cựu Tổng trưởng, nhiều sĩ quan cấp tá, một số ít dân sự “đầu chai đá, khó cải tạo, phần tử rất xấu, mất dậy.” Một buồng “ngụy nặng” nên được Việt Cộng tận tình “chiếu cố” trong sinh hoạt hàng ngày. Ngoài ra, còn phải kể tới một vài tên “ăng ten” tức chỉ điểm được cài trong buồng. Tóm lại, chúng tôi đều bị theo dõi rất sát, rất chặt. Tôi phải làm gấp. Tôi lắc mạnh hơn cánh tay bệnh nhân, cao giọng thêm: “Anh Quát! Anh Quát!”
Bệnh nhân vẫn lặng im. Phải làm thật gấp. Tôi xoay nghiêng mình, tỳ tay xuống chiếu, ghé miệng sát tai Bác Sĩ Quát, cố nói thật rành rẽ: “Anh Quát! Anh Quát! Nhận ra tôi không?” Lần này đôi mi bệnh nhân hơi động đậy rồi dướng lên, hé mở. Tôi thoáng thấy lòng trắng mắt vàng khè. Chẳng cần phải học ngành y mới biết bệnh gan của Bác Sĩ Quát coi mới nặng. Bệnh nhân vắn tắt thều thào: “Anh Tú!” Tôi hơi yên tâm. Miệng lại sát tai Bác Sĩ Quát, tôi nói: “Anh mệt lắm phải không?” Ðầu bệnh nhân hơi gật gật. Không hiểu lúc đó linh cảm nào xui khiến, tôi cố rót vào tai Bác Sĩ Quát, giọng hơi nghẹn: “Anh có nhắn gì về gia đình không?” Bệnh nhân cố gắng lắc đầu, mắt vẫn nhắm. Dưới sân không còn tiếng sối nước nữa. Có tiếng các buồng trưởng dục anh em tập hợp để điểm số lại trước khi lên buồng. Chỉ còn độ hơn một phút. May lắm thì hai phút. Tôi dồn dập bên tai Bác Sĩ Quát: “Ai đặt bày, lừa bắt anh? Ai phản anh? Thằng Liên phải không? Nói đi! Nói đi!” Ðôi môi bệnh nhân như mấp máy.
Tôi vội nhổm lên, ghé sát tai tôi vào miệng bệnh nhân. Một hơi thở khò khè, theo sau là vài tiếng khô khốc, nặng nhọc như cố trút ra từ một chiếc bong bóng đã dẹp hơi đến chín phần mười: “Thôi! Anh Tú ạ.” Tiếng guốc, dép, tiếng cười, nói ồn ào đã bắt đầu từ chân cầu thang. Tôi chưa chịu buông: “Nói đi! Anh Quát! Nói đi!” Một hơi thở một chút gấp hơn, như làn hơi hắt vội ra lần chót! “Thôi! Thôi! Bỏ đi!” Tiếng guốc, dép, tiếng cười, nói ồn ào đã tới quá nửa cầu thang. Tôi vội nhổm dậy, bước nhanh về chiếu mình, nằm thẳng cẳng, vắt tay lên trán.
Ngoài hành lang, các bạn tù hối hả, xôn xao phơi quần áo mới giặt. Vài tiếng kỳ kèo nhau về chỗ dây phơi. Rồi như một đội quân đã chọc được phòng tuyến địch, họ ùa vào phòng, đứng lố nhố nghẹt lối đi quá nhỏ giữa ba hàng chiếu. Căn phòng như bị co hẹp lại. Tiếng cười đùa thưa dần khi tất cả đã về được chiếu mình. Khói thuốc lá bắt đầu tỏa. Ðây đó tiếng rít của vài bình thuốc lào nổi lên sòng sọc. Bây giờ thì mọi người, sau trận tắm thỏa thuê, đã ngả lưng trên chiếu. Cả phòng lặng tiếng.
Tôi ngồi dậy, hỏi vọng qua hàng chiếu giữa, phía sát tường: “Anh Châm! Anh coi lại xem anh Quát bệnh tình hôm nay ra sao?”
Bác Sĩ Hồ Văn Châm, cựu Tổng trưởng Thông tin, Chiêu hồi và Cựu chiến sĩ, có phần chiếu liền bên Bác Sĩ Quát. Ông Châm quay về phía Bác Sĩ Quát, tư thế nằm vẫn y như trước. Cảnh lộn xộn, ồn ào, ầm ĩ vừa qua của căn phòng không làm Bác Sĩ Quát động đậy chút nào. Cái gì đã như làm tê liệt bộ phận giây thần kinh điều khiển nguồn năng ý chí con người đến nỗi Bác Sĩ Quát không phản ứng gì, hay không còn muốn phản ứng gì dù chỉ là một phác họa – trước cảnh huống bên ngoài? Một hình ảnh buồn thảm lóe lên trong tưởng tượng; nếu không phải là mùa oi bức thì một tấm nền mỏng đắp lên người dong dỏng và gầy guộc của Bác Sĩ Quát thừa đủ để đóng vai trò một tấm khăn liệm.
Bác Sĩ Châm hướng về phía tôi, lắc đầu. Tôi lên tiếng với buồng trưởng: “Anh Phương! Báo cáo cán bộ xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh xá chứ!” Phương là hạ sĩ quan binh chủng nhẩy dù, tuổi khoảng 30. Tuy còn trẻ, tóc Phương đã trắng xóa, có lẽ vì “xấu máu.” Anh em bèn dán cho cái nhãn hiệu “Phương đầu bạc.” Phương lặng thinh, coi bộ ngần ngại. Nói cho ngay suốt hơn một tuần lễ Bác Sĩ Quát lâm bệnh Phương đã mấy lần báo cáo xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh xá, nhưng đều bị từ chối. Tôi quay về phía Bác Sĩ Châm: “Anh Châm! Nói cho Phương biết bệnh trạng của Bác Sĩ Quát đi!” Ông Châm bèn bảo: “Anh Phương! Báo cáo cán bộ ngay đi!” Phương không đáp, lộ rõ vẻ ngần ngại. Trong phòng bỗng nhao nhao nhiều giọng thúc giục, gay gắt: “Báo cáo đi! Chờ gì nữa? Bệnh như vậy mà không đi báo cáo, còn chờ gì nữa? Chờ người ta chết à?” Căn phòng đang im ắng, sống động hẳn lên.
Nhiều bạn đang nằm, nhóm người nhìn về phía Phương. Ðang cởi trần, Phương uể oải đứng dậy, bận áo, ra khỏi phòng, đi về phía đầu cầu thang. Một lát khá lâu, cán bộ gác tới, có Phương theo sau. Anh chàng cán bộ, mặt hơi khinh khỉnh, từ bên ngoài song sắt cộc lốc hỏi vọng: “Ðâu?” Bác Sĩ Châm nhích người qua một bên, chỉ vào Bác Sĩ Quát: “Ðây, cán bộ!” Nhìn một lát, cán bộ quay lưng, Phương lẳng lặng về chiếu mình. Những anh em khác lại đặt mình nằm. Căn phòng chìm trong im lặng hoàn toàn như thể hồi hộp chờ đợi một phán quyết sinh tử của trại.
Chừng 20 hay 30 phút sau, có tiếng lao xao ở đầu cầu thang. Hai bạn tù được làm ở bệnh xá, đem một băng ca tới cùng với cán bộ gác và một cán bộ khác, chắc là ở bệnh xá. Căn phòng lại náo động. Mọi người đều ngồi dậy hoặc đứng lên phần chiếu của mình.
Phương “đầu bạc” dẫn hai anh mang băng ca đến chỗ Bác Sĩ Quát. Bệnh nhân như mê man, tự mình không ngồi dậy được. Bốn anh em khỏe mạnh trong phòng xúm nhau nâng bệnh nhân đặt trên băng ca. Trong lúc đó Bác Sĩ Châm vội nhét vào một túi nhỏ vài đồ cần thiết cho Bác Sĩ Quát: Kem và bàn chải đánh răng, vài đồ lót, thêm một bộ đồ ngủ, đũa, muỗng, chén… Băng ca được khiêng đi. Bệnh nhân vẫn nằm, mắt nhắm, không một phản ứng. Dưới sân, một tiếng kêu lớn! “Lấy cơm!” Căn phòng trở lại cuộc sống đơn điệu hàng ngày của một trại tù. Lúc đó khoảng 10 giờ rưỡi.
Trưa hôm sau, khi lấy cơm trở về, anh em thì thầm rỉ tai nhau: “Bác Sĩ Quát chết rồi!” Cả phòng nhao nhao: “Hồi nào? Hồi nào? Chết mau quá vậy?” Một anh đáp: “Nghe nói, hồi trưa hôm qua thì phải.”
Chỉ một lát cáo phó miệng của các bạn tù đi lấy cơm đã lan truyền khắp khu ED. Bữa cơm trưa hôm đó ít ồn ào hơn thường lệ. Có ai trong phòng thốt một câu: “Bệnh như vậy, suốt hơn một tuần xin đi bệnh xá, không cho. Ðợi gần chết mới cho thì còn gì!” Một điếu văn ngắn, gọn, hàm súc cho một bạn tù đã nằm xuống. Một lời ngắn, gọn, hàm xúc lên án chế độ bất nhân, ác nghiệt của Cộng Sản. Căn phòng gần như lặng đi. Không bao lâu sau bữa cơm, cán bộ gác tới, bảo buồng trưởng thu dọn đồ của Bác Sĩ Quát. Trước khi quay lưng, hắn còn nói với: “Nhớ làm bản kê khai, nghe không!” Ðối với tù nhân, đó là lời công nhận chính thức cái chết của bất cứ “trại viên” nào.
Khám Chí hòa (hình bát giác)

Lần này, là cái chết của một vị cựu thủ tướng.

Manh chiếu của Bác Sĩ Quát đã được gỡ đi theo giỏ đồ còn lại của ông xuống văn phòng khu. Chỗ nằm cũ của ông trơ ra phần sân xi măng đã xỉn đen thời gian, mồ hôi, đau khổ và uất ức dồn nén của hàng hàng lớp lớp thế hệ tù chính trị mà ông đã là một trong biết bao người kế tiếp bất tận. Trí tưởng tượng của ta có mặc sức tung hoành sáng tác biết bao nhiêu chuyện về trại tù và thân phận tù nhân dưới chế độ Cộng Sản, thì mảnh không gian xi măng đen kia thầm lặng mà hùng hồn nói lên còn hơn thế nữa. Những ngày kế tiếp, cái chết tức tưởi mang nhiều vẻ không rõ ràng của Bác Sĩ Quát còn là đề tài bàn tán của nhiều người trong phòng được tóm gọn trong hai chữ “nghi vấn.” Nhiều người cho rằng nếu được đi bệnh viện sớm hơn, hoặc nếu không, mà được phép biên thư về nhà để thân nhân kịp thời gửi thuốc thì có thể Bác Sĩ Quát đâu ra đến nông nỗi đó.
Năm 1979 vẫn còn nằm trong thời kỳ mà Việt Cộng gọi là “rất căng.” Cuộc cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, nếu xuôi xẻ về mặt quân sự, thì về mặt dân tình và chính trị lại chẳng xuôi xẻ chút nào. Nhiều nơi đã nổi lên những phong trào chống đối vũ trang làm cho Việt Cộng vô cùng lo lắng trong việc ước lượng tầm cỡ của mỗi phong trào để liệu cơ đối phó. Ngay tại Sài gòn, năm 1976, vụ Vinh Sơn xẩy ra chưa đầy một năm sau “đại thắng Mùa Xuân” của Việt Cộng đã làm chúng thất điên bát đảo và mặc dù những người chủ trương và lãnh đạo vụ Vinh Sơn cùng với một số chiến hữu đã bị Việt Cộng thẳng tay đàn áp và thanh toán, dư âm và ảnh hưởng của vụ ấy vẫn còn kéo dài mãi tới 1979 và sau nữa. Lại thêm cuộc chiến với Trung Cộng Mùa Xuân 1979 ở miền Bắc và cuộc chiến với Căm Bốt ở miền Nam khởi sự từ 1978. Do đó Việt Cộng càng siết chặt kỷ luật đối với tù chính trị. Tuy không có bằng chứng rõ ràng, nhiều người trong phòng có cảm giác “ăng ten,” tức chỉ điểm viên, đã được tăng cường.

Trạm canh gác ở khám Chí Hòa



Cuộc sống tiếp tục trong bầu không khí càng ngày càng ngột ngạt. Việt Cộng “dư” lý lẽ để đối xử với tù nhân tàn nhẫn hơn, bất nhân hơn. Bác Sĩ Quát đã lâm bệnh trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó. Con trai út của ông là Phan Huy Anh bị bắt cùng với ông ngày 16 Tháng Tám 1975 không được ở chung cùng buồng, mà bị giam ở buồng 6 sát bên. Hai cha con chỉ trông thấy nhau những lần đi tắm, tức hai lần một tuần. Khi tắm cũng không được liên hệ với nhau. Huy Anh dù có muốn giúp bố giặt quần áo hay một vài việc vặt vãnh cũng không bao giờ được phép. Còn nói chuyện với nhau thì tuyệt đối cấm. Nếu bị bắt quả tang hay có người tố cáo, hai cha con sẽ bị cúp viết thư về nhà với hậu quả kèm theo là bị cúp thăm nuôi. Ấy là chưa kể có thể bị kỷ luật đưa đi biệt giam. Việc thăm nuôi của gia đình cũng tách rời, riêng biệt: không bao giờ hai cha con được thăm nuôi, gặp gỡ thân nhân cùng một lúc, cùng một ngày. Hai cha con sống sát buồng nhau mà còn hơn hai kẻ lạ. Hai kẻ lạ còn có thể xin phép trao đổi với nhau chút quà, nói với nhau dăm ba câu. Bác Sĩ Quát và Huy Anh luôn luôn bị từ chối và bị theo dõi kỹ. Khi được tin bố lâm bệnh, Huy Anh nhiều lần xin phép qua thăm và đem thuốc cũng không được. Chỉ tới phiên đi lãnh cơm, Huy Anh mới được bước ra khỏi buồng. Những lúc đó tôi thoáng bắt gặp ánh mắt buồn bã của Huy Anh kín đáo nhìn qua song sắt tới chỗ bố đang nằm lịm. Tôi còn nhớ hai ngày trước khi Bác Sĩ Quát được đưa đi bệnh xá, cán bộ gác mới cho phép Huy Anh đem thuốc cho bố, sau không biết bao nhiêu lần năn nỉ. Huy Anh chỉ được phép đứng ngoài cửa nhìn vọng vào. Thuốc thì do buồng trưởng nhận đưa cho Bác Sĩ Quát. Thuốc đến quá muộn, dù chỉ là thứ thuốc thông thường trị bệnh gan. Lần “nhìn thăm” thầm lặng được phép công khai đó dài không quá hai phút. Và đó cũng là lần chót Huy Anh được chính thức nhìn bố qua chiều dài gần 8 thước của căn buồng dưới đôi mắt cú vọ của cán bộ gác ngồi phía đầu cầu thang giám sát.
Hôm Bác Sĩ Quát được khênh đi bệnh xá, Huy Anh cũng không được phép ra khỏi buồng dù chỉ để nói ít câu thăm hỏi và nhìn bố nằm thoi thóp trên chiếc băng ca. Một ngày sau khi Bác Sĩ Quát chết, Huy Anh được trại cho phép về thọ tang bố. Nhiều người trong chúng tôi hi vọng sẽ có tin thêm về tang lễ và nhất là về cái chết quá đột ngột của Bác Sĩ Quát khi Huy Anh trở lại trại. Thói quen giấu diếm, bưng bít đã trở thành một thứ siêu vi trùng trong máu của Việt Cộng, thế nên khi Huy Anh trở về, chúng tôi chẳng biết tin gì thêm ngoài việc tang lễ đã xong xuôi. Sau này có tin là Huy Anh sẽ được thả nếu “thật tâm cải tạo tốt.” Có nghĩa là không được tiết lộ bất cứ điều gì liên quan đến cái chết, đến tang lễ của bố, đến bất cứ những gì Huy Anh đã nhìn được, nghe được ở xã hội Sài Gòn bên ngoài trong thời gian được về nhà. Phải thừa nhận Việt Cộng rất “siêu” về thủ đoạn dọa nạt, nhất là đối với những ai đang bị gọng kìm của chúng siết chặt. Dù Bác Sĩ Quát đã chết, không còn là một mối lo chính trị đối với Việt Cộng, do vậy không còn cần thiết giữ Huy Anh làm con tin để đe dọa, đầy đọa tinh thần ông bố nữa, cũng phải đợi đến cuối năm 1979, Huy Anh mới được thả.
Trong thập niên 1940, Bác Sĩ Phan Huy Quát đã được nhiều người ở Hà Nội biết tiếng là một lương y. Bệnh nhân của ông, cả Việt lẫn Pháp, rất tín nhiệm ông vì tư cách đứng đắn và lương tâm nghề nghiệp rất cao của ông. Ngay cả một số người Pháp đã chọn ông làm bác sĩ gia đình của họ, một trường hợp rất hiếm trong y giới người Việt thời ấy. Một đề tài nghiên cứu y học của ông có liên quan đến bệnh đau mắt của Hoàng Ðế Bảo Ðại thời đó đã được tặng giải thưởng đặc biệt của Hoàng Ðế. Cuộc đời chính trị của ông chỉ thực sự bắt đầu sau khi cựu Hoàng Bảo Ðại đã ký hiệp ước Vịnh Hạ Long với Cao ủy Bollaert của Pháp ngày 8 Tháng Ba 1949. Trong chính phủ đầu tiên của quốc gia Việt Nam do cựu Hoàng Bảo Ðại lãnh đạo, Bác Sĩ Quát tham chính với tư cách Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Sau đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng. Từ giữa năm 1953 trở đi, tình hình cuộc chiến với Việt Minh ở miền Bắc Việt Nam ngày càng tồi tệ. Thất trận của Pháp ngày 07 Tháng Năm 1954 ở Ðiện Biên Phủ mở màn cho Hội Nghị Genève về Ðông Dương với hậu quả là Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17 do Hiệp Ðịnh Genève được ký kết giữa Pháp và Việt Minh ngày 20 Tháng Bảy 1954.
Ở Pháp, Quốc Trưởng Bảo Ðại phong ông Ngô Ðình Diệm làm thủ tướng. Ngày 7 Tháng Bảy 54, ông Diệm về nước. Ðược ủy toàn quyền lãnh đạo Việt Nam, ông Diệm thành lập nội các mới và kiêm nhiệm luôn Bộ Quốc Phòng.



Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm (gắn huy chương) phía sau là Tổng trưởng quốc phòng Phan Huy Quát.


Thủ tướng Phan Huy Quát và Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

Bác Sĩ Quát trở lại nghề cũ, mở một phòng mạch ở Dakao gần đầu cầu Phan Thanh Giản. Suốt chín năm ông Diệm cầm quyền, Bác Sĩ Quát không tham chính: ông khó có thể thuận với Tổng Thống Diệm về lề lối làm việc quá quan liêu, hống hách và độc đoán của gia đình họ Ngô. Thêm nữa ông là một thành viên trong nhóm Caravelle đã công khai đưa ra bản tuyên bố chỉ trích chế độ và đòi chính quyền Diệm thực hiện tự do, dân chủ. Cuộc đảo chính ngày 01 Tháng Mười Một 1963 do một số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa lãnh đạo chấm dứt chế độ Ngô Ðình Diệm theo liền cái chết bi thảm của vị tổng thống và hai em ông là Ngô Ðình Nhu và Ngô Ðình Cẩn. Ðại Tướng Dương Văn Minh và Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ cầm quyền mới được ba tháng thì bị Tướng Nguyễn Khánh, tư lệnh vùng II chiến thuật, chỉnh lý ngày 30 Tháng Giêng 64. Bác Sĩ Quát được mời làm Tổng Trưởng Ngoại Giao. Ông ở chức vụ này tới khoảng Tháng Chín, 1964 rồi lại trở về phòng mạch.
Cuộc đời chính trị của ông đạt tuyệt đỉnh danh vọng khi, vào giữa Tháng Hai năm 1965, ông được Tướng Nguyễn Khánh triệu mời thành lập nội các mới. Giữ chức thủ tướng được khoảng ba tháng thì ông trao quyền lại cho Hội Ðồng Quân Lực vì những mâu thuẫn khó bề giải quyết giữa ông và Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu. Ông lui về, trực tiếp điều khiển phòng thí nghiệm y khoa của ông ở đường Hai Bà Trưng. Hoạt động chính trị của ông thu hẹp lại trong khuôn khổ của Liên Minh Á Châu Chống Cộng mà ông là chủ tịch phân hội Việt Nam cho tới ngày Sài Gòn thất thủ 30 Tháng Tư 1975.
Nhưng ngày kết liễu nền Ðệ Nhị Cộng Hòa chưa phải là ngày chấm dứt hoạt động của Bác Sĩ Phan Huy Quát. Nó đưa hoạt động ấy sang một hướng khác, hoàn toàn xa lạ với con người vốn dĩ trong bao năm đã quen và chỉ quen hoạt động chính trị theo lối “chính quy,” trong “đường lối chính quy.” Và con người thận trọng trong ông đã lao vào một trận địa mà trước kia ông chưa từng một lần lưu tâm và nghiên cứu địa hình phức tạp, hết sức bất thường do vậy cũng hết sức bất ngờ: địa hình của trận địa hoạt động bí mật, mà vì tính chất của riêng nó, đòi hỏi một cách suy nghĩ khác, một thứ thông minh khác, một loại bén nhạy khác, thậm chí đến cái can đảm trong hoạt động bí mật cũng phải là cái can đảm khác. Vị cựu thủ tướng, tự thân, chưa được chuẩn bị kỹ càng cho hình thái hoạt động bí mật nó có những điều luật, những nguyên tắc đặc thù của riêng nó. Ðiều này cũng dễ hiểu: ông chưa từng thấy có nhu cầu đó. Hoạt động chính trị của ông từ trước không cần đòi hỏi ông có những nhu cầu đó. Vậy mà trước hoàn cảnh đất nước rối bời đang diễn tiến trước mắt, ông đã chọn dấn thân vào con đường mới mẻ này. Một quyết định dũng cảm của một con người ngày ấy đã gần 70 tuổi, và chắc chắn không phải là một quyết định dễ dàng.
Sau ngày Sai gon thất thủ 30 Tháng Tư 1975, Bác Sĩ Phan Huy Quát không đáp “lời mời” ra trình diện của Việt Cộng được phổ biến trên đài phát thanh, truyền hình và báo chí của chúng cho tất cả “ngụy quân, ngụy quyền”. Liền sau khi cộng quân ào ạt tuôn vào Saigon từ hai hướng Bắc và Nam ngày 30 Tháng Tư 1975, Bác Sĩ Quát đã dời tư thất ở đường Hiền Vương và bắt đầu cuộc đời “du mục” trong Saigon, quyết không để cho Việt Cộng bắt. Cứ đôi ba ngày các con ông thay phiên nhau dẫn ông đi thay đổi chỗ trú ngụ. Sau gần ba tháng trốn tránh như thế, ông có dấu hiệu mệt mỏi. Các con ông khuyên ông trốn “trụ” hẳn một nơi. Ông nhượng bộ, về nhà trưởng nữ trong một hẻm khuất ở quận Phú Nhuận.
Những ai đã sống ở Saigon sau ngày 30 Tháng Tư 1975 chắc khó quên cái không khí ồn ào, nhộn nhạo, hỗn tạp bao trùm khắp nơi, khắp chốn của cái thành phố hơn ba triệu người này hầu như ngày nào cũng hối hả tuôn ra đầy nghẹt đường phố. Vẻ mừng rỡ bề ngoài vì chiến tranh đã chấm dứt không che đậy nổi nhiều nỗi lo âu âm ỉ bên trong: Kẻ chiến thắng sẽ định đoạt số phận của Saigon như thế nào? Thái độ nào tốt nhất để đối phó với kẻ chiến thắng đang huênh hoang, ngạo mạn? Tùy hoàn cảnh và cương vị riêng của mỗi cá nhân, người thì chọn lối âm thần sống ẩn, người thì mặc, muốn ra sao thì ra, cứ sống “tự nhiên cái đã”. Nhưng đại đa số thì tính chuyện trốn khỏi Việt Nam bằng đường biển sau khi Mỹ đã vĩnh viễn phủi tay. Một số khác thì tính chuyện tiếp tục tranh đấu chống Cộng. Ðã manh nha những sự thăm dò, móc nối nhau, tìm ngõ ngách trong hai lãnh vực chính yếu: thứ nhất vượt biên, thứ nhì chống Cộng.
Hai lãnh vực này tưởng là hoàn toàn riêng biệt, trái lại, thường xoắn vào nhau khá chặt, bởi lẽ nhiều khi tìm đường vượt biển lại dẫn đến mối chống Cộng, tìm đường chống Cộng lại dẫn tới mối vượt biên. Bất cứ ai chọn dấn thân vào một trong hai lãnh vực này đều bị lôi cuốn vào cái vòng luẩn quẩn lưỡng nguyên bi hài kịch đó. Bác Sĩ Quát không ngờ sẽ rơi vào chính cảnh huống ấy. Trong thâm tâm, ông không muốn bỏ chạy: ông vốn nặng tình quê hương. Nhưng gia đình ông 14 người, mặc nhiên là một áp lực tinh thần, thầm lặng đấy, nhưng đáng kể, buộc ông không thể không nghĩ đến sự an toàn cho vợ, con, dâu, rể và các cháu nội ngoại, nghĩa là phải nghĩ đến chuyện vượt biên. Ngoài tình quê hương ông cũng nặng tình gia đình không kém.


Gia đình Thủ Tướng Phan Huy Quát.

Thực ra, khoảng một tuần trước ngày 30 Tháng Tư 1975 lịch sử, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã ra lệnh cho ông Ðại sứ của mình ở Saigon nhân danh chính phủ mời Bác Sĩ Quát qua Ðài Bắc trú ngụ nếu như phía Mỹ chưa lo liệu cho bác sĩ. Lúc đó Bác Sĩ Quát chưa quyết tâm ra đi nên chỉ cảm ơn và nói sẽ liên lạc sau. Về phía Mỹ, khi hay tin Bác Sĩ Quát còn ở Saigon, ngày 28 Tháng Tư 1975 đã liên lạc với ông, hứa đưa hai ông bà qua Mỹ. Bác Sĩ Quát trả lời không thể nhận sự giúp đỡ quý hóa ấy nếu tất cả gia đình ông gồm 14 người không được cùng đi. Phía Mỹ ngần ngại, nhưng rồi cũng thuận ý muốn của Bác Sĩ Quát và cho ông một điểm hẹn. Ðiểm hẹn này sau bị lộ. Thêm nữa ngày 29 Tháng Tư 1975, tình hình căng thẳng tột độ, chính phủ Dương Văn Minh ra tối hậu thư buộc Mỹ phải triệt thoái toàn bộ nhân viên D.A.O. tức bộ phận tùy viên Quốc Phòng của Mỹ trong thời hạn 24 tiếng đồng hồ. Liên lạc giữa phía Mỹ và Bác Sĩ Quát bị tắc nghẽn. Chuyến trực thăng cuối cùng chở người Việt tị nạn không có Bác Sĩ Quát và gia đình.
Như đã nói, ông nặng tình gia đình, không muốn gia đình bị khổ trong vòng kìm kẹp của Cộng Sản và muốn gia đình sống một nơi an toàn. Ðồng thời ông cũng không muốn làm “kẻ bỏ chạy” vì ông cũng rất nặng tình quê hương, đất nước. Ông muốn, nếu đi thì cả nhà cùng đi. Nếu ở lại thì cả nhà cùng ở lại. Nhưng sau hai lần lỡ dịp di tản gia đình, Bác Sĩ Quát ý thức rất rõ hai mối tình song hành kia, tình gia đình và tình quê hương, đất nước, khó mà dung được với nhau và chỉ có thể chọn một. Và ông đã chọn.
Ông bằng lòng cho con trai út Phan Huy Anh đi thăm dò đường lối. Do một người bạn của Huy Anh giới thiệu, Bác Sĩ Quát thuận gặp một người tên Nguyễn Ngọc Liên. Liên tự xưng là một thành viên quan trọng của một tổ chức chống Cộng nhận nhiệm vụ bắt liên lạc với Bác Sĩ Quát, mời ông gia nhập tổ chức và nơi tổ chức có thể giúp gia đình ông vượt biên. Bác Sĩ Quát đồng ý về đề nghị thứ hai của Liên. Còn về đề nghị gia nhập tổ chức, ông nói sẽ có quyết định sau khi gặp người đại diện có thẩm quyền của tổ chức. Ðôi bên đồng thuận. Gia đình Bác Sĩ Quát gồm bà Quát, các con, cháu hơn mười người được dẫn đi trước xuống Cần Thơ, ở lại đó hai ngày. Hôm sau lên xe đi tiếp, dọc đường bị chận lại, đưa về khám Cần Thơ. Cả nhà biết là đã bị mắc lừa. Một tuần sau bị giải về trại giam Chí Hòa, Saigon. Bà Quát, tuy tuổi đã cao và mắc bệnh đau tim, vẫn bị biệt giam, điều kiện sinh hoạt rất khắc nghiệt. Do con, cháu bà năn nỉ mãi, Việt Cộng cho phép một cháu ngoại gái của bà mới 12 tuổi qua ở biệt giam để chăm sóc bà. Ðược mấy tháng, vì tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi, bà Quát được đưa ra ở phòng tập thể với các con cháu. Ðược hơn một năm, có lẽ vì xét thấy gia đình bà Quát đại đa số là giới nữ và khai thác cũng không thêm được gì, Việt Cộng bèn thả hết. Riêng người con rể còn bị giữ lại, đưa đi trại cải tạo Hàm Tân, gần mười năm sau mới được thả.
Về phần Bác Sĩ Quát và con trai út của ông là Huy Anh thì được tên Liên đưa đi tạm trú tại một căn nhà kín đáo ở Chợ Lớn. Hai ngày sau, theo kế hoạch, tên Liên đưa Bác Sĩ Quát và Huy Anh ra khỏi Saigon. Khi xe ô-tô tới một điểm hẹn vắng vẻ thuộc tỉnh Biên Hòa thì đã có một xe ô-tô khác đậu bên đường, nắp ca pô mở sẵn theo mật hiệu đã quy định. Xe chở Bác Sĩ Quát và Huy Anh dừng lại. Một toán người đi tới, vây quanh xe, rút súng hăm dọa. Bác Sĩ Quát biết mình bị lừa. Ông và Huy Anh được giải về Bộ Tư lệnh Cảnh Sát, đường Võ Tánh, Saigon. Hôm đó là ngày 16 Tháng Tám 1975, khởi đầu cuộc thử thách chót trong đời vị cựu Thủ tướng. Một cuộc thử thách không giống bất cứ một thử thách nào ông đã đương đầu trước kia. Một cuộc thử thách mà chủ đích của Việt Cộng nhằm hạ nhục con người chỉ chấm dứt sau khi vị cựu Thủ tướng đã vận tất cả năng lượng vật chất và tinh thần ném hết vào cuộc đấu tranh cuối cùng của ông, lần này mới thực là mặt đối mặt với quân thù với không biết bao nhiêu căng thẳng, gay go về nhiều mặt. Cuộc đấu tranh riêng lẻ mà ông chưa từng có một ý niệm và không bao giờ ngờ có ngày phải tiến hành trong đơn độc, đã kết thúc vào trưa ngày 27 Tháng Tư 1979, đúng ba hôm trước ngày Kỷ niệm Saigon thất thủ.
Cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát đã vĩnh viễn nằm xuống sau ba năm, tám tháng đấu tranh không nhượng bộ trong gọng kìm Việt Cộng.
Ngày 30 Tết, năm Mậu Ngọ (dương lịch: 1978)
Gần một tháng trước Tết Mậu Ngọ tôi bị chuyển về phòng 1, gác 1, khu BC. Ba phòng 2, 3, 4 bỏ trống. Chỉ riêng phòng 1 có “khách hàng”. Bác Sĩ Quát và tôi gặp lại nhau ở đó. Trong mấy ngày Tết, kỷ luật nới lỏng, mọi người được đi lại thăm bạn bè ở các phòng khác, gác khác trong cùng một khu. Bác Sĩ Quát và tôi không ra khỏi gác 1. Chúng tôi thường đi bộ dọc hành lang trống vắng vẻ, Bác Sĩ Quát bắt nhịp đi theo tiếng chống nạng của tôi lúc đó chân bị tê liệt. Mấy ngày Tết quả là một dịp hiếm có để có thể nói với nhau nhiều chuyện, khỏi sợ bị để ý hay soi mói quá đáng. “Ăng ten” cũng phải ăn Tết chứ! Bác Sĩ Quát đã tóm lược cho tôi nghe cuộc “phiêu lưu” của ông và gia đình. Tôi có hỏi ông về thời gian ông giữ tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát, đường Võ Tánh. Ông kể:
“Chúng bắt tôi viết bản tự khai tất cả những gì tôi làm khi tôi giữ chức Thủ tướng. Bản viết của tôi không dài quá một trang tôi viết vắn tắt là trong thời gian tôi ở cương vị Thủ tướng, tôi lãnh đạo việc nước, tôi chỉ đạo cuộc chiến chống Cộng. Tất cả mọi cấp, từ cấp thấp nhất, đến cao nhất gần gũi với Thủ tướng ở mọi ngành quân, dân, chính đều làm việc theo chỉ thị và mệnh lệnh của tôi. Một mình tôi trách nhiệm. Chúng không bằng lòng, bắt tôi viết lại. Tôi viết y như trước. Cù cưa như vậy đến hơn một tháng, gần hai tháng. Chúng bèn chuyển sang thẩm vấn. Hỏi câu nào tôi trả lới vắn tắt: Tôi trách nhiệm. Chúng đủ trò áp lực như anh biết đấy. Sau đó, để bớt căng thẳng, tôi nhận viết. Vả lại, thú thực lúc đó nhịp tim đập của tôi loạn xạ đã nhiều ngày, và tôi không có thuốc trợ tim. Tôi cảm thấy chóng mệt. Tôi cứ từ từ viết được hơn 70 trang, trong đó tôi nêu một số nhận định về thời cuộc, đưa ra một số đề nghị kiến thiết quốc gia. Trên trang nhất, tôi đề tên người nhận văn bản của tôi là Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Chúng bắt tôi xóa, chỉ được viết là bản tự khai. Tôi không chịu. Sau cùng chúng cũng nhận tập viết của tôi.”
Tôi hỏi Bác Sĩ Quát: “Anh có tin là chúng chuyển tập viết của anh tới Nguyễn Hữu Thọ không? – Tôi ngờ lắm. Ông đáp. Nhưng không sao. Tôi mượn cớ đề tên Nguyễn Hữu Thọ để ngầm bảo chúng rằng tôi không biết tới Hà Nội trong khi tất cả chúng ta đều rõ là Nguyễn Hữu Thọ và Mặt trận Giải phóng Miền Nam chỉ là công cụ của Hà Nội và Hà Nội thừa biết điều đó hơn ai hết.”
Tôi bật cười, Bác Sĩ Quát cũng cười theo. Chúng tôi hiểu nhau. Trong buồng có một vài bạn tù đứng đắn, chúng tôi có thể nói chuyện thẳng thắn, cởi mở, không nghi ngại. Tôi nhớ một lần, vẫn trong dịp Tết Mậu Ngọ, chúng tôi năm người đứng nói chuyện gần ở một góc hành lang, câu chuyện loanh quanh thế nào mà dẫn đến việc một bạn tù hỏi Bác Sĩ Quát về một vài cộng sự viên thân cận nhất của ông mà ông thật tâm tác thành cho: “Có thật hay không, tiếng đồn có người đá ngầm anh khi có dấu hiệu anh trên đà xuống dốc?” Bác Sĩ Quát mỉm cười, trả lời, giọng bình thản: “Tôi đã có nhiều dịp gần cụ Trần Trọng Kim khi sinh thời cụ. Tôi nhớ mãi một lời cụ dậy: sống ở đời phải cho nó chững. Tôi thường kể lại cho các con, cháu trong nhà nghe lời của cụ Trần, kẻo uổng.” Câu nói của Bác Sĩ Quát không trả lời thẳng vào câu hỏi của anh bạn. Nhưng có vẻ như mấy bạn biết thưởng thức câu trả lời đó vì họ cười ha hả.
Sau Tết, chúng tôi bị chuyển sang phòng 5, gác 1, khu ED. Ðược vài hôm, phòng nhận thêm một tù nhân từ biệt giam qua. Người này, khi nhận thấy Bác Sĩ Quát thì tỏ vẻ lúng túng, ngượng ngập. Có chi lạ đâu? Hắn là Nguyễn Ngọc Liên, người mời chèo Bác Sĩ Quát vào khu để rồi rơi vào bẫy sập ở Biên Hòa. Trong phòng ngoài Bác Sĩ Quát và tôi, không một ai khác biết mối liên hệ giữa Bác Sĩ Quát và hắn. Bác Sĩ Quát cư xử rất tự nhiên, không tỏ vẻ gì khó chịu bực tức, nóng nẩy. Riêng tôi cũng không để lộ cho tên Liên rõ là tôi biết chuyện của hắn. Cuộc sống ở Chí Hòa đơn điệu, buồn tẻ, ngột ngạt.
Ngày này sang ngày khác, mọi người như chết đi trên 2/3 manh chiếu của mình. Không bao giờ tôi nghe thấy Bác Sĩ Quát thốt lên dù chỉ nửa lời than van về số phận của mình hay của gia đình về sự mất mát tài sản mà Việt Cộng đã tịch thu toàn bộ chỉ để lại cho ông hai bàn tay trắng. Ông sống lặng lẽ, trầm ngâm, kín đáo. Nhiều lần, cán bộ Việt cộng cố ý công khai làm nhục ông trước mặt mọi người. Ông giữ im lặng, cái im lặng kẻ cả. Không ai nhận thấy ở ông một vẻ gì kiêu kỳ, của một người đã từng giữ những chức vụ cao sang trong chính quyền cũ.
Ông biết hòa mình một cách đúng mức. Với anh em cùng cảnh ngộ và cái đúng mức không gượng ép ấy tự nhiên bảo vệ tư thế riêng của ông bằng một khoảng cách mà chẳng ai dám nghĩ muốn vượt qua. Ngay đối với tên Liên mà nhiều yếu tố trong vụ Biên Hòa đủ để được xứng đáng nhãn hiệu “tên phản bội, tên lừa bịp”, ông vẫn giữ được cách lịch sự bao dung buộc kẻ kia tự mình phải có thái độ ăn năn, kính cẩn đối với ông. Thế nên tôi rất hiểu tâm địa ông khi ông thều thào: “Thôi! Bỏ đi!” để trả lời câu hỏi dồn ông về tên Liên bên chiếu bệnh. Ông biết vì ông mà vợ, con, cháu ông đang dũng cảm chịu khổ, chịu nhục, chịu thiếu thốn ở khu phụ nữ. Ông biết một cháu nội gái của ông, con gái đầ


--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Dec 23 2017, 03:55 AM
Gửi vào: #53


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,521
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8






Nhóm Tướng Trẻ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào Giai Đoạn 1964-1965

Posted on August 18, 2017 by dongsongcu
Lâm Vĩnh Thế




Vào các năm 1964-1965 đã hình thành một Nhóm Tướng Trẻ trong Quân Lực Viêt Nam Công Hòa (QLVNCH). Nhóm này được giới truyền thông Hoa Kỳ gọi chung dưới tên “Young Turks.” Bài viết này cố gắng ghi lại sự hình thành, hoạt động và ảnh hưởng của Nhóm trên chính trường của VNCH trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó.

Sự Hình Thành Của Nhóm Tướng Trẻ

Sau khi thành công trong vụ “Chỉnh Lý” ngày 30-1-1964 và thành lập Chính phủ mới mà ông là Thủ Tướng, Trung Tướng Nguyễn Khánh lúc đầu dựa vào Đảng Đại Việt để cầm quyền. Nhưng chẳng bao lâu ông khám phá ra Đảng Đại Việt mưu toan đảo chánh để loại ông.1 Không còn hậu thuẩn chính trị này nữa, Tướng Khánh phải tìm hậu thuẩn khác. Trong thời gian này, hai thế lực lớn có ảnh hưởng quan trọng trên chính trường VNCH là Phật Giáo và Quân Đội. Ông không thể dựa vào Phật Giáo được với lý do đơn giản là Phật Giáo không thể tin ông vì ông cầm đầu vụ “Chỉnh Lý” loại bỏ các tướng Đôn-XuânKim-Đính là những người thân Phật Giáo. Đo đó, ông thấy cần phải nắm cho được Quân Đội. Để thực hiện mục tiêu này, ông đã tạo ra một lớp tướng lãnh trẻ để làm hậu thuẩn cho ông. Trong một thời gian thật ngắn, chưa đến một năm, ông đã thăng cấp cho một loạt sĩ quan cao cấp, tư lệnh các quân binh chủng và các đại đơn vị của QLVNCH, lên cấp tướng:

ngày 3-3-1964: thăng cấp Thiếu Tướng cho Đại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù (ông Viên là vị Đại Tá cuối cùng thăng lên cấp Thiếu Tướng hai sao; sau đó Tướng Khánh đặt ra một cấp bậc mới giữa hai cấp Đại Tá và Thiếu Tường là cấp Chuẩn Tướng một sao)

ngày 8-4-1964: thăng cấp Chuẩn Tướng cho Đại Tá Nguyễn Cao Kỳ, Tư Lệnh Không Quân, và, thăng cấp Phó Đề Đốc cho Đại Tá Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân

ngày 29-5-1964: thăng cấp Chuẩn Tướng cho các Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đổng, Bùi Hữu Nhơn, Cao Hảo Hớn và Ngô Dzu

ngày 11-8-1964: thăng cấp Chuẩn Tướng cho các Đại Tá Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đăng Văn Quang , Vĩnh Lộc, Lê Nguyên Khang (Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến) và Hoàng Xuân Lãm

ngày 21-10-1964: thăng cấp Thiếu Tướng cho các Chuẩn Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Lê Nguyên Khang (ông Khang là trường hợp duy nhứt trong lịch sử của QLVNCH thăng 2 cấp từ Đại Tá lên Thiếu Tường trong vòng chưa đến 3 tháng), Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đổng, và Bùi Hữu Nhơn; và thăng cấp Đề Đốc cho Phó Đề Đốc Chung Tấn Cang.

Các vị tướng trẻ này phần lớn là tư lệnh của các quân binh chủng và các đại đơn vị của QLVNCH, ví dụ như các lữ đoàn của các đơn vị tổng trừ bị và các sư đoàn bộ binh. Lúc ban đầu các vị này hoạt động riêng rẻ, phần lớn chỉ lo phụ trách đơn vị của mình. Lúc bấy giờ trong nội bộ Quân Đội đã có khá nhiều bất mãn đối với Tướng Khánh: vụ Hiến Chương Vũng Tàu vừa ban hành lại phải thu hồi làm mất mặt quân đội, nhượng bộ Phật Giáo quá nhiều (các vụ xử án các phần tử của chế độ Ngô Đình Diệm), và dung dưởng tình trạng sinh viên học sinh gây hổn loạn một cách quá đáng. Ngày 13-9-1964, hai tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát làm đảo chánh với mục đích muốn loại bỏ Tướng Khánh. Cuộc đảo chánh này lần đầu tiên tạo cơ hội cho các tướng trẻ họp lại với nhau. Cuộc họp này diễn ra tại Bộ Tư Lệnh Không Quân do Chuẩn Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư Lệnh Không Quân, triệu tập. Các tướng ra tuyên bố chung không chấp nhận cuộc đảo chánh, “cương quyết đòi tướng Dương-văn-Đức rút quân về các vị trí cũ tại vùng IV; nếu không, sẽ đối phó”2 . Cuộc đảo chánh của hai tướng Dương văn Đức và Lâm Văn Phát thất bại. Tướng Khánh và Chính phủ của ông thoát được nguy cơ bị lật đổ. Sau vụ này, các tướng trẻ nhận thấy rõ một điều: nếu hoạt động riêng rẻ họ chỉ có uy quyền đối với đơn vị của họ mà thôi nhưng nếu kết họp lại họ sẽ là một lực lượng chính trị rất quan trọng, có thể quyết định sự sống còn của chính phủ. Họ bắt đầu họp nhau thường xuyên hơn trong tháng 9 và đồng ý với nhau cử Tướng Kỳ làm người phát ngôn cho nhóm vì Tướng Kỳ có lợi thế lớn là người được lòng Tướng Khánh, lại nắm trong tay Không Quân là quân chủng có khả năng lớn trong việc chống lại các cuộc đảo chánh, và có điều kiện dễ dàng trong mọi việc như triệu tập buổi họp, ra thông báo, tổ chức họp báo, liên lạc với người Mỹ, vv. Báo chí Hoa Kỳ bắt đầu gọi họ dưới tên chung là “Young Turks.” Tất cả những điều này không qua mắt được bộ phận của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương của Hoa Kỳ (Central Intelligence Agency – CIA) đóng trong Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn.



Báo cáo sau đây của CIA cho thấy rõ điều đó: 3

“...2. During the last half of September the “Young Turk” commanders have been meeting regularly under General Ky’s leadership. Besides Ky, who acts as moderator and spokesman rather than actual leader, the “Young Turks” were:
Colonel Du Quoc Dong, Airborne Brigade Commander
General Le Nguyen Khang, Marine Brigade Commander
Colonel Nguyen Bao Tri, 7th Infantry Division Commander
General Ton That Xung, I Corps Commander
General Nguyen Chanh Thi, 1st Infantry Division Commander
General Nguyen Thanh Sang, 2nd Infantry Division Commander
General Vinh Loc, 9th Infantry Division Commander
General Dang Văn Quang, 21st Infantry Division Commander

3. Generals Xung, Thi and Sang attend meetings when they are in the Saigon area. Within the past two weeks General Ky has visited Generals Loc and Quang and includes them in the “Young Turk” group. General Nguyen Huu Co, II Corps Commander, is apolitical but supports the aspirations of the “Young Turk” group. … ”

Chủ Trương Của Nhóm Tướng Trẻ

Như thế Nhóm Tướng Trẻ này (trừ 2 Tướng Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Xứng đều sinh năm 1923 lúc đó đã 41 tuổi, tất cả các Tướng còn lại đều dưới 40 tuổi) đã mặc nhiên hình thành và họ bắt đầu hoạt động như một đoàn thể chính trị trong QLVNCH. Để có thể hoạt động như một đoàn thể chính trị, họ dần dà tự hình thành một lập trường và chủ trương chung đối với những vấn đề quan trọng của đất nước.

Vì là tướng lãnh và sĩ quan cao cấp chỉ huy các quân binh chủng và các đại đơn vị của QLVNCH, điều họ quan tâm trước nhứt là những việc có liên quan đến Quân Đội. Tình hình trong Quân Đội sau cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, như chúng ta đã biết, là sự chia rẽ trầm trọng trong nội bộ các tướng lãnh cao cấp, đưa đến kết quả là cuộc “Chỉnh Lý” của Tướng Khánh, với sự quản thúc của 4 Tướng Đôn-Xuân-Kim-Đính tại Đà Lạt. Tình hình chia rẽ này không chấm dứt mà vẫn tiếp tục sau cuộc “Chỉnh Lý” đó, đặc biệt là giữa 3 tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm. Tướng Khánh tìm mọi cách loại bỏ 2 Tướng Minh và Khiêm để nắm trọn quyền hành trong tay và sau cùng ông thành công đưa được cả 2 tướng Minh và Khiêm ra khỏi nước. Các tướng trẻ không hài lòng trước tình hình này. Họ còn bất mãn nhiều hơn trước khả năng cầm quyền tệ hại của Tướng Khánh, làm mất mặt Quân Đội rất nhiều qua các vụ Hiến Chương Vũng Tàu, các nhượng bộ quá đáng đối với Phật Giáo, các vụ sinh viên học sinh biểu tình, xuống đường, xung đột đẫm máu, vv. Dĩ nhiên tất cả những điều này tạo ra bất ổn định ở hậu phương và gây thêm nhiều khó khăn ở tiền tuyến cho họ. Trong suy nghĩ của đại đa số các tướng trẻ, những tướng già cấp trên của họ chỉ còn là đống củi mục, không còn lợi ích gì nữa hết cho đất nước mà lại còn cản trở bước tiến của họ. Sức mạnh của Quân Đội là kỷ luật. Và kỷ luật có nghĩa là cấp dưới phải tuyệt đối phục tùng cấp trên. Hệ thống quân giai và thâm niên cấp bậc là những giá trị tuyệt đối của Quân Đội. Các tướng trẻ cảm thấy họ bị trói buộc trong các giá trị nầy. Để thoát ra khỏi các ràng buộc nầy không còn cách nào khác hơn là phải loại bỏ các tướng già cấp trên này của họ. Do đó chủ trương chung của nhóm tướng trẻ là cần thiết phải cho tất cả các tướng già, mà họ định nghĩa là có trên 25 năm quân vụ, ra khỏi Quân Đội bằng cách buộc họ phải nghĩ hưu. Lúc đầu chủ trương chung của nhóm tướng trẻ chỉ có vậy thôi, nhưng dần dà, trước sự bất lực của các chính phủ Nguyễn Khánh và Trần Văn Hương không giải quyết được những khó khăn chính trị của đất nước, họ bắt đầu có những tham vọng về chính trị. Họ không muốn tiếp tục chịu sự sai khiến của những chính khách “xa lông” vô tài, bất tướng đó nữa. Họ nghĩ là họ có thể ổn định được tình hình chính trị của đất nước. Họ nghĩ là đã đến lúc không thể để cho các chính phủ dân sự làm chủ đất nước được nữa. Nói tóm lại họ thật sự nghĩ là họ có thể cầm quyền được và họ tin là họ sẽ có thể làm hay hơn các chính phủ dân sự nhiều, rất nhiều. Nhưng trước mắt họ biết là họ còn phải kiên nhẫn chấp nhận chịu đựng Tướng Khánh một thời gian nữa. Tài liệu của CIA vừa nêu bên trên ghi rõ như sau: “General Ky is counselling patience and opposes any use of force to depose the Khanh government until it can be observed whether Khanh is decisively implementing the program of action presented to him [by] the “Young Turk” group. If Khanh acts effectively and in good time there will be no problem. If he does not or cannot, steps will be taken to change the situation by use of force.” 4




Hoạt Động Của Nhóm Tướng Trẻ

Thực hiện đúng theo sự tính toán vừa kể trên, Nhóm Tướng Trẻ bắt đầu tạo áp lực lên Tướng Khánh để đòi hỏi ông phải thỏa mãn những yêu cầu trong chương trình hành động của họ. Đó là lý do có cuộc họp tại Vũng Tàu giữa ông và họ vào ngày 30-9-1964. Một tài liệu mật của CIA cho biết những chi tiết như sau về cuộc họp: 5

Cuộc họp là do yêu cầu của các tướng trẻ mà Tướng Khánh phải chấp nhận hiện diện tại buổi họp cùng với Tướng Khánh là các tướng trẻ sau đây: Chuẩn Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư Lệnh Không Quân; Phó Đề Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân; Chuẩn Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến; và, Đại Tá Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhảy Dù.

Những vấn đề do các tường trẻ nêu ra và được Tướng Khánh chấp thuận là:
1) Trong vòng 48 giờ, Tướng Trần Thiện Khiêm sẽ được cử ra ngoại quốc để cám ơn các nước Đồng minh;
2) Các “Tướng Đà Lạt” (tức là các Tướng Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim và Tôn Thất Đính) sẽ được cho giải ngũ; tuy nhiên, để giữ thể diện phần nào cho các vị đó, việc này sẽ được giải quyết từ từ;
3) Sẽ tổ chức xét xử các tướng tá tham gia vào vụ đảo chánh bất thành ngày 13-9-1964;
4) Tướng Khánh phải trở về với Quân Đội vào ngày 2710-1964 (có nghĩa là không được tham gia vào hoạt động chính trị nữa)

Qua buổi họp này, chúng ta thấy rõ là Tướng Khánh đã hoàn toàn rơi vào thế bị động của hoàn cảnh “gậy ông đập lưng ông.” Mưu toan của Tướng Khánh cho thăng cấp các tường trẻ để sử dụng họ làm hậu thuẩn chính trị cho ông nay đã bị “effet contraire.” Bây giờ không những ông không thể lợi dụng họ cho mục tiêu chính trị của ông mà, ngược lại, ông lại còn bị họ ép phải thực hiện những yêu cầu của họ.

Hội Đồng Quân Lực

Trong tình thế như vậy Tướng Khánh lại phạm thêm một số sai lầm rất nghiêm trọng và vô cùng tai hại, đưa đến cơ hội cho các Tướng Trẻ vĩnh viễn loại luôn ông ra khỏi chính trường của VNCH. Sai lầm thứ nhứt của Tướng Khánh là, để lấy lòng các Tướng Trẻ, ông lại thăng cấp thêm một lần nữa cho họ vào ngày 21-10-1964 như đã trình bày bên trên. Sai lầm thứ hai của Tướng Khánh xảy ra sau đó khoảng hai tháng. Ngày 17-12-1964, các Tướng Trẻ yết kiến Quốc Trưởng (ông Phan Khắc Sửu) trình bày về việc cho các tướng già về hưu. Quốc Trưởng chuyển vấn đề sang cho Thượng Hội Đồng Quốc Gia (THĐQG) giải quyết. Ngày hôm sau THĐQG bác bỏ yêu cầu này.



Tổng Thống Nguyen Van Thieu va Pho tong thong Nguyen Cao Ky, Đệ Nhị Cộng Hòa VNCH nam 1967

Qua sự việc vừa nêu trên, Nhóm Tướng Trẻ nhận ra một điều: họ có thể tạo áp lực với Tướng Khánh để thỏa mãn những đòi hỏi của họ nhưng họ không làm được như thế đối với cơ cấu chính quyền dân sự đương nhiệm vì nhóm của họ không có một cơ sở pháp lý nào cả. Họ thấy cần phải biến đổi cái nhóm tự biên tự diễn của họ thành một định chế chính trị mà chính quyền dân sự phải công nhận và tôn trọng. Ngay trong ngày hôm đó, Tướng Khánh đã thực hiện điều mong ước này của các tướng trẻ: ông cho thành lập một cơ chế gọi là Hội Đồng Quân Lực (HĐQL). Các tướng trẻ đã chớp lấy thời cơ này ngay lập tức. Khuya ngày 19-12-1964, HĐQL cho bắt giữ môt số thành viên của THĐQG, cùng một số tướng lãnh, chính khách, và sinh viên tranh đấu đem đi quản thúc tại nhiều nơi khác nhau. Trưa ngày 20-12-1964, HĐQL ra tuyên bố giải tán THĐQG, nhưng vẫn tiếp tục tín nhiệm Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Trần Văn Hương.6 Sai lầm thứ ba của Tướng Khánh là đánh mất luôn sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với cá nhân ông. Sự việc diễn ra như sau. Chính phủ Hoa Kỳ, xuyên qua Đại Sứ Maxwell Taylor, rất hài lòng khi THĐQG được thành lập vì họ xem đó là một bước tích cực trong tiến trình giúp ổn định tình hình chính trị tại VNCH sau một thời gian khá dài hổn loạn với những vụ biểu tình, xuống đường của Phật giáo, sinh viên và đảo chánh của Quân Đội. Việc các tướng trẻ vì bất mãn ngang nhiên giải tán THĐQG làm Đại sứ Taylor rất tức giận. Ông mời các tướng lãnh đến tư dinh của ông để thảo luận về việc này. Thái độ, cử chỉ và lời lẽ của ông làm các tướng lãnh cảm thấy bị xúc phạm nặng nề. Sáng hôm sau, Đại Sứ Taylor lại đến văn phòng Tướng Khánh để trao đổi về việc giải tán THĐQG và việc trao đổi này cũng lại kết thúc không tốt đẹp gì. Nhân cơ hội đó, để lấy lòng các tướng lãnh, Tướng Khánh triệu tập HĐQL lên án thái độ “phi ngoại giao” của Đại Sứ Taylor. “Tất cả đồng thanh quyết định gửi văn thư cho Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Trần Văn Hương yêu cầu trục xuất Đại sứ Taylor. Tướng Khánh cũng họp báo tố cáo Đại sứ Taylor can thiệp vào chuyện nội bộ của Việt Nam.” 7 Chính phủ Hoa Kỳ phản ứng mạnh, đe dọa chấm dứt viện trợ cho VNCH . Nhờ sự can thiệp khéo léo của Thủ Tướng Hương, mối mâu thuẩn giữa hai chính phủ ViệtMỹ mới được giải tỏa nhưng số phận của Tướng Khánh đã được định đoạt. Việc ra đi của Tướng Khánh chỉ còn là vấn đề thời gian vì ông đã mất chổ dựa cuối cùng của ông là Chính phủ Mỹ.

Sau vụ THĐQG bị giải tán, Thủ Tướng Trần Văn Hương nhận rõ thế lực chính trị của các tướng. Ngày 18-1-1965, Thủ Tướng Hương cải tổ chính phủ và mời 4 tướng lãnh tham gia nội các mới:
1) Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức vụ Đệ Nhị Phó Thủ Tướng;
2) Trung Tướng Trần Văn Minh (Minh nhỏ) làm Tổng Trưởng Quân Lực;
3) Thiếu Tướng Linh Quang Viên làm Tổng Trưởng Tâm Lý Chiến; và,
4) Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Tổng Trưởng Thanh Niên Thể Thao.

Phật Giáo và sinh viên vẫn tiếp tục chống đối. Ngày 241-1965, HĐQL nhóm họp để thảo luận về tình hình đất nước, đặc biệt chú trọng đến vấn đề phải giải quyết thế nào đối với Chính phủ Trần Văn Hương. Cuộc họp cho thấy lúc đầu HĐQL không thống nhứt ý kiến về vấn đề chính phủ Trần Văn Hương. Nội bộ HĐQL chia làm 3 nhóm: một nhóm ủng hộ Thủ Tướng Hương, một nhóm muốn loại ông và một nhóm đứng giữa. Trong buổi họp, các tướng cũng thảo luận và bỏ phiếu để chọn một tường lãnh làm thủ tướng và Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu được số phiếu cao nhứt nhưng ông từ chối với lý do ông là người Công giáo nên chắc chắn Phật giáo sẽ tiếp tục chống đối. Người được số phiếu hạng nhì là Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi. Trong một công điện (Cable) của CIA mang số hiệu TDCS DB-315/00241-65, đề ngày 14January-1965, gồm 7 trang, nơi trang 6 có ghi rõ như sau:
“… the proposals for a military Prime Minister were made. Thieu got the highest number votes in a ballotting. The exact number of votes was not revealed. Thi apparently was next for he was proposed as Vice Prime Minister. Thieu declined, saying that he was a practicing Catholic and he was under strong attack by the Buddhists. Thus it was unthinkable that he could do the job with these handicaps. After Thieu’s comments Khanh suggested that perhaps Thi could do the job. There was considerable discussion which ended when Linh Quang Vien said that “We all must realize that we are dealing with the destiny of our nation. We must have a man fully capable in all respects. He must be capable in both military and civilian affairs.” … The general consensus was that the AFC would support the Huong government.” 8

Sau cùng HĐQL quyết định tiếp tục ủng hộ Thủ Tướng Trần Văn Hương, nhưng với điều kiện Chính phủ Hương phải ổn định được tình hình. Qua cuộc họp ngày 24-1-1965 vừa nêu trên, chúng ta thấy thật rõ 2 điều sau đây: 1) Vai trò và tầm quan trọng của Tướng Khánh đã bị lu mờ rất nhiều, nếu không muốn nói là gần như không còn nữa; 2) Các tướng trẻ đã bộc lộ rõ ràng tham vọng muốn nắm chính quyền của họ. Cái họ cần bây giờ là một cơ hội thuận tiện với danh chánh ngôn thuận để đoạt lấy chính quyền từ tay các chính khách dân sự. Họ sẽ không phải chờ đợi lâu.

Sau quyết định ngày 24-1-1965, Chính phủ Trần Văn Hương vẫn tiếp tục bị phe Phật Giáo chống đối. Ngày 27-1-1965, lấy lý do tình thế mổi ngày một thêm rối ren, HĐQL giải nhiệm Chính phủ Trần Văn Hương; Thủ Tướng Hương bị đưa đi quản thúc tại Vũng Tàu. Ngày hôm sau, HĐQL ra tuyên cáo lưu nhiệm Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và cử Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Oánh làm Quyền Thủ Tướng. Sau đó HĐQL tiến hành việc thăm dò để tìm người làm Thủ Tướng. Lúc đầu họ chọn Phó Thủ Tướng Nguyễn Lưu Viên, nhưng sau đó vì ông Viên không đồng ý bổ nhiệm Tướng Nguyễn Chánh Thi làm Tổng Trưởng Nội Vụ, HĐQL đổi ý kiến và chọn Bác sĩ Phan Huy Quát.9 Chính phủ Phan Huy Quát, trình diện ngày 16-2-1965, được sự ủng hộ của Phật Giáo, quy tụ được nhiều nhân vật thuộc đủ các chính đảng, và có sự tham gia của một số quân nhân là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quân Lực, Thiếu Tướng Linh Quang Viên, Tổng Trưởng Thông Tin Tâm Lý Chiến, và Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Tấn Hồng, Tổng Trưởng Thanh Niên. Mặc dù vậy, một đại diện của Nhóm Tướng Trẻ trong HĐQL, Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Thủy Quân Luc Chiến, cũng không nghĩ là Chính phủ Quát có thể tồn tại lâu dài.10Đúng như sự lo ngại của Tướng Khang, chỉ 3 ngày sau khi Chính phủ Quát ra đời, đã xảy ra vụ đảo chánh đòi loại bỏ Tướng Khánh của Đại Tá Phạm Ngọc Thảo.11 Cuộc đảo chánh này thất bại vì các tướng trẻ đều chống lại. Các tướng trẻ nhân cơ hội này, họp HĐQL và loại Tướng Khánh khỏi chức vụ Tổng Tư Lệnh và bầu Trung Tướng Trần Văn Minh (Minh nhỏ) làm Tổng Tư Lệnh mới. Ngày 25-2-1965, Tường Khánh bị buộc phải rời khỏi Việt Nam.12
Qua những việc trên, HĐQL đã trở thành cơ quan quyền lực tối cao của VNCH, vì HĐQL, trên thực tế, đã có thể làm được những việc như sau:
1) giải nhiệm Thủ Tướng (ông Trần Văn Hương);
2) đề cử Thủ Tướng mới (Bác sĩ Phan Huy Quát);
3) giải nhiệm Tổng Tư Lệnh (Đại Tướng Nguyễn Khánh) ; và,
4) đề cử Tổng Tư Lệnh mới (Trung Tướng Trần Văn Minh).

Hơn ai hết, Thủ Tướng Quát thấy rõ HĐQL là một mối đe dọa lớn đối với Chính phủ của ông. Ông tìm cách loại bỏ mối đe dọa này. Tiếp tay cho ông không ai khác hơn là vị Tổng Tư Lệnh mới được đề cử, Trung Tướng Trần Văn Minh. Tướng Minh rất bất mãn đối với thái độ và hành động lạm quyền của các tướng trẻ, nhất là Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Vùng I. Trong một tài liệu mật của CIA đề ngày 23-2-1965 có đoạn ghi như sau: “...Minh expressed his concern over what he regards as the self-appointed authority of Thi. The lines of authority are not clear at the moment, and Thi feels he is not accountable to anyone, either military or civilian.” 13 Tướng Minh cũng muốn giải tán HĐQL để các tướng trẻ không thể tạo khó khăn cho ông trong chức vụ Tổng Tư Lệnh. Ông nghĩ có thể làm được việc này vì ông tin là phần lớn các tướng trong HĐQL có thể đồng ý với việc này. Ông đề nghị với Đại sứ Hoa Kỳ Taylor khuyên các tướng lãnh Mỹ tìm cách thuyết phục các tướng Việt Nam vể việc giải tán HĐQL. Vẩn còn nhớ việc HĐQL giải tán THĐQG hồi tháng 12-1964, Đại sứ Taylor rất tán thành đề nghị này, và cùng với phó Đại sứ Alexis Johnson, ông đã tích cực thăm dò và vận động các tướng lãnh về việc này. Về phía Chính phủ Quát, chính bản thân Thủ Tướng Quát và Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng Bùi Diễm cũng đã gặp gở và vận động các tướng lãnh cao cấp trong HĐQL vê việc này. Ngày 5-5-1965, Trung Tướng Trần Văn Minh, Tổng Tư Lệnh, đã triệu tập HĐQL. Hiện diện tại phiên họp này của HĐQL gồm các vị tướng sau đây:
– Trung Tướng Trần Văn Minh, Tổng Tư Lệnh
-Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quân Lực
– Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư Lệnh Không Quân
– Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến
– Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, Tư Lệnh Biệt Động Quân,
– 4 tướng Tư Lệnh Vùng
– Thiếu Tướng Linh Quang Viên, Tổng Trưởng Thông Tin Tâm Lý Chiến
nhiều tư lệnh các binh chủng khác.

Không có mặt tại phiên họp này là các tư lệnh sư đoàn và Thiếu Tướng Phạm Văn Đổng, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Đề đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân, cũng không có mặt tại phiên họp này của HĐQL vì lúc đó ông đang bị tạm thời ngưng chức và điều tra về tội tham nhũng. Tất cả mọi người hiện diện tại phiên họp này đã đồng thanh quyết định HĐQL tự giải tán.14, 15



Nắm Trọn Quyền

Khi tìm cách giải tán HĐQL, Thủ Tướng Quát chỉ xét vấn đề có một chiều:
HĐQL là một mối đe dọa cho Chính phủ của ông nên cần phải được dẹp bỏ. Ông không nghĩ đến, hay nếu có nghĩ đến thì chắc cũng không cho là một vấn đề quan trọng: đó là việc giải tán HĐQL, cơ quan quyền lực đã tạo ra Chính phủ của ông, làm cho Chính phủ của ông bị mất đi căn bản pháp lý của nó, và khi mà Chính phủ của ông gặp phải chuyện rắc rối về pháp lý không giải quyết được thì cơ quan quyền lực nào sẽ làm trọng tài để giải quyết khó khăn đó. Chưa đầy ba tuần lễ sau, chuyện rắc rối về pháp lý đó đã xảy ra và tạo nên một cuộc khủng hoảng nội các trầm trọng. Ngày 25-5-1965, Thủ Tướng Quát cải tổ Chính phủ; trong buổi lễ trình diện tân nội các tại Dinh Gia Long, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu tuyên bố không thể ký bổ nhiệm 2 vị Bộ Trưởng mới là các ông Trần Văn Thoàn và Nguyễn Trung Vinh với lý do là 2 vị Bộ Trưởng cũ là các ông Nguyễn Hòa Hiệp và Nguyễn Văn Vinh không từ chức.16 Quyết định này tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng. Cả Quốc Trưởng Sửu và Thủ Tướng Quát đều không chịu nhượng bộ để có thể đi đến thỏa hiệp. Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, do HĐQL thành lập ngày 17-2-1965, với Chủ Tịch là Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu, cũng bất lực, không giải quyết được cuộc khủng hoảng.17 Sau cùng, ngày 11-6-1965, trong một phiên họp tại Phủ Thủ Tướng có sự tham dự của Quốc Trưởng Sửu và rất nhiều tướng lãnh, cuộc khủng hoảng đã được giải quyết một cách hoàn toàn bất ngờ. Ông Bùi Diễm, lúc đó là Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng, đã ghi lại trong cuốn hồi ký của ông, Gọng kìm lịch sử, như sau: “Gần bốn năm chục người chen chúc nhau trong một bầu không khí căng thẳng. Cả ông Sửu lẫn ông Quát không ai chịu nhượng bộ, tình trạng bế tắc mặc nhiên đặt quân đội vào vai trò trọng tài. Lấy cớ rằng đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, họ đòi hỏi chính phủ và ông Sửu phải sớm giải quyết vấn đề. Lời qua tiếng lại mỗi lúc một gay gắt, bác sĩ Quát tuyên bố ngay tại hội trường là ông quyết định từ chức và giải tán chính phủ. Quyết định của ông đã buộc ông Sửu cũng phải từ chức theo, mở đường cho một giai đoạn mới trong lịch sử miền Nam, giai đoạn quân nhân nắm chính quyền.” 18



Dựa trên Tuyên Cáo giao quyền lại cho Quân Đội của Quốc Trưởng, Thủ Tướng và Chủ Tịch Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, toàn thể các tướng lãnh và tư lệnh quân binh chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã nhóm họp ngày 14-61965 và quyết định thành lập hai ùy ban: 1) Ùy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch (Quốc Trưởng), “thay mặt toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa điều khiển quốc gia”, và 2) Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch (Thủ Tướng), “phụ trách điều khiển hành pháp” 19

Với việc thành lập hai Ùy Ban nói trên, Nhóm Tướng Trẻ đã thành công trọn vẹn trong việc nắm trọn quyền điều khiển quốc gia một cách danh chính ngôn thuận. Họ đã làm được gì cho đất nước thì ngày nay, gần 50 năm sau, tất cả mọi người đều đã biết rõ. Hậu quả nhứt thời và trực tiếp là việc Hoa Kỳ leo thang chiến tranh tại Việt Nam bằng cách ào ạt đổ quân bộ chiến vào Miền Nam và oanh tạc liên tục Miền Bắc. Vào cuối năm 1965, quân số Hoa Kỳ tại V.N.C.H., từ con số 23.000 cuối năm 1964, đã lên đến 184.000 quân.20

Lâm Vĩnh Thế
______________________________

GHI CHÚ

1) Lâm Vĩnh Thế. Việt Nam Cộng Hòa, 1963-1967 : những năm xáo trộn. Hamilton, Ont. : Hoài Việt, 2010. Tr. 58.
2) Đoàn Thêm. Hai mươi năm qua : việc từng ngày (1945-1964). Los Alamitos, Calif. : Xuân Thu, 1989. Tr. 407.
3) Identification of the Young Turk group of military commanders and their views concerning General Nguyen Khanh and other matters, tài liệu của CIA được xếp loại Mật (SECRET), thuộc loại Intelligene Information Cable, đề ngày 2-10-1964, giải mật ngày 27-7-1976, gồm 4 trang. Tài liệu này có thể đọc nguyên văn (Full text) tại địa chỉ Internet dưới đây:
*ttp://www.vietnam.ttu.edu/virtualarchive/items.php?item=0410214005 tại trang Web của The Vietnam Center and Archive của Đại Học Texas Tech Universiy, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.
4) Identification, tài liệu vừa dẫn ngay bên trên.
5) Cable regarding the need for General Nguyen Khanh to solve the political problems in South Vietnam, since no top-level leadership exists in the government, trong cơ sở dữ liệu trực tuyến (online database) Declassified Documents Reference System (DDRS). Tài liệu của CIA được sếp loại Mật (SECRET), thuộc loại Intelligence Information Cable, đề ngày 1-10-1964, giải mật ngày 28-Aug-1997, gồm 5 trang.
6) Lâm Vĩnh Thế, sđd, tr. 92-93.
7) Lâm Vĩnh Thế, sđd, tr. 98.
8) Deliberations of Armed Forces Council (AFC) on 24 January, trong cơ sở dữ liệu trực tuyến DDRS. Tài liệu của CIA, không được xếp loại mật, thuộc loại Intelligence Information Cable, số hiệu TDCS DB-315/00241-65, đề ngày 24-Jan-1965, có thanh lọc (Sanitized), gồm 7 trang.
9) Lâm Vĩnh Thế, “Một nội các chết non của VNCH,” trong Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ vể Việt Nam Công Hòa (Hamilton, Ont. : Hoài Việt, 2008), tr. 118-129.
10) Lâm Vĩnh Thế, Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 111-112.
11) Đoàn Thêm. 1965 : việc từng ngày. Los Alamitos, Calif. : Xuân Thu, 1989. Tr. 35-36.
12) Đoàn Thêm, sách vừa dẫn ngay bên trên, tr. 38.
13) General Tran Van Minh’s concern over General Nguyen Chanh Thi’s uncoordinated actions, tài liệu Mât của CIA, thuộc loại Research Report, đánh số TDCS DB315/00654-65, đề ngày 23-2-1965, gồm 2 tr. Tài liệu này có thể truy dụng trực tuyến và toàn văn tại trang nhà của Virtual Vietnam Archive, thuộc The Vietnam Center and Archive của Texas Tech University tại Lubbock, Texas, Hoa Kỳ. Số hiệu của tài liệu này trong cơ sở dữ liệu của Virtual Vietnam Archive là Item Number F029100050300 {Document].
14) Armed Forces Council decision to dissolve itself, công điện Mật của CIA, thuộc loại Intelligence Information Cable, đánh số TDCS-314/06093-65, đề ngày 5-5-1965, gồm 3 tr. Tài liệu này có thể truy dụng trực tuyến và toàn văn tại trang nhà của Virtual Vietnam Archive, thuộc The Vietnam Center and Archive của Texas Tech University tại Lubbock, Texas, Hoa Kỳ. Số hiệu của tài liệu này trong Cơ sở dữ liệu của Virtual Vietnam Archive là Item Number F029100050940 [Document].
15) “Quyết Định số 03-HĐQL ngày mồng 5 tháng 5 năm 1965 tự ý giải tán Hội Đồng Quân Lực,” trong Công Báo Việt Nam Cộng Hòa, ngày 19 tháng 5 1965, tr. 1990.
16) Đoàn Thêm. 1965 : việc từng ngày, sđd, tr. 85.
17) Lâm Vĩnh Thế, “Cuộc khủng hoảng nội các tại V.N.C.H. vào cuối tháng 5/1965,” trong Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa (Hamilton, Ont. : Hoài Việt, 2008), tr. 130-152.

18) Bùi Diễm. Gọng kìm lịch sử. Paris : Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000. Tr. 245-246.
19) “Quyết định số 3 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,” nhật báo Chính Luận, số ra ngày 16-6-1965, tr. 1.
20) Westmoreland, William C. A Soldier reports. New York : Doubleday, 1976. Tr. 133.




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

3 Pages: V < 1 2 3
Reply to this topicStart new topic
3 Người đang đọc chủ đề này (3 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 22nd May 2018 - 07:12 AM