IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

8 Pages: V « < 6 7 8  
Reply to this topicStart new topic
> VềPHẬT (Của HOAHẠ)
hoaha
post Nov 14 2016, 12:43 AM
Gửi vào: #141


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



GIỚI THIỆU
ĐẠI CƯƠNG VỀ DUY THỨC HỌC

(Tâm lý học Phật giáo)
Tuệ Hạnh

Duy thức học (Tâm lý học Phật giáo Phát triển) là một trong những hệ thống tư tưởng lớn của Phật giáo đã gây sự kinh ngạc đối với khoa Tâm lý học phương Tây hiện đại, đặc biệt là chuyên ngành Tâm lý học trị liệu. Tuy nhiên, khác với Tâm lý học thông thường, Duy thức học không phải là một nhận thức luận đơn thuần, cũng không nhằm xiển dương cho một triết lý nào đó, mà trong mục tiêu cứu kính của Phật giáo, Duy thức học đã khai sáng một nhận thức mới về sự giác ngộ qua hành trình tìm hiểu Tâm. Đây là một vấn đề Phật học quan trọng và rộng, nhưng trong giới hạn dung lượng của chương trình Phật học hàm thụ, Ban Hướng dẫn trân trọng giới thiệu bài giảng: "Đại cương về Duy thức học" của tác giả Tuệ Hạnh, Ph.D.; ngoài bài giảng này, trong điều kiện cho phép, học viên cần tham khảo thêm các tài liệu được giới thiệu ở cuối bài.

DẪN NHẬP
Duy thức và Trung quán là hai trường phái lớn, triển khai tư tưởng Đại thừa đến cực điểm của triết học Phật giáo vào những thế kỷ II đến thế kỷ VI tại Ấn Độ. Duy thức được biết qua Phạn ngữ bằng 3 từ: 1) Cittamàtra, chủ trương tất cả đều do tâm, duy tâm; 2) Yogacàra, gồm 2 từ Du-già và hạnh, đề xướng hành trì du-già, quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện Bồ tát; 3) Vijnanaptivàda, học thuyết cho rằng tất cả vạn vật đều do thức hiện khởi, duy thức. Cả ba từ này được dùng cùng nghĩa với nhau, tuy rằng về sau, do các bộ luận chuyên về "duy thức" của Thế Thân, Vijnanaptivàda được phỗ biến hơn và chấp nhận như là tên gọi cho triết thuyết của tông này (Vijnanaptimatràtavàda). Trong khi đó, Cittamàtra hầu như không còn được nhắc tới, còn Yogàcàra được dùng xen lẫn với Vijnanaptivàda như là đồng nghĩa. Trong khi Trung quán chú trọng về biện chứng bằng trí tuệ thì Du-già đặt trọng tâm vào việc hành trì thiền định; cả hai đều nhằm mục đích nhận chân thực tánh của hiện hữu.

Tuy rằng sự ra đời của trường phái Duy thức được xem là xiển dương và phát huy triết lý Đại thừa đến cực điểm, nhưng căn bản tư tưởng của nó, cũng như của Trung quán, bắt nguồn từ truyền thống sớm nhất của Phật giáo, tức ngay vào thời Đức Phật tại thế, khi Ngài dạy trong kinh Pháp Cú, rằng "Tâm làm chủ, Tâm dẫn đầu, Tâm tạo tác tất cả các pháp", rằng Thức vốn có bản tánh thanh tịnh, v.v... Tâm do đó rất quan trọng trong Phật giáo ngay từ thời nguyên thủy. Có thể nói rằng tất cả các học phái của Phật giáo, tại Ấn Độ cũng như tại Trung Hoa, cũng đều xây dựng triết thuyết trên vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của Tâm.

Du-già [1] thực ra không phải là một phương pháp thực hành thiền quán đặc biệt nào, mà là một phương tiện diễn đạt dùng để tìm hiểu nội trạng của hành giả khi hành động và ý nghĩ của hành giả khi thực hiện hành động đó. Mục đích là để chuyển biến thức thành trí (tuệ). Sự ra đời của triết thuyết Duy thức, theo vậy, không phải là để xiển dương một triết lý, mà là để khai sáng một nhận thức mới về sự giác ngộ qua hành trình tìm hiểu Tâm thức bằng thuyết Ba tự tánh (trisvabhava) rồi thiết lập một con đường thực hành (Bồ tát đạo), tạo nên một triết thuyết đưa nội dung tư tưởng Đại thừa đến chỗ toàn vẹn.

I. CÁC LUẬN SƯ DUY THỨC

Thế Thân (Vasubandhu) và người anh là Vô Trước (Asanga), sống khoảng thế kỷ IV, được xem là hai khuôn mặt vĩ đại, đã chủ xướng, hệ thống hóa và xiển dương triết lý Duy thức khiến chỉ trong một thời gian ngắn, học phái này được phỗ biến rộng rãi và lôi cuốn một số luận sư tài danh khác, đương thời cũng như các thế kỷ sau, nhập cuộc và khởi đầu cho một số luận sớ, sớ giải, v.v..., hoặc tán thành và triển khai thêm, hoặc biện bác, phủ quyết, v.v... với học thuyết này.

Thế Thân (315-395 sdl) [2] nỗi tiếng qua hai quyển luận ngắn, luận thuyết rằng tất cả đều duy chỉ là thức [3] (Duy thức Nhị thập tụng và Duy thức Tam thập tụng, Vimsatikà- và Trimsikà-vijnịapti-kàrikà) [4], cùng một quyển nhỏ khác, nói về ba tánh của hiện hữu, tức tam tự tánh (Trisvabhàva-nirdesa), hay còn gọi là Tam vô tự tánh luận (Trinisvabhàva-sàstra) [5]. Truyền thuyết cho rằng sau khi được người anh khác mẹ là Vô Trước thuyết phục theo Đại thừa, Thế Thân mới viết các luận trên để bày tỏ quan điểm mới và phủ nhận ý hướng Tiểu thừa được biết qua bộ A-tì-đạt-ma Câu-xá luận (Abhidharma-kosa-bhàsya) cũng vô cùng nỗi tiếng của ngài. Thật ra, là một triết gia lỗi lạc, càng lớn tuỗi thì kinh nghiệm tâm linh càng thâm sâu và tư tưởng triết lý càng cao rộng, cho nên các bộ luận trên chỉ là thành quả triển khai đương nhiên của nhà luận sư tài ba này mà thôi.

Vô Trước là tác giả của Bồ tát địa (Bodhisattvabhùmi), A-tì-đạt-ma Tạp tập luận (Abhidharmasamuccàya), và Du-già sư địa luận (Yogàcàryà-bhùmi-sàstra) [6], viết theo quan niệm Duy thức.

Thầy của Vô Trước là luận sư Di Lặc (Maitreyanàtha) [7], một nhân vật lịch sử, mà các học giả ngày nay như giáo sư Giuseppe Tucci đã có ý kiến rằng ngài mới chính là người xiển dương và là sáng tổ của Duy thức tông; tài năng của ngài không kém Long Thọ, tuy rằng tên tuỗi và niên đại của ngài lại ít người biết đến [8]. Theo truyền thống Tây Tạng, ngài là tác giả 5 bộ luận, mà nỗi tiếng nhất là Biện trung biên luận tụng (Madhyànta-vibhàga-kàrika) [9], luận giải về sự phân biệt giữa trung đạo đối với các cực đoan [10]; cùng với Đại thừa trang nghiêm (Mahàyànasùtra-lankàra), Hiện chứng trang nghiêm (Abhisamayàlamkàra) v.v...

Đại diện trường phái Duy thức tại Ấn Độ có Sthiramàti (An Huệ, sống khoảng thế kỷ VI), vốn là đại đệ tử của Gunamàti, Đức Huệ, người sáng lập trung tâm Valabhì, trong khi Dharmapàla, Pháp Hộ (530-591), người có công xác lập vị trí của trung tâm Đại học Nàlandà với khuynh hướng xiển dương Duy thức, là hai trung tâm học thuật Phật giáo nỗi tiếng đương thời. Pháp Hộ chủ trương Duy thức tuyệt đối, trong khi An Huệ có ý muốn dung hòa quan điểm "thực tướng" của Nagarjuna (Long Thọ) với quan niệm "nhất thiết duy tâm tạo" của Duy thức [11]. Ngoài ra còn có đệ tử Thế Thân là Dignàga (Trần Na), và đệ tử Trần Na là Dharmakìrti (Pháp Xứng); cả hai dựa trên quan điểm nội hàm luận lý học của Thế Thân về tương liên giữa nhận thức về đối tượng để xiển dương Nhân minh học (Hetuvidyà), một phương pháp tranh luận bằng lý luận, logic.

Tại Trung Hoa, Duy thức được xiển dương bởi ngài Huyền Tráng và đệ tử là Khuy Cơ (K'uei-chi, 632-685), người được xem như là sáng tổ Duy thức hay Pháp Tướng tông (Fa-hsiang), một trong 8 tông phái lớn của Phật giáo Trung Hoa. Ngài Huyền Tráng (Hsuan-tsang, 596-664) sau khi dịch Duy thức Nhị thập tụng và nhất là Duy thức Tam thập tụng, bèn hội ý tất cả mười bản luận giải của các luận sư Ấn Độ về Duy thức Tam thập tụng để viết Thành Duy thức luận (Vijnịapti-màtratà-siddhi), làm căn bản triết thuyết cho Pháp Tướng tông Trung Hoa [12]. Ngoài ra còn có Đại Thừa Đăng, một đại sư người Việt Nam, cùng với Khuy Cơ được xem như là hai đại đệ tử đã cộng tác với Huyền Tráng trong công trình dịch thuật các bộ luận về Duy thức này, cho thấy tài năng của một đại sư Việt Nam mà tên tuỗi chưa được giới học thuật Phật giáo Việt Nam trước đây chú ý [13].

II. SƠ LƯỢC VỀ DUY THỨC NHỊ THẬP TỤNG VÀ DUY THỨC TAM THẬP TỤNG (Nhị thập tụng và Tam thập tụng)

Vasubandhu viết Nhị thập tụng và tự viết thêm phần chú giải, trong khi Tam thập tụng thì có phần chú giải của Sthiramati (An Huệ). Theo hai bản luận căn bản của Duy thức tông này [14], thì tất cả mọi hiện tượng đều là sự biến hiện của thức trong hành vi và hoạt động nội tại của chúng; những nhận thức của chúng ta không phải là do từ đối tượng ngoại tại tạo thành, những đối tượng mà ta tưởng là hiện hữu bên ngoài và tạo thành ý nghĩ của chúng ta. Cũng giống như trong giấc mộng, chúng ta có những kinh nghiệm về thiên hình vạn trạng, người ta, cảnh vật, thời điểm, cảm giác, v.v..., tất cả đều y như thật trong giấc mộng đó. Đến khi tỉnh giấc, ta còn vẫn còn có những cảm giác như thật khi tiếp xúc và phản ứng với những gì trong mộng [15]. Ấy thế mà khi tỉnh giấc, thì chẳng có gì. Cũng vậy, tất cả các đối tượng ngoại tại chẳng qua chỉ là do thức hiện khởi mà thôi.

Do đó mà Thế Thân mới kết luận rằng những chứng cớ bằng nhận thức về sự hiện hữu của thế giới đối tượng không thể tin được. Dụ như, ta có thể đặt vấn đề, là những đối tượng của nhận thức qua đôi mắt, nhãn thức, chỉ hoàn toàn là một hiện thể trọn vẹn, hay nhiều thành tố như nguyên tử hợp lại. Chúng không thể hoàn toàn là một, bởi vì nếu là một trọn vẹn thì phải bao gồm nhiều thành phần trong chúng; chúng cũng không thể có đặc tính của những nguyên tử, là những thành tố không còn có thể chia chẻ phân tách ra nữa được [16]; bởi lý do đơn giản là nếu chúng có thể phối hợp được thì chúng đã không thể được xem là nguyên tử. Để phối hợp, một thành tố phải có 6 cạnh, Nam Bắc Đông Tây trên dưới [17], như vậy có nghĩa là nguyên tử đó không còn phải là nguyên tử nữa. Lại nữa, nếu những đối tượng của nhận thức hoàn toàn là một, thì sự tiếp diễn và kết quả của nó không thể giải thích được và nhận thức của ta về sự vật khác biệt nhau cũng không thể nào kể đến được. Do thế mà tuy chúng không có một hiện hữu thật sự là đối thể, nhận thức đó lại dẫn dắt ta đến việc tin tưởng là chúng hiện hữu thật sự bên ngoài. Như trong giấc mộng, chúng ta tạo dựng một thế giới khách thể mà chỉ khi nào ta đạt được trí tuệ siêu việt đối đãi, nhị nguyên, ta và không-ta (lokottaranirvikalpa- jnanalabhat prabuddho bhavati), khi ấy chúng ta mới biết rằng thế giới đó cũng giả tá như giấc mộng giả tá với thiên hình vạn trạng mà thôi. Theo quan điểm này, thì không có một thế giới khách thể bên ngoài, và nhận thức của chúng ta không phải bị ảnh hưởng bởi những đối tượng ngoại tại.

Trong Tam thập tụng của Vasubandhu và chú giải của Sthiramati, quan điểm Duy thức được quảng diễn rõ ràng hơn. Chủ thể tri nhận và những gì được tri nhận như là ý tưởng chủ thể hay đối tượng khách thể đều chỉ là sự hiện hành của thức (vijnnànaparinàma) tàng trữ thanh tịnh. Sự hiện hành hay chuyển biến (parinàma) của thức là sự hình thành của một kết quả khác biệt với sự hình thành của một gian kỳ nhân-quả mà cùng lúc, gian kỳ nhân-quả đó cũng chấm dứt. Ở nơi thức này, không có ngoại tại cũng không có chủ thể, nhưng chúng bị lầm tưởng là có; mà vì bị tưởng lầm như thế cho nên phải có một tồn thể nào đó hiện hữu nhưng bị tưởng lầm là một cái gì khác. Tồn thể đó, Thế Thân định nghĩa là Thức (Thức a-lại-da nơi trạng thái thanh tịnh, vijnanaptimatràta), mà Thế Thân và cả An Huệ đều cho là thực tại chân thật tối hậu. Trong khi đó, kinh Lăng Già cùng một số luận sư cực đoan khác lại phủ định luôn cả thực tại của thức này (asat).

Thức tối hậu vốn hàm chứa tất cả mọi biến thái do hai thức trước gửi vào, gọi là àlayavijnanana (thức A-lại-da) trong dạng thức bị biến thái, bởi vì nó là cái kho chứa đựng (huân tập) tất cả kinh nghiệm nhận thức. Khi tâm của bậc giác ngộ đã định tĩnh (pratisthita) trên thức thanh tịnh này, thì khuynh hướng suy nghĩ nhị nguyên về chủ thể và khách thể (grahyagrahaka-anusaya) chấm dứt và trí vô phân biệt (nirvikalpa) và siêu việt thế gian (lokottara) hiện khởi. Trí này đã tẩy sạch hết tất cả phiền não (klesa), không còn một khuynh hướng đối đãi nào nữa cả, nên được gọi là trí vô lậu (anàsrava), có nghĩa là không còn rơi lọt vào vòng nhị nguyên nữa. Nó không thể nghĩ bàn được (bất khả tư nghị), không thể diễn đạt được (bất khả thuyết) vì đó là trí tự chứng (pratyatmavedya) đồng thời biết tất cả, nhất thiết trí tri (sarvajnanata; omniscience), vì không còn gì có thể hạn cuộc, không gì có thể chướng ngại (àvarana) được nó nữa. Alayavijnnana trong trạng thái trong sạch thuần túy được gọi là pháp giới (dharmadhàtu) của mọi đức tính, và cũng là nơi mà tất cả những tâm thức đã đánh mất tất cả những phiền não hạn cuộc và được gọi là Pháp thân (dharmakàya) của Phật (klesajneyavarana-prahanat [...] sarvadharma-vibhutualabhata's ca dharmakaya ity ucyate). Đây là giai đoạn chuyển thức thành trí.

III. HỌC THUYẾT

1. Bốn điểm quan yếu của học thuyết Duy thức: Đó là

a. tất cả hiện hữu chỉ là do thức, duy thức (vijnanapti-màtratà);
b. tất cả do vì tạng thức (àlayavijnanana) hiện khởi;
c. thức có ba tự tánh (tri-svabhàva), mà sau khi phân tích, thật ra lại là ba vô tự tánh;
d. tương liên giữa ba tự tánh và ba thân Phật (trikàya).
Theo Duy thức, a-lại-da huân tập các hạt giống (chủng tử, bìja) trong quá khứ, từ đó sinh khởi các hiện tượng tâm thức do vì chủng tử chín muồi theo tác động của nghiệp (nghiệp quả). Chúng tác động nhau tạo nên ảo ảnh mà chúng ta cho là thật. Cảm nhận của con người do đó bị nhiễm ô, khiến phát sinh ra ấn tượng về một cái "ta". Ấn tượng này là sai lầm, vì chỉ có sự cảm nhận (thức), chứ không có "người" cảm nhận; do vì sai lầm bám víu vào cái ngã cho nên phải đau khổ. Sự cảm nhận, hay nhận thức ngoại cảnh, được phân tích là vốn không có tự tánh (ba tự tánh). Để không còn bị thức chuyển hiện, ta phải hành trì Du-già để chuyển thức thành trí, chuyển ba tự tánh thành ba thân Phật.
2. A. Thế nào là tất cả hiện hữu chỉ duy thức?

Duy thức học hay Duy thức tông chủ trương mọi hiện tượng đều chỉ là thức, là cảm nhận của tâm, ngoài thức đang cảm nhận thì không có gì hiện hữu, không có một đối tượng khách thể, độc lập. Thế gian chỉ là ảo ảnh (màyà), hay tợ cảnh, bởi vì tất cả hiện thể đều không bền vững, không có tự thể (vô ngã), và không tồn tại (vô thường). Tâm thức, bị ảnh hưởng của vô minh (avidyà), tin vào những gì mà nó tiếp xúc, trong cả hai trạng thái tỉnh giấc và ngủ mơ, cho rằng đối tượng thật sự hiện hữu bên ngoài nó, trong khi thật ra, chỉ vì cái tâm thức đó phóng thể, hay là hiện ra (tập khởi), cho nên thấy như là thế gian như là hiện hữu, vậy thôi. Chủ thể, cái ta, do đó không có thật; và khách thể, thế giới bên ngoài, cũng không có thật.

KHÁI NIỆM VỀ THỨC

Thức, hay ý thức, là sự nhận biết về một "cái ngã", "cái ta". Nguyên lý căn bản của Duy thức học là "tất cả một hiện hữu đều do thức tạo tác" (nhất thiết duy tâm tạo). Thức là nền tảng của tất cả mọi hiện hành, từ khi sinh ra cho đến khi đạt giác ngộ; "tất cả đều đặt trên tiến trình sinh khởi và diệt tận của ý thức, tức là sự phân biệt tự bên trong của tâm. Thức là hành vi, hoạt động tạo tác phân biệt của tâm, vừa tạo tác (tập khởi tâm) vừa sinh khởi phân biệt (tư lương tâm), không chỉ trong trạng thái tỉnh thức mà ngay cả trong trạng thái vô thức hay tiềm thức nữa. Ý thức, trong khi phân biệt cái ta và tất cả những gì không phải là ta, trở thành chủ thể và xem tất cả những hiện tượng bên ngoài cái ngã đó là đối tượng, là khách thể. Ý thức, tự nó, là thật. Nó hiện hữu như là một tràng tiếp nối liên tục nhau của từng gian kỳ (moment) nhận biết về những hiện tượng diễn biến bên ngoài nó (duyên lự tâm); mỗii một gian kỳ như thế vừa hiện khởi lên thì liền được thay thế bởi gian kỳ kế tiếp liên tục nhau, không gián đoạn (tương tục thức). Ý thức do đó, không có thực chất, nó sinh khởi nhờ nương dựa vào ý thức của gian kỳ hiện khởi trước. Do vì tất cả, cho đến khi hành giả đạt đến giây phút giác ngộ, đều là do thức, cho nên tất cả mọi đối tượng của thế giới ngoại tại đều chỉ là những biểu hiện, những "đại diện", những biểu hiện của thức (hiện thức) mà thôi. Do vì tất cả đều chỉ là biểu hiện của thức, cho nên mỗii một hiện tượng sinh khởi đều không có tự tánh nội tại của chúng. Cho nên cái mà ta tưởng là "cái ta", cái ngã của ta, chỉ là một ảo tưởng, không có cái "Ngã" chân thật; mọi vật đều chỉ là hiện tượng do thức tạo thành. Cuối cùng, khi ý thức dính mắc vào những biểu hiện để rồi phát sinh ra phân biệt nhị nguyên đó được nhận diện, và chuyển thành trí tuệ, thì tất cả mọi chấp trước vào cái ngã và những hiện tượng ngoài ngã đều bị diệt tận, và giác ngộ hiện tiền.

Khi cho rằng "thế gian chỉ do tâm hiện khởi", triết thuyết Duy thức phủ quyết rằng thế gian không phải là một thể hiện hay tạo cụ của một đấng tối cao vô biên hay tuyệt đối nào đó. Thượng đế, chúa trời, hay thiên chủ, v.v..., chỉ là một đối tượng sản xuất do bởi tâm thức mà thôi.

Không có gì có thể hiện hữu độc lập hay bên ngoài thức. Thế gian chỉ là sự cấu tạo bằng nhận thức của chúng ta, và nếu ta phân tích cái tâm chưa giác ngộ sẽ khám phá ra có nhiều cấp độ nhận thức khác nhau dựa trên ý thức tàng trữ, tạng thức hay a-lại-da thức, thức thứ 8, nơi chứa đựng các hạt giống, chủng tử (bìja), nghiệp lực của các hành vi, hoạt động thuộc quá khứ.

2. B. Tám thức

Tâm lý học phương Tây thông thường giải thích cơ cấu của sự nhận thức bằng 6 thức, dựa trên 6 căn (indriyas), tức là 6 giác quan: mắt (nhãn, caksu-), tai (nhĩ, srotra-), mũi (tĩ, ghràna-), lưỡi (thiệt, jihva-), thân (kàya-) và ý căn (mana-indriyas). Mắt, khi tiếp nhận đối tượng của nó là cảnh vật bên ngoài (trần cảnh), thì thấy; cũng vậy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm và ý nghĩ suy. Nhưng nếu nhận thức của chúng ta chỉ dựa trên các căn, thì chỉ là một mớ nhận thức rất rời rạc, không thể giải thích được những hiện tượng tâm lý tương quan và thâm sâu. Thí dụ, từ thuở nhỏ, ta quen biết một người bạn, cách xa nhau ba mươi mấy năm, tình cờ gặp lại, ta nhận được ngay là người bạn cũ thuở xưa. Trong hơn 30 năm đó, ta không hề nghĩ nhớ đến người ấy, mà nay bỗng nhiên gặp, vẫn nhận ra ngay, vậy thì trong suốt thời gian này, hình ảnh của người đó được giữ ở đâu trong 6 giác quan trên để khi vừa gặp lại nhận biết ra ngay? Vấn đề này Tâm lý học phương Tây không giải thích được.

Trong khi đó, ngài Thế Thân đã tiến xa một bước, và đóng góp một thành quả lớn lao cho tư tưởng thế giới, đó là đề nghị một cơ cấu ý thức gồm 4 thành tố: i. 5 thức trước; ii. thức thứ 6; iii. thức thứ 7, gọi là mạt-na thức; và iv. thức thứ 8, tức a-lại-da thức, hay tạng thức. Hai thành tố sau, mạt-na và a-lại-da thức là đóng góp vĩ đại của Thế Thân đối với lịch sử triết lý của nhân loại. Thức thứ 8, như tên gọi, là tạng thức, tức tàng trữ tất cả những nhận thức của chúng ta, có thể ví như bộ nhớ (memory) của máy vi tính. Chính nơi tạng thức này mà hình ảnh của người quen 30 năm trước được cất giữ; khi gặp lại, thì thức thứ 7, vừa tiếp nhận hình ảnh người mới vừa gặp lại, vừa tìm kiếm trong tận cùng sâu thẳm của thức thứ 8 hình ảnh người quen cũ trước đó 30 năm, phối hợp lại, để trong nháy mắt cho ta biết ngay đây là người đã quen. Thức thứ 7 này là bộ xử lý (DOS) của vi tính.

2. B. i. A-lại-da thức (àlaya-vijnanana)

Như vậy, phần chính yếu của nhận thức của chúng ta là thức thứ 8, a-lại-da thức, hay thức tàng trữ (tạng thức, năng tàng) làm cơ sở cho 7 thức kia. A-lại-da thức còn gọi là "chứa đựng mọi ảnh tượng" (sở tàng); từ nơi a-lại-da này mà tất cả những ý niệm về cái ta (ngã chấp), và những hành vi hoạt động của nó trong thế giới ngoại tại (pháp chấp) sinh khởi. Nếu ta có thể lấy ví dụ a-lại-da thức này như là một biển nước rộng lớn mênh mông, thì 7 thức kia chính là những đợt sóng nhấp nhô, hay ào ạt, trên mặt nước đó. Theo đó, 7 thức trước không thể tách rời khỏi thức thứ 8 này, cũng không làm quấy động sự yên tịnh nơi đáy sâu của biển; nước và sóng là một, thì cả 8 thức này căn bản cũng không hai. Ta cũng tìm thấy tỷ dụ về nước và sóng này trong học thuyết Tánh Không.

Thức thứ 8 này siêu việt "nhị nguyên của chủ thể và khách thể, của hiện hữu và không hiện hữu"; nó không có một chủ ý nào trong hoạt trình của nó, không hề nhận biết đến đối tượng, không phân biệt, không bị ngăn che (vô phú), không tốt cũng không xấu (vô ký). A-lại-da thức là nơi tàng trữ các hạt giống (chủng tử) do hành động tạo tác bắt đầu từ nguyên nhân đưa đến kết quả (nghiệp), do vì những hành động mê muội của chúng ta. Thức này không tạo nên nghiệp chủng, nhưng nó giữ vai trò như là chủ thể của quả báo đối với những hành hoạt cố ý trong quá khứ, dẫn đến kết quả nơi hiện tại, và ảnh hưởng đến những hoạt động và chấp trước vào tương lai, khiến chúng sinh phải luân hồi trong 3 cõi (tam giới) và 9 vùng (cửu địa). Tiến trình chín muồi của các chủng tử, những suy tư, những nhận thức về đối thể, tất cả đều là chủ quan; cho nên tiến trình đó và kết quả của nó đều không có thật.

Giải thoát khỏi vòng luân hồi khi tất cả những hạt giống phiền não được thay thế bởi các chủng tử thanh tịnh do những tịnh nghiệp tạo thành. A-lại-da thức cũng huân chứa các hạt giống thanh tịnh nội tại, là nguồn gốc cho ý chí hướng về giác ngộ. Khi đạt được giác ngộ, thì thức thứ 8 này không còn những hạt giống chưa chín muồi (dị thục chủng) nữa, và chuyển thành Trí của tấm gương tròn lớn (Đại viên cảnh trí, Great mirror wisdom).

A-lại-da thức có 2 phần: phần chủ thể và phần đối tượng được nhận thức. Phần trước thì tương duyên với thức thứ 7, phần sau duyên với thức thứ 6 và 5 thức trước, thể hiện qua các trạng thái trí thức, đạo đức và tâm linh, như tham ái, tính toán, phân tích, thiền định, tin tưởng, hỗ thẹn, trí tuệ, v.v... Khi phần sau chuyển biến trong lúc giác ngộ, thì nó trở thành Hậu đắc trí (subsequently-attained wisdom). Tuy A-lại-da thức phải duyên với tất cả 3 loại biến chuyển (parinàma) để chuyển thức thành trí, nhưng bên trong nó còn có một cơ sở thường tồn trì giữ tư tưởng trong sạch, bất biến và vĩnh cửu. Đó là thức thứ 9, a-mạt-na hay a-mà-na thức (amàna-vijnanana) do Phật giáo Tây Tạng chủ trương nhưng chưa được bàn rộng sâu, bởi vì đến đó, chỉ còn trạng thái tự nhận mà thôi, không còn phải nương theo những loại hình ngôn ngữ thông thường.

B. ii. Thức thứ 7 (Mạt-na thức, mano-vijnanana)

Thức thứ 7 che lấp chân tánh của con người bởi quan niệm về cái ngã, cái tôi (ngã chấp). Đây cũng gọi là thức truyền thống (defiling-transmitter consciousness), bởi vì nó là nơi chất chứa, huân tập những hiện hữu của thế giới không thật bên ngoài, biến chúng thành những hạt giống ảo tưởng, từ đó cho rằng có một cái ngã cá biệt bên trong, làm cho ô nhiễm 6 thức trước. Thức thứ 7 này cũng làm nhiễm ô thức thứ 8 bằng cách liên tục cung cấp cho thức A-lại-da một cái ngã tưởng rằng có thật (chấp nội ngã, ngã thật tướng), trong không gian và thời gian.

Tri nhận của thức thứ 7 này là sai lầm (phi lượng) do vì bản tánh chấp trước của nó, tạo nên 4 loại ảo ảnh: ngã kiến, ngã ái, ngã si và ngã mạn. Nó cũng duyên với 8 đại tùy phiền não, như giải đãi, bất tín, v.v...

B. iii. Thức thứ 6 (manaskàra)

Tri kiến và nhận thức hiện hành nơi thức thứ 6, ý thức. Thức này, cùng 5 thức trước, "nhìn thấy" thế giới hiện tượng bên ngoài. Thức này chấp mắc vào những hiện hành của 5 uẩn như là đối tượng và nảy sinh những ý niệm không ngừng nghỉ về cái ta như là chủ thể, trong tiến trình tương duyên 51 pháp với tâm. Thức này là thức phân biệt nhị nguyên, phải trái, trắng đen, lạnh nóng, v.v..., và tự chuyên phê phán, phân biệt, tính toán, so lường trên căn bản đạo đức (duyên lự tâm) những gì mà 5 thức trước thâu nhập vào. Phân biệt (vikalpavasana), gồm có 3:

i. tự tánh phân biệt;
ii. kế độ phân biệt, phân biệt do tính toán khiến tạo nghiệp trong tương lai;
iii. tuỳ niệm phân biệt, phân biệt do hồi tưởng những kinh nghiệm quá khứ.
Thức này cũng duyên với các tâm sở căn bản và tùy phiền não đồng thời với tam tánh và tam trí khi các tánh trí này xâm nhập vào ba trạng huống bên ngoài (tam cảnh). Trong tiến trình đó, thức thứ 6 tạo nên nghiệp bởi do phân biệt, suy đoán, và quyết định đưa đến thể hiện những hành động cụ thể bằng thân và khẩu, hoặc bằng hành động tâm linh như tính toán, nghĩ ngợi, hoặc bằng hành động tình cảm như yêu, ghét, tham muốn, v.v... Khi hành giả đạt đến địa thứ 8, thì những dính mắc chấp trước vào cái ngã của thức thứ 6 này đã đoạn dứt, chỉ còn chấp mắc vào pháp.
B. iv. Năm thức trước (panäca-parijnananas)

Năm thức trước được gọi là thức tiếp nhận, do 5 giác quan (căn) cảm nhận, gồm có nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức. Những cảm nhận này sinh khởi từ nơi thức thứ 8. Mỗi căn thức gồm có 2 phần: a. Phần chất thể, tức 5 căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; và b. Phần nhận thức; và những thần kinh dẫn đưa 5 căn vào phần nhận thức của a-lại-da. Chúng có thể hiện sinh cùng một lúc nhưng không nhất thiết phải theo thứ tự như liệt kê, hoặc chỉ 1 hay 2 căn hiện sinh mà thôi, tùy theo hoàn cảnh. Năm căn thức này duyên với 31 tâm sở (5 biến hành, 5 biệt cảnh, 11 thiện, 10 tùy phiền não), và đồng thời duyên với thức thứ 6 khi thức này tiếp nhận những gì mà 5 căn thức thâu nhập vào, để tạo nên một hình ảnh trong tâm thức về thực tại. Sau khi những nhận thức của 5 căn thức này được thức thứ 6 tiếp thu, chúng được chuyển qua thức thứ 7, để từ đó những tri nhận này được gửi vào thức thứ 8 là nơi tàng trữ tất cả những gì mà 5 căn nhận thức xuyên qua quá trình tiếp nhận của thức thứ 6 và 7. Tiến trình này tương tục tiếp diễn không ngừng, và tạo nên những hạt giống nghiệp nơi thức thứ 8. Tất cả 5 thức tiếp nhận này đều không có khả năng phân biệt đạo đức, cho nên chúng thuộc tánh trung dung (vô ký tánh). Cả 5 căn thức đều có mặt nơi cõi dục giới, trong khi nhãn, nhĩ và thân thức còn có mặt nơi địa thứ nhất của cõi sắc giới. Qua đến địa thứ hai (nhịthiền định, sinh hỷ lạc địa) của sắc giới thì 5 căn thức này không còn sinh khởi.

B. v. Tiến trình phân biệt của thức

a. Ba loại trí phân biệt (Tam lượng)

Sự phân biệt, là thấy có ta có người, có chủ thể và khách thể, có cái ngã nội tại và thế giới ngoại tại. Chủ thể có 3 loại trí phân biệt (tam lượng):

i. Nhận thức trực tiếp ngay tức thời hiện tượng đang xảy ra (hiện lượng, direct veridical perception), duyên với 5 thức trước, cho thấy hình ảnh chân thật của thực tại. Thí dụ: Quả cam màu xanh.
ii. Dựa trên nhận thức đó, nảy sinh suy đoán (tỷ lượng). Thí dụ: Trái cam này chắc sẽ ngọt/chua.

iii. Nhận thức tưởng tượng, ảo giác, không phù hợp với giá trị chân thật của thực tại (phi lượng). Thí dụ: Quả cam này chắc sẽ có nhiều người giành mua.

b. Ba cảnh (Tam cảnh)
Ba trí phân biệt thì duyên với chủ thể, đến phần hai của sự phân biệt thì duyên với đối tượng hay khách thể của nhận thức.

i. Khi những phương diện của cảnh giới tự nhiên bên ngoài (tánh cảnh) được thức tiếp nhận, chúng chưa bị méo mó bởi dính mắc vào ngã và pháp. Tánh cảnh này chưa bị điều kiện của nhân quả chen vào, tương đương với nhận thức a/i. của tam trí kể trên. Thí dụ: ta thấy một đóa hoa mọc bên vệ đường.
ii. Những ấn tượng do trí suy đoán và tưởng tượng a/ii. & a/iii. của thức thứ 6 tạo thành (đới chất cảnh) khiến ta lại suy đoán. Thí dụ: đóa hoa này đẹp quá.

iii. Quan niệm về cái ngã khiến ta suy nghĩ sai lạc và bóp méo thực chất của đối tượng, tạo nên một ảnh tượng không có thật (độc ảnh cảnh). Thí dụ: đóa hoa này chắc chắn là vì ta mà nở đây.

c. Ba loại cảm thọ (Tam thọ)
Tất cả những kinh nghiệm tình cảm hay tâm linh của chúng ta, do 6 căn duyên hợp với 6 trần, để sinh ra 6 thức, được phân tích thành 3 loại: i. vui vẻ (lạc), ii. không được như ý (khổ), iii. không khổ không vui (vô ký). Mỗi một kinh nghiệm đều phải thuộc một trong 3 loại này.

d. Ba [đức] tánh

Để phân biệt với Tam tự tánh là 3 đặc thái thuộc về hiện tượng của thức, ta gọi đặc thái thuộc về đạo đức là 3 đức tánh, phân tích theo hành hoạt nhân quả của thức mà diễn đạt. Ba tánh này, theo khái niệm đạo đức, thay đỗi từng giây phút một, và gồm 3 loại:

i. Tốt, thiện (wholesome); khi một hành động mang lại lợi ích, là kết quả của những nghiệp chủng từ những hành hoạt thiện trong quá khứ. Hành hoạt thiện này duyên với 11 thiện pháp.
ii. Không tốt, bất thiện (unwholesome); hành động trái với thiện là bất thiện, tạo thành những nghiệp chủng xấu. Tánh này duyên với các tâm sở tùy phiền não.

iii. Vô ký, những hành động không thiện không ác. Tánh này duyên với 5 thức trước.

B. vi. Pháp
Duy thức tông, cũng như các tông phái khác trong đạo Phật, có mục đích tối hậu là diệt tận cái tâm thức nhị nguyên (pratisamkhyà-nirodha) đó, bằng phương pháp phân tích tâm hay thức, đưa đến kết luận rằng chúng vốn chỉ là thành tố của các pháp (bách pháp) cho nên vô ngã, vì chỉ là một phối hợp của ngũ uẩn. Do vậy không có một bản thể (dravya) có thể tìm thấy được; cho nên khi nói rằng một cái tâm hay một người có ý nghĩ là vì tâm thức (vijnanana) đó chỉ là một dòng lưu chuyển của những ý nghĩ (vijnanapti) mà thôi.

Pháp là những yếu tố tối hậu củng cố và duy trì sự hiện hữu của vạn vật. Trong truyền thống triết học Ấn Độ, trong đó có Phật giáo, quan niệm tất cả mọi hiện hữu đều là pháp. Con người là một pháp; con người gồm có đầu, thân, tay chân, v.v..., thì đầu là một pháp; đầu gồm có mắt, mũi, miệng, tóc, chân mày, v.v., thì mắt là một pháp, tai là một pháp; mắt gồm có vành mi, tròng trắng, tròng đen, lông nheo, v.v..., thì tròng trắng, lông nheo, v.v..., lại cũng là pháp, v.v... Và cứ thế mà chia chẻ ra cho đến tận cùng, đến chỗ không còn có thể chia chẻ được nữa, mà khoa học gọi là nguyên tử. Những nguyên tử này là những thực thể hiện hữu liên đới nhau, tạo nên bản tánh của thực tại. Do đó mà Thế Thân đã nêu lên vấn đề, ngay cả nguyên tử cũng không phải là không chia chẻ được, bởi vì chúng phải liên hợp nhau, mà khi có liên hợp thì phải có chất thể, gồm 6 mặt, Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới, không phải là không có gì hết để không còn chia chẻ được nữa. Cho nên, mỗi một pháp là do tâm thức tạo thành theo một chuỗi các sự cố liên hợp theo gian kỳ. Từ đó, những gì hiện hữu cũng chỉ là sự dính mắc chấp trước vào một thực tại huyễn hóa do thức tạo tác mà thôi. Trong tiến trình các sự cố hiện hình, thì các pháp đều ảnh hưởng và bị ảnh hưởng (tương tức) bởi 8 thức.

Duy thức học kê 100 pháp thuộc về tâm thức, vốn có thể xếp làm nhiều loại dựa trên 3 tánh (thiện, bất thiện và vô ký, đã kể trên) của chúng, bởi vì các pháp đều không hiện hữu thực sự. Có 5 loại pháp (ngũ vị):

a. Tâm pháp, gồm có 8, thể hiện 8 thức;
b. Tâm sở hữu pháp, gồm 51, liên đới hiện hành (tương ưng) với 8 tâm pháp. 51 tâm sở hữu pháp này lại được chia làm 6 loại phụ: i. liên đới hoạt động phỗ quát, có 5 (5 tâm sở biến hành); ii. 5 trạng thái đặc biệt ( 5 biệt cảnh); iii. 11 pháp hoàn toàn tốt (11 tâm sở thiện: tin tưởng, biết hỗ thẹn, v.v.); iv. 6 căn bản phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến; v. 20 tâm sở tùy phiền não: trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, bất chánh tri, vô tàm, vô quí, v.v...; và vi. 4 tâm sở bất định (hối, miên, v.v...).

c. Sắc pháp, gồm có 11: 5 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) và 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp); các pháp này là hình bóng của hai loại trên;

d. Bất tương ưng hành pháp, gồm có 24 pháp không tương ưng với 3 loại trên, dụ như thời gian, sinh diệt, phân biệt, v.v...;

e. Vô vi pháp, gồm có 6, là những pháp không bị điều kiện, như hư không, sự suy nghĩ, v.v..., do 4 loại trên hiển bày.

Nhận diện được ngũ vị trăm pháp này khi chúng tương ưng hay câu sinh với các thức, là bước đầu căn bản trên đường giác ngộ, cho đến khi đạt đến Đại viên cảnh trí, khi hành giả không còn phân biệt về ngã và ngã sở nữa.
2. C. Ba tự tánh hay ba vô tự tánh

Luận Trisvabhavanirdesa đặc biệt xiển dương ba tự tánh, phân tích tường tận các đặc thái của chúng và sự liên hệ giữa 3 tánh này với nhau. Trong Nhị thập tụng, ngài Thế Thân bảo vệ thuyết Duy thức và đả kích các chủ trương chống đối bài bác Duy thức, nhưng chưa nói rõ vai trò và cấu trúc của ba tánh trong học thuyết Duy thức của mình. Trong Tam thập tụng, ngài Thế Thân bàn đến sự liên hệ giữa ba tánh vốn trở thành là ba "vô tự tánh", khi phân tích theo đặc tánh về tướng trạng của chúng (laksana-nihsvabhavata), khi phân tích về sự tạo tác của chúng (utpatti-nihsvabhavat), và cuối cùng là về tự tánh chân thật của chúng (paramartha-nihsvabhavata). Kinh Giải Thâm Mật (Samdhinirmocana -sùtra) có bàn đến Ba tự tánh này, nhưng không đề cập đến liên hệ của chúng với quan điểm Duy thức, cũng không đi sâu vào những liên hệ giữa chúng với nhau.

Duy chỉ có ngài Thế Thân trong luận Tam tự tánh này mới phân tích tỉ mỉ về triết lý Duy thức khi bàn đến ba tự tánh và giải thích chúng tương liên sự vận hành và hoạt động cùng nhau như thế nào. An Huệ, khi chú giải Tam thập tụng (Trimsikà-kàrika), đã đồng nhất Ba tự tánh với ba vô tự tánh theo trong kinh Giải Thâm Mật. Quan điểm này của An Huệ được các luận sư Tây Tạng như Tsong-Khapa và MKhas Grub tuyệt đối chấp nhận không tranh cãi thêm. Bởi vì:

a. Một đối tượng khi hiện hữu, mang nhiều ý nghĩa cho nhiều chủ thể khi nhìn thấy đối tượng đó. Thí dụ: i. Một cô gái đẹp có thể khiến nhiều thanh niên ham muốn nhục dục, mà cũng là miếng mồi ngon cho con cọp trong rừng, hay chỉ là một đãy thịt thúi đối với vị La hán đã giác ngộ; ii. một ly rượu, đối với người ghiền là "nước cam lồ", với người bệnh gan là thuốc độc, v.v...
b. Duy thức thường dùng thí dụ về giấc mộng để chỉ sự không có thật có thực tại. Điều thích thú là, ngày nay, khoa học nhất là phân tâm học, cũng đã tiến đến trình độ chứng minh những sai lầm và thiếu sót của các căn thức. Thí dụ như một người, sau khi dùng các ngón tay để bịt kín đôi mắt và đôi tai, sau một lúc sẽ thấy mắt chói lòa và tai lùng bùng, tiếp đến sẽ sinh ra những ảo giác như tự bay được lên mây, lên trời, vào thiên đình nghe Ngọc hoàng Thượng đế sai phán, v.v... Người đó tự tạo một thế gian đầy đủ ba chiều (3 dimensions) y như thật. Tỷ dụ với những hiện tượng xảy ra trong giấc mộng cũng thế, đối với phân tâm học và tâm lý học phương Tây ngày càng có cơ sở chứng thực và được chấp nhận học tập cũng như ứng dụng để trị bệnh [18].

c. Duy thức phủ bác sự hiện hữu độc lập của các đối tượng bằng dẫn chứng là ngay cả nguyên tử cũng vẫn còn có thể bị chia chẻ đến vô cùng vô tận. Thuyết này nay cũng được tân vật lý học phương Tây chấp nhận, khi khám phá ra rằng, cũng như ngài Thế Thân đã đề xướng gần hai ngàn năm về trước, là nguyên tử (atom) - một đơn vị chất thể không còn bị chia chẻ ra được nữa- là bất khả thể. Bởi vì sau atom còn có thêm một loạt những đơn vị chi li hơn atom nữa, nào là proton, neutron, negatron, v.v...

Sau khi phủ bác sự hiện hữu chân thật của đối tượng vật chất, các luận sư Duy thức bèn xướng lập thuyết tương đối giữa chủ thể và khách thể, nội ngã và ngoại tại, để nhận diện đối tượng của thức trong tương liên với chính các thức tự nó/chúng. Thuyết này rất quan trọng trong Duy thức học, tức là thuyết ba tự tánh của thực tại. Nói cách khác, ba tự tánh là 3 đặc tánh của một pháp, được nhận diện qua kinh nghiệm của hành giả. Cả ba tánh này đều trực tiếp có mặt khi nhận thức hiện khởi.
a. Tánh biến kế sở chấp, là tánh chấp trước vào những biến hiện bên ngoài mà cho là thực (biến kế sở chấp tánh, parikalpita). Thật ra, tất cả những hiện hữu trong thế gian đều chỉ là ảo ảnh (màyà), hay tợ cảnh, bởi vì chúng không bền vững, không chắc thật có không tự thể (vô ngã), và không tồn tại (vô thường). Đây là tánh tưởng tượng do phân biệt chủ thể-khách thể tạo thành; là tánh chấp nhận thực tại của "cái ngã", chấp nhận giá trị của sự tưởng tượng đó cho là thật. Thí dụ, khi đi trên sa mạc khô khan và nóng bỏng, ta thấy có nước lấp lánh, thì liền cho là có nước thật, nhưng thật ra chỉ là ảo ảnh, là bóng nước mà thôi.
b. Tánh y tha khởi, là tánh nương dựa vào những yếu tố khác để có thể sinh khởi được (y t

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 14 2016, 01:15 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 14 2016, 01:12 AM
Gửi vào: #142


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Khi ta kinh nghiệm sự tương duyên trong tiến trình của tâm, biết là thức y tha hiện khởi không có những đặc tánh đối thể ngoại tại của thức biến kế sở chấp, khi đó ta còn có thức viên thành thật; mọi khái niệm về "cái ta", về "đối tượng" đều đoạn diệt, thì kết quả là "sự vật như là tự nó", là giác ngộ. Tô Đông Pha đã diễn đạt kinh nghiệm này qua hai câu sau viết về Lô Sơn: "... Đi rồi về lại không gì lạ, Lô Sơn mù tỏa khói triều dâng".
(Lô Sơn yên tỏa Triết giang triều
Vị đáo bình sinh hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa Triết giang triều).
Trong 3 tánh trên, Y tha khởi tánh giữ vai trò hết sức quan trọng, làm trọng tâm cho triết thuyết Duy thức, bởi vì tánh này, một mặt có thể tạo nên ảo giác làm ta phải lăn lộn trong sinh tử luân hồi; mặt khác, cũng tánh này, có khả năng đưa ta đến giác ngộ, Niết bàn. Khi tâm thức phân biệt một đối tượng ngoại tại, khiến tánh y tha khởi này nhận thức là có chủ thể và khách thể, tạo nên tánh biến kế sở chấp, rồi ta chấp mắc vào đó, thì đó là luân hồi. Nhưng cũng tánh y tha khởi này, một khi đã thanh tịnh, siêu việt những ý nghĩ có tánh cách phân biệt, khi Tánh Không của chủ thể và khách thể được nhận diện, thì cũng có thể duyên với tạng thức (thức thứ 8, hay căn bản thức, theo Tây Tạng), khiến thức này thanh tịnh, siêu việt nhị nguyên, thì hành giả đạt giải thoát. Như thế, tánh y tha khởi này đứng giữa hai lộ trình của tâm thức, hoặc tạo tác ảo tưởng khiến đi vào sinh tử luân hồi, hoặc duyên với tánh chân thật tròn đầy do trí tuệ bất nhị điều hành, thì đó là Niết bàn.
D. Ba thân Phật

Tuy rằng tâm giác ngộ thì bất nhị, nhưng căn bản Duy thức thì lại là một phương pháp diễn đạt và phân tích, cho nên ta cần biết đến sự phân loại hoạt trình của tâm thức trong tương quan với 4 bậc tâm giác ngộ (được gọi là trí, tức trí tuệ). Đó là sự chuyển biến 8 thức thành 4 trí, khi tánh Y tha khởi duyên với tánh chân thật tròn đầy, khi hành giả đạt giác ngộ.

i. Năm thức trước (tiền ngũ thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) trở thành trí thành công trong hành hoạt, tức Thành sở tác trí (wisdom of successful performance). Đặc tính của trí này là thanh tịnh và không còn bị vướng mắc khi tiếp xúc với các căn và đối tượng của chúng, tức các trần.
ii. Thức thứ 6, trở thành trí quán sát tuyệt vời, tức Diệu quan sát trí (wonderful contemplation wisdom). Đặc tính của trí này là biết tường tận về cái hoàn toàn không của ngã (cái ta) và của pháp (vạn vật bên ngoài), tức ngã không và pháp không. Với trí này, Đức Phật biết rõ các pháp như thật không bị bóp méo, không bị ngăn trở, từ đó, Ngài biết rõ tất cả các điều kiện thuộc tâm và thân của vạn vật, hữu tình cũng như vô tình, cho nên có thể tùy phương tiện giáo hóa chúng.

iii. Thức thứ 7 trở thành trí có tánh bình đẳng, Bình đẳng tánh trí (wisom of equality), với đặc tánh là nhận biết tận tường bản tánh bình đẳng giữa cái tưởng là ta và những hiện hữu không phải ta.

iv. Thức thứ 8 trở nên trí sáng soi như tấm gương tròn lớn, tức Đại viên cảnh trí (Great mirror wisdom), phản chiếu toàn thể vũ trụ một cách như thật, không sai trái, méo mó.

Tuy rằng 4 trí này chỉ hiện hành sau khi con người đã đạt được giác ngộ, nhưng một vài khía cạnh của Diệu quan sát trí và Đại viên cảnh trí cũng đã bắt đầu hoạt động trong một cường độ yếu kém hơn trước khi bước đến cảnh giới giác ngộ.
Trước khi giác ngộ, sự hiểu biết của chúng ta chỉ là mớ kiến thức thu thập qua kinh nghiệm, đọc sách, học hỏi khi giao tiếp với thế giới hàng ngày của chúng ta mà tập thành. Một khi tri kiến đó tập trung vào nơi giác ngộ, thì tri kiến này bắt đầu chuẩn bị để tiếp nhận trí căn bản (Căn bản trí). Cần nhắc lại, trí tuệ là sự hiểu biết nhất nguyên, nhận biết sự vật là như thật, như là chính nó, không có phân biệt chủ thể và đối thể, không phê phán, không có nhận thức nhị nguyên chen vào. Trí tuệ này siêu việt ngôn từ, văn cú, khái niệm; hoàn toàn là sự biết thanh tịnh rằng Chân như là căn bản của thực tại. Trí căn bản này nảy sinh Trí hậu đắc (Hậu đắc trí: subsequently-attained wisdom) là một hình thức thanh tịnh của trí tuệ phát sinh khi không còn phân biệt, nhưng chưa đạt đến giác ngộ giải thoát, cho nên đó gọi là "trí thế gian đã thanh tịnh". Đây là trí cần thiết phải có để có thể phân biệt tất cả các pháp, mà không vướng mắc dính chấp vào chúng hay bởi chúng, nên có thể loại bỏ mọi mê lầm về hiện tượng giả tá do thức tạo thành. Đức Phật dùng trí hậu đắc này để thuyết pháp độ sinh mà không thấy có người được độ, cho nên thong dong tự tại, đi lại không còn buộc ràng, là bậc Như Lai. Trí hậu đắc này giải thích hành vi, hoạt động của bậc sau khi đã giác ngộ, vẫn có thể đối diện với tất cả những hình danh sắc tướng của ngoại tại trong thế gian huyễn hóa này.

Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa (hay Ứng) thân. Chỉ có thân thứ 3, Pháp thân (Dharmakàya) là chân thật. Báo thân (Sambhogakàya, Enjoyment body) và Hóa thân (Nirmànakàya, Transformation body) chỉ là những biểu hiện của Pháp thân, và là những hiện thể dùng làm phương tiện tương đối tương đương với thức còn mê muội, chưa giác ngộ.

a. Hóa thân, nói đến thân thể vật chất trong thế giới hiện tượng này. Hóa thân này cần thiết để Đức Phật giáo hóa chúng sinh, đưa họ đến con đường giác ngộ. Thành sở tác trí hiện hữu nơi Hóa thân này để Đức Phật có thể hành vi, hoạt động bằng nhận thức, như người bình thường trong chúng ta. Đó là Đức Phật lịch sử, Đức Thích Ca Mâu Ni, thị hiện nơi cõi Ta bà này để thuyết giảng giáo lý vạn pháp duy thức.
b. Báo thân là một hiện thể vô hạn, diệu dụng mà Đức Phật dùng để giáo hóa bậc Bồ tát, những đấng hữu tình trước giai đoạn cuối cùng của giác ngộ. Có rất nhiều Báo thân, mỗi Báo thân có một cõi trời, hay một tịnh độ riêng, siêu việt ngoài hệ thống mặt trời của thế giới chúng ta, nơi rất dễ dàng để được nghe và thực tập pháp. Bình đẳng tánh trí tương đương với Báo thân này.

c. Pháp thân Phật có 2 tướng:

i. Tổng tướng, là cái Nhất siêu việt cả một và nhiều, là chân thể tuyệt đối, là bản tánh nội tại mà tất cả chư Phật đều có, thể hiện như là trí vẹn toàn, hoàn hảo, tuyệt đỉnh; là bản tánh tối thượng của thực tại, của chân như, như thị, không;
ii. Biệt tướng, là Sai biệt, là hoạt trình hiện tượng, là hình thức đặc thù của Pháp; đó là thức thứ 8, tạng thức, hay a-lại-da thức chuyển biến và là Pháp thân được trực nhận thể hiện ngay khi đạt giác ngộ. Pháp thân này tương đương với Đại viên cảnh trí.

Lý tưởng và mục đích của con người theo Phật giáo là đạt đến giác ngộ. Duy thức quan niệm giác ngộ là thực trạng của Chân như (True Suchness, hoặc Thusness), là bản tánh tối thượng của vạn vật. Chân như là trạng thái hiện hữu duy nhất của thực tại. Khi không còn phân biệt giữa nội tại và ngoại giới, thì hành giả đạt giác ngộ, trực nhận một sự thật bất nhị tuyệt đối, siêu việt ý thức về một "cái ta" phân biệt, chấp trước, dính mắc. Trong ý nghĩa này, ta thấy Duy thức học không phải là thuần túy một triết lý dùng để biện luận suông. Khi giác ngộ, tiến trình đi tìm kiếm đối tượng bên ngoài của tâm chấm dứt, cũng như tiến trình liên tục phóng thể năng lực của thức vào thế giới ngoại tại vốn bị điều kiện ràng buộc cũng đoạn diệt. Khi đó, tâm thức đã ở trong trạng thái định tĩnh, tiếp thu năng lực ngoại tại để củng cố và tăng trưởng tâm thức không còn phân biệt đó, giống như cành hoa cúc tiếp nhận năng lượng ánh sáng mặt trời để rạng rỡ.
E. Phản đề của Ba thân Phật

Đoạn trên, ta đã nói đến chuyển thức thành trí, do từ nơi tánh y tha khởi. Cũng tánh này, khi tâm thức phân biệt một đối tượng ngoại tại, khiến tánh y tha khởi nhận thức là có chủ thể và khách thể, tạo nên tánh biến kế sở chấp, rồi ta chấp mắc vào đó, tạo nhân đưa đến quả, gây thành nghiệp, thì đó là luân hồi.

a. Nghiệp

Kết quả của những hành động tạo tác, cố ý hay vô tình, của chúng ta, gọi là nghiệp. Hậu quả của những hành động đó để lại dấu vết hay là hạt giống gieo trồng trong tạng thức. Những hạt giống này nẩy mầm theo thời gian và nảy sinh thêm những hạt giống mới. Từ đó, những cuộc đời của chúng ta, trong quá khứ, hiện tại cũng như ở tương lai, đều bị dẫn dắt bởi những hành động trong quá khứ kết thành nơi hiện tại (dị thục, vipaka) và đưa đẩy đến những hành động trong tương lai. Nghiệp chịu trách nhiệm cho sự tiếp diễn liên tục của cá tánh mỗi hiện thể, thông qua sự chết hoặc vô thức. Sau khi một hạt giống kết trái, thì nó đã xong trách vụ. Tuy nhiên, những hạt giống mới cũng theo đó mà sinh khởi ngay, trong mỗi gian kỳ nhanh hơn nháy mắt. Và cứ thế mà chúng ta cứ bị dẫn dắt mãi trong vòng ảo ảnh của hiện tượng ngoại tại, vẫn cứ mãi tin tưởng vào sự thật bị bóp méo trong khuôn khổ của nhận thức nhị nguyên, cho đến khi nào mà ta đạt đến giây phút giác ngộ mới thôi.

Bởi vì giữa các chủng tử của nghiệp và những ảo tượng mà chúng tạo tác giống nhau, cho nên sự nhận thức của mỗi người về thế gian bên ngoài đều tương tự với nhau. Cho nên, chúng ta thường đồng ý với mọi người về cái thế giới ngoại tại mà chúng ta đang đắm chìm trong vòng sinh tử luân hồi trong đó. Đồng thời, chúng ta cũng kinh nghiệm những ảnh hưởng từ bên ngoài theo dòng hiện tượng tâm thức, bởi vì những thể hiện của riêng mình cũng ảnh hưởng đến thế giới bên ngoài, trong đó có những người khác.

Tiến trình của nghiệp có 3 giai đoạn:

i. Ảo tưởng hiện khởi bắt nguồn từ nơi thức thứ 6, là thức tạo tác nên hành động dẫn đưa đến nghiệp (dẫn nghiệp);
ii. Nghiệp tạo tác do vì gây giống (chủng tử) nơi thức thứ 8, là nơi chứa đựng tất cả mọi tâm thức (tạng thức). Vòng sinh tử và luân hồi trong tương lai dẫn đưa tạng thức này tái sinh vào trong 6 cõi (lục đạo luân hồi, 6 levels of existence);

iii. Cuối cùng, thọ nhận nghiệp báo là sự nảy nở của các hạt giống nghiệp (mãn nghiệp); chúng ta gặt hái những gì chúng ta gieo trồng, gieo gió gặt bão.

b. Nghiệp báo luân hồi dẫn dắt chúng ta trong 3 cõi (tam giới: dục, sắc và vô sắc giới). Ba cõi này, bậc phát tâm Bồ tát hành trì Du-già, lần lượt kinh nghiệm qua, trải qua 9 vùng (cửu địa), trước khi giác ngộ viên mãn, bởi vì, tuy nói là đạt giác ngộ, nhưng đấy chỉ là một kinh nghiệm chớp nhoáng, là một "satori", chứ chưa phải thực chứng Niết bàn.
Cửu địa trong tam giới gồm có:

b-1. Dục giới : địa thứ nhất, thế giới của ái dục, nơi của 6 nẻo luân hồi, nơi 5 loại chúng sinh đồng sống lẫn lộn chung nhau (ngũ thú tạp cư địa);
b-2. Sắc giới: 4 tầng thiền:

i. Sơ thiền ly sinh, hỉ lạc địa (Joyful stage of leaving production);
ii. Nhị thiền định, sinh hỉ lạc địa (Joyful stage of the arising of samàdhi);
iii. Tam thiền ly hỉ, diệu lạc địa (Stage of wonderful bliss of being apart from joy);
iv. Tứ thiền xả niệm, thanh tịnh địa (Stage of renouncing thought);
b-3. Vô sắc giới: 4 bậc thiền:
i. Không vô biên xứ địa (Infinite Space);
ii. Thức vô biên xứ địa (Infinite Consciousness); ở bậc thiền này, thức thứ 7 không còn câu sinh với thức thứ 8, phá chấp ngã và trở thành Bình đẳng tánh trí;
iii. Vô sở hữu xứ địa (Unmoving Ground or Nothing Whatsoever); tất cả thức thứ 6 và 7 đều diệt tận, trở thành Diệu quan sát trí;
iv. Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa (Neither Cognition nor Non-cognition).
KẾT LUẬN
Một lần nữa, cần nhận định rằng Duy thức hay Du-già không phải là một trường phái nhận thức luận, thiết lập cơ cấu ý thức 4 nhánh chỉ để biện luận suông. Trong khi Duy thức, như tên gọi, chú trọng đến luận lý suy diễn về thức, thì Du-già, cũng theo tên gọi, chú trọng đến sự thực hành tâm linh để chuyển thức đó thành trí.

Ta cũng nên ghi nhận ở đây những điểm tương tựå giữa hai triết lý Tánh Không và Duy thức. Quan niệm về luân hồi và Niết bàn của Duy thức tương liên với quan niệm Tục đế và Chân đế của Trung quán. Nhân duyên (pratìtyasamutpàda, interdependent origination) là nguyên lý nối liền Tục đế và Chân đế, nối liền luân hồi và Niết bàn, sinh tử và giác ngộ. Như Long Thọ đề xướng, nếu ta xem nhân duyên như là mốc nối giữa nhân và quả, ta có luân hồi (samsara), nhưng nếu ta dụng nhân duyên như Tánh Không, ta có Niết bàn. Điều làm mốc nối giữa nhân và quả, giữa nghiệp và những hậu quả của nghiệp lực, đó là khái niệm, là nhận thức, là tưởng tượng. Tục đế của Trung quán như thế tương hợp với tánh biến kế sở chấp của Duy thức, bởi vì cả hai đều luận về nhân và quả, về chủ-khách, về nội-ngoại; trong lúc Chân đế cũng là tánh viên thành thật, vì cả hai là thực tánh, là không, bất nhị, vô-nhân (duyên).

Nguyên lý về nhân duyên của Trung quán là nguyên lý về tánh y tha khởi của Duy thức. Cơ sở cho cả hai thuyết này là Tâm (hay Thức); tâm rất quan yếu trong cả hai, nhân duyên và y tha khởi. Giữa hai triết thuyết, ta có một bên là tương đối, thực tại giả tá, đối đãi nhị nguyên; một bên là tuyệt đối, chân như, tánh viên thành thật; và mốc nối giữa hai cực đoan đó là nguyên lý tương đối (của Trung quán), hay nguyên lý y tha khởi (của Duy thức), vốn là căn bản của Tâm.

Tóm lại, tất cả các triết thuyết của Phật giáo đều xoay quanh vấn đề Tâm (Thức) và, bằng biện luận hay bằng hành trì, cũng đều đặt cơ sở trên Tâm để đạt giác ngộ. Giác ngộ là mục đích tối hậu của hành giả; ngoài giải thoát và giác ngộ, không còn mục đích nào khác. Bồ tát phải đạt giác ngộ xong mới có thể hoằng hóa mà không phải bị trầm luân trong luân hồi sinh tử.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 14 2016, 01:14 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 17 2016, 01:59 PM
Gửi vào: #143


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH
========================
Lời Giới Thiệu

Thời giờ của mỗi người chúng ta rất ít mà công việc thì lại rất nhiều cho nên ta thường không lo tu học mà chỉ lo chu toàn những việc trong cuộc sống thôi. Cuộc đời này không bao giờ hết việc vì vừa xong và buông bỏ việc này thì lại còn việc khác. Do đó chúng ta phải tranh thủ thời gian để tu học không nên để tới ngày mai vì khi vô thường đến thì làm gì có được ngày mai. Trong cái vô thường thì người tu phải ý thức rằng những gì mà mình có thể làm được để tốt đẹp về mặt đạo đức thì mình nên làm ngay chẳng nên đợi tới lúc mình già hoặc ổn định mới làm. Đạo Phật là hiện thực không có chờ đợi hoặc hẹn hò vì vậy mới có câu “Cần tu như lửa đốt đầu”. Hạnh phúc mà chúng ta đang có là được nghe và học giáo lý Phật, được gặp gỡ nhau trên cùng một đạo lộ và sẽ cùng đến một mục tiêu, được cùng chia xẻ kinh nghiệm của các vị tu sĩ và pháp hữu.

Đây là hạnh phúc Phật đã nói trong Kinh Pháp Cú: “Hạnh phúc thay chư Phật giáng sinh, hạnh phúc thay giáo pháp cao minh, hạnh phúc thay Tăng già hòa hiệp và hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu.” Chúng ta cố gắng tranh thủ thời gian trong cuộc sống để tìm một hạnh phúc thật trong mỗi ngày bằng con đường chánh niệm của đức Phật đã dạy. Làm thế nào để nhận thức được quá trình thời gian vô thường trôi qua trong cuộc sống? Làm thế nào để có chánh niệm vững chắc có thể phá vỡ được những ràng buộc của tự thân để cuối cùng tự đạt được an lạc? Tiếng phạn có danh từ “maya” nghĩa là ảo ảnh dùng để diễn tả cuộc sống của chúng ta đây. Trải qua một thời gian của 10 hoặc 20 năm cách xa quê hương, biết bao thay đổi từ thế hệ này qua thế hệ khác, những thay đổi đó gọi là ảo ảnh. Khi nhận thức cuộc sống này là ảo ảnh thì chúng ta làm gì để giữ được sự an ổn hoặc, nói một cách khác, nhân cách sống của đạo Phật làm gì để hỗ trợ cho chúng ta được ổn định, tìm hạnh phúc thật sự trong từng giây phút ngắn ngủi của maya? Đức Phật nói rằng mỗi Phật tử khi hiểu được hành động, lời nói, suy nghĩ của mình thì người đó sống một đời sống chân thật thanh tịnh và vì người mà không vì mình thì sẽ không bao giờ chiêu cảm đau khổ. Hạnh phúc là những cái mà chúng ta sẵn có, cảm nhận được chứ không phải là cái mà chúng ta chạy đi tìm kiếm. Khi chờ đợi, theo đuổi hạnh phúc thì chúng ta vô tình đóng hết những hạnh phúc đang có sẵn ở xung quanh mình. Hạnh phúc xung quanh còn tồn tại là bởi vì chúng ta có một kho tàng trí tuệ mà đức Phật đã giáo dưỡng cho chúng ta. Đức Phật đã nói rằng: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” và ngọn đuốc đó là tự thân của mỗi người chúng ta.
Sau đây là những góp nhặt của 6 bài giảng của HT Thích Minh Hiếu. 6 bài giảng này (Hạ Thủ Công Phu, Thực Tập Quán Niệm, Nghệ Thuật Chăn Trâu, Phóng Hạ Đồ Đao, Hồi Đầu Thị Ngạn, Thiền Tịnh Song Tu) chỉ là phần nhỏ của số băng thâu cho những thời giảng Pháp của Thầy tại Úc, Mỹ, Gia Nã Đại và Âu Châu. Vì đề tài của những bài này có phần liên quan với nhau nên đã được tóm tắt lại thành một bài để chúng ta nắm được ý chính trước khi tuyển lựa đề tài để nghe và học hỏi thêm trong hơn hàng trăm băng giảng của HT (www.minhquangthienvien.com).
*****

HẠ THỦ CÔNG PHU

Trong việc tu học thì có nhiều nhưng phần hạ thủ thì lại hiếm hoi vì hành giả không chịu xả cho nên tiếp thu không được. Hạ thủ là ra tay và cần sự dấn thân, công phu là làm việc gì đó một cách cần mẫn, tập trung. Khi hiểu được rõ ràng thì thực hành mới có thể đem đến kết quả hữu hiệu cho sự học tập. Đạo Phật là con đường hiện thực và chỉ thẩm thấu trong ta thì mới tồn tại được. Con đường này sẽ không đi hết nếu như ta không có một sở đắc hoặc thành tựu nào đó để chúng ta tiếp tục trong đời này hoặc đời sau. Hạ thủ công phu đem đến sự thành tựu cần thiết đó. Phật đã hạ thủ công phu, đã nhất quyết ngồi cho đến khi giác ngộ thì nay chúng ta mới có những giáo lý của Ngài.

Chúng ta không nên phân biệt giai cấp trong việc tu học Phật. Tâm lý ta là hay nhìn lên nên chỉ có thấy những sai biệt. Đức Phật đứng trên nhìn xuống thì ngài nhìn tổng quát, không thấy sai biệt. Khi Phật giác ngộ, Ngài muốn nhập Niết Bàn vì thấy thế giới này quá phức tạp, đầy dẫy hoài nghi cho dù có dạy Pháp cũng không chịu nghe. Tứ Thiên Vương hiện ra để thỉnh Phật chuyển pháp luân và thưa rằng: “Thế gian này tuy là như vậy nhưng cũng có người thượng căn muốn nghe Pháp”. Phật nhìn hồ sen thì thấy có sai biệt trong những bông sen trong hồ và hiểu những sai biệt đó cho nên đem ra nhiều phương tiện để độ sanh. Nếu chúng ta cố gắng hạ thủ công phu thì một ngày nào đó ta cũng có thể vươn lên trên mặt hồ. Cho dù sinh ra trong cái chỗ tận cùng trong thế giới, ta cũng có khả năng để vươn lên và thoát ra khỏi những chỗ dơ bẩn, đau khổ, chỉ cần ta có quyết tâm hạ thủ hay không.

Bước đầu tiên là xả toàn bộ tất cả những gì thuộc về nhân ngã cá nhân để ta có thể tiếp thu tinh hoa của Phật học bởi vì chỉ có vô ngã mới có Niết Bàn. Kiến thức rất dễ tạo nên cái ngã và ngã sở hữu cho nên phải biết rằng kiến thức là để trang bị cho sự tu học của chính mình và chia xẻ kinh nghiệm với bạn đồng tu chứ không để hơn thua.
Hạ thủ công phu là trở lại tìm mình hoặc tìm cái bản lai diện mục của mình. Sau đây là những phương pháp tu liên hệ đến hạ thủ công phu:

HẠ THỦ

1. Quyết tâm dừng lại những khát vọng, nhu cầu. Chúng ta cần có sự thành tâm và một căn bản vững vàng để không dễ bị lay chuyển.
· Phải chấp nhận dừng khát vọng thì mới có thể hạ thủ công phu
· Nhân quả rất là chính xác. Chúng ta có thể dối thiên hạ hay chính ta, nhưng ta không thể dối công lý. Cho nên khi ta dừng lại những tham vọng thì mới có thể tránh gieo nhân quả xấu.
· Phước hữu lậu và công đức: Phước hữu lậu chỉ đem đến giàu sang, phú quý mà chính những thứ đó nhiều khi lại là chướng ngại cho hạ thủ công phu. Khi có công đức thì sự thành tựu đó có thể đem ta đến chỗ cao thượng hơn và ta có y báo nên đi đâu cũng có sự bảo vệ.

2. Quyết tâm xả bỏ tạp niệm.
· Tịnh tâm lắng nghe chính mình có nghĩa là tìm vị chân sư của chính mình. Chân lý là chính ta và ta phải tự dấn thân để tìm chân lý. Nói một cách khác là mỗi người chúng ta đều có Phật tánh. Muốn được tịnh tâm thì ta phải làm chủ những khái niệm, hành động của chính ta trong đời sống hằng ngày thì cơ may ta mới có sở đắc.
· Khi không có tạp niệm thì ta sẽ nhận ra chân lý nhưng lúc này là còn nghe Phật nói. Mãi lắng nghe cho đến khi mình không còn thấy Phật, không còn nghe Phật nói nữa thì ta đã hoàn toàn hội nhập với Phật tánh trong ta.
· Luyện tập cho đến lúc tâm hoàn toàn nhất như, không có tạp niệm thì mới mong có thành công trong phần hạ thủ. Khi bước vào thiền, tất cả những kiến thức, nhu cầu của chúng ta đều phải dừng lại, không còn truy cầu nữa. Cho nên trước khi bắt đầu hạ thủ chúng ta cần phải có một thời gian dừng lại. Thường thì ta hay để cho tâm suy nghĩ đủ thứ chuyện của thế gian và tự gieo nhân khổ đau. Khi ta bắt đầu hạ thủ thì ta nên kiểm soát và tế nhị trong mỗi ý niệm, hành động và việc làm vì chính những thứ này gieo nhân quả.

“Thường tự thấy lỗi mình
Không nói lỗi của người
Người lỗi ta không lỗi
Nói lỗi là tự mình lỗi
Tâm trụ chỗ niệm Phật”

3. Quyết tâm làm cái phương pháp đã chọn và phải miên mật với phương pháp đó một thời gian lâu dài.
· Khi hạ thủ thì ta phải có sự chuẩn bị để đi một con đường dài.
· Phải tìm một phương cách nào đó để tìm chỗ tham trú, quyết tâm tìm về bản lai của ta và hạ thủ công phu. Chỉ có như vậy thì mới giống như chư Phật, chư Bồ Tát hạ thủ công phu xưa kia. Chúng ta ngày nay là chỉ tu chơi thôi chứ không miệt mài như các Ngài.
· Nếu như chúng ta tu mà cứ hướng ngoại hoài thì càng mệt mỏi. Chúng ta không có thời gian để giải đáp những thắc mắc viễn vông của xã hội, thế giới mà mỗi người chúng ta phải tìm lại chính mình tức là cần phải hướng nội. Ta tự hỏi rằng lâu nay ta chưa tu cái gì? Chưa làm được cái gì?

CÔNG PHU
Công phu là làm một việc gì đó cho đến khi hoàn mỹ cho nên tốn rất nhiều công sức và tâm niệm.
1. Quyết tâm công phu miên mật để tích trữ nhân thiện và hưởng quả thiện, thí dụ: muốn nhơn thừa thì thọ tam quy và ngũ giới, muốn thiên thừa thì tu thập thiện nghiệp.
2. Khi niệm Phật thì tránh được miệng nói lời thị phi và lạy Phật để thân bớt đi những hành vi ác:
Thêm niệm nhiều câu Phật bớt nhiều lời thị phi
Thêm lạy nhiều đức Phật bớt nhiều ác hành vi
· Thời gian không có nhiều cho nên ta phải quyết tâm hạ thủ công phu mà không hề để ý đến những chuyện xung quanh nữa. Thế giới này lần lần hủy diệt, biến động và chi phối bởi vô thường và ta không còn nhiều thời gian nữa nên ta phải nhanh chóng quyết tâm hạ thủ công phu. Ta cần dùng thời gian để niệm Phật, để tìm lại bình an cho chính mình và lạy Phật để cầu nguyện cho chính mình, để tăng thêm công đức hoặc sám hối tội lỗi, có nghĩa là ta nên làm những hành động thiết thực thay vì những niềm tin vu vơ. Nhưng cái chính là phải có căn bản vững vàng để làm tư lương.

THỰC TẬP QUÁN NIỆM

Quan điểm đạo Phật có hai khía cạnh:

1. Khi đức Phật giới thiệu cảnh Niết Bàn thì đồng thời ngài cũng cho chúng ta thấy được khổ đau của sinh tử.

2. Trong Tứ Diệu Đế, đức Phật thuyết minh về nguyên nhân nào đưa đến khổ rồi tuần tự ngài đưa ra con đường diệt khổ và đạo diệt khổ. Nếu muốn thoát sinh tử, chúng ta phải biết nguyên nhân nào đưa đến khổ đau và đạo lộ nào đi đến Niết Bàn.

Khi chúng ta bị quá nhiều đau khổ, áp lực, tuyệt vọng thì chúng ta đâm ra ước mơ, mong đợi, thiết tha. Tỷ dụ như người rớt sông mà khi mất đi cái phao chính thì họ bám víu vào bất cứ người nào. Cũng vậy, trong quá khứ chúng ta đã mất mát quá nhiều cho nên chúng ta bám víu vào cái hạnh phúc của hiện tại dù cho hiện tại này rất mỏng manh. Chính cái bám víu đó tạo cho chúng ta khổ đau bởi vì hy vọng nhiều thì tuyệt vọng nhiều. Chánh niệm là con đường mà không cho chúng ta bám víu vào những cái hạnh phúc mỏng manh mà là con đường đưa chúng ta đến hạnh phúc thực tại. Con đường chánh niệm này chỉ có thể thành tựu với những ai tự đi từng bước, tự nhận thức từng kinh nghiệm để hưởng được hạnh phúc, tự nổ lực vượt ra khỏi những tham ái để có được sức mạnh chịu đựng cuộc đời và biến thế gian này thành Tịnh Độ. Cho nên bến vinh quang chỉ chờ đón những con thuyền đi trong giông tố. Để thật sự hưởng cái hạnh phúc của chánh niệm, chúng ta phải tự nhận ra những gút mắc, nhận ra con đường nào tháo gỡ gút mắc đó để tự giải thoát và tiết ra những chất liệu gì để có đủ sức mạnh dấn thân vào đời và biến thế gian này thành Tịnh Độ.

Đi trong chánh niệm là đi để mà đi chứ không phải đi để tìm chỗ đến, có nghĩa là đi với một tâm tư an lạc, hơi thở nhẹ nhàng và miệng mỉm cười bởi vì chúng ta có hạnh phúc. Từng bước chân đi chúng ta biết là mình đang nghĩ gì, đang nói gì, đang làm gì và không chạy theo ảo ảnh của maya. Khi thực tập trong chánh niệm, chúng ta không hồi tưởng về quá khứ hoặc ước mơ của tương lai. Như vậy, sau khi nhận chân nguyên nhân đưa đến khổ đau, chúng ta tìm nguyên nhân nào đưa đến Niết Bàn.
Vô Ngã là Niết Bàn

· Nguyên nhân đưa đến sinh tử khổ đau là tham ái, chấp thủ, vô minh đã đem chúng ta qua 12 năm, 120 năm, 1200 đời.
· Nguyên nhân đưa đến Niết Bàn là tỉnh thức, trí tuệ, chánh niệm và chánh trí thường soi sáng từng bước chân, từng ý niệm của chúng ta.

Theo Duy Thức Học, trong khi đi vào đời, mỗi hành động, ý niệm chúng ta huân tập từng chút một rồi chúng ta lầm lẫn nghĩ rằng chúng ta có thể hóa giải được tất cả và không bị đời làm ô nhiễm, do đó không tự nổ lực để quán niệm và giải thoát khỏi những ràng buộc của chính mình mà cứ lo nhìn vào những lỗi lầm của người khác thì cuối cùng chúng ta chẳng thể đạt giải thoát.

Pháp môn quán niệm là pháp môn của chánh niệm tức là mỗi người phải tự quán sát nội tâm của chính mình để tự cắt đứt những sợi dây phiền não, tham ái. Thường tự nổ lực với chánh kiến tạo nên một sức mạnh đề kháng để chúng ta chịu đựng được trần gian, và cho dù sau này có đi vào trần gian nhiều lần chúng ta cũng không sợ trần gian làm cho hoen ố.

Chỉ có phút hiện tại là phút chánh niệm và là giây phút tuyệt vời bởi vì chúng ta hưởng hạnh phúc bằng chính mình tạo nên chứ không qua một môi trường nào khác. Thường tự quán sát lại chính mình trong chánh niệm tức là phản quan tự tánh để tiêu diệt những tham chấp, thanh lọc đi những hạt giống bất tịnh và dùng từ, bi, hỷ, xả mà tưới vào vườn tâm chứa đựng những hạt giống của thương yêu, hiểu biết, an lành. Cho dù sống trong ảo ảnh, chúng ta cũng không bị ảo ảnh lôi cuốn và như vậy chúng ta đang sống trong chánh niệm. Khi nào tự mình vượt ra được những ràng buộc, chướng ngại và hiểu rõ nguyên nhân làm cho mình sinh tử để rồi không còn ngã chấp nữa thì trong thế giới này chúng ta được tự tại, đây là con đường đi vào Niết Bàn. Trong Kinh nói rằng Phật đã sống trong thiền định suốt 24 giờ mỗi ngày tức là sống trong chánh niệm. Ngài tự điều động ba nghiệp thân, khẩu, ý thiện lành bằng khả năng của chính mình và hướng dẫn cuộc sống đưa đến con đường hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

Tìm lại chính mình, tìm được sự an tịnh, tìm được cái hạnh phúc mà không cần dùng đến dục vọng là chúng ta đã làm chủ thân và tâm. Giá trị của chánh niệm, của những người tu học theo đạo Phật là làm chủ được phút giây nào có nghĩa là chúng ta được giải thoát giây phút đó.

NGHỆ THUẬT CHĂN TRÂU

Đức Phật nói: “Trong đời này có 4 hạng người:

Đó là người từ bóng tối đi vào trong bóng tối: Có những người rất nghèo khổ dù cho được ở trong một nước văn minh, tốt đẹp mà họ vẫn đi theo con đường cũ và tiếp tục tạo ác nghiệp

Người từ bóng tối đi lần vào ánh sáng: Người sanh ra bất hạnh hơn người khác nhưng vì hiểu đạo và rõ nhân quả nên tạo thiện nghiệp để kiếp sau tốt hơn, tiếp tục học Phật và làm người lương thiện

Người từ ánh sáng đi vào trong bóng tối: Người được sanh vào cảnh giàu có, đầy đủ do kiếp trước có phước lành nhưng kiếp này lại không chịu tu học và chỉ tạo ác nghiệp

Người từ ánh sáng đi lần vào ánh sáng: Người được sanh vào chỗ giàu có, quyền lực mà vẫn tiếp tục làm việc thiện

Là một người Phật tử thì ta nên biết làm thế nào để duy trì cái hạnh phúc của mình để không bị rơi vào khổ đau. Muốn cho mình không bị khổ đau thì mình không gieo khổ đau đến với những người khác. Nếu muốn biết quả báo sau này thì mình xem những việc mình đang làm bây giờ là gieo hạt giống gì trong tương lai. Khi mình thấy là mình sống đầy đủ, bình an và mình làm những việc tốt cho người khác để họ bớt đau khổ thì đó là người từ ánh sáng đi vào trong ánh sáng. Trong cuộc đời vô thường này, không có ai có thể bảo đảm hoặc che chở cho ai hết và chỉ có phước đức mà tự mình tạo nên là có thể che chở cho mình. Do đó khi mình ở trong ánh sáng thì mình đừng bao giờ để cho mình đi trở lại vào bóng tối. Có nghĩa là mình đã được sanh vào chỗ tốt đẹp hơn người khác thì mình hãy tiếp tục trì giới, bố thí, làm lành, đừng gây khổ đau cho người khác để tự mình đi vào ánh sáng trong đời này và đời sau.

Đạo Phật là từ ánh sáng này ta đi vào trong ánh sáng khác để càng lúc càng trở thành con người cao thượng hơn, chẳng hạn như làm người rồi lên cõi trời và lên mãi cho đến khi giác ngộ.

Quan điểm Phật học qua bức tranh chăn trâu:

Bước đầu tu là ta quy ngưỡng Phật, Pháp và Tăng một cách chân chánh và đây là tìm trâu. Với sự ổn định tâm linh này ta chắc chắn sẽ không bao giờ bị đọa lạc (không bao giờ rơi vào địa ngục, không bao giờ rơi vào ngạ quỷ và không bao giờ rơi vào súc sanh). Lên một bậc nữa là ta bắt đầu chăn trâu có nghĩa là ta cải thiện hệ thống con người mình để con trâu đen trở thành con trâu trắng có nghĩa là từ con người phàm phu trở thành con người thánh nhân.

Đức Phật dạy rằng trẻ chăn trâu có 11 cái nghệ thuật chăn trâu như sau:
1. Phải biết dễ dàng nhận ra con trâu của mình khi nhìn vào một đàn trâu
Người tu phải biết nhận ra yếu tố chính (đất, nước, gió, lửa và không, kiến và thức) tạo nên sắc thân của mình. Do mê mờ nhận sắc thân này là thật mà mình sanh ra ngã, sở hữu và khổ đau. Những yếu tố này là tạm bợ và bị tan rã khi ta chết cho nên mình đừng quá yêu thương, nuông chiều, lệ thuộc vào nó để rồi tạo nghiệp ác và chịu khổ đau. Duyên sinh không có thực chất do đó theo cái nhìn của mỗi người mà có khác biệt và theo thời gian mà nó tự hoại diệt. Khi hiểu được lý duyên sinh thì mình không chấp thủ để chịu khổ đau.
2. Phải biết hình tướng của mỗi con trâu
Người tu phải biết dùng trí tuệ để kiểm soát những hành động của thân, khẩu và ý của mình. Trước khi nói lên hoặc làm một điều gì thì mình phải biết rõ kết quả sẽ đem đến khổ đau cho người khác hay không. Phải biết phân biệt thế nào là đúng và thế nào là sai trong từng lời nói, từng việc làm. Nên nói ít và nghe nhiều. Lắng nghe nhiều có nghĩa là suy tư, hiểu biết nhiều hơn là nói. Nghe và suy nghĩ để biết là điều mà người ta nói đó có đúng không, rồi mình có nên làm việc đúng đó không và việc không nên làm thì mình nên bỏ mà không suy nghĩ đến nó nữa. Do đó mình biết được những hành động của thân, khẩu, ý và việc nào đáng hoặc không đáng làm.
3. Biết cách tắm rửa cho trâu được sạch sẽ
Người tu thì phải biết cách buông xả, gội rửa thân và tâm của mình để trừ những tham dục, hờn oán và si mê của con người mình. Càng giảm bớt được tánh tham lam, sân giận thì mình càng bớt đi thao thức, bất an trong nội tâm. Chúng ta thường hay nghe nói là lửa sân đốt đi hết rừng công đức của mình. Cho nên chúng ta phải biết xả bỏ tham, sân, si để tâm được thanh tịnh thì cuộc sống của mình được bình an.
4. Biết cách chăm sóc vết thương của trâu

Trong cuộc đời của mình không ai là không có những vết thương trong tâm linh. Người biết tu tập là người biết hộ trì 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) để khi đối với 6 trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) và tạo thành 6 thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) thì không bị phiền não, khổ đau. Khi đóng các căn ta giảm đi những vết thương tạo nên bởi 6 trần xúc tác với 6 thức. Chúng ta biết giảm đi sức thấy, nghe, v...v... để bảo vệ thân tâm mình.

5. Biết đốt khói để trâu không bị muỗi cắn
Chúng ta học hỏi và biết đem giáo lý của đạo Phật làm an lạc, lợi ích cho mọi người. Do đó mình biết xả bỏ cái ngã để đem lại hạnh phúc cho người khác. Tinh thần vô ngã, vị tha là cuộc đời của mọi người được hạnh phúc, bình an tức là hạnh phúc, bình an cho chính mình.
6. Biết tìm con đường an toàn cho trâu đi
Chúng ta biết tìm những con đường tu học chân chánh để theo thay vì đi trên con đường gai góc của danh lợi, sắc dục. Nếu như ta đi trên những con đường gai góc này thì ta sẽ bị nó làm chủ mình và định hướng đi bất thiện cho mình, gây nên nhiều khổ đau.
7. Trẻ chăn trâu biết thương yêu trâu

Chúng ta phải biết thương mình có nghĩa là chỗ nào mình cảm thấy không an toàn thì mình nên tránh xa. Chúng ta phải biết thay đổi pháp thực hành để không tiếp tục gây khổ đau cho chính mình. Chúng ta phải biết quý trọng những kết quả do pháp hỷ thực, thiền duyệt thực đem đến.

8. Biết tìm bến tốt để trâu qua sông
Chúng ta phải biết nương tựa vào tứ diệu đế (4 sự thật): khổ, tập, diệt, đạo. Cái chính của khổ là sanh, lão, bệnh, tử và còn những khổ khác như là thương yêu, xa lìa, gặp gỡ, ấm xứ thịnh khổ, cầu bất đắc khổ. Đây là những nguyên nhân đưa đến cái khổ. Phật nói rằng cũng chỉ vì mình thương, mình ghét, ... nên tự mình làm mình khổ đau. Cũng vì tham dục nên con người mình chịu khổ đau và đó là tập đế. Để chấm dứt tham dục thì mình phải vô ngã, vị tha và buông xả. Phương pháp để mình chấm dứt tham dục là đạo đế (bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ). Trong những phương pháp tu tập Phật dạy Bát Chánh Đạo (chánh kiến, chánh niệm, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn và chánh định). Người nào biết duy trì Bát Chánh Đạo thì sẽ diệt được những khổ đau và chỉ có mình mới làm cho mình thoát khỏi mọi khổ đau thôi.
9. Biết tìm những chỗ cỏ non và nước sạch cho trâu ăn, uống
Chúng ta phải biết tu hành 4 cái quán niệm để an trú tâm. 4 quán niệm hoặc tứ niệm xứ là: quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường và quán pháp vô ngã. Đây là phương pháp tu để giải thoát.
10. Biết chỗ để thả trâu mà không để trâu tàn phá đất đai
Người tu phải biết dè dặt, cẩn thận trong việc tiếp xúc và thọ nhận của cúng dường để không gây khổ đau cho thân và tâm.
11. Biết để con trâu lớn làm gương cho những con nhỏ

Chúng ta biết học hỏi kinh nghiệm của những thiện hữu tri thức để mình không bị lầm lạc, không rơi vào con đường khổ đau.

Trong nghệ thuật chăn trâu, 2 điều sau cùng là phần của giới tu sĩ và 9 điều còn lại là tất cả Phật tử có thể làm được.

Khi chúng ta nhìn cuộc sống với cặp mắt duyên sinh thì mình khắc phục được những khổ đau. Đạo Phật là con đường trung đạo có nghĩa là không có gì nằm ở chỗ thái quá. Chính con đường trung đạo này là chánh đẳng, chánh giác.

PHÓNG HẠ ĐỒ ĐAO

Quan điểm hoằng pháp dựa trên nhu cầu người Phật tử muốn nghe pháp và cơ duyên đầy đủ cho thời giảng được diễn ra. Muốn nghe pháp của đức Phật cũng phải do căn duyên thì mới có thể nghe được. Ngài Tuệ Trung nói rằng:
“Lang thang làm khách phong trần

Quê hương ngày một muôn lần cách xa”

Mỗi lần mà chúng ta luân hồi trở lại cõi này là chúng ta cách xa dần với cái chân tâm, cái tri kiến Phật của chúng ta. Chúng ta tu học để gội rửa thân tâm thì ít mà nhuốm bụi trần thì nhiều. “Quê hương” đây nói lên cái chân tâm của mình và chỉ khi nào tâm thanh tịnh thì ta mới có Tịnh Độ.

Thường thường ta nghe nói “Phật tức tâm, tâm tức Phật” và người ta hay nghĩ rằng ứng dụng câu nói này là cách để đạt con đường đạo. Câu nói này có nghĩa là chính tâm ta có Phật và Phật chính là chúng ta. Nhưng đây chỉ nói trên phương diện ngôn ngữ thôi chứ còn làm thế nào để thành Phật và làm thế nào để thật sự mình có Phật lại là một quá trình rất dài và khó khăn.

Thời xưa có câu: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” có nghĩa là buông dao đồ tể thì lập tức thành Phật. Đây nói lên khi ta biết buông dao là ta có cái ý giác ngộ rồi nhưng đó chỉ là nói trên lý thôi còn về sự thì là một vấn đề khác.

Khi xưa có người muốn hại Phật nhưng không thể làm tổn thương ngài được nên hỏi Phật rằng: “Nguyên nhân nào ngài có khả năng hóa hiện tường thành để tự bảo vệ thân? Nguyên nhân nào mà ngài không sợ sinh tử? Nguyên nhân nào mà đối với cuộc sống khổ đau này mà ngài có trí tuệ để tự giải thoát?” Phật trả lời:

“Đa văn năng trì cố
Phụng pháp vi viên tường

Tinh tấn nan vô hỷ
Trùng thị giới tuệ thành
Đa văn linh trí minh
Dĩ minh trí tuệ tăng”

Đa văn là nghe nhiều, hiểu nhiều, rõ ràng con đường đi và mục đích cho nên “đa văn là sức kiên cố”. “Phụng pháp là bờ tường thành” cho nên tu học theo chánh pháp thì đó là bức tường thành che chở cho chúng ta. “Tinh tấn là khó phá vượt” có nghĩa là sự tinh tấn tu học che chở cho mình và người khác khó phá được cho nên “nhờ đó mà giới tuệ sanh”. Con người chúng ta đi trong luân hồi nhiều lần cho nên cái tạp chất xấu thì nhiều còn cái thánh thiện nguyên thủy thì bị che mờ. Do “đa văn mà tâm sáng” và khi tâm sáng thì trí tuệ tăng trưởng. Khi ta nghe Kinh nhiều thì tâm trí mình trở nên rỗng rang và không còn chấp mắc nữa. Lý do ta còn chấp mắc là vì ta không hiểu cho nên khi hiểu lý của thế gian rồi thì dần dần cái sở chấp giảm đi cho đến khi không còn nữa. Phật nói tiếp:

“Trí tắc bát giải nghĩa
Kiến nghĩa hành pháp an”

Có trí tuệ ta hiểu rộng nghĩa lý và do rõ nghĩa thì người tu không còn lầm lẫn nữa, không bị hướng dẫn sai lạc trong pháp môn tu hành.
Phật nói tiếp:
“Đa văn năng từ ưu

Năng dĩ định vi an
Thiện thuyết cam lộ pháp
Tự trí đắc nê hoàn”

Có nghĩa là người nào đa văn thì hết ưu phiền, luôn vui trong thiền định và khéo nói pháp cam lộ cho nên đến được chỗ vô sinh. Phật nói tiếp:
“Văn vị tri pháp luật
Giải nghi diệc kiến chánh
Trùng văn xả phi pháp
Hành đáo bất tử tứ”

“Nhờ nghe pháp biết luật” là nhờ nghe giáo pháp nhiều mà “hết nghi thấy đạo chánh” tức là biết giới luật để làm tất cả thiện và xả bỏ tất cả những bất thiện vì vậy “do nghe hết phi pháp”. Khi không còn làm những pháp bất thiện nữa thì đến được thành bất tử.

Chuyển hóa con người ác thành thiện mà đạt đến chánh quả thì phải có thực hành. Quá trình này trải qua giai đoạn đầu là tịnh tín bất động có nghĩa là một niềm tin không lay động và có thể kéo dài trong nhiều kiếp. Có những vị mà chúng ta nghe thấy là đạt được quả vị Thánh trong một thời gian ngắn tu hành là vì họ đã trải qua một quá trình tu trong nhiều kiếp và đến khi phát Bồ Đề Tâm thì mau đạt quả.

Ngài Mục Kiền Liên tuy đã chứng quả A La Hán và thần thông đầy đủ nhưng khi nghiệp đến thì cũng phải trả quả rất là đau thương. Một buổi sáng hôm đó khi ngài đi khất thực, ngài đã bị nhiều người đánh đập đến tan xương nát thịt mà ngài chẳng thể dùng thần thông để thoát được. Đây cho ta thấy rằng dù cho tu hành đến chỗ cao thế nào đi nữa ta cũng vẫn phải trả quả cho những nhân bất thiện đã gieo trong quá khứ. Chúng ta muốn tu hành giải thoát thì phải trả nghiệp nhưng với người chứng đạo thì có năng lực kéo dài thời gian trả quả và nguyện dùng thời gian đó để tu hành cho đến khi đạt được kết quả thì sẽ chịu trả nghiệp. Ai ai rồi cũng phải trả tất cả những nghiệp đã tạo tác.

Nếu hiểu câu: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” theo cái nghĩa là buông dao xuống thì lập tức được thành Phật là hiểu sai lầm. Như chúng ta đã thấy ngay cả đến chứng quả A La Hán mà còn nghiệp thì vẫn còn phải trả. Cho nên nếu chúng ta thiếu xót phần đa văn thì ta sẽ hiểu một cách sai lầm. Nhưng cũng có người tìm hiểu rất nhiều mà vẫn nói sai và do đó cũng phải chiêu cảm nhân quả như một vị tăng thời xưa đã phải làm thân chồn suốt 500 kiếp vì trả lời sai. Vị tăng này đến nghe Tổ Bá Trượng giảng pháp và Tổ hỏi:
“Ngươi là ai mà đến đây nghe lén pháp của ta?”

Vị tăng trả lời: “Con không phải là người mà là con chồn ở đằng sau chùa. 500 năm về trước con là một tỳ kheo. Có một người đến hỏi con rằng “Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không?”

Con trả lời là “Không” và vì vậy mà con bị đọa làm chồn 500 kiếp”. Vị tăng xin Tổ trả lời câu hỏi để ông ấy được thoát kiếp làm chồn.

Tổ nói: “Người đại tu hành không mê mờ nhân quả” Lúc đó, vị tăng hiểu được đạo và nói: “Như vậy thì con đi được rồi. Ngày mai xin ngài lấy xác con ở đằng sau chùa và chôn theo nghi lễ của một vị tăng.” Ngày hôm sau, Tổ ra sau chùa thì kiếm thấy xác một con chồn và cho người thiêu xác theo nghi lễ của tu sĩ. Cho nên khi ta chưa rõ một điều gì thì ta không nên nói vì nếu nói sai thì ta sẽ phải thọ nhân quả. Chúng ta càng cẩn trọng thì càng tăng thêm phần công đức. Giáo lý đạo Phật quan trọng hơn và thực tiễn hơn là mình chỉ nói lý thuyết suông mà không sợ nhân quả.

Thập Nhị Nhân Duyên gồm có vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh và lão tử. Trên đời này không có gì ra ngoài nhân duyên cả. Phật nói:

“Giả sử bách thiên kiếp
Sở tạo nghiệp bất vong
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hoàn tự thọ”

Có nghĩa là dù cho trăm ngàn kiếp, cái nghiệp mình tạo ra không có mất đi và khi đủ duyên thì mình sẽ tự nhận lấy quả báo. Vì vậy, Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả. Đời nay chúng ta không rõ là ta đã tạo những nhân gì trong quá khứ nhưng khi quả đến thì chúng ta than van. Khi ta hiểu nhân quả thì chúng ta làm tất cả các việc thiện và cố tránh các việc ác, như vậy đời sau chúng ta không sợ chiêu cảm quả khổ đau. Khi nghiệp hết, phước được đầy đủ và đủ duyên thì chúng ta mới về Tịnh Độ được. Cho nên chúng ta phải tu và nhân không có thì quả cũng không phải trả. Nếu như chúng ta chỉ có học để mà tràn đầy với những tri kiến, lý thuyết suông mà thiếu phần thực hành thì mình sẽ không có lợi ích gì trên con đường tu. Để tránh không bị rơi vào trường hợp này, chúng ta luôn kiểm soát hành vi của mình và tích đức tu nhân bằng cách không làm cho người khác khổ đau. Như vậy là mình đã dấn thân để tránh đi những nhân quả ác. Có thực hành thì con đường tu của mình mới có giá trị.

Làm thế nào để phân biệt Từ Bi tâm và Bồ Đề Tâm?

Từ bi tâm: Trong quá khứ khi Phật còn tu hạnh Bồ Tát, ngài đã giết chết một người vì người này muốn giết 500 người khác. Với lòng từ bi mà Phật cam chịu gây nhân giết người thay thế cho người này khỏi phải tạo cái nhân giết chết 500 người. Nếu như người này giết 500 người thì người đó sẽ phải trả cái nợ cho hơn 500 người trong tương lai. Sự hy sinh của Phật là chấm dứt cái quá trình sinh tử của một người này và đồng thời cứu được 500 mạng người.

Bồ Đề tâm bao hàm Từ Bi tâm và còn nhiều tâm khác (bố thí tâm, nhẫn nhục tâm, thiền định tâm) trong cái Bồ Đề tâm. Nói trên nghĩa lý thì Bồ Đề tâm và Từ Bi tâm là một. Còn trên mặt văn tự thì Từ Bi tâm là một phần của Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm là tâm giác ngộ. Người phát Bồ Đề tâm là chỉ một nguyện tu hành thành Phật để độ chúng sinh, thành chánh quả và không mong cầu điều gì khác. Có Bồ Đề là có giác ngộ, có giác ngộ là có giải thoát và có giải thoát là có tự tại.

Hỷ và lạc khác nhau như thế nào?

Hỷ và lạc thì giống nhau về mặt nội dung nhưng khác nhau về quá trình thành tựu

Hỷ: Có động lực bên ngoài đưa đến (phần tích cực) như là nghe được pháp thì vui.

Lạc: Cái thành quả đạt được sau khi có cái hỷ (phần thụ động) và trạng thái an vui kéo được dài lâu. Cái đạo đức của mình ở bên ngoài có thể nuôi dưỡng cái an lạc ở bên trong.

Trong thiền có những giai đoạn như sau:

Tầm: Đi tìm nguyên nhân hoặc lý do làm mình không tỏ sáng.

Tứ: Dán tâm hoặc tư tưởng mình vào một điểm và khi quán một điều gì thì hướng dẫn tư tưởng mình lên, xuống để phá vỡ những gì mà mình bị bế tắc.

Tịnh: Sau một quá trình mình ngồi thiền mà giữ được tâm an ổn và mọi thứ đều lắng dịu.

Định: Thời gian an tịnh kéo được dài lâu.

Khi niệm Phật mà nhất tâm bất loạn thì mới thành và hai là khi tu thiền thì phải phá ngã chấp, phá ngã sở hữu thì mới thành. Như vậy thì làm sao để chúng ta tu hành trong cái đời sống mà có nhiều trách nhiệm và ràng buộc mà có thể có lợi ích hoặc thành tựu được?

Đây nói cái đỉnh cao của sự tu hành của một vị thiền sư chẳng hạn có nghĩa là muốn chứng thiền thì phải không còn ngã và muốn về Tịnh Độ thì phải niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn (tức tâm, tức Phật) đồng nghĩa với tam nghiệp đều tịnh. Chúng ta có những ràng buộc trong cuộc sống hằng ngày cho nên không đạt đến chỗ cứu cánh như chư Tổ, các vị thiền sư nhưng cũng có thể thực hành niệm Phật hoặc thiền mà vẫn có lợi ích do được đầy đủ phước báu và gieo trồng nhân lành với Phật. Ít ra chúng ta cũng an tịnh được phần nào trong tâm mình và tránh tạo tác nghiệp ác khi mình chuyên niệm Phật. Khi ta tu thiền dù không phá được hết ngã nhưng cũng bớt được tham, sân, si hơn lúc chưa biết tu. Cũng vậy, nếu như mình gần gủi thiện tri thức mà cho dù mình không thành đạt quả vị gì cả nhưng lâu dần thì vị thiện tri thức cũng cảm hóa được con người mình để không làm ác và chuyên làm thiện.

HỒI ĐẦU THỊ NGẠN

Luận giải trong Phật học thường đề cập đến những câu như là “Khổ hải man man, hồi đầu thị ngạn” có nghĩa là biển khổ mênh mông nhưng quay đầu thì thấy bến hoặc câu “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” có nghĩa là buông dao đồ tể thì có thể thành Phật.

Chúng ta không thể hiểu những câu này trên mặt chữ mà phải hiểu chiều sâu theo lý tưởng của thiền. Cái quá trình mà khi chúng ta mới bắt đầu biết được hướng đi cho đến lúc đến bờ bình an rất là dài và gian khổ. Muốn vượt qua được cái ảo tưởng của ngã và pháp thì người tu phải có một công phu rõ ràng. Trong pháp môn niệm Phật thì người tu phải niệm đến nhất tâm bất loạn tức là tâm đạt đến chỗ vô niệm. Cũng như trong pháp môn thiền thì người tu phải định tâm và khi tâm định thì 6 căn không còn phan duyên bởi sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nữa. Do định tâm nên chúng ta không tạo nghiệp sinh tử nữa. Ngài Trần Nhân Tông nói rằng:

“Trời đất nấu nung vạn vật tượng thành,
Xưa nay không một, không móng, cũng không manh
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 16 2017, 01:43 AM
Gửi vào: #144


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



VÔ NGÃ HAY KHÔNG CÓ LINH HỒN

Lý thuyết của Phật Giáo về Luân Hồi ta cần phân biệt với thuyết tái sanh nhằm chỉ sự chuyển đổi của linh hồn hay sự tái sanh của một xác thân thường còn. Phật Giáo phủ nhận sự hiện hữu của một linh hồn bất tử hay trường tồn được tạo nên bởi đấng Thượng Đế hoặc phát xuất từ một Đại Ngã.

Nếu linh hồn mà người ta giả thiết như tinh hoa của con người là vĩnh cửu thì linh hồn không thể phát sanh hay tiêu diệt. Ngoài ra, người ta cũng không thể giải thích tại sao “Từ lúc đầu, linh hồn này lại khác với linh hồn kia”.

Để chứng minh sự hưởng phước đời đời ở trên thiên đàng vĩnh viễn và sự đau khổ vô tận dưới một địa ngục trường cửu tức nhiên tuyệt đối phải chủ trương có một linh hồn bất tử. Nếu không, thì cái gì sẽ bị trừng phạt ở địa ngục hay được tưởng thưởng nơi thiên đàng?

Bertrand Russell viết: “Ta phải nói rằng sự phân biệt cũ kỹ giữa linh hồn và thể xác đã hoàn toàn tiêu tan bởi vì vật chất đã mất tính chất cứng rắng của thể đặc mà tâm cũng mất tính chất tinh thần của nó. Tâm lý học đang bắt đầu trở thành một ngành khoa học. Trong hiện tình của khoa tâm lý học, niềm tin vào một điều gì bất tử đã không được sự tán trợ của khoa học”.

Người Phật tử đồng ý với Russell khi ông nói: “Rõ ràng có lý do để tin rằng cái 'Tôi' ngày hôm nay và cái 'Tôi' ngày hôm qua là một và để lấy một ví dụ rõ ràng hơn nữa, nếu cùng một lúc, tôi thấy một người và nghe người ấy nói thì hiển nhiên là cái 'Tôi' nghe và cái 'Tôi' thấy là một”.

Cho đến những năm gần đây các nhà khoa học đã tin tưởng vào tính cách bất khả phân và không thể tiêu diệt của nguyên tử. “Với đầy đủ lý lẽ, các nhà vật lý học đã phân chia hạt nguyên tử ấy thành những phần nhỏ. Cùng với những lý do chính đáng, các nhà tâm lý học khám phá rằng tâm không phải là vật thể đồng nhất của một cái gì trường tồn mà là một số yếu tố được kết hợp với nhau qua những liên quan mật thiết nào đó. Cho nên, vấn đề của sự bất diệt trường tồn trở thành câu hỏi rằng những liên quan này có còn tồn tại giữa những yếu tố của xác thân đang sống và xác thân đã chết hay không”.

Cũng như C.E.M. Joad viết trong cuốn “Ý Nghĩa của Đời sống” (The Meaning of Life): “Vật chất đã tan rã dưới mắt của chúng ta. Nó không còn là thể đặc, không còn vững chắc, không còn do những định luật cưỡng chế quy định; và quan trọng hơn tất cả, người ta không còn biết nó là gì nữa”.

Cái được gọi là nguyên tử hình như vừa “có thể bị phân tán, vừa có thể bị tiêu diệt”. Những điện tử và dương tử bao gồm trong một nguyên tử “có thể gặp và tiêu diệt lẫn nhau trong khi ấy, sự bền vững của điện tử và dương tử, giống như sự vững bền của một làn sóng, không có những giới hạn chắc chắn và trong tiến trình biến đổi liên tục, cả hai đều thay đổi hình thức và vị trí”.

Giám mục Berkley bảo rằng cái được gọi nguyên tử là một điều tưởng tượng siêu hình và chủ trương có một thực thể tinh thần gọi là linh hồn.

Chẳng hạn, Hume (49) nghiên cứu và nhận thấy rằng ý thức không có gì khác ngoài những trạng thái tinh thần biến đổi và kết luận rằng “Cái Ta thường còn” là không thực tồn tại.

Và Hume viết: “Có vài triết gia nghĩ rằng trong mỗi chập tư tưởng, chúng ta ý thức cái gọi là Ta, và chúng ta cảm giác rằng cái Ta là có thật, thường còn; và chúng ta là chắc thực..., không thể biến đổi và phân chia. Riêng về phần tôi, khi tôi tiếp xúc mật thiết với cái mà tôi gọi là 'Tôi' thì tôi luôn luôn gặp phải một vài cảm giác đặc biệt như nóng hay lạnh, ánh sáng hay bóng tối, thương hay ghét, buồn hoặc vui. Tôi chưa từng bắt được cái 'Tôi'... và không bao giờ có thể tìm thấy được cái gì ngoài cảm giác... cũng như không thể nhận thức được cái gì khác cần thiết để làm cho Tôi trở thành một thực thể hoàn toàn không tồn tại”.

Bergson (50) nói: “Tất cả ý thức chỉ tồn tại trong thời gian sinh hoạt. Một trạng thái tâm lý, nếu không biến đổi, thì không còn là một trạng thái nữa.. Nó là sự biến đổi không ngừng; khi sự biến đổi ngưng thì trạng thái tâm thức cũng ngưng, trạng thái tâm thức chính là sự biến đổi”.

Đề cập đến vấn đề linh hồn, giáo sư James viết: “Cho đến nay, thuyết linh hồn là hoàn toàn vô ích khi dùng nó để giải thích các sự kiện thực sự có thể chứng minh được về kinh nghiệm của tâm thức. Cho đến nay, cũng không ai có thể bị bắt buộc phải chấp nhận lý thuyết ấy vì những lý do khoa học cụ thể”.

Nơi phần kết luận của chương thích thú nói về linh hồn, ông viết: “Và trong tác phẩm này, giải pháp tạm thời mà chúng ta đã đạt tới phải là lời kết luận: Chính tư tưởng là con người tư tưởng”.

Watson (51), nhà tâm lý học trứ danh đã viết: - “Chưa có ai từng sờ đụng một linh hồn hay nhìn thấy linh hồn trong một ống thí nghiệm, hay bằng phương cách gì khác, để tiếp xúc với linh hồn như đã từng va chạm với các vật khác trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, ngờ vực sự hiện hữu của linh hồn được xem như người theo tà giáo; và thời xưa điều ấy có thể dẫn đến việc khiến người ta bị rơi đầu. Cả đến ngày nay, người có địa vị quan trọng cũng không dám nêu vấn đề đó lên”.

Hơn 2500 năm trước, đức Phật đã đề cập đến những vấn đề này. Theo Phật Giáo, ý thức không gì khác hơn là một tổng hợp phức tạp của những trạng thái tâm thức luôn luôn biến đổi. Mỗi chập tư tưởng gồm có ba giai đoạn - phát sanh hay khởi đầu, tĩnh lặng hay phát triển, và chấm dứt hay hủy diệt. Ngay khi một chập tư tưởng vừa qua giai đoạn diệt, tức thì giai đoạn sanh của chập tư tưởng kế tiếp lại tiếp hiện ra. Trong tiến trình luôn luôn biến đổi của đời sống, mỗi chập tư tưởng khi diệt, chuyển toàn bộ năng lực và tất cả những cảm giác thâu nhận cho chập tư tưởng kế tiếp. Mỗi chập tư tưởng mới gồm các tiềm năng của những chập tư tưởng trước đó cùng với một vài cái gì khác nữa. Cho nên, có sự luân chuyển tiếp tục của tâm thức như một dòng suối không ngừng trôi chảy. Chập tư tưởng theo sau không hoàn toàn giống những chập tư tưởng trước đó - bởi vì thành phần cấu tạo đã đổi mới - mà cũng không hẳn là khác, vì cả hai đều nằm trong cùng một dòng sống Nghiệp Lực. Ở đây không có chúng sanh giống nhau nhưng có sự đồng nhất trong tiến trình đời sống (của chúng sanh).

Trong mỗi phút giây (của đời sống) đã có sự sanh và sự chết. Sự phát sanh của một chập tư tưởng này có nghĩa là có một chập tư tưởng khác đã hủy diệt và ngược lại. Trong dòng thời gian của đời sống, có sự tái sanh nhứt thời mà không có linh hồn.

Tưởng không nên hiểu rằng ý thức của ta bị cắt ra từng khúc nhỏ và được nối liền lại với nhau như những toa xe lửa hay một sợi giây xích. Nhưng trái lại, “nó trôi chảy liên tục như một dòng sống, tiếp nhận từ những phụ lưu của các giác quan để bồi đắp thêm cho sự phong phú của nó và mãi mãi cung cấp cho thế giới bên ngoài những tư tưởng mới mà nó tiếp thu trong cuộc đời” (52). Dòng sông ý thức ấy phát sinh từ cội nguồn và chấm dứt nơi cửa sông của nó. Chập tư tưởng tồn tại nhanh chóng đến nỗi không có bất cứ tiêu chuẩn nào có thể đo lường ước tính được. Tuy nhiên, các nhà chú giải cho biết rằng thời gian kéo dài của một chập tư tưởng có thể còn ngắn hơn một phần tử thời gian của một cái chớp.

Ở đây, chúng ta thấy có sự kề nhau nối tiếp trong chuỗi dài của những trạng thái ý thức, chứ không có sự chồng chất lên nhau của các trạng thái đó như một số người lầm tưởng. Không có một chập tư tưởng đã qua mà còn trở lại; cũng không có chập tư tưởng sau giống hệt chập tư tưởng trước đó. Nhưng người đời chúng ta bị che lấp bởi màn ảo giác, đã lầm tưởng sự liên tục giả tạo như một cái gì vĩnh cửu, và còn tiến xa hơn cho rằng có một linh hồn trường tồn, một cái Ngã (Ta), một con người giả định vừa hành động và chứa nhóm tất cả hành động vào trong cái tâm luôn luôn biến đổi này.

“Cái được gọi là con người chẳng khác gì một cái chớp tạo nên bởi sự kế tiếp của những tia sáng nối liền nhau quá nhanh đến nỗi mắt trần của ta không thể trông thấy chúng riêng biệt; và người mê lầm cũng khó nhận biết được sự liên tục của những tia sáng rời rạc ấy”. Như bánh xe lăn chấm một điểm trên mặt đường, con người chúng ta cũng chỉ sống trong từng chập tư tưởng. Ta luôn luôn sống trong hiện tại, và hiện tại nhất định phải trôi vào quá khứ. Tương lai cũa chúng ta ra sao, sẽ được quyết định bởi chập tư tưởng trong hiện tại.

Người ta có thể hỏi, nếu không có linh hồn thì cái gì tái sanh? Thực ra, không có cái gì được gọi là tái sanh cả. Khi cuộc sống chấm dứt, Nghiệp Lực lại tự hiện hữu trong một hình thức mới. Như Đại Đức Silacara đã viết: “Dù không thấy Nghiệp Lực đi qua ở đâu, nhưng các điều kiện thích ứng với sự biểu hiện rõ ràng của nó vẫn có mặt. Nghiệp Lực xuất hiện dù nơi con muỗi hay con trùng bé nhỏ vẫn khiến ta thấy rõ nó như sự hiện hữu của ánh sáng rực rỡ của một đấng Thiên Thần hay Thượng Đẳng Thiên Sứ. Khi phương thức của Nghiệp dừng nghỉ, dòng Nghiệp Lực chỉ chuyển tiếp, và khi gặp điều kiện thuận lợi, Nghiệp sẽ tự phát hiện trở lại trong một tâm thức hay hình thể khác”.

Sanh là sự phát khởi của hiện tượng nhất thời tâm vật lý. Chết chỉ là sự chấm dứt tạm thời của hiện tượng (tâm vật lý) ấy.

Cũng như sự phát sanh của một trạng thái vật chất được hình thành do bởi trạng thái trước đó làm nguyên nhân; và sự xuất hiện của hiện tượng tâm vật lý đã do những nguyên nhân trước tạo điều kiện để nó phát sanh. Cho nên tiến trình của một kiếp sống có thể diễn tiến mà không cần có một thực thể thường còn chuyển tiếp từ chập tư tưởng này sang chập tư tưởng khác; vậy thì một loạt tiến trình của những đời sống cũng có thể diễn tiến mà không cần có một linh hồn bất tử di chuyển từ kiếp này sang kiếp nọ.

Phật giáo hoàn toàn không phủ nhận sự hiện hữu của một bản ngã trong cái nghĩa thực nghiệm của nó. Phật Giáo trong định nghĩa rốt ráo, nhằm chứng tỏ rằng không có một bản ngã (bất biến) thực sự. Danh từ triết học Phật Giáo gọi một cá nhân là Santana - một dòng sống hay sự liên tục. Nó gồm cả những yếu tố tinh thần cũng như vật chất. Nghiệp lực của mỗi cá nhân đã kết hợp những yếu tố đó lại với nhau. Dòng sống không ngừng hay sự liên tục của hiện tượng tâm vật lý này đã do Nghiệp Lực tạo nên, không những chỉ giới hạn trong đời hiện tại, mà Nghiệp Lực ấy đã bắt nguồn từ những kiếp quá khứ vô thỉ, và nó sẽ còn tiếp tục diễn tiến trong tương lai - Chính dòng sống (Nghiệp Lực) này theo Phật Giáo là cái mà các tôn giáo khác gọi là cái “Ta” vĩnh cửu hay “linh hồn” bất tử.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 16 2017, 02:01 AM
Gửi vào: #145


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



NHẬN ĐỊNH VỀ GIÁO LÝ LÀNG MAI
Trí Thông

07 tháng 12, 2009

LTS: Nhân có bài viết "Xin giữ cho đạo Phật được trong sáng" của tác giả Nguyễn Trí Cảm vừa đăng hôm 04Dec09, bài viết này được đăng lại từ Thư Viện Hoa Sen để bạn đọc có thêm dữ liệu về giáo lý Làng Mai, không nhất thiết tất cả đều phản ảnh quan điểm về tôn giáo của sachhiem.net.

trích http://www.thuvienhoasen.org/batnhalangmai-01.htm

NHẬN ĐỊNH VỀ GIÁO LÝ LÀNG MAI


Trí Thông
CHÚ THÍCH CỦA BBT TVHS:

Bài viết của thầy Trí Thông đã được phổ biến hạn chế qua một số e-mails từ lâu. Nay do nhân duyên thích hợp nên ban biên tập TVHS chính thức phổ biến trên mạng. Ban biên tập sẵn sàng đón nhận các ý kiến phản hồi tích cực từ quý độc gỉa. Xin gửi về thuvienhoasen@yahoo.com chúng tôi sẽ post ngay dưới bài này. (01-11-2009) *

* http://www.thuvienhoasen.org/batnhalangmai-01.htm.

Hiện nay nói đến thầy Nhất Hạnh, không ai mà không biết đến Thầy. Gần bốn mươi năm hành đạo ở nước ngoài, thầy Nhất Hạnh đã có những thành công và ảnh hưởng đáng kể về mặt đạo học cũng như xã hội học.

Thầy Nhất Hạnh vừa là một vị đạo sư Phật giáo, vừa là một nhà văn, một nhà thơ rất có tiếng tăm. Thậm chí thầy Nhất Hạnh còn được tôn vinh là một nhà văn hóa lớn của thế giới hiện đại. Tuy xuất thân là tu sĩ Phật giáo nhưng là mẫu người có tư tưởng phóng khoáng, thầy Nhất Hạnh không chỉ ảnh hưởng tư tưởng của các triết gia hiện sinh Thiên Chúa Giáo như Garbriel Marcel, Merleau Ponty và nhất là Emmanuel Mounier mà còn ảnh hưởng tư tưởng của thiền sư Shunryu Suzuki thuộc thiền phái Nhật Bản. Cộng thêm một ít giáo lý của Phật giáo Nguyên Thủy, một ít giáo lý của thiền sư Tăng Hội thuộc tông phái thiền Việt Nam. Đồng thời để phát triển đạo Phật ở Tây phương, thầy Nhất Hạnh đã sử dụng những yếu tố văn hóa của họ và dựa vào nhu yếu của cái gọi là “Thực dụng”, rồi hình thành một hệ tư tưởng “Thiền” của Làng mai là “Hiện pháp lạc trú”.

Chính vì pha trộn nhiều tư tưởng, cho nên thoạt đầu giáo lý Làng mai cho ta cảm giác mới lạ, hấp dẫn. Nhưng càng đi sâu vào chi tiết mới phát hiện, thầy Nhất Hạnh phát triển đạo Phật theo khuynh hướng “Tâm lý học” hơn là đào sâu giá trị tâm linh của đạo Phật. Cho nên con đường Thiền của thầy Nhất Hạnh không sâu sắc, sự tu tập chỉ đạt đến mức “Chánh niệm tỉnh giác” rồi đứng lại đó. Nếu đạo Phật phát triển theo hướng này thì chắc chắn một điều “Trong tương lai, đạo phật mất dần giá trị chứng ngộ tâm linh đến tuyệt đối như thời Đức Phật”. Điều này cho thấy thầy Nhất Hạnh đã phát triển một đạo Phật xa dần cái gốc của nó.

Không biết có phải vì tùy thuận theo nhu cầu cuộc sống thực dụng của người Tây phương, tức là làm việc gì cũng phải có hiệu quả trước mắt thì họ mới tin theo, còn như nói về cái được nào đó có vẻ mơ hồ xa xôi, hoặc thuộc về một thế giới mà họ chưa thấy chưa biết, khoa học chưa chứng minh nên họ không tin. Cho nên thầy Nhất Hạnh đã xây dựng một hệ thống giáo lý đạo Phật không căn bản, đó là:

1/ Không xiển dương giáo lý Nhân Quả Nghiệp Báo, trong khi chính nhờ Nhân Quả này mà đạo Phật thật sự đem đến cho con người đạo đức và sự tiến bộ.


Theo như năm phép thực tập “Chánh niệm” mà thầy Nhất Hạnh cho đó là con đường thoát duy nhất, có thể cung cấp những giáo lý; những phép thực tập có khả năng giúp cho mọi giới nhất là giới trẻ, giới trí thức tháo gỡ những khó khăn nội tâm; chuyển hóa được những phiền giận lo âu; những nghi kỵ, tuyệt vọng; tái lập lại được truyền thông với người thân và đóng góp được một cách tích cực vào việc xây dựng một nền đạo đức dân tộc có khả năng chuyển hóa những tiêu cực hiện có như nạn tham nhũng, nạn mại dâm, nạn ma túy, nạn đổ vỡ gia đình…mà thầy lại không thiết lập những điều đó trên nền tảng của Nhân quả thì giống như xây nhà không đặt mống. Bởi vì có tin Nhân quả, con người mới yêu quý đạo đức và đi tìm đạo đức, nhẫn chịu được nghịch cảnh một cách bình an và còn phấn đấu làm tất cả những việc lành, không mê tín, không làm các điều ác. Ai cũng thấy “Luật pháp” không thể kiềm giữ được thú tính trong mỗi con người mà chỉ có Nhân quả trong mỗi con người mới giúp họ sống đúng và tự giác mà thôi.

Cho nên, nếu không có một luận thuyết về Luật Nhân Quả mà lại kêu gọi mọi người phải sống đạo đức thì cái đạo đức đó không có nền tảng. Do Không có một một giáo lý chuẩn nên người ta không thiết tha trong cái việc xây dựng đạo đức cho cuộc sống. Bởi vì đạo đức cuộc sống, nó đòi hỏi người ta phải thay đổi nội tâm mình để sống cho tốt.

Hiện nay, tuy khoa học chưa chứng minh được đường đi của Nhân quả nhưng đó là điều có thật. Nó là một nguyên lý tự nhiên rất công bằng và khách quan của vũ trụ mà Đức Phật là Người khám phá, có cái nhìn xuyên suốt, thấy rất rõ.

Khi Đức Phật nói về Nhân quả là do Ngài đã chứng kiến rõ ràng trong thiền định. Tức là khi Ngài đắc đạo, Ngài nhập định trong thiền định liền thấy được vô lượng kiếp của mọi người và thấy rõ ràng mọi chuyện đã diễn ra theo Nhân quả. Với người gieo nhân như thế…sẽ có kết quả như thế! Nghĩa là nó luôn có một sự bù đắp rất công bằng trong vũ trụ này.

Cho nên, quan điểm Nhân Quả Nghiệp Báo luôn là yếu tố chủ đạo xuyên suốt, nhất quán trong hệ thống giáo lý của đạo Phật. Còn những vị Đạo sư đời nay, nếu bỏ qua, không dạy cho tín đồ tin hiểu vững vàng về Nhân Quả Nghiệp Báo thì chắc chắn mọi người sẽ hiểu sai đạo Phật, sẽ dễ rơi vào mê tín và sẽ không ứng dụng được đạo lý cho cuộc sống cũng như định hướng cho sự tu hành giải thoát của họ được tốt đẹp hơn.

2/ Không tin các cõi Trời, không đề cập đến ba cõi sáu đường.

Hòa Thượng cho rằng: “Niết bàn, Thiên đường, sự sống bên kia cái chết” chỉ là sáng tạo phẩm của một nhận thức chủ quan, là những giả thiết siêu hình không thể kiểm soát.

“Những từ Niết bàn, Hư vô, Tịch diệt, Bản ngã, Luân hồi…không có nghĩa nhất định. Có bao nhiêu định nghĩa về Niết bàn rồi. Và những cố gắng ấy là để làm nên một việc mà chính Đức Phật Thích Ca đã không làm nổi.

Hỏi Niết bàn là gì? Ngài đã từ chối không trả lời”.

Đúng là cái bệnh tâm lý ngã mạn của người đời sau, luôn cho rằng mình nói đúng hơn ngay cả với Đức Phật. Với trí tuệ của một Đức Phật thì không điều gì trong vũ trụ này mà Ngài không lý giải được hết. Những lời dạy của Ngài luôn có giá trị vượt cả không gian và thời gian. Có điều do hành nghiệp căn cơ của chúng sinh quá thấp nên không thể hiểu nổi về cái thấy biết của một tâm chứng đến tuyệt đối mà ngôn ngữ không diễn tả được. Chỉ có người nào chứng rồi mới biết cho nên Đức Phật không nói là vậy.

Có câu chuyện về “Con Rùa Và Con Cá”, chuyện kể rằng:

Con Rùa có thể sống dưới nước và lên bờ cũng được, trong khi con Cá do nghiệp của nó chỉ sống dưới nước mà không lên bờ được. Cho nên khi nghe con Rùa nó kể chuyện trên bờ cho con cá nghe thì con Cá không thể nào tin, bởi vì nó không chứng kiến nên không tin. Nhưng thật ra có chuyện ở trên bờ chứ không phải không có.

Cũng vậy, ở đây chúng ta không chứng kiến được cõi Trời nhưng không phải là không có. Hồi Đức Phật còn tại thế, Ngài đã nói trong các kinh rằng “Có Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới”, tức là có hằng hà sa số thế giới. Tuy nhiên vào thời đó, chưa ai tin hết vì người ta chỉ thấy phạm vi thế giới của mình thôi. Đến khi khoa học phát triển, họ đã tìm ra được các hành tinh khác. Mỗi vì sao là một thế giới. Rồi lên được cung trăng họ cũng phát hiện đó là một thế giới, nhưng các nhà khoa học nói đó là một trái đất chết không có người sống. Thật ra ở đó cũng có những sanh linh sống. Sở dĩ họ không thấy được vì cách nhau bởi biệt nghiệp.

Tương tự, Đức Phật có nói đến Lục đạo luân hồi tức là sáu con đường mà chúng sinh chết đi rồi sống lại và nó luân hồi qua lại mãi “Ta thấy tất cả chúng sinh luân hồi trong lục đạo, xây vần trong sáu đường này. Cũng như một người đứng trên lầu cao nhìn xuống dưới ngã tư đường, thấy người nào đi đường nào…đường nào”.

Tùy theo nghiệp lực đã gây tạo mà sau khi chết có người sinh về cõi Trời hay cõi người. Có người rơi vào ngạ quỷ, địa ngục hay súc sanh. Nói sáu đường mà sự thật ta chỉ thấy có hai đường là người và súc sanh. Bốn đường còn lại là Trời, Atula, Ngạ quỷ, Địa ngục thì không thấy. Ta không thấy do không chứng kiến được chứ không phải là không có, tại vì cái biệt nghiệp của mọi loài mọi chỗ mà sống thì cái nhìn nó khác nhau. Ví dụ cõi Trời sống không bằng hình tướng mà bằng tư tưởng. Cái tư tưởng đi qua đi lại không có hình tướng thì làm sao ta thấy được.

Chính vì không tin có thế giới siêu hình nên thầy Nhất Hạnh chủ trương “Tôi không có ước ao cái cõi Niết bàn, Tịnh độ hay Thiên đường, tại vì Niết bàn là ở đây; Tịnh độ là ở đây; Thiên đường là ở đây”.

“Trong tâm mình nhẹ nhàng, thảnh thơi và hạnh phúc thì ba nẻo đường đen tối là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh không thể xuất hiện. Những nẻo đường đen tối đó có thể phát hiện trong ta bất cứ lúc nào trong ngày nếu ta đánh mất niệm, định và tuệ”. Vì vậy không cần phải đi về tương lai mới có hạnh phúc, hay không cần phải chết mới đi vào Tịnh độ.

Bởi vậy nhiều người nhận định, có lẽ thầy Nhất Hạnh do bị ảnh hưởng của nền văn hóa Tây phương và kiến thức tâm lý học của mình nên có lối giảng rất thực dụng. Thầy là một vị tu sĩ Phật giáo có sứ mệnh hoằng truyền chánh pháp của Đức Thế Tôn lại không tin Niết Bàn tuyệt đối của Phật. Cho nên đã chủ trương đi tìm sự thảnh thơi an nhàn trong hiện tại. Điều này làm cho Đạo Phật bị biến dạng, thật đau lòng!!!

Đối với những vấn đề mà khoa học chưa chứng minh được như:

- Giáo lý Nhân quả nghiệp báo, tình trạng tái sinh luân hồi mãi hay sự an lạc trong thiền định, các cõi Trời, cõi Địa ngục, Ngạ quỷ làm người trí thức hay nghi ngờ. Nhưng chúng ta là người đệ tử Phật phải có niềm tin và đức tin quả quyết về một sự thật là “Ngoài thế giới vật lý này còn tồn tại thế giới của siêu nhiên, có sự hiện hữu của chúng sinh trong đó”. Hơn nữa đó là những giáo lý quan trọng được Phật thân chứng và thấy rõ, có thế chúng ta mới tu được.

Sự thật, địa ngục không phải là sản phẩm tưởng tượng của tâm để muốn có là có, muốn không là không, mà địa ngục là khách quan ngoài ý muốn của tâm. Tuy địa ngục thuộc về thế giới tâm linh, thế giới siêu hình nhưng lại có thật. Khi một người làm ác, họ không muốn vào địa ngục nhưng cứ bị một sức hút vô hình đẩy vào. Vì có địa ngục nên con người rất sợ tội lỗi và sống một đời hiền lương đạo đức.

3/ Việc dùng tâm lý để giải quyết đau khổ chỉ là tạm bợ,


phải có yếu tố công đức mới là tận gốc.

Thầy Nhất Hạnh dạy rằng: “Mỗi khi có nổi buồn, cơn giận hay niềm tuyệt vọng, ta dùng phương pháp trị liệu là ôm ấp những cảm xúc đó một cách ưu ái và hết lòng thì năng lượng ưu ái đó sẽ làm cho cơn giận hay nổi buồn dịu lại”. Cách thực tập là hãy chấm dứt hết mọi ưu tư, chỉ bám sát vào hơi thở ra hơi thở vào.

Chúng ta thấy với cách thức đó, nếu có tìm được sự an lạc thì cũng chỉ là một chút yên ắng tạm thời thôi. Nếu không có phước, những cái bung xung tâm lý vẫn tiếp tục trổi dậy. Rồi ta lại tiếp tục đè nén và cứ thế thì tâm càng mệt mỏi. Lúc này tâm không còn yên nữa mà trở nên rất vọng động.

Muốn trị tận gốc ta phải biết nguyên nhân của đau khổ là do đâu ?

- Có thể do thiếu đạo đức, do không có lý tưởng giải thoát, do nghiệp quá khứ.

Thường thiếu đạo đức là do nhân vị kỷ nên cái quả là đau khổ. Ngược lại với cái nhân vị tha thì cái quả là an vui, đó là sự hổ tương trên nhân quả. Vì vậy để giải quyết cái khổ một cách rốt ráo, chúng ta nên theo lời Phật dạy là hướng về mục tiêu vô ngã sẽ tránh được lỗi lầm hơn. Ngay cả khi đạt được cái tâm thanh tịnh sáng suốt vẫn phải tự nhắc mình bản ngã chưa hết, lỗi lầm chưa sạch để đừng chủ quan tự mãn.

Mặt khác phải làm nhiều việc phước song song với việc tu tập thiền định. Chính việc làm lợi ích cho mọi người sẽ có cái phước tác động trở lại làm tâm được yên một cách tự nhiên chứ không phải do tu tập. Đó là vì phước và nhân quả luôn đi đôi, phối hợp nhịp nhàng với nhau không sơ hở. Cho nên muốn đi tìm sự định tâm mà phước ít quá sẽ không nhiếp tâm được. Đừng tưởng chỉ thực hành phương pháp nhiếp tâm là nhiếp được. Bên ngoài thấy cũng ngồi yên đó nhưng bên trong vọng tưởng vây kín. Cho nên sự tu hành của mỗi người chỉ tự mình biết. Quan trọng là phải thành thật với chính mình thì công phu tu hành mới tiến.

Một vài điều kiện quan trọng để hóa giải đau khổ là phải tinh tấn lễ Phật, tinh tấn tu tập thiền định để nhiếp tâm cho được. Bởi vì khi tâm ta thanh tịnh thì những mục tiêu thế gian không lừa gạt được mình. Ta vẫn sống giữa cuộc đời đầy bất trắc nhưng không đau khổ. Trong đời sống ta thấy được lỗi lầm của mình trong từng điểm nhỏ. Ngoài ra còn thương yêu giúp đỡ người khác được. Chính cái tâm vị tha làm mình quên đi thực tại rằng mình đang có đau khổ, vì niềm vui có được trong những việc làm giúp người khác đã phủ kín hết tâm mình. Cho nên vừa tu tập, vừa làm phước, vừa tu dưỡng đạo đức. Đó là những cái nhân tác thành công đức để giải quyết tận gốc của đau khổ, chứ không phải đi tìm một nội tâm an lạc cho chính mình là hết đau khổ. Cái gì đi tìm cho chính mình là dấu hiệu của cái tâm còn ích kỷ. Mà ích kỷ là nguyên nhân của đau khổ. Vì vậy chúng ta phải có trí tuệ thoát ra khỏi chính mình để hướng về mục tiêu vô ngã thì hạnh phúc là chắc thật.

4/ Cách dụng công thiền quán thường sử dụng tưởng tượng

Làm mệt đầu óc và tăng thêm ảo tưởng kiêu mạn.

Trong năm bài thực tập “Chánh niệm” từ thấp đến cao, ta thấy bài nào trong cách dụng công cũng có tưởng tượng. Bài tập càng cao thì tưởng tượng càng nhiều. Ví dụ bài tập thứ tư:

1. Thở vào, tôi biết tôi thở vào


Thở ra, tôi biết tôi thở ra

2.Thở vào, tôi thấy tôi là bông hoa

Thở ra, tôi cảm thấy tươi mát


5. Thở vào, tôi trở nên không gian mênh mông

Thở ra, tôi cảm thấy tự do thênh thang

Hoặc bài thứ năm:

1. Thở vào, tôi thấy tôi là em bé năm tuổi

Thở ra, tôi cười với em bé năm tuổi là tôi

………………………………………………..

6. Thở vào, tôi thấy em bé năm tuổi là mẹ tôi rất mong manh, rất dễ bị thương tích.

Thở ra, tôi cười với em bé là mẹ tôi với nụ cười hiểu biết và xót thương.



Qua những câu quán tưởng như thế, ta thấy phương pháp thực tập nó không đúng thật như bài kinh “Tứ Niệm Xư” Phật đã dạy. Mà nó vừa lai lai một chút ở bài kinh này, vừa lai lai ở khía cạnh tâm lý, tức là thiết lập lại truyền thông giữa bản thân và cha mẹ.

Đức Phật dạy: “Hơi thở vô dài, tôi biết hơi thở vô dài

Hơi thở vô ngắn, tôi biết hơi thở vô ngắn”.

Tức là hơi thở như thế nào, ta biết như thế đó. Không có tưởng tượng nó như thế này, như thế kia khi thở vào hay thở ra. Cái việc tưởng tượng cho tâm mình phủ trùm “Tôi cảm thấy tôi trở nên không gian mênh mông”. Chính cái tâm tưởng tượng đó là một loại tâm loạn, làm mệt trí não.

Ở đây chúng ta không đi tìm cái phủ trùm đó vì nó là một sự tưởng tượng và sự tăng trưởng của bản ngã.

Tu thiền là đi tìm cái không thời gian, không có đối tượng phải suy nghĩ. Từng phút thấy cái hiện tại nó tan vỡ, không có. Đó là lúc tâm ta thanh tịnh không còn thời gian nữa. Còn việc tâm nó phủ trùm, đó là điều tự nhiên nó phải như vậy, không tưởng tượng. Nếu khởi động cái tâm để tưởng tượng thì ngay lúc đó là sai lầm. Chúng ta tu như thế lâu ngày sẽ tẩu hỏa.

Yếu chỉ của Làng mai trong việc thực tập thiền chánh niệm là nhiếp tâm vào hơi thở, mĩm cười làm cho thân tâm an lạc, vững chải thảnh thơi. Và ngay đó cho rằng mình đã về đã tới, không còn mục đích nào tiến tới nữa.

“Thiền” lúc đầu là vô niệm. Sau sẽ đi dần đến vô ngã. Đó là mục tiêu cuối.

Đừng tưởng tâm được thanh tịnh, thấy mình thảnh thơi vững chải, có trí tuệ rồi cho rằng trạng thái đó là viên mãn nên ca ngợi đề cao, cho rằng “Chỉ có pháp môn thực tập của tông phái mình là có khả năng giúp hành giả nhiếp được tâm”. Nghĩ như thế thì mặt dù tâm đang thanh tịnh đó nhưng vẫn đang tự cao. Một khi có tự cao, rồi cộng thêm tưởng tượng thì coi chừng nếu không có phước sâu dầy trong quá khứ, người đó sẽ trở nên điên loạn.

Cho nên tâm tự hào là một trở ngại rất nguy hiểm đối với người tu. Ví dụ hôm nay ta ngồi thiền được an lạc, thảnh thơi, vững chải. Nhưng nếu ta khởi tâm nghĩ “À! Mình hay thật, mình tu có tiến bộ” thì qua ngày hôm sau trạng thái yên ắng sẽ không còn nữa. Đó là do cái tâm tự hào nó phá tan hết công đức, làm lui sụt lại công phu tu hành của mình.

Tóm lại, lối tu thiền của Làng mai không đủ sức có được chánh niệm tỉnh giác mà chỉ là tâm tư duy thôi.

5/ Trong giáo lý Làng Mai, chữ “Thiền” bị lạm dụng.


Lạm dụng đến nổi bất kỳ sự vật, sự việc nào, chỉ cần gán thêm phía sau chữ “Thiền” một từ nào đó là ta có ngay một cái tên gọi rất kêu. Ví dụ: Hòa thượng bình thường cũng gọi là Thiền sư. Lễ lạy gọi là Thiền lạy. Nằm gọi là Thiền buông thư. Đi gọi là Thiền đi. Ngồi gọi là Thiền ngồi. Ngoài ra còn có Thiền thở, Thiền làm việc, Thiền sỏi, Thiền trà, v.v…Toàn là những danh từ hơi lạ so với tự điển Phật học.

6/ Đánh giá Đức Phật như một triết gia dễ thương, chứ không có gì cao siêu
.

Trong quyển Thiết Lập Tịnh Độ, trang 59 của Thầy Nhất Hạnh. Có đoạn viết:

“…Tuy Bụt Thích Ca không nói rõ nhưng chúng ta biết rõ Bụt A Di Đà là một người có khả năng rất lớn trong việc xây dựng tăng thân. Nếu Bụt A Di Đà không dễ thương thì đâu có ai muốn đến cõi đó để cộng tác và sống chung với Ngài. Vì Đức A Di Đà dễ thương quá chừng, cho nên hầu hết tất cả những người dễ thương đều quy tụ về bên đó”.

Đọc trích đoạn trên, ta có cảm giác Thầy Nhất Hạnh tán thán công hạnh của Phật A Di Đà, nhưng thông qua đó là ngầm ca ngợi mình đã có công thiết lập được nhiều Tăng thân trên khắp thế giới. Đồng thời Làng mai là một cõi Tịnh Độ thiết thực bây giờ và ở đây. Cho nên phương pháp “Mỗi bước chân đi vào tịnh độ” là quà tặng quý nhất của Làng mai đối với những ai muốn thực tập. Riêng thầy Nhất Hạnh là người dễ thương nhất nên Thiền sinh khắp nơi quy tụ về Làng mai, cùng tu tập để tận hưởng từng bước chân an lạc đang dẫm lên mảnh đất Tịnh độ ở trời Tây.

Thầy Nhất Hạnh hiểu Đức Phật chỉ là người tỉnh thức không cao siêu lắm. Điều đó đã hạ thấp giá trị chứng ngộ của Đức Phật xuống mức ngang bằng một triết gia. Tức là cho rằng Đức Phật ngồi suy nghĩ dưới cội bồ đề mà chứng đạo. Thấy như vậy tức là thầy Nhất Hạnh không hiểu ý nghĩa lớn lao của sự “Giác ngộ”.

* Để chứng đạo, một người đệ tử Phật phải thành tựu khả năng nhập xuất tự tại bốn mức định là từ Sơ thiền cho đến Tứ thiền”.

Do mục tiêu tu tập của Làng mai là đứng lại ở chỗ tư duy, cho nên hiểu sai về Đức Phật như thế là làm cho đạo Phật chóng suy tàn.

Sự thật nhân quả của việc thành Phật rất phức tạp. Phải có chánh nhân là kiếp nào đó đã từng cung kính thiết tha một vị Phật. Tôn kính đến mức có thể hy sinh cả mạng sống vì Phật. Nhờ cái tâm tôn kính như vậy mà chúng sinh đó trở nên khát khao thành Phật. Rồi trải qua nhiều kiếp tinh cần, chúng sinh đó phải tu tập theo đúng Bát Chánh Đạo, làm được vô số công đức, thành tựu các mức thiền định phi thường, diệt trừ hoàn toàn chấp ngã, thoát ra khỏi tâm thức riêng của mình để trở thành toàn thể vạn hữu. Đó là như thế.

7/ Xem Phật và Chúa giống nhau.


Thầy Nhất Hạnh chủ trương chính Sách vượt thoát khỏi khuôn khổ tôn giáo của đạo Phật để có thể hòa đồng các tôn giáo khác với nhau.

Bởi vậy các thầy và các sư cô đạo tràng Mai Thôn cũng học Phúc Âm. Đồng thời cũng đã từng đi tham dự những sinh hoạt tu tập và trao đổi ở các Tu viện Cơ Đốc Giáo tại Pháp, Hoa Kỳ, Au Châu.

Vào năm 1995, thầy Nhất Hạnh có viết quyển sách “Living Buddha, Living Christ”. Dịch sang tiếng Việt có tựa đề là “Bụt trong ta, Chúa trong ta”. Với nội dung có sự so sánh giữa Bụt và Chúa rất giống nhau. Đó là quan điểm riêng của thầy Nhất Hạnh. Kỳ thực xét về mọi phương diện Chúa làm sao bằng Phật được. Thầy Nhất Hạnh nói như thế khiến cho tín đồ Phật giáo mất cảnh giác về âm mưu bành trướng của kitô. Nghĩa là người Phật tử lập gia đình thoải mái theo Chúa mà bỏ đạo nhà.

Nói như thế không có nghĩa là chúng ta tự tôn, kỳ thị, phân biệt mà là một sự bảo vệ đạo Phật. Ngay cả Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ XIV trong cuộc gặp gỡ với Đức Giáo Hoàng John Paul II đã từ chối đề nghị một hình thức hỗn hợp hay thống nhất giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Ngài nói rằng:

"Thật khó để có chuyện hợp nhất giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo. Nếu bạn muốn có mối quan hệ mật thiết hơn, thông hiểu nhau hơn, điều đó đang diễn ra trong các tôn giáo." Ông lưu ý: Với những cá nhân hành đạo, việc có một chân lý, một lý tưởng là rất quan trọng. Có nhiều chân lý, nhiều lý tưởng là mâu thuẫn nhau.

Ông tiếp: "tôi là Phật tử, do đó Phật giáo đối với tôi là chân lý duy nhất, tín ngưỡng duy nhất. Đối với người bạn Hồi giáo thì đạo Hồi là chân lý, là tín ngưỡng duy nhất. Trong lúc ấy tôi vẫn tôn trọng và ngưỡng mộ những người bạn Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Và nếu hợp nhất theo nghĩa trộn lẫn vào nhau thì không thể được và cũng vô ích”. ( Nguồn tin Zenet News Agency )

8/ Thầy Nhất Hạnh tuyên bố Phật Di Lạc đã Đản Sanh


với hình thức một Tăng đoàn, một Tăng thân hay một cộng đồng.

Trong một bài giảng với tựa đề ĐỨC PHẬT CỦA THẾ KỶ XXI, tại chùa Hoằng Pháp. Thầy Nhất Hạnh nói rằng: “Đức Phật Di Lạc đã đản sanh. Năm nay Ngài được năm hay sáu tuổi. Lần này Đức Phật được sinh ra không phải là hình thức một cá nhân mà là hình thức một tập thể, một cộng đồng, một tăng đoàn, một tăng thân”…

Đây là điều kỳ lạ mà hội chúng mới được nghe. Nhưng khi hiểu rõ đường lối của Làng mai thì thấy ẩn ý của câu nói đó muốn ám chỉ “Tăng thân” của Làng Mai là hiện thân của Phật Di Lạc.

Trong những thập niên qua, thầy Nhất Hạnh dành rất nhiều công phu để xây dựng một tăng đoàn xuất gia, có khả năng gây được niềm tin cho giới trí thức và người trẻ tuổi. Cho nên trong mỗi khóa tu thầy Nhất Hạnh tổ chức nơi nào là đều có sự góp mặt của tăng đoàn. Tăng đoàn này có khả năng giảng dạy, hướng dẫn tu học cho mọi người. Đây là một đòn tâm lý chứng tỏ cho quần chúng thấy giáo lý làng Mai có thể đáp ứng được nhu yếu của mọi thành phần trong thời đại mới. Chứ còn nếu thầy Nhất Hạnh một thân độc mã đi đến các Nước thuyết giảng thì cho dù thầy có nói cao siêu cách mấy cũng không đủ gây niềm tin tưởng cho tứ chúng tại các nước ấy.

Tuy nhiên nói như thế là thầy Nhất Hạnh dám bẻ cong lời Phật và gây nên một tà kiến trong đạo Phật.

9/ Vì không tôn trọng Phật nên thầy Nhất Hạnh


đã tuyên bố mình đang có hóa thân giáo hóa khắp thế giới.

“Khi mà tôi nghĩ những tác phẩm của tôi in ra hằng 40 – 50 thứ tiếng, nó đi khắp thế gian, nó đi vào các tu viện của người Công giáo, vào trong nhà tù, vào trong những ngõ ngách…Giúp cho người ta tiếp xúc được với chánh pháp của Đức Thế Tôn. Tôi thấy rằng tôi là những cuốn sách đó, tôi đang hành đạo ở khắp nơi, tôi có hóa thân khắp nơi. Còn cái quý vị đang nhìn thấy đây không phải là tôi đâu, nó chỉ là một mặt nhỏ xíu. Và tôi có những người bạn, có những người đệ tử tiếp nối tôi trên khắp thế giới, và đó là những hóa thân của tôi, đó là những sự tiếp nối của tôi. Khi hình hài này tan hoại, quý vị đừng nghĩ tôi chết, không đâu. Bản chất của tôi cũng giống như bản chất của đám mây, nó là vô sanh, bất diệt. Mà bản chất của quý vị tương tức cũng vậy là vô sanh là bất diệt”.

Thường chỉ có những vị đắc đạo mới tuyên bố có Pháp thân, Báo thân, Hóa thân. Thầy Nhất Hạnh tự cho mình có hóa thân như thế là chứng tỏ mình bằng Phật. Đành rằng thầy Nhất Hạnh là một vị Tu sĩ có tài, có lý tưởng, có bản lãnh, có công phát triển đạo Phật ở Tây phương. Nhưng nếu thầy Nhất Hạnh đừng tự nói những cái hay của mình, đừng xác quyết mình như Phật thì cái lòng tôn kính của mọi người đối với thầy Nhất Hạnh thật là vô hạn.

Thiền Sư Zen Zetsu (Nhật) căn dặn đệ tử: “Đừng nói cho người chung quanh biết về con trước khi họ tự khám phá ra con”.

Người chân chính không bao giờ nói ra cái hay của mình, nhưng tự họ trong đời sống có những hành vi tốt đẹp toát ra. Điều này khiến người khác cảm nhận được và họ tin chắc đây là một bậc Thánh nhân.

Ở các đạo khác, họ xây dựng lòng tôn kính đối với giáo chủ rất mạnh. Ví dụ đạo Hồi. Bởi vậy đạo của họ vững vàng và phát triển mạnh là vậy. Chỉ có đạo Phật rất lạ là có tư tưởng xem nhẹ lòng tôn kính đối với vị giáo chủ của mình. Cho nên đôi lúc có những vị Thiền sư chứng ngộ, thích bày tỏ sự cao siêu của mình để cạnh tranh ngang hàng với Phật.

10/ Truyền đăng

Vào thời Đức Phật, kết quả tu tập của các vị đệ tử do chính Đức Phật xác nhận là họ đang ở vị trí nào theo tiêu chuẩn của bốn mức Thiền và bốn Thánh vị. Cho nên việc truyền tâm ấn có nghĩa là thầy công nhận đệ tử đắc đạo giống mình.
Ngày nay quý thầy, quý sư cô và cư sĩ Làng Mai, trước khi tấn phong làm giáo thọ cũng được làm lễ truyền đăng nhưng là một hình thức tâm lý để giữ chân họ chứ không còn giá trị tâm linh nữa. Và trong khi thọ lãnh đó mỗi vị được tặng bài kệ giống như một sự công nhận, ví dụ:

TT Thích Phước Tịnh:

Phước duyên lòng đất nở hoa
Bước trong cõi tịnh, ngồi tòa chân như
Cánh đồng sao mọc vô dư
Đỉnh xuân hằng hữu bây giờ trăng lên.

Chị Châu Hương Sơn:

Vầng trăng trên biển bạc
Đã về ngự Hương Sơn
Sóng không sinh chẳng diệt
Mưa biển lại về nguồn.

11/ Thầy Nhất Hạnh kêu gọi hòa hợp, bắt tay với tất cả.

Nếu các nước liên hiệp Châu Au có những yếu tố triết học, thần học và văn hóa chung làm nền tảng cho sự thực hiện cộng đồng thì các nước Đông Nam Á chúng ta cũng có những yếu tố như thế để làm mẫu số chung. Đó là đạo Bụt, đạo Khổng, Đạo Lão, tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên, lý tưởng đại đồng, quan điểm tam tài, ý hướng yêu chuộng hòa hợp với thiên nhiên và nhất là sự yêu chuộng sự thảnh thơi nhàn du.

Ai cũng thấy rõ ràng trong thời đại này, không ai còn có thể bế quan tỏa cảng, không ai còn có thể đứng một mình như một hải đảo nữa. Ta không thể nào cô lập trong cô lập. Ta chỉ có thể đứng thế liên lập mà thôi (Tuổi trẻ – Tình yêu – Lý tưởng).

Lời nói như thế là nhen nhúm kêu gọi đa nguyên đa đảng chứ không phải đạo lý. Bởi vì thầy Nhất Hạnh cho rằng: “Nhiều ý kiến vẫn hơn một ý niệm độc tôn. Nhiều thành phần chính kiến tôn giáo, xã hội đồng tâm hiệp lực xây dựng quê hương vẫn hơn một đảng phái độc quyền, bao cấp quản ly”.
Còn đạo lý là ta thương yêu mọi người nhưng phải dẫn dắt mọi người về với Phật pháp, không phải tạo điều kiện cho kẻ xấu phát triển. Người có bản lãnh là không chìu theo cái sai của thế gian. Đôi lúc phải chấp nhận đụng chạm để thay đổi một quan điểm sai nhằm đưa đến lợi ích sau này. Có như thế lẽ phải chân lý mới được bày tỏ.
12/ Thầy Nhất Hạnh có bổn phận giải thích thật hay
những điều sư cô Chân Không đề ra có vẻ kỳ lạ.

Ví dụ:
- Sư cô Chân Không, không cho thầy Nhất Hạnh giữ điện thoại, email, tiền bạc thì thầy phải nói đó là do “Thầy tự tại không vướng mắc”.
- Sư cô Chân Không, không cho thầy Nhất Hạnh tiếp khách thì thầy phải nói là “Thầy được sư cô bảo hộ chu đáo”.
- Sư cô Chân Không hạn chế tất cả quyền lợi của tăng ni thì thầy Nhất Hạnh giải thích là “Tuy không có địa chỉ hay điện thoại riêng nhưng quý thầy cô ở làng Mai chấp nhận một cách hoan hỷ. Tại vì đó không phải là giới hạn tự do mà là một phương pháp thực tập uy nghi để bảo hộ tự do”.
- Ngoài ra sư cô Chân Không còn quyết định mọi kế hoạch, nhân sự và kể cả đưa ra giáo lý cho thầy Nhất Hạnh giảng dạy.
Qua những điều như vậy cho thấy sư cô Chân Không là người rất nguy hiểm, tuy là người đứng phía sau nhưng luôn chỉ đạo cho thầy Nhất Hạnh trong mọi vấn đề.

Kết luận:

Nhìn những điểm phân tích trên, ta thấy:

- Thầy Nhất Hạnh phát triển đạo Phật nhưng bỏ mất cái gốc.
- Không yêu quý tôn trọng cái gốc từ Đức phật đã dựng lập vì có ý tự cho mình không thua kém Phật.
- Không tin có Niết bàn tuyệt đối của Phật cũng như không tin có thế giới siêu hình.
- Có khuynh hướng hòa đồng các tôn giáo là làm loãng đạo lý của Phật trộn lẫn giữa đúng và sai.
- Thầy Nhất Hạnh đưa “Tâm lý học” Tây phương vào trong cách giảng dạy nên đã lái đạo Phật sang hướng thực dụng hơn là chứng đạt chiều sâu tâm linh.

- Trong cách dụng công tu “Thiền” hay tưởng tượng.- Có những ý đồ thầm kín khó hiểu.
- Lệ thuộc quá nhiều vào sư cô Chân Không.

Mong các vị Tăng Ni và phật tử phải cảnh giác đừng bị những lời hoa mỹ lôi kéo, dẫn dụ đi sai đường.

Tháng 6/ 2005
Trí Thông
Cần xem “giáo lý làng mai” để đối chiếu.
http://www.thuvienhoasen.org/index-tacgia-nhathanh.htm
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Nov 12 2018, 03:28 AM
Gửi vào: #146


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 508
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Các Bài Kệ Tán
Thích Nguyên Tạng (sưu tầm)
Hạnh Cơ (dịch)
Hương vân nhi bố
Thánh đức chiêu chương
Bồ đề tâm quảng mạc năng lường
Xúc xứ phóng hào quang
Vi thoại vi tường
Ngưỡng khởi pháp trung vương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần).


Mây hương thơm bủa khắp
Thánh đức tỏa sáng ngời
Tâm bồ đề rộng lớn
Hào quang chiếu nơi nơi
Điềm lành hiện trước mắt
Kính ngưỡng đấng Pháp Vương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát

Tâm nhiên ngũ phận
Phổ biến thập phương
Hương yên đồng tử ngộ chơn thường
Tỉ quán diệu nan lương
Thoại ái tường quang
Kham hiến pháp trung vương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần).


Tâm thắp năm phần hương
Biến khắp cả mười phương
Trong khói hương nghi ngút
Đồng tử ngộ chân thường
Mùi vi diệu khó lường
Mây lành sáng an tường
Dâng cúng đấng Pháp Vương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát



Lư hương sạ nhiệt
Pháp giới mông huân
Chư Phật hải hội tất diêu văn
Tùy xứ kiết tường vân
Thành ý phương ân
Chư Phật hiện toàn thân
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần).


Lò hương vừa đốt lên
Xông khắp cùng pháp giới
Chư Phật các pháp hội
Gần xa thảy đều nghe
Chốn chốn kết mây lành
Tâm chí thành dâng cúng
Chư Phật hiện toàn thân
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát

Chiên đàn hải ngạn
Lư nhiệt danh hương
Da Du tử mẫu lưỡng vô ương
Hỏa nội đắc thanh lương
Chí tâm kim tương
Nhất chú biến thập phương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần).


Hương chiên đàn hải ngạn
Lò đốt ngát mùi thơm
Mẹ con bà Da Du
An toàn không bị nạn
Trong lửa cháy hừng hực
Nghe mát mẻ dị thường
Nay đem lòng chí thành
Một nén thấu mười phương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát

Diêu thiên ngọc lộ
Giác hải kim ba
Đại thiên sa giới sái phân đà
Tam muội địch trần kha
Thiểu thủy thành đa
Nhất đích tịnh sơn hà
Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát (3 lần).


Sương ngọc cõi trời xa
Sóng vàng biển tuệ giác
Từ ba ngàn thế giới
Rải hoa sen trắng ngời
Tam muội rửa trần cấu
Nước ít biến thành nhiều
Một giọt sạch thế gian
Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát



Dương chi tịnh thủy
Biến sái tam thiên
Tánh không bát đức lợi nhân thiên
Pháp giới quảng tăng diên
Diệt tôi tiêu khiên
Hỏa diệm hóa hồng liên
Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát (3 lần).


Nước sạch đầu cành dương
Rưới khắp đại thiên giới
Nước tự tánh vốn không
Đầy đủ tám công đức
Lợi lạc cả trời người
Rộng vô cùng pháp giới
Tiêu trừ hết tội chướng
Hóa giải mọi oan khiên
Hầm lửa hóa ao sen
Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát

Kiết tường hội khởi
Cam lồ môn khai
Cô hồn Phật tử giáng lâm lai
Văn pháp phú hương trai
Vĩnh thoát luân hồi
U ám nhất thời khai
Nam mô Vân Lai Tập Bồ tát (3 lần).


Hội cát tường đã lập
Rộng mở cửa cam lồ
Chư cô hồn Phật tử
Xin vân tập đàn tràng
Nghe pháp thọ hương trai
Xa lìa nơi tăm tối
Vĩnh viễn thoát luân hồi
Nam mô Vân Lai Tập Bồ Tát



A Di Đà Phật
Vô thượng y vương
Nguy nguy kim tướng phóng hào quang
Khổ hải tác châu hàn
Cửu phẩm liên bang
Đồng nguyện vãng Tây phương
Nam mô Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật (3 lần).


Đức Phật A Di Đà
Bậc y vương vô thượng
Sừng sững thân sắc vàng
Phóng hào quang rực rỡ
Đưa người vượt biển khổ
Về chín phẩm hoa sen
Chúng con đồng phát nguyện
Vãng sinh về Tây-phương
Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Phật từ quảng đại
Cảm ứng vô sai,
Tịch quang tam muội biến hà sa
Nguyện bất ly Già da
Giáng phước trai gia
Kim đại dõng liên ba
Nam mô Đăng Vân Lộ Bồ Tát (3 lần).


Phật lòng từ rộng lớn
Cảm ứng tâm chân thành
Ánh sáng chiếu vô biên
Không rời cội bồ đề
Ban phước nhà thí chủ
Túi vàng nảy hoa sen

Liên trì hải hội
Di Đà Như Lai
Quan Âm Thế Chí tọa liên đài
Tiếp dẫn thượng kim giai
Đại thệ hoằng khai
Phổ nguyện ly trần ai
Nam mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát


Nơi hải hội Liên-trì
Đức Phật A Di Đà
Cùng Quán Âm, Thế Chí
Ngự trên đài hoa sen
Phát thệ nguyện rộng lớn
Tiếp dẫn chúng hữu tình
Nguyện mọi loài chúng sinh
Đồng vãng sinh Cực-lạc
Nam mô Liên Trì Hải Hộ Phật Bồ Tát



Đoan nghiêm sanh tín
Tuyệt tướng siêu tôn
Đốn vong nhơn pháp giải chơn không
Bát nhã vị trùng trùng
Tứ cú dung thông
Phước đức thán vô cùng
Nam mô Bát nhã Hội thượng Phật Bồ Tát (3 lần).


Đoan nghiêm lòng tin kính
Tướng tốt xưng Thế Tôn
Ngã pháp thảy đều không
Trí bát nhã siêu việt
Bốn câu vẹn dung thông
Phước đức nói không cùng
Nam mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát



Thập nhị dược xoa
Trợ Phật tuyên hoằng
Ngũ sắc thể lũ kết kỳ danh
Tùy nguyện tất viên thành
Oan nghiệp băng thanh
Phước thọ vĩnh khương ninh
Nam mô Dược Sư Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)


Mười hai tướng Dược-xoa
Giúp Phật tuyên giáo pháp
Chỉ ngũ sắc gút tên
Mong cầu đều mãn nguyện
Mọi oan nghiệp tiêu trừ
Hưởng phước thọ dài lâu
Nam mô Duọc Sư Hội Thượng Phật Bồ Tát

Trí huệ hoằng thâm đại biện tài,
Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai.
Tường quang thước phá thiên sanh bệnh,
Cam lồ năng trừ vạn kiếp tai.
Túy liễu phất khai kim thế giới,
Hồng liên dõng xuất ngọc lâu dài.
Ngã kim khể thủ phần hương tán,
Nguyện hướng nhân gian ứng hiện lai.
Nam mô Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát (3 lần).


Trí tuệ rộng sâu đại biện tài
Đứng trên sóng nước tuyệt trần ai
Ánh sáng an tường trừ bệnh khổ
Nước cam lồ rửa sạch nạn tai
Sau rặng liễu cõi vàng rộng mở
Trên hoa sen sừng sững lâu đài
Con cuối đầu dâng hương tán thán
Xin Ngài ứng hiện độ muôn loài
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát



Địa Tạng thập vương khỉ ai lân
Kết án tiêu danh nạp thiện duyên
Hương linh tu trượng Như Lai giáo
Nguyện bằng Phật lực vãng Tây phương
Nam mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát (3 lần)


Mười vua Địa Tạng khởi lòng thương
Bày án nêu tên kẻ duyên lành
Hương linh nương tựa lời kinh giáo
Nhờ Phật tiếp độ về Tây-phương
Nam mô Siêu Lạc Độ Bố Tát

Lục niên khổ hạnh Thích Ca tôn,
Ca Diếp A Nan vạn lý chơn.
Trung thử giang sơn đăng bỉ ngạn,
Nhứt chi ngũ diệp lợi nhơn thiên.
Nam mô Độ nhơn sư Bồ Tát (3 lần).


Phật Thích Ca khổ hạnh sáu năm
Ca Diếp, A Nan truyền vạn dặm
Non nước này lên đến bờ kia
Một cành năm lá lợi trời người
Nam mô Độ Nhân Sư Bồ Tát

Trầm nhũ chiên đàn giá mạt luân
Hương yên tài nhiệt phúng tường vân
Nhơn ôn biến triệt tam thiên giới
Vi thoại vi tường đạt Thế Tôn
Nam mô Hương cúng dường Bồ Tát (3 lần).


Bột trầm hương vừa đốt
Khói xông áng mây lành
Tỏa ba ngàn thế giới
Cúng dường đức Thế Tôn
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát



Phật thân thanh tịnh tợ lưu ly,
Phật diện do như mãn nguyệt huy.
Phật tại thế gian thường cứu khổ,
Phật tâm vô xứ bất từ bi.
Nam mô Thập phương thường trú Tam bảo (3 lần).


Thân Phật trong sạch như lưu li
Mặt Phật tròn đầy như trăng rằm
Phật trải lòng từ khắp nơi chốn
Cứu khổ muôn loài ở thế gian
Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo

Giới hương, định hương dữ huệ hương,
Giải thoát giải thoát tri kiến hương.
Quang minh vân đài biến pháp giới,
Cúng dường thập phương vô thượng tôn.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần).


Hương giới, hương định, cùng hương tuệ
Hương giải thoát, hương biết giải thoát
Đài mây sáng tỏa cùng pháp giới
Cúng dường Chư Phật khắp mười phương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát


Phật diện do như tịnh mãn nguyệt,
Diệc như thiên nhựt phóng quang minh.
Viên quang phổ chiếu ư thập phương,
Hỷ xả từ bi giai cụ túc.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần).


Mặt Phật như trăng rằm
Như ánh sáng mặt trời
Chiếu soi khắp mười phương
Đủ từ bi hỉ xả
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật



Phật nhiếp kim liên hạ thứu phong,
Thiện Tài tham lễ giác thành đông.
Liên Hoa Tạng giới phi vô lộ,
Đâu Suất Đà thiên biệt hữu cung.
Nam mô Thập phương thường trú Tam bảo (3 lần).

Phật ngự tòa sen vàng
Hạ giáng đỉnh Linh-sơn
Thiện Tài lễ tham vấn
Thế giới Liên-hoa-tạng
Đường rộng mở thênh thang
Nơi cõi trời Đâu-suất
Bồ-tát có cung riêng
Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo



Khể thủ Tây phương an lạc quốc,
Tiếp dẫn chúng sanh đại đạo sư.
Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh,
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
Nam mô Liên Trì hội thượng Phật Bồ Tát (3 lần).


Cúi đầu đảnh lễ
Đấng Đại Đạo Sư
Ở nước Cực-lạc
Tiếp dẫn chúng sinh
Con nay phát nguyện
Nguyện được vãng sinh
Xin đức Từ Bi
Xót thương tiếp độ
Nam mô Liên Trì Hội Thượng Phật Bồ Tát

Phật nhiếp kim liên hạ thứu phong,
Pháp khai bảo tạng ly long cung.
Tăng tùng nội uyển biệt thuyền định,
Tam bảo lâm đàn pháp hội đồng.
Nam mô Thập phương thường trú Tam bảo (3 lần).


Phật ngự tòa sen vàng
Hạ giáng đỉnh Linh-sơn
Kho báu Long-cung mở
Pháp bảo được tuyên dương
Tăng-già tâm thường định
Dòng pháp vận nối truyền
Ba Ngôi Báu hiện tiền
Đạo tràng thường nghiêm tịnh
Nam mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo



Ngã kim phụng hiến cam lồ vị,
Lương đẳng Tu Di vô quá thượng.
Sắc hương mỹ vị biến hư không,
Duy nguyện từ bi ai nạp thọ.
Nam mô Thuyền Duyệt Tạng Bồ Tát (3 lần).


Con xin dâng cúng vị cam lồ
Dù núi Tu-di cũng không hơn
Mùi thơm, vị ngon khắp hư không
Xin đức Từ Bi thương nạp thọ
Nam mô Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát



Bồ Tát liễu đầu cam lồ thủy,
Năng linh nhất đích biến thập phương.
Tinh chuyên cấu uế tận quyên trừ,
Phổ sái pháp diên tất thanh tịnh.
Nam mô Cam lồ vương Bồ Tát (3 lần)


Nước cam lồ đầu nhành dương liễu
Một giọt biến khắp cả mười phương
Bao nhiêu cấu uế đều rửa sạch
Đạo tràng đây thanh tịnh trang nghiêm
Nam mô Cam Lồ Vương Bồ Tát



Lục tự Di Đà vô biệt niệm,
Bất lao đàn chỉ đáo Tây phương.


Chỉ sáu chữ Di Đà
Không có niệm nào khác
Không phí công lao nhọc
Sát na đến Tây-phương

Bạch ngọc giai tiền văn diệu pháp,
Huỳnh kim điện thượng lễ Như Lai.


Ngồi trước thềm ngọc trắng
Nghe giáo pháp nhiệm mầu
Trong bảo điện hoàng kim
Con đảnh lễ Như Lai


Sơn trung tợ hữu thiên niên thọ,
Thế thượng nan lưu bách tuế nhơn.


Ở sâu trong rừng núi
Có cổ thụ ngàn năm
Trong đời sống thế nhân
Khó có người trăm tuổi


Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt,
Vạn lý vô vân vạn lý thiên.


Sông dài ngàn dặm trăng ngàn dặm
Không mây che tức hiện trời xanh


Mật trúc bất phòng lưu thủy quá,
Sơn cao vô ngại bạch vân phi.


Trúc kín không ngăn dòng nước chảy
Núi cao mây trắng vẫn bay qua

Đông phương A Súc Phật,
Nam phương Bảo Tướng Phật,
Tây phương Di Đà Phật,
Bắc phương Thành Tựu Phật,
Trung phương Tỳ Lô Giá Na Phật.


Đức Phật A Súc ở phương Đông
Đức Phật Bảo Tướng ở phương Nam
Đức Phật Di Đà ở phương Tây
Đức Phật Thành Tựu ở phương Bắc
Đức Phật Tì Lô Giá Na ở trung ương



Viễn quan sơn hữu sắc,
Cận thính thủy vô thanh.
Xuân khứ hoa thường tại,
Nhơn lai điểu bất kinh.


Nhìn xa núi có màu
Nghe gần nước không tiếng
Xuân đi hoa còn đó
Người đến chim không sợ



Ái hà thiên xích lãng,
Khổ hải vạn trùng ba.
Dục thoát luân hồi khổ,
Tảo cấp niệm Di Đà.


Sông ái dài ngàn dặm
Biển khổ sóng muôn trùng
Muốn thoát vòng sinh tử
Hãy gấp niệm Di Đà



Dương Tử giang tâm thủy,
Mông Sơn đảnh thượng trà.
Hương linh tam ẩm liễu,
Tảo sanh pháp vương gia.


Nước giữa sông Dương-tử
Pha trà đỉnh Mông-sơn
Hương linh uống ba tuần
Sinh vào nhà Pháp vương



Cẩn y tam thừa giáo,
Xướng tụng thất Như Lai.
Hương linh thừa Phật lực,
Thoát hóa bảo liên đài.


Nương giáo pháp ba thừa
Xưng tụng bảy đức Phật
Hương linh nhờ Phật lực
Hóa sinh lên đài sen


Kiến văn như huyễn uế,
Tam giới nhược không hoa.
Văn phục ế căn trừ,
Trần tiêu giác viên tịnh.


Thấy nghe như huyễn mộng
Ba cõi như không hoa
Điều phục tâm tan mộng
Sạch bụi trời trong xanh


Hoa Nghiêm bảo diễn,
Lâu các môn khai.
Chung tiến Triệu Châu trà,
Hương linh quy khứ lai.


Cõi Hoa-nghiêm hiển lộ
Cửa lâu đài rộng mở
Hết tuần trà Triệu-châu
Hương linh về cõi Phật.



Sơ chước Tào Khê thủy,

Tam huỳnh Triệu Châu trà.
Nguyện tiềm hinh pháp vị,
Quy khứ pháp vương gia.


Trước rót nước Tào-khê
Sau châm ba tuần trà
Xin thấm nhuần pháp vị
Trở về nhà Pháp vương.



Hương tài nhiệt,
Lư phần bảo đỉnh trung,
Chiên đàn trầm dụ chơn kham cúng,
Hương yên liêu nhiễu liên hoa động,
Chư Phật Bồ Tát hạ thiên cung,
Thiên Thai sơn La Hán,
Lai thọ nhơn gian cúng.
Thiên Thai sơn La Hán,
Nạp thọ nhơn gian cúng.
Nam mô Hương cúng dường Bồ Tát (3 lần).


Lư báu trầm hương xông ngát
Cúng dường Chư Phật mười phương
Khói hương quyện động sen vàng
Cúi xin từ bi nạp thọ
Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát




Quang minh chính đại
Cảm ứng đạo giao.
Thần tư minh phước nghiệp băng tiêu
Phật nhật vĩnh chiêu chiêu
Lợi ích phong nhiêu
Tán thán quả cao siêu


Ngay thẳng rõ ràng
Cảm ứng suốt thông
Thần thái sáng tươi
Phước tỏ nghiệp tiêu
Mặt trời trí tuệ hằng sáng rỡ
Lợi ích dồi dào quả cao siêu.



Tứ hoằng phổ bị
Vạn đức công viên
Cao siêu Thập địa viết Tam hiền
Quả hải nghịch lưu
Tuyền bi nguyện di kiên
Tiếp vật lợi nhơn thiên


Bốn nguyện lớn đầy đủ
Muôn công đức trang nghiêm
Vượt Ba-hiền lên Mười-địa
Ngược dòng đời qua bể khổ
Tâm từ bi kiên cố
Làm lợi ích trời người

Mộng đoạn sơn đầu vân yểu yểu,
Tư thù hải hượt thủy tu du.

Ngã kim y giáo kiến lập mạng hoa tai
Lượng đẳng hư không kim cang vi bảo địa

Thần thông du hý
Hóa đạo vô duyên
Từ bi phổ tế bạt thân uyên
Giác để quản hoằng tuyên
Diệu dụng chiêu nhiên
Đốn chứng lễ kim tiên


Vũ lộng khổng tước thiệt châu trà,
Thanh thủy hương tuyền hổ phách ba.
Phân khí ngọc bôi phương phúc úc,
Cúng dường Hiền Thánh hỷ thiện đa.
Nam mô Phổ cúng dường BồTát (3 lần).

SÁM NGÃ NIỆM

Hạnh Cơ dịch

Kính lạy Phật! Con từ vô lượng kiếp,

Mây vô minh che lấp tánh viên minh,

Tạo bao việc ác, bỏ hết việc lành,

Quanh quẩn luân hồi, vào ra sinh tử,

Đổi xác thay hình, biết bao khổ sở!

Nhờ chút duyên lành đời trước, nay được làm người;

May gặp ngọn gió thanh lương, lìa bỏ thói đời,

Cạo râu tóc, mặc ca sa, vào dòng Thích tử.

Nhưng lại buông lung theo đường ác cũ,

Tạo nhiều tội lỗi: phá giới phạm trai,

Sát sinh hại vật không chút bi hoài,

Thịt cá tanh hôi nuôi thân bẩn thỉu,

Lạm dụng của Tam Bảo,

Tham lam lấy của người,

Nghiện rượu, đắm sắc, mê mải chơi bời,

Sống mãi đường tà lòng không nhàm chán;

Bội nghĩa, vong ân, coi thường sư trưởng,

Hủy báng Kinh Pháp, khinh Phật, mạ Tăng;

Hay đố kị, chèn ép kẻ tài năng,

Dùng lời ngoa, khoe khoang mình cao đức;

Giành giật lợi danh, dối người chân thật,

Hơn thua nhân ngã, tranh cãi thị phi;

Bề ngoài giả dối hiện tướng oai nghi,

Thật tế bên trong ngông cuồng ngạo mạn;

Suy nghĩ lăng nhăng tâm luôn tán loạn,

Ý tà niệm ác cứ mãi loay hoay,

Chuyện người bàn tán phấn khởi hăng say,

Niệm Phật tụng kinh dùng dằng uể oải,

Biếng nhác tu hành, chỉ ham ngủ nghỉ,

Tham lam bỏn sẻn không biết thẹn thùng;

Ruộng hoang mầm mục chẳng có chỗ dùng,

Thây nổi đại dương, trôi không dừng nghỉ.

Bản thân không mảy may phước trí,

Chắc chắn phải chịu khổ ba đường.

Con cúi xin nơi Cực-lạc Tây-phương,

Phật Di Đà cùng Quán Âm, Thế Chí,

Phóng quang uy nghi chiếu soi trần thế,

Cứu con từ vô thỉ kiếp đến nay,

Sáu căn nghiệp chướng sâu dầy,

Sát na diệt hết tội này sạch không;

Nguyện cùng pháp giới đại đồng,

Viên quang thanh tịnh dứt vòng tử sinh.





Sám Ngã Niệm

Ngã niệm tự tùng vô lượng kiếp,

Thất viên minh tánh tác trần lao,

Xuất sanh nhập tử thọ luân hồi,

Di trạng thù hình tao khổ sở,

Túc ư thiểu thiện sanh nhơn đạo,

Hoạch ngộ di phong đắc xuất gia,

Phi truy, tước phát loại Sa môn,

Hủy giới, phá trai đa quá hoạn,

Hoại sanh, hại vật vô từ niệm,

Đạm nhục, san huân dưỡng uế xu,

Chúng nhơn tài vật tứ sâm mãn,

Tà mạng, ác cầu vô yễm túc,

Đam dâm, thị tửu dũ hoàng mê,

Mạn Phật, khinh Tăng, báng Đại thừa,

Bội nghĩa vô thân hủy sư trưởng,

Văn quá sức phi dương kỷ đức,

Hoạch tai lạc họa yễm tha năng,

Hư cuống khi vưu cạnh lợi danh,

Đấu cấu thị phi tranh nhơn ngã,

Ác niệm tà tư vô tạm tức,

Kinh phú trạo tán vị thường đình,

Truy phàm nhơn sự dũ tinh chuyên,

Trì tụng Phật kinh duy khốn khổ,

Ngoại hiện oai nghi tăng siễm trá,

Nội hoài ngã mạn cánh sơ cuồng,

Lại đọa huân tu tứ thùy manh,

Xan tật, tham lam vô úy sỉ,

Dã điền uế bổn tương hà dụng,

Đại hải phù thi bất cữu đình,

Ký vô nhất niệm khả tư thân,

Tất đọa tam đồ oanh chúng khổ,

Ngưỡng nguyện Bổn sư Vô lượng thọ,

Quán âm, Thế chí, Thánh hiền tăng,

Đồng triển oai quang phổ chiếu lâm,

Cọng tứ minh gia hàm cứu bạt,

Vô thỉ kim sanh chư tội chướng,

Lục căn, tam nghiệp chúng khiên vưu,

Nhất niệm viên quang tội tánh không,

Đẳng đồng pháp giới hàm thanh tịnh.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

8 Pages: V « < 6 7 8
Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 10th December 2018 - 07:30 AM