IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

3 Pages: V < 1 2 3  
Closed TopicStart new topic
> TrongDòngCảmThức....., TrầnVănNam
BenTreHome
post May 23 2011, 05:54 AM
Gửi vào: #41


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





Thơ với ngôn ngữ ẩn mật muốn đạt tới huyền ảo: Các nhà thơ chủ tâm dùng những loại từ ngữ hoặc thuộc về mật ngôn trong kinh kệ của tôn giáo Đông phương, hoặc vài hình ảnh dị thường có trong Kinh thánh, nhưng chỉ cốt gợi chất huyền ảo chứ không mang tính cách truyền giáo. Một số là những từ ngữ bí hiểm, khó hiểu, nhưng như vậy dễ làm cho ta cảm nghĩ thi ca thiên về trí tuệ. Hay nhất là những từ ngữ làm ta hiểu lờ mờ, đa trùng nghĩa, vây bọc bởi chất thơ về bí mật tạo hóa, bí mật về sinh vật, bí mật về địa chất, bí mật về các chủng tộc con người. Ta không hiểu hết trọn ý tác giả nhưng ta thâu nhận được nhờ cảm tính thấy các câu thơ có vẻ quyến rũ mơ hồ bằng thi ảnh chứ không phải bằng ý tưởng lạ hay từ ngữ ngổ ngáo. Chủ tâm làm thơ huyền ảo chứ không phải chủ tâm tôn giáo, nhưng như vậy cũng là thơ siêu hình nhắm đưa ta vào thứ khí hậu hư hư thực thực. Điều họ mong muốn là thi ca ảo diệu, mức độ tùy theo quá kỳ ảo hay chỉ mon men biên bờ, như Phạm Công Thiện trong bài Thơ cho khoảng trống: Chim dồng dộc hong thơ trên cửa sài, gái thổ gài tổ chim trên lưng ngựa... Chim dồng dộc bay về Nam phố... Chim dồng dộc bay về mùa lúa chín có sao phướn đi qua. Sao phướn đi qua. Lưu Hà trong bài Mây Sài Gòn bay hồi hôm: Bước ngắn là bước xôn xao/ Đâu đây thất lạc bước vào không tên/ Tồn kho một nhúm lãng quên/ Thôi thì gói ghém làm duyên luân hồi - Trần Thảo Lư trong bài Nhạn môn quan: Vén mây cười rộ rền nhân thế/ thốn tận đền đài linh miếu rung/ tróc rễ triều đình phong kiến lật/ xóa sạch ngàn năm sử cáo chung – Nguyễn Hải Chí (Chóe) trong bài Thăm thành Lisieux: Thăm giáo đường thánh nữ Thérèse/ Còn gặp lại xương bàn tay phải – Viên Linh trong bài Tạp thi: Chó tru không phải vì roi quất/ Chỉ bởi vừng trăng chiếu giữa trưa – Hồ Minh Dũng trong bài Sấm chớp: Khi đứng bên đường ngoái cổ lại/ Sấm gọi bên trời chớp một bên/ Lòng kia mưa dội trên ghềnh đá/ Một sấm đi về một chớp quên – Thành Tôn trong bài Kín chỗ: Lưới ta đầy mãn thường hằng/ Nhựa khô cuống lá, sợi giăng chiều tà... Ngậm lòng xoải cánh hiên dơi/ Ngày treo thân nặng đêm bơi hồn mù/ Động nào trú cõi muôn thu/ Chân thân đảo quạnh che dù thiên cơ – Hồ Thành Đức trong bài Hành phương Tây: Anh ra đi, đốt lửa lấp mặt trời/ Em ở lại, sững sờ xuân thay lá... Làm cánh chim theo vòng ô thước/ Níu mặt trời ở lại với đại dương – Đức Phổ trong bài Quê tình: mái tranh treo ngọn khói/ chiều rụng hững hờ... mẹ quẩn quanh chái rạ/nhốt đời trong lu nước giếng/ làm sao qua khỏi làng/ bởi lũy tre tình/ măng mãi – Thế Dũng trong bài Trường ca lục bát lên đồng: Đêm đau đầy đọa ngôn từ/ Cây xương rồng đổ, ấu thơ chết dài... Gian nhà cỏ lối rêu êm/ Trừng trừng cửa sổ tầu đêm vong tình... Nghe gà gáy, ứa tình đầu/ Ngày xuân trúng đạn. Cỏ rầu rầu đen – Nguyễn Phan Thịnh trong bài Gửi bạn: Những đêm sao đỉnh núi đội vương miện/ mặt trời lên/ cánh đại bàng chấp chới... tôi nghĩ rằng đi giữa nắng/ bạn với tôi sợ/ những người không có bóng – Nguyễn Bạch Dương trong bài Tư sự: Tin người vẽ chuyện viển vông/ Dạm mua cát lở về đong biển bồi... Ngỡ mình giữ chắc đường bay/ Thả con chim sáo ra ngoài lồng tre - Trầm Phục Khắc trong Bài thơ muộn: Không sương không cửa sổ không trăng/ Đồng loạt mùa hoa vô cảm lay/ Ghì hôn lặng lẽ đêm không ảnh/ Gặp vết nhau trong biệt tích này – Nguyễn Thanh Giang trong bài Trên một hành trình địa chất: Trên ba trăm mét còn gặp phù sa sông Hồng/ Gió phóng túng sải cánh bầy khủng điểu/ Sáu trăm mét nắng lùa phanh áo ngực/ Rừng già phơi đỉnh trọc cắt vào mây... Một ngàn hai trăm bốn mươi mét/ Biết đã qua suốt đợt biển tràn/ Những xác bọ Ba-thủy rồi không gặp nữa/ Gợn sóng này vỗ tận quê ai – Đạm Thạch trong bài Con cá cháy: Con cá duồn từ Biển Hồ ngon thế nào Bến Tre đã biết/ Hay cá chìa vôi Vàm Láng- Gò Công/ Tôi vẫn nhắc hoài con cá cháy/ Sống giữa dòng nước lợ miệt Trà Ôn/ [con cá thích trầm sâu giữa dòng mặn-ngọt/ ngoi ăn sương giữa đêm về sáng]... Nhiều năm rồi đã biệt tăm/ Cá đổi vùng hay lẽ gì tuyệt chủng? – Nguyễn Đạt trong bài Chất ngất rừng Đại Ninh: Rừng thông Đại Ninh xanh sốt rét/ Co ro cùng tôi bên chân cầu... Bởi đâu rừng Đại Ninh sốt rét/ Một đêm liêu vắng lưng chừng đồi... Mở cửa liêu vắng nhìn huyễn hoặc/ Bởi đâu rừng Đại Ninh chất ngất – Cung Trầm Tưởng trong bài Contretemps: Ngủ thuê ván mãn chợ chiều/ Sếu ngông cuồng báo mộng nhiều vân du... Quan san xưa mưa, lên yên/ Ngựa đi thiên kỉ chưa quên lối về – Thanh Tâm Tuyền trong bài Chia tay: Nắng quái hoặc soi dốc núi/ Rừng cây nội cỏ úa mỏi/ Phất phơ đám cháy muộn chiều hôm/ Có nghe lòng đá tảng héo mòn... Phải người trú ngụ Hang Cồn Mây/ Về trông trời thẳm vũng hão ngút/ Trong gió hỗn lộng rợ trí/ đắm giạt Làng-quê-không-nơi-đâu – Phạm Ngũ Yên trong bài Tình khúc những ngày tạm dung: Ta vẫn là phượng đỏ/ Cháy bên tình em khô... Đêm có loài cúc núi/ Vàng rực thềm chung cư – Đynh Trầm Ca trong bài Trong bóng tối: Có thằng buồn quá/ ngồi ăn trái tim mình/ rồi ôm bóng tối/ rũ cười như điên... có thằng buồn/ bỏ nghề làm thơ/ như khoét hết hai con mắt/ thấy đời là hư vô – Nguyễn Tôn Nhan trong bài Lạnh: Lạnh một tiếng gà trưa rớt ngập/ Nhân gian quạnh quẽ nhánh trơ xương – Lữ Quỳnh trong bài Giấc mới: Bầy quạ giăng hàng trên dây thép/ Những nốt nhạc đen giữa hoàng hôn/ chập chờn trùng vây mộ địa – Nghiêu Minh trong bài Như gió đời chim: Nếu mai về rừng thông mọc lại/Đừng hỏi vì sao nương rẫy cạn tình/ Hãy để con sâu ngủ trong hoa trái/ và mơ làm người ô nhiễm môi sinh – Trần Văn Nam trong bài Đền vách không: Lá già buông thõng tóc râu/ Những cây rẻ quạt đỉnh đầu nhô xanh/Tàn khô rũ, bẹ xếp thành/ Hình thù cổ quái tay khoanh đứng tròn/ Rách tua hứng dọi hoàng hôn/ Cây trong phố thị nghe mòn hoang vu/ Rừng xưa cách trở xa mù/ Uy nghi thảo mộc lù lù cõi quên/ Đành thôi, kiếp sống trăng thềm/ Đó đây đứng trụ xây đền vách không – Hoài Ziang Duy trong bài Đi: Trứng trăm con nở tràn bọt nước/ Mới hay sĩ khí thổi ngoài sông - Nguyễn Hàn Thư trong bài Thanh xuân thuở nọ: Bầy dơi chập choạng bay đo bóng tối/ Nghe tín hiệu mình gõ cửa thinh không – Cao hoàng Nhân trong bài Mưa rừng Trường Sơn: Phẫn nộ cơn hồng thủy/ Sầm sập rừng nguyên khai/ Cổ thụ gẫy, đá vỡ/ Đại bàng lộng cánh bay – Cao Mỵ Nhân trong bài Từ độ thuyền xa: Ô hay, tất cả đã hư không/ Từ độ thuyền xa bến nước ròng...Có đám bèo trôi ngầm gởi lại/ Hình ai in đậm mái chùa cong... Lặng lẽ mông lung thôi vĩnh biệt/ Áo người tu sĩ màn sông mưa - Lưu Hy Lạc trong bài Ở KT: Nghe đâu đó dường đầu cây/ giọng tu hú đầy chén mây đêm trời... Đi về thôi giở quẻ xâm/ ngồi lưng dốc mà mơ tầm nã nhau/ đã mười phương khua môi chào/ chỉ bầy quạ đứng nguyên sào lặng yên – Trân Sa trong bài Xử Nữ: bây giờ chỉ còn tiếng thở đều đặn của chúng ta/ trong khu vườn những bông hoa trắng/ trắng, trắng xóa- như giấc mơ bí mật của mẹ – Ngô Nguyên Dũng trong bài Mặc khải: nghe ra rờn rợn hồn thịnh phế/ hừng đông đọc hết bản trường biên/ bới tro khấn nguyệt tìm chân lý/ chuông rơi mòn hạt lấp biển không – Đào Trung Đạo trong bài Xuân tịnh vấn: xuân đến hay chưa? Ta muốn hỏi/ Mây trắng làm sao biết trả lời... Thềm sương hoa ngủ ai người đợi/ Nỗi nhớ làm sao biết trả lời – Phạm Việt Cường trong Bài huyền du: Lắng nghe ngoài thiên cổ/ lời phù hư thơm xuân... gầy xanh ngày mộng mị/ trôi dạt ngoài huyền du – Mai Thảo trong bài Ta thấy hình ta những miếu đền: Sao không, hạt cát sông Hằng ấy/ Còn chứa trong lòng cả đại dương – Tuệ Sỹ trong bài Không Đề: Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan – Nam Dao trong bài Chữ người tử tù: Viết vào lòng người cứng hơn nham thạch/ Nhát chém treo ngành/ cổ còn sót da... một thời từng vũng/ vũng nào vang bóng chốn nghìn thu? _ Đỗ Minh Tuấn trong bài Bút ký về cơn điên phiêu dạt và tìm gặp: Hồi tim đánh thức ba ngọn cỏ non/ Quăng chín dây leo buộc cánh chuồn chuồn... Ôi con chim lạnh thiên đường/ con sên bò nức nở/ trong nắng chiều thê lương – Nguyễn Xuân Thiệp trong bài Những giọt lệ đồng thảo: ngoài biển/ chiều dậy tiếng hải âu. kêu/ và gió/ có phải lúc ấy em nhìn thấy một cánh buồm vừa ra đi. trên nền xanh vô tận. màu của tranh Chagall... ngủ trên bậc thềm. dưới cây bông giấy/ ngủ ở sân ga/ thức giấc. trong chuyến xe lửa chạy như điên qua đồng cỏ tía - Bùi Vĩnh Phúc trong bài Mùa xưa: Đi trong rừng gió giật. Trời mưa/ Bầy ngựa đen sải qua đồi chớp... Những bông hoa đỏ. Mùi thơm bay trong trí nhớ/ Lũ thời gian như ngựa sải qua ngàn – Hoàng xuân Sơn trong bài Cây cũ: Lên đường đáo hạn thiên san quải/ Không cánh hoàng hôn lạnh vết người – Khế Iêm trong bài Cõi vạn chiều: Như thể khoảng khắc của huyên náo/ Trôi ngoài ngọn nguồn, thân như sương... Mặt trời cắn một chiếc đò lớn/ Có bầy chim bỏ ra biển Đông... Ta về thóc ấm giao mùa thở/ Uống hết một liều, tro cô liêu – Đỗ Quý Toàn trong bài Uống bữa chiều ở chỗ Mai Thảo: Người đi bương bả vào cõi chết/ Vẳng nghe sói rú trăng đồng hoang... Nếu một mai địa cầu chết khô/ Thì thảng thốt trên không là gió – Du Tử Lê trong bài Năm nghìn năm, tôi: rừng phân tay, chân đôi nơi/sông so vai cạn/ núi ngồi ốm, nhom...đêm thần trùng. Ngày sâu ăn/ tiếng con cú/ lạnh/ năm nghìn năm/ tôi – Huy Tưởng trong bài Đêm khát ở rừng nhiệt đới: Lá khát xanh/ Đêm khát trăng quẫy cựa sương tan/ Đất ngấm rền hồi chuông kiệt – Diễm Châu trong bài Ca ngợi bản thân: tôi bước chầm chậm/ những tầng mây cũng chậm lại theo tôi/ một lưỡi dao giải phẫu/ lùa qua những vách mây – Phan Huyền Thư trong bài Gủi, Ngày hôm qua: ý nghĩ/ con mèo già/ cô độc. Mắt quá sáng/ Buồn/ vạch khóc vào đêm - Vi Thùy Linh trong bài Vili I: Con chim Vili mở bình minh bát ngát/ Tất cả ngưng đọng tất cả xao động/ Em- nguyên tố thứ năm... Những câu thơ hát lạc gió bấc/ Tiếng chim Vili xuyên không gian – Hà Quốc Huy trong bài Không vấp nữa chia phôi: Cầm cái cung. Giương lên. Ngơ ngác/ Bắn vô tình, tên bay suốt hư vô... Cầm cái cung. Giương lên. Thầm đếm/ Lạy ông trời, tên đừng lạc đến đời sau -Mường Mán trong bài Mưa tím: đôi khi nhớ vút tận trời/ thành mưa trong núi bồi hồi mưa ra/ tím không riêng của hoa cà/ cả mưa cũng tím gọi là mưa mơ – Nguyễn Hoàng Nam trong bài Sinh nhật: Nếu tôi/ chụp mường tượng một tấm ảnh/ chỉ có cửa kiếng quán phở mờ hơi thở lạnh/ và mưa bay trắng xóa bên ngoài – Trần Nghi Hoàng trong bài Nụ cười em: những giọt lệ vẫn nằm sâu đáy biển/ là những giọt ngọc/ gói trong lòng loài ốc trai hai ngàn tuổi/ khép kín/ trái tim người mọc nhánh – Trần Thảo Lư trong bài Trời Bataan mưa lâu: gió cầm chừng cắt buốt xương da/ mưa rỉ rả rục lòng biệt xứ/ nước đổ liền bảy bữa không tha... Bataan mưa vùi dĩ vãng/ rừng im hiu hắt bóng tương lai – Hàn Song Tường trong bài Ngựa hồng: Ngựa hồng chạy bên bờ sông lạnh... Ngựa hồng đến giữa lòng em hoang dã...Đêm đã thiếp, ngựa hồng ngừng chạy... Trăng khóc mướt bên ngựa hồng mỏi vó... Ngụa hồng ngủ tròn một ngày trỗi dậy/ Nốt ruồi son vui trên ngực dị thường - Hoàng Phủ Cương trong bài Vào khuya: bữa tiệc da căng mặt trống/ bùng đêm lửa cháy ngươi mòn... thật sao tay hứng mưa đồng/ lạnh đò không chờ buổi quá giang/ ai gọi giữa đêm vừa tỉnh dậy – Diệu Tần trong bài Mây bay: Nắng chói chang táp xuống rừng tre/ Con rựa vang lên ngời ánh thép - Trần Kiêu Bạt trong bài Tâm cảnh: Giong thuyền ra đảo vắng/ Nuôi một đàn cá voi/ Cùng chúng đi dạo chơi/ Khắp bốn bề biển rộng... Ta kéo vầng trăng khuya/ Thắp giữa hồn lãng mạn – Nguyễn Tư trong bài Hạt nhớ: Dù chim biển hay chim trời/ Một mai rồi cũng xa lời yêu thương/ Hai tay ôm lấy thiên đường/ Bỏ đây hạt nhớ trong vườn lãng quên - Tường Vũ Anh Thy trong bài Lá II: Suốt 6205 triệu đêm, kể cả ngày/ dưới đáy hồ Châu Mỹ/ chiếc lá nằm/ chờ/ tịch mịch – Trần Đình Ngọc trong bài Buổi sáng ở Corona Del Mar: Mây che nắng hạ mặt trời/ Gió vi vu thổi những lời đại dương - Đặng Thị Quế Phương trong bài Thư về Ban Mê Thuột: Tôi muốn hỏi một người đang ở núi/ Có bao giờ nghe gió nhắn gì không?... Tôi muốn biết những hoa cà phê màu trắng/ Có thoát hồn trong vằng vặc những đêm trăng?
Ngôn ngữ huyền ảo trong Phật giáo và Thánh kinh: Ta đã thấy loáng thoáng trong các câu thơ trích dẫn ở trên hé lộ những âm vang từ tôn giáo, nhưng đa số các nhà thơ chủ tâm làm thơ ảo diệu, không chủ đích truyền thông diệu lý. Họ cốt tạo ra lời bí ẩn hơn sáng sủa, thứ sáng sủa trong huyền ảo mà thi ca tín ngưỡng nhắm tới. Vì nếu mục đích là thông đạt tín ngưỡng thì đâu cần mơ hồ đa trùng nghĩa một cách thơ mộng. Với chủ đích rõ rệt truyền đạo thì dành cho những nhà tu hành. Thơ của họ cốt truyền giáo nên không chủ tâm làm thơ bí ẩn cho ta có dịp sắp xếp một cách quy định vào một phạm trù văn học. Ngược lại, một số nhà thơ chủ tâm làm văn học thuộc phạm trù ngôn ngữ kể trên, và vì là thi sĩ nên tính cách sáng tạo phô bày rõ rệt trong khi sử dụng từ ngữ thuộc về kinh điển. Có thể nói họ là các “thi sĩ của ngôn ngữ tân kỳ về tôn giáo”. Đóng góp vào văn học gần như vô tình, một số nhà tu hành làm thơ thấm đẫm Thiền học: thay vì dùng từ ngữ tôn giáo, chỉ dùng từ ngữ đời thường mà giá như ta không biết rõ họ là ai thì có khi nhầm lẫn tưởng là thơ tình hay thơ tâm cảnh của thi nhân trần tục, như Tuệ Sỹ trong bài Trăng: Nhà đạo nguyên không khách/ Quanh năm bạn ánh đèn/ Thẹn tình trăng liếc trộm/ Bẽn lẽn núp sau rèm... Yêu nhau từ vạn kiếp/ Nhìn nhau một thoáng qua/ Nhà đạo nguyên không nói/ Trăng buồn trăng đi xa – Viên Lý trong bài Đường về quê cũ: Giọt sương khuya đọng ba ngàn cõi/ Tịch mịch trầm tư ngọn cỏ bồng... Ngày đi đêm lại sương đong trọn/ Vô lượng hà sa thế giới trung – Huyền Không trong bài Đài Đạo: Ta từ sanh tử về chơi/ Ngồi trên chót đỉnh mỉm cười với trăng – Thanh Trí Cao khi được tin mẹ vĩnh biệt: Tuổi của mẹ, đời so thế kỷ/ Kiếp vô thường chẳng có nghĩa chi... Lạy chư Phật! Soi đường chỉ lối/ Để người đi nhẹ bước thong dong – Thanh Hải trong bài Người yêu truyền kiếp: Ta xuống tìm em dưới cõi trần/ Người yêu truyền kiếp giữa trầm luân/ Đưa thuyền Bát Nhã qua bể dục/Vượt tử-sanh môn đến ngục cầm – Nghiêm Xuân Hồng trong bài Say vào hoa Tạng: Đáy thẳm không hư còn lồng lộng/ Nghiệp dĩ ngàn xưa mây trắng bay – Phạm Công Thiện trong bài Bãi sương: đèn hiên nhà bật đỏ/ chim bồ nong trốn gió/ biển lụt tràn bãi sương/ mưa buồn rơi phố nhỏ – Du Tử Lê trong bài Sơn-tự-thi: cám ơn người tụng kinh siêu thoát/ tế độ hồn tôi vó ngựa mù/ nghe như Địa tạng mà không phải/ bi lụy chân kinh Bát Nhã về... Sớm mai nhập định, chiều thương nhớ/ đêm tối ngồi khô thế Kiết-già – Thái Tú Hạp trong bài Yêu em mê muội: sớm ra đậm một chung trà/ vui cùng tuế nguyệt đất xa trời gần/ với tay thả ngọn phù vân/ đông tây nhất quán một lần yêu em/ chia nhau giọt lệ êm đềm/ biển sông cố quận đáp đền ơn nhau – Ngọc Hoài Phương trong bài Cuối bờ trần gian: Em còn lễ Phật trong chùa/ Ta ngồi chờ ở cuối bờ trần gian... Cõi tu nào cũng nhiệm màu/ Thì xin cứ để qua cầu sẽ hay – Mặc Đỗ trong bài Học đòi Haiku: Lão bà rắc nắm hạt/ Đàn chim sà xuống ăn/ Lão bà quay mình lại/ Đàn chim vù bay đi – Huệ Thu trong bài Tôi lên chùa; Tôi lên chùa/ đứng ngoài sân/ mùa thu lá trải/ cho trăng rớt nằm...tôi lên chùa/ ngó mênh mông/ cái hư cái thực/ là vòng khói chăng – Vô Ngã trong bài Mốt mai: Mưa rơi trong gió sôn sao/ Nửa bay bến hoặc, Nửa vào bến mê/ Một mai cá đớp dưới khe/ Trăng treo động biếc, Ta về trên kinh/ Hoàng hôn lững thững tiếng kình/ Bước chân sương khói, Ngoài tầng khói sương – Cung Vũ trong bài Kim Cang tụng: Theo nhau rời biển Bắc/ Quên làn gió phương Nam/ Mưa nắng buồn vui mất/ Chiều an trụ chân tâm – Lâm Hảo Dũng trong Bài gợi nhớ về Châu Đốc: Em ở bên kia trời cách biệt/ Mắt buồn vây kín núi Sam xa/ Ta như lữ khách không nhà cửa/ Ngủ đậu trong chùa mỗi tháng ba... Em khóc dòng sông đó phải không/ Đêm mơ về thấy chín con rồng/ Vẫy đuôi trên nóc Tây An Tự/ Đón Hội Long Hoa một tối rằm – Ngô Minh Hằng trong bài Tiễn chân nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu: Chúc anh tịnh độ Niết Bàn/ Siêu thăng, mười cõi mây ngàn, hạc bay – Thi Vũ trong bài hồi ký viết như thơ nhan đề Chùa: Hồi nhỏ... Hai người đàn bà ấy dẫn tôi đến chùa. Đặt tôi nơi triền núi. Từ đó tôi làm kẻ chăn mây, ngơ ngác trước bao thị phi phố chợ... Chùa có mùi trầm hương và những thế giới chưa khui. Tôi bước vào chẳng ai để ý. Rồi ra đi không một lời chào. Như dã tràng chẳng bao giờ hỏi sóng vì sao không xe cát – Nguyệt Thư trong bài Đi tìm: Từ đông tây chia cách/ tìm hoài chẳng thấy đâu/ chợt quay về tâm thức/ ta nằm trong mắt nhau - Lý Thừa Nghiệp trong bài Với tiếng Di-đà: Đất trời tám hướng mười phương/ Nghe chân ngựa gõ trên đường trống hoang –Trịnh Gia Mỹ trong bài Sang mùa: Bâng khuâng thấy mình bỗng lạ/ Xòe tay, một nắm hư không... Thấy ta từ trong tiền kiếp/ Vô thường một đóa thinh không – Trần Hoàng Hoa trong bài Theo dấu chân người: Lặng lẽ lá bồ đề xanh thẳm/ Từng đêm nhập định cắt Luân hồi – Trần Mộng Tú trong bài Cựu Ước: Trái tim quả táo đèn lồng/ Song song treo giữa mênh mông đất trời/ Anh ngồi nghe tiếng thơ rơi/ Con rắn Cựu Ước đến mời mọc anh/ Em trao nửa trái táo xanh/ Anh cắn tiền kiếp giữa vành môi thơm - Nguyễn Huy Phước trong bài Bi-Dong, lời tạ từ: Đêm Noel đảo mù sương đón Chúa/ Kỷ niệm đầy trong ký ức tươi xanh/ Con tàu cũ nằm phơi trên bãi cát/ Sáng mai nào dấu cũ có còn đây – Nguyễn Tất Nhiên trong bài Kẻ tự đóng đinh tim: vì chẳng được cầm tay nhau kể lể/ nên chuyện tình cứ thế, thảm hơn/ Chúa cũng cau mày ngắm nỗi cô đơn/ của một kẻ đóng tim mình trên thập giá – Vân Thy trong bài Thành: Cây trồng trước nhà thờ/ Xơ xác cành cây trụi/ Như những hồn hoang sơ/ Trước Chúa quỳ xin tội – Nguyễn Lập Đông trong bài Lễ chiều: Chiều nay đi lễ nhà thờ/ Thấy cây thánh giá đã mờ mờ nghiêng/ Giáo đường nắng xế xiên xiên/ Tỉnh ra thấy ngủ ngoài hiên nhà thờ.
Thơ siêu hình về cái chết và âm dương cách trở: Thơ thuộc phạm trù siêu hình này dĩ nhiên thê lương u ám, nhưng có bài tỏ ra tri thiên mệnh một cách bình tĩnh, đôi khi còn tỏ ra đùa cợt. Phần sưu tầm những câu thơ xếp vào phạm trù này không được dồi dào, vì mấy ai muốn làm thơ về bản án tử hình số kiếp dành cho mọi sinh vật, một thứ định mệnh Hữu-Tại-Thế (Être-au-monde) theo cách dùng từ ngữ của Sartre và Heidegger. Đặc biệt thêm buồn rầu là những bài thơ nói về cách trở âm dương, đáng lẽ thơ mộng tình yêu thì đây chỉ là những cảm thán sinh ly tử biệt. Dù để triết lý về điểm hẹn cuối cùng của mọi người, không trước thì sau, thơ cố làm ra vẻ tự nhiên, nhưng chất chứa trong đó nguyện vọng tồn tại lâu dài của đời người hữu hạn. Trừ phi những người đã quá chán ngán cuộc đời do bệnh nan y, do nỗi thất vọng ê chề những hệ lụy làm họ mong sớm được giải thoát. Vì vậy không hiếm thơ siêu hình về sự chết mang chất suy tư có vẻ bình tĩnh, như thơ Ngu Yên trong bài Kinh nghiệm sau khi xém chết: Nếu bạn có lần xém chết/ thử tính đời này đáng được bao nhiêu... tôi nói cho bạn nghe/ tôi đã có lần xém chết/ nên cuộc đời này bán rẻ để mua vui – Mai Thảo trong bài Không hiểu: Thế giới có triệu điều không hiểu/ Càng hiểu không ra lúc cuối đời/ Chẳng sao, khi đã nằm trong đất/ Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi – Mặc Thu trong bài Tiếng thầm: Lui về mộ huyệt chưa chôn cất/ Kìa ánh bình minh đã ló ra – Khoa Hữu trong bài Ba cái chết một nỗi buồn: Ngày cuối năm, buồn trải thảm, nhớ/ gọi ba mươi năm về ngồi cùng/ bạn bè ta sao như khói tụ/ như sương trời chưa đọng đã tan... mong mãi nương dâu xanh hóa biển/ bước đi về cỏ bãi thiên thu... Ba thằng chết còn ba đứa sống/ đứa mặt xanh đứa xám đứa vàng/ Xuyên ơi Uyển ơi Tường ơi mộng/bằng hữu ta chưa tụ lại tan - Trân Sa trong Bài hát cho người mới qua đời: Mới nghe người ấy hát đây/ Hôm nay nghe tin người đã về trong đất/ Một mình. Tan rã. Và biến mất/ Người sẽ hóa thân là cỏ, là cây?/ Là cát, là đá, là gió, là mây?/ Tỷ triệu năm sau lại được làm người/ Ẩn mật ấy nào ai được biết – Diên Nghị trong bài Đàn hummingbird trở về (Vĩnh biệt Duy Năng): Bên chân đồi xanh đỏ/ Hummingbird lượn vòng/ nơi người yên nghỉ đó/ Ôi! Phù vân! Phù vân!... Chim đã về đường cũ/ Người ra đi mù tăm/ Nở thành hoa uyên nguyên/ giữa khu vườn thánh thiện - Huy Phương trong bài Huế oan khiên: Mệnh sử một thời mảnh đất Chiêm/ Nghìn năm thương Huế nỗi oan khiên/ Nam ai một khúc ca đòi đoạn/ Trăng khuyết, nhang khuya, lạnh miếu đền – Khánh Hà trong bài Mùa xuân tiếng quạ: Hai con quạ bạc đầu/ Chia nhau bao ngày nắng/ Chia nhau bao ngày mưa/ Gọi nhau vang rừng vắng/ Đầm ấm những mùa xưa... Khi mùa xuân trở lại/ Con quạ vẫn một mình/ Mặt trời soi bóng lẻ/ Khản cổ gọi bạn tình/ Giữa trời đất lặng thinh - Kiệt Tấn trong bài Tiền giang Hậu giang: Nắng Tiền giang, mưa Hậu giang/ Nuôi tôi khôn lớn phù sa vàng/ Mai tôi về đất xin em rắc/ Xuống con sông Cửu nhúm tro tàn – Lâm Tường Dũ trong bài Cách ngăn: Lóng tay ngắn, đếm lui đếm tới/ Mà đốt thời gian mọc cứ dài/ Ngày đi cha mẹ còn xanh tóc/ Giờ cỏ xanh mồ mấy lớp thay - Bùi Nghi Trang trong bài Hỡi chim hoàng oanh: Dù anh nằm sâu dưới mộ/ Hay anh sống ở dương trần/ Có nghĩa là em còn yêu tôi/ Nên em cất tiếng hát – Nguyễn Hải Hà trong bài Chung mộng phù sinh: Ta như đá tự thời trầm tích/ Ngủ muôn đời tuyệt vọng đáy sông sâu... Tuồng ảo hóa kiếp người chung mệnh số/ Đường trăm năm đâu khỏi nghĩa trang buồn – Đoàn Văn Khánh trong bài Hóa kiếp tôi: Hai tấm ngắn. Bốn tấm dài/ Lầm lì tôi đóng quan tài cho tôi... Tôi làm cây súng hai đầu/ Đong đưa bóng chết qua cầu thế gian – Nguyễn Cát Minh Nguyệt trong bài Nhớ người đi: Mưa rơi mờ hư ảnh/ Vọng tiếng buồn thu không... Anh đã vào quên lãng/ em vẫn sầu miên man.
Thơ nhớ tiếc thanh xuân nhưng đậm chất siêu hình: Thơ nhớ tiếc thanh xuân thích đáng xếp vào loại thơ tình. Sở dĩ nhớ tiếc thanh xuân mà xếp vào phạm trù thơ siêu hình vì nội dung nói lên triết lý tổng hợp: tổng hợp sự phù du (đã là một phạm trù trình bày ở đoạn trên); và sự tàn tạ vào cõi chết (cũng là một phạm trù đã tình bày rồi); và sự ước vọng tươi trẻ ngàn năm (lại một phạm trù đã nói đến). Tính chất triết lý siêu hình ở các bài thơ nhớ tiếc thanh xuân mà ta đề cập ở đây như vậy là tròn một vòng hệ lụy của đời người: hát theo tiếng lá xanh reo vui, khóc theo tiếng lá già rơi rụng, hóa thạch để giữ mãi bóng dáng lá của ngàn năm. Tình cũng có, kỷ niệm ấu thơ cũng có, hiện thực sự cách biệt già trẻ cũng có, chân lý thời gian bất phục hồi cũng có, chấp nhận làm ra vẻ lạc quan cũng có. Gần với phạm trù thực tại lặp đi lặp lại, thực tại vĩnh hằng, nhưng thực tại miên viễn này thuộc thời gian tính, khác thực tại không gian tính của vật chất. Rốt cuộc thì thời gian tính hay không gian tính đều là hai mặt của bản thể vũ trụ, vì vậy thơ nhớ tiếc thanh xuân khởi từ giao tiếp nhân quần, chủ yếu là giao tiếp nam nữ, mà tiến dần về biên vực siêu hình, như Kim Tuấn trong bài Tháng giêng Sài Gòn làm thơ yêu em: Tháng giêng Sài Gòn anh làm thơ yêu em/ Buổi chiều mù mưa bay xa trời thành phố... Tháng giêng yêu nhau, anh thắp mặt trời hồng/ Soi sáng trong anh niềm tin yêu vững chãi – Hoàng Du Thụy trong bài Cuối mùa: Là cánh chim vượt ngàn trùng biển cả/ Bay tìm con trống buổi đầu đông/ Anh nào biết cánh chim chiều lạc lõng/ Vẫn bay hoài giữa cõi mênh mông – Hà Thượng Nhân trong bài Vẫn thấy mùa xuân ăm ắp đầy: Ta nghe tiếng trẻ ngây thơ hát/ Ta thấy chim trời hớn hở bay/ Mừng nhau chẳng có cà phê đậm/ Vét túi còn nhúm thuốc lào say... truyền lửa cho nhau chung nửa điếu/ Mai kia nhớ mãi những hôm nay – Nhã Ca trong bài Đi trong tuổi nhỏ: Trong khu vườn trẻ thơ của nàng/ Có một con đường/ Con đường trôi ra biển/ Với hai hàng phi lao/ Lặp lại những lời ru của mẹ/ Phi lao và những ghe cá mắm/ Mặn nồng như hơi thở/ Đến bây giờ chưa nguôi – Nguyễn Xuân Hoàng trong bài Những hang động của tuổi thơ: Trong thành phố đó, tôi đã nhìn mình mòn chết/ Mất tích, sủi tăm, tan biến như một hột muối trong biển... Cũng may/ đứa bé đó là tôi có được một bãi cát làm giường, một rừng dương làm nhà, một biển xanh làm người tâm sự – Trần Dzạ Lữ trong bài Ngày vẫy biệt khu rừng mơ tuổi nhỏ: Chính nơi đó tóc em bay từng sợi/ Cho ta thầm yêu mây của trời cao/ Tình rất dại nên tình chưa dám nói/ Hồn tơ trời chưa buộc chỉ thương đau – Phan Xuân Sinh trong bài Nhìn lại sau dĩ vãng: Tiếc gì nhau một nụ cười/ Sắc hương rồi cũng một thời nhạt phai/ Cầm bằng sông chẻ làm hai/ Nửa ngong ngóng, nửa miệt mài ra khơi – Chu Vương Miện trong bài Vấn thuốc hút: Nguyễn Bính có nuôi đàn bướm trắng/ Bay qua bay lại giậu mồng tơi/ Bỗng dưng vô cớ bay biền biệt/ Mới hay đã thành lụa tơ trời – Kiệt Tấn trong bài Em áo chim: Con chim nho nhỏ/ xuống ăn bông cỏ/ chim ngước mỏ nhìn/ tình em áo đỏ... con chim vành vành/ trốn giữa lùm chanh/ chim kêu tha thiết/ tiếc em áo xanh... con chim giang đầu/ mổ lá sầu đâu/ chim run lưỡi đắng/ nhắn em áo nâu... chim vàng cánh nhỏ/ em nhỏ áo vàng/ khoai tím vồng lan/ em mang áo tím... anh gọi thao thức/ chim ơi chim ơi/ em ơi em ơi/ chim ơi chim ơi - Phù Sa Lộc trong bài Chia tay người con gái Cần Thơ: Ta uống đỏ chiều môi/ Ta uống vàng chiều rượu/ Chắc chắn say lắm rồi... Chia tay người con gái/ Tóc dài lưng mượt mà/ Sao ta buồn đến vậy/ Em tuổi bằng con ta – Trần Yên Hòa trong bài Màu cố quận: Nhưng suốt đời, ta mãi là ta/ Một hình bóng tưởng chừng bất diệt/ Ơi em, em như là truyền thuyết/ Cố quận buồn sương phủ núi đồi xa... Ta về, qua quận lỵ ngùi thương/ Tưởng em đứng ba mươi năm và khóc – Trần Phù Thế trong bài Còn dài cuộc chơi: Nhìn quanh tuổi quá năm mươi/ Se se râu bạc cọng đời lung lay/ Đưa bàn tay, ngắm bàn tay/ Thấy đâu chỉ số còn dài cuộc chơi – Hồ Trường An trong bài Quạnh hơi thu: Thương em áo lục phai hồng/ Xuân theo con nước cạn ròng, bãi phơi - Vân Long trong bài Thu cảm: Em như con gió thổi qua ngang/ Trẻ, đến làm đau cả lá vàng... Xòe ra đôi sợi mang màu nắng/ Bất chợt mùa thu vương kẽ tay – Phan Thị Ngôn Ngữ trong bài Trang trải: Gian phòng vắng đèn vàng leo lắt/ Bóng anh ngồi trầm mặc đêm sâu/ Tóc hoa râm giờ trắng mái đầu/ Thời son trẻ ngậm ngùi đi qua cửa – Vũ Quỳnh Hương trong bài Khi ta đến và Khi ta về: Ôi các em đừng quên mang rượu đào/ Đưa ta về một chỗ để chiêm bao... Khi ta về ngất ngưởng mấy đường bay/ Thơ ở lại nhớ ta sầu nhỏ nhẹ – Đèo Văn Trấn trong bài Mưa về bản sáng: cây thông còn khắc bao tâm sự/ kỷ niệm xuân thì cuối dốc xa/ thác văng dội vào miền ảo giác/ cà phê mấy giọt biết ta già – Trần Đình Ngọc trong bài Ngông cuồng: trả cha trả mẹ võng nằm/ trả cho chú cuội trăng rằm đầu non – Sương Mai trong bài Chút gì hạnh phúc: chút gì hình như cô liêu/ Khi thời gian úa tiêu điều trời thu/ Chút gì hình như sương mù/ Bướm hoa mờ ảo, biển dâu cuộc tình – Mạc Phong Đình trong bài Dấu xưa: ngày tháng hạ em bỏ trường xa lớp/ riêng ta về giấc ngủ chẳng bình yên... em gái nhỏ tóc ôm bờ vai trắng/ dấu tương lai trong nét vẽ cung đình – Quan Dương trong bài Mưa: Tò mò mở cửa ra coi/ Thấy mây đen cõng bầu trời lang thang/ Ước gì em: sợi mưa ngang/ Để tôi: mưa dọc, chận đàng cung nghinh – Tường Vũ Anh Thy trong bài Trên sông khói: xuân nay em đâu/ tóc xưa không còn nữa/ mưa hôm kia chở khói qua sông – Kiêm Thêm trong bài Về thăm lại những chiều xuân: Rồi tôi sẽ về thăm những chiều xuân/ một góc ga cũ/ phố xưa... mái đình La Chữ/ vẻ buồn bã im lìm của cây mù u/ một lòng hoài cổ – Ngữ An trong bài Ngẫu nhiên: Ra vườn hái mấy chùm hoa cỏ/ Hái thêm sương biếc ở trên cành/ Khi không chợt thấy chùm hoa nở/ Giật mình nhớ lại bóng xuân xanh – Hồ Công Tâm trong bài Mộng hay thực: gặp nhau còn ngỡ trong mơ/ nhịp cầu tay nắm còn ngờ gió bay/ hỡi người tay chửa cầm tay/ mà như thân thiết bao ngày tháng qua – Vương Nguyện trong bài Mưa buổi sáng ở Garden Grove: Giọt lăn bên gót chân người/ Giọt đi trên phố, giọt ngồi dưới hiên... Mưa xưa. Phố cũ ngậm ngùi/ Thôi xa mưa. Đã nửa đời thanh xuân – Dã Thảo trong bài Mùa xuân áo đỏ: Paris xuân về khu Latin/ Tách cà phê đắng đuổi ưu phiền/ Khói thuốc xanh bay vờn nắng ấm/ Em có mơ thời ta sinh viên... Mùa xuân áo đỏ mùa xuân mới/ Tươi thắm như ngàn đóa dã lan.
Thơ siêu hình hải ngoại: bóng người tử sĩ sau làn khói chiến tranh- Trên là những sưu tầm thơ siêu hình của mọi thời qua chín phạm trù có tính cách khuôn khổ cho dễ đặt vào các câu thơ sưu tầm. Còn một phạm trù thơ siêu hình của mọi thời nữa, nhưng chưa sưu tầm được các câu thơ thích đáng, đó là thơ kinh dị ma quái. Có lẽ các thi nhân Việt Nam ít hứng cảm sáng tác loại thơ này. Nếu họ nói về ma thì chỉ phảng phất linh hồn có vẻ liêu trai như trong vài câu thơ của Tản Đà, hiếm khi có thơ quỷ hút xương như thấy trong thơ thời trẻ của Chế Lan Viên. Thi ca hải ngoai, nếu có vài câu thơ như vậy, thì đó là thơ siêu hình của mọi thời. Thi ca với bóng người tử sĩ xuất hiện trong thơ hải ngoại chỉ là sự nhớ tiếc bạn bè chết trận trong cuộc chiến tranh đã qua, và nhớ tiếc thuộc tình cảm, không phải cụ thể viết về bóng ma. Thi nhân tạo ra một màn khói huyền ảo cho bóng người tử sĩ hiện về bên cạnh những chiến cụ hư hoại lăn lóc, làm cho ta thấy dấu tích chiến tranh nói lên tính phù ảo, giống như hình ảnh chỉ còn lại hoang vu của chiếc cầu xe lửa chiến lược sụp đổ trên sông Kwai ở Thái Lan thời Đệ nhị thế chiến. Có thi nhân hồi ức cái chết như định mệnh siêu hình của người bạn thế chân mình trong thời gian về phép. Có người tưởng tượng hồn tử sĩ hiện về trong nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa nay bị bỏ phế. Có người trở lại Cao nguyên, nơi khởi đầu cuộc rút lui chiến lược đầy sai lầm đưa tới sự sụp đổ Miền Nam, trở lại để khóc bạn bè gục ngã tại đây. Lại có thi nhân rót rượu cúng hồn tử sĩ được cường điệu với gió hú rùng rợn trong những đêm trăng nơi sa mạc định cư. Người nũa, cường điệu vùng tam biên hoang dã và làm ta không phân biệt được hồn tử sĩ của phe nào, có thể lại làm ta lầm tưởng là tiếng than của người Thượng đòi ly khai, vì trong thơ nghe vang vọng tiếng quốc kêu và lãng đãng bóng ma Hời. Và đặc biệt, một người so sánh những lô cốt thời chiến tranh đã di hận vào tâm hồn hậu chiến như những bướu ung thư trong thân thể. Trên là lược qua nội dung thơ của bảy người, thơ của họ riêng trong những bài sau đây thích đáng xếp vào phạm trù thơ siêu hình hải ngoai: Trần Thúc Vũ trong bài Phù ảo: Năm xưa ta vào trận/ Lòng như mây bốn phương/ Khói tanh ngày lửa đạn/ Tử sinh coi bằng không... Lửa bùng lên tháp pháo/ Đất lẫn trời ngổn ngang/ Nào đâu là Phù ảo/ Nào đâu là thép gang... Khuya từng khuya vuốt mắt/ Mênh mông đêm hỏa châu/ Bốn mươi năm lửa uất/ Ta đâu hề! Ta đâu – Luân Hoán trong bài Bàn giao cho bạn địa bàn. Bàn giao cho bạn nghĩa trang vô tình: từ đồn Đức Hải ta về phép/ bạn thế chân ta kích xóm đêm... đâu có chỗ nào vừa mắc võng/ nằm hoài cũng mỏi cái lênh đênh... bạn mới ngả lưng lim dim mộng/ cạc bin, bảy chín, lẫn AK/ trời xanh thăm thẳm hồn nhiên quá/ phận số dành riêng mỗi chúng ta?... ta trở lại đồn qua xóm cũ/ rút colt bắn lẫy cái lu sành/ nước tràn, lu vỡ, trời, ta khóc/ bóng bạn chập chờn đóm lệ xanh... Nam ơi, Đức Hải trưa nay vắng/ biển lặng ngồi không xót phận mày/ ngày mai nhổ trại lùng Đức Phụng/ đến lượt ta hay đứa nào đây? – Thái Anh Duy trong bài Thăm nghĩa trang: Tịch dương đêm mở trăng vào/ Đống xương ẩm mục, bầy sao tỏ tình/ Thần linh cúi mặt u linh/ Tan hoang thổ địa, ngả nghiêng nấm mồ... Đắng cay thắm một cuộc cờ/ Đấu trường khánh tận đôi bờ có hay... Lom khom tượng đá trăng khuya/ Tâm mang nón sắt nắng mưa giữa đời/ Bây giờ hồn đá lâu rồi/ Quãng không/ lòng có ngậm ngùi bãi không – Phan Ni Tấn trong bài Quê núi: trèo lên đỉnh dốc, đời sẽ thấy/ một rùng. một núi. một quê hương/ thảng thốt kêu bầy, chim ông lão/ than già như cây cội tà dương... bùi ngùi quê khóc không thành tiếng/ đất đỏ tràn đi khắp nẻo đường/ nắng bụi mờ trời, mưa lầy đất/ con chó còi nhai miếng thảm thương... quê khóc giùm anh hùng mạc vận/ mùa mưa gục ngã ngoài chiến trường/ mảnh hồn tan tác bay về núi/ sống lẫn vào trong nỗi tiếc thương... trèo lên cây sấu, cây cơm nguội/ hái xuống ăn cùng trái gió sương/ nhìn lung trên nẻo đời bay bụi/ kẻ còn, người mất, đứa tha hương – Bùi Ngọc Tuấn trong bài Đêm sa mạc, say dâng anh hùng tận: giữa cuộc độc hành vào sa mạc/ rót đầy ba chén óng vàng trăng/ chén này tưới hất trời thăm thẳm/ hồn xưa ngươi vút ánh sao băng... bạn bè thuở trước mang binh nghiệp/ nay đã thành ma rú chiến trường... đêm vào sa mạc rót ba chén/ một để mời trăng, một cúng hồn/ những anh hùng tận khi trời phụ/ một uống nghẹn ngào cho lệ tuôn – Vũ Đức Tô Châu trong bài Thu Tam Biên: Tam biên sơn mây ngục/ Rừng Tam biên kín đục sương mù/ Ta về A-Sầu mấy bận/ Mục tử khổ sai, nhớ trận khinh thù... Bên trời viễn xứ/ Tam biên ta về xót nỗi quan san/ Mây thu giăng không trăng A-Lưới/ Đêm Xuyên-Khoảng, Xiêm- Rệp, A-Sao... Thương biết mấy những đồi hoang dã/ Bóng tàn thu tợ bóng ma Hời!... Ta định vị: Tây phương triền dốc thoải/ Vẳng bên trời/ Quốc! Quốc! gọi mùa rơi – Lê Thị Huệ trong bài Lô cốt: Tôi lớn dậy cùng những lô cốt chắn đường/ Tử thủ phố phường ướt những đêm kinh con gái/ Máu chảy lai láng trong bản tin chiến trường buổi sáng... Lo cốt! lô cốt! Những hàng rào kẽm gai! Gai đâm ngang mặt trời quê hương chiến tranh/ Tôi không được biết mùi hương của những nụ hoa chanh/ Nở cốm xanh trời Việt Nam những trưa hè lưu tán... Họ để lại lô cốt những cái bướu trâu/Mọc u óc khắp tử cung tôi thời hậu chiến/ Chúng nổi tự bao giờ làm sao tôi hiểu thấu/ Những lô cốt còn lại từ một cuộc chiến tranh.
Thơ siêu hình hải ngoại: bóng ma trên đường vượt biển- Đây là phạm trù thứ hai, cũng là phạm trù cuối, của thơ siêu hình hải ngoại. Nếu chỉ nói về vượt biên, nối tiếp sau thời kỳ di tản 1975, và xảy ra trước thời kỳ ra đi có trật tự, thì đã có một chương riêng trong sách dự thảo “Thi nhân Việt Nam hải ngoại”, đó là chương “Những giai đoạn rời khỏi đất nước”. Ở đây chỉ giới hạn thuộc vào phạm trù các câu thơ siêu hình của thời vượt biên mà thôi, nói rõ là những câu thơ phảng phất hồn ma bóng quế của những người không may bỏ mình trên biển vì bão tố, chết vì đói khát khi thuyền trôi giạt nhiều ngày, mất mạng vì bọn hải tặc. Oan hồn họ có thực sự về dương thế theo gót người tỵ nạn hay không, ta nghe có vài trường hợp được kể lại cũng khá huyền hoặc. Nhưng trong thơ hải ngoại, hồn vất vưởng chỉ là hệ quả tính giàu tưởng tượng triển khai từ lòng thương yêu: người may mắn còn sống như thấy hình bóng thân nhân không may của họ trở về; có trường hợp khi họ đã định cư yên bình ngó lại những người đang bôn ba kém may mắn; có trường hợp cùng thời vượt biên gặp nạn và đã được cứu vớt: vào những đêm mưa gió nghe khắc khoải tiếng ai ngoài trời rừng núi hoang dã quanh các trại tỵ nạn, hoặc vào những đêm trăng mường tượng có bóng oan hồn lang thang trên bãi biển rải rác những xác tàu thuyền phế bỏ, như Mai Thảo trong bài Chỗ ấy: Con chim biển bay đi rồi lượn lại nhiều vòng/ Biển phẳng tắp chim thấy gì chỗ ấy?/ Có phải ngàn thước thẳm dưới cánh hải âu/ Con chim trời ấy thấy/ Một cuộc đời vượt biển đã chìm châu - Đỗ Quý Toàn trong bài Đêm mơ thấy người trên biển: Em té chơi vơi đầu ngọn sóng/ Rồi chợt bay trong cõi tĩnh không... Sóng hả miệng nuốt thân trần lụy/ Bỗng dưng hồn chơi vơi thần phù... Em chợt về đêm qua cánh bướm/ Lênh đênh vạt áo vẫn mờ sương/ Gió từ sa mạc trăng về biển/ Mà hồn lang thang đâu quê hương – Viên Linh trong bài Lưu vực điêu tàn: Lưu vực điêu tàn ở biển Đông/ Xương bầy như thú cháy rừng hoang/ Nhưng rừng không cháy, nào đâu thú/ Người chết thân chìm Thủy Mộ Quan – Ngô Tịnh Yên trong bài Hành phương Tây: Thả vào núi con quốc quốc/ Lại oán mình cái gia gia/ Để buồn đỗ quyên nhớ nước/ Hộc máu trong mùa thu qua... Thả tro tàn ra biển Đông/ Hận mình đem đời trôi nổi/ Chỉ oan uổng con dã tràng/ Suốt đời không oán không hối... Thả chiều cho bìm bịp kêu/ Nghe mênh mang đau tiếng quạ/ Nhìn mây dạt về phương Tây/ Thấy mình hoa lau trắng xóa – Nguyễn Thanh Châu trong bài Mộ khúc biển: Chuông cầu hồn từng chiều vẫn đổ/ Động bóng ngàn mây đỏ thảm thê/ Tiền thân em hẳn là ngư nữ/ Nên biển tang xóa kiếp em về.

(Đăng trong Giai phẩm Xuân Ất Dậu 2005 của Nhật báo Người Việt)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 23 2011, 06:50 AM
Gửi vào: #42


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





63- Mùa thu mênh mông và
Mùa thu cục diện trong
thi ca hải ngoại




Mùa màng thời tiết, kèm theo là những lễ hội. Nội dung thi ca hải ngoại lấy bối cảnh trong đó như cùng lúc tương ứng với ba chủ đề: thơ tình hoài hương, thơ hội nhập vào đất mới, và thơ siêu hình của bao la trời đất. Ví dụ vào mùa xuân lễ hội Tết, thơ hải ngoại đã từng đóng góp phong phú trên các giai phẩm xuân của Tạp chí văn chương, nhật báo và Tuần báo; nếu ta chịu khó sưu tầm thì cũng đã đến hàng trăm bài trong suốt 30 năm (1975- 2005). Nhà thơ nào cũng đều có đôi ba bài liên hệ đến xuân quê hương, xuân nơi xứ người, xuân tuần hoàn mạch sống hay xuân của thời gian trôi mãi. Còn vào mùa đông tuyết rơi trắng xóa như ở bên Anh bên Pháp hay ớ các tiểu bang phía Đông Hoa Kỳ, làm sao không có các bài thơ ngồi bên lò sưởi nhớ nắng vàng đồng lúa bao la với xóm làng yên tĩnh, làm sao không có những bài thơ Mùa Giáng Sinh đi lễ với người tình nơi các thành phố quê nhà thuở xa xưa, làm sao không có thơ siêu hình của các nhà thơ tín ngưỡng tôn giáo. Và vào mùa mưa ở vài tiểu bang Hoa Kỳ- hiếm có mưa suốt tháng ở vùng khí hậu gần sa mạc như California nhưng không hiếm như ở tiểu bang Washington hay tiểu bang Florida hay thủ đô Hoa Thịnh Đốn- làm sao mưa tầm tã không hằn vết trong vài bài thơ hội nhập buồn trong những năm đầu nơi xứ người. Nhất là những người Việt sống với nghề đánh cá ven biển Texas thuộc vịnh Mexico, họ đã và đang ra khơi đánh bắt trong những ngày mưa gió, và ta không quên tin tức trên các báo Mỹ viết về những năm đầu mới định cư họ còn bị kỳ thị bởi người địa phương. Mùa mưa làm bối cảnh cho hội nhập buồn những tháng ngày lam lũ khi mới đến định cư, những câu thơ của Giang Hữu Tuyên sáng tác tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn làm ta biết có những ngày mưa dai dẳng tại đó, tương phản với mùa hoa anh đào nở rộ vào mùa xuân bên dòng sông Hudson. Mãi đến khi ông mất, bài thơ này mới được phổ biến rộng nhờ nhật báo Người Việt ở Nam California. Điều đó nói lên sự kiện báo chí Việt ngữ như những ốc đảo trong nước Hoa Kỳ rộng lớn và trong thế giới cách ngăn bởi đại dương, viêc sưu tầm thơ hải ngoại chỉ có giới hạn. Bài thơ “Trời mưa đi phát báo” đại diện cho thơ về hội nhập buồn khi mới định cư nơi xứ người, tương đương giá trị văn học phản ánh thời thế như bài thơ “ Mai mốt anh về” của Cao Tần. Bài thơ của Giang Hữu Tuyên sau ngày mất của ông hầu như ai cũng biết, nên không thể không ghi lại trọn bài như một chứng tích văn học:

TRỜI MƯA ĐI PHÁT BÁO
Chiều ngả năm đường năm bảy ngả
Ngả nào cũng ướt giọt mưa rơi
Bao mùa mưa đã im giông bão
Sao nước trường giang vẫn khứ hồi

Mười mấy năm làm tên phát báo
Lòng buồn theo thành quách xa xưa
Những trang tin dội từ quá khứ
Rớt ngập ngừng cùng những hạt mưa

Mưa lót ngót đời loi ngoi mãi
Sáng chưa đi, chiều lại mưa về
Mưa ngả năm từ năm bảy ngả
Ngả nào cũng mưa và mưa thôi

Xấp báo trên tay vừa ướt hết
Vậy mà cứ đứng dưới mưa bay
Hình như những mùa mưa thuở trước
Đang về làm ướt trái tim ai.


Mùa màng thời tiết và lễ hội vào mùa thu, mùa gợi hứng nhiều nhất cho thi ca, chắc chắn có nhiều dấu ấn trong thơ người Việt xứ người. Đặc biệt nơi miền Nam California, nơi không phải hoàn toàn thuộc khí hậu ôn đới như miền Bắc California; mà là khí hậu bán ôn đới, khí hậu bán sa mạc, nên giữa tháng chín dương lịch trời vô cùng oi bức với những ngày có luồng nhiệt đi qua hết sức nóng, với những ngày có gió sa mạc Santa Ana thổi đến rất khó chịu. Nhưng cũng là nơi tiềm phục sẵn những hàng cây phong ôn đới, những rừng thông thuộc xứ lạnh, những vùng cây aspen mau chóng chuyển thành lá đỏ vào mùa thu. Tất cả như sẵn sàng thuộc về mùa thu. Quả là như vậy khi ngày thu-phân 22 tháng 9 trở về thì ngay tức khắc thời tiết sa mạc chuyển liền sang mùa lạnh ôn đới. Trên đường phố thấp thoáng có người mặc áo lạnh, tuy nhiên chưa phải tất cả ai cũng thấy cần thiết khoác kín như khi vào giữa mùa thu bước sang đông. Mùa thu California càng thêm gợi cảm do từ những bài hát sang thu trong chương trình phát thanh Việt ngữ 24 tiếng mỗi ngày tại miền Nam California. Đang đi trên xa lộ vào buổi sáng khoảng chín mười giờ, lúc mà bầu trời huyền ảo có màn sương mù trên các hàng cây, khí hậu mát dễ chịu, nghe bài hát mùa thu của nhạc sĩ Thanh Trang mới thấm đẫm chất siêu hình của trời đất “với thu mênh mông” để rồi “tiếc thu mênh mông”: “Nhớ những đường về sương rơi mịt mùng/ Mắt biếc là màu riêng tôi lạnh lùng/ Thương cho người về cô đơn với bóng/ Mây chiều lạc loài đã xuống/ Với thu mênh mông... Nhớ mãi đường chiều thu rơi ngàn trùng/ Tóc đã lạc cùng mây trôi ngại ngùng/ Đêm mong người về cho vơi giá buốt/ Nghe hồn từng mùa đã khuất/ Tiếc thu mênh mông.” Nội dung bài hát này thuộc về tình ca, nhưng ta cảm được chất siêu hình của trời đất qua từ ngữ mênh mông lặp lại mấy lần, và hình như điệp khúc mênh mông gây ấn tượng nhất cho người thưởng thức.
Ta đặt câu hỏi: Có phải sở dĩ thính giả cảm được tính chất vừa cao vừa rộng vừa huyền ảo của mùa thu là nhờ âm điệu của nhạc vút lên, nhờ tiếng hát của Họa Mi của Khánh Hà của Thu Phương..? Nghĩa là dù bằng những lời khác thì ta vẫn cảm thấy chất siêu hình đó, không nhất thiết nhờ từ ngữ mênh mông. Có đúng như vậy không? Ta thử trám vào những nốt nhạc đó bằng các chữ “bao la” hay “cao xa”, như thế thì không hề lệch âm điệu, vậy tại sao ta không cảm được tính chất mênh mông của trời đất vào thu. Ta có thể nói từ ngữ mênh mông chẳng những chỉ trỏ sự vật mà còn chính là sự vật, từ ngữ không là phương tiện phát biểu thực tại mà còn chính là thực tại. Từ ngữ là hóa thân của bản thể. Một ví dụ khác: từ ngữ chỉ về số lượng “ngàn” khác với từ ngữ số lượng “nghìn” (không kể ngàn có nghĩa là rừng như cây ngàn, lên thác xuống ngàn). Ngàn khơi chẳng hạn là từ ngữ chỉ số lượng trên đại dương, khi đọc lên có âm hưởng biểu hiện cõi miền lớn rộng, tức là chữ ngàn khơi chất chứa bản thể ngoại giới bao la. Còn nghìn xưa là từ ngữ chỉ số lượng thời gian, khi đọc lên có âm hưởng biểu hiện bề sâu quá khứ, tức là nghìn xưa chất chứa bản thể độ dầy của lịch sử. Nếu ta dùng chữ ngàn xưa thì cũng được, cũng đồng nghĩa, nhưng ta không đồng cảm, không thị kiến thấy mịt mùng năm tháng lùi sâu trong dĩ vãng.
Ta lại đặt câu hỏi: Nếu ngoại giới không phải vào mùa thu, trời đất không phơn phớt sương mù, khí hậu không mát lạnh, không phải là lúc nhàn du chạy xe thảnh thơi trên xa lộ, liệu ta có cảm thấy mùa thu mênh mông khi nghe các lời hát của nhạc sĩ Thanh Trang. Thiếu hoàn cảnh như vậy, quả là ta không cảm được mùa thu. Giả dụ như lúc viễn hành trên vùng sa mạc ngút ngàn hay viễn du trên đại dương không bờ bến, thay vì mênh mông bao gồm chiều rộng và chiều cao thì ta chỉ cảm thấy một chiều bao la mà thôi. Còn nói gì khi ta cư ngụ nơi thị tứ chật hẹp, hẻm phố che khuất bầu trời xanh, thời tiết oi bức không phân biệt mùa: ta sẽ thấy nhân giới vật lộn với khó khăn đời sống thay thế cho nhiên giới mênh mông của mùa thu. Cho nên ngoại giới mùa thu, từ ngữ nghệ thuật, và đời sống kinh tế của con người phải hòa điệu với nhau.
Ta lại đặt thêm câu hỏi chót: Nếu như lời hát mùa thu mênh mông ta đã có, âm điệu lên cao và lan xa đã gắn liền, ngoại giới mênh mông đang ngoài kia, nhưng sức khỏe của ta đang suy sụp, liệu ta có cảm nhận được mùa thu đang quay về hạnh phúc. Chắc chắn là không. Vậy là thêm yếu tố tình trạng cơ thể của con người, có lành mạnh thể xác thì mới tiếp nhận những ca ngợi cuộc đời, tâm hồn mở cửa về phía siêu hình cao xanh. Nếu quá suy sụp vì bệnh tật không hy vọng cứu chữa thì tâm hồn chỉ mở cửa về phía siêu hình thần bí hay huyền bí tùy theo tín ngưỡng tôn giáo, mong được phù hộ hay mong sớm về cõi vĩnh hằng.
Đến đây, ta nên đi sâu thêm nữa vào phân tích cảm nhận mênh mông. Siêu hình mà ta gọi là cao xanh mênh mông như vừa trình bày ở đoạn trên chỉ là thứ siêu hình còn vướng mắc vào sắc tướng của thế giới hữu hình. Như người Maori thuộc sắc tộc Polynesian hiện cư trú tại Tân Tây Lan, họ có những triền núi chạy thoai thoải xuống biển dùng để thủy táng người quá cố. Họ cầu nguyện cho linh hồn người chết trở về cõi đời đời ở phía Tây Thái Bình Dương cách đó mấy ngàn hải lý, nơi phát xuất nguồn gốc tổ tiên tộc người Polynesian, truy ra họ đã hành trình di cư đến đây từ bao thế kỷ trước. Cõi miền như vậy chỉ là triển khai từ bao la của đại dương. Cũng như cõi đời đời của vài tộc người khác triển khai từ mênh mông sa mạc, từ bình nguyên thảo nguyên, từ bầu trời xanh ngàn thuở mây bay, từ những đỉnh cao ngàn năm tuyết trắng... Đó không phải mênh mông của thấu thị “ba ngàn cõi”, của trực giác “bình minh khắp muôn trời”, của huệ nhãn. Đến nay, vật lý nguyên tử mới thấy quả là sự thật khi khám phá mỗi nguyên tử, thậm chí mỗi hạt hạ nguyên tử (vi hạt) cũng có cấu trúc mênh mông như đại dương giữa các phần tử tạo thành, điều mà William Blake (Thi sĩ Anh 1757- 1827) đã từng viết: “To see the world in a grain of sand/ And a heaven in a wild flơwer/ Hold infinity in the palm of your hand/ And eternity in an hour”, và như nhà văn Mai thảo (1927-1998) cũng đã từng diễn tả tương tự: “Sao không, hạt cát sông Hằng ấy/ Còn chứa trong lòng cả đại dương”. Rất tiếc người viết bài này không nhớ hết các câu thơ chữ Hán sau đây, không biết rõ của vị Thiền sư nào, và trích ra đây có sai sót chữ nào hay không. Nhưng nội dung thì không lầm, cũng đều là ý tưởng đi vào thế giới cực nhỏ như đầu sợi lông, như trong hạt cải, mà thấy mô hình tương tự của vũ trụ cực đại: “Càn khôn tận thị mao đầu thượng/ Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung”. Hành trình vào cấu trúc hạt hạ-nguyên-tử cực nhỏ để thấy sự tương đồng về cách tạo thành của vũ trụ vô cùng, nói đơn giản như vậy vì ta muốn giảm bớt việc phải dùng các từ ngữ khoa học chuyên môn như cơ học lượng tử (quantum theory) và vật lý vũ trụ (astrophysics). Tránh đi sâu vào lãnh vực quá thông thái, nhưng ta nhận thấy rằng “đầu sợi lông” hoặc “trong hạt cải” hoặc “trong hạt cát” qua lời thơ của các thi sĩ vẫn còn là thế giới hữu hình quá lớn đối với hạt hạ-nguyên-tử (subatomic particle) hay hạt căn nguyên (elementary particles), lãnh vực cực nhỏ mà vẫn phải được thực nghiệm của vật lý lượng tử. Có thể đầu sợi lông hay lòng bàn tay hay hạt cát sông Hằng chỉ là những biểu tượng để chỉ thế giới siêu hình không thể biểu hiện ra được cho thế gian biết bằng thị giác, thính giác, cảm giác. Nghĩa là thế gian không thể thấu thị bằng huệ nhãn, bằng trực giác siêu nghiệm, nên các nhà thơ phải dùng sắc tướng hữu hình để ám chỉ. Nhưng đối với người đạt tới tình trạng đốn ngộ hay gần kề đốn ngộ thì mới thấy cái đẹp siêu hình vô sắc tướng. Theo William Blake: Vũ trụ phản ánh trong một bông hoa, vô tận của không gian phản ánh trong lòng bàn tay, vô cùng của thời gian phản ánh trong khoảnh khắc một tiếng đồng hồ. Biết mênh mông như vậy mà không được giải thích bằng vật lý cơ học lượng tử và vật lý vũ trụ thì siêu hình đó đối với ta chỉ là dáng vẻ hữu hình, chỉ cảm được một cách nên thơ qua thị giác thính giác và cảm giác, nghĩa là chỉ là sắc tướng mà ta tưởng đâu cũng đã tới trình độ thấu thị của bậc đại giác nói theo đạo Phật, hoặc trực giác siêu nghiệm nói theo kiến thức Tây phương. Vậy thì cơ học lượng tử và vật lý vũ trụ, dù rằng ta chỉ biết một cách khái quát, cũng có thể giúp ta biết được mênh mông trong thế giới cực nhỏ như sau: Trong vòng 100 năm trở lại đây, các nhà vật lý đã quan sát và đã thực nghiệm kiểm chứng cho xác thực, thấy rằng nhiệt năng (sức nóng) không phải tăng hay giảm liên tục, mà theo từng bậc làm thành từng bước đổi thay (quan sát một thanh sắt khi nung nóng hay để nguội dần). Từ nhiệt năng, quan sát đến quang năng, thấy ánh sáng cũng không đi theo luồng liên tục mà là từng hạt nối đuôi nhau. Hạt ánh sáng hay hạt quang tử đó vừa là hạt vừa là sóng. Nhiệt năng, rồi quang năng, rồi các năng lượng khác (điện năng và các tia vũ trụ) cũng đều là hạt và cũng đi bằng làn sóng. Kỳ lạ thay khi vật chất vừa là hạt vừa là sóng, tức hai dạng hiện hữu trái ngược nhau. Từng hạt là từng điểm, còn sóng là lan truyền, vậy tại sao lại đồng hiện hữu. Đi sâu vào sự tìm hiểu hạt, mà hạt đây là nguyên tử, mới biết mỗi nguyên tử được cấu tạo như một hệ thái dương thu lại cực nhỏ, gồm một nhân và những hạt electron đánh vòng các quỹ đạo quanh nhân; khoảng cách giữa nhân với các quỹ đạo electron cũng xa vời vợi như giữa mặt trời với các quỹ đạo hành tinh. Quả là cả một thế giới trong lòng một hạt nhỏ. Ta đâu thể trực giác được như vậy. Phải nhờ vật lý nguyên tử giải thích ta mới thấy mênh mông trong lòng một hạt cát. Nhưng nguyên tử cũng còn phức tạp, vì trong nhân nguyên tử lại gồm một cơ cấu những hạt cực nhỏ mà cực nặng (trong khi những hạt electron nhẹ hều như những đám mây bay đánh các vòng quỹ đạo chung quanh nhân). Các quỹ đạo này không cố định, nghĩa là các hạt electron không chỉ bay vòng vòng trên quỹ đạo dành riêng, mà có khi nhảy đến vòng quỹ đạo gần kề nhân, có khi nhảy ra thật xa trên một quỹ đạo thuộc vòng rìa. Mỗi lần nhảy là mỗi lần tăng năng lượng hay giảm năng lượng, làm cho nguyên tử có cơ hội kết hợp với nguyên tử khác, hay tách rời nguyên tử khác. Năng lượng mà electron hấp thụ hay nhả ra chính là các hạt quang tử, các hạt ánh sáng. Sở dĩ ta nói hơi dài kiến thức khoa học vật lý cũng là cách để trở về thi ca nói về đất trời mênh mông. Thi sĩ đạo sĩ biết bằng trực giác, còn ta biết mênh mông nhờ những giải thích vật lý lượng tử và vật lý vũ trụ. Vậy thì ta hãy tiếp tục hiểu thêm về các bước nhảy vô chừng của những hạt cực nhỏ. Vật chất, đại diện là hạt ánh sáng và các hạt năng lượng khác như điện tử, nhiệt năng, các tia vũ trụ, đều mang tính mâu thuẫn vừa là hạt vừa là sóng. Vật chất có những bước nhảy tình cờ, vô chừng, xác xuất, bất định, không thể biết trước, không thể bắt một hạt electron đứng yên để dụng cụ tinh vi quan sát, tốc độ và vị trí hạt electron hoán chuyển ngay tức khắc mỗi lần bị quan sát. Thi sĩ đạo sĩ nhờ huệ nhãn biết thực tại vô thường, có đó mà không đó, thế gian hư ảo. Nhưng ta được giải thích mới cảm nhận ra vẻ đẹp vũ trụ hư hư thực thực, nhờ thông qua kiến thức vật lý lượng tử và vật lý vũ trụ, dù là kiến thức khái quát vì mục đích của ta để liên hệ đến thi ca mà thôi.
Tóm lại, qua cảm nhận mênh mông hữu hình về mùa thu trong một tình khúc của nhạc sĩ Thanh Trang, giúp ta có dịp bàn xa đến cảm tính mênh mông thuộc đời thường, bàn về thấu thị thuộc đạo học thiền học. Và cũng vào mùa thu, cũng một đôi lần chạy xe thênh thang trên xa lộ, cũng thời tiết dễ chịu, cũng tâm thần và thể xác rất bình thường, ta lại nghe một bài hát mùa thu khác, bài “Nhớ mùa thu Hà Nội” của Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Thu Phương, một ca sĩ mới từ Hà Nội sang định cư. Trời đất trong bài hát cũng mát dịu, thêm vẻ đẹp cổ kính mái ngói thấm nâu, thêm vẻ đẹp đặc thù ở đất Bắc với hoa sữa với cây bàng lá đỏ, nhưng có một điều gì nghe như nhắn nhủ thuộc về thời thế hơn là thuộc về tình ca trong bối cảnh mùa thu mênh mông. Có phải do ta định kiến vì những dư luận chung quanh thái độ người nhạc sĩ tài ba cả về tình ca, cả về nhạc thời chinh chiến. Không phải định kiến, mà chính là lời ca nêu câu hỏi cho ta trả lời, mỗi người có thể trả lời một cách. Vì câu hỏi của người nhạc sĩ nêu ra giữa người với người, nên mặc nhiên bài hát hướng về nhân quần hơn là hướng về thiên nhiên. Nghĩa là nhạc sĩ khiến người nghe ngập ngừng tìm câu phải trả lời thuộc về thời thế, không thuộc về tình ca hay đạo ca. Xét về tổng thể, lời hát của người nhạc sĩ này đa số là tình ca nhưng chất chứa triết lý siêu hình đời người. Nhưng bài “Nhớ mùa thu Hà Nội” có tính chất hỏi han thời thế, vì vậy mùa thu ta tạm gọi là cục diện chắn lối mênh mông mùa thu, mùa thu thắc mắc chắn lối chơi vơi mùa thu. Trời cao xanh vẫn hiện diện, khí hậu mát lạnh vẫn hiện diện, thảo mộc chuyển màu vẫn tuần hoàn, lòng người nôn nao vẫn bất biến, tình tự trai gái vẫn muôn đời, cớ sao gọi là cục diện. Cục diện nằm trong câu hỏi của những lời hát, muốn nói điều gì đó không rõ ràng, ca ngợi một người hay nhớ tiếc một người gần như đều thích hợp cho cảm nhận tùy theo chủ quan thính giả. Phải suy nghĩ lời giải đáp cho một câu hỏi làm ta như mất cảm tính đang lênh đênh, chẳng khác nào rượu đang bốc mà một lời nói làm ta tỉnh dậy, đang mơ màng có một tiếng động khiến ta giật mình. Mùa thu Hà Nội trong bài hát có phải là mùa thu thời tiết hay muốn nhắc nhở “Mùa thu tháng 8 năm 1945”, nhớ đến một người tại sao liên hệ đến nhớ tới mọi người, tại sao tác giả yêu cầu “những con đường phải trả lời cho tôi”. Bao nhiêu nhắn gọi đó khiến cho bài “Nhớ mùa thu Hà Nội” mang tính cục diện thời thế, cục diện thuở nào chiến tranh, cục diện nhân quần đoàn thể. Nghe bài hát lúc trên xa lộ Nam California thênh thang vì đã hết là giờ bận rộn người đi làm buổi sáng; thời điểm đúng giữa mùa thu trong tháng mười một, hàng cây phong và aspen đã chuyển hoàn toàn sang lá vàng lá đỏ; trên người khoác áo vừa đủ ấm cho thời tiết đang mùa thu chưa phải sang đông, nghĩa là tâm hồn và thể chất bình thường: Chừng ấy điều kiện đã đủ cho hồn ta lâng lâng với bài hát mênh mông. Ta đón đợi, nếu không tình ca thì cũng phải thiên nhiên ca, nếu không Đạo ca thấu thị siêu hình thì cũng phải Thu ca sắc tướng mỹ cảm, vậy mà bài hát ấy khiến mùa thu lạc sang bờ thế sự ca. Ta thử nghe lại nguyên văn lời hát: “Hà Nội mùa thu/ Cây cơm nguội vàng/ Cây bàng lá đỏ/ Nằm kề bên nhau/ Phố xưa nhà cổ/ Mái ngói thấm nâu... Hà Nội mùa thu/ Mùa thu Hà Nội/ Mùa hoa sữa về/ Thơm từng ngọn gió/ Mùa cốm xanh về/ Thơm bàn tay nhỏ/ Cốm sữa vỉa hè/ Thơm bước chân qua... Hồ Tây chiều thu/ Mặt nước vàng lay/ Bờ xa mời gọi/ Màn sương thương nhớ/Bầy sanh cầm nhỏ/ Vỗ cánh mặt trời... Hà Nội mùa thu/ Đi giữa mọi người/ Lòng như thầm hỏi/ Tôi đang nhớ ai/ Sẽ có một ngày/ Trời thu Hà Nội/ Trả lời cho tôi/ Sẽ có một ngày/ Từng con đường nhỏ/ Trả lời cho tôi... Hà Nội mùa thu/ Mùa thu Hà Nội/ Nhớ đến một người/ Để nhớ mọi người”.
Mùa thu tháng 8 năm 1945, thời điểm nhắc nhở có một biến cố lịch sử. Và bài thơ mới đây trong thi ca hải ngoại lại nhắc Mùa thu Hà Nội với một biến cố lịch sử khác. Sau bản Hiệp định Genève ký vào tháng 7 năm 1954 thì tiếp đến là mùa thu tác giả di cư vào Nam. Mùa thu thế sự nào cũng mang tính cục diện thuộc nhân giới có những tâm thức đối nghịch, mặc dù cùng lấy bối cảnh mênh mông của trời đất:
Hà Nội của tôi,
Hà Nội 50 mờ mờ trí nhớ
Hà Nội mùa hè Cổ Ngư phượng đỏ,
Hà Nội mùa thu Hoàn Kiếm mờ sương
......

Hà Nội 54 những đêm hấp hối
Giờ giới nghiêm lựu đạn nổ đâu đây
Thằng H. thất tình đi lính cho Tây,
Suýt nhảy xuống Điện Biên những giờ phút cuối.
Hà Nội ơi, Hà Nội ơi, thôi đi hấp hối
Nấc từng cơn, tháng 7, năm tư.
DƯƠNG KIỀN
(Trích trong bài “Sáu mươi” đăng trong báo năm 2004)

Ta thử đọc thơ mới đây của một người đang ở Hà Nội viết về mùa thu nơi ấy để xem có còn vương vấn thế sự hay không. Tác giả này ta nghe quen quen, có phải là Vân Long hay Dương Vy Long, hình như đã xuất hiện trên báo “Đời Mới” tại Sài Gòn cách nay trên 45 năm. Và cũng phảng phất vẻ cô đơn như trong một bài thơ trên báo ấy vào thời gian xa xôi kia. Không nhớ nhan đề bài thơ, không nhớ đến một câu, nhưng người viết bài này vẫn nhớ khí hậu lặng lẽ của bài thơ, trong đó mô tả một khách đường rừng ngồi sưởi ấm trong quán gió, có tiếng suối róc rách ngoài xa, có tiếng ngựa sột soạt đứng chờ bên quán, có tiếng củi lửa than hồng. Nội dung bài thơ chỉ là tả cảnh đường rừng, nhưng cái hay do khí hậu có vẻ lạnh lùng và lặng lẽ với một bóng người như chìm vào nội tâm. Bây giờ đọc bài thơ “Thu cảm” của tác giả Vân Long mới sáng tác, ta không gặp lại khí hậu lặng lẽ xưa, vì tác giả mô tả đang đi trong thành phố đầy người qua lại. Nhưng trời đất vào thu mênh mông trên đất Bắc vẫn còn đó, ta cảm nhận như không còn vướng víu những thắc mắc thế sự, nhưng lại vướng víu chuyện tình đời thường:

THU CẢM
Hà Nội trời xanh màu cốm mới
Tôi nhập vào thu vớí mọi người
....

Ai may áo mới cho Hà Nội
Vồng ngực ai căng đợi tỏ bày
....
Bước vào khoảng không em để lại
Một lần thêm trống trải nước mây
....
Xòe ra đôi sợi mang màu nắng
Bất chợt mùa thu vương kẽ tay!
VÂN LONG

Có phải vì tác giả còn hệ lụy với trần tục như “vồng ngực căng”, với tiếc nuối không còn mái tóc xanh thời trai trẻ, nên hình như bài thơ chưa đủ chơi vơi đi vào đất trời mùa thu mênh mông, chẳng hạn không mênh mông như trong thơ Bích Khê. Bài thơ “Tỳ bà” của Bích Khê tuy cũng viết cho nàng, nhưng nàng trong “thơ tượng trưng” quả là tượng trưng cho mơ hồ lãng đãng, nhân dạng không thật sự hiện hữu, không rõ nét như người em tràn đầy nhựa sống của đời thường. Vì thế thơ tình mùa thu của Bích Khê là sương khói mênh mông của tâm hồn mơ tưởng hướng vào thiên nhiên, vượt qua trình độ lãng mạn nhân giới, nhưng chưa tới mức thi ca không còn dấu vết sắc tướng của hiện tượng hữu hình. Và vì vậy thơ Bích Khê đúng là thơ của mùa thu mênh mông: “Mây nhung pha màu thu trên trời/ Sương lam phơi màu thu muôn nơi... Cây đàn yêu đương làm bằng thơ/ Dây đàn yêu đương run trong mơ... Ô hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”
Nhắc vài câu thơ của thi sĩ tiền chiến, và bài thơ mùa thu mới đây của người Hà Nội gửi đăng trên báo hải ngoại (báo Việt-Tide, Nam Califorrnia), để liên hệ xem còn có thơ diệu vợi thời tiết tại hải ngoại hay không. Thấy nhiều, nhưng thoáng gặp một bài có vẻ e ấp, nên xin nêu ra đây trước. E ấp, vì tác giả như ngại ngùng không muốn gọi là thơ lãng mạn. Có phải người làm thơ e rằng từ ngữ lãng mạn quá đẫm tình? Tại sao ta có ý nghĩ tác giả ngại ngùng? Bởi vì bài thơ này đã được đăng hai lần, lần đầu có tựa đề “Lãng mạn, Thu”, lần sau với nhan đề “Thu Thảo”. Tác giả là Trần Yên Hòa. Thu thảo mang ý nghĩa hướng về nhiên giới, còn Lãng mạn hướng về nhân giới. Có thể tác giả e gửi hai báo trùng bài một nhan đề, có thể tác giả không còn thích từ ngữ lãng mạn, mong độc giả tìm thấy ở đây là thơ tâm cảnh, không phải thuần túy tình trai gái. Ta nghiêng về giải đáp tác giả muốn vượt qua thơ lãng mạn tình yêu để hướng về thơ diệu vợi, bởi từ ngữ “em” không phải chỉ về người mà chỉ về thiên nhiên: mùa thu được nhân cách hóa thành người em hương sắc. Cho nên khi trích dẫn ra đây, xin dùng nhan đề thứ hai thể theo sự sửa đổi của tác giả:
Thu thảo
Thu đang đến nghĩa là em đang đến
Bước chân em xao động cả sơn hà
....
Con ngựa hí suốt chặng đường mê mệt
Lá vàng ơi, thu đến tự bao giờ
....
Ta vẽ trong ta nhiều trang tình sử
Một rừng phong vàng ruộm cả non sông
....
Ta mắc lưới em như dòng sinh mệnh
Em vàng hoa, ta mắc võng ta chơi.

TRẦN YÊN HÒA

Thơ lưng chừng giữa siêu thoát và lãng mạn. Chắc đó là con đường phải đi khi ta không được trang bị bằng tầm mắt thấu thị, nhưng cũng không còn tiếp tục với thơ tình yêu thực sự đời thường.






64- Quy tụ thơ hoài hương vào
những vùng trọng điểm



Ba chương trong sách dự thảo gồm 12 chương trong cuốn “Thi Nhân Việt Nam hải ngoại” là các chương Thơ siêu hình, Thơ hoài hương, Thơ tình muôn thuở; xin được viết theo lối sưu tầm những câu thơ xuất sắc của các thi nhân hải ngoại. Những chương này do đó thuộc về cách viết sưu tầm. Sở dĩ muốn sưu tầm tất cả những câu thơ xuất sắc của rất nhiều nhà thơ, vì gần như tất cả các nhà thơ đều hơn một lần viết về thơ hoài hương, thơ siêu hình và thơ tình yêu. Những chương còn lại trong 12 chương, sẽ đi sâu vào thơ của một số người viết cho nội dung liên hệ đến tâm cảnh của họ mà thôi, nghĩa là không liên hệ cho tất cả. Nên cách viết sẽ là tiểu luận, bàn trên một khía cạnh nào đó trong bối cảnh phát sinh, nói rõ là bối cảnh hải ngoại. Tóm lại, cuốn sách bao gồm hai cách viết, mang hai đặc tính “sưu tầm và tiểu luận”, chưa phải phê bình văn học. Ví dụ như khi đi sâu vào tiểu luận thơ tù cải tạo của một số quân nhân: thay vì lối quen không lạ là nêu ra sự hận thù hay gian khổ; cũng chẳng lạ khi đào sâu tính nhân bản không chính trị trong tình cảm nhớ gia đình, ta thử viết tiểu luận bàn về tâm cảnh có tính chất vừa mỹ cảm vừa siêu thực hướng về đỉnh núi Hoàng Liên Sơn và đỉnh núi Chứa Chan thỉnh thoảng lại tái hiện trong thơ tù cải tạo. Ví dụ thứ hai việc phải viết theo cách tiểu luận (vì chỉ là thơ của một số thi nhân hải ngoại mà thôi), nằm vào chương viết về thơ lộ liễu tình dục của vài nhà thơ nữ. Lối quen không lạ khi nêu ra ý kiến sở dĩ họ viết táo bạo tình dục chẳng qua chỉ là cung cách biểu hiện nữ quyền. Cũng không lạ khi nêu ra ý kiến thứ hai cho rằng đó chính là sự trỗi dậy của vô thức tập thể thời mẫu hệ chưa bị chèn ép lễ nghi đặt định do phụ quyền về sau đã lấy mất thế thượng phong của họ. Vậy ta sẽ tiểu luận với ý kiến mới như sau: tính chất muốn trổi bật về văn học của các nhà văn thơ nữ thuộc “thế hệ một rưỡi”, vì họ chưa thể viết nổi bằng ngoại ngữ Anh văn hay Pháp văn như thế hệ thứ hai thứ ba, mà họ cũng không muốn viết bằng Việt ngữ với đề tài nhiều nhà văn nam đã viết cả rồi.
Với cách thức viết bằng tiểu luận, nghĩa là với tính chất nặng về suy luận thiếu bao quát, đương nhiên đã không giống với cách viết sưu tầm biên khảo như chương về thơ hoài hương dành cho trọn bài viết kỳ này. Sưu tầm mang ý hướng càng đầy đủ thì càng tốt, vậy tại sao không sưu tầm thơ hoài hương từ hải ngoại hướng về từng thành phố, từng tỉnh hay quận lỵ làng xã của mỗi nhà thơ? Tại sao lại sưu tầm thơ hoài hương quy về một vài vùng trọng điểm? Bởi vì quy về vài vùng trọng điểm mới nói lên được tâm cảnh từng nhóm thi nhân hải ngoại, dù trong một hoàn cảnh chung, dù họ đều là người Việt. Tính chất địa phương từng vùng khá rõ rệt. Tính chất địa phương do không gian cùng nhau cư ngụ, lâu dần thành cùng tiếng nói, cùng cách ăn ở, không hẳn do dị biệt về người. Tính chất vùng và tâm cảnh đó không giống với tình hoài hương thuộc hoàn cảnh khác như thời Văn Học Miền Nam, thời Văn Học Pháp thuộc, thời Văn học Kháng Chiến Chống Pháp, hoặc xa hơn như thơ hoài hương thời di dân vào đất nhượng địa Chiêm Thành, di dân vào đất bỏ hoang Chân Lạp. Cụ thể như thời Văn Học Miền Nam, thơ hoài hương sau cuộc di cư tiếp theo Hiệp định Genève là thơ hoài hương về những vùng trọng điểm như Hà Nội và vùng các họ đạo Công giáo Bùi Chu – Phát Diệm. Sau đó là cuộc chiến tranh ròng rã 20 năm, người thôn quê có một số đổ lên thành thị. Ta sẽ vội nghĩ thơ hoài hương thời chiến tranh vừa qua là thơ hoài hương về làng mạc thôn quê. Sự thật cuộc chiến tranh này là chiến tranh du kích theo thế cài răng lược, xôi đậu trà trộn, ngoài một số mật khu hay vùng trắng hoàn toàn được kiểm soát chặt chẽ. Chỉ một số là thơ nhớ về thôn quê khi người ta đã tản cư lên ở hẳn trên tỉnh. Nếu ta ngẫm lại thì mới nhớ thơ hoài hương thời chiến tranh chính là thơ “Lính xa nhà”, “Xuân này con không về”, nhớ làng khi ở tiền đồn với “Phiên gác đêm xuân”, nhớ thành phố khi từ giã lên đường nhập ngũ mà đành “Trả lại em yêu”, nhớ trường cũ bạn xưa vì đến tuổi khoác chiến y mà đành phải “Biệt kinh kỳ”. Vậy thơ hoài hương thời chiến tranh trong Văn Học Miền Nam là thơ nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ người yêu, nhớ trường, nhớ bạn học, nhớ nơi ở một thời bình yên, nhớ cuộc sống chưa đến lúc thi hành quân dịch. Vùng trọng điểm thơ hoài hương thời chiến tranh không có không gian rõ rệt chia vùng, mà có thời gian rõ rệt nhớ thời thanh bình chưa khói lửa triền miên.
Tiếp theo thời Văn Học Miền Nam, thơ hoài hương thời Văn Học Hải Ngoại hướng về những vùng trọng điểm nào làm nổi bật tâm cảnh trong một thời kỳ? Trước khi sưu tầm sắp xếp thơ hoài hương hải ngoại, thiết nghĩ ta cần phân biệt tình hoài hương quê quán khác với tình quê hương đất nước trùm phủ đến lãnh vực quốc gia; cũng thế, phân biệt tình hoài hương quê quán khác với tình hoài hương trú quán; khác với hoài hương dành cho một cảm-tình-quán, và tình hoài hương quê quán cũng khác tình quê có tính chất thảo dã phân biệt với cuộc sống nơi thành thị. Sưu tầm sắp xếp những câu thơ xuất sắc biểu hiện những thứ tìnhhoài hương kể trên, thiết nghĩ qua thơ ta sẽ có đầy đủ ý nghĩa những thứ tình hoài hương được phân loại này, trước khi đi vào phần chính sẽ quy định các vùng trọng điểm của riêng tình hoài hương quê quán mà thôi. Nói rõ, bài viết này đặt trọng tâm ở tình về quê quán, nhưng không là quê quán của đơn vị nhỏ như làng mạc hay tỉnh huyện, mà chính là quê quán ở vào đơn vị cấp vùng.
Vậy trước hết ta phân biệt tình hoài hương quê quán thuộc cấp vùng với tình quê hương cấp cao hơn: tình đất nước. Các nhà thơ viết về quê hương cấp quốc gia thường biểu lộ sự yêu mến khắp cả các vùng đất nước, mỗi nơi họ nêu ra vài nét đặc thù đáng yêu đáng mến, thành ra ta không thấy tác giả nghiêng nặng về một miền nào. Ngày xưa thi sĩ Tản Đà vào Nam ra Bắc thường xuyên bằng đường xe lửa Xuyên Việt, mỗi nơi ông ca tụng một món ăn đặc biệt chỉ nơi đó mới có, tình đất nước như vậy nghiêng về văn hóa ẩm thực. Ngày nay ở hải ngoại, thơ hoài hương cấp quốc gia dân tộc thường biểu hiện trong những bài thơ khá dài, vì ước vọng của nhà thơ là kể hết những hay đẹp của giang sơn: gấm vóc và oai linh, đơn sơ và sâu sắc, dịu mát và khắc nghiệt; nhất nhất đều là những thân thương được nhắc nhở. Trích ra những bài thơ quá dài nằm ngoài khuôn khổ sưu tầm những câu thơ xuất sắc, vậy xin chỉ trích thơ một đôi người, như của Khoa Hữu, ở trong có một chút Đà Lạt, một chút Hội An, Sài Gòn, Buôn Mê Thuộc, Nha trang, Củ Chi: Ba trăm năm Sài Gòn ơi/ Bãi dâu cát lở, đất bồi phù du...Ta về Nha Trang gió/ Xô xát lời ca dao/ Tháp mấy tầng đá cổ/ Mòn một cõi chiêm bao...Củ Chi ơi gạch ngói/ Người lính cũ về thăm/ Chiến trường xưa ngọn khói/ Lòng ta bia đá câm/ Con kinh dài trí nhớ/ Chiếc cầu qua lãng quên. Và thơ của Nguyễn Nam An trong bài Nhớ lại đã cảm xúc khi xuôi ngược đó đây vì đời lính nhảy dù trước năm 1975: Như từ lâu bom đạn còn vọng tới/ Ru mãi đời xưa lính thú quê hương/ Con đi nhảy dù, mẹ đừng trông đợi/ Ngày Túy Loan, đêm Đại Lộc đã thường. Phạm Hồng Ân trong bài Từ sông ra biển: Từ sông ra biển xuôi theo nước/ Đêm ghé Hòn Tre hẹn chuyến đi... Mai nương sóng bạc qua Hòn Nghệ/ Lơi lả trăng nghiêng một góc trời... Vòng về Bắc Đảo mưa phần phật/ Đốt lá rừng lên thức với nai... Mai hết kiếp người xin hóa núi/ Ngàn năm hùng vĩ mũi Kwala.
Tiếp theo, ta phân biệt thơ hoài hương quê quán với thơ hoài hương trú quán và hoài hương dành cho một cảm tình quán. Trú quán chỉ là nơi cư ngụ tạm thời khi là công chức đổi đến làm việc một sở tại, thường là mướn nhà tạm trú một thời gian; có khi cũng tậu nhà định làm quán tạo dựng cơ sở làm ăn. Nếu mua nhà định ở vĩnh viễn thì trú quán trở thành cư ngụ quán. Dù trú quán hay cư ngụ quán thì nhà là không gian ở trọ thân thiết, vì vậy mà triết gia người Pháp tên Gaston Bachelard nói những tiếp xúc cụ thể với cánh cửa, chìa khóa, ngọn đèn khuya, bàn viết với giấy mực, là những động từ thuộc về Hiện Tượng Luận, vì những ý hướng đó ẩn chứa những cảm xúc cụ thể và thẩm mỹ, ngoài ý nghĩa thông thường của những từ ngữ ước lệ có thể diễn giải bằng tâm lý học hay xã hội học hay tâm sinh lý học. Hoặc nghe tiếng nước vỗ nhẹ trong đêm khuya vào những trụ cột dưới nhà sàn, gợi cho người nghe một ý nghĩa chưa từng ai nói thành khuôn sáo, thành ước lệ như nào là tiếng nước rỉ rên, tiếng nước ca hát, tiếng nước ngàn đời chảy mãi... Phải chăng cảm tính nước va vào trụ cột, làm mường tượng đến phù vân của bãi nền, cũng là một tiếp xúc cụ thể thuộc về Hiện Tượng Luận. Còn tâm trạng dành cho một cảm tình quán là thứ tình hoài hương do hệ lụy tình cảm với quê hương người mình yêu, có trường hợp còn đậm đà hơn tình quê quán vì tính keo sơn trai gái bao giờ cũng thành sức mạnh lắm khi vô địch. “The power of love”, nói mãi không bao giờ hết điều này. Cảm tình quán có khi do tình bằng hữu, yêu quê hương của đôi vợ chồng người bạn chí tình. Cảm tình quán lại có khi yêu quê hương một người mình không quen biết ngoài đời, nhưng quen biết một cách trìu mến nhờ sách báo, hay qua lịch sử, như yêu quê hương của một nhà văn nhà thơ, quê hương của một vị anh hùng. Những câu thơ sưu tầm sau đây biểu lộ những dạng hoài hương trên (hoài hương trú quán, hoài hương cư ngụ quán, hoài hương dành cho một cảm tình quán), như Nguyễn Đình Toàn trong bài Căn nhà cũ: có nước giếng soi trời trong/ Có những lá rơi ngoài song. Hoàng Xuân Thảo trong bài Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây: Em đi Vàm Cỏ Tây heo hút/ lủi thủi tôi về Vàm Cỏ Đông... Lòng tôi bối rối như kinh rạch/Chằng chịt dọc ngang xẻ tứ bề... Điên điển đêm sương khơi bếp lửa/ Mù u dầu thắp viết thư xưa.... Đồn nhỏ, cỏ năng che vách mái/ Lát ,bàng, chiếu nệm ngủ đơn sơ. Đỗ Quý Toàn trong bài Ở xa mừng đám cưới Lộc-Chu: Nếu có về Châu Đốc/ gởi lời thăm con trăng/ nhớ hồi nào mình lội/ giữa phù sa mênh mông... Nếu ghé ngang Bồng Sơn/ hãy bước hai chân trần/ băng qua dòng Lại Giang/ nhìn dừa xanh ướt nắng/ cát trắng dài long lanh. Quỳnh Thi trong bài Cúng dường thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên: Gòng xanh/ từ chốn cội nguồn/ nhảy chơi xuống đó/ tan thành giọt mưa... nhớ người xứ Bưởi duyên đưa/ cảnh xưa đã khác/ phố trưa vẫn còn. Hà Nguyên Dũng trong bài Đời thêm một cuộc chia tay ngậm ngùi: Xin chào Đà Nẳng sông Hàn/ Tôi như bèo giạt theo ngàn sóng đau... Đò em buộc bến sông Hàn/ Dẫu tôi đứng gọi cả ngàn năm không. Trần Vấn Lệ trong bài Chiều ngồi bên núi Chứa Chan: Ngồi đây/ nhớ núi Chứa Chan/ Ngó dòng xa lộ chang chang Biên Hòa/ Nhớ người xưa lắm/ ngày xa/ Chiều nay còn chút/ nắng tà, thương sao. Bùi Bảo Trúc trong bài Căn nhà ở đường Ngô Tùng Châu: Hãy gõ cửa, đêm nay ta trở lại/ Cánh cửa ơi có còn nhớ nhau không/ chiếc chìa khóa năm xưa ta làm gẫy...Này buổi tối cứ nằm yên ở đó/ Đèn ơi đèn đừng trở dậy đêm nay...Ngoài cửa sổ lao xao giàn bông giấy/ Cỏ cây ơi phút chốc đã như sương. Trần Văn Nam trong bài Nhà xưa: Nhà ta xưa mái lợp tôn/ Bên đường qua miệt Cái Vồn Cần Thơ/ Vườn ai mận đỏ cuối bờ/ Nghe lòng cũng mát những giờ nước lên/ Ôi con lạch nhỏ không tên/ Nhà sàn nước gọi bãi nền không nơi.
Một phân biệt nữa giữa tình hoài hương quê quán và tình quê thảo dã. Tình quê thảo dã đáng lý chỉ biểu hiện giới
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post May 23 2011, 06:54 AM
Gửi vào: #43


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,635
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





64- Quy tụ thơ hoài hương vào
những vùng trọng điểm



Ba chương trong sách dự thảo gồm 12 chương trong cuốn “Thi Nhân Việt Nam hải ngoại” là các chương Thơ siêu hình, Thơ hoài hương, Thơ tình muôn thuở; xin được viết theo lối sưu tầm những câu thơ xuất sắc của các thi nhân hải ngoại. Những chương này do đó thuộc về cách viết sưu tầm. Sở dĩ muốn sưu tầm tất cả những câu thơ xuất sắc của rất nhiều nhà thơ, vì gần như tất cả các nhà thơ đều hơn một lần viết về thơ hoài hương, thơ siêu hình và thơ tình yêu. Những chương còn lại trong 12 chương, sẽ đi sâu vào thơ của một số người viết cho nội dung liên hệ đến tâm cảnh của họ mà thôi, nghĩa là không liên hệ cho tất cả. Nên cách viết sẽ là tiểu luận, bàn trên một khía cạnh nào đó trong bối cảnh phát sinh, nói rõ là bối cảnh hải ngoại. Tóm lại, cuốn sách bao gồm hai cách viết, mang hai đặc tính “sưu tầm và tiểu luận”, chưa phải phê bình văn học. Ví dụ như khi đi sâu vào tiểu luận thơ tù cải tạo của một số quân nhân: thay vì lối quen không lạ là nêu ra sự hận thù hay gian khổ; cũng chẳng lạ khi đào sâu tính nhân bản không chính trị trong tình cảm nhớ gia đình, ta thử viết tiểu luận bàn về tâm cảnh có tính chất vừa mỹ cảm vừa siêu thực hướng về đỉnh núi Hoàng Liên Sơn và đỉnh núi Chứa Chan thỉnh thoảng lại tái hiện trong thơ tù cải tạo. Ví dụ thứ hai việc phải viết theo cách tiểu luận (vì chỉ là thơ của một số thi nhân hải ngoại mà thôi), nằm vào chương viết về thơ lộ liễu tình dục của vài nhà thơ nữ. Lối quen không lạ khi nêu ra ý kiến sở dĩ họ viết táo bạo tình dục chẳng qua chỉ là cung cách biểu hiện nữ quyền. Cũng không lạ khi nêu ra ý kiến thứ hai cho rằng đó chính là sự trỗi dậy của vô thức tập thể thời mẫu hệ chưa bị chèn ép lễ nghi đặt định do phụ quyền về sau đã lấy mất thế thượng phong của họ. Vậy ta sẽ tiểu luận với ý kiến mới như sau: tính chất muốn trổi bật về văn học của các nhà văn thơ nữ thuộc “thế hệ một rưỡi”, vì họ chưa thể viết nổi bằng ngoại ngữ Anh văn hay Pháp văn như thế hệ thứ hai thứ ba, mà họ cũng không muốn viết bằng Việt ngữ với đề tài nhiều nhà văn nam đã viết cả rồi.
Với cách thức viết bằng tiểu luận, nghĩa là với tính chất nặng về suy luận thiếu bao quát, đương nhiên đã không giống với cách viết sưu tầm biên khảo như chương về thơ hoài hương dành cho trọn bài viết kỳ này. Sưu tầm mang ý hướng càng đầy đủ thì càng tốt, vậy tại sao không sưu tầm thơ hoài hương từ hải ngoại hướng về từng thành phố, từng tỉnh hay quận lỵ làng xã của mỗi nhà thơ? Tại sao lại sưu tầm thơ hoài hương quy về một vài vùng trọng điểm? Bởi vì quy về vài vùng trọng điểm mới nói lên được tâm cảnh từng nhóm thi nhân hải ngoại, dù trong một hoàn cảnh chung, dù họ đều là người Việt. Tính chất địa phương từng vùng khá rõ rệt. Tính chất địa phương do không gian cùng nhau cư ngụ, lâu dần thành cùng tiếng nói, cùng cách ăn ở, không hẳn do dị biệt về người. Tính chất vùng và tâm cảnh đó không giống với tình hoài hương thuộc hoàn cảnh khác như thời Văn Học Miền Nam, thời Văn Học Pháp thuộc, thời Văn học Kháng Chiến Chống Pháp, hoặc xa hơn như thơ hoài hương thời di dân vào đất nhượng địa Chiêm Thành, di dân vào đất bỏ hoang Chân Lạp. Cụ thể như thời Văn Học Miền Nam, thơ hoài hương sau cuộc di cư tiếp theo Hiệp định Genève là thơ hoài hương về những vùng trọng điểm như Hà Nội và vùng các họ đạo Công giáo Bùi Chu – Phát Diệm. Sau đó là cuộc chiến tranh ròng rã 20 năm, người thôn quê có một số đổ lên thành thị. Ta sẽ vội nghĩ thơ hoài hương thời chiến tranh vừa qua là thơ hoài hương về làng mạc thôn quê. Sự thật cuộc chiến tranh này là chiến tranh du kích theo thế cài răng lược, xôi đậu trà trộn, ngoài một số mật khu hay vùng trắng hoàn toàn được kiểm soát chặt chẽ. Chỉ một số là thơ nhớ về thôn quê khi người ta đã tản cư lên ở hẳn trên tỉnh. Nếu ta ngẫm lại thì mới nhớ thơ hoài hương thời chiến tranh chính là thơ “Lính xa nhà”, “Xuân này con không về”, nhớ làng khi ở tiền đồn với “Phiên gác đêm xuân”, nhớ thành phố khi từ giã lên đường nhập ngũ mà đành “Trả lại em yêu”, nhớ trường cũ bạn xưa vì đến tuổi khoác chiến y mà đành phải “Biệt kinh kỳ”. Vậy thơ hoài hương thời chiến tranh trong Văn Học Miền Nam là thơ nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ người yêu, nhớ trường, nhớ bạn học, nhớ nơi ở một thời bình yên, nhớ cuộc sống chưa đến lúc thi hành quân dịch. Vùng trọng điểm thơ hoài hương thời chiến tranh không có không gian rõ rệt chia vùng, mà có thời gian rõ rệt nhớ thời thanh bình chưa khói lửa triền miên.
Tiếp theo thời Văn Học Miền Nam, thơ hoài hương thời Văn Học Hải Ngoại hướng về những vùng trọng điểm nào làm nổi bật tâm cảnh trong một thời kỳ? Trước khi sưu tầm sắp xếp thơ hoài hương hải ngoại, thiết nghĩ ta cần phân biệt tình hoài hương quê quán khác với tình quê hương đất nước trùm phủ đến lãnh vực quốc gia; cũng thế, phân biệt tình hoài hương quê quán khác với tình hoài hương trú quán; khác với hoài hương dành cho một cảm-tình-quán, và tình hoài hương quê quán cũng khác tình quê có tính chất thảo dã phân biệt với cuộc sống nơi thành thị. Sưu tầm sắp xếp những câu thơ xuất sắc biểu hiện những thứ tìnhhoài hương kể trên, thiết nghĩ qua thơ ta sẽ có đầy đủ ý nghĩa những thứ tình hoài hương được phân loại này, trước khi đi vào phần chính sẽ quy định các vùng trọng điểm của riêng tình hoài hương quê quán mà thôi. Nói rõ, bài viết này đặt trọng tâm ở tình về quê quán, nhưng không là quê quán của đơn vị nhỏ như làng mạc hay tỉnh huyện, mà chính là quê quán ở vào đơn vị cấp vùng.
Vậy trước hết ta phân biệt tình hoài hương quê quán thuộc cấp vùng với tình quê hương cấp cao hơn: tình đất nước. Các nhà thơ viết về quê hương cấp quốc gia thường biểu lộ sự yêu mến khắp cả các vùng đất nước, mỗi nơi họ nêu ra vài nét đặc thù đáng yêu đáng mến, thành ra ta không thấy tác giả nghiêng nặng về một miền nào. Ngày xưa thi sĩ Tản Đà vào Nam ra Bắc thường xuyên bằng đường xe lửa Xuyên Việt, mỗi nơi ông ca tụng một món ăn đặc biệt chỉ nơi đó mới có, tình đất nước như vậy nghiêng về văn hóa ẩm thực. Ngày nay ở hải ngoại, thơ hoài hương cấp quốc gia dân tộc thường biểu hiện trong những bài thơ khá dài, vì ước vọng của nhà thơ là kể hết những hay đẹp của giang sơn: gấm vóc và oai linh, đơn sơ và sâu sắc, dịu mát và khắc nghiệt; nhất nhất đều là những thân thương được nhắc nhở. Trích ra những bài thơ quá dài nằm ngoài khuôn khổ sưu tầm những câu thơ xuất sắc, vậy xin chỉ trích thơ một đôi người, như của Khoa Hữu, ở trong có một chút Đà Lạt, một chút Hội An, Sài Gòn, Buôn Mê Thuộc, Nha trang, Củ Chi: Ba trăm năm Sài Gòn ơi/ Bãi dâu cát lở, đất bồi phù du...Ta về Nha Trang gió/ Xô xát lời ca dao/ Tháp mấy tầng đá cổ/ Mòn một cõi chiêm bao...Củ Chi ơi gạch ngói/ Người lính cũ về thăm/ Chiến trường xưa ngọn khói/ Lòng ta bia đá câm/ Con kinh dài trí nhớ/ Chiếc cầu qua lãng quên. Và thơ của Nguyễn Nam An trong bài Nhớ lại đã cảm xúc khi xuôi ngược đó đây vì đời lính nhảy dù trước năm 1975: Như từ lâu bom đạn còn vọng tới/ Ru mãi đời xưa lính thú quê hương/ Con đi nhảy dù, mẹ đừng trông đợi/ Ngày Túy Loan, đêm Đại Lộc đã thường. Phạm Hồng Ân trong bài Từ sông ra biển: Từ sông ra biển xuôi theo nước/ Đêm ghé Hòn Tre hẹn chuyến đi... Mai nương sóng bạc qua Hòn Nghệ/ Lơi lả trăng nghiêng một góc trời... Vòng về Bắc Đảo mưa phần phật/ Đốt lá rừng lên thức với nai... Mai hết kiếp người xin hóa núi/ Ngàn năm hùng vĩ mũi Kwala.
Tiếp theo, ta phân biệt thơ hoài hương quê quán với thơ hoài hương trú quán và hoài hương dành cho một cảm tình quán. Trú quán chỉ là nơi cư ngụ tạm thời khi là công chức đổi đến làm việc một sở tại, thường là mướn nhà tạm trú một thời gian; có khi cũng tậu nhà định làm quán tạo dựng cơ sở làm ăn. Nếu mua nhà định ở vĩnh viễn thì trú quán trở thành cư ngụ quán. Dù trú quán hay cư ngụ quán thì nhà là không gian ở trọ thân thiết, vì vậy mà triết gia người Pháp tên Gaston Bachelard nói những tiếp xúc cụ thể với cánh cửa, chìa khóa, ngọn đèn khuya, bàn viết với giấy mực, là những động từ thuộc về Hiện Tượng Luận, vì những ý hướng đó ẩn chứa những cảm xúc cụ thể và thẩm mỹ, ngoài ý nghĩa thông thường của những từ ngữ ước lệ có thể diễn giải bằng tâm lý học hay xã hội học hay tâm sinh lý học. Hoặc nghe tiếng nước vỗ nhẹ trong đêm khuya vào những trụ cột dưới nhà sàn, gợi cho người nghe một ý nghĩa chưa từng ai nói thành khuôn sáo, thành ước lệ như nào là tiếng nước rỉ rên, tiếng nước ca hát, tiếng nước ngàn đời chảy mãi... Phải chăng cảm tính nước va vào trụ cột, làm mường tượng đến phù vân của bãi nền, cũng là một tiếp xúc cụ thể thuộc về Hiện Tượng Luận. Còn tâm trạng dành cho một cảm tình quán là thứ tình hoài hương do hệ lụy tình cảm với quê hương người mình yêu, có trường hợp còn đậm đà hơn tình quê quán vì tính keo sơn trai gái bao giờ cũng thành sức mạnh lắm khi vô địch. “The power of love”, nói mãi không bao giờ hết điều này. Cảm tình quán có khi do tình bằng hữu, yêu quê hương của đôi vợ chồng người bạn chí tình. Cảm tình quán lại có khi yêu quê hương một người mình không quen biết ngoài đời, nhưng quen biết một cách trìu mến nhờ sách báo, hay qua lịch sử, như yêu quê hương của một nhà văn nhà thơ, quê hương của một vị anh hùng. Những câu thơ sưu tầm sau đây biểu lộ những dạng hoài hương trên (hoài hương trú quán, hoài hương cư ngụ quán, hoài hương dành cho một cảm tình quán), như Nguyễn Đình Toàn trong bài Căn nhà cũ: có nước giếng soi trời trong/ Có những lá rơi ngoài song. Hoàng Xuân Thảo trong bài Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây: Em đi Vàm Cỏ Tây heo hút/ lủi thủi tôi về Vàm Cỏ Đông... Lòng tôi bối rối như kinh rạch/Chằng chịt dọc ngang xẻ tứ bề... Điên điển đêm sương khơi bếp lửa/ Mù u dầu thắp viết thư xưa.... Đồn nhỏ, cỏ năng che vách mái/ Lát ,bàng, chiếu nệm ngủ đơn sơ. Đỗ Quý Toàn trong bài Ở xa mừng đám cưới Lộc-Chu: Nếu có về Châu Đốc/ gởi lời thăm con trăng/ nhớ hồi nào mình lội/ giữa phù sa mênh mông... Nếu ghé ngang Bồng Sơn/ hãy bước hai chân trần/ băng qua dòng Lại Giang/ nhìn dừa xanh ướt nắng/ cát trắng dài long lanh. Quỳnh Thi trong bài Cúng dường thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên: Gòng xanh/ từ chốn cội nguồn/ nhảy chơi xuống đó/ tan thành giọt mưa... nhớ người xứ Bưởi duyên đưa/ cảnh xưa đã khác/ phố trưa vẫn còn. Hà Nguyên Dũng trong bài Đời thêm một cuộc chia tay ngậm ngùi: Xin chào Đà Nẳng sông Hàn/ Tôi như bèo giạt theo ngàn sóng đau... Đò em buộc bến sông Hàn/ Dẫu tôi đứng gọi cả ngàn năm không. Trần Vấn Lệ trong bài Chiều ngồi bên núi Chứa Chan: Ngồi đây/ nhớ núi Chứa Chan/ Ngó dòng xa lộ chang chang Biên Hòa/ Nhớ người xưa lắm/ ngày xa/ Chiều nay còn chút/ nắng tà, thương sao. Bùi Bảo Trúc trong bài Căn nhà ở đường Ngô Tùng Châu: Hãy gõ cửa, đêm nay ta trở lại/ Cánh cửa ơi có còn nhớ nhau không/ chiếc chìa khóa năm xưa ta làm gẫy...Này buổi tối cứ nằm yên ở đó/ Đèn ơi đèn đừng trở dậy đêm nay...Ngoài cửa sổ lao xao giàn bông giấy/ Cỏ cây ơi phút chốc đã như sương. Trần Văn Nam trong bài Nhà xưa: Nhà ta xưa mái lợp tôn/ Bên đường qua miệt Cái Vồn Cần Thơ/ Vườn ai mận đỏ cuối bờ/ Nghe lòng cũng mát những giờ nước lên/ Ôi con lạch nhỏ không tên/ Nhà sàn nước gọi bãi nền không nơi.
Một phân biệt nữa giữa tình hoài hương quê quán và tình quê thảo dã. Tình quê thảo dã đáng lý chỉ biểu hiện giới hạn trong thơ thi nhân đô thị ngay tại đất nước Việt Nam, nhưng nó còn kéo dài trong tâm thức thi nhân hải ngoại, bởi vì đô thị ở các xứ tiên tiến còn thập phần náo nhiệt, do đó tình yêu thảo dã muốn trở về thiên nhiên cũng thập phần hướng vọng. Thi ca nhuốm màu triết lý, thiền vị, siêu thoát, ẩn dật ca, xa lánh phiền não, xa lánh hệ lụy nhân sinh... Khuynh hướng này đã sản sinh lắm nhà thơ lớn, bất hủ, không thiếu gì sách vở đề cập đến thi ca của họ. Sưu tầm thơ hải ngoại khuynh hướng hoài hương về miền thảo dã không mấy khó khăn. Rất tiếc ta phải đành bỏ qua các bài thơ cũng hướng về thảo dã, về thiên nhiên, nhưng là thiên nhiên yên tịnh hay hùng vĩ của các xứ hải ngoại, do đó chưa phải là hoài hương thảo dã một nơi thân quen thời ấu thơ. Vừa thảo dã vừa là dấu ấn còn để lại lúc tuổi nhỏ mới đúng là quê hương kỷ niệm, càng đậm đà hơn khi đang ở hải ngoại, khi tuổi đã về chiều. Bây giờ không hiếm gì người hồi hương với tính cách khách du lịch, lại được trang bị các thứ máy chụp ảnh, máy quay phim tối tân, khi trở lại nơi hải ngoại thì cho phổ biến nhanh chóng, cảnh thôn làng người cùng quê cùng xóm với nhà thơ có dịp phơi bày bằng hình ảnh cực kỳ rõ nét nhờ kỹ thuật tinh xảo, nhưng có lẽ vẫn không linh động huyền diệu bằng thơ hoài hương miền thảo dã. Tình thảo dã, bởi vậy mang vẻ chung chung thuộc mọi miền đất nước, không rõ một địa điểm nơi nào, như Định Nguyên trong bài Quê hương: Mai mốt em về trăng thức mãi/ Trải vàng sông cũ nước vừa lên/ Đất trời lồng lộng thơm da thịt/ Trăng lại cùng em tắm nửa đêm. Trần Lam Giang trong bài Gửi bạn: Viết thư không gửi về nhà/ Đốt thêm điếu thuốc nhìn hoa cải vàng ... Mai về tắm ánh trăng quen/ Bơi dòng sông cũ/ chèo thuyền tịch dương. Vương Đức Lệ trong bài Bóng chim tăm cá: Cá biệt tăm rồi, chim khuất bóng/ May còn tiếng guốc gõ đêm sâu. Huy Trâm trong bài Hoa ngàn: Nơi đây lam chướng một miền/ Mắm thô, gạo lốc mà nên nghĩa tình. Hồ Thành Đức trong bài Ngồi vẽ thuyền, nhớ ca dao: Ngồi đây mà vẽ con thuyền ... Ngồi đây mà vẽ con sông ... Ngồi đây mà vẽ cây đèn ... Canh gà bỗng gáy giữa trưa/ Vườn sau trái rụng, tranh chưa đủ màu. Khánh Hà trong bài Nghe tiếng gà trưa: Ba mươi năm chưa trở lại nhà/ Tiếng gà eo óc tự làng xa/ Nhớ cây khế ngọt bên bờ giếng/ Mùa này chắc khế đã ra hoa. Nguyễn Thị Thanh Bình trong bài Như loài cá salmon: Như loài cá mỗi năm về cội cũ/ Ta cũng mỗi năm quê cũ kêu thầm... Mi sẽ khép lúc xuân về tươi đẹp/ Anh hãy về cho én lượn trên quê. Lê Giang Trần trong bài Người mũ đỏ Võ Thị Vui: mẹ ngồi hiu hắt ngọn đèn khuya/ nhớ ca dao mưa mái nhà chảy xuống. Hồ Công Tâm trong bài Quê hương muà thương nhớ: Chim có đôi làm ổ ở ngọn cau/ Bông bưởi trắng có thơm lừng ngõ trước/ Cúc có vàng cho bướm lượn hiên sau ... Nơi em ở mùa nào cây trái ngọt/ Hay bốn mùa đều trổ trái thương đau. Thái Anh Duy trong bài Về đất mẹ: ngàn cau, ngàn lau đời đời đứng đợi/ biết người về tóc trắng phau phau. Thái Lâm trong bài Tết nhớ quê: Đường làng tấp nập xa gần/ Đi lễ Tết chúc thân nhân họ hàng/ Thánh đường lễ sớm chuông vang/ Trống đình vào đám rộn ràng bay xa.
Xin được lặp lại một lần nữa: Những dạng tình hoài hương sưu tầm trích dẫn ở các đoạn trên đây chưa mang vẻ đặc thù của tình hoài hương quê quán. Quê quán bao hàm phải có địa danh nơi sinh trưởng. Và địa danh này rồi sẽ được quy về một vùng trọng điểm, như vậy mới đúng chủ đích của trọn bài này là cố gắng nêu ra tâm thức thời đại làm nẩy sinh tình tự về một miền nào đó. Và những vùng trọng điểm của tình hoài hương, xin được lần lượt trình bày. Tuy nhiên có những vùng trọng điểm hình thành do dư luận làm khoáy động một thời, nghĩa là không do tâm thức cùng chung của một nhóm người. Do dư luận một thời, cho nên có ít thi ca biểu hiện tâm thức. Dư luận một thời, đôi khi chỉ do ảnh hưởng sự hiện diện của một hai nhà văn làm nên những cái bóng được nói đến nhiều. Họ cùng một quê quán, cùng có sự nghiệp văn chương vững vàng, và cùng lọt vào bối cảnh gây xôn xao văn học hải ngoại. Và có vùng trọng điểm do hệ quả lịch sử làm vùng này được nhắc nhở hoài, nhưng lại thiếu nguồn nhân lực, tức là không có nhiều người làm văn thơ, trong khi vào thời trước đã là nơi phát sinh lắm nhân tài văn học. Thiếu nhân lực văn chương do hoàn cảnh lịch sử, cho nên cũng không có nhiều thơ văn biểu hiện tình hoài hương quê quán. Đến đây thì cần phải nói rõ thêm những cảm nghĩ về vùng trọng điểm Bình Định và trọng điểm Thanh-Nghệ-Tĩnh-Bình. Riêng lý do thiếu nhân lực làm văn chương bởi vị trí địa lý Thanh Nghệ Tĩnh Bình ở rất xa các trung tâm tập trung người di cư tại Hà Nội-Hải Phòng, sau khi Hiệp Định Genève ký kết năm 1954. Do vậy không có nhiều dân các vùng đó di cư vào Nam. Rồi 21 năm sau, tức vào năm 1975, dĩ nhiên cũng rất ít người vùng đó di tản hay vượt biên hay xuất ngoại theo chương trình ra đi có trật tự. Hậu quả là ít có thơ văn hoài hương từ hải ngoại về quê quán Thanh-Nghệ-Tĩnh-Bình. Xin trích dẫn vài câu hiếm hoi về thơ hoài hương quê quán vùng này, như Xuân Bích trong bài Nhớ: nhớ núi quầng biệt Quỳnh Côi/ nhớ hương bồ kết nhớ người mẹ quê/ nhớ con chim hót bụi tre/ nhớ nồi bánh Tết bên hè tranh thưa. Song Nhị trong bài Ba mươi năm về lại quê nhà: Tôi về Hà Tĩnh chiều nao...Tôi về tìm lại quê tôi/ Rưng rưng nước mắt khóc người nghìn thu/ Quê người tôi nhớ Nguyễn Du/ Quê tôi tôi đứng giữa mù mịt xa. Huy Trâm trong bài Đi chợ đồng hương: Tiếng ai mềm mại thân thương quá/ Em nói, nghe như người sông Lam. Phải nói rõ là ít có nhân lực văn chương vùng bốn tỉnh kể trên trong Văn Học Miền Nam và Văn Học Hải Ngoại mà thôi, nhưng trái lại thì nhân lực văn chương vùng đó chắc là nhiều trong Văn Học Miền Bắc sau 1954 và Văn Học Việt Nam sau 1975, tất cả cũng do từ bối cảnh lịch sử. Còn Bình Định sở dĩ trở thành vùng trọng điểm văn học hải ngoại là do dư luận giới văn chương phản bác hay ủng hộ chung quanh bộ sách Văn Học Miền Nam hơn ngàn trang của nhà văn Võ Phiến, và dư luận chung quanh bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử Sông Côn Mùa Lũ ấn hành ở trong nước của nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Nội hai bộ sách của hai nhà văn làm nên dư luận xôn xao trong thời văn học hải ngoại, thiết nghĩ cũng đã đủ hình thành vùng trọng điểm Bình Định-Phú Yên, vì hai nhà văn này chẳng những quê quán nơi ấy, mà lại còn gây dư luận có tính chất quy chiếu về địa phương của hai ông, chê khen do liên hệ địa phương cũng không ít. Tuy nhiên thơ hoài hương quê quán ấy không dồi dào, nên gần như chỉ giữ vai trò rắc óng ánh thêm cho vùng được nổi bật do hai bộ sách văn xuôi. Như Vũ Đức Tô Châu trong bài Về thăm Cổ Lũy: Hỡi những câu hò đêm Cổ Lũy/ Trà Giang ơi/ Nước chảy về đâu/ Có biết ta sầu trên bến cũ/ Sương gió tàn thu nhuộm mái đầu. Đặng Phú Phong trong bài Qui Nhơn người về: Từ trăng hoang phế soi/ Từ anh ra đi rồi/ Người lên Ghềnh Ráng đợi/ Người về Qui Nhơn ơi... Thời gian vun vút trôi/ Kìa ai hát ru hời/ Còn đây đôi tháp đợi/ Người về Qui Nhơn ơi. Trần Hoài Thư trong bài Từ buổi ta về: Bình Định ta về/ Bỗng dưng ba ngọn tháp trời/ bao bọc thằng con lưu lạc. Lâm Xương Yên: Ơn của mẹ ngày nào... buôn bán tảo tần xa, con bên mẹ/ Đại Lãnh, xóm Chụt, chợ Gành, Vạn Giã/ Mẹ con mình thổi cơm nhờ, lót dạ, chờ chuyến tàu khuya... Có lần đốn củi lạc rừng trễ tàu ra, con ngủ bụi/ Mẹ lo âu ruột thắt từng cơn. Hoàng Duy (Lê Văn Ba): Đồng bao la ba dòng sông chảy/ Núi chập chùng năm dãy non cao... Đèo Bến Đá, thành xây phía Bắc/ Đỉnh Cù Mông đồn gác phía Nam.
Một vùng trọng điễm nữa được hình thành do hậu quả của lịch sử thì nhiều, còn do người bản quán thì lại ít. Thơ hoài hương của chính người bản quán Sài Gòn rất lác đác, mà cũng không chắc họ là người bản quán, có thể từ Miền Tây hoặc từ Miền Đông lên định cư từ rất lâu. Họ trở thành dân cố cựu Sài Gòn, có khi do đời sống vất vả tháng ngày ở những khu xóm lầm than nên dĩ nhiên khi ra hải ngoại họ không có dấu ấn kỷ niệm đẹp của Sài Gòn. Và cũng có khi họ vốn từ thơ ấu đã cư ngụ nơi những dinh thự sang trọng Sài Gòn, không có dịp sống để tựu thành kỷ niệm ở những nơi chen chúc bình thường hơn, vì vậy không có dịp so sánh để lãng- mạn-hóa hay trở về bình dân ngược với nếp sống thiếu hòa đồng mà mình đã ở. Một đôi người thì lại lui về ven đô, vì ngay chính trung tâm Sài Gòn thì không có gì để nói. Tại sao không có gì đáng nói? Nào là “em tan trường về, đường mưa nho nhỏ” (Phạm Thiên Thư), nào “Sài Gòn tám phố” (Nguyên Sa), nào “dừng chân trên bến... Sài Gòn đẹp lắm Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi” (Y Vân), nhiều thứ đáng nói lắm. Nhưng xem lại thì phần nhiều là thơ của người không phải dân cố cựu Sài Gòn, gần như các tác giả hầu hết là người Bắc di cư vào Nam sau 1954. Vì vậy khi ra hải ngoại, không hiếm gì thơ hoài hương về cảm-tình-quán Sài Gòn, nào “Sài Gòn Vĩnh Biệt” (Nam Lộc), nào “Đêm, nhớ trăng Sài Gòn” (Du Tử Lê), và như Thanh Tâm Tuyền trong bài Trú mưa trên phố Hòa Hưng: Đột nhiên rào trận thiết tha/ Lạc trên phố bạn, nhớ nhà thân quen... Đạp xe lặn lội đường về/ Lênh đênh cây cối, bộn bề gió lay. Cổ Ngư trong bài Sài Gòn mùa thu: Sài Gòn mùa thu/ Hai mươi bảy độ/ Giữa lòng đường tràn trào xe cộ/ Có lối nào/ cho bóng thổ mộ/ xưa. Nguyễn Mạnh Trinh trong bài Vòng quanh mấy ngả Sài Gòn: Để anh lau em giọt nước mắt/ Của cơn mưa bất chợt Sài Gòn/ Để anh ngon ly đậu bánh lọt/ Của ấu thơ hè phố thân quen. Xin chỉ trích vài câu thơ nhớ Sài Gòn để biết rằng đó là thơ hoài hương về một cảm-tình-quán như đã nói ở đoạn trước, chưa phải là thơ hoài hương quê quán Sài Gòn cố cựu. Mà không chắc người cố cựu Sài Gòn là người bản quán. Có điều dân cố cựu hững hờ cái đẹp thơ mộng Sài Gòn. Có người chỉ nhớ cái đẹp hiện thực một chút huyền ảo hóa, pha trộn với hiện thực có sao nói vậy không màu mè, như Phương Triều trong bài Tết, xóm mộ: Nghĩa địa góc quen chiều chợ Tết/ Ông già mở lại gói đời quên... Xóm mộ chiều nay đều đủ mặt... Ông già móc bọc, cô mì gánh/ Bầy biện cùng nhau đón tết về... Xóm mộ bao ngày không ánh lửa/ Chiều nay nhan khói lại tứ bề/ Những lều gió tạt đầy hơi ấm/ Một chút tình xuân trên mỏi mê. Hoặc chỉ quay về ven đô, cũng hiện thực không màu mè vùng quê quán đầy cỏ tranh không xa đô thành, nhưng ta thấy cũng có một chút hiện thực huyền ảo của tạo vật vẫn sinh hóa dưới trời nghiệt ngã, như Hà Nguyên Du trong bài Nơi cây mọc: nơi cây mọc, đá sỏi già, đất cỗi/ gọi tên chi xứ Trảng, ơi quê nghèo... quanh cây mọc, bao nhánh còi, lá úa/ bọ sâu nào ăn mất thuở tươi xanh.
Vùng trọng điểm hoaì hương kế tiếp nhờ là trung tâm du lịch biển: Nha Trang; và trung tâm du lịch khí hậu lạnh: Tây nguyên, Đà Lạt. Chẳng những là các trung tâm du lịch mà còn là nơi có những trường đào tạo Không quân, Hải quân và trường võ bị quân đội miền Nam. Những người tốt nghiệp xuất thân tại đây, bây giờ thành người lưu vong hải ngoại, hỏi sao họ không nhớ tiếc thời vàng son nơi này, nơi làm bối cảnh cho họ gặp gỡ các giai nhân, hoặc nếu không được tác hợp thì cũng đã đi vào thơ phổ thành tình khúc “Em Pleiku má đỏ môi hồng... đi lên đi xuống thành phố có em” (Vũ Hữu Định), hoặc “Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt...tình yêu như bóng mây” (Song Ngọc), hoặc “tình nhớ trên thung lũng hồng. Ngàn sau rồi sẽ khóc thầm” (Phạm Mạnh Cương), hoặc “Nha Trang ngày về” (Phạm Duy). Xem lại những bài hát cũ nói về hai trung tâm du lịch này thì đều là những lơì ca ngợi cảm-tình-quán, nhưng đôi khi cũng có chính người quê quán ngợi ca như nhạc sĩ Minh Kỳ “Nha Trang là miền quê hương cát trắng... Nha Trang là miền khách du muốn tới/ Cho phai bao nhiêu bụi đời”. Những bản nhạc tuyệt vời ca ngơị, và cảnh quan thực sự đáng yêu như lời hát, đã gần hai mươi năm được tán thưởng khi ở trong nước, và đã đi theo họ ra hải ngoại để trở thành lời thơ hoài hương về trọng điểm du lịch của đất nước. Trong đó ta thấy thơ hoài hương quê quán cũng có, thơ hoài hương cảm-tình-quán cũng có, thật khó phân biệt vì không biết rõ tác giả sinh trưởng nơi đâu. Khó biết rõ thân thế tác giả khi chỉ sưu tầm được những câu thơ mà thôi, tuy nhiên người viết vẫn mong trích ra đúng thơ hoài hương quê quán, như Lê N. Khai trong bài Hình như trong chiêm bao: Hình như tôi bị hớp hồn/ Khi con vạc lạc cuối còn kêu vang/ Hình như tôi gọi tên nàng/ từ Ban Mê Thuột bạt ngàn về đây? Trầm Mặc Hoa Huyền trong bài Pleiku còn đó: Pleiku phố núi sương mờ lạnh/ Nhuộm trắng đời nhau lúc biệt ly. Hải Phương trong bài Con đường chở đầy những sớm mai đi vẫn đợi: Những ngón tay phơi mở róc rách như hơi thở của dòng chảy thứ ngữ vựng mù sương lâm viên che phủ mờ mờ ngọn hải đăng Le Beau Rivage trùng dương dạt dào con sóng vỗ khát khao bờ bãi đến. Trần Thiện Hiệp trong bài Những con đường không quên: Con đường quê bằng bặc/ Lòng ta ở đồi mơ/ Trường Sơn mây xa đỉnh/ Cánh chim nào bơ vơ. Quan Dương trong bài Nha Trang: Tháp Bà ai thả trơn triền dốc/ Để cho nắng chảy xuống chân đồi... Nhìn tảng Hòn Chồng đè hôn sóng/ Em có rợn hồn đợi chiêm bao?... Thoảng tiếng cu cườm xưa gù gọi/ Tưởng già mà vẫn cứ hai mươi. Phan Nhiên Hạo trong bài Đà Lạt 1987- 2002: Qua cửa sổ mờ sương tôi thấy người đàn bà/ gánh hai chiếc thúng/ Tôi không biết bà gánh gì, nhưng/ tôi biết sức nặng của cuộc đời không ra khỏi được thung lũng. Nguyễn Dương Quang trong bài Dran, ngày về: tôi là giọt sương Dran sớm/ giọt sương Dran chiều... Đêm ngồi đợi sương mù buông hư ảo/ chuyện xưa xui thác đổ ngàn hàng. Phan Ni Tấn trong bài Cũng người phố núi: Ngày xưa tôi cũng người phố núi... Làm bạn những con đường xuôi ngược/ Mài thân mưa nắng cọ sương trời... Lên cao mới thấy mình lận đận/ Chém cha ba bồ chữ mênh mông/ Từ trên Đại học tôi rớt xuống/ Thành lính biên thùy trấn núi sông. Trần Quán Niệm trong bài Miền cát trắng: Nha Trang, biển, cát, nắng đầy/ Gió hoàng hoa gọi, sóng bầy cuộc vui/ Dừa già phơ phất lá còi/ Ngàn năm đứng mỏi ngóng người tình xa. Trần Trúc Lâm trong bài Nhớ về Gia Nghĩa: Dòng suối Dak-Nông nước chảy miên man/ Bầy sơn nữ ngâm mình cười rúc rích... Có những đêm trăng lộng vàng tĩnh mịch/ Buôn bản xa mờ khói sóng mơ bay... Nhớ quá đi thôi, chút gì tha thiết/ Ở cảnh ở người chẳng rõ từ đâu.
Như đã trình bày ở đoạn khởi đầu của bài này, các vùng trọng điểm cho thơ hoài hương không phải thời nào cũng giống nhau, mà do tâm thức riêng biệt hình thành từ bối cảnh lịch sử hay bối cảnh xã hội. Ví dụ thời Văn Học Miền Nam, vùng trọng điểm văn chương Nam Bộ là ở Miền Đông với nhà văn Bình Nguyên Lộc. Ông là cái bóng lớn với những truyện ngắn gợi thời lịch sử khai hoang ở miền Đồng Nai-Biên Hòa, nghĩa la cái bóng đó không do những tiểu thuyết tình phong tục xã hội, mặc dù một trong những cuốn tiểu thuyết ấy đem lại cho ông giải thưởng văn chương toàn quốc thuộc Văn Học Miền Nam trưôc 1975. Và vùng trọng điểm thứ hai cho văn chương Nam Bộ thời Văn Học Miền Nam cũng lại là những truyện ngắn gợi thời khai hoang Miền Tây, nhất là miền Cà Mau-Rạch Giá, với nhà văn Sơn Nam làm cái bóng lớn thứ hai. Nhưng đến thời Văn Học hải ngoại thì trọng điểm của văn chương Nam Bộ là hoài hương về quê quán miệt vườn. Tại sao không còn cảm hứng viết bi-hùng-sử như “Rừng Mắm” hay “Bà mọi hú” (hai truyện ngắn cuả Bình Nguyên Lộc), tại sao không còn cảm hứng viết về những nhân vật mở đường khai hoang về xứ khỉ ho cò gáy như “Cô Út về rừng” hay “Mùa len trâu” hay “Một cuộc biển dâu” (ba truyện ngắn của Sơn Nam), tại sao lại là cảm hứng nhớ miệt vườn trong bối cảnh văn minh tân tiến ở hải ngoại? Thật dễ trả lời sự hình thành tâm thức đó đối với người từ giã ruộng vườn để sống đời văn minh kỹ nghệ đất nước tân tiến. Nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh nêu lý do vì đây là lần đầu tiên người Lục tỉnh Nam bộ di cư. Cho dẫu sau này việc hồi hương về thăm quê nhà không mấy khó khăn, nhưng chỉ là về thăm mà không về ở. Sau hai ba chục năm định cư, họ đã bám rễ cũng khá chặt vào đất mới. Miệt vườn với cảnh sông nước, với thú vui ấu thơ chốn quê mùa, với cây trái vườn xưa, với chim chóc và động vật ruộng đồng, với món ăn đặc sản, với tụ họp bè bạn ăn uống, với hát vọng cổ nói thơ, với tình trai gái, với cưới hỏi, với phong tục... Nhưng những thứ này ở đâu cũng có nơi những miền thôn quê khác trên đất nước, đâu phải riêng ở Nam Bộ. Sở dĩ Nam Bộ được người quê quán nói đến nhiều, có lẽ do sự trù phú của đồng bằng sông Cửu Long làm con người quá triều mến, nhớ đến nhiều nên muốn nhắc lại hết kỷ niệm để san sẻ hoặc hồi tưởng cho riêng mình. Hoài hương quê quán thôn làng ở những miền khác như ở ngoài Bắc hay miền Trung, đã hình thành nền văn chương sau lũy tre xanh từ lâu rồi, chỉ có thi ca miệt vườn là mới nở rộ gần đây thôi. Những câu thơ hay về tình hoài hương quê quán miệt vườn; biểu hiện tình thân dành cho địa hình, thổ ngơi, chim muông động vật, đặc sản, tình trai gái miệt vườn, dấu ấn kỷ niệm. Địa hình sông nước tràn trề ghi dấu trong thơ của Hồ Trường An trong bài Gò Công, đất bưng ruộng biền: Cũng trũng, cũng gò, cũng rẫy đồng/ Một bề biển lớn, ba bề sông/ Bèo theo nước cuốn qua Vàm Láng/ Nắng mở đường lên hợp chợ Giồng... Sóng lặng ghe xuồng về trẩy hội/ Bão lên cò vạc tách xa bầy/ Sao như soi rạp chưa tuôn biển/ Đã nối vòng tay Vàm Cỏ Đông. Lâm Hảo Dũng trong bài Như kiếp thương hồ: Dăm chiếc ghe buôn về khắp xóm/ Cũng buồn, tôi dạo gốc ô môi/ Đời ai như nước lêu bêu ấy/ Trên những dòng sông rợp tiếng cười. Giang hữu Tuyên trong bài Mưa ở Arlington, nhớ mưa quê nhà: Hồn bình nguyên rộng trên tay/ Căng đầy nỗi nhớ sông dài phù sa/ Ơi miền Nam, ơi quê nhà/ Dưới ao sen nở mẹ già vo cơm. Nguyễn Vĩnh Long trong bài Bến Lức: Nhịp qua thương nhớ nhịp về/ Một dòng xanh nhỏ lời thề nước non/ Chân ai dấu nhỏ đường mòn/ Câu hò Vàm Cỏ vẫn còn trên sông. Kiều Mộng Hà trong bài Bâu Búi: Ta về thăm lại dòng sông xưa/ Dòng sông buồn có những nhánh dừa... Nơi đây heo hút, gió vun vút/ Nước mặn đồng chua cỏ cháy khô... Chiều lắng bến sông vàm Bâu Búi/ Tiễn đưa ta ra cửa Gành Hào... Ta trở về sau mười chín năm/ Chân trần trên cát đậm tình thâm/ Cám ơn đất cũ còn lưu giữ/ Kỷ niệm sâu trong nắm mộ nằm. Trần Phù Thế trong bài Ngã tư lồng đèn: Anh từ Đại Ngãi đến/ Em từ Long Phú qua... Khẳm lừ ghe dưa hấu/ No đầy xuồng khoai lang... Vô tình anh quen em/ Ngã tư cột lồng đèn... Trăng sao làm nguyệt lão. Thổ ngơi cây trái và món ăn đặc sản, chim muông và động vật, được ghi dấu trong thơ Hoàng Thượng Dung trong bài Nhớ xuân quê mẹ: Mặn muối Bạc Liêu thương đót mắm/ Tháp Mười điên điển nở vàng chưa?... Lưu luyến Vũng Tàu hương mắm ruốc/ Hồng bay Bà Điểm lá trầu cay... Ôm hết tình quê hương thắm thiết/ Giật mình pháo nổ buồn lê thê. Phương Triều trong bài Trái mộng: Em đỏ mắt sơn xanh đời mốc lạnh/ Áo chàng-hiu nào mặc ếch chiều mưa... Con tép bạc múa râu đòi nước ngọt/ Vợ chồng tôm hí hửng cuộc vui đùa... Ta lỡ vận rong chơi ngày thất nghiệp/ Em vô tư không cả một câu chào... Con bửa củi gục đầu trên vỏ quẹt/ Tay ai trì kéo nặng một đời nhau. Tài Nguyễn trong bài Quê nội Gò Công: Se sẻ chuyền cành, trao trảo gọi/ Võng bên hè say giấc ngủ trưa... Bắt con chuồn chuồn cắn rún sâu/ Chuồn ơi, mày giúp tao lội mau... Ốc bưu luộc chín thơm hương bưởi/ Câu cắm ruộng khuya chụp ễnh ương. Ngô Nguyên Dũng trong bài Puzzles cảnh quê nhà: lu nước lắng phèn ôm ấp bóng/ trăng mười lăm xối mát chân không/ lửa đom đóm thắp đèn hôn phối/ bần ngơ ngác rụng kín lưng sông... bụi khô khốc thổi vàng sân úa/ mối mọt âm thầm khóc nỗi riêng. Thy Lan Thảo trong bài Gò Công ơi, ta nhớ: Đậu rồng , me đất, bông so đũa/ Tôm đất nguyên đầu thơm canh chua... Ly mắt trâu nhớ trà Bố Lỹ/ Gò Công ơi nhớ mấy cho vừa... Thịt cua quyên gạch, chua rau dấp/ Rượu đề Gò Me say được chưa? Thái Thụy Vy trong bài Phù sa sông Hậu: Nhà tôi ở Chắc Cà Đao/ ở ngay sông Hậu, ngả Gò Ông Khâu... Ngủ nhà cao cẳng mát ghê/ Chuột nướng rau ngỗ mải mê một đời. Và cường điệu tình trai gái miệt vườn, nhưng cũng cuồng nhiệt, sâu sắc, và ỡm ờ, như thơ của Kiệt Tấn trong bài Tiền Giang Hậu Giang: Nắng Tiền Giang, mưa Hậu Giang/ Xe lam vừa tới miệt Ba Càng/ Ruộng khô thổi nóng lùa hơ tóc/ Tóc em thơm phức mùi dưa gang... Nắng Tiền Giang, mưa Hậu Giang/ Sông Mỹ đò đưa bến Vĩnh Tràng/ Bên chùa tôi đã ôm em siết/ Xa rồi còn luyến tiếc đò ngang. Nguyễn Tấn Hưng trong bài Tình thu trên xứ Mỹ: Cồn Rồng một chuyến đò ngang/ Nước Cửu Long khoác cho nàng rửa chân... Cầu Quây nối bước chân son/ Con đường Trưng Trắc đi mòn tuổi thơ. Đạm Thạch trong bài Chắc gì em: Kỷ niệm bồi hồi/ Dồn tôi thành sóng/ Xô tôi đâm đầu/ Vào em tảng băng... Tôi về thủ thỉ/ Ru ngọn dừa xanh/ Con đuông ẩn mình/ Đục tôi héo úa. Hồ Thanh trong bài Nỗi nhớ: Tháng 8 qua phà sang Rạch Miễu/ Một vùng mây nước nhớ bâng khuâng... Cầu khởi công rồi trơ cột sắt/ Triều dâng con nước chảy bình yên/ Mai kia ví nếu đường thông tuyến/ Tủi phận em phà bị lãng quên... Ở đâu còn thấy bóng xà lan/ Kéo một giòng ghe khẳm cát vàng/ Cơn suyễn trầm kha qua tiếng máy/ Thở cùng cụm khói, ánh sương tan. Nguyễn Thanh Châu trong bài Lời tỏ tình với cô gái Cần Thơ: Con cá lội dưới ao/ Con chim chuyền bụi ớt/ Có lẽ đâu kiếp trước, em thấy anh phải lòng/ Muốn nên vợ nên chồng... Câu ca dao dạm ngỏ/ Em đừng làm mặt khó/ Kẻo mốt nọ mai kia. Hồ Tĩnh Tâm trong bài Một chiều mưa: Em bán dưa gang, tôi mua niềm hẹn ước/ Chuyến xe đò vụt chở giấc mơ xa. Viết để mang chất miệt vườn với phong vị của những câu hát vọng cổ, nhưng từ ngữ vẫn tân kỳ sáng tạo như thường có ở thơ Tô Thùy Yên, trong bài Nhớ có một lần trên bắc khuya: Ông lão khô quắt như thanh đước/ Đàn hát mưu sinh bến bắc đêm... Trăng thiếp, sao mê, sông ráo gió/ Buồn như sóng nối, tản không tan... Em về giồng dưới qua truông gió/ Bông sậy còn day ngất nỗi buồn... Tình ý theo người đi một đổi/ Một đỗi, dài hơn bốn chục năm.
Thời Văn Học Miền Nam, xin nhắc lai, vùng trọng điểm hoài hương, liền sau năm 1954 đối với các nhà thơ từ ngoài Bắc di cư vào là Hà Nội và châu thổ sông Hồng, bao gồm đặc biệt các xứ đạo Bùi Chu-Phát Diệm. Có thể nhắc nhở vài hình ảnh dễ nhớ như “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” (Hoàng Anh Tuấn), “Tôi xa Hà Nội, năm lên mười tám, khi vừa biết yêu... Tôi xa Hà Nội, năm em mười sáu, xuân tròn đắm say” (Anh Bằng), “Con đi xây tình viễn xứ, đâu có quên tình cố hương” (Thái Thủy). Tuy nhiên thi ca hoài hương đất Bắc sau năm 1954 không để lại dấu ấn lớn cho văn chương, không lớn như trong văn xuôi với Mai Thảo (Tập truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, Căn nhà vùng nước mặn), với Doãn Quốc Sỹ (Tập truyện dài Dòng sông định mệnh, Ba sinh hương lửa), với Thanh Tâm Tuyên (Tập truyện dài Bếp lửa), với Nhất Linh (Tiểu thuyết Dòng sông Thanh Thủy). Mai Thảo viết lòng hoài hương như “con cá thu về đầm mình trong vùng biển cũ”, khác nào loài cá salmon trưởng thành ngoài đại dương, mà cuối đời theo tiếng gọi của bản năng, tìm về đúng dòng suối trong rừng già ở đất liền, nơi chúng nó được sinh ra. Và dù đang ở Sài Gòn nóng bức mà khi đọc truyện Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, ta không khỏi thấy giá lạnh, giá lạnh đó do tác giả thấm từ đất Bắc đưa vào, tuy tác giả không chủ yếu viết về tình hoài hương. Đọc truyện Dòng Sông Định Mệnh của Doãn Quốc Sỹ mới thấy tác giả yêu vô cùng con sông chảy qua làng ông, với những tiêu đề như thơ. Vui buồn của sông tượng trưng cho truyện của một đời người: “Khúc quành của dòng sông- Con sông dài đi tìm ánh trăng mười sáu- Hai ngả sông đi về đâu?- Xa cách- Hai nhánh sông gặp gỡ- Thuyền ơi thuyền, thuyền trôi nơi đâu- Khúc quành cũ, con sông xưa- Hai nhánh sông phân ly- Đêm trăng thuyền về bến cũ- Sông đã ra tới biển có còn khúc quành nào đâu”. Hai mươi mốt năm sau, tức năm 1975, và hai ba mươi năm nữa ở hải ngoại, vùng trọng điểm hoài hương quê quán Hà Nội và châu thổ sông Hồng được thay thế bằng hoài hương cảm-tình-quán Sài Gòn (cũng là một điều đã nói ở đoạn trước). Những người lớn tuổi thực sự nhớ Hà Nội bằng kỷ niệm đã sống với, chỉ còn lác đác, hiếm có thi nhân “để lại con tim” vì một mối tình dang dở như nhạc sĩ Anh Bằng ra đi lúc mười tám xuân xanh. Có thể còn nhiều người, vào năm 1954 khi xa Hà Nội, lớn tuổi hơn; nhưng họ không là những thi nhân, không sáng tác thơ hoài hương Hà Nội khi ở hải ngoại. Những ng


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post May 23 2011, 07:10 AM
Gửi vào: #44


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,635
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Thời Văn Học Miền Nam, xin nhắc lai, vùng trọng điểm hoài hương, liền sau năm 1954 đối với các nhà thơ từ ngoài Bắc di cư vào là Hà Nội và châu thổ sông Hồng, bao gồm đặc biệt các xứ đạo Bùi Chu-Phát Diệm. Có thể nhắc nhở vài hình ảnh dễ nhớ như “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” (Hoàng Anh Tuấn), “Tôi xa Hà Nội, năm lên mười tám, khi vừa biết yêu... Tôi xa Hà Nội, năm em mười sáu, xuân tròn đắm say” (Anh Bằng), “Con đi xây tình viễn xứ, đâu có quên tình cố hương” (Thái Thủy). Tuy nhiên thi ca hoài hương đất Bắc sau năm 1954 không để lại dấu ấn lớn cho văn chương, không lớn như trong văn xuôi với Mai Thảo (Tập truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, Căn nhà vùng nước mặn), với Doãn Quốc Sỹ (Tập truyện dài Dòng sông định mệnh, Ba sinh hương lửa), với Thanh Tâm Tuyên (Tập truyện dài Bếp lửa), với Nhất Linh (Tiểu thuyết Dòng sông Thanh Thủy). Mai Thảo viết lòng hoài hương như “con cá thu về đầm mình trong vùng biển cũ”, khác nào loài cá salmon trưởng thành ngoài đại dương, mà cuối đời theo tiếng gọi của bản năng, tìm về đúng dòng suối trong rừng già ở đất liền, nơi chúng nó được sinh ra. Và dù đang ở Sài Gòn nóng bức mà khi đọc truyện Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, ta không khỏi thấy giá lạnh, giá lạnh đó do tác giả thấm từ đất Bắc đưa vào, tuy tác giả không chủ yếu viết về tình hoài hương. Đọc truyện Dòng Sông Định Mệnh của Doãn Quốc Sỹ mới thấy tác giả yêu vô cùng con sông chảy qua làng ông, với những tiêu đề như thơ. Vui buồn của sông tượng trưng cho truyện của một đời người: “Khúc quành của dòng sông- Con sông dài đi tìm ánh trăng mười sáu- Hai ngả sông đi về đâu?- Xa cách- Hai nhánh sông gặp gỡ- Thuyền ơi thuyền, thuyền trôi nơi đâu- Khúc quành cũ, con sông xưa- Hai nhánh sông phân ly- Đêm trăng thuyền về bến cũ- Sông đã ra tới biển có còn khúc quành nào đâu”. Hai mươi mốt năm sau, tức năm 1975, và hai ba mươi năm nữa ở hải ngoại, vùng trọng điểm hoài hương quê quán Hà Nội và châu thổ sông Hồng được thay thế bằng hoài hương cảm-tình-quán Sài Gòn (cũng là một điều đã nói ở đoạn trước). Những người lớn tuổi thực sự nhớ Hà Nội bằng kỷ niệm đã sống với, chỉ còn lác đác, hiếm có thi nhân “để lại con tim” vì một mối tình dang dở như nhạc sĩ Anh Bằng ra đi lúc mười tám xuân xanh. Có thể còn nhiều người, vào năm 1954 khi xa Hà Nội, lớn tuổi hơn; nhưng họ không là những thi nhân, không sáng tác thơ hoài hương Hà Nội khi ở hải ngoại. Những người trẻ, trong số đó thật là nhiều thi nhân, khi vào Nam năm 1954 thì trọn thời gian thanh xuân sống với kỷ niệm học hành, sự nghiệp, tình duyên, chiến tranh ở đó. Đầy kỷ niệm trong thời đại chiến tranh khốc liệt tại miền Nam, họ đâu có gì kỷ niệm lúc một hay năm sáu tuổi thì đã vào Nam, vậy đâu có gì để hoài hương về quê quán. Cũng giống như bây giờ thế hệ thứ hai thứ ba tại Hoa Kỳ hay Pháp quốc, hay Úc Đại Lợi-Canada đựơc nhắn nhủ “có bao giờ em hỏi, quê hương mình nơi đâu?”. Kỷ niệm sống-với mới làm nên thi ca tình tự, còn ngoài ra là thơ tìm lại nguồn cội do khảo cổ, lịch sử, kiến thức. Thơ hoài hương do cảm hứng từ phát kiến mới về lịch sử, từ khảo cổ khai quật gần đây, từ du lịch theo tour hướng dẫn, chỉ là thơ hoài hương hứng cảm do được mở rộng tầm mắt, không phải thơ hoài hương xúc cảm do kỷ niệm xa xôi. Sưu tầm được cả hai dạng hoài hương (xúc cảm và hứng cảm) về quê quán vùng trọng điểm Hà Nội và đồng bằng châu thổ sông Hồng, xin trình bày trước nhũng câu thơ hoài hương xúc cảm, như Hà Thượng Nhân trong bài Nhớ Hà Nội: Em hãy đến thăm dùm chùa Trấn Quốc/ Thăm Cầu Giấy thăm những người quen thuộc/ Thăm quê hương dùm kẻ thiếu quê hương. Viên Linh trong bài Nhớ Hà Nội: Em hãy đến thăm dùm bãi Nghi Tàm/ Nơi thuở nhỏ anh từng chạy nhảy... Nghe tiếng véo von, nhớ về Hà Nội/Nơi Trâu Vàng, Ngựa Đá, Cõi Rồng Xanh. Vĩnh Lộc trong bài Không đề: Đi trên đê Hồng Hà/ Nghe sóng mùa nước nổi...Đường Tràng Thi êm mát/ Chuyến xe điện ngàn năm. Chu Vương Miện trong bài Cẩm Phả Min: xa quá lắm cửa ông Bạch Long Vỹ/ Cẩm Phả Min nhòa nhạt tuổi thơ/ 50 năm hồi còn để chỏm/ ngoái lại nhìn mái tóc lơ thơ. Và bài Cao Mỵ Nhân: Mấy chục năm xưa trên cõi Bắc/ Mừng xuân giữa núi phản tay phàn/ ruộng bậc thang nói vào phi mã biệt/ đầu Quảng Tây, thập vạn đại sơn... Năm mươi bốn năm xa rồi đất Bắc... Đời chị đời em, ngó lại sững sờ. Hoàng Dương trong bài Lên phố lu: Tàu ngược, bè xuôi, núi lượn vòng/ Lũng dài mây đuổi nắng khoanh vùng/ Xóm mới nhà ai vàng mái cọ/ Cuối ghềnh mưa ngả trắng sông Hồng. Trần Nguyên Anh trong bài Tháng sáu: Bạch Hạc Phong Châu nguồn đất tổ/ Vĩnh Tường Phủ Vĩnh gốc quê tôi/ Ba Vì hữu ngạn cao sừng sững/ Hình ảnh mang theo suốt cuộc đời. Ng. Cát Minh Nguyệt trong bài Xuân tha hương: Mưa bụi giăng trắng xóa/ Mờ phủ bóng quê nhà/ Hoa đào trên xứ lạ/ Không thắm đỏ hồn ta. Lưu Văn Vịnh trong bài Thơ ấu: Hồ Gươm mẻ một miếng/ bóng Rùa thần bọt tan... lá me rơi lả tả/ kẹo kéo vỉa hè quen.. tuổi thơ là đám hội/ mây mây mây bay qua. Hoàng Song Liêm trong bài Về làng cũ: Trái sấu xanh thuở đầu đời đi học/ Vị trên môi còn chát chát chua chua/ Một chân trời tím ngát dưới chân đê/ Chợt nhớ tháng ba màu hoa gạo... Thương cái cò lặn lội mãi bờ ao/ Thương cái cò, chìm giấc ngủ tôi sâu. Trần Quốc Bình trong bài Làng tôi: Làng tôi cả thảy gồm ba xóm/ chạy dọc theo dòng sông uốn quanh... Ngôi đình cổ kính mang tên Đậu/ Có sân rộng rãi nhãn bao quanh...Tôi bỏ làng đi lúc tuổi xanh/ Để lên theo học ở kinh thành/ Thế rồi đi mãi không quay lại/ Phiêu bạt theo thời buổi chiến tranh. Có thể nhắc, thơ hoài hương qưê quán thủ đô Hà Nội hay đồng bằng sông Hồng của các nhà thơ trên là thơ do xúc cảm những kỷ niệm còn lại khi vào Nam năm 1954. Thi nhân ít nhất cũng 13 hay 14 tuổi trở lên thì mới có kỷ niêm để mà viết lại sau gần nửa thế kỷ rời xa. Tuy nhiên cũng có người lớn tuổi, đã thừa kỷ niệm, nhưng họ không hoài hương bằng xúc cảm mà bằng hứng cảm do đọc lại tài liệu lịch sử chính truyền hay huyền sử cổ tích, do tin tức gần đây về cuộc khai quật thành Thăng Long hoặc di tích thời đại Hùng Vương tại châu thổ Hồng Hà. Những người trẻ hơn hoặc sinh trưởng tại Miền Nam sau năm 1954 thì làm thơ hoài hương do hứng cảm nhờ những chuyến đi du lịch càng ngày càng thường xuyên giữa hải ngoại và nội địa. Thế hệ già và trẻ, do kiến thức và du lịch, cùng nguồn hoài hương hứng cảm, như Trần Hồng Châu trong bài Chợ huyện một tháng sáu phiên: Nhịp nhàng quẩy gánh chân đi/ Đôi vai bé nhỏ thần kỳ làm sao... Gió mưa lòng vẫn tấm son/ Đồi Lim phố huyện vây tròn tình em... Em là con gái ca dao/ Ngàn thu hồn Việt dạt dào lời thơ. Đỗ Quý Toàn trong bài Chuyện cũ, ở đất mới xa xăm: Ở đất nước xa xăm/ nơi mỗi một dòng sông/ là một lời thân mến... Có một chàng Trương Chi/ vọng trường giang tiếng hát... Có chị Tấm cô đơn/ ra bờ ao đứng khóc... Có cây cau trổ bông/ cây trầu leo quấn quít... Ở đất nước xa xăm/ lúa rì rào kể chuyện/ với đồng ngô bãi dâu/ chú Cuội bỏ quên trâu/ chỉ vì trăng đẹp quá. Nguyên Sa trong bài Tiễn bạn: Tiễn nhau nhớ tháng giêng mưa/ Sông Hồng nước đọng bóng chưa nhập hình/ Tiễn anh linh hiển u minh/ Cắn vào da thịt thấy mình bỏ đi.




Thơ hoài hương về quê quán dồi dào nhất dành cho vùng trọng điểm có cảnh đẹp thanh tú, nhiều di tích lịch sử và lúc nào cũng nhiều người làm văn làm thơ: Trọng điểm cố đô Huế và Quảng Nam Đà Nẳng. Những vùng khác nếu trở nên trọng điểm hoài hương là do biến thiên theo tâm cảnh từng thời kỳ, như thời gợi nhớ lịch sử khai hoang Nam Bộ (thời Văn Học Miền Nam) mờ nhạt để nhường cho thời gợi nhớ miệt vườn Nam Bộ (thời Văn Học Hải Ngoại), còn trọng điểm hoài hương Huế cùng Quảng Nam-Đà Nẳng thời nào cũng như nhau, thời Văn Học Miền Nam hay thời Văn Học Hải Ngoại cũng vẫn là một tâm cảnh bất biến dành cho cố đô và Quảng Đà. Nội mỗi một nơi cũng đủ làm thành trọng điểm nếu xét về số lượng cũng như phẩm lượng văn vật, tại sao gộp chung lại làm một. Lý do vì cố đô Huế và Quảng Nam Đà Nẳng sát kề nhau, thơ liên hệ giữa hai miền gần như gắn bó, nhất là thơ tình, đúng như ca dao vẫn thường được nêu ra: “Học trò xứ Quảng ra thi/ Thấy cô gái Huế chân đi không đành”. Kinh tế và lịch sử cũng nhiều liên hệ từ trước và còn mãi về tương lai khi đường hầm hiện đại Hải Vân làm sự qua lại giữa hai miền không còn là đường đèo nguy hiểm, khi cố đô Huế đã trở thành khu bảo tồn di tích được Liên Hiệp Quốc bảo trợ, khi hải cảng Đà Nẳng được canh tân để mở đường thông thương vận chuyển lớn qua Lào và Thái Lan, khi Chu Lai sẽ được xây dựng thành khu du lịch nhiều khách sạn năm sao và sòng bài quốc tế. Họa sĩ Trịnh Cung, người quê quán Nha Trang, có lần đi thăm Huế, cho rằng với cảnh vật và cuộc sống nơi đây thì ta không ngạc nhiên tại sao từ trước đến nay Huế vẫn nhiều thi sĩ. Sưu tầm thơ trong sách báo, ta thấy Quảng Nam-Đà Nẳng cũng tương đương. Nhưng, chẳng hạn tình dành cho người con gái Huế làm có người quá nhớ Huế khi đang sống nơi hải ngoại, thơ đó chưa phải hoài hương quê quán như chủ đích bàn luận cùng sưu tầm của bài viết này, mà chỉ là thơ hoài hương cảm-tình-quán. Nếu thi nhân có quê quán xa như ở ngoài Bắc hay trong Nam làm thơ nhớ Huế thì ta dễ nhận ra đó là thơ hoài hương cảm tình quán. Còn như người xứ Quảng làm thơ yêu Huế thì ta lại phân vân có nên phân biệt giữa cảm tình quán và quê quán, vì như đã nói hai nơi gần như một. (chỉ giọng nói khá phân biệt mà thôi). Sự gộp chung do cùng tính chất cùng tâm cảnh, do người viết bài này có cảm tưởng mơ hồ như vậy, không phải do hiểu biết rõ về địa lý nhân văn. Nhưng cũng xin trình bày vài hiểu biết nhân văn. Phân chia Bắc-Trung-Nam là phân chia chính trị do tính chất bảo hộ hay thuộc địa hay còn để trực thuộc triều đình nhà Nguyễn, bởi sự đặt định của thực dân Pháp. Phân chia Bắc-Nam sau hiệp định Geneve là phân chia để mỗi bên về một chủ nghĩa. Còn phân chia do địa lý nhân văn, do quần cư sinh sống, là tự nhiên. Cho nên thơ hoài hương về hai miền gần nhau là hoài hương về một miền địa lý nhân văn. Toàn cõi Việt Nam cũng chỉ là một miền địa lý nhân văn xét về chủng tộc, ngôn ngữ, lịch sử, kinh tế. Nhưng tình quê quán có khi phải cảm đến đơn vị làng xã, thì hoài hương quê quán chung cho một vùng tâm cảnh không phải là phân chia vụn vặt. Cũng đều là thi ca hoài hương nhớ con người và cảnh trí hữu tình, nhớ di tích thành quách hay di tích đền đài. Để thấy sự khó tách rời thơ hoài hương Huế-Quảng Nam Đà Nẳng, xin trích dẫn trước tiên thơ hoài hương cảm tình quán của những người có quê quán hơi xa Huế và Quảng Nam-Đà Nẳng. Như Hà Huyền Chi trong bài Vienna: Anh tới thành phố nước/ Lòng gợn sóng Vienna/ Kè ôm nhau tình tự/ Sao chúng mình chia xa... Thèm nghe tiếng rao hàng/ Chiều Đông Ba Gia Hội/ Đời tình đã sang trang... Nghìn ga vui đã tới/ Chẳng giúp ta quên nàng. Hoặc Nguyên Sa trong bài Tôn Nữ Thanh Hằng: Gặp em Tôn Nữ Thanh Hằng/ Anh vô triều đại Công Tằng Nữ Tôn... Tuốt trong đại nội trăng soi/ Chánh cung lại có nụ cười thứ phi. Và dưới đây thật là phong phú thơ hoài hương Huế-Quảng Nam Đà Nẳng, như Kiêm Đạt trong bài Về chân trời tím: Áo em lụa trắng sông Hương/ Qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào. Nguyễn Đức Bạt Ngàn trong bài Bên bờ Ô Lâu: Tôi về gặp lại hư không/ Bàn tay nội ngoại bay vòng nát tan... Khi về đậu giữa tăm hơi/ Gà trưa gáy muộn ngang trời quạnh hiu. Huỳnh Liễu Ngạn trong bài Vân Lâu: Xõa vội tóc những hàng cây đứng gió/ mùa lên cao em hoàng tộc se màu... đôi mắt ngó từ Vân Lâu dội xuống/ mà Hoàng thành tơ lụa trải niềm đau. Nguyễn Phương trong bài Tôn Nữ Mùa Xuân: Những tưởng mười năm em có hiểu/ chút gì si hận của riêng ai/ Mười năm gặp gỡ và câm nín/ Em vẫn vô tình, mây trắng bay... Tôn Nữ Mùa Xuân, năm tháng đợi/ Vẫn còn bao tháng đợi năm chờ. Ngữ An trong Bài ở Huế: Huế chỉ có hai mùa mưa nắng/ Nắng thì buồn mưa lại trầm ngâm/ May còn có em bên đồi nọ/ Để tôi về thả mộng qua sông. Kiêm Thêm trong bài Những đêm trăng thần thoại: tôi lớn lên cùng con sông/ chảy xuôi về mạn ngược... Dòng sông Bồ êm ả xuôi trôi. Phạm Cao Hoàng trong bài Trước khi rời bỏ Việt Nam: bữa đó con về thăm Phú Thọ... nồi cá rô thơm mùa lúa mới/ và tiếng cười vui của mẹ hiền... ngày mai con lại ra đi nữa/ cứ đi hoài mà chẳng đến nơi. Luân Hoán trong bài Tiên Phước 1946: Tiên Phước đội trời nghênh ngang đứng/ tôi chào ra mắt thuở lên năm/ lòng như vạt đất mời cây mọc/ xin gọi lại một lần, thay viếng thăm. Hà Quốc Huy trong bài Tết nhớ thằng bạn: Đi xa Huế dẫu đời lận đận/ Nhưng còn thành Nội ở trong tim/ Nhưng còn hình ảnh núi Ngự sông Hương. Thái Tú Hạp trong bài Ta thấy ta về quê hương: Ở đó ta đã lớn lên/ Giữa thành phố Hội An... Có thuyền vui Cửa Đại/ Đêm trăng vàng trải lưới vá đau thương... Áo lụa Duy Xuyên/ Thương về Tuy Phước/ Chiều Hải Vân mây khoác kín sao trời. Võ Đình Tuyết trong bài Thơ về Đà Nẳng: Đà Nẳng cùng ai thương nhớ thương/ Năm xưa, rượu tiễn bước lên đường/ Hôm nay ngồi đếm từng trang sử/Để thấy trang nào cũng xót thương. Phùng Minh Tiến trong bài Về thăm sông Thu Bồn: Sông Thu nay lở mai bồi/ Bèo tan Cửa Đại, mây trôi phương nào/ ... Trời ơi! Thoảng một nụ cười/ Theo nhau chi để lụy người núi sông. Mạc Phương Đình trong bài Ngũ Hành Sơn và kỷ niệm: Lời hẹn ước quyện vào năm cụm núi/ ngẩng đầu lên như thấy bóng thiên đường... Năm cụm núi vẫn ngàn năm chẳng đổi/ Cuộc tình mình vẫn mãi với trăm năm. Hoàng Lộc trong bài Phố người, gặp đồng hương: Những cao lầu, hoành thánh/ Đã ăn ở Hội An/ Tới đâu rồi cũng tránh... Đã yêu ở Hội An/ Tình đã ra cửa Đợi/ Tới đâu dù được yêu/ Cũng nghe mình có lỗi. Thành Tôn trong bài Hương đồng phấn nội: Đợt khói lam chiều tương tư mái rạ/ Anh có thấy gì trong đó hay không?... Trống sớm làng Trung, chuông chùa xóm Thượng/ Tiếng quê hương vang vọng tháng năm dài... Đợt khói lam chiều tương tư mái rạ/ Em có thấy gì trong đó hay không? Hoàng Định Nam trong bài Câu Lâu ngày về: Câu Lâu chỗ Thu Bồn tan rồi hợp/ Để cùng xuôi về biển mẹ mênh mông...Vô Tình trong bài Ai về xứ Huế: Ôi chao con nhỏ làm thơ ấy/ Lọt mắt anh chàng xứ Quảng Nam... Bỗng dưng tôi sợ mùa hoa đến/ Sẽ vắng người ta chắc quá dài/ Phượng vĩ nở đầy sân Quốc Học/ Ve sầu Đồng Khánh nhớ thương ai. Lưu Nguyễn trong bài Nhũng ngày ở Cửa Đại, Hội An: Buổi sáng buổi chiều lang thang Cửa Đại/chân bước thênh thang, lòng chẳng mong cầu/ những áo những cơm những ngày dầu dãi... mây trắng mây xanh, phiêu du lồng lộng/ thành phố sau lưng, như thể nghìn trùng. Đặng Hiền trong bài Đà Nẳng tháng chạp: Gốc phố chết, tế bào khô khốc/ Mái rêu xanh ở chút tình cờ/ Đời của cát theo về thăm biển/ Một bước thôi chẳng thấy mặt người. Trần Yên Hòa trong bài Người cùng quê: thật tình tôi không biết/ anh là người Quảng Nam, Đại Lộc/ nếu biết/ tôi đã tìm đến anh/ trước ngày anh ra đi vĩnh viễn... Có phải anh đã bỏ đi vội vã, anh Trầm Tử Thiêng. Trần Trung Đạo trong bài Xuân nhớ Hội An: Em về phố Hội chiều mưa lớn/ Vóc ngọc ngà khoe dưới lụa hồng/ Ta như giọt nước mùa mưa đó/ Đã cuốn trôi về trăm nhánh sông. Hồng Hoàng trong bài Để nhớ thời em: Một mai tóc bạc anh về núi/ tìm khối hoa cương trắng Ngũ Hành/ tạc em lên đỉnh cao vòi vọi/ để nhớ thời em xuân rất xanh. Lê Văn Bá trong bài Tiếp lời ru mẹ: Sông Thu ơi, quê nhà trời xa thẳm/ Mây Ngũ Hành có quyện đỉnh Sơn Chà... Đất Quảng bao dung theo tiếng hò đưa/ như nước trường giang mãi trong tình mẹ. Lê Thị Hàn trong bài Quê mẹ: Nhớ nhung về Bến Cát mờ sương/ Bóng nước mây đưa Đồi Vọng Cảnh... Tay nhỏ chợt ôm ngày thơ dại/ Nửa vòng Trái Đất bỗng xa xôi. Dư Mỹ trong bài Quảng Nam ơi, vẫn còn đây nỗi nhớ: Quảng Nam ơi! Bao giờ ta trở lại/ Thăm một lần rồi mãi mãi mai sau/ Mai ta chết dù vùi thây viễn xứ/ Hồn vẫn bay về nơi cắt rốn chôn nhau.

(Đăng trong Giai phẩm Xuân Bính Tuất 2006 của Nhật báo Người Việt)


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

3 Pages: V < 1 2 3
Closed TopicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 1st April 2020 - 01:44 AM