IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

2 Pages: V < 1 2  
Reply to this topicStart new topic
> DI TÍCH & DANH NHÂN
kimngan
post Aug 5 2007, 05:25 PM
Gửi vào: #21


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21




Dự Trử 4


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 5 2007, 05:26 PM
Gửi vào: #22


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21




Dự Trử 5


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 5 2007, 05:27 PM
Gửi vào: #23


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21




Dự Trử 6


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 5 2007, 07:41 PM
Gửi vào: #24


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



Niên Biểu & Sơ Lược Lịch Sử Bến Tre

(Chỉ Liên Quan Xa Gần Đến Bến Tre)


A- Tiếp Tục Nam Tiến


1623

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai sứ sang kinh đô Chân Lạp yêu cầu được lập sở thuế thương chính tại Prey Nokor (Sài Gòn). Ðược vua Chey Chetta chấp thuận, chúa Nguyễn đã cho lập tại đây một sở thu thuế. Từ đấy, người Việt di cư đến làm ăn, buôn bán, khai phá đất đai ngày càng đông.

1658

Lấy cớ vua Chân Lạp "vi phạm biên cảnh", chúa Nguyễn Phúc Chu sai phó tướng dinh Phú Yên là Nguyễn Phước Yến đem 3.000 quân đến Mô Xoài (còn gọi là Mỗi Xuy) đánh bắt được Nặc Ông Chân, đưa về giam ở Quảng Bình.


1679

Không chịu thuần phục nhà Mãn Thanh, mùa xuân Kỷ Mùi (1679) hai tướng nhà Minh là Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên đem 3.000 quân cùng gia quyến đi trên 50 chiến thuyền, đậu từ cửa Eo đến cửa Ðà Nẵng xin cư trú. Sau khi bàn bạc lợi hại cùng triều thần, chúa Nguyễn chấp thuận chủ trương đưa họ vào khai phá vùng đất phía Nam. Gần 2.000 người do Trần Thượng Xuyên cầm đầu vào cửa Cần Giờ, đến định cư ở Bàn Lân, xứ Ðồng Nai tức vùng Biên Hòa ngày nay. Hơn 1.000 người khác do Dương Ngạn Ðịch cầm đầu vào khai thác vùng Mỹ Tho.


1698

Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Nguyễn Hữu Kính (cũng đọc là Nguyễn Hữu Cảnh) làm kinh lược, "lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Ðịnh, đặt xứ Ðồng Nam làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đều đặt chức lưu thủ, cai bạ, ký lục để cai trị”. Lại chiêu mộ những lưu dân từ Quảng Bình trở vào để khai phá ruộng đất, lập thành thôn, xã. Lúc bấy giờ, số người Việt đến định cư ở nơi đây đã hơn 4 vạn hộ, nghĩa là tương đương với 200.000 dân.

1699

Vua nước Chân Lạp là Nặc Ong Thu đem quân quấy phá phủ Gia Ðịnh. Chúa Nguyễn sai quan Thống suất Nguyễn Hữu Kính đưa quân đánh trả, sang đến thành Nam Vang. Nặc Ong Thu phải xin hàng và theo lệnh triều cống như cũ.

Thắng trận, Nguyễn Hữu Kính kéo quân về đóng ở cồn Cây Sao (nay là cù lao Ông Chưởng, thuộc tỉnh An Giang).


1708

Mạc Cửu Nguyên người Lôi Châu, tỉnh Quảng Ðông, Trung Hoa đến lập phố chợ, chiêu tập lưu dân lập thành 7 thôn xã ở đất Hà Tiên. Ðể được chính quyền Việt Nam ở Gia Ðịnh che chở chống lại bọn cướp biển Xiêm thường tới cướp bóc, đốt phá, Mạc Cửu xin thần thuộc chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận đề nghị này và phong Mạc Cửu làm Tổng binh, tiếp tục cai quản đất Hà Tiên.

1731

Nhà thờ Thiên Chúa họ đạo Cái Mơn (huyện Chợ Lách) được xây dựng.


1771

Khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra. Quân khởi nghĩa lập đồn trại ở Tây Sơn Thượng (Gia Lai) và ở Tây Sơn Hạ (Bình Ðịnh).


1777


Tháng 4 (âl), Quân Tây Sơn đánh đồn Ba Việt (Ba Vát) của chúa Nguyễn Phúc Thuần.

Tháng 8 (âl), Quân Tây Sơn lại đánh đồn Ba Việt, bắt chúa Nguyễn Phúc Dương. Tống Phước Hòa, võ tướng của chúa Nguyễn tự vẫn.

1782

Tháng 3 (âl), Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ dẫn mấy trăm chiến thuyền vào cửa Cần Giờ, đánh tan thủy binh của Tống Phước Thiêm, thu lại thành Gia Ðịnh lần thứ hai. Quân Nguyễn thua, rút về Ba Giồng (Tiền Giang).

Nguyễn Ánh từ Sài Gòn chạy về Bến Tre, sau đó chạy ra đảo Phú Quốc. Bến Tre là nơi từng in dấu nhiều cuộc chạy trốn của Nguyễn Ánh.


1783

Tháng 2 (âl), Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ vào cửa Cần Giờ tiến đánh Gia Ðịnh, quân Nguyễn Ánh thua to, chạy về Ba Giồng, sau rút về Eo Lói (Thạnh Phú), rồi ra Phú Quốc, Côn Lôn.


1784

Tháng 6 (âl), Nguyễn Ánh, Châu Văn Tiếp dẫn các tướng Xiêm là Chiêu Sương, Chiêu Tăng, Sa Uyển, Chiêm Thùy Biện cùng 5 vạn quân thủy bộ, 300 chiến thuyền vào đánh phá Gia Ðịnh. Tại thủ Ba Lai đã xảy ra trận kịch chiến giữa quân Tây Sơn do Phạm Văn Tham chỉ huy với quân Xiêm - Nguyễn Ánh.



B- Thiết Đặt Định Chế


1802

Tháng 5 (âl), Nguyễn Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế).

Tháng 7 (âl), Gia Long tiến hành một loạt biện pháp để ổn định tình hình. Chia nước ra là 23 trấn, 4 doanh. Bỏ kinh Gia Ðịnh, cải phủ Gia Ðịnh (từ 1698-1802) thành trấn Gia Ðịnh. Ðứng đầu trấn Gia Ðịnh là quan lưu trấn, thống lĩnh các trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thành, Ðịnh Tường, Hà Tiên.


1804

Tháng 2 (âl), Gia Long đặt quốc hiệu: Việt Nam.

1806

Tháng 11 (âl), Bộ sách Nhất thống địa dư chí gồm 10 quyển - bộ dư địa chí đầu tiên của triều Nguyễn - do Lê Quang Ðịnh soạn thảo đã hoàn thành. Sách miêu tả đầy đủ các mục sơn xuyên, sản vật, đình miếu, phong tục từ Lạng Sơn đến Hà Tiên.

1808

Gia Long đổi trấn Gia Ðịnh làm Gia Ðịnh thành, đặt 1 tổng trấn, 1 hiệp trấn và 1 phó tổng trấn, thống lĩnh 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Ðịnh Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên và kiêm lãnh trấn Bình Thuận ở xa. Nguyễn Văn Nhơn được cử làm Tổng trấn, Trịnh Hoài Ðức là Hiệp tổng trấn đầu tiên.

Tổng Tân An thuộc dinh Long Hồ được thăng thành huyện Tân An, gốm 2 tổng: An Bảo (cù lao Bảo) có 66 thôn và Tân Minh (cù lao Minh) có 75 thôn.

1810

Triều đình ban bố thước đo ruộng đất trong cả nước. Trên thước một mặt khắc 7 chữ "Gia Long cửu niên thu bát nguyệt", mặt phía bên kia khắc 10 chữ "Ban hành đạc điền xích, công bố đường kính tạo”.

1822

1 tháng 7 (âl), Nguyễn Ðình Chiểu sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình.

Tháng 11 (âl), Minh Mạng lên ngôi phát phối một số đông tù đồ vào Gia Ðịnh để khẩn hoang ruộng đất.

1823

Huyện Tân An đổi thành phủ Hoằng An, thuộc trấn Vĩnh Thanh. Phủ Hoằng An có 2 huyện: Bảo An và Tân Minh.
1826

Tháng 7 (âl), Nhiều nơi trong nước xảy ra nạn dịch. Riêng ở Gia Ðịnh trong đó có Bến Tre đã có hơn 18.000 người chết. Nhà nước phải miễn thuế thân cho các trấn ở Gia Ðịnh.

Phan Thanh Giản đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất, vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ.

1830

Phan Văn Trị chào đời tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, nay là xã Thạnh Phú Ðông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

1867

20 tháng 6, Quân Pháp đánh chiếm tỉnh thành Vĩnh Long lần thứ hai. Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử.

14 tháng 11, Tôn Thọ Tường và Ðỗ Hữu Phương theo lệnh của Pháp, đến gảnh Mù U đổ dụ hàng hai anh em Phan Tôn và Phan Liêm, nhưng đã thất bại.

Thống đốc Nam Kỳ De Lagrandière bổ nhiệm De Champeaux làm Tham biện Bến Tre.

1871

7 tháng 6, Thống đốc Nam Kỳ Duperré ký nghị định giảm từ 25 sở tham biện xuống còn 18. . Sở tham biện Bến Tre nhập vói sở tham biện Mỏ Cày.


1872

Tháng 2, Linh mục Pháp Gernot thành lập họ đạo Cái Mơn, một trong những họ đạo lớn và lâu đời ở Bến Tre.

Một cuộc nổi dậy ở cù lao Minh, nghĩa quân đánh phá nhà hội Cái Mơn, Cái Nhum.

13 tháng 12, Nhà bưu điện Bến Tre mở cửa hoạt động. Lúc này Bến Tre còn là sở thanh tra (inspection).
1876

5 tháng 1, Ðô đốc Duperré, Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Nam Kỳ, ra nghị định phân chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính (circonscription administrative): Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Xắc (Bassac). Mỗi khu vực hành chính được chia thành nhiều tiểu khu hành chính (arrondissement adminitratif). Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Ðéc thuộc khu vực hành chính Vĩnh Long.

Xây tòa hành chính Bến tre (nay là nhà Bảo tàng tỉnh).

1880

Kỹ sư người Pháp là Thévénet bắt đầu làm quy hoạch đường bộ của tỉnh Bến Tre.

1885

Con đường rải đá đầu tiên được thi công là đường quản hạt số 6, nối từ phà Rạch Miễu chạy qua cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh qua Trà Vinh (tức Liên Tỉnh Lộ 6 hay quốc Lộ 60 hiện nay).

1892

Thực dân Pháp lập hạt Bến Tre (Arrondissment de Bentre) thuộc tỉnh Vĩnh Long, gồm cù lao Bảo (11 tổng, 99 làng) và cù lao Minh (10 tổng, 83 làng).

1899

Tháng 4, Thực dân Pháp cho xây dựng tại Bến tre một dưỡng đường nhỏ (đến năm 1945 mới trở thành bệnh viện tỉnh).

20 tháng 12, Toàn quyền Ðông Dương ra nghị định đổi tên gọi "tiểu khu" (arrondissement), cũng gọi là sở tham biện (inspection) - đơn vị hành chính ở Nam Kỳ - thành tỉnh (province) và phân chia làm 3 miền:

Miền Ðông gồm 4 tỉnh: Bà Rịa, Biên Hòa, Tây Ninh, Thủ Dầu Một.

Miền Trung gồm 9 tỉnh: Chợ Lớn, Gia Ðịnh, Mỹ Tho, Gò Công, Tân An, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Sa Ðéc.

Miền Tây gồm 7 tỉnh: Bạc Liêu, Cần Thơ, Châu Ðốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá, Sóc Trăng.

Bến Tre có 217.000 người, trong đó có 213.000 người Việt, 1.150 người Minh Hương, 2.500 người Hoa.

1900

1 tháng 1, Thi hành nghị định của Toàn quyền Paul Doumer (20-12-1899) sở tham biện Bến Tre (inspection) đổi thành tỉnh (province) cùng lúc với các tỉnh khác ở Nam Kỳ. Tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ gồm cù lao Bảo và cù lao Minh.

1956

28 tháng 6, Quận Bình Ðại thuộc tỉnh Mỹ Tho sáp nhập vào tỉnh Bến Tre theo Sắc lệnh số 86/NV, ngày 28-6-1956 của Tổng thống VNCH.

Ðổi tên tỉnh Bến Tre thành tỉnh Kiến Hòa là một trong 23 tỉnh thành trong địa phận Nam Việt (Sắc lệnh số 143/NV ngày 22-10-1956 của Tổng thống VNCH).

. . . . . . . . . . . . . . . . .

C-Sơ Lược Lịch Sử

(Sưu Tầm của bạn Bình Chánh)

Lịch Sử Bến Tre


Bến Tre có diện tích là 2.322 km². Điểm cực Nam của tỉnh nằm trên vĩ độ 9o48' Bắc, điểm cực Bắc nằm trên vĩ độ 10o20' Bắc, điểm cực Đông nằm trên kinh độ 106o48' Đông, điểm cực Tây nằm trên kinh độ 105o57' Đông [3]. Dân số của tỉnh là 1.345.600 người (thống kê năm 2004) với dân tộc chiếm đa số là người Kinh.

Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26°C đến 27°C. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.250 mm đến 1.500 mm. Khí hậu ở đây là nhiệt đới gió mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng còn lại là mùa khô.

Bến Tre là tỉnh có địa hình bằng phẳng, rải rác có những cồn cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, bốn bề sông nước bao bọc với nhiều sông rạch. Bốn nhánh sông Tiền Giang là sông Mỹ Tho, sông Bà Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên chia đất Bến Tre ra làm cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hóa. Hai sông Hàm Luông và Bà Lai chảy xuyên suốt tỉnh rồi ra hai cửa biển cùng tên. Sông Mỹ Tho chia ranh giới phía bắc với tỉnh Tiền Giang rồi đổ ra cửa Đại. Sông Cổ Chiên làm ranh giới với tỉnh Trà Vinh rồi chảy ra hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu. Các sông rạch khác là sông Bến Tre, rạch Bàng Cùng, kinh Thêm, kinh Tân Hương, kinh Tiền Thủy, rạch Cầu Mây, rạch Vũng Luông...

Bờ biển Bến Tre dài khoảng 60 cây số. Ngoài khơi có các đảo nhỏ như Cồn Lợi, Cồn Hồ...

Lịch sử

Tỉnh Bến Tre vốn là một phần của dinh Hoằng Trấn lập ra năm 1803, năm sau đổi là dinh Vĩnh Trấn. Năm 1808 dinh này lại đổi là trấn Vĩnh Thanh. Tỉnh Bến Tre chính là vùng đất thuộc huyện Tân An (được nâng cấp từ tổng Tân An lên năm 1808), thuộc phủ Định Viễn (cũng được nâng cấp từ châu Định Viễn trong cùng năm), nằm trong trấn Vĩnh Thanh.

Năm 1823, huyện Tân An chia thành hai huyện Tân An và Bảo An, đặt dưới phủ Hoằng An (Bến Tre ngày nay).

Năm 1832, vua Minh Mạng bỏ trấn lập tỉnh, trấn Vĩnh Thanh chia thành hai tỉnh An Giang và Vĩnh Long. Tỉnh Vĩnh Long lúc bấy giờ gồm 3 phủ Hoằng An (Bến Tre ngày nay), Định Viễn (Vĩnh Long ngày nay) và Lạc Hóa (Trà Vinh ngày nay).

Năm 1837, đặt thêm phủ Hoằng Trị, rồi đến năm 1851, bỏ phủ Hoằng An, các huyện trực thuộc nhập cả vào phủ Hoằng Trị.

Năm 1876, Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực hành chính lại chia nhỏ thành các tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement administratif) thì Bến Tre là hạt tham biện thuộc khu vực hành chính Vĩnh Long.

Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tên tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Bến Tre trở thành tỉnh Bến Tre.

Từ đó, bỏ cấp huyện mà chia thành quận. Tỉnh có 4 quận: Ba Tri, Sốc Sãi, Mỏ Cày, Thạnh Phú, với 21 tổng và 144 xã. Diện tích của tỉnh là 1501 km². Dân số năm 1910: 223.405 người, năm 1930: 286.000 người, năm 1943: 346.500 người, năm 1955: 339.000 người.

Thời Việt Nam Cộng Hòa, từ ngày 22 tháng 10 năm 1956, tỉnh Bến Tre đổi tên thành tỉnh Kiến Hòa và gồm 9 quận: Ba Tri, Bình Đại, Đôn Nhơn, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Hàm Long, Hương Mỹ, Trúc Giang, với 115 xã, 793 ấp (năm 1965), năm 1970 có 119 xã. Tỉnh lị gọi là Trúc Giang. Diện tích của tỉnh là 2085 km². Dân số năm 1965 là 547.819 người, năm 1970 là 582.900 người.

Từ năm 1975 tỉnh Bến Tre lấy lại tên cũ và chia thành các huyện.

..........

Kinh tế

Nông nghiệp

Bến Tre là vựa lúa lớn của đồng bằng sông Cửu Long. Đất Bến Tre do phù sa sông Cửu Long bồi đắp, đặc biệt là ở Hàm Long. Hoa màu chính là lúa, hoa màu phụ cũng chiếm phần quan trọng là khoai lang, ngô, sắn và các loại rau.

Loại cây kỹ nghệ mang lại nhiều lợi ích cho tỉnh là dừa, thuốc lá, mía, cà phê, dâu nuôi tằm, bông, cói.

Bến Tre có gần 40.000 ha trồng dừa. Dừa ở đây rất nhiều trái và lượng dầu cao. Ngoài nước uống và dầu, dừa còn cho các sản phẩm khác là than dừa, vỏ dừa làm thảm dừa, dây dừa. Kẹo dừa Bến Tre là đặc sản của vùng. Một dự án trồng xen ca cao tận dụng bóng mát của dừa mới đưa vào thực hiện đang là vấn đề quan tâm của nông dân Bến Tre.

Mía được trồng nhiều tại các vùng đất phù sa ven sông rạch; nổi tiếng nhất là có các loại mía tại Mỏ Cày và Giồng Trôm. Diện tích trồng thuốc lá tập trung ở Mỏ Cày, nơi có loại thuốc thơm cũng nổi tiếng. Đất bồi thích hợp trồng cói.

Bến Tre có nhiều loại cây ăn trái như cam, quít, sầu riêng, chuối, chôm chôm, măng cụt, mãng cầu, xoài cát, bòn bon, dứa, vú sữa, ... trồng nhiều ở quận Giồng Trôm, Hàm Long và Châu Thành.

Trong thời gian gần đây cây táo hồng đang được phát triển rất mạnh tại một số huyện như Mỏ Cày, Chợ Lách,... Thời gian đầu, loại cây này mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho các nhà vườn. Tuy nhiên trong thời gian một năm nay thì thị trường tiêu thụ bắt đầu gặp khó khăn. Nguyên nhân chính là do thị trường tiêu thụ chính (chủ yếu tiêu thụ quả tươi) đã bão hòa nhưng không tìm được hướng thị trường mới và chứa chế biến để có thể bảo quản lâu dài.

Làng nghề

Ngoài kẹo dừa, Bến Tre có các sản phẩm nổi tiếng như bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc. Làng nghề Cái Mơn, huyện Đơn Nhơn, hàng năm cung ứng cho thị trường hàng triệu giống cây ăn quả và cây cảnh nổi tiếng khắp nơi. Nới đây cũng có nghề rang trầu và làm "cau tầm vung" (cau để chín khô trên cây, không xắt ra) rất nổi tiếng trong nước.

Thủy sản
Những con sông lớn và vùng biển Đông ở Bến Tre có nhiều loại thủy sản như cá vược, cá dứa, cá bạc má, cá thiều, cá mối, cá cơm, nghêu, cua biển và tôm he.

Rừng nước mặn chạy dọc theo bờ biển, mang lại cây dừa nước, chà là, bần. Dân chúng lấy rượu ở khu rừng mắm Bình Đại, Thạnh Phú để làm nước mắm.

Ruộng muối ở Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri cũng là nguồn lợi khả quan.

Du lịch

Du lịch sinh thái

Bến Tre có điều kiện thuận tiện để phát triển du lịch sinh thái, bởi ở đó còn giữ được nét nguyên sơ của miệt vườn, giữ được môi trường sinh thái trong lành trong màu xanh của những vườn dừa, vườn cây trái rộng lớn.

Một số địa điểm du lịch có tiếng là:

Cồn Phụng (Cồn Đạo Dừa) thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, nằm trên một cù lao nổi giữa sông Tiền, có các di tích của đạo Dừa với các công trình kiến trúc độc đáo. Trên Cồn Phụng còn có làng nghề với các sản phẩm từ dừa và mật ong.
Cồn Ốc (Cồn Hưng Phong) thuộc xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm, có nhiều vườn dừa và vườn cây ăn quả.
Cồn Tiên, thuộc xã Tiên Long, huyện Châu Thành, là một bãi cát đẹp, hàng năm vào ngày 5 tháng 5 âm lịch hàng vạn người đến tắm và vui chơi giải trí.
Sân chim Vàm Hồ, thuộc địa phận hai xã Mỹ Hòa và Tân Xuân, huyện Ba Tri, là nơi trú ngụ của gần 500.000 con cò và vạc và các loài chim thú hoang dại khác cùng với rừng chà là và thảm thực vật phong phú gồm các loại cây ổi, so đủa, đậu ván, mãng cầu xiêm, dừa nước, đước đôi, bụp tra, chà là, ô rô, rau muống biển...
Vườn cây ăn trái Cái Mơn, thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách
Ngoài ra cũng có du lịch trên sông nước và các bãi như bãi Ngao.

Di tích
Tại Bến Tre cũng có nhiều di tích Phật giáo hay mộ các nhân vật nổi tiếng.

Các chùa nổi tiếng ở Bến Tre là chùa Hội Tôn, chùa Tuyên Linh, chùa Viên Minh. Chùa Hội Tôn Chùa được thiền sư Long Thiền dựng vào thế kỷ 18 tại ấp 8, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành và được trùng tu vào các năm 1805, 1884, 1947 và 1992. Chùa Tuyên Linh được dựng vào năm 1861 ở ấp Tân Quới Đông B, xã Minh Đức, huyện Mõ Cày, và được tu sửa và mở rộng vào các năm 1924, 1941, 1983. Chùa Viên Minh tọa lạc ở 156, đường Nguyễn Đình Chiểu, thị xã Bến Tre, với kiến trúc hiện nay được xây từ năm 1951 đến 1959.

Các nhân vật nổi tiếng có mộ ở đây là Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản và Phan Thanh Giản.

Lịch sử

Đời vua Minh Mạng, miền Nam Việt Nam chia làm sáu tỉnh Vĩnh Long, Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, An Giang và Hà Tiên. Đất Bến Tre bây giờ là phủ Hoàng Trị gồm các huyện Tân Ninh, Bảo An, Bảo Hậu và trực thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Khi người Pháp đến xâm chiếm Bến Tre, có nhiều cuộc kháng cự của nhân dân địa phương. Năm 1862, Phan Công Tòng (người làng An Bình Đông, quận Ba Tri) bỏ nghề dạy học, chiêu tập người yêu nước vùng lên đánh Pháp. Ông tử trận năm 1867.

Cuối năm 1867, quân Pháp đem binh chiếm ba tỉnh miền Tây là Hà Tiên, An Giang và Vĩnh Long. Phan Thanh Giản (người làng Bảo Thạnh, quận Ba Tri )giữ ba thành không nổi. Do không làm tròn mệnh vua, ông dặn dò con cháu không được làm tay sai cho Pháp, rồi uống thuốc độc tự vận.

Từ năm 1867 đến 1870, các cuộc khởi nghĩa do các con của Phan Thanh Giản là Phan Liêm, Phan Tôn và Phan Ngữ vẫn diễn ra không chỉ ở Bến Tre mà còn ở Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, được nhiều người dân hưởng ứng. Pháp sai Tôn Thọ Tường và Tổng đốc Phương nhiều lần chiêu hàng không được. Năm 1870, trong một cuộc giao chiến ở Giồng Gạch, Phan Tôn và Phan Ngữ tử trận. Phan Liêm phải lui ra miền bắc.

Sau khi Pháp chiếm xong Nam Kỳ, sáu tỉnh lớn được chia thành 20 tỉnh (về sau đặt thêm tỉnh thứ 21 là Vũng Tàu). Một phần đất của Vĩnh Long được tách ra để lập tỉnh Bến Tre.

Lễ hội

Có hai lễ hội lớn ở Bến Tre là hội đình Phú Lễ và hội tế Cá Ông.

Đình Phú Lễ ở ấp Phú Khương xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh. Hàng năm lễ hội đình Phú Lễ diễn ra 2 lần: lễ Kỳ Yên vào ngày 18, ngày 19 tháng 3 âm lịch để cầu cho mưa thuận, gió hòa và lễ Cầu Bông vào ngày 9, ngày 10 tháng 11 âm lịch cầu cho mùa màng tươi tốt. Lễ hội có rước sắc thần, lễ tế Thành Hoàng, người đã có công khai khẩn giúp dân trồng trọt. Đêm có hát bội và ca nhạc tài tử.

Hội tế Cá Ông là lễ hội phổ biến của các làng ven biển của Việt Nam, trong đó có Bến Tre. Hàng năm vào các ngày 16/6 âm lịch tại các đình đền hay miếu của các xã thuộc huyện Bình Đại, huyện Ba Tri, mở lế hội này. Trong ngày hội tất cả tàu thuyền đánh cá đều về tập trung neo đậu để tế lễ, vui chơi và ăn uống.

Nhân vật
Một số người nổi tiếng đã sinh sống tại Bến Tre là:

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu
Nhà nho Võ Trường Toản
Quan đại thần nhà Nguyễn Phan Thanh Giản
Nữ văn sĩ Sương Nguyệt Ánh (tên thật Nguyễn Thị Xuân Khuê, con gái Nguyễn Đình Chiểu).
Học giả Trương Vĩnh Ký
Công thần nhà Nguyễn Trương Tấn Bửu
. . . . . . . . . . . . . . . . . .

Nguồn : Wikipé..







--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 6 2007, 07:57 AM
Gửi vào: #25


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21






DI TÍCH



Di tích nghệ thuật Đình Phú Lễ


user posted image



Đình Phú LễCăn cứ vào bia còn lưu lại tại đình cho biết niên đại xây đình vào năm Minh Mạng thứ 7(1826) trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá.
Được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5(1851).
Thềm và móng được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm tất cả 10 gian: 6 gian chính dính liền với mái và 4 gian phụ bố trí theo lối chữ “Đinh”.
Đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim, đường kính 40cm, mái lợp ngói vảy cá.

Do chiến tranh và thời gian, các công trình kiến trúc và các hiện vật bài trí bên trong (hương án, cuốn thư, hoành phi, bình phong, bao lam, đồ lễ bộ…) đã bị xuống cấp và hư hỏng nhiều.
Tuy nhiên, những phần cơ bản về kiến trúc vẫn còn nguyên, không bị bom đạn tàn phá, đặc biệt những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sơn son, thếp vàng còn lưu giữ được đến hôm nay, đã nói lên rằng đình Phú Lễ là đình có quy mô lớn và đẹp nhất của các làng quê ven biển Bến Tre.
Nét đẹp của đình một phần còn do cảnh quan thiên nhiên bên ngoài. Khuôn viên của đình khá rộng, trải ra trên khu đất giồng khô ráo, với hàng trăm cây cổ thụ toả bóng.

Hàng năm, hội cúng đình – còn gọi là lễ kỳ yên tổ chức vào rằm tháng 3(âl). Vì là làng lớn, đông dân, nên trước đây mỗi năm trong kỳ tế xuân đều có rước đoàn hát bội về biểu diễn nhiều đêm liền. Lễ tế thu là lễ Cầu bông.




--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 7 2007, 11:06 PM
Gửi vào: #26


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21






Di Tích


Di Tích Nghệ Thuật Đình Bình Hòa

user posted image



Di tích Đình Bình HòaĐình nằm trên khu đất giồng ở ấp Bình Minh, làng Bình Hoà, nay thuộc thị trấn Giồng Trôm, nằm cạnh Tỉnh Lộ 26 (đường 885 này nay), cách Tỉnh Lỵ Bến Tre 16km, có thể đến bằng đường bộ hoặc đường thủy.

Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ được đến nay cho biết đ ình đ ư ợc lập vào thập kỷ thứ 2, thế kỷ XIX, tính đến nay gần 200 năm. Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn tất phải mất trên 10 năm(1903-1913), kể cả công trình kiến trúc bên ngoài và trang trí nội điện, đặc biệt là phần điêu khắc gỗ. Đó là kết quả lao động công phu của những nhóm thợ rước từ miền trung vào, có tay nghề và trình độ mỹ thuật cao. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852).

Về mặt kiến trúc bên trong, chất liệu chính là gỗ tứ thiết và kết cấu bằng mộng, chốt, kết hợp chặt chẽ với nghệ thuật điêu khắc, mà chủ yếu là những nét tạc bằng đục của nghệ nhân ngay trên gỗ của những vì kèo, xuyên, trính, hoành phi…ở các gian chánh đường và thính đường. Qua thử thách của thời gian với nắng mưa và khí hậu ẩm thấp, đặc biệt suốt thời kỳ chiến tranh, ngôi đình vẫn đứng vững. Điều đó nói lên trình độ kỹ thuật và ý thức trách nhiệm của đội ngũ thợ xây dựng.

Về trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông,sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v…

Hiện còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai.




--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 20 2007, 05:39 PM
Gửi vào: #27


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





Bức Chiếu Chỉ Của Vua Thiệu Trị

user posted image



user posted image

...Giảng nghĩa về Bức Chiếu Chỉ của Vua Thiệu Trị cấp cho dân làng Quới Sơn, thuộc quận Bình Đại.

Sau nầy thuộc quận Trúc Giang-Kiến Hòa

Hiện nay thuộc huyện Châu Thành- Bến Tre





--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Aug 10 2010, 03:03 AM
Gửi vào: #28


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,612
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Kính thưa quý khách truy cập, thành viên và các bậc cao minh:


Chúng tôi có nhận được 3 tấm ảnh về Miếu Tiên Sư tọa lạc trong khu sân trường chánh của Thị Xã Bến Tre, tức Trường Tiểu Học Phan Thanh Giản trước đây.

Chúng tôi đã cố gắng mà không thể nào đọc cho chỉnh hai câu đối trên hai trụ cổng

Chúng tôi đọc được là:

Ân sư giáo hóa tơ tâm vướng

Nghĩa đệ phụng từ ánh nến cao.



Nếu như vậy e rằng có sự việc chưa ổn lắm; Do đó chúng tôi xin quý vị góp ý, trước khi đưa những hình ảnh nầy vào Trang Di Tích

Xin cám ơn sự quan tâm của quý vị


www.bentrehome.net


Ba tấm ảnh tham khảo





Miếu Tiên Sư









Cám Ơn Quý Vị Sau Đây Có Email Góp Ý: Nguyễn Đồng Danh, Nguyễn Đăng Phu, ...và Trúc Giang

Miếu Tiên Sư được xây dựng vào năm 1969.Thầy Nguyễn Văn Ba ,giáo viên dạy môn văn THPT Giồng Trôm, là người trong nhóm các thầy cô có mặt hồi ấy, đọc lại hai câu đối nầy như sau:

ÂN SƯ GIÁO HOÁ TƠ TÂM VỮNG
NGHĨA ĐỆ PHỤNG TỪ ÁNH NẾN CAO


Trúc Giang nghĩ hai câu đối đọc lại thế nầy ý nghĩa rõ ràng dễ hiểu hơn.





-o-o-o-o-o-o-o-o-o-o-


Thủ Bút Của Thầy NGUYỄN VĂN TRINH,

Hiệu Trưởng Đầu Tiên Trường Trung Học Công Lập Bến Tre

Trên Tấm Ảnh Miếu Thờ Thầy

(Bức Ảnh nầy được cất trong rương,tình cờ tìm được 40 mươi năm sau)

**Cám ơn cô Kim Ngân**




Bề Mặt



Bề Lưng




--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Oct 22 2010, 04:37 AM
Gửi vào: #29


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,612
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh



Chùa Tuyên Linh


Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do hòa thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa Thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng Xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sĩ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh.

Ngày 19-6-1947, biết mình không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.

Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo pháp) tại chùa Tuyên Linh.



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Apr 15 2013, 06:56 AM
Gửi vào: #30


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,612
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8



QUOTE(kimngan @ Jul 6 2007, 05:19 AM) *



ÔNG GIÀ BA TRI


Ông già Ba Tri


Ông già Ba Tri – thành ngữ ấy từ lâu đi vào trong ký ức dân gian, trong sử sách và đã vượt khỏi địa giới của Bến Tre, trở thành một giai thoại sống động ngợi ca về tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải của các cụ già trong thời kỳ khai hoang, lập ấp, lập làng, ổn định đời sống của cư dân vùng đất ven biển bên cửa Hàm Luông. Câu chuyện gắn liền với việc đắp đập, ngăn sông liên quan đến sự phát triển kinh tế giữa hai làng ở gần nhau trên cùng con rạch Ba Tri. Cũng như những chuyện tranh chấp khác về lãnh thổ, thủy lợi, về bến sông, chợ búa vốn xảy ra thường xuyên dưới chế độ phong kiến, mâu thuẫn của hai dân làng ở nơi đây không giải quyết được, phải kiện lên quan tỉnh Vĩnh Long. Kết quả phân xử của quan tỉnh không làm họ hài lòng, nên dân làng góp tiền gạo, cử ba bô lão mang đơn ra triều đình Huế thưa kiện.

Đường từ Ba Tri đến kinh đô Huế dài cả ngàn cây số và lúc bấy giờ chỉ có hai cách đi: một là đi bằng thuyền, phải chờ mùa gió thuận, chưa nói đến bão tố nguy hiểm xảy ra thường xuyên; hai là bằng đường bộ thì lại lắm đèo, nhiều dốc hiểm trở, đầy cọp, beo và giặc cướp ở dọc đường. Thế nhưng những trở ngại to lớn ấy đã không ngăn được ý chí và quyết tâm của các vị bô lão, đại biểu của dân làng Ba Tri. Các cụ già đã ra tận kinh đô bằng sức của đôi chân, đã tiếp kiến được nhà vua để trình bày mọi lẽ, và cuối cùng các cụ đã thắng cuộc, trở về. Lẽ phải ở về phía dân làng đi thưa kiện.

Câu chuyện trên đây đã lưu truyền trong dân gian và cũng đã được ghi lại trong một số sách như: Monographie de la province de Bến Tre (Chuyên khảo tỉnh Bến Tre) do một người Pháp soạn năm 1929, Kiến Hòa xưa và nay của Huỳnh Minh (1965), Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954) của Nguyễn Duy Oanh (1971). Cũng như các truyện kể lưu truyền trong dân gian, hoặc được người sau ghi lại trên giấy trắng mực đen, thường có nhiều dị bản khác nhau. Truyện kể về Ông già Ba Tri cũng không ra ngoài thông lệ đó. Nếu ở quyển Monographie de la province de Bến Tre và Kiến Hòa xưa và nay chỉ nói đến một ông lão phiếm định, thì ở quyển Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954), tác giả lại đưa ra một ông già cụ thể có tên, họ hẳn hoi, gắn liền với dòng dõi họ Thái Hữu, con cháu hiện nay vẫn còn sống ở xã An Đức, huyện Ba Tri. Tuy nhiên, về tình tiết, diễn biến và kết cục của chuyện thì lại rất giống nhau. Cốt lõi của câu chuyện là sự đề cao tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, kiên trì bảo vệ lẽ phải đến cùng, bất chấp mọi trở lực, hiểm nguy qua hình tượng của các bô lão địa phương - người đại diện cho nguyện vọng, phẩm cách và ý chí của dân làng. Có lẽ đó là điều mà mọi người quan tâm nhiều nhất.

Vượt qua thời gian và không gian, câu chuyện Ông già Ba Tri được người sau thêm thắt một số chi tiết, làm cho giai thoại trở nên sinh động hơn, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những dị bản. Ngày nay, danh từ "Ông già Ba Tri" đã trở thành sự tượng trưng cho đức tính cao đẹp, một biểu tượng về đạo lý sống của nhân dân ở một vùng đất vốn có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất.






Thêm "Giai Thoại Về ÔNG GIÀ BA TRI"

(Tài liệu nầy do bạn NGUYỄN VĂN NIÊM, Chs/THKH thế hệ1956, K22A VBĐL, hiện ở Philadelphia, Pennsylvania-USA chuyển đến)


số 1:

Ông già Ba Tri trên đường ra Huế thăm vua Gia Long. Đến Lăng Cô, ông dừng lại hỏi thăm một cô gái bên đường:
- Cô làm ơn cho tui hỏi từ đây đến Thành Nội còn bao xa?
Cô gái õng ẹo:
- Nhưng mà còn tùy ông hỏi là đường đi bộ hay đường chim bay?
Ông già Ba Tri thành thật nói:
- Không thưa cô, tôi hỏi là hỏi đường… chim đi bộ!

Ghi chú:
Ông già Ba Tri tên thật Thái Hữu Kiểm, cháu nội ông Thái Hữu Xưa, gốc người Quảng Ngãi, đã sanh cơ lập nghiệp tại Ba Tri từ thế kỷ 18; đã có công giúp Chúa Nguyễn Ánh và được phong chức Trùm Cả An Bình Đông quận Ba Tri.

Năm 1806, Cả Kiểm dựng chợ Trong nằm bên cạnh rạch Ba Tri, đấp đường xá; chợ càng ngày càng tấp nập phát triển. Chợ có trước là chợ Ngoài, cách chợ Trong 3km. Ông Xã Hạc ở chợ ngoài chơi ép, đấp đập ngăn chận ghe thuyền từ sông Hàm Luông không vào được chợ Trong. Bị hiếp đáp, Cả Kiểm kiện , Phủ Huyện địa phương xử chợ Trong bị thua với lập luận: ”Mỗi làng đều có quyền đấp đập trong địa phận làng mình”. Dân chợ Trong không chấp phán quyết bất công trên, cử Cả Kiểm cùng hai kỳ lão: Nguyễn Văn Tới và Lê Văn Lợi, tất cả khăn gói lên đường đi bộ từ Ba Tri ra Huế - đường dài trên 1000 cây số - để thượng tố lên Vua xin phúc thẩm lại phán quyết bất công của địa phương!
Khi ba ông già xứ Ba Tri này... đi bộ đến Huế thì Vua Gia Long vừa băng hà, Vua Minh Mạng thụ lý và phán: "Dù là làng riêng, nhưng rạch là rạch chung, là đường giao thông chung của cả chợ Ngoài lẫn chợ Trong. Phủ Huyện phải cho dẹp bỏ đập”...
Do lòng cương quyết, không ngại đường xa, được hun đúc bởi ý chí tranh đấu cho lẽ phải và công bằng; phái đoàn do Cả Kiểm hướng dẫn làm xong nhiệm vụ là dẹp bỏ được đập ngăn chận rạch Ba Tri từ chợ Ngoài! Từ đó, dân BếnTre gọi Cả Kiểm là “Ông già Ba Tri” và hiện nay, khi nghe nói đến Bến Tre là liên tưởng đến vùng đất của những Ông già Ba Tri: 1 ông già Ba Tri gốc Quảng... cùng hai ông người Ba Tri... cộng lại là ba ông già Ba Tri ... đi bộ từ Bến Tre ra Huế!


Số 2:

Theo dấu người xưa - Kỳ 42: Ông già Ba Tri 06/04/2013 00:15

Nói đến nhân vật này, người ta thường hình dung đó là một ông già “gân”, mạnh ăn, nhiều vợ và chịu chơi... Còn Tự điển Tiếng Việt của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ giải thích thành ngữ "ông già Ba Tri": "Người già mà quắc thước, can đảm, có công sửa làng, giúp nước, lập chợ, mở đường".

Có công phò chúa

Ông già Ba Tri là nhân vật có thật, vốn là tiền nhân của họ Thái Hữu nổi tiếng xứ Bến Tre, mặc dù xung quanh ông có nhiều giai thoại. Chuyện ông già Ba Tri cũng gắn liền với một sự thật lịch sử về “binh Võ cự”, được thờ cúng ở một vài đình làng xứ Ba Tri, đồng thời gắn với sự ra đời của ngôi chợ Ba Tri.

Chuyện xưa chép rằng, ở xứ Ba Tri từ năm Cảnh Hưng thứ ba (1742) có người ở Quảng Ngãi là Thái Hữu Xưa vào đây khai khẩn đất hoang, làm chức Cai trại, đứng đầu Ba Tri trại cá. Sau đó, ông cùng các ông Phan Viết Tới, Trần Văn Tấn xin lập làng, đặt tên cho Ba Tri trại cá là làng An Bình Đông. Ông có người cháu nội tên là Thái Hữu Kiểm, về sau làm Hương cả làng An Hòa Tây, Bến Tre, tục gọi là Hương cả Kiểm.

Cùng thời với Hương cả Kiểm có ông Trần Văn Hạc làm chức Cai việc, rồi Thôn trưởng, nên dân gian gọi là Xã Hạc. Vào khoảng năm 1787, bị quân Tây Sơn truy đuổi, chúa Nguyễn Ánh đến trú nhà ông Hạc ở bên bờ Rạch Ụ. Mỗi ngày vào rạng sáng, ông phải đưa chúa sang Cồn Đất, ngang vàm Rạch Ụ. Nhưng muốn lên cù lao phải đi bằng xuồng, rồi lội qua bãi bồi sình lầy, chúa Nguyễn Ánh không sao đi được. Vì thế, ông Hạc phải cõng chúa từ bờ sông lên. Mỗi ngày đều như vậy cho đến khi Trương Tấn Bửu chiêu mộ được nghĩa dũng ở Ngao Châu (Cồn Ngao), chúa Nguyễn mới rời khỏi nơi trú ẩn, sau đó hội quân theo đường sông Cổ Chiên rồi đến sông Nước Xoáy ở Sa Đéc.

Đối chiếu thư tịch thấy việc chúa Nguyễn Ánh về vùng này lánh nạn là có thật. Đây là vùng đất có rất nhiều đồn điền do chúa Nguyễn lập ra như Ba Tri điền trại, Ba Lai điền trại... Đến năm 1836, Địa bạ Minh Mạng còn thống kê một số lượng lớn đất công. Và gần đây, dân địa phương còn phát hiện được nhiều tiền cổ được đúc vào thời chúa Nguyễn.

Trở lại chuyện ông già Ba Tri. Sau khi chúa Nguyễn rời đất Ba Tri, Trần Văn Hạc không tiếp tục theo phò chúa mà ở lại quê nhà, làm Thôn trưởng. Đến khi lên ngôi, vua Gia Long muốn phong quan tước cho, nhưng ông cũng không thọ chức. Nhớ ơn xưa, vua Gia Long đặc ân cho Xã Hạc được hưởng huê lợi đoạn sông cái từ Hàm Luông đến cửa biển, lại còn ban cho tấm kim bài miễn tử. Trong lúc Xã Hạc lội bùn cõng chúa thì Thái Hữu Kiểm được cha là Thái Hữu Chư sai mang cơm gạo đến dâng. Chúa Nguyễn Ánh hỏi ông đang giữ chức chi ở làng thì ông tâu đang làm Trùm trưởng. Chúa bèn phong cho Kiểm làm chức Trùm cả làng An Bình Đông.

Cả Kiểm đi kiện

Khoảng năm Gia Long thứ 5 (1806), Thái Hữu Kiểm lập ra chợ Ba Tri. Dân gian kể rằng, ông Kiểm thấy ở làng An Bình Đông có một ngôi chợ chồm hổm họp ở dưới gốc cây da lớn nên quyết định lập một ngôi chợ:

“An Bình Đông xã một nơi
Có cây da lớn nghỉ ngơi bộ hành
Bán buôn hàng vặt rập rình
Kẻ ngồi người đứng thích tình không đi
Ông Cả Kiểm thấy chuyện kỳ
Tới nơi cây ấy lập vi thị truyền”
(Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca)

Sau khi lập chợ, Cả Kiểm còn cho đắp hai con đường từ Ba Tri đi Vĩnh Đức Trung và từ Ba Tri sang Phú Lễ. Dân các làng đến chợ càng đông, ghe thương hồ từ sông cái ra vào tấp nập, vì vậy chợ Ba Tri càng trở nên phồn thịnh. Trong khi đó, chợ Ngoài do Xã Hạc lập trở nên thưa thớt. Vì vậy, Xã Hạc tức giận huy động dân làng mình đốn cây đắp đập ngăn rạch, để ghe thuyền không vào chợ Ba Tri được. Thế là, Cả Kiểm dắt dân lên huyện, lên phủ kiện. Nhưng đến đâu các quan cũng xử “Người ta đắp đập trong địa phận làng người ta mà kiện cáo cái gì”. Cả Kiểm tức mình bèn bàn với các kỳ lão, quyết cơm gói tiền lưng ra kinh đô kiện tiếp: “Kiện cho thấy mặt cửu trùng/Trong trào ngoài quận người đồng ngợi danh”.

Vua Minh Mạng cũng đã từng biết việc tiên đế lúc còn bôn ba xứ Nam kỳ, có phen đã được người dân Ba Tri giúp đỡ. Hơn nữa lại nghe nói Cả Kiểm đã già mà dám khăn gói theo đường bộ vượt qua “Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”, đi bộ 3 tháng trời ra tận kinh đô, bèn cho dời Cả Kiểm vào gặp mặt hỏi han. Sau khi tỏ rõ sự tình, vua phán “làng thì riêng, rạch thì chung, quan cai trị phải xuống coi phá đập”. Vậy là Thái Hữu Kiểm thắng kiện. Phương ngữ “ông già Ba Tri” bắt đầu từ đó.

Ngoài ra, theo lời kể trong dân gian, ông già Ba Tri còn có một người vợ có công phát triển nghề dệt lụa, làm nên thương hiệu lụa Ba Tri nổi tiếng một thời. Từ đó có người giải thích địa danh Ba Tri là “lụa sóng”.

Chuyện dân gian chép lại tuy có phần hư cấu song cũng phản ánh một thực tế lịch sử là sự tồn tại của nạn kiêu binh sau khi triều Nguyễn chính thức xác lập. Việc ông già Ba Tri Thái Hữu Kiểm dám đi kiện vì ông có công dâng cơm. Còn Xã Hạc dám đắp đập để “ngăn sông cấm chợ” cũng bởi ông ỷ vào công cõng và bảo vệ chúa.

Sách Đại Nam thực lục cho biết, buổi đầu trung hưng dân hai thôn ấy tự xuất tài lực, theo đi đánh giặc, được bổ làm hai vệ Võ cự nhất nhị, lúc có việc thì theo hàng ngũ, lúc không việc thì về quán mưu sinh, để phân biệt với binh dân và họ miễn cho thuế thân, miễn lao dịch. Ngoài việc thành lập vệ Võ cự, dân vùng này cũng đã đóng góp nhiều lương thực cho quân đội chúa Nguyễn vào giai đoạn tiến đánh Bình Định, thôn tính nhà Tây Sơn. Về sau, những người theo binh Võ cự và số dân có công đóng góp tài lực trở nên kiêu căng, có khi coi thường pháp luật, đào ngũ hoặc khai man để trốn lính. Vua Minh Mạng cũng đã kiên quyết giải quyết các tệ nạn ấy.

Thực lục chép: “Nếu không trừng trị nghiêm ngặt thì e những lính tại ngũ thấy thế bắt chước. Xin sai quan địa phương sở tại xét những kẻ trốn ấy có gia sản thì lấy hết sung công, đợi khi bắt được thì theo pháp luật thêm bậc mà trị tội và bắt sung ngũ”.

Hiện nay một số ngôi đình ở vùng Ba Tri còn lưu giữ những tấm biển hiệu thờ binh Võ cự.
Hoàng Phương - Ngọc Phan




--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

2 Pages: V < 1 2
Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 24th June 2019 - 10:24 PM