IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

2 Pages: V  1 2 >  
Closed TopicStart new topic
> ĐỒIMAIVÙIKIẾM, Đã HiệuĐính&ĐầyĐủChúThích
BuiThanhKien
post Apr 1 2007, 07:49 PM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348



QUOTE



Lời Giới Thiệu

www.bentrehome.net thật sự hân hạnh được đăng tải tác phẩm



ĐỒI MAI VÙI KIẾM


của Huyền Hạc, bút danh của anh Bùi Thanh Kiên, cựu GS/TH Kiến Hòa

Tập Thơ Truyện nầy trải dài 4554 câu không kể các Bài Biểu, Văn Tế ...,

gồm Phần Mở Đầu, Bảy HỒI và Phần Kết Thúc

Đây không đơn thuần là Tập Thơ Truyện bình thường

mà là một Tỷ Sánh, Liên Hệ Cổ Kim và Nhất Là Chuyển Tải Tâm Sự.....

Xin được giới thiệu đến các bạn, Thành Viên & Khách Truy Cập

và mời xuyên suốt thưởng ngoạn

** Lưu Ý: Quyền Đăng Tải Thuộc www.bentrehome.net , Mọi Cần Thiết Xin Liên Hệ **


NhàQuê









--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 23 2011, 07:14 PM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348



QUOTE


Tiểu Sử





- Tên thật: Bùi Thanh Kiên

- Bút Hiệu: Bùi Thanh Kiên, Huyền Hạc, Hải Chu, Nam Chi ...

- Học: Trung Học Công Lập Bến Tre

- Trung Học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho

- Tốt Nghiệp Cử Nhân Văn Khoa, Sài Gòn

- Giáo Sư Việt Văn Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa

- Tù Cải Tạo sau 1975

- Hiện cư ngụ tại Sài Gòn


Tác Phẩm:


- Truyện Thơ ĐỒI MAI VÙI KIẾM

- Tuyển Tập Thơ Hải Chu - Huyền Hạc

(Đường và Xướng Họa, Lục Bát, Mới, Vườn Quỳnh)

- Phương Ngữ Trong Ca Dao Nam Bộ

- Nói Lái - Một Lối Chơi Chữ Trong Dân Gian

- Từ Điển Phương Ngữ Nam Bộ (Nam Chi BÙI THANH KIÊN)








www.bentrehome.net Vừa Nhận Được:

Hai tác phẩm của tác giả BÙI THANH KIÊN:



1) Truyện thơ “Đồi Mai Vùi Kiếm”

(Đã hiệu đính với đầy đủ chú thích)


2) Từ Điển Phương Ngữ Nam Bộ



- Cám ơn anh Bùi Thanh Kiên đã tin tưởng nơi BTH mà trao tác phẩm -

- Cám ơn “Ông Già Ba Tri 2002” Trần Tuyên Thiên mail chuyển giúp -





** Đồi Mai Vùi Kiếm đang được đăng lại trên BTH và BTH giữ quyền phổ biến.


** Từ Điển Phương Ngữ Nam Bộ chờ ý kiến Tác Giả

và hội ý của Nhóm Chủ Trương cùng Nhóm Điều Hành BTH

về việc in ấn và cách thức phổ biến.




- BTH muốn VINH DANH TÁC GIẢ là một cựu học sinh,

cựu giáo sư Trường Trung Học Kiến Hòa đã góp phần vào

kho tàng văn hóa văn học nước nhà.



- BTH xin được trích phần đầu “Quote” dưới đây để nói lên

việc biên soạn công phu, tâm huyết của anh Bùi Thanh Kiên.



BTH


Jun 23, 2011



QUOTE



LỜI TRI ÂN

-Kính dưng lòng kỉnh ngưỡng và biết ơn sâu xa lên các bực ân sư từ lớp vỡ lòng đã lấy gương sáng đời mình cùng kiến thức sách vở trao truyền và dạy con nên người.

-Kính nhớ và cảm đội ơn đức cao dày của Ba Má đã nhọc nhằn nuôi dạy con trưởng thành trong hoàn cảnh nông nghiệp thô sơ, nghèo nàn nhưng đậm đà tình nước tình quê vùng sông nước Cửu Long từ lúc con còn nằm ngửa trên võng tre, manh chiếc lác.

-Chơn thành trọng ơn các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, các nhà văn hóa bực thầy, các nhà biên khảo dày công nghiên cứu ngôn ngữ, văn chương vùng đất phương Nam từ lúc mới hình thành chữ quốc ngữ.

-Thành thật biết ơn các bực đàn anh rất nhiều trong việc bàn bạc và giúp đỡ tài liệu, bạn bè gần xa, các thế hệ học sinh Trung học đã khích lệ động viên tôi hoàn thành tập sách nhỏ này.

-Thành thật biết ơn Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre.
Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả.


LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam ngày càng dương danh trên trường quốc tế. Hào quang Việt Nam đã sáng ngời sau hai cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước. Dân tộc Việt Nam được bạn bè năm châu biết đến như một dân tộc dũng cảm nhưng hiếu hoà, sẵn sàng chen vai sát cánh với các nước trong tình cảm hữu nghị và phát triển.

Khi lửa binh đã tàn lụi, các cựu chiến binh người nước ngoài, muốn trở lại thăm viếng các chiến trường xưa. Trong chiến tranh, họ ít có dịp tiếp cận với văn hoá Việt Nam. Giờ đây, khi trở lại, với tình cảm hoàn toàn khác biệt với lúc ban đầu, họ muốn tìm hiểu nền văn hoá của một đất nước có ròng rã bốn ngàn năm văn hiến. Với tình cảm thân thiện, họ muốn đi sâu hơn, đi sát hơn đời sống dân tộc. Những “tua”du lịch sinh thái đưa họ đến gần những mảng diệc, sân chim; làm quen với những món ăn đặc sản như lươn um, cá lóc nướng trui; bình bồng sông nước trên chiếc tác ráng, ghe cà vom; ngồi nghe đờn ca tài tử ròng rã đêm trăng, tham dự những hình thái văn hóa thuần túy Nam bộ như hát sắc bùa. Người Nam bộ chơn chất thiệt thà, rất hiếu khách, chí tình chí nghĩa trong giao tiếp mời mọc làm lưu luyến khách phương xa:

“Tới đây thì lại ở đây,
Chừng nào bén rễ, xanh cây hãy về”(cd)


Khi đất nước hoà bình, việc đi lại làm ăn của dân các vùng dễ dàng hơn. Ông bà mình cũng nói:" Đất lành chim đậu". Vùng đất nào màu mỡ, thắm đượm tình người thì vùng đất ấy qui tụ những người xa xứ. Đặt chân tới “ vùng đất phương Nam”, du khách nước ngoài lẫn người đến nhập cư cũng phải tìm hiểu chút ít ngôn ngữ và nếp sinh hoạt cố hữu của người bổn địa. Lại nữa, họ thấy hơi lạ tai khi nghe “ con cá gô nhảy trong gổ nghe gồ gồ” (con cá rô nhảy trong rổ nghe rồ rồ), ngẩn tò te khi nghe người Nam bộ đặc sệt nói “ chái bử để chong tủ lứ”(trái bưởi để trong tủ lưới). Rồi có dịp lần dỡ ca dao tục ngữ Nam bộ, họ cũng gặp những từ nay đã biến đổi ý nghĩa ít nhiều hoặc các từ hoàn toàn mới lạ do nếp sinh hoạt địa phương đem lại.

Chúng tôi tom góp mảng từ vựng trong sách vở báo chí quốc ngữ từ buổi đầu tiếp xúc văn minh Tây phương đến một ít thập niên đầu của thế kỷ 20, cách thức diễn đạt của người Nam bộ nhất là của giới bình dân. Từ vựng phong phú, các cách thức diễn đạt cũng đa dạng, cá nhân người biên soạn cũng có những hạn chế nhất định. Lòng nhiệt thành chưa đủ sức góp tay với các học giả bậc thầy. Vì vậy, chúng tôi khó tránh khỏi những sai lầm và sơ sót. Những mong tiểu phẩm này được các bực học giả uyên thâm chiếu cố và chỉ giáo những sai phạm. Chúng tôi lúc nào cũng thành tâm thiện ý đón nhận để sửa chửa bổ sung.
Chúng tôi xin chơn thành cảm ơn và trân trọng kính chào.

Nam chi Bùi Thanh Kiên.


CÁCH THỨC BIÊN SOẠN:

I-Đối tượng và tính chất quyển từ điển.

Khi biên soạn quyển sách, tôi chỉ có mục đích trình bày mà không biện giải bất cứ vấn đề gì và cũng không nhắm vào những mục tiêu cao xa như xác định chánh tả hoặc chuẩn hóa mảng từ ngữ đã có sẵn. Đối tượng mà chúng tôi muốn phục vụ là tất cả những ai muốn tìm hiểu về chữ dùng và cách nói của lớp người ra đi mở nước và đã cùng những cư dân bổn địa hòa hợp với nhau tạo thành một xã hội mang đậm nét văn hóa đặc trưng của vùng cực Nam tổ quốc.

Quyển từ điển này được soạn ra để phục vụ tuyệt đại đa số độc giả nên được trình bày giản dị, từ dùng dễ hiểu.

II-Nội dung từ vựng và chánh tả dùng trong sách.

21-nội dung từ và cách lựa từ.
-211-nội dung từ:

-chữ Hán thông dụng phát âm theo cách riêng của Nam
bộ hay không nhưng có các từ ghép theo kiểu Nam bộ: nguơn (Đ.ng: nguyên),-thoàn (Đ.ng: thuyền),-trược (Đ.ng: trọc)…

-các từ thường dùng cộng với các từ Việt hóa có liên quan
mật thiết đến đời sống có nguồn gốc từ Pháp, Anh Mỹ, Quảng Đông, Triều Châu: lơ xe,- quán ba,-pê-nan-ti,-hủ tíu,-xây chừng,-hia,-chế,-tía.

-các từ thuần Việt:

-có liên quan tới từ phổ thông nhưng có cách kết
hợp riêng: nhẹ (nhẹ hều,-nhẹ hửng), gọn (gọn lõn,- gọn bân,-gọn hơ)…

-mảng từ do hoàn cảnh địa lý đem đến: phương

tiện đi lại vùng sông nước, cây lúa nước: tác ráng,-kinh xáng,-nò,-đăng,-lọp…

-khác với tiếng phổ thông ở cách ký âm: lịnh với
lịnh,- kiếng với kính,-minh mông,-bình bồng…

-một ít từ ngữ phát sinh do cách tổ chức hành

chánh đặc biệt thời Pháp thuộc, cơ chế tổ chức hành chánh, quân sự của Chánh quyền Sài Gòn từ sau năm 1954 đến 1975: Chánh tham biện,-thông ngôn,-Thống đốc Nam kỳ,-súng Ga-răng,-máy bay cánh cụp cánh sè…

-mảng từ về cây cỏ chim chóc phổ biến trong đời thường gồm:

+từ ngữ đặc biệt ở Nam bộ: cây kèo nèo,-chim bìm bịp.

+cây cỏ, chim chóc được gọi tên khác từ phổ thông: -cây mắc cỡ (Đ.ng: cây hổ thẹn),-cây cát lồi (Đ.ng: cây mía dò).

+các cây cỏ có liên quan với nhau: khi nói tới mai vàng, chúng tôi dẫn ra cả mai trắng, mai tứ quí, mai chấn thủy để dễ đối chiếu. Ngoài ra, có người nói làm bánh rau mơ với loại mơ lông lá tròn, một bề tím một bề xanh, tôi không dám phản đối nhưng đưa ra loại rau mơ lá thon dài màu xanh, trơn nhẵn và chỉ nói ở quê tôi người ta làm bánh rau mơ thúi địt với loại này.

Mảng thảo mộc này, nếu tìm ra được từ khoa học bằng chữ La-tinh, chúng tôi ghi kèm để tiện việc nghiên cứu.

-tiếng lóng do óc khôi hài tạo ra: hết xí quách,-
điện nước đầy đủ.

Ngoài ra, nếu tìm được từ gốc thì tôi cũng ghi ra. Có một số từ có nguồn gốc khác nhau do chủ trương khác nhau, chúng tôi cũng ghi ra để tiện đối chiếu.

Vd:
THÈO LÈO:
-< HV: điềm liệu,-đọc giọng TC ( LNT)
-< HV: trà liệu,-đọc giọng TC.
-HV: thủ liệu,-đọc giọng TC.

212-Cách lựa và ghi từ: Khi ghi từ cần giải thích, chúng tôi chỉ ghi các từ thường nghe, thường nói và mở ngoặc ra ghi từ biến âm.

Vd: Chèm bẹp (cn: chềm bệp):…

22-chánh tả tiếng Việt:

-chánh tả ban đầu có nhiều khác biệt, ngay cho đến Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Của cũng có những từ viết theo tự dạng khác hẳn ngày nay.

-chúng tôi một phần dựa vào

a)-các bộ từ điển xuất bản từ trước

cool.gif-những suy nghĩ do gốc từ.

Tuy nhiên, có những trường hợp chúng tôi thấy vô lý nhưng vẫn chưa dám mạnh dạn sửa đổi:
Vd: Chệc, từ để chỉ người Hoa, Huình Tịnh Của, G. Hue (trong Dictionnaire Annamite-Chinois-Francais, xuất bản lần đầu năm 1937), ngay cho đến Lê Ngọc Trụ (trong Tầm nguyên tự điển Việt Nam, xuất bản năm 1993) đều viết không h trong lúc ấy Huình Tịnh Của viết là Ếc (trong chữ ếch nhái) thì G.Hue vẫn viết là Ếch. Hiện nay, theo thiển ý, không có chữ thuần Việt nào Ê, I cộng thêm chữ C như trường hợp trên. Và I chỉ cộng thêm C trong trường hợp chúng ta phiên âm Việt hóa từ khoa học có nguồn gốc từ Anh, Pháp.

Vd: ébonic => ê-bô-nic,-logique =>lô-gic.

Như vậy viết là Chệc thì không ổn, viết là Chệt thì e không giống cách phát âm của người TC là / chịch / khi đọc chữ HV thúc (có nghĩa là chú) và chưa thấy ai viết là Chệch.

23-cách chú thích:

-chú thích ngắn gọn,

-các trường hợp cần diễn giải rõ. Các từ có liên quan tới phong tục, các trò chơi dân gian. Ví dụ: gác cu, đánh trổng.


24-cách sắp xếp từ: chúng tôi giải thích từ đơn. Sau đó, đưa từ ghép vào.

Vd:
BAO:
-< HV: bảo (trong bảo đảm)
: (đt)-bảo đảm giá trị, chất lượng, giá cả.
*-bao ăn:…
*-bao giá:…

Nếu có nhiều tiếng đồng âm, chúng tôi xếp theo thứ tự danh từ, tính từ, động từ.

Vd:
BẮC (1):
-< P: bac.
: (dt)-phà, đò ngang rộng đưa xe cô và hành khách sang sông.
BẮC (2):
-< P: nói tắt chữ baccalauréat
: (dt)-bằng Tú tài Pháp.
BẮC (3):
-< HV: các.
: (đt)-gác lên để sử dụng.
*-bắc kế:
*-bắc kim thang:…

Và các từ ghép được xếp theo ngữ nghĩa của từng từ đơn.

25-vấn đề phiên âm các chữ Việt hóa.

*-việc phiên chữ Pháp, chữ Anh.

-âm V Nam bộ:
-vẫn dùng V để phiên âm chữ Pháp khởi đầu bằng V, đọc như cách phát âm chữ V của miền Bắc.
Vd: valise => va-li

-vẫn dùng V để phiên âm chữ Pháp khởi đầu bằng BI, đọc như / bi+ nguyên âm /.

Vd: bielle => vên,- đọc là bi-ên
la bière => la-ve,-đọc là bi-e

-âm S Nam bộ đọc cong lưỡi dùng để phiên các từ Pháp khởi dầu bằng CH hoặc từ Anh khởi đầu bằng SH.
Vd: P: recharger, charger -> sạc (nạp điện trở lại) A: shorts => soọc, sọt (quần tây ngắn tới gối)

-âm P: đối với các từ nước ngoài (Pháp, Anh) khởi đầu bằng P.
Vd: P: paté => pa-tê,
P: pédéraste => pê-đê,
A: penalty => pê-nan-ti,-đọc giọng Pháp.

-âm oọc hay ọt để phiên OR của Anh, Pháp
Vd: A: shorts =>Soọc / quần Sọt,
P: porte-bagage => poọc ba-ga.

-PH để phiên các từ Tây phương khởi đầu bằng PH, F.
Vd: P: fantaisie => phăng-te-di.
A: Phantom F4=> phăng-tôm ép bốn.

*-từ có gốc HV, đọc theo giọng QĐ,TC: Rất tiếc, chúng tôi chưa
thể ghi thẳng tiếng HV vào sách để tiện việc tham khảo vì phương tiện in ấn, đành phải ghi theo cách sau đây:
Vd: HỐI THÉNG:
-< HV: khai sảnh,-đọc giọng QĐ
1-(đt)-mướn phòng trong khách sạn để tổ chức bài bạc.
2-(đt)-(gái điếm) mở phòng trong khách sạn để tiếp khách mua hoa.

26-dẫn chứng: đoạn dẫn chứng in chữ nghiêng

-dùng câu nói thông tục

-lấy trong ca dao, tục ngữ, đồng dao, hò đối đáp, vè hoặc trong một ít tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ, nhà báo tiên phong của Nam bộ. Chánh tả chữ quốc ngữ trước đây không giống bây giờ. Tuy vậy, với lòng sùng kính và tôn trọng người đi trước, khi trích dẫn, tôi vẫn theo đúng tự dạng của tác giả.

III-Sự sắp xếp thứ tự:

31-thứ tự các chữ cái: để tiện việc nghiên cứu, chúng tôi sắp xếp các chữ cái theo thứ tự như sau: A, Ă, Â, B, C, CH, D, Đ, E, Ê, G, GH, GI, H, I, K, KH, L, M, N, NG, NGH, NH, O, Ô, Ơ, P, PH, Q, R, S, T, TH, TR, U, Ư, V, X, Y.

32-thứ tự các dấu thanh: không dấu, dấu huyền, dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã và dấu nặng.
IV-Vấn đề tự loại: theo thiển ý, việc phân định tự loại tiếng Việt chỉ có tính cách tương đối. Cho nên chúng tôi chỉ ghi nhân danh từ, tính từ, động từ, phó từ, từ tượng thanh…


V-Ký hiêu và bảng viết tắt.

51-ký hiệu:
-< A : có nguồn gốc từ tiếng Anh,
-< Hindi: có gốc Hindi
-< HV: có gốc Hán Việt
-< Khơ me: có gốc Khơ me
-< M: có gốc Mỹ
-< P: có gốc từ Pháp.
-< TBN: có gốc từ Tây Ban Nha.

52-bảng viết tắt tự loại, thể loại.
cd : ca dao.
cg : còn gọi, cũng gọi,
cn: : cũng nói, cũng như, cũng có nghĩa.
ct : cảm từ, từ cảm thán
cv: : cũng viết, còn viết.
dt : danh từ.
đd : đồng dao
(động) : động vật
đt : động từ.
nđ: : nay đọc là
pt : phó từ
QĐ : Quảng Đông.
st : số từ
TC : Triều Châu
tl : trích lại
t.ng : tục ngữ
th.ng : thành ngữ.
(thực) : thực vật
tt : tính từ.
ttth : từ tượng thanh
(y) : y học

53-bảng viết tắt tên tác giả, tác phẩm.

AC : An Chi
BHN : Bùi Hữu Nghĩa
BNL : Bình Nguyên Lộc
ĐG : Đoàn Giỏi.
ĐTS : Đinh Thái Sơn
ĐNQÂTV : Đại Nam quấc âm tự vị
HBC : Hồ Biểu Chánh.
HTC : Huỳnh Tịnh Của
LKN : Lương Khắc Ninh.
LNT : Lê Ngọc Trụ.
LVĐ : Lê Văn Đứcỉ
NCMĐ : Nông cổ mín đàm
NCS : Nguyễn Chánh Sắt.
NDO : Nguyễn Duy Oanh
NLP : Nguyễn Liên Phong
NVT : Nguyễn Văn Trấn.
NYB : Nguyễn Ý Bửu.
PV : Phi Vân
SN : Sơn Nam.
TĐVN : Tự điển Việt Nam
TPS : Trần Phong Sắc.
TTT : Tôn Thọ Tường
TVC : Trần Văn Chánh
TVK : Trương Vĩnh Ký
VHS : Vương Hồng Sển





QUOTE



Lời Giới Thiệu

www.bentrehome.net thật sự hân hạnh được đăng tải tác phẩm



ĐỒI MAI VÙI KIẾM


của Huyền Hạc, bút danh của anh Bùi Thanh Kiên, cựu GS/TH Kiến Hòa

Tập Thơ Truyện nầy trải dài 4554 câu không kể các Bài Biểu, Văn Tế ...,

gồm Phần Mở Đầu, Bảy HỒI và Phần Kết Thúc

Đây không đơn thuần là Tập Thơ Truyện bình thường

mà là một Tỷ Sánh, Liên Hệ Cổ Kim và Nhất Là Chuyển Tải Tâm Sự.....

Xin được giới thiệu đến các bạn, Thành Viên & Khách Truy Cập

và mời xuyên suốt thưởng ngoạn

** Lưu Ý: Quyền Đăng Tải Thuộc www.bentrehome.net , Mọi Cần Thiết Xin Liên Hệ **


NhàQuê








30-11-2010.

c)-Trường thiên:

Tập truyện thơ

ĐỒI MAI VÙI KIẾM:


Mấy lời tự ngôn:


Văn chương vốn dĩ là cái của báu của con người. Nó muôn đời nay vẫn giữ được nét thanh tân cao quí của nó. Vậy mà trong đời biết bao nhiêu kẻ vô sỉ lạm dụng cái ảo diệu thần kỳ, cái hào quang của nó để mê hoặc lòng người, xum xoe miệng lằn lưỡi mối để xu nịnh hòng tìm cầu chút manh áo miếng cơm. Bổn thân tôi thì không, không bao giờ. Bước vào cuộc đời thân trần lưng trụi, mảnh vải che thân cũng phải nhờ xã hội thì sống trên đời có cần gì cái lợi cái danh? Tôi tâm niệm: sống là nhập cuộc, là xuống thuyền (Nous sommes embarqués), đóng xong một vai trong tấn trò đời rồi lại phiêu du lưu diễn nơi khác. Đi vào đời là một bổn phận, một trách nhiệm chớ không phải để ma mảnh kiếm tiền, đoạt của thiên hạ sống sung túc giàu sang. Cuối đời nhìn lại, có nhiều kẻ còn sống như đã chết, trốn vai diễn mà cuộc đời giao để chun vào cánh gà ngủ say mặc cho thế sự. Cũng có những kẻ diễn tồi mà vẫn đòi thù lao trọng hậu, cố xin những vai đội mão mang râu để khỏi dọn lớp, kéo màn. Đóng vai vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan mà vẫn nghinh ngang tự đắc, tự cho mình là nhơn vật trọng yếu, không có mình thì màn kịch, vở diễn sẽ chảy re.

Kẻ bất tài muốn chiếm địa vị cao phải ngoác mồm nói phét. Tôi từ chối hành động của bọn vô lương lạm dụng tánh chất cao thượng vô tư của văn chương để hùa theo tội ác.

Viết tập truyện thơ nhỏ này là tôi chỉ muốn nói chuyện với riêng mình và các mặc khách tri âm tri kỷ. Thế giới của nó thu gọn trong hột cải mòng, trong đầu kim nhỏ xíu an bình giữa cái thế giới bao la bát ngát mà hỗn độn xô bồ của giống người cư xử với người như loài lang sói.Sự kiện lịch sử đời Đường chỉ là một phần nhỏ, còn bao nhiêu là phiêu bồng trong sương trong khói, còn lại bao nhiêu là mỏi cánh hạc bay trong thế giới huyền nhiệm của ước vọng tâm tư. Ta mơ ước một mẫu người hoàn thiện sống trong một xã hội thuần lương. Tinh hoa triết lý tam giáo hòa quyện vào nhau phối hợp với hồn thiêng sông núi tạo ra một mẫu người, một xã hội như vậy. Dùng cảnh để gợi tình rồi cũng dùng cảnh mô tả tình. Cảnh và tình hòa quyện lấy nhau thành một thế giới ý niệm bất phân ly không biên cương mà cũng không thể tách riêng ra được. Đừng bao giờ đặt vấn đề nhơn vật kia, địa danh đó có thiệt không, giữa nơi này xa cách nơi kia là bao nhiêu dặm, sao không nghe nói trong chánh sử? Tất cả chỉ là nét phóng bút thô kịch theo dòng tâm tư nhưng cố tạo ra một thế giới thuần ý niệm,-người đời cho là đúng cũng đúng, cho là sai thì cũng đúng. Nó có phải viết cho đời đâu mà phê phán?-Không lẽ quá vô công rồi nghề, mà lấy con mắt nhị nguyên vụn vặt để nhận xét bàn tán chuyện của người. Bản thân tôi vốn dĩ rất ghét bọn lấy tâm lý hẹp hòi của mình để suy đoán chuyện của thiên hạ. Hãy coi nó như một thực thể vô hại có mặt trên đời này. Hãy để nó yên và đừng bao giờ bận tâm tới nó.
*
* *

Ngẫu hứng

(đề tựa tập Đồi mai vùi kiếm)

Riêng tặng đám bạn bè xa vắng.
Miên man con sóng vỗ bờ,
Đất cay lửa hạ, trăng mờ thềm rêu.
Tay buồn gom nắng đìu hiu,
Hong tơ mướt cũ một chiều chiêm bao.
Tương tư tắt lối nguồn đào,
Lệ tình si đẫm nhịp cầu tầm tiên.
Lưng khòm nặng gánh nghiệp duyên,
Kiếp con tằm,-giấc ưu phiền ngàn năm.

Mùa hè 1972.



PHẦN MỞ ĐẦU:

1-Nghiệp duyên, canh bạc lộn sòng,
Sấu hùm bỏ rọ, giam lồng mà chơi!
Thân tàn, chí luyến mây trời,
Xây nền lễ trị, dựng đời thăng hoa.
Chơn trần thương giọt máu pha,
Sân quê, mai nẩy chồi ba bốn lần.
Ngựa cuồng giậm vó bâng khuâng,
Nhớ ngày biển Sở sông Tần dọc ngang.
Chim chiều gọi nuối bóng tàn,
10-Cánh hồng mút mắt tách ngàn bay cao.
11-Canh dài, đợi sáng còn lâu,
Hắt heo bóng lẻ, giọt sầu giá đông.
Muôn ngàn con nước đục trong,
Hỏi về đâu?- Vẫn thuận dòng chảy xuôi.
Đất kia, bồi lở lở bồi,
Phù sa doi vịnh, bùi ngùi dấu xưa.
Lầu vàng gác tía, ai ngờ,
Hoang vu phủ lớp bụi mờ thời gian.
Mượn oai mưa gió chiến tràng,
20-Nên công hiển hách giữa làng giáo gươm.
21-Cũng theo nắng úa chiều hôm,
Phôi pha tắt ngấm lạc vòm trời mây.
Ai say, ai tỉnh đời này?
Dại khôn rồi cũng ra ngoài gò hoang.
Hụp sâu dòng đục Thương lang,
Vàng phai, thắm dợt, ngỡ ngàng nét son.
Cảnh phù du có gì còn?
Song trăng gác lạnh, nghe hòn sỏi rơi.
Vào đời: nhập cuộc đùa chơi,
30-Tàn canh: giủ áo bước dời lối xa.
31-Giấc trăm năm, cõi người ta,
Thảnh thơi, ngắm sắc yên hà mới hay.
Phòng văn hé cánh mưa bay,
Trà lan khơi mạch, một hai góp lời.


Chú thích:

Nghiệp: (Ph): ảnh hưởng việc làm trong kiếp trước mà mình phải gánh chịu trong kiếp này.
Duyên: (Ph): điều kiện đưa đẩy để tạo ra nghiệp.
Lễ trị: (Nho) - dùng lễ, đức dộ để trị dân, khác vớii pháp trị là dùng luật lệ, hình phạt.
Thăng hoa: vươn lên tới chỗ tốt đẹp.
Hồng: loại chim lớn có cánh rộng, bay cao và xa,-chỉ người anh hùng có chí lớn.
Câu 23-24: lấy ý trong hai câu thơ cổ:
Hiền ngu thiên tải tri thuỳ thị,
Mãn nhãn bồng cảo thổ nhứt khâu.
(tạm dịch: Những kẻ dại khôn xưa nay là những ai?
Chỉ thấy khắp nơi một gò đầy cỏ dại)
Thương lang: sách Mạnh tử có câu:
Thương lang chi thuỷ thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh,
Thương lang chi thuỷ trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.
(tạm dịch: nước sông Thương lang trong ư?-có thề giặt dải mũ của ta. Nước sông Thương lang đục ư?- có thể rửa chân ta).
Phù du: (éphémère)- con thiêu thân, sinh vật nhỏ, đời sống chỉ kéo dài một
ngày, thường lao đầu vào ánh sáng đèn đêm.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 23 2011, 07:41 PM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





HỒI THỨ NHỨT:

TRƯỜNG AN THẤT THỦ, HUYỀN TÔN TỚi CẨM THÀNH,
ĐỒNG QUAN SA CƠ, ANH HÙNG LÂM MẠT LỘ
.



A-LOẠN AN LỘC SƠN.


35-Trung nguyên sóng gió tơi bời,
Sông khô núi sụp, đổi dời phù vân.
Tôi loàn con giặc Lộc Sơn,
Tiếm xưng đế hiệu, khinh lờn điện loan.
Đất bằng sấm nổ sét vang,
40-Xiên đồn đạp luỹ, phá tan thành trì.
41-Thói thường quỉ lộng thời suy,
Quốc Trung là đứa vô nghì ác gian.
Ngựa trâu tầm loại hợp đoàn,
Manh tâm xô ngã miếu lang Đường trào.
Hương trời sắc nước bấy lâu,
Tấn cung Dương thị làu làu bóng gương.
Gác son kín cổng cao tường,
Gấm phong lụa rũ hải đường mặt hoa.
Lan vóc ngọc, huệ da ngà,
50-Thẹn thua dung mạo, Hằng nga khom mình.
51-Minh mông biển ái trời tình,
Hồ thu dợn sóng long lanh đầu mày.
Vẫy vùng thước kiếm khiên mây,
Dễ no đáy mắt đầu mày hường nhan!
Ngửa nghiêng nệm thuý màn loan,
Vườn lê tơ trúc rộn ràng thâu đêm.
Cầu vồng rỡ áo ngời xiêm,
Men lừng lửa dục, lòng mềm dáng xuân.
Bướm già si sắc hoa rừng,
60-Ác tà thỏ lặn tưởng chừng phút giây.
61-Trễ tràng triều ngự hôm mai,
Nỗi dân việc nước đoái hoài chi đâu.
Mây mưa càng đắm càng sâu,
Võ vàng long thể, âu sầu hình mai.
Éo le con tạo khéo bày,
Non mòn sông cạn hoạ tai gần kề.
Biên cương lửa ngập trời mê,
Chập chùng xương chất, bộn bề thây phơi.
Ngư Dương trống thúc chiêng hồi,
70-Quân reo dậy đất, núi đồi chuyển nghiêng.
71-Lũ cuồng thác loạn mọi miền,
Chẻ tre, nát ngói, binh Yên ập vào.
Cam Tuyền chìm giữa ba đào,
Dập dìu quỉ dữ xôn xao lạ thường.
Ngoài thành, vút múa nanh giương,
Bình Lư hợp sức Phạm Dương dấy loàn.
Mưu thần chước thánh khó toan,
Thở dài bó gối khôn đường tới lui,
Hôi tanh, sâu bọ lằng ruồi,
80-Bu đeo hào luỹ, dập vùi cỏ hoa.
81-Điều binh khoá chặt đường ra,
Sục sôi lửa giận bốc hoà máu say.
Được thua, quyết chỉ trận này,
Danh thơm cõi suối làng mây muôn đời.
Sá gì tên lạc đạn rơi,
Sử xanh bia miệng nối lời muôn thu.
Chốt đầu chận lối Thành Đô,
Kình Dương ải vững, cơ đồ mới an.
Trướng hùm, tướng sĩ luận bàn,
90-Ngăn đường giặc tấn, bảo toàn đế kinh.
91-Thuồng luồng quấy động biển xanh,
Cọp điên cậy sức băng gành ào qua.
Đông tàn, bấc lạnh cắt da,
Lộc Sơn mở thế trận ra tung hoành.
Vạc kêu sương hé bình minh,
Sói lang cản lối, ngạc kình ngăn sông.
Ra oai rõ mặt anh hùng,
Đẩy lui sóng gió vẫy vùng dọc ngang.
Bày xe, dọn pháo rộn ràng,
100-Cửa viên dạ sắt gan vàng giáp công.
101-Cao xanh đành đoạn phụ lòng,
Bọc thây da ngựa tận trung dưới cờ.
Phách nương gió phất dật dờ,
Con thơ, vợ dại,-bơ vơ tìm về.
Nực nồng máu nhớp bốn bề,
Điêu tàn cõi ấy, thảm thê dường này.
Ô chuỳ gió thốc bụi bay,
108-Trường An tốc thẳng nội ngày tới nơi.



CHÚ THÍCH:

-Trung nguyên: (cn: trung thổ): chỉ Trung quốc.
-Phù vân: mây nổi, do câu thơ Đỗ Phủ:
Thiên thượng phù vân như bạch y,
Tu du hốt biến vi thương cẩu.
(Đám mây nổi trên trời giống như chiếc áo trắng,
Bỗng chốc biến thành con chó xanh)
:chỉ sự thay đổi mau lẹ nhanh chóng của cuộc đời.
-tiếm xưng đế hiệu: tự xưng làm vua.
-điện loan: nơi vua ngự, chỉ triều đình.
-Kim loan điện: điện của vua thiên tử,
-Ngân loan điện:điện của vua chư hầu.
-Quốc Trung: tức Dương Quốc Trung, tễ tướng nhà Đường, anh ruột Dương quí phi.
-Vô nghì: (nghì, đọc trại từ chữ nghĩa): gian trá, bất nhơn bất nghĩa.
Không râu là đứa vô nghì,
Đàn bà không vú, lấy gì nuôi con?
(ca dao)
-ngựa trâu tầm loại: do câu:" Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã" (trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa),-ý nói người xấu tìm kẻ xấu để kết bạn.
-miếu lang: (cg: lang miếu), (miếu: chỗ thờ các vua đã băng hà; lang: chỗ các quan làm việc): chỉ triều đình.
-tấn cung: đưa đàn bà con gái vào cung để làm phi tần, cung nữ.
-Ngư Dương, Bình Lư, Phạm Dương:tên các địa danh mạn Bắc sông Trường giang, các cứ điểm nổi loạn của An Lộc Sơn.
-Cam truyền: địa danh phía Bắc Trường An.
-vút: (từ Nam bộ): móng vuốt.
-lằng: (Đ.ng: nhặng),- (từ Nam bộ):loại ruồi lớn, mình xanh bóng, mắt đỏ, bám bu thịt cá hôi thúi.
-cõi suối làng mây: chỉ cõi chết.
-Thành Đô: (cg: Cẩm Thành),- thủ phủ đất Thục (Tứ Xuyên).
-cửa viên: tức viên môn, lối ra vào có hai cây dáo gác tréo bên trên làm cổng, xung quanh là xe cộ vây kín,- chỉ chỗ đóng quân.
-Ô chuỳ: tên con ngựa của Tây Sở bá vương Hạng Võ,- dùng để chỉ ngựa chiến.


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 23 2011, 07:52 PM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





B-DẤU XE HẠNH THỤC.

Chợt nghe tin gấp rụng rời,
110-Trong tay cầm chắc đủ mười lao đao.
111-Hãi kinh, tôi chúa bôn đào,
Noi gương Huyền Đức lánh vào Tứ Xuyên.
Lẻn chuồn, bỏ mộ tổ tiên,
Nhọc nhằn trăm họ, oan khiên dân lành.
Hận tràn ngất ngọn mây xanh,
Cuốn phăng công đức bình thành lâu nay.
Ùng ùng gió giục mưa bay,
Nắng nung mặt rát, đường dài mắt hoa.
Màu chiều vàng ố bóng tà,
120-Mây giăng mù Mã Ngôi pha mịt mùng.
121-Nhạn đơn tiếng lẻ não nùng,
Trắng phau dặm cát minh mông đất trời.
Lìa nhành, nhớ cội,-lá rơi,
Sương pha quạnh núi, lệ trôi xót mày.
Băng truông lướt bụi mệt nhoài,
Vợ con đeo thẹo, chơn tay dắt dìu.
Nách mang tay xách đơn biều,
Cũng đành nhắm mắt theo liều quân đi.
Trẻ thơ có tội tình gì?
130- Ốm đau, bú mớm, bù chì, nào ai?
131-Già run, gậy lạc khỏi tay,
Bơ vơ đất lạ, rủi may vận thời.
Cỏ bồng tróc gốc bay khơi,
Thềm hoang rêu đậm, bước dời tha hương.
Mỏn hơi, tàn kiếp Vô thường,
Nắm xương vô chủ, lửa hương đâu nào?.
Xanh xanh trời mấy từng cao,
Tiếng than xé ruột, nỡ nào làm ngơ!
Trăng liềm thiêm thiếp bóng mơ,
140-Chim côi xa ổ, hững hờ về đâu?
141-Thẹn thùng nắng vắt nhành cao,
Nước khe cơm gói đi vào Mã Ngôi.
Tâm tư héo hắt theo người,
Ngày mai nào biết,-một đời tha hương.
Mặt chai, cát bốc bụi vương,
Lòng đau quán cỏ giường sương canh dài.
Tranh hơn thua, kiếp đoạ đày,
Trăm năm nháy mắt, đổi thay khó tường.



CHÚ THÍCH:

-Huyền Đức: tức Lưu Bị, nhân vật thời Tam quốc,chiếm Tứ Xuyên xây đại nghiệp nhà Thục Hớn.
-Hạnh Thục: chỉ nhà vua đi vào đất Thục.
-Mã Ngôi pha: tên ngọn đồi nơi xử tử Dương quí phi.
-Đeo thẹo (từ NB): (đeo:bám riết theo; thẹo: dùng dây cột chặt vào nhau thành một chùm để dễ mang xách),-ý nói đi theo vướng vít.
-Bù chì: biến trại từ chữ phù trì, có nghĩa là giúp đỡ.
-Đơn biều:bầu nước và giỏ cơm,-chỉ cuộc sống đạm bạc của người nghèo khổ.
-Vô thường (Phật):chỉ tính chất bất định của mọi vật, khó đoán trước được.


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 23 2011, 08:05 PM
Gửi vào: #5


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





C-DƯƠNG QUÍ PHI CHẾT


Thuý hoa kiệu tía tàn hường,
150-Dùng dằng quân kỵ mở đường không đi.
151-Đổi dòng sông nước bất kỳ,
Rủi may suy thạnh, một khi biến dời.
Khói un mờ mịt mây trời,
Ngựa chồm xiên ải, tơi bời phong ba.
Ngán thay! Mắt phụng da ngà,
Xô xiêu đồn ải,-nụ hoa hải đường.
Dồn năm dụm bảy tán bàn,
Phải đồng lòng giết được nàng mới yên.
Siết tay rập tiếng thề nguyền,
160-Nhổ cho tiệt cỏ, cường quyền dễ nao!
161-Dầu ai bện sáo, ngăn rào,
Cũng không chận nổi nhịp trào sóng xô.
Lâu nay có mắt như mờ,
Nào ai đoán được sự cơ lạ thường.
Điện tiền Ngự sử Lý Phương,
Quành cương xuống ngựa giữa đường tâu lên:
-" Nghiệp truyền vua trước dựng nên,
Xác xây bờ cõi, vững bền giang sơn.
Mây đen vẩn đục trời quang,
170-Máu hoen cửa gấm, lửa tràn dầu sôi.
171-Sống mòn, chết thảm nơi nơi,
Biên cương sấm động, ngòi nơi cung đình.
Lở tan núi, sụp nghiêng thành,
Quân đòi Dương thị hành hình ngay đây.
Ví bằng Vương thượng riêng tây,
Tài Gia Cát cũng khó xoay cơ đồ,
Vận xui nghiêng chích thế cờ,
Thánh hoàng mau quyết, chần chờ không hay!"
Quí phi phách rụng hồn bay,
180-Sắc hoa chàm đổ, mặt mày ủ ê.
181-Trăng trong, vườn ngự oanh đề,
Chén hà thất tịch, câu thề bá niên.
Nghê thường điệu múa cung tiên,
Vành ngân còn tạc lời nguyền trăm năm.
Dầu khi hoa gãy bình trầm,
Chung cành liền cánh, sắt cầm bền lâu.
Áo là lả chả dòng châu,
Huyền Tôn dựa gối, màu sầu ngẩn ngơ.
Thuyền tình vội tách xa bờ,
190-Hường nhan phận mỏng, ai ngờ chăng ai!?
191-Mưa Xuân chớm bén cành mai,
Nào hay én nhạn lạc bầy Bắc Nam.
Tuyệt tình ca khúc thương tâm,
Dòng Tương ngăn lối, dương âm cách vời.
Gây chi oan nghiệt bấy trời!
Chia quyên rẽ thuý cho người hợp tan.
Xót tình nặng nghĩa tào khang,
Thương cây đoái cội tấc đàng hiểm nguy,
Non tình biển ái cuồng si,
200-Non sông máu lửa tức thì chìm sâu.
201-Vô tâm lòng phụ lòng nhau,
Nhơ danh bạc ác,-Đời sau chê cười.
Vò tơ ngàn mối rối bời,
Đứng trên đống lửa, lại ngồi lò than.
Thôi đành ngọc nát vàng tan,
Vuông tròn điều nghĩa, lỡ làng mối duyên.
Tri âm , dám phụ lời nguyền!
Vào ra phải lẽ, kinh quyền gồm hai.
Mực nghiên giấy viết kíp bày,
210-Tam ban trào điển phê ngay cho nàng.
211-Bút sa gà chết rõ ràng,
Mưa sầu ướt chiếu, lệ tràn đẫm mi.
Bốn tên giáp sĩ nể gì,
Giựt văng khỏi kiệu, bắt quì trước xe.
Sắn bìm, tùng cả khó che,
Phút giây tuyệt mạng gần kề một bên.
Rác bèo, nước giạt linh đinh,
Ôi thôi! Mặc sóng cuối gành cuốn xuôi.
Cồn dâu biển thẳm biến dời,
220-Xót chi sao lạc lưng trời đầu mây.
Dùn mình, lụa trắng cầm tay,
Cao xanh cay độc, rẽ hai lối tình.
Đồi cây dặm cát lặng thinh,
Ngùi thương nửa kiếp phù sanh má đào.
Gò hoang lạnh ngắt sậy lau,
Vùi nghiêng chôn sấp, mặc dầu gió mưa!
Quốc Trung nào hãn sự cơ,
Vừa dong cương tới, đâu ngờ tai ương.
Gươm trần, kích chĩa, nõ giương,
230-Đâm ngang sả ngược rộn ràng kiếm đao.
Cát vương bụi vấy áo bào,
Ộc vòi máu phún, đỏ đầu cỏ sương.
Phân minh đen trắng đã tường,
Kỵ binh sải vó rút đường Thành đô.
Mây vần, gió giục, sóng xô,
Lạnh căm lạc ngựa, bụi mờ đồng hoang.
Vọng lâu, nom rõ tàn vàng,
Phát hồi pháo lịnh, trải đàng chiếu hoa.
Điếu kiều, hào rộng gác qua,
240-Tiếp nghinh xe trận, long xa nhập thành.
Cắt quân gác đại bổn dinh,
Đúc rèn khí giới, luyện binh làm đầu.
Râu mày thoả mộng cung dâu,
Gót Văn bến Vị tìm cầu Tử Nha.
Hịch truyền muôn dặm bay qua,
246-Non gần tướng trấn, sông xa sáo hàn.



CHÚ THÍCH:

-thuý hoa: cờ hiệu trong quân.
-Gia Cát: tức Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh, phò tá Lưu Bị dựng nhà Thục Hớn.
-chích (từ NB): chếch, nghiêng lệch.
-Vương thượng: tứ của các quan gọi nhà vua.
-Riêng tây: riêng tư.
-Oanh đề: tiếng chim oanh hót.
-chén hà: chén ngọc có màu đỏ tía, giống màu ráng mây.
-thất tịch: đêm mùng 7 tháng 7, Ngưu lang và Chức nữ gặp nhau trên cầu ô thước bắc ngang sông Ngân hà, nước mắt rơi xuống thành mưa ngâu.
-Nghê thường: tức khúc hát Nghê thường vũ y,khúc múa hát của tiên nga mặc áo lông màu sắc cầu vồng.
-Vành ngân: vành trăng bạc.
-Hoa gãy bình trầm , lấy trong Tình sử:
Nhứt phiến tình châu phương đáo ngạn,
Bình trầm hoa chiết dĩ đa thời.
(Một mảnh thuyền tình vừa tới bờ, thì bình chìm hoa gãy đã lâu rồi).
Nguyễn Du mượn ý đó viết thành:
Thuyền tình vừa ghé đến nơi,
Thì là trâm gãy, bình rơi bao giờ.
-Chung nhành liền cánh: lấy ý trong "tị dực, liên chi" của Bạch Cư Dị diễn tả lời nguyền của cặp tình nhân trên trời làm chim liền cánh, dưới đất làm cây liền cành.
-Dòng Tương: do các câu thơ trong Tình sử:
Quân tại Tương giang đầu,
Thiếp tại Tương giang vĩ,
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương giang thuỷ.
(Chàng ở đầu sông Tương, thiếp ở cuối sông Tương,
Nhớ nhau mà chẳng thấy được nhau, cùng uống nước sông Tương)
Lại nữa, hai nàng con gái vua Nghiêu là Nga Hoàng và Nữ Anh tới sông Tương khóc chồng là vua Thuấn đi tuần du, chết ở Thương Ngô.
Vậy, hình ảnh sông Tương chỉ sự ngăn cách của đôi tình nhân.
-tào khang: tấm mẳn và cám. Vua Hán Quang Võ có người em gái goá chồng là Hồ Dương công chúa. Thấy Tống Hoằng là người tài giỏi lại có đức độ,vua ngỏ ý muốn Hoàng bỏ vợ lấy Hồ Dương công chúa. Hoằng trả lời:" Tào khang chi thê bất khả hạ đường, bần tiện chi giao mạc khả vong" (Vợ cưới lúc nghèo hèn, phải ăn tấm cám thay cơm, không thể bỏ được. Bạn bè lúc nghèo khó, không thể quên.)
-kinh quyền: tức chấp kinh và tòng quyền. Chấp kinh:theo khuôn phép đã qui định; tòng quyền:uyển chuyển du di xử sự cho phù hợp hoàn cảnh.
-chiếu: lời phán truyền của vua.
-tam ban triều điển: ba lối bức tử dành cho hoàng hậu, phi tần và các công thần:bình thuốc độc, kiếm vắn để tự tử, đoạn lụa trắng để thắt cổ.
-giáp sĩ: lính mặc áo giáp hầu cận vua hay vị tướng soái.
-sắn bìm: do chữ cát đằng, lấy ý trong Kinh Thi;" dây cát đằng là dây leo quấn quít theo bóng cây tùng để nhờ bóng mát chở che,-ý nói đàn bà con gái nương nhờ chồng.
-Hản: hiểu rõ.
-Vọng lâu: chòi cất cao để leo lên nhìn có thể quan sát địch từ xa.
-điếu kiều: bửng gỗ lớn, kéo lên thì dùng làm cửa thành,hạ xuống gác qua hào thì làm cầu cho xe, ngựa và binh lính ra vào.
-long xa: xe rồng, xe vua đi.
-đại bổn dinh: (Đ.ng:đại bản doanh): nơi đại quân đóng trấn.
-Râu mày: do chữ tu mi, chỉ người con trai.
-cung dâu: do chữ tang bồng hồ thỉ (cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng):chí vẫy vùng ngang dọc trong năm châu bốn biển của người con trai.
-gót Văn: Văn vương nhà Châu đem xe tới Bàn khê, sông Vị rước Khương Tử Nha làm nguơn soái hưng binh phạt Trụ, dựng nghiệp nhà Tây Châu.
-Hịch: bài văn dạy răn binh sĩ hay kể tội giặc.
-Sáo:hàng rào tre bên, đặt giữa dòng sông để ngăn tàu thuyền giặc.
Chẻ tre bện sáo cho dày,
Ngăn ngang sông Mỹ, có ngày gặp nhau.
(ca dao)



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 23 2011, 09:21 PM
Gửi vào: #6


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





D-ẢI ĐỒNG QUAN,- GIA THẾ HỌ CHÂU.

247-Ải Đồng diệu vợi quan san,
Đối đầu giặc cỏ Khiết Đan trùng trùng.
Cột rường danh rạng anh hùng,
250-Phơi gan tuấn kiệt, vẫy vùng chiến y.
Xông vào lửa, cứu nước nguy,
Lịnh nghiêm quân sĩ, thành trì kim thang.
Đường đường chủ soái Thiên Lương,
Tài văn đức võ tiếng vang giang hồ.
Dọc ngang non Sở trời Ngô,
Ngăn biên ải vững, hoàng đô Đường trào.
Thông minh thiên bẩm dành trao,
Rèn tinh trận pháp, luyện làu binh thơ.
Lẫy lừng muôn trận dưới cờ,
260-Trải ba đời chẳng phai mờ lòng trung.
Phước lành ấm đức gia phong,
Hạ sanh con trưởng má hồng Nam Vân.
Hà Châu làng cũ nương thân,
Dưỡng nuôi bà nội tảo tần nông tang.
Chồng con nhà cửa đã an,
Cày sâu cuốc bẵm thanh nhàn thú quê.
Thứ hai, Mạnh Đạo tên đề,
Hồn theo gác khói, vẹn thề núi sông.
Cuối cùng đẻ muộn Trọng Thông,
270-Mày thanh mắt đẹp nối dòng Nho gia,
Rồng bay phụng múa tài hoa,
Sớm hôm đạo cả bên cha hầu kề.
Phòng văn lửa đóm mải mê,
Sân Thi nền Lễ đi về sớm trưa.
Nghề riêng tao nhã cầm thơ,
Ban Siêu nét viết, Tương Như giọng đàn.
Thần cơ diệu toán ai đang,
280-Dưới thông địa lý, trên tường thiên văn.
Ngọn mây, vút mút cánh bằng,
Lợi danh ràng buộc gạt phăng đâu màng.
Hạc đồng nội rộng thinh thang,
Non xanh in dấu, mây vàng theo chơn.
Ngại gì áo mỏng mền đơn,
Trăng theo dặm liễu, mây vờn trúc hiên.
Quận châu nức tiếng côn quyền,
288-Tài lành đường kích gia truyền bấy nay.


CHÚ THÍCH:

-Kim thang: do chữ" kim thành thang trì" -thành vững như đồng, chắc như kim loại, hào ao xung quanh không thể qua được, thang là nước sôi.
-Đức võ: tức là võ đức, đức độ người cầm quân.
Sách Binh thơ của Tôn Võ tử có câu:" Trước khi luận chiến thuật, thì phải xét võ đức.
-Thiên bẩm: tánh khí trời ban phát cho mỗi người.
-Cột rường: tức lương đống,-quan to giữ vai trò trọng yếu trong triều đình.
-Âm đức: đức của ông cha để lại do ăn ở hiền lành, người ngoài khó thấy.
-Gia phong: nề nếp tốt, việc giáo dục con cái theo đúng luân lý lễ nghi của gia đình.
-Nông tang: việc làm ruộng và nuôi tằm.
-Gác khói: tức Lăng Yên các, do Đường Thái Tôn lập ra để thờ các công thần.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 23 2011, 11:10 PM
Gửi vào: #7


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





E-RƯỚC SỨ

Cỏ non sè cánh én bay,
290-Bông đào lấm tấm, hoa mai trắng ngần.
Đua chen trai gái tưng bừng,
Lam Kiều dẫn lối, hội Xuân chật đàng.
Kết hoa cuối ấp đầu làng,
Thiên Lương đoái cảnh ngổn ngang tấc lòng,
Trách người không cạn đục trong,
Đua đòi trau lục chuốt hồng mà chi.
Hận chung, đền báo được gì,
Quần điều áo tía, pháo đì đùng reo.
Nhục vui vui nhục trăm chiều,
300-Sao chưa thức tỉnh, đắm điều mê say?
Ủ ê án sách hương đài,
Xảy nghe có sứ,-thành ngoài bẩm tin.
Thay xiêm đổi áo tiếp nghinh,
Phân ngôi chủ khách, trần tình khúc nôi.
Rằng:"Câu răng lạnh hở môi,
Rủi may vận nước nằm nơi ải Đồng.
Trăm năm xin chớ phụ lòng,
Giữ gìn hoa gấm thuỷ chung trọn niềm.
Địch kia mở thế gọng kềm,
310-Bủa vây bốn mặt, nhận chìm Thành Đô.
Cẩm Thành,đất dựa ban sơ,
Kén binh chọn tướng chờ giờ phản công.
Ví bằng tay trắng hoàn không,
Nghiệp ngàn năm hết, núi sông còn gì!"
Lễ bày tiếp chỉ tức thì,
Dọn bàn hương án, cúi quì nghe qua.
Chiếu ban, ngự bút giở ra,
Long phù ấn tín phương xa gởi về.
Truyền rằng:" Vận nước nhiêu khê,
320-Bụng phơi hùm sấu, lưng kề sói lang.
Mồ hôi đẫm áo giáo trường,
May ra đánh đổi bước đường thương vong.
Sửa sang vách sắt thành đồng,
Dàn binh bày trận giao phong tranh cường".
Vó câu lướt cỏ sũng sương,
Hoa ngàn trải nhị đưa hương ngạt ngào.
Trướng huỳnh tim lụn dầu hao,
Thành nghiêng, nước sụp, lẽ nào ngủ yên.
Một mình trằn trọc gối nghiêng,
330-Thẩn thờ trở gót, khuê triền quạnh mây.
Vòm Đông đêm nuối mộng dài,
Lét leo lửa bấc, hao gầy mắt môi.
Lơ mơ ngửa mặt dòm trời,
Trán nhăn, má cóp,-Đổi dời biển dâu.
Niềm riêng, rượu cạn mấy bầu,
Trắng canh bạc tóc xua màu xuân xanh.
Đêm tàn, trống thúc vọng canh.
Bồi hồi đếm bước mai đình ngẩn ngơ.
Mây hường rựng lợt núi mờ,
340-Bầu trời xám, vạc lửng lờ kêu thương.
Bình minh bươn bả thăng đường,
Họp bàn tướng cạnh liệu phương ngăn phòng.
Tập tành thao duợt tinh thông,
Cất chòi gác nhặt, rải chông đặc hào.
Tuốt trần thép lạnh gươm đao,
Ba quân hào khí ào ào như sôi.
Sao trời, hăm hở nuốt trôi,
Không dung lũ hái trái rồi đốn cây.
Đặt quân kỳ chánh trong ngoài,
350-Lưới giăng, bẫy mở rập loài tinh ma.



CHÚ THÍCH:

-Rồng bay phụng múa: do "đằng giao khởi phụng" chỉ văn tài hơn người.
-Đạo cả: do chữ" thần hôn trọng đạo" hoặc " hôn định thần tỉnh" ( tối đưa cha mẹ vào đúng chỗ nằm nghỉ ngơi, sáng sớm tới thăm hỏi và đánh thức cha mẹ dậy. Đó là bổn phận lớn của con cái đối với cha mẹ.
-Lửa đóm: tức huỳnh hoả,-Xa Dận đời Tống nhà nghèo không có đèn, dùng lửa đom đóm để đọc sách,-chỉ gương hiếu học.
-Thi Lễ: tức Kinh Thi và Kinh Lễ, hai pho sách lớn và có giá trị của cổ đại Trung quốc,-chỉ tài học rộng và lối cư xử phải đạo.
-Ban Siêu: danh tướng đời Hán, một danh sĩ tài hoa, có nét chữ rất đẹp.
-Tương Như: tức Tư mã Tương Như, quê ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, đàn giỏi, tác giả khúc hát Phụng cầu hoàng.
-Thần cơ: đoán biết cơ số, biết việc xảy ra như thần.
-Diệu toán: tính toán giỏi.
-Bằng:loại chim lớn sải cánh rộng, bay cao và xa,- chỉ người có chí khí lớn.
-Côn quyền: (Nam bộ đọc là côn quờn):
*-côn:gậy, roi. Có hai loại côn: trường côn (gậy dựng đứng thẳng từ mặt đất đến mút ngón giữa của bàn tay vói thẳng), đoản côn (gậy vắn, còn gọi là tề mi côn, cao từ mặt đất đến đỉnh đầu người).Cả hai còn được gọi là roi trường, roi đoản.
*-quyền / quờn: bàn tay nắm lại. Lối đánh võ bằng tay không, chẳng dùng binh khí.
-Lam kiều: dẫn tích Bùi Hàng gặp tiên nữ Vân Anh.
-Long phù: phù hiệu có in hình rồng, tượng trưng nhà vua.
-Ấn tín: cái triện, cái ấn đóng vào giấy,-cái dấu ngọc tỉ đóng trong tờ chiếu.
-Khuê triền: đường đi của sao Khuê.
-Rựng: (từ NB): rạng, sáng ửng lên.
-Bươn bả (từ NB): vội vã.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 23 2011, 11:32 PM
Gửi vào: #8


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





F-AN LỘC SƠN ĐÁNH ĐỒNG QUAN

351-Hận tình tan Mã Ngôi Pha,
Lộc Sơn huy động trảo nha rửa hờn.
Tấn binh đá chạy cát vờn,
Thây chồng tối mắt cao hơn đầu người.
Vó câu hốt bụi mịt trời ,
Voi bầy xông lướt lạch ngòi vỡ toang.
Trốt bồng, lửa xoáy ải quan,
Lũ dưng suối thấp, bão đàn nhành cao.
Huỳnh hôn tím ngắt hơi sầu,
360-Kỵ binh, bộ tốt bào hao tranh hành.
Giương binh khí, múa vút nanh,
Lung lăng coi dưới mắt mình không ai.
Lập loè đom đóm ma trơi,
Chòm cây lối tắt ẩn rồi hiện ra.
Binh triều nhóm bảy tụ ba,
Dáo cờ thưa thớt, mâu qua ngại ngần.
Quân Yên giục ngựa bén chân,
Rần rần đuổi giết lính tuần ải quan.
Tra roi, cướp lối, chận đàng,
370- May vần vũ nổi, sương vàng cuộn bay.
Nửa chừng rẽ quặt truông mây,
Đưa đoàn mao nhẫn nạp thây Tân Hồi.
Ngựa chồn lê bước lôi thôi,
Dây chằng vướng vít, sóng nhồi mưa tên.
Khó lui, chẳng thể tiến lên,
Máu loang đỏ giáp, tiếng rên thấu trời.
Đồng lầy đùa với lửa chơi,
Giữa vòng tên đạn,-khóc cười biết sao!
Trùng vây chèn kín gươm đao,
380-Lưỡi câu móc sắt xuông vào thịt da.
Vận xui tưởng đã thoát qua,
Đường mòn dẫn lối rừng già gian nan.
Chim say lịm giấc sương ngàn,
Quạnh hiu lá rụng canh trường cuối thu.
Cỏ đan, rơm lợp xây cù,
Hầm sâu, bẫy sập làm mồ giặc An.
Thê lương lạnh gót sa tràng,
Núp khe gươm tuốt, len tàn tên bay.
Bàn cờ thế, phút sa tay,
390-Rớt tòm hố thẳm, chông dài đâm xiên.
Đốc quân thị sát trận tiền,
Hang beo trỏ kích, Long tuyền cầm tay.
Bập bùng đuốc rực trời mây,
Thét oai sấm động, ra tài hùng anh.
Vai gầy, dáng dấp thơ sanh,
Áo bào trắng, Bạch hổ tinh hiện về.
Ngựa hồng giậm cẳng bên khe,
Công đầu ắt hẳn đã về tay Châu.
Ém hơi chờ chực rừng sâu,
400- Hiệp đồng mai phục, đón đầu dăng cây.
Siết dồn khoá chặt vòng vây,
Xương vùi mương rãnh, hồn hoài cố hương.
Vọng canh nguyệt lạnh mờ gương,
Giáp vàng mũ trụ, Thiên Lương thăng đường.
Đầm đìa cành muộn đọng sương,
Tít xa núi lợt vấn vương đêm dài.
Đương cơn lửa đỏ cháy mày,
Họp cùng tướng sĩ liệu bày mưu cơ.
Nắng hoe, hoa cỏ dật dờ.
410-Mây đùn trời thẳm, khói mờ non xanh.
Toán quân canh gác vào thành,
Báo tin giặc rải đại binh mấy vòng.
Bủa vây không lọt mảy lông,
Nhổ từng rễ cỏ ải Đồng mới nghe.
Quân triều thét một lời thề,
Gan đồng dạ đá chẳng hề núng nao!
Nước non nghĩa nặng tình sâu,
Dân đen khổ cực, nỡ nào khoanh tay.
Trăm viên hổ tướng dững mày,
420-Quyết gìn chánh khí dẫu dài gian nan.
Ngọn thành gươm lợp dáo đan,
Thiên Lương mão sắt giáp vàng oai nghi.
Kích giương, mắng chẳng nể vì:
-" Bầy sâu lũ bọ biết gì ngỡi nhơn.
Tịu tằng với ả Thái Chơn,
Rình mò ăn vụng tiên đơn khác gì!
Mặt mo giở thói vô nghì,
Mưu đồ phản nghịch, bọn mi một loài.
Khá khen bộ vó anh tài,
430-Chồn mang lốt cọp, khéo bày trêu ngươi!"
Lộc Sơn gằn giọng cả cười:
-"Khá khen cho đó biết người biết ta.
Bạc đầu, mỏi gối, dùn da,
Còn ham quờn tước vinh hoa nhơ hình.
Hươu Tần thiên hạ giựt giành,
Long Cơ dâm đãng, bất minh vô tài.
Mắt che, ngựa chạy đường dài,
Ngu trung cam kiếp, kẻ cười người chê.
Biết điều cởi giáp theo về,
440-Cúi đầu hàng phục, đề huề chúa tôi.
Diệt Đường, ta quả xứng ngôi,
Dẹp tan châu quận, thâu hồi hai kinh.
Móc mưa rưới xuống sẵn dành,
Con sang vợ trọng,- bất bình nỗi chi?
Ví bằng cạn nghĩ, vụng suy,
Đồng quan bình địa, một khi san bằng".
Thiên Lương điểm mặt mắng rằng:
-"Trèo thang cóc muốn lăng nhăng đua đòi.
Ngốc như mi cũng dạy đời,
450-Răng thưa, môi mỏng bày lời lố lăng.
Hang cùng nào biết lễ văn,
Luông tuồng cẩu hợp, thói gần chim muông.
Gian tham ngu ác một xuồng,
Đổi ơn làm oán, tìm đường quay lưng.
Ta đây trượng ngãi chuộng nhơn,
Giá trong tiết sạch, nát thân đâu nài.
Sá gì chớp giựt mưa bay,
Chỉ nguyền sống thác một hai dưới cờ.
Về hang ổ, rửa cổ chờ,
460-Binh trời hỏi tội, định giờ phanh thây".
Lá vàng run rẩy hơi may,
Nắng chiều úa sắc, trời Tây bóng tà.
Đầu mây phớt điểm ráng pha,
Chim hôm chiu chít nhánh sà mặt sông.
Vượn đơn kêu thảm não lòng,
Rã rời thưa thớt trống thùng vọng canh.
Gió cuồng rứt lá lìa cành,
Đại kỳ gãy tốt, mặt thành đưa tin.
-" Ô hô! Trời chẳng thương tình,
470-Cung rơi đạn lạc cũng đành mạng căn.
Cao dày nỡ bẻ cánh bằng,
Ép người vào cuộc lăng nhăng sắp bày".
Kíp truyền tướng sĩ trong ngoài,
Sửa sang hầm hố, dàn ngay trận đồ.
Chiến trường đã ước hẹn giờ,
Nực cười giặc khéo giở trò trẻ con.
Nửa đêm, pháo lớn nổ giòn,
Tường rung sấm động, sóng cồn vượt mây.
Mặt thành ném đá quăng cây,
480-Lửa lan giáp đất, tro bay mịt trời.
Nổ ầm quả lựu mấy hồi,
Pháo bầy ong nện bời bời bủa quanh.
Mở then cửa đột phi hành,
Đức Tâm rút soạt hai thanh kiếm trường.
Đột xông ngang dọc tranh cường,
Chém người như chuối, Đơn Dương chẳng tày.
Lợi Trinh phóng ngựa cửa Tây,
Điều quân mã kỵ hiệp ngoài Châu Thông.
Trùng vây vòng lại siết vòng,
490-Kích gươm loảng xoảng, địch trong giặc ngoài.
Đeo tường nhún ngọn thang bay,
Sói muông cầy cáo chắp dài dáo lan.
Nơi nơi hỗn độn dọc ngang,
Hào nào ngăn nổi lớp hàng Phiên binh.
Da dê quấn chặt quanh mình,
Dao con giắt bụng, lưng thành đu dây.
Pháo thần vạn hoả đặt ngoài,
Đạn như mưa bấc rót ngay xuống thành.
Kho lương lửa dậy thình lình,
500-Chống ngăn gắng gượng đua tranh sống còn.
Binh triều phút mỗi hao mòn,
Tường bay, đất sụp,-luỹ đồn tan hoang.
Quân Yên ngây máu sa tràng,
Nghinh ngang binh khí, rộn ràng nõ cung.
Đuốc rà hang hố sục lùng,
Quyết lòng bôi sổ ải Đồng mới thôi.
Nặc nồng mùi bốc tanh hôi,
Thấy nguy, Châu vội phản hồi dinh trung.
Giục cha liệu nước cờ cùng,
510-Vượt tầm dáo mác, thoát vòng tử sanh.
Sức dùng thần khiếp quỉ kinh,
Cản quân đuổi gấp liều mình cứu cha.
Thiên Lương gót thúc roi tra,
Mở ra đường máu, tràn qua biển người.
Kích quay xé gió lưng trời,
Rồng thiêng tung sóng giữa vời biển xanh.
Bất thần hét tiếng thất thanh,
Ôm hông,-Bão cuốn ghe mành ngửa nghiêng.
Châu Thông lướt tới đỡ liền,
520-Xốc bồng lên để ngồi yên ngựa mình.
Chật chen lớp lớp tướng binh,
Nặng nề chơn bước, hành trình gian nan.
Đục trầm va sắt chạm vàng,
Phóng phi nước đại cướp đàng ruổi giong.
Quanh co ngỏ tối mịt mùng,
Ngửa tay chẳng thấy,-Quân không đuổi dồn.
Lách luồn, len lỏi truông mòn,
Lần men dặm thỏ, dò con suối rừng.
Trời Đồng quan ửng lửa lừng,
530-Tro đùn thành lạnh, mắt trừng hờn căm.
Máu tuôn thấm áo ướt dầm,
Giọt châu dài vắn, khôn cầm đau thương.
Ngại ngần rón rén cỏ sương,
Gà rừng gáy rộ đêm trường lũng xa.
Từng không vụt ánh sao sa,
Dựa lưng gốc lớn, đặt cha tạm ngồi.
Mũi lòng, tấc dạ bùi ngùi,
Thuốc thầy đâu biết rước mời trị thương.
Xé toang vạt áo buộc choàng,
540-Thiên Lương nửa tỉnh, nửa dường hôn mê.
Khều con, má áp tai kề,
Phều phào giọng nói, giải giề tâm tư:
-" Tuổi năm mươi đã có dư,
Lòng vui làm tướng dưới cờ qui tiên.
Một mai phách lạc cửu tuyền,
Ngậm cười giữ trọn lời nguyền quân thân.
Sóng đưa bèo bọt phù vân,
Bóng đèn, tia chớp,-Gẫm thân đáng gì!
Mồ hoang mưa đọng trăng đi,
550-Xương tàn, huyệt lạnh,- kể chi mạng già.
Báo ơn nước, giữ tình nhà,
Bủa nhơn đức, luyện tài ba khuông phò.
Phận trai, trung hiếu, phải lo,
Đường xa gánh nặng sao cho vẹn toàn,
Giàm danh khoá lợi buộc ràng,
Đừng tham bổng lộc, gác vàng lầu son.
Tình người, coi nặng bằng non,
Cắn răng chịu đựng, lo toan việc đời.
Minh mông biển học mù khơi,
560-Biết như giọt nước, vậy thời mới khôn.
Ngô nghê, vụng dại làng thôn,
Quê mùa cũng dạy được con ít nhiều.
Sử kinh làm mốc, làm nêu,
Luân thường đạo lý làm điều tu thân".
Nghẹn lời, lẩy bẩy tay chân,
Mắt lờ đờ khép, ngưng thần đứt hơi.
Tim đau lói, dạ rối bời,
Vùi sâu hài cốt lưng đồi Huỳnh sa,
Hỏi chưa cặn kẽ tin nhà,
570-Cội huyên sóng giạt biết là về đâu?
Ngán thay con tạo cơ cầu,
Đất bằng xui hoá biển sâu làm gì?
Rừng hoang cỏ tối rậm ri,
Từng cơn gió trút, lá vì vèo bay.
Núi đồi rờn rợn lạnh vai,
Ngôi sao xa lắc cuối trời buồn tanh.
Lẻ đơn đèo dốc lặng thinh,
Cú sầu điểm một ngồi rình canh thâu.
Đi đây, nào biết về đâu?
580-Dặm mây thăm thẳm một màu bao la.
Bẽ bàng thay, cõi người ta,
Trán hằn vất vả, mắt loà lo âu.
Gương nga xô ngã bóng sầu,
Bình minh thoáng điểm hường đầu non Đông.
Biển trời khó sánh được công,
Hứng hoa, nâng trứng, ẵm bồng chắt chiu.
Nồi kê quán trọ đìu hiu,
Tóc mai tơ mướt, đầu chiều tuyết pha.
Gối quì, lạy giã biệt cha,
590-Thay xiêm đổi áo, bôn ba đăng trình.
Hang sâu, giấu dạng tăm kình,
Hoà thân cát bụi, gởi mình ngàn phương.



CHÚ THÍCH:

-trảo nha: móng vuốt và răng,- chỉ bọn bộ hạ của kẻ xấu.
-kỵ binh: lính cỡi ngựa.
-bộ tốt: lính đánh bộ.
-bào hao: với oai thế hung hăng, dữ dội.
-mâu qua: (mâu:binh khí có mũi nhọn cán dài để đâm; qua: cái mác để chém):chỉ binh khí.
-mao nhẫn: đoàn quân thám thính.
-Long tuyền: tên thanh gươm quí,-chỉ binh khí.
-dăng cây: (từ NB): rặng cây ở xa.
-Bạch hổ tinh: tên một ngôi sao trong thiên văn TQ, tương trưng tướng giỏi.
-Ngỡi nhơn(từ NB):nghĩa nhân.
Ngỡi nhơn mỏng dánh tợ cánh chuồn chuồn,
Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay.
(cd NB)
-tịu tằng: (cn: tằng tịu),-trai gái có quan hệ bất chính, không được xã hội chấp nhận.
-Hươu Tần: nước Tần sẩy mất con hươu, thiên hạ đua nhau đưổi bắt, ai được thì làm chủ. Chũ này dùng để chỉ đất nước, mọi người cứ đua nhau tranh đoạt để giành quyền làm bá chủ.
-Long Cơ: tên tộc của Đường Minh Hoàng.
-Ngu trung: kẻ trung thành ngu si mù quáng.
-Trượng ngãi: (phát âm theo NB): trọng nghĩa.
-Lợt: (từ NB): nhạt.
-quả lựu: hoả cụ chứa thuốc nổ để ném.
-Pháo bầy ong: pháo bắn tung ra những viên đá nhỏ.
-Cửa đột : cửa thấp và nhỏ ngoài cửa lớn của thành trì. Cửa này dùng để ra vào lúc nguy cấp.
-Phi hành: đi lẹ như bay.
-Đơn Dương: nhắc lại chuyện Triệu Vân, tự Tử Long, anh hùng Hớn Thục thời Tam quốc, xông pha trận Đơn Dương để bảo vệ ấu chúa Lưu Thiện.
-Cửu tuyền: chín suối,-chỉ cõi chết.
-Quân thân: đạo vua tôi và đạo con cái với cha mẹ.
-Giàm danh khoá lợi: (giàm: dây xỏ mũi trâu bò),- do chữ danh cương lợi toả, ý nói sự ràng buộc của danh lợi.
-cội huyên: (cn: huyên thào, huyên đường): chỉ người mẹ.
-đã năm mươi tuổi có dư: lấy ý trong câu:
Tam thập nhi lập,
Tứ thập bất hoặc,
Ngũ thập tri thiên mạng.
(Khổng tử)
(Ba mươi tuổi thì đứng vững, tuổi lập thân; bốn mươi tuổi không còn nghi ngờ; năm mươi tuổi biết được số mạng của trời)
-Nồi kê: do chữ huỳnh lương mộng (giấc mộng kê vàng): Lư sanh rớt khoa thi hội ở kinh về nhà.Bụng đói, đường xa, chàng ghé vào quán xin ngủ trọ. Chủ quán biểu Lư sanh nằm nghỉ, xuống bếp nấu nồi hột kê vàng. Lư nằm thiếp đi, thấy mình thi đậu làm quan to, được vua gả công chúa cho, giàu sang oai quyền đến tột bực. Sau đó, nước có loạn, vua sai Lư dẹp giặc. Chẳng may thua trận, vợ chết. Về triều, chàng bị lột hết chức tước bổng lộc. Giựt mình tỉnh dậy, thấy nồi kê của chủ quán vẫn chưa chín. Mộng huỳnh lương hay mộng kê vàng chỉ đời là mộng ảo và ngắn ngủi.
-tóc mai tơ mướt, đầu chiều tuyết pha: lấy ý trong thơ Lý Bạch:
Triêu như thanh ti, mộ như tuyết.
(Buổi sáng sớm, tóc xanh mướt như tơ, tóc buổi chiều trắng như tuyết)
Chỉ cuộc đời ngắn ngủi, thời gian qua mau.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 24 2011, 06:00 PM
Gửi vào: #9


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





HỒI THỨ NHÌ

NƯƠNG CỬA PHẬT, CHÂU THÔNG LÀU TRẬN PHÁP,
CẢN QUÂN YÊN, GIÁC HẢI THỌ TAI ƯƠNG
.


A-NƯƠNG BÓNG CỬA THIỀN
.


593-Gót qua dặm nứa truông bương,
Nhành khô mưa áy, cỏ lan lối sầu.
Chùa xưa nom rõ trên cao,
Phất phơ ngọn phướn lụa đào gió mai.
Mái rêu xanh ẩn tàn cây,
Khói hương tịnh độ ngát ngoài tam quan.
Lỗ loang thếp nếp chữ vàng,
600-Linh sơn cổ tự bạt ngàn gió mưa.
Sân thiền đêm quạnh còn lưa,
Bóng người vắng ngắt, dật dờ thảo hoa.
Bước liều bực đá vôi nhoà,
Chờ coi động tĩnh lăng già am mây.
Lặng trang cửa ních then gài,
Ngăn đôi,-tịch mịch trong,-ngoài lợi danh.
Ghé dòm khe hở phên tranh,
Xếp bằng thanh thản, niệm kinh chuỗi lần.
Hững hờ, khép mắt ngưng thần,
610-Dĩa dầu tam bảo cạn lần, trắng canh.
Từ bi sức cả minh minh,
Mười phương tế độ mặc kinh Đại thừa.
Bè hồng bát nhã qua bờ,
Siêu linh pháp tướng, khói mờ không gian.
Chuyển xây võ trụ tuần hoàn,
Lục trần, tứ khổ mê đàng trầm luân.
Cúc vàng hực nắng đầu sân,
Lao xao trúc động, lâng lâng bóng lồng.
Nhìn quanh sơn tự một vòng,
620-Xanh um chóp ngọn, chập chùng rừng hoang.
Sư già rời nệm bồ đoàn,
Lần then hoa, sịch mở toang cửa sài.
Châu Thôngsụp lạy hiên ngoài,
Chút thân lưu lạc giải bày đôi câu:
-"Rộng thương phận mỏng ảnh bào,
Bước chân tục luỵ lạc vào thiền môn.
Đẩy đưa lớp lớp sóng cồn,
Nép bèo bến đục, nương hồn sông mê.
Bủa vây kinh khiếp bốn bề,
630-Mắt cay bão lửa, nẻo về xa khơi.
Đắm chìm biển khổ đầy vơi,
Linh đinh hột bụi cuối trời tang thương,
Chướng căn oan trái còn vương,
Thành tâm nguyện được Phật đường tạm dung"
Cả cười:" Cá nước tương phùng,
Cơ duyên đã tới lạ lùng chi đâu!
Rủi may đưa đẩy lựa cầu,
Đất người vầy bạn, dễ đâu chuyện thường".
Dắt tay nhau xuống hậu đường,
640-Ngôn từ mở rộng dặm trường gian nguy.
Rằng:" Xem tướng mạo phương phi,
Chẳng tay cung kiếm cũng bề bút nghiên.
Phong tư tài bộ thiếu niên,
Sân che đào lý, phước truyền trâm anh.
Cớ chi gió bãi trăng gành,
Gác Đằng đưa lối rừng xanh cửa thiền?
Khá bày tơ tóc căn nguyên,
Biện minh hư thiệt, trắng đen cho tường!"
Thưa rằng:" Nặng gánh thơ hương,
650-Rớt khoa thi Hội, lỡ làng kiếp trai.
Kinh kỳ bụi cuốn tro bay,
Ngập đầu binh lửa, giăng dày tanh hôi.
Hành trang khăn gói phản hồi,
Nước non cách trở, trải mùi phong sương.
Trông vời mây phủ cố hương,
Cầu hoang quán lạnh, giọt thương giọt sầu.
Quê nhà xa lắc Hà Châu,
Chim ngàn bạt gió biết đâu lối về.
Những mong bảng hổ tên đề,
660-Nào hay phận hẩm,-não nề tay không.
Phòng văn mới được tin hồng,
Cha già cỡi hạc non Bồng dạo chơi.
Trêu ngươi, vật đổi sao dời,
Ngùi trông non Thái mây trời che ngang.
Sách đờn thâu xếp vội vàng,
Dầm mưa dãi nắng qui hoàn cố viên.
Đường đi gặp cảnh ưu phiền,
Đầu non cướp đón, của tiền còn chi.
Cúi xin đức lớn từ bi,
670-Rưới cho giọt nước dương chi tịnh bình.
Nguyện lòng kết cỏ ngậm vành,
Hải hà chi lượng đoái tình xót thương".
Sư rằng:" Phật pháp hoằng dương,
Dang tay tiếp dẫn mười phương muôn loài.
Số phần trót đã an bài,
Con chim bay mãi không ngoài khuôn thiêng.
Kệ kinh nguôi mối ưu phiền,
Giong buồm biển giác, lánh miền mê tân.
Mịt mù sóng hoạn phù vân,
680-Bôn ba mỏi gối mòn chân ích gì!
Đắm vòng tham muội sân si,
Gẫm câu:" Bạng duật tương trì " mà đau.
Hương hoa đàm ngát trời cao,
Vun bồi cội phước, tiêu dao lâm tuyền,
Mái Đông đơn bạc thơ hiên,
Kiểng trồng trăm loại, Xuân riêng bốn mùa.
Qua cơn mưa đẩy gió đùa,
Chuyện về quê cũ, khá tua đợi ngày ".



CHÚ THÍCH:

-Bương: loại tre rừng cây lớn và cao.
-Áy: hư mục.
-Tịnh độ: (Phật),-cõi bờ yên tĩnh.
-Lưa: còn kéo dài
-Lăng già: chỉ nhà Phật.
-Tam bảo: ba ngôi Phật, Pháp, Tăng.
-Từ bi: lòng yêu thương rộng rãi đối với vạn vật.
-Minh minh: mờ tối, khó thấy rõ.
-Tế độ: cứu giúp.
-Mặc kinh: kinh điển có ý nghĩa sâu xa khó hiểu.
-Đại thừa: (Phật),-(cg: Đại thặng) có mục đích tu hành để tự cứu mình và sau đó cứu độ kẻ khác (tự giác nhi giác tha). Quả vị cao nhất của Đại thừa là Bồ tát. Phái Tiểu thừa chủ trương tự tu tự độ nên quả vị cao nhất chỉ là A La Hán.
-Siêu linh: vượt lên trên những cái mà người ta có thể nhận thức được.
-Pháp tướng: (Phật),-chỉ những gì hiện hữu trên thế gian.
-Lục trần: (Phật),-sáu thứ bụi bặm:sắc (màu sắc), thanh (tiếng), hương (mùi thơm), vị (mùi), xúc (sự đụng chạm) và pháp (cái mà người ta dùng tâm trí suy tưởng được).Lục trần xâm nhập vào con người do lục căn (sáu cội rễ): nhãn (mắt), nhĩ (tai), tỉ (mũi), thiệt (lưỡi), thân (thân mình) và ý (tâm trí).
-Sơn tự: chùa trên núi.
-Bồ đoàn: nệm đươn bằng cỏ.
-Ảnh bào: bóng và bèo bọt dễ tan dễ mất,- chỉ xác thân tứ đại giả hợp của con người.
-Cửa sài: cửa gỗ, cửa bằng cây.
-Tục luỵ: cảnh khổ não của cuộc đời.
-Sông mê: (cg: bến mê) do chữ mê tân của nhà Phật, nơi đó con người đắm đuối trong ngu muội, thần trí bị vô minh che lấp, không tìm được lối giải thoát.
-Chướng căn: những cội rễ, nguyên do ngăn trở, làm cho con người đau khổ, đắm đuối trong vòng luân hồi.
-Oan trái: nhửng oan khiên, nợ nần từ kiếp trước mà mình phải gánh chịu trong kiếp này.
-Lưa: (từ NB): còn kéo dài.
-Đào lý: nhà quyền quí.
-Trâm anh: (trâm:cây cài vào búi tóc; anh: cái giải cột mão): chỉ con nhà quyền quí.
-Gác Đằng: do chữ Đằng vương các. Vương Bột đời Đượng, đi thăm cha ở Giao Chỉ (tên nước ta ngày xưa), bị gió đưa đi lạc đến gác Đằng vương, làm bài Đằng vương các phú, nổi tiếng một thời. Gác Đằng chỉ vận may.
-Biện minh: giải bày ra rõ ràng.
-Thơ hương: (cn: thư hương): nghiệp học hành thi cử của giới Nho sĩ ngày xưa.
-Bảng hổ: Bảng vẽ hình con rồng (long bảng), bảng có hình cọp (hổ bảng), bảng vàng (kim bảng) đều ghi tên người thi đậu.
-Tin hồng: (cg: tin nhạn / tin sương): đều chỉ tin tức.
-Non Bồng: theo Thần tiên truyện: có ba hòn đảo tiên ở là Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu. Cỡi hạc non Bồng hay lên tiên đều có nghĩa là chết.
-Trêu ngươi: chọc tức, chọc giận.
-Non Thái: Đông nhạc Thái sơn, ngọn núi lớn trong Ngũ nhạc, ở tỉnh Sơn Đông, Trung quốc,-thường được ví với người cha.
Mây giăng non Thái: do Vân tế Thái sơn: chỉ cha mất.
-Qui hoàn cố viên: trở về quê cũ.
-Dương chi tịnh bình: Bình nước cam lộ có nhành dương liễu của Phật bà Quan Âm. Bà rải nước để hoá giải khổ ách, khổ nạn cho sanh linh. Cho nên trong kinh Phật có câu:
" Nam mô Quan Âm Như lai cam lồ sái tâm nguyện".
-Kết cỏ ngậm vành: Nguỵ Khoả không nỡ chôn nàng hầu của cha khi cha chết. Sau này, Nguỵ Khoả đi đánh giặc, gặp tướng Đỗ Hồi. Chân ngựa Đỗ Hồi bị cỏ quấn chặt nên Đỗ Hồi bị Nguỵ Khoả chém. Thành ngữ này chỉ sự đền ơn đáp nghĩa.
-Hải hà chi lượng: (cg: lượng hải hà): lượng to lớn như sông biển.
-Đoái: quay lại, nhìn lại, nghĩ tới mà thương.
-Phật pháp hoằng dương: Phép Phật mở ra rộng khắp.
-An bài: đã được sắp đặt sẵn.
-Khuôn thiêng:
a)- chỉ bầu trời.
cool.gif-(ngh.r): lẽ huyền diệu của trời đất.
-Biển giác: do chữ giác hải, chỉ sự thức tỉnh, giác ngộ giúp ta nhận ra chân tướng của cuộc đời.
-Sóng hoạn: hoặc biển hoạn do chữ hoạn hải, con đường làm quan.
-Tham muội sân si: (Phật): lòng tham lam, sự u mê của tâm hồn, sự giận dữ. Sự say đắm. Tham, sân, si là ba cái làm cho con người đằm đuối trong mê muội, đoạ lạc trong vòng luân hồi.
-Bạng duật tương trì: do câu:" Bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi" (con trai, con cò kéo níu nhau, ông già đánh cá được lợi).
-Hoa đàm: tức Ưu đàm hoa, một loại hoa quí, cứ ba ngàn năm mới nở một lần,-tượng trưng cho nhà Phật.
-Tiêu dao: (Lão Trang); sống tự do thong thả theo bản tánh tự nhiên.
-Lâm tuyền: rừng suối,-chỉ phong cảnh thiên nhiên.
-Khá tua: từ cổ, có nghĩa là hãy nên.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 24 2011, 06:31 PM
Gửi vào: #10


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





B-TRỞ LẠI HUỲNH SA


Nâu sồng hẩm hút mì khoai,
690-Ngày đi chớp mắt đã ngoài ba trăng.
Gió đưa liễu yếu mai oằn,
Ngổn ngang núi chận, trắng ngần mây đi.
Hồn nương cõi mộng phân kỳ,
Nơi chôn nhau rún, biết gì tin sương.
Thái Hàng mưa ám ngăn đường,
Mồi da bạc tóc, muôn ngàn thương mong.
Huỳnh sa nắng héo cội thung,
Bơ vơ truông bụi, lạnh lùng khói hương.
Dọc ngang cung kiếm mười phương,
Trường văn trận bút chi nhường cho ai.
Bó tay khom gối đi đày,
Gà què ăn quẩn cối xay lần quần.
Sư già lầm lũi một thân,
Non xa tầm thuốc trót gần tuần qua.
Đìu hiu lẻ bóng vào ra,
Vọng đều mõ sớm, ngân nga chuông chiều.
Dưng hoa cúng trái chắt chiu,
Công phu thí thực mọi điều thay sư.
Song thưa hắt ánh nguyệt mờ,
710-Mài nghiên mực cũ, dỡ tờ sách xưa.
Giấc hồ,-khép cánh bụi mưa,
Hương thoang thoảng nụ, gió lờ lững qua.
Trầm thơm khói tỏa la đà,
Nến soi chữ nghĩa nở hoa thánh hiền.
Ngát mùi lan cúc sân hiên,
Nhành giao ngọn lợp, nghiêng nghiêng gương lồng.
Khẳng khiu thân thẳng cội tùng,
Lá dầu lửa hạ, mưa đông,-xanh rì.
Nhớ từ mẫu, đọc Kinh Thi,
720-Thấy trong linh cảm sự chi khác thường.
Khêu đèn soi rạng quyển vàng,
Có gì cồm cộm gò làn giấy tơ.
Phong thơ nét mực chửa mờ,
Rành rành tuồng chữ còn lưa đây rồi.
Cố ngăn mà lệ cứ rơi,
Mơ hình tưởng dáng, nghe lời di ngôn.
Hoa tiên gởi tấm lòng son,
728-Mây che bóng hạc, tiếng còn thoảng lâu.



Thơ rằng:

“ Thiên Bảo, năm thứ…,
Giác Hải hiền huynh nhã giám,

Từ độ:

1-Anh em cầm tay chia biệt, bạn bè nuối mắt phân kỳ,

2-Liễu rũ đôi bờ, ai đi phương nấy,
Mây giăng muôn lối, kẻ ngóng chốn này.

3-Uống cạn mấy bầu rượu cúc, luyến lưu mây ngụ đảnh Huỳnh mai,-
Nhắp ngon đôi chén trà lan, ngậm ngùi trăng mờ dòng Xích Bích.

Thế rồi,

4-Không hẹn mà nên cuộc tao phùng, đủng đỉnh gành Nam chèo quế,-
Sẵn duyên thì có ngày hội ngộ, thung thăng bãi Bắc thuyền mây.

5-Ráng ửng chiều hôm,-khói mờ cây sớm.

6-Lời khí tiết in hằn ngọn bút, nghĩa kim bằng ghi đậm tấc son.

7-Lần tay bấm đốt, lòng lại nhủ lòng,-Tính tháng đếm ngày, mặt chưa tạn mặt.

8-Kỷ niệm quẩn quanh gang tấc, mộng hồn vương vấn canh gà.

Nhớ xưa,

9-Chừa vá trái đào, mài nghiên viện sách.

10-Óc non dại ước cá rồng đổi dạng, cửa Võ nên công,-
Tuổi thơ ngây đè sóng gió giong buồm, trường văn khởi nghiệp.

11-Biển thẳm muôn trùng nào phỉ chí, kình ngạc giương vi,-
Trời cao ngàn trượng chửa thỏa lòng, hạc hồng sải cánh.

12-Chung bóng tập tành,-châu đầu rèn luyện.

Khi lớn lên,

13-Ven mây bắn nhạn, trả nợ hiếu trung,-
Biên ải trừ hung, giúp dân no ấm.

Thế rồi,

14-Vật đổi trời Nam, sao dời cung Bắc.

Nay hiền huynh:

15-Biết lẽ hợp tan,-Rõ tuồng suy thạnh.

16-Gót ẩn sĩ không vấy màu bụi bẩn, nước khe rau núi, tám tiết thong dong,-
Dạ cao tăng nào hoen sắc bùn nhơ, chuông sớm kinh chiều, tư mùa thanh thản.

17-Giếng trong vằng vặc trăng đầy,-trúc biếc làu làu lóng thẳng.

Còn tiểu đệ:

18-Bày tỏ khúc nôi thẹn mặt,-Phân trần nguồn cội ngại lời.

19-Chẳng phải đắm mê danh lợi mà lặn hụp vũng hẹp vinh hoa,
-Không vì tham luyến đảnh chung mà vui đùa ao nông sĩ hoạn.

Đó chẳng qua là:

20-Nỗi lo dân chưa vẹn,-Niềm thương nước chưa tròn.

Giựt mình nghĩ lại:

21-Trán lỏng gối mòn,-Chí cùn trí lụt.

Thôi thì:

22-Liều nhắm mắt theo cơn lốc dữ,-Dại xuôi dòng dấn bước đường mê.

23-Nơi gác phụng thèm dấu hài Huỳnh Thạch,-chốn cửa viên mơ khóm liễu Đào Tiềm.

Song ngặt vì:

24-Nước non nặc mùi binh lửa,- Rẫy nương đẫm máu gươm đao.

Có việc này xin thưa:

25-Dạ những ước thầm,- Lời chưa trút cạn.

26-Cõi quân lữ cận kề hổ trướng, vợ chồng tôi còn lại một trai,-
Cửa song hồ mài miệt bút nghiên, tuổi tác nó vừa tròn đôi chín.

27-Bác Lãng giương ngọn chùy trí mạng, xe Tần Vương hăm hở đập tan,-
Tinh vệ ngậm đá sỏi quên thân, biển Đông hải lăm le lấp cạn.

28-Thuyền con sóng cả, ai dám liều lĩnh cầm lái ra khơi,-
Tài thấp sức hèn, ai lại ngông cuồng giong cương xông trận.

Hơn nữa:

29-Đạo dân nước muôn vàn hệ trọng, tài Phạm Tăng khó dựng nghiệp Sở bang,-
Nợ kiếm cung lắm nỗi đa đoan, mưu Bàng Thống khó vượt truông Lạc Phụng.

Dám xin hiền huynh:

30-Ban oai đức góp tay rèn trẻ, nên tôi hiền giúp nước phò vua,-
Dạy binh cơ điều tướng cầm quân, rành mưu giỏi an dân dẹp loạn.

31-Ngàn vàng khôn đổi, nghĩa trượng ơn sâu,-
Muôn thuở khó quên, tình nồng đức cả.

32-Dầu da ngựa bọc thây,-dầu đường gươm nát mạng,

Thiên Lương này vẫn:

33-Làm Tử Kỳ nhớ đức độ Bá Nha,- làm Bảo Thúc khắc ân tình Quản Trọng.

Kính mong vậy thay,
Châu Thiên Lương cẩn chí.




Nhịp thời gian chảy xuôi mau,
730-Giang hồ chán bước nghêu ngao núi rừng.
Trăng ngà vằng vặc giữa lừng,
Gót chai sỏi đá ngập ngừng về đây.
Châu Thông đón tận lối ngoài,
Nghẹn ngào giọt vắn giọt dài tuôn rơi.
Rằng: “Thân tên lạc cung rơi,
Thuyền con sóng đuổi nửa vời linh đinh.
Biển sâu đâm sấu chém kình,
Đồng quan ngươn soái vốn tình cha con.
Lòng trung chăm chắm chẳng mòn,
740-Gãy cờ giữa trận, gởi hồn Huỳnh sa.
Ghé đây chưa rõ tin nhà,
Thầy cùng tiên phụ lại là đồng song.
Bèo trôi gió dập long đong,
Kiếm lời giấu giếm để hòng tạm nương.
Hờ cơ bóng lẻ đêm sương,
Khêu đèn đọc sách mới tường đục trong.
Ơn người sâu tợ biển Đông,
Rộng thương tha thứ, con lòng chẳng quên.”
Sư rằng: “ Hỉ xả làm nền,
750-Bụi hồng phiền não, ơn trên hộ trì.
Sen vàng nở đức từ bi,
Sắc không, chơn giả, có gì khác đâu!
Mấy tuần chung đụng với nhau,
Tướng đi dáng đứng, làm sao chẳng ngờ?
Đương khi thất thế sa cơ,
Cao bay xa chạy bơ vơ lánh nàn.
Họ tên dẫu chửa hản tàng,
Liếc sơ diện mạo biết trang anh hùng.
Tới nay, con tỏ sự lòng,
760-Cội khô ướm trổ chồi bông khác gì!
Đế kinh gặp cảnh hiểm nguy,
Cẩm Thành khó tránh vận thì gian nan.
Lũ kên kên uống máu tràn,
Trông tìm bạn cũ, bặt khan tin hồng.
Đầu cành quyên giục đêm ròng,
Non Càn ruột thắt, thơ phòng châu rơi.
Tang thương cát lở bùn bồi,
Đất bằng ngập lũ, biển khơi hóa cồn.
Thành tâm vẹn đạo thần hôn,
770-Theo thầy len lỏi truông mòn vượt qua.
Nửa ngày, chắc tới Huỳnh sa,
Nách mang lưng nước bầu hoa lên ngàn.”
Gà rừng vọng nhặt râm ran,
Trăng tà gác núi, tơ vàng vương cây.
Lối mòn sương sũng canh chầy,
Truông xa vắng vẻ, rừng dày thâm u.
Tàn xanh bụi rậm, chim gù,
Hương thơm dẫn lối, mây mù vướng chân.
Nhắm sao xa, lội suối gần,
780-Huỳnh sa đồi cũ dò lần tới nơi.
Tạnh mây, cảnh sắc sáng ngời,
Bông đùa giỡn gió, gió lay lắc nhành.
Buông rèm, lá mịn liễu xanh,
Cội thông bóng ngã, thác gành nước reo.
Lau già vàng úa buồn theo,
Đất pha sỏi cuội đìu hiu một gò.
Châu Thông bước đến bên mồ, :
“ Trời Tây sao rụng, trăng mờ nơi đây!”
Hoa chưng, nhang thắp, trái bày,
790-Nỗi niềm u uất một hai tự tình:
-“Đôi ta xưa, bóng với hình,
Ai cơn hoạn nạn lại đành bỏ sao!?
Vẽ duyên, tạo hóa hiểm sâu,
Phút lìa đời chẳng thấy nhau một lần.
Người vì nghĩa lớn nát thân,
Còn ta bùn bụi bám chân sông hồ,
Người vai nặng gánh cơ đồ,
Ta mong giải thoát qua đò sông mê.
Một đi, đâu đã hẹn về,
800-Ngắm trăng sương, nhớ chén thề, mà thương.
Hiền lành mắc phải tai ương,
Ai xui đây đó âm dương cách vời.
Đôi ta sanh chẳng gặp thời,
Chí lăm luyện đá vá trời được đâu!
Than ôi! Thỏ chết chồn rầu,
Sụt sùi giọt thảm thâm bâu canh dài.
Ghi tâm khắc dạ câu này,
Gươm thiêng tuốt vỏ, ra tài kình côn.
Bạn vàng khắn khít keo sơn,
810-Xin vì ai, đáp tiếng đờn tri âm.
Mưa cuồng, gió loạn, tối sầm,
Huơi thương thúc ngựa, sanh cầm Yên binh.
Nhận làm nghĩa tử minh linh,
Dưỡng nuôi dạy trẻ sử kinh từ rày.
Đợi thời, cuốc nguyệt cày mây,
Tóc bay gió lộng, hươu nai bạn cùng.
Bàn khê, cần trúc ven dòng,
Tỉnh say hồn bướm gởi lòng Kỳ sơn.
Nắng chan, bạc mảnh áo đơn,
820-Đầu trần lửa đổ, đâu sờn chí cao.
Sợ gì bắt cọp hang sâu,
Kiếm vung, thủy quái rụng đầu doành khơi.
Thương dân là thuận ý trời,
Dáo đâm giặc dữ, tay dời đẩu tinh.
Giập tàn dông bão đao binh,
Cấy mùa lúa mới, ấm tình đất xưa.”
Im hơi, thôn thở khói mờ,
Mong manh gió gợn, vàng mơ ráng chiều.
Nằm dài, cây đổ bóng xiêu,
830-Thác ngàn tiếng vọng, lối tiều cỏ đan.
Huỳnh hôn len nhịp thời gian,
Quyện nhau chậm rãi, tỏa lan mọi miền.



CHÚ THÍCH:

-Nâu sồng: màu áo nâu nhuộm vỏ cây dà,- chỉ cuộc sống đạm bạc của các tu sĩ Phật giáo.
-Thái Hằng: dãy núi Nam Trung quốc, có Tần Côn lãnh là đỉnh cao nhất. Địch Nhơn Kiệt, danh tướng đời Đường, đi đánh giặc xa nhà, chỉ đám mây trên ngọn Tần Côn lĩnh mànói với tướng sĩ: “ Ngô thân xá ư kỳ hạ.” ( Nhà mẹ ta ở dưới đó). Vì vậy, mây Thái Hằng hay mây Tần được dùng chỉ người mẹ.
-Cội thung= cội xuân: chỉ người cha.
-Công phu: thời kinh cúng Phật lúc sáng sớm hoặc chiều.
-Thí thực: thí cơ hồn.
-Giấc hồ: (cg: giấc bướm), tức hồ điệp mộng. Trang tử nằm mơ thấy mình hóa bướm. Giấc hồ chỉ giấc ngủ.
Ta nhớ tiền thân phòng bỏ ngỏ,
Giấc hồ thơm tóc gái liêu trai.
(Vũ Hoàng Chương).
-Quyển vàng: do chữ huỳnh quyển, chỉ quyển sách.
Một ngọn đèn xanh, một quyển vàng,
Bốn con làm lính, bố làm quan.
(Trần Tế Xương).
-Di ngôn: lời nói còn để lại của người đã khuất.
-Hoa tiên: tờ giấy có vẽ hoa, dùng để viết thơ.
-Thiên Bảo: niên hiệu của Đường Minh Hoàng.
-Nhã giám: xem,-từ dùng cho người mà mình kính trọng.
-Xích Bích: tên con sông ở tỉnh Hồ Bắc, nơi xảy ra trận thủy chiến ác liệt giữa Châu Do và Tào Tháo đời Tam quốc.
-Khí tiết: sự cứng cỏi, lòng ngay thẳng của tâm hồn người chánh nhân quân tử.
-Kim lan: do chữ kim bằng (bạn vàng),- lan hữu (bạn quí như hoa lan).
Kim lan từ thuở nhỏ chơi bời,
Bè bạn như ta được mấy người.
(Nguyễn Khuyến)
-Tạn mặt: gặp giáp mặt.
-Hóa rồng: cá chép hóa rồng sau khi vượt Võ môn tam cấp,-ý nói sự thành đạt.
-Ẩn sĩ: kẻ không muốn đua chen với đời nên tìm chỗ vắng vẻ để an nhàn.
-Cao tăng:tu sĩ Phật giáo ngộ được đạo, có đức hạnh cao cả.
-Tư mùa: (từ Nb): trải hết bốn mùa.
Biển Đông sóng dợn tư mùa,
Ai cho em uống thuốc bùa, em mê?
(ca dao)
-Tám tiết: do chữ bát tiết (tám giai đoạn thay đổi thời tiết trong năm): lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông, xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí.
-Đảnh chung: (cg: chung đảnh),-(Đ.ng: đỉnh chung) ,- đảnh:cái nồi lớn, cái vạc lớn để nấu cơm; chung: cái chuông để gọi các môn khách về ăn cơm. Ngày xưa, các nhà quyền quí thường nuôi nhiều môn khách để sau này có dịp dùng tới khi mưu đồ việc lớn. Đảnh chung chỉ bổng lộc mình nhận được.
-Lụt (từ Nb): không sắc bén.
-Gác phụng: (cg: phụng khuyết, phụng các): chỉ triều đình.
-Huỳnh Thạch: tức Huỳnh Thạch Công, ẩn sĩ đời Tần đã trao cho Trương Lương bộ bimh thơ giúp Lưu Bang dựng nghiệp Hớùn.
-Đào Tiềm: tự Uyên Minh, hiệu Nguyên Lượng, phò vua Tấn. Sau Tấn bị Tống thôn tính, ông lui về ở ẩn, trồng năm cây liễu trước nhà. Người đời thường gọi ông là Ngũ Liễu tiên sinh. Liễu và cúc vì thế tượng trưng người ẩn dật.
-Lữ: một đơn vị trong tồ chức quân đội ngày xưa, có quân số chừng 5000 người gồm có nhiều cơ và đội.
-Hổ trướng: màn có hình con hổ, nơi tướng soái làm việc.
-song hồ: cửa sổ có dán giấy, nơi thư sinh đọc sách.
Mưa hoa khép kín song hồ,
Sớm khuya có bức họa đồ làm đôi.
(Bích câu kỳ ngô
-Chùy Bác Lãng: Trương Lương đời chiến quốc, người nước Hàn. Hàn bị Tần thôn tính. Trương Lương muốn trả hận cho nước, mướn một lực sĩ cẩm chùy núp ở gành Bác Lãng. Đợi Tần Thủy Hoàng đi xe ngang thì xông ra hành thích. Mưu không thành, Lương bỏ trốn, sau giúp Lưu Bang dựng nghiệp nhà Tây Hớn rồi theo Huỳnh Thạch Công đi tu tiên.
-Tinh vệ: con vua Viêm Đế, vượt biển, bị cheat đuối. Hồn hóa thành chim ngậm đá sỏi để lấp biển.Ý chỉ việc làm khó thành công do suy nghĩ không chin chắn.
-Phạm Tăng: mưu thần của Tây Sở Bá vương Hạng Võ, tài giỏi nhưng không gặp thời vận.
-Bàng Thống: tự Phụng Sồ, có mưu lược cao, nhưng không nghe lời Khổng Minh nên bị bắn chết ở truông Lạc Phụng.
-Da ngựa bọc thây: do câu “ mã cách khỏa thi” (lấy da ngựa bọc thây chết người lính),-ý nói chết trận.
-Tử Kỳ: tức Chung Tử Kỳ, bạn tri âm của Bá Nha thời Chiến quốc.
-Bảo Thúc:tức Bảo Thúc Nha được Quản Trọng giúp đỡ và thông cảm hoàn cảnh nhiều nhất. Bảo Thúc nói “ Sinh ra ta đã có cha mẹ, hiểu biết ta chỉ có Quản Trọng”. Họ là bạn tri kỷ với nhau.
-Hờ cơ: (từ Nb): ngẫu nhiên, tình cờ mà gặp, không hẹn trước.
-hản tàng: tức hản tường, hiểu rõ mọi việc.
-Tiên phụ: (cn: tiên nghiêm),-từ để gọi người cha quá cố.
-Đồng song: bạn học.
-Hỉ xả: vui vẻ mà bỏ qua tất cả.
-Sắc không: (Phật): cái có và cái không.
-chơn giả: cái thật và cái không thật.
-Anh hùng: (anh: vua loài hoa; hùng: vua loài thú). Tào Tháo, khi luận về anh hùng có nói: “ Phù anh hùng giả, hung tàng đại chí, phúc hữu lương mưu, bao tàng vũ trụ chi cơ, thôn thổ thiên địa chi chí” ( Phàm làm người anh hùng, ngực chứa chí lớn, bụng có mưu cao, bao gồm then máy của vũ trụ, mang chí cả nuốt trôi cả trời đất).
-Vận thì: vận thời.
-Non Càn: tên một ngọn núi tưởng tượng.
-Trời Tây: tức Tây thiên, chỉ cõi chết.
-Giải thoát: (Phật): cởi bỏ mọi phiền não để lòng được thanh tịnh.
-Luyện đá vá trời: theo thần thoại, bà Nữ Oa luyện đá vá trời,-ý nói làm việc lớn.
-Thỏ chết chồn rầu: do câu “ thố tử hồ bi”, chỉ lòng cảm thương đối với đồng loại.
-Thâm bâu: nước mắt đọng làm thâm cổ áo.
-Huơi: (từ Nam bộ),-< HV: huy: quay tít.
-Sanh cầm: bắt sống.
-Nghĩa tử minh linh: con nuôi.
-Hai câu 817-818 lấy ý trong hai câu thơ cổ:
Vị thủy đầu can nhựt,
Kỳ sơn nhập mộng hồn.
(Khương Tử Nha ban ngày gieo cần câu trên sông Vị, hồn đi vào giấc mộng Kỳ sơn. Kỳ sơn là tên ngọn núi ở phía Tây Trung quốc, nơi vua Châu Võ vương Cơ Phát hưng binh phạt Trụ, dựng nghiệp nhà Tây Châu.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 24 2011, 06:51 PM
Gửi vào: #11


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





C-TRAO TRUYỀN VÕ NGHỆ

Trăng liềm vòm lá chiếu xiên,
834-Lờ mờ trãng cỏ, mây biền biệt bay.
Đèn nhang hương án kíp bày,
Lạy thầy tạ lễ công dày võ môn.
Đỉnh trầm hơi ngát khói tuôn,
Đài sen nến rạng, giọt luồn chảy quanh.
-“ Bẻ tên, thề tấc lòng thành,
840-Gìn lời giao phó vẹn tình sắt son.
Điêu tàn tám cõi nước non,
Trong làng gươm giáo, mất còn: Người, Ta.
Thề xưa, chứng có trăng già,
Quyết truyền con trẻ nghiệp nhà kinh luân.
Cước quờn, miếng mọn phòng thân,
Trận đồ biến hóa mười phần công phu.
Điều hòa uyển chuyển cương nhu,
Kê vai gánh vác cơ đồ ngửa nghiêng.
Hiếu trung khắc một lời nguyền,
850-Luyện nghề cung kiếm giữ yên quê nhà.
Phơi gan trải mật sức già,
Những mong chồi mọn trổ hoa kịp thời”.
Rằng “ Con nương náu đúng nơi,
Tiết Đông lạnh lẽo đã dời sang Xuân.
Cúi đầu cảm đội thâm ân,
Những lời gia huấn mười phần ghi tâm”
Rằng “ Cân nhắc kỹ chớ lầm,
Tính suy mực thước khi cầm ba quân.
Trui rèn thao lược cho thuần,
860-Miệt nào trận nấy, con đừng lãng quên.
Được thua, lấy đức làm nền,
Xót người số vắn dựng lên thành dài.
Kiếm vung che kín trong ngoài,
Đối đầu cung nỏ, tên bay khó vào.
Mưa dầm, nước mới thấm sâu,
Vuốt ưng, tay khỉ duợt lâu mới nhuần.
Trụ như ngọn đảnh Côn Luân,
Đi như bão cuốn sóng thần biển xa.
Đá, thoi hiệu quả chẳng qua,
870-Bộ, thân, cước, chỉ, thủ là cơ nguyên.
Con nên trọng thế hơn quyền,
Tùy cơ ứng biến, mới nên tay già.
Nhược bằng ham múa mỹ hoa,
Mua vui trẻ nít chẳng ra trò gì.
Tới lui ảnh hoán hình di,
Mau như lá rụng, lanh bì tên bay.
Lẹ làng dai dẽo chơn tay,
Mười hai thế đá không sai tơ hào,
Giữ mình là sách lược cao,
880-Bàng long cước giải địch bao giáp vòng.
Gậy tre đuổi cọp chạy cong,
Khăn đầu nắm chắc để hòng thoát nguy.
Dưới làu thế đất chi li,
Trên rành thiên tượng, các vì đẩu tinh.
Rạch ròi kỳ chánh phân minh,
Đánh đồn lượng sức, giữ thành mưu cơ.
Thủy, sơn, địa chiến, ngày giờ,
Lũy dinh Lý Tịnh, trận đồ Ngọa Long.
Sớm trưa sách vở nằm lòng,
Văn ôn võ luyện cho thông mọi đường.
Ngoắt tay sấm động mười phương,
Rồng phun bão lửa, cọp giương móng ngà.
Lấy can qua dẹp can qua,
Cứu dân thoát ách máu hòa thây phơi.
Theo lòng người, thuận mạng trời,
896-Hoa thêu gấm dệt đời đời nước non.



Chú thích:

-Kinh luân: (kinh: việc kéo tơ; luân: việc quay tơ vào guồng): tài khéo léo sắp xếp việc chánh trị, quân sự.
-Cước: gót, thế võ dùng gót để đá.
-Quờn (từ Nb): quyền: nắm tay,-thế võ đánh bằng tay không.
-Thâm ân: ơn sâu.
-Gia huấn: lời dạy dỗ của cha mẹ trong gia đình.
-Miệt: (từ Nb)-vùng, miền, không kể rộng hẹp.
-Thao lược: (thao: gồm có lục thao: văn thao, võ thao, long thao, hổ thao, báo thao, khuyển thao; lược: gồm tam lược: thượng lược dùng nhân, trung lược dùng trí, hạ lược dùng dũng): Thao lược chỉ cách cầm quân.
-Vuốt ưng: hay móng chim ưng, tức ưng trảo công,-một thế trong chỉ pháp của võ thuật, gồng cứng bàn tay, các ngón tay co vào lòng bàn tay như móng vuốt chim ưng.
-Tay khỉ:thủ pháp nhanh lẹ và mềm dẽo như tay con khỉ,-thường được dùng trong hầu quyền.
-Duợt (từ Nb): duyệt, làm đi làm lại, xem lại để khi làm đạt hiệu quả cao.
-Trụ: đứng.
-Côn Luân: ngọn núi lớn ở phía Tây Trung quốc.
-Đá thoi: tức dùng cước và quyền, dùng gót để đá, dùng bàn tay nắm lại để thoi đấm.
-Bộ: tức bộ pháp,- phép di chuyển từng bước.
-Thân: tức thân pháp,-phép cử động thân mình.
-Cước: tức cước pháp,-các nguyên tăc sử dụng gót chân.
-Chỉ: tức chỉ pháp,- cách dùng các ngón tay.
-thủ: tức thủ pháp,- phép sử dụng hai tay.
-cơ nguyên: nguồn gốc, căn bản.
-tùy cơ ứng biến:tùy tình thế mà thay đổi cho phù hợp.
-mỹ hoa: rực rỡ, đẹp đẽ.
-ảnh hoán hình di: (cn: hoán ảnh di hình):thay hình đổi bóng,- ý nói lanh lẹ khó lường.
-Khăn đầu: tức đầu cân pháp,- dùng khăn vải quấn đầu để tấn công, đỡ đòn hay bắt lấy binh khí của địch.
-Thiên tượng: vẻ đẹp, hình thể và những biến động thay đổi của bầu trời.
-Đẩu tinh: chòm sao và ngôi sao.
-Kỳ: tức kỳ binh, phép rải quân từng đơn vị nhỏ họat động rải rác khắp nơi.
-Chánh: phép điều động đại quân.
-Thủy chiến: trận đánh trên mặt nước.
-Sơn chiến: trận đánh vùng núi non hiểm trở.
-Địa chiến: trận đánh trên đất liền, trên đồng bằng.
-Lý Tịnh: danh tướng đời Đường, đóng quân lập dinh trại hình bán nguyệt.
-Ngọa Long: tức Khổng Minh Gia Cát Lượng nổi tiếng với Bát trận đồ, vây Đô đốc Đông Ngô là Lục Tốn.
-Can qua: (can: ngọn dáo; qua: cái mác),-chỉ binh khí hay chiến tranh.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 24 2011, 07:33 PM
Gửi vào: #12


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





D-TRỞ LẠI TRƯỜNG AN

Sân thông hứng cảnh trăng tròn,
Bầu nghiêng rượu cúc, giọng giòn ca ngâm.
Trời trong xanh, cỏ sương dầm,
900-Cây mù ngọn quạnh, thác gầm lũng xa.
Chuyện trò môi ấm hương trà,
Châu xin một chuyến dạo qua đô kỳ.
Liếc xem thần thái tiểu nhi,
Trầm ngâm bấm đốt can chi một hồi:
-“Vận con còn lắm lôi thôi,
Nếu như rạng sáng diễn khơi kinh thành,
Mãng xà trong bộng nằm khoanh,
Tháng giêng sát chủ, rành rành chẳng sai.
Phải chờ gà gáy khuya mai,
910- Xét trong tám cửa, môn khai lên đàng.
Tới ngày, nai nịt gọn gàng,
Củi khô nặng gánh băng ngàn bước mau.
Nắng chan phỏng mặt rát đầu,
Mồ hôi muối bạc áo nâu vai sờn.
Màn sương phủ bóng chập chờn,
Mong manh vải mỏng, lạnh rờn rợn da.
Khói vương mặt đất la đà,
Nghiêng vai góc phố tạm qua đêm này.
Tỉnh mê hồn bướm giấc mai,
920-Đèn leo lét đóm thôn ngoài lim dim.
921-Lặng trang cây cỏ im lìm,
Mây trời vần vũ người thêm não lòng.
Sao lần lợt sắc trời Đông,
Chim di chuyền hót, ráng hồng rựng lên.
Vật người hỗn độn chợ phiên,
Xe quan bụi hốt, ngựa biền trốt bay.
Xô bồ tòa rộng dãy dài,
Đưa chơn theo lớp sóng người vô trong.
Ngũ Lăng thanh lịch cạn dòng,
930-Xác xơ lều lá, sạch không quán hàng.
931-Phèng la mãi võ ầm vang,
Thượng vàng hạ cám, bày hàng dáo khiên.
Âu sầu bó gối mé hiên,
Co ro gió lạnh vài tên ăn mày.
Thị thiềng hoang phí ăn xài,
Ngàn trùng cách biệt đất dài trời xa.
Xọp ve bụng trống đêm qua,
Miếng cơm chợ lạ biết là tìm đâu!
Một già áo bạc quần nâu,
940-Cong tôm mang chiếu, gối đầu cánh tay.
941-Mới đây, lãnh án đi đày,
Bồng con dắt vợ ra ngoài rừng thiêng.
Nghiệp chung dẫn lối sầu riêng,
Mòn tay cuốc đất đào tiền nuôi thân.
Sơn lam chướng khí hai lần,
Cướp đôi trẻ dại,- Bạc phần thương ôi!
Ở, về?-Khó đứng khôn ngồi,
Trao thân beo cọp, tái hồi quê xưa?
Của tiền, giặc vét chẳng chừa,
950-Túm đùm nương náu nắng mưa chái ngoài.
951-Trát đòi gia quyến bữa nay,
Hành trang khăn gói nội ngày rời kinh.
Mới mờ mờ đất bình minh,
Kẻ dao, người gậy, quân binh rộn ràng.
Nhận đầu lão chiếc già giang,
Quất roi lôi xển, lạy van được nào
Rằng: “ Xin mở lượng trời cao,
Thương thân hèn mọn dãi dầu đắng cay.
Vợ nhà bịnh ngặt nằm dài,
960-Tiền nong đâu có rước thầy thuốc thang.
961-Hai con nhỏ dại cơ hàn,
Món thừa canh cặn quán hàng hảo tâm.
Tơ đồng mượn giọng ngũ âm,
Đờn rong hát dạo mong cầm tấc hơi.
Phố phường chợ búa đông người,
Nắn cung so phím lựa lời ca ngâm.
Lưng cơm nước mắt chan dầm,
Sớm xin bố thí, tối nằm mái hiên”
Hét rằng: “ Phép tắc cửa quyền,
970-Cầm cân chẳng vị, không thiên chút nào.
971-Lẽ ra làm quỉ cụt đầu,
Hoặc đày trọn kiếp ngựa trâu bọn mày.
Lớn gan, lẽo lự đặt bày,
Trưa nay căng nọc, ngày mai vô rừng.
Đòn thù đá bụng thoi lưng,
Đầu gông ngã úp, mắt trừng tay xuôi.
Ôm thây, bà vợ sụt sùi:
-“ Mất còn, thoắt đã tách rời đôi phang.
Gởi thân hùm sói sài lang,
980-Mẹ con cui cút tấc đàng rủi may.
Ức oan chi bấy cao dày!
Lết la sống mọn tháng ngày nổi trôi.
Phận bèo phó mặc sóng nhồi.
Linh đinh bờ bến, phương trời nào đây?”
Thở than lời vắn tình dài,
Kẻ qua đường cũng chau mày lệ sa.
Lá chằm nát gói qua loa,
Nương hoang bươi huyệt khiêng ra chôn vùi.
Khăn tang quấn trán ba người,
990-Mang xiềng, lãnh án lưu dời bữa sau.
991-Đám đông bu kín giờ lâu,
Sai nha lính lệ giải hầu quan trên.
Mắng rằng: “ Thằng giặc đê hèn,
Cứng đầu ương ngạnh, tội đền mới xong.
Bọn bây quần kiến tụ ong,
Rắp tâm làm phản, a tòng đứa gian.
Châu Thông bị giải theo đoàn,
Giữa đường tật ách vương mang nào ngờ.
Ồn ào lộn xộn hàng giờ,
1000- Đứng ngồi nóng ruột, ngóng chờ vào sân.
1001-Nghinh ngang lính tráng lưng trần,
Mắt hừng hực lửa, tay phần phật roi.
Chòi canh ậm ọe thét còi,
Giọng loa khó dễ, nặng lời chanh chua.
Dáo xô, khiên đẩy, tay đùa,
Người vô tội, kẻ già nua, đi cùng.
Ngã nghiêng cờ lọng lụa hồng,
Cai tù, chúa ngục đặc trong chật ngoài.
Tay chơn bộ hạ hàng hai,
1010-Hét hò vẹt lối quan lai công đường.
1011-Khí trời ngột ngạt khác thường,
Rào ngăn, vách cản, lũy tường vượt cao.
Hỏi dò, cật vấn từng câu,
Vo tròn bóp méo, chận đầu lung tung.
Gạn tra vụn vặt lòng vòng,
Ai ai cũng thấy phập phồng đâu yên.
Chữ rằng: “ mọi sự do tiền”,
Lịnh đòi bước tới cửa quyền khổ thay!
Dẫu cho dạ thẳng lòng ngay,
1020-Không tù cũng tội, rủi may khó dời.
Cẩu quan làm đất làm trời,
Buộc ràng, bắt bẻ cho lòi bạc ra.
Luật ban chẳng kể trẻ già,
Dần nhừ mười trượng, phạt ba quan tiền.
Mò lưng, chẳng đủ nộp liền,
Tống giam ngục tối, chơn xiềng cổ gông.
Hầu bao lép xẹp sach không,
Bán buôn chắt mót, gánh gồng gian nan.
Đánh mùi biết mối giàu sang,
1030-Nặng tay tra tấn,-Đòi vàng cũng ưng.
1031-Mớm cung, buộc tội phải xưng,
Gớm ghê thay! Luật sói rừng kên kên.
Tay còng, Châu ngước dòm lên,
Thấy đầu chó sói xâm trên ngực trần.
Mấy tên tiểu tốt đứng gần,
Bắp cơ cuộn khúc, đường gân nổi vồng.
Quấn trùm hạ bộ, che mông,
Da dê vận khố, búa đồng cầm tay.
Sói đương hung hãn ra oai,
1040-Nhăn răng nanh nhọn khoe tài hùng anh.
1041-Mặt mo giở giọng lôi đình:
-“ Thầy chùa sao lại đành hanh việc người?
Đã mang tiếng đoạn tình đời,
Lại xen thế tục, xỏ nơi gian tà.
Tên ăn mày chẳng ruột rà,
Đậu tiền chôn cất, nghĩa là làm sao?”
Nhớ lời thầy dặn đã lâu
Cắn răng nhịn nhục, ngỏ hầu thoát nguy.
Rằng: “ Từ thọ giới sa di,
1050-Học câu hỉ xả từ bi nằm lòng.
1051-Củi rừng gánh bán chợ đông,
Thấy người hoạn nạn đem lòng tương liên.
Đồng rơi, xu rụng góp quyên,
Những mong vơi bớt ưu phiền chúng sanh”
Lửa thù tròng mắt long lanh,
-“ Biết gì thằng giặc hôi tanh ăn mày!
Trước kia trấn ải Hình Đài,
Giết quân chém tướng, tội này khó tha.
Tới khi thất thủ trào ca,
1060-Cải trang hành khất lân la xóm riềng.
1061-Khổ sai đày miệt Tứ Xuyên,
Lộn nài bẻ ống về liền Trường An.
Sờ sờ chống lịnh bổn quan,
Manh tâm tụ đảng, hợp đoàn dấy binh”
Thưa rằng: “ Gã nọ cùng đinh,
Tay không tấc sắt tranh hành với ai?
Đói nghèo, áo vải quần gai,
Tiền cho vung ném, hiên ngoài tạm dung.
Cầm ca bến bãi vàm sông,
1070-Cháo rau hẩm hút sống cùng thê nhi.
1071-Gây chi sóng gió bất kỳ,
Đá đè búa nện, còn gì xác thân?
Tội kia dẫu nặng ngàn cân,
Cũng chưa đến nỗi gánh phần tử vong.
Thương tâm ai chẳng động lòng?
Giúp cơn khốn khó nằm trong luân thường.
Bần tăng khách lạ tha phương,
Xót người phận mỏng chưa tường đầu đuôi”
Mắng rằng: “ Sâu bọ lằng ruồi,
1080-Bu thây sình thúi, tưởng mùi thơm tho.
1081-Chống trời bẻ nạng,-Gan to,
Già mồm lẽo mép quanh co gian tà.
Kíp căng dùi nọc roi da,
Đập cho bò lết, giam nhà lãnh lao.
Cãi chày cãi cối ồn ào,
Khố te áo tét, tưởng cao bằng trời!”
Trọc trằn đoạn thảm đầy vơi,
Lạ chưa! Họa giỡn tai chơi giữa đàng.
Tréo tròng nạn ách vương mang,
1090-Đè đầu chụp tội,-Quân gian khéo bày.
1091-Đau như dần, nhức cả vai,
Nhìn ra sương đục, mây cài liềm trăng.
Cây mờ, lợt lạt bóng ngân,
Chồi lan nụ hé, bãi tần hương xông.
Quẩn quanh trong đám bụi hồng,
Nhục vinh sướng cực, do lòng nghĩ thôi!
Vứt đi! Đeo đẳng chi đời,
Cởi gông phiền não, thảnh thơi tâm hồn.
Đục trong, thua được, mất còn,
1100-Coi như nắng tắt đầu non chiều tàn.
1101-Ngày kia, sương lạnh chưa tan,
Nhà tù thức giấc, tán bàn xôn xao.
Khóa khua lách cách đề lao,
Có viên ngục tốt cúi đầu thưa qua:
-“ Tiểu binh vưng lịnh đại gia,
Mời người dời gót ngọc qua thơ phòng”
Lối đi mát rượi lụa hồng,
Thơm lừng trà cúc, rộ bông mai đình.
Cửa to mở hoác tiếp nghinh,
1110-Trầm bay phưởng phất, quyện mành khói vương.
1111-Lung linh lệ sáp nến hường,
Huyện quan ngời giữa ghế trường kỷ cao.
Đôn ngà bọc gấm hoa đào,
Chuyện trò khách, tóc nhuốm màu sương pha.
Thời gian chậm chạp trôi qua,
Ngại ngần quan huyện phân qua mấy lời:
-“ Sai nha làm chuyện lôi thôi,
Hiếp dân vô tội, bắt người hiền lương.
Đêm qua, viên ngoại họ Vương,
1120-Qua thăm tệ phủ, mới tường gian ngay.
1121-Nghe cao tăng với người đây,
Vốn cành cùng cội, chung cây, họ hàng.
Còn thơ, nương ánh đạo vàng,
Bịt tai chuyện thế, dẹp tan lụy phiền.
Mười năm giủ sạch nghiệp duyên,
Bụi hồng chẳng ố gót tiên một đời.
Ngày lành phố chợ ghé chơi,
Quân hầu có mắt không ngươi mới lầm”
Vương viên ngoại dáng trầm ngâm:
1130-“ Việc qua xin gác, bận tâm ích gì!
1131-Mấy năm chú cháu phân ly,
Buồm căng gió thuận, mây đi lại gần.
Gặp nhau, thơ thới tinh thần,
Nhành khô mưa gội trắng ngần điểm hoa.
Nhạn Nam én Bắc một nhà,
Ơn dày ban xuống, lòng già dám quên!”
Châu Thông nhìn thấy dáng quen,
Tướng đi giọng nói, sực liền nhớ ra.
Giáo đầu tập luyện binh gia,
1140-Kiếm côn khiếp chúng, tài hoa hơn người.
1141-Kiếu từ, viên ngoại phản hồi,
Ký tờ bảo lãnh Châu rời dinh trung.
Cỗ xe tứ mã thẳng giong,
Cây ngàn chìm lớp bụi hồng dặm mai.
Kẻ ăn người ở đông vầy,
Gò cương đẩy cửa thơ trai tự tình.
Một trời liễu biếc trúc xinh,
Tiệc hoa dọn sẵn vườn quỳnh hiên trăng.
Ân cần mời mọc đãi đằng,
1150-Giủ đi thôi! Lớp phong trần bấy nay.
1151-“ Từ hồi lửa hốt tro bay,
Lang thang biển nọ sông này, linh đinh.
Nẻo đời mòn gót chông chinh,
Vùi chôn gươm báu, tập tành bán buôn.
Bạn bè bạc vạn tiền muôn,
Giúp giùm vốn liếng, lách luồn kinh dinh.
Của chìm của nổi dụm dành,
Bỏ ra mua đứt tướng khanh đương quyền.
Lạ gì bầy ngốc tham tiền,
1160-Bạc vàng trám miệng, xích xiềng tháo bung.
1161-Mấy hôm thằng cháu Vương Hùng,
Cho hay công tử mắc vòng ngục lao.
Ra tay nào sợ tốn hao,
Sợ đày ải chốn rừng sâu núi dài.
Lê thê tháng lụn ngày chầy,
Lộ ra lai lịch, dạ này sao yên.
Chữ rằng gặp biến tòng quyền,
Đút lo chạy chọt, chích nghiêng công bằng.
Đồng tiền giữ thế vạn năng,
1170-Thay đen đổi trắng, lẽ hằng xưa nay.
1171-Dầu cho chớp giựt mưa bay,
Bén hơi đồng cũng mê say thẩn thờ”
Vườn khuya vương vất hương mơ,
Trắng bông bưởi rụng, song mờ sương lan.
Chòm sau xóm trước lạnh tràn,
Gió day phơ phất mấy hàng ba tiêu.
Ngủ lim dim cảnh đìu hiu,
Vẳng đưa quốc gọi ít nhiều thôn xa.
Hiên mai đôi bóng trẻ già,
1180-Tâm tình chưa cạn, trống đà điểm tư.
1181-Nhét vào tay áo tờ thơ,
Hỏi thăm Giác hải thiền sư đôi dòng.
Kề tai nhủ hết sự lòng,
Tóc tơ dặn bảo Châu Thông mọi đường:
-“Kíp mau lướt bụi băng sương,
Kẻo am mây vẫn chưa tường rủi may.
Ngóng tin nhạn lẻ dặm dài,
Liềm trăng ba điểm sao cài thương mong.
Vận thời chưa lúc hanh thông,
1190-Nên dò sâu cạn, nên phòng trước sau.
1191-Sẵn đây mớ nhắm vải nâu,
Áo thô quần xấu,- biết đâu sẽ cần.
Tiền nong chút đỉnh hộ thân,
Giắt lưng dằn túi theo chân giang hồ.
Hẹn ngày núi lở sông khô,
Nước non đứng dậy, cơ đồ vẻ vang.
Vẹn lời nguyền, mát tim gan,
Thuồng luồng giãy chết, máu tràn biển Đông.
Mây cao nghiêng sải cánh hồng,
1200-Dưới trời, thỏa chí tang bồng,-Gặp nhau.
1201-Dùng dằng chia biệt giọt sầu,
Vẫy tay nhau, khuất bờ dâu mới về.



CHÚ THÍCH:

-Thần thái: sắc mặt, dáng vẻ.
-Tiểu nhi: từ của cha mẹ gọi con mình.
-Can chi:
-thập thiên can: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quí.
-thập nhị địa chi: tí, sửu, dần, mẹo, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.
-Mãng xà: rắn lớn.
-Tám cửa: tức Bát môn. Theo Bát môn đại độn, việc lành dữ được qui ra tám cửa: Sanh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai, Hưu. Tùy ngày giờ xảy ra vụ việc mà đoán lành dữ, mất còn.
-Chim di: loài chim nhỏ bằng ngón tay, ăn lúa, bay từng bầy. Nam bộ gọi là chim sắc: chim sắc mọi ức màu đen tuyền, chim sắc bông ức có đốm trắng đen.
Giương cung mà bắn phụng hoàng,
Chẳng may gặp phải một đàn chim di.
(ca dao)
-Ngựa biền: ngựa đi từng đôi.
-Ngũ lăng:
a)-năm gò đất ở Trường An: Trường lăng, An lăng, Dương lăng, Bình lăng và Mậu lăng.
cool.gif-chỉ đất kinh thành.
-Mãi võ: múa võ để xin tiền người xem.
-Thị thiềng: (từ Nam bộ)-cách người Nam bộ xưa đọc chữ thị thành.
Mảng lên non tìm con chim lạ,
Chớ chốn thị thiềng, chim chạ thiếu chi.
(ca dao Nam bộ)
-Sơn lam chướng khí: khí độc vùng rừng núi.
-Xọp ve: (từ Nam bộ)-lép xẹp vì không có gì chứa đựng bên trong.
-Già giang: chiếc gông bằng gỗ.
-Cơ hàn: đói và lạnh.
-Ngũ âm: năm cung bậc trong nhạc ngày xưa: cung, thương, giốc, chủy, vũ.
-Lẽo lự: (từ Nam bộ): bẽm mép, lẽo mép, già mồm, tìm mọi lý lẽ để cãi quanh co.
-Căng nọc: hình phạt ngày xưa,- Dùng nọc gỗ cắm xuống đất, căng dây cột tay chân phạm nhân để đánh đập.
-Cao dày: do chữ “ thiên cao địa hậu” (trời cao đất dày,-dùng để chỉ trời đất.
-Bươi: (từ Nam bộ)-lấy tay quào, đào cạn trên mặt đất.
-Công đường: nơi quan lại làm việc hay để xét xử phạm nhân trong các vụ kiện.
-Hạ bộ: phần dưới của thân thể.
-Lôi đình: sấm sét,-chỉ cơn giận dữ.
-Đành hanh: làm chuyện trái ngược, kỳ quái.
-Đậu: (từ Nam bộ)-chung góp lại.
-Thọ giới sa di: (Phật)-mới bắt đầu tu hành.
-Tương liên: thương xót nhau.
-Cải trang: thay đổi quần áo, cách ăn mặc để giả làm người khác.
-Lộn nài bẻ óng: (thành ngữ Nam bộ)-(Nài: sợi dây to và chắc để mắc cày, bừa, trục vào cái ách. Óng: Sợ dây choàng qua cổ trâu bò buộc vào cái ách). Lộn nài bẻ óng chỉ việc không chịu ép mình vào khuôn phép, chỉ hành động trái ngược của kẻ dưới nhằm chống báng người trên.
-Đề lao: nơi giam giữ kẻ có tội.
-Rựng: (từ Nam bộ)-rạng sáng ửng lên.
-Tiểu binh: tiếng tụ xưng của người lính cấp bậc nhỏ.
-Mai đình: sân trồng mai.
-Trường kỷ: ghế dài.
-Đôn: loại ghế ngồi không có miếng gỗ dựa lưng.
-Thơ thới (từ Nam bộ)-thư thái, dễ chịu.
-Tệ phủ: từ nói khiêm tốn của người làm quan, chỉ chỗ làm việc, nơi ở hoặc chính cá nhân mình.
-Cao tăng: từ chỉ nhà sư với vẻ tôn trọng.
-Ánh đạo vàng: chỉ đạo Phật.
-Giáo đầu: người giỏi võ nghệ, rèn luyên quân sĩ.
-Hốt: (từ Nam bộ)-bốc lên, bay lên.
-Kinh dinh: đọc theo kiểu Nam bộ chữ kinh doanh.
-Day: (từ Nam bộ): lay động.
Anh về giồng dứa qua truông,
Gió day bông sậy để buồn cho em.
- Liềm trăng ba điểm sao cài: tức chữ tâm (tấm lòng) như Nguyễn Du đã viết trong truyện Kiều:
Đêm khuya gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời.
- Mớ nhắm: (từ Nam bộ)-chỉ số lượng ít ỏi, nhưng không chính xác là bao nhiêu.
- Chút đỉnh: (từ Nam bộ)-chút ít.
-Hộ thân: đem bên mình phòng khi túng ngặt.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 24 2011, 08:07 PM
Gửi vào: #13


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





E- VỀ CHÙA LẬP THẾ TRẬN, CƯỚP TÙ XA.


1203- Vực sâu dốc dựng mỏi mê,
Rách hông giày cỏ chơn tê tái chồn.
Ố mây rũ bức huỳnh hôn,
Khói vờn lũng xám sơn thôn nắng tà.
Sắc phai lá lục cây già,
Xóm xa leo lét trổ hoa đèn vàng.
Chùa xưa mây ngủ mê man,
1210- Ngân nga chuông muộn mơ màng trong không.
1211- Bước dồn lòng rộn rã lòng,
Dạo qua thăm mấy cội tòng xanh xanh.
Lắc lay, hắt bóng mành mành,
Chuỗi lần mắt khép niệm kinh Đại thừa.
Vén rèm đẩy cánh phên thưa,
Hầu thăm sư phụ gió trưa nắng chiều.
Hương trà ấm khói hậu liêu,
Ngọt bùi ấm lạnh muôn điều xảy ra.
Trình rằng: “Giặc cướp trào ca,
1220- Giả nhơn giả nghĩa, chẳng qua tham tàn.
Lưỡi trâu, miệng méo một đàn,
Tài sơ ôm mộng gác vàng đảnh chung.
Tin loan chánh sự rối bòng,
Tên An Khánh Tự lộn sòng giết cha.
Chín châu mười quận kêu ca,
Tiếng than dậy đất, oán pha ngất trời.
Chim mèo cú vọ nơi nơi,
Giựt tiền đoạt của giết người hiền lương.
Thịt xôi náo loạn hí trường,
1230- Gươm thay lẽ phải coi thường mạng dân.
Vận cơ ắt đã kề gần,
Thiên thời, địa lợi cộng nhơn tâm này.
Mưa dông nào trọn một ngày,
Bốn phương hào kiệt sắp bày giáp nhung.
Chuyển xây đất lở trời long,
Cọp mài móng nhọn tranh hùng một phen.
Túc Tôn về ngự Bành Nguyên,
Tử Nghi thống lãnh binh quyền đặc sai.
Năm này Chí Đức thứ hai,
1240- Ra oai chinh phạt định ngày hồi loan”
Sư rằng: “ Chuyện giặc Khiết Đan,
Xe tù áp giải qua ngang Vân Đài.
Ra tay mới rõ cao tay,
Nghỉ ngơi lại sức,-ngày mai đồng hành.
Hơi tàn còn chút mong manh,
Cũng liều hết sức bình sanh cứu nàn”
Chóp cây cao ửng nắng lan,
Hoa tươi bướm ghẹo, mây vàng gió đưa.
Lau già úa sắc lưa thưa,
1250- In nghiêng vóc dáng buồn xưa lưng đèo.
1251- Chơn lần đá nhọn cành eo,
Khói lam thức giấc thôn nghèo xa xôi.
Núi đồi đứt,- nối núi đồi,
Quanh co lối hẹp, non cơi hai hàng.
Đường biên đặc gật cây đan,
Đồi thông gió rú, thác ngàn nước reo,
Bên khe dựng tạm mái lều,
Che mưa đỡ gió sớm chiều có nhau.
Dang lưng làm mấy ngày thâu,
1260- Diễn đi tập lại cho làu mới ưng.
Đêm đêm, dụi lửa canh chừng,
Lóng tai động tĩnh mấy lần cành rơi.
Sáng lòe sương chiếu mặt trời,
Nước khe cơm ống mới rồi bữa mai.
Tù và lảnh lót thôn ngoài,
Ngọn cây nhìn rõ một bầy Phiên man.
Xét xem vật dụng sẵn sàng,
Im hơi hố kín lợp ngang lá rừng.
Vài tên dáo dác ngó chừng,
1270- Gần nom xa ngóng, ngập ngừng đường hoa.
1271- Giờ lâu tháo bước lộn ra,
Rồi quân binh rộn rịp qua cầu sài.
Vật người lên dốc Vân Đài,
Uốn lưng mãnh hổ, vươn dài giao long.
Mấy tên lính bộ sau cùng,
Bước ngang chửa khỏi, một vòng cầu xây.
Uỉp nghiêng cả bọn lăn quay,
Vực sâu vùi xác, cọc dài xiên thân.
Sườn non sấm chuyển rần rần,
1280- Muôn cây súc nặng ngàn cân ép dồn.
1281- Quân Yên tan mật nát hồn,
Quày lưng chạy ngược bồn chồn đạp nhau.
Điểm tra sĩ tốt lúc đầu,
Mười phần hao bảy, chuyện sao lạ lùng.
Ngất cao mây ngự mấy trùng,
Hố khe hun hút đùng đùng nước sôi.
Đường đi khó quá lên trời,
Chim ngàn xếp cánh chẳng tài vượt truông.
Viên đầu lãnh sợ cuống cuồng,
1290- Rối nùi khó gở được guồng tơ ra.
1291- Lẹ như chim cắt xớt gà,
Lá rơi đầu gió, sao sa lưng trời.
Châu Thông áo bạc quần gai,
Hét dài, tiếng vọng núi ngoài đồi trong:
-“ Sức trâu có chém được rồng,
Dấn thân đất chết đừng trông thoát nàn.
Sa tràng nợ máu trót mang,
Khó chui nhủi trốn tìm đàng uổng công”
Nhẹ như gió thoảng nhành thông,
1300- Phi tiêu bay vụt từ lòng bàn tay.
Trúng thương, ngã gục cả hai,
Phụt đôi vòi máu giữa ngay yết hầu.
“ Còn người ta sẽ tính sau,
Nếm cho trải vị sơn hào nhà ta”
Bỏ yên, ngựa vọt chạy xa,
Viên đầu lãnh tuốt kiếm ra sáng ngời.
Nhìn Châu chằm chặp chẳng rời,
Mày cau hực lửa, nhếch môi cười gằn.
Châu Thông bình tĩnh mười phần,
1310- Khí thiêng núi Sở non Tần,-giáp công.
1311- Giỡn đùa, lượn múa hai rồng,
Lại qua chín hiệp cầm đồng kiếm côn.
Gồng tay, máu nóng chuyển dồn,
Nhón chơn, Châu nhảy lượn tròn từng cao,
Quay côn nhắm thẳng đỉnh đầu,
Gầm lên một tiếng giáng vào tam tinh.
Tướng Yên vùng vẫy tung hoành,
Nghiêng vai né khỏi, lách mình tràn qua.
Ướm chừng thanh thảo lạc hoa,
1320- Lia thanh trường kiếm quét qua một vòng.
1321- Châu Thông vốn đã dự phòng,
Côn quay vun vút mảy lông khó vào.
Trang dõng sĩ, khách anh hào,
Hai dòng thác lũ cuộn trào sườn non.
Kiếm ngân sang sảng chạm côn,
Côn vung vùn vụt đỡ đòn dưới trên.
Giá côn, nhảy trái hét rền,
Đốc roi nhắm huyệt Liêm tuyền tạt ngang.
Tướng Yên lui tới lẹ làng,
1330- Thâu, giương ngọn kiếm chận đường côn qua.
1331- Kiếm huơi chém phập côn ngà,
Kéo trì hai gã, sút ra được nào!
Châu Thông trí sáng kế cao,
Co chơn gót trái đạp vào Quan nguyên,
Tay côn xoay vặn liền liền,
Cương đao phạt mộc chém xiên Ấn đường.
Phát chiêu tinh luyện lạ thường,
Làn tơ kẽ tóc, điểm dường không sai.
Tướng Yên binh khí rời tay,
1340- Thuận đà, Châu đá kiếm bay xuống gành.
1341- Rút Long Toàn lóa thép xanh,
Cả cười: “ Cái chết hẳn dành cho ngươi,
Sợ e miệng thế nhiều lời,
Đường đường danh tướng giết người tay không.
Được thua một cuộc tranh hùng,
Thấp cao một trận Mai thung bên này.
Cho ngươi lăn lóc đọa đày,
Trò mèo giỡn chuột kéo dài thương đau!
Phóng mình vận khí nhảy vào,
1350- Rập ràng kẻ trước người sau đối đầu.
1351- Châu Thông chấp chỉ Khô lâu,
Đứng Kim kê tấn, khấu đầu phương Đông.
Hiệp tiên, Phiên tướng khắc bông,
Long thăng hổ giáng hiệp đồng chơn tay.
Nghịch lân cước giải nguy ngay,
Châu tràn gạt đỡ phát hai đòn liền.
Chưởng vung đất lở trời nghiêng,
Bước theo chín bộ thẳng xiên thưa dày,
Cứng mềm uyển chuyển đôi tay,
1360- Phụng hoàng sè cánh che mây rừng tòng.
1361- Tướng Yên lừa thế phản công,
Loạn điên cuồn cuộn trốt lồng qua đê.
Mắt và chớn thủy nhứt tề,
Giương đôi song chỉ xỉa về như tên.
Nhắm ngay hạ bộ thốc lên,
Vung hông tả cước điểm liền đúng nơi.
Sá gì ngón mọn đồ chơi,
Dễ đâu thua thắng đổi dời mà mong!
Bình lâm hạc lập dụng công,
1370- Nhẹ nhàng hóa giải thoát vòng hiểm nguy.
1371- Tràn ngang bắt ngón tức thì,
Lòn qua nhắm huyệt Phong trì chém sâu.
Độc chiêu phải dốc kế mầu,
Đà đao trá bại ngỏ hầu nên công.
Giả đò khí huyết chẳng thông,
Dáng như thở gấp đứng không vững vàng,
Tướng Yên vung chưởng phạt ngang,
Nhón chơn chảo mã bước tràn phát chiêu.
Châu đà liệu trước mọi điều,
1380- Gồng tay điểm mạnh hạ tiêu một quyền.
1381- Tướng Yên lùi bước lách nghiêng,
Châu Thông tấn hữu bộ liền bên hông,
Giương nanh cọp múa móng rồng,
Cuồng phong xô đổ cội tùng khó chi.
Cạnh tay chém thẳng Đại chùy,
Thuận đà thộp cổ kéo ghì ngã ngang.
Thế tình đến quá vội vàng,
Tướng Yên té ngửa trên giàn mai thung.
-“ Khá khen tài bộ anh hùng,
1390- Kiếm côn trăm hiệp cầm đồng bổn gia.
Cước quyền gẫm cũng tay già,
Khơi dòng kinh sử, nếp nhà trâm anh.
Lạ chưa?- Quì gối khom mình,
Thờ tên dâm loạn, ô danh muôn đời?”
Rằng: “ Suy thấu đáo kiếp người,
Mất còn trời định, ấy lời ngàn xưa.
Chiếc thân mảnh lá sa cơ,
Rớt gươm giữa trận là giờ nát thân.
Trước hồi phách lạc non thần,
1400- Ngọn ngành cội rễ mười phân tỏ bày.
Cố hương mưa tối bão ngày,
Máu loang ngập rẫy, tro bay khắp dồng.
Giặc đương chiếm cứ cả vùng,
Lớp trai vô tội gánh gồng nghiệp chung.
Dồn vào thế bí nước cùng,
Phải mang cung nỏ, buộc dùng dáo khiên.
Lót vàng mua chữ bình yên,
Không lo tiền của, sung liền trong quân.
Gió đưa lạc chốn bụi hồng,
1410- Mặc con sóng vỗ, mặc dòng nước đi.
Ngàn dâu bóng xế ai bi,
Sợ con nát giáp, lấy gì gói thân!
Mẹ già mái lạnh một thân,
Đầu hiên vò võ trông lần tin con.
Ngọt bùi chữ hiếu chưa tròn,
Mây non Tần ngóng những mòn con ngươi.
Miệng đời biếm nhẻ mấy mươi,
Làm trai hổ đất thẹn trời bởi đâu?
Trót vương mắc nợ máu đào,
1420- Ơn đền oán trả,-cơ mầu hóa công.
Cớ chi dùng trận Mai thung,
Giữa đường gặp gỡ giao phong?,-Khá bày!
Lời hay rót mật vào tai,
Nỗi niềm trút cạn, cảm hoài xiết bao.
Hơn thua đã định thấp cao,
Thương tài tiếc phận, nỡ nào chẳng dung.
Chống gươm, đầu óc rối tung,
Giận hờn nghiệp chướng, đau lòng trái oan.
Lấy ơn báo oán cho an,
1430- Kết chi cho rối tới ngàn kiếp sau.
1431- Cũng đồng hoạn nạn như nhau,
Sân Lai khuất nẻo đã hầu mấy trăng.
Làng xưa thăm thẳm sầu giăng,
Phủ trùm núi Dĩ mấy lần nước mây.
Tình này dễ mấy riêng ai,
Trói chung cảnh ngộ,-Cao dày khéo trêu.
Chạnh thương xóm nhỏ một chiều,
Mắt lòa chân chậm tiêu điều mái hoang.
Tin đâu vụt đến ngỡ ngàng,
1440- Đứa con nhờ cậy chiến tràng gởi thây.
1441- Cheo leo đồi núi rậm cây,
Xác phơi truông lạnh, chim bầy rỉa ăn.
Mũi lòng tre cỗi khóc măng,
Nghĩ thôi, Châu lại dùng dằng gươm buông.
Dạy rằng: “ Cám cảnh huyên đường,
Đây tha cho, kíp hoàn hương cày bừa.
Sớm hôm đạm bạc muối dưa,
Cháo rau dền muống, phụng thờ từ thân”
Lau già gió ríu tiếng ngân,
1450- Nước xô đá dựng chim rừng líu lo.
1451- Ngàn hoa nội cỏ thơm tho,
Hương trinh nguyên, nụ mấy giò lan xinh.
Tiếp lời: “ Chưa rõ tánh danh,
Không đồng trang lứa, chẳng tình bút nghiên.
Trời xui cá nước bén duyên,
Bá Dương sương ấm, Tập Hiền trăng trong.
-“ Giấu chi, tên họ Vu Đồng,
Theo đòi cử nghiệp, nối dòng thơ hương.
Kê vàng tỉnh mộng canh sương,
1460- Nhát gươm đoạn mạng, sa trường vùi thân.
1461- Thong dong phủi sạch bụi trần,
Non Đoài treo kiếm, sông Ngân rửa đòng.
Cất cung, lánh đục tìm trong,
Thơ vương khói trúc, trăng lồng mành hoa”
Tức thì nghiêm lịnh ban ra,
Truyền quân mở cửa tù xa ngay liền.
Nặng nề lạch cạch xích xiềng,
Hai người gầy yếu, gông riêng chung cùm.
Bơ phở, cổ mỏi lưng khum,
1470- Oai phong đâm sấu bắt hùm còn đâu!
1471- Ngỡ là làm quỉ không đầu,
Hay nằm ngục hẹp, đếm sầu qua tay.
Đời không quen, ngự cõi ngoài,
Ngày ngồi tù, tính ra dài trăm năm.
Vây quanh bóng tối âm thầm,
Bên trời vạc lẻ, tiếng cầm canh thưa.
Thềm rêu tí tách hột mưa,
Vắt tay qua trán, thức thừa trắng canh.
Ao vườn nghiêng bóng bông chanh,
1480- Tấc gang,- mình lại vô tình. Xót xa.
1481- Hết lưu lạc lại chung nhà,
Chồi mai năm cũ trổ hoa đúng tuần.
Trời trong xanh, nắng trong ngần,
Hạc giương cánh rộng ôm vừng mây cao.
Châu rằng: “ Bốn biển kết giao,
Gót trần muôn nẻo, anh hào bốn phương.
Đâu cần cùng sách chung trường,
Cỏ bồng gió cuốn, bước đường rủi may.
Ta cùng với họ Vu đây,
1490- Đọ so đao kiếm, vui vầy tình thân”
1491- Vu Đồng bẽn lẽn tới gần,
Cúi đầu ra mắt tỏ phân sự tình:
-“ Lụa, vàng chở thẳng Yên kinh,
Giao anh em cứ mặc tình định phân”
Châu rằng: “ máu tủy lê dân,
Giặc kia quào hốt, giành phần tư riêng.
Sống quen đơn bạc cửa thiền,
Ta không tham đắm những phiền lụy đâu.
Chia cho lính tráng đều nhau,
1500- Làm tiền lộ phí quay đầu về ngay.
Thôn làng, mái ấm dựng xây,
Hái rau bắt ốc, tháng ngày náu nương,
Chớ đem thân bỏ chiến trường,
Đừng khơi sông máu núi xương từ rày.
Bao nhiêu da ngựa bọc thây,
Gan vàng mạng bạc trận này vừa xong.
Gót đầu phủ đắp lụa hồng,
Sang hèn chẳng kể, chôn cùng một nơi.
Lúc còn, dọc đất ngang trời,
1510- Ai thờ chúa nấy, chuyện đời trớ trêu.
1511- Vô thường hồn quỉ réo kêu,
Trút tàn hơi thở, thảy đều như nhau.
Liệm khâm chôn cất gò cao,
Cắm bia, vun núm, vẹn câu ân tình.
Mai kia, tàn lụi lửa binh,
Nắm xương cải táng di hình đất quê”
Vu Đồng cảm đức muôn bề,
Dùng dằng chưa muốn dứt về cố hương.
Châu rằng: “ Sốt nắng lạnh sương,
1520- Mẫu từ giọt nhớ giọt thương từng giờ.
Ruổi giong gặp gỡ ai ngờ,
Di Ngô, Bảo Thúc, hẳn chờ một mai”.
Nắng nghiêng nghiêng đổ bóng dài,
Đầu non bịn rịn chia hai lối đời.
Ngập ngừng chiếc lá vàng rơi,
1526- Tơ mành nương gió,- Phương trời nào đi?



CHÚ THÍCH:


-Sơn thôn: làng xóm vùng rừng núi.
-Hậu liêu: phòng nghỉ ngơi của sư trụ trì phía sau chùa.
-Chánh sự: việc chánh trị diễn biến trong nước.
-Hí trường: nơi mọi người vui chơi.
-Thiên thời: thời cơ do sự vận hành của vũ trụ đưa đến.
-Địa lợi: những thuận lợi do đất đai, hoàn cảnh xã hội.
-Nhơn tâm: lòng người.
-Giáp nhung: áo giáp và binh khí; chỉ việc quân sự.
-Mưa dông nào trọn một ngày: lấy ý trong hai câu trong Đạo đức kinh của Lão tử:
“ Phiêu phong bất chung triêu,
Sậu võ bất chung nhựt”
( Gió mạnh không kéo dài hết buổi sáng, mưa rào không kéo dài trọn một ngày),-ý nói thời gian qua mau, mọi việc xảy ra sẽ kết thúc mau lẹ.
-Chinh phạt: kẻ có chánh nghĩa đi đánh dẹp giặc.
-Hồi loan: (vua) trở lại kinh đô.
-Sức bình sanh: sức lực có sẵn lúc còn sống,
-Cơi: (từ Nam bộ)- nâng cao lên.
-Dụi: làm cho tắt.
-Cửa sài: cầu gỗ.
-Xây: (từ Nb)- quay tròn.
-Lóng tai: (từ Nb)- lắng tai để nghe rõ.
-Điểm tra: coi lại, đếm lại.
-Tùy tướng: các tướng thuộc cấp đi theo tướng soái.
-Cắt: (cg: chim bồ cắt)- loại chim ăn thịt sống, lanh lẹ trong việc săn mồi, thường
sà xuống bắt gà con.
-Phi tiêu: loại ám khí có cạnh sắc bén, dùng để quăng ném, sát thương địch thủ.
-Cầm đồng: ngang ngửa, chưa phân thắng bại.
-Tam tinh: ngay giữa trán.
-Thanh thảo lạc hoa: hoa rơi trên cỏ xanh,-ý nói rơi nhẹ xuống đất.
- Giá: giáng xuống nhưng không đánh.
“ một cái gía bằng ba cái đánh” (tục ngữ)
-Đốc roi: cán roi, cán cây côn.
-Liêm tuyền: huyệt nằm dưới cuống họng.
-Quan nguyên: huyệt nằm dưới rún (rốn)
- Cương đao phạt mộc: dao cứng róc vỏ cây,- một lối chỉ pháp sè các ngón tay
gồng cứng, chém vào địch thủ bằng cạnh bàn tay.
- Ấn đường: huyệt nằm chỗ hai mi mắt giao nhau.
-Long toàn: tên thanh gươm quí, cùng một cặp với Thái A.
-Tinh luyện: khéo léo, chính xác tối đa.
-Mai thung: tức Mai huê thung, một lối đánh võ của hai người trên giàn cột gỗ chôn đứng.
-Chỉ Khô lâu: một lối chỉ pháp gồng cứng và co các ngón tay lại nhưng không nắm chặt vào lòng bàn tay.
-Kim kê tấn: một lối đứng tấân trụ bộ trên một chân, còn chân kia co lên.
-Rập ràng: (từ Nb)-ăn rập, nhịp nhàng với nhau.
-Hiệp tiên: hiệp đầu.
-Khắc bông: tấn công trước.
-Nghịch lân cước: đòn đá ngắn, từ dưới thốc lên.
-Long thăng hổ giáng: tên một chiêu thức trong Mai hoa quyền.
-Chưởng: lòng bàn tay.
-Song chỉ: một chỉ pháp giương hai ngón tay trỏ và giữa ra để đâm vào các huyệt trọng yếu của địch thủ.
-Chớn thủy: chỗ lõm phía dưới ngực.
- Nhứt tề: cùng một lúc, cùng một lượt.
-Bình lâm hạc lập: tên một thế võ đỡ đòn gồm có:
-gạt tay trái từ phía phải qua ngang mặt,
-gồng cứng và giương thẳng tay phải, gạt mạnh từ trái qua phải ngang qua bụng và hạ bộ.
- Lao cung: tên một huyệt đạo nằm trong lòng bàn tay.
- Phong trì: huyệt nằm ngay hành tủy, phía sau sọ đầu.
- Độc chiêu: đòn ác hiểm.
-Đà đao trá bại: một chước dùng trong binh, giả thua bỏ chạy. Nếu địch thủ đuổi sát theo, thì xuất kỳ bất ý quay ngược trở lại, vung đao chém chết địch thủ.
-Chảo mã: một thế đứng tấn, một chân trụ bộ còn chân kia nhón lên.
-Phụng hoàng sè cánh: (cg: phụng hoàng triển dực)- lối thủ hai tay dang rộng.
-Hạ tiêu: một trong tam tiêu: thượng tiêu: phía trên cuống bao tử; trung tiêu: phần giữa bao tử; hạ tiêu: phần dưới bao tử.
-Tấn hữu bộ: tiến về phía trước, bước chân phải về trước.
-Đại chùy: tên một huyệt nằm sau ót (gáy).
-Bổn gia: tiếng tự xưng.
-Phách lạc non thần: chết.
-Ngàn dâu bóng xế: do chữ: “ Nhựt lạc tang du (dịch: bóng ngã nhành dâu),-chỉ người lớn tuổi hoặc cha mẹ già yếu.
-Mây non Tần: (cn: mây núi Tần Côn lãnh ),-chỉ người mẹ hoặc lòng nhớ mẹ (đã dẫn tích Địch Nhơn Kiệt phần trước ).
- Cơ mầu: máy trời mầu nhiệm.
-Cảm hoài: lòng thương cảm.
-Nghiệp chướng: (Phật)- những trở ngại khó khăn mà kiếp người phải gánh chịu.
-Núi Dĩ: chỉ người mẹ,-lấy ý trong Kinh Thi.
-Muối dưa dền muống: chỉ cuộc sống đạm bạc.
-Bá Dương: tức gành Bá Dương, nơi Bá Nha gặp Chung Tử Kỳ lần đầu.
-Cải táng di hình: hốt xương cốt dời đi nơi khác để chôn lại.
-Di Ngô, Bảo Thúc: tức tình tri kỷ giữa Quản Trọng (tên chữ là Di Ngô) với Bảo Thúc Nha.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 24 2011, 08:56 PM
Gửi vào: #14


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





F- VỀ CÀN LÃNH

1527- Dựa lưng nhắc phút phân kỳ,
Ngày trôi chẫm rãi, bóng đi la đà.
Xuống đồi lửng thửng đường hoa,
1530- Lối mòn cỏ cụt, hương hòa bước khoan.
1531- Chim hôm tíu tít kêu đàn,
Cây thoi thóp nắng, lau vàng gió ru.
Non chiều sẫm nét âm u,
Đêm giăng màn phủ mịt mù thấp cao.
Rằng: “ Sông núi vạn nẻo sầu,
Gió tanh mưa máu cuộn trào bùn nhơ.
Thước gươm mài ánh trăng mờ,
Tâm rèn chí luyện, rồng chờ lên mây.
Hùm thiêng bó gối trói tay,
1540- Gan moi giữa chợ, voi giày Yên kinh.
1541- Quẩn quanh vũng cạn bọn mình,
Ao lầy giấu mặt, linh đinh phận bèo.
Chua cay ôm phận gieo neo,
Lưng kề nanh sói, cẳng đèo xích gông.
Son kia nghiền nát vẫn hồng
Trúc ngay dẫu cháy vẫn không đổi hình.
Đường vô đất Thục gập ghình,
Vách cao đá dựng, hành trình gian lao.
Biển sâu trời thẳm một màu,
1550- Dẫu bao nhiêu rộng, ôm vào vòng tay.
1541- Đảnh mây Càn lãnh chốn này,
Cây xanh bóng mát, tháng ngày tạm dung
Ba đào sấm động đùng đùng,
Cỡi đè sóng dữ,-lòng chung một lòng.
Mất còn quyết trận nên công,
Xăn tay đuổi cọp, diệt dòng Khiết Đan.
Cào bằng muôn ngọn Thiên san,
Ngựa thù bặt dấu ải lang ra vào.
Khí hùng sánh Thái sơn cao,
1560- Quên thân vì nghĩa, anh hào mới đang”
1561- Đường dê lối thỏ dọc ngang,
Gió mơn đầu cỏ, sương choàng ấp vai.
Đỡ lòng, cá suối măng mai,
1564- Thân nằm lều gỗ, hồn ngoài biên cương.



G- CỬA THIỀN SANH BIẾN.

1565- Đói no dầm dãi dặm trường,
Ruổi mau dặm thẳng, gió nhường bước chân.
Tới chùa, chưa cạn lời phân,
Sư già bấm đốt, ngón lần can chi.
-“ Cứ theo hình tướng mà suy,
1570- Sắc thần u ám, giao mi tối sầm.
1571- Đánh tay tám cửa chẳng lầm,
Tử môn giờ Tí ngày rằm bữa nay.
Mười phần rủi, một phần may,
Kiếp người chắc gánh chịu dài gian nan.
Quảy bầu, xách gói hành trang,
Đông Nam nhắm hướng lên đàng ruổi giong.
Thấy chùa bốc ngọn lửa hồng,
Tiếng tru lang sói, mây lồng tàn tro.
Là con mau lẳng lẹ giò,
1580- Cao bay xa chạy, mặc cho phận thầy.
1581- Gốc tàn mong lá xanh cây,
Sum sê chồi nụ, đợi ngày đơm bông.
Từ nay, ghi khắc vào lòng,
Bước ra cẩn thận, vào trong giữ gìn.
Dao con giắt gọn theo mình,
Đội khăn đạo sĩ, thay hình lái buôn”.
Ôm chơn thầy, nước mắt tuôn:
- “Trốn đi để lại cảnh buồn nào an.
Xin cùng trải mật phơi gan,
1590- Dẫu cho khổ lụy muôn ngàn cũng ưng.
Báo đền ơn nặng ba xuân,
Công lao nuôi dạy chín từng mây xanh”.
Sư rằng: “ Lời dạy đinh ninh,
Gánh gồng việc lớn, mới đành dạ ta.
Đeo mang tánh nết đàn bà,
Khóc than kể lể ắt sa lưới chồn.
Vui sau, lo trước mới tròn,
Nghe đây lời cuối, mới còn ngày mai.
Cõi đời chướng mắt trái tai,
1600- Không cam chịu nhục, ắt hoài thân danh.
1601- Mong manh một sợi tơ mành,
Chiếc thân tứ đại, bèo gành mê tân.
Bùn nhơ lem ố gót trần,
Có không, không có, chớp lưng trời tà.
Sáu mươi tuổi, kể đã già,
Lá vàng nguyền ấp ủ hoa đương thì.
Tránh xa tai họa mau đi,
Cáo bầy khó chọi,-ích gì cho ta.
Lại thêm rắc rối khó mà
1610- Biện minh vụ cướp tù xa vừa rồi”
Giọt buồn cay mắt mặn môi,
Bóng thơ thẩn bóng lưng đồi trăng cao.
Thoắt rồi giờ Sửu đêm sau,
Quân binh đầy nẻo, xôn xao giáp vòng.
Bầy vò vẽ, lũ bọ hung,
Kích chong, mâu chĩa vào trong Phật đài.
Lăm lăm kiếm tuốt cầm tay,
Đạp bung phên cửa, bủa vây thơ phòng.
Sư già ngước mắt lên trông,
Tướng Yên mày xếch dáng dong dỏng người.
Da ngăm, trạc phỏng bốn mươi,
Râu rìa quai nón, mắt ngời hung quang.
Hét hò chỉ dọc trỏ ngang,
Thò tay nắm cổ hỏi quàng hỏi xiên:
-“Ẩn thân, núp cảnh chùa chiền,
Mưu ma chứa chấp một tên gian tà.
Giả danh dựa bóng Di Đà,
Giết quân chém tướng máu sa thây chồng.
Cướp tù xa, đoạt của công,
1630- Ngoài mồm niệm Phật, trong lòng gươm đao”
1631-Sư già lặng lẽ cúi đầu,
Rằng: “ Lòng ngay thiệt, dám đâu vạy tà,
Rộng thương bãi cát Hằng hà,
Lượng trên bớt giận, nghe qua đôi lời.
Xin truyền lục soát mọi nơi,
Vạch tìm tung tích của người tình nghi.
Bần tăng chịu án lăng trì,
Luật vua phép nước dám gì kêu oan.
Ví bằng chẳng có quân gian,
1640-Để cho đây được an toàn mạng căn”
1641-“Bày trò nói cuội nói trăng,
Vòng vo Tam quốc lằng nhằng đâu đâu”
Ngoắt tay, quân sĩ ùa vào,
Giở tung thiền viện, bới đào phòng trai.
Lôi sư ra trước hiên ngoài,
Oang oang xuống lịnh bày ngay cực hình.
Roi da túi bụi vấn mình,
Máu tuôn thịt nát, mới đành chịu đi.
Mỏ giỏ giảnh, giọng khinh khi,
1650- “ Nạp giao tội phạm tức thì lên quan.
Điêu ngoa giữ thói ương gàn,
Bổn quan há để bình an chùa chiền”
Ồn ào tốc thẳng ra liền,
Sư lim dim mắt tham thiền giữa sân.
Đắn đo thôi lại cân phân,
Bó tay chịu nhục cũng gần ngu si.
Cờ cùng phải chọn nước đi,
Bỏ mình theo nghĩa, oai nghi trận tiền.
Thắp hương, quì lạy khấn nguyền,
1660- “ Con nay chưa dứt oan khiên bụi trần.
Cây im, gió lấn lướt lần,
Ao sen tĩnh lặng, rần rần lửa sôi.
Nhớ xưa phát nguyện trọn đời,
Gởi thân cội phước, lánh nơi bụi hồng.
Nương thuyền Bát nhã một lòng,
Dẹp ma lục dục, thoát vòng vô minh.
Nặng nề duyên nghiệp phù sinh,
Họa tai chờ chực bên mình biết đâu!
Ngửa trông Tam bảo nhiệm mầu,
1670- Chứng con tu xuất, hồi đầu thế gian.
Cà sa, y bát, chuỗi tràng,
Rày xin trân trọng giao hoàn Phật gia.
Lòng thành niệm chữ Di Đà,
Ban mười tinh tấn độ qua cơ cầu”
Giọt rồng chậm chạp đêm thâu,
Xếp bằng nhắm mắt tới đầu canh tư.
Hạ tuần trăng lợt màu tơ,
Vấn vương song quạnh, lờ mờ sương bay.
Chênh vênh đơn chiếc sao mai,
1680- Non Đông đậm bóng, chơn mây tỏa hồng.
1681- Chỉnh trang võ phục vừa xong,
Dung nghi lẫm liệt, oai phong dường đường.
Giắt mình thép lạnh Can Tương,
Nhẹ nhàng nhón gót ngọn tường nhảy qua.
Lù mù truông vắng hiện ra,
Ngựa người rón rén dò la bước thầm.
Núi rừng lặng tiếng trầm ngâm,
Đục mờ mây lạnh ôm chầm đồi hoang.
Hai tên hộ vệ mở đàng,
1690- Sư già máu cuộn buồng gan hận thù.
1691- Nhắm đầu côn sắt bay vù,
Võ quan bên trái lăn cù khỏi yên.
Bay vèo, ngọn dáo phóng xiên,
Bổ nhào, tên khác chết liền theo sau.
Khiếp kinh dựng tóc xuôi râu,
Văn Toàn chưa biết lẽ nào liệu toan.
Lôi thôi vừa tới tam quan,
Nghe dài tiếng hú lửng ngang lưng trời.
Ngân xa đồng vọng núi đồi,
1700- Ngàn sao giá lạnh vượt ngoài Thái hư.
1701- Trên đầu tháp cổ phất phơ,
Tuyết pha sắc áo, trăng mờ ngọn côn.
Ấm hơi, dõng dạc ôn tồn,
Sấm gầm giọng nói, sóng dồn cỏ hoa:
-“ Bọn bây quen thói gian tà,
Đêm hôm dẫn xác làm ma không đầu.
Sá gì một mảnh áo nâu,
Lùa quân vô tội dãi dầu dặm sương.
Hai tên dẫn lối ngông cuồng,
1710- U mê chết bụi, chết đường nát thây.
1711- Chồn gian sói ác lũ bầy,
Chó nào chủ nấy, tớ thầy khác chi.
Bày trò dâm loạn cung vi,
Lung lăng tiếm vị kể chi đất trời,
Manh tâm thay bực đổi ngôi,
Đảo điên phong hóa, suy đồi lễ văn.
Quê nghèo cực khổ nào bằng,
Mang chài mang lưới, miếng ăn tồi tàn.
Cao lương mỹ vị mỡ màng,
1720- Sâu dân mọt nước, tham quan cửa quyền.
1721- Của chung chèn nhét túi riêng,
Lửa châm sách vở thánh hiền ra tro.
Nực mùi giọng lưỡi côn đồ,
Dáo gươm giết kẻ thế cô hiền lành.
Giàu sang vinh hiển riêng mình,
Chết còn trối kệ, mặc tình dân đen.
Ngôi cao lũ mọi ương hèn,
Học đòi cờ quạt, trống kèn, ngựa xe.
Non Nam đốn rụi nứa tre,
1730- Cũng chưa chép hết tội bè Khiết Đan.
1731- Biển Đông nước xoáy sóng tràn,
Gụt đâu sạch thói tham tàn bọn bây.
Áo tơi quần mướp xưa nay,
Khuất tròng danh lợi, bịt tai chuyện đời.
Thong dong, chùa ẩn mây trời,
Công phu chuông sớm, rong chơi ban chiều.
Vừa rồi, giặc cỏ lắm điều,
Chùa chiền bươi nát, đơn biều đập tan.
Ỷ đông, hại kẻ quả quan,
1740- Chó bầy háu cắn,-nghĩ càng thương thân.
1741- Nay ta phát nguyện một lần,
Giúp dân trừ bạo, diệt quân phản loàn.
Mày râu chí cả trót mang,
Sợ chi giữa trận, Long toàn gãy đôi.
Lòng tong cá chốt mê mồi,
Tham ăn rốt cuộc thây trôi theo dòng.
Bốn phương nhen nhúm lửa hồng,
Dang tay góp gió, bão dông sẽ tràn.
Là ngày hùm rũ xương tàn,
1750- Thuồng luồng mục xác trong hang âm thầm.
1751- Lằng ruồi, ong kiến bặt tăm.
Non chờ nước đợi,-ngàn năm thái bình”.
Văn Toàn xuống lịnh Yên binh,
Lui ra trống trải, tự mình ứng cơ:
-“ Bổn quan nóng ruột trông chờ,
Đọ so cao thấp nước cờ tranh tiên.
Mựa đừng múa mỏ nói điên,
Long tranh hổ đấu một phen mới là”
Nhẹ nhàng thân pháp lạc hoa,
1760- Lão sư đáp xuống cách ba trượng ngoài.
Mày thanh, mắt phụng, hình mai,
Tiên phong đạo cốt, râu dài trán cao.
Nắng vàng ửng mặt hồng hào,
Trường côn lạnh thép, bạch bào in sương.
Văn Toàn cao ngạo dương dương,
-“ Gần chun xuống lỗ, tranh phuông nỗi gì?
Biết điều, đầu mọp gối quì,
Rước chi cái chết thây thi chẳng toàn?”
Sư già dõng dạc hiên ngang:
1770-“ Tuổi cao tác lớn cũng trang anh hùng.
Xỏ xâu đầu giặc Tây nhung,
Tiếng đêm hạc vọng chạy ùng quân Liêu.
Ngã màu bông, tóc Ban Siêu,
Vung ba thước kiếm đạp xiêu lũy thành.
Biên thùy bọn phỉ nghiêng mình,
Bốn phương Triệu Kiệt oai danh ngất trời.
Nay ta nói gọn một lời,
Giết mi rửa hận, cứu đời mới an”
Văn Toàn lửa giận dẫy tràn,
1780- Kiếm vung bổ dọc chém ngang mấy đường.
1781- Lung linh thép ánh lồng gương,
Vèo vèo gió rít, đẹp dường hoa bay.
Lão sư cử nhẹ côn dài,
Nhún mình nhảy trái ra ngoài tầm gươm.
Tướng Yên long mắt lườm lườm,
Múa tròn binh khí nhảy chồm giao phong.
Vực sâu, sấu dữ lộn lồng,
Cũng đâu dễ bắt chim hồng mây cao.
Nghiêng mình xao động áo bào,
1790- Phi tiêu một ngọn vụt ào khỏi tay.
1791- Thổi làn hơi nhẹ heo may,
Nửa thanh kiếm gãy văng ngoài nằm phơi.
Vội vàng cẳng sải tay bơi,
Văn Toàn chụp ngọn kích nhồi sau lưng.
Của tay tùy tướng nạp dưng,
Mím môi cười gượng muôn phần hổ ngươi:
-“ Sắt non dám sánh vàng mười,
Bao lăm tài bộ coi trời bằng vung?”
Ầm ầm sấm động mây đùn,
1800- Răng beo dưới thấp, vuốt rồng trên cao.
1801- Côn dài đùa ngọn sóng trào,
Mưa tuôn cội liễu, gió gào rừng thông.
Sư già qua lại, thủ công,
Tay côn thoăn thoắt lượn vòng cương nhu.
Gậy vung đánh đỡ vù vù,
Thích vào giữa trán Phiên nô mấy lằn.
Nhặt thưa, tay điểm hoa văn,
Viết thành chữ “ cẩu” in hằn máu hoen.
Tai mèo cắt đã hai phen,
1810- Tía tai đỏ mặt nổi điên đùng đùng:
-“ Hiểm sau thay! Lão trọc khùng,
Tu hành dối trá, dạ lòng gian ngoan.
Thù sâu muôn kiếp nào tan,
Giết mi mổ mật móc gan rửa hờn.
Chùa đâu ngách sói hang chồn,
Một bầy ma quỉ, một phồn hổ lang”
Kíp truyền thuộc hạ dàn ngang,
Xôn xao nỏ kéo, rộn ràng cung giương.
Liều thân dốc chí tranh cường,
1820- Sống hùng nào quản bước đường chông gai.
1821- Thâu toàn sức lực vào tay,
Ngọn đao trủy thủ vụt bay lộn vòng,
Văn Toàn sơ ý chẳng phòng,
Trúng thương, ngực đẫm máu hồng, ngã lăn.
Chống kình mỗi phút nhọc nhằn,
Tới lui chậm chạp, rào ngăn vụng về.
Am mây lửa dậy bốn bề,
Phủ dày cả cội bồ đề khói cay.
Tan hoang chánh điện, lễ đài,
1830- Tàn tro theo gió đồi ngoài lũng trong.
Mũi lòng, lụy nhỏ ròng ròng,
Liếc ngang đoái cảnh, tấc lòng vò tơ.
Đương cơn giựt dáo cướp cờ,
Sa tay, sểnh miếng, hẳn giờ tử vong.
Thờ ơ đạn sắt tên đồng,
Hồn nương cánh hạc non Bồng đi xa.
Đền xong nghĩa nước tình nhà,
Vuông tròn Đời, Đạo,-Vẹn ta vẹn người.
Mắt thanh thản ngắm nhìn đời,
1840- Chống côn ễn ngực giữa trời như không.
1841- Trắng tinh mây mây nổi bình bồng,
Thời gian nuối,- vẫn xuôi dòng, ai hay.
Cội thông vóc thẳng lá dày,
Cúc vàng mấy đóa lạc loài bờ hiên,
Đức Từ bi đã chứng miêng,
1846- Nước Cam lồ rưới, nghiệp duyên an bài




CHÚ THÍCH:

- Thiên san: Trung quốc có hai dãy Thiên san:
1-dãy núi cao giáp giới Trung quốc và Triều Tiên, có ngọn Ma thiên lãnh.
2-dãy núi cao ở Tân Cương.
-Tứ đại: nhà Phật quan niệm thân thể con người do tứ đại giả hợp. Đó là: địa (đất), thủy (nước), hỏa (lửa) và phong (gió).
-Cáo bầy khó chọi: lấy ý trong câu: “ Mãnh hổ nan địch quần hồ” (Cọp mạnh khó chống lại bầy chồn).
-Có không, không có chớp lưng chiều tà: lấy ý trong câu thơ thiền đời Lý:
“ Thân như điện ảnh hữu hoàn vô”
( Thân như ánh tia chớp, có rồi lại không).
- Hằng hà: tức sông Gange, tên con sông lớn ở Ấn Độ. Kinh Phật có chữ “Hằng hà sa số” (số hột cát của sông Hằng ), ý nói nhiều vô kể.
-Lăng trì: lối hành hình bằng cách lóc thịt.
-Cực hình: hình phạt khảo tra nặng nề như dùng gậy đánh, kẹp ngón tay, bắt đi trên củi lửa đang cháy hoặc căng tay chân bằng giùi nọc để đánh.
-Oan khiên: gánh nặng ức oan.
-Lục dục: Phật quan niệm có sáu thứ bụi bặm: sắc (màu mè), thanh (tiếng), hương (mùi thơm), vị ( cái mà lưỡi nhận được), xúc (sự sờ mó ), pháp (điều cảm nghiệm được nhờ trí suy nghĩ ).Mong muốn được lục trần là lục dục. Lục dục thâm nhập vào người do lục căn (sáu cội rễ): nhãn (mắt), nhĩ (tai ), tỉ (mũi ), thiệt (lưỡi ), thân (cơ thể), ý (tư tưởng).
-Vô minh: sự u tối, không sánh suốt, không nhận ra chân lý của cuộc đời.
-Chánh tinh tấn: sức mạnh huyển bí của đạo pháp, một trong Bát chánh đạo.
- Cơ cầu: cảnh ngang trái.
-Lăn cù: (từ Nam bộ)- lăn tròn như quả cầu.
-Câu 1700: lấy ý trong hai câu thơ của Sư Không Lộ đời Lý:
“ Thương thời trực đáo cô phong đảnh,
Trường khiếu nhứt thanh hàn Thái hư”
( Ta thường đi thẳng lên ngọn núi cô độc,-
Hú một tiếng dài lạnh cả bầu trời )
- Cung vi: cung cấm của nhà vua.
-Tiếm vị: chiếm lấy ngôi vị một cách bất hợp pháp,
- Lung lăng: hung dữ, ngang ngược.
-Mang chài mang lưới: (từ Nam bộ)- áo quần rách tả tơi.
- Rụi: (từ Nam bộ)- tàn lụi, không còn gì.
-Gụt: (từ Nam bộ ), (Đ.ng: gột)- giặt sạch chỗ lấm dơ.
-Quả quan: ( quả: đàn bà góa chồng; quan: đàn ông góa vợ )- ý nói kẻ cô thế, không chỗ dựa nương, không người giúp đỡ.
- Lòng tong cá chốt: hai loại cá nhỏ,- chỉ hạng người đáng khinh chê.
-Ứng cơ: đối phó với tình thế.
- Long tranh hổ đấu: cuộc đọ sức giữa rồng và cọp.
-Mựa đừng: (từ cổ)- đừng nên.
- Trượng: đơn vị đo chiều dài ngày xưa.
- Tranh phuông: cách phát âm của người Nam bộ khi đọc chữ tranh phong (tranh thắng bại trong cuộc chiến).
- Phi tiêu: loại binh khí nhỏ, bằng kim loại có cạnh sắc bèn dùng để phóng ném sát thương địch thủ.
-Trủy thủ: dao ngắn.
- Thủ công: giữ mình và tấn công.
-Cương nhu: cứng và mềm.
-Ngách: lối thông nhỏ để thoát khỏi hang ngoài cửa hang chánh.
-Ễn: (từ Nb)-ưỡn ra, nẩy ra.
-Chứng miêng: cách phát âm của người Nam bộ xưa khi đọc chữ chứng minh.
- Nước Cam lồ: tức nước Cam lộ (giọt sương ngọt) trong bình tịnh thủy của Phật bà Quan Âm dùng nhành dương rưới để tiêu trừ nghiệp chướng cho chúng sanh.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 25 2011, 01:09 AM
Gửi vào: #15


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





HỒI THỨ BA

ĐẤT THẠNH HÒA, TƠ ĐÀN VẦY NGHĨA NẶNG,
ĐỒI HUỲNH MAI, THƠ PHÚ KẾT TÌNH SÂU.



A- CUNG CẦM HUYỀN DIỆU
.


1847- Rừng xanh nắng nhuộm đầu cây,
Lâm râm bóng đổ loang đầy lối qua.
Chim chuyền ríu rít ríu ra,
1850- Ánh vàng nhuộm đóa sương hoa trong ngần.
1851- Giữa trưa, khói ngất mấy từng,
Tàn rơi lả tả, lượn vần tro bay.
Thót lên mút ngọn lóng tai,
Rõ ràng chùa Phật phương Đoài lửa thiêu.
Lòng đau thắt thẻo chín chiều,
Thương thầy dông bão đánh liều ra khơi.
Nghĩa ơn đọ biển sánh trời,
Tuồng tan hợp, những bồi hồi giấc Xuân.
Nhớ xưa trăng giải hiên sân,
1860- Vịnh đề lan cúc, họa vần phú thi.
1861- Hiểu lòng, non nước Chung Kỳ,
Đức so Quan Vũ, tài bì Khương công.
Duyên ưa bèo bọt chung dòng,
Tưởng siêu ba cõi lại trong Vô thường.
Rủi may, thầy đã liệu lường,
Một mình ngăn giặc, nửa đường bỏ thân.
Hồn vương mây Sở gió Tần,
Vực ma vía lạc, đảnh thần phách xiêu.
Buồm nghiêng đậu bến đìu hiu,
1870- Xác xơ cành cội, phiêu diêu thác gành.
1871- Phẳng bằng đá mướt rêu xanh,
Tùng che mát rượi, trúc xanh la đà.
Rèm mây say uống nắng tà,
Âm thầm nát vụn, rã hòa sóng xô.
Chiều lam, nước vẽ non tô,
Gió thông rủ rỉ mơ hồ đồi xa.
Dòng nghiêng núi dợn ráng pha,
Ngại ngần nhạn lẻ lướt qua thác ngàn.
Thân cò lầm lủi bước hoang,
1880- Cồn cào bụng đói, bàng hoàng nỗi riêng.
1881- Ngày về, bạc phận rủi duyên,
Biết đâu lá mục, lời nguyền trôi xuôi!
Cỏ non thong thả tạm ngồi,
Tưởng vơ nghĩ vẩn, ngắm trời chiều hôm.
Mơ màng động nhẹ lá thơm,
Hương thoang thoảng phất mấy chòm vô danh.
Mơn man bướm muộn lượn vành,
Có không?- Vẳng tiếng tính tình đâu đây.
Phấn thông ngào ngạt tỏa dây,
1890- Màu chiều sâu lắng, trầm bay ngón ngà.
1891- Tàn sim lả ngọn trải hoa,
Nhạc lồng lá thấp, bóng sa nửa vời.
Sà len lá, chết chân đồi,
Ngàn Tây thăm thẳm tiếng rơi bông cà.
Chim hôm oải cánh non xa,
Im hơi,-tiếng quyện la đà khói tuôn.
Tơ chùng, rời rã giọt buồn,
Trong veo âm hưởng, thoắt luồn tre xanh.
Ngổn ngang, xác rữa xây thành,
1900- Thời gian lắng đọng vô tình lướt đi.
1901- Héo xàu bờ vắng rậm ri,
Vàng pha núm đất bến Phì bơ vơ.
Ướt nhành sương sớm tinh mơ,
Lệ con bướm trắng đẫm tờ hoa tiên.
Tiếng khoan như rót ưu phiền,
Đầu môi tri kỷ tình riêng giải bày.
Thì thầm lách tách hiên ngoài,
Mưa đêm quạnh bóng trăng cài sườn non.
Thẩn thờ tim lụn hao mòn,
1910- Khăn tang ly phụ tươi dòn nét Xuân.
1911- Dựa song dõi bóng chinh nhân,
Vùi nghiêng manh giáp, tử phần bặt tăm.
Điệu dời, giọng đổi thanh âm,
Vó câu biên ải thoắt rầm rập qua.
Vèo đầu ngựa, tách cung ngà.
Phăng phăng xé gió bay xa tên đồng.
Bãi hoang muôn dặm trăng lồng,
Mảnh buồm khát gió, cánh hồng lùa mây.
Hơi dồn dập, nhịp mê say,
1920- Rung ngân vàng sắt cõi ngoài quan san.
1921- Đường tơ rộn rã băng tan,
Ngàn xe xông trận giẫm toang sông hồ.
Hơi may phớt nhẹ cành ngô,
Vút cao, trốt vặn cơ hồ giữa mây.
Lưng trời réo vọng năm dây,
Mong manh còn lạc một hai phách thừa.
Sật sừ mộng mị còn lưa,
Tỉnh say say tỉnh hương xưa diệu huyền.
Tiếng đờn giá lạnh lặng yên,
1930- Chiều lên vắng vẻ, rừng thiêng bồi hồi.
1931- Thời gian núm níu không trôi,
Mây đờ đẫn xám, sao trời bâng khuâng.
Đưa hồn mê hoặc ảo chân,
Cõi lòng thay đổi mấy lần giác mê.
Đờn ngưng, người hóa ngô nghê,
Không gian chết đứng giữa bè ngũ cung.
Thoát ra khỏi giấc mơ mòng,
Cây cao đặc gốc, chập chùng núi hoang.
Đè lau băng dọc lách ngang,
1940- Tới gian nhà nhỏ có giàn dây leo.
1941-Màn đêm đen bủa mái nghèo,
Lá đưng chằm lợp, tranh pheo bện dừng.
Đơn sơ đồ đạc dọn chưng,
Đương khuôn bàn ghế, kết từng phên tre.
Gió lay lắc nến lập lòe,
Phòng ngoài tĩnh mịch bốn bề im hơi.
Không ăn uống, chẳng nghỉ ngơi,
Mỏi mê đầu óc, rã rời chơn tay.
Vịn nương vỗ nhẹ cửa sài,
1950- Mắt hoa đóm đỏ, quỵ ngay xuống thềm.
1951- Nhà trong nghe động mái rèm,
Hiên mai cầm chắc đang đêm có người,
Vội vàng chưa kịp nửa lời,
Khêu cao thêm ngọn, sáng ngời đèn thông.
Kíp truyền đưa gã vào trong,
Vớt chim gãy cánh dưới dòng nổi trôi.
Khắp mình chẳng chút mồ hôi,
Da hâm hấp nóng, đôi môi thâm sì.
Mê man khép chặt làn mi,
1960- Mặt mày tái lét, mạch đi động huyền.
1961- Hàn tà xâm nhập chơn nguyên,
Khí dương khô kiệt, bịnh liền phát sanh.
Giữa đường gặp chuyện chẳng lành,
Trái tai gay mắt bất bình chi đây.
Nhẹ nhàng giựt mớ tóc mai,
Gõ quanh mắt cá cả ngoài lẫn trong.
Gừng già chà cạo đuổi phong,
Bóp quanh Hiệp cốc, khai thông Đại chùy.
Cạy răng đổ thuốc tức thì,
1970- Khu hàn phương dược, Hi Di ninh thần.
1971-Xông hơ, thay áo đổi quần,
Ngực, mền đắp ấm, tay chân thoa dầu.
Hoa lê sáng trắng rõ màu,
Ngỏ tre sương mỏng, bóng ngâu nắng lồng.
Bướm vờn nụ đỏ chồi hồng,
Cụm lan hương ngát, nhành thông chim chuyền.
Giường trong động tiếng trở nghiêng,
Tay lần màn vải, lão liền hỏi han:
-“Chắc người rày đã bình an?
1980- Thôn nghèo có việc đi ngang canh trường.
Nhọc nhằn cảm gió nhiễm sương,
Tình sầu cảnh muộn, tổn thương tinh thần.
Tạm dùng thuốc mọn đỡ đần,
Giải cơn túng ngặt, lần lần sẽ hay”
Mắt lờ đờ, tỉnh mộng dài,
Vị thơm hớp cháo tiêu cay ấm lòng.
Nghe liền phân cạn đục trong:
-“ Ơn sâu ngàn biển trăm sông chưa vừa.
Cánh chuồn phận mỏng sống thừa,
1990- Có đâu đoán được nắng mưa sớm chiều.
Một đi năm bảy lần liều,
Chìm thuyền Thái Thạch, buồm xiêu gác Đằng?
Gặp cơn sóng dậy đất bằng,
Tái sanh nghĩa lớn, so gần cội thung.
Bước đường lưu lạc tạm dung,
Phương danh mỹ tánh, thủy chung chưa tường?”
-“ Họ Huỳnh, tên thiệt Phước Trường,
Bạn bè cúc liễu, quê hương yên hà.
Uống ăn đạm bạc muối cà,
2000- Lơiỉ danh khuất mắt, rừng già tung tăng.
2001- Rong chơi bến Vị, nội Sằn,
Sào Do kết nghĩa, Thang Văn khước lời.
Uyên ương lạc lối đôi nơi,
Trăng chìm vực Bắc, sao dời non Tây.
Tòng trơ cành, sắn héo dây,
Phòng đơn khói quạnh, then cài bấy lâu.
Bến hoa mây kết năm màu,
Chồi mai, gái mọn tuổi đầu tròn trăng.
Thêu thùa, may vá kiếm ăn,
2010- Cháo rau hẩm hút, xích thằng chưa trao.
Quê mùa, lời chẳng đón rào,
Chẳng hay danh tánh, nơi nào thôn lân?
Gẫm rằng đáp tạ lòng nhân,
Tánh ngay dạ thẳng, chẳng cần giấu quanh.
Châu thưa: “ Binh biến kinh thành,
Ngửa nghiêng đồn lũy, tan tành kim thang.
Nhăn nanh lũ sói bầy lang,
Cha già chết thảm giữa làn tên giăng.
Thầy ban đức lớn dạy răn,
2020- Tay vun phước huệ, lòng ngăn vạy tà.
Chùa tan, nát cội đàm hoa,
Liều thân cản hậu nên đà mạng chung.
Chân non hoen vấy bụi hồng,
Xin cho lánh tạm mưa dông đôi ngày”
-“ Tái ông mất ngựa mà hay,
Thuyền trăm bến đậu, trời bày gặp nhau.
Bỏ phiền muộn, dẹp lo âu,
Anh em bốn biển nào cầu tương tri.
Niềm riêng đã tỏ ngại gì,
2030- Lạnh chiều bão rớt, buồn khi thu tàn.
Bay cao, giương cánh đại bàng,
Rủi may thường sự, cưu mang làm gì.
Khuất thân tạm ổ chim di,
Lánh khi nắng hạ, tránh kỳ giá đông”



CHÚ THÍCH:

-Quan Vũ: tức Quan Vân Trường, danh tướng của nhà Thục Hớn đời Tam quốc.
-Khương công: tức Khương Tử Nha, nguơn soái thời Tây Châu, giúp Võ vương Cơ Phát hưng binh ở Kỳ sơn diệt Trụ lập nhà Tây Châu.
-Bến Phì: bến sông Phì Thủy ở tỉnh An Huy (TQ), nơi binh Tần đại bại, quân sĩ mười phần chết hết chín.
-Âm hưởng: tiếng phát ra và dội lại
-Hoa tiên: tờ giấy in hoa để viết thơ ngày xưa.
-Ly phụ: người đàn bà xa chồng.
-Tử phần: cây tử và cây phần,- chỉ quê hương.
-Quan san: (cn: quan sơn)-cửa ải và núi non.
-Cơ hồ: dường như.
-Lưa: (-< HV: dư (thừa)-(từ Nb): còn dư ra, còn kéo dài.
-Hàn tà: khí lạnh bên ngoài nhập vào cơ thể con người sanh ra bịnh tật.
-Chơn nguyên: cái nguyên khí trong mỗi người.
-Bất bình: khó đè nén được tình cảm.
-Hiệp cốc: tên một huyệt đạo nằm trên mảnh thịt nổi gồ bên dưới hổ khẩu.
-Đại chùy: huyệt đạo nằm sau ót.
-Khu hàn phương dược: phương thuốc trị bịnh, dùng để đuổi cái lạnh trong người ra khỏi cơ thể.
-Hi Di ninh thần: ( Hi Di: tên chữ của Trần Đoàn, người đời Tống, thấy đời loạn lạc vào hang núi ngủ say năm năm. Khi tỉnh dậy, thời Ngũ đại: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hớn, Hậu Châu đã chấm dứt và Triệu Khuông Dẫn đã lên ngôi, mở nghiệp nhà Tống). Vì vậy, người ta thường dùng Hi Di ninh thần để chỉ thuốc an thần làm cho ngươi bịnh ngủ lâu.
-Thái Thạch: tên một gành đá ờ TQ, nguy hiểm cho thuyền bè qua lại,- ở đây chỉ sự rủi ro nguy hiểm.
-Gác Đằng: tức Đằng vương các, tức gác của Đằng vương ở Nam Xương, tỉnh Giang Tây. Vương Bột, danh sĩ đời Đường, đi thuyền thuận gió mà tời bến Mã Dương, tới gác Đằng vương làm thơ, nổi tiếng với bài Đằng vương các tự, trong đó có câu:
“ Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thủy cộng trường thiên nhứt sắc”
( Ráng chiều rơi xuống cùng bay với con le le đơn lẻ; sắc nước mùa thu cùng với chân trời xa một màu ).
Gác Đằng vì vậy chỉ vận may.
-Tái sanh: sanh một lần nữa hoặc sống lại sau cơn hoạn nạn.
-Tạm dung: tạm nương náu.
-Phương danh mỹ tánh: tên thơm họ đẹp; từ trang trọng dùng để hỏi tên họ kẻ khác.
-Cúc liễu: Đào Tiềm dời Tấn cáo quan về hưu, trồng hoa cúc và năm cây liễu trước nhà, nên người đời thường gọi ông là Ngũ liễu tiên sanh. Cúc liễu chỉ người ẩn dật.
-Yên hà: (yên; khói; hà: ráng mây): chỉ cuộc sống nhàn nhã của người ở ẩn.
-Bến Vị: bến sông Vị thủy nơi Khương Tử Nha ngồi câu ở Bàn khê. Sau Châu Văn vương Cơ Xương cho người tới rước phong làm nguơn soái cầm quân phạt Trụ, dựng nghiệp nhà Tây Châu.
-Nội Sằn: cánh đồng Sằn, nơi Y Doãn cày ruộng. Sau vua Thành Thang rước về lo việc nước.
-Khước: từ chối.
-Sào Do: tức Sào Phủ và Hứa Do. Vua Thuấn muốn truyền ngôi cho Sào Phủ. Phủ xuống dòng nước khe rửa tai, ý muốn nói không cho tiếng lợi danh lọt vào tai. Hứa Do không cho trâu mình uống nước đó. Sào Phủ, Hứa Do tượng trưng lớp người không ham danh lợi phú quí.
-Câu 2004: Trăngchìm xuống vực thẳm phương Bắc, sao dời qua bầu trời phía Tây,- ý nói vợ chết.
-Câu 2005: nhắc câu “ dây cát đằng (sắn bìm ) nương dựa bóng tùng quân. Ở đây, sắn héo dây chỉ còn cây tùng trơ trọi,- chỉ vợ chết chồng còn.
-Câu 2007: bến sông kết hoa ngũ sắc là điềm tốt sắp sanh con.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 25 2011, 04:46 AM
Gửi vào: #16


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





B-DẠO CHƠI ĐẦM LONG ẨN – XÓM HUỲNH MAI.

2035- Lắc lay nhành, tỉnh giấc nồng,
Suối tuôn hòa điệu lá tùng vi vu.
Sương che dốc thẳm dặm mù,
Châu cùng Huỳnh lão sông hồ rong chơi.
Huỳnh rằng: “ Bỉ thới một thời,
2040- Mong manh mây nổi lưng trời khác đâu.
2041- Sớm chiều gió cuốn mưa mau,
Bọt con nước lượn, bèo đầu sóng xô.
Sao bằng quần vải áo bô,
Thả cần bàn thạch, phơ phơ tóc bồng.
Non cao theo gót Xích Tòng,
Dấu chơn Huỳnh Thạch, thấy lòng thung dung.
Dắt tay nhau tới Long Trung,
Ráng pha liễu rũ, hương xông cúc vàng.
Cõi trăm năm, hớp rượu nhàn,
2050- Dẫu muôn xe ngựa, bạc vàng dám so”.
Bờ lau lác đác cánh cò,
Bến sông xóm nổi, con đò băng ngang.
Thưa dày, ngọn trúc gie đan,
Lỗ loang bóng rập, nắng lan đá gành.
Đường hun hút gió mơn cành,
Quẹo qua một nếp nhà tranh sơ sài.
Vắng tanh im ỉm then cài,
Phên tre vỗ nhẹ, khách ngoài lóng tin.
Vọng qua: “ Sao khéo dưỡng sinh,
2060- Mặt trời xỏ mũi, quấn mình ngủ say?”
Từ trong vang tiếng cười dài:
-“ Võng đưa đọc sách, ngủ ngày chi đâu?
Quen hơi bén tiếng tìm nhau,
Chim hoàng tìm phụng, cúc cầu gặp mai.
Thức từ vừa ló Sao cày,
Mù tăm bóng nhạn, lòng đây luống chờ.
Rau non mểu, cá đơn sơ,
Rượu quỳnh hâm nóng,-lặng tờ đò giang.
Hôm rồi, Kim Hạc ghé sang,
2070- Cảnh thanh bầu bạn, tơ đàn hòa dây”.
2071- “ Mảng chơi nước nọ non này,
Tâm tư trộm gởi cánh mây giang hồ,
Trễ tràng gót lạc bến mơ,
Bầu men đợi chán, nguồn thơ cạn dòng”
Vòng vèo len lỏi ngàn thông,
Đầm thăm thẳm rộng, mây lồng nước xanh.
Bước lần lên Thưởng mai đình,
Chạnh tình giàn mướp, cây chanh quê nhà.
-“ Mùa này mai chửa ra hoa,
2080- Rộ bông chưa chắc người xa đã về.
2081- Tang bồng trót nặng lời thề,
Tình nhà nghĩa nước đeo nghề kiếm cung.
Lánh mình vực tối hang cùng,
Rồng vàng có lúc vẫy vùng sóng khơi”.
Châu rằng: “ Khó gặp được thời,
Giam thân dặm tối, một đời tiêu ma.
Đuổi mau sòng sọc cái già,
Hao mòn khí phách đời ra quái gì?
Buộc ràng mạng xấu vận suy,
2090- Gạo con tiền vợ, nằm ì một nơi.
2091- Trí cùn, uất ức tàn hơi,
Sổ phong trần xóa kiếp người vô danh.
Uổng thay mạch đất trong lành,
Cũng dang tay đón thứ cành rong rêu”.
Dựa lưng buồn thỉu buồn thiu,
Mắt lơ đãng ngắm màu chiều ráng phai.
Huỳnh rằng: “ Xuân hẳn còn dài,
Sợ chi trốt xoáy một ngày không tan.
Kìa xem non ráng nạm vàng,
2100-Chẳng bao lâu lợt sắc, tràn bóng đêm.
2101-Đường tơ đã dẽo lại mềm,
Mới gay gắt điệu, êm đềm thanh âm.
Bình yên, mặt biển âm thầm,
Vùng lên hung hãn ầm ầm bủa lan”
Bơ vơ mảnh vụn nắng tàn,
Giong thuyền đuổi ánh trăng tan giữa vời.
Chèo cầm lái nhẹ tay lơi,
Buồm xa tít bóng đất trời bao la.
Chập chờn khói sóng giao hòa,
2110-Ẩm sương áo bạc, đậm đà men cay.
2111-Khơi nguồn thơ, hớp ngà say,
Hồn mê tỉnh mộng năm dây tính tình.
Không gian thâu hẹp dạng hình,
Bước thời gian, bướm Trang sinh mơ màng.
Nửa đêm nghe lóm cung đàn,
2116-Luyến lưu hạc lẻ bàng hoàng biếng bay.



CHÚ THÍCH:

-Bướm Trang sinh: Trang Châu nằm mơ thấy mình hóa bướm. Tỉnh dậy, không biết mình là bướm hay bướm hóa ra mình.
-Nghe lóm: (từ Nb)- lén nghe không được người ta cho phép.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 25 2011, 05:02 AM
Gửi vào: #17


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





C- CUNG CẦM NGƯỜI CON GÁI HÒA CHÂU.

2117-Ráng hồng rạng ửng đầu mây,
Tiếng còi ruộng thấp vang dài lũng xa.
Nắng tươi choàng ấp ngàn hoa,
2120-Túi đeo, Huỳnh lão giã nhà đăng san.
2121-Rừng sâu hái thuốc tìm lan,
Bạn xưa chung chén rượu nhàn xướng ca.
Chiều xuôi mỏi cánh la đà,
Lim dim lá khép, chén trà sân mai.
Song thưa ủ bóng trăng cài,
Luận bàn võ nghệ, gái trai tự tình.
Châu rằng: “ Ngoạn cảnh Mai đình,
Buông chèo Long Ẩn linh đinh trăng rằm.
Duyên lành may được thưởng âm,
2130-Tay tiên Kim Hạc, ngón cầm Bá Nha.
Trộm nghe noi dấu nghiệp nhà,
Cung thương vọng tiếng tài hoa cõi ngoài.
Bước phiêu bồng nẻo dặêm dài,
Chiều hôm, tai lạc một hai tiếng vàng.
Dây leo đan vấn núi hoang,
Tầm theo hướng vẳng tiếng đàn dò ra.
Trúng sương nhiễm gió rừng già,
Vương mang bịnh ngặt nằm ba hôm liền.
Cơn mê, mơ thấy nàng tiên,
2140-Đờn che nửa mặt chữ điền thắm hoa.
2141-Đường tơ trầm ấm hiệp hòa,
Hồn chơi tám cõi, hương sa mấy từng.
Tỉnh ra, lại tiếc giấc Xuân,
Cõi trăm năm dễ một lần gặp đâu!
Song hồ ngơ ngẩn canh thâu,
Bơ vơ hồn mộng cuối đầu Tương giang.
Tưởng mơ mơ tưởng giọng đàn,
Du dương dìu dặt quyện làn trầm bay.
Đợi mong mới được một ngày,
2150-Xin cho lạm thưởng một vài phím loan”
Vân Anh sắc mặt nghiêm trang:
-“ Sá chi nghề mọn, bạn vàng bận tâm.
Dệt thêu gấm lụa tơ tằm,
Rảnh rang lỏm bỏm học năm ba bài.
Cha truyền bữa mốt bữa hai,
Khi trong giải muộn, khi ngoài xướng thi.
Nghe đờn biết chí, Chung Kỳ,
Tay thô ngón vụng dám bì Bá Nha.
Vã nay hôm sớm chung nhà,
2160- Luyện cung ôn kiếm vào ra sách đèn.
Xin dưng chút đỉnh đỡ phiền,
E quân tử chẳng phỉ nguyền ước mơ”
Rèm buông, ngọn bấc tỏ mờ,
Lòa xòa tóc liễu, lặng tờ gương nga.
Búp măng lướt nhẹ phím ngà,
Thoáng cung nhạc dạo, tình đà ngất ngây.
Trùng trùng tiếng đuổi hơi may,
Vút cao núi quạnh, non Đoài ôm trăng.
Biển xanh gọi nước sông Hằng,
2170- Mây vờn khói tỏa buồm Đằng sóng lan.
2171- Lý ngư hớp giọt sương tàn,
Lờ đờ đáy vực, mắt đan sợi buồn.
Trong ngần kẽ sậy gió luồn,
Qua khuôn lá ngủ chiều buông nắng tà.
Vụt vù dông cuốn nước sa,
Bọt tan vỡ vụn thác xa cuối đèo.
Dứt hồi ngựa hí binh reo,
Hơi may thoáng gợn mắt mèo trong xanh.
Mưa thu da diết bên mành,
2180- Từng không tiếng vẳng mong manh rã rời.
Châu rằng: “ Tài nghệ tót vời,
Quá quan Ải Nhạn xấp mười Chiêu Quân”




CHÚ THÍCH:

-Đăng san: lên núi.
-Tự tình: bày tỏ tình cảm.
-Thưởng âm: thưởng thức âm nhạc.
-Bữa mốt bữa hai: (từ Nb)- thất thường, bữa có bữa không, không thường xuyên, không đều đặn.
-Chút đỉnh : (từ Nb)-một chút, một ít.
-Quân tử: theo Kinh Thi, quân tử được dùng như đại từ nhân xưng ngôi hai.
-Quá quan: qua ải, tên một bản đàn của Vương Tường tự là Chiêu Quân, thời Hớn Minh đế sáng tác lúc qua Nhạn môn quan, trên đường đi cống Hồ.
-xấp: (từ Nb)-gấp lên nhiều lần.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 25 2011, 06:01 AM
Gửi vào: #18


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





D- CHÂU THÔNG TỎ TÌNH


2183-Hoa đầu ngõ ngóng người thân,
Gót chân hoang vắng ngót tuần trăng nay.
Phên tranh khép lỏng then gài,
Lưa thưa bóng trúc ngã dài lan can.
Lặng thinh thông biếc mơ màng,
Chờ hơi gió thoảng phất làn mong manh,
Trà tươi búp nụ chén sành,
2190- Đọc kinh Bát nhã, xem tranh Thất hiền.
2191-Nàng rằng: “ Trăng gác sương hiên,
Chim bằng gãy cánh truân chuyên rừng già.
Người xa phút hóa ruột rà,
Mười phân kính trọng, vui hòa tình thân.
Thước gươm nắng Sở mưa Tần,
Xe tơ kết tóc đã lần nào chưa?”
Chàng rằng: “ Chẳng ý lọc lừa,
Vườn xuân trót khóa ngày trưa một ngày.
Trẻ thơ núm níu gót thầy,
2200- Ngày tròn cung kiếm, đêm dài bút nghiên.
2201-Nước suy, nặng dạ thề nguyền,
Buông tên múa dáo, cửa viên ứng hầu.
Cội thung che áng mây sầu,
Đất chôn nhau, mẹ quấn đầu khăn sô.
Sống mòn kiếp mọn giang hồ,
Quê người vất vưởng, cùng đồ trắng tay.
Duyên ưa, mong những có ngày,
Cho chim liền cánh, để cây liền cành.
Ba chìm bảy nổi linh đinh,
2210- Ăn nhờ ở đậu gẫm mình mà thương.
Dám dâu nghĩ mối tơ vương,
Dám đâu đem sợi chỉ hường buộc ai!
Rời chùa mười rủi một may,
Nẻo đi hướng tốn, lời thầy khắc ghi.
Gặp nhau đây, hẳn duyên gì,
Lời quê xin được một khi phân bày.
Một mai, gió bụi dặm dài,
Lòng sao quên nổi những ngày muối dưa.
Nhớ người mong giấc mơ xưa,
2220-Bãi hoang gối trống, trăng mờ ôm yên.
2221-Buông tên muôn vạn trận liền,
Bông quì dành trọn tình riêng một người.
Xót nhành thương cội nào nguôi,
Chim đơn bão cuốn xa rời rừng xưa.
Cách chia cảm mấy cho vừa,
Thà như chẳng gặp bao giờ cho cam.
Chút bèo đầu ngọn sóng lam,
Sáng gành chiều vực, ngày vàm đêm doi.
Đài gương, gác tía có soi,
2230-Hoa phong nhụy, bướm lạc loài gặp nhau?”
Vân Anh e thẹn cúi đầu,
Mặt xoan ửng cánh hoa đào thêm tươi.
Thưa rằng: “ Quân tử chớ cười,
Mẹ hiền khuất núi có mười năm dư.
Mồ côi từ tuổi còn thơ,
Mì khoai rau cháo nương nhờ phụ thân.
Xa thiềng thị, sống cơ bần,
Cửa nhà kém cỏi, lễ văn sơ sài.
Gót mòn củi nặng oằn vai,
2240-Rổ tre cá mọn, chợ mai đông người.
Khòm lưng thêu sắc hoa tươi,
Màn loan trướng phụng bán người giàu sang.
Lầu son, nào dám mơ màng,
Sẻ đâu dám ước đại bàng đầu non.
Quê mùa,-Tuổi tác hãy còn,
Dại khờ,-nào biết mực son cho tường.
Dám đâu trộm lịnh nghiêm đường,
Gieo cầu, hẹn lửa hò hương với người.
Niềm riêng, tỏ thiệt chín mười,
2250-Nỗi u hoài, biết mặt trời thấu chăng?”
2251-Rằng: “ Duyên Nguyệt lão xích thằng,
Tiền tài phấn thổ, nghĩa bằng thiên kim.
Thờ cha ngay thảo trọn niềm,
Hai mươi bốn hiếu, khó tìm người hơn.
Cảnh nhà gió kép mưa đơn,
Tay chai khó nhọc, áo sờn long đong.
Một thân lo liệu ngoài trong,
Tấm lòng nhơn hậu, thơm nồng thức hương.
Làu làu sáng nguyệt trong gương,
2260-Điểm son phái nữ, dễ thường có ai!
2261-Lòng không cân sắc đo tài,
Tình không liễu ép hoa nài chi đâu.
Thấy người ý hiệp tâm đầu,
Giọt Ngâu Ô thước, bắc cầu Ngân giang.
Xưa nay, nối nghiệp tông đường,
Chọn dâu Nam giản dưng hương mới là.
Núi cao biển cả là nhà,
Quản chi lửa đỏ xông pha dẹp loàn.
Non sông hoa dệt gấm đan,
2270-Mái nhà xưa kiếm kim lan dạo nào.
2271-Keo sơn gắn bó duyên đầu,
Binh tàn lửa lụn, hát câu tương phùng.
Gìn tròn tình thủy nghĩa chung,
Chờ nhau tới mái tóc bồng hết xanh”
Làn thu gợn khóe long lanh,
Ngượng ngùng nàng mới bày tình thiết tha:
-“Chớm Xuân cành mọn sương nhòa,
Chồi non vẫn chửa ra hoa kịp thì.
Ngây thơ vừa vụt bóng đi,
2280-Dại khờ, non dạ biết gì ngày mai.
2281-Chưa lường được lối chông gai,
Mười hai bến nước vơi đầy đục trong.
Gót non lỡ vấy bụi hồng,
Xuồng con sóng dữ,-Phụ lòng tri âm.
Vưng lời kết dải đồng tâm,
Nguyện cùng trời đất, sắt cầm hòa dây.
Thầm mong có được một ngày,
Sân hồng xác pháo, khói bay khắp làng.
Giờ đây giữ lễ đoan trang,
2290-Coi nhau bầu bạn gươm đàn mà thôi.
2291-Thương nhau quí trọng cả đời,
Tiếng nhơ, tiết xấu, kẻ cười người khinh.
Xưa nay, biển ái non tình,
Đày thân lặn hụp, lụy mình ích chi?”
Tùng nghiêng bóng lả xanh rì,
Chim đêm trở giấc, thầm thì lau xa.
Mong manh gió phất rèm hoa,
Từng cao mây thẳm, Ngân hà giăng ngang.
Vi vu gió lượn thông ngàn,
2300-Chàng Ngưu ả Chức thênh thang lưng trời.
2301-Chàng rằng: “ Giao ước nhớ lời,
Bản tình ca chẳng đổi dời nhịp cung.
Biết đâu lở núi cạn sông,
Dấn thân khổ nhục, vướng vòng lao đao.
Nhớ từ chừa vá trái đào,
Mẹ cho đôi ngọc đeo vào cổ tay.
Nước về biển cả có ngày,
2308-Bến xưa thuyền cũ, vật này nhận nhau”



CHÚ THÍCH:

-Ngót: (từ Nb)-gần bằng.
-Bát nhã: (Phạn: Pragna): sự giác ngộ hoàn toàn chân lý nhà Phật.
-Thất hiền: tức Trúc lâm thất hiền (bảy người hiền ở ẩn trong rừng trúc ) đời Đông Tấn TQ.
-hướng tốn: trong bát quái, hướng tốn tọa vị ở Đông Nam thuộc sanh lộ, con đường sống.
-Vàm: (từ Nb)-cửa sông thông ra biển hoặc cửa sông nhỏ thông ra sông cái.
-Doi: (từ Nb)-mõm đất gie ra sông lớn.
Bảy lanh để bảy đưa đò,
Lên doi xuống vịnh, giọng hò con bảy lanh.
-Thị thiềng: phát âm theo Nb chữ thị thành.
Mảng lên non tìm con chim lạ,
Chớ chốn thị thiềng, chim chạ thiếu chi.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 25 2011, 06:18 AM
Gửi vào: #19


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





HỒI THỨ TƯ

HỢP BẠN LỨA, TÒNG QUÂN BÌNH NAM NGẠN,
THẤT NGHIỆP THÀNH, BÃI CHIẾN THỦ LẠC DƯƠNG
.


A-TIỄN ĐƯA


2309- Trà thơm môi ngấm bông đào,
2310-Mưa phùn se lạnh, chớm vào tiết Xuân.
2311-Cành đơm nụ búp ngại ngần,
Đồi pha nắng dịu, ngọn tần sũng sương.
Châu rằng: “ Dốc thẳm hí trường,
Máu pha kỷ niệm bước đường rủi may.
Cánh hồng chí gởi ngàn mây,
Nằm co hốc đá mơ xây non đồng.
Bắt hùm, vật lộn giao long,
Thiên san bóp nát, biển Đông lấp bằng.
Tháng giêng đúng hẹn tròn trăng,
2320-Đau lòng giã biệt đất Sằn tòng quân”
2321-Huỳnh rằng: “ Cá vượt mấy từng,
Hóa rồng vùng vẫy nửa lừng trời cao.
Hút luồng khí mạnh trăng sao,
Quày gươm chém sấu, giương lao phóng kình.
Lúa vàng sẽ rợp đồng xanh,
Kiến ong tan ổ, công thành buông cung.
Chẳng còn rẽ núi ngăn sông,
Đem về một mối chung cùng xa thư.
Muôn nhà vui nghiệp an cư,
2330-Sống theo đạo nghĩa, hiếu từ, khoan dung”
2331- Vàng sương lụa mỏng mông lung,
Đèn hiu hắt bóng, nghiêng song nguyệt tà.
Te te gà thúc canh ba,
Hành trang dồn đãy, rời nhà bước đi.
Mũi lòng thay, phút chia ly,
Ai cầm được lệ phân kỳ ướt bâu.
Châu rằng vực dẫu mấy sâu,
Cũng chưa sánh kịp tiễn nhau tình này.
Gió mừng mây đón hạc bay,
2340-Đoái nhìn cội cũ lòng này sao quên”
2341-Huỳnh rằng: “ Đường sá chông chinh,
Cheo leo hố thẳm, gập ghình đá cao.
Vân Anh dầu phận má đào,
Hang cùng ngõ hẹp ra vào hằng quen.
Đưa người tắt nẻo Trang Xuyên,
Lòn truông Phật Tánh, vô miền Nho Lâm.
Non Càn giáp giới Chơn Tâm,
Hướng phương Nhơn Ái hơn năm dặm dài.
Giữa trưa trở gót về ngay,
2350- Tối tăm rừng bụi, dạ đây đeo phiền”.
2351-Gió xao cành hé bóng xiên,
Buồn vương vấn tóc, truân chuyên phận bèo.
Thoảng hơi, gió động leo heo,
2354-Tay che nắng lóa, mắt nheo giọt sầu.



CHÚ THÍCH:

-Chung mối xa thơ: xe có cùng một ổ trục, cùng chiều ngang đòn xe; sách vở viết cùng một thứ chữ. Ý nói nước nhà thống nhứt.


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BuiThanhKien
post Jun 25 2011, 06:33 AM
Gửi vào: #20


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 531
Tham gia: 1-April 07
Thành viên thứ: 348





B-VÂN ANH NHỚ CHÂU THÔNG.


2355-Đứt dây héo bí úa bầu,
Đôi bờ xa lắc, nhịp cầu bơ vơ.
Người đi biết đến bao giờ,
Để riêng ai luống mong chờ một ai.
Nhớ xưa, mưa vạy gió may,
2360-Trà lan ấm khói, hiên ngoài lạnh căm.
2361-Xót chiều ly biệt ruột bầm,
Lệ rơi mềm đá, chảy ngầm lòng đau.
Trái ngang đôi lứa duyên đầu,
Đố ai đếm xiết giọt ngâu qua mành.
Ai làm lá phải xa cành,
Cho thuyền xa bến cho mình xa ta.
Tưởng người chiến trận xông pha,
Gối tay mơ bóng trăng tà quê hương.
Tưởng người bãi ngập cây hoang,
2370-Mắt sâu mất ngủ đợi đàn tanh hôi.
2371-Ngựa buồn mất chủ bồi hồi,
Nắm xương lấp vội lưng đồi quạnh hiu.
Nguyện làm tấm ván điếu kiều,
Quân qua rầm rập giẫm tiêu quách thành.
Nguyện làm bóng thỏ năm canh,
Theo người đầu núi cuối gành quản đâu.
Bao giờ chôn kiếm bỏ đao,
Bỏ công danh, giủ chiến bào về quê.
Nghĩa sâu tấm mẳn vẹn thề,
2380-Bờ tre mái cỏ đi về có nhau.
2381-Má xưa còn thắm hoa đào,
Duyên xưa vẫn giữ một màu trung trinh.
Một duyên hai nợ ba tình,
Quẩn quanh mộng mị, bóng hình còn lưa.



CHÚ THÍCH:

-Điếu kiều: tấm gỗ to lớn, dài và chắc chắn, khi treo lên thì dùng để đóng kín cửa thành, lúc hạ xuống thì dùng để xe ngựa và lính tráng ra vào thành.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

2 Pages: V  1 2 >
Closed TopicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 17th November 2019 - 06:31 AM