IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

6 Pages: V < 1 2 3 4 5 > »   
Reply to this topicStart new topic
> Vệt nắng cuối chiều
hoaha
post Oct 18 2015, 10:38 AM
Gửi vào: #41


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




Sau Cuộc Biển Dâu
(câu chuyện từ một bộ quân phục)



Phạm Tín An Ninh
Tôi gặp và quen anh trong một trường hợp khá bất ngờ, có thể nói là hơi kỳ cục. Vợ chồng tôi đến thăm và ở lại nhà cô con gái út hai tuần. Cháu vừa mua được căn condo trong một khu nhà mới xây ở thành phố Anaheim, cách Khu Disneyland chỉ một con đường. Đêm nào, bọn tôi cũng ra balcon ngắm pháo hoa được liên tục bắn lên từ khu giải trí nổi danh này. Căn nhà nhỏ khá xinh và ở trong một khu an toàn, cô con gái út rất thích. Nhưng chỉ sau vài hôm, cứ đến một hai giờ khuya thì cả nhà phải thức giấc, bởi tiếng lục đục ở căn nhà tầng trên. Âm thanh của một vật cứng nào đó gõ xuống nền nhà. Không đều đặn, năm ba phút một lần, dù nhẹ nhưng cũng đủ làm buốt trong đầu.
Sáng hôm sau, cô con gái nhờ tôi lên nói chuyện với chủ nhà, yêu cầu chấm dứt các tiếng gõ khó chịu vào giữa khuya ấy, để chúng tôi không bị mất ngủ, đặc biệt cô con gái phải đi làm khá sớm.
Sau hai lần bấm chuông, một người đàn ông mở hé cửa, gật đầu chào. Rất may, lại là một đồng hương. Chưa nói chuyện với chủ nhà, nhưng tôi đã thoáng hiểu được nguyên nhân gây ra tiếng động. Ông ta chống hai cây nạng gỗ. Mọi bực tức trong tôi bỗng dưng biến mất, những lời “cảnh cáo” tôi dự định sẽ nghiêm mặt nói với ông cũng tan biến theo. Tôi lễ phép chào ông, bảo là tôi ở tầng dưới, muốn đến thăm và làm quen với người đồng hương láng giềng. Ông nở nụ cười, làm rạng rỡ phần nào khuôn mặt khắc khổ, đã có nhiều vết nhăn, một phần được che phủ bới mái tóc dài bạc trắng. Ông mở rộng cửa mời tôi vào nhà. Tôi hơi khó chịu với mùi khói thuốc lá và cả mùi rượu.
-Anh ở đây một mình? Câu đầu tiên tôi hỏi.
-Vâng, thỉnh thoảng có cô con gái đến thăm. Cháu ở trên Riverside, cách đây khoảng gần một giờ lái xe.
Căn nhà nhỏ một phòng ngủ, phòng khách chưng bày đơn giản. Điều làm tôi chú ý là hai tấm ảnh treo trên vách, phía sau bàn ăn. Một tấm là chân dung của một người lính, tấm kia là ảnh gia đình. Thấy tôi chăm chú nhìn, anh cười, bảo là ảnh của anh và vợ con anh lúc xưa. Anh chống nạng đứng lên, như có ý mời tôi đến xem.
Tôi tròn mắt ngạc nhiên, tấm ảnh chân dung là một sĩ quan trẻ, mang cấp bậc thiếu tá, trông khá đẹp trai, phảng phất nét hào hùng. Trên ngực mang khá nhiều huy chương. Tấm ảnh kia anh chụp với người vợ xinh đẹp và hai đứa con kháu khỉnh. Lòng tôi bỗng chùng xuống, như vừa chạm vào một vết thương cũ. Tôi bất giác quay người lại, đứng nghiêm đưa tay chào:
- Xin chào niên trưởng
Anh tròn mắt bất ngờ, rồi đưa tay ra bắt tay tôi. Sau này, tôi được biết tấm ảnh chân dung này anh chụp sau khi được thăng cấp thiếu tá tại măt trận Quảng Trị tháng 10 năm 1971, khi anh đang là tiểu đoàn phó, thay vị tiểu đoàn trưởng bị trọng thương, chỉ huy đơn vị phá vòng vây địch, tạo một chiến thắng lẫy lừng.
Chúng tôi trở nên đôi bạn thân thiết kể từ hôm ấy. Hình như giữa chúng tôi có điều gì đó cùng “tần số” với nhau. Trước đây anh sống rất âm thầm, khép kín, không muốn gặp gỡ tiếp xúc một ai, kể cả những người quen biết cũ. Sau này, cứ mỗi lần đến nhà cô con gái tôi đều ghé thăm anh, mang theo cho anh một ít nem chua Ninh Hòa mà anh rất thích. Anh say sưa kể cho tôi nghe một thời hào hùng trong binh nghiệp. Anh nức nở khi nhắc tới những vị đàn anh, những đồng đội hào hùng đã phải hy sinh oan khiên tức tưởi, đặc biệt trong trận chiến Hạ Lào- Lam Sơn 719. Người được anh nhắc đến nhiều nhất, ngưỡng phục và thương tiếc nhất là Cố Đại Tá Lê Huấn, một vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi nổi danh, tốt nghiệp Khóa 18 VBĐL mà có một thời anh được phục vụ dưới quyền.
Anh bảo tôi vào phòng ngủ để anh cho xem một kỷ vật. Anh bật đèn lên tôi ngạc nhiên khi thấy một bộ quân phục. Nhìn kỹ, tôi nhận ra đây là một bộ quân phục tác chiến đã cũ, có những vết sờn rách, được giặt ủi cẩn thận và treo trong một cái tủ kính nhỏ. Loại tủ để chưng bày. Anh mở cửa tủ và cẩn thận lấy bộ quân phục, ôm vào người một cách trang trọng. Đôi mắt mơ màng như đang tìm về một quá khứ xa xăm nào đó. Anh thốt ra môt giọng trầm buồn. Dường như là để nói với chính anh hơn là với tôi, người đang đứng ngay trước mặt anh:
- Đây là bộ đồ trận của anh ấy, anh Lê Huấn.
Sau chiến thắng lẫy lừng tại Căn Cứ O’Relly, khi tiểu đoàn anh dưới tài chỉ huy tài ba của Trung Tá Lê Huấn đã đánh tan một lực lượng địch cấp trung đoàn của Sư Đoàn 304 BV, tháng 8/1970 tiểu đoàn lại đánh một trận khốc liệt với một đại đơn vị khác cũng của Sư Đoàn 304 BV này tại Hải Lăng, Quảng Trị. Khi ấy anh đang là đại đội trưởng thâm niên nhất của tiểu đoàn. Cả hơn một trung đoàn địch, sau nhiều đợt tiền pháo kinh hoàng đã đồng loạt xung phong nhằm tràn ngập vị trí đóng quân của tiểu đoàn 4/1. Trung Tá Lê Huấn rời khỏi hầm chỉ huy, đích thân điều động đơn vị quyết chiến trước một cuộc thư hùng sinh tử. Từng đợt địch quân bị đốn ngã ngay trước giao thông hào, nhưng bọn chúng như là những con thiêu thân lao vào lửa, lớp này ngã lớp khác lại xông tới. Nhờ sự chiến đấu kiên cường của đơn vị anh, và đặc biệt dưới sự chỉ huy tài tình và gan dạ của vị tiểu đoàn trưởng lừng danh, đã ngăn chặn, tiêu hao và cầm chân địch trước khi được những phi vụ không yểm, đánh trên đầu địch. Những trận không kích gây thiệt hại nặng nề cho địch nhưng cũng làm bị thương một số binh sĩ của đơn vị, vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần. Anh là một trong những người bị trọng thương hôm ấy. Trời tối và mưa lớn, lưới phòng không dày đặc, không tản thương được, Anh Lê Huấn ra lệnh ban quân y mang anh vào nằm trong hầm chiến đấu của anh Huấn để được tương đối an toàn và băng bó chữa trị cấp thời. Thấy máu và bụi bặm thắm đầy bộ chiến y ướt đẫm nước mưa của anh, vị tiểu đoàn trưởng bảo người lính cận vệ lấy bộ áo quần trong ba-lô của mình mang đến thay cho anh. Khi tản thương về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, nhiều bác sĩ cứ tưởng anh là Trung tá Lê Huấn, bởi bảng tên và cả cái lon trung tá còn nguyên trên ngực và cổ áo.
Vết thương chưa lành, nằm trong Quân Y Viện mà lòng anh rất nôn nao khi biết tin đơn vị tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719. Một kế hoạch qui mô với sự tham chiến của hầu hết các đơn vị chiến đấu thuộc Vùng I: Sư Đoàn 1BB, các đơn vị Thiết Giáp, Biệt Động Quân, cùng với các Lữ Đoàn Nhảy Dù và TQLC. Anh khao khát được có mặt cùng đơn vị trong trận chiến đặc biệt này, nhưng vết thương ở chân phải là trở ngại chính để bắt anh phải nằm lại ở đây.
Anh theo dõi từng ngày từ khi cuộc hành quân bắt đầu. Các tin tức không vui từ chiến trường, những tổn thất nặng nề của quân ta sau khi các căn cứ 31, 30 lần lượt thất thủ. Đại Tá Thọ, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù cùng nhiều cấp chỉ huy của ta bị lọt vào tay giặc. Một số đã tự sát để giữ tròn khí tiết. Từ các kế hoạch hành quân tồi tệ mà địch quân gần như biết trước để chuẩn bị trận địa đến việc thiếu thống nhất ở các cấp chỉ huy đã góp phần cho sự thảm bại. Điều đau đớn nhất đã làm tim anh thắt lại khi nghe tin Tiểu Đoàn 4/1 của anh nhận lãnh trách nhiệm nặng nề, làm lực lượng chặn hậu để cho Trung Đoàn rút lui khỏi căn cứ Lolo trong tình trạng bị bao vây nguy khốn. Anh bật khóc khi nghe tin Trung Tá Lê Huấn, vị tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi tài năng đã lẫm liệt hy sinh, và cả tiểu đoàn chỉ còn 32 binh sĩ sống sót trở về! Anh nghĩ từ nay sẽ vĩnh viễn không còn gặp lại người chỉ huy mà anh ngưỡng phục và hằng mong được tiếp tục phục vụ dưới quyền. Anh nhớ tới bộ quân phục mà Trung Tá Lê Huấn đã đưa cho anh thay khi anh bị trọng thương cách đây vài tháng, anh còn chưa kịp trả lại, và bây giờ thì không còn có cơ hội để trở về khổ chủ. Anh quyết định giữ lấy bộ quân phục này như một kỷ vật thiêng liêng trong cuộc đời mình. Và sau đó dù phải trải qua bao nhiêu thăng trầm, khốn khổ, nhất là sau ngày nước mất nhà tan, anh vẫn luôn trân trọng bộ quân phục mà anh nghĩ có mang hồn thiêng của anh Lê Huấn và của cả những đồng đội đã hy sinh.
Sau khi xuất viện, anh được bổ sung đến một trung đoàn khác giữ chức vụ tiểu đoàn phó. Tháng 10/ 1971 anh thăng cấp Thiếu tá tại mặt trận. Cuối năm anh lên nắm tiểu đoàn thay thế vị tiểu đoàn trưởng bị thương, sau đó được theo học khóa quân chánh. Một thời gian sau, vết thương cũ ở chân phải tái phát. Sau khi chữa trị anh đi khập khiễng. Hội Đồng Giám Định Y Khoa xếp anh vào loại 2, không chiến đấu được. Được đề nghị bổ sung về Phòng 3 Quân Đoàn, nhưng anh xin đi làm chi khu phó cho anh tiểu đoàn trưởng cũ, bây giờ là quận trưởng của một quận miền núi. Quận lỵ là một tiền đồn chiến lược, nằm tại một vị trí trọng yếu khống chế cả con đường tiếp liệu của Cộng quân, nên bọn chúng tìm mọi cách để san bằng. Gần cuối năm 1974, Cộng quân mở nhiều đợt tấn công biển người nhằm chiếm quận lỵ, vị quận trưởng bị thương nặng. Anh đã phối hợp với các đơn vị bạn tăng cường, trực tiếp chỉ huy điều động cuộc phản công rất oanh liệt giữ vững được phòng tuyến qua nhiều cuộc tấn công qui mô của địch. Nhưng tổn thất của ta khá nặng và đạn dược dần dà cạn kiệt, trong lúc Cộng quân luôn được tăng cường, cuối cùng anh phải mở đường máu, rút lui trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Anh bị thương nặng ở chân, điều kỳ lạ là ngay tại vết thương cũ. Nhờ kinh nghiệm chiến trường và hai người lính nghĩa quân rất trung thành và khôn ngoan giúp đỡ, thay phiên cõng anh thoát khỏi vòng vây truy lùng của địch. Anh được đề nghị thăng cấp đặc cách lên trung tá, nhưng sau đó bị cưa mất chân phải. Nỗi đau đớn vì phải mất đi một phần thân thể chưa nguôi, thì cái đau đớn tột cùng cũng vừa ập đến: Tháng 3/75, cả Vùng I bỗng chốc lọt vào tay (Không dùng từ này), Sư Đoàn 1BB, đơn vị nổi danh mà anh luôn hãnh diện phục vụ trong gần cả một đời binh nghiệp cũng tan tành, rồi cả miền Nam mất vào tay giặc. Những đồng đội từng chiến đấu, một thời sống chết cùng anh bỗng dưng tan tác như chỉ sau một cơn ác mộng.
Mất một cái chân, nhưng anh vẫn bị tù đày nghiệt ngã trên bảy năm trong nhiều trại tù của bọn (Không dùng từ này) man rợ. Ra khỏi tù anh lại mất cả gia đình. Người vợ xinh đẹp ngày nào đã gởi đứa con gái lớn, năm tuổi, cho bà nội già, bồng theo đứa con trai ba tuổi, lẳng lặng sang sông về một nơi nào đó. Gia tài một đời binh nghiệp của anh giờ chỉ còn mỗi một bộ đồ trận, chiến y của người chỉ huy mà anh từng kính yêu đã hy sinh. Trước khi vào tù, anh căn dặn mẹ anh phải giữ kỹ bộ quân phục này cho anh với bất cứ giá nào, bởi đó là một kỷ vật quý giá nhất còn lại của đời anh. Theo đề nghị của mẹ, anh đồng ý cho bà tháo ra và đốt đi cái bảng tên và cấp bậc may trên áo.
Có lẽ từ lâu lắm mới có người chăm chú ngồi nghe, nên anh say sưa kể cuộc đời mình. Đôi lúc sụt sùi, nước mắt tưởng đã khô cằn, bỗng ràn rụa trên khuôn mặt khắc khổ già nua, và từng giọt rơi xuống bộ quân phục anh đang ôm ấp trong lòng mình.
- Sau này anh có dịp nào gặp lại chị nhà và đứa con trai? Tôi hỏi.
- Bà đã có chồng khác từ lâu rồi, đang sống ở Âu Châu. Tôi buồn nhưng không trách. Ngại đụng chạm tới hạnh phúc riêng của bà, và cả vết đau trong lòng mình nên không muốn liên lạc. Còn đứa con trai có sang thăm tôi hai lần, nhưng cháu vẫn nhìn tôi xa lạ lắm. Cũng phải thôi, vì khi tôi vào tù thì cháu chỉ mới lên ba, trong ký ức của cháu có lưu lại một chút hình ảnh gì của tôi đâu. Riêng con gái tôi có sang thăm mẹ và em cháu vài lần.
Nói dứt câu, anh cúi xuống như muốn giấu riêng nỗi xúc động.
- Anh có thường cảm thấy cô đơn và tiếc nuối những ngày xưa?
- Cũng có chứ, nhưng lâu rồi thành quen và gần như không còn muốn nhớ tới nhiều chuyện cũ.
Tôi đưa tay nắm chặt bàn tay anh thay cho một lời an ủi khó nói thành lời. Bỗng anh ngước lên, mở to đôi mắt:
- Điều buồn của tôi bây giờ là thấy một số trong đám anh em mình mất đi khá nhiều sĩ khí, có thằng còn khốn kiếp đã vì chút lợi lộc nhỏ nhen mà chạy hùa theo giặc, nịnh bợ thô bỉ, quên mình từng hãnh diện là sĩ quan của những binh chủng hào hùng. Nhìn bọn chúng múa may khóc lóc làm trò trước mặt bọn (Không dùng từ này) mà tôi muốn buồn nôn!
Tôi cười:
- Anh bận tâm tới những kẻ ấy làm gì. Trong tập thể nào lại không có những con sâu, tồi tệ, bán rẻ linh hồn. Cũng có thể là những thăng điên. Nhưng đó cũng chỉ là vài trường hợp cá biệt. Cũng như nước Mỹ vừa có tên phản quốc Edward Snowden, đang trốn ở Nga-Sô. Theo tôi, đại đa số anh em mình vẫn còn giữ được tấm lòng, tình huynh đệ và trách nhiệm với quê hương đất nước chứ!
Bỗng đôi mắt anh sáng lên:
- Điều vui và an ủi tôi nhiều nhất là các tổ chức gây quỹ giúp anh em thương phế binh sống khốn khổ ở quê nhà. Đặc biệt là các buổi Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh thành công tốt đẹp. Thấy anh em nhà binh mình cùng bà con tham gia hưởng ứng nhiệt tình, tôi mừng và cảm động lắm. Ở bên nhà các cha thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn cũng đã can đảm, hết lòng an ủi và làm sống dậy niềm tự hào của những anh em thương binh bất hạnh, tôi cảm phục vô cùng. Có bao nhiêu tiền dành dụm tôi đều nhờ cô con gái gởi về phụ với các cha.
Tôi cười, biểu lộ sự đồng tình. Định nói thêm đôi điều để khoe về những đóng góp phần mình, bỗng nghe anh hỏi:
- Bạn ở Âu Châu, sang Mỹ một thời gian, chắc đã thấy trong đám anh em mình bây giờ cũng nhiều người bon chen danh lợi. Mà tội nghiệp thay toàn chỉ là danh hão! Thấy mà phát ngượng! Nhiều ông tướng ông tá có danh thời trước, sang đây lại đầu quân làm tướng phường tuồng cho mấy cái chính phủ tự xưng tự diễn. Trong đó có cả những ông ngày xưa từng là cấp chỉ huy của mình. Ngán ngẫm thật. Giấy rách mà cũng chẳng còn cái lề nào để mà giữ nữa!
Tôi cười. Chưa kịp nói một lời an ủi, bỗng thấy anh sa sầm nét mặt:
- Điều buồn nhất là thiên hạ lạm dụng bộ quân phục một cách đến lố bịch. Đám cưới, sinh nhật, tiệc tùng nhảy nhót mà cũng có người mặc quân phục. Có lần tôi thấy có ông mặc quân phục, mang cả lon lá và đầy huy chương lên truyền hình để quảng cáo thuốc cho một ông thầy thuốc Nam tự nhận mình là bác sĩ! Tôi xấu hổ và giận đến tím cả mặt. Tối hôm ấy, tôi ôm bộ quân phục này của anh Lê Huấn mà thấy lòng xót xa vô hạn.
Nhớ lại một câu chuyện liên quan tới bộ quân phục đã xảy ra tại đất nước Na-Uy, nơi gia đình tôi đang định cư, tôi kể cho anh nghe:
- Tháng 11 năm 2004, bà Kristin Krohn Devold, Bộ Trưởng Quốc Phòng Na-Uy, đến viếng thăm binh sĩ thuộc các đơn vị quân đội Na-Uy tham chiến tại Afghanistan trong lực lượng NATO. Bà được ca ngợi là một nữ bộ trưởng can đảm đã đến thăm binh sĩ khi chiến trường đang ác liệt nhất. Nhưng sau khi tin tức và hình ảnh về chuyến viếng thăm này được chiếu trên đài truyền hình quốc gia Na- Uy (NRK), bà bị nhiều sĩ quan và binh sĩ Na-Uy phàn nàn, phản đối khi thấy bà mặc quân phục từ một chiếc trực thăng bước xuống thăm một đơn vị tác chiến Na- Uy, và cả khi được Thủ Tướng Afghanistan, Hamid Kazai tiếp đón tại thủ phủ Kabul. Báo chí cũng góp phần tranh luận và tỏ ra bất bình về sự kiện này. Hầu hết cho rằng bà chưa hề ở trong quân đội, nên không được phép sử dụng quân phục, dù trong bất cứ chức vụ hay hoàn cảnh nào. Những quân nhân cho rằng bộ quân phục còn có tính thiêng liêng, bởi nhiều chiến binh đã hy sinh trong bộ quân phục này. Mặc dù bà và một số cơ quan chính phủ lên tiếng biện minh, viện lý do vì sự an toàn cho bà trong một hoàn cảnh đặc biệt, nhưng vẫn không được chấp nhận. Cuối cùng bà phải bắt buộc lên tiếng chính thức xin lỗi quân đội và cả dân chúng Na-Uy về điều này.
Nghe tôi kể xong, anh đưa bộ quân phục đang cầm trong tay lên như để khẳng định một điều gì.
- Đúng như thế, bộ quân phục đối với tôi luôn là một kỷ niệm thiêng liêng. Có biết bao đồng đội của tôi hy sinh đã được liệm với bộ quân phục thấm đẫm máu đào của họ. Xin đừng lạm dụng và làm đau lòng họ.
Sau lần gặp gỡ đầu tiên này, tôi còn đến thăm anh một vài lần nữa, và bảo cô con gái, “bác ấy là người tốt, một sĩ quan đáng kính, con nên thường thăm nom và giúp đỡ bác những điều cần thiết”. Hôm đến chào từ giã anh để trở về lại Na-Uy, tôi mang biếu anh hai chai rượu đỏ loại tốt. Tôi khuyên anh, khi nào buồn thì uống vài cốc cho nguôi ngoai, không nên uống nhiều rượu mạnh và hút thuốc lá, có hại cho sức khỏe. Anh nở nụ cười, nhưng bỗng trở nên buồn bã:
- Anh đi rồi, tôi lại cô đơn, chẳng còn ai tâm sự.
Hôm đó, tôi ở lại với anh tới hơn một giờ khuya. Chống nạng tiễn tôi ra cửa, anh bắt tay từ giã nhưng giữ khá lâu, không muốn tôi đi. Tôi cười, bảo nhỏ:
- Anh cố dỗ giấc ngủ, đừng thức dậy nửa đêm, uống rượu chống nạn đi quanh nhà. Bọn tôi ở tầng dưới cũng mất ngủ với anh luôn.
Anh gật đầu, cười thông cảm.
Sáu tháng sau, khi trở lại Mỹ, tôi liền đến thăm anh. Bấm chuông mấy lần không ai mở. Tôi không còn nghe tiếng động của đôi nạng gỗ gõ xuống nền nhà như mọi khi. Buổi chiều, cô con gái đi làm về, cho tôi biết là anh ấy bị ung thư gan ở thời kỳ cuối. Con gái của anh đã đưa anh vào bệnh viện Fountain Valley từ tuần trước. Tôi lái xe xuống ngay bệnh viện. Anh nằm bất động. Khi tay tôi chạm vào anh, anh mở hé mắt nhìn tôi và miệng cố nở nụ cười, méo mó. Thấy anh cười mà tôi muốn khóc. Trông anh tiều tụy và hốc hác quá. Nhưng anh rất bình tĩnh, như ngày xưa khi đối diện trước quân thù. Anh muốn ngồi dậy, nhưng không còn đủ sức. Tôi ngồi bên cạnh, đưa tay xoa trên ngực anh, bảo anh cứ nằm nghỉ.
- Bác sĩ bảo tôi không còn nhiều thời gian nữa, ngày mai phải xuất viện về nhà để gia đình lo hậu sự – Anh nói bằng một giọng thì thào, yếu ớt.
Khi nhắc đến hai chữ gia đình, anh lại cười, chua chát:
- Lại gia đình…!
Hiểu ý anh, tôi nói đùa cho anh vui:
- Phải nói là đại gia đình, vì ngoài cô con gái ra, anh còn có chúng tôi nữa. Cứ yên tâm mà đi. Nhớ dọn sẵn một bãi đáp cho ngon lành, chờ tôi đáp xuống sau anh nghe.
Chiều hôm sau anh được xe bệnh viện đưa về nhà. Cô con gái túc trực bên anh. Tôi cũng luôn có mặt. Anh ngỏ ý muốn uống với tôi một ly rượu đỏ. Cô con gái ngần ngừ, nhưng thấy tôi ra dấu gật đầu, cô rót hai ly rượu, một ly mời tôi và một ly cô cầm đưa vào miệng cha cô. Cuối cùng chúng tôi cũng cạn ly. Không ngờ đó là ly rượu từ biệt. Tôi bỗng nhớ tới lời của một bài ca cũ : “bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã… đã đi xa rồi…”
Khuya hôm đó anh trút hơi thở cuối cùng. Cô con gái cho biết anh ra đi rất yên ả. Không trăng trối một lời gì. Chỉ để lại một mảnh giấy nhỏ với vài chữ ngoằn nghèo: “Nhớ liệm ba bằng bộ quân phục trong tủ kính, nghe con”.
Đám tang thật đơn giản theo ý muốn của anh. Mấy lần anh dặn dò cô con gái không được đăng cáo phó hay báo tin cho ai biết. Tại nhà quàn, ngoài cô con gái của anh và cậu bạn trai người Mỹ, chỉ có vợ chồng tôi cùng cô con gái út. Một nhà sư già tụng một thời kinh trước khi đậy nắp quan tài. Tôi đứng nghiêm đưa tay lên chào anh. Anh nằm uy nghiêm trong bộ quân phục, khuôn mặt ánh lên nét hào hùng. Tôi có cảm giác như anh vừa chết tại chiến trường. Không có bất cứ một nghi lễ nào, nhưng tai tôi như đang văng vẳng tiếng kèn truy điệu và khúc nhạc Chiêu Hồn Tử Sĩ.
Đứng nghiêm chào anh một lần nữa, khi quan tài đưa vào lò thiêu. Mọi thứ đều trở về với cát bụi. Lòng tôi bỗng rộn lên một niềm vui bất chợt, khi nghĩ anh sắp được gặp lại anh Lê Huấn và những đồng đội cũ, những chiến sĩ đích thực đã rất xứng đáng với bộ quân phục oai phong của QLVNCH. Họ đã tạo cho bộ chiến y một điều gì đó rất thiêng liêng.

Phạm Tín An Ninh
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 20 2015, 11:20 AM
Gửi vào: #42


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Anh trai từ bỏ em gái sau khi bố mẹ qua đời và sự thật nghẹn ngào nước mắt

Chính Tâm 2015-10-19

Khi bố mẹ qua đời, anh trai là chỗ dựa duy nhất của cô bé. Cô ngoan ngoãn nghe lời anh vì sợ rằng anh cũng sẽ bỏ cô mà đi. Một buổi sáng kia khi tỉnh dậy, cô bé không tìm thấy anh đâu nữa. Trong lòng cô chỉ còn niềm oán hận với người anh bạc bẽo của mình, cho đến một ngày hiểu ra sự thật cô mới òa khóc…
Năm cô 6 tuổi, cô mất cả bố lẫn mẹ, họ bị tai nạn ô tô trong lần về quê thắp hương cho ông bà nội.
6 tuổi, cô chưa thể hiểu hết mọi chuyện đang xảy ra trong gia đình, cô chỉ biết khóc suốt ngày vì bố mẹ không quay về.
Cô còn một người anh trai tên là Nam, cậu bé 14 tuổi, dáng người to cao giống bố. Lúc bố mẹ mất, cậu không khóc, không gào thét mà chỉ ôm chặt cô em gái vào lòng cho đến khi ngủ thiếp đi.
Suốt ngày cô đều theo sau anh trai đòi bố, đòi mẹ; cô không thích ăn cơm nửa sống nửa chín của anh trai nấu, không thích mặc bộ đồ nhăn rúm anh trai giặt,…
Kể từ ngày hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không về, cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai vì sợ anh lại bỏ cô mà đi
Đêm hôm đó, trời đã rất muộn, rất muộn nhưng cô không chịu ngủ mà ngồi dậy kéo anh trai và hét to: “Em muốn gặp mẹ!”.
Bỗng nhiên, Nam kéo cô từ trong chăn ra, hai tay nắm lấy đôi vai bé nhỏ của cô và nói:
“Mẹ mất rồi, đừng có tìm mẹ nữa, bố mẹ đều không còn nữa, họ sẽ không quay về nữa đâu!”.
Giọng nói của Nam vang lên rất to khiến cô phải im lặng vì sợ hãi. Sau đó, cô dần dần hiểu được bố mẹ cô mãi mãi không quay về, cô hiểu được trên thế giới này chỉ còn anh trai là người thân duy nhất của mình.
Nam úp mặt xuống giường và khóc thật to, đó là lần đầu tiên cô nhìn thấy anh trai khóc kể từ ngày bố mẹ mất.
Cô nhẹ nhàng cúi xuống rồi nằm trên lưng anh trai, cô dùng đôi tay bé nhỏ của mình ôm lấy anh, cảm giác ấm áp như ôm bố mẹ vậy.

Cô luôn khóc đòi mẹ, anh trai chỉ im lặng và ôm cô vào lòng
Cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai giống như trước kia từng dựa vào bố mẹ: đi học, cô đòi anh chở đi; tan học, anh trai phải đến đón cô.
Trường của cô cách nhà khá xa, mỗi buổi sáng Nam đều chở cô đến trường, đến nơi người Nam ướt đẫm mồ hôi. Ngồi trên xe, cô nắm chặt lấy vạt áo của anh không rời, cô không khóc đòi bố mẹ như trước nữa. Trước giờ cô chưa từng nói với anh, kể từ khi hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không quay về nữa, trong lòng cô luôn bao trùm một nỗi sợ hãi, cô sợ rằng một ngày nào đó, anh trai cũng sẽ rời xa cô.
Cảm giác sợ hãi đó khiến một đứa bé 6 tuổi trở nên ngoan ngoãn, nghe lời đến lạ. Thế rồi, có mơ cô cũng không tưởng tượng được rằng cuối cùng anh trai vẫn bỏ rơi cô.
Hôm đó là ngày cuối tuần, mới sáng sớm, Nam đã phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ chăm chút buộc cho cô hai bím tóc, mặc cho cô bộ váy màu trắng mà cô không biết anh mua cho cô từ khi nào, sau đó cô được anh trai dẫn đi công viên chơi rất nhiều trò, ăn rất nhiều món, cho đến khi mệt, cô ngủ say trên lưng anh.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, cô thấy mình nằm trên giường của nhà khác còn anh trai thì không thấy đâu nữa.
Cô hốt hoảng chạy đi tìm anh, sau đó một người hàng xóm mà cô gọi là “thím” nói với cô rằng anh trai cô đi làm thuê rồi, từ nay về sau, cô sẽ sống cùng với gia đình họ. Mặc dù cô biết, chú thím là bạn thân thiết của bố mẹ mình nhưng cảm giác bị anh trai bỏ rơi lúc này còn tuyệt vọng, đau đớn hơn khi bố mẹ rời đi. Là anh trai đã bỏ rơi cô, cô đã bị anh trai bán lấy tiền, anh trai không cần cô nữa.
Sau khi biết anh trai cũng bỏ đi không về như bố mẹ, cô nhanh chóng thích nghi với cuộc sống mới, có nhiều sự thay đổi. Sự thích nghi nhanh chóng đó mãi đến khi lớn lên, cô nhận ra rằng đó chính là một kiểu để quên đi đau thương.
Cô chủ động học làm việc nhà, tự giặt quần áo, cô biết đây không phải là nhà của mình, họ không phải người thân của mình nên cô không dần dần không còn dựa dẫm vào ai nữa. Kể từ khi anh trai bỏ đi, cô hòa toàn mất đi quyền được nũng nịu, đòi được yêu chiều. Cô cũng có một người anh trai nữa, người đó hơn cô một tuổi, rất nghịch ngợm và đôi lúc còn bắt nạt cô.
Cũng may là bố mẹ nuôi rất thương cô, mỗi năm họ đều mua quần áo mới cho cô, có đồ ăn ngon cũng luôn để phần. Tình cảm cô đối với bố mẹ nuôi, có yêu thương, nhưng sự cảm kích, ơn huệ lại là phần nhiều.
Năm cô 11 tuổi, lúc đó cô đang học lớp 4, một buổi tối nọ, cô đang giúp mẹ vá lại chiếc áo, bỗng mẹ nuôi nói:
“Mấy năm nay, con không nhớ Nam sao? Lúc đó, nó còn bé, sao có thể chăm lo cho con được?”
Cô im lặng không nói, đúng vậy, cô không nhớ anh trai, mới nghĩ đến cô đã thấy hận, vì thế cô không muốn nghĩ. Cô nói với mẹ: “Mẹ à, đừng nhắc đến anh con nữa”.
Mẹ nuôi thở dài, hình như trong lòng vẫn còn điều gì đó muốn nói nhưng cô đã đi về phòng mất.
Chính xác, cô hận anh, cô không sợ khổ khi đi theo anh, không được đi học thì có gì đáng sợ đâu, cô sẽ theo anh đi kiếm cơm vậy. Nhưng anh đã đập tan mộng tưởng của cô, đã làm mất đi chỗ dựa của người thân duy nhất, đó chính là sự hủy diệt triệt để, không để lại điều gì cả. Vì thế, cô không thể tha thứ cho anh trai mình.
Năm 16 tuổi, thành tích học tâp đứng đầu toàn trường giúp cô thi đỗ vào trường cấp ba, người anh lớn hơn cô một tuổi đang học lớp 11.
Một năm sau, khi người anh đó đang chuẩn bị tốt nghiệp cấp ba, bố nuôi nghỉ việc, ông thuê một cửa hàng nhỏ ở chợ để bán rau. Tối hôm đó, đang ngồi học cô khát nước nên đi ra phòng khách uống thì tình cờ nghe được cuộc trò chuyện bên phòng của bố mẹ. Anh trai nuôi nói với mẹ rằng: “Mẹ, con không biết, dù thế nào đi nữa con cũng phải học Đại học”.
“Không được, cái Mai học tốt hơn con, nó có khả năng thi đỗ Đại học” . Tiếng nói của bố nuôi nhỏ nhẹ nhưng rất quyết đoán.
“Lấy đâu ra tiền mà nuôi hai đứa ăn học cùng một lúc chứ?” Mẹ nuôi nói.
Nghe đến đó, cô vội quay về phòng, cô không muốn nghe gì nữa. Lúc đó, cô quyết định để cho anh trai học Đại học, còn cô, học xong cấp ba, cô sẽ đi tìm việc. Bởi từ khi anh trai bỏ cô mà đi, bố mẹ nuôi đã cho cô quá nhiều, cô không muốn thêm gánh nặng cho họ nữa.
Đáng tiếc là anh trai nuôi của cô thi không đỗ và bố nuôi cô vẫn kiên quyết rằng cô phải vào Đại học.
Cô vẫn kiên quyết: “Con không thi đâu, con quyết định rồi!”.
Tranh luận hồi lâu không được, mẹ nuôi cô từ trong bếp nói vọng ra: “Mai à, con bắt buộc phải thi vào Đại học. Con có biết không, anh trai con đã gửi đủ số tiền học phí cho con rồi nên con nhất định phải học Đại học, đừng phụ lòng nó, nó không dễ dàng gì...”.
Cô ngẩn người.
11 năm sau, lần đầu tiên cô lại tìm về hồi ức của anh trai mình.
Bố mẹ nuôi nói với cô: “Năm đó, anh trai con biết một đứa trẻ 14 tuổi như nó không có khả năng để nuôi em gái nên nó mới quyết định ra ngoài đi làm kiếm cơm, còn gửi con lại cho bố mẹ. Nó bán nhà và đưa hết số tiền đó cho bố mẹ bởi nó tin rằng bố mẹ sẽ chăm sóc tốt cho con. Buổi sáng sớm hôm đó, trước khi rời đi, anh con ôm con đang ngủ say trong lòng đưa cho mẹ bế, sau đó nhìn con và hứa rằng: “Thím à, con nhất định sẽ về đón em con, mong thím chăm sóc tốt cho nó…”.
“Từ khi con bắt đầu lên lớp 4, mỗi tháng nó đều gửi tiền về cho mẹ, bố mẹ cũng tích góp lại cho nó. Là bố mẹ vô dụng, nhiều năm qua luôn để con phải chịu ấm ức...” Bố mẹ nuôi nghẹn lòng không nói nên lời, họ cầm lấy tay cô và khóc.
Vậy những năm qua anh ấy đi đâu, sống như thế nào?…Hàng loạt câu hỏi hiện lên trong đầu, thì ra anh trai chưa từng bỏ rơi cô, anh trai vẫn luôn yêu cô nhưng bằng cách mà mấy năm qua cô không thể lý giải được.
“Thế tại sao anh lại không về thăm mình chứ, không phải anh đã hứa sẽ về thăm mình rồi ư?...”.
Số tiền gửi từ Sài Gòn về, bên ngoài phong bì không ghi địa chỉ cụ thể, cô hạ quyết tâm nhất định phải vào Sài Gòn tìm anh.
Một năm sau, cô thi đỗ và vào Sài Gòn học tập, cô vẫn không thôi nghĩ đến việc tìm anh trai, thế nhưng giữa đất Sài Gòn rộng lớn như thế, đi tìm một người quả như là mò kim đáy bể.
Tốt nghiệp xong, cô ở lại Sài Gòn và làm việc ở đó, cũng là để tìm anh trai luôn. Vào lúc cô gần như tuyệt vọng, bỗng nhiên cô nhìn thấy một bức ảnh trên mạng: “Trước một quầy báo nhỏ, có một chàng trai người gầy gò ốm yếu, bị mất một tay đang sửa xe đạp…” Khi nhìn thấy dòng chữ ghi tên Nam, cô hoa mắt, người đó chẳng phải là anh trai mình sao? Đúng rồi, là anh ấy.
Cô xem tiếp: “Năm 19 tuổi, người thanh niên làm việc ở một công trường xây dựng, trong lúc đang làm việc thì do gặp sự cố về máy móc nên anh ta đã bị mất đi một cánh tay, từ đó anh lang thang phiêu bạt khắp nơi, làm đủ nghề để mưu sinh: nhặt phế thải, đi bán báo, phát tờ rơi,…Và 3 năm trước, anh ta mở một quầy báo nhỏ vừa bán báo vừa sửa xe đạp. Động lực duy nhất để anh sống lạc quan như thế chính là cô em gái...”.
Khi cô xuất hiện trước quầy báo, anh trai cô đang bận rộn với công việc sửa xe đạp, mặc dù mất một tay nhưng động tác của anh vô cùng nhanh nhẹn và điêu luyện. Cô nhẹ nhàng bước lại gần, nước mắt cô rơi xuống lã chã, trước mắt cô chính là người anh mà cô từng hận vì đã bỏ rơi cô, chính là người yêu thương cô nhất, bất chấp tất cả để lo cho cô một cuộc sống đầy đủ.
“Cô gái, cô...” Anh ngạc nhiên khi nhìn thấy cô, cô khóc nức nở và ngồi xuống nhẹ nhàng lấy khăn lau mồ hôi cho anh.
“Anh à, em là Mai đây!...”
Cô vội vàng ôm lấy anh, đã lâu lắm rồi cô không được ôm anh như vậy, cảm giác đó vẫn ấm áp như hồi bé, cảm giác được an toàn, được yêu chiều…
Tình cảm gia đình luôn thiêng liêng như vậy, nó luôn là chỗ dựa để ta lớn lên, luôn là động lực để ta bước tiếp, dù người thân có làm gì thì hãy luôn nhớ rằng, tất cả đều vì những người mà họ thương yêu mà thôi!.

Theo Blogtamsu
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 3 2015, 10:01 AM
Gửi vào: #43


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Cha tôi, Chết không cần quan tài
Đào Nam Hòa




Con ghi lại bài này thay cho nén hương lòng để thành tâm tưởng nhớ đến Bố Mẹ nhân ngày giỗ Bố lần thứ 8 và giỗ Mẹ lần thứ 7 (Đào Nam Hòa.)

Tôi không biết bắt đầu câu chuyện từ lúc nào, nhưng có lẽ ấn tượng nhất và rõ nét nhất mà hầu hết người dân miền Nam Việt Nam nhớ mãi là ngày 30/4/1975.
Khi miền Nam sụp đổ cũng là lúc bất ngờ tất cả nỗi thống khổ đày đọa ập xuống. Nhanh như một cơn cuồng phong thịnh nộ phá nát tan hoang. Mất tất cả!

Ngày 10/06/1975 tôi vẫn còn nhớ rất rõ. Trước khi đi cái gọi là “học tập cải tạo” 10 ngày, dù với suy nghĩ chỉ là 10 ngày như lời thông báo, cha tôi cũng không có lấy mấy ngàn dằn túi. Ông bảo tôi (lúc đó 19 tuổi) đem 2 chỉ vàng cuối cùng còn lại của gia đình- là đôi bông tai của bà nội tôi để lại- ra tiệm vàng bán. Đó là kỷ vật quý nhất nhưng đành phải bán để mua ít lương thực cho ông mang đi. Hai chỉ vàng lúc ấy bán được 33 ngàn. Ông mua khoảng 2 ngàn đồng lương thực các thứ và dằn túi 1 ngàn. Còn lại 30 ngàn ông dặn ở nhà cố gắng 13 mẹ con dè xẻn ăn uống đợi Ông về.

Mười ngày trôi qua nhanh chóng- không ai trong số cải tạo trở về. Tôi nghĩ đây là một cú lừa mà đã và sẽ được lịch sử ghi lại kỹ hơn. Giá sinh hoạt tăng từng giờ. Buổi sáng 100 đồng 1 ổ bánh mỳ thì chiều đã lên 120. Sau 3 tuần thì 12 anh em tụi tôi và mẹ tôi không còn một đồng nào trong nhà. Chị tôi lớn nhất 21 tuổi còn đang đi học, và em út mới có 2 tuổi. Mười hai con tàu há mồm tuổi đang lớn nuốt bao nhiêu cho đủ! Cơm và thức ăn mỗi bữa mẹ tôi phải chia cho từng đứa. Vài hột cơm sót nơi đáy nồi cũng không yên. Chúng tôi đổ nước vào và cạo sạch không còn một hột. Còn hơn là gạo châu củi quế.

Mẹ tôi và vài đứa em phải đi xâm canh làm ruộng rau muống, một hình thức của kinh tế mới để giãn dân,. Không lên voi nhưng phải xuống chó, mẹ tôi và em tôi ngày ngày vào ruộng hái rau muống xong gánh bộ về tới chợ cách đó 6 cây số để bán. Buổi sáng khoảng 3 giờ khi trời còn mờ mịt hơi sương và giá lạnh, mẹ và em tôi thay nhau gánh bộ cho kịp phiên chợ sáng. 70 bó rau oằn trên vai người phụ nữ nhỏ bé cao 1,45 nặng chưa tới 40Kg. 6kg rau mới đổi được 1 kg gạo. Một tuần mới cắt được một lần chờ cho rau mọc. Những ngày còn lại là cấy rau, nhổ cỏ, trồng khoai mỳ…

Sức ăn trước ngày 30/4/75 của gia đình tôi một bữa là 3 lít gạo, tức 1 tuần 42 lít, khoan nói chuyện thức ăn cá mắm gì hết. Nay 1 tuần chỉ còn 13 lít!

Bắt đầu tháng 7/1975 lần lượt đồ đạc trong nhà mọc cánh nhẹ nhàng, nhanh chóng, lả lướt, bay đi theo chân những kẻ buôn hàng. Từ cái quạt trần, tôn cống, hàng rào, tủ quần áo, đài radio, giường sắt, đồng hồ treo tường, đồng hồ đeo tay … đều giã từ để về với chủ mới. Hết sạch đồ thì mấy kẻ đi buôn bảo rỡ gạch bông, rỡ bớt tôn ngoài mái hiên, tôn trần nhà.. bán tiếp.

Bán cho đến khi căn nhà nhỏ bỗng trở nên rộng tênh vì chả còn thứ gì ngoại trừ vài cái nồi nấu bằng củi đen thui cũng đã sứt quai gãy gọng. Buổi tối trải chiếu ngủ dưới đất là xong với cái bụng lép kẹp và cơn đói hành hạ.

Không biết bao lần tôi phải ăn tưởng tượng trong đêm khuya bằng cách hình dung mấy món ăn tầm thường ngày trước như vài con khô, miếng dừa kho, tô canh bầu.. Mơ mà cũng hà tiện không dám mơ thịt cá hải sản.

Bố tôi sau 6 tháng trong trại cải tạo lần đầu được viết thư về, Ông dặn khi lên thăm nuôi, không cần mang theo gì cả vì trong trại có đủ mọi thứ. Hic!

Ông hiểu hơn ai hết, còn cái gì để mà mang cho ông!

Tôi nhớ mãi ngày lên thăm nuôi ông ở trại Thanh Hoá (Hố Nai), cả nhà chỉ có 1 cái xe đạp, còn lại mẹ và các em tôi cuốc bộ 8 cây số mang theo 1 cái giỏ đi chợ lưng lửng với ít thịt kho mắm ruốc, 1 ký đường, 2 hộp sữa và 1 bộ quần áo. Nhìn những người đi thăm nuôi, có người gánh 2 bao đầy mà lòng tôi trào dâng niềm tủi hổ.

Sau đợt đổi tiền ngày 22/9/1975, Chúng tôi như đàn chim vỡ tổ, tất cả bỏ học ngang, vài đứa em nhỏ tiếp tục theo mẹ làm ruộng rau muống, còn lại mỗi đứa một phương trời kiếm sống. Đứa lên Gia Ray vào rừng lấy củi, làm lò than, đứa theo xe lửa bán trà đá, hàng rong, đứa bán thuốc lá.

Hơn 3 năm sau Bố tôi được cho về để nhìn xác nhà tan hoang điêu tàn loang lở, nhìn bầy con xanh khướt, gầy rạc, tản mát. Một chị tôi bệnh tâm thần không người chăm sóc phải lang thang ăn xin đầu đường xó chợ, có lần xin không được, quá đói, chị giựt mấy miếng đậu hũ bỏ chạy, chị bị người ta phang đòn gánh chảy máu lỗ đầu giữa ngày bố tôi được tha về.

Bố không khóc, cũng không nói gì! Qua hàng xóm xin ít bông băng. Lòng ông như xát muối! Có lẽ ông bấy giờ mới thấm sâu mệnh đề “mất Nước là tất cả mất”. Khóc lóc than van ích lợi gì. Giọt nước mắt chỉ làm cho kẻ chiến thắng hả hê say sưa thêm mà thôi.

Rồi theo chủ trương, ông không được ở lại thành phố. Họ hàng nhà tôi đa số cũng là thành phần Ngụy quân, Ngụy quyền nên không ai giúp gì được cho nhau. Cuối năm 1978 Ông lên rừng Gia Ray ngay chân núi, cất túp lều nhỏ bé xiêu vẹo, ngày ngày ông và 2 em tôi sống nhờ rừng.

Ai ở rừng mới biết: ăn của rừng rưng rưng nước mắt! Và từ đó chuỗi ngày lầm than, buồn thảm lại tiếp tục sau hơn 3 năm trong trại cải tạo. Đói nhiều hơn no, buồn nhiều hơn vui. Cực khổ nặng nhọc quần quật suốt cả ngày chỉ đủ kiếm vài lon gạo vài con cá khô.

10 năm sau, tôi đã làm ăn khá hơn, mua được chiếc xe máy Mini scootter, lần đầu tiên lên thăm Ông, quà cho Ông chỉ là 1 lít rượu đế nấu bằng rỉ mật. Ông mừng lắm vì tôi đã tương đối ổn định công việc.

Trong bữa cơm hôm đó, Ông nói:

-Bố năm nay 63 tuổi rồi, cuộc đời không dành cho Bố con mình được sống sum họp và đầy đủ. Dù sao các con cũng cố gắng vươn lên để thoát khỏi bệnh tật, đói khát và tù đày.

Rồi Ông chỉ tay dưới chân ngọn núi Chứa Chan:

- Nhớ lời Bố dặn, nếu Bố có chết, các con không cần quan tài làm chi cho tốn kém, cứ bó chiếu vùi thây Bố dưới chân núi là Bố mát mẻ rồi.

Thú thật, lúc ấy nếu tất cả 12 anh em tôi gom lại chắc cũng không đủ tiền mua cái quan tài loại chót. Ông biết và không muốn các con gánh nặng thêm!

Năm 1999, sau bao nhiêu là khó khăn vì không có tiền làm hồ sơ xuất cảnh diện HO, cuối cùng thì 4 bố con tôi cũng tới được Mỹ. Ngày lên đường mẹ tôi và 9 em phải ở lại vì hộ khẩu lung tung không đuợc phái đoàn Mỹ chấp thuận.

Bốn bố con mà hành trang vỏn vẹn có 5 va ly nhỏ và nhẹ tênh, chưa tới 1/3 tiêu chuẩn trọng lượng.

Đến Mỹ 3 anh em tôi phải đi làm ngay sau tháng đầu tiên để kiếm tiền trả nợ lúc làm hồ sơ. Bố tôi thì ăn welfare vì Ông đã 74 tuổi.

Ban đầu hội thiện nguyện giúp thuê nhà, 4 bố con phải ở chung trong 1 căn apartment 2 phòng ngủ cùng với 2 người nữa là 6 người.

Quá chật, chúng tôi đành ra ở riêng trong khi Bố tôi được chính phủ Mỹ cho ở nhà Housing.

Và từ đó Ông sống cô độc, một thân một mình. Nhưng cũng là lúc Ông làm được một việc lớn nhất, to nhất, ý nghiã nhất kể từ sau ngày 30/4/1975!

Hàng tháng Ông trả tiền điện và tiền nhà chưa tới tổng cộng 80$. Thức ăn thì Ông đi xin các Hội từ thiện miễn phí. Có lần tôi giận Bố kinh khủng. Gia đình tôi cố tình chở Ông vào 1 quán kêu cho Ông mấy món ngon, Ông từ chối, chỉ xin cho 1 diã bánh cuốn là đủ. Ông nói: Ở Việt Nam nhà mình còn quá khổ, Bố không đành ăn ngon bên này nhưng các con đi làm vất vả cần bồi bổ, cứ ăn đi.

Mỗi tháng số tiền dư còn lại gần 400$ Bố để dành và cứ 6 tháng Bố gởi về VN cho Mẹ và 9 đứa con còn ở lại. Chị cả tôi viết thư qua có câu:

“Bố ơi, nhiều lần con phải đi bán máu với số tiền 200 ngàn một lần để có tiền nuôi con. Để có 200 ngàn đồng tiền Việt, tụi cò máu nó đã ăn chặn mấy chặng rồi. Cầm 300$ Bố cho mà con cứ ngỡ trong mơ. Đời con chưa bao giờ cầm số tiền lớn như thế… Phải bán 10 lần máu chỉ mới được 150$ …”

Bố đọc thư không khóc! mặc dù Bố biết chị chỉ cân nặng có… 34 Kg! Hic! Gan góc đến thế là cùng!

Rồi việc phải tới! Một ngày mùa đông năm 2006, tức sau gần 8 năm ở Mỹ. Tự dưng Bố kêu và đưa tôi 8.000$ và một tờ di chúc – nét chữ vẫn còn rất đẹp dù đã có dấu hiệu nghệch ngoạc biểu hiệu của tuổi già – trong di chúc có nói rõ:

Khi bố chết đi, bố đã hỏi cô Hoa, người của hội thiện nguyện, và biết rằng tiền hỏa thiêu không quan tài chỉ mất có 800$ thôi!. Bố nói bố không cần quan tài, không cần để nhà quàn làm gì cho tốn dăm ngàn, cứ để người ta đưa thẳng bố đi thiêu, trừ tiền thiêu ra, còn bao nhiêu con cứ làm theo di chúc gởi về cho người bên Viet Nam..

Sau đó mấy ngày, Bố đột qụy! Người ta đưa Bố vào trại Dưỡng lão. Rồi Bố hấp hối. Ba anh em tôi họp nhau và quyết định làm theo di chúc của Bố. Và chúng tôi phải ký một hợp đồng với nhà thiêu. Khi Bố tắt thở, sau 1 tiếng người ta đuổi hết anh em tôi ra, trong phòng người ta bỏ Bố vào 1 cái bao và kéo cái fermeture là xong! Quá đơn giản cho một kiếp người!

Khả năng 3 anh em tôi lúc đó mới đi làm ăn lương 1 giờ 8$ chỉ vừa đủ tiền nhà tiền ăn. Vẫn biết có làm đám tang bỏ Bố vào quan tài bằng vàng với hàng ngàn người tham dự cũng vậy thôi vì Bố đâu biết gì nữa mà sao tôi vẫn cảm thấy xót xa vô bờ. Cuối đời của một sĩ quan, từng chỉ huy hàng mấy trăm lính, từng chỉ huy mấy cung đường sắt, âm thầm, vắng lặng và quạnh hiu. Không ai biết, không ai đưa tiễn! Y như một chiến sĩ vô danh!

Người ta bỏ Bố lên chiếc xe kéo, đẩy ngang chỗ chúng tôi đang đứng, tất cả con, dâu và cháu chỉ có 5 người, họ dừng lại và hỏi chúng tôi có muốn nói gì không. Tôi có cảm tưởng như một luồng điện lạnh chạy xé dọc sống lưng. Tôi chỉ lắp bắp nói như kẻ không hồn:

- Vĩnh biệt Bố. Từ nay Bố không còn phải hy sinh nữa Bố nhé. Công ơn của Bố cao hơn núi Thái Sơn Bố ạ!

Rồi họ lạnh lùng kéo Bố tôi đẩy lên chiếc xe dài, đi chỗ nào thiêu hay làm gì, ở đâu, chúng tôi không được biết! Họ làm theo hợp đồng.

Tôi không khóc! Không còn nước mắt để khóc!

Hai tuần sau tôi lấy tro cốt Bố. Khi cô nhân viên nhà xác đưa hộp tro cốt ở dưới có ghi tên bố tôi, chỉ đến lúc bấy giờ, nước mắt tôi tự dưng tuôn ra đầm đìa – vô thức!

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 17 2015, 04:30 PM
Gửi vào: #44


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



CON BÚP-BÊ VÀ CÀNH HOA HỒNG
TG chuyển ngữ.
Tôi đi vòng trong một tiệm Target và chứng kiến cảnh người thu-ngân đang trao lại một số tiền cho cậu bé. Cậu chỉ độ 5 hay 6 tuổi.
Người thu- ngân nói, “Rất tiếc là em không có đủ tiền để mua con búp-bê này”.
Đoạn cậu bé quay sang bà cụ đứng cạnh: “Bà à, bà có chắc là con không có đủ tiền không, bà?”
Bà cụ đáp: Con à, con biết là con không có đủ tiền để mua con búp-bê này mà”.
Rồi bà cụ bảo cậu bé cứ đứng đó chừng 5 phút để bà đi một vòng trong tiệm. Rồi bà lẩn đi ngay.
Cậu bé vẫn cầm con búp-bê trong tay.
Cuối cùng , tôi bước đến cậu bé và hỏi là cậu muốn tặng con búp-bê này cho ai.

“Đây là con búp bê mà em gái của con yêu thích lắm và ước ao có được trong Giáng Sinh này. Em ấy tin là Ông già Noel sẽ mang quà này lại cho em ấy.”
Tôi trả lời cậu bé rằng “thế nào Ông già Noel rồi cũng sẽ mang lại cho em con, con đừng lo.”
Nhưng cậu trả lời buồn bã. “Không, Ông già Noel không mang đến chỗ em đang ở được. Con phải trao con búp-bê này cho mẹ con, rồi mẹ con mới có thể trao lại cho em con khi mẹ đến đó.”
Đôi mắt cậu bé thật buồn khi nói những lời này.
“Em con đã trở về với Chúa. Ba con bảo là mẹ cũng sắp về với Chúa, bởi vậy con nghĩ là mẹ có thể mang con búp-bê này theo với mẹ để trao lại cho em con.”
Tim tôi như muốn ngừng đập.
Cậu bé nhìn lên tôi và nói: “Con nói với ba là hãy bảo mẹ đừng có đi vội. Con muốn mẹ con hãy chờ con đi mall về rồi hãy đi.”
Rồi cậu lấy ra cho tôi xem một tấm ảnh trong đó cậu đang cười thích thú.
“Con muốn mẹ mang theo tấm ảnh này của con để mẹ sẽ không quên con.
Con thương mẹ con và mong ước mẹ không phải bỏ con để đi, nhưng ba con nói là mẹ phải đi để ở cạnh em của con.”
Rồi cậu lặng thinh nhìn con búp-bê buồn bã.
Tôi vội vàng tìm ví bạc trong túi và nói với cậu bé: “hãy thử coi lại xem, biết đâu con lại có đủ tiền mua con búp-bê này thì sao!”
“Dạ”, cậu bé đáp, “con mong là có đủ tiền”. Không cho cậu bé thấy, tôi kẹp thêm tiền vào mớ tiền của cậu bé, và chúng tôi cùng đếm. Chẳng những đủ số tiền cho con búp-bê mà còn dư thêm một ít nữa.
Cậu bé nói: “Cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền!”
Rồi cậu nhìn tôi và nói thêm, “tối qua trước khi đi ngủ, con đã hỏi xin Chúa hãy làm sao cho con có đủ tiền để mua con búp-bê này để mẹ con có thể mang đi cho em con. Chúa đã nghe lời cầu xin của con rồi..”
“Con cũng muốn có đủ tiền mua hoa hồng trắng cho mẹ con, nhưng không dám hỏi Chúa nhiều. Nhưng Ngài lại cho con đủ tiền để mua búp-bê và hoa hồng trắng nữa..”
“Mẹ con yêu hoa hồng trắng lắm.”
Vài phút sau bà cụ trở lại, và tôi cũng rời khỏi tiệm.
Tôi làm xong việc mua sắm trong một trạng thái hoàn toàn khác hẳn với khi bắt đầu vào tiệm. Và tôi không thể rứt bỏ hình ảnh của cậu bé ra khỏi tâm trí tôi.
Đoạn tôi nhớ lại một bài báo trong tờ nhật báo địa phương cách đây hai hôm. Bài báo viết về một tài xế say rượu lái xe vận tải đụng vào xe của một thiếu phụ và một bé gái nhỏ.
Đứa bé gái chết ngay tại hiện trường, còn người mẹ được đưa đi cứu cấp trong tình trạng nguy kịch. Gia đình phải quyết định có nên rút ống máy trợ-sinh khỏi bệnh nhân hay không vì người thiếu phụ này không còn có thể hồi tỉnh ra khỏi cơn hôn mê.
Phải chăng đấy là gia đình của cậu bé?
Hai ngày sau khi gặp cậu bé, tôi đọc thấy trên báo là người thiếu phụ đã qua đời. Tôi bị một sự thôi thúc và đã mua một bó hoa hồng trắng và đi thẳng đến nhà quàn nơi tang lễ của người thiếu phụ đang diễn ra và mọi người đến nhìn mặt người quá cố lần cuối cùng.
Cô nằm đó, trong cỗ áo quan, cầm trong tay một cành hồng màu trắng với tấm ảnh của cậu bé và con búp-bê được đặt trên ngực của cô.
Tôi rời nơi đó, nước mắt đoanh tròng, cảm giác rằng đời tôi đã vĩnh viễn thay đổi. Tình yêu của cậu bé dành cho mẹ và em gái cho đến ngày nay thật khó mà tưởng tượng. Và chỉ trong một phần nhỏ của một giây đồng hồ, một gã lái xe say rượu, hay người lái xe bất cẩn, đã lấy đi tất cả những gì thân thiết nhất của đời cậu.


Robert A. Schreiber
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 21 2015, 01:11 PM
Gửi vào: #45


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




XẾ BÓNG CUỘC ĐỜI "
Thôi mình đi em nhé..." !




Góc của Phan: Estate Sale…


Hồi mới qua Mỹ, lần đầu thấy tấm bảng ghi là Estate Sale cắm ở góc đường, tôi đoán là một hình thức bán bớt đồ cũ trong nhà. Như bày bán ở Garage thì gọi là Garage Sale; bày bán ở sân sau nhà thì gọi là Yard Sale; dọn nhà thì người ta bán bớt những thứ không tiện đem theo với bảng cắm là Moving Sale, còn Estate Sale… chắc cũng tương tự. Tự dặn là về phải tra tự điển, nhưng rồi tôi quên luôn! Nhớ lại những ngày mới đến Mỹ, ra đường thấy chữ gì không hiểu thì cứ nhủ lòng về tra tự điển, nhưng bao giờ cũng quên nhiều hơn là nhớ.
Cho tới một hôm tình cờ nghe cô bạn Mỹ làm chung kể chuyện, tôi mới hiểu chính xác Estate Sale là bán sạch gia tài. Cổ kể là vợ chồng cổ mua được bộ bàn ăn thuộc loại đắt tiền, còn rất mới, nhưng với giá chỉ một phần mười giá trị thực của bộ bàn ăn đó. Theo cô ấy cho biết, bộ bàn ăn trị giá năm ngàn đồng, dù nó chỉ còn mới được tám mươi phần trăm, nên có phải mua với giá một, hai ngàn đồng, cô ấy cũng đồng ý mua. Vậy mà vợ chồng cô ấy mua được với giá chỉ năm trăm đồng, từ một căn nhà treo bảng Estate Sale. Cô ấy phải ghi xuống giấy ngày, giờ và địa chỉ của căn nhà đó. Rồi thông báo cho chồng cô ta biết trước mấy ngày để đến đúng hôm đó, hai vợ chồng phải dậy sớm mà đi xếp hàng. Khi lọt được vào ngôi nhà Estate Sale, cô nhanh chóng quyết định, nhưng phải kể là may mắn nên cô đã mua được bộ bàn ăn thuộc loại đắt tiền với giá quá rẻ.
Trò chuyện thêm với cô bạn, tôi mới hiểu ra Estate Sale là bán toàn bộ đồ đạc trong nhà: từ ly tách muỗng chén, đến quần áo, giường ngủ, tủ trà, bệ thờ; tới cả tranh, tượng, đồ kỷ niệm… Nhưng giá bán của Estate Sale không rẻ như Garage Sale, Yard Sale, hay Moving Sale vì không phải là đồ thừa trong nhà. Lý do bán hết các thứ trong nhà vì chủ nhà phải vô viện dưỡng lão chẳng hạn; những người già neo đơn ấy không có thân nhân để có thể cho lại, nên họ bán hết, bán sạch, với giá cao hơn bán đồ cũ, đồ thừa của Garage Sale, Yard Sale, hay Moving Sale…
Và người Mỹ đi Estate Sale như đi hội chợ, nhất là Estate Sale ở những khu nhà giàu. Ngay từ sáng sớm thiên hạ đã xếp hàng ghi tên, xe đậu dài hai ba blocks đường. Tới giờ mở cửa, người ta tranh nhau mua. Sau đó bưng bê nườm nượp, náo nức như được chia của.
Câu chuyện về Estate Sale như một hiểu biết thêm về đời sống Mỹ trong đầu óc mới tới định cư của tôi. Rồi thời gian và cuộc sống cá nhân, gia đình quay cuồng theo cơm áo gạo tiền nên chả nhớ gì tới Estate Sale nữa.
Cho tới một sáng cuối thu, đã bảy giờ nhưng mặt trời còn chưa ló dạng. Không gian yên ắng tới chỉ nghe mỗi tiếng đồng hồ tích tắc trên tường. Ngoài cửa sổ, sương còn phủ ngọn đồi sau nhà mờ ảo màu lá vàng phai. Không gian đẹp nhưng buồn quá, nhất là cái lạnh đã len lỏi về, đậu trên những ngón tay cảm giác điêu tàn.
Tôi đi thay quần áo để lên đường, đi giúp một ông bạn già. Hôm nay ổng bán Estate Sale. Tuy hẹn chín giờ nhưng tôi đi sớm để có thời gian ngồi uống với ông bình trà. Bởi đêm qua thao thức về ông, tôi nghĩ sau hôm nay, có thể là lần cuối tôi gặp ông trong đời. Nhớ lại, tôi quen biết ông chừng năm, bảy năm trước, dịp tôi phỏng vấn Cựu Thiếu tướng Đỗ Kế Giai ở Trung tâm sinh hoạt cao niên trong thành phố. Bữa đó, chính ông đã đến bắt tay tôi trước, hỏi tôi có phải là Phan mà ông thường đọc đó không? Tôi có cảm tình ngay với một người lớn tuổi, hiền lành, đôn hậu. Tình thân chưa có nhưng lòng cảm mến thì nhiều, tôi cho ông số điện thoại để tiếp tục nói chuyện vào dịp khác bởi tôi đang bận với cuộc phỏng vấn…
Rồi tình thân nảy nở sau những lần ông mời tôi đi uống cà phê, rất thỉnh thoảng, nhưng ông thực sự có hiện diện trong tôi như một người bạn mà tôi thường tự trách là ít thăm hỏi ông, hay mời ông đi uống ly cà phê. Giao tiếp với người già chỉ mất ít thời gian mà được lợi rất nhiều về kiến thức và kinh nghiệm sống. Biết thế, nhưng khi có thời gian rảnh thì tôi vẫn đi chơi với bạn trẻ nhiều hơn; Chỉ khi cần hỏi, là cần tới người già thì tôi mới nhớ tới ông, gọi ông, mời ông đi uống ly cà phê… để hỏi. Tôi là một con người hiện đại qua cách tìm thông tin là biết hỏi ai; và ông bạn già là người thuộc thế hệ cũ qua việc sẵn sàng cho không kiến thức, kinh nghiệm tích lũy cả đời. Sự cho và nhận co giãn theo tuổi đời thì tôi co ông giãn. Đó là ý nghĩ hôm trời mới chớm thu, tôi gọi ông, mời ông đi uống ly cà phê vào một sáng cuối tuần. Hôm đó, tôi không có gì để hỏi ông mà chỉ là bỗng nhớ tới một người bạn mà quỹ thời gian của người đó không còn nhiều nên tôi dành thời gian rảnh rỗi có được cho ông.
Hôm đó ông nói với tôi là, “…anh cũng đã già.” Tôi tin nhận xét của ông vì tôi đã vừa từ chối bạn bè trang lứa rủ nhau đi nông trại của một người bạn từ sáng sớm để hạ một con dê và nhậu tới chiều. Chắc chắn là một cuộc vui, nhưng rồi cuộc vui nào cũng tàn. Bạn bè chưa già thì còn dịp khác để gặp. Nhưng ông bạn già hiu hắt như gió thu, hôm tình cờ gặp nhau ngoài chợ, lòng tôi bất an sau khi chia tay…
Hôm đầu thu đó, hỏi thăm ra mới biết, vợ ông đã qua đời hồi hè. Ông không cho tôi biết vì bà đi thăm con gái với cháu ngoại bên Cali, bị đột qụy và mất luôn ở bên ấy. Ông muốn đưa bà về Dallas để lo ma chay vì bà đã sống ở Dallas mấy chục năm. Nhưng người con trai ông sống ở Dallas thì lại muốn em gái lo ma chay cho mẹ luôn bên Cali cho tiện. Cái lý của anh ta đưa ra là chết ở Mỹ thì lo ma chay ở đâu cũng chỉ là cái nhà quàn như nhau…
Tôi chỉ quen biết ông như một người viết và một độc giả, chưa bao giờ tôi uống với ông một ly bia vì ông không rượu bia, không thuốc lá. Nhưng hôm đầu thu đó, ông tự tay mượn điếu thuốc lá đang cháy dở trên tay tôi; ông hút một hơi thuốc thật sâu, rồi trả lại tôi. Tôi sợ ông sặc, nhưng ông không sặc như tôi sợ. Ông nhả khói chậm rãi, và chìm vào tâm sự, “Tôi chưa bao giờ nói với anh, cũng không nghĩ tới chuyện nói với ai. Nhưng nỗi buồn trong tâm khảm tôi lớn dần như mầm bệnh ung thư tới hồi bộc phát. Tôi biết là trước sau gì cũng chết, tôi không sợ chết, chỉ buồn lòng người làm cha mà không biết dạy con mình…”
“…Vợ chồng tôi chỉ có hai người con. Lo được cho thằng lớn ăn học tới ra đại học không phải nợ tiền học đồng nào. Nó đi làm, lãnh lương cất riêng vào trương mục nhà băng của nó. Ngày ngày vẫn về nhà ăn, ở, cha mẹ lo. Nó cho đó là lối sống Mỹ, và nó chọn cách sống ấy.
"Cha mẹ đừng tọc mạch vào thu nhập của con cái". Nhưng khi nó muốn lấy vợ thì nó chọn lối sống của người Việt là dù sống ở đâu trên địa cầu thì chuyện cưới hỏi của con cái, cha mẹ người Việt cũng đứng ra lo cho con.
Thế là vợ chồng tôi lo cưới vợ cho con trai. Tôi không lấy gì làm buồn lòng vì cha mẹ tôi cũng đi cưới vợ cho tôi khi xưa. Nhưng rồi con tôi muốn mua nhà. Nó trình bày với vợ chồng tôi, nó mua nhà trăm rưỡi, cần mượn nhà băng một trăm ngàn, nếu trả trong ba mươi năm thì tổng số tiền nó phải trả cho nhà băng lên tới ba trăm ngàn. Nghĩa là một trăm ngàn vốn với hai trăm ngàn tiền lời trong ba mươi năm. Nó muốn cha mẹ giúp đỡ cho nó mượn một trăm ngàn, để nó trả dứt căn nhà ngay khi mua, không phải trả tiền lời cho nhà băng. Nếu nó phải trả ra số tiền ba trăm ngàn trong ba mươi năm, thì mười năm cho một trăm ngàn. Nó sẽ trả cho cha mẹ một trăm ngàn trong mười năm là khả năng có thể.
Tôi bắt đầu thất vọng về con trai tôi. Vì gom hết tiền 401-K của cha mẹ thì đủ một trăm ngàn cho nó mượn. Vợ chồng đã về hưu thì tiền già gói gém cũng đủ sống, nhưng tiền đâu lo cho con em nó còn trong đại học để khỏi mượn nợ học như nó? Tôi suy nghĩ nhiều đêm, đằng nào cũng mất con rồi! Đó là cái giá phải trả cho mưu cầu tương lai của con cái. Tôi đưa nó đến Mỹ chứ tự nó đâu đi một mình được. Tôi sinh ra nó, chứ nó đâu tự xuất hiện trên đời này được… Nhưng tôi thất bại trong chuyện dạy nó sống đùm bọc với người thân. Tôi có lỗi đã để nó hấp thụ lối sống ích kỷ của xứ sở này. Đằng nào tôi cũng mất con rồi. Nếu đồng ý cho nó mượn một trăm ngàn không tiền lời là tôi đã thẳng thắn nhìn nhận mình thua cuộc; không bao giờ dạy được con quay lại lối sống đùm bọc nhau của người Việt mình nữa. Nhưng từ chối nó… thì tôi mất luôn vợ! Vì mẹ nào chả thương con, thương càng mù quáng tình mẫu tử càng lên ngôi.
Nó trả lời cho tôi câu hỏi, ‘tiền đâu để lo cho em nó?’ ‘Thì ba mẹ lấy tiền con trả hàng tháng để lo cho nó.’ Tôi định hỏi câu hỏi quan trọng nhất theo kinh nghiệm của tôi là, ‘Nhưng con có chắc là con sẽ trả cho ba mẹ hàng tháng. Hay trả vài tháng… rồi quên luôn?’
Tôi thương vợ tôi nên đã làm điều tôi biết trước nhưng vẫn làm là tôi cho con trai tôi mượn một trăm ngàn. Vợ tôi mất tinh thần nhiều năm sau đó vì đúng là nó không trả. Nhưng chúng tôi được trời phật cho lại đứa con gái muộn màng. Nó là nguồn an ủi, niềm vui còn lại cho vợ chồng tôi. Lúc nào nó cũng vui vẻ nói là ba mẹ chết rồi thì tài sản cũng để lại cho anh em con thôi. Thì anh Hai cần trước thì anh Hai lấy trước. Ba mẹ đừng có giận anh Hai nữa, chỉ tổn hao sức khoẻ cho ba mẹ thôi. Còn con, nợ học thì ai đi học ở Mỹ mà không nợ. Chừng con ra trường thì con trả. Ba mẹ đừng lo nữa…
Con bé lạc quan nói sao làm vậy. Về sau, nó lấy chồng bên Cali nên về Cali sống. Vợ tôi muốn bán nhà, dọn về Cali ở với con gái thì thằng con trai không cho đi vì bà nội phải ở Dallas để trông con cho vợ chồng nó đi làm…
Đến cái chết đột ngột của mẹ nó. Tôi muốn đưa bà ấy về Dallas để lo ma chay vì bà ấy sống ở đây đã như là quê hương. Nó ngại tốn kém nên lý lẽ bất dung tình với cả cha mẹ. Tôi không buồn sao được anh…”
Ôi, cái hôm đầu thu đó! Nhớ lại sao mà buồn. Và tại sao lại có hôm nay, tôi đến giúp ông bạn bán Estate Sale, bán hết gia tài một lần để giã biệt. Buổi chiều cuộc đời như không gian thu tràn ngập lá vàng bay, những nảy nở mùa xuân, khoe sắc hạ, thu úa, đông về… Người ta có sống tới trăm tuổi thì mùa thu thứ một trăm của cuộc đời cũng phải rời bỏ ngôi nhà không cần bật đèn giữa nửa đêm cũng biết lối đi tới nơi muốn tới; bán bỏ cả cái thìa khuấy ly cà phê mỗi sáng đã không thể nhớ nổi nó có trong nhà từ bao giờ mà người gia chủ chỉ nhớ chắc là khuấy ly cà phê bằng cái thìa khác sẽ không ngon; bức tranh mua garage sale có vài đồng bạc hồi mới qua Mỹ, nhưng không có nó trên tường nhà thì cứ tưởng mình đang ở chơi nhà bạn, hay nhà bà con chứ không phải nhà mình; đến tiếng cái đồng hồ nhà mình cũng khác hẳn tiếng đồng hồ nhà khác mà chỉ có mình phân biệt được… lại còn nắm đất quê hương trên bàn thờ, hồi ra đi mình mang theo để nhớ đường về. Nhưng nó nằm im lặng đã bốn mươi năm. Bây giờ người đem nó đi còn gởi lại nắm xương ở quê người thì nắm đất quê hương ấy trở thành oan nghiệt. Cho không ai lấy, bán chẳng ai mua, mà ném qua cửa sổ thì hóa ra mình đã biến thành thú vật.
Tôi ứa nước mắt trên tay lái, làm sao ông bạn tôi có thể sống sau hôm nay khi chính tay tôi bán hết những gì đã gắn bó với ông cả đời. Tôi, chính tôi, đã tiếp tay thần chết sớm bắt ông rời bỏ thói quen và kỷ niệm; rồi rời bỏ tới người thân; cuối cùng là rời bỏ cuộc đời… Nhưng nhớ lại tâm sự đầu thu của ông, ông đi dự đám tang của vợ ông bên Cali như người quen biết cũ, mấy chục năm vợ chồng còn lại cái trống không trong lòng già; con trai ông đi dự đám tang của mẹ dửng dưng đến mức đường về, anh ta nhắc ông trên phi cơ là ba phải làm di chúc căn nhà lại cho con, vì ba đi đột ngột như má thì chính phủ lấy nhà…
Tôi nghĩ chắc anh ta không chỉ muốn lấy căn nhà đã trả hết mà muốn lấy luôn cả phần bảo hiểm nhân thọ của cha nên mới chọc giận ông đúng thời điểm tinh thần và thể lực của ông suy kiệt nhất sau mấy ngày đám tang bên Cali. Tôi biết anh ta, có gặp mặt vì Dallas đâu có mấy nhà hàng của người Việt. Nhưng chưa chào hỏi anh bao giờ để cất giữ bí mật cho cha anh – là bạn tôi. Anh là ai trong gia đình lớn của anh, gia đình nhỏ của anh, trong xã hội anh đang sống… tôi không quan tâm tới địa vị hay tên tuổi của anh ở địa phương. Tôi chỉ biết là tôi đã có lỗi với một người không có lỗi gì với tôi là anh. Tôi đã đồng ý với con gái của ông bạn, dù chỉ nghe ông kể, “…con còn phải đi làm và lo lắng cho gia đình con. Con không thể chăm sóc cho ba mỗi ngày như má. Nhưng má mất rồi thì ba không thể ở một mình. Ba có chuyện gì, không ai biết, không ai hay… làm sao con yên tâm. Con xin ba giao hết nhà cửa cho anh Hai… muốn làm gì làm bên Dallas. Ba về Cali với con. Ba phải ở viện dưỡng lão vì con không thể và không có thời gian để lo cho ba như má. Nhưng vài hôm con sẽ có thời gian ghé thăm ba một, hai tiếng đồng hồ; con nấu được gì ngon, con đem vô cho ba ăn… ba có chuyện gì, người chăm sóc cho ba sẽ báo ngay cho con, con vô ngay với ba…”
Tôi có tào lao lắm không khi khi không lên tiếng về chuyện nhà người khác? Tôi nói với ông hôm đầu thu, “Chia buồn với ông về sự mất mát người thân nhất của ông mà tôi không biết, cho dù ông có cho hay thì tôi chắc cũng không có điều kiện bay qua Cali để viếng tang của bà. Thôi thì ngày nào còn sống hãy tính chuyện đời cho xong để êm xuôi khi ra đi. Ông bà đã giúp con trai không phải nợ tiền học. Tôi tính nhanh là đã cho anh ta năm chục ngàn. Ông bà cho mượn một trăm ngàn mua nhà – và không hoàn lại. Vậy là ông bà đã cho con trai một trăm năm chục ngàn. Nên bây giờ ông bán căn nhà đã trả hết mà ông đang ở, cũng cỡ một trăm năm chục ngàn. Số tiền đó cho hết con gái, là công bằng với con cái.
Ông về Cali sống với đề nghị của con gái là hoàn toàn hợp lý. Số tiền bảo hiểm nhân thọ của vợ ông, gởi con gái để lo cho ba những ngày cuối đời ba, lo cả hậu sự cho ba. Thừa thiếu gì thì tôi tin là con gái ông không tính toán với ông. Còn phần bảo hiểm nhân thọ của ông thì di chúc lại cho con gái. Nhưng chỉ nhờ cô ta quản lý số tiền đó để về sau chia đều cho hết cháu nội, cháu ngoại của ông bà. Cứ đứa nào vô đại học thì được nhận một khoản tiền do ông bà để lại cho con cháu ăn học. Tôi biết, với đà lạm phát và trượt giá ở nước Mỹ thì số tiền học bổng miễn hoàn lại cho con cháu sẽ không nhiều, nhưng rất có ý nghĩa về mặt tinh thần với đời thứ ba của gia đình ông trên nước Mỹ…”
Câu chuyện đầu thu mới đó mà đã cuối thu rồi! Ông bạn tôi đúng là người độ lượng như tôi đã tin ông như thế! Ông giao căn nhà cho con dâu để cho mướn kiếm thêm tiền chợ cho cháu nội ông được sống sung túc hơn. Ông di chúc lại căn nhà cho con dâu của ông chứ không bán. Giấy tờ xác quyết là tài sản riêng của con dâu, “để nhỡ… vợ chồng con xảy ra chuyện bất trắc gì sau khi ba mất. Thì ba mẹ chỉ giúp được con một chỗ ở để nuôi mấy đứa cháu nội của ba mẹ. Cảm ơn con.”
Ông cho hết con gái khoản tiền bảo hiểm nhân thọ của mẹ cô ấy. Ông nghe tôi về khoản tiền bảo hiểm nhân thọ của ông. Ông chỉ còn giữ lại hàng hà kỷ niệm trong từng đồ vật mà tôi đang bán ra cho những người không quen biết. Thế nên mắt ông lạc thần trông theo từng kỷ niệm vĩnh biệt ông lần cuối khi ra cửa một mái ấm gia đình đã tới hồi kết.
Buổi sáng một ngày cuối thu mà tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh một người đàn ông biệt xứ lúc cuối đời, tay khép lại cánh cửa nhà mình lần cuối, bình thản nói với vợ, “thôi, mình đi nghe em…” là di ảnh của bà mà ông kẹp ở nách để khoá cửa ra đi...
Ngoài đường, những trang trí cho ngày lễ Halloween đã lên đèn dọc lối đi. Tôi nhìn ông thả bộ ra xe mà thấy một kiếp người đến với cuộc đời cách nay tám mươi năm, chỉ có tiếng khóc là gia tài thì hôm nay là món cuối cùng Estate Sale. Bởi ông trầm ngâm buổi sáng, thở dài buổi trưa, rồi ngấn lệ buổi chiều theo từng kỷ niệm vĩnh biệt ông ra đi. Nhưng cuối ngày ông lại mỉm cười với di ảnh vợ lúc khoá cửa, cái nháy mắt tinh nghịch của ông với di ảnh bà là bằng chứng ông đến với cuộc đời này bằng một tiếng khóc, nhưng khi ra đi ông đã đem theo một người tình. Tôi nhìn theo ông ấy tan vào thế giới ma quỷ và màn đêm phủ về. Nhìn lại mình sau một ngày tiếp tay thần chết, nách tôi kẹp chai rượu thần chết thưởng cho tôi nhưng quân sĩ của thần chết đã giao lộn vào nhà một người không uống rượu nên phải nằm chờ tới Estate Sale của ông bạn.

Tới Estate Sale của tôi, cũng là kinh doanh từ vốn một tiếng khóc chào đời, tôi sẽ kẹp nách mang theo được gì lúc ra đi? Chỉ biết chai rượu thường nhưng để lâu năm cũng ngon như nước cam tuyền… từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau.

Đâu đó là thơ Bùi Giáng. Nên, uống xong ly rượu cùng nhau/ hẹn rằng mãi mãi quên nhau muôn đời…

Khi hiểu được thơ Bùi Giáng thì cuộc đời coi như đã tàn thu. Còn bạn?


Phan


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 26 2015, 03:18 AM
Gửi vào: #46


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Có tội hay không có tội ?

"Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn, Nó đến từ chính hành động của bạn.
Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. tín ngưỡng của tôi là lòng tốt...."
Đức Đạt Lai Lạt Ma


Tôi thật không biết phải bắt đầu từ đâu để câu chuyện đời lộn xộn của mình có được một chút ngăn nắp để bạn hiểu tôi hơn. Thôi thì bắt đầu vào một ngày nắng đẹp, tôi bước ra khỏi toà án Saigon với cái giấy ly dị trên tay. Tôi có một trai và một gái và quan toà đã rộng lượng xử cho tôi được trọn quyền giữ cả hai với điều kiện là không nhận được chu cấp từ người chồng. Tôi hoan hô quan toà cả hai tay. Đó là năm 1969.

Bà chị tôi có hãng thầu cung cấp dịch vụ hớt tóc, giặt quần áo, bán hàng kỷ niệm cho quân nhân Mỹ tại Việt Nam và hàng ngàn xe đá để hãng RMK làm phi trường. Đó là một công cuộc làm ăn lớn lao có tới vài trăm nhân viên nên chị nhận cho tôi theo làm để nuôi con. Do đó tôi gặp Ron, người chồng hiện tại.

Bạn ơi, không biết tôi đã tốn bao nhiêu nước mắt cho cuộc hôn nhân nầy. Không biết tôi đã nhận được bao nhiêu lời sỉ nhục khi đi sánh đôi với người chồng Mỹ tại Việt Nam. Nếu phải đếm hết những danh từ thô bỉ, những ánh mắt chê bai, những đối xử khinh bạc của bạn bè, của những người quen biết cho đến những kẻ qua đường vì tôi "lấy Mỹ" thì chắc tôi phải biến thành con rết khổng lồ với cả ngàn chân tay mới đếm hết nổi. Thôi thì chẳng qua là cái nghiệp. Chắc mình đã dè bỉu, chê bai bao nhiêu là người ở những kiếp trước nên kiếp nầy nhận lại "gậy ông đập lưng ông" thôi mà.

Mỗi lần bị "tai nạn" như vậy, tôi giả vờ phớt tỉnh. Những dòng nước mắt tủi hổ cứ chực tràn ra. Ông xã cứ hỏi là "họ nói gì vậy?", tôi thì cứ ai biết đâu, họ dùng danh từ em không hiểu!". Nhưng ông xã thì biết vì anh có rất nhiều nhân viên Việt Nam làm việc cho anh và chắc họ đã giải nghĩa cho anh hiểu địa vị của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội khi họ vô phước kết hôn với ngươì Mỹ.

Sau khi anh hiểu được, tôi không bao giờ quên được ánh mắt của anh nhìn tôi trong những lần "tai nạn" đó. Đôi mắt anh chứa đầy những biết ơn, những chia xẻ, những đau thương, những căm giận, những cảm thông.. Anh cầm tay tôi nói: "Thật là không công bình cho em. Anh rất biết ơn em. Sự chịu đựng những nỗi nhục nhằn của em làm tan nát tim anh. Anh cảm thấy không xứng đáng với sự hy sinh của em." Tôi chỉ nói nhỏ: "Cả hai, em và họ đều là nạn nhân, mỗi người mỗi cách. Có phải chúng ta đã hứa là sẽ cùng chung chịu những niềm vui và nỗi khổ trên đời không? Vậy đó không phải là sự hy sinh. Đó chỉ là sự chia xẻ."

Và tôi đã sát cánh cùng anh nổi, chìm trong cõi ta bà, trong nụ cười khi gia đình xum họp, trong nuớc mắt khi một đứa con sớm vội ra đi, trong thành công, trong thất bại suốt bốn chục năm qua.

Rồi Trời Đất nổi cơn gió bụi. Năm 1975 tôi dắt díu các con qua Mỹ sống tại California. Bà mẹ chồng ở tận Boston qua CA thăm cháu nội và dâu lần đầu tiên.

Mẹ ruột kẹt lại quê nhà, mẹ chồng ở kề cận, thôi thì hãy vui với hiện tại và những gì mình có. Gạo trồng ở Việt Nam hay trồng ở Mỹ thì cũng nấu thành cơm. Mẹ ruột hay mẹ chồng thì người đàn bà đó cũng đã thương yêu và dưỡng nuôi người mình yêu dấu. Bà hỏi chớ các cháu đã được rửa tội chưa? Tôi nói ngắn gọn "Dạ chưa. Con đạo Phật." Bà mỉm cười không nói gì và không bao giờ nhắc lại.

Hình như người Mỹ có tâm hồn rộng rãi hơn. Bà thường hay lục lọi và gởi về cho cháu nội những quyển thánh kinh rất cũ của gia đình. Tôi nhận và trân trọng giao lại cho các con. Mẹ chồng gần với con dâu hơn người con ruột.

Thời gian qua, một hôm thằng con cả báo cho mẹ biết là nó muốn cưới vợ. Mình đã già rồi mà không hay bạn ơi. Khi nghe con trình bày mọi điều, bà chị la làng chói lói. Trời ơi, nó là con trai lớn nhất mà theo đạo Chúa thì lấy ai mà thờ phượng em? Bạn ơi, bạn nghĩ sao? To be or not to be? Nói Yes, con cứ tiếp tục lo hôn lễ hay nói No, No Way.

Hừm, thờ phượng là nó sẽ nhớ tới ngày mình theo Phật, mua một mâm đủ cả heo quay, gà vịt, có cả bia rượu, bưng lên bàn thờ để một tiếng đồng hồ rồi dọn xuống mời bạn nhậu? Hay là nó cúng mâm chay nhưng lại không ăn? Hay là nó tới chùa nhờ thầy đọc một thời kinh? Thầy lo đọc, nó lo nhớ tới cái đầu gối hơi đau vì quì lâu! Hay nó dọn một cái bàn thờ trong nhà, chưng cái hình mình lên. Có ai đó hỏi con nó trưng hình của ai vậy thì thằng cháu nội nhìn hình và nói "I don't know" !

Chỉ còn cách hỏi nó.

Cô đó hiền không? Dạ hiền. Cô đó giỏi không? Dạ giỏi. Cô đó thích săn sóc con cái, nhà cửa không? Dạ thích. Cô đó thương con không? Dạ thương. Vậy thì Yes, con ơi, Yes. Mẹ chỉ cần thấy con được hạnh phúc, an vui. Mẹ tin vào sự khôn ngoan và lựa chọn của con. (Cho con học bao lâu chắc con không ngu đâu, phải không?).

Vợ chồng con thương yêu nhau và tử tế với Mẹ khi Mẹ còn sống là con đã "thờ phượng" Mẹ rồi. Trong con đã có dòng máu của Mẹ. Con làm một người chồng tốt, một người cha tốt, một con người tốt là con thờ phượng Mẹ đó, phải không? Bạn ơi, bạn có thấy tôi quá "văn minh" không? Quá... quá... tiếng gì hả mà người Mỹ thường hay chỉ mấy ông nghị viên trong đảng dân chủ đó? À à, quá "liberal" không?

Vậy là tôi có hai thằng con theo đạo Chúa của vợ và năm đứa cháu nội biết Phật là Budha chớ chẳng biết Nam Mô. Quên cho bạn hay là tôi đã không rửa tội hoặc bắt các con theo đạo nào hết. Tôi để cho chúng tự do chọn lựa khi chúng đến tuổi trưởng thành (hoặc "được" vợ dẫn dắt). Tuy nhiên tôi cũng thường đem các con đi chùa khi chúng còn nhỏ và mỗi khi tết tôi đều dạy chúng lạy bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên. Cho đến bây giờ vẫn vậy. Phải lạy bàn thờ. Đó là điều kiện duy nhứt tôi đòi hỏi gia đình các xuôi gia trong ngày cưới, dù họ là đạo nào. Tôi kính trọng tất cả các đấng dẫn dắt linh hồn.

Mỗi khi gia đình tụ họp tại nhà thằng con cả, nhằm ngày ăn chay, tôi luôn có ít nhứt một món chay rất ngon do con dâu Công giáo nấu. Tôi biết ơn chúa Jesus quá đỗi vì con dân của Ngài quả là một người đầu bếp giỏi và là một đứa con dâu rất hiếu thảo.

Thế là tôi trở thành minority, có nghĩa là thiểu số trong gia đình tôi. Ông xã, hai thằng con, hai cô dâu, năm đứa cháu nội, tất cả là mười người con Chúa. Một đứa con gái và chồng cùng ba đứa con tin tưởng cả Phật lẫn Chúa. Ngày lễ Giáng Sinh và cuối tuần thằng cháu ngoại mười hai tuổi đi đờn violin trong nhà thờ. Khi về nhà ngoại thì vô lạy Phật và... ngồi thiền!


Thằng con út thì , bạn có thể gọi nó là người vô tôn giáo, khuyên các cháu của nó không nên mỗi chút mỗi đổ thừa cho Chúa và khi xưng tội thì phải nhớ chừa cái tội đó đừng lập lại và nhận xét rằng thuyết nhân quả của nhà Phật rất hay nhưng đôi khi Phật tử lạm dụng thuyết nhân quả để chê đè người khác và vì thế làm cho người ta đau khổ. Bạn thấy nó đúng không? Nó mới hai mươi bảy tuổi và đôi khi nó nói chuyện đạo Phật làm tôi cũng ngẩn ngơ. Nó nghiên cứu đạo Phật bằng tiếng Mỹ. Tôi học Phật bằng tiếng Việt. Không biết có khác nhau nhiều không?

Nói cho bạn mừng dùm là dù thiểu số nhưng đạo Phật trong nhà tôi vẫn thịnh vượng. Tôi chưng bày tượng Phật tùm lum, trong vườn hoa đằng trước, trong sân đằng trước, trong vườn hoa đằng sau, trong sân đằng sau, ngay giữa vườn, trong luống hoa, giữa bụi lan... Bàn thờ Phật ở phòng khách, bàn thờ Phật trong phòng thờ, tượng Phật trên đàn dương cầm, tượng Phật trên đầu ti vi. Đây cũng là một tội ăn hiếp người (chồng) quá đáng, chắc kiếp sau lại phải trả thôi.

Rồi cách đây hai tháng, khi anh và tôi cùng ở tuổi bẩy mươi, phải bạn ơi cái tuổi 'thất thập cổ lai hi' đó, thì có một người quen từ Việt Nam qua chơi. Người nầy đã đi tu Chúa khi còn con gái mười bẩy tuổi và hiện nay năm mươi bẩy tuổi và đã được lên chức Mẹ Bề Trên. Trong khi trò chuyện, Sơ (xin tạm gọi như thế cho gọn) khám phá ra là chồng thì đạo Chúa chánh gốc (quên nói cho bạn biết là bố chồng mình gốc gác người Ý), đã được rửa tội, đã hưởng hết các phép ban ơn v.v.. mà lại đi cưới một người vợ ngoại đạo, lại còn không bắt vợ theo đạo của mình. Thế thì khi chết sẽ không được vào nước Thiên Đàng, sẽ không được Chúa tha thứ, sẽ xuống địa ngục v.v.. Và Sơ chỉ cho tôi nên đi kiếm Cha để xin Cha làm phép, xin Chúa tha tội cho ông xã để ông xã được trở về với Chúa.


Tôi hoảng hồn nghĩ mình thật là tội lỗi, bấy lâu nay chỉ lo cho linh hồn của mình, còn người bạn đời thì mình lại thờ ơ, may mà có Sơ nhắc nhở. Tôi bèn dịch lại những lời Sơ nói. Ông xã vẫn làm thinh (lại cho bạn biết anh là người ít nói nhất thế gian, bạn có biết tại sao không? Vì chị vợ đã nói hết thời gian rồi, anh chồng làm gì còn chỗ và thời gian để nói nữa, đã cưới nhau bốn mươi năm rồi, phải quen tánh quen nết chớ, phải không bạn?). À hình như anh có lầm thầm cái gì là anh chưa từng bao giờ bỏ Chúa thì tại sao phải trở lại? Tôi thì sợ hãi nên thúc giục anh mau đến tìm Cha.

Bạn có thấu hiểu được nỗi đau lòng của tôi không? Chắc là không. Vì để hiểu được bạn phải ở trong hoàn cảnh nầy và tôi thì không muốn cho bất cứ ai vướng vào cái vòng tục lụy nầy hết. Giống như cái ông gì đó (trí óc tôi lúc nầy chậm chạp quá, đã quên béng tên ổng) đang làm quan lớn với đầy đủ vợ đẹp, con khôn, quyền cao, chức trọng thì bỗng giựt mình tỉnh giấc Nam kha thấy mình vẫn đang ngồi dưới đất, vợ con không, lầu đài không, tiền bạc không, quan chức không.

Giống như bạn, tôi đã "cho anh cả cuộc đời", những tưởng mình đã cùng ai chung chịu nhục nhằn, hạnh phúc, đã cùng ai nở nụ cười, lau nước mắt, đã cùng ai ngẩng mặt, cúi đầu... Ngờ đâu bừng con mắt dậy thấy mình tay không! Mình đã đẩy người ta xuống địa ngục, mình là nguyên nhân để người ta xuống địa ngục. Bạn khuyên tôi phải làm sao? Người ta xuống địa ngục chưa thì tôi không biết, mà tôi thì đã ở trong đó rồi. Lòng tôi tan nát, bạn ơi. Tôi phải đọc tụng kinh gì hả bạn? Lương Hoàng Sám? Thủy Sám? Mà tụng thì ăn thua gì! Nếu tụng mà hết được tội đẩy người xuống địa ngục thì tôi nguyện đọc mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút , từ đây cho đến hết cuộc đời.

Ngày hôm sau khi ngồi ăn cơm, dưới cái diã, tôi thấy một cái bao thơ, giống như cái card chúc tết hay chúc sinh nhật vậy. Tôi ngạc nhiên vì không phải tết, cũng chẳng là sinh nhật. Anh chẳng nói gì. Tôi mở card ra đọc những dòng chữ có thể dịch ra Việt ngữ như sau:

"Nếu phải xuống địa ngục và vĩnh viễn bị cấm cửa thiên đàng thì anh sẵn sàng và hạnh phúc chấp nhận. Ngày em nhận lời làm vợ anh là ngày Chúa đã ban ơn phước cho anh và chấp nhận anh vào cõi Thiên Đàng và anh đã ở Thiên Đàng từ dạo đó, nay sao lại còn phải xin xỏ để trở vào? Anh không ăn năn. Anh không ân hận. Anh không van xin. Anh chắc rằng Sơ đã không nhìn thấy những giọt nước mắt của em đã đổ ra cho anh, vì anh, vì hạnh phúc của anh, vì tội lỗi của anh. Nếu thấy thì anh lại tin chắc rằng Sơ sẽ bảo anh:

“ Con hãy cám ơn Chúa đã cho con gặp người vợ ngoại đạo nầy'. Em hãy yên lòng, đừng thúc giục anh tìm Cha. Chúa rất nhân từ và thông cảm. Anh đang ở Thiên Đàng."

Đọc xong, tôi ngẩng lên nhìn anh. Tôi lại để cho nước mắt chảy ra thấm ướt tờ thư. Đã lâu rồi tôi không khóc. Lần nầy tôi không cố ngăn lại. Khóc được cứ khóc bạn ơi. Chỉ sợ rằng mình không khóc được và không được khóc!

Bạn có thấy dị không khi một bà già bẩy mươi tuổi còn khóc được vì một lá thư.. (có thể gọi là thư tình không bạn?). Không, đây không phải là thư Tình! Đây là thư Nghĩa! Tình yêu sôi nổi với dục vọng, với ghen tương, với giận hờn đã qua lâu rồi. Đây là sự thương yêu, nâng đỡ, dắt dìu nhau của hai con người đang đi vào đoạn cuối của cuộc đời mà không lãng quên những hứa hẹn ở buổi ban đầu. Đây là Nghĩa Vợ Chồng. Dù cho bạn có thành hôn với người Việt Nam, người Mỹ, người Trung Quốc, người Đại Hàn, người Pháp, người da đen, da trắng, da màu... thì nó vẫn tồn tại và rực rỡ trong tâm bạn.

Tôi hy vọng mãnh liệt rằng Chúa sẽ không bắt tội anh vì tôi tin rằng anh đã sống giống như ý Chúa: Thương Yêu, Trung Thành và Nhân Ái.

Đây là một phần câu chuyện đời lộn xộn của tôi và tôi xin chia xẻ cùng bạn với tất cả trái tim tôi. Có tội hay không có tội? Anh đã đi trật đường của Chúa dạy? Anh đang từ bỏ Thiên Đàng và trên đường xuống địa ngục? Anh thật không biết. Tôi là tên ác quỷ đang đẩy người vào chốn tối tăm? Tôi thật không biết. Chúng tôi chỉ biết cầu xin Chúa và Phật cho chúng tôi được có mặt bên nhau những khi hoạn nạn, được giúp đở nhau những lúc vấp ngã, được nấu cho nhau chén cháo trong lúc ốm đau, được nắm tay nhau mỉm cười khi mở cửa nhà đón đàn con cháu.

Bạn ơi, tôi không cần phải có bàn thờ và anh thì không cần phải kiếm Cha để rửa tội. Tôi vẫn là một Phật tử thuần thành và anh vẫn làm dấu thánh giá. Chúng tôi không quá "liberal" phải không bạn ? Thiên Đàng và Niết Bàn của chúng tôi có nghĩa là " in the here, in the now" như Sư Ông Nhất Hạnh vẫn nói. Không biết chúng tôi có hiểu đúng ý của Sư Ông không?

Hai chúng tôi Tội Lỗi và Hạnh Phúc ngang nhau. Cả Phật, cả Chúa đều rất Bác Ái và Công Bằng, Bạn đồng ý không?

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 27 2015, 03:41 AM
Gửi vào: #47


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chiều Thanksgiving Nghĩ Đến Cuộc Tình Cờ
Trần Kiêm Đòan
- Tên họ cháu là gì?
- Tony Nguyễn.
- Vậy cháu là người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American) ?
- Không, tôi là người Mỹ (American).
- Không có ai là người Mỹ “ròng” tại xứ Hoa Kỳ nầy cả. Chỉ có người
Da Đỏ thường được xem là người Mỹ Nguyên Gốc (Native American) ở
đây thôi. Nhưng thực ra họ cũng là người xứ khác đến đây sớm nhất
mà thôi. Đây là đất nước hợp chủng nên mỗi dân tộc trước khi thành
người công dân Mỹ đều có tên xứ gốc của mình đứng ở đằng trước
như người Mỹ gốc Nhật, người Mỹ gốc Hoa, người Mỹ gốc châu Phi,
người Mỹ gốc Anglo...
- Tôi không cần biết chuyện của người khác. Tôi chỉ biết tôi là người Mỹ.
- Không thể được. Theo luật pháp, cháu không có quyền chọn lựa mà phải xác nhận mình là người Mỹ gốc
Việt.
- Tôi không quan tâm luật pháp gọi tôi là giống dân gì. Tôi chỉ biết tôi là người Mỹ. Chấm hết!
Thằng bé 16 tuổi, nhưng trông tướng mạo già dặn như trên 20 tuổi. Nó nói tiếng Anh, không hề chêm một âm
lai Việt, ngay cả khi nói đến họ Nguyễn của mình, nó cũng phát âm “Uyn” theo kiểu người Mỹ phát âm chữ
“win”. Nó có vẻ hoàn toàn dị ứng với hết thảy những gì liên quan đến Việt Nam.
Suốt 18 năm làm việc cho chương trình “CPS” (Children’s Protective Services: Bảo Vệ Thiếu Niên) với nhiệm
vụ điều tra cho tòa án về hành động phạm pháp ngược đãi con em của cha mẹ hay người nuôi dưỡng – theo
luật pháp Mỹ – đây là lần đầu tôi gặp một thiếu niên Việt Nam cứng đầu và bất chấp đến như thế. Theo hồ sơ
tòa án mà tôi được phân công điều tra và giải quyết, Tony Nguyễn là một thiếu niên “nạn nhân” của trường
hợp bị cha mẹ “hành hạ, ngược đãi”. Đây là một gia đình Việt Nam định cư tại Mỹ đã trên hai mươi năm. Chỉ
có Tony sinh tại Mỹ và là con con út trong một gia đình có 5 anh chị em, bốn người con lớn đều thành đạt.
Tony muốn tự do cá nhân theo kiểu Mỹ; trong lúc cha mẹ lại muốn giáo dục con cái theo truyền thống Việt
Nam bằng cách dùng những biện pháp nghiêm khắc “truyền thống” như la mắng thậm tệ, cấm cản khắt khe,
yêu cho roi cho vọt... Sự xung đột văn hóa âm thầm nhưng mãnh liệt đã tạo ra những ngăn cách thế hệ và
những khủng hoảng tâm lý. Lăng kính tiêu cực và chối bỏ mỗi ngày một đậm khi nhìn nhau. Cha mẹ kết tội
con là “đồ Mỹ hóa”. Trong lúc con cái phản ứng lại, xem cha mẹ như “lỗi thời, còn quá Việt Nam”. Tình cảm
kết tụ bằng hiểu nhau và chia sẻ sẽ thành linh động và yêu thương. Cảm xúc chồng chất bằng khước từ và
bảo thủ sẽ thành đóng băng và xung đột. Đang giữa năm học lớp mười, Tony bỏ nhà ra đi, gia nhập băng
đảng “Asian Blood” và bị bắt khi đang xung trận đấu đá, thanh toán nhau với các băng đảng khác.
Tony bị đưa vào nhà tù thiếu nhi, đợi tòa án thiếu nhi điều tra và chờ ngày xử án.
Theo thủ tục cơ bản, tôi phải tiếp xúc với cả hai phía nạn nhân và can phạm. Thông thường trong một hồ sơ
“trẻ em bị ngược đãi” thì cha mẹ hay người nuôi dưỡng là can phạm và đứa trẻ bị hành hạ là nạn nhân.
Nhưng trong hồ sơ nầy, Tony vừa là nạn nhân vì bị cha mẹ ngược đãi trong gia đình, vừa là can phạm vì theo
băng đảng gây bạo động ngoài xã hội.
Lần đầu tiếp xúc với Tony trong văn phòng phỏng vấn, tôi không ngạc nhiên vì chẳng lạ gì với tính cách
thường làm ra vẻ “hảo hớn” của thiếu niên Mỹ vì biết rằng luật pháp xứ nầy bảo vệ thanh thiếu niên quá mức
cần thiết. Điều làm tôi băn khoăn là thái độ quay lưng chối bỏ quyết liệt nguồn cội của mình. Với tâm trạng đó,
hôm sau tôi đến nhà gặp cha mẹ của Tony. Ông bà Nguyễn ở độ tuổi ngoài năm mươi. Gia đình trên mức
trung lưu với nhà cửa khang trang và công việc làm ăn ổn định. Nói về trường hợp cậu con út Tony, ông
Nguyễn phản ứng đầy giận dữ. Ông chỉ vào bốn khung ảnh lồng bằng cấp bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỹ sư của
bốn người con lớn treo ở phòng khách như một bảo chứng điển hình cho khả năng làm cha mẹ đúng đắn của
ông bà. Trong lúc bà Nguyễn khóc rấm rức, than thở nhớ thằng con út “đứt ruột đứt gan”!
Nhu cầu công việc và nguyên tắc thu thập dữ kiện không cho phép tôi đi xa hơn những vấn đề cần biết mà chỉ
xoáy vào trọng tâm về cách dạy con trong gia đình ông bà Nguyễn có hay không những điều sai trái trên căn
bản luật pháp Hoa Kỳ. Ông Nguyễn vẫn khăng khăng cho rằng, cách dạy con “yêu cho roi cho vọt, ghét cho
ngọt cho bùi” áp dụng với đứa con út “Mỹ con” của ông là đúng. Theo ông, nếu cách dạy con của ông sai thì
tại sao các con lớn của ông đều thành tài, ra trường là bác sĩ, kỹ sư. Vì không ở trong vị thế tham vấn, nên tôi
chỉ ghi nhận lời xác định của ông đối với Tony để cho tòa án xét xử và phán quyết.
Những lần sau gặp và nói chuyện với Tony, tôi biết thêm những điều thú vị rằng, cậu bé nói được tiếng Việt
kha khá và thích nhạc Việt vì được bà ngoại chăm sóc và nuôi lớn suốt thời hoa niên trong khi cha mẹ suốt
ngày bận bịu với công việc làm ăn. Những đứa trẻ thuộc thế hệ thứ hai của những gia đình di dân trên đất Mỹ
thường nhìn về quê hương nguồn cội của mình qua hình ảnh cha mẹ. Ông Nguyễn đóng vai trò then chốt
trong gia đình là “bóng dáng quê hương” trước mắt đứa con gốc Việt sinh ra trên đất Mỹ. Bởi vậy, khi ông
Nguyễn trở thành “kẻ ngược đãi” trước mắt Tony thì phản ứng chống đối và tâm lý chối bỏ người cha đã lan
tỏa làm mờ mịt cội nguồn.
Chuyện tòa án, luật pháp, nguyên tắc... là những quy ước xã hội. Nhưng bên cạnh trách nhiệm hành xử một
vụ việc theo quy ước như những chuyên viên đồng sự người Mỹ, tình cảm Việt Nam vẫn thường xuyên cựa
quậy trong tôi. Tâm hồn người cha Việt Nam nửa đời đất khách và đứa con sinh ra ở Mỹ đều được tưới tẩm
trong mỗi nền văn hóa Đông Tây. Muốn chung sống hòa hợp cần mở lòng chấp nhận sự khác biệt của nhau.
Tôi đã đem điều tâm cảm nầy làm phương tiện hóa giải sự xung đột giữa ông Nguyễn và Tony.
Lễ Tạ Ân – Thanksgiving, với bốn ngày nghỉ liên tục – là thời điểm mang ý nghĩa sum họp, đoàn tụ gia đình
thiêng liêng nhất trong năm đối với người Mỹ. Trường hợp gia đình ông Nguyễn đã được giải quyết. Ông bà
Nguyễn bị phạt theo luật định về tội “ngược đãi” con cái. Tony bị đưa vào trại Giáo dục Thiếu niên (Boys
Ranch). Hồ sơ tạm đóng trong hệ thống công quyền Mỹ nhưng vẫn còn mở trong lòng tôi, tấm lòng của một
người Việt Nam sống xa quê hương nhưng không xa tình tự dân tộc.Tôi đã chọn thời điểm nầy làm chiếc cầu
nối giữa hai cha con ông Nguyễn.
Chiều Thanksgiving trời lạnh và mưa phùn lất phất, tôi lái xe chở bà ngoại của Tony đến Boys Ranch cách
Sacramento chừng 50 cây số. Khu trại nằm lặng lẽ trong mưa ẩn sau rừng sồi già cỗi. Toàn cảnh vắng vẻ vì
hầu hết các thiếu niên trại viên đã được gia đình bảo lãnh về nhà ăn lễ Tạ Ân. Người quản đốc trại, cũng là
bạn quen lâu ngày trong công việc, đưa chúng tôi vào khu nhà ngủ của trại viên. Cuối hành lang xa hun hút là
phòng của Tony. Tiếng nhạc Việt “Xuân nầy con không về” vẳng ra từ căn phòng nhỏ nghe như âm hưởng lạc
loài từ một không gian quá khứ. Từ bên ngoài khung cửa nhìn vào, hình ảnh Tony ngồi gục đầu trên chiếc bàn
nhỏ cạnh cái Ipod đang phát ra lời hát Việt làm tôi nao nao. Từ phía sau, bỗng vang lên tiếng kêu thảng thốt
đầy xót xa và thương cảm của bà ngoại lâu ngày không gặp cháu:
- Tony, con ơi! Ngoại đây nì!
Thằng bé ngạc nhiên đứng lên, quay đầu ra và bắt gặp ngay bà ngoại đang dang tay ùa tới ôm cháu. Tiếng
kêu mừng rỡ và cảm xúc không còn khoảng trống cho một sự đắn đo ngăn trở. Tên du đảng hè phố Mỹ chợt
hiện nguyên hình là đứa bé Việt Nam cả một thời thơ ấu được thấm đẫm tình yêu gia đình trong tiếng ru của
bà ngoại. Nước mắt lưng tròng, nó thốt lên bằng tín hiệu trái tim:
- Ngoại!
Người quản đốc và tôi lãng ra ngoài phòng tiếp tân.
Theo sự dàn xếp trước với ông bà Nguyễn và gia đình, tôi bảo lãnh cho Tony về nhà năm ngày trong dịp lễ Tạ
Ân. Khi chiếc xe rẽ vào sân trước vừa dừng lại, ông bà Nguyễn và cả gia đình ùa ra ôm chầm Tony. Trong
phòng khách sáng lên với hoa đèn có đủ mặt gia đình, ông Nguyễn ôm vai Tony, với một chút khó khăn nhưng
đầy thương yêu và quyết đoán, ông nói như chưa từng nói với con mình trong quá khứ:
- Ba xin lỗi con. Ba mẹ và cả nhà ai cũng thương con hết, con biết không?
Thằng bé cúi đầu, nói tiếng Việt như lần đầu biết nói:
- Dạ. Con xin lỗi ba mẹ...
Khi tôi khéo léo kiếu từ để trả lại không khí đầm ấm đoàn tụ của gia đình, Tony ngập ngừng, nói với:
- Bác ơi! Bác xin cho con về nhà. Con muốn đi học lại.
Môi trường xã hội như phương Tây, cha mẹ dạy con theo cách của mình như ông bà Nguyễn, hệ thống bảo
vệ và giáo dục thanh thiếu niên như Hoa Kỳ là hình ảnh một “dĩa xà lách văn hóa” nhìn thì đẹp nhưng chưa
chắc đã là ngon hay có khi khó nuốt nếu không cùng khẩu vị. Tony cũng như hàng vạn những người trẻ tuổi
Việt Nam lớn lên nơi xứ người, mỗi ngày một xa lạ dần với nguồn cội. Đã có người ví người Việt tha hương
cũng mang tâm sự của đàn cá Hồi, cứ năm năm theo sự luân chuyển của suối nguồn tự tại, bản năng tự
nhiên lại thôi thúc quay về nguồn cội. Thác ghềnh, gió to, sóng dữ và những gian nguy sinh tử chờ chực khắp
nơi trên đường về không ngăn được động lực sinh tồn vô hình vươn dậy.
Mùa Thanksgiving nơi xứ người, nghĩ về quê hương nguồn cội, mình lại lẩn thẩn tự hỏi mình đã ở đâu từ bốn
nghìn năm trước và sẽ về đâu qua bốn nghìn năm sau. Dẫu là hư vô hay luân hồi chuyển hóa, lẽ đâu sự có
mặt hôm nay lại chỉ là một cuộc tình cờ.
Trần Kiêm Đoàn
Sacramento, mùa Thanksgiving 2012
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 2 2016, 01:49 PM
Gửi vào: #48


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ai trong chúng ta lại chẳng từng đọc những chuyện thần tiên của văn hào Đan Mạch Andersen. Ông được toàn thế giới biết đến như một người đầy lòng nhân ái và một tài năng vĩ đại. Tài năng ấy đã hiến tặng cho đời những câu chuyện tuyệt vời không chỉ làm mê say hàng triệu trẻ em mà còn làm rung động trái tim bao nhiêu người lớn tuổi. Trong những truyện nổi tiếng nhất của ông phải kể đến “Cô bé bán diêm”. Chuyện ấy ra đời trong trường hợp nào? Cô bé bán diêm đến với chúng ta hoàn toàn do trí tưởng tượng của Andersen hay đó là một nhân vật có thực? Hẳn các bạn cho đấy chỉ là một nhân vật tưởng tượng của văn hào Đan Mạch. Nhưng không, cô bé ấy đã thực sự có mặt trên đời này và đã từng đi qua cuộc đời Andersen...

Một buổi tối mùa thu, tại một khu phố thuộc thành phố Copenhague, Đan Mạch.
Sau khi đi dạo, Andersen lững thững quay về theo con đường lớn. Các nhà hai bên đã lên đèn từ lâu. Vài cửa hiệu sắp đóng cửa. Những cơn gió thu lạnh lẽo thỉnh thoảng lại kéo nhau đùa chạy vào đây, làm giật mình những cây thiêm thiếp ngủ và rắc xuống đường những chiếc lá héo khô. Gió lùa lá rụng chạy lao xao trên đường. Trong bầu trời đen thăm thẳm, vài vì sao lẻ loi run rẩy như hỗ thẹn cho cái ánh sáng yếu ớt của mình.
Vào giờ này, phố xá chỉ còn ít người qua lại. Với Andersen, điều ấy chẳng hề chi. Ngược lại càng khiến chàng thêm thú vị, bởi những nơi yên ả, những tối thanh vắng với chàng bao giờ cũng là người bạn thân yêu. Chúng khêu gợi hồi tưởng cho chàng những ý nghĩ diệu kỳ. Chính những lúc ấy chàng sáng tác rất dễ dàng. Nhiều chuyện cổ tích của chàng đã ra đời thế đó.

Tối nay là tối cuối cùng Andersen còn ở khu phố này. Đây là nơi cư trú của một người bạn thân xưa cùng học một trường, người mời chàng tới thăm hơn tuần nay. Đó là một khu phố khá đẹp với phần lớn là những con đường rộng rãi chạy qua những dãy nhà tiện nghi, những hiệu buôn giàu có bán đủ loại hàng xa hoa. Nhiều nhà giàu đi đâu đã có sẵn cổ xe song mã. Thỉnh thoảng mới thấy vài căn nhà cũ kỹ nằm khép nép bên cạnh những ngôi nhà lộng lẫy kiêu kỳ. Cao vút lên giữa phố là tháp chuông của giáo đường cổ kính mỗi sớm tinh mơ lại buông vào khoảng không tĩnh mịch những hồi chuông ngân nga.
- Chú ơi, mua hộ cháu bao diêm!
Một tiếng nói khàn khàn, mệt mỏi chợt vọng tới tai Andersen.

Đằng kia, trước mặt chàng hơn mười bước là một người đang ngồi co ra trên thềm cửa một ngôi nhà cao ráo. Ánh sáng đèn từ trong nhà chiếu ra cho chàng thấy đó chỉ là một đứa bé con. Hẳn nó đã nói ra những lời vừa rồi.
- Tối lắm rồi, sao cháu chưa về nhà ngủ? Andersen bước đến, ái ngại. Đấy là một cô bé chừng hơn mười tuổi, run rẩy trong bộ quần áo vá víu, bẩn thỉu. Vai áo rách để lộ ra chiếc vai gầy còm. Nhìn gương mặt hốc hác của em, có thể đoán em phải chịu cảnh thiếu ăn thiếu uống từ lâu.
- Xin chú, mua hộ cháu bao diêm! Tay cầm bao diêm, cô bé chỉ vào chiếc túi con căng bên cạnh, khẩn nài. Cả ngày cháu chẳng bán được gì. Cũng chẳng ai bố thí cho cháu đồng nào.
Cô bé rơm rớm nước mắt. Thân hình tiều tụy, ốm yếu của em run lên khi gió lạnh thổi qua.
- Thế sao? Andersen chạnh lòng. Chàng khẽ vuốt mái tóc dài xõa thành búp trên lưng cô bé. Gia đình cháu đâu cả? Không ai lo cho cháu sao?

Cô bé buồn bã lắc đầu. Em bùi ngùi kể lại những năm xưa khi còn sống trong ngôi nhà xinh đẹp với những dây trường xuân leo quanh. Từ khi bà em qua đời, gia sản lụn bại, gia đình em phải lìa bỏ mái nhà thân yêu đó để chui rúc trong một xó xỉnh lụp xụp, tối tăm.
- Không có tiền, cháu không dám về nhà vì bố sẽ đánh cháu mất thôi. Cô bé nhìn Andersen, ánh mắt cầu khẩn. Thực vậy , em có một người cha ác nghiệt. Hơn nữa về nhà cũng chẳng hơn gì. Hai cha con chen chúc nhau trên một gác xép tồi tàn, gió rét vẫn lùa được vào dù đã bịt kín những chỗ thủng trên vách.

Lúc này, đôi chân cô bé đã lạnh cóng. Chân em mang đôi giày vải cũ mòn, rộng thình do mẹ em để lại.
- Cháu đừng lo. Andersen cho tay vào túi lấy ra một số tiền đặt vào bàn tay bé bỏng của em. Còn bấy nhiêu, chú cho cháu cả. Cháu mau về nhà kẻo chết cóng mất thôi.
- Ôi lạy chúa. Vẻ đầy mừng rỡ, cô bé hôn tíu tít lên tay chàng. Từ ngày bà cháu mất đi, chú là người thương cháu nhất trên đời. Với món tiền này, bố con cháu sẽ được nhiều bữa no.
Chàng mỉm cười, nụ cười đầy hiền dịu:
- Chú sẽ còn cho cháu nhiều thứ nữa. Chú sắp đi xa, đầu năm tới mới trở lại. Khi ấy, chú sẽ tặng cháu một món quà đặc biệt.
- Ồ thích quá. Còn cháu, cháu cũng sẽ tặng chú một món quà. Mà chú tên gì nhỉ?
- Chú là Andersen. Chàng âu yếm nắm đôi vai gầy của cô bé. Cháu có bao giờ nghe cái tên ấy chưa?
- Tên chú nghe quen lắm. Cô bé nhìn đăm đăm gương mặt trầm tư có chiếc mũi khoằm của chàng. Chú có phải là thợ mộc không?
- Không phải. Andersen mỉm cười lắc đầu.
- Thợ may?
- Cũng không
- Hay chú là thầy thuốc?
- Ồ , không phải đâu.Thế này này...
Chàng đưa ngón tay trỏ viết viết vào không khí, vẻ đùa cợt.
- A, Cô bé reo lên. Cháu hiểu rồi, chú làm nghề bán bút !

Andersen chỉ tủm tỉm cười. Chàng yêu cô bé quá. Em khiến chàng nhớ đến thời thơ ấu của mình và thành phố Odense cổ kính, nơi tuổi thơ của chàng êm ả trôi qua. Là con một trong gia đình nên dù cha chỉ là bác thợ giày nghèo, cậu bé Andersen hầu như chẳng phải mó tay vào bất cứ việc gì ngoài mỗi việc là mơ mông liên miên. Cậu bé ấy lắm khi chỉ thích bầu bạn với chiếc cối xay già nua đứng run rẩy bên bờ con sông hiền lành của thành phố quê hương.

Thế là chuyến đi đã qua. Một cuộc du lịch kỳ thú và đáng nhớ. Không kỳ thú sao được khi được chiêm ngưỡng những cung điện tráng lệ của Paris, được tận mắt nhìn thấy những đền đài hùng vĩ của Roma do chính bàn tay con người tạo dựng nên hàng ngàn năm trước. Không đáng nhớ sao được khi được bơi thuyền trong kinh thành Venise, được hít thở bầu không khí tuyệt diệu của bờ biển Địa Trung Hải luôn mịn màng cát trắng và lộng gió bốn phương...

Nhưng thôi, xa rồi Paris, xa rồi Roma..., giờ đây chàng lại về thăm khu phố hôm nào. Khu phố vẫn thế, có gì khác trước đâu. Có khác chăng là phố phường giờ này đang run lên cầm cập vì những cơn mưa tuyết và những luồng gió lạnh cắt da. Trời đã sang đông. Bông tuyết bay vần vũ khắp nơi. Tuyết ôm ấp cây cối bên đường, tuyết phủ trên các mái nhà, tuyết đậu lên vai lên cổ mấy chú xà ích gà gật. Đông này có phần lạnh hơn đông trước. Mưa tuyết khoác lên khu phố một tấm áo choàng trắng muốt như bông.

Ô kìa ... Sao Andersen bỗng đăm chiêu thế? Có chuyện gì chăng?

Thôi rồi, chàng đã quên ... phải, chàng đã quên lời hứa với cô bé bán diêm rồi. Chàng vẫn định bụng tặng em một món quà đặc biệt. Để cho cô bé một bất ngờ, chàng không hề nói trước. Đây chính là câu chuyện cổ tích mới nhất của chàng với lời đề tặng của chính tác giả dành cho một em bé bán diêm. Ở tuổi này, có lẽ em chưa thể hiểu hết ý nghĩa của món quà. Nhưng khi lớn lên, khi đã là một thiếu nữ mơn mởn yêu đời, em sẽ hiểu ra giá trị của nó, sẽ ghi nhớ suốt đời những phút giây hạnh phúc được trò chuyện với văn hào Andersen mà tên tuổi đã vang lừng khắp châu Âu. Em sẽ thấy ngay một người như Andersen cũng không bỏ rơi em. Và cuộc đời dù gì vẫn còn tươi đẹp lắm.

Có thế cũng quên mất. Tệ quá, chàng tự trách mình đã quá mải mê với chuyến viễn du đến nỗi quên khuấy lời hứa với cô bé bất hạnh mà giờ này hẳn đang lang thang đâu đó với chiếc túi đầy diêm.

Nhưng thôi, chắc gì cô bé còn nhớ lời hứa ấy. Việc trước tiên là phải mua ngay cho em một chiếc áo len. Phải, một chiếc bằng lông cừu thật dày, thật ấm để em qua được cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông...

- Thế cháu cỡ bao nhiêu, thưa ông? Ông chủ tiệm quần áo ở đầu đường lớn hỏi Andersen khi chàng tỏ ý muốn mua một chiếc áo lông loại nhỏ.

- Tôi muốn mua cho cô bé bán diêm.

- Cô bé bán diêm...cô bé bán diêm nào nhỉ? Ông chủ tiệm ngẫm nghỉ vài giây. Có phải con bé lôi thôi lếch thếch ngày ngày đi rong với chiếc túi đầy diêm đấy không?

Thế rồi, vẻ mặt áy náy, ông khẽ vỗ vai Andersen:

- Con bé chết rồi còn đâu. Ngày đầu năm mới người ta nhìn thấy nó chết cóng từ lúc nào ở một góc tường giữa hai ngôi nhà. Cái xác cứng đờ của nó ngồi giữa những bao diêm, trong đó một bao đã đốt hết nhẵn. Có lẽ nó muốn sưởi ấm. Có điều lạ là hai má nó vẫn hồng và đôi môi giống như đang mỉm cười.

- À, này...ông ta lại tiếp trước khuôn mặt chết lặng của Andersen. - Khi mang xác nó đi, người ta thấy trong túi nó rơi ra vật gì giống như một chiếc quản bút làm bằng những que diêm. Hẳn nó dành sẵn để tặng ai vì kèm theo chiếc quản bút là mảnh giấy có ghi mấy chữ: Tặng chú Andersen.

Andersen quên khuấy món quà ông định tặng cô bé bán diêm. Nhưng cô bé, cô bé vẫn nhớ đến lời hứa của mình với vị khách tốt bụng buổi tối mùa thu. Hàng thế kỷ qua, hàng triệu con người trên trái đất đã nghe tim mình thổn thức mỗi khi đọc câu chuyện về cô bé đáng thương của văn hào Đan Mạch. Phải chăng Andersen đã viết câu chuyện ấy như một món quà tặng hương hồn cô bé bán diêm?

Trần Thế Kỷ
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 6 2016, 08:15 AM
Gửi vào: #49


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Gái Hà Nội về quê ăn Tết
Tôi lấy chồng được 2 năm, tết nào cũng về quê chồng ăn Tết gần nửa tháng. Tôi làm ở công ty nước ngoài, dưới quyền tôi có 20 nhân viên toàn tốt nghiệp đại học ở nước ngoài.

Chồng tôi là người ngoại tỉnh, tôi quen anh hồi đại học, mến tài anh, chúng tôi yêu nhau rồi kết hôn, cuộc sống bộn bề nhưng thông cảm hiểu biết lẫn nhau, chúng tôi hạnh phúc.
Tôi sinh ra và lớn lên ở thành phố, chưa từng về quê lâu ngày, trừ dịp tết.

Cứ 25 hay 26 tết, chúng tôi lại về quê. Tôi tính đoảng. Chồng tôi mua đủ thứ măng miến mộc nhĩ linh tinh, anh nói của tôi mua.

Nhà chồng tôi có bố mẹ chồng, vợ chồng anh trai chồng cùng 2 đứa cháu, và cô em gái chồng.

Khi vợ chồng tôi về, mọi người tay bắt mặt mừng, vợ chồng tôi có chốn riêng vì nhà khá rộng, có 5 gian, ở 2 chái nhà có ngăn thành phòng thì dành cho ông bà và vợ chồng anh tôi, em chồng ở nhà dưới, 3 gian giữa cho vợ chồng tôi và trẻ con. là chồng tôi nói thế.

Tôi thì không hiểu "gian" ở đây nghĩa là thế nào, chỉ là cái nhà cỡ 40m2, không hề có tường ngăn, hóa ra 5 gian là nói về độ rộng, 1 gian rộng vài mét vuông, nếu có cột thì rõ hơn, chùa trăm gian cũng không to lắm, thì nhà 5 gian các bạn tưởng tượng được.

Gọi là phòng, nhưng nó là 1 cái gường, tô hô sát gian chính, che bởi cái ri-đô, sát với cái ghế sa lông ở chính giữa, nếu ai đó dựa lưng vào thành ghế, sẽ động đánh "cục " một cái vào gường ngủ của tôi. Chúng tôi cũng không dám quan hệ, vì cái gường long-mộng luôn dập kình kịch vào tường mỗi khi có dao động trên nó.

Thật lòng, tôi rất không vui khi ngủ như vậy, mà suốt cả dịp tết, các chị ạ, có 1 cái của sổ ở gường của tôi, nhưng tôi không bao giờ dám mở, vì cửa sổ trông ra nhà vệ sinh và cái chuồng lợn, con lợn đáng ghét đó kêu ịt ịt suốt đêm và luôn va lục cục khiến tôi chỉ mong giao thừa đến sớm, con lợn đó sẽ bị chọc tiết trước giao thừa.

Điều đầu tiên tôi ngạc nhiên là đánh răng, tôi không dám để bàn chải đánh răng của tôi cạnh những bàn chải của anh chị em chồng. Thậm chí tôi không dám gọi những thứ kia là bàn chải đánh răng, nó mòn vẹt, cán cầm đã từng có mầu gì đó tôi đoán là xanh hoặc tím nhưng đã bạc hết, những sợi nhựa rẻ tiền tòe ra 2 bên như những sợi râu mép, nếu đánh răng, tôi tin họ phải đánh nghiêng bàn chải, vì ở chính giữa không có gì, các sợi nhựa đã cong hết sang 2 bên.
Sau khi đánh răng xong, tôi cất bàn chải của tôi đi.
Khăn mặt cũng là 1 vấn đề, họ không dùng riêng khăn mặt, chỉ có độc 1 hoặc 2 hay 3 cái, chung cho tất cả, và khăn nào cũng trông có vẻ tốt khi nó khô, nhưng khi nhúng nước, nó trở lên nhớt như một con lươn, khiến tôi rất sợ.
Khỏi phải nói, khi dùng khăn xong, tôi cũng cất đi.

Nhờ giời, quê chồng tôi có 1 bể nước mưa, những con bọ gậy và côn trùng có chân như mái chèo luôn giãy đành đạch trong đó, mỗi khi tôi múc nước vào cái chậu nhôm, luôn phải vớt chúng ra, sau khi than thở với chồng tôi, anh ra ao (tôi kể về cái ao sau) câu lên vài con cá nhỏ nhỏ đòng đong mài mại hay con gì đó anh nói tên mà tôi quên mất, đem thả vào bể..
Thật kỳ lạ, chỉ sau 1 ngày đêm, mọi con bọ trong bể nước mưa đều biến mất hết, tôi chưa kịp cám ơn chồng thì hôm sau nữa, 1 con cá chết thối từ khi nào, mắt lồi ra, bụng ngửa lên, khiến tôi không dám dùng nước mưa hôm đó. mà ra ao thì tôi lại sợ..

Mọi sinh hoạt rửa ráy ở quê chồng tôi, đều ở cầu ao. luôn có mấy con vịt kêu cạc cạc bơi quanh đó. bọn này buổi đêm cũng hay ré lên, khiến tôi cũng mong giao thừa đến sớm, bọn này cũng chung số phận với con lợn đáng ghét.

Cầu ao, là 1 cái bậc, giống như cầu thang nhà tôi, nhưng họ xây khi chưa có nước, khi nước ngập lên, thì gọi là cầu ao, nhà chồng tôi giàu có, lên cầu ao xây bằng đá xanh.
Vào buổi sáng, khi cậu con trai nhỏ của anh chồng tôi muốn đi ngoài, mẹ nó bê nó ra cầu ao, xi nó ỉa, và rửa đít thằng bé tại cầu ao, và thật kì lạ, buổi trưa, chị bê rổ rau ra chính chỗ đó để rửa, tôi sợ, không dám ăn rau.

Cần phải nói để các bạn hiểu, ở quê chồng tôi, cầu ao là nơi làm tất cả mọi việc về rửa ráy, họ rửa tất cả ở đó, chân, bát nồi niêu, bu gà, đáy của cái lồng chim, ( toàn phân chim)...
Và bọn trẻ con, vẫn ngồi ở cầu ao ỉa xuống.
Tôi cũng thấy, rất nhiều cá con tung tăng ở cầu ao chờ ăn đồ miễn phí.
Về quê chồng, vấn đề vệ sinh thực sự là ác mộng..
Tôi từ bé đến lớn, vẫn dùng hố xí bệt, và tôi hay cầm quyển sách để đọc khi hành sự.
Về quê anh, đi đại tiện thật sự là mối kinh hoàng.

Buổi đêm, đó hầu như là bất khả thi, tôi phải cầm 1 cái đèn pin ( đó là lần sau, chứ lần đầu ko có đèn pin tôi phải dùng đèn dầu, cái bóng đèn luôn muốn rơi ra khi tôi di chuyển) đi bộ vòng ra sau nhà, gần cái cửa sổ phòng ngủ của chính tôi, qua chuồng lợn, trèo lên vài bậc chông chênh, và chui vào cái hố xí kinh hoàng đó. Nó có 1 cái lỗ đen kịt, có 2 viên gạch kê chéo để đặt chân, cái lỗ được bịt kín bởi 1 cái tròn như cái đĩa bằng bê tông, giữa có cái lỗ, và 1 que tre to dài chọc vào lỗ đó, để đi vệ sinh, tôi phải cầm vào cán tre kinh tởm đó ( tôi luôn lót giấy ) mở cái lỗ ra, và đi vào cãi lỗ đen mịt mờ đó, khi xong việc, tôi lại đậy cái lỗ lại sau khi đẩy 1 lớp tro than lên trên.
Và ruồi nhặng thì quá kinh khủng, dù ở đâu, trong nhà hay ngoài sân, tôi luôn nghe tiếng vỗ cánh e e e e của chúng, và chúng luôn bậu vào mặt tôi khi tôi díp mắt buổi trưa, và cố hút cái gì đó quanh mép tôi.

Nhà chồng tôi rất tốt với tôi, tuy nhiên tôi cũng phải làm nhiều việc, tôi luôn phải nấu nướng 1 cái gì đó, tôi có cảm tưởng, ở quê, họ ăn không ngưng nghỉ.
Cái bếp quê chồng là nỗi kinh hoàng với tôi, nó là 1 bãi rác không hơn khi lần đầu khi tôi vào bếp. rơm , củi, cành tre và giấy vụn khắp nơi.
Nó tối mịt dù ban ngày do toàn bộ bếp là màu đen do ám muội, và đun bằng rơm và củi, công nghệ mới được áp dụng là cái lò bằng than có quạt, nhưng lò đó luôn có 1 cái nồi to tướng phía trên đun 1 cái gì đó, hết nước thì đến cám lợn, rồi lại nước.. rồi cám.
Lần đầu tập đun bếp bằng rơm, tôi làm cháy luôn cái que tre dùng để ủn rơm vào, và cũng suýt làm cháy cả cái bếp, trong bếp đầy những tre gỗ nhỏ để đun, rơm thì hết lại ra rút ở vườn..

1 điều làm tôi không vui là bố chồng tôi, mặc dù ông rất quý tôi, đó là việc ông khạc đờm.
Ông hay hút thuốc lào, đó là 1 cái ống tre có cái lỗ để cho thuốc, trong ống tre lại có nước, nước đó tôi làm đổ ra 1 lần và có mùi tởm lợm, bố chồng hay tọp má rít thành tiếng giống như tiếng ta giật bồn cầu.
thuốc lào khiến ông hay khạc đờm, ông hít 1 hơi dài, khạc 1 phát, vài nhổ vào cái ống của riêng ông, giống cái hộp bia 500ml loe miệng. tôi luôn sợ cái lọ đó, tôi luôn dùng chân đủn nó ra xa vì sợ làm đổ nó.
Nhưng lắm lúc ông lười, ông khạc ở gian giữa ( phòng khách ) và hít thêm 1 hơi, ông nhổ ra sân, đàn gà bu lại ăn thứ cám cò kì dị đó.
Nhưng tôi ghét nhất khi ông ngồi ở gường tôi ngủ , và khạc đờm nhổ qua của sổ ( cánh của sổ tôi luôn đóng kín buổi đêm nhưng ban ngày phải mở ) cục đờm bay qua gường của tôi, phi ra ngoài nếu may mắn, nhưng thông thường, cục đờm đó luôn vướng vào chấn song cửa sổ của tôi, quấn rất nhanh vài vòng mà người khạc biết cũng lờ đi. tôi phát điên khi phải lau nó lúc vắng ông, đôi khi tôi quên mất chính xác chấn song nào bị cục đờm bám, thế là phải lau toàn bộ chấn song với cảm giác cục đờm xanh ở mọi nơi, tởm. và để lâu thì nó khô đi, thành 1 thứ keo dính, tôi phải dùng 1 con dao cùn để cạo nó ra.

Mẹ chồng tôi cũng rất tốt với tôi, nhưng bà luôn bị đau gì đó, bà có tật rên.
Cứ đêm là bà đau, đau là rên, lắm lúc bà rên lúc 2 giờ sáng, bà rên kiểu như nửa khóc nửa ai-oán, cộng với tiếng côn trùng nỉ-non khắp nơi, làm tôi nổi gai ốc vì sợ.

Nhà chồng tôi chỉ náo nhiệt từ 28, đó là ngày con lợn bị chọc tiết…
Đó là lúc, cơn ác mộng của tôi bắt đầu, suốt mấy ngày, họ chỉ toàn ăn và uống vào nói, bố chồng tôi khạc đờm gấp 3, mẹ chồng tôi rên to gấp đôi.
4h sáng, tiếng người gọi nhau râm ran, chồng tôi đã dậy từ lúc nào, và tiếng con lợn kêu lập tức đánh thức cả xóm : éc …éc..éc
Tôi trùm chăn kín đầu, bịt vào tai, mà cũng ko chịu nổi, tiếng chồng tôi và anh chồng và các họ hàng to dần xen với tiếng con lợn đang yếu dần, họ gọi nhau đun nước bê nong bê nia chia thịt, rồi tôi nghe tiếng con lợn rống lên trước khi ằng ặng khi bị đâm, thế là xong đời nó.
Tôi phải dậy, vì không thể nằm khi mọi người dậy hết, tôi giúp đun nước, con lợn đã được cạo lông trắng hếu, giờ tôi biết thêm 1 điều về chồng tôi, hóa ra anh là 1 đồ tể chuyên nghiệp. anh thậm chí biết chọc ngón tay vào chậu tiết để nếm tiết canh đo mặn nhạt. khoắng tiết 1 vòng để biết độ đông đặc lâu nhanh. Họ gọi nhau xẻ thịt rồi nhồi làm dồi, rồi giã làm giò, rồi xẻ để gói bánh chưng, tôi gần rời 2 cánh tay vì phải giã giò, là việc duy nhất tôi biết làm. Rồi suốt cả đêm hôm đó, tôi thức để trông nồi bánh chưng, thú thật ngồi ngủ gật canh nồi bánh mà tôi nhớ Hanoi quá, tôi cũng không thích ăn bánh chưng, nó giống như món xôi giã nát với cục mỡ lầy nhầy chính giữa.

Ở quê, xưng hô cũng là 1 vấn đề, tôi xưng chị với vài đứa trẻ và lần nào mẹ chồng tôi bảo : “ấy ấy phải gọi bằng cậu!”có vẻ như bất kì thàng trẻ con nhem nhuốc nào cũng có thể là cậu tôi hoặc anh tôi, đến nỗi tôi phải chào tất cả bọn ranh con bằng cậu cho chắc.
Suốt cả tết, quê chồng tôi lao vào những cuộc rượu liên miên, chồng tôi say suốt, còn tôi và các phụ nữ thì luôn nấu ăn, dọn, rửa.. rồi lại nấu ăn.
Ở quê, tôi nhận ra ai cũng có thói quen rung đùi, mỗi khi ngồi vào ghế, là chân họ rung lên bần-bật, như chứng động kinh, tôi cố quan sát xem họ rung chân phải hay trái, nhưng hỡi ôi, dù chân phải hay trái thì họ đều rung, có người còn rung cả 2 chân cùng lúc, và nếu họ dựa vào gường của tôi thì rung cả gường, giống như đang có 1 cơn động đất nhẹ.
Đến giờ, tôi cũng ko hiểu sao họ lại run rẩy chân khi ngồi ??
Ở quê, tắm cũng là 1 cực hình, suốt cả ngày nấu nướng dầu mỡ, nếu muốn tắm, tôi phải đun 1 nồi nước ( mất cả tiếng để đun nồi nước này ) rồi bê vào nhà tắm với 1 chậu nước lạnh, rồi bê vào nhà tắm là 1 phòng hết sức hẹp không hề có mái che (quê chồng tôi, họ nghĩ nhà tắm thì ko cần mái thì phải), trộn nước nóng lạnh với nhau cho vừa, và ngồi xổm, giội từng gáo nước lên người. và phải nhanh trước khi nước nguội, tôi luôn vừa tắm, vừa suýt soa vì lạnh.

Liền ông ở quê chồng tôi hết sức thô lỗ khi ăn, họ luôn nói rất to như cãi nhau, vừa nhai, vừa nói, vừa hút thuốc, họ chỉ ngừng nói khi ngậm mồm uống hớp rượu hay rít hơi thuốc, và chỉ 1 giây là họ tranh nhau nói, và tôi sợ nhất là hút thuốc, họ thả khói đầy nhà, đến nỗi tôi cảm tưởng đang ở phòng hơi ngạt của đức quốc xã. Và miếng thịt nào tôi ăn, cũng cảm tưởng như ăn thịt xông khói.
Và hầu như lúc nào cũng ăn, 8h sáng họ đã bắt đầu bưng lên mâm rượu thịt đầy tú ụ, và ăn đến 10h đêm luôn.
Suốt chục ngày tết quê chồng, tôi không có 1 ngày an lành, rửa dọn nấu, loanh quanh từ bếp đến cầu ao, đầu tóc xổ tung, quần áo tõa tượi…
Tôi nhớ Hanoi với phòng ngủ của tôi, bồn tắm của tôi, café sáng của tôi, bàn trang điểm của tôi…

Năm nay, tết lại sắp đến, tôi biết chồng tôi sẽ lại giục tôi về quê ăn tết.
Tôi đã qua phố sinh Từ, mua 1 con dao chọc tiết lợn, bản rộng nhất 15 phân, cán gỗ, đầu nhọn hoắt, giá 95 nghìn đồng, đúc từ nhíp xe ô tô gát 69 của liên xô cũ.
Nếu thằng chồng mở mồm bắt tôi về quê nhà nó ăn tết, tôi sẽ đâm nó chết ...rồi tôi đi lấy chồng Mỹ ,dù có về quê chồng cũng không phải ...sống theo tập quán làng quê miền Bắc ...CHXN VN.
Tôi điên rồi các chị ơi….
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 19 2016, 02:16 AM
Gửi vào: #50


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



GHEN

TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THUÝ ÁI

Tối thứ bảy, sau khi ăn cơm xong Quý nghe chồng nói với các con:
- Mấy đứa đi ngủ sớm, sáng mai ba dẫn đi bơi.
Tụi nhỏ nhảy cỡn lên. Trước đây chủ nhật cả nhà Quý hay dẫn nhau đi bơi. Không đi chơi đâu xa được, chỉ vẫy vùng trong hồ bơi cũng là một niềm vui, một sự thư giãn. Quý lớn lên bên sông nước, từ nhỏ đã theo mẹ ra sông hụp lặn, còn chồng Quý lớn lên ở một vùng biển, bơi giỏi như con rái. Nhớ lần đầu tiên hai người đi Vũng Tàu cùng với cơ quan của Quý, anh đã biểu diễn bằng cách bơi thật xa, ngút tầm mắt của cô, khiến Quý cứ đứng trong bờ hoang mang lo sợ. Mãi anh mới bơi vào và vớt được cho Quý một cọng rong dài… Chuyện mới đó mà nghe xa hút, bây giờ họ bận rộn con cái, đi làm, rồi có chút của cải, cứ sợ mất trộm nên chẳng mấy khi cùng nhau đi chơi xa.
Sai con pha nước, lấy tăm, mang thuốc lá, anh phưỡn bụng ngồi xem tivi còn Quý với một thau chén, một cái nhà dơ hầy… Chợt có tiếng chuông cửa. Biết chồng ở trần ngại ra nên Quý vội vàng đi mở cửa. Một dáng phụ nữ hiện ra:
- Xin lỗi, có phải đây là nhà của anh chị Lân không ạ?
- Dạ phải…
- Tôi là bạn của anh, ở Nha Trang mới vào, anh có nhà không chị?
- Dạ có, mời chị…
Trong khoảnh khắc giữa những câu hỏi ấy hai người phụ nữ đã đủ thời gian để ước lượng, dò hỏi, so sánh, đánh giá về nhau, bằng trực giác nhạy bén nhất của phái nữ. Bởi từ cái nhìn đầu tiên mà người phụ nữ này nhìn Quý hiểu rằng người ấy có một mối liên hệ đặc biệt với chồng mình, nếu không, chị ta không nhìn mình với ánh mắt như thế. Bởi đây cũng không phải là lần đầu tiên một người tình cũ của chồng tìm đến thăm. Quý tin rằng đã đến nhà là người ta có thiện chí, nếu không họ tìm cách lén lút với nhau ngoài đường. Gần bốn mươi tuổi mới lấy vợ, Quý tin chồng mình thực sự “rửa tay gác kiếm”, không còn khao khát chinh phục nữa. Bây giờ ngoài năm mươi trông anh vẫn còn rất phong độ. Nhỏ thua chồng cả một con giáp nhưng nhiều lúc Quý thấy mình bắt đầu đuối sức. Nhưng hay đọc những loại sách “Bí quyết giữ gìn hạnh phúc” cô chẳng bao giờ từ chối chồng, mà cái cách của anh thì chẳng thể nào từ chối được. Gần đây cô thấy bạn chồng hầu hết ai cũng có bồ, bồ ruột, nghĩa là có tình yêu thực sự, hoặc bồ bịch, chỉ là cho vui, để thay đổi không khi của một cuộc sống vợ chồng bắt đầu nhàm chán. Ngay cả Hữu, bạn thân nhất của chồng Quý, nhỏ tuổi hơn nên vẫn xem chồng Qúy như một người anh cũng mới có tình nhân. Cái tin ấy làm chồng Quý có vẻ nao nức. Hữu rất hiền, tẩm ngẩm tầm ngầm thật không ngờ. Cô bồ của Hữu dạy Anh văn nên cũng rất Tây. Hữu giấu Quý, vì lâu nay hai gia đình vẫn đi lại, Quý xem vợ Hữu là bạn bè nên sợ cô sẽ nói lại, và biết đâu lại qui kết các ông cá mè một lứa, các bà “liên hiệp” lại với nhau để đánh thì thật là phiền. Nhưng một hôm Hữu lại dẫn người bạn gái ấy đến nhà vợ chồng Quý chơi, giới thiệu là đồng nghiệp. Quý cũng muốn tỏ ra là người hiếu khách, phóng khoáng nên đã mời họ ở lại ăn cơm. Lúc đầu Quý không nghi ngờ gì nhưng cái cách họ nhìn nhau thì không thể giấu được. Hữu ý tứ còn cô bạn thì không, cô ngồi sát vào Hữu, uống chung ly bia với anh, vuốt má anh ngay trong bàn ăn. Cô nầy cỡ tuổi Quý, đã ly hôn, hiện đang sống với cậu con trai đang học lớp sáu. Cô biết chơi đàn, đánh cờ và nói chuyện tiếu lâm, nói rất có duyên khiến Quý cười nghiêng ngả. Ngọc, tên người phụ nữ ấy thuộc dạng mà chỉ tiếp xúc với ai một lúc là không ngại ngùng bộc lộ hết mọi ngóc ngách của đời mình. Cô kể về đêm tân hôn bất hạnh của mình, về người chồng cũ vốn con dòng cháu dõi những bạc nhược, trái ngược với bản chất mạnh mẽ của cô. Lúc sắp về Ngọc thú nhận rằng đến chơi vì tò mò, nghe Hữu kể rằng gia đình Lân rất hạnh phúc, Ngọc không tin rằng ai có hạnh phúc nên đến xem thử. Quý hỏi:
- Thế Ngọc có thấy nhà mình hạnh phúc không?
- Có,có chứ, cho nên mình mới nói ra điều ấy.
Quý cười vang:
- Hạnh phúc giống như thần thánh ấy, người ta chỉ có nghe chứ có ai nhìn thấy bao giờ!
Quý mời Ngọc có dịp cứ đi chơi. Dù thấy Ngọc hoàn toàn khác mình nhưng Quý rất thú vị. Ngọc bộc lộ con người mình rất tự nhiên và hoàn toàn ý thức về điều ấy, cô không sợ người ta đánh giá về mình, điều mà đa số phụ nữ đều sợ. Thế nhưng lời mời ấy khiến chồng Quý không hài lòng.
- Mẫu phụ nữ như Ngọc chỉ để vui chơi chứ không thể làm vợ.
Quý đùa:
- Tất nhiên, em đâu có ý định lấy cô ấy làm vợ.
- Phụ nữ dễ bị ảnh hưởng lắm, chơi với những người phóng túng như thế biết đâu em cũng bắt chước…
- Anh nói thật là ngược đời, lẽ ra em không quy kết anh thì thôi. Bạn bè anh nhiều người bồ bịch lăng nhăng, em không nói anh bắt chước họ…
Người phụ nữ ấy xuất hiện khiến chồng Quý bối rối, anh vào phòng mặc quần áo rất lâu, chắc là để trấn tĩnh. Quý mang nước lên rồi ngồi tiếp khách. Việc khiến Quý tự tin là người phụ nữ ấy lớn tuổi hơn mình. Trẻ hơn bao giờ cũng là một ưu thế, ở người phụ nữ này tuy không giấu được tuổi tác, nhưng có đôi mắt buồn dìu dịu nó khiến chị có nét quyến rũ. Khi người phụ nữ vui người ta không tìm hiểu sao họ vui nhưng khi người phụ nữ buồn sẽ gợi sự tò mò, sao họ buồn? Đặc biệt là ở phái nam, làm cho phụ nữ vui là điều hào hứng, đôi khi là một chiến công. Chả thế mà ngày xưa có ông vua đã xé bao nhiêu lụa quý để người phụ nữ yêu dấu của mình vui cười. Sau nữa là chị toát lên sự đơn côi. Mở đầu câu chuyện chị giới thiệu mình vào thành phố này để thăm con đang học đại học. Vậy chồng chị đâu, không tiện hỏi nhưng Quý thử đoán, họ đã bỏ nhau hay chồng chị đã mất. Mắt buồn của chị dịu dàng lắm, như thế chị không phải là người phải sống trong những vằn vặt, hằn học, cay đắng của sự đổ vỡ, mà thuần tuý chỉ là một nỗi đau buồn không do chị gây ra. Trông chị có vẻ cô đơn, có vẻ chải chuốt, như một vùng đất hoang sơ, màu mỡ sẵn sàng chờ đợi những bước chân khai phá. Chồng Quý lúng túng thấy rõ, chưng diện thấy rõ. Anh đóng bộ, áo bỏ trong quần, chỉ thiếu cái cà vạt…
- Đường vào lâu chưa?
- Dạ đựơc một tuần rồi, em vào thăm cháu, nó đang học năm thứ hai trường Kinh tế…
- Mau quá nhỉ, con mình mới vào trung học…
Qua mấy câu thăm hỏi xã giao họ nói hỏi nhau về quê hương về bạn bè, nhiều chuyện vu vơ hình như để tránh nói một điều gì đó. Quý thấy mình hơi thừa nên xuống nhà xem trong tủ lạnh có gì đãi khách và nán trong nhà bếp khá lâu, cô cảm thấu rằng nếu ngồi đấy là bất lịch sự. Họ là bạn nhau từ hồi đi học, có những cái chung mà cô không được với chồng. Nhưng người khách không ngồi lâu như Quý tưởng, chồng Quý tiễn người bạn xuống cầu thang, ra cổng.
Khi trở vào anh kể sơ về lai lịch mà có đôi lần cô có nghe nhắc đến khi về quê chồng. Hải Đường cùng học với anh một trường nhưng kém đến mấy lớp, goá chồng đã lâu vẫn ở vậy nuôi con. Chiều mai Đường sẽ về lại NhaTrang.
Quý tiếp tục công việc dọn dẹp và nhắc con đi ngủ mà không quên “khuyến mãi” bằng lời hứa của chồng:
- Tối nay tivi không có gì xem đâu, các con đi ngủ sớm mai ba dẫn đi bơi!
Chồng Quý như chựng lại, nói nhỏ với cô:
- Thôi mai anh bận, không dẫn các con đi bơi được đâu.
Quý ngạc nhiên, anh ít khi thất hứa với bọn trẻ. Nhưng có con cô không tiện hỏi lý do. Đợi lúc con mãi dán mắt vào một pha quảng cáo, Quý căn vặn:
- Anh hứa với con rồi, sao lại không đi?
- Anh chợt nhớ sáng mai có hẹn đi uống cà phê với anh Kính.
Kính? Có mấy khi họ gặp nhau, cũng chẳng có gì thân thiết, sao hôm nay từ quận ba lên tận Gò Vấp uống cà phê? Quý không tin.
- Anh biết tính con mình rồi, hứa cái gì là nó chăm chăm chờ. Hồi nãy bọn nó lục tủ lấy đồ bơi, kính lặn, khăn lông bỏ vào túi để sẵn, giờ nghe không đi nó thất vọng lắm.
- Thì để buổi chiều anh dẫn đi.
- Chiều nắng, vả lại lúc ấy hồ bơi rất dơ, bơi sáng sớm là tốt nhất. Anh gọi lại cho anh Kính đi.
- Nhà anh ấy chưa mắc được điện thoại.
- Thì đành thất hứa với anh ấy vậy, người lớn dễ thông cảm, chứ với trẻ con, mình từng dạy nó phải giữ lời hứa.
Quý quyết tâm ngăn cản chồng vì cô tin rằng chắc chắn việc thay đổi ý định dẫn con đi bơi này không bắt nguồn từ người bạn tên Kính. Lân nản lòng:
- Sáng mai đi bơi, không nói lôi thôinữa.
Vào giường Lân quay lưng ngủ, nhưng Quý không chắc lắm vì chưa nghe tiếng ngáy. Quý hình dung lại người phụ nữ ban nãy. Chị ta tuy lớn tuổi nhưng chưa có dấu hiệu của sự phai tàn, đặc biệt là chị vẫn còn dịu dàng e ấp, có cái vẻ của một người thiếu tự tin, khiến chị có dáng dấp của một thiếu nữ. Họ nhìn nhau rất lạ, chắc chắn đó không phải là một đôi bạn bình thường. Vừa rồi chồng về quê ở khá lâu vì mẹ bịnh, Quý có nghe một người bạn gái cũ nào đó của anh hay đến thăm nom. Chắc là Đường chứ không ai khác. Những người đàn ông, đàn bà có tình ý với nhau họ nhìn nhau lạ lắm, dù giấu đến mấy vẫn bại lộ, vì nó có một cái gì đó gọi là sóng tình. Trái tim xao động thì dứt khoát trong mắt phải có sóng. Giống như trời giông bão thì mặt biển phải dậy sóng. Quý nhớ cách đây ít lâu một cô gái trẻ cùng cơ quan cho Quý xem ảnh đám hỏi của cô với một Việt kiều. Một đám hỏi với đầy đủ lễ nghi, có cảnh cô ôm hôn vị hôn phu và những cảnh thân mật khác của một đôi tình nhân. Họ rất đẹp đôi nhưng bỗng dưng Quý thốt lên:
- Hai người sao giống anh emquá!
Quý nhận xét vô tư nhưng cô gái có vẻ kinh ngạc. Sau đó việc người chồng bảo lãnh cô ra nước ngoài không thành vì cơ quan chức năng phát hiện ra cô là dì ruột của chàng trai, làm hôn thú giả vợ chồng chỉ để thuận tiện việc ra đi của cô. Quý giật mình vì linh cảm của cô đúng. Những cử chỉ trong những tấm ảnh ấy tuy rất thân mật nhưng nó không toát lên được vẻ tình tứ của một đôi tình nhân mà vẫn chỉ là vẻ trong sáng của tình cảm họ hàng, tuy lúc đó Quý không phân tích được nhưng cảm nhận được.
Quý lo bữa sáng cho cả nhà rồi chồng cô dẫn hai con đến hồ bơi. Khác với cảm giác thanh thản khi ở nhà một mình như mấy lúc khác, cô vừa làm việc vừa nghe những bản nhạc mình yêu thích hay đọc một cái gì đó trong không gian hoàn toàn yên tĩnh của riêng mình. Nhiều người phụ nữ có chồng con đề huề đôi khi lại thèm khát những khoảnh khắc hiu quạnh. Nhưng hôm nay cô thấy lòng hồi hộp, rối ren lạ lùng. Sao cô không sớm nghĩ được rằng anh ấy sẽ đưa con đến hồ bơi, mua vé cho hai đứa nhỏ vào rồi sẽ đến nơi hẹn. Bọn nhỏ rất ngoan bơi xong rồi lẩn quẩn ở đó chờ ba đến đón. Có thể lắm chứ. Chiều nay Đường sẽ lên tàu về Nha Trang rồi. Cô nghĩ đến một phụ nữ goá bụa đã lâu, khao khát hơi hướng đàn ông, ngôi sau xe chồng mình, ở một nơi mà người ta không biết cô là ai, sẽ vòng tay ôm Lân, hít mùi hương nồng nàn của Lân, việc mà ở quê nhà dù muốn họ cũng không dám. Rồi Lân sẽ huy động hết mọi khả năng âu yếm, ga lăng vốn dào dạt ở anh để làm người phụ nữ u buồn ấy vui lên. Trong khoảnh khắc vụng trộm ấy họ hạnh phúc biết bao, rồi sóng tình đã xiêu xiêu, họ dám làm mọi chuyện… Tim Quý càng lúc càng đập nhanh, mới sáng sớm mà cô toát mồ hôi. Bao nhiêu công việc phải làm của một buổi sáng chủ nhật nhưng Quý chẳng làm được việc gì, lòng cứ như lửa đốt. Cô cố trấn tĩnh. Lát nữa thôi khi các con về, hỏi tụi nó sẽ khai hết. Cô xem đồng hồ, mới bảy giờ. Sớm lắm cũng phải chín giờ họ mới về. Hai tiếng đồng hồ nữa là một thời gian quá dài, quá sức chịu đựng. Nhưng chẳng lẽ đến hồ bơi xem thử sự tình? Rình rập theo dõi chồng là việc Quý chưa làm bao giờ. Cô thấy làm vậy rất hèn. Cô không bao giờ lục túi, lục cặp, bàn làm việc của chồng. Ngay lúc kẹt tiền muốn hỏi chồng cô cũng để anh vào phòng tự lấy ví trong túi quần đưa cho. Chợt có tiếng chuông điện thoại vang lên.
Cô chụp lấy máy. Giọng phụ nữ rụtrè:
- Chị Lân phải không ạ, tôi là Đường đây, anh có nhà không chị?
- Anh ấy đưa các cháu đi bơi rồi… Có gì không hả chị?
- Dạ trưa nay tôi về, chỉ gọi đến chào anh chị thôi. Khi nào chị về quê ghé nhà tôichơi.
Quý cúp máy. Thấy nhẹ người. Họ đâu có hẹn hò gì! Nhưng rồi một ý nghĩ loé lên. Không, đây chỉ là một màn kịch. Chồng Quý đã đến nơi rồi xúi Đường gọi điện để đánh lạc hướng cô. Chứ vào đây cả tuần không đến, không gọi, mới gặp hồi tối, giờ lại gọi điện chào từ biệt. Thật vô lý, Quý thấy người run lên. Cô đâu phải là một con ngốc mà chồng cô lừa dối đến mức như vậy. Cô cần phải biết ngay sự thật, không thể chờ thêm phút giây nào nữa. Quý luýnh quýnh lấy ống khoá để khoá cửa, cô không còn sợ rằng khu này lâu nay hay mất trộm. Vớ cái mũ vải chụp lên đầu cô lao xuống cầu thang. Xuống tầng trệt nơi gởi xe của cư xá, Quý mới nhớ rằng mình quên đem theo chìa khoá xe. Nhưng cô không thể lên lại mấy tầng lầu vì không được chậm hơn, đây ra hồ bơi khá gần đi bộ khoảng mười lăm phút. Đi một đoạn, giữa con đường lớn Quý thấy mình thật lạc lòng kỳ dị với bộ quần áo mặc trong nhà, chân mang dép. Chưa bao giờ cô mặc thứ quần áo ấy ra đường. Cô sợ gặp bất cứ một người quen nào, vội kéo vành mũ xuống, che nửa mặt, với “tấm mạng” này thì chắc không ai nhận ra cô. Cô đi, hai chân như và vào nhau và ân hận đã không lấy xe, con đường phía trước quá dài. Một cặp vợ chồng chở nhau vụt qua, người vợ ôm lưng chồng âu yếm. Cảnh này sẽ không bao giờ có lại với cô. Cô không thể nào chấp nhận một sự phản bội trắng trợn như thế. Sau khi xác minh, cô sẽ làm cho ra lẽ. Cô tự miêu tả tính cách của mình khi họ còn là một đôi tình nhân “Em có tất cả hoặc không tất cả”. Lân bảo “Ừ, em sẽ có tất cả!” cô không thể sống với hạnh phúc nửa vời. Qúy cay đắng nhớ rằng lâu nay mọi người đều xem vợ chồng cô là một đôi hạnh phúc. Ngọc nói đúng, không có ai hạnh phúc cả. Mọi người sẽ té ngửa ra khi nghe vợ chồng Quý ly dị. Kinh khủng. Cô sẽ dành nuôi hết các con, vì Lân là người có lỗi, anh ấy không xứng đáng được nuôi con. Cô sẽ không làm ầm ĩ, không nói một lời xúc phạm, chỉ chìa ra lá đơn. Lân không kỹ cũng vô ích, cô sẽ ly thân. Thế là xong. Hơn mười năm hạnh phúc, cũng quá đủ cho cuộc đời một người đàn bà. Cô vẫn còn lời chán vì có hai đứa con. Còn tài sản. Lân muốn lấy gì cô không cần, hạnh phúc không còn thì sá gì của cải vật chất. Cô sẽ ở lại căn nhà đang hợp đồng thuê của nhà nước và đang chuẩn bị hoá giá. Còn căn nhà họ mua được ở Tân Bình hiện đang cho thuê làm một tiệm bán vải, là tài sản đáng giá nhất của hai vợ chồng sau bao năm dành dụm, nhưng công chính là của Lân và gia đình anh cho, cô sẽ để cho Lân. Căn nhà ấy bây giờ đáng giá cả trăm cây vàng… Số tiền ấy chắc không bao giờ cô làm ra được. Nghĩ đi rồi nghĩ lại. Việc gì mình phải nhường, mình phải giành cho các con. Trong trường hợp này cao thượng là một đức tính thừa. Có lỗi thì Lân sẽ ra đi trắng tay. Quý sẽ cho mang theo chiếc xe và vật dụng nào đó trong nhà, không cần chu cấp cho con, chúng nó sẽ hoàn toàn thuộc về cô. Không bao giờ Quý lấy chồng nữa, đời cô chỉ một người chồng, mẹ cô đã từng tái giá, cô hiểu nỗi đau của một đứa con khi mẹ đi lấy chồng, đó là sự mất mát khó bù đắp. Cô sẽ giữ mình cho các con …. Quý đi, đi mãi, nước mắt trào ra lúc nào không hay. Cô là một người đàn bà bị chồng ruồng bỏ, bao nhiêu âm thanh ồn ã của một cuộc sống thị thành bao quanh cô vẫn thấy tâm hồn hoang vắng, cô thấy mình bỗng dưng trơ trọi trên đời bao giờ hết … Cô thương thân, thương con vô hạn. Cứ đi theo qúan tính, hết đường nhựa, qua cái sân rộng, đến lối rải sỏi rồi lêo lên cái cầu thang lộ thiên nơi chồng cô vẫn thường ngồi uống nước, đọc báo trông chừng con bơi. Sáng nay nơi này khá đông nhưng không khó gì để nhận ra chồng mình. Chút hy vọng cuối cùng tắt ngấm. Không có Lân ở đây. Chân Quý muốn khuỵu xuống, cố lắm mới đi tới một góc có cái bàn trống, với một ly trống còn một chút cặn cà phê. Quý ngồi xuống đưa mắt tìm hai đứa nhỏ. Đứa nào cũng ở trần thật khó phân biệt, mà bọn nhỏ thì đông. Hay là Lân không không cho tụi nó bơi mà đưa đến một nơi khác chúng chơi an toàn để anh yên tâm hú hí với người tình cũ. Người đàn ông si mê như Lân có thể làm mọi thứ. Cô đưa mắt tìm một lần nữa, rồi một lẫn nữa vẫn không thấy hai đứa nhỏ. Quý đứng lên định ra về và chợt nhớ căn nhà chỉ được khoá sơ sài, nhưng sao không nhấc được chân lên nên Quý cứ ngồi, đăm đăm nhìn xuống hồ bơi một lần nữa… Ở phía cuối hồ, nơi sâu nhất, cái đầu rồi khuôn mặt quen thuộc của Lân đang nhấp nhô. Quý vùng bỏ chạy, cô sợ chồng nhìn thấy mình. Ào xuống cầu thang, cô vấp người đang đi lên, hai người đều ngã, có lẽ rất đau nên người đó cáu:
- Điên à?
Cô lí nhí xin lỗi. Cổ chân đau điếng, Quý đi cà nhắc về nhà vì không cầm theo cả tiền để gọi xe ôm hay taxi.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 2 2016, 09:33 AM
Gửi vào: #51


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




Xứ Khỉ Khọt

Tràm Cà Mau Nguồn: Mạch Sống 2016-02-01

Dẫn nhập: Thời cuộc đổi thay, nhiều chục năm nữa, không ai còn tin những chuyện vô lý đã xẩy ra trên trái đất này. Đây là một câu chuyện truyền khẩu bí mật thích thú và đau khổ trong một thời gian dài.
Vào một đêm đã khuya, trăng sao lờ mờ, giữa mùa xuân năm 1975, đoàn thám hiểm Phi Châu gồm bảy nhà sinh vật học người Na Uy đang bị bộ lạc khỉ vây hãm tấn công mà không biết. Người canh gác uể oải ngồi cầm súng ngáp dài nhìn ra xa, ông cũng không ngờ hiểm nguy đang gần kề. Sáu người khác đang ngủ yên giấc trong lều sau nhiều ngày theo dõi sinh hoạt của bộ tộc khỉ đặc biệt này. Đây là một giống khỉ đã biết tổ chức thành một xã hội có sinh hoạt cộng đồng, phân công, thứ bực và có tiếng nói riêng của chúng. Khi đoàn thám hiểm đến cắm trại quay phim để quan sát sinh hoạt của giống khỉ, thì chính họ cũng bị quan sát, bị dòm ngó bởi nhiều con khỉ núp kín trong các tàn cây rậm rạp. Không có một hành động, một cử chỉ nào của đoàn thám hiểm mà không được đám khỉ ghi nhận và đem về báo cáo lại cho chúa khỉ ngồi trên ngai vàng, là một cây cổ thụ xum xuê. Chúa chỉ ngồi trên chạc ba của cây cổ thụ, lưng dựa vào cành lớn, chân co chân duỗi, tay gãi háng, miệng chu dài ra, nghe báo cáo và nhận xét về bảy nhà sinh vật học. Chung quanh chú khỉ, trên các nhánh cây chung quanh, có mười hai con khỉ cao cấp nhất trong triều đình cũng đang nằm dã dượi, lắng tai theo dõi. Một con khỉ cầm đầu toán trinh sát, ho khạch khạch rồi trình tấu:

- Thưa “đồng khỉ chủ tể” đây là một giống khỉ lạ lắm, còn thấp kém, man rợ. Trí óc còn thô sơ ngu muội, chưa được khôn ngoan. Bọn chúng chưa biết kỹ thuật leo trèo. Chưa biết phải ngủ trên cành cây để tránh muông thú rắn rết. Chúng ngủ ngay trên mặt đất, rất nguy hiểm. Chúng chưa biết chống tay xuống đất mà đi bằng bốn chân cho thăng bằng, vững chắc. Đi thì loạng choạng trên đôi chân, trông tức cười và xấu xí vô cùng.
- Thưa chúng nó dùng da thú bó bàn chân lại nên ngón chân nhỏ tí xíu, ngắn ngủn, mất hết khả năng cầm đồ vật bằng chân. Không leo trèo được là phải.
Một giọng nữ báo cáo tiếp:

- Bọn này mặt bẹt, miệng ngắn, môi mỏng, mũi nhô ra, trông vô cùng xấu xí dị hợm. Mới nhìn thấy là đã ghê tởm khiếp đảm. Răng chúng nhỏ tí xíu, xem bộ không cắn xé được ai.
- Chúng còn dùng vỏ cây, hay một thứ lá gì đó rất lớn, bao lấy thân mình, có lẽ vì vậy nên rụng hết lông, có nhiều nơi trên thân mình, da thịt trắng hếu đưa ra, trông thật ghê tởm như khi bị ghẻ lác nặng nề rụng hết lông lá. Nhìn vào ớn lạnh cả mình.
- Bọn này vô cùng dơ bẩn, hình như bọn chúng ăn thịt thú vật. Dã man như loài chó rừng, như loài beo, cọp. Khi ăn thì dùng nhánh cây và miểng đá mà khều thức ăn vào miệng.
Chúa khỉ chớp chớp mặt, rồi lầm bầm trong miệng: “Lạ nhỉ, lạ nhỉ. Nhưng ta hiểu hết cả rồi”. Tiếng báo cáo tiếp theo:

- Một điều ngu dại nhất của chúng, và nguy hiểm cho cả sinh mạng, là dám chơi với lửa. Bọn này không những đốt lửa nhiều lần mỗi ngày, mà còn ngu xuẩn bỏ thức ăn trên lửa trước khi ăn. Làm mùi thối tha khét lẹt bay ra dơ bẩn cả bầu không khí trong lành. Ban đêm, bọn này còn nuôi một ngọn lửa nhỏ treo trên cây khô của chúng. Nếu cháy, thì chết cả bọn, và cháy cả khu rừng, rất nguy hiểm cho tất cả chúng ta nữa.
- Mỗi buổi sáng, bọn này đứng cong lưng, dùng que khoắng liên tục trong miệng, cho đến khi phèo bọt mép ra, rồi nhổ phù bọt trắng xoá xuống đất. Không biết để làm gì.
Chúa khỉ bóp trán suy nghĩ, tìm lời giải thích, nhưng chưa tìm được thì có lời báo cáo khác:

- Bọn này có đứa còn ăn khói, không biết làm sao mà có khi khói bay ra mù mịt trong miệng chúng. Bọn này đúng là còn man dã lắm. Một số trong bọn chúng, còn lấy dây và que, quàng buộc quanh mắt, không biết để làm gì, và khi nắng gắt, thì còn che mắt bằng hai miếng đá màu đen.
Trong lúc nghe báo cáo, mặt chúa khỉ nhăn lại như mặt khỉ. Nghe xong, thì ông động lòng trắc ẩn thương xót cho một giống khỉ tương cận ngu dại, dã man. Hắt hơi một tiếng, rồi chúa khỉ khóc ròng. Thấy chúa khỉ khóc, thì cả mười hai con khỉ trong bộ tham mưu cũng khóc theo, kêu gào thảm thiết. Sau đó, thì như một bệnh truyền nhiễm, tất cả đàn khỉ trên các cành cây quanh vùng đều khóc, tiếng khóc truyền đi từ cây này qua cây khác, và cả bộ tộc khóc theo chúa khỉ, dù chúng không biết nguyên nhân nào đã gây nên tiếng khóc. Khóc xong, miệng chúa khỉ còn nhễ nhại nước bọt, nói giọng run run xa xót:

- Tội nghiệp thay cho chúng. Chúng ta phải tận tình giúp đỡ, tận tình giáo hoá cải tạo chúng.
Mười hai con khỉ trong ban tham mưu triều đình đồng lặp lại lời chúa khỉ như hát điệp khúc: “Tận tình giáo hoá cải tạo cho chúng.” Tiếp theo đó, vang lên trong các cành cây xa gần “… giáo hoá cải tạo cho chúng, giáo hoá cải tạo cho chúng…” Những con khỉ khác gào theo, có lẽ chúng không hiểu đầu đuôi câu chuyện, nhưng cũng lặp lại y lời chúa khỉ nói.
Chúa khỉ họp ban tham mưu bàn luận, để lấy quyết đinh tập thể về kế sách giúp đỡ bảy con khỉ man dã tội nghiệp kia. Có khỉ bàn rằng, chúng nó còn dã man quá, khó mà cải tạo được. Tốt nhất là đuổi chúng ra khỏi khu rừng, để cái hình dáng xấu xí của chúng khỏi làm bẩn mắt bà con, và cái sinh hoạt dơ dáy nguy hiểm kia khỏi ảnh hưởng đến con dân của xã hội này. Có ý kiến là nên tiêu diệt chúng đi cho khoẻ. Chúa khỉ bóp trán rồi một tay để lên ngực bên trái, chỗ trái tim mà nói:

- Thấy đồng loại khốn khổ ta không đành lòng. Ta muốn giúp chúng, học tập cải tạo theo nếp sống văn minh tiên tiến, thoát ra khỏi màn ngu tối dốt nát. Các “đồng chí” nghĩ sao?

- Nhất trí. Nhất trí. Ý kiến của chủ tể là vô địch, là sáng suốt, là ánh sáng chân lý muôn đời. Cả mười hai con khỉ trong ban tham mưu đồng thanh nói một lời trên như đã thuộc lòng từ trước. Và tiếp theo đó, những con khỉ đang đánh đu từ những cành cây xa, cũng đồng lập lại “…ánh sáng chân lý muôn đời, ánh sáng chân lý muôn đời.”

Cuộc bao vây tấn công đoàn thám hiểm được chúa khỉ đặt tên là chiến dịch tình thương. Vì tình thương mà hành động. Để cứu giúp bảy con khỉ còn man dã kia được ân sủng của loài khỉ, ra khỏi đời sống hôn mê bất hạnh. Đám khỉ tấn công bò dần đến trại của các nhà thám hiểm, với những bước đi vô cùng nhẹ nhàng, không gây một tiếng động trên đất cỏ, lá mục, rồi bất thần xông lên, đè sập lều trại, đè cứng bảy con người yếu đuối, bắt họ dễ dàng. Người canh gác cũng chưa kịp nhìn ra kẻ tấn công, thì đã bị bắt ngay. Bọn khỉ cũng không ngờ thành công dễ dàng như vậy. Mà đám khoa học gia cũng không ngờ họ bị tấn công bất thần. Bọn khỉ la mừng vang dậy khu rừng già: “Hoan hô chủ tể. Muôn đời bách chiến bách thắng. Liệu việc như thần. Quyết định không bao giờ lầm”. Câu hoan hô được lặp đi lặp lại nhiều lần vang dội trong đêm trăng mờ. Những con khỉ đang ngủ trên cây chợt tỉnh giấc cũng lơ mơ lặp lại: “không bao giờ sai lầm”. Đám khoa học gia khiếp đảm, và nghĩ rằng, họ không có một cơ may nào sống sót. Họ bị nhốt vào một hang đá đậy kín. Bên ngoài có nhiều khỉ canh gác kỹ càng. Tất cả lều trại bị phá tan, chúng đập bể những dụng cụ, máy móc, và thức ăn quăng bừa bãi trên mặt đất.

Sáng hôm sau chúa khỉ họp cùng quần thần dưới gốc cây lớn, trên một vùng đất khô ráo bằng phẳng, có nhiều bô lão khỉ, có nhiều vị khỉ được liệt vào hàng thông thái trong xã hội đó tham dự. Hàng ngàn dân khỉ quay quanh trên mặt đất, trên cành cây, trên tảng đá, để xem loài khỉ lạ. Lũ khỉ trẻ nít, không được bố mẹ bồng ra xem, vì ngại chúng sợ cái xấu xí dữ dằn khủng khiếp của cái loài khỉ lạ này mà chết giấc. Bảy nhà sinh vật học được giải từ trong hang ra. Tóc tai họ bù xù, mặt mày hốc hác, áo quần xốc xếch. Ba phụ nữ trong số bảy nhà khoa học này mặt xám ngoét, run sợ và ôm mặt khóc. Vợ của chúa khỉ ngồi bên cạnh chồng đưa hai tay bịt mắt, vì không muốn nhìn thấy bảy con sinh vật quá xấu xí, dị hợm. Bà lẩm bẩm cùng chồng:

- Không thể gọi giống này là khỉ được. Xấu xí như thế mà liệt vào giống khi, thì có tổn thương đến danh dự chung của loài khỉ chúng ta không? Thần thiếp nhất thiết không xem chúng là đồng loại được. Ai cho rằng giống hạ tiện đó cùng loại với chúng ta? Nói cho thần thiếp biết!

Chúa khỉ lườm mắt nhìn phu nhân và nói nhỏ: “Bà câm cái mồm thối của bà lại không? Ai cho bà được bàn vào việc quốc gia đại sự.” Nữ hoàng khỉ nhìn xuống không dám cãi, nhưng miệng còn lầu bầu những lời không rõ.

Một con khỉ lớn kềnh càng, mặt mày tay chân lông lá, khệnh khạng đi đến trước mặt một nữ khoa học gia, đưa tay chụp áo cô và xé một cái toạc, lột cô trần truồng trước đám đông triều đình. Cô thét lên một tiếng thất thanh, và nghĩ rằng không khỏi bị làm nhục. Khi thấy cô trần truồng, da thịt trắng toát, không lông lá gì cả, thì vua khỉ, hoàng hậu, quần thần cùng dân khỉ cười vang sằng sặc vì thấy cái xấu xí lạ lùng của loài người. Sau một hồi lâu tiếng cười hạ dần. Một vị thông thái khỉ phán lớn:

- Đúng là những thứ lá cây bao bọc thân thể đã cọ xát, làm lông rụng hết. Chỉ ba nơi còn lông là trên đỉnh đầu, dưới nách và dưới háng lưa thưa mà thôi. Bọn này ngu xuẩn, không biết lông trên da để bảo vệ muỗi mòng, che mưa nắng, thời tiết nóng lạnh. Thế mà làm rụng hết, ngu như vậy thì cũng hết nước nói. Xem đấy, da thịt trên thân thể trơn tru, ghê tởm, nhìn phát khiếp, còn hơn là bị bệnh ghẻ lác nặng nề. Tội nghiệp thay, tội nghiệp thay.

Vị thông thái nói đến đây, thì vua khỉ mủi lòng rơm rớm nước mắt xót thương. Sáu nhà sinh vật học còn lại, cũng bị giựt phăng áo quần, để giải phóng cho họ khỏi bị áo quần cọ xát làm rụng lông. Họ co ro vì lạnh, cánh tay xuôi xuống kẹp vào hai chân. Một chị khỉ đến vạch háng nữ khoa học gia ra mà nhìn, rồi lắc đầu, nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đất, như ghê tởm lắm, bỏ đi. Chị khỉ nói: “Trông xấu xí, không giống cái gì cả”. Một nhà khoa học, bị gỡ cái kiếng đeo mắt. Chúa khỉ cầm cái kiếng áp lên mắt, rồi nhăn miệng dưới trề ra hai thòng, nói lẩm bẩm:
- Ngu xuẩn thật, dùng cái này che mắt cho mờ đi, không thấy gì rõ cả. Tại sao lại ngu như thế được? Nếu ta không có lòng thương bao la, mà giải phóng cho, thì bọn mầy còn sống trong u mê ám chướng mãi.

Nói xong, chúa khỉ để cái kiếng đeo mắt trên thân cây, rồi đập mạnh tay xuống, cái kiếng bể vụn, tan tành. Nhà khoa học bị gỡ kiếng kêu ứ một tiếng vì tiếc của. Một con khỉ đến cầm bàn chân của nhà khoa học đưa lên cao cho đám khỉ xem, rồi cầm từng ngón chân lắc lắc, nói lớn:

- Đây là kết quả tai hại của việc dùng da thú bó chân lại. Những bàn chân này vô dụng, vụng về, làm sao mà nắm vào cành cây, cầm nắm vật gì được? Loài khỉ này tiến hoá còn chậm lắm, có lẽ cả hàng chục triệu năm nữa, mới theo kịp chúng ta bây giờ.

Ông khỉ này cầm mấy chiếc giày nằm ngổn ngang trên đất, mà xé toang tan tành thành từng miếng nhỏ. Ông bảo rằng phá bỏ, đào tận gốc, trốc tận rễ cái cội nguồn của thoái hoá ngu dốt may ra mới cứu được bảy con khỉ dã man này.

Một con khỉ khác lôi những thức ăn của các nhà khoa học ra trình với chúa khỉ. Nó lôi ra một hộp bơ, lấy cành cây mà khoắng, rồi chu mũi lại như ghê tởm lắm. Đưa cành cây còn dính bơ vàng khè lên cao, và nói:
- Bọn này phóng uế ra rồi ăn lại. Rõ ràng, phân lỏng vàng khè, hôi ớn óc. Các “đồng khỉ” xem đây! Ẹc, ẹc bẩn thỉu.

Tất cả bộ lạc khỉ đều rùn vai, ghê tởm, kêu lên nhiều tiếng khẹc khẹc. Con khỉ lôi ra một tấm kẹo sô-cô-la lớn, rồi dóng lên cao, nói:

- Chúng còn ăn cả từng tảng đất bùn khô. Không những thế, chúng còn dự trữ rất nhiều thịt thú vật chết để ăn. Thật là dã man, ghê khiếp. Đây này, nhìn tận mắt, chứ nghe nói thì không ai tin đâu.
Chúng lôi ra một bao kẹo lớn, đủ màu xanh đỏ vàng tím, và cho rằng đây là một loại đá vụn. Nói rằng lũ dã man này ăn cả đá. Chúng dâng lên để chúa khỉ xem xét. Chúa khỉ cầm mấy viên kẹo lật qua lật lại để xem là thứ gì, có vài viên ướt, làm nước đường chảy ra tay.

Chúa khỉ lau vào mình cũng không sạch, bèn đưa tay lên miệng mà mút. Ông cảm thấy vừa ngọt, vừa chua, ngon miệng quá, ông lấy một viên kẹo bỏ vào mồm. Ngon đến nhức răng. Trong đời ông chưa bao giờ được nếm mùi vị ngon ngọt như thế này. Chúa khỉ giả vờ nhè viên kẹo ra, nhăn mặt, phán xuống phía dưới:

- Đây là một loại đá có chứa rất nhiều chất độc, vô cùng nguy hiểm. Không ai được cất giữ những thứ này. Hãy gom lại và đưa cho ta.

Bọn khỉ gom các loại kẹo của các nhà khoa học dâng lên chúa khỉ. Ông cất vào hốc cây nơi ông ngự, rồi tính chuyện chờ đêm xuống, không ai thấy, móc ra ăn dần. Còn những thỏi sô-cô-la mà chúng gọi là đất bùn, thì sau này bọn kiểm soát đem cất riêng rồi chia nhau ăn, không ai biết. Chúng còn ăn thử cả những viên thuốc mà các nhà khoa học đem theo để chữa bệnh, nên có một số khỉ bị phản ứng thuốc. Chúng quăng bừa bãi, đập tan nát đồ đạc dụng cụ của các nhà khoa học bên góc rừng.

Đang giữa buổi chầu, chúa khỉ chợt nhói dạ, làm một tiếng xì hơi từ mông rất lớn. Mùi thối tha xông lên nồng nặc qua cả mấy nhánh cây gần đó. Ba con khỉ tham mưu ngồi gần nhất, nghe tiếng trung tiện rõ nhất, và ngửi được mùi hôi nhiều nhất, đều đồng thanh hô to và sửa lại nét mặt vô cùng nghiêm trang:
- Thơm tho như hoa lan hoa quỳnh. Tiếng du dương như chim sơn ca hót.

Bên dưới và chung quanh đều lặp lại vang dội núi rừng: “Thơm tho như hoa lan hoa quỳnh, du dương như chim sơn ca hót. ” Mặt chúa khỉ lộ nét hớn hở, miệng hơi cười cười. Chỉ riêng bà vợ chúa khỉ ngồi bên cạnh ông thì chun mũi và đưa tay quạt quạt ngang mặt. Buổi hội họp bế mạc khi xế trưa, với nghị quyết chung là đem tình thương cải tạo bảy con khỉ lạ cho theo kịp đời sống văn minh tiên tiến trong đất nước của nhân dân khỉ này. Một uỷ ban cải tạo hùng hậu, với chỉ tiêu trong một thời gian ngắn phải dạy dỗ cho bảy con khỉ dã man này biết thông tin với nhau bằng lời nói, biết đi bằng bốn chân cho vững vàng, biết ngủ trên cây cho an toàn tính mạng và tương lai dài sẽ được hoà nhập với xã hội khỉ hiện tại.

Mỗi ngày bảy nhà sinh vật học được phát cho hai lần hoa quả, sâu bọ để ăn. Họ được dạy tiếng nói của loài khỉ. Khỉ thầy, chỉ từng đồ vật một, rồi nói tên, sau đó bắt bảy người lặp lại hàng trăm lần đến khàn cả cổ. Tiếng khỉ trong cổ họng, khó nói, nhưng họ tập mãi cũng thành quen. Mỗi khi nói sai, thì một con khỉ cầm viên đá gõ lên đầu học viên cốp cốp. Học theo lối nhồi sọ. Mỗi ngày từ sáng sớm đến khi mặt trời lặn, chỉ học chừng hai mươi chữ. Lặp đi lặp lại suốt ngày. Mấy ông thầy khỉ cho rằng bọn này ngu tối, là một loại khỉ đẳng cấp thấp, nên không thể dạy nhiều được. Một người sợ quên thì bị phạt, bị gõ đá lên đầu, bèn dùng gai nhọn viết lên lá tươi, ghi lại các danh từ đã học. Khỉ thầy bắt được, vò nát lá, bảo là không lo học mà lo chơi. Học chăm và chậm, nên chỉ một thời gian ngắn, bảy nhà sinh vật học có thể hiểu chút chút và nói được một ít tiếng loài khỉ này. Họ bị bắt buộc đi bằng bốn chân, chổng mông lên mà bò, không được đi thẳng người, vì đó là lối đi dã man, suy đồi, thiếu văn minh, thiếu vững vàng.

Ban đầu bảy người cảm thấy rất khó khăn để đi đứng theo lối này. Những khi mỏi lưng quá, họ đứng thẳng dậy vươn vai, thì bị thầy khỉ phạt bằng cách đánh bốp vào mông đau điếng. Tay khỉ to, sức khỉ mạnh, mỗi cái đánh là đau thấu trời. Mãi rồi cũng quen, bảy nhà sinh vật học bò, nhảy, lanh lẹ trên đất bằng. Không nhanh như loài khỉ, nhưng cũng khá lẹ làng. Mỗi ngày phải học cách leo cây, phải tập ngủ trên cành cao. Việc này khó khăn lớn nhất đối với bảy người. Vì sợ khi ngủ quên trở mình, hoặc quên nằm cành mà rớt xuống là chết hoặc gãy tay, gãy chân. Chúng không cho ngủ trên các cành cây thấp, vì sợ không an toàn. Phải làm lén, chúng nó thấy được thì cho là hủ hoá, thiếu năng lực, thiếu ý chí học tập, và bị trừng phạt. Một thời gian, bảy con người cũng tìm cách thích nghi với cuộc sống, không đau khổ như lúc ban đầu. Họ bàn nhau tìm cách trốn ra khỏi khu rừng, ra khỏi sự kiểm soát của loài khỉ

Tổ chức xã hội của loài khỉ này rất lạ lùng. Trên hết là chúa khỉ, rồi đến một hội đồng quan lại gồm có mười hai con khỉ già khôn ngoan, lo điều khiển một hệ thống kiểm soát, gồm nhiều con khỉ trung thành được kết nạp chọn lựa. Nhóm kiểm soát này, không phải đi kiếm thức ăn hàng ngày. Chúng chuyên lo theo dõi hoạt động của toàn dân khỉ, và thúc dục dân khỉ đi kiếm thức ăn trong rừng núi. Mỗi dân khỉ hàng ngày phải đi kiếm thức ăn từ sáng sớm cho đến xế chiều. Đem thức ăn về gom chung lại. Chúa khỉ và gia đình chọn những thứ ngon nhất, ăn trước thật no nê, kế đến là mười hai gia đình của bộ tham mưu triều đình. Còn lại thì chia các phần đặc biệt cho loại khỉ thuộc thành phần kiểm soát trước. Rồi chia đều cho toàn dân khỉ phần còn lại, già trẻ lớn bé, to gầy đều có phần bằng nhau. Không cần biết ai đói ai no. Tất cả đều tuân phục răm rắp, không ai kêu ca, không ai có ý kiến. Những dân khỉ đi kiếm thức ăn, được học tập cẩn thận về thành tâm thiện chí trong công việc, lấy niềm tin vào chúa khỉ làm tiêu chuẩn, tinh thần tự trọng cao, để không ăn trước khi đưa về gom chung lại. Mỗi buổi, khi đem thức ăn về, đám khỉ kiểm soát banh miệng những con khỉ bị nghi ngờ ra xem, moi và cạy ở các kẽ răng xem có dính thức ăn không, ngửi miệng thử có mùi hoa quả không. Nếu nghi ngờ hơn nữa, thì dùng cây thọc sâu từ miệng xuống bao tử, xem ói ra thứ gì. Nếu bị phát giác là đã ăn trước một phần thức ăn kiếm được, thì sẽ bị hình phạt nặng nề, bị đem ra xỉ vả trước tập thể từ đêm này qua đêm khác, và bị xã hội khinh rẻ, mỉa mai, không ai dám tiếp xúc, mọi khỉ khác đều xa lánh. Hình phạt là cắt bớt phần ăn xuống tối thiểu, chỉ phát cho những trái cây hư thối, hoặc bị bỏ đói nhiều ngày. Hình phạt bỏ đói rất hiệu quả trong xã hội này. Dân chúng khỉ đều sợ sệt và răm rắp tuân thủ. Hầu như đa số dân khỉ trong xã hội đều đói, thiếu ăn, vì họ không tận lực tìm thức ăn, và có tìm được, thì những khỉ chúa, khỉ quan hưởng trước, và bọn kiểm soát đông đảo, không làm gì cả mà có nhiều thức ăn. Nhưng sau mỗi bữa ăn, thì toàn dân khỉ đều hoan hô vang dậy cả núi rừng: “Chưa bao giờ no nê sung sướng hạnh phúc như đời sống hôm nay. Cả nhiều ngàn năm trước, và nhiều ngàn năm sau, sẽ không bao giờ có được đời sống đẹp như thế này.” Bảy nhà khoa học cũng gân cổ mà gào theo cái khẩu hiệu đó. Những con khỉ bị tội nhiều lần, thì không những bị bỏ đói nhiều ngày, mà có khi ngủ qua đêm thì biến mất trong xã hội. Không ai biết chúng đi đâu, và những con khỉ trong họ hàng chỉ cúi đầu nhìn nhau len lén mà im lặng. Có khi chúng thì thầm là tìm thấy được xác con khỉ mất tích ở cuối dòng suối bìa rừng. Mọi khỉ đều cố giữ im lặng, cố gắng không bàn tán, và chỉ truyền khẩu nhau hạn chế. Cũng có khi một vài vị khỉ trong ban tham mưu bỗng nhiên biến mất, và các vị khỉ mới được chúa khỉ cắt cử vào thay thế. Cũng không ai biết lý do, và không ai dám hỏi han gì. Cũng có lúc khỉ chúa giải thích là các vị kia được cắt cử đi công tác quan trọng đặc biệt theo tình hình mới và nhiệm vụ mới. Những nhà khoa học sống trong xã hội khỉ này cũng phải bắt chước y hệt lối sống của loài khỉ để sống còn. Mỗi lần chúa khỉ nói ra điều gì, là cả nước khỉ lặp lại lời nói với thái độ thành khẩn tin tưởng. Tin tưởng tuyệt đối. Lời chúa khỉ là mặt trời chân lý, là không bao giờ sai lầm. Dù hiểu hay không hiểu, cũng phải đồng thanh ca lại điệp khúc những lời phán của chúa khỉ. Lâu dần thành quen, các nhà khoa học không thấy tức cười, không thấy ngượng miệng bi bô theo đàn khỉ. Đôi khi họ nói theo, mà cũng không cần nghĩ đến ý nghĩa của lời nói.

Vì không có áo quần che thân, nhiều nhà khoa học bị muỗi mòng tấn công làm thành những mụn ghẻ nổi đầy người. Bọn khỉ càng thấy chân lý của chúng được chứng nghiệm, là bao vỏ cây, lá cây quanh mình làm lông rụng hết là điều ngu xuẩn. Một trong bảy nhà khoa học kiệt sức, và lìa đời. Một người khác bảo rằng không tội chi mà kéo dài cái kiếp cầm thú này, tự treo cổ chết. Những người còn lại, cố sống để tìm cơ hội và nuôi hy vọng. Các nhà khoa học cũng được sung vào lực lượng sản xuất, mỗi ngày đi kiếm thức ăn mang về. Ban đầu thì sợ nên không dám ăn bớt những thức ăn kiếm được, vì sợ bị thọc cây vào bao tử mà khám. Nhưng về sau đói quá, họ cũng ăn liều. Ăn xong thì ra suối súc miệng, lấy dây rừng móc từng kẽ răng, và ngậm chút nước bùn khử mùi thức ăn trong miệng. Trong lúc đi tìm thức ăn, họ cố gắng nghiên cứu tìm đường đào thoát, nhưng lũ khỉ canh phòng quá nghiêm ngặt. Họ vẫn kiên nhẫn, thận trọng và hy vọng có ngày thoát ra.

Ba năm sống với loài khỉ, những nhà khoa học này đã nói và hiểu khá thông thạo ngôn ngữ của loài khỉ. Họ làm quen được nhiều con khỉ hiền lành; nhiều con khỉ khác hiểu họ. Họ kể cho chúng nghe về xã hội văn minh của con người, nhưng chúng chỉ cười mà không tin. Vì chúng cho xã hội chúng đang sống là đỉnh cao trí tuệ của loài khỉ, là tuyệt đối văn minh, không thể có một xã hội nào siêu việt hơn nữa. Có một con khỉ già bị cô lập, những đàn khỉ thường không con nào dám giao tiếp vì sợ liên luỵ. Nhưng các nhà khoa học không biết điều này, cứ lui tới hỏi han. Cụ khỉ già ban đầu cũng nghi ngại, thận trọng, không dám nói nhiều, và trong khi nói chuyện thì luôn luôn ca tụng tài đức thông minh của chúa, cho khỉ chúa là bậc tài đức xưa nay chưa từng ai sánh bằng, khỉ chúa là vô địch, là bách chiến bách thắng. Nhưng trong giọng nói của ông, có vẻ sợ hơn là thành thực. Một hôm, các nhà sinh vật học đem rượu trái cây đến cho ông uống. Rượu được bí mật chế biến trong hốc đá. Ông già ngà ngà say, và cho biết rằng, trước đây mấy mươi năm, dân khỉ vùng này sống trong an nhàn, no ấm, thong dong, không sợ sệt ai cả. Mỗi con khỉ tự làm lấy mà ăn, và không ai phải tâng bốc khen ngợi ai lố lăng như bây giờ. Nhưng từ ngày nhóm khỉ hiện tại cai trị, bày ra những luật lệ lạ lùng, nói là để đem hạnh phúc, bảo vệ no ấm cho toàn dân, thì ai cũng đói, ai cũng sống trong lo âu sợ sệt, và nhiều kẻ đã chết, đã mất tích bí mật, cho nên ai cũng sợ. Toàn dân khỉ đều biết chủ trương láo khoét bịp bợm của tập đoàn cai trị, nhưng họ không làm chi được, vì chúng đàn áp dã man và không nương tay. Sau khi tỉnh rượu, ông cụ sợ bị tố cáo, sợ bị hành tội. Ông cụ khỉ đã dẫn năm nhà khoa học trốn đi theo con đường tắt bí mật ra khỏi khu rừng, vùng đất của bọn khỉ tự xưng là văn minh tiên tiến.

Phần kể thêm thay kết luận

Người ta kể thêm rằng, vào đầu thập niên 1990, đoàn thám hiểm đã trở lại khu rừng già với một nhóm người võ trang, bắt được chúa khỉ cùng mười hai con khỉ tham mưu, đem máy bay chở gia đình chúng đến tái định cư chúng ở một vùng rừng già xa xôi, mà chúng không thể trở về chốn cũ. Đời sống và sinh hoạt của quốc gia khỉ dần dần trở lại bình thường. Ai làm nấy ăn, không còn bị bóc lột, bị bỏ đói, bị khủng bố dã man. Nhiều năm về sau, các thế hệ khỉ con cháu lớn lên, nghe bố mẹ kể chuyện xưa, chúng không tin đã có một thời đại lạ lùng như vậy, và cho rằng, các bậc cha ông bày ra chuyện vui kể cho con cháu nghe mà thôi.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Feb 2 2016, 10:07 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 14 2016, 07:57 AM
Gửi vào: #52


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Valentine, Phương Lan xin chúc tất cả các bạn bè hạnh phúc, thọ tỉ nam san

Thời gian còn lại: https://youtu.be/F5SqUD5rLWY

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Feb 14 2016, 07:57 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 19 2016, 02:44 AM
Gửi vào: #53


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Câu chuyện bạn của Xuôi Gia TT Nguyễn Tấn Dủng.

Ông bạn vàng
Truyện ngắn này không phải là sản phẩm của sự tưởng tượng​


Chúng tôi cùng lứa tuổi. Có thể hơn nhau một vài tháng nhưng chắc không quá một năm. Chúng tôi cũng ở chung một cư xá, tương đối khá đủ tiện nghi, đường Yên Đổ. Nơi đây kỷ luật khá nghiêm minh. Không phân biệt tôn giáo, giàu nghèo. Không đi sớm về trễ. Không làm phiền phức bạn bè. Không gây tiếng động, ồn ào.Và tuyệt đối phải tôn trọng lẫn nhau. Có thể nói cư xá ĐL là nơi tạm trú lý tưởng cho các sinh viên sống xa nhà. Một linh mục dòng Tên ( Les Jésuites) người Gia Nã Đại làm giám đốc cư xá này.
Tên anh là Ban (1). Nguyễn bá Ban. Ban và tôi ở hai phòng cạnh nhau. Anh học Phú Thọ, còn tôi khoa học. Chúng tôi không thân, cũng không sơ. Gặp nhau, mỉm cười, nói mấy câu xã giao, trời mưa trời nắng rồi đường ai nấy đi. Đôi khi còn siết tay nhau mà không nói tiếng nào.
Ban có một bề ngoài - mà ###### bây giờ gọi là ngoại hình (!)- không có gì hấp dẫn. Tôi tránh dùng tĩnh từ “cục mịch” hay “ quê mùa “ để đọc giả hiểu lầm là tôi có thành kiến không tốt với anh. Không! Anh chẳng có gì đáng ghét cả !! Anh nói năng nhỏ nhẹ, hiền hòa và hình như không làm mích lòng ai do đó anh có khá nhiều bạn. Anh có một chiều cao trung bình. Nước da anh hơi ngăm đen và hàm răng không mấy trắng bóng, chắc tại hút thuốc quá nhiều. Mấy người bạn ở cùng cư xá, nhỏ to gọi anh là “ gã Bắc Kỳ hút thuốc lào”. Điểm này chỉ đúng 50%. Bắc Kỳ thì đúng. Còn hút thuốc lào thì sai, vì đào đâu ra điếu và thuốc lào mà hút !! Tôi coi đây là cây đùa giỡn thiếu thiện cảm nên tôi không thích. Quần áo, giày dép, tóc tai anh không được chăm sóc kỹ lưỡng vì....Trời sinh anh ra vậy !! Sinh viên mà! Ai không thích cứ việc vác đon đi thưa, kiện!
Nói tóm lại, trong đám đông anh bị chìm lỉm. Hè năm 65, chúng tôi cùng ra trường. Anh: kỹ sư công chánh. Tôi chuyên dạy Toán Lý Hoá. Rồi tôi nhập ngũ vì tôi không xuất thân từ Đại Học Sư Phạm quốc gia. Chẳng bao lâu, tôi rời quân đội vì lý do sức khoẻ. Và tôi may mắn được làm cho một công ty dược phẩm của Mỹ: The Upjohn company. Từ đó chúng tôi rất ít gặp nhau: có thể vì miếng cơm manh áo, có thể sự đi lại khó khăn nhưng chắc chắn chiến tranh lúc đó đang lan rộng. Tết Mậu Thân. Mùa hè đỏ lửa. Cuộc hành quân Lam Sơn 719 v v Hiệp định Ba Lê ( 3-1973) được vôị vàng ký kết…Rồi quân đội Mỹ và đồng minh rút về nước trong danh dự ( !!!) 30 tháng tư năm 1975 : Tan hàng.
Hai ba ngày trước cuối tháng tư, gia đình chúng tôi được Upjohn đưa cho tờ bảo lãnh ra khỏi Saigon. Chúng tôi đáp máy bay sang Clark Airbase ( Phi luật tân ). Rồi qua Mỹ. Nơi đây tôi vẫn tiếp tục làm việc cho Upjohn. Đây là một công ty khá lớn với gần 40000 nhân viên trên khắp thế giới. Hãng này nổi tiếng với thuốc trụ sinh Lincocin. Trụ sở chính ( headquarter) của họ ở Kalamazoo, Michigan. Tôi làm trong phòng khảo cứu, cho tới ngày về hưu. Bạn bè kẻ ở người đi, khó mà biết được. Tôi không nghe tin tức gì về Ban.
Hè 199… vợ chồng tôi lái xe đi nghỉ hè ở Washington DC. Khi vào tiệm mua xăng nọ, tôi ngạc nhiên biết bao thấy ông chủ là..Ban. Chúng tôi mừng rỡ, siết chặt tay nhau!! Tha hương ngộ cố tri. Tôi đùa:
-Không có tin tức gì về Anh, tôi cứ nghĩ Anh thương Bác, thương Đảng, quyết ở lại giúp nước , giúp dân!!
-Sao anh nghĩ như vậy được !! Cái cột đèn mà biết đi, nó cũng còn đi nữa là tôi!
-Anh sang đây với gia đình? Tôi hỏi.
-Đúng, một vợ bốn con. Nhìn vào xe, thấy vợ tôi, anh mỉm cười chào :
-Sáu giờ chiều mai mời anh chị lại chúng tôi ăn cơm để tôi giới thiệu bà xã tôi với anh chị.
Hôm sau chúng tôi đến nhà Ban, đúng giờ. Vợ chồng anh đúng đón chúng tôi ở cửa. Chị Ban người nhỏ nhắn, miệng luôn luôn nở nụ nên chiếm ngay được cảm tình của chúng tôi. Chị cho biết ngày cuối tháng tư, thấy gia đình ông hàng xóm kế bên nhà vốn là hải quân âm thầm thu xếp quần áo, lén lút thuê taxi ra bến tàu, chị xúi anh cũng đi theo, mặc dù không biết đi đâu. Họ lên tàu, vợ chồng Ban cũng lên theo. Và cuối cùng gia đình anh ở Mỹ !!
-Ai sao, tôi vậy. Ai làm bậy tôi cũng làm theo! Chị Ban cười đùa với chúng tôi
-Cũng là số Trời cả, anh ạ. Nhất ẩm nhất trác, giai do tiền định. Không có bà xã tôi thì gia đình tôi kẹt lại rồi. Ban tiếp lời vợ. Bây giờ tôi cưng bà ấy lắm !
Rồi anh hỏi qua gia đình tôi. Khi biết được vợ tôi vẫn dạy học, tôi vẫn làm cho hãng thuốc cũ, anh cười:
-Sang đây anh chị cùng làm nghề cũ, số anh chị lớn lắm. Không khéo anh chị được đẻ bọc điều. Riêng tôi đây, là kỹ sư công chánh chưa xây nổi một cái cầu mà bây giờ quay ra bán xăng!! Chẳng giống ai !!
Chúng tôi cùng nâng ly rượu. Nhấp xong một ngụm, Ban nói tiếp:
Chúng tôi có 4 con, hai trai hai gái. Có một cháu trai học rất giỏi. Sau khi ra trung học, cháu được các trường lớn mời tới học, như Harvard, MIT, Princeton. Michigan University cũng cho người tới interview. Còn vài trường nữa, tôi quên rồi. Sau mấy tuần đắn đo, suy tính, cháu quyết định chọn Harvard. Cháu học cũng gần xong rồi.. Chúng tôi vui thấy con bạn xuất sắc. Tôi khen với tất cả lòng chân thành:
- Con hơn cha là nhà có phúc. Cháu hơn anh rồi. Đúng là một nhân tài. Rồi anh chị coi, cháu sẽ làm rạng danh công đồng người Việt. Chúc mừng anh chị.
Ban còn cho biết thêm :
-Hiện cháu đang nghiên cứu tìm công thức bào chế ra máu người. Cháu rất bận rộn nếu không cháu đã về ăn cơm với chúng mình.
Ly rượu tôi đang cầm trên tay chút xíu rớt xuống bàn. A!! Cậu sinh viên này đi hơi xa. Cậu phải biết vô số các nhà bác học tài giỏi nhất trái đất, các giáo sư đại học uyên bác tuyệt vời đã bỏ bao nhiêu thì giờ công lao để bào chế máu người nhưng chưa ai thành công? Làm sao qua mặt được Thượng Đế ???
Nhưng vì lịch sự, vợ chồng tôi…câm như hến. Nói gì cũng sẽ làm chủ nhà mích lòng. Thấy đề tài khá hấp dẫn đưa ra không được người khác nồng nhiệt hưởng ứng, Ban có vẻ bối rối. Bữa cơm có vẻ chậm lại. Anh bỗng dưng xin phép ra ngoài. Chị Ban phân bua:
-Ổng lên cơn ghiền thuốc. Ổng ra ngoài hút một điếu, rồi trở lại ngay.
-Sao anh ấy không hút tại đây? Chỗ bạn bè cả, có gì mà ngại?
-Ý, không được đâu! Tôi bị dị ứng với khói thuốc lá. Ngửi thấy mùi thuốc là tôi lên cơn suyễn ngay. Nói xong chị móc túi lấy cái bơm aerosol cho chúng tôi coi.
-Anh thương chị quá xá, héng?? Vợ tôi góp ý.
Chị Ban mang trái cây ra ăn tráng miệng. Chúng tôi nuốt vội rồi ra về. Trong bụng tôi không vui vì thấy con bạn đang làm một công việc bất khả thi. Đem người lên Hỏa tinh sinh sống còn dễ hơn là bào chế ra máu người. Tôi lẳng lặng lái xe, tự hỏi tai sao con người lại có thể kiêu ngạo đến thế??
Cậu con trai bạn tôi - mà tôi gọi tạm là H - vì tôi quên tên cậu ta rồi - không bao giờ thành công trong viện bào chế ra máu nhân tạo. Tôi đoán vậy vì báo chí địa phương và các tờ báo lớn không bao giờ đề cập đến vụ này. Ban không bao giờ nhắc tới. Coi như chìm xuồng luôn.
Sau khi tốt nghiệp ở Harvard, cậu trở về Việt Nam và đã thành công rực rỡ. Đó là cậu chớp được cô gái rượu của ông đương kim Thủ Tướng.. Ông này coi như trúng số độc đắc.Tự nhiên được thêm vây thêm cánh. Đang quyền lực vô song bây giò trở thành bất khả xâm phạm. Cậu rể quý với cái bằng to tổ chảng đeo ở cổ, tất nhiên là.. ông Trời con. Người Việt mình xưa nay vốn trọng bằng cấp.
Chỉ xin kể qua một vài thành quả chính của cậu: trong một thời gian ngắn, cậu được làm Giám Đốc điều hành cho công ty VITC( tương tự như AT & T). Danh giá lắm rồi. Nhưng cậu không ngưng ở đây. Cậu về Mỹ, dụ khị được công ty Mc Donald sang đầu tư ở VN. Dân Saigon tha hồ ăn khoai tây chiên, Big Mac và uống Coca mệt nghỉ. Cũng nên nói thêm: giá tiền Big Mac, Coca không rẻ đâu. Quý vị nào muốn thưởng thức “ món lạ “ hãy coi lại túi tiền..
Khi tôi đang viết những dòng chữ này thì đươc tin H. cùng vài người bạn góp vốn mua quyền sở hữu CLB Chivas và sẽ xây stadium mới, ở ngay trung tâm Los Angeles. Giá cả trên 100 triệu Dollars Mỹ, lẽ dĩ nhiên. Tiền Cụ Hồ, ở đây không xài. Chúc H. gặp nhiều may mắn. Đá đâu thắng đó. Barcelona?? Bayern Munich? Manchester United ?? Paris Saint Germain?? No problem at all…..
Tôi không phải là nhà văn. Tôi không phải là nhà thơ. Tôi cũng không phải là nhà báo, dù là báo …Đời, báo …Vợ hay báo… biếu.( ba loại báo này nhan nhản mọi nơi, rất dễ kiếm).
Xét cho cùng thì tôi không là cái gì cả. Ông không ra Ông. Thằng không ra Thằng. Nhưng tôi biết thế nào là luật lệ. Chơi gì cũng phải theo luật. Đá banh mà để banh đụng tay thì bị phạt . Nếu trong vòng cấm địa thì bị penalty. Thấy cầu thủ bên địch mang banh xuống, từ phía sau gạt chân cho hắn ngả : bị thẻ vàng. Lần thứ hai lãnh thẻ đỏ, bị đuổi ra khỏi sân. Chơi bóng rổ, không được ôm banh chạy. Nếu không sẽ bị mất banh. Năm lần phạm lỗi, trọng tài sẽ không cho chơi và anh ta sẽ phải rời sân, trở thành khán giả bất đắc dĩ.
Viết văn cũng vậy. Và có luật, gọi là văn phạm.
Phe ta, tức những người cưỡng chiếm Miền Nam, bây giờ viết văn kỳ lắm. Tôi đã được coi vài phim ngoại quốc có phụ đề tiếng Việt. Không hiểu tiếng Đại hàn, tôi bèn coi phụ đề Việt ngữ. Mẹ ! Càng mù tịt luôn !! Đau như bò đá!!! Họ dùng luật rừng để viết. Thí dụ: NGHÀNH giáo dục, Ở đây bán bún TRẢ DÒ. Nói CHIỆN( nói chuyện) tiếu lâm. DỮ trẻ DÁ DẺ( giữ trẻ giá rẻ).
Tôi không thể kể hết ra đây được. Rồi họ dùng danh từ thay cho động từ. Thí dụ: Tôi KỶ LUẬT anh. (ý chừng muốn nói: anh phạm kỷ luật nên tôi phạt anh ). Nhà bảo sanh, họ gọi là XƯỎNG ĐẺ . Viết tiếng ngoại quốc thì hết chê. SEA you to morrow. WELL COME to Saigon. Trong cuốn Đại Tự Điển, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, trang1440, giòng 27, tôi đọc thấy chữ ; SE CA MA RAT. Người bạn thân. Ô hô!! Chữ này chỉ là phiên âm từ “ cher camarade”, tại sao lại khơi khơi nằm trong đại tự điển nước mình??
Thôi, không dám kể hết sợ đọc giả ..tức đến ói máu. Chẳng lẽ họ ( những ngưòi miền Bắc) chiến đấu quá lâu ở trong rừng rồi quên hết tiếng Việt?? Thế sao các anh dám vỗ ngực là Đỉnh cao của trí tuệ?? Là cái nôi của loài ngưòi ?? Là cái rốn của vũ trụ?? Các anh nói phải làm ngược lại những gì chúng tôi làm? Chúng tôi xây đắp, các anh đạp đổ. Vậy chúng tôi ăn cơm, các anh ăn “Xê “ à???
Cứ cái đà này rồi văn chương Việt Nam mình sẽ về đâu? Làm sao có những bài thơ bất hủ như Đèo Ngang ( bà Huyện Thanh Quan), điếu thu ( Cụ Nguyễn Khuyến),hay truyện Kiều ( Nguyễn Du), Cung oán Ngâm khúc ( Nguyễn gia Thiều ) v v..Tôi bi quan. Tương lai nền văn học mình chẳng xán lạn chút nào. Hay thẳng thừng mà nói, .. ĐEN NHƯ MÕM CHÓ.( 2 )
Lo lắng, than van , khóc lóc chẳng giúp ích gì. Phải tìm một giải pháp.
Tôi mơ ưóc có luật thống nhất cách viết tiếng Việt. Một nhóm người, không phân biệt tuổi tác, trong nước hay ở hải ngoại đứng ra gánh vác việc này. Tôi dùng chữ gánh vác vì tôi biết công việc không dễ dàng. Những người đó phải có thực tài, phải có lòng với đất nước. Và không ham danh lợi. Những ai là COCC ( 3 ) hay đã “lỡ “ mua bằng cấp xin ra chỗ khác chơi, hoặc tìm những nơi béo bở hơn để chấm mút.
Bây giờ thì quá sớm để nói đến Hàn Lâm Viện. Nhưng đại khái như vậy. Những nước tân tiến khác, Hàn Lâm Viện họ đã có từ …khuya rồi.Thí dụ bên Pháp, đã có từ hồi Richelieu. (thế kỷ thứ 17)
Hãy bàn về chính tả :
Nói chuyện hay nói CHUIỆN ?? ?
Hạnh phúc hay hạnh FÚC?
Giữ trẻ em hay DỮ CHẺ em??
Rồi trong những buổi họp hàng tuần, những người trong nhóm nói trên mang ra biểu quyết. Đa số sẽ thắng. Và được in vào tự điển. Sau đó, ai viết sai coi như bị phạm lỗi chính tả.
Đến đây, xin quý vị đọc giả đừng cười chế giễu.” Tưởng gì !!! “
Khoan!!!! Tôi muốn bắt dầu từ con số KHÔNG ( ZÉRO )..Quý vị đừng nóng lòng. Dục tốc bất đạt. Chậm mà chắc. Câu hỏi được đặt ra là ai sẽ chọn nhóm người trên? Ai sẽ cho phép nhóm này hoạt động ??
-Thưa, vị đương kim thủ tướng. Ngài quyền hành bao la. Muốn gì mà chẳng được ?? -Vậy làm sao gặp được Ngài ? Vấn đề nan giải là từ đây.
Tôi chợt nhớ đến Nguyễn bá Ban. Làm sui gia với người quyền hành nhất nước, tăng cường thêm cậu con trai khoa bảng xuất thân từ Harvard, tôi thầm nghĩ bây giờ Ban “ có giá” lắm. Vậy phải tức tốc bay về Việt Nam gặp ÔNG BẠN VÀNG.
Thẻ tín dụng của tôi khá cao, gần đụng trần nhà nhưng ăn thua gì mấy cái lẻ tẻ đó??? Chơi xả láng, sáng về sớm. Đây là tiếng lóng của dân chơi bài, tôi mượn tạm của họ để tả nỗi lòng tôi. Tôi mua hai vé máy bay về Viêt Nam
California bị hạn hán bốn, năm năm liên tiếp.Không một trận mưa ra hồn. Trời Cali nóng lắm. Saigon còn nóng hơn. Và lòng tôi nóng không kém. Tôi tìm gặp vài người bạn cũ ở chung cư xá khi xưa. Nhưng mọi người đều có thái độ tránh né. “ Tôi không liên lạc với anh từ lâu” hoặc “Tôi có số phone nhưng làm thất lạc rồi”. Mấy lần họp mặt bạn cũ nhưng anh đều không tới v v v v .Có một anh khá thân với Ban thận trọng đề nghị: Hay anh viết E-mail cho Ban rồi tôi chuyển dùm? Tôi y lời nhưng hỡi ôi, thư đi thì có mà thư về thì không.
Hy vọng cuối cùng là linh mục giám đốc cư xá ĐL. Bây giờ là người Việt.Tôi vội vã đến tìm Ngài và Ngài sốt sắng giúp tôi. Tôi liên lạc được với Ban qua điện thoại. Ban mời chúng tôi đến nhà anh ở đường LTT. Khi chúng tôi tới nơi, người thư ký hỏi tên tuổi rồi báo cho Ban. Biết đúng là chúng tôi, Ban ra đón ở cửa và mời chúng tôi vào phòng khách. Không có chị Ban. Chúng tôi nhớ chị với nụ cười tươi tắn và hàm răng thật đều. Nhưng không dám hỏi.
Phòng khách khang trang, rộng rãi, bày biện theo kiểu Âu châu, nhưng tôi không “ dại dột “ tả ra đây, sợ đọc giả chê tôi là…khen phò mã tốt áo. Trong phòng chỉ có BA người. Sau mấy câu hỏi xã giao như sức khoẻ, gia đình, v v tôi vào ngay vấn đề. Tôi muốn anh đưa chúng tôi gặp ông sui gia để đề nghị lập một nhóm người với mục đích thống nhất cách viết tiếng Viêt. Anh chăm chú nghe. Nghe xong, nụ cười trên môi anh tắt ngúm. Ban …rụt cổ , người co rúm lại, dáo dác nhìn quanh. Tôi kinh ngạc mở to đôi mắt. Tôi có cảm tưởng anh sợ có ai trông thấy hoặc sẽ thâu lén cuộc nói chuyện. Giọng anh thấp hẳn xuống:
-Tình huống thay đổi từng ngày( 4). Cách xử sự khôn ngoan nhất là GIẢ NGU GIẢ DẠI.. và IM CÁI MIỆNG .
Anh phải biết trong các buổi họp cao cấp( ?) tôi chưa bao giờ mở miệng nói một câu !!
Tôi định nêu thắc mắc : thế anh đi họp làm gì cho mất thì giờ, nhưng rồi lại thôi.
Rồi anh ngang nhiên đổi đề tài, rút I-pod trong túi ra khoe hai ba cái cầu khỉ anh đã xây thành cầu xi măng, bề ngang rộng hơn hai thước và dài hai, ba chục mét gì đó. Tôi thực sự nổi giận. Tôi bỏ bao nhiêu công lao đến gặp anh, không phải để nhận bài học” giả ngu giả dại, im cái miệng”. Cũng không phải để chiêm ngưỡng mấy cái cầu “ mắc dịch” mới được anh xây cất. Nhưng trong thế đi nhờ vả - quý vị đọc giả thông cảm cho - tôi biết làm gì bây giờ?? Biết đây không phải là mẫu người tôi chờ đợi, tôi kín đáo ra hiệu cho vợ tôi đứng dậy ra về.
Cuộc nói chuyện chỉ kéo dài không quá 30 phút. Ban không giữ chúng tôi lại. Hình như anh chỉ chờ có thế. Anh tiễn chúng tôi ra tận cửa và anh giả lả nói:
-Ở gần đây có tiệm phở gà ngon lắm. Lại rẻ. Anh chị tới đó ăn thử.
Tôi không trả lời, lẳng lặng dẫn vợ qua đưòng, và “quên” không bắt tay ông bạn quý.
-Em biết anh buồn. Thôi anh ạ. Anh đã làm hết sức của anh. Nếu không thành công thì anh đã thành nhân (5 ). Em rất hãnh diện đưọc làm vợ anh..
Tôi siết chặt đôi vai nàng như thầm cám ơn nàng đã hiểu tôi :
-Anh chưa bỏ cuộc dễ dàng như vậy đâu, Em ạ. Anh sẽ tìm cách khác .
Colorado Springs, Trung thu 2015 HMK

*
Ghi chú :
(1) Chữ Ban không có G
(2) Trích từ câu thơ: Sự đời như chiếc lá đa, ĐEN NHƯ MÕM CHÓ, chém cha cái sự đời.
(3) COCC : con ông cháu cha, ý nói thuộc gia đình thế lực, quyền quý.
(4) Tôi chép nguyên văn. Tôi thật sự không hiểu Ban định nói gì.
(5) Lời của liệt sĩ Nguyễn Thái học
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 16 2016, 09:26 AM
Gửi vào: #54


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35





Tốt nhất nên là con gái!

Một người họ Lý, vì gia cảnh nghèo khó nên đến tuổi ba mươi lăm, mới lấy được vợ là phụ nữ góa chồng cùng làng, về sau, sinh được người con trai, đặt tên là Sinh. Sinh học hành rất thông minh, dù mới chỉ xong Trung Học, đã vượt xa thanh niên khác trong làng. Anh được đề cử đến dạy bậc Tiểu Học. Hai năm sau, anh lại được đi Đại Học.

Người cha thật không ngờ mình đã hơn ba mươi tuổi, lại có được quý tử đầu tiên như vậy trong làng. Nhiều người rất nể phục ông và nói:

- Sinh tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm ổn định, tương lai lập gia đình ở thành phố, rồi, mai đây, sẽ đưa ông bà lên đó tha hồ hưởng phúc. Ở làng này, ông Lý là nhất đó nhé!

Hai vợ chồng nghe người ta lấy lòng mình như vậy, cũng vui mừng, không nói nên lời.

Sau khi tốt nghiệp đại học, Sinh được phân đến công tác tại Cục Tài Chính huyện; nửa năm sau, anh quen cô bạn gái tên là Tú Anh, nhà ở nông thôn, tốt nghiệp đại học xong, cũng được phân về làm ở Cục Công Thương huyện. Năm sau, hai người kết hôn.

Lần nọ, ông Lý lên thành phố tìm đến nhà con trai. Con dâu nhìn thấy cha chồng lần đầu tiên đến nhà, biết là có chuyện... Bằng không, ông sẽ không tìm đến đây, cô mới hỏi:

- Cha, hôm nay lần đầu tiên cha đến nhà, nhất định là có việc. Việc gì vậy? Cha nói đi! Con và chồng con nhất định sẽ giải quyết cho cha!

- Con đã hỏi, cha cũng không vòng vo. Gần đây, trong nhà không có tiền, giờ lại đúng mùa cấy mạ, phải nhờ người làm giúp, mua phân hóa học cũng phải cần tiền. Hôm nay, cha đến chính là cần mượn ít tiền mang về, giải quyết việc khẩn cấp.

- Cha chỉ cần sai người thân tín đến nói một chút, cần bao nhiêu, chúng con sẽ gửi mang về, cha không cần tự mình đến thăm, số tiền này con cần thương lượng với chồng con một chút.

Lúc chồng vừa về đến nhà, không đợi chồng chào hỏi cha, Tú Anh liền lôi chồng vào phòng nói:

- Cha của anh đến nhà nên em không ra ngoài mua đồ ăn được; trong nhà chỉ có rau, cha của anh cũng không phải khách quý, tiếp đãi tốt xấu thế nào, ông ấy già rồi không có so đo làm gì đâu! Hôm nay, ông ấy đến xin tiền đấy, để về trả chi phí cấy mạ, anh nói xem bao nhiêu thì được.

- Em nói cho bao nhiêu?

- Năm mươi đồng thiết nghĩ cũng đủ rồi nhỉ? Anh cho năm mươi đồng nhé! Có thiếu thì cha sẽ nghĩ ra cách khác thôi.

Tú Anh xào mấy món rau đơn giản qua loa tiếp đãi cha chồng. Sau buổi cơm, Tú Anh móc ra năm mươi đồng, đưa cho cha chồng và nói:

- Đây là năm mươi đồng tiền trả phí tổn cấy mạ, như vậy đủ rồi nhé!

Ông Lý cầm tiền, không nói lời nào, rầu rĩ trở về nhà.

Chỉ hai ngày sau, mẹ của Tú Anh tìm đến nhà. Vừa thấy mẹ đến, cô liền ân cần hỏi thăm:

- Mẹ, có phải hôm nay mẹ cần tiền không?

Mẹ của cô gật đầu một cái. Cô dặn dò mẹ coi nhà, rồi vội vàng đi mua cá, mua thịt, mua trứng gà…

Khi Sinh về đến nhà, cô kéo cửa ra, nói:

- Mẹ của em đã đến, anh hãy nhanh đi chào hỏi, đừng chậm trễ! Hôm nay, mẹ cũng đến xin tiền đấy, anh nói cho bao nhiêu là phù hợp?

- Em nói cho bao nhiêu?

- Ít nhất năm trăm đồng mới được! Vậy cho năm trăm nhé!

Tú Anh đưa mẹ số tiền ấy; bà cô vô cùng sung sướng, trở về nhà.

Tú Anh mang thai, cô đem tin vui này báo cho chồng biết và hỏi:

- Anh muốn con trai hay là con gái?

- Tốt nhất nên là con gái!

- Cái con người anh thật kì lạ, muốn em sinh con gái, sinh con gái có gì mà tốt chứ?

Sinh không nói lời nào.

Tú Anh mang thai được tám tháng; cô phải về nhà mẹ đẻ dưỡng thai, chờ sinh. Lúc gần đi, Sinh trịnh trọng nói với vợ:

- Nếu em sinh con gái thì hãy kịp thời báo cho anh biết; còn nếu như sinh con trai thì không cần, tốt nhất là đem cho người khác!

- Anh bị sao vậy? Tại sao không thích con trai chứ?

Sinh cũng không trả lời vợ một câu.

Ngày nọ, Sinh nhận được lời nhắn của mẹ vợ nói là Tú Anh đã sinh được một thiên kim tiểu thư; nghe xong, Sinh sung sướng nhảy dựng lên. Anh liền đến đơn vị xin nghỉ phép, thông báo là vợ của mình sinh con gái, anh ta muốn đến nhà mẹ vợ thăm con. Lãnh đạo chúc mừng anh, cũng đồng ý cho anh nghỉ phép.

Sinh mua mười sáu con gà, ba trăm cái trứng, còn có rất nhiều thuốc bổ, dùng cả túi tiền mua đồ đạc, vô cùng vui vẻ đến nhà mẹ vợ. Vào nhà, đem mọi thứ đặt trên bàn cơm ở phòng bếp, không đợi uống nước trà mẹ vợ đưa, Sinh liền chạy vào phòng, bước đến giường vợ, không nói lời nào, liền xốc chăn đang đắp trên người vợ lên và nói:

- Em cho anh xem rốt cuộc là con gái, hay là con trai.

- Bảo đảm anh sẽ vui.

Sinh ôm lấy con, đặt lên chăn, không thể chờ đợi thêm, liền vạch quần áo con ra thì thấy không phải con gái, tức giận quát lớn:

- Các người tại sao lừa gạt tôi? Tú Anh, cô chẳng lẽ đã quên tôi từng nói rằng sinh con trai không cần nói cho tôi biết sao?

Nói xong, Sinh ra khỏi phòng, lấy đồ đạc trên bàn cơm trong phòng bếp để đi và nói:

- Đứa con này tôi không muốn, các ngươi ai thích thì cho người đó.

Mẹ vợ thấy con rể giận dữ, liền giữ chặt tay anh ta và nói:

- Người ta sinh con trai thì đặc biệt vui mừng, còn con vì sao lại muốn đem con cho người khác? Hôm nay nhất định phải nói rõ vì sao thì mới có thể ra khỏi cái nhà này.

Sinh nói:

- Cha mẹ của con sinh con ra, vất vả nuôi con khôn lớn, cho con học hành, lên đại học, kết hôn, đã tốn hết bao nhiêu của cải. Thế nhưng, con từ lúc làm việc đến nay, ngày lễ, Tết trở về, lúc nào cũng hai bàn tay trắng, sinh nhật cha mẹ cũng không có được một chút quà mọn. Từ khi kết hôn đến nay, cha con bất đắc dĩ mới đến thăm một lần, muốn một ít tiền trả chi phí cấy mạ thì con gái yêu của mẹ chỉ đưa cho ông năm mươi đồng thì làm được cái gì chứ? Cha con cầm tiền, ngậm nước mắt ra đi, đã nói câu này: ''Sinh con trai thì được gì chứ?'' Lúc con nghe câu đó xong, trong lòng đau như chảy máu. Mẹ nói đi! Vậy thì con cần con trai làm cái gì chứ?

- Sinh à, mẹ không biết con gái mẹ đối đãi với cha mẹ con không hiếu đạo như vậy, chỉ trách cha mẹ không dạy dỗ nó ra con gia giáo. Con muốn đi, mẹ cũng không có mặt mũi nào giữ con lại, con hãy đem vợ con đi đi, đừng để nó ở lại nhà của mẹ nữa.

Mẹ vợ anh buông tay ra, bước vào phòng, đứng trước giường con gái, tốc chăn lên, tức giận nói:

- Mày ôm con mày cút ra khỏi nhà, tao không có đứa con gái như vậy!

- Mẹ, con sai rồi, sau này con nhất định sẽ sửa, nhất định hiếu kính cha mẹ chồng, mẹ cho con ở lại những ngày trong tháng rồi con đi, con xin mẹ!

Sinh nghe hai người nói qua lại, biết rằng mục đích của mình đã đạt được, bèn buông đồ đạc xuống, bước vào, nói:

- Mẹ đừng nóng giận, con gái đã nhận lỗi, mẹ hãy cho cô ấy một cơ hội, để cô ấy ở lại. Hai mẹ con ăn uống, cả công mẹ chăm sóc giúp đỡ, con sẽ tính toán rõ ràng không thiếu một đồng.

- Chỉ cần nó giữ lời nói, mẹ có thể để nó ở lại, tiền chăm sóc mẹ không muốn.

Sinh ở lại chăm sóc vợ, mãi đến ngày nghỉ hết mới đi.

Cha mẹ cả đời nuôi ta khôn lớn, hy sinh cho ta rất nhiều. Khi chúng ta lớn lên, dần dần có suy nghĩ riêng của mình. Lúc này, chúng ta không nên nghĩ ngợi lung tung, mà hãy nhớ thật kỹ những năm tháng công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ. Tuy là nói hiếu thảo với cha mẹ cũng được ghi vào luật pháp, nhưng hiếu thảo với cha mẹ không cần phải để luật pháp quy định mới làm, mà là tự giác vì đó chính là đạo lý làm người.

Chúng ta ngày từng ngày lớn lên, cha mẹ ngày từng ngày già đi, dần dần tóc chuyển sang màu trắng! Trước kia, khi còn bé, không hiểu chuyện, trông thấy cha mẹ tóc trắng chỉ biết cười ha hả, nói ông bà già rồi. Hiện tại, nhớ tới, cha mẹ tang thương, vất vả, cũng là vì chúng ta con cái hạnh phúc, vì cho chúng ta hoàn cảnh tốt đẹp để chúng ta trưởng thành.

Nói về phận làm con dâu, con rể, sự hiếu thảo với cha mẹ chồng /vợ cũng không kém phần quan trọng.

Cha mẹ của chồng, của vợ cũng như chính cha mẹ của mình, cũng vất vả nuôi con khôn lớn, về già cũng mong mỏi được nương tựa vào con cái.

Nhờ cha mẹ chồng, mình mới có người chồng mẫu mực, thành đạt trong cuộc sống; nhờ cha mẹ vợ, mình mới có được người vợ nết na, chu đáo. Thương yêu họ cũng chính là thương vợ, thương chồng, thương con cái của mình. Gieo nhân nào gặt quả ấy!

Hãy là tấm gương cho con cháu, hãy thương yêu trọn vẹn những người có duyên phận trong cuộc đời này của mình.
(suy tam)

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 30 2016, 10:00 AM
Gửi vào: #55


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Bà Mẹ Tây
hay “Thằng Tầu Con của Mẹ”



Nguyễn Cát Thịnh Source: Khai Phóng Posted on: 2016-03-29

Tác giả là một Dược Sĩ hồi hưu. Ông tốt nghiệp Đại Học Dược Khoa Saigon 1968. Định cư tại Canada từ 9/1982, tốt nghiệp đại học dược khoa Toronto 1985. Năm 2011, ông góp bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên, một chuyện vui sống động trên một chuyến bay từ Hongkong về Bắc Mỹ. “Bà Mẹ Tây” hay “Thằng Tầu Con của Mẹ” là bài viết thứ ba của ông, không chỉ sống động mà còn xúc động trong cách viết, cách kể. Mong tác giả sẽ tiếp tục viết.

- Gió đông gió tây, gió nào đã đưa cậu tới đây?

- Chẳng có gió đông, chẳng có gió tây, chỉ có "gió chướng" thôi. Gió chướng đã mang tôi tới đây để gặp tên bạn "khỉ gió" thuở còn tắm truồng đấy!

- Cậu lúc nào cũng ăn nói "khó tiêu". Dễ có trên ba chục năm không gặp cậu. Thú thật đi, có phải cậu đến đây để thăm bà bé không? Tôi không mách bà xã cậu đâu. Đừng lo.

- Cậu đoán đúng mới có một nửa. Đúng, tôi vừa đi thăm viếng một người đàn bà.

- Ai thế? Tôi có biết người đó không?

- Có thể cậu biết. Bà mẹ tôi ấy mà.

- Cậu không đùa đấy chứ. Mẹ cậu đã mất ở VN. Tôi cùng bạn bè đã gửi lời chia buồn từ ngày nảo ngày nào rồi. Hay là mẹ của mẹ bầy trẻ? Nhưng mà bà xã của cậu mồ côi mẹ mà!

- Không, bà mẹ nuôi, bà Steinberg mà tôi đã có lần nói với cậu khi mới tới thành phố này đó. Nhớ không? Đây là lần đầu tiên tôi đi tảo mộ. Tôi ở bên bà suốt buổi sáng nay rồi đi ăn trưa với lão luật sư già của bả.

- Nhớ, nhưng tôi chưa hề nghe nói cậu là con nuôi của bà triệu phú từ tâm này. Ê, đừng thấy sang bắt quàng làm họ nhé. Khi cậu rời khỏi nơi đây thì bả cũng đã qua đời. Tôi nhớ rất rõ.

- Hồi đó tụi mình chưa an cư nên tuy ở gần mà như nghìn trùng xa cách, chả mấy khi được ngồi tâm sự như bây giờ nên cậu không biết. Chuyện dài lắm, tôi sẽ kể cho cậu nghe. Bây giờ tụi mình đi kiếm cái gì lót dạ đã.

Buổi tối hôm đó, đôi bạn tri kỷ đối ẩm, nói chuyện "cổ tích".

Năm tôi đến đất nước này, chu kỳ suy thoái kinh tế bắt đầu. Việc làm hiếm hoi, nhưng chính phủ vẫn mở rộng vòng tay nhân ái tiếp nhận người tỵ nạn. Cậu có bà xã giỏi giang, đi làm nuôi chồng con. Cậu chỉ lo nội trợ, đưa đón con cái đi học, có thì giờ rộng rãi dồi mài kinh sử. Còn tôi, độc thân tại chỗ, vợ con còn kẹt lại VN, một cảnh hai quê. Vừa mong mau chóng ổn định cuộc sống vừa mong đủ điều kiện tài chánh bảo lãnh gia đình.

Chưa bao giờ tôi nghĩ có ngày phải đi ăn mày chính phủ Canada. Mỗi tuần sắp hàng ngửa tay nhận chi phiếu bảy chục đô la, rồi còn bị cô thư ký người Việt nói xỏ xiên, thúc giục tìm việc. Tôi đã cảm nhận tất cả ê chề nhục nhã của kiếp tha hương.

Rất may mắn, tôi đã gặp cậu và được cố vấn nên sau vài lần xin việc bị từ chối khéo, tôi điền đơn tại bệnh viện Montford theo đúng lời cậu chỉ dẫn. Lý lịch khai rất gọn, phần học vấn bỏ trống, không ghi tốt nghiệp đại học VN. Xin làm Pharmacy Attendant, công việc sai vặt trong khoa dược.

Bà trưởng phòng nhân viên bệnh viện đọc hồ sơ, ngước mắt nhìn tỏ vẻ thương hại rồi nói, được rồi, anh cứ về, khi nào có chỗ trống sẽ gọi phỏng vấn.

Vừa định đứng dậy thì bà ra dấu cho tôi ngồi xuống, ngập ngừng... Tôi biết bên hospice, nhà an dưỡng của bệnh nhân cận tử, đang cần một orderly nam, tức y công đàn ông. Nếu anh không ngại tôi sẽ giới thiệu. Đang đói việc, tôi bằng lòng ngay, bất cứ việc gì.

Y tá trưởng của hospice vui mừng đón nhận tôi.

Bà cho biết công việc không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự nhẫn nại hơn bình thường. Chỉ phục vụ một bệnh nhân đặc biệt và khó tính. Gia đình bệnh nhân này là ân nhân của bệnh viện, đã hiến tặng toàn bộ xây cất và các trang thiết bị cho hospice nên tên của người chồng quá cố, "J.D. Steinberg" được vinh danh trên bảng đồng.

Bà thành thật cho biết đã có 2 nữ y công bị trả lại vì bệnh nhân không hài lòng và thêm một nữ nữa bỏ việc vì không chịu nổi áp lực.

Tuy nhiên lương bổng rất hậu hĩnh. Bệnh nhân này sẵn sàng trả thêm tiền thưởng tương đương với tiền lương của bệnh viện.

Bà muốn thay đổi, đề nghị tuyển nhân viên nam, hy vọng nam có sức chịu đựng tốt hơn nữ.

Bệnh nhân là bà Steinberg, khoảng gần bảy chục tuổi, bị ung thư buồng trứng, đã di căn, giai đoạn cuối. Đẹp lão, mập mạp, tướng mệnh phụ. Bà tiếp tôi lạnh lùng, sau khi cô chuyên viên trang điểm rút lui. Hỏi vài câu vắn tắt lấy lệ, rồi cho tôi kiếu.

Quả thật công việc rất nhàn hạ, nhưng không thơm tho. Bác sĩ, y tá thăm bệnh và cho thuốc men theo thời khoá biểu. Cô quản gia kiêm thư ký công ty của gia đình trình diện vào buổi trưa mỗi ngày, đem thức ăn khoái khẩu của bà và quần áo mới. Tôi chỉ giúp bà làm vệ sinh tiêu tiểu buổi sáng, ngay trên giường và đổ phân vào cầu. Buổi chiều, sửa soạn bồn tắm, giúp bà làm vệ sinh thân thể và đẩy xe đưa bà đi dạo. Ngoài ra, chùi rửa phòng, thay bọc trải giường, mang quần áo chăn mền qua phòng giặt ủi...v...v... Thỉnh thoảng ghé mắt xem bà có cần sai bảo gì không. Khẩn cấp thì phải chạy tìm y tá bác sĩ trực.

Tôi được sắp xếp cho ở góc cuối phòng, ngăn bằng chiếc màn kéo, đủ kê chiếc giường đơn, ghế nằm và bàn viết. Một ngày chỉ thật sự làm việc độ 3 hoặc 4 tiếng, ăn uống ở câu lạc bộ. Thời giờ quá dư thừa nên tôi mượn sách chuyên môn của thư viện đọc, mơ một ngày nào đó sẽ lấy lại được bằng hành nghề.

Một buổi tối, bà rên khò khè đau đớn, tôi chạy lại thì nghe bà quát, đi lấy cho ta cái "donut" ngay. Ta cảm thấy khó chịu quá!

Tôi cuống quít nói, thưa bà giờ này quá khuya, e không có tiệm bánh donut nào mở cửa, bà có thể chờ đến sáng sớm mai không?

Bà nổi quạu, phán, đồ ngu! Xuống bảo y tá trực đưa.

Tôi răm rắp chạy báo cáo bà y tá già. Bà cười ngặt nghẽo, đưa cho tôi cái vòng cao su mầu cam trông giống như ruột xe vespa, bảo, đấy, donut là cái này này.

Tôi vỡ lẽ, té ra donut cũng là tên gọi của cái vòng đệm cao su, dùng để kê dưới bàn tọa cho êm.

Mấy ngày sau, khi đã hơi khoẻ, bà ngoắc tôi lại, ra lệnh, ê thằng Tầu con, xuống kêu con nhỏ làm tóc lên chải đầu cho ta. Hôm nay ta có khách lại thăm.

Bị chạm nọc nhưng tôi vẫn đủ bình tĩnh, khẽ thưa, xin bà đừng gọi tôi là Tầu con. Tôi đã 36 tuổi rồi và là người Việt Nam không phải Tầu.

Trái với sự mong đợi của tôi, bà tỏ vẻ thân thiện, ngồi thẳng dậy, tròn mắt, hỏi lại, Việt Nam? Việt Nam? Con trai của ta chiến đấu ở VN và đã mất tích từ năm 1970, cũng trạc tuổi của mi.

Tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Ngờ ngợ có sự liên quan tới Bác sĩ John Steinberg mà tôi quen biết khi còn trong quân đội.

Kể từ đó, mỗi khi có dịp, tôi gạ gẫm bà kể thêm về người con trai. Bà rất hứng khởi.

Sự nghi ngờ ban đầu đã dần dần sáng tỏ. Gom góp các chi tiết và đối chiếu các sự kiện, tôi đã chắc đến 99.99% John Steinberg, con trai của bà, và BS John Steinberg, bạn tôi, là một người bạn quí.

Theo bà, John là một đứa trẻ có nhiều cá tính ngay từ nhỏ. Thông minh, bướng bỉnh, tinh thần tự lập cao. Nhiều tự ái, nóng tính, hơi cố chấp và đặc biệt xung khắc với cha.

Ông Steinberg muốn hướng chàng thành một doanh gia. John, trái lại, thần tượng BS Albert Schweitzer. Ước vọng trở thành thầy thuốc giỏi, từ bỏ thế giới văn minh, đến các xứ nghèo Phi châu, mang tài năng và nhiệt tâm phục vụ không điều kiện.

Sau khi tốt nghiệp y khoa Mc Gill, lúc chuẩn bị nội trú chuyên ngành tại bệnh viện Ottawa thì xảy ra một cuộc đấu khẩu dữ dội giữa hai cha con. John giận cha, bỏ qua Mỹ, tình nguyện nhập ngũ. Được huấn luyện quân sự tại Fort Bragg và tu nghiệp chuyên môn tại Womack Army Medical Center NC. Y sĩ Đại uý John Steinberg sau đó được gửi qua Việt Nam, bổ sung toán quân y thuộc liên đoàn 5 lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ, đóng tại Nha Trang.

John vẫn thư từ liên lạc với bà mẹ đều đặn. Cho đến một buổi chiều ảm đạm mùa thu năm 1970, ba sĩ quan đồng ngũ của binh chủng gõ cửa báo tin con bà đã mất tích khi đang thi hành nhiệm vụ, được ghi vào danh sách M.I.A.

Ông Steinberg bị nỗi hối hận dầy vò, tự đổ lỗi cho chính mình, đã đưa đẩy con trai vào chỗ chết. Ông qua đời ba năm sau.

Thời gian John công tác, tôi đang làm việc tại bệnh xá gia đình binh sĩ cũng đồn trú Nha Trang.

Chúng tôi cùng đi làm dân sự vụ thường xuyên tại các bản thượng hẻo lánh nên quen biết rồi thân nhau. Thỉnh thoảng tụ tập ăn uống nhậu nhẹt tại các quán bờ biển hoặc đi nghe nhạc phòng trà.

Khi tin John tử trận bay đến phòng làm việc, tất cả ban quân y chúng tôi đều bàng hoàng. John và toán dân sự vụ Việt Mỹ chết bỏ xác khi máy bay trực thăng trục trặc kỹ thuật, đáp tạm xuống bãi đất hẹp gần nhánh sông chảy xiết. B40 bắn rớt ngay lúc vừa cất cánh trở lại. Duy có một y tá VN tên Công thoát hiểm một cách kỳ diệu. Hắn ngụp lặn, bơi ngược dòng nước, băng rừng suốt đêm đến được nơi an toàn.

Quá hoảng loạn trong nỗi kinh hoàng tột độ, y tá Công bị hậu chấn thương nặng, chuyển về khoa tâm thần tổng y viện Cộng Hoà điều trị vài tháng rồi được cho giải ngũ. Hắn vẫn đến xin thuốc an thần và thuốc ngủ đều đặn nên từ đó anh em đổi biệt danh "Công ngủ" thành "Công không ngủ".

Những năm cuối của thập niên 70 và đầu thập niên 80, tôi hay lang thang khắp chợ trời. Tình cờ gặp lại "Công không ngủ". Hắn đã lột xác, trông bảnh bao, da dẻ hồng hào, ra dáng công tử vườn. Hắn khoe buôn bán thuốc tây, thu nhập khấm khá. Hắn bỏ một buổi buôn bán, mời tôi đi nhậu ở tiệm ăn sang trọng trên đường Nguyễn Huệ. Đãi rượu Martell và thuốc thơm ba số. Lúc đã ngà ngà, hắn nhắc lại chuyện cũ. Bật mí tất cả những gì chưa từng bật mí.

Chiếc trực thăng chao đảo vì phi công bị B40 xuyên nát cổ. Đủ loại súng thi nhau nhả đạn, mọi người nhốn nháo chen nhau nhảy xuống. Đạn đan tròng tréo, có người rớt lịch bịch, có người nằm xuống khi chân chưa chạm đất. Bác sĩ Steinberg cùng hắn và vài người nữa chạy thẳng xuống sông. Các người kia bơi theo dòng nước. Ông bác sĩ Mỹ to cồng kềnh, bơi hoặc lặn cũng không ổn nên tìm chỗ ẩn nấp dưới đám lau sậy. Vốn là dân xóm Cồn, giỏi bơi lội, lại nhỏ con nên "Công không ngủ" nhanh như chớp, phóng xuống giữa dòng, vớ một ống sậy dài, ngậm thở, lặn ngược dòng, đánh lạc hướng của nhóm du kích chạy xuôi trên bờ đang truy đuổi từng người. Nghe tiếng súng AK nổ ròn rã, hắn biết những bờ bụi chắc chắn là những mục tiêu bị nhắm bắn. Hắn tự khen mình thông minh, không trốn theo ông bác sĩ cũng không bơi xuôi giòng. Rất có thể nhiều người đã lãnh đủ những tràng đạn vừa qua.

Đợi khi bóng dáng đám du kích đã hoàn toàn mất hút, hắn bơi đến chỗ ông bác sĩ thăm dò. Vùng máu loang lổ đang lan rộng chứng tỏ ông đã trúng đạn. Sờ mũi, vạch mắt, nghe tim, biết ông đã chết, hắn chỉ kịp mở nút gài túi áo trên lấy chiếc ví dầy cộm, lột chiếc đồng hồ trên tay.

Tiếng đám du kích vui cười nghe rõ dần, có lẽ họ trở lại thu nhặt chiến lợi phẩm. Hắn đẩy xác ông bác sĩ ra giữa dòng để gây sự chú ý, giúp hắn có thêm thì giờ lặn ngược dòng trốn càng xa càng tốt.

Nằm ếm dưới nước, chờ trời tối, hắn bước nhanh vào khu cây cối rậm rạp, nhắm hướng sao đi tới. Rạng sáng, hắn gặp một người đàn bà thượng đeo gùi sau lưng, địu con phía trước đi làm rẫy. Hắn bập bẹ vài tiếng thượng học được, xin chỉ đường đến đồn bót gần nhất.

Bài học mưu sinh thoát hiểm, cộng với may mắn cùng sự giúp đỡ của người dân tốt bụng đã đưa hắn trở về bình yên.

Lợi dụng việc sống sót hy hữu sau tai nạn, hắn đã đóng kịch rất khéo, giả bệnh, qua mặt được mọi người và giải ngũ.

Hắn cho biết trong chiếc ví của ông bác sĩ, ngoài số tiền mặt khá lớn, đủ để hắn sửa sang nhà cửa và mua chiếc xe Honda 90 đời mới, còn có một lá thư, một tấm hình, vài thứ giấy tờ linh tinh.

Hắn cho tôi địa chỉ nếu muốn đến xem. Tôi không có dịp vì còn mải lo chuyện vượt biển.

Sự sống của bà Steinberg kéo dài hơn ước tính của các bác sĩ. Bà cho là lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe và hy vọng phép mầu nhiệm sẽ đến qua ơn cứu rỗi.

Một tuần trước sinh nhật, bà điện thoại cho hai cô con gái lớn nhắc nhở. Năn nỉ các con cháu sẽ đến và ở chơi với bà một buổi. Bà dặn tôi đến ngày đó phải thu dọn căn phòng trống kế bên sạch sẽ, kê thêm bàn ghế và phụ giúp nhà hàng chăm lo phần ẩm thực.

Tôi chợt có ý nghĩ nhân dịp này sẽ tặng bà một món quà sinh nhật bất ngờ. Đánh điện tín nhờ vợ tôi mang đến "Công không ngủ", hẹn giờ ra bưu điện nói chuyện điện thoại viễn liên.

Tôi ngỏ ý muốn mua cái ví của BS Steinberg cùng tất cả các thứ trong đó. Thỏa thuận xong giá cả, tôi yêu cầu hắn tạm thời fax ngay cho tôi những thứ có trong chiếc ví.

Ngày hôm sau, chỉ nhận được bản fax của lá thư và tấm ảnh, nhìn không rõ lắm nhưng chữ có thể đọc mò được.

Tiền thì hắn nhận đủ nhưng chiếc ví không bao giờ được gửi. Về sau nghe chú hắn nói, hắn đang tìm đường vượt biên và cái ví sẽ là lá bùa khi xét ưu tiên định cư Mỹ.

Sau nhiều năm không ai nhận được tin tức về chuyến tầu của hắn. Có lẽ cái ví cũng theo hắn định cư dưới lòng đại dương.

Buổi sáng sinh nhật, bà dậy thật sớm tuy cả đêm trằn trọc. Người làm tóc, người trang điểm bận tíu tít. Người ta thay cho bà một bộ đầm sang trọng. Trông bà tươi tỉnh, cười nói huyên thuyên, không ai nghĩ rằng đó là một bệnh nhân sắp từ giã cõi trần. Bà nói đã lâu lắm rồi, không thấy mặt mấy đứa cháu ngoại, không biết chúng nó cao lớn thêm và xinh đẹp như thế nào. Bà tưởng tượng sẽ ôm từng đứa, sẽ phủ mưa hôn trên từng phân vuông của những khuôn mặt thiên thần. Sau đó nếu Chúa có bắt đi ngay bà cũng an lòng. Chỉ tưởng tượng thôi mà cảm xúc đã dâng trào trên niềm hạnh phúc ảo.

Các tiếp viên nhà hàng mang thức ăn bầy biện đẹp mắt, chiếc bánh sinh nhật hấp dẫn đặt giữa bàn. Tất cả kiên nhẫn chờ được phục vụ.

Suốt từ sáng đến quá trưa, bà bồn chồn, đứng ngồi không yên. Vẫn không thấy con cháu xuất hiện. Toàn thể nhân viên hospice không chờ đợi được nữa, bàn nhau tụ tập vây quanh bà, vỗ tay hát bài mừng sinh nhật. Bà gắng gượng ngồi nghe đến câu cuối, xua tay ra dấu mệt mỏi, để nguyên quần áo nhờ tôi đỡ lên giường.

Cô thư ký lăng xăng lên xuống, liên tục điện thoại khắp nơi, tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Buổi chiều, cô trở lại buồn bã báo tin, cả hai gia đình của hai con gái bà đang vui chơi ở Disney World Orlando Florida từ vài ngày nay.

Bà Steinberg suy sụp tinh thần thấy rõ. Không ăn uống. Đóng cửa, không tiếp bất cứ ai. Tôi trở thành liên lạc viên duy nhất của bà với bên ngoài. Rất khó khăn ép bà uống thuốc đúng giờ.

Tối hôm đó, cơn đói đánh thức, bà sai tôi mua một tô súp gà và ly sữa. Tôi mua thêm một chiếc bánh chocolate donut và một cây đèn cầy. Bà chỉ húp vài muỗng súp và một phần ly sữa. Tôi mở bao lấy chiếc donut để trên đĩa giấy, thắp cây đèn cầy, bưng về phía bàn ngủ. Run run hát nho nhỏ, happy birthday to you, happy birthday to you, happy birthday to Mrs Steinberg...


Bà há hốc miệng ngạc nhiên, im lặng vài khoảnh khắc rồi quay mặt vào tường. Tôi ngỡ bà phản ứng giống như khi nghe nhân viên bệnh viện hát chúc mừng trước đó. Ngờ đâu bà quay lại với đôi mắt ướt, giơ hai tay ôm chầm lấy tôi. Líu lưỡi cám ơn, cám ơn. Bà thổi đèn cầy rồi ăn hết chiếc bánh bình dân một cách ngon lành, nói, đây mới chính là cái "donut" mà ta muốn. Bà cám ơn tôi lần nữa, đã cho bà một sinh nhật tuyệt vời và độc đáo.

Bà vui vẻ trở lại nhanh chóng. Kể đủ mọi chuyện ngày cũ, toàn những chuyện về John. Trong ba người con chỉ có John nhớ sinh nhật của bà, dù đi đâu xa cũng quay về vào ngày ấy. Bà nhất định cho rằng, bằng cách nào đó, chính John đã mượn tôi thực hiện sáng kiến sinh nhật donut.

Tôi nói có một món quà sinh nhật và trao cho bà chiếc phong bì đựng bản fax của lá thư và tấm hình. Thêm một lần ngạc nhiên thích thú, bà mở ra. Mới lướt qua tấm hình và đọc vài hàng của lá thư, bà thở hổn hển. Những thứ này ở đâu ở đâu ra? Đúng là nét chữ của ta, đây là lá thư ta gửi John cám ơn lời hỏi thăm sức khỏe khi ta bị té gẫy chân và cho biết tình trạng đã ổn định. Làm sao mi có được? Nói ngay, nói ngay! Còn tấm hình mờ nhưng ta biết đó là hình chụp ta và con chó Buddy.

Tôi cho bà biết chuyện thật đời tôi, tất cả những gì tôi nghe về bạn quá cố của tôi, lúc còn sống, lúc lâm nạn và tại sao tôi có được những thứ đó.

Bà nhờ tôi kê gối đẩy lưng cao lên. Đọc kinh tạ ơn Chúa. Bà càng tin rằng John đã nhập vào tôi và mang thông điệp của tin mừng đến cho bà.

Bà đã mệt lắm rồi. Linh tính những ngày giờ cuối cùng đã điểm, tôi ở lại bên cạnh bà.

Thấy bà không ngủ, tôi hỏi có cần gọi y tá không? Bà không trả lời, cầm tay tôi đặt lên ngực phía trái tim, cặp mắt lạc thần, nhìn vào hư không, nói lẩm bẩm như người mộng du.

''Baby John của mẹ, con có biết 12 năm nay không có ngày nào mẹ ngưng thương nhớ con? Mẹ nhớ từ tiếng con khóc lúc chào đời..., mẹ nhớ lúc con chập chững những bước đi.... Mẹ nhớ những ngày tuyết đổ mẹ dẫn con vào lớp học giao cho cô giáo vườn trẻ, con níu áo mẹ không rời, mẹ phải ở với con suốt buổi rồi đem con về.... Mẹ nhớ những đêm con ho cảm lạnh, mẹ thức trắng đêm ôm ru con ngủ.... Mẹ nhớ...Mẹ nhớ.... Mẹ khóc mừng ngày con tốt nghiệp đại học.... Mẹ tưởng con của mẹ sẽ mãi mãi êm ấm trong vòng tay mẹ. Nhưng con, con... đã đi và đi không trở lại. Lúc sinh thời, cha con nếu có lỗi với con thì cũng chỉ vì yêu con. Hai cha con bây giờ đã xum họp ở thế giới khác, đâu còn giận hờn. Mẹ cũng sắp sửa gặp cha con và con đây. Con ngoan nhé. Mẹ yêu của con.''

Tôi lặng yên quỳ xuống đầu giường để bà vuốt tóc. Ước gì thật sự là John để bà trút hết nỗi niềm chất chứa bấy lâu và để cho tình mẫu tử thăng hoa.

Bà chợt tỉnh, nhận ra tôi nhưng vẫn tiếp tục xoa đầu. ''Ta thấy hình ảnh của John qua con, con cũng là con ta''. Bà dí ngón trỏ lên trán tôi, mỉm cười, nụ cười nhân ái nhất nhận được trong đời, mắng yêu, "THẰNG TẦU CON CỦA MẸ". Chúa ơi! Bà gọi tôi là con và xưng mẹ!

Không biết ai xúc động nhiều hơn ai. Có lẽ không phải là bà mà là tôi. Tôi bỗng buột miệng vô thức...Mẹ, Mẹ... rồi á khẩu. Dòng nước mắt tôi chảy, giọt nước mắt bà lăn dài. Cả hai ôm nhau hoà tan trong nước mắt.

Trưa hôm sau bà lệnh cho cô thư ký mời luật sư gia đình gặp bà thảo luận chuyện quan trọng. Ông đang có việc ở Âu châu nên chỉ nói chuyện qua điện thoại và hứa sẽ đổi vé, bay về trên chuyến gần nhất.

Bác sĩ được triệu đến khẩn cấp.

Bà Steinberg yếu dần, bỏ ăn từ chiều hôm trước, môi khô. Nuốt khó khăn. Mũi thuốc morphine giảm đau liều cao chỉ giúp bà thiếp đi một chốc. Đắp thêm chăn, xoa bóp chân tay, vẫn còn lạnh. Bà đã bị ảo giác, mất định hướng thời gian và không gian. Liên tục thì thào gọi tên John. Tôi nắm bàn tay lạnh của bà vuốt nhẹ, khẽ gọi, mẹ ơi! mẹ ơi!.

Bà thở không bình thường nữa, hắt ra rồi bất động. Bác sĩ vạch mắt, rọi đèn pin soi đồng tử, nhìn đồng hồ lắc đầu. Xong một kiếp người!

Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ mọi người đã có mặt trong phòng. Hai người con gái đi cùng hai luật sư của họ, luật sư gia đình, giám đốc các công ty kinh doanh của gia đình, các đại diện và luật sư của các hội từ thiện, một vài họ hàng thân cận.

Tất cả yêu cầu luật sư gia đình công bố di chúc. Họ tranh cãi khá lâu, không ồn ào nhưng rất gay gắt. Không đi đến kết quả nên đồng ý giải quyết sau tang lễ.

Nghe thoang thoáng có người đề cập đến tên mình nhưng tôi để ngoài tai vì nghĩ không có gì liên hệ.

Luật sư yêu cầu giải tán để nhân viên nhà quàn làm phận sự. Nhiều người trước khi bước ra khỏi cửa ném cho tôi cái nhìn khó chịu, có người đi ngang tôi với vẻ thù hận ra mặt. Tôi không hiểu tại sao. Không lẽ kỳ thị chủng tộc?

Những gì xảy ra trong những ngày vừa qua khiến cho tôi chán ngán tình đời. Một quyết định xẹt trong đầu. Đi thật xa. Phải, sẽ đi thật xa để khỏi nhìn thấy những con diều hâu bạc tình bạc nghĩa đang rỉa xác một người đàn bà nhân hậu. Tôi bước vào phòng, đặt một nụ hôn trìu mến trên trán bà mẹ nuôi. Nói nhỏ, lạy mẹ, con đi.

Tôi về nhà nhét vội vài bộ quần áo vào va li, bỏ lại tất cả đồ đạc, ra bến xe đò Greyhound mua vé đi thẳng Toronto. Cuộc đời lưu lạc bắt đầu từ đó.

Ông luật sư đãi tôi ăn trưa tại một nhà hàng ở khu phố vắng. Chuyện xảy ra 32 năm trước được giải mật.

Khi ông đang ở Paris, bà Steinberg điện thoại, muốn sửa di chúc. Ông chấp hành chỉ thị, thâu băng cuộc đối thoại, soạn thảo văn bản ngay trên chuyến bay khứ hồi. Không may, bà đã không kịp duyệt ký trước khi ra đi.

Các cuộc tranh cãi sau khi bà chết bùng nổ giữa các luật sư.

Di chúc chính thức qui định rõ, gia tài được chia làm 3 phần đồng đều, cho 3 người con. Riêng phần của John Steinberg có ghi chú thêm. Vì đã được liệt kê trong danh sách quân nhân mất tích, nên nếu 5 năm sau khi bà mất, vẫn không nhận được tin tức mới, phần này sẽ được chia 50/50. 50% giành cho các cơ quan từ thiện đã chỉ định. 50% sẽ thuộc về 2 người con còn lại.

Theo bản dự thảo di chúc mới, phần của John được sửa lại, sau 5 năm phần này sẽ được trao cho tôi thay vì chia 50/50 cho các cơ quan từ thiện và 2 người con gái.

Ông luật sư yếu thế, không thuyết phục được mọi người chấp nhận lời di chúc phi văn bản. Nếu đưa ra toà án phân xử cũng không hy vọng thắng. Kiện cáo có thể kéo dài, sẽ rất tốn kém. Điều quan trọng nhất, người có quyền lợi là tôi thì biệt tích giang hồ, không tìm thấy địa chỉ liên lạc. Bản di chúc cũ được thi hành. "Định mệnh đã an bài", không thể thay đổi.

Ông trao cho tôi cuốn băng. Giữ lại như một kỷ niệm, ghi nhận tình thương và lòng hào hiệp của bà mẹ nuôi đối với tôi.

- Là triệu phú hụt, cậu có tiếc không?

- Không, không bao giờ. Tôi vẫn nhớ chuyện tái ông thất mã. Trong cái rủi luôn luôn có cái may đền bù. Trong cái may luôn luôn ẩn nấp cái rủi. Nếu lúc đó là triệu phú, nhiều phần đã biến tôi hư hỏng. Tiền không do công sức của mình làm ra là tiền...lèo. Xài tiền lèo thì mình cũng trở thành lèo. Sẽ ỷ lại, không cầu tiến.

Vì đã không là triệu phú nên tôi mới là tôi như bây giờ. Bằng lòng với hiện tại.

Tôi có hai bà mẹ. Bà mẹ da vàng để lại vết tích đậm nét da vàng trên thân xác tôi. Bà mẹ da trắng để lại nhiều dấu ấn khắc sâu trong tâm khảm tôi. Tôi yêu cả hai.

Nếu đến lễ Vu Lan hay Ngày Của Mẹ có ai hỏi tôi, bông hồng hay bông trắng cài áo? Tôi sẽ bảo, vui lòng cài cho tôi hai bông trắng.

- Xin cạn ly mừng cậu có hai bà mẹ trong đời. Chúc cậu đêm nay ngủ thật ngon, sẽ mơ hội ngộ BÀ MẸ TÂY...có con là "thằng Tầu con".

01 Tháng tư 2014
Nguyễn Cát Thịnh
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 31 2016, 12:14 PM
Gửi vào: #56


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



​Chuyện tình Việt – Pháp – Hoa bên bờ sông Tiền

Nhiều người đã đọc tiểu thuyết “Người tình” (L’Amant, tiểu thuyết nổi tiếng thế giới của nữ văn sĩ người Pháp Marguerite Duras) và xem bộ phim cùng tên được chuyển thể từ chính cuốn tiểu thuyết “Người tình” bởi đạo diễn nổi tiếng Jean-Jacques Annaud.

Nhưng còn ít người biết rằng, đó không chỉ là chuyện tình Pháp – Hoa trên đất Việt, mà là chuyện tình Việt – Pháp – Hoa, và hiện tại câu chuyện tình này đang trở thành giá trị văn hóa lịch sử lớn, góp phần phát triển du lịch ở vùng đất miền Tây Nam bộ, trên cả huyền thoại Công tử Bạc Liêu.


Thị xã Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) và thành phố Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) nằm hai bên bờ sông Tiền, cách nhau khoảng 70 cây số. Gia đình chàng trai Huỳnh Thủy Lê “anh ở đầu sông” nơi thị xã Sa Đéc đã kết thông gia với gia đình cô Nguyễn Thị Mỹ “em ở cuối sông” bên bờ sông Tiền thành phố Mỹ Tho. Thế nhưng, trong khi gia đình hai bên chuẩn bị cho cuộc hôn nhân, thì bất ngờ một cô gái người Pháp (là tác giả của tiểu thuyết “Người tình”) xuất hiện. Sự xuất hiện của cô gái Pháp tuy có làm chao đảo, nhưng vẫn không làm tổn hại đến cuộc hôn nhân đã hẹn ước ở hai bên sông Tiền, mà sự xuất hiện đó đã là cơ duyên cho sự ra đời sau này một tác phẩm văn học lừng danh trong thế giới Pháp ngữ và trở thành giá trị lớn của vùng đất Tây Nam bộ cho đời sau.

Sự ra đời của một cuốn tiểu thuyết lừng danh Một ngày cuối năm 1971 giữa thủ đô Paris tráng lệ của nước Pháp. Nữ văn sĩ đang được độc giả nước Pháp và cả thế giới Pháp ngữ yêu mến Marguerite Duras soạn lại các tác phẩm trong một đời viết văn của mình. Nữ văn sĩ 57 tuổi này có thói quen sống lại với các tác phẩm của mình mỗi lần năm cũ sắp kết thúc, năm mới sắp đến. Trước mặt bà là những cuốn tiểu thuyết mà bà đã rút ruột viết ra trong gần 30 cầm bút. Bà Duras dừng lại hồi lâu với cuốn tiểu thuyết L’Amant, bởi nó mang hơi thở của mối tình rất đẹp của bà với một chàng trai người Pháp cũng trong một chiều cuối năm. Bỗng chuông điện thoại nhà bà reo vang, chiếc điện thoại giả cổ theo kiểu Tướng Charles De Gaulle từng sử dụng phát lên những tiếng chuông như tha thiết, như giục giả. Bà Duras chợt thấy hồi hộp, tim đập mạnh, bà cũng không hiểu lý do tại sao, có lẽ tiếng chuông điện thoại trong một chiều cuối năm vang lên giữa tĩnh lặng đã làm rung động trái tim của người phụ nữ nổi danh là đa cảm này. Nhấc điện thoại, bà Duras vẫn còn hồi hộp chờ nghe thông điệp từ bên kia đầu dây. Giọng người đàn ông có vẽ đã lớn tuổi, phát âm không thuật chuẩn giọng Pháp, có thể là người nước ngoài, cụ thể là vùng Đông Á bởi đặc thù của cách phát âm theo lối ngôn ngữ đơn âm. Người đàn ông bên kia đầu dây cũng lịch sự hỏi thăm có phải bà là nữ văn sĩ Marguerite Duras, là câu hỏi mà bà rất thường nghe mỗi khi nhấc điện thoại. Sau khi biết chắc là bà Duras, giọng nói trong điện thoại bỗng trở nên thổn thức hỏi bà: “Bà có nhận ra ai đang nói chuyện điện thoại với bà không?”. Tất nhiên là bà Duras không thể nhận ra, vì đã hơn 40 năm có hơn bà không nghe lại giọng nói ấy, ngày trước là giọng sang sảng của một thanh niên trẻ trung, khỏe mạnh, giờ là giọng khàn đặc của một cụ già, thỉnh thoảng chen vào tiếng ho sù sụ.

Bà Duras bỗng thấy chân tay run rẩy, đứng không còn vững, khi từ đầu dây bên kia nói rành mạch: “Anh là Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc – Việt Nam 42 năm trước nè, em còn nhớ không?”. Là một nữ văn sĩ rất nhanh nhạy với từ ngữ, tế nhị trong ứng xử, nhưng trước tình huống quá bất ngờ và xúc động, bà Duras không biết phải nói gì, miệng chỉ ấp úng những lời thừa thải: “Ôi, anh Thủy Lê, làm sao anh biết số điện thoại của tôi…”. Ông Thủy Lê trả lời: “Em là nhà văn nổi tiếng, có khó gì chuyện tìm xin số điện thoại của em”. “Thế anh đang ở đâu, anh từ Trung Hoa gọi cho em phải không?”, bà Duras hỏi. Khi ông Huỳnh Thủy Lê trả lời rằng, ông đang gọi điện thoại ngay tại Paris, bà Duras chỉ còn biết thốt lên: “Ôi chúa ơi, cảm ơn chúa đã cho đời con còn có được ngày này, con còn có thể gặp được người đàn ông này”. Họ lặng lẽ đi bên nhau bên bờ sông Seine. Dòng sông thơ mộng chảy ngang qua Paris này thường dành làm nơi hẹn hò của những đôi tình nhân trẻ, còn người lớn tuổi ở Paris thường đi dạo trong những công viên dưới chân tháp Effel. Thế nhưng, bà Duras lại hẹn gặp ông Thủy Lê bên bờ sông Seine tình tứ, tất nhiên là có lý do của bà. Ngay khi vừa gặp nhau, ông Thủy Lê đã rưng rưng đôi mắt mờ đục của tuổi già và nói: “Anh vẫn yêu em, trọn cuộc đời anh vẫn yêu em”. Bà Duras cũng bất chợt thốt lên những câu nói tương tự. Họ đứng tựa vào nhau, hai mái đầu đã trắng màu sương tuyết nhưng hai trái tim thì vẫn nóng hổi, thổn thức. Dòng sông Seine mùa đông mặt nước lặng lờ trôi, không một gợn sóng, nhưng trong tâm tưởng của đôi tình nhân già đứng trên bờ sông lại ào ạt sóng nước sông Cửu Long, sóng nước đập vào mạn phà Mỹ Thuận chạy ngang dòng sông Tiền, trong một ngày cuối năm nước đổ như thác từ phía thượng nguồn… Cô nữ sinh Marguerite Duras tuổi 15 rời chiếc xe đò Sa Đéc – Sài Gòn, bước xuống phà, đứng tựa vào lan can phà nhìn nước sông Cửu Long chảy siết mang theo những đám lục bình trôi tản mạn. Chàng trai Huỳnh Thủy Lê cũng bước ra khỏi chiếc Limuosine màu đen sang trọng tiến đến mạn phà nơi cô gái Tây đang đứng…Để rồi một mối tình dữ dội và lãng mạn đã đến với chàng thương gia người Hoa và cô nữ sinh người Pháp…Chia tay với ông Thủy Lê trên bờ sông Seine, bà Duras trở về nhà cả đêm không thể ngủ, hình ảnh mối tình đầu của bà nơi xứ thuộc địa Đông Dương xa xôi cứ ào ạt tràn về như nước sông Cửu Long năm nào. Đối với những người cầm viết, nhất là những nhà văn nữ, những khoảnh khắt cảm xúc cao độ như thế thường cho ra những tác phẩm hay, và bà Duras cũng không bỏ qua cơ hội tuyệt vời này. Quyển tiểu thuyết “Người tình” (L’Amant, Nhà xuất bản Les Éditions de Minuit năm 1984) đã ra đời trong hoàn cảnh như thế và nhanh chóng chinh phục độc giả Pháp vốn rất tinh tế với văn chương, ngay sau khi xuất bản nó đả trở thành cuốn sách “best seller” (bán chạy nhất) với 2,4 triệu bản, đoạt giải Goncourt - một giải thưởng danh giá của văn học Pháp. Quyển tiểu thuyết cũng nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong thế giới Pháp ngữ và trên toàn thế giới, nó đã được dịch ra 43 thứ tiếng, tất nhiên là có cả tiếng Việt, và được dựng thành phim cũng rất nổi tiếng.

Tiếng sét ái tình trên sông Tiền Phà Mỹ Thuận một ngày cuối năm năm 1929. Con đường thiên lý từ Sài Gòn đi về vùng sông nước miền Tây Nam bộ phải qua rất nhiều sông rạch, hầu hết đều đã được bắc cầu, duy chỉ có hai nhánh sông Tiền và sông Hậu của dòng sông Cửu Long rộng mênh mông là vẫn phải “lụy phà”. Mãi cho đến năm 2000 chiếc phà Mỹ Thuận mới kết thúc vài trò lịch sử của nó khi chiếc cầu Mỹ Thuận – cầu dây văng hiện đại đầu tiên của Việt Nam – nối liền hai bờ sông Tiền. Sau đó 10 năm, phà Cần Thơ cũng kết thúc sứ mạng lịch sử kéo dài gần 100 năm của nó khi cây cầu Cần Thơ lớn nhất nước thông xe. Ngày ấy, vào cuối thập niên 1920, xe đò “lục tỉnh” phải đợi qua phà Mỹ Thuận trung bình 1 giờ/chuyến. Trên chuyến xe đò Sa Đéc – Sài Gòn ngày hôm ấy, giữa những “anh Hai”, “chị Ba” đậm chất nông dân miền Tây đi Sài Gòn vì một chuyện gì đó, người ta thấy có một cô gái Tây ra dáng nữ sinh với chiếc cặp bên người, mái tóc buộc hai nhánh, đội chiếc nón rộng vành. Xe đò xuống phà Mỹ Thuận, phà rời bến, trên xe tiếng gà vịt lao xao, từng giỏ trái cây chất đầy trên nóc xe. Cô gái Tây rời khỏi xe, đến đứng tựa vào lan can phà, hít thở không khí trong lành, cặp mắt mơ màng nhìn dòng sông Cửu Long “sông dài cá lội biệt tăm”. Cô tên Marguerite Duras, con gái của một bà giáo là hiệu trưởng trường tiểu học ở Sa Đéc. Đó là bà Marie Donnadieu, Hiệu trưởng trường L’ecole Primaire De Jeunes Filles De Sadec, nay là Trường Tiểu học Trưng Vương thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Đây là ngôi trường cổ nhất Đồng Tháp.


Quê cô ở tận Paris nước Pháp, sau khi cha mẹ cô chia tay, mẹ cô đã dắt 3 đứa con nhỏ qua xứ thuộc địa Đông Dương để dạy học theo chủ trương truyền bá văn hóa Pháp sang các nước thuộc địa. Đến Sài Gòn, mẹ cô tình nguyện về một tỉnh miền Tây xa xôi để dạy học và bà đã dắt các con đến thị xã Sa Đéc, nơi đó có một ngôi trường tiểu học xập xệ, thiếu thốn mọi bề để dạy học. Thuở ấy ở Sa Đéc mới có trường tiểu học, muốn học cao hơn phải đến Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc lên Sài Gòn. Học hết tiểu học, Duras được người mẹ là giáo viên nghèo gửi lên học trung học ở Sài Gòn, nơi bà có người bạn thân làm hiệu trưởng. Duras có 2 người anh, không ai chịu học hành gì nhiều, trong đó có một người bị nghiện hút, là nỗi khổ tâm của mẹ cô, vì vậy người mẹ khắc khổ đã quyết tâm cho đứa con gái út học hành đàng hoàng. Hậu thế phải mang ơn bà Marie Donnadieu rất nhiều, vì nhờ sự quyết tâm của bà cho cô con gái Duras học hành đàng hoàng mà sau này thế giới có một nữ văn sĩ tài năng, đóng góp vảo kho tàng văn học của nhân loại nhiều tác phẩm có giá trị. Trên chiếc phà Mỹ Thuận chạy ngang sông Tiền vào cái ngày cuối năm 1929 tiền định ấy, ngoài chiếc xe đò chạy bằng than đá cổ lỗ nói trên, còn có chiếc xe hơi sang trọng hiệu Limuosine. Thời ấy, vào cuối thập niên 1920, xe hơi nhãn hiệu Limuosine nổi tiếng của Mỹ mới nhập vào Đông Dương chưa tới 10 chiếc, ở miền Tây Nam bộ chỉ có vài chiếc, trong đó công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy cũng tậu một chiếc ngay từ đợt đầu tiên. Chiếc Limuosine màu đen trên chiếc phà Mỹ Thuận qua sông Tiền ngày hôm ấy không phải của công tử Bạc Liêu đang nổi tiếng về ăn chơi trên đất Nam kỳ, mà là của một “công tử” khác cũng trên đất “Nam kỳ lục tỉnh”, nhưng ít giàu có và không nổi tiếng bằng, đó là ông Huỳnh Thủy Lê, con trai út của ông chủ chành gạo Huỳnh Thuận giàu có nhất nhì tỉnh Sa Đéc. Là người gốc Hoa, ông Huỳnh Thuận không khởi nghiệp làm giàu bằng ruộng lúa như những đại điền chủ khác ở miển Tây Nam bộ, ông đã tận dụng lợi thế của người Hoa trong kinh doanh thương mại để kinh doanh lúa gạo, cả mua bán trong nước và xuất khẩu. Ông có chành gạo lớn nhất Sa Đéc, nơi tập trung lúa gạo để chuyển đi bán ở Bắc kỳ và Trung kỳ, cũng như đưa về cảng Nhà Rồng để xuất khẩu ra nước ngoài. Phất lên với nghề kinh doanh, xuất khẩu gạo, ông Huỳnh Thuận xây dựng nên những dãy phố sầm uất ở thị xã Sa Đéc để cho thuê, rồi ông về khu người Hoa ở Chợ Lớn xây dãy phố cũng với mục đích cho thuê. Chỉ riêng ở Sa Đéc, ông Huỳnh Thuận đã có hàng trăm căn phố, ông trở thành người giàu có nhất nhì tỉnh Sa Đéc thời đó. Cậu con trai út Huỳnh Thủy Lê được ông Huỳnh Thuận chọn nối nghiệp trao cho toàn bộ gia sản. Vì vậy mà ông Thủy Lê thường xuyên đi lại giữa Sa Đéc và Sài Gòn để quán xuyến chuyện làm ăn của gia đình bằng chiếc xe Limuosine màu đen sang trọng. Năm ấy ông Huỳnh Thủy Lê đã 27 tuổi, nhưng vẫn chưa lập gia đình, thời đó như thế là quá đứng tuổi, là hiện tượng lạ của một đàn ông thuộc gia đình giàu có. Ông Thủy Lê lập gia đình trễ là có nguyên nhân của nó, cách đó gần 10 năm gia đình ông đã hứa hôn cho ông với 1 cô gái trẻ, nổi tiếng xinh đẹp ở Mỹ Tho, tên là Nguyễn Thị Mỹ. Bà Mỹ nhỏ hơn ông gần 10 tuổi, vì vậy ông phải đợi cho vị hôn thê “đủ lớn” để làm đám cưới. Trong chuyến đi từ Sa Đéc đến Sài Gòn ngày hôm ấy, ông Thủy Lê cũng dự định ghé qua Mỹ Tho để thăm gia đình nhạc gia và nhìn mặt người vợ chưa cưới. Đang ngồi nghĩ ngợi về những thương vụ làm ăn đang chờ đợi ở Sài Gòn và nghĩ cách chào hỏi gia đình nhạc gia ở Mỹ Tho sau vài giờ nữa, bất ngờ ông Thủy Lê nhìn thấy một bóng sắc giai nhân nổi bật lên trong đám đông người bộ hành nghèo khó trên phà. Cô gái có nước da trắng, tóc nâu vàng, dáng người cao ráo, có thể cô không phải là người Việt hay người Hoa, mà là người Pháp. Cô gái mặc chiếc đầm màu sáng, đội chiếc nón rộng vành, mặt hướng theo dòng sông, không quan tâm gì đến cảnh xô bồ trên phà. Là người nổi tiếng đứng đắn, không thuộc loại “mèo mả gà đồng”, nhưng hình ảnh cô gái đứng tựa lan can phà nhìn dòng nước chảy xuôi chợt làm trái tim ông Thủy Lê rung động. Ông như bị tiếng sét ái tình, như bị thôi miên, đã lặng lẽ mở cửa xe đến đứng bên cô gái. Không nhiều lời, chỉ vài câu “tán tỉnh” của ông Thủy Lê, họ bỗng thấy như thân quen từ thuở nào, nhất là khi chợt nhận ra họ cùng ở thị xã Sa Đéc, sống gần nhau “hai nhà cuối phố”. Ông Thủy Lê đề nghị và cô gái Duras chấp nhận, cô trở về chiếc xe đò lấy chiếc va li nhỏ và chiếc cặp học trò mang qua chiếc Limuosine màu đen để đi cùng người đàn ông mới quen về Sài Gòn. Tất nhiên là trên quảng đường từ Mỹ Thuận về Sài Gòn, ông Thủy Lê cũng đã “quên” ghé lại Mỹ Tho thăm nhạc gia và người vợ chưa cưới như đã dự tính. Sau đó, tình yêu lãng mạn và dữ dội giữa cô nữ sinh trường dòng người Pháp mới 15 tuổi rưởi và chàng thương gia giàu có người Hoa lớn hơn 12 tuổi đã kéo dài gần 2 năm trong bí mật. Dù yêu nhau đắm đuối, thường xuyên chìm đắm trong sự hòa điệu của đôi trái tim và trong những cơn mê thể xác, nhưng họ không thể công khai mối quan hệ của mình, mà luôn sống trong lo lắng, ngờ vực, sợ hãi... bởi những mâu thuẫn xã hội sâu sắc, giữa sự ngăn cách về chủng tộc và thứ tầng xã hội. Còn có một nguyên nhân quan trọng khác làm ông Thủy Lê không thể vượt qua những rào cản vô hình để sống trọn vẹn với tình yêu, đó là cuộc hôn đã hứa hẹn gần 10 năm với 1 cô gái Việt ở thành phố Mỹ Tho. Có thể đối với Marguerite Duras, mọi rào cản đều có thể bị san bằng, bởi cá tính mạnh mẽ và sự “nổi loạn” của tuổi trẻ, nhưng với Huỳnh Thủy Lê thì lại khác, nền giáo dục Nho học hàng ngàn đời đã không cho phép chàng vì tình yêu mà vượt qua tất cả những định chế của gia đình, dòng tộc, xã hội. Sau khoảng một năm rưỡi, cuộc tình của họ đã kết thúc trong nước mắt khi ông Thủy Lê phải đi đến cuộc hôn nhân đã được an bày từ gần 10 năm trước, còn Duras cùng gia đình lên tàu trở về cố hương bên trời Tây xa xôi. Trước ngày rời Sài Gòn, Duras đã đến ngôi nhà nơi cô từng sống những tháng ngày em đềm bên người tình, nhưng ông Thủy Lê đang bận lo đám cưới ở tận miền Tây. Sau này khi viết tiểu thuyết “Người tình”, bà Duras đã kể lại khoảnh khắc này bằng những trang sách đẫm nước mắt:“Khóc mà không để cho mẹ nàng và người anh kế của nàng nhìn thấy nàng đang buồn, không để cho họ nhìn thấy gì hết, là thói quen giữa họ với nhau”. Ngày hôm sau, khi ra bến tàu, Duras cố nấn ná, kiếm tìm trong vô vọng hình bóng người đàn ông đã mang đến cho cô cả niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau, cô ước mong được nhìn thấy ông 1 lần cuối cùng trong đời. Duras đâu ngờ rằng, ông Thủy Lê đã ra bến tàu tiễn cô, để nhìn thấy cô 1 lần cuối cùng trong đời, nhưng ông không để cô biết, mà đứng lặng lẽ trong con đường nhỏ cạnh bến tàu để làm 1 cuộc chia ly. Thật kỳ diệu, khi chiếc tàu nhổ neo rời bến, Duras cũng đứng tựa vào lan can tàu như đã đứng trên phà Mỹ Thuận ngày nào, mắt hướng vào bờ, nhờ vậy mà cô đã nhận ra ông Thủy Lê đứng nép bên chiếc Limuosine màu đen quen thuộc trong con đường khuất để dõi theo bóng tàu. Chỉ vài giây ngắn ngũi, họ thậm chí còn không kịp đưa tay chào nhau, chiếc tàu đã khuất bóng. Ông Thủy Lê phải vội vã quay về lo đám cưới, còn Duras lênh đênh trong cuộc hành trình dài 1 tháng rưởi, với những cơn vật vã do say sóng và với nỗi buồn thiên cổ vì yêu! Bà Duras đã kể lại trong cuốn tiểu thuyết “Người tình”: “Chiếc xe to lớn của chàng ở đó, dài và đen với người tài xế mặc chế phục trắng đàng trước. Chỗ đó chỉ cách chỗ đậu xe của hãng tàu thủy Messageries Martimes một con đường nhỏ, riêng biệt. Đó là điều mà nàng đã nhận ra. Đó chính là chàng ở phía sau, chỉ đủ trông thấy hình dáng, bất động, kiệt sức. Nàng tựa người vào lan can tàu, giống như lần đầu tiên, trên phà. Nàng biết chàng đang nhìn nàng, nàng cũng đang nhìn chàng, nàng không thể nhìn thấy chàng nữa nhưng nàng vẫn nhìn về phía cái hình dáng của chiếc xe đen. Rồi sau cùng thì nàng không thể nhìn thấy nó nữa. Bến cảng nhòa đi, rồi đến đất liền”.

Rơi vào quên lãng Ông Huỳnh Thủy Lê trở về Sa Đéc để chuẩn bị cho 1 đám cưới lớn nhất từ trước đến giờ trong cái thị xã nhỏ bên bờ sông Tiền này. Đám cưới giữa ông với cô gái vùng đất “miệt vườn” cây lành trái ngọt Mỹ Tho kéo dài suốt 3 ngày, trở thành ngày hội của người dân Sa Đéc, nhưng trong lòng của chú rể thì như “một nửa hồn tôi chết”. Ngày ông rước cô dâu trẻ đẹp Nguyễn Thị Mỹ từ Mỹ Tho về Sa Đéc ngang qua phà Mỹ Thuận, cô dâu luôn tươi vui trong bộ áo dài vải gấm và bó hoa cưới rực rở, còn chú rể cố giữ nét mặt không biểu hiện cảm xúc. Tình cờ, cô dâu bước xuống xe, cũng đến đứng tựa vào lan can phà để khuây khỏa sau đoạn đường dài tù túng trong chiếc Limuosine, ở ngay tại nơi mà cô nữ sinh Marguerite Duras đã đứng ngày trước… Trong tiệc cưới của mình, ông Thủy Lê uống thật nhiều rượu, uống như chưa bao giờ ông được uống, mọi người cho rằng vì ông quá vui trong ngày vui của mình, nhưng có lẽ chỉ một mình ông biết là trong những chén rượu chảy tràn có chứa những hương vị gì: hạnh phúc hôn nhân, tình yêu, nỗi buồn, đau khổ…? Không biết bên trời Tây người con gái có tên Duras có đau buồn kéo dài hay không, còn ở trời Nam, chú rể mới là thương gia Thủy Lê đã sớm nguôi ngoai chuyện tình buồn để trở về với công việc quán xuyến toàn bộ sản nghiệp và cơ ngơi làm ăn do cha là ông Huỳnh Thuận giao lại cho đứa con trai út sau khi nó đã thành gia thất. Rồi “chim quyên quen trái nhản lồng”, ông Huỳnh Thủy Lê và bà Nguyễn Thị Mỹ đã trở thành đôi vợ chồng đầm ấm, hạnh phúc hơn người, là hình ảnh mơ ước của bao người dân Sa Đéc và khu người Hoa ở Chợ Lớn. Bà Mỹ đã sinh cho ông Thủy Lê tổng cộng 5 đứa con, 3 gái, 2 trai. Họ sinh ra trên nhung lụa, lại được nền giáo dục nề nếp của gia đình, nên tất cả đều thành đạt.
Ngôi nhà của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc.

Cô con gái giữa Huỳnh Thủy Anh của họ từng là hoa khôi của một trường trung học ở Chợ Lớn, cô về làm dâu của ông Trần Văn Hương, nguyên thủ tướng của chính quyền Sài Gòn cũ, từng có 1 tuần lễ làm tổng thống chế độ Sài Gòn cũ sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Hiện tại, các con của ông Lê đều sống ở nước ngoài, trong đó Huỳnh Thủy Tiên là GS.TS - Giám đốc Bệnh viện Nhi ở bang Califonia (Mỹ), Huỳnh Thủy Hà là giảng viên trường ĐH Sorbonne (Pháp. Năm 1972 ông ​Huỳ​nh​ Thủy Lê qua đời ở tuổi 70, đám ma của ông có ông thông gia là Trần Văn Hương đáp máy bay từ Sài Gòn về đưa tang. Chuyện tình, chuyện cuộc đời của người đàn ông nổi tiếng trên đất Sa Đéc tên Huỳnh Thủy Lê tưởng như đã đi vào quên lãng, nếu như 1 năm trước ngày qua đời ông không có chuyến đi Pháp để gặp lại người con gái trên phà Mỹ Thuận năm nào. Cuộc gặp ở Paris, bên bờ sông Siene đã giúp cho tiểu thuyết, sau đó là bộ phim “Người tình” ra đời. Để rồi từ đó, thị xã Sa Đéc, nơi ông Huỳnh Thủy Lê và bà Marguerite Duras từng sống và từng yêu nhau, như được phủi lớp bụi thời gian, trở nên lung linh sống động, trở thành điểm du lịch hấp dẫn của du khách trên khắp thể giới.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 5 2016, 08:16 AM
Gửi vào: #57


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tổng thống Obama và Chủ tịch Tập Cân Bình

Tổng thống Obama và Chủ tịch Tập Cân Bình bước vào một cửa hàng sô cô la. Khi họ đang bận rộn lựa chọn, Chủ tịch Tập lấy trộm 3 thanh sô cô la.

Khi họ rời cửa hàng, Chủ tịch Tập nói với Tổng thống Obama, “Yo Man! Tôi là kẻ trộm hay nhất hơn bao giờ hết. Tôi đã lấy trộm 3 sôcôla và không ai nhìn thấy tôi, bạn khó có thể làm hay hơn tôi đó!”

Tổng thống Obama nói , “Bạn muốn nhìn thấy một cái gì đó hay hơn phải không? Chúng ta hãy quay trở lại cửa hàng và tôi sẽ chỉ cho bạn cách ăn cắp thực sự.”


Vì vậy, họ đã đi đến quầy và Tổng thống Obama nói với cậu bé bán hàng, “Bạn có muốn xem ảo thuật không?”
Cậu bé trả lời: “Có.”

Tổng thống Obama nói: “Hãy cho tôi một thanh sô cô la.”
Cậu bé bán hàng đưa cho ông một cái, và cậu ấy thấy ông ăn hết ngay.
Ông yêu cầu lần thứ hai, và ông ăn thỏi thứ hai
Ông yêu cầu lần thứ ba, và ông đã ăn luôn thỏi thứ ba.

Cậu bé cửa hàng hỏi: “Nhưng mà là sự kỳ diệu của ảo thuật đâu?”

Tổng thống Obama trả lời: ” Cậu hãy kiểm tra trong túi của ông Tập Cận Bình và bạn sẽ tìm thấy những thỏi So-Co-La đó!.”


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 5 2016, 08:17 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 19 2016, 11:19 AM
Gửi vào: #58


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chuyện 30-4: Vợ Chồng Điệp Viên

Học xong trung học, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn. Trong thời gian là sinh viên tôi còn làm việc cho số 3 Bạch Đằng. Đó là cách nói gọn của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi làm tình báo vì có máu phiêu lưu, thích chuyện mạo hiểm, sau nầy lại thêm mối thù ###### giết cha tôi. Ông già tôi là chủ một nhà máy xay lúa nhỏ ở vùng quê tỉnh Bạc Liêu. Vì là vùng mất an ninh nên phải đóng thuế cho ######, ấy vậy mà cũng bị chúng nửa khuya đến gõ cửa đem ra đồng bắn bỏ. Cả mấy năm sau, tôi cố tâm điều tra mới biết rõ thủ phạm là một tên nằm vùng trong xóm, chỉ vì một xích mích nhỏ, hắn dẫn đồng bọn về giết người.
Dĩ nhiên tôi trả thù.
Sau khi tốt nghiệp sư phạm, trong lúc chờ sự vụ lệnh, tôi lẻn về nhà trốn trong phòng không cho hàng xóm biết, đến khuya tôi đến nhà hắn, nằm sau hè chờ. Ở thôn quê không có phòng vệ sinh trong nhà, khi cần thì ra sau vườn.

Qua đêm thứ hai hắn mở cửa ra đi tiểu, tôi chĩa súng vào lưng hắn.
- Đồng chí ra ngoài kia trả lời trước tổ chức về vài việc cần gấp.

Hắn sinh nghi định phản ứng, tôi giáng cho một bá súng vào đầu, hắn bất tỉnh, tôi cột chân tay hắn, cõng trên lưng, ì ạch băng đồng ra chỗ bọn chúng giết cha tôi.
Tôi khai thác tận tình cho đến khi hắn thú nhận tội giết cha tôi, lúc đó tôi mới cho hắn biết sự thật.
Hắn van lạy, nhưng vô ích, hình ảnh cha tôi chết oan ức, mắt vẫn mở trừng trừng khiến tôi sôi gan. Sau đó gia đình tôi bán nhà máy xay lúa, bán nhà lên Sài Gòn ở.
Tốt nghiệp xong tôi được điều đi các tỉnh dạy học. Sau mỗi công tác tình báo dù thành công hay thất bại tôi lại chuyển qua tỉnh khác.

Câu chuyện bắt đâu khi tôi được giao cho việc theo dõi một cô thợ may ở ngoại ô một thành phố ven biển miền trung.
Nguyên nhân là thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải vào buổi sáng trên con đường vào thị xã. Đây là con đường mà đa số nông dân thường đem nông sản vào chợ bán.
Họ chở bằng xe đạp, xe lăm hay xe bò. Sáng sớm nào cũng có cảnh sát rình ở đó nhưng chẳng thấy ai đáng tình nghi cả.
Sau phải cho người nằm sát lề đường mới khám phá ra một cô gái đi xe đạp chở rau muống phía sau, dưới chân chỗ bàn đạp để mớ truyền đơn, cứ dỡ nhẹ chân là truyền đơn rơi xuống đường khó mà thấy được nhất là ở quãng đường tối.
Qua điều tra đây là cô thợ may nhà ở vùng ngoại ô, sát địa giới thành phố.
Sau nhà là một vạt ruộng nhỏ trồng rau muống, mỗi sáng cô chở rau vào chợ bán sỉ cho bạn hàng rồi về ngay.
Cô sống với một mẹ già hơn sáu mươi tuổi. Gọi là tiệm chứ thực sự là một bàn máy may phía trước, cách một tấm vách cót là giường ngủ của hai mẹ con vừa làm chỗ thử áo quần. Gia đình nầy mới từ một quận miền núi về hơn một năm nay. Theo báo cáo, trước đó cô là nữ sinh trung học, sau theo nghề may.
Tiệm của cô khá đông khách vì cô hiền lành, vui vẻ lại lấy công rất rẻ, có lẽ đây là trạm giao liên hơn là cơ sở kinh tài của địch.

Nhiệm vụ của tôi là tìm cách tiếp cận cô để theo dõi. Tôi sẽ đóng vai một kẻ si tình cô, gặp gỡ cô mà bọn chúng không thể nghi ngờ, hoặc tốt hơn nữa sẽ được móc nối làm việc cho chúng.
Một buổi sáng chủ nhật tôi chạy xe gắn máy gần đến nhà cô thì xe chết máy phải dừng lại sửa.
Tôi vào tiệm xin cô miếng giẻ rồi loay hoay mở máy ra chùi, thay bu gi, tháo bình xăng con... toát mồ hôi mà xe vẫn không nổ.
Tôi xin cô miếng nước uống và ngồi trước hiên nhà cô hỏi vài câu vơ vẩn rồi dẫn xe về.

Qua hôm sau tôi đem một xấp vải đến nhờ cô may cho một áo sơ mi. Lần nầy tôi được cô mời vào nhà vì tôi là khách.
Thế rồi, thỉnh thoảng tôi lại nhờ cô may một thứ gì đó và tôi ngập ngừng nói là tôi làm thế để được dịp gặp cô, không gặp tôi nhớ.
Cô có vẻ bất ngờ, nhưng yên lặng. Những lần sau cô lại càng giữ ý, nhưng tôi bắt gặp trên đôi mắt cô mỗi khi thấy tôi, long lanh niềm vui. Trong lúc trò chuyện tôi cho cô biết về gia đình tôi rằng ông già tôi tham gia mặt trận bị quân đội Quốc Gia hành quân bắn chết.
Thỉnh thoảng tôi đi chùa nghe thuyết pháp hoặc tham gia mít ting, tôi phát ngôn bừa bãi ra người bất mãn chế độ.
Sau một thời gian lạnh lùng, giữ kẽ, cô có vẻ thân thiện, vui vẻ hơn.
Kẻ thù trong bóng tối đang kéo dần con mồi về phía chúng, tôi biết mình đã được để ý, nhưng chỉ đến đấy thì hầu như bế tắc, tôi không biết được những gì chúng tôi cần.

Một sáng chủ nhật, như thường lệ tôi đến thăm cô, nhưng đến nơi chỉ thấy một đống tro tàn đang bốc khói. Thì ra, không hiểu vì sao lúc khuya lửa bắt cháy, hai mẹ con chỉ kịp chạy thoát thân. Tôi khuyên nhủ nhưng cô vẫn lắc đầu lo lắng.
- Tiền mua bàn máy may, mua miếng đất em trả chưa hết nợ, còn quần áo của khách nữa, họ nói bao nhiêu phải cố mà trả. Nhưng em còn đồng nào đâu!
Tôi hứa với cô là sẽ hết lòng tìm cách giúp đỡ. Thế rồi tôi về bán chiếc xe gắn máy. Nhờ bà con chung quanh phụ giúp nhặt nhạnh những miếng tôle còn xài được, mua ít vật liệu, dựng lại căn nhà mới cũng khang trang, ngoài ra còn mua được một bàn máy may mới nữa. Chỉ trong một tuần tôi lo toan cho cô chu toàn.

Từ đấy thái đọ của cô đối với tôi thay đổi hẳn. Chúng tôi thường đưa nhau đi xem hát, ăn quà rong, đôi khi cô đến nhà trọ thăm tôi nữa.

Mỗi khi đi với nhau cô thường chải chuốt, thoa chút phấn hồng trên má, trông cô đẹp hẳn ra, như lột xác từ một cô thợ may lọ lem thành một nàng tiên, nhưng đối với tôi, đi bên cô, nhất là những chỗ vắng, tôi có cảm giác rờn rợn, tưởng như mình đang đứng trước đỉnh đầu ruồi của một họng súng nào đó trong bóng tối.

Vì nghề nghiệp, lúc nào tôi cũng cảnh giác, ngụy trang, dọ dẫm tìm một chỗ an toàn phía sau lưng.
Một lần cô ghé nhà trọ thăm tôi, có một bà hàng xóm biết cô là thợ may đến năn nỉ cho con gái học nghề may.
Cô là học sinh thi hỏng tú tài, muốn theo nghề may để phụ giúp gia đình.
Nghe tôi nói thêm vào cô ta có vẻ bằng lòng nhưng hẹn ít hôm nữa mới trả lời, có lẽ chờ quyết định của tên đầu sỏ, chỉ huy cô.
Tuần sau cô đồng ý nhận học trò. Được độ ba tháng nhờ sáng ý, cô bé học nghề khá tiến bộ. Tiệm may cũng đông khách hơn trước.
Một hôm tôi gọi riêng cô bé hàng xóm qua nói chuyện.
- Em học nghề may với chị Lan đến đâu rồi?
- Em cắt chưa vững nhưng may thì khá lắm, khách nào cũng khen đường chỉ em thẳng, mịn và đẹp.
- Có lẽ cần một máy may nữa mới phụ chị Lan kịp giao hàng cho khách.
- Em cũng nghĩ vậy nhưng không có tiền.
Tôi tâm sự với cô học trò.
- Như em biết, thầy và chị Lan yêu nhau, dự định sẽ làm đám cưới, nhưng thầy còn ngại hình như chị Lan đang yêu ai nên thầy nhờ em giúp thầy tìm hiểu chị Lan xem có ai đến thân mật chuyện trò với chị ấy không?
Em sẽ chẳng làm gì cho chị ấy nghi ngờ. Thầy có cái máy nầy, sẽ giấu dưới xách tay của em, khi đến nơi, em chỉ cần mắc xách tay sau lưng chỗ ngồi của em sát vách với phòng thử áo quần.
Chỉ thế thôi, đừng cho bất cứ ai biết chuyện nầy. Nếu chị Lan hay ai bắt gặp cứ bảo rằng đó là máy thu thanh, thầy sẽ chỉ em cách mở nghe đài phát thanh.
Em cũng đừng cho chị ấy biết là thầy cho em mượn tiền mua máy may, sợ chị nghi ngờ, ghen tuông phiền phức.

Thế là chúng tôi nghe rõ những trao đổi, bàn bạc với nhau của bọn chúng trong phòng thử quần áo. Một bộ phận khác rình thu hình những khách hàng khả nghi và tiến hành điều tra.
Chúng tôi gần như nắm vững tất cả những tên nằm vùng, cơ sở kinh tài, nơi chứa chấp những tên xâm nhập nữa, nhưng tên đầu sỏ vẫn chưa tìm ra!?
Trong nghề nầy, một chút sơ ý là chết. Như cô thợ may, bị chúng tôi theo dõi mà không hay biết.
Cô với tôi như hai tay nhu đạo đang lừa nhau để vật đối thủ xuống, cô đã bị thất thế hoàn toàn, nhưng tôi chưa ra tay và chờ cô ra đòn.

Có thể cô làm bộ chuyện trò, hỏi han để tìm hiểu tôi hoặc rủ tôi một chiều nào đó ra vùng quê hóng gió tâm sự...
Nhưng tuyệt nhiên chuyện đó không xảy ra. Cô lúc nào cũng ít nói, dịu dàng, nhưng như thế lại càng làm tôi e ngại và thấy cô rất bản lĩnh, rất nguy hiểm.
Đi bên cô tôi cố làm vẻ sung sướng, hạnh phúc nhưng thật sự tôi có cảm tưởng cô như con rắn độc, chỉ một tích tắc cô hành động là đời tôi tàn ngay.
Mạng tôi đổi mạng cô thì không xứng. Thế nên tôi chẳng hứng thú gì trong vai trò nầy cả.
Tôi được lịnh phải tiến xa hơn tức là phải chung đụng xác thịt để giữ chặt con mồi, nhưng tôi không làm được. Dù cô có yêu tôi thực hay giả vờ tôi cũng quyết không đụng chạm đến nơi thiêng liêng đó của người con gái. Đó là nhuoc điểm của một tên tình báo non tay nghề như tôi.
Mùa hè năm đó, đối phương lên phương án tấn công tỉnh. Mẻ lưới được tung ra. Chúng tôi dự định hành quân vào lúc khuya.
Buổi chiều cô bé học may về báo cho tôi biết là lúc trưa có một ông sư khất thực đến trước nhà, cô Lan ra cúng dường, ông sư lầm thầm tụng kinh chúc phúc như mọi khi, nhưng lúc quay vào, thấy mặt cô tái mét, người cứ run lên bần bật...
Chúng tôi đề nghị cảnh sát hành quân sớm hơn dự định. Thế là cả bọn bị tóm, kể cả chính tôi cũng bị cảnh sát đến gõ cửa, còng tay, đẩy lên xe cây.
Thường thì sau khi vở kịch đã hạ màn như thế, tôi thảnh thơi nghỉ ngơi rồi nhận công tác mới.
Nhưng không hiểu sao hình ảnh cô ta vẫn nguyên vẹn trong đầu tôi.

Khi cô bị bắt, bị giam giữ, lòng trắc ẩn của tôi lại nổi lên. Đàn bà, con gái, trẻ con không có chỗ trong chiến tranh, họ phải được ở hậu phương, phải được thường xuyên che chở, bảo vệ. Một cô gái vô ý vấp ngã thấy đã động lòng rồi, huống gì cô thợ may hiền lành, dịu dàng kia đang bị nhốt trong nhà giam sau những song sắt như một con thú đã bị săn bắt, chờ ngày bị đem xẻ thịt.

Tôi đã nhiều lần bí mật nhìn cô ủ rũ ngồi ở một góc phòng giam, héo úa như không có linh hồn, không còn cảm giác, suy nghĩ gì.
Tương lai là chết rũ trong tù, tình yêu, hy vọng của tuổi thanh xuân coi như đã chấm hết.

Đối với cô, tôi thấy thật bất nhẫn, lừa gạt một cô gái dù cô ta được điều khiển từ trong bóng tối. Và khi cảm tưởng cô không còn là kẻ thù của tôi nữa, sự cảnh giác đã được gạt bỏ, như bụi bặm trên một bức tranh đã được chùi sạch, để lộ ra hình ảnh trong sáng, dịu dàng của cô trong tâm trí tôi.
Thế nên tôi đề nghị thả cô ra để cho những con mồi khác đến móc nối lại với cô.

Từ phòng giam, tôi lại được gọi lên để đối chất về sự liên hệ giữa tôi và cô.
Chúng tôi xác nhận có yêu nhau nhưng chẳng biết gì về ###### cả và anh cảnh sát thẩm vấn (vờ) tin ngay là thật, anh hứa sẽ thả chúng tôi ra và anh csat bỏ đi làm giấy tờ.
Tôi đến ngồi gần cô cầm lấy tay cô, cô ngước nhìn tôi và lắc đầu, có lẽ cô cho rằng lời anh thẩm vấn viên chỉ là cái bẫy, nhưng tôi cố tình cho cô hiểu tôi là người có thẩm quyền, tôi cứu cô ra vì tôi yêu cô.
- Như em đã nghe lúc nãy, anh xin bảo lãnh em và chịu trách nhiệm liên đới về những hành động của em sau nầy.
Nếu em thương yêu anh thực lòng thì em hãy lánh xa những gì có thể gây nguy hiểm cho em.
Em còn mẹ già phải nuôi dưỡng, rồi em sẽ lập gia đình, có con cái, sống hạnh phúc như bao người bình thường khác.
Đừng dại dột nữa, không phải anh sợ bị vạ lây nhưng nếu em gặp chuyện không may anh sẽ đau khổ lắm.
Anh sẽ thu xếp cho em và mẹ em vào Sài Gòn sống lẫn trong đồng bào thì sẽ không có ai quấy rầy em nữa.
Chúng mình sẽ làm đám hỏi và khi nào anh vận động xin về dạy gần Sài Gòn sẽ làm đám cưới.
Cô cúi đầu yên lặng nghe, rồi cô nắm tay tôi đặt lên đùi cô, siết nhẹ. Một giọt nước mắt rơi trên tay tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cô đã hiểu ý tôi. Cô viết cho mẹ cô một lá thư, dặn bán nhà để chuẩn bị về quê, chỉ giữ lại bàn máy may.
Sau đó chúng tôi lặng lẽ về Sài Gòn.
Nhờ bạn bè giúp đỡ, tôi tìm mua được một căn nhà nhỏ ở chợ Cây Quéo, góc đường Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu Gia Định. Dĩ nhiên việc theo dõi cô không phải đã chấm dứt.
Công tác của chúng tôi thường được tình báo Mỹ yểm trợ.
Người Mỹ rất hào phóng nhưng cũng rất nguyên tắc, họ đã vui vẻ trả lại tiền cho tôi mua lại chiếc xe gắn máy, trả cả những chi phí lặt vặt như đưa cô đi xem hát, ăn quà rong.

Nhưng sau cuộc hành quân, hồ sơ coi như đã đóng. Lần nầy tôi lại bán xe, vay mượn thêm để lo cho cô mà không biết khi nào mới có tiền mua lại xe khác.
Suốt mấy tháng hè, tôi về Sài Gòn với gia đình. Buổi chiều tôi thường ghé thăm cô, có khi tôi ăn cơm tối với gia đình cô.
Sau bữa ăn, bà mẹ dọn dẹp chén đĩa, còn cô thì xin phép đi tắm. Chợ Cây Quéo nằm trong một đường hẻm, sau khi tan chợ chiều, trở thành vắng lặng như ở một vùng quê

Sau nhà cô có một sân vuông nhỏ, rào kín chung quanh, tôi thích ra đấy ngồi xuống một ghế gỗ dài để chờ cô. Cô có thói quen là sau khi tắm cô không mặc nịt ngực, nên qua lần vải mỏng, đồi ngực cô thẳng đứng lên, lồ lộ như hai mụt măng tre vừa chồi lên khỏi mặt đất.
Cô ngồi cạnh tôi, nghiêng đầu dùng khăn vò mái tóc cho khô, chải nhẹ cho tóc thẳng, xong cô ngửa người vuốt mái tóc về sau lưng, rồi cô nhìn tôi mỉm cười.
Tôi yên lặng ngắm cô, tưởng như thấy rõ làn da mịn màng, thơm tho của thân thể cô... Sau đó chúng tôi có một thứ quà rong như chè hay trái cây để vừa ăn vừa chuyện trò đến khuya mới chia tay.

Sau kỳ nghỉ hè tôi được chuyển ra Huế dạy học, tôi viết cho cô một lá thư dài và hẹn Tết sẽ về xin làm đám hỏi.
Tính cô ít nói, ngay cả thư trả lời chỉ vỏn vẹn mấy câu "Được thư anh, em khóc mấy hôm nay vì vui mừng. Cám ơn anh đã hiểu em và lời hứa của anh lần nầy em tin là thật, bằng trái tim và cả cuộc đời em"

Khoảng cuối năm đó tôi xin phép về Sài Gòn, khi đến nhà cô tôi ngạc nhiên thấy nhà đã sửa sang lại tươm tất. Cô dẫn tôi ra phía sau khoe một căn phòng vừa mới được xây thêm.
- Mẹ ngủ phòng ngoài kia, em ngủ trong nầy.
- Còn anh thì nằm dưới đất?!
Cô đỏ mặt nhưng sung sướng.
- Anh với em phòng nầy chứ.
Lễ hỏi chúng tôi diễn ra đơn giản, kín đáo. Gia đình tôi cứ tưởng tôi sẽ lập gia đình với một cô nữ sinh nào đó, không ngờ là một cô thợ may. Chẳng phải họ kỳ thị hay giai cấp gì mà theo lệ thường, thầy giáo rất dễ chọn vợ đẹp trong trường mình dạy.
Nhưng khi gặp lần đầu, mọi người đều thích cô ngay. Cô vừa hiền vừa đẹp một cách thùy mị.

Mẹ tôi cứ mẹ mẹ con con với cô ngọt xớt, các cô em gái tôi thì tíu tít hỏi han, trò chuyện rất thân mật khiến cô bối rối, vụng về vì cảm động.
Từ đó gần như ngày nào tôi cũng đến nhà cô, đôi khi ngủ lại nữa, nhưng chúng tôi đã hứa với nhau phải giữ gìn, để dành cho ngày hôn lễ.

Cô có những suy nghĩ lẩm cẩm rất đàn bà. Cô thêu những áo gối có hình quả tim, tên tôi và tên cô lồng vào nhau, hình đôi chim đang bay, rồi cô phân vân về tên của những đứa con trong tương lai. Tôi chế giễu thì cô giận, nhưng thâm tâm cô rất vui sướng với giấc mơ đơn giản đó.
Tôi bàn với cô vài tháng nữa sẽ làm đám cưới, nhưng rồi đầu năm 1975 miền Nam bắt đầu sụp đổ từng mảng, tất cả tan rã như bọt nước.

Người ta ùn ùn chạy về phía Nam, tôi phải nấn ná lo tiêu hủy hồ sơ, phân tán mạng lưới nên vào đến Đà Nẳng lại đành quay về Huế vì miền Trung đã rơi vào tay đối phương rồi. Kẻ thù hình như chưa biết gì về tôi cả ngoài cái vỏ bọc thầy giáo trung học. VC bắt đầu gọi các cô thầy đến khai lý lịch và như đang sắp xếp mở cửa các trường học.

Thế rồi khoảng cuối tháng năm, năm bảy lăm, nửa khuya, chúng đến vây nhà trọ, gõ cửa, còng tay tôi dẫn ra xe.
Thoạt nhìn, ngoài chiếc xe cảnh sát chở đầy bộ đội tôi còn thấy một xe mang số ẩn tế Sài Gòn, tôi biết ngay bọn chúng đã tìm ra chính xác tông tích tôi. Nhưng tại sao trung ương lại không hủy hồ sơ?

Ngồi kèm tôi là hai tên bộ đội còn trẻ mang súng AK. Phía trước, bên cạnh tài xế là một người đàn bà. Xe chạy ra khỏi cửa Thượng Tứ, qua cầu Trường Tiền đến đường Duy Tân, chiếc xe chạy trước quẹo vào ty cảnh sát (cũ), còn xe chở tôi chạy thẳng, hướng về quốc lộ. Tôi đoán chúng đưa tôi về Sài Gòn khai thác. Tôi dự định thoát thân, nhưng đến gần phía Nam tôi mới hành động. Nghĩ thế nên tôi buông thả, thiu thiu ngủ dưỡng sức.
Dọc đường xe phải ngừng ở các nút chặn, tên tài xế cũng là bộ đội trình giấy và nói gì đấy, ánh đèn loang loáng vào xe, rồi xe lại tiếp tục. Đến Quảng Ngãi trời đã rạng sáng, tôi lơ mơ mở mắt nhìn quanh. Bỗng tôi lạnh người khi nhận ra người đàn bà ngồi phía trước là cô thợ may, vợ sắp cưới của tôi.
Hóa ra chúng tôi đã lầm trong điệp vụ vừa kể, tên đầu sỏ là cô ta chứ không phải gã thầy tu khất thực.
Tôi cay đắng cười thầm mình thua trí một người đàn bà, cô đã ngụy trang một cách tài tình, không chỉ đánh lừa chúng tôi mà còn đánh lừa cả đến lũ chân tay của cô.

Nhớ lại những ngày chúng tôi bên nhau, tôi sượng sùng, xấu hổ với cô. Cô đã đóng một vai kịch rất xuất sắc, rất bản lĩnh, tôi vẫn chỉ là một con mồi ngây thơ.
Ấy vậy mà tôi cứ tưởng tình yêu chân thành của tôi đã cảm hóa được cô. Giờ đây cô ngồi đó, lạnh như tiền. Cô đang nghĩ gì về tôi, một tên điệp viên hạng bét, ngây ngô, lãng mạng tiểu tư sản?
Xe đến Bình Định, ghé vào một quán cơm bên đường, tôi được tên bộ đội mở còng nhưng dặn "Cần gì nói tôi, giữ khoảng cách năm bước, đến gần hay xa hơn, sẽ bị bắn bỏ"

Tôi được dẫn vào ngồi một bàn ở một góc quán, mấy tên bộ đội ngồi hai bên, còn cô ta thì ngồi riêng.
Sau bữa ăn, lúc trả tiền cô lôi ra một xấp bạc mới tinh, rút vài tờ vất đấy, đứng dậy, không lấy tiền thối. Tôi cố tỏ ra sợ sệt và ngoan ngoãn để chúng tin, hi vọng đến chiều tối nếu cũng ăn uống như thế nầy tôi sẽ bỏ chạy rất dễ dàng và bóng đêm sẽ che chở cho tôi.

Nhưng tôi đã lầm, xe chạy suốt đến sáng, đến ngã ba Hàng Xanh theo đường Bạch Đằng, rồi Chi Lăng, Ngô Tùng Châu và vào hẽm chợ Cây Quéo.
Cô vào nhà một lúc lâu mới đi ra với bà mẹ. Hai mẹ con ngồi phía trước, xe lại tiếp tục trở ra xa lộ đến Biên Hòa quẹo hướng Vũng Tàu.

Tôi đoán chúng sẽ truy tôi về công tác ở Vũng Tàu, Long Hải trước đây hoặc giao cho lũ nằm vùng, nội tuyến đã bị tôi đưa đi tù, và chúng sẽ mặc sức trả thù.

Đến Vũng Tàu, ghé mua mấy ổ bánh mì thịt, xe vào một khách sạn hạng trung bình. Sau khi ăn uống, làm vệ sinh, tôi lại bị còng tay cho vào phòng riêng, phía ngoài là hai tên bộ đội canh cửa.
Tôi nghe cô ta dặn hai tên gác là phải cảnh giác cao độ với tên địch nguy hiểm đó (là tôi), và cô đến ủy ban quân quản có chuyện cần, sẽ về ngay.
Tôi mệt mỏi lăn ra ngủ một giấc lấy sức, dự định tối nay leo cửa sổ trốn đi. Cái còng không thành vấn đề, một cọng thép nhỏ là xong, và cọng thép đó đang nằm trong sợi dây đồng hồ mà tôi đã có được lúc tôi đòi đi tiểu ở hàng cơm ở Bình Định.
Nhưng đến gần tối, sau khi được ăn một ổ bánh mì nữa, chúng lại còng cả chân tôi vào giường và hai tên bộ đội ngồi ngay trong phòng tôi, thay phiên nhau lõ đôi mắt cú vọ canh chừng tôi.
Thế là hết đường trốn thoát! Nhớ lại thời gian hứa hôn chúng tôi sống bên nhau, cô đã dần dần hiểu tôi, trong sự săn sóc cô đón ý tôi rất tài.
Lúc đó tôi sung sướng nghĩ rằng mình có được cô vợ toàn tâm toàn ý, bây giờ chính cái toàn tâm toàn ý kia lại hại tôi.
Cô đã thấy được không sai chạy những gì tôi nghĩ trong đầu, dù chỉ vừa thoáng qua là cô đề phòng ngay.
Tối đó độ hơn mười giờ, tôi được dẫn ra xe, vẫn đủ sáu người như trước. Xe chạy loanh quanh trong thành phố một lúc rồi hướng ra Bãi Sau.
Trời đêm đầy mây, lạnh kinh khủng, miền Nam chưa bao giờ lạnh như năm đó, đường vắng tanh, lờ mờ ánh đèn, tiếng sóng vỗ rì rào, buồn bã. Xe chạy đến cuối bãi thì dừng lại. Cô ra lịnh bịt mắt tôi lại.
- Đồng chí đưa tôi khẩu AK. Cứ ở đây chờ, khi nào nghe tiếng súng nổ tôi sẽ ra.
Và cô nói với bà mẹ, giọng lạnh lẽo, hàm răng rít lại.
- Mẹ phải theo con, xem con trả thù kẻ đã giết hại gia đình mình và bao nhiêu đồng chí khác nữa.
Đúng là oan oan tương báo. Tôi đã xử tội tên nằm vùng giết cha tôi ra sao, bây giờ tôi sẽ gặp y như vậy.
Nhưng tôi không nhớ rõ mình đã làm gì để cô thù hận tôi đến độ giờ đây đem ra xử bắn tôi, không lẽ cô là con của tên nằm vùng kia?!

Cô lên đạn, chĩa súng vào lưng tôi, đẩy tôi đi trước. Cô đã phạm một sai lầm chết người. Cô dí súng vào lưng tôi là giúp tôi nắm được quãng cách giữa cô và tôi.
Tầm vóc cô thì tôi còn lạ gì. Chỉ cần tôi quay nhanh lại là mũi súng sẽ chệch ra ngoài và với một đòn chân, tôi có thể đá gãy cổ cô hay ít ra cũng hạ gục cô trong tích tắc.
Trong bóng tối thì bị bịt mắt hay không cũng mù như nhau.
Tôi lần tìm cọng thép trong dây đồng hồ và bắt đầu mở khóa còng tay.
Được một quãng, khi đoán đã xa tầm nghe ngóng của mấy tên bộ đội, tôi vừa định ra đòn thì cô mở băng bịt mắt tôi.
- Anh cõng mẹ được không? Nhanh lên! Nếu có chuyện gì, anh và mẹ cứ chạy thoát đừng lo cho em.
Có thuyền chờ sẵn đằng kia.
Cô ôm súng chạy phía trước, tôi cõng bà cụ men theo bờ rừng dương liễu mải miết theo cô. Độ một cây số, chúng tôi đến một thuyền nhỏ có người chờ sẵn. Thuyền được đẩy ra, nổ máy và nửa giờ sau chúng tôi ra thuyền lớn đi thẳng.
Hôm sau chúng tôi được tàu Mỹ vớt về đảo Guam.

PHẠM THÀNH CHÂU
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 22 2016, 01:43 AM
Gửi vào: #59


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chuyện 30/4
Đây là một “LOVE STORY” thật buồn
Xóm Nậm


Con sông Mã phát nguồn từ Sơn La chảy qua phía Bắc Sầm Nứa (Lào) trước chảy vào địa phận tỉnh Thanh Hóa. Mặc dù sông Mã dài khoảng 360 cây số,.nhưng hầu hết chảy quanh co trên triền núi, chỉ có vài chục cây số chảy về vùng đồng bằng trước khi đổ ra biển Đông qua cửa Hới. Khi con sông Mã chảy qua địa phận xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa là vùng đồng bằng nhỏ hẹp dưới chân núi. Bên kia dòng sông Mã là rặng núi đá vôi Tam Điệp đã xâm thực chỉ còn những vách đá đứng trên bờ sông, đẹp nhất là tại Cửa Hà - Cẩm Thủy. Con sông Mã chảy ra biển Đông vào những mùa mưa lũ, bắt đầu từ tháng sáu, kéo dài đến tháng tám, nước lũ từ thượng nguồn đổ về chảy xiết ầm ầm như thác đổ, gào thét dữ dội, cuốn theo những cây cổ thụ bị trốc gốc, trôi phăng phăng theo dòng nước đục ngầu phù sa với tốc tộ phi mã nên nó có tên gọi là sông Mã chăng?
Xóm Nậm thuộc xã Cẩm Thành nằm bên hữu ngạn dòng sông Mã. Dân cư sống trong xóm Nậm hầu hết là người dân tộc Mường, họ sống rãi rác từ Hòa Bình xuống Nghệ An và Thanh Hóa và sống tập trung thành từng xóm nhỏ dọc theo hai bên dòng sông Mã khá đông. Người Mường miền Bắc nói chung và vùng sông Mã nói riêng đều mang sắc thái của người Việt Cổ, họ có ngôn ngữ, phong tục và tập quán của riêng họ, mặc dù họ đã hội nhập với người kinh gần như hoàn toàn ở khu vực nầy. Họ nói tiếng Việt giọng miền Bắc thành thạo như người địa phương. Đa số sống về trồng trọt và chăn nuôi. Thực phẩm chính của họ vẫn là ngô, khoai, sắn ăn độn với cơm.
Cách xóm Nậm chừng 2 cây số là trại tù cải tạo Thanh Cẩm là trại tù nổi tiếng sắt máu nhất nhì của miền Bắc XHCN. Trại tù cải tạo Thanh Cẩm chia ra làm hai K: “K1” để giam tù chính trị từ miền Nam đưa ra, còn “K2” cách đó chừng hai cây số, nơi tập trung tù hình sự án dài miền Bắc. Mặt tiền trại tù Thanh Cẩm với tường gạch, phết vôi trắng toát, hướng ra bờ sông Mã, lưng dựa vào chân đồi, dốc thoai thoải. Từ trên con đường trải đá lưng chừng đồi nhìn xuống trại tù Thanh Cẩm, nổi bật với hai lớp tường gạch kiên cố, đầu tường có gắn miểng chai và hai lớp kẻm gai, bao quanh ba dãy nhà được cất theo hình chữ U: dãy nhà nằm ngang là khu kiên giam và kỹ luật biệt lập, chiếm vị trí cao nhất của trại tù. Hai dãy nhà dưới làng dành cho những đội lao động, cách nhau một cái sân rộng. Mỗi dãy có 4 buồng, một buồng có sức chứa từ 80 đến 100 người được ngăn bởi một bức tường gạch, đầu tường có gắn kẻm gai. Đối diện với khu kiên giam kỹ luật là cổng ra vào trại có hai cánh cửa sắt chận lại hai đầu tường và một căn nhà hai tầng: tầng trên dành cho cán bộ trực trại ăn ở và tầng dưới dành cho tụi cán bộ quản chế canh gác. Bốn gốc tường là bốn lô cốt có trang bị đèn pha cực sáng.
Xóm Nậm và trại tù Thanh Cẩm cùng nằm bên dòng sông Mã, một mảnh đất khô cằn sỏi đá có một cô gái Mường yêu tha thiết một chàng học sinh phục quốc miền Nam bằng mối tình mộc mạc thủy chung. Tình yêu của họ đã nẩy nở giữa bối cảnh đầy thù hận. Và câu chuyện tình của họ bắt đầu ...

Xóm Nậm có gia đình ông già Mường tên Đinh Lực, mấy đời bám trụ tại đây. Căn nhà sàn của gia đình ông chiếm vị trí ở giữa xóm, bên lũy tre làng. Mặt tiền nhìn ra con đường làng chạy thẳng tấp cạnh bìa rừng, mặt sau hướng ra bờ sông Mã chừng hơn trăm thước, ngôi nhà sàn của dân tộc Mường tại bản nầy vẫn giữ kiểu nhà truyền thống, những phong tục tập quán nguyên sơ của người Việt cổ. Họ dựng căn nhà sàn theo hình chữ nhựt, có lan can chạy chung quanh nhà và một cây cầu thang bước lên căn nhà sàn đi vào thẳng gian nhà đầu hồi, sàn nhà lát bằng tre bương đập dập đã lên nước bóng láng, mái lợp bằng tre nứa, phía dưới căn nhà sàn là chuồng nhốt trâu bò. Xóm Nậm được kết hợp lại bởi những căn nhà sàn kiểu truyền thống lớn có, nhỏ có, cao thấp khác nhau và có những căn nhà cũ kỹ hàng chục năm xen lẫn cái mới cất sau nầy. Phần lớn những căn nhà sàn nầy bám vào sườn đồi hoặc tựa lưng vào đôi bờ sông Mã, làm phong cảnh rừng núi hoang sơ tăng thêm vẻ thơ mộng. Vào những ngày nắng muộn, người tù cải tạo thường dừng tay đốn gỗ, nứa đứng trên những ngọn đồi không tên, đón những tia nắng đầu tiên, nhìn xuống xóm Nậm còn bàng bạc trong sương mù dưới chân đồi, nằm mơ màng bên dòng sông Mã, bên kia sông là dãy núi đồi trùng điệp vương vít mây trắng bay, tai lắng nghe tiếng suối chảy róc rách bên sườn đồi, hòa lẫn tiếng hót líu lo của chim rừng tạo nên khúc nhạc ban mai rộn rã...
Vào mùa đông, ngay chính giữa gian nhà sàn, họ dựng một cái khung gỗ vuông vức, mỗi cạnh khoảng hai thước đổ đầy cát, ba đầu ông táo bằng gạch nung và một cái ấm để đun nước sôi dùng pha trà. Ngọn lửa được gìn giữ cháy liên tục suốt mùa đông giá lạnh và cái ấm nước lúc nào cũng sôi sùng sục sẵn sàng cho ông pha trà, nhâm nhi cho ấm lòng tuổi già. Cái bếp lò đơn sơ lúc nào rực lửa mang nhiều ý nghĩa, nó tượng trưng cho tình gia tộc nồng ấm, sự đoàn kết gia đình, tình yêu thương bố mẹ dành cho con cái và ngược lại, như ánh lửa bếp chập chờn tỏa ra sức nóng ấm áp khắp trong gian nhà về đêm; vì vậy, họ giữ lửa cho cái bếp lò nầy không bao giờ tắt trong suốt mùa đông lạnh cóng. Về đêm, con trai ngủ tại đây, chung quanh bếp lò. Còn một cầu thang phụ dành cho phụ nữ ở phía sau nhà đi vào buồng riêng của họ.
Ông bà Lực có tất cả ba người con: Người con cả tên Đinh Lưỡng, thường xuyên vắng nhà, anh ta và vài thanh niên trong xóm Nậm sống về buôn bè luồng trên sông Mã. Anh lăn lộn với cái nghề nguy hiểm nầy mới được một vài năm, đến nay đã ngoài 30 tuổi vẫn còn độc thân. Cô con gái tên Hà tuổi vừa đôi chín rất xinh và thằng Sơn là con trai út, kém chị hai tuổi. Họ mưu sinh bằng đủ nghề, trồng trọt đủ loại hoa màu theo mùa: khoai, sắn, ngô, lúa...sau khi thu hoạch một vụ mùa, hai chị em đi đốn củi bán cho trại tù Thanh Cẩm, còn thằng Sơn rủ rê vài người bạn lên bến đò Co Lương thuộc huyện Quan Hóa, giáp ranh với huyện Bá Thước ở thượng nguồn sông Mã, mưu sinh bằng đủ nghề khác nhau, nhưng nghề chính là nghề “cửu vạn” chuyên bốc dở hàng hóa thuê cho con buôn lên bờ hoặc xuống hàng. Có khi xuống tàu đò, phụ với tài công vận chuyển hàng hóa và hành khách ngược xuôi trên thủy trình dài hơn 60 cây số đầy hiểm nguy nơi thượng nguồn sông Mã. Nhiều người phải bỏ mạng trên dòng sông dữ tợn nầy vào mùa mưa lũ đổ về, nước đục ngầu phù sa như sông Cửu Long. Dòng nước chảy xiết, va vào đá ngầm, cuộn lên cao một, hai thước rồi đổ ầm xuống như muốn nhận chìm con đò chở khách. Thằng Sơn suýt mất mạng tại thác Kép là một trong bốn con thác khiếp đảm nhất trên dòng sông Mã là thác Plô, thác Nam, thác Dồn nên bố mẹ bắt nó phải bỏ nghề nguy hiểm nầy, nên Sơn xoay qua nghề khác như lên núi đi bẫy gà rừng và đi câu cá lăng về đêm trên sông Mã. Cá lăng là một loài cá da trơn như cá ngát, cá ba sa ở sông rạch miền Nam. Cá lăng thường sống tập trung ở những dòng sông nước chảy xiết, có nhiều hốc đá ngầm dưới lòng sông như sông Mã, nhất là khúc sông từ huyện vùng cao Mường Lát ở thượng nguồn sông Mã chạy dài đến thôn Eo Lê, xã Cẩm Vân thuộc huyện Cẩm Thủy là cá lăng sinh sôi, phát triển nhiều lắm, đồng bào địa phương gọi là khúc sông vàng. Đặc điểm của giống cá nầy chỉ kiếm ăn vào lúc ban đêm, còn ban ngày trốn biệt trong các hốc đá dưới đáy sông.Năm 1978, khi trời mới bắt đầu sang thu. Ông Lực cảm thấy trời bỗng nhiên trở lạnh sớm hơn mọi năm. Ông Lực nhìn vợ, chép miệng, nói:
-“Mới sang thu mà có vẻ lạnh nhiều hơn năm rồi đấy, bà ạ! Mùa đông năm nay, trời sẽ lạnh khủng khiếp đấy! Bà còn nhớ mùa đông năm trước, trời lạnh đến nổi mặt nước ao hồ đóng ván, có nhiều nơi cá chết hằng loạt vì lạnh, nổi lờ đờ trên mặt nước. Bà nhắc chị em con Hà lo trữ thêm ngô, sắn, khoai, củi khô...bắt đầu trữ cho mùa đông là vừa rồi đấy. À, còn rơm rạ cho con trâu cái nhà mình nữa đấy.”
Bà Lực trấn an chồng, nói:
-“Ông khéo lo thì thôi, mới đầu tháng 7 lạnh lẽo gì chớ! Trời chỉ mát thôi mà! Tại tuổi già của ông chồng chất lên nên ông cảm thấy lạnh. À nầy, vụ lúa hè - thu của hợp tác xã Cẩm Thành sắp sửa thu hoạch. Sau khi được chia phần, tụi trẻ sẽ mang thóc ra Chợ Vạc bán, mua thêm ngô và muối để dành cho mùa đông. Thằng Sơn câu cá lăng trúng mùa xẻ thịt, phơi khô để dành hơn cả hai mươi cân. Bầy ngan nhà mình cũng bắt đầu cho trứng để bồi dưỡng cho riêng ông! Không phải lo nữa nhé!”
-“Nhớ lại mấy năm trước, những đợt gió rét đậm vào mùa đông như cắt da cắt thịt, tôi còn chịu được mà bây giờ thì không, tuổi già có khác xưa,” ông già Thượng chậc lưỡi, nói. “Không biết bao giờ thằng cả Lưỡng và con Hà nhà mình lập gia đình cho tôi với bà có cháu bế nhỉ?”
Bà Lực nói:
-“Thằng cả Lưỡng thì chưa muốn cưới vợ, còn cái Hà thì chưa có ai môi giới!”
-“À, bọn trẻ đi đâu cả rồi, bà nhỉ?”
-“Chúng nó đi xem đá bóng ngoài sân trại tù cải tạo Thanh Cẩm rồi! Chắc chúng nó sắp về đến nơi.”
-“Thế à, mà bà có biết giờ nầy là mấy giờ rồi không nào? Đã 6 giờ chiều rồi đấy!”
Bà Lực đứng dậy, nói:
-“Thôi, để tôi đi luộc sắn, để bọn nó về có cái ăn chiều.”
Ông già Lực cũng đứng dậy, lấy cái kính cận đeo vào mắt. Nhìn ông đeo cặp kính cận trông không giống ai. Cái kính đã gẫy mất một gọng, giống như cái chân trái của ông bị thương tật vì trúng miểng pháo trong lúc tải đạn cho bộ đội trên đường mòn Hồ Chí Minh ở bên dãy Trường Sơn Đông, còn mặt kính bên phải bị rạn, vết răn như mạn nhện, mọi thứ trong căn nhà sàn nầy đều cũ kỹ cả. Ông nheo con mắt bên phải nhìn cái đồng hồ reo cổ lỗ sĩ để trên cái bàn thờ tổ tiên. Cái mặt đồng hồ trở thành màu xám xịt như bị hong khói, mấy con số thì mờ hẳn, còn cái kim chỉ phút uể oải chuyển động từng tiếng tích tắc. Ông có vẻ sốt ruột, trông con.
Ông đi khập khiễng ra ngoài cửa, tựa lưng vào cột nhà, nhìn ra dãy núi đồi chập chùng xa xa về hướng tây. Nhìn những rặng cây già trên đỉnh đồi đang cố níu lấy một chút ánh sáng mặt trời đang hấp hối, từ từ lặn xuống sau đồi. Một cơn gió lạnh lùa vào nhà làm ông rùn mình, ớn lạnh. Ông lặng lẽ quay trở vào nhà, kéo cái phên cửa xuống, ngồi bên cạnh cái bếp lò giữa nhà, đánh diêm quẹt nhóm lửa. Những thanh nứa khô cháy rực lên, những mảnh than đen ngòm đỏ lên dần dần. Ông già Lực lấy ống nứa thổi một hơi dài vào đống than hồng và ngọn lửa cháy bùng lên. Ông ta gọi vợ, đang lui cui lột sắn đang sau chái nhà cho kịp bữa ăn chiều:
-“Bà nầy, mang vào cho tôi một ấm nước để đun trà coi nào!”


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 22 2016, 03:10 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 22 2016, 01:52 AM
Gửi vào: #60


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,563
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Bà Lực bực mình, gắt:
-“Tôi bận! Ông ra ngoài nầy mà lấy nước mang vào, được không? Cứ ngồi đấy mà thét tướng lên, làm như “lãnh đạo” không bằng!”
Nói gì thì nói, ông chưa kịp đứng lên, bà đã mang ấm nước vào nhà, tự tay đặt lên ba đầu ông táo bằng gạch, rồi nói:
-“Đùa đấy, đừng giỗi nhá! Ông đói chưa nào?”
-“Chưa, còn bay trẻ đã về chưa?” ông hỏi.
-“Về cả rồi,” bà nói. “Thằng Sơn đang lùa trâu vào chuồng, còn cái Hà đang cho bầy ngan ăn dưới nhà.”
Khi ấm nước sôi lên ùng ục, ông già Lực bỏ một nắm chè tươi vào cái bình trà, rồi dùng một cái gáo nhỏ làm bằng lon sửa bò, múc nước sôi đổ vào để hãm ấm trà. Một lát sau, bà Lực mang mâm sắn luộc còn đang bốc khói vào trong nhà, đặt trên sàn nứa, mời chồng:
-“Mời ông sơi sắn ạ!” bà Lực nói.
-“Chống Mỹ cứu nước, đã hy sinh bao nhiêu triệu chiến sĩ, đồng bào cả nước mà nhân dân ta còn nhá ngô, cao lương, khoai sắn sái cả quai hàm. Thật chán mớ đời,” ông già Lực hỏi. “Còn con Hà và thằng Sơn đâu rồi bà nhỉ?”
Có tiếng chân chạy rầm rập lên cầu thang làm rung rinh cái sàn nhà. Hà lên tiếng:
-“Thưa thầy u, chúng con đã về ạ.”
-“Sao về nhà trể thế hử?” ông Lực giọng nghiêm túc, hỏi.
Hà đáp:
-“Cái con ngan nhà mình hư lắm, chúng nó đẻ hoang ngoài bờ sông Mã, làm con và thằng Sơn phải đi kiếm nhặt về được mấy quả.”
-“Sao, độ bóng thế nào?” ông Lực hỏi.
Sơn bĩu môi nói:
-“Mấy anh tù chính trị ốm đói, chạy đuổi bóng được mươi phút đã thấm mệt, thở hồng hộc làm sao so được với mấy đồng chí công an khỏe như trâu. Kết quả, khung thành của tù cải tạo bị lủng đến 9 lần và vài cầu thủ bị chấn thương, phải khiêng ra sân.”
Ông Lực rót nước chè vào ly, chậm rãi nói:
-“Lúc sáng, anh Bắc, cán bộ trực trại Thanh Cẩm, có ghé nhà thăm bố. Anh ấy dặn: Khoảng tháng sau, tụi sĩ quan Ngụy từ các trại cải tạo tại Yên Bái do đoàn 776 quản lý, sẽ được tập trung về trại cải tạo Thanh Cẩm. Bọn nầy rất ác ôn, giết bộ đội và nhân dân ta như giết ngóe. Cái Hà và thằng Sơn có đi rừng đốn gỗ, gặp bọn nầy phải tránh xa, đừng quan hệ linh tinh với họ. Cấp trên cấm triệt để đấy!”
Thằng Sơn vọt miệng, nói:
-“Tuyên truyền thôi, thầy ạ! Làm gì có chuyện đó đâu mà thầy lo làm gì cho mệt. Thầy không thấy mấy anh tù chính trị miền Nam thuộc Đội 7 “lò gạch” sao? Anh nào, anh nấy trạc tuổi con đều hiền lành, tử tế. Nghe nói, mấy anh nầy đều là học sinh, sinh viên miền Nam nổi dậy, hoạt động chống phá chánh quyền cách mạng nên bị bắt, đưa ra ngoài nầy để học tập lao động cải tạo đấy, thầy ạ”
Hà cười, nói trấn an:
-“Thằng Sơn nó nói phải đấy, thầy ạ!”
Ông già Lực trừng mắt, hỏi vặn:
-“Sao mi biết chúng nó rành thế nhỉ?”
Thằng Sơn hóm hỉnh, báo cáo:
-“Tại có một anh chàng sinh viên tên Dĩnh lao động trong Đội 7 “lò gạch” là bạn của chị Hà đấy, thầy u à.”ø
Hà nghe nói, mặt ửng đỏ lên, ấp úng thưa:
-“Anh Dĩnh là bạn của thằng Sơn đó!” Hà quay sang Sơn, giọng răn đe. “Ơ hay,
tao làm bạn với anh ấy bao giờ chứ? Sao mi ăn nói bố láo thế nhỉ?” Hà lại quay sang bố, phân bua. “Đừng tin những gì nó nói, thầy ạ.”
Ông Lực chỉ cười, nhắc cho con nhớ:
-“Nội quy của trại tù cải tạo Thanh Cẩm, cấm triệt để tù cải tạo quan hệ linh tinh với dân địa phương. Đừng để cán bộ trại bắt gặp thì họ bị hành tội đấy!”
-“Vâng, chúng con biết rồi, thầy ạ.” Hà đáp.
Bà Lực mang thêm rổ sắn luột còn nóng hổi từ chái nhà bếp vào trong nhà để mọi người dùng bữa ăn chiều.

Đúng 10 giờ đêm, tiếng kẻng từ trại tù Thanh Cẩm vọng về, chấm dứt một ngày sinh hoạt của tù cải tạo. Không biết thói quen nầy có từ bao giờ, mọi nề nếp sinh hoạt của xóm Nâm gắn liền với trại tù Thanh Cẩm qua tiếng kẻng: Tiếng kẻng báo thức buổi sáng, tiếng kẻng tập hợp tù đi lao động, tiếng kẻng nghỉ trưa, tiếng kẻng buổi tối giờ tắt đèn đi ngủ và cả tiếng kẻng báo động đổ dồn dập liên hồi mỗi khi phát hiện có tù trốn trại, thúc giục đồng bào trong xóm Nậm đi săn tù để lãnh thưởng...cái kẻng là trái bom 500 cân, được treo dốc ngược trên nhánh cây gạo bên bờ sông Mã, trước cổng trại tù nên tiếng kẻng phát rất to, vang rền đi rất xa...
Nghe tiếng kẻng đổ, ông bà Lực đứng dậy, thổi tắt ngọn đèn dầu, treo lơ lửng giữa gian nhà sàn rồi cùng vào buồng ngủ. Hà nằm trên cái vạt tre kê sát vách, trong lòng miên man nghĩ đến Dĩnh, rồi tự hỏi: “Không biết giờ nầy anh ấy đã say ngủ chưa nhỉ?” Hà mở toang khung cửa sổ, gió núi lạnh lẽo theo ánh trăng rằm lùa vào, tràn ngập gian nhà. Ánh lửa chập chờn của cái bếp lò giữa căn nhà sàn, tỏa ra cũng đủ sưởi ấm cái mát lạnh chớm thu, Hà kéo cái mền bông lau đấp lên ngực để dỗ giấc ngủ. Vừa chợp mắt là nghe con trâu cái nhốt dưới căn nhà sàn; thỉnh thoảng, rống lên vài tiếng “nghe ngọ” như nhớ bạn tình là con trâu cụt đuôi của trại tù Thanh Cẩm. Nàng mệt mỏi rồi thiếp đi lúc nào cũng không hay.
Quá nửa đêm về sáng, thằng Sơn đánh thức Hà dậy, nói thật khẻ:
-“Dậy đi chị Hà! Dậy đi, ra sông câu cá lăng với Sơn.”
-“Mấy giờ rồi nhỉ?” Hà hỏi.
-“Gần 2 giờ sáng rồi đấy! Dậy đi ra sông câu cá thôi, chị ạ.”
-“Ừ, đi thì đi!” vừa nói, vừa tốc mền ngồi dậy. Hà vén lại mái tóc, kẹp lại gọn ghẽ, rồi hai chị em rón rén xuống cầu thang. Sơn ôm một bó cần câu dài tới 3 thước và một túi mồi, còn Hà xách cái xô nhựa chạy một mạch ra triền sông Mã khi bầu trời còn dầy đặc sương đêm và tĩnh lặng.
Hằng đêm cứ đến 3 giờ sáng, vào mùa khô cũng như mùa mưa là mấy tay thợ câu chuyên nghiệp ở xã Cẩm Thành đã gọi nhau chí chóe ra bờ sông câu cá lăng rất đông vì khúc sông nầy nước chảy xiết và có nhiều ghềnh đá. Xuống đến mép sông Mã là đôi tay của Hà và Sơn cứ thoăn thoắt móc mồi vào lưỡi câu, mồi là những con cá rô phi nhỏ xíu, nhái con... rồi quăng ra mặt sông, càng xa bờ càng tốt, có nhiều hy vọng cá lăng lớn ăn mồi nhiều hơn. Màn sương đêm loãng dần, ánh trăng rằm soi sáng một khúc sông Mã, cái Hà nhìn xa xa bên kia bờ sông, những tay thợ câu yên lặng, kiên nhẫn chờ đợi; thỉnh thoảng, có vài ánh đèn pin quét nhanh trên mặt sông của những thợ câu chuyên nghiệp sống về nghề nầy, họ thuộc lòng từ con nước lớn ròng, giờ nào cá lăng ăn mồi...để họ cắm câu rồi chờ sáng mai ra thăm câu, dỡ cần, bắt cá.
Hà đang ngồi yên lặng, chăm chú chiếc phao hình bông vụ, lớn bằng trái mù u, trôi bập bềnh theo dòng nước. Bỗng Hà bật nhổm dậy, giật bắn cần câu lên, một con cá lăng to bằng bắp tay mắc câu, cố vùng vẫy một cách tuyệt vọng dưới ánh trăng. Sơn giúp chị tóm gọn đầu con cá, tháo nó khỏi lưỡi câu, rồi ném vào cái xô nước. Sơn chậc lưỡi nói: “Con cá nầy khoảng nửa cân đấy, chị Hà ạ.” và cho đến tờ mờ sáng, hai chị em Hà đã tóm được 4 con cá lăng khá lớn mang về nhà làm khô. Sơn nói với chị:
-“Sáng nay, anh Dĩnh sẽ leo đồi đốn gỗ đấy! Chiều hôm qua, Sơn thấy một khúc gỗ do anh ấy dựng làm hiệu ở gốc sân, cạnh hàng rào của sân đóng gạch! Chị mang cho anh ấy một con cá lăng, nói là Sơn biếu anh ấy nhé!”
-“Còn mi đi đâu?” Hà hỏi cậu em. “Ngày mai, em bận phải ra “hợp tác xã” thu hoạch ngô cho xã Cẩm Thành.”
-“Còn tao đi thu hoạch sắn cũng cho cho hợp tác xã!” Hà nói.
Về đến nhà, hai chị em Hà lựa hai con cá lăng lớn nhất, đem lên trên căn nhà sàn. Sơn cho củi vào bếp lò, thổi cháy bùng lên cho Hà nướng cá. Mùi cá nướng thơm lừng bốc lên làm bà Lực thức giấc, từ trong buồng ngủ hỏi vọng ra:
-“Tụi mi nướng cá vào giờ nầy, làm gì sớm thế hử?”
-“Sáng nay, thằng Sơn sẽ đi lao động cho hợp tác xã,” Hà nói. “Con nướng cá mới bắt được cho nó bới đem theo đấy, u ạ!”
Đúng 6 giờ sáng, tiếng kẻng từ trại tù Thanh Cẩm vang lên từng hồi. Hà cho hai con cá lăng mới nướng chín vào tấm lá chuối, gói lại cẩn thận: một con làm quà cho Dĩnh và một con cho Sơn mang theo dùng cơm trưa. Hà lo nấu ấm nước, chờ thầy u thức dậy pha trà. Hà ngồi bó gối nhìn ánh lửa cháy bập bùng, trong lòng nôn nóng, chờ leo đồi đến chỗ thường hò hẹn với Dĩnh. Chờ đến 7 giờ sáng là Hà băng qua con đường làng, đi theo con đường mòn quen thuộc trong rừng dẫn lên trên đồi, nơi có nhiều gỗ tạp. Từ trên ngọn nầy có thể nhìn bao quát khúc sông Mã chảy qua xóm Nậm và những cánh cò trắng sải cánh bay dưới triền núi; thỉnh thoảng, vài bè luồng từ “vựa luồng” vùng cao Quan Hóa trôi xuôi về đồng bằng. Hà ngồi dưới bóng cây gạo cổ thụ trên đồi, nôn nóng chờ Dĩnh.
Hà nhớ lại vào cuối tháng chạp năm trước, trong một buổi sáng còn mờ sương, có gió rét đậm, gió lướt qua da thịt lạnh buốt như dao cắt, gió lạnh làm những đóa hoa đào nở muộn cũng run rẩy. Mặt hồ dưới chân đồi chưa đống băng, nhưng nổi váng mỏng làm đàn cá rô phi bị buốt chết, nổi lều bều. Cái lạnh của mùa đông giá buốt làm cho hoa chanh trong sân nhà ai đó nở rộ. Hà đang hì hục đốn gỗ để chuyển xuống đồi bán cho những người buôn gỗ tạp chuyển về miền xuôi, bán cho dân sưởi rét mùa đông. Lúc đang mải mê đốn gỗ, bất chợt nghe tiếng động xào xạc của ai đó đang đi lên đồi. Nàng dừng tay dao lại, nghe ngóng và lần đầu tiên Hà thấy một cậu thanh niên trẻ tuổi, khá điễn trai khác hẵn với mấy cậu thanh niên làng nầy. Nàng giựt mình, thấy anh ta cũng mang theo một con dao 5 dùng đốn gỗ. Tưởng là người xấu, nàng vùng bỏ chạy, đứng xa xa đứng nhìn. Còn cậu thanh niên trẻ cũng ngạc nhiên không kém khi nhìn thấy một cô sơn nữ khá đẹp vùng núi đồi khô cằn sỏi đá nầy. Nàng bạo dạn, hỏi:
-“Anh kia! Ở đâu đến đây làm gì thế? Gián điệp hử?”
Anh ta trả lời cọc lóc:
-“Tù lao động cải tạo Thanh Cẩm, được không?”
-“Anh tên gì thế?”
-“Tôi tên là Dĩnh, dĩnh là dĩnh ngộ đấy, đang lao động tại Đội 7 “lò gạch”! Còn gì hỏi nữa không?”
Trước khi bỏ đi, Hà nói:
-“Gỗ của Hà đốn đấy! Đừng có lấy đi nhé!”
-“Ai thèm!” Dĩnh trả lời.
Thế rồi, mấy ngày sau. Trong lúc Dĩnh đang đốn gỗ, một cơn mưa sầm sập kéo đến bất ngờ làm cả cánh đồng dưới chân đồi chìm trong làn nước mưa trắng xóa, mấy cây liễu quanh bờ hồ rũ xuống trong cơn mưa nặng hạt. Dĩnh nhanh chân chạy đến cây gạo cổ thụ tránh gió mưa. Không hẹn mà gặp, Hà cũng đang tránh mưa ở đó. Thấy Dĩnh áo quần ướt đẵm nước mưa, run cầm cập vì vừa đói, vừa lạnh.
-“Lại gặp mi nữa rồi,” Hà nói đùa, rồi hỏi. “Chắc đói lắm, phải không?”
Dĩnh cười, nói:
-“Còn phải hỏi, tù cải tạo lúc nào mà chẳng cảm thấy đói chứ!”
Hà nhìn chàng thông cảm, nói:
-“Hà còn hai củ sắn luộc, chia cho anh một củ nhé! Anh ăn không thì bảo?”
-“Còn phải hỏi,” Dĩnh xòe bàn tay ra, nói. “Sắn đâu? Đưa đây!”
Hà lấy một củ sắn trong cái gùi đưa cho chàng. Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh, Dĩnh nhai ngấu nghiến củ sắn một cách tự nhiên như người Hà Nội. Hà bỗng thấy có cảm tình với chàng trai miền Nam, nhường luôn củ sắn còn lại cho anh ta, rồi nói:
-“Nầy, anh sơi luôn củ sắn nầy đi! Hà không thấy đói!”
Anh chàng không khách sáo, cầm lấy củ sắn cho vào miệng nhai sừn sựt cho qua cơn đói. Sau khi khá no bụng, Dĩnh hỏi đùa:
-“Hà muốn tôi đền ơn bằng cái gì đây?”
-“Sau nầy nếu có dịp, Dĩnh dạy cho Hà vài cái chữ nhé!” Hà cúi nhìn xuống đất thú thật. “Hà mù chữ! Anh đừng khinh Hà nhé!”
-“Chuyện dễ thôi mà!” Dĩnh nói.
Thời gian gần hai năm trôi qua thật nhanh! Bây giờ, Hà đã biết đọc, biết viết chữ Quốc Ngữ một cách rành mạch. Nàng dùng dao khắc hai chữ “DH” trên cây gạo cổ thụ trong hình trái tim. Tình yêu của chàng trai Sài Gòn và cô Mường bắt đầu nẩy nở trên ngọn đồi không tên nầy.

Đúng hẹn lại đến. Một lúc sau, Dĩnh cầm con dao chặt gỗ đến chỗ hẹn hò dưới táng cây gạo. Hà đưa cho Dĩnh con cá lăng gói cẫn thận trong lá chuối. Nàng nói:
-“Bây giờ Hà phải đi ra xã Cẩm Thành thu hoạch sắn cho hợp tác xã. Tối nay, hẹn gặp anh tại sân đá bóng của trại cải tạo Thanh Cẩm nhé!”
Dĩnh ngạc nhiên, hỏi:
-“Làm sao tối nay anh ra khỏi trại được chứ?”
Hà bật cười, nói:
-“Tối nay, đội chiếu bóng lưu động huyện Cẩm Thủy về phục vụ cho mấy hộ dân xã Cẩm Thành, các anh cũng được tham gia đấy!”
-“Thì ra là vậy,” Dĩnh nhìn nàng, nói. “Thôi, tối nay anh sẽ gặp Hà ở đâu?”
-“Hà sẽ bảo thằng Sơn đi tìm anh!”
Bỗng Hà nhìn thấy hai con cu gáy từ đâu bay sà đậu trên nhánh cây gạo, đang âu yếm rỉa lông cho nhau một cách tình tứ. Hà mơ màng nói:
-“Hà ước gì, Dĩnh với Hà giống như đôi chim gáy kia, suốt đời sống khắn khít bên nhau. Còn anh nghĩ sao?”
-“Anh hả?” Dĩnh cười, nói. “Anh ước gì có hai con chim gáy kia để “rô ti” sơi với bánh mì, chắc đã lắm!”
Hà giận dỗi, nói:
-“Anh thì lúc nào cũng nghĩ tới cái ăn!”
-“Đùa tí thôi, chưa chi đã giỗi,” Dĩnh nói nửa đùa, nửa thật. “Hà cho anh biết nếp cưới xứ Mường đi được không?”
-“Biết để làm gì chứ?” Hà hỏi.
-“Biết để nhở sau nầy Dĩnh đi hỏi cưới Hà thì sao?” Dĩnh nói.
-“Đám cưới xứ Mường rườm rà lắm, không đơn giãn tí nào!” Hà nói. “Trước tiên là lễ “khảo thiếng” (ướm hỏi), kế đến là lễ “ti nòm bánh” (bỏ trầu cau), rồi đến lễ “tì dán” (lễ cưới) sau cùng là lễ “ti du” (đón dâu). Đồ lễ nhà trai phải có 50 kí gạo, 30 lít rượu, 50 kí thịt lợn và từ 5 đến10 ngàn đồng tiền mặt.”
Dĩnh cười, nói:
-“Đồ lễ nhiều thế kia, nghèo như anh làm sao có đủ tiền để mua sắm chứ?”
Hà giọng nghiêm túc, nói
-“Bao giờ Dĩnh được trả tự do, Hà sẽ trốn gia đình vào Sài Gòn với anh nhé!”
Dĩnh bật cười, nói:
-“Chắc còn lâu lắm, liệu Hà chịu chờ anh tới ngày đó không?”
-“Hà chờ anh suốt đời.”
-“Hứa nhá!”
Hà gật đầu, nói:
-“Bây giờ Hà phải đi ra hợp tác xã thu hoạch sắn đây!”

Hầu như hàng năm, đội chiếu bóng lưu động huyện Cẩm Thủy cũng tới trại tù Thanh Cẩm để phục vụ cho gia đình cán bộ, đồng bào xã Cẩm Thành và anh em tù cải tạo bị bắt buộc phải đi xem. Cái tin đội chiếu bóng lưu động huyện Cẩm Thủy về phục vụ tại xã, đã được loan đi từ vài hôm trước, làm nhà nào nhà nấy cũng nôn nóng chờ đợi.
Chiều hôm đó, các hộ dân trong xã đều ăn cơm vội hơn mọi ngày, rồi gọi nhau ơi ới, vầy đoàn rủ nhau ra sân trại tù Thanh Cẩm để xem phim chiếu bóng trên màn ảnh rộng. Sân chiếu bóng chia làm hai dãy, các xã lân cận cũng kéo đến nườm nượp, lớp đứng, lớp ngồi chật cả dãy dành riêng cho họ. Tù chánh trị K1 và tù hình sự K2 được sắp xếp ngồi riêng một khu vực có cán bộ quản chế canh chừng nghiêm nhặt, cấm quan hệ linh tinh với đồng bào đại phương.
Đúng 7 giờ tối hôm đó, đội chiếu bóng huyện Cẩm Thủy phục vụ một phim hành động ác liệt của Liên Xô, có những pha đấm đá dữ dội, có màn đào kép hôn môi nhau mùi mẫn làm các cô gái Mường, ngượng ngùng nói khẻ với nhau:
-“Chúng nó đang cắn môi nhau đấy!”
Còn bọn thanh niên thì cười ầm lên, nói:
-“Xem kìa, chúng nó đang “bú mồm” nhau đấy, sướng thật nhá!”
Buổi chiếu phim kéo dài đến 9 tối thì chấm dứt. Tù cải tạo trở vào “hộp”, các hộ dân tản hàng ai về nhà nấy. Trên đường về xóm Nậm, Hà hỏi cậu em:
-“Mi có thấy anh Dĩnh đâu không?”
-“Không!” Sơn trả lời Hà, rồi bất ngờ, hỏi. “Anh Dĩnh có “bú mồm” chị bao giờ chưa nhỉ?”
Câu hỏi đột ngột của cậu em làm Hà nỗi cáu, mắng:
-“Mi ăn nói gì tẽn tò thế hử? Tình cảm giữa tao và anh ấy rất trong sáng, chưa một lần nắm bàn tay nhau, nói chi là “bú mồm” nhá, nghe rõ chưa, nhóc con!”
-“Thành thật khai báo thì được khoan hồng đấy nhá! Nếu không, tớ sẽ mách với thầy u đấy, chị Hà ạ!” Sơn nhe răng cười, nói. “Mấy thằng bạn của Sơn cùng xóm, chúng nó nói xấu chị đấy!”
-“Chúng nó dám nói xấu gì tao hử!” Hà giọng giận dữ, hỏi. “Chúng nó nói sau lưng tao điều gì thế?”
-“Chúng nó nói là...cái Hà xóm Nậm xinh cực!”
Hà nghe nói, bật phá lên cười ngất, nói:
-“Chúng nó nói điêu thế mà mầy cũng tin à?”
Có lẽ những cô sơn nữ xóm Nậm hàng ngày đi ngang qua Đội 7 “lò gạch”, chỉ có Mường Hà xinh đẹp nhất, chỉ kém Mường Lệ ở Chợ Vạc. Dạo ấy các chàng trai Mường ở xóm Nậm đánh giá mấy nàng như sau: “Nhất Lệ chợ Vạc, nhì Hà xóm Nâm”. Chợ Vạc là một chợ phiên ở vùng thôn dã nằm trên ven đường, cách trại tù Thanh Cẩm trên mươi cây số. Chợ Vạc hợp định kỳ cứ 5 ngày một lần, bắt đầu từ mùng 5 hàng tháng. Chợ Vạc với sạp tre đóng sơ sài, mái lợp bằng tre, nứa hoặc phủ bạt. Dân những bản Mường gần đó mang những sản phẩm địa đến bày bàn như rau xanh, khoai, sắn, lạc, trái cây bán theo mùa, rượu ngô, sắn và vải vóc, yếm váy, gương lược, một cửa hàng bán thịt lợn và một cửa hàng bán phở. Một góc chợ bày bán gia súc như trâu, bò heo, gà, ngan và cả chó...chợ nhộn nhịp từ sáng sớm đến xế trưa thì tản hàng.
Những tên cán bộ quản chế mỗi lần thấy Mường Hà đi ngang lò gạch đều buông lời trêu chọc, rồi nhìn theo ngẩn ngơ. Nhưng, nàng chỉ phải lòng Dĩnh, người tù cải tạo miền Nam ngổ ngáo. Khi Sài Gòn vừa lọt vào tay bọn CSBV, Vinh đã vội vã xếp bút nghiêng, gia nhập lực lượng phục quốc, hoạt động chống phá cái gọi là “Chánh phủ Cách Mạng”. Dĩnh không may bị bọn công an “bảo vệ chánh trị” bắt khi mới vừa 18 tuổi, bị tra tấn dã man trước khi bị đưa ra trại tù cải tạo Thanh Cẩm vào tháng 6 năm 1977.
Bắt đầu từ tháng 8 năm 1978, hầu hết tù cải tạo miền Nam di chuyển ra miền Bắc XHCN bị tập trung tại các trại tù lao động khổ sai, nằm rãi rác vùng rừng núi khí hậu khắc nghiệt của tỉnh Hoàng Liên Sơn và Yên Bái do đoàn 776 bộ đội CSBV quản lý. Sau đó, một số bị đưa về trại tù cải tạo Thanh Cẩm do bọn công an CS điều hành. Tổng số tù cũ và tù mới lên tới con số khoảng 800 người. Đội 7 lò gạch và ngói được tăng cường lên đến 50 người, chuyên sản xuất gạch và ngói để xây thêm khu vực “kiên giam” mới dành để nhốt mấy cha cố đạo.
Cứ 3 hoặc 4 tháng, tùy theo thời tiết mưa nắng, đội lò gạch tổ chức đốt lò một lần. Tên tù hình sự tên “Sơn Trang” chuyên viên coi việc đốt lò với sự trợ giúp của anh em đội lò gạch, thường có 10 người được lựa chọn ở lại qua đêm coi việc đốt lò, giữ ngọn lửa cháy liên tục trước khi bít của lò gạch lại bằng đất sét dẽo. Khoảng một tuần, độ chừng gạch và ngói đã được nung chín thì cho gạch và ngói cho ra lò, chở về trại để xây tiếp khu “kiên giam” mới. Về sau, linh mục Nguyễn Hữu Lễ được chuyển từ khu “kiên giam và kỷ luật” về khu kiên giam nầy cùng với 29 vị linh mục khác.

-BA NĂM SAU.
Vào đầu tháng 7 năm 1981, ông Đinh Lực hợp tất cả thành viên trong gia đình thông báo một tin vui cho vợ và các con. Ông phấn khởi, nói:
-“Một gia đình ở thôn Lương Ngọc, dưới chân núi Ngọc Bến, xã Cẩm Lương có cậy người làm môi giới xin hỏi cái Hà cho con trai cả của họ. Hắn có trại nuôi lợn và một cửa hàng phở ở Chợ Vạc, tình trạng kinh tế khá lắm, hắn sắm cả xe đạp ngoại Phượng Hoàng của Trung Quốc sản xuất, đồng hồ Nhật và có cả cái đài “hai phai” nữa, hách lắm! Thầy ưng ý chỗ nầy đấy,” ông già Lực nhìn cái Hà, giọng nghiêm chỉnh, hỏi. “Thầy đồng ý cho họ cử hành lễ “khảo thiếng” và “ti nòm bánh” cùng một lúc vào tháng sau. Đến tháng 9 sẽ cữ hành lễ “tì dán”, rồi “ti du” ngay ngày hôm sau. Thầy đơn giãn hóa mọi thứ cho hai gia đình đỡ tốn kém. Cái Hà nghĩ sao?”
Hà nghe bố nói như nghe tin sét đánh. Nàng giật mình, giẫy nẩy lên, đáp:
-“Con chả muốn lấy chồng bây giờ đâu, thầy ạ!”
Ông già Lực nghiêm sắc mặt, nói:
-“Ơ hay, mi dám lý sự với thầy à? Thầy đã quyết định rồi đấy!”
Thấy cái Hà bật khóc, bà Lực có vẻ sốt ruột nhìn chồng, nói:
-“Hay là ông hãy gượm lại một thời gian để tôi khuyên bảo nó xem sao nhá.”
-“Hay nhỉ, bà muốn gây sức ép với tôi ấy à? Không có ý kiến lôi thôi gì cả! Nhà nầy, vẫn còn do tôi chỉ đạo, cái Hà nhớn rồi phải lấy chồng!” ông già Lực quay sang con cả, hỏi. “Cả Lưỡng, mi có nhất trí với thầy không đấy?”
Cả Lưỡng nhìn bố, nói:
-“Xin lổi thầy, con không có điều gì để trao đổi với thầy cả! Tùy ý thầy thầy u quyết định. Con muốn đi ngủ đây! Ngày mai, con và vài người bạn trong xóm Nậm sẽ đi lên xã vùng cao Trung Sơn, Trung Thành thuộc Quan Hóa để đốn bương, luồng, vầu, nứa rồi còn phải tập trung về bến đò ở bản Chiềng, xã Trung Thành để kết thành bè lớn, thả về xuôi. Phải chặt tận gốc bán tận ngọn mới có lời đấy!”
Bà Lực nghe con nói lại lên “vựa luồng” vùng cao Quan Hóa thì không khỏi lo lắng. Bà nói:
-“Cả Lưỡng nầy, u nghe người trong xóm nói rằng mùa nầy nước sông lớn, mưa nhiều, đi bè luồng rất nguy hiểm, nhất là khi phải vượt qua những con thác lớn hung dữ như thác cánh Kép, Cánh Tạng, Cánh Mớ ... thuộc huyện Quan Hóa, nhiều bè luồng bị vỡ tan, không vớt vát được cây nào, người có khi còn không toàn mạng, huống chi luồng, phải không cả Lưỡng?”
-“U mầy nói đúng đấy! Thầy còn nghe dân cánh bè luồng trong xóm Nậm có câu: “Gập ghềnh sông Mã bè trôi / Sóng xô xuống vực, rồi đẩy lên ngọn đồi.” ông Lực tiếp lời vợ, nói. “Thầy u muốn cả Lưỡng đổi nghề khác để sinh sống và ở nhà với gia đình thường hơn đấy, anh nghĩ sao?”
Cả Lưỡng nói:
-“Con không đi buôn bè thì biết làm nghề gì để giúp đở thầy u chứ?”
Hà ngắt lời anh cả, nói:
-“Anh cả nói đúng đấy thầy u ạ! Con muốn ở nhà để giúp đở gia đình, thầy u gả con vội làm gì chứ?”
Ông già Lực trừng mắt, nói gằn:
-“Không đời nào! Đây là cơ hội tốt, thầy u nhất định không bỏ nhở đâu. Hơn nữa, thầy đã hứa với họ rồi, không thể nuốt lời được đâu, cái Hà ạ.”
Trời nửa đêm về sáng. Con trâu cái cựa dưới căn nhà sàn làm cả Lưỡng chợt thức giấc. Vườn sau nhà về khuya thật tĩnh lặng, có thể nghe tiếng tàu lá chuối run lên xào xạc và buội tre cạnh hàng rào thả từng giọt sương khuya rơi lộp độp trên mái nứa hòa lẫn tiếng côn trùng tỉ tê trong lùm cây, buội cỏ. Cả Lưỡng ngồi dậy nhồi một bi thuốc lào cái nõ điếu rồi châm lửa rít một hơi dài sảng khoái. Bỗng nghe tiếng ai khóc thút thít dưới chân cầu thang, cả Lưỡng bèn đứng dậy, chống cái phên cửa lên nhìn ra sân. Dưới ánh trăng thượng tuần mờ nhạt, cả Lưỡng nhìn thấy thằng Sơn đứng bên cạnh cái Hà đang ngồi dựa lưng vào cột nhà sàn, hai tay bó gối khóc thút thít. Cả Lưỡng rón rén bước xuống cầu thang, ngồi xuống bên cạnh em gái, hỏi:
-“Chỉ lấy chồng thôi mà, làm gì mà cuống lên thế nhỉ?”
-“Hà có yêu người ta đâu mà thầy u muốn gả Hà cho người ấy chứ?” Hà nói.
-“Vậy, mi có yêu người nào chưa đấy?” cả Lưỡng tò mò, hỏi.
-“Có chứ,” Sơn trả lời dùm cho chị. “Chị Hà yêu một anh chàng học sinh, người miền Nam tên Dĩnh đang...”
Cả Lưỡng ngạc nhiên, ngắt lời, hỏi:
-“Cái Hà đi vào trong Nam bao giờ mà biết anh ta? Hiện anh Dĩnh đang làm nghề gì, ở đâu?”
-“Anh ấy là tù lao động cải tạo của trại tù Thah Cẩm.” Hà nói.
Cả Lưỡng cười, nói:
-“Ối giời ơi! Cái Hà có điên không đấy! Yêu một người tù cải tạo thì có tương lai gì chứ? Biết bao giờ anh ta được trả tự do để cưới mi chứ?”
-“Anh nghĩ cách gì để giúp chị Hà đi chứ!” thằng Sơn nói. “Anh khuyên thầy u đừng gả vội chị Hà đi lấy chồng là được rồi. Hảy chờ vài năm nữa xem sao, được chứ?”
-“Tao biết tính thầy rồi, một khi đã quyết định việc gì, khó mà khuyên thầy được lắm!” cả Lưỡng nói. “Tao có một cách là tao giúp hai đứa nó trốn trại vào Sài Gòn, mi thấy ý kiến của thế nào?”
-“Ý kiến nầy hay đấy, anh cả ạ!” thằng Sơn reo lên, nói tiếp. “Nhưng, Sơn chỉ sợ anh ấy hãi, không dám trốn trại mà thôi!”
-“Tao nghĩ những chàng sinh viên, học sinh miền Nam không hèn như mi tưởng đâu, Sơn ạ!” cả Lưỡng, nói. “Lúc theo bộ đội vào tiếp thu Sài Gòn, thủ đô của người miền Nam, tao mới có cơ hội nhìn thấy rõ cái bản chất thực sự của Quân đội Nhân dân, tao mới biết mình bị lừa gạt, đó chỉ là một đạo quân giết người cướp của không hơn không kém. QĐND chỉ bọn lính đánh thuê cho Liên Xô và Trung Quốc mà thôi, đồng chí Lê Duẫn đã từng tuyên bố: “Chúng ta đánh Mỹ là cho Liên Xô và Trung Quốc” đấy, Sơn ạ.”
-“Anh đã thấy những gì, nói rõ cụ thể cho Sơn nghe đi.” Sơn nói.
-“Sau khi đưa cả triệu Quân, Cán chính VNCH vào các trại tập trung cải tạo là chiến dịch qui mô cướp sạch tài sản nhà cửa, đồ đạt, quí kim trong nhà của họ không chừa một thừ gì cả. Hằng ngày, tao đã chứng kiến hằng trăm xe vận tải Molotova và GMC chở “chiến lợi phẩm” đánh cướp được của dân miền Nam, chở ra miền Bắc để xây dựng CNXH. Chiến dịch giết người cướp của nầy kéo dài hơn 3 tháng mới chấm dứt và tiếp đến là chiến dịch đánh “tư sản mại bản”, đuổi dân về vùng kinh tế mới để cưỡng đoạt bất động sản. Tuổi trẻ miền Nam thật anh hùng, họ đã tự nguyện xếp bút nghiên, đứng lên chống lại bộ đội và chánh quyền cách mạng để bảo vệ từng khu phố, từng con đường, từng con hẽm và đồng bào vô tội. Một số trong bọn họ bị bắn chết và một số bị đưa vào các trại tập trung lao động cải tạo. Đó là lý do tại sao tao bỏ ngũ, trở lại vùng núi đồi nầy,” cả Lưỡng thở dài, ngao ngán nói. “Sáng mai, tao phải ra chợ huyện Cẩm Thủy đáp ô tô lên huyện vùng cao Quan Hóa đốn bương kết bè thả về miền xuôi.”
-“Bao giờ anh cả trở về bến nhà?” Hà hỏi.
-“Trể lắm là một tháng, tao sẽ neo mảng bè luồng dưới bến nhà,” cả Lưỡng nói. “Ở nhà động nảo đi, có cách gì hay sẽ thảo luận với tao nhé! Chỉ cần tụi bây đưa được anh chàng ấy xuống được mảng bè luồng là tao đưa đến thẳng ra tỉnh Thanh Hóa, từ đó đón tàu hỏa về trong Nam. Tao bảo đảm an toàn cho thằng Dĩnh.”
Hà nghe anh cả hứa, mừng lắm, nói:
-“Hà nghĩ ra cách rồi, để Hà bàn phương án nầy với Dĩnh và Sơn rồi sẽ bàn kế hoạch cụ thể với anh cả sau nhé! Thôi, anh cả đi ngủ tiếp đi, ngày mai còn phải lên đường sớm đấy!” Hà quay sang thằng Sơn, hỏi. “Không biết ngày mai anh Dĩnh có lên đồi đốn gỗ hay chặt nứa không nhỉ?”
-“Sáng nầy, Sơn gặp anh Dĩnh leo đồi đốn gỗ gần chỗ Sơn đặt bẫy gà rừng.” Sơn nói. “Đội lò gạch đang chuẩn bị “đốt lò” vào tháng sau, nên ngày nào cũng phải đốn gỗ, nứa cho đủ than củi để nung gạch, ngói.”
-“Thế à, ngày mai tao sẽ chờ Dĩnh trên đồi để hỏi ý kiến của anh ấy có dám trốn trại hay không?” Hà dặn Sơn. “Sáng mai, Sơn lên đồi thăm mấy cái bẫy gà rừng, nếu gặp Dĩnh thì bảo anh ấy, tao đang chờ ở trên đồi nhé!”
Sáng hôm sau, Hà có mặt trên ngọn đồi, dưới cây gạo cổ thụ rất sớm, lòng nôn nóng chờ Dĩnh đến. Khoảng một giờ sau, Dĩnh xuất hiện. Vừa gặp nhau, Hà vào đề ngay, hỏi:
-“Bao giờ Dĩnh được trả tự do?”
-“Chắc còn lâu lắm! Tù phản động mà Hà không biết sao?”
-“Nếu như một ngày nào đó được trả tự do, Dĩnh có muốn dẫn Hà theo anh vào trong miền Nam không?”
-“Hà khờ quá! Dĩnh chỉ sợ Hà không dám thoát ly gia đình, bỏ núi, bỏ rừng vào miền Nam với Dĩnh thôi.”
-“Nếu có cơ hội, Dĩnh dám trốn khỏi trại tù không?”
-“Sợ gì mà không dám chứ!”

“Nếu như có chuyện gì không may có thể xảy ra, Dĩnh không hối hận chứ?”
-“Không bao giờ! Thà chết trong tự do, còn hơn chết rũ trong nhà tù Thanh Cẩm man rợ nầy.”
-“Nhất trí như vậy nhé!” Hà mừng lắm, nói. “Cả Lưỡng, anh nhớn của Hà sẵn sàng giúp Dĩnh và Hà trốn khỏi nơi nầy bằng bè luồng. Bọn công an trại tù không bao giờ chận xét các bè luồng đâu. Chỉ cần 2 giờ, bè luồng sẽ đưa chúng vượt qua thôn Eo Lê thuộc xã Cẩm Vân là thoát nạn. Nhưng mà, cái khó khăn phải vượt qua là từ lò gạch tới bến sông Mã và làm cách nào Dĩnh qua mặt mấy tên công an quản chế đây? Dĩnh nghĩ xem có cách nào không?”
-“Anh có cách rồi!” Dĩnh hớn hở, nói. “Tháng sau, Đội 7 lò gạch có “đốt lò”. Nếu Dĩnh có tên trong toán đốt lò, sẽ ở lại lò gạch ban đêm để canh củi lửa. Nữa đêm, Dĩnh sẽ chuồn êm ra bờ sông Mã rất dễ dàng!”
Hà nghe nói cũng mừng rỡ không kém, nàng âu yếm ngả đầu vào vai Dĩnh, hỏi đùa:
-“Dĩnh biết bơi không nhỉ?”
Chàng vuốt mái tóc dài óng ả của cô sơn nữ chung tình, nói:
-“Biết chứ! Dĩnh lội nhanh như rái cá “U Minh” đấy!”
-“Còn Hà không biết bơi!” Hà nói đùa. “Nếu rã bè luồng, anh giúp Hà đưa vào bờ nhé!
-“Biết bơi hay không cũng vậy thôi! Dĩnh và Hà nhất định sống chết có nhau trên cõi đời nầy. Hà thứa với anh nhé!”
-“Vâng, Hà hứa với Dĩnh!”

Lịch trình đốt lò được trại ấn định vào ngày chúa nhật 2 tháng 8. Toán phụ trách đốt lò gồm có 10 người và Dĩnh có tên trong toán nầy. Mảng bè luồng của cả Lưỡng đã về neo tại bến nước sau nhà trước đó 3 ngày. Sơn phụ giúp anh kết lại bè luồng gồm trên 3 ngàn cây, mỗi cây dài độ 4 thước, dùng thừng buộc thật chặt lại, rồi dựng tạm một cái chòi thấp lè tè, mái lợp bằng nứa để cho hai người trú ẩn để tránh mưa nắng. Hà lo dự trử cơm cơm vắt, khoai, sắn, ngô và nước uống cho mọi người đủ no lòng vài ngày. Cả Lưỡng mướn được của người bạn trong xóm Nậm một cái máy đẩy để vượt sông Mã cho nhanh. Còn Sơn cũng chuẩn bị cho Dĩnh một bộ đồ công nhân cũ để mặc. Mọi thứ đã chuẩn bị sẵn sàng cho cặp tình nhân trẻ tìm tự do. Hà cũng được Dĩnh cho biết trước một ngày, sẽ có mặt trong toán đốt lò vào tối đêm đó.
Sáng ngày chúa nhật 2 tháng 8. Mười người trong toán đốt lò được bồi dưỡng đặc biệt, mỗi tiêu được tăng cường thêm sắn luộc và 50 gờ ram đường để thức trắng đêm, thay phiên nhau canh lửa đốt 5 miệng lò rực lửa sáng đêm. Thật không may, Dĩnh bị bịnh đột xuất, căn bệnh “viêm thần kinh” mãn tính tái phát dữ dội. Dĩnh ôm đầu lăn lộn trên bệ nằm, bao nhiêu thức ăn đều nôn ra hết. Anh đội trưởng Đội 7 lò gạch bắt buộc phải đề nghị một người khác thế chỗ của Dĩnh. Chiều hôm đó, Sơn đi lởn vởn gần khu vực lò gạch chờ toán đốt lò. Khoảng 6 giờ chiều, cả toán đốt lò ra tới sân đóng gạch. Sơn ngạc nhiên không thấy Dĩnh đâu cả. Hỏi ra, Sơn mới biết là Dĩnh bị bị nặng đột xuất, không ra khỏi trại được. Định mệnh khắc nghiệt đã chia rẽ đội bạn trẻ tha thiết yêu nhau. Cái Hà khóc sướt mướt khi nghe Sơn tất tả chạy về báo hung tin...
Một tuần lễ sau đó, trong khi Dĩnh đau đớn nằm liệt giường liệt chiếu tại bệnh xá của trại tù Thanh Cẩm thì tại xóm Nậm, ông Đinh Lực tổ chức lễ “tì nòm bánh” đón nhà trai đến làm lễ bỏ trầu cau thật tươm tất và chu đáo. Trước đó một ngày, hợp tác xã Cẩm Thành cho người đến quét dọn vệ sinh con đường làng, sân nhà và treo mấy lẵng hoa rừng đủ màu sắc để trang trí nội thất vì họ muốn giữ thể diện cho người xóm Nậm với người khác làng.
Nữa đêm về sáng, căn bịnh mãn tính có thuyên giảm đôi chút, Dĩnh cố gắng chống tay ngồi dậy, gục đầu vào song sắt thở cố không khí trong lành. Ánh trăng thượng tuần nhợt nhạt len lách vào căn buồng giam, Dĩnh nghe văng vẳng tiếng trống xứ Mường gõ nhịp từ xóm Nậm vọng lại khi khoan thai, khi dồn dập hòa lẫn tiếng cồng nhịp đều khi nhặt, khi khoan. Dĩnh đoán đồng bào Mường xóm Nậm đang vào mùa lễ hội truyền thống như là lễ xuống đồng, lễ cầu đảo, lễ mừng nhà mới, lễ cưới hỏi. Dĩnh miên man nhớ đến Hà và tưởng tượng có lẽ giờ nầy Hà đang vận bộ váy nhung đen và chiếc áo hoa duyên dáng cùng với những cô sơn nữ Mường chân trần múa quạt, xòe ô hay múa mời trầu... Nhưng, Dĩnh đâu biết rằng, Hà lẫn trốn mọi người đang ngồi than thở trên bờ sông Mã, khóc nức nở một mình trước khi quyết định tự trầm.
Con trăng thượng tuần đã nhô lên, treo lững lơ trên dãy núi trùng diệp bên kia sông Mã. Sương đêm tràn ra như làn khói mỏng manh, bay la đà trên sóng nước, Mường Hà run rẫy bước chân xuống nước, đi tới, đi tới, nước dâng lên tới ngực, lên cổ, lên đầu cho đến khi chỉ còn thấy mái tóc thề buông xỏa ra trôi bồng bềnh trước khi chìm xuống đáy sông sâu, để lại một vòng nước xoáy tròn lặng lẽ vỗ nhẹ vào bờ...vài ngày sau, xác cô sơn nữ Mường Hà trôi dạt về tận xã Cẩm Vân, được đồng bào địa phương vớt lên. Thậy kỳ lạ, thân thể nàng sau vài ngày bị ngâm nước nhưng vẫn còn tươi rói, không bị thối rữa. Nhờ vậy, môät người trong họ nhận diện được, khẩn trương báo cho gia đình ông Định Lực đến nhận xác rồi cấp tốc lo tẩn liệm. Theo lời trối của nàng viết trong bức thư tuyệt mạng để lại, áo quan của nàng đóng bằng 6 mảnh ván tạp rất sơ sài, được gia đình đưa thẳng lên ngọn đồi, an táng dưới tàng cây gạo cổ thụ, nơi nàng thường hẹn hò với người yêu để tránh người trong xóm Nậm bàn tán xôn xao...
Tháng 10 năm đó, Dĩnh nhận được giấy ra trại. Trước khi rời trại tù cải tạo Thanh Cẩm, Dĩnh và Sơn leo lên ngọn đồi không tên nầy để viếng mộ nàng. Dĩnh hái hoa rừng kết thành bó đặt lên mộ người yêu để tưởng nhớ nàng. Mường Hà đã mượn dòng sông Mã rũ sạch nợ trần để giữ vẹn lời thề sống chết với người mình thương. Sơn có giữ một kỷ vật của chị để lại, nhờ em trao lại cho Dĩnh. Đó là một lọn tóc thề được nàng dùng một mảnh vài trắng buộc chặt lại cẩn thận, như để tang cho mối tình bi thảm của nàng.
Khi chiếc molotova chở tù cải tạo được trả tự do chuyển bánh về hướng tỉnh Thanh Hóa để lên tàu hỏa xuôi về Nam. Lúc xe chạy ngang qua ngọn đồi không tên, nhìn thấy cây gạo cổ thụ đứng sừng sững trên ngọn đồi, đôi mắt Dĩnh long lanh hai giọt lệ, chàng vẫy tay lần cuối chào vĩnh biệt Mường Hà. Con đường tù cải tạo đầy nhọc nhằn gian khổ, đổ mồ hôi lẫn máu. Dĩnh đã trưởng thành vượt qua số phận tù đày và căn bệnh mãn tính để tồn tại trên cõi đời nầy bằng ý chí và bằng đôi chân vững chắc của mình. Nhưng rồi, cũng không vượt qua được số phận nghiệt ngã phải chia lìa người yêu. Xin trả lại em dòng sông Mã mưa đục, nắng trong đã liệm thân xác em. Xin gởi em những dòng nước mắt ngậm ngùi yêu thương, chứng tích tình yêu trong sáng của anh dành cho em. Xin trả lại em ngọn đồi không tên và cây gạo cổ thụ che chở ngôi mộ em trong những ngày sáng nắng mưa chiều và những ngày giông bão. Biết bao giờ anh mới có dịp trở lại nơi nầy để một lần được viếng thăm mộ em. Xin gởi em lời chào vĩnh biệt...

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

CHÚ THÍCH:
Đây là một “LOVE STORY” thật buồn! Lúc còn lao động khổ sai tại Đội 7 lò gạch, tôi được nghe cậu Sơn, em của Hà kể lại. Theo lời yêu cầu của Dĩnh, những nhân vật trong truyện nầy không mang tên thật để tránh những chuyện bất ngờ có thể xảy ra... và nếu có sự trùng tên là ngoài ý muốn của tác giả. Xin đa tạ!


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 22 2016, 03:09 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

6 Pages: V < 1 2 3 4 5 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 19th September 2020 - 09:25 PM