IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

7 Pages: V < 1 2 3 4 > »   
Reply to this topicStart new topic
> ThơTHÂNHỮU&SƯUTẦM, www.bentrehome.net
nhuoctran
post Apr 7 2006, 04:01 AM
Gửi vào: #21


Member
**

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 29
Tham gia: 6-April 06
Thành viên thứ: 93



Thơ Hoàng Ngọc Liên

Nhật Trường Trần Thiện Thanh: Người Bạn Trẻ Đã Đi Rồi



Mình cứ ngỡ không bao giờ ngăn cách,
Sẽ cùng nhau tham dự hết cuộc chơi
Khi được tin Người Bạn Trẻ Đã Đi Rồi
Mình ngơ ngẩn như một phần mình vừa mất
Đành Cõi Tạm: Ai cũng về với Đất
Có lẽ đâu Bạn đi sớm cho đành!
Khiến cuộc chơi vắng bóng Trần Thiện Thanh
Người Ở Lại Charlie, xa cách mãi
Tôi còn nợ cuộc đời nhiều Oan Trái
Hệ lụy nào qua khỏi bến Vô Thường
Đã "Lập Thân Tối Hạ Thị Văn Chương
Thì tự nhủ " Tài Tình Thiên Cổ Lụy"!
Thanh Đàm, Nhã Tập, Minh Văn, Diễm Ý
Bạn thoát rồi hệ lụy khúc Vô Thanh.
Ai sẽ ca: "Anh Không Chết Đâu Anh"
Để tiển Bạn về Bên Kia Bờ Giác?
Xin hẹn Bạn trong một Miền An Lạc
Nơi không còn hệ lụy của trần gian.


Hoàng Ngọc Liên
hngocl@gmail.com


Được chỉnh sửa bởi nhuoctran on Apr 18 2006, 06:13 AM


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
Nguyenthikienhoa
post Apr 7 2006, 01:46 PM
Gửi vào: #22


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 285
Tham gia: 29-December 05
Thành viên thứ: 55



Thân chào Hoàng ngọc Liên,

Anh làm thơ hay như vậy mà bấy lâu nay sao không vào thăm vườn thơ của nhà Bến Tre. Mong được thưởng thức thêm những vần thơ của anh.

ntkh


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BỗngNhiên
post Apr 7 2006, 02:45 PM
Gửi vào: #23


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 41
Tham gia: 31-December 05
Thành viên thứ: 59




Thơ Hoàng Ngọc Liên

Nhật Trường Trần Thiện Thanh: Người Bạn Trẻ Đã Đi Rồi





Xin hẹn Bạn trong một Miền An Lạc
Nơi không còn hệ lụy của trần gian.

Sống trên đời còn nặng gánh cưu mang
Còn nợ nước ơn nhà thay anh trả
Có linh thiêng hồn núi sông cao cả
Mỗi một người, một chiến sĩ cùng đi
Xa quê hương ta đánh mất xuân thì
Dầu có chết-Chết vinh hơn sống nhục



* Đọc những lời cảm động của Hoàng Ngọc Liên, BỗngNhiên xin góp những lời này để tưởng nhớ ca nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.


BỗngNhiên ( 07.04.06 )
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 2 2006, 04:11 AM
Gửi vào: #24


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8






user posted image

user posted image

user posted image




--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
SONGCUU
post Jun 28 2006, 08:05 AM
Gửi vào: #25


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 185
Tham gia: 11-June 06
Thành viên thứ: 122









Hoàng Hạc Lâu



Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thựơng sử nhân sầu
Thôi Hiệu
( 704-754 )

Chu Thich:
Nguyên tác Thôi Hiệu

Thôi Hiệu : quê Biện Châu, thuộcHà Nam hiện nay.Đỗ tiến sĩ ,chức Tư Huân Viên Ngọai Lang, tính mê rượu chè gái đẹp, trăng hoa , thay vợ như thay áo. ...nhung
Bài thơ đề lầu Hòang Hạc đã làm cho thi tiên Lý bạch phải than :

?Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng lầu?

Kim Thánh Thán cũng ca ngợi : Bút pháp chuyển tuyệt kỳ ?

Từ Đường Thi của Trần Trọng Kim ghi : Tương truyền Lý Bạch một hôm có đi qua Hoàng Hạc Lâu, thấy phong cảnh hữu tình, muốn phóng bút một vài câu thơ nhưng thấy bài Hoàng Hạc Lâu khắc ở trên vách bèn ngửa mặt than rằng:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu...

(Trước mắt có cảnh mà không thể nói được vì Thôi Hiệu đã có đề thơ ở trên rồi)

. Hoàng Hạc Lâu

Hoàng Hạc Lâu, là một trong những thắng cảnh và cổ tích nỗi tiếng của Tỉnh Hồ Bắc, Trung Hoa, được dựng trên một gò cao. Ðứng trên lầu mắt nhìn được cả một vùng sông Dương Tử, bao gồm bãi Hán Dương, Châu Anh-Vũ, Quy Sơn, Hạc Sơn. Người ta nói lầu này được hình thành từ thời Tam Quốc, mới đầu chỉ là một đồn quan sát quân sự nhỏ. Không biết có phải là lầu đã được xây trên vùng đất có vượng khí hay không mà lầu cang ngày càng rộng lớn, càng nguy nga sau mỗi lần trùng tu. Lần trùng tu mới nhất là vào năm 1985.

Như vậy là HHL ngày nay không còn một tí gì là dấu vết của HHL xưa cũ ngoại trừ vị trí và cái tên để lại. Sở dĩ lầu có tên Hoàng Hạc Lâu vì những truyền thuyết sau :

1. Xưa, Phí Văn Vỹ (hay là Vương Tử An) thành tiên cưỡi hạc đi chơi và đã đỗ ở đây.

2. Khi lầu này mới mở, có một đạo sĩ vào uống rượu, uống xong ra sân dơ tay lên trời vẫy. Một con hạc sà xuống và đạo sĩ cưỡi lên lưng con hạc bay đi trước mắt các thực khách.

3. Còn chuyện nữa là khi đạo sĩ uống rượu xong không có tiền trả mới vẽ một con hạc lên trên vách và bảo chủ nhân rằng: "Khi có khách hãy kêu hạc xuống múa". Chủ quán nghe theo và từ đó quán chật khách vào uống rượu và xem hạc ca vũ. Ít lâu sau, đạo sĩ trở lại hỏi chủ quán rằng:"Tiền thâu trong bấy nhiêu ngày đã bù được tiền rượu ta thiếu bửa trước hay chưa?" Rồi cười vẫy hạc xuống cưỡi bay đi!

Lời Bình: Dĩ nhiên là tiền do con Hạc lao động làm ra quá dư tiền rượu đi chứ!! Thần tiên mà cũng uống rượu ghi sổ nửa thiệt...hết nói! Khoái là ở chỗ đó!



Bản Thi Dịch & Cảm Đề qua : Lầu Hoàng Hạc

Bản Thi Dịch: Tản Đà

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Bản Thi Dịch : Ngô Tất Tố

Người xưa cưỡi hạc đã cao bay,
Lầu hạc còn suông với chốn nàỵ
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ baỵ
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dầỵ
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.


Bản Thi Dịch: Trần Trọng Kim

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu..


Cảm Đề : Sông Cửu

NGẨU HỨNG LẦU HẠC VÀNG

Hạc vàng ai cỡi vút bay xa
Bỏ lầu Hòang Hạc nắng nhạt nhòa
Vô tình chi qúa chàng đạo sĩ
Để Lý Bạch thèm Hạc múa ca

Gợi tình Thôi Hiệu đại thi gia
Thơ đề vách đá đẹp tựa hoa
Hán Dương trơ bóng dòng sông biếc
Biền biệt mong chờ cánh Hạc xa

Bãi non ? Anh Vũ? cỏ mượt mà
Lầu xưa mái cũ kiếm đâu ra . . .
Nguy nga kiểu cách chiêu mặc khách
Nối mạch vui buồn trộn xót xa!

*

Thăm lầu Hòang Hạc nhớ quê nhà
Thương con Sếu bạc vạt bầy xa
Bao năm lã cánh tìm rừng cũ
Tràm Chim bão lũ nổi phong ba ?(*)

San Diego ? 2004
Sông Cửu
____________________________

(*) Tràm Chim= Tam Nông - Đồng Tháp - VN



rolleyes.gif cool.gif



]

Được chỉnh sửa bởi SONGCUU on Jun 28 2006, 08:18 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Jun 28 2006, 10:38 PM
Gửi vào: #26


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 532
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



KỆ THỊ CHỨNG CỦA THIỀN SƯ VẠN HẠNH


Phiên âm:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thạnh suy vô bố úy
Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.

Ban tu thư Vạn Hạnh dịch:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi, thu héo hon
Tùy thuộc thạnh suy, không hãi sợ
Thạnh suy đầu cỏ có phi sưng.

Bản dịch Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo sử luận tập 2 trang 150.
Thân như sấm chớp, có rồi không
Cây cối xuân tươi, thu héo hon
Nhìn cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi
Thịnh suy ngọn cỏ giọt sương hồng.

Bản dịch Ngô Tất Tố, Thiền Uyển Tập Anh đăng lại:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xuân tươi, thu não nùng
Mặc cuộc thạnh suy đừng sợ hãi
Kia kìa ngọn cỏ giọt sương hồng.

Bản dịch của Thượng tọa Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo sử lược.
Thân như sấm chớp chiều tà
Cỏ cây hoa lá thu qua rụng rời
Sá chi suy thạnh cuộc đời
Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

Bản dịch của Thượng tọa Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam
Thân như bóng chớp có rồi không
Cỏ cây xuân tươi thu đượm hồng
Mặc cuộc thạnh suy, không sợ hãi
Thạnh suy như cỏ hạt sương đông.

Được chỉnh sửa bởi huongmy on Jun 28 2006, 10:52 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Jun 28 2006, 10:40 PM
Gửi vào: #27


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 532
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Dẫn nhập:
1. Bối cảnh lịch sử xã hội khi Vạn Hạnh Thiền sư ra đời.
2. Tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh và những nhận định khái quát về ngài.

II. Thân bài:

1. Viết lại bài Kệ bằng chữ Hán.
2. Phê bình, nhận định những bài dịch trước của những dịch gi, sử gia.
3. Dịch lại bài Kệ.
4. Triển khai tư tưởng bài Kệ:
a>Câu 1: Nhân sinh quan - Mười hai nhân duyên - Ngũ uẩn.
b>Câu 2: Thế giới quan - Định lý duyên khởi.
c>Câu 3: Tu chứng quan - Tổng quát.
d>Câu 4: Xã hội quan - Nghiệp - Tứ đế.
5. Thiên nhiên nguồn cm hứng bất tận trong th Thiền. Đại diện Thiền Thi triều Lý.

III. Kết luận:

Qua bài Kệ chúng ta học được những gì cho cuộc sống hiện tại.
Cm tưởng khi thực hiện đề tài.




--------------------------------------------------------------------------------

Khi được chọn viết đề tài về bài Kệ Thiền sư Vạn Hạnh, tôi lấy làm lo lắng. Vì ngài là một Thiền sư kì vĩ của Đạo Phật và Dân Tộc Việt Nam. Trong khi tư liệu và tri thức tôi về ngài lại qúa ít ỏi. Nhưng tôi vẫn lấy làm thích thú khi được viết về ngài. Vì từ lâu tôi đã ngưỡng mộ, sùng kính ngài và tôi cũng tin tưởng vào kiến thức mà tôi đã học được trong 4 năm nay.

Con xin chân thành tri ân sâu sắc, Hòa Thượng Thích Minh Châu, hiệu trưởng trường, đã tạo điều kiện dễ dàng cho con học tập trong 4 năm qua. Con cũng xin niệm ân Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, người đã chỉ dạy những thâm ý khi thực hiện đề tài này. Cũng xin được gửi lòng biết n đến Giáo sư Minh Chi người đã giúp nhiều tư liệu quý giá và khích lệ khi tôi thực hiện đề tài này. Xin được tri ân Sư Tôn Túc, các vị Giáo Sư đã truyền trao kiến thức cho con trong 4 năm qua. Xin được cảm ơn các Thầy Cô ở Thư Viện Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm, Đại Học Tổng Hợp đã cho mượn những tài liệu tham kho. Cuối cùng, xin tri ân Thầy Phạm Phú Lợi, các Phật tử Mỹ Trang, Mỹ Anh và gia đình đã giúp đỡ trong giai đoạn cuối cùng hoàn thành Luận Văn Tốt Nghiệp này.

Cầu nguyện mọi sự an lành sẽ đến cùng Chư vị.

Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam.
20-11-1992
I-Dẫn Nhập
Việt Nam, xứ sở của sự giao thoa các trào lưu tư tưởng, nhưng vẫn khẳng định một nền văn minh mang tính đặc thù dân tộc. Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên trong sự chung hưởng hai suối nguồn Phật giáo lớn Ấn Độ và Trung Hoa. Phật giáo Việt Nam, qua nhiều biến thiên lịch sử, tồn tại trong một quốc gia chịu nhiều tang thưng chinh chiến vẫn có những nét đặc thù riêng lẻ từ kiến trúc, điêu khắc, hội họa, nghệ thuật, văn chưng cho đến những câu hò, điệu ru, tiếng hát. Những đặc thù này do đâu có được? Vì tinh hoa giáo lý Phật là vô ngã, bất định tính, không khư chấp hình thức, siêu việt ngữ ngôn lấy từ bi và trí tuệ làm chủ đạo cho mọi hành động. Những tính chất này hoàn toàn phù hợp và luôn thích nghi với một dân tộc chung đụng các nền văn hóa khác nhau và đặc biệt thích sống hòa bình, vị tha và hiếu sinh như dân tộc Việt Nam. Từ căn nguyên ấy, các dòng Thiền do các Thiền sư Việt Nam thừa kế hay thành lập phn nh những đường hướng tu riêng biệt và thái độ nhập thế tích cực phù hợp với tính chất và khí phách của người Việt Nam.

Sau 10 thế kỉ bị đô hộ bởi phong kiến phương Bắc, Vạn Hạnh Thiền sư xuất hiện. Ngài là một Thiền sư tiêu biểu về chứng ngộ cũng như những ứng xử nhập thế trong một quốc gia vừa độc lập một cách Việt Nam nhất. Hành trạng của ngài tượng trưng cho tinh thần vô ngã, vị tha, từ bi, trí tuệ Phật Giáo và ý thức trách nhiệm của một con dân Đại Việt. Ngài là tấm gưng lớn khẳng định đạo Phật không phi yếm thế, bi quan, trốn tránh cuộc đời mà luôn gắn bó mật thiết với cuộc đời. Viết về ngài qua bài Kệ Thị Tịch là một điều vô cùng thích thú và cũng lắm khó khăn. Thích thú vì những nét tiêu biểu, độc đáo qua hành trạng của ngài. Khó khăn vì những hoạt động của ngài được xem như là những hành động chính trị, hoặc những điều sấm vĩ được đánh giá như là huyền bí, linh thiêng. Xem thế, những hành trạng ấy được thế nhân coi như vừa thực tế vừa huyền hoặc, làm thế nào để phân biệt hai phạm trù xem như có vẻ riêng biệt này đan lẫn vào nhau trong một con người tiêu biểu, từ bi và trí tuệ như Thiền sư Vạn Hạnh?

Nhận định một vấn đề gì qua cái nhìn tách rời sẽ cho chúng ta một kết qu phiến diện và vô cùng khiếm khuyết. Theo quan điểm trùng trùng duyên khởi Phật Giáo, một biệt thể hàm chứa những tổng thể chi li thì tổng thể ấy cũng là một tổng thể của biệt thể chứ không là tổng thể của tổng thể. Ví dụ: một cánh phượng khoe sắc thắm vào mùa hè. Cây phượng là một biệt thể trong vườn cây nhiều loại. Nhưng những gì kết tinh nên biệt thể ấy như: hạt giống phượng, màu xanh của cây, màu hoa thắm, dòng nước trong xanh, mặt đất mềm mại vv tất c trong chúng đều mang những biệt thể và tổng thể chi li tạo nên một biệt thể cây phượng. Sự hiện hữu của một hạt cát trắng trên bãi biển cũng hàm chứa c sn hà, đại địa.

Thế nên, bàn luận về bài Kệ Thị Tịch của Thiền sư Vạn Hạnh cũng không thể nào vượt ra ngoài quy luật hổ tưng đó. Vì thế, sự đối chiếu, nhiều vấn đề tưng quan không thể có, nhưng cũng đừng qúa sa đà để vấn đề trở thành xa vời mông lung, không sâu sát. Tư tưởng chủ đề của bài Kệ Thị chứng là dạy bo tăng chúng. Nhưng chủ đề này bao hàm những chủ điểm: văn chưng triết học, xã hội, nhân sinh, vũ trụ vv Những chủ điểm này cũng thường gặp ở một số bài Kệ của các Thiền sư ngộ đạo. Lịch sử cho thấy: Vạn Hạnh không có những cây hèo của Hoàng Bá, những cú đấm trời giáng như Lâm Tế, những câu tr lời hóc búa của Tuệ Trưng thượng sĩ, Trúc Lâm sư Tổ vv Cuộc đời của ngài gin đn cũng như bài kệ Thị chứng luôn thanh thoát, gần gũi thế tục nhưng siêu phàm xuất thế. Bài Kệ bao hàm chân lý hiển hiện và phương pháp tích cực xây dựng đời. Nó thâm sâu, trầm lặng về mặt triết lý lại đầy màu sắc thiên nhiên tươi mát khiến nó như một bức tranh tuyệt tác của một họa sĩ thực chứng thiên tài. Người viết không hi vọng diễn t được tất c thâm ý của bài Kệ, chỉ mong đặt một bàn chân bé nhỏ vào vùng đất đầy dấu chân người đi qua.

1.Bối Cảnh Xã Hội Đại Cồ Việt Khi Vạn Hạnh Ra Đời

Sau 10 thế kỷ bị kìm hãm dưới sự cai trị hà khắc của tập đoàn phong kiến phương Bắc, Ngô Quyền, một dũng tướng đa mưu túc trí, lãnh đạo toàn dân đánh quân Nam Hán một trận tan tác trên Bạch Đằng Giang. Chiến thắng oanh liệt này đã đem lại độc lập, tự do cho xứ sở. Thế nhưng, 6 năm trị vì (938 - 944) Ngô Quyền chưa thực hiện gì mấy cho đất nước thời thái bình. Thừa c nước đục, Dương Tam Kha tiến quyền, nhưng Xưng Văn, Xưng Ngập đã đem binh đánh úp bắt được Bình Vưng Dương Tam Kha. Năm 954 Xưng Ngập chết, Xưng Văn trị vì đến 965 rồi cũng tử nạn trong một trận đánh. Nước Việt lại ri vào cuộc nội chiến với loạn 12 sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh, tùy tướng của Trần Minh Công với tài dụng binh như thần, chẳng bao lâu dẹp tan loạn mười hai sứ quân, thống nhất đất nước và xưng là Vạn Thắng Vưng. Năm 986, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Vua và lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng. Lúc bấy giờ, nhà Tống lên thay quân Nam Hán tại Trung Hoa. ý đồ bành trướng như nhà Đường được Tống Vưng quyết trí theo đuổi. Chính sách ngoại giao khôn khéo, tế nhị của triều Đinh đã làm cho giấc mộng bành trướng của Tống Vưng tạm thời lắng dịu. Thế nhưng năm 978, Đinh Tiên Hoàng mắc phi lỗi lầm lớn nhất của một minh quân là phế trưởng, lập thứ, phế Đinh Liễn, lập Hạng Lang, hoàng hậu có đến 5 ngôi. Việc này đã gây nên một hậu qủa nghiêm trọng là Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết hại. Đinh Toàn lúc ấy mới 6 tuổi, không đủ kh năng chấp chính Triều Vưng. Quân Tống chớp ngay c hội này, năm 980, sai tướng là Hầu Nhân Bo thống lĩnh đại quân xâm lược nước ta. Để bo tồn xã tắc Dương Thái Hậu trao long bào cho Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn. Đến đây, triều Đinh chấm dứt, triều tiền Lê tiếp nối. Lê Hoàn lập kế dụ thủy quânTống, do Lưu Trừng, Gi Thực cầm đầu vào Bạch Đằng Giang và đánh úp một trận khiến Tống quân không còn manh giáp. Hầu Nhân Bo dẫn quân bộ đến Chi Lăng bị phục binh đánh cho chạy dài, quân Tống đại bại. Với chiến thắng rực rỡ năm 981, Triều Lê đã làm tròn sứ mạng của mình. Vào triều đại này các Thiền sư như: Đỗ Thuận, Khuông Việt, Vạn Hạnh bắt đầu tham gia việc cứu dân, hưng thịnh nước nhà. Tinh thần vô ngã, không câu nệ hình thức, ngữ ngôn được ngài thể hiện rõ nét. Các ngài với tinh thần siêu phóng thực chứng không lệ thuộc vào tư tưởng hủ nho xem các vua như một người bất kh xâm phạm. Các ngài luôn phò trì những người đem lại thái bình thịnh trị cho nước nhà.

Xã hội cuối triều Lê: sau khi Lê Hoàn băng hà, (1006) con là Lê Long Đĩnh nối ngôi, sau 8 tháng xung đột với các Vưng khác. Lê Hoàn đã mắc phi lỗi lầm lớn lao nhất đời mình khi chia đất, phong vưng cho các con còn nhỏ, tài đức chưa là bao. Long Đĩnh là một hôn quân, gian dâm vô độ, đến nỗi không ngồi được, phi nằm khi thiết triều nên sử gọi là Lê Ngọa Triều. Ông cho thi hành nhiều chính sách tàn ác, những hình phạt bạo ngược, khiến tình hình xã hội khi ấy đã rối rắm lại còn phức tạp thêm. Dẫu thất bại thm hại ở lần xâm lược 981, nhà Tống vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính nước ta. Thêm nữa, con út Lê Đại Hành đi sứ sang Trung Quốc (1006) ở lại chưa về, được Vua Tống phong chức Kiểm Hiệu Thái úy, cũng âm mưu mượn quân Tống đưa về nước tranh ngôi cùng các anh.

Đoạn văn sau đây của cuốn: "Tục tự trị thông giám trường biên" của Lý Đào Tống cho thấy tình thế nước ta lúc ấy khó khăn chừng nào? "Vua Tống giao cho viên coi Qung Châu là Lăng Sách và viên quan phủ sứ dọc bể là Thiện Dục, xét việc Giao chỉ. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1006) Lăng Sách tâu:"Các con Lê Hoàn tranh nhau ngôi, đều nhóm bè đng ở các trại, việc công bỏ bê, dân tình lo sợ. Bọn Hoàng Khánh Tập tình nguyện đi tiên phong, chắc thể nào cũng lấy được. Chúng tôi đã hội bàn, nếu triều đình nhận lời, xin chỉ đem đạo quân ở đạo chúng tôi và vài ba ngàn người ở Kinh Hồ (Hồ Nam) theo hai đường thủy bộ tiến ắt bình định được. Trước một tình thế như vậy, việc tham gia vận động chính trị, làm một cuộc đo chánh, trao quyền hành thống lĩnh đất nước lại cho một người tài đức như Lý Công Uẩn, là chính đáng. Và Vạn Hạnh Thiền sư đã chung lưng đấu cật cùng các quan tướng triều đình thiết lập triều Lý. Triều đại thịnh trị lâu dài nhất của thế kỷ 11. Vậy Vạn Hạnh Thiền sư là ai?



2.Tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh
Và những nhận định khái quát về ngài (? - 1018)
Vạn Hạnh là người họ Nguyễn, quê làng Cổ Pháp, từ thuở nhỏ đã thông minh siêu dị, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật Giáo, xem giàu sang xe ngựa không vào đâu. Năm 21 tuổi ông xuất gia, cùng tu học với bạn là Thiền sư Định Huệ dưới sự chỉ dẫn của Thiền sư Thiền Ông tại Chùa Lục Tổ, siêng năng đêm ngày. Sau khi Thiền Ông mất, ông bắt đầu chuyên thực tập về Tổng trì tam ma địa, và sau đó hễ nói lời gì đều được thiên hạ cho là phù sấm. Vua Lê Đại Hành rất sùng kính ông. Năm 980, Hầu Nhân Bo của nhà Tống mang quân sang đóng ở núi Cưng giáp Tây định xâm chiếm Việt Nam. Vua triệu Vạn Hạnh vào và hỏi nếu đánh thì thắng hay bại. Vạn Hạnh bo: Nội trong vòng từ 3 đến 7 ngày thì giặc rút lui. Lời nói này sau qu ứng nghiệm. Khi Vua Lê Đại Hành muốn can thiệp vào Chiêm Thành để cứu sứ gi Việt Nam bị Chiêm Thành bắt giữ, nhưng còn do dự thì Vạn Hạnh nói đây là c hội đừng để cho mất. Sau qu y lời, trận ấy quân Lê thành công.
Vạn Hạnh và phương sách vận động chính trị bằng tuyên truyền: Sử sách còn ghi lại việc Thiền sư Vạn Hạnh trả lời Lê Hoàn về việc Tống tướng Hầu Nhân Bo xâm lược và cuộc bình Chiêm, nhưng Vạn Hạnh chỉ xuất hiện bấy nhiêu thôi. Phi chăng một người chuyên tu tâm định, tinh thông Tam giáo, nhận biết được vận mệnh triều vưng và cách tổ chức chính quyền của Lê Hoàn không được vững vàng cho lắm? Sau khi Lê Hoàn mất, Vạn Hạnh đã thấy rõ được âm mưu giành quyền thế, tất c huynh đệ tưng tàn sẽ xy ra, và tất nhiên nước nhà sẽ suy yếu. V lại, quân Tống thua một trận chưa đầy 10 năm lẽ nào chúng lại quên. Trước tình thế lưỡng đầu thọ địch như vậy, tận dụng hết kh năng và uy tín của mình đối với quân dân, Thiền sư Vạn Hạnh đã tiến hành kế hoạch tuyên truyền chính trị một cách chính xác và hữu hiệu. Vạn Hạnh đã vận dụng một phương cách hợp lý nhất vào bối cnh xã hội ấy: truyền khẩu. Điều này cho ta thấy, ngài là một bậc tài ba, nhìn rõ thời cuộc, là một nhà thiết kế hoàn chỉnh nhất. Sách Thiền Uyển tập anh nói những loại sấm truyền và tiên tri mà Vạn Hạnh sử dụng có rất nhiều thứ, không kể ra hết được. Sách này có kể ra một vài phương thức đã dùng: "Hồi Lê Ngọa Triều đang thi hành chính sách bạo ngược bị thiên hạ ghét bỏ, thì tại làng Cổ Pháp có một con chó trắng xuất hiện trên lưng có hai chữ: "Thiên Tử" lấm tấm bằng lông đen. Thiên hạ đồn rằng nó tượng trưng cho năm Tuất, và một bậc thiên tử sanh vào năm Tuất sẽ xuất hiện vào năm Tuất. Sự kiện này hoàn toàn phù hợp với năm sinh của Lý Công Uẩn. Đại Việt sử lược ghi lại sét đánh cây gạo Thiền sư La Qúy An trồng ngày xưa in thành chữ như sau: gốc cây thăm thẳm, vẻ lá xanh xanh, hòa đao mộc rụng, thập bát tử thành. Vạn Hạnh theo đó dùng phép chiết tự giải thích các chữ Hòa, Đao, Mộc ghép lại thành chữ Lê. Hòa Đao Mộc rụng tức là nhà Lê mất ngôi. Các chữ Thập, Bát, Tử ghép lại thành chữ Lý. Thập Bát Tử thành tức nhà Lý lên thay. Thêm chuyện ban đêm ở mộ Hiển Khánh đại vưng (tước hiệu của cha Lý Công Uẩn được Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi truy phong) người ta nghe tiếng thần nhân ngâm kệ từ bốn phương báo hiệu việc Lý Công Uẩn lên ngôi Vua. Tất c đã được Vạn Hạnh bình giải hợp với lòng dân. Chúng ta hãy quên đi những lời mặc khi, tiên tri của các Thiền sư: Định Không, Thông Thiện, La Quý An; Chúng ta sẽ thấy ni Vạn Hạnh một con người tài trí cao siêu, có tầm nhìn bao quát rộng rãi về thế cuộc, có lòng yêu nước, thưng dân, trách nhiệm với dân tộc một cách nồng nàn. Ngài luôn luôn chủ động tình thế, vạch ra những phương thức hữu hiệu vừa bác học, vừa bình dân để đánh mạnh vào ý thức dân tộc quần chúng vốn dĩ bị che đậy một phần nào bởi tư tưởng hủ nho: trung quân, ái quốc một cách giáo điều cứng ngắt. Quan trọng hn sau khi tìm được người hiền đức, ngài hun đúc, tô bồi, theo dõi từng bước chân của vị minh đế sau này. Ngài nhận xét Lý Công Uẩn như sau: Đó là một người phi thường, lớn lên tất giúp đời yên dân, làm chủ thiên hạ. Đại Việt sử ký còn ghi: "Tới lúc lớn, khẳng khái có chí lớn, không màng của ci, ưa xem hết kinh sử." Một con người giàu nghị lực, xem thường danh lợi vật chất, ham học hỏi như Lý Công Uẩn thật là hiếm có. Chỉ cần truyền vào trong Uẩn một chất vì nước, thưng dân, vận dụng linh hoạt những gì tốt đẹp từ Nho giáo, không theo chủ nghĩa kinh viện thì Uẩn ắt là bậc minh đế. Vạn Hạnh đã làm được điều này. Ngài nhất quyết dùng hết công sức mình vào công cuộc xây dựng triều đại mới an bình, thịnh trị. ở ngài chúng ta nhận thấy một quốc sư mẫn tuệ, một nhà chiến lược tài ba, một nhà ngoại giao tuyệt vời, một con người giàu nghị lực không nn chí, theo đuổi việc gì cũng đến kỳ cùng. Khi Lý Công Uẩn đã lên ngôi vua, ngài còn ra yết thị trấn an muôn dân:

Tật Lê chìm biển Bắc, cây Lý che trời Nam. Bốn phương binh đao dứt, tám hướng thy bình an.

Vạn Hạnh là một Thiền sư có cuộc sống phạm hạnh, tinh tấn và nỗ lực thanh tịnh trong sự nghiệp tu hành, có lòng thưng dân, yêu nước nồng nàn, tài ba và đầy đủ trí tuệ để chọn người và phục quốc. Ngài đã góp công không nhỏ trong việc thiết Iập triều đại thịnh trị, mẫu mực về đạo đức tạo nền độc lập dài lâu cho nước nhà (triều Lý 200 năm). Dẫu sử sách không ghi lại sự tham dự của ngài về việc thiên đô từ Hoa Lư ra Đại La Thành, nhưng chúng ta có thể tin rằng ngài đã tác động một cách hữu hiệu với Lý Thái Tổ. Kẻ hậu học chúng ta không chỉ khâm phục về tài năng đức độ của ngài, mà còn học được một "chất Phật" ni ngài rất sâu sắc. Đó là sau khi triều Lý lập vưng ngài không màng đến một sự ban thưởng, hoặc chức tước nào c. Một sự thể hiện tinh thần vô ngã, vô trụ, vô chấp của bậc liễu đạo. Đây là một bài học gin đn nhưng vô cùng qúy giá cho những người học Phật muôn đời. Đó mới chính là thái độ nhập thế tích cực của người con Phật. Thiết nghĩ, bài Kệ tán thán tán ngài của Hoàng Đế Lý Nhân Tông sau này cũng nói lên được sự đóng góp của ngài trong công cuộc chấn hưng đất nước:

Vạn Hạnh dung ba cõi, thật hợp lời sấm xưa. Quê hưng tên Cổ Pháp, chống gậy trấn kinh đô.

Tóm lại, Vạn Hạnh đã nhập thế bằng những bước chân vô ngã, không hệ lụy khập khiễng bởi hữu ngã trói buộc, chúng ta sẽ học về ngài thật nhiều thật đầy đủ về nhân quan sinh, xã hội quan, tu chứng quan, thế giới quan qua bài kệ dặn dò đồ chúng của ngài.



II Thân bài:
1. Viết lại bài kệ bằng chữ Hán
Phiên âm:
Thân như điện nh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhâm vận thạnh suy vô bố úy
Thạnh suy như lộ tho đầu phô.
2. Phê bình, nhận định các bài dịch trước
Theo một số tài liệu mà chúng tôi có được thì bài Kệ Thị Chứng của Thiền sư Vạn Hạnh được dịch sang Việt ngữ như sau:

Ban tu thư Vạn Hạnh dịch:

Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi, thu héo hon
Tùy thuộc thạnh suy, không hãi sợ
Thạnh suy đầu cỏ có phi sưng.
Bản dịch Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo sử luận tập 2 trang 150.
Thân như sấm chớp có rồi không
Cây cối xuân tươi thu héo hon
Nhìn cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi
Thịnh suy ngọn cỏ giọt sưng hồng.
Bản dịch Ngô Tất Tố, Thiền Uyển Tập Anh đăng lại:
Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xuân tươi, thu não nùng
Mặc cuộc thạnh suy đừng sợ hãi
Kia kìa ngọn cỏ giọt sưng hồng.
Bản dịch của Thượng tọa Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo sử lược.
Thân như sấm chớp chiều tà
Cỏ cây hoa lá thu qua rụng rời
Sá chi suy thạnh cuộc đời
Thạnh suy như hạt sưng ri đầu cành.
Bản dịch của Thượng tọa Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam
Thân như bóng chớp có rồi không
Cỏ cây xuân tươi thu đượm hồng
Mặc cuộc thạnh suy, không sợ hãi
Thạnh suy như cỏ hạt sưng đông.
Bản dịch của cụ Nguyễn Đăng Thục, Thiền học Việt Nam. Lá Bối xuất Bản trang 221.
Thân người ta như sấm chớp có lại không

Ví như cây cỏ hiện hữu mùa xuân đua nở, mùa thu lại khô héo

Noi theo vật mệnh lên xuống tự nhiên không còn lo sợ.

Thơ văn là sự cảm nhận trực giác đồng cm. Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở vấn đề được đề cập đến. Thể hiện ngôn ngữ phi theo quy luật của nó. Vượt qua khuôn mẫu này chúng ta không thể đem lại một kết qủa gì mà ta muốn diễn t. Trên căn nguyên ấy, chúng ta thử bàn luận về các Bản dịch trên với ý niệm "ôn cố tri tân" xem sao? Điều khẳng định trước tiên là các bậc tiền bối này dịch rất chuẩn về luật th và nghĩa từ. Trong toàn phần bài Kệ câu 1,2,4 đều hợp lý. Riêng chỉ câu 3 là chưa vị nào lột hết được cái ý và tứ của câu này. Chúng ta chỉ nhận định và phê bình, cũng như dịch lại câu này thôi.

Bản dịch Ban Tu thư Vạn Hạnh dịch "Nhậm vận" là tùy cuộc thì không chuẩn lắm. Theo ngôn ngữ, khi lập luận chữ "Tùy" (vấn đề gì đó) tức là chúng ta không chủ động mà là bị động, dầu cho 2 từ "Tùy cuộc" được dùng như khởi điểm của cụm từ "Không sợ hãi". Tư tưởng chủ đề của bài Kệ này là vô thường từ hiện tượng mây trắng ngút ngàn cho đến Bản thể tịch nhiên. Vô thường ở đây không phi là cái để hiểu mà là cái để chứng thực. Thế thì, tùy theo lẽ vô thường, nên không sợ hãi vạn pháp khi thịnh, lúc suy đó chưa phi là mục đích hoặc thái độ của người con Phật. Chúng ta hiểu vô thường không phi để không sợ hãi hay hãi sợ, mà hiểu vô thường để chúng ta tích cực nỗ lực tu tiến tự thân và đi vào cuộc đời với ý niệm "vọng kỷ, vị tha". Chỉ khi nào xả trừ vị kỷ để những tư duy của mình không bị ức chế, hướng dẫn bởi tự ngã thì khi ấy mới không sợ hãi. Như vậy cụm từ "không sợ hãi" này là kết qủa thực chứng của tiến trình thực nghiệm tu chứng tâm linh khi thấu suốt và nắm vững quy luật vạn pháp là vô thường, thạnh suy, suy thạnh. Cho nên "không sợ hãi" là một chủ điểm riêng biệt so với chủ điểm "Nhậm vận thạnh suy". Đây là hai chủ điểm của một chủ đề của bài Kệ. Dĩ nhiên, nhận xét này được phn nh ở bình diện từng bước một trên tiến trình tu chứng, chớ không phi xét trên bình diện tổng thể tu chứng. Xét trên tổng thể, nó như bước thứ nhất và bước thứ hai của một đôi chân. Nếu tách rời bước thứ nhất ra khỏi bước thứ hai thì không thể được và ngược lại cũng thế. Chỉ khi nào "nhậm vận thạnh suy" thì mới "vô bố úy". Cho nên, dịch "Nhậm vận thạnh suy" là "Tùy cuộc thạnh suy" thì ép nghĩa quá.

Nguyễn Lang câu 3: Nhìn cuộc thạnh suy, đừng sợ hãi. Câu này không chuẩn xác c hai vế, ta nhận định từng vế một. Như lập luận trên, 2 câu đầu bài Kệ chỉ mô t về vô thường vạn hữu đó chỉ là ý niệm của ngôn ngữ hoặc ký ức chứ chưa phi là sự đạt tới bằng liễu tri qua tu chứng. Dẫu một bậc trí gi nào nhận thâm ý vô thường và có một bước nhy vọt của tâm linh trong một sát na thì biên cưng của sự lột xác này vẫn có. Một lằn chớp hiện hữu trong một thời gian ngắn nhất thì nó vẫn để lại ngang lưng trời một ánh sáng nhất định dầu là hữu hạn. Thế thì "nhìn cuộc thạnh suy" là một cái nhìn tụ thủ bàng quan về mặt tưng đối, và là một cái nhìn khép kín về mặt tuyệt đối. Đây là cái nhìn của Thanh văn mà các kinh điển Phật giáo phát triển thường đề cập. Nếu Nguyễn Lang ngụ ý "cái nhìn thạnh suy" này thuộc cấp độ như Bồ Tát Quan Thế Âm thì được, cái nhìn khi thấu suốt Ngũ uẩn là không thực có, do từ trí tuệ thâm sâu Bát nhã thấy được. Nhưng lập luận như thế thì ba chữ "đừng sợ hãi" trở thành mâu thuẫn vô cùng. Chữ "đừng" được dùng theo nghĩa can gián, ra lệnh. ở cấp độ nhìn cuộc thạnh suy một cách tự tại thì chữ "đừng" trở thành khôi hài. Còn nếu xét về phương diện phàm phu vừa hiểu lý vô thường do "nhậm vận thạnh suy" thì "đừng sợ hãi" cũng trở nên thừa thãi. Nhưng nếu câu này được hiểu theo nghĩa khuyến khích thì được. Ví dụ: Cậu bé i! Hãy can đm lên, đừng sợ hãi. Thế nhưng câu này không thể áp dụng vào đây được. Vì tiền đề là "Nhậm vận thạnh suy" là một thực chứng và "vô bố úy" là một sở hành lưu xuất từ tu chứng thấy rõ cuộc đời và chúng sanh. Câu 3 là chủ đề tổng quan của bài th. Nếu câu 1 và 2 thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan, câu 4 nêu lên xã hội quan, câu 3 là tu chứng quan. Đây là lãnh vực quan trọng nhất của người con Phật. Chúng ta sẽ bàn rõ vấn đề này ở phần triển khai tư tưởng bài Kệ.

Thích Thanh Từ, Ngô Tất Tố ở câu 3: Đều có hai quan điểm giống nhau hoặc trùng lập với ý niệm của Nguyễn Lang. ở đây chỉ phân tích vế đầu với cụm từ "mặc cuộc thạnh suy". Cụm từ này tạo cho ta một ý tưởng là tác gi không quan tâm gì đến cuộc đời, phó mặc cho nó theo lẽ thạnh suy. Đây là một cái nhìn tiêu cực, sau khi hiểu cuộc đời là vô thường nên sinh ra chán nn, yếm thế, bi quan. Đạo Phật thuyết minh lý vô thường không phi để chán nn, hoài nghi với cuộc đời và chính mình khi nhận thấy mình như là một vật đang bị chi phối bởi cn lốc xoáy; mà trình bày nó như một dụng ý tích cực. Quy luận vạn pháp là vô thường. Hiểu vô thường để tiến tu chuyển xấu thành tốt. Vì vô thường nên vạn pháp, vô ngã, duyên sinh và vì vô ngã duyên sinh nên chúng ta có thể đổi được. Một người bị dục tham chi phối làm cho khổ đau, nếu người ấy hiểu rằng: dục tham là vô thường, sau khi hiểu như thế với nỗ lực tinh tấn và đúng phương pháp vị ấy sẽ chuyển khổ đau thành hạnh phúc. Vạn Hạnh đã hiểu rõ điều này nên không có lối sống thờ , lãnh đạm với nhân sinh thời thế mà luôn tỏ ra chủ động. Điều này được minh chứng khi ngài quyết đoán về trường hợp phá Tống, Bình Chiêm giúp cho Vua Lê và triều đình thêm quyết tâm. Ngài cũng đã đóng vai trò hoàn toàn tích cực trong cuộc cách mạng vận động tuyên truyền, phế Lê lập Lý. Thế thì làm sao nhìn cuộc đời bằng cái nhìn "mặc nhiên" được. Những lời Kinh Phật thuyết dầu đn gin hay thâm sâu đều không dừng lại ni phạm trù triết lý ngữ ngôn. Sau khi thuyết minh khổ đau, nguyên nhân tạo khổ đau, Phật thuyết minh phương pháp thoát ly khổ đau và con đường đưa đến diệt tận khổ đau. Đó là tinh thần tích cực, viên dung nhất của Phật giáo. Kinh điển Nguyên Thủy có cụm từ "Phật Pháp thuyết tốt đẹp ở chặng giữa, chặng đầu và chặng cuối", là chỉ cho sự viên mãn của giáo lý Phật.

Các triết gia phương Tây thường hay bí lối sau khi thuyết minh được hiện tượng giới. Vì Bản thân họ sau khi trực nhận những khổ đau đang xy ra trước mắt hoặc thầm kín trong tâm hồn, họ liền tuyên thuyết lên một sự thật cuộc đời, thế thôi. Những triết gia này luôn tìm sâu trong lý luận, ngôn thuyết chứ không có một phương thức nào do dụng công lâu ngày để thấy được bộ mặt thật đằng sau hiện tượng giới. Héraclite - triết gia nổi tiếng Hy Lạp cũng chỉ dừng lại phạm trù triết lý khi tuyên bố cm nhận được vô thường: Bằng câu "A man can not step twice in the same river" không ai bước hai lần cùng một lúc trong một dòng sông.

Triết lý chỉ cởi bỏ ý niệm lầm lạc trong tư tưởng một cách nhất thời. Nếu dừng chân tại đây chúng ta sẽ trở thành yếm thế hoặc bất cần đời. Đạo Phật chủ trưng: Sau khi dùng ý niệm chân xác để chấn chỉnh những tư duy sai lạc ban đầu, hành gi phi đi vào thực tập Thiền Quán thật lâu để tạo nên một định tâm. Và từ định tâm ấy hành gi nhìn rõ vạn pháp và thoát khỏi ý niệm chân xác ấy, từ đó những chấp thủ sai lầm sẽ vỡ tung. Đến đây hành gi dấn thân vào cuộc đời đem lại hạnh phúc, an lạc cho nhiều người. Cho nên, trực nhận vô thường chúng ta sẽ tích cực hn, chứ không hề có tư tưởng "mặc kệ" Đạo Phật thường bị hiểu nhầm và chỉ trích vô thường là bi quan, yếm thế. Đây là loại "tư duy thiếu máu" không đủ lực để suy xét tận cùng. Để xóa tan những thành kiến này chúng ta thử bàn rộng phạm trù này qua các dòng tư tưởng tiêu biểu thời đại của triết thuyết Đông Tây xem sao?

Ấn Độ - xứ sở của thiên nhiên nghiệt ngã và nhiều triết thuyết nhất ở phương Đông, quan niệm con người sinh ra bởi Phạm thiên và sau khi chết trở về với Phạm thiên. Đó là lối thoát cuối cùng cho con người của nền triết học đa phức này. Con người chỉ định đoạt sau khi chết còn lúc sống chỉ cúi đầu tuân chịu và an phận theo số mệnh nhân qủa chính mình. Sự bế tắc của con người được dẫn vào lối huyền hoặc, linh thiêng và hoàn toàn xa lạ với nỗi thống khổ con người. Trung Hoa thì đưa ra ba quan niệm: an nhiên thủ phận, xa lánh cuộc sống trần thế khổ đau. Tìm sự bình an trong những cnh rừng núi quạnh hiu. Đem sự trốn chạy cuộc đời đối diện với cây cỏ, mây ngàn, xem sự im lặng đó là lối thoát cho chính mình.

Một triết thuyết khác thì lao vào cuộc đời bất ổn với chiêu bài Chính Danh nhằm đánh thức lưng tri con người mong tìm một sự ổn cố giữa dòng đời ly loạn. Nếu sanh bất phùng thời thì tự an ủi với những khúc nghê thường, ly tao và chén rượu tiêu sầu.

Hiện thực khổ đau vẫn tồn đọng, dầu cho Chính Danh được ca tụng và tư tưởng siêu nhiên được mến chuộng. Để rồi quan niệm thần linh xuất hiện xem như giải pháp cuối cùng cho số phận con người. Phấn đấu suốt đời với lưng thiện để trở thành Thiện thần, sống cuộc đời bất chánh để trở thành ác thần. Thần linh là cái mốc gỡ rối cho triết học Trung Hoa. Các dân tộc Âu Mỹ, Địa Trung Hi đặt cuộc đời mình vào ý niệm hồn thiêng bất tử, thiện hồn được về nước chúa, ác hồn bị đày ni địa ngục khổ i muôn đời.

Hàng bao thế kỉ qua, các triết gia, các tôn giáo luôn duy trì ý niệm Duy nhiên Nhất thể, Duy nhiên siêu thoát để làm mục tiêu trừu tượng cho mình. Đó là sự đánh lừa mê lầm, kinh khiếp. Lãnh vực siêu nhiên trừu tượng là chỗ ngôn từ, ý niệm, suy luận đặt chân đến. Cho nên nó tồn đọng song hành cùng những hình thái ấy. Rồi Duy Vật ra đời như hiện thân của cứu tinh tư tưởng thời đại. Nhưng những cm giác khổ đau, những cm thụ hoan lạc, những văn minh kỹ thuật không giải quyết được sự khổ đau luôn hiện tồn của nhân loại. Duy Vật trở thành ngõ cụt của trào lưu hiện hành. Không giải thoát được hiện tượng chán chường, tư tưởng hiện sinh, cóc cần, phó mặc quay lưng lại cuộc đời bắt đầu xuất hiện trong lớp thanh niên trẻ. Họ là những con người không bao giờ bằng lòng với cái cũ, nhất là những cái cũ mang tính che đậy lừa lọc, gi dối và trừu tượng. Họ luôn khao khát đi tìm cái mới, nhưng chân lý vẫn ngút ngàn xa xăm. Và càng đi tới thì hố thẳm cuộc đời đang hiện ra trước mắt họ, và sau lưng lại là những hoang tàn, sụp đổ của một thời đi qua. Họ cm thấy cô độc, vừa chán nn vừa sợ hãi trống rỗng hư vô. Và trước hư vô họ cm thấy thân phận mong manh qúa. Những tên tuổi lừng danh như: Hemmingway, Jacklondon, Marilyn Monroe đã trốn chạy cuộc đời với ý niệm tự vẫn để hòa nhập hư vô. Và vô thường được họ hiểu là một sự huyễn hoặc, để đồng hóa huyễn hoặc với o tưởng.

Đây là một hệ qủa của những ai dừng chân lại vô thường trên ý niệm. Và vì những ý muốn tồn tại do khát ái đem lại, một nghịch lý khác lại khởi lên: Dù biết huyễn hóa nhưng vẫn khao khát sống, dẫu biết rằng kiếp người phù sinh chìm nổi, nhưng sự đắp tô cuộc đời và tự ngã vẫn miệt mài. Đây là con đường cùng của tư duy theo chiều hướng: "Tư duy không được chẳng cần tư duy nữa. Hãy quên những gì trước mặt đi và đừng nhìn nó nữa." Thế là hiện hữu đánh lừa hiện hữu. Phi thừa nhận rằng những cuộc chiến tranh triền miên của hai thế kỷ 18 và 19 một phần nào giúp con người thoát khỏi vỏ bọc tư duy và đối diện lại cuộc đời. Một người nông dân đang đói khổ thì tư duy lúc ấy chỉ nằm trong bao tử mà thôi. Còn hạng người ham chuộng triết lý thì luôn hi vọng sẽ có một thánh nhân xuất hiện để cứu tinh nhân loại. Trong chừng mực nào đó, sự hi vọng sẽ cứu người ta thoát khỏi tuyệt vọng. Còn các nhà tôn giáo thì sao? Họ chấp giữ những tư tưởng siêu thoát đến nỗi suốt ngày họ chỉ sống với ý niệm trừu tượng cao xa. ở một thời điểm nào đó, tư duy như vậy cũng khiến người ta an tâm hn, dầu đó là sự an tâm trong lừa dối. Như một con ngựa đang trên một hành trình xa xôi, chỉ nhìn thấy bó cỏ xanh tươi treo trước mắt và hi vọng một lúc nào đó bó cỏ ấy sẽ thuộc về mình. Niềm hi vọng ấy thật sự cổ vũ, trợ lực để chú ngựa đến đích. Một số nhà hoạt động tôn giáo không có kh năng nhận thấy những sự lợi ích thiết thực của tôn giáo mình đang theo, mê lầm chỉ biết tôn thờ đến độ mù quáng để lý tưởng ấy trở lại khống chế lấy mình, phong tỏa cứng ngắc cuộc đời. Đó là những nhiêu khê của nền triết học và những tôn giáo chỉ biết phụng thờ tôn kính những gì giáo chủ mình dạy. ở đây, chỉ xin bàn một cách tổng quan về các dòng triết học có quan niệm giải thoát con người ra khỏi đau khổ, không dám khai triển thêm sợ e rằng nhiều người cho là viết phóng tay.

Trở lại Đạo Phật, con đường thánh đạo tám ngành được xem như một phương pháp hữu hiệu dứt trừ vọng tưởng mê lầm, thoát khỏi khổ đau. Phương pháp này được thuyết minh chân xác và đầy đủ. Nó không chỉ nói về những cách sống chân chánh thiết thực trong đời sống của người con Phật: Chánh ngữ, Chánh tư duy, Chánh nghiệp vv Mà còn thuyết minh những chi phần khác: Chánh niệm, Chánh định, Chánh kiến xem như quyết định giải thoát khổ đau. Như vậy, Đạo Phật không chỉ trang bị cho con người những phương pháp tránh né những khổ đau đang hiện hữu ngay trong cuộc sống chung đụng của chúng sanh, mà còn hướng dẫn một phương cách hữu hiệu giải thoát vĩnh viễn khổ đau ấy. Đạo Phật rõ ràng, thực tế và chính xác như vậy. Đó là thái độ của bậc tuệ giác không đưa ra những triết thuyết ỡm ờ, vòng vo, ru ngủ, lừa dối. Trên căn thuyết này, chúng ta thấy: từ mặc kệ, mặc cuộc thạnh suy thật qúa ép nghĩa.

Thượng tọa Mật Thể dịch câu 3: Sá chi suy thạnh cuộc đời. Ngoài những vướng mắc vào những sai lầm nêu trên, ngài còn đi qúa đà trong việc quên hẳn ý niệm quan trọng "vô bố uý" nữa. Dịch như vậy dễ gây ý niệm ngộ nhận Bản ý của tác gi. Vô thường là để tích cực, không hệ lụy những cnh sanh diệt, diệt sanh của thế gian. Chúng ta không màng đến sự suy thạnh của cuộc đời để rồi kết luận: Thạnh suy như hạt sưng ri đầu cành. Theo thiển ý, sau khi trình bày câu 3 như tu chứng quan của mình, nên bật lên ý nghĩa; giác ngộ của pháp là vô thường, duyên sanh, vô ngã các ngài đã không bị thạnh suy cuộc đời làm vướng bận. Chỉ khi nào ta liễu ngộ, vô ngã thì mới vô bố úy. Vì ngã không còn lấy gì để sợ hãi. "Mình vô ngã các pháp vô ngã. Mình sanh diệt, các pháp diệt sanh cùng chung đồng thể" thì sợ hãi cái gì. Hn nữa, nói sợ hãi thì phi đặt vấn đề: cái gì sợ và sợ cái gì? Ví dụ: tôi sợ chó điên vì tôi không phi là cùng chủng loại chó điên như nó. Nếu cùng là chó điên c thì có gì để sợ.

Vậy thì ta và pháp cùng chung một thể, vậy không bố úy là phi. Nhưng phi ở cấp độ Nhậm vận, tức là thắng tri như thật các pháp là vô ngã thì mới vô bố úy được. Câu 4 tiếp theo như thuyết minh: thái độ nhập thế tích cực của các bậc chứng đạo với ý niệm: vô trụ, vô chấp vv Vì thế câu 4 không hề thừa thãi khi hai câu đầu đã thuyết minh hình nh vô thường. Có thể ví vô thường trên là hình nh núi sông của người vừa tu đạo, và hình nh vô thường câu kết là núi sông của người hiểu đạo. Xem thế, từ sá chi được dùng ở câu 3 là lệch nghĩa. Dịch như vậy sẽ biến vô thường thành quan điểm bi quan, yếm thế.

Cụ Nguyễn Đăng Thục dịch câu 3: Noi theo vận mệnh lên xuống tự nhiên không còn lo sợ. Vậy là chữ Nhậm vận được dịch là noi theo vận mệnh. Chữ noi theo thì đã phê bình như chữ tùy theo, tùy cuộc ở những bài dịch trước rồi. Đây chỉ bàn đến chữ vận mệnh. Qủa thực từ này nh hưởng Nho giáo nhiều. Chúng ta có thể chấp nhận những nhà Nho mượn ngôn ngữ Nho gia giải thích Phật học nhưng ở phạm trù này, thì không đúng. Vì sao? Vì Bản chất vạn pháp là vô thường dù là hữu tình hay vô tình. Có nghĩa những nghiệp lực tạo thành thân hữu tình cũng vô thường, Bản thể vô tình lại cũng thế. Làm gì có vận mệnh ở đây mà phi noi theo. Vận mệnh tức là dùng chỉ cho một cái gì đã định tính. Mà vô thường Phật thuyết thì sanh diệt trong từng sát na. Hiểu tận cùng chữ sát na này cũng chỉ là một biểu tượng nhỏ nhất của một thời gian cho nên, ngay c sát na cũng không định tính được. Ví dụ: Thủy triều của dòng sông khi lên, lúc xuống. Nước dòng sông lúc đục, lúc trong. Đó là Bản chất của nó. Không lẽ nhìn dòng sông khi trong bo là vận mệnh dòng sông trong. Thật vô lý vậy! Đi đến tận cùng của thuyết minh vô thường, ngay c từ vô thường để chỉ vạn pháp cũng chỉ là gi mượn ngôn ngữ để thuyết minh đối trị căn bệnh chấp thường hoặc chấp đoạn của chúng sanh. Các pháp hiện hữu lừng lững ra đó. Có chi là thường, là vô thường. Trong một đoạn khác cụ giải thích thêm: ở đây cái tâm giác ngộ của Thiền sư đã mượn cái nguồn sống tuần hoàn điều lý bất tuyệt trường tồn của vũ trụ. Dịch để nối liền hai phương diện của sự sống: Sống đời và sống đạo, dụng với thể d

Được chỉnh sửa bởi huongmy on Jun 28 2006, 10:46 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Jun 28 2006, 10:45 PM
Gửi vào: #28


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 532
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Tăng Chi IV, chưng 7 và 10 pháp ngài dạy Vua Chúa, cấp lãnh đạo về biện pháp ci thiện kinh tế, xã hội, 7 điều kiện cho xã hội cường thịnh và 10 pháp trở thành nhà lãnh đạo tốt. Và bàng bạc trong nhiều kinh điển khác: Kinh Sigalà, Trường Bộ số 31. Ngài dạy mối tưng giao xã hội Tăng Chi 4B trang 220, Tưng Ưng I trang 1. Trung Bộ III, kinh Nhất Dạ Hiền ngài dạy 6 pháp cho mỗi cá nhân muốn tạo hạnh phúc gia đình.

Như vậy, rõ ràng sự tham cứu của các tư tưởng khác là việc luôn có trong các nhà nghiên cứu học thuật, nhưng nghiên cứu để bị nh hưởng nhất là bị nh hưởng trong bài Kệ Thị Chúng thì đó là một kết luận võ đoán.

Những nhận định trên đây của kẻ hậu học không ngụ ý kích bác chê bai nào c, mà là sự hiện thân của một dòng tư tưởng luôn tuôn chy. Tư duy cũng như ngôn ngữ luôn đặt mình vào sự tưng đối. Cho nên, đây là phê bình những ngôn từ của những tác gi trên, chớ không phi phê bình tác gi.

3. Dịch lại bài kệ sang Việt ngữ

Như chúng tôi đã nêu trên. Các câu 1,2,4 trong bài Kệ đều dịch thoát từ và đủ ý. Duy chỉ câu 3 chúng tôi đề nghị giữ nguyên 2 chữ Nhậm vận và chú thích thêm cho rõ nghĩa.

Thân như sấm chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi, thu héo hon
Nhậm vận thạnh suy không sợ hãi
Thạnh suy như cỏ đọng sưng hồng.
4. Triển khai tư tưởng bài kệ.
Xét về mặt ngữ ngôn, bài Kệ này thuần túy dùng từ ngữ t sự vật. Các từ biểu tượng như: thân, điện nh, Vạn lộc, xuân, thu vv đều là những từ diễn t thế giới vật lý. Vậy đây có phi bài Kệ t sự không? Chúng ta nên hiểu các Thiền sư khi vấn đáp cùng đệ tử hoặc Thiền khách thường nói về Sự hn là Lý. Các ngài ít bàn về Lý tánh. Như cây tùng của Triệu Châu, cuộc đối thoại giữa Vô Ngôn Thông và Thiền khách, hoặc với Huệ Tịch, hay Thiền Lão Thiền sư với Lý Thái Tông. Vua hỏi: Hàng ngày Hòa Thượng làm gì? Đáp: Thủy trúc hoàng hoa phi ngoại cnh. Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân. (Trúc biếc hoa vàng đâu cnh khác. Trăng trong mây hạc hiện toàn chân.) Hay như Viên Chiếu Thiền sư tr lời vị Tăng hỏi: Phật với Thánh nghĩa là gì? Sư đáp: Ly hạ trùng dương cúc. Chi dầu thục khí oanh. (Trùng dương cúc nở dưới rào. Trên cành chim hót thanh tao nhẹ nhàng) Vị Tăng vẫn chưa hiểu, Sư tiếp: Trú tắc kim ô chiếu. Dạ lai ngọc thế minh. (Ngày thì vầng nhật chiếu. Đêm đến ánh trăng soi.) Có Tăng hỏi: Tất c chúng sanh từ đâu đến, sau khi chết đi về đâu? Sư đáp: Manh qui xuyên thạch bích. B miết thưởng cao sn. (Rùa mù dùi vách đá. Trạch què trèo non cao.) ... các hình nh về Sự luôn thấy bàng bạc trong văn học Thiền Việt Nam. Đó là chỗ dụng tâm độc đáo của Thiền, một tông phái muốn chúng ta trực nhận thực tánh vạn pháp, chứ không được cm quan suy luận hay tư duy trừu tượng. Vì thực tánh của Pháp vốn là vô ngã. Còn tư duy về thực tánh là hữu ngã. Mọi tư duy của con cá về mặt đất thì sẽ hình dung mặt đất hoàn toàn được cấu tạo bằng chất lỏng như nước. Xa hn một bước, dầu tư duy và ngôn thuyết đúng như thực tánh thì đó cũng chỉ là ý niệm thực tánh chứ không phi là đích thực thực tánh. Các Thiền sư dùng Sự để lôi kéo hành gi đang trực vấn trở về thực tế mà nhìn vào thực tại. Hn nữa, hữu tình và vô tình cùng chung một pháp tánh. Thấy được Bản chất của vô tình, cũng thấy được Bản chất của hữu tình. Trên căn nguyên ấy, các Thiền sư thường dùng sự vật hiện tiền trước mặt. Bài Kệ này cũng không ngoài quy luật trên. Chúng ta thử phân chia bài Kệ theo 4 hướng: Câu 2 Thế giới quan; Câu 1 Nhân sinh quan; Câu 3 Tu chứng quan và câu 4 là Xã hội quan. Sự phân chia này chỉ cốt phn ánh lên sự đa dạng, phong phú nhiều mặt của bài Kệ. Thực ra một câu cũng đã đầy đủ 4 phạm trù này rồi. Trên sự chia sẻ cm thông ấy, chúng ta đi vào phân tích bài Kệ.




Câu 2: Thế giới quan

Khác với các thuyết minh của các tôn giáo khác chấp nhận thế giới này do một Thượng đế quyền năng tạo (C Đốc giáo, Tin Lành giáo) hay do một đại ngã (Bhàhman) cấu thành (Bà La Môn giáo) hoặc do sự tuần hoàn thuần túy sự vật tạo nên (Duy Vật). Phật giáo tuyên bố: Thế giới này hình thành là do duyên sanh, theo công thức: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này không có mặt cái kia không có mặt. Do cái này sinh, cái kia sinh. Do cái này diệt cái kia diệt.

Công Thức này không nên hiểu như một định đề của lý luận, mà đây là một chân lý biểu hiện được trực nhận và tuyên thuyết của bậc Đại Tuệ. Thuyết minh công thức này, đạo Phật đã tr lại cho thực tại thế giới trở về uyên nguyên của nó. Thực tế và thực tại thế giới là một. Một số người tìm hiểu đạo Phật qua ngôn thuyết thường tỷ giáo và phân chia hai phạm trù này ra làm hai. Xem thực tế là hiện tượng giới, thế giới và thực tại là Bản thể thế giới. Quan điểm này hoàn toàn là sai lầm. Vì sao? Chỉ bằng phân tích chúng ta cũng có thể hiểu được vấn đề này. Ví dụ: thực tế một cái cây đang xanh tươi và có những lá khô héo, vàng úa cùng hiện ra trên thân cây ấy trong một thời điểm. Thực tế đó luôn chuyển dịch theo quy luật: Thành, trụ, hoại, không một cách tưng tục. Sự hiện khởi hay hoại diệt của các pháp tùy theo chủng loại và những điều kiện tưng quan quanh nó. Vạn pháp trở thành vô thường ngay tại thực tế. Và chính thực tại cũng vô thường ngay trong Bản chất, nên mới có thể hiện khởi một thực tế vô thường. Trong Twelve principles of Buddhism có viết: The first fact of existence is the law of change or impermanence . All that exists, from mole to a mountain, from a thought to an empire, passes thought the same cycle of existence - l.e., birth, growth, decay and dead. Life alone is continous, ever seeking self expression in new forms "Life in a bridge, therefore build no house on it" Life's a prosess of flow, and he who clings to any form, however splendid will suffer by resisting the law. Điều kiện nhận thức trước tiên trong cuộc sinh tồn là luật biến dịch hay vô thường. Vạn vật hiện hữu trên thế gian, từ một mô đất cho đến một qủa núi, từ một ý niệm nhỏ nhặt cho đến một đế quốc vĩ đại, đều phi tri qua 4 giai đoạn của chu kì sinh tồn: sinh ra, trưởng thành, già cỗi và chết mất. Chỉ có sự sống là nối tiếp luôn luôn biểu hiện trong những hình thức mới. "Kiếp sống ví như một chiếc cầu, thế cho nên đừng xây cất nhà cửa ở trên đó" Kiếp sống trôi đi như dòng nước và ai bám vúi vào hình tướng dù là huy hoàng cho mấy đi nữa, người ấy sẽ đau khổ vì không chống lại sức nước cuốn trôi.

Nhân đây, chúng ta xác lập với nhau về hai danh từ: vô thường và vô ngã. Theo phân tích sự thể thì vô thường là đứng về mặt thời gian để nói, vô ngã được xét về mặt không gian. Còn đứng về mặt duyên sanh thì mọi vật chuyển biến từng sát na nên vô thường, vì chuyển biến ấy nên mọi sự vật không có thực thể nên gọi là vô ngã. Vậy thì, thực tế và thực tại các pháp chung một Bản thể là vô thường và vô ngã. Vì thế, nói về Sự các pháp tức là nói về Lý các pháp, Sự không tách rời Lý mà có và Lý không tách rời sự mà hiện hữu. Cho nên, thế giới quan Phật giáo không phi do những vật thể cứng ngắt thuần túy vật lý tạo thành như Duy vật hoặc mông lung, huyền hoặc như Duy thần, hay siêu linh mặc phi như Duy linh, Duy nhiên. Mọi sự thật trước mắt ta đều mang dáng dấp của thực tại. Nói cách khác thực tại đang hiển hiện trước mắt ta bằng một thực tế sống động. Nàgàjuna (Long Thọ) đã xác nhận lập luận này qua câu: Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành. Nhược vô không nghĩa gi. Nhất thiết pháp bất thành. ở bộ Trung Quán Luận, nàgàjuna đưa ra thuyết Bát Bất để phủ nhận mọi chấp trước về thực tế và thực tại do kiến chấp mê lầm của chúng sanh.

Không diệt cũng không sanh. Không đoạn cũng không thường, không nhất cũng không dị, không đến cũng không đi. Khéo nói nhân duyên ấy, khéo diệt những lý luận. Con cúi đầu lễ Phật, bậc thuyết giáo đệ nhất.

Như vậy, sự phủ nhận toàn triệt của Phật giáo không nhằm phá hoại cuộc sống, biến nó thành trống rỗng, hư vô mà chỉ để đánh đổ những tư duy sai lệnh về cuộc đời và tr nó lại bộ mặt thật chính nó từ cội nguồn. Đạo Phật không giải phóng con người ra khỏi cái vỏ bọc vật chất đang hiện hữu, chỉ muốn giải phóng chúng sanh ra khỏi các tư duy hữu ngã đang trói buộc lấy chúng sanh mà thôi. Thế giới hữu tình cũng như vô tình là sự chuyển dịch theo quy luật nhất định. Tư duy hữu ngã phát nguồn từ vô minh, tham ái choàng phủ lên sự vật ngây th và kéo nó về làm ngã, ngã sở chính mình, khi ấy con người tưởng rằng mình là chủ nhân thế giới nhưng thực ra đã là nô lệ trong giây phút ban s của tư duy hữu ngã rồi. Đau khổ, bi kịch cuộc đời phát sanh từ đây. Cái gì phát sanh từ hữu ngã cái ấy luôn có giới hạn. Còn vô ngã là một sự thông suốt chuyển dịch nhiều đời nên không có giới hạn. Thế nên lấy cái giới hạn để cưng tỏa cái vô giới hạn là điều không thể được, không sớm thì chày vòng cưng tỏa ấy sẽ rụng vỡ và khổ đau sẽ hiển hiện. Thế giới này chuyển dịch, sống động nên từ thực tế cho đến thực tại các pháp phi vô thường vô ngã. Nếu thuyết minh vạn vật hữu ngã thì các pháp đã khô chết từ lâu rồi. Các pháp tưng quan, phn duyên nhau mà hiện khởi nên phi vô ngã.

Ví dụ: Cây Phượng đang khoe sắc thắm trước mặt ta là hiện thân của thực tế vô thường và thực tại vô ngã. Nó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các vật thể vô thường vô ngã khác đang hiện hữu tưởng chừng như đối lập nhau: đất, nước, gió và khí nóng. Vạn hữu vũ trụ đang có mặt trong cây Phượng một cách triết học. Nếu một trong những vật thể ấy có định tính hay tồn tại khô cứng theo hữu ngã thì nó sẽ không thể nào hiện hữu hòa điệu trong thân cây Phượng được. Đến thời gian nào đó cây Phượng sẽ vắng mặt và các thành tố tạo nên cây Phượng cũng không còn. Theo quy luật: Cái này có mặt cái kia có mặt; cái này không có mặt cái kia cũng không có mặt.

Thế giới quan thuyết minh trên lý duyên sanh là một thuyết minh trí tuệ. Nó soi sáng cho chúng ta thấy tận chân tướng các pháp. Nó giúp chúng ta điều khiển nhận thức sai lầm và các pháp như What the Buddha tought viết: An Arahant, though he acts, does not accumulate katma, because he is free from the false idea of self, free from the thirst for containnity and becoming, free from all other defilements and inpurities. For him there is no rebirth.

Một vị Alahart mặc dầu có hành động vẫn không dồn chứa nghiệp. Bởi vì vị ấy đã thoát ly những tư tưởng sai lầm về ngã, thoát khỏi lòng "tham" muốn tiếp tục sinh thành, thoát khỏi sự xấu xa bất tịnh khác. Đối với vị ấy không còn luân hồi.

Như vậy ở vào cấp độ Alahart các ngài đã thoát khỏi mọi hệ lụy về ngã do tham ái đem đến. Các ngài đã như thật tri kiến các pháp không có ngã và sở ngã. Như kinh Samyatta Nikaya (Tạp A Hàm) viết:" Thưa Thế Tôn, thế giới này tại sao là không? Bởi vì tự thân nó không có ngã và ngã sở, cho nên gọi nó là không. Những gì không có ngã và ngã sở: Mũi, tai, lưỡi, thân thể và ý, đối tượng tác dụng nhận thức của chúng cũng thế, không có ngã và ngã sở. Đến những cm thụ được tạo nên do các cm giác và tri giác trên dù là dễ chịu, khó chịu hay trung hòa cũng vậy đều không có ngã sở.

Bát Nhã- bộ kinh tiêu biểu của Phật giáo phát triển cũng đề cập chữ Không về thế giới ni cấp độ tri kiến của vị Bồ Tát như đoạn văn trích sau đây: Stasaharikà (Bách thiên tụng Bát Nhã) ?

Tu Bồ Đề: Bồ Tát phi thực hành thế nào để thấy được các pháp không còn tự tánh?

Đức Phật: Hình sắc phi được nhận thức như là không có tự tánh của hình sắc. Cm giác phi được nhận thức như là không có tự tánh của cm giác. (Và đối với các căn trần khác cũng vậy).

Tu Bồ Đề: Nếu mọi hiện tượng không tự tánh làm sao Bồ Tát có thể thực hiện Bát Nhã được?

Đức Phật: Sự không thực hiện chính là cái đang thực hiện Bát Nhã.

Tu Bồ Đề: Tại sao đó là cái không thực hiện?

Đức Phật: Bởi vì người ta không thể quan niệm được Bát Nhã, không thể quan niệm được Bồ Tát, không thể quan niệm về sự thực hiện, người thực hiện, phương tiện thực hiện và môi trường thực hiện. Do đó, sự thực hiện Bát Nhã là một sự "không thực hiện", trong đó mọi đàn thuyết đều không có giá trị gì.

Vậy là những quan điểm cho rằng Nguyên Thủy là tư tưởng thấp, Phật giáo phát triển là ngoại đạo đều sai lầm. Đã đến lúc chúng ta nên có một cái nhìn chân chánh về các bộ phái Phật giáo qua sự tu chứng tự thân hn là tỷ giáo ngôn từ rồi kết luận. Tuy nhiên, giáo pháp Bát Nhã có xác lập và khai triển tư tưởng Không này xa hn nhằm mục đích đáp ứng và thích nghi tư tưởng thời đại và quốc độ mà giáo pháp này truyền đến. Bát Nhã quan niệm: Chữ Không ở đây là nhất thiết đều không, tâm pháp đều không tự tánh, hiểu theo nghĩa thể và dụng. Về mặt thể thì chữ Không khác với nghĩa chữ Vô đối với chữ Hữu. Vì Vô có nghĩa là vô do gi hữu mà có. Nếu Không ở cấp độ ban đầu chỉ phủ định Hữu. Vì thế phi tiến thêm một bước nữa để phủ định cái Không từ phủ định Hữu mà có. Không Bát Nhã chủ trưng là tánh không, chân như không. Đó là cái không ly sanh tuyệt tướng. Như Đại Thừa Khởi Tín Luận nói: Nhất thiết pháp tùng Bản dĩ lai, ly ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng" Đây là cái Không làm thể các pháp, và Thiền sư Thuần Chân thế kỷ 12, đời thứ 12 dòng Tỳ ni đa lưu chi cũng nói: Chân tánh thường vô tánh. Hằng tằng hữu sanh diệt."

Với ý nghĩa như vậy ta thấy cái Không này khác hẳn với cái Không đối lập với cái Hữu. Nên khi tuyên bố vạn vật đều Không, Bát Nhã không có khuynh hướng chủ trưng hư vô luận, nó chỉ là một sự "ám chỉ thực tại tối hậu", không là "thực tại tối hậu" nên không thể đặt nó vào phạm trù lý luận nào. Vì tất c những gì thuộc về ý niệm đều mang màu sắc của ngã. Ngay c Không chân như cũng chỉ là gi danh nên bất cứ khái niệm nào về Không chân đều đối nghịch với Bát Nhã, Đó chính là diệu Lý thâm sâu của Bát Nhã, chỉ có trí tuệ mới thực chứng được mà thôi.

Tóm lại, thế giới quan Phật pháp thuyết minh trên 3 lý: vô thường, vô ngã và duyên sinh. Vạn pháp từ thực tế cho đến thực tại cũng đều hiển hiện, hoại diệt theo quy luật này. Cho nên nói đến Sự tức là đề cập Lý, thấy Sự là rõ Lý và ngược lại cũng thế. Tư duy sai lệch về các pháp là do hữu ngã. Điều chỉnh nhận thức tư duy chúng ta theo 3 quy luật trên là an lạc. Chúng ta không cần điều chỉnh lại thế giới đang lừng lững hiện ra trước mắt chúng ta. Đó là việc làm vô bổ. Khi trực nhận thế giới quan là vô ngã, vô thường, duyên sinh, chúng ta sẽ được tự tại trong các pháp và các pháp tự tại lưu xuất trong ta. Từ đó, có một cái nhìn như thật về vạn pháp. Chúng ta sẽ thấy vạn pháp là ta, ta là vạn pháp không có một sự khổ chết chống đối nào. Chỉ có một thể viên dụng nhất như: đó là cái nhìn của một bậc trí tuệ. Và Vạn Hạnh đã thể hiện ra câu: Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.

B. Nhân sinh quan. ( Câu 1)

Sau khi du ngoạn 4 cửa thành, tận mắt chứng kiến sự vô thường: sanh , già, bệnh, chết của con người, Thái Tử Sĩ Đạt Ta quyết tâm từ bỏ mọi lạc thú thế tục, quyết chí một thân một mình tìm ánh đạo giải thoát. Sau khi thành đạo bài thuyết pháp đầu tiên Thế Tôn đem đến cho loài người là 4 chân lý cuộc sống của con người. Vậy là, nguyên nhân chính làm động lực Thế Tôn xa lìa thế tục và lưu nhập lại thế gian là con người. Thật vậy, chúng ta dễ dàng tìm thấy bàng bạc trong kinh điển Phật đều lấy con người làm trung tâm, thuyết minh giáo lý. Điều khác biệt giữa những tôn giáo Duy Tâm, Duy Thân xem con người là sn phẩm trong một chiều buồn của Thượng đế tối linh, hoặc như Duy Vật cho rằng con người là kết qu của sự tiến hóa từ loài vượn người, Phật thuyết con người là do duyên sinh, và hiện thân của con người là Ngũ uẩn và môi trường con người va chạm là thập nhị xứ, thập bát giới Tứ đế. Đó là những điển hình tiêu biểu mà Phập thuyết về con người, Trong phạm trù này chỉ xin đề cập đến hai phần là Thập nhị nhân duyên và Ngũ uẩn.

Đức Phật định nghĩa Thập nhị nhân duyên như sau: Do vô minh có hành sinh; do hành có thức sinh; do thức có danh sắc sinh; do danh sắc có lục nhập sinh; do lục nhập có súc sinh; do súc có thọ sinh; do thọ có ái sinh; do ái có thủ sinh; do thủ có hữu sinh; do hữu có sinh sinh.

Như vậy, nguyên nhân sinh ra con người hiện tại là bắt nguồn từ những nhận thức không như thật về cuộc sống ở qúa khứ, tạo nên hệ qủa trở thành con người hiện tại. Nói đến con người là đề cập đến một sinh vật thượng đẳng thiện, ác lẫn lộn. ở đó không một nhất thể nào hiện hữu được. Đứng về hiện tại mà xét thì vô minh là khởi điểm tạo nên hai chi phần tiếp theo. Nhưng thật ra, theo duyên sinh thì một pháp hiện hữu là những chi phần còn lại cũng hiện khởi, chúng tồn tại và hoại diệt trong chung cùng Bản thể, với ý nghĩa: Vạn pháp là vô ngã. Vậy thì vô minh, điểm ách yếu nhất là một pháp nên cũng vô ngã. Nó là duyên sinh mà duyên sinh thì gọi là duyên sinh pháp là các pháp được tác thành, hữu vi, biến hoại, đoạn diệt, ly tham, vô thường. Bản chất Vạn pháp là vô ngã nên chúng ta có thể ci tạo được, nhưng phi hiểu rõ chúng và quyết tâm thoát ly chúng. ái là nguyên nhân dễ thấy nhất trong Thập nhị nhân duyên, nên quan niệm rằng ái là nguyên nhân chính sinh ra sự hiện hữu thân người. Chúng ta cũng có thể bo rằng do vô minh nên chúng ta khát ái, hoặc do khát ái nên chúng ta vô minh. Thập nhị nhân duyên không bao giờ nhấn mạnh đến một chi phần nào c. Chúng liên hệ tưng quan lẫn nhau. Và chỉ có trí tuệ Phật mới thấu rõ chân tướng định lý của vạn pháp này. Đức Phật dạy: Pháp duyên khởi ấy, dầu có Như Lai xuất hiện hay không xuất hiện an trú là giới tánh ấy, pháp trú là giới tánh ấy y duyên tánh ấy, Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, chứng đạt và tuyên bố, tuyên thuyết, khai triển, khai thị, phân biện, minh thị, minh hiển... Tuyên bố như vậy, Đức Phật đã trao trọn quyền quyết định Bản thân lại cho con người. Chúng ta thường ấm ớ khi nói về thân phận con người. Vì chúng ta hay phiêu lưu tư tưởng vào những khái niệm trừu tượng với hi vọng muốn tìm ra giải đáp con người sinh ra từ đâu và khi chết đi về đâu? Sự nghi vấn này đã lôi kéo chúng ta xuôi về qúa khứ hoặc đẩy đưa chúng ta phiêu bạt về tưng lai. Và hiện tại, mấu chốt của vấn đề lại bị chúng ta để chìm sâu vào quên lãng. Đức Phật thường dặn dò đệ tử phi an trú vào hiện tại và nhìn vào những gì đang cưng tỏa mình và chọn phương pháp thích hợp thoát ly chúng. Cái đối diện chúng ta là sự khổ đau phát xuất từ những ích kỷ chính mình. Twelve principles of Buddhism đề cập vấn đề này như sau:

Life being one, the interests of the part should be those of the whole. In his ignorance man thinks he can successfully trive for his own interests, and this wrongly directed energy of selfishness produces sufferings the learns from suffering to reduce and finally eliminate its cause. The Buddha taught Four Noble Truths.

A> The omnipresence of suffering.

B> Its cause wrongly directed desire.

C> Its cure the remoral of the cause.

D> The Noble Eight path of self development with leads to the end of suffering.

Bởi lẽ sự sống chỉ có một, mọi lợi ích của mỗi phân tử phi là lợi ích của toàn thể. Trong ngu dốt (vô minh) con người lầm tưởng có thể cạnh tranh để lần lượt thu về những lợi lộc riêng cho mình, và những nỗ lực sai lầm đầy ích kỷ đó chỉ tạo sự khổ đau mà thôi. Con người phi lấy khổ lụy làm bài học, để gim bớt gánh khổ đau và cuối cùng diệt trừ nguyên nhân sự khổ. Đức Phật dạy 4 chân lý cao c:

A> Sự thống khổ cùng khắp.

B> Nguyên nhân của thống khổ là do ham muốn mà ra.

C> Phương thuốc trừ khổ là diệt trừ ham muốn.

D> Bát chánh đạo là con đường tu tỉnh đưa đến sự diệt khổ.

Trên thực tế ngã và ngã chấp là căn Bản của vô minh, vô minh và ngã chỉ là một. Chúng nưng vào nhau hiện hữu trong cùng một khối Ngã là ni trú ẩn lý tưởng nhất của vô minh. Vô minh thì nhạy bén tinh tế vô cùng giữa sự vây bọc của các chi phần khác. Đem tri thức để diệt trừ vô minh khác gì tát nước trong lúc trời đang mưa. Tri thức không thể nào đánh đổ vô minh được, vì nó là con đẻ của tư duy hữu ngã. Dẫu tri thức ấy là biểu hiện chân lý thì nó cũng chỉ là xác chết ngàn thu của chân lý mà thôi. Đem một sinh thể tàn lụi sinh lực vào lĩnh vực tu tiến là điều khờ dại. Cái học không thể giúp ta giác ngộ. Học nhiều không thể thành Phật. Vì cái học khởi nguồn từ nhận thức. Thiền Sư Hưng Nghiêm Trí Nhân là một Pháp sư ging kinh như nước chy mà phi đi tìm ni hoang vắng tỉnh tu vì chưa ngộ được đạo từ ni kinh sách. Trong kinh nghiệm thực tập tâm linh dùng một biện pháp chế ngự ác pháp, thì ác pháp chỉ tạm thời lắng dịu chớ không hoàn toàn triệt tiêu. Vì thiện pháp và ác pháp cũng đều do vô ngã nên không thể đối chọi nhau được, nên rất là tự nhiên khi vô minh yểm trợ cho cái tôi sinh hoạt trong cuộc sống. Nếu không nhận thức được vấn đề này chúng ta dễ bắt nguồn tu từ: "Thiện chí của vô minh".Cho nên dầu cho vô minh là nguyên nhân chủ yếu trong sự sinh trưởng con người, nó vẫn là một khái niệm hoàn toàn m hồ. Ai bắt nguồn từ vô minh để đoạn diệt tu chứng thì người ấy chưa biết phương pháp diệt trừ vô minh và chưa thật hiểu về con người. Hãy nhìn vào những nguyên nhân chủ yếu trực tiếp, gần gũi khiến ta khổ đau mà đoạn trừ. Chẳng hạn, bạn dễ bị các quan điểm buộc chặt lấy mình, hoặc tham ái làm mình khổ đau thì hãy nhìn rõ Bản chất chúng và luôn duy trì ý niệm: Các Pháp này là Duyên sinh, không có thật có xa lìa những duyên tạo ra chúng thì tự thân nó sẽ triệt tiêu. Chúng vô thường, vô ngã. Vì nó luôn hiện hữu, đoạn diệt trong cuộc sống thường nhật. Sau khi hiểu được như vậy các bạn sẽ thấy: "Cái này không phi là ta, là tự ngã của ta" Nếu không xác nhận như vậy, các bạn sẽ cm thấy Duyên khởi như một sự phủ nhận toàn diệt về những gì hiện khởi trong ta. Sự ngần ngại, do dự này không phi thế kỷ chúng ta mới có, mà khi Thế Tôn tại thế, tôn giá Moliya Phaggama đã hỏi: "Bạch Thế Tôn ai cm xúc, ai thọ? Ai khát ái, ai chấp thủ? " Thế Tôn dạy: Như Lai ta chỉ dạy xúc, thọ, ái , thủ.. chứ không dạy người nào xúc, thọ... Nên các câu hỏi đó không phù hợp với định lý duyên khởi. Câu hỏi phù hợp phi là do duyên gì xúc sinh, thọ sinh?


Vậy là, những gì thuộc về ta hay được gọi là ta thì không bao giờ có dù trong ý niệm. Cái thuộc về ta đã không thật có thì cái thạnh suy, suy thạnh, sanh diệt, diệt sanh cũng vậy. Chẳng qua như người bệnh mắt nhìn thấy hoa đốm giữa hư không, thế thôi. Thập nhị nhân duyên giúp chúng ta cởi bỏ những nhận thức lầm lạc đeo nặng trên đôi vai hữu ngã của mình. Ta thấy ni đây là một ý niệm tích cực cho con người và giải tỏa những mối bận tâm không chính đáng về thân phận con người.

TVHS

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Jun 28 2006, 10:49 PM
Gửi vào: #29


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 532
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87




THƠ HUYỀN QUANG LÝ ĐẠO TÁI
Phiên âm:
Ngọ thụy

Vũ quá khê sơn tịnh,
Phong lâm nhất mộng lương.
Phản quan trần thế giới,
Khai nhãn túy mang mang.

Dịch nghĩa:

Ngủ trưa

Sau mưa, khe và núi đều sạch làu,
Một giấc mộng mát mẻ trong rừng phong.
Ngoảnh nhìn lại cõi đời bụi bặm,
Mở mắt, mà dường như say choáng váng.

Dịch thơ:

Mưa tạnh, núi khe sạch,
Rừng phong một giấc mơ.
Ngoảnh nhìn đời bụi bặm,
Mở mắt dường say sưa.
Ðỗ văn Hỷ dịch

Sau mưa núi lặng khe trong,
Êm đềm một giấc rừng phong lặng tờ.
Ngoảnh nhìn thế giới bụi mờ,
Mở to đôi mắt mà ngờ như say.
Băng Thanh dịch

Phiên âm:

Chu trung

Nhất diệp biển chu hồ hải khách,
Xanh xuất vi hàng phong thích thích.
Vi mang tứ cố vãn triều sinh,
Giang thủy liên thiên nhất âu bạch.

Dịch nghĩa:

Trong thuyền

Một lá thuyền con, một khách hải hồ,
Chèo khỏi rặng lau, tiếng gió xào xạc.
Bốn bề mịt mù, con nước buổi chiều đương lên,
Một chim âu trắng giữa khoảng nước trời liền nhau.

Dịch thơ:

Dấu khách giang hồ thuyền một lá,
Hàng lau lách gió chèo thong thả.
Bốn bề trông quạnh ngọn triều lên,
Nước biếc liền trời âu trắng xóa.
Ðinh văn Chất dịch (Tạp chí Nam phong)

Giang hồ tếch một lá thuyền con,
Chèo khỏi hàng lau, gió dập dồn.
Trắng xóa chim âu, trời lẫn nước,
Mịt mù bốn phía ngọn triều tuôn!
Nguyễn huệ Chi dịch


Phiên âm:

Thứ bảo khánh tự bích gian đề
Hoang thảo tàn yên dã tứ đa,
Nam lâu Bắc quán tịch dương tà.
Xuân vô chủ tích thi vô liệu,
Sầu tuyệt Đông phong kỷ thụ hoa.

Dịch nghĩa:

Họa bài thơ đề trên vách chùa bảo khánh
Cỏ hoang khói nhạt, tứ quê chan chứa,
Lầu Nam quán Bắc dưới bóng chiều tà.
Tiếc thay cảnh xuân không có chủ, thơ không có nguồn thơ,
Mấy cây hoa buồn bã trước gió xuân.

Dịch thơ:

Khói nhạt đồng hoang quê lắm vẻ,
Lầu Nam quán Bắc, xế vừng hồng.
Thơ không thi liệu, xuân không chủ,
Mấy cội hoa sầu nhớ gió Đông.
Nguyễn đổng Chi dịch (Việt Nam cổ văn học sử, tập II)

Phiên âm:
Sơn vũ

Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la,
Dĩ hĩ thành thiền tâm nhất phiến,
Cung thanh tức tức vị thùy đa!

Dịch nghĩa:

Nhà trong núi

Đêm khuya gió thu sịch động bức rèm,
Nhà núi đìu hiệu gối vào lùm dây leo xanh biếc.
Thôi rồi, lòng ta đã hoàn toàn yên tĩnh,
Tiếng dế vì ai vẫn rầu rĩ mãi.

Dịch thơ

Gió thu khuya khoắt thoảng hiên ngoài,
Quạnh quẽ nhà non lấp ruối gai.
Thôi đã theo thiền lòng lặng tắt,
Nỉ non tiếng dế vẫn vì ai?
Nguyễn Huệ chi dịch

Phiên âm:

Cúc hoa

I

Tùng thanh Tưởng Hủ tiên sinh kính.
Mai cảnh Tây hồ xứ sĩ gia.
Nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp.
Cố viên tùy xứ thổ hoàng hoa.

II

Đại giang vô mộng cán khô tràng,
Bách vịnh mai hoa nhượng hảo trang.
Lão khứ sầu thu ngâm vị ổn.
Thi biều thực vị cúc hoa mang.

III

Vương thần vương thế dĩ đô vương,
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.

IV

Niên niên hòa lộ hướng thu khai,
Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài.
Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ.
Mãn đầu túy đáo tháp quy lai.

V

Hoa tại trung đình, nhân tại lâu,
Phần hương độc tọa tự vong ưu,
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh,
Hoa huởng quần phương xuất nhất đầu.

VI

Xuân lai hoàng bạch các phương phi,
ái diễm liên hương diệc tự thì.
Biến giới phần hoa toàn trụy địa,
Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly.

Dịch nghĩa

Hoa Cúc

I

Tiếng thông reo đầu ngõ ông Tưởng Hủ (1)
Cảnh hoa mai ở nhà xử sĩ Tây hồ (2).
Không cùng nghĩa khí, khó lòng hòa hợp tạm bợ được.
Vườn cũ nơi nơi đã nở hoa vàng.

II

Không mơ lấy nước sông lớn rửa tấc lòng khô héo,
Hoa mai từng được trăm bài thơ vịnh kia phải nhường vẻ đẹp
Già rồi lại buồn vì thu, chưa làm thơ được,
Nhưng túi thơ bầu rượu thật vì hoa cúc mà bận rộn.

III

Quên mình, quên đời, đã quên hết cả,
Ngồi lâu trong hiu hắt, mát lạnh cả giường.
Cuối năm ở trong núi không có lịch,
Thấy hoa cúc nở biết rằng đã tiết Trùng dương (3).

IV

Hằng năm cùng với sương móc, vào thu hoa cúc nở,
Trăng thanh gió mát, thỏa thích tấc lòng.
Thật đáng cười kẻ không hiểu vẻ huyền diệu của hoa,
Đến đâu là hái hoa dắt đầy đầu mà về (4).

V

Hoa ở dưới sân, người trên lầu,
Một mình thắp hương ngồi tự nhiên quên hết phiền muộn.
Người với hoa hồn nhiên không tranh cạnh,
Trong các loài hoa thì cúc trội hơn một bậc.

VI

Xuân đến hoa vàng hoa trắng đều ngát thơm,
Đúng thì, vẻ đẹp đáng yêu, hương thơm đáng chuộng đều giống nhau.
Nhưng khi các loài hoa tươi tốt khắp nơi đều đã tàn rụng,
Thì nhan sắc phai nhạt sau cùng là bông hoa ở giậu phía Đông (5).

Dịch Thơ

I

Đường nhà Tưởng Hủ thông reo gió,
Lều ẩn Tây hồ mai gội sương.
Nghĩa khí khác nhau đành khác cảnh,
Vườn xưa sau trước rộ hoa vàng.
Lê Hữu Nhiệm dịch

II

Sông lớn nào mong rửa ruột rầu,
Xinh tươi, mai cũng phải nhường câu.
Sầu thu, tuổi tác ngâm chưa được.
Thơ rượu, vì hoa bận đến nhau.
Nguyễn Huệ Chi dịch

III

Quên mình, quên hết cuộc tang thương,
Ngồi lặng đìu hiu, mát cả giường.
Năm cuối trong rừng không có lịch,
Thấy hoa cúc nở biết trùng dương.
Theo Phan Võ
(Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam)

IV

Thu về, móc nhẹ cúc đơm bông,
Gió mát trăng thanh, dịu nỗi lòng.
Vẻ đẹp tinh khôi người chẳng hiểu,
Bẻ về cài tóc, đáng cười không?
Băng Thanh dịch

V

Hoa ở trước sân người trên lầu,
Đốt hương ngồi lặng, bỗng quên sầu.
Hồn nhiên, người vật không tranh cạnh,
So với muôn hoa, cúc đứng đầu.
Nguyễn Huệ Chi dịch

VI

Xuân đến trăm hoa đua sắc thắm,
Một thời hương sắc kém chi nhau.
Vườn thu tàn tạ ngàn hoa rụng,
Riêng cúc đông ly vẫn đượm mầu.
Băng Thanh dịch

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Jun 28 2006, 10:50 PM
Gửi vào: #30


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 532
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Chú thích:

(1) Tưởng Hủ: người đời Hán, ở đất Đỗ Lăng, làm Thứ sử Duệ Châu thời Ai Đế. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, Tưởng Hủ cáo quan về nghỉ. Dưới hàng trúc trước nhà, ông mở ba lối đi hẹp, dành riêng cho hai bạn tri kỷ là Cầu Trọng và Dương Trọng theo lối đó đến chơi.

(2) Xử sĩ Tây Hồ tức Hàn Thế Trung đời Tống. Ông người Diên An tự là Lương Thần là một người có nhiều võ công. Trong cuộc kháng chiến chống nhà Kim, thấy Tần Cối chủ hòa, triều đình nhu nhược, ông bỏ quan, mang rượu cưỡi lừa đi ngao du ở Tây Hồ để khuây khỏa. Sau khi chết được ban tên thụy là Trung Vũ:

(3) Trùng Dương: tức ngày 9 tháng chín âm lịch hằng năm. 9 được coi là số dương, mà mồng 9 tháng chín là hai số dương nên gọi là trùng dương.

(4) Hoa ở giậu phía Đông (Đông ly): tức hoa cúc. Thơ Đào Tiềm đời Tấn (Trung Quốc) có câu Thái cúc Đông ly hạ: hái cúc ở dưới dậu phía Đông. Vì thế người sau dùng chữ Đông ly để gọi hoa cúc.

(5) Đỗ Mục, nhà thơ đời Đường có một người bạn tên là Trân. Vợ Trân rất nghiêm nghị, ba năm không cười một lần. Trân đem chuyện phàn nàn với bạn. Các bạn ông bày cho một kế: nhân tiết Trùng dương đi chơi núi, khi về thì hái hoa cúc dắt đầy đầu là cho vợ thấy ngộ nghĩnh phải bật cười. Lần ấy quả nhiên vợ Trần cười rất vui vẻ. Đỗ Mục nhân chuyện đó làm một bài tuyệt cú, trong có câu:

Trần thế nan phùng khai khẩu tiếu,
Cúc hoa tu tháp mãn đầu quy.

Nghĩa là:

Trên đời khó gặp được lúc mở miệng cười,
Hãy cắm hoa cúc đầy đầu mà trở về.

(Theo cụ Đỗ Ngọc Toại)

Tuy nhiên, trong bài này, Huyền Quang mượn câu chuyện đó để chê những người không biết thưởng thức hoa mà ngắt bẻ một cách xô bồ.

Phiên âm:

Diên Hựu tự

Thượng phương thu dạ nhất chung lan,
Nguyệt sắc như ba phong thụ đan.
Xi vẫn đảo miên phương kĩnh lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn.
Vạn duyên bất nhiễu thành già tục,
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.

Dịch nghĩa:

Chùa Diên Hựu(1)

Đêm thu, trên chùa một tiếng chuông đã tàn,
ánh trăng như sóng, cây phong lá đỏ.
Bóng "xi vẫn"(2) nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương vuông lạnh giá,
Hai ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt.
Muôn vàn nhân duyên không vương vấn là bức thành che niềm tục,
Không lo lắng chút gì nên tầm mắt mở rộng.
Hiểu thấu ý nghĩa của thuyết phải trái đều như nhau,
Thì xem cung ma có khác gì nước Phật!

Dịch thơ:

Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn,
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan.
In ngược hình chim, gương nước lạnh,
Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn.
Muôn duyên chẳng vướng: xa trần tục,
Một mảy nào lo: rộng nhãn quan.
Thấu hiểu thị phi đều thế cả,
Dầu ma dầu Phật, chốn nào hơn?
nguyễn huệ chi dịch


Chú thích:

(1) Diên Hựu: Còn có tên là chùa Một Cột. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lý Thái Tông nằm mơ thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, giơ tay dắt vua lên. Tỉnh dậy vua nói chuyện ấy với bề tôi, sư Thiền Tuệ khuyên vua làm một ngôi chùa giống như cảnh đã thấy trong mộng. Tháng Mười năm Kỷ Dậu (1049) vua cho dựng chùa. Khi làm xong, các nhà sư lượn quanh cột đá trên đặt tòa sen, tụng kinh cầu cho vua sống lâu, vì thế đặt tên chùa là Diên Hựu. Dưới thời Lý Nhân Tông, chùa được sửa sang hai lần vào năm Tân Tî (1101) và ất Sửu (1105), lần thứ hai có mở rộng quy mô cho đẹp và bề thế hơn. Hiện nay chùa
vẫn là một thắng cảnh của Thủ đô Hà Nội, nhưng một số công trình nằm trong tổng thể kiến trúc, như ao Bích Trì, cầu và bảo tháp thì không còn thấy nữa.

(2) Xi vẫn: hoặc còn gọi là xi vĩ, là hình những con cũ, được chạm hoặc đắp nổi trên các nóc đình, chùa. ở chùa Một Cột ngày nay là hình con rồng.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Jun 28 2006, 10:51 PM
Gửi vào: #31


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 532
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Người xưa có nói: Làm thơ đã khó, nhưng đọc thơ cũng không phải là chuyện dễ gì. Tại sao lại có ý kiến như vậy? Vì thời xưa, ngoài những người lấy con mắt thơ để nhìn thơ, còn có một số người thì nhìn thơ theo hai cách. Một là khiên cưỡng, hai là cố chấp. Trong thi thoại còn ghi lại nhiều chuyện đáng cười và đáng chán. Chẳng hạn bài từ Bồ tát man của Ôn Đình Quân đã viết:
Tiểu sơn trùng điệt kim minh diệt,
Tân dục độ hương tư tuyết.
Lãn khởi họa nga my,
Lộng trang sơ tẩy trì.
Chiếu hoa tiền hậu kính,
Hoa diện giao tương ánh.
Tân niêm tú la nhu,
Song song kim giá cô.
Trên mi nét vẽ đậm mờ,
Tóc mai buông thõng bơ phờ bên tai.
Ngại ngùng dướn cặp mày ngài,
Sững sờ áo xốc thoa cài điểm trang.
Soi hoa: sau trước đôi gương,
Mặt hoa cùng với mặt nàng long lanh.
Cài thêm trên áo là xanh,
Đa đa một cặp rất xinh bằng vàng.

Theo Nhân gian từ thoại sách cảo của Vương Quốc Duy thì Bồ tát man của Phi Khanh, Bướm say hoa của Vĩnh Thức, Bốc toán tử của Tử Chiêm đều là sáng tác phẩm khi nguồn cảm hứng đến với nhà thơ, chứ không phải họ có ngụ ý gì kia khác nhưng đều bị Cao Văn thêu dệt nên lời". Cả đến Chu Trấn Phủ khi biên soạn Thi từ lệ thoại cũng nói: "Nhìn toàn bộ bài từ cũng chẳng thấy gì là kẻ sĩ không gặp thời". Nhưng trong Từ tuyển của Trương Huệ Ngôn (tức Cao Văn) lại bình luận rằng: "Đó là lời cảm khái của kẻ sĩ không gặp thời, phép tắc của thiên này phảng phất như Trường môn phú. Còn bốn câu "Soi hoa..." là "cái ý trở về lối ăn mặc thời xưa của mình" trong Ly tao. Vì vậy mà Vương Quốc Duy đã phải thốt nên lời: "Cố chấp thay! lối bình từ của Cao Văn". Đó là một thí dụ về một sự khiên cưỡng trong vô số sự khiên cưỡng của một số người bình luận thơ thời xưa.

Còn câu thơ Vịnh chiếc tù và của Mạnh Đông Dã:

Tự khai cô nguyệt khẩu
Năng duyệt lạc tinh tâm.
Mở miệng vành trăng sớm
Đẹp dạ ánh sao khuya.

thì trong Tùy Viên thi thoại, Viên Mai đã bác bẻ là: "Chưa từng nghe trăng có miệng, lại bỗng thấy sao có tim, đó là một sự xuyên tạc vậy. Thế mà Đông Pha khen là "kỳ diệu", đó chẳng qua là sự ưa ghét khác với thói thường mà thôi".

Để làm sáng rõ ý này, ta hãy mượn ý kiến nhận định về lời bình đó mà nhà văn Quách Mạt Nhược đã viết trong Lời ghi lại khi đọc Tùy viên thi thoại (NDNB; 28-2-1962):

"Nay xét, câu thơ của Mạnh Đông Dã đúng là "kỳ diệu", đem mảnh trăng non ví với hình ảnh chiếc tù và, đem ánh sao sa so với giọng bi hùng của nó, thực là hiếm gặp. Trong đêm khuya, ta hãy thử nghe tiếng tù và thổi trong nơi hoang vắng, tất nhiên ta sẽ có cái cảm giác mênh mông, vẳng lặng, không thể nói nên lời. Nay đem ánh sao sa để cụ thể hóa nó ra, và đem mảnh trăng cô đơn để làm cảnh đệm, như vậy không phải là khiến cho cái không thể sờ mó được có một hình thù xác thực đó sao? Trăng vốn không có miệng, sao vốn không có tim, song nhà thơ có thể mở miệng cho trăng, sinh tim cho sao. Đối với vạn vật nhà thơ đều có thể cho nó một sinh mệnh, trong ngoài xưa nay đâu mà chẳng thế. Nhưng riêng Mạnh Đông Dã, mở miệng cho trăng, sinh tim cho sao, là một sáng tạo độc đáo. Bảo Mạnh Đông Dã là "xuyên tạc quá quắt", bảo Tô Đông Pha là "ưa ghét khác với thói thường", Viên Mai con người chủ trương "Phật trong thơ" của thuyết tính linh, mà lại nêu lên sự biện luận như vậy, thực là khó hiểu"(2). Đó lại là một thí dụ về sự cố chấp trong vô số sự cố chấp của một số nhà bình luận thơ xưa.

Riêng bài thơ Xuân nhật tức sự của Huyền Quang cũng đã gây nên nhiều sự nhận định có tính chất trái ngược nhau, tuy chưa phải là quá đáng như vậy, nhưng cũng có nhiều điều làm ta suy nghĩ.Theo Tổ gia thực lục thì Huyền Quang là tổ thứ ba trong phái Trúc lâm thời Trần, họ Lý tên là Đạo Tái, người ở hương Vạn Tải, huyện Vũ Ninh, lộ Bắc Giang, đỗ trạng nguyên năm 21 tuổi, vua Trần muốn đem Liễu nữ công chúa (cháu của Sinh vương) gả cho ông, nhưng ông từ chối, ông vào nhiệm chức ở nội hàn, giao thiệp với Bắc sứ, ngôn ngữ văn chương, lừng lẫy khắp nơi. Khi ông theo vua ngự giá đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phượng Nhỡn, thấy Pháp Loa, tổ thứ hai của phái Trúc lâm, thuyết pháp, ông liền tỉnh ngộ duyên xưa, ông dâng sớ xin từ chức, xuất gia tu đạo, trụ trì ở chùa Vân Yên (thời Hồng Đức đổi làm Hoa Yên), núi Yên Tử. Năm Quý mão là năm ông 60 tuổi thì xảy ra câu chuyện: Một hôm Trần Anh Tông bảo với thị thần và các tăng đạo rằng: "Con người ta sinh ra trong khoảng trời đất này, mang âm ôm dương, ăn ngon mặc đẹp, cho nên có tình dục này, sở dĩ mà người ta nén nó lại một bên, là vì người ta dốc lòng tu đạo. Tại sao sư già Huyền Quang, sinh ra là sắc sắc không không, như nước không sóng, như gương không bụi, đó là nén dục chăng? Hay là không nén dục chăng?" Mạc Đĩnh Chi bước lên tâu: "Vẽ hổ vẽ da khôn vẽ cốt, hay người hay mặt chẳng hay lòng, xin nhà vua hãy thử xem". Thế là Trần Anh Tông sai Điểm Bích, một cung nhân được tin yêu, đi thử Huyền Quang. Kết quả là nàng đã đem về một bài thơ mà nàng bảo là Huyền Quang đọc trong lúc đêm khuya để ghẹo nàng:

Vằng vạc trăng mai ánh nước,
Hiu hiu gió trúc ngâm sênh.
Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ,
Mầu Thích Ca nào thử hữu tình.

và một nén vàng mà nàng bảo là sau khi giao hoan, Huyền Quang đã cho nàng, để làm bằng chứng. Đại khái nội dung câu chuyện là như thế vậy. Qua câu chuyện này kết hợp với hơn 20 bài thơ có tính chất trữ tình chép trong Việt âm thi tập, cụ thể là bài thơ Xuân nhật tức sự:

Nhị bát giai nhân thích tú trì,
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
Khả lân vô hạn thương xuân ý,
Tận tại đình châm bất ngữ thì.
Gái xuân thêu gấm nhẹ nhàng,
Dưới hoa kinh tía oanh vàng líu lo.
Thương xuân ý thực vô bờ,
Là khi không nói thẫn thờ dừng kim

đã gây ra hai loại ý kiến có tính chất đối lập nhau.

Trước kia, trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn, bảng nhãn triều Lê, đã viết: "Hầu như không phải khẩu khí của một nhà tu hành". Gần đây hơn, qua bài Tìm hiểu văn thơ của các nhà sư Lý - Trần (đăng trên Tạp chí văn học tháng 6-1965), Kiều Thu Hoạch viết: "Sư Huyền Quang, người cùng thời với Trần Quốc Tảng, hình như không hẳn là một nhà chân tu. Bằng vào những tình cảm "trần tục" trong thơ ông thì mối tình giữa ông với nàng Điểm Bích mà người ta vẫn cho là oan có lẽ cũng chẳng oan gì (...) sư ông cũng là một khách si tình như ai"; "Đến bài thơ vịnh mai vịnh cúc của ông, thì lại càng chứng tỏ ông là một người "tuy vui cảnh bụt chưa nguôi lòng trần"; "ở bài Đề Đạm Thủy tự, nhà sư lại càng mơ mộng và lãng mạn hơn, ông tiếc từng cánh hoa rơi".

Năm 1973, qua bài Các nhà thơ phụ nữ thời Lý - Trần (đăng trong Tạp chí văn học số 2 - 1973), Trần Thị Băng Thanh viết: "... Có niềm xúc động và mối thông cảm đó phải chăng cũng là do trong lòng nhà thơ đã có những lúc trằn trọc trước những tiếng gọi của cuộc sống mà bài thơ của nàng Điểm Bích đã nói khá rõ ràng? Vả lại ai biết đâu giữa cô gái đẹp ngồi thêu dưới hoa tử kinh kia và nàng Điểm Bích lại không có một sự liên quan nào đó! Vậy thì đành rằng câu chuyện "thử thách" giữa Huyền Quang và Điểm Bích là một giai thoại, nhưng cũng không thể là một chuyện hoàn toàn bịa đặt do tính "hiếu sự" của người đời". Đó là những ý kiến hoài nghi và ý kiến cho là "chả oan gì" về mối quan hệ giữa Huyền Quang và Điểm Bích qua thơ văn và tiểu truyện của ông.

Năm Tân mùi (1751) niên hiệu Cảnh Hưng, Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ, tiến sĩ triều Lê, thì cho rằng trước đây Nguyễn Cổ Đô có làm bài hành, nhưng chỉ mới tước bớt những điều những uế, và chỉ nói tới cái điều chân thực của Huyền Quang là khước từ vinh hoa, giác ngộ đạo Phật, còn cái điều vu oan về việc phá giới và cái lẽ "có" hay "không" thì ông chưa phân biệt được một cách chính xác. Do đó, Ngọ Phong đã viện ra nhiều giả thuyết và chứng cớ để biện giải nỗi oan cho Huyền Quang. Ông đã nêu lên nhiều câu hỏi: "Mày ngài nét thúy, là con người được sùng bái nhất ở trong cung, không lẽ vì một điều nghi ngờ mà người ta đem ra làm trò thử thách?"; hay: "Một con người đã quen với cái nghiệp muối dưa chay nhạt, mà một sớm kia đem cái tai "hữu ngã" để làm nhơ nhớp cái thanh danh của mình, phải chăng sư không thể làm được cái điều "không thể" của một người con trai nước Lỗ được sao?"; hay: "Một con người đã nguội lạnh công danh, mà một sớm kia đem con mắt "vô nhân" để làm xiêu cái phẩm hạnh của mình, phải chăng sư không thể làm được cái điều "có thể" của Liễu Hạ Huệ được sao?", v.v... Đoạn ông viện dẫn tới gia thế cùng đạo hạnh của Huyền Quang đồng thời ông cũng nêu những câu thơ của Huyền Quang để làm chứng cớ:

Bán gian thạch thất hòa vân trụ,
Nhất lĩnh xuế y kinh tuế hàn.
(Thạch thất tác)

Nửa gian nhà đá lẩn mây,
áo lông một mảnh tháng ngày căm căm.
Dĩ thị thành thiền tâm nhất phiến,
Cùng thanh tức tức vị thùy đa.

(Sơn vũ tác)

Lòng ta đã sạch buồn lo,
Vì ai dễ cứ nhỏ to kêu hoài.

và cuối cùng ông đi đến kết luận: "Cái khí tượng núi rừng, mây ráng đã thể hiện ra lời thơ, con người thanh đạm đơn sơ cũng có thể hình dung mà thấy được, đâu có cái chuyện thêu dệt không căn cứ, như sự ngoa truyền của người đời...". Đó là những ý kiến khẳng định đạo hạnh của Huyền Quang là chân tu qua thơ văn và tiểu truyện của ông.

Đứng giữa hai loại ý kiến trái chiều nhau như vậy, ta nên xử trí ra sao? Đứng riêng về thơ mà nói, thì những câu thơ mà Ngọ Phong trích dẫn, sắc thái của nó đã hiển nhiên biểu lộ một phong độ của người xuất gia tu đạo, nên ta chả cần phải bàn cãi nhiều lời. Có chăng, chỉ những bài thơ đượm mầu "lãng mạn", nó trái với phong cách một thiền sư là cần đề cập tới mà thôi.

Thật là nghịch lý! Một con người lúc trẻ đã khước từ một giai nhân lá ngọc cành vàng, để xuất gia tu đạo, một con người đã từng tuyên bố:

Có thì có tự mẩy may,
Không thì cả thế gian này cũng không.
Vầng trăng vằng vặc in sông,
Chắc chi có có không không mơ màng.

Nhưng đến lúc tuổi già, cái tuổi sáu mươi là cái tuổi xấp xỉ tới tuần thượng thọ, không biết thế nào mà cái "tình đời" lại trỗi dậy, con người đó lại đi nhặt "cánh hoa rơi", hay có những lúc "trằn trọc trước tiếng gọi của cuộc sống". Biết đâu con người đó lại chả thuộc vào loại người "lão đương ích tráng"? Cái việc đó thực khó mà hiểu được. Nhưng có một điều thực sự hiển nhiên là chẳng riêng gì Huyền Quang, một nhà tu hành lại đi miêu tả "nỗi thương xuân" của một "giai nhân đôi tám", nếu ta mở tập Thơ tăng của thời Đường, một thời đạo Phật hưng thịnh nhất của Trung Quốc thời xưa, ta sẽ hết đỗi ngạc nhiên trước những bài thơ đậm nét trữ tình và lãng mạn, nào những cảnh biệt ly đầy nước mắt, nào những nét thơ mộng của giai nhân, nào những cảnh thương xuân khóc hạ, nào những cảnh lá rụng hoa rơi, v.v... một sức sống trong thơ thực là tràn ứ, nó còn vượt xa những bài thơ "trữ tình" của một số người gọi là "như giả".

Tôi hãy tạm cử Hàn Sơn để làm thí dụ. Hàn Sơn, một cao tăng thời Đường, tu hành ở một vách núi hoang sơ thuộc huyện Đường Hưng núi Thiên Thai, ông lấy vỏ cây làm mũ, áo gai giầy rách. Ông thường ngâm vịnh, hát ca hay gào thét ở những chốn hiên trường hay nơi nhà vắng, mà ít người biết tới. Ông thường đề thơ trên vách đá thân cây hay tường nhà vách xóm. Một cuộc sống có thể nói là "điên rồ" như vậy, nhưng thơ ông lại mang nặng "tình đời":

Hoa thượng hoàng oanh tử,
Quan quan thanh khả liên.
Mỹ nhân nhan như ngọc,
Đối thử lộng minh huyền.
Ngoạn chi năng bất túc,
Quyến luyến tại thiếu niên.
Hoa phi điểu diệc tán,
Xái lệ thu phong tiền.
Trên hoa một chiếc oanh vàng,
Tiếng ca đượm vẻ thê lương đau lòng.
Giai nhân nét mặt tươi hồng,
Hoa chim nhìn ngắm, tơ đồng dạo chơi.
Hoa chim chưa thỏa lòng người,
Lại còn quyến luyến tuổi đời trẻ trung.
Hoa bay, chim biệt mù tung,
Lệ hồng trước ngọn thu phong gạt thầm.

Bài thơ sao mà có cái dáng dấp của bài Xuân nhật tức sự của Huyền Quang như vậy, cũng hoa nở, cũng oanh vàng, cũng người đẹp thương xuân, tiếc tuổi, v.v. Phải chăng Hàn Sơn cũng là một khách "si tình", cũng người "lãng mạn"? Nhưng hiềm một nỗi, ông không có sự tơ vương với "giai nhân đôi tám", không có sự nghi kî của ngai vàng, nên khó có thể cho ông cũng là người "lãng mạn" hay "si tình". Nếu đã không như vậy, thì ông miêu tả những người con gái đẹp để làm chi?

Điều thắc mắc này, theo ông thuật lại, thì đã có một gã tú tài họ Vương nào đó, người đồng thời với ông, chê thơ ông là "như bọn mù vịnh ánh mặt trời" (như manh đồ vịnh nhật), nên ông đã làm một bài thơ để nói lên cái dụng ý của thơ mình:

Hạ ngụ độc ngã thi,
Bất giải khước xuy tiếu.
Trung dong độc ngã thi,
Tư lường vận thậm yếu.
Thượng hiền độc ngã thi.
Bả chước mãn diện tiên.
Dương Tu kiến ấu phụ,
Nhất lâm tiện tri diệu.
Kẻ kém đọc thơ ta,
Không hiểu sẽ cười diễu.
Người thường đọc thơ ta,
Đắn đo rằng trọng yếu.
Người hiền đọc thơ ta,
Nở nụ cười tươi rói.
Dương Tu nhìn gái non,
Xem thơ ta liền hiểu.

Chúng ta biết rằng một số lớn thiền sư đồng thời cũng là thi sĩ, vì vậy mà tâm hồn họ không thể không rung động trước cảnh vui buồn trong cuộc sống của xã hội đương thời, điều đó là một sự thực, nên đứng trên bình diện thơ trữ tình nói chung mà xét, thì những ý kiến nhận định về Huyền Quang của tác giả bài Tìm hiểu văn thơ của các nhà sư Lý - Trần và tác giả bài Các nhà thơ phụ nữ thời Lý - Trần không có gì là không đúng. Nhưng ngoài loại thơ "tức cảnh sinh tình" ra, thì họ còn sáng tác một loại thơ mang tính chất một bài kệ, nó tóm tắt hay thuyết minh một giáo lý nào đó, có khi nó thuyết lý khô khan, có khi nó mang một mầu sắc trữ tình. Ta hay nghe Thập Đắc, một cao tăng thời Đường, người cùng thời với Hàn Sơn đã phát biểu về ý đó.

Ngã thi dã thị thi,
Hữu nhân hoán tác kệ.
Thi kể tống nhất ban,
Độc thời tu tử tế.
.........................
Y thử học tu hành,
Đại hữu khả tiến sự.
Thơ ta cũng là thơ,
Có người gọi là kệ.
Thơ kệ đều như nhau,
Khi xem nên cặn kẽ.
.........................
Theo đó mà tu hành,
Được nhiều việc đáng kể.

Như vậy là thơ của các thiền sư phần nhiều mang hình thức thuyết lý. Thế nhưng, những bài thơ của Huyền Quang và Hàn Sơn đã trích dẫn ở trên thì thuyết lý điều chi? Nhưng muốn hiểu điều này ta hãy xem mục đích của đạo Phật là quan tâm tới cái gì?

Chúng ta biết rằng mục đích của đạo Phật, ngoài tu Tâm ra thì chú ý tới cái "khổ" của con người qua một chuỗi vận động: sinh, già, ốm, chết. Trong Khóa hư lục, Trần Thái Tông đã cụ thể hóa nó bằng sự vận động của bốn mùa: mùa xuân tượng trưng cho tuổi trẻ, mùa hạ tương trưng cho lúc già, mùa thu tượng trưng cho đau ốm, mùa đông tượng trưng cho sự chết, ông còn coi nó là "bốn trái núi" đè nặng lên số phận của con người, mà sự vận động này theo thuật ngữ nhà Phật là cái lẽ vô thường (anica). Vô thường là sự thay đổi liên tục, được xét trong nhiều trạng thái như: sống chết, khởi diệt, thành hoại, có không, v.v. Theo quan niệm nhà Phật thì thân thể người ta biến đổi trong từng nháy mắt. Sự thay đổi này được mệnh danh là "sự chết trong từng nháy mắt" (khanika marana). Vì vậy vô thường là "khổ". Phật đã nhắc lại ý này qua lời tuyên bố trong kinh Upanisad.

Cái trướng cửu thì hạnh phúc,
Cái nhất thời thì đau khổ.

Từ góc độ này mà nhìn, ta sẽ thấy dụng ý của Huyền Quang và Hàn Sơn là họ muốn thuyết giáo: "cái chết trong từng nháy mắt" là nỗi đau khổ của loài người nói chung, qua hình ảnh những con người "thương xuân" hay "luyến tiếc tuổi đương thì". Nhưng trong khi làm thơ họ đã vận dụng thủ pháp đem cái cụ thể để hình ảnh hóa cái trừu tượng, kết hợp với cái thủ pháp "ý ở ngoài lời" (ý tại ngôn ngoại), cái thủ pháp mà Nghiêm Thương Lương đã diễn tả nó bằng một hình ảnh "hoảng hoảng hốt hốt": "như âm thanh trong hư không, như sắc đẹp trong vẻ mặt, như ánh trăng đáy nước, như hình ảnh trong gương, lời tuy hết mà ý không cùng" cho nên khi mới đọc ta thấy hơi khó hiểu. Để chứng minh cho luận điểm đó rõ hơn, tôi xin trích dẫn thêm một bài, vẫn của Hàn Sơn, mà tính chất thuyết lý về lẽ vô thường của nó không bị che khuất bởi cái màng hàm súc:

Thành trung ngạ mî nữ,
Chu hội hà xan xan.
Anh vũ hoa tiền lộng,
Tỳ bà nguyệt hạ đàn.
Trường ca tam nguyệt hưởng,
Đoản vũ vạn nhân khan.
Vị tất trường như thử,
Phù dung bất nại hàn.
Trong thành có gái mày ngài,
Lanh canh ngọc quý hạt trai bên người.
Trước hoa anh vũ nô cười,
Tỳ bà lựa gẩy đôi bài dưới trăng.
Ba xuân giọng hát vang lừng,
Muôn người xem múa ra chừng còn say.
Phải đâu được mãi thế này,
Phù dung không thể quen ngày giá đông.

Hai câu kết đã lộ rõ ý đồ thuyết giáo của nhà Phật: "vô thường là khổ". Nói như vậy, người ta có thể hỏi lại rằng: Nếu thơ ca của các thiền sư chỉ thuần thuyết lý như vậy thì còn chi là tính xã hội mà ta nghiên cứu? Chúng ta biết rằng, các thiền sư dù siêu phàm thoát tục đến đâu chăng nữa, dù họ coi cả cái thế giới hiện tượng này chỉ là huyễn hóa, là hư vô, nhưng sự thực vẫn là sự thực, người ta muốn phủ định nó cũng không tài nào phủ định nổi, người ta vẫn phải sống với nó, vẫn phải đụng chạm với nó từng ngày từng giờ, cho nên dù muốn dù không, khi xây dựng những giáo lý của mình, có thể nói là hết sức siêu thoát, hết sức trừu tượng, thì họ vẫn phải dựa vào những chất liệu thực tế ở chung quanh họ, nghĩa là họ phải dựa vào những hiện tượng tự nhiên và hiện tượng xã hội mà họ đang sống. Do đó, mà thơ ca của họ, ngoài sự thuyết lý chung chung, ta vẫn thấy hiện lên những mầu sắc của xã hội lúc đương thời. Nói như Gorki, nhiều lúc họ là "sử gia khách quan" của thời đại họ. Chẳng hạn như bài thơ Xuân nhật tức sự của Huyền Quang, ngoài sự thuyết lý vô thường, ta vẫn thấy nó hiện lên một tình thương về số phận người con gái trong xã hội phong kiến nói chung. Nó là "những tia sáng nhân đạo chủ nghĩa tuy chỉ mới le lói qua bức màn đen dày đặc của tư tưởng Phật giáo nhưng cũng vì thế mà rất đáng trân trọng" (Văn học cổ Việt Nam - Đinh Gia Khánh). Đó là tính chất mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức của thơ ca Thiền sư. Sự mâu thuẫn đó đã gây nên sự nhận định có tính chất khác nhau, mà bài thơ Xuân nhật tức sự của Huyền Quang chỉ là một thí dụ trong nhiều thí dụ tương tự mà thôi. Chỗ "khác nhau" đây chỉ ở cái khía cạnh: bài thơ có trái với giáo lý đạo Phật hay không.

*
Qua câu chuyện Huyền Quang, tôi muốn nêu lên một khía cạnh nhỏ trong phương pháp biểu hiện của thi ca Thiền sư, nếu ý kiến này được thừa nhận là đúng, thì ngược lại, mối "oan tình" mà chính Huyền Quang đã phải kêu lên: "Nỡ đâu lại khiến cho Hàn Sơn và Thập Đắc (3) phải mang mối oan tình (Khước giao Hàn Thập khởi oan tình) sẽ được cởi ra một nút. Còn đánh giá thơ Thiền hay dở thế nào, tôi chưa nói tới; và sự quan hệ giữa Huyền Quang và nàng Điểm Bích hư thực ra sao, thì tôi không rõ. Điều đó chẳng riêng gì tôi mà cả người xưa cũng đành như vậy:

Dù mà tát cạn Bình than,
Cũng không rửa được nỗi oan cho thầy.

Nhưng đối với chúng ta, "nỗi oan" ấy chẳng có gì là quan trọng cả trong việc đánh giá nhân cách, tư tưởng và bài thơ của Huyền Quang.

Đỗ văn Hỷ
Tạp chí Văn học - số 1-1975



(1) Trích một ý nhỏ trong chuyên đề "Nguồn gốc mâu thuẫn giữa tình và lý trong thơ ca Thiền sư".
(2) Trích qua "Thi từ lệ thoại" của Chu Trấn Phủ.
(3) Hàn Sơn và Thập Đắc là hai thiền sư nổi tiếng đời Đường.



TVHS
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
SONGCUU
post Jun 29 2006, 06:18 AM
Gửi vào: #32


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 185
Tham gia: 11-June 06
Thành viên thứ: 122





Dương Từ Hà Mậu

? Nguyễn Đình Chiểu



Loi Giới thiệu:

?, DươngTừ-Hà Mậu (gom 3 chuong)
và Ngư Tiều Vấn-Đáp Y-Thuật & Lục Vân Tiên,
là ba thi phẩm chính của thi hào Đồ Chiểu?



Dương Từ Hà Mậu

Trich Chuong 1.

1.
Trải xem mấy truyện chư gia,
Chuyên vì đạo học, soạn ra để đời.
Dị đoan xưa đã bời bời,
Lại thêm đạo Phật, đạo trời, lăng nhăng,
Thói đời nhiều việc băng xăng,
Đố ai biết đặng đạo hằng người ta.
Đua nhau kỉnh chuộng đạo tà,
Một câu "quả báo", muôn nhà đều tin.

2.
Nói rằng: Trời, Phật, sách in,
Tội về địa ngục, phước lên thiên-đàng.
Có người về đạo Hòa-lan,
Năm đời truyền thói khoe khoang cầu hồn.

3.
Họ Hà, tên Mậu, người khôn,
Ở đời Hậu Tấn, Long môn quê nhà.
Sáu mươi tuổi tác hầu già,
Tuy là giàu có, trong nhà không con.
Rạng giồi một tấm lòng son,
Của tiền bố thí, không còn so đo.

4.
Vợ chồng giữ đạo bo bo,
Ơn trời ngỏ đặng chút cho phước lành.
Hôm mai luống những đọc kinh,
Amen ! đức Chúa có linh chăng là.
Liễu Thơ là vợ họ Hà,
Chiêm bao nằm thấy nguyệt sa trên mình.
Tự nhiên có nghén thình lình,
Khiến ngươi Hà Mậu thấy tình sanh nghi.
Nói rằng: Khí huyết già suy,
Hay đâu chửa nghén, e khi bịnh gì ?

5.
Sai người tìm rước danh y,
Anh em đồng đạo, tên Kỳ họ Châu.
Châu Kỳ coi mạch hồi lâu,
Nói rằng: Chị mắc qủy đầu thai đây.
Mậu rằng: Nhờ lượng ơn thầy,
Mạch kia đã hẳn, thuốc nầy ắt hay.
Kỳ rằng: Để hốt thang này,
Qủy thai bịnh ấy từ đây trừ rồi.
Thuốc thang mấy tháng uống bồi,
Càng thêm lớn bụng, gần hồi sanh thai.

6.
.Họ Hà thấy vậy than dài:
Tuổi già còn hãy mang tai thế nầy ?
Kỳ rằng: Đó chẳng biết đây,
Trải ba đời cũng làm thầy vừa ba.
Châu Phan xưa thật chú ta,
Trị thai có phép truyền gia rất mầu.
Liễu nương qủy bịnh đã lâu,
Xin cầu thầy khác, ngõ hầu thay tay.
Ta nghe đồn phía Sơn tây,
Rằng non Tùng lãnh có thầy địa tiên.

7.
Tên người là Lý Tri Niên,
Thường ngày luyện thuốc thần tiên Đan kỳ.
Ta xin ra sức đem đi,
Tới nơi cầu thuốc diệu y rõ ràng.
Mậu rằng: Ta đạo Hòa-lan,
Tiên là đạo khác, có màng chi nhau.
Kỳ rằng: Sách đặt có câu:
"Tế sanh hoạt mạng" sách đầu đạo y.
Làm thầy đâu có hẹp suy,
Bịnh đau thời cứu, đạo gì tại sao ?


8.
Ai ai cũng vốn đồng bào,
Sanh trong trời đất lẽ nào ghét nhau ?
Họ Hà thấy vậy cũng sầu,
Gượng đi cùng bạn, lên cầu thầy tiên.
Trải qua mấy dặm sơn xuyên,
Phút đâu lố thấy gần miền Tùng san.
Đường đi đá mọc nghinh ngang,
Bụi cây rậm rạp, thạch bàn nhiều nơi.
Ngó lên trên đỉnh rạng ngời,
Mặt nhìn cảnh vật khác nơi phàm trần.

9
.- Mây bay, nước chảy, mấy từng,
Bóng tùng che núi, như vừng lọng xây.
Chim kêu, vượn hú, vang dầy,
Hiu hiu gió thổi, lá cây reo mừng.
Hai người đứng lại trông chừng,
Thấy tên đồng tử trong rừng bước ra.
Chào rằng: Hai gã đường xa,
Ai là tên Mậu, họ Hà, nói minh ?
Họ Hà nghe nói thất kinh,
Ràng: Sao sớm biết tánh danh ta rày ?

10
.- Đồng rằng: Có khách ngày nay đến nhà.
Ta vâng lời dạy thầy ta,
Ra đây đón rước, đem qua Thạch bàn.
Hôm nay là bữa thanh nhàn,
Thầy ta lên chốn Thạch bàn chầu tiên.
Hai người nghe nói đi liền,
Theo ngươi đồng tử vào miền Tùng san.
Ngó lên đỉnh núi Thạch bàn,
Thấy hai ông lão dựa ngang đánh cờ.

11
.- Tóc râu đều bạc phơ phơ,
Hình dung, cốt cách nhởn nhơ ai bì.
Có hai quyển sách chi chi,
Cùng hai chim hạc tương tuỳ một bên.
Tri Niên Hầu, đứng trên nền,
Thấy hai người khách dạo lên Ngọc hồ.
Hỏi rằng hai gã Gia-tô,
Đến đây lòng muốn hỏi, phô, việc gì ?
Họ Hà đặt gối liền quì,
Thưa rằng: Cầu thuốc cứu nguy bịnh nhà.

12
.- Tri Niên chẳng kịp nói ra,
Hai ông trên đỉnh liền xoa cuộc cờ.
Cười rằng: Hà Mậu rất khờ.
Khéo nghe thầy tục tầm phơ nói quàng !
Liễu nương nghén đủ mười trăng,
Song sanh hai gái, Tuyết, Băng, trên đời.
Vinh hoa có số ở trời,
Số ngươi sau cũng đổi dời mới nên.
Mấy lời ta nói chớ quên,
Đừng mong sau thác đặng lên Thiên đàng.

13
- Ông cha trước đã lầm đàng,
Thời sau con cháu tính toan lẽ gì ?
Nói rồi cỡi hạc bay đi,
Họ Hà chưa hỏi việc chi đành rành.
Hai người là khách hữu tình,
Tri Niên mời lại gia đình cùng nhau.
Mậu rằng: Cầu thuốc vợ đau,
Tiên ông lại nói việc sau cũng kỳ !
Chẳng hay người học phép chi,
Cho nên mà biết thạnh suy việc người ?

14
- Niên rằng chẳng dấu chi ngươi,
Hai ông lão ấy thật người thiên công.
Phép hay biến hóa, thần thông,
Một ông Bắc đẩu, một ông Nam Tào.
Hai ông giữ sổ Thiên tào,
Mạng dân sanh tử đều vào trong tay.
Hai người về kíp ngày nay,
Tới nhà mới thấy lời hai ông truyền.
Họ Hà nghe nói về liền,
Tới nhà thấy vợ đến miền khai hoa,

15
.- Đẻ ra hai gái nõn nà,
Mùi hương thơm ngát, trong nhà đều kinh.
Mậu rằng: Tiên đạo chí linh,
Thinh không mà biết sự tình khắp nơi.
Kỳ rằng: Ta học đạo trời,
Xưa nay linh nghiệm có lời phương nao ?
Muốn cho rõ việc âm hao,
Ngày sau ta phải trở vào Tùng san.

16
Thứ nầy đến thứ họ Dương,
Làm người chút biết văn chương gọi là.
Nam Khang vốn thật quê nhà,
Sánh cùng họ Đỗ, ở Trà Thạch khê.
Nương theo dân dã thú quê,
Lập vườn, làm ruộng, chuyên nghề làm ăn.
Họ Dương cùng vợ nguyện rằng:
Trăm năm xin giữ đạo hằng cùng nhau.
Đã năm mươi mấy tuổi đầu,
Không con nối nghiệp, nhữ sầu thon von.
Bao nhiêu chùa miễu cung son,
Ngõ nguyền cầu đặng chút con nối đời,

17
Liền ngày vái Phật, vái Trời,
Tấm lòng tin, cúng khắp nơi miễu chùa.
Của nhà có việc bán mua,
Ra ơn làm phước, hơn thua chẳng nài.
Phút đâu họ Đỗ thọ thai,
Tới kỳ sanh đặng hai trai một lần.
Phước đà liền nối gót lân,
Phận mình: giàu có, thanh bần, cũng ưng.
Người trong làng xóm đều mừng,
Ai hay lão bạng, có chừng sanh châu.

18
.- Nhớ "câu thiện ác đáo đầu"
Làm lành gặp phước, thế đâu có lầm.
Dương Từ lòng hỡi mừng thầm,
Hai trai tướng mạo khác tầm thường nhân.
Vẻ vang cốt cách tinh thần,
So trong trẻ nhỏ phàm dân ít bằng,
Họ Dương mới đặt tên rằng:
Dương Trân, Dương Bửu, hai thằng anh em.
Hai con đều đẹp mắt xem,
Việc trong gia đạo lại thêm bần hàn.

19
.- Dương từ khi ấy liệu toan,
Xuất gia đầu Phật, giữ an phận mình.
Đã đành một tấm lòng thành,
Còn con nối nghiệp, mới đành qui y.
Nay đà sinh đặng nam nhi,
Nam mô hai chữ "từ bi" thân già.
Bao nhiêu thế tục gần xa,
Nhân tình ấm lạnh, trải qua đã rồi.
Trong vòng danh lợi...thôi thôi !
Hoàng lương nửa gối, mấy hồi chiêm bao.

20
- Sang giàu lòng chẳng ước ao,
Hoa tàn, mây nổi, nước xao, trăng lờ.
Hai con tuổi hãy còn thơ,
Hôm, mai, ấm, lạnh, cậy nhờ hiền thê.
Trong tay một chuỗi bồ đề,
Trăm năm xin cổi lời thề nước non.
Trả rồi nợ vợ nợ con,
Từ đây giữ vẹn lòng son tu hành.
Nói thôi quày quả đăng trình,
Nhắm nơi am tự một mình ra đi.

21
.- Thương thay hai gã hài nhi,
Cùng nàng Đỗ thị sầu bi muôn phần.
Than rằng: Chàng hỡi! Lương nhân!
Am vân đường cách cõi trần xa xa.
Hai con tuổi mới lên ba,
Có cha giống đứa không cha cũng kỳ !
Bao đành bỏ vợ con đi ?
Cửa nhà bần bạc, cậy gì ngày sau ?
May nhờ tấc cỏ ngọn rau,
Mẹ con lần lựa nuôi nhau tháng ngày.

22
.- Dương từ ở chốn am mây,
Cải tên, đặt hiệu: danh thầy Thiện trai.
Dốc lòng tầm dấu Như Lai,
Đã đành trốn cõi trần ai, không về.
Thị, phi, mặc thế khen chê,
Tương rau cũng đã an bề đi tu.
Sớm hôm chuông mõ, công phu,
Tụng kinh niệm kệ ở Phù-đồ-sa.

23
Bây giờ đến lúc họ Hà,
Vợ là Liễu thị đẻ ra con lành.
Quả nhiên hai gái song sanh,
Tiên ông có dạy đành rằng chẳng ngoa,
Nay đà giáp tháng bồng ra,
Mời anh em đến nhóm, mà đặt tên.
Bà con nội ngoại hai bên,
Một ông trưởng tộc: ngồi trên, dạy rằng:
Hài nhi gương mặt như trăng,
Đặt tên Xuân tuyết, Thu Băng, cho lành.
Họ Hà nghe nói giật mình,
Nhớ lời tiên dạy sự tình khăng khăng:

24
- Bảo rằng: Nghén đủ mười trăng,
Song sanh hai gái tuyết, băng, trên đời.
Tiên ông nói chẳng sai lời,
Lại rằng: Thói tục đổi dời, lẽ chi ?
Xui nên tấc dạ hồ nghi,
Gẫm trong mình lại muốn đi non Tùng.
Hỏi cho biết lẽ cát hung,
Trăm năm đặng rõ thủy chung việc mình.
Xảy vừa tối buổi du minh,
Châu Kỳ, bạn cũ, có tình viếng thăm.

25
.- Hỏi rằng: Hai trẻ giáp năm,
Gẫm lời tiên dạy có nhằm cùng chăng ?
Mậu rằng: Xuân Tuyết, Thu Băng,
Tiên dạy hai chữ, khăng khăng nhớ lời.
Kỳ rằng: Ta trọn ba đời,
Trong nhà thờ đức Chúa Trời lâu nay.
Mấy đường họa, phước, rủi, may,
May nhờ, rủi chịu, thấy bày chi đâu.
Mậu rằng: Ta cũng thêm sầu,
Ông cha thưở trước tha cầu vụng toan.

26.
.- Sách ghi chữ đạo là đàng,
Đàng đi nào phải một phang hẹp hòi.
Người đời há dễ không coi,
Đàng nào đi dễ, mà noi cho nhằm.
Ví dầu lỡ bước lỗi lầm,
Một đời cũng biết, huống năm ba đời?
Kỳ rằng: Đàng ở dưới trời,
Có nơi chánh bộ có nơi tha kỳ.
Đã đành hai chữ "tiền phi",
Chẳng đi đàng chánh, lại đi đàng tà.

27.
Phải đời con cháu vinh hoa,
Ai còn dám nói ông cha lầm đàng.
Muốn cho rõ máy hành tàng,
Phải tìm dấu trước, hỏi han sự tình.
Thị phi chẳng những việc mình,
Việc mình còn hãy bất bình nhiều nơi.
Bao nhiêu đạo ở dưới trời,
Thảy đều xưng thánh, khoe lời rằng hay.
Ví dầu một lũ chim bay,
Con nào trống mái, mấy tay biết rành.

28.
.- Đạo ta dầu có hiển linh,
Trải xưa nay cũng một mình Gia-tô.
Đạo Tiên, đạo Phật, đạo Nho,
Cớ sao chẳng mộ, bo bo đạo trời,
Trời đâu nỡ để các nơi chê đành ?
Cây cao biết mấy mươi ngành,
Còn noi một gốc, huống sanh làm người.
Mậu rằng: Tiên đạo tốt tươi,
Phen này ta nguyện theo ngươi đi tìm.

29.
.- Làm người há chẳng bằng chim,
Chim còn biết chọn cây êm gởi mình.
Vén mây mới thấy trời xanh,
Tìm đàng phải dọn ngọn ngành gai chông.
Kỳ rằng ta muốn thẳng xông,
E đi rồi lại thẹn thùng nước non.
Học y đã mấy năm tròn,
qủy thai một bịnh, mạch còn nói sai.
Tiên ông mấy nắm tay ai ?
Thinh không mà biết song thai mới kỳ

30.
.- Trách chi mang tiếng tục y,
Khoe tài coi mạch, thật khi người đời,
Ta đi thời mắc Tiên cười,
Chi bằng ở lại khỏi người chê khen.
Anh nên tìm Lý tri Niên,
Theo người ắt đặng gặp Tiên non Bồng.
Sau dầu rõ nỗi đục trong,
Đó sao đây vậy, một lòng mà thôi.
Dặn rồi vội vã chơn lui,
Nhắm chừng tử lý về xuôi một bề.

31.
.- Họ Hà trở lại hương quê,
Đay cơm, bầu nước, đề huề ra đi.
Đi vừa gặp lúc xuân kỳ,
Đoái nhìn cảnh vật một khi vui lòng.
Hữu tình thay ngọn gió đông,
Cành mai nở nhụy, lá tùng reo vang.
Cỏ thơm hớn hở bên đàng,
Như tuồng mừng khách Đông hoàng đến đây.
Líu lo chim nói trên cây,
Như tuồng chào hỏi khách này về đâu ?

32
.- Hai bên cây mọc giao đầu,
Như tuồng đón rước, giàn hầu người sang.
Dưới khe nước chảy tợ đàn,
Như tuồng mừng bạn hương quan tách vời.
Trăm hoa đua nở, miệng cười,
Như tuồng mừng rỡ gặp người cố tri.
Mảng xem phong cảnh dị kỳ
Hay đâu lỡ bước, lại đi lầm đàng.
Xa xem hình dạng khác thường,
Cỡi lừa chầm chậm bỗng dường ngâm thơ.

33.
.- Họ Hà dừng buớc đứng chờ,
Lắng nghe người ấy lời thơ ngâm rằng:

Thi rằng:
Tam Hoàng, Ngũ Đế, dấu vừa qua,
Mối đạo, trời trao đức thánh ta.
Hai chữ "tín, thành" an các nước,
Một câu "trung hiếu" dựng muôn nhà,
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian, bút chẳng tà.
Căm bấy ! Loài ngu theo thói mọi !
Trời gần chẳng kính, kính trời xa.

Họ Hà nghe tiếng ngâm rồi,
Trong dạ bồi hồi, bước tới hỏi thăm.
Vó lừa đi tới xăm xăm,
May đâu lại nhằm ông Lý tri Niên.
Mậu rằng: Tôi thật hữu duyên,
Tìm tiên, mà lại gặp tiên giữa đàng,
Niên rằng: Chẳng ở nhân gian,
Việc chi lên chốn thâm san một mình ?
160.- Độc trùng, ác thú, không kinh,
Đàng chim, dấu thỏ, lộ trình xiết bao !
Mậu rằng: Xưa nhớ lời trao,
Phải lên nói lại âm hao cho tường.
Xin thầy chỉ vẽ mọi đàng,
Đem tôi lên chốn Thạch bàn ngày xưa.
Niên rằng: Trong cõi mây mưa,
Khôn mời Bắc Đẩu, khó thưa Nam Tào,
Hai ông vốn thật vì sao,
Người con mắt tục thấy sao đặng hoài ?

34.
Gần đây có núi Thiên thai,
Có chùa Linh diệu, có đài Âm dương
Trong chùa lại có hai hang,
Một đàng Bích lạc, một đàng Diêm la.
Có ông tiên trưởng, Thầy ta,
Hiệu là Tứ Thất, tên là lão Nhan.
Thường ngày luyện thuốc kim đan,
Một mình gồm đủ ba ngàn xuân thu.
Đảng nhàn một cõi thanh u,
Nay chơi sông thánh, mai du non thần.
Phép hay: trời đất thâu gần,
Sai đồng, đánh thiếp, có phần linh thông,
Theo ta lên đó thời xong,
Hỏi điều căn số, rõ trong sự tình.
Bao nhiêu những việc tiền trình.
Lòng tiên, một tấm, gương minh soi rồi.
Họ Hà nghe nói lòng vui,
Mang gói lần hồi, lên núi Thiên thai.

35.

Họ Hà chuyện vãn còn dài,
Để nối đầu bài, nói chuyện họ Dương.
Từ chàng cách biệt gia hương,
Đã ba năm trường, ở chốn am mây.
Hôm mai chuông mõ vang dầy,
Chúng tăng đều gọi có thầy Thiện Trai.
Bao nhiêu thế tục gác ngoài,
Một xâu chuỗi hột mang vai, gìn lòng.
Qui hương ba thứ đã xong,
Mười lời giới cấm, cũng không phạm gì.
Ban sơ làm phận tu trì,
Năm nay lên chức thái sư một chùa.
Vô ra trong cõi Phù đồ,
Thấy người tài, sắc: nam mô Di Đà !
Ngày ngày kinh kệ ngâm nga,
Lăng Nghiêm, Viên Giác, cùng là Kim Cang
Phút lòng buồn bực chẳng an,
Dạo chơi ra chốn tam quan một hồi.
Am vân cảnh vắng nào vui,
Coi bao nhiêu lại ngậm ngùi bấy nhiêu.
Vội vàng trở lại hậu liêu,
Bạch cùng Hoà thượng xin điều vân du.
Hòa thượng cũng người học nhu,
Tên là Trần kỷ, ở Phù đồ sa.
Lắm phen ứng cử, đăng khoa,
Thi văn chẳng đỗ, lòn ra cửa thiền.
Giận đời nhiều việc đảo điên,
Làm thi khuyến thế, ngày liền ngâm chơi.

Thi rằng:
Người xưa cầm đuốc dạo đêm chơi,
Nào có cưu chi cái việc đời,
Phụng Thuấn, lân Nghiêu, tuồng trước nát,
Hươu Tần, rắn Hán, thói sau dời.
Thánh hiền để dấu vài pho sách,
Tạo hóa theo mình mấy tấc hơi ?
Trong cuộc phù sanh ai cũng thế,
Dầu hay, dầu dở, chẳng qua trời.

Họ Dương sắm sửa hành trang,
Lạy thày Hòa thượng, lên đàng vân du.
Kìa non, nọ nước, mặc dầu,
Non nhân nước trí, nhiệm mầu thảnh thơi.
190.- Người sanh ra ở trong trời,
Xưa qua, nay lại, nghĩ đời: "luận sau".
Trong vòng danh lợi như nhau,
Hết vinh, đến nhục, sang giàu chi ai ?
Có câu "xuân bất tái lai",
Bóng già theo gót, biết nài chi đây.
Đã đành thiền trượng một cây,
Giới đao một lưỡi, từ rày thế gian.
Xưa nay trong cuộc gian nan.
Vật đều có chủ, ai toan chia giành ?
Kìa kìa gió mát trăng thanh,
Tai nghe, mắt thấy, mới đành của ta.
Nguồn đào, cụm liễu, trải qua,
Tin xuân đưa: bướm, ong, hoa, dầy dầy.

Đi vừa xa chốn am mây,
Tới nơi Hà lãnh trời tây hầu chiều.
Ven gành một nhắm hắt hiu,
Tiếng ngư trong núi, bóng chiều ngoài khơi.
Bên non hầu khuất mặt trời,
Dương Từ thơ thẩn tìm nơi gởi mình.

36
May đâu gặp một tiểu sanh,
Cho trâu uống nước dưới gành Hà tây.
Ngồi cầm ống quyển trong tay,
Thổi rồi lại hát, hát hay lại cười.
Dương Từ bước tới xem chơi,
Gẫm ba câu hát, thật lời thạch kim.

Hát rằng
Buổi trời Nghiêu, bóng chiều ngao ngán,
Ngày tối rồi chờ sáng cũng lâu.
Tiếng chim oanh đổ canh mái bắc,
Ai đi đồng kéo tắt trời tây.
Cõi nhân gian nhiều đàng lầm lỗi,
Gặp trời chiều, khó nỗi đi xa.

Hát rồi lại thổi ống chơi,
Gẫm trong thú vị, thảng thơi hơn thiền.
Dương Từ bước tới hỏi liền:
Ba câu hát ấy, ai truyền cho ngươi ?

37.
Tiểu sanh nghe hỏi nực cười,
Đáp rằng: Vốn thật có người dạy ta.
Gần đây vài dặm chẳng xa,
Có thầy đạo sĩ tu đà nhiều năm,
Lập am ở chốn tây lâm,
Tháng ngày thong thả, đờn cầm, ca thi.
Thuốc thang, phù chú, ai bì,
Người đau tới đó, bịnh chi cũng lành.

38
Dương Từ nghe nói đành rành,
Xăm xăm bước tới đầu gành Tây lâm.
Đến nơi trời đã tối dầm,
Đứng xa ngoài cửa , nghe ngâm thi rằng:

Thi rằng:
Biết ân phụ tử, nghĩa quân thần,
Nhờ có Trời sanh đức Thánh nhân.
Nét mực tu kinh ngăn đứa loạn,
Dấu xe hành đạo rạch trong trần.
Trăm đời còn cám lời than phụng,
Muôn thuở đều thương tiếng khóc lân.
Phải đặng bút Châu biên sách Hán,
Mọi nào dám tới cạo đầu dân !

39

- Thơ rồi lại khảy đàn cầm,
Như tuồng mừng bạn tri âm tới nhà,
Tử Kỳ xưa gặp Bá nha,
Ngón đờn "lưu thuỷ" nay mà còn đây.
Dương Từ gõ cửa kêu thầy,
Rằng: Ta lỡ tối, xin thầy độ ta.
Đạo nhân nghe gọi bước ra,
Chào rằng: Thiền khách đâu mà đến đây ?
Lều tranh, giường đá, chiếu mây,
Khô nai, cơm bắp, rượu chay, tạm dùng !
Từ rằng: Lời dám hỏi ông:
Ở trong am tự sao không Phật thờ ?
Sĩ rằng: Lòng chẳng ước mơ,
Bởi vì chữ Phật sánh vừa chữ nhân,
Đường qua tây vực chẳng gần,
Cõi di, cõi hạ trời phân rõ ràng .
Ta từng coi sách nhà Đàng (Đường),
Thấy lời "Phật biểu" họ Hàn biết tin.
Phật nhân, sống cũng chẳng nhìn,
Huống chi hình vẽ, tượng in thờ gì ?
Từ rằng: Phật vốn từ bi ! ...
Sĩ rằng: nào có ích gì dân phong.
(Lược)
Từ rằng: Thầy học đạo chi?
Sĩ rằng: Thiên hạ thiếu gì đàng xưa.
Lẽ đời như chiếc thuyền đưa,
Mặc ai đi sớm về trưa, chẳng màng !

40.
.- Kìa là họ Lão, họ Trang,
Họ Dương, họ Mặc, họ Hàn, họ Thân.
Các nhà xưa cũng cổ nhân,
Khai đường mở ngõ, trong trần nhiều nơi.
Có nghe các họ đua bơi,
Không nghe họ Phật ở đời trung nguyên.
Từ rằng: Biết đạo nào chuyên ?
Sĩ rằng: Xưa có sách hiền soạn câu:
Một bầu trời đất như châu
Mặt người kim cổ, chèo đâu thì chèo.
Từ rằng khó biết phương theo,
Sĩ rằng: Lựa phải xuống đèo, lên non.
Vua tôi, chồng vợ, cha con,
Anh em, bầu bạn, vuông tròn mới xong.
Chẳng tin, coi một ngày ròng:
Đi đâu cho khỏi đạo trong cương thường ?
Ta xưa cũng khách thơ đường,
Mày xanh có chí hiển dương trên đời,
Ghét đời thúc quí đua bơi,
Sợ trời nên phải tìm nơi ẩn mình,
- Vốn không học thói Lan đình,
Xúm nhau thầm thĩ phẩm bình cổ câm.
Cũng không học thói Trúc lâm,
Rủ nhau uống rượu hôn trầm ngày đêm.
Gió, trăng, bầu bạn anh em,
Sớm nghe tiếng dế, tối xem bóng thiềm.
Mộ riêng một cảnh thanh điềm,
Sẵn hoa dưới hố, sẵn chim trên cành.
Hươu, nai, khỉ, dộc đua tranh,
Vật trong trời đất mặc tình xem chơi.
- An, nguy có phận ở trời,
Người đời đừng mắc nhơ đời thì thôi.
Dương Từ nghe nói rẽ ròi,
Một đêm chẳng ngủ, luống ngồi lo âu.
Nghĩ rằng mình đã đi tu,
Hẵng như lời ấy: công phu lỡ làng !
Cương thường để mặt ai toan,
Đạo ta giữ vẹn, nào can phạm gì ?
Xảy vừa trời sáng, hầu đi,
Hỏi rằng: Húy tự, tên gì dạy tôi ?

41
- Sĩ rằng: Trọn đạo thời thôi,
Người đời lựa phải trau dồi tánh danh ?
Trời cao đất rộng, thinh thinh,
Non xanh, nước biếc, đã đành phui phai.
Hỏi thời ta phải nói ra:
Ba ngàn thế giới, ta là vô danh.
Từ rằng: Đâu thật có danh ?
Sĩ rằng: Linh diệu đã đành chùa tiên.
Dương Từ vội vã đi liền,
Ngồi lâu lại sợ cửa thiền mắc chê.
Trải qua mấy dặm lâm, khê,
Hiu hiu gió thổi, phê phê nhành tùng.
Đào hoa, liễu yếu, song song,
Một vầng mây bạc bóng lồng phau tuôn.
Giận đời đại sĩ dể duồng Phật gia.
Đi vừa đến suối Kim ba,
Thấy một ông già xuống tắm mà chơi.
Tắm rồi mát mẻ thảnh thơi,
Hát một vài lời, nghe rất êm tai.

Hát rằng:
Tắm nước trong, rửa lòng đã sạch,
Cám thương người làm khách trần ai !
Gió xuân qua, mình ta đã mát,
Cám thương người phiêu lạc tha hương !
Gẫm rừng nhu, công phu ngơ ngáo,
Tuổi già rồi, thế đạo còn xa !
.- Hát rồi tay chống gậy lê,
Vai mang bầu rượu, lần về cõi tây..

Nguyễn Đình Chiểu

_____________________________________________________________
Chú thích:

Hậu Tấn: Thạch Kỉnh Đường lên ngôi, lập đời Hậu Tấn (936-947 Tây nguyên)
Long môn: Long môn, thuộc tỉnh Sơn tây bên Tầu.
lão bạng, có chừng sanh châu: Con trai già sanh ra hột châu : già mà còn có con.
Đảng nhàn: không lưu ý đến việc gì cả.
Lăng Nghiêm, Viên Giác, cùng là Kim Cang: kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác, kinh Kim Cang hiệp với king Lăng già, kinh Đại Bát Nhã và kinh Duy Ma Cật làm "Lục tịch" của Thiền tông.
Giới đao một lưỡi, từ rày thế gian: Từ : giã - Giới đao : dao nhà sư đeo.
Hát rằng: Những câu hát trong tập nầy, nên hát theo giọng chèo ghe, hoặc theo giọng đưa em ở Nam phần.
thiền: cảnh chùa.
tây vực: xứ Ấn độ, chỗ Phật ở.
Cõi di, cõi hạ: Di : mọi rợ, Hạ : Hoa Hạ, nước Tầu văn minh.
họ Hàn: Hàn Dũ
Họ Dương, họ Mặc, họ Hàn, họ Thân: Dương Châu, Mặc Địch, Hàn Phi Tử, Thân Bất Hại,
châu: chiếc thuyền.
Anh em, bầu bạn, vuông tròn: Ấy là ngũ thường,
hiển dương: Làm cho rỡ ràng tên tuổi.
Ghét đời thúc quí: Đời rốt. Đây chỉ đời Ngũ Đại tàn Đường, cũng gọi là Ngũ quí. Chuyện xảy ra thời Thạch Tấn.
Lan đình: Vương Hy chi đời tấn nhóm bạn chơi ở Lan đình, có đề thiếp ở đó, chữ tuyệt xảo.
câm: Câm là kim, nghĩa là nay.
Trúc lâm: Trúc lâm thất hiền.
thiềm: thiềm thừ : trăng.
thanh điềm: trong sạch êm đềm.


cool.gif unsure.gif cool.gif
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
SONGCUU
post Aug 16 2006, 01:07 PM
Gửi vào: #33


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 185
Tham gia: 11-June 06
Thành viên thứ: 122





Tho HO XUAN HUONG

Quả Mít

Thân em như quả mít trên cây,
Vỏ nó xù xì, múi nó dày.
Quân tử có yêu thì đóng cọc,
Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

----------------------------------------------

Ốc Nhồi

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.
Quân tử có thương thì bóc yếm,
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.


----------------------------------
Quan Thịt

Mười hai bà mụ ghét chi nhau,
Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu.
Rúc rích thây cha con chuột nhắt,
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu.
Đố ai biết đó vông hay trốc ,
Còn kẻ nào hay cuống với đầu.
Thôi thế thì thôi, thôi mặc thế,
Nghìn năm càng khỏi tiếng nương dâu

------------------------------------------

Tự Tình I

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?

Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm chòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom

----------------------------------------------------

Tự Tình II

Canh khuya văng vẳng tiếng canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng nghiêng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!

------------------------------------------------------

Tự Tình III

Chiếc bánh buồn vì phận nổi nênh,
Giữa dòng ngao ngáo nổi lênh đ ênh.
Lưng khoan tình nghĩa đường ngao ngán,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.

Cầm lái mặc lăm đỗ bến,
Dong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đ àn những tấp tênh!

-------------------------------------------

Bánh Trôi Nước

Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

------------------------------------------

Sư Hổ Mang

Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lóc, áo không tà.
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vãi núp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tu, khi chũm chọe,
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên sư cụ,
Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà.

------------------------------------------------------------

Giếng Nước

Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng.
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một dòng thông.
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá diếc le te lách giữa dòng.

Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết,
Đố ai dám thả nạ dòng dòng.

----------------------------------------

Tranh Tố Nữ

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh.
Đôi lứa như in tờ giấy trắng,
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Xiếu mai chỉ dám tình trăng tỏ,
Bồ liễu thôi đ ành phận mỏng manh.
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ,
Trách người thợ vẽ khéo vô tình.

----------------------------------------

Kiếp Tu Hành

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo.
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo.

-----------------------------------------

Khóc Tổng Cóc

Chàng Cóc ớ! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!

----------------------------------------

Chùa Quán Sứ

Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kinh, tiểu đệ chuông không đấm,
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít,
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo,
Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo.

------------------------------------------


Hang Thanh Hóa
Khen thay con tạo khéo khôn phàm,
Một đố giương ra biết mấy ngoàm.
Lườn đá cỏ leo sờ rậm rạp,
Lách khe nước rỉ mó lam nham.
Một sư đầu trọc ngồi khua mõ,
Hai tiểu lưng tròn đứng giữa am.
Đến đây mới biết hang Thanh Hóa,
Chồn chân mỏi gối vẫn còn ham!

------------------------------------------

Sư Bị Ong Châm

Nào nón tu lờ nào mũ thâm,
Đi đâu chẳng đội để ong châm.
Đầu sư há phải gì... bà cốt,
Bá ngọ con ong bé cái nhầm.

------------------------------------------

Đồng Tiền Hoẻn

Cũng lò cũng bể cũng cùng than,
Mở mặt vuông tròn với thế gian.
Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn,
Đủ đồng ắt cũng đáng nên quan.

---------------------------------------------

Động Hương Tích

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu hình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo cúi lom khom.
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già đến dở dom.

---------------------------------------------

Đề Sầm Nghi Đống

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!

-------------------------------------------


Thân Phận Đàn Bà
Hỡi chị em ơi có biết không?
Một bên con khóc một bên chồng,
Bố cu lỏm thỏm bò trên bụng,
Thằng bé hu hu khóc dưới hông.
Tất tả những là thu với vén,
Vội vàng nào những bống bồng bông.
Chồng con cái nợ là như thế,
Hỡi chị em ơi có biết không?

---------------------------------------------

Xướng Họa Cùng Chiêu Hổ

Anh đồ tỉnh, anh đồ say,
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Này này chị bảo cho mà biết,
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.

---------------------------------------------

Xướng II

Sao nói rằng năm lại có ba?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Nhờ hái cho xin nắm lá đa.
x
Rằng rán thì năm, quí có ba,
Bởi người thục nữ tính không ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Cho cả cành đa lẫn củ đa.

--------------------------------------------------------

Thự Thán

Con bóng đi về chốc bấy nay,
Chữ duyên nào đã chắc trong tay.
Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt,
Trong suốt nhân tình dạ muốn say.
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn,
Muôn đời riêng mấy kiếp chua cay.
Nỗi mình nỗi bạn dường bao nả,
Dám hỏi han đâu những cớ này.

x

Lẩn thẩn đi về mấy độ nay,
Vì đâu đeo đẳng với nơi này.
Ấm trà tiêu khát còn nghe giọng,
Chén rượu mừng xuân dạ thấy say.
Điếm lữ trông chừng mây đậm nhạt,
Dòng thu xem cỡ nước vơi đầy.
Thương ai hẳn lại thương lòng lắm,
Này nợ này duyên những thế này.

HO XUAN HUONG


_______________________________

Đọc thơ tiền bô?i thật là vui
Mời muội moi huynh họa thử chơi
Riêng tôi dựa cột xem còn sơ.
Luật lê. Đường thi kho? qua? trời ! Ừ

DDo.c tho+ tie^`n bo^?i tha^.t la` vui
Mo+`i muo^.i moi huynh ho.a thu+? cho+i
Rie^ng to^i du+.a co^.t xem co`n so+.
Lua^.t le^. DDu+o+`ng thi kho? qua? tro+`i ! »

SC


laugh.gif rolleyes.gif cool.gif
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
SONGCUU
post Aug 22 2006, 08:44 AM
Gửi vào: #34


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 185
Tham gia: 11-June 06
Thành viên thứ: 122



QUOTE(SONGCUU @ Aug 16 2006, 02:07 PM)


Tho HO XUAN HUONG

Quả Mít

Thân em như quả mít trên cây,                           
Vỏ nó xù xì, múi nó dày.
Quân tử có yêu thì đóng cọc,
Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

----------------------------------------------

Ốc Nhồi

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.
Quân tử có thương thì bóc yếm,
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.
----------------------------------
Quan Thịt

Mười hai bà mụ ghét chi nhau,
Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu.
Rúc rích thây cha con chuột nhắt,
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu.
Đố ai biết đó vông hay trốc ,
Còn kẻ nào hay cuống với đầu.
Thôi thế thì thôi, thôi mặc thế,
Nghìn năm càng khỏi tiếng nương dâu

------------------------------------------

Tự Tình I

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?

Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm chòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom

----------------------------------------------------

Tự Tình II

Canh khuya văng vẳng tiếng canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng nghiêng xế khuyết chưa tròn.

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!

------------------------------------------------------

Tự Tình III

Chiếc bánh buồn vì phận nổi nênh,
Giữa dòng ngao ngáo nổi lênh đ ênh.
Lưng khoan tình nghĩa đường ngao ngán,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.

Cầm lái mặc lăm đỗ bến,
Dong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đ àn những tấp tênh!

-------------------------------------------

Bánh Trôi Nước

Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

------------------------------------------

Sư Hổ Mang

Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lóc, áo không tà.
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vãi núp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tu, khi chũm chọe,
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên sư cụ,
Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà.

------------------------------------------------------------

Giếng Nước

Ngõ ngay thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng tốt thanh thơi, giếng lạ lùng.
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một dòng thông.
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá diếc le te lách giữa dòng.

Giếng ấy thanh tân ai chẳng biết,
Đố ai dám thả nạ dòng dòng.

----------------------------------------

Tranh Tố Nữ

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh.
Đôi lứa như in tờ giấy trắng,
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Xiếu mai chỉ dám tình trăng tỏ,
Bồ liễu thôi đ ành phận mỏng manh.
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ,
Trách người thợ vẽ khéo vô tình.

----------------------------------------

Kiếp Tu Hành

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo.
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo.

-----------------------------------------

Khóc Tổng Cóc

Chàng Cóc ớ! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi!

----------------------------------------

Chùa Quán Sứ

Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kinh, tiểu đệ chuông không đấm,
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít,
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo,
Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo.

------------------------------------------
Hang Thanh Hóa
Khen thay con tạo khéo khôn phàm,
Một đố giương ra biết mấy ngoàm.
Lườn đá cỏ leo sờ rậm rạp,
Lách khe nước rỉ mó lam nham.
Một sư đầu trọc ngồi khua mõ,
Hai tiểu lưng tròn đứng giữa am.
Đến đây mới biết hang Thanh Hóa,
Chồn chân mỏi gối vẫn còn ham!

------------------------------------------

Sư Bị Ong Châm

Nào nón tu lờ nào mũ thâm,
Đi đâu chẳng đội để ong châm.
Đầu sư há phải gì... bà cốt,
Bá ngọ con ong bé cái nhầm.

------------------------------------------

Đồng Tiền Hoẻn

Cũng lò cũng bể cũng cùng than,
Mở mặt vuông tròn với thế gian.
Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn,
Đủ đồng ắt cũng đáng nên quan.

---------------------------------------------

Động Hương Tích

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu hình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo cúi lom khom.
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già  đến dở dom.

---------------------------------------------

Đề Sầm Nghi Đống

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!

-------------------------------------------
Thân Phận Đàn Bà
Hỡi chị em ơi có biết không?
Một bên con khóc một bên chồng,
Bố cu lỏm thỏm bò trên bụng,
Thằng bé hu hu khóc dưới hông.
Tất tả những là thu với vén,
Vội vàng nào những bống bồng bông.
Chồng con cái nợ là như thế,
Hỡi chị em ơi có biết không?

---------------------------------------------

Xướng Họa Cùng Chiêu Hổ

Anh đồ tỉnh, anh đồ say,
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Này này chị bảo cho mà biết,
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.

---------------------------------------------

Xướng II

Sao nói rằng năm lại có ba?
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Nhờ hái cho xin nắm lá đa.
                  x
Rằng rán thì năm, quí có ba,
Bởi người thục nữ tính không ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt,
Cho cả cành đa lẫn củ đa.

--------------------------------------------------------

Thự Thán

Con bóng đi về chốc bấy nay,
Chữ duyên nào đã chắc trong tay.
Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt,
Trong suốt nhân tình dạ muốn say.
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn,
Muôn đời riêng mấy kiếp chua cay.
Nỗi mình nỗi bạn dường bao nả,
Dám hỏi han đâu những cớ này.
                                 
                    x

Lẩn thẩn đi về mấy độ nay,
Vì đâu đeo đẳng với nơi này.
Ấm trà tiêu khát còn nghe giọng,
Chén rượu mừng xuân dạ thấy say.
Điếm lữ trông chừng mây đậm nhạt,
Dòng thu xem cỡ nước vơi đầy.
Thương ai hẳn lại thương lòng lắm,
Này nợ này duyên những thế này.

HO XUAN HUONG
_______________________________

Đọc thơ tiền bô?i thật là vui
Mời muội moi huynh họa thử chơi
Riêng tôi dựa cột xem còn sơ.
Luật lê. Đường thi kho? qua? trời !  . . .

SC


laugh.gif  rolleyes.gif  cool.gif
*


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Sep 24 2006, 10:55 PM
Gửi vào: #35


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 532
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Thự Thán
Lẩn thẩn đi về mấy độ nay,
Vì đâu đeo đẳng với nơi này.
Ấm trà tiêu khát còn nghe giọng,
Chén rượu mừng xuân dạ thấy say.
Điếm lữ trông chừng mây đậm nhạt,
Dòng thu xem cỡ nước vơi đầy.
Thương ai hẳn lại thương lòng lắm,
Này nợ này duyên những thế này.

HO XUAN HUONG

Tự Thán
Ngơ ngát xứ người đã bấy nay
Thân sơ thất sở ỏ nơi này
Trà ôi độc ẫm còn ươm giọng
Rượu lạt cạn bầu chẳng thấy say
Chốn trọ nhìn mây trôi khói nhạt
Trời thu ngắm lá rụng sân đầy
Nhớ người cám cảnh thương chi lắm
Huyển có hợp duyên một kiếp này
Hương Mỹ


Được chỉnh sửa bởi huongmy on Sep 25 2006, 06:25 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Sep 25 2006, 01:04 AM
Gửi vào: #36


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 532
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Thân phận đàn bà
Thân Phận Đàn Bà
Hỡi chị em ơi có biết không?
Một bên con khóc một bên chồng,
Bố cu lỏm thỏm bò trên bụng,
Thằng bé hu hu khóc dưới hông.
Tất tả những là thu với vén,
Vội vàng nào những bống bồng bông.
Chồng con cái nợ là như thế,
Hỡi chị em ơi có biết không?
Hồ xuân Hương
Phận nữ nhi!
Này hỡi người ơi có thấy không ?!
Làm thân con gái tựa nơi chồng
Nam nhi ao ước hoài trong bụng
Quân tử cố tìm sóc cả hông ?!
Một kiếp đàn bà mong khéo vén
Làm thân phụ nữ rối như bông
Nữ nhi thân phận điều như thế
Bến nước mười hai có khổ không ?!
Hương Mỹ


Được chỉnh sửa bởi huongmy on Sep 25 2006, 06:41 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Sep 25 2006, 06:34 AM
Gửi vào: #37


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 532
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Kiếp Tu Hành

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo.
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo.
HXH
Kiếp chồng chung
Cái kiếp chồng chung nặng đá đeo
Cũng do một chút tẻo tèo teo
Nhìn chồng vợ cả nơi màn trúc
Bỏ thiếp bơ vơ tức lộn lèo
HM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Nov 9 2006, 11:27 PM
Gửi vào: #38


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





user posted image

    Lương Châu Từ

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?


VƯƠNG HÀN

><><><><><><

Bài Ca Lương Châu

Chén ngọc, kề môi thơm rượu quý
Tỳ bà thúc ngựa vượt sơn khê
Bãi bờ say khướt hề chi nhỉ!
Chinh chiến xưa nay mấy kẻ về?

Rượu hồng rót chén lưu ly
Trên yên chớm uống tiếng tỳ giục vang
Cười say ngàn dặm sa trường
Chiến chinh mấy thuở hồi hương sum vầy!


Ái Cầm




user posted image

Tống Tư Mã Đạo Sĩ Du Thiên Nhai

Vũ khách sinh ca thử địa liêu

Ly diên số xứ bạch vân phi

Bồng lai khuyết hạ trường tương ức

Đồng bách sơn đầu khứ bất quy

TỐNG CHI VẤN
><><><><><
Tiễn Tư Mã dạo núi Thiên Thai
Tiếng sáo tưng bừng đưa tiễn khách

Tiệc tàn mây trắng kéo lê thê

Bao người lưu luyến Bồng Lai điện

Đồng Bách đầu non chẳng thấy về!

Khúc ca tiễn khách lên đường

Tiệc xong mây trắng mấy phương lững lờ

Bồng Lai điện luyến lưu chờ

Đầu non Đồng Bách mịt mờ bóng ai!

ÁI CẦM


user posted image
Tống Đỗ Thẩm Ngôn
Ngọa bệnh nhân sự tuyệt

Ta quân vạn lý hành

Hà kiều bất tương tống

Giang thụ viễn hàm tình



TỐNG CHI VẤN

><><><><><
Tiễn đưa Đỗ Thẩm Ngôn



Trong lúc bệnh viện đời đoạn tuyệt

Tôi thương ông muôn dặm lên đường

Không đến được cầu sông đưa tiễn

Bờ cây xa thắm thiết sầu thương




Bệnh rồi dứt bỏ việc đời

Thương ông nghìn dặm nổi trôi quê người

Cầu sông vắng tiễn đôi lời

Cây đau xót bến sông vời vợi thương




ÁI CẦM





--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
caugodang
post Nov 10 2006, 11:04 PM
Gửi vào: #39


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 49
Tham gia: 5-November 06
Thành viên thứ: 189



QUA SUỐI MÂY HỒNG
Thi Hóa Tư Tưởng
VAJRACCHEDIKA PRAJNÀ PARAMITA SÙTRA
Phạm Thiên Thư

Thầy Tuệ Không Phạm Thiên Thư một sinh viên tốt nghiệp Phật Khoa Vạn Hạnh đã có sáng kiến và can đảm thi hóa Kinh Kim Cương để cúng dường chánh pháp.

Tôi nói sáng kiến vì rất ít có Phật tử nếu không phải là chưa có, đã dùng thể thơ mà diễn đạt nghĩa chân không diệu hữu của Đại Thừa.

Tôi nói can đảm vì chỉ có tuổi trẻ mới can đảm làm những chuyện phi thường và thật là phi thường khi cả gan thi hóa bản kinh "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Thật sự, xưa kia Đức Phật cũng đã dùng thể kệ (gàthà hay sloka) để thuyết pháp độ sanh. Thể kệ tức là thể thơ ngày nay vậy.

Gọi là để tán thán công đức thi hóa của thầy Tuệ Không, tôi ghi sau đây bài kệ bằng chữ Sanskrit. bản kệ này được dịch ra chữ Hán như sau:

Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như-Lai

Ye màm rùpena càdràksurye
Màm ghosena cànvaguh
Mithyàprahàna prasrtà
Na mà draksyatite janà

Thích Minh Châu
Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh

Đứng trước cảnh tàn sát, lắng nghe tiếng rên siết, tự cảm thấy mình bất lực, mà tụng niệm kinh Kim Cương thì lại thấy tâm hồn dịu lại.

Mầu nhiệm thay Kim-Cương!
Lạ lùng thay Kim-Cương!

Ước gì lòng tôi biến thành Kim-Cương để xóa tan biên giới Ta với phi Ta, để liễu ngộ sinh tử, để hết trụ vào Ta, cho cái tâm giải thoát.

Phải chăng đấy là cái Tâm "Ưng vô sở trụ mà sinh" nó đã dẫn dắt Huệ Năng về Tào Khê, nó đã làm cho Thái-Tông khoát nhiên tự ngộ vai trò lãnh đạo nhân dân "dĩ thiên hạ tâm vi tâm - dĩ thiên hạ dục vi dục". Vào sinh ra tử suốt cả một đời ngõ hầu thực hiện cái nghĩa vô tâm:

"Lưu thủy hạ sơn phi hữu ý
Bạch vân xuất tụ bản vô tâm"

Không có ý mà làm, với cái tâm không tâm ! Thật khó lắm thay ! Cao siêu thay !

Ở vào thời mạt pháp, chính là thời khắp mặt đất mong cầu thánh chúa ra đời, Di-Lạc giáng thế. Cho nên để dọn đường cho hành động vô tâm tưởng như chỉ còn tâm lý nghệ thuật họa may làm cho con người tin tưởng vào Đạo Vô Cầu ở thế giới. Vì chỉ có cảm xúc mỹ nghệ mới gợi đuợc ở lòng người ý vị Trang Chu mộng làm hồ điệp, để nhìn thế giới với đôi mắt kim cương:

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán

Vậy thầy Phạm Thiên Thư đã cảm ứng mà thi hóa kinh Kim Cương Bát Nhã.

Nên lắm thay!

Gia Định nay tựa mồng một, tháng tư, năm Canh Tuất

NGUYỄN-ĐĂNG-THỤC
Nguyên Khoa Trưởng Đại Học Văn-Khoa Saigon


Nguyện cúng dường kinh tạng thơ hoa
Trải tam thế mộng một tòa sắc hương
Kiếp sau làm chim trong sương
Về bay hóa độ mười phương trời vàng

Phạm Thiên Thư


NGỢI KINH

thân như sương đầu cỏ
tụ mười cõi trăng sao
nhập dòng thơ thâm diệu
mộng thức dưới hoa đào

DÂNG KINH

cánh lan ngọc cong cong
mười viền trăng thu khuyết
hoa khép tay trầm hương
qui-y tôn kính Phật

MỞ KINH

giấy cỏ hoa mây trắng
chép đôi dòng kinh thơ
suối nào vi diệu tụng
trang nghiêm cõi Phật thừa


I

Mây hào quang về hội
hoa suối cũng yên nghe
pháp hội nhân do

con chim thu cõi tịnh
cũng về hội ta bà
trùng trùng mây mây biếc
hoa trải cúng dường hoa

trong khu vườn mai trắng
sương đọng mấy từng hoa
sao tụ nước xá-vệ
hương ngát mười cõi xa

trên trụ đá mây đỏ
trải chiếu cõi lưu ly
Phật kết kim cương tọa
chim tụng pháp diệu kỳ

hai ngàn năm trăm vị
tỳ-kheo rực pháp-y
dưới thềm đá mây nổi
dưới thềm hoa uy nghi

II

Giữa rừng hoa tịch mặc
Thoảng tiếng suối thần rơi
Thiện hiện khải thinh

giữa đại chúng tịch mịch
hiền giả tu-bồ-đề
đứng dậy chắp tay ngọc
hoa trắng trải hoàng-y

vô ngàn, vô ngàn năm
mây hương một lần tỏa
vô ngàn, vô ngàn năm
cõi ngọc nở sao lạ

đức vô thượng như-lai
chúng sanh cầu đạo cả
chí an trụ nơi đâu
pháp trừ tâm huyễn vọng ?

III

hoa vàng khe đá cũ
trang nghiêm cõi đại thừa
đại thừa chính tông

thiện nam như ngọc trên đài sen
như hoa mai đông một sớm nở
lắng nhuần sương tụ mười cõi sao

chúng sinh cầu đạo cả
như trăng hiện hư không
hào quang vô lượng biển
mười cõi sáng mênh mông

nguyện độ hết chúng sanh
loài sinh từ trứng ngọc
loài sinh từ thai hoa
loài sinh hồ suối nước
loài hóa sinh cõi trời
loài có sắc không sắc
lãng đãng bụi vàng rơi
loài có tưởng, không tưởng
tan hợp thoáng mây trôi

chúng sinh như sương tụ
chúng sinh như mây tan
mười cõi bóng mây nổi
nhập vô-dư niết-bàn
vô lượng, vô biên độ
mà không một chúng sanh
đồng cùng như tánh trí
từ biển lặng vô minh

bồ tát thiên chấp ta
của ta, rồi khác ta
chấp chặt thọ gỉa tướng
chúng sanh tướng hằng sa
chưa thành bồ tát đạo

IV

dặm mây hồng muôn cõi
nào vì ngấn lệ hoa
diệu hành vô trụ

thực hành pháp bố thí
chẳng chấp thức căn trần
vô ngã vô sở trụ
vô ngại cõi phù vân

như mười phương sao biếc
mười phương cõi hư không
bố thí vô tướng trụ
công đức chẳng suy lường

bồ tát trụ tâm ta
như trăng tụ sương ngọc
như tĩnh lự mặt trời
mạch sống mười cõi nước

V

Phiến hoa mai trắng nở
cửa động khép xuân thu
như lý thực kiến

dùng tâm thân huyễn vọng
nhìn vạn pháp mây trôi
thấy chăng như lai tướng ?
chỉ thấy nước trăng xuôi

thân tướng không chân thực
gỉa dối bóng mây đưa
vượt qua vô chướng ngại
phương tiện như lai thừa

VI

ba cõi ngọc lưu ly
nở mặt rời không tiện
chính tín hy hữu

tu bồ đề tác bạch:
đứng vô thượng pháp vương
chúng sinh có tin thực
cửa trí huệ chân thường

người tu trì phước huệ
nguyện phát thanh tịnh tâm
tin pháp ngọc chân thực
muôn xưa thiện kiếp trồng
vô lượng kho châu ngọc
nghiệp đức tụ trăm sông

không chấp vạn hữu tướng
ngã, pháp, sạch tâm không
chính pháp như bè ngọc
dùng qua ngọn suối hồng
chân đến bờ vi diệu
bè cũng thả xuôi sông

VII

mây hồng kết giải suối
nào cần thuyền trăng đưa
vô đắc vô thuyết

nầy hiền gỉa bồ đề
diễn bầy ý chân thực
tôi được chính pháp chăng ?
và trao quyền pháp ý ?

không pháp nào vô thượng
phương tiện, phương tiện thôi!
ngài chưa thuyết một pháp
vì tánh chẳng y lời

đạt ý, như thực ý
lìa lời, như thực lời
đạt trí, như thực trí
ý, lời ngọn sóng khơi

vô lượng hiển thánh tăng
pháp vô vi tu hành
từ chân tâm vắng lặng
sái biệt độ quần sanh

VIII

tặng trùng hoa giọt ngọc
nào bằng thơ đại bi
y pháp xuất sinh

người đem biển châu ngọc
vô lượng núi lưu ly
rộng cho muôn cõi nước
khắp cỏ hoa phù đề
công đức vô biên lượng!
chưa bằng tụng một dòng
kim cương biển trí tuệ

hoặc diễn vi diệu thơ
cúng dường nhất thiết tướng
vì vô lượng Như-Lai
từ phẩm kinh ngọc này
chứng vô thượng chính giác
phật pháp, không phật pháp
mới tạm gọi phật thừa
thế gian tức phật pháp
nhuần làn giải thoát mưa
cỏ cây trổ hoa ngát

IX

cõi đất hồng mã não
nở muôn chúng hoa thơm
nhất tướng vô tướng

thánh quả tu-đà-hoàn
gọi nhập dòng giải thoát
chẳng gọi tu-đà-hoàn
vì thực không quả đạt
như đầm sâu bùn tanh
ngại vì hoa trổ ngát

thánh quả tư-đà-hàm
còn một lần sinh tử
chẳng gọi tư-đà-hàm
vì chẳng nơi lai khứ
như ao bợn bùn nhơ
khóm sen xanh thường trụ

thánh quả a-na-hàm
chẳng trong vòng dục-giới
không gọi a-na-hàm
vì chẳng nơi ngăn ngại
muôn cõi một cơn mây
mưa từ vô lượng trải
thánh quả a-la-hán
bậc an trụ niết bàn
chẳng là a-la-hán
vì ngã, pháp mây tan
như mặt trời thanh tịnh
muôn cõi giáp tâm đan

nay con tu tịch tịnh
vắng lặng như hư không
nên chẳng gọi tịch tịnh
vì động tĩnh ngoài vòng

X

một bông hồng tịnh mặc
trang nghiêm cõi bụt vàng
trang nghiêm phật độ

xưa hội Phật Nhiên Đăng
tôi đắc pháp nào chăng ?
ngài đắc vô sở đắc
vượt ngã, pháp tâm băng

vô lượng bồ-tát-hạnh
cõi Phật làm trang nghiêm
hạnh nguyện không sở nguyện
trang nghiêm thực trang nghiêm !

bồ tát khởi sinh tâm
thanh tịnh như hư không
vô nguyện, vô sở trụ
viên mãn một tâm đồng
như mưa khắp phương cõi
riêng gì chốn tây đông

XI

cao cao từng mây biếc
sao kết dòng thơ hoa
vô vi thắng phúc

người phát tâm bố thí
ngọc, sao đầy hư không
vàng, cuộn long giang cát
chưa bằng tụng kinh này
hoặc kết dòng thơ ngọc
vào mật ý như lai
tạo vô lượng nghiệp đức
vô lượng trợ thần oai
vàng ngọc thêm chấp chặt
tham si lệ đổ hoài
thấm dòng thơ giải thoát
cứu độ khắp trần ai

XII

trăng không lìa đáy suối
sen trắng ngát đầm xanh
tôn trọng chính giáo

người diễn nói kinh này
dù một câu đạo vị
khắp cõi quỷ, trời, người
cúng dường như tháp Phật

tôn kinh này nơi đâu
đó hào quang chư Phật
trì tụng trang ngọc kinh
tựu thành pháp bậc nhất

XIII

y trụ trang diệu kinh
lắng tan ba nghiệp vọng
như pháp thụ trì

hiền giả tu-bồ-đề
dưới thềm mây đá biếc
tôn kinh này tên gì ?
phụng trì sao như thực ?

này hiền gỉa bồ đề
tên kinh gọi kim cương
bát-nhã ba-la-mật
thụ trì như danh trên

Phật thuyết ba-la-mật
chẳng phải ba-la-mật
mới thật ba-la-mật
lìa tướng như thực tâm,
phương tiện lời biện biệt

chính pháp như bè ngọc
phương tiện vượt sông mê
bừng tự tánh bồ-đề,
bè sông như thực trí

vô cùng bụi nhỏ vàng
khắp đại-thiên thế-giới
ông nghĩ bụi nhiều chăng ?
vô lượng bụi vàng này
cũng không nhiều, không nhỏ
tạm gọi bụi vàng thôi
Như-Lai gọi thế giới
thế giới thực không nơi
tạm gọi là thế giới

như gợn mây đáy nước
lìa bóng để nhìn trời
mây mười phương tan tụ
bóng nào có một nơi
lìa kinh một chữ nhỏ
tức xa như thực lời
nệ chấp một câu nhỏ
chân tướng mãi xa vời
chấp sóng chẳng thấy nước
vọng tâm mãi nổi trôi
lìa sóng để thấy nước
sóng, nước một trùng khơi
vào, ra không ngăn ngại
chân , vọng chẳng riêng nơi

ba mươi hai tướng quý
có thấy được Như-Lai
bóng hoa in đáy suối
nào biết thực hoa mai
chẳng nệ tướng mây nổi
sá gì nghĩa Như-Lai

người mang vô thủy kiếp
như đáy cát sông trong
phát đại nguyện bố thí
như người chuyển kinh này
in tụng dòng thơ nhỏ
hoặc diễn giải thoát thơ
chúng sinh vô lượng độ
phúc đức ngút mây mờ

XIV

cánh cửa ngọc vi diệu
mở tụng mười cõi sao
ly tướng tịch duyệt

mười phương trời châu ngọc
thắp sáng từng lời kinh
xuôi về biển trí tuệ
hiền gỉa tu bồ đề

đức vô thượng Như-Lai
mở cửa ngọc vi diệu!
con từ vô thủy nay
mới nghe kinh mầu nhiệm
ý tuyệt vời mây bay!

có người nghe mật nghĩa
vào biển thanh tịnh tâm
khởi tướng vàng chân thực
tựu thành đức hy hữu
thật tướng, tức không tướng
mới là thâm mật thân
thật tánh, tức không tánh
thân, ý nắm phù vân

nay con được thụ trì
nương từ âm thần lực
thâm hiểu ngọc vàng kinh
để vào Như-Lai-Ý

vô lượng kiếp kiếp sau
người tụng đôi lời ngọc
phát tâm vô lượng từ
tựu thành nhất thiết đức

lìa gỉa ngã huyễn vọng
chẳng nệ tướng tụ tan
chúng sinh nguyện độ hết
địa ngục chuyển niết bàn

sau nghiệp chúng sâu dầy
có người tụng kinh ngọc
sợ hãi chẳng sinh lòng
vì tịnh không ngã, pháp
hy hữu, hy hữu thay!

đệ nhất ba-la-mật
chẳng phải ba-la-mật
mới thật ba-la-mật
nhập thể tánh tròn đầy
xa lìa ngôn tự thuyết

nhẫn nhục ba-la-mật
mê, ngộ chẳng xa lìa
ngã, pháp thể không lặng
cầu gì bên bờ kia

tiền thân tôi một kiếp
từng bị Ca-Lợi vương
hành hạ cắt thân thể
tâm chẳng sinh giận buồn
vì ngã, pháp không lặng

lại nhớ thủa quá khứ
tôi là vị tiên tu
nhập đại hạnh nhẫn nhục
ngã, pháp tướng xa lìa

người cầu đạo bồ đề
phát tâm vô lượng độ
lìa gỉa tướng mây hồng
bố thí vô sở trụ

chư tướng, không thực tướng
chúng sinh, không chúng sinh
lời chân như bình đẳng
không dối trá mảy may

khởi hạnh nguyện bố thí
chưa lìa tướng huyễn mê
như người trong ngục đất
quờ quạng có thấy gì !

khởi hạnh nguyện bố thí
chẳng vì sự, tướng mê
như người mở mắt sáng
dưới mặt trời lưu ly
thấu rõ pháp chân, vọng

mai sau có người nào
thụ trì phẩm kinh ngọc
vào biển trí Như-Lai
tựu thành vô lượng đức

XV

giọt sương đọng đài sen
ảnh chiếu ba cõi bụi
trì kinh công đức

có người đem thân mệnh
như phù sa hồng hà
bố thí muôn ức kiếp
có người trộm nghe kinh
khởi lòng tin thanh tịnh
đức vô lượng vô biên
hơn đại nguyện bố thí
trải thân ngọc tam thiên
vàng ngọc đắp ngục tối
dòng kinh mở não phiền

vì người khởi đại tâm
phát nguyện tối thượng thừa
tôi mở pháp vi diệu
ai đọc tụng thọ trì
diễn giải chân thực ý
vào biển huệ lưu ly
tựu thành vô lượng đức
là chuyển đạo Như-Lai
cứu người trong lửa vực

người chấp trược ngã kiến
chúng sinh, thọ gỉa kiến
như tù ngục trong thân
đối với kinh ngọc này
không thụ trì tụng đọc
chẳng thấy pháp NhưLai
chìm sâu dòng suối độc !

nơi nào mở kinh này
ngâm tụng dòng thơ nhỏ
khắp cõi quỉ trời người
cúng dường vô lượng độ
như kim thân Như-Lai
như tháp thờ xá lợi
thường tại giữa mây bay

XVI

vô cùng trăng sao vỡ
vô cùng bọt nước tan
năng tịnh nghiệp chướng

người trì tụng kinh này
bị người khác khinh chê
vì nghiệp trước sâu dầy
nay nghiệp tội tiêu tan
khởi phát thanh tịnh tâm
chứng vô lượng đạo quả
như sen ướp, trầm xông

trải qua vô lượng kiếp
tôi theo Phật Nhiên Đăng
cúng dường vô lượng Phật
công đức chẳng so bằng
người tụng phẩm kinh ngọc
nghĩa thâm diệu suy tầm
ngã, pháp thể không tịch
thực chứng đạo viên dung

XVII

rửa tay tam giới mộng
sông cuộn bụi vàng rơi
cứu kinh vô ngã

Hiền gỉa tu-bồ-đề
trải tọa cụ lưu ly
chắp tay lan bạch ngọc
tán thán pháp diệu kỳ!

đức vô thượng Thế-Tôn
truyền tâm đạo Bồ-Đề
pháp nào ý an trụ ?
pháp nào đẹp huyễn mê ?

người thiện nam, thiện nữ
khởi tâm đại Bồ-Đề
hết thảy chúng sinh độ
chúng sinh diệt độ rồi
như không một chúng sanh
mê, ngộ vô sai biệt
đồng tánh trí tựu thành

tu-bồ-đề hiền gỉa
ý ông nghĩ thế nào ?
tôi theo Phật Nhiên Đăng
chứng đạo vàng vô thượng ?

như mật ý Như lai
xưa Nhiên Đăng Phật hội
chẳng một pháp ngoài tâm
không chính đẳng, chính giác

nếu một pháp ngoài tâm
tôi vào vô thượng giác
cổ Phật Nhiên Đăng nào
thụ ký sao thành Phật:
hiệu Thích Ca Mâu Ni

bồ tát chấp ngã tướng
huyễn tướng khởi trùng trùng
như mắt quáng hoa không
chưa thành bồ tát đạo !

thực ra không pháp nào
khởi tâm cầu vô thượng
thực ra không pháp nào
gọi chính đẳng chính giác

xưa nay đạo không lặng
mê, ngộ chẳng ngoài vòng
một tâm giáp mười cõi
biển lặng bóng trăng trong

Như-Lai là diệu nghĩa
như như vạn pháp thường
xưa nay không một pháp
như bóng chớp hoa sương

không một pháp bồ tát
không ta cũng không người
không trang nghiêm cõi phật
mật nguyện hoa vàng tươi !

làm trang nghiêm cõi Phật
tức trang nghiêm cõi người
ngã, pháp bóng mây nổi
vào ra dòng nước xuôi

XVIII

một thể nước thanh tịnh
mây sương suôí biển đông
nhất thể đồng quán

hiền giả tu-bồ-đề
diễn bày ý chân thực !
tôi có nhục nhãn chăng ?
quả ngài có nhục nhãn

hiền giả tu-bồ-đề
diễn bày ý chân thực !
tôi có thiên nhãn chăng ?
quả ngài được thiên nhãn

hiền giả tu-bồ-đề
diễn bày ý chân thực !
tôi có tụê nhãn chăng ?
quả ngài có tụê nhãn

hiền giả tu-bồ-đề
diễn bày ý chân thực !
tôi có pháp nhãn chăng ?
quả ngài chứng pháp nhãn

hiền giả tu-bồ-đề
diễn bày ý chân thực !
tôi có Phật nhãn chăng ?
quả ngài có Phật nhãn

vô lượng số sông hồng
vô lượng cát phù giang
như vô lượng cõi Phật
vô lượng tâm chúng sinh
tôi đều như thực quán
tướng đồng dị mang mang
hoá sinh vô lượng kiếp
không ngoài tâm viên đồng
thể không sanh, trụ, diệt

XIX

mặt trời trí huệ sáng
mười cõi một tâm không
pháp giới thông hóa

bố thí vô lượng ngọc
bằng tất cả tam thiên
phúc đức nhiều vô lượng
từ một đại nhân duyên

nếu như phúc thật có
chẳng thể lượng ít nhiều
vì vốn không thật có
phương tiện nói bao nhiêu

nghiệp duyên như sóng nổi
phúc đức như bọt trôi
khi gío yên biển lặng
tìm đâu bọt giữa khơi

XX

lìa sương un bọt nổi
tâm hiện một dòng trong
ly sắc ly tưởng

nhờ kim thân đầy đủ
có thấy tướng Như-Lai
không qua thân mây nổi
mà thấy đức Như Lai

gọi sắc thân đầy đủ
nào phải sắc thân thường
mới gọt thân đầy đủ
huệ đức tạng Kim Cương

qua vạn tướng tốt đẹp
có thấy được Như-Lai ?
không qua tướng mây gấm
mà thấy dấu Như-Lai

đầy đủ tướng tốt đẹp
không phải tướng tròn đầy
mới tạm gọi đủ tướng
như bóng suối chim bay

như hoa nổi hư không
như mây chìm đáy nước
lìa sắc tướng, tâm không
chẳng tìm đâu một bước

XXI

không lời vàng thức ngộ
tâm thể có mê đâu
phi thuyết sở thuyết

người chấp Như-Lai pháp
là không hiểu nghĩa mầu
nghe pháp không chấp pháp
cầu pháp không người cầu
tôi hằng phương tiện thuyết
mê ngộ có xa đâu

vô lượng kiếp kiếp sau
người khởi tâm thanh tịnh
biết cầu đạo nơi đâu ?

tìm mộng trong giấc mộng
người mê, chẳng thấy mê
xưa nay không ngã, pháp
tìm đâu lối bồ đề

XXII

mở mắt dứt mộng lớn
mê ngộ chẳng đôi bờ
vô pháp khả đắc

đức vô thượng Như-Lai
tâm không chỗ sở đắc
đạo cả chẳng trong ngoài
nào có được mảy may

không một pháp vô thượng
chẳng cho cũng chẳng cầu
không hư, cũng không thực
mới gọi pháp nhiệm mầu

XXIII

tâm mười cõi hư không
nẻo vào đâu lối ngõ
tịnh tâm hành thiện

pháp như như bình đẳng,
không thấp cũng không cao
vô ngã, vô thọ gỉa
vô nhân, vô chúng sanh
do tu vạn pháp lành,
nẻo vào vô thượng đạo

pháp lành, không pháp lành,
dùng pháp, không nệ pháp.
lợi lạc khắp chúng sinh
niết bàn vô thượng đạt.

XXIV

tiếng chuông vàng thức chúng
cõi mộng thoảng tơ sương
phúc trí vô tỷ

có người dùng báu ngọc,
góp triệu dãy trường sơn.
rộng cho đến côn trùng,
phúc đức vô lượng bể.
không bằng một dòng kệ,
trì tụng hoặc diễn bầy,
ca ngâm kinh ngọc này,
khiến bừng tam giới mộng.
nghiệp đức nước nghìn sông,
cứu độ nhất thiết khổ,
cúng dường Phật mười phương.

XXV

mưa ngọc trải mười cõi
vô lượng chúng hoa thơm
hóa vô sở hóa

các ông chớ bảo rằng
Như Lai độ chúng sinh
vì ngã, pháp không tịch
nhân duyên tự độ mình
mình là đảo ngọc sáng
giữa biển vọng vô minh
mình, mắt xích phiền não
độ người tức độ mình

Như Lai tạm nói ngã
chỉ phương tiện giải bày
kẻ mê chấp thật có
như lặng suối tìm mây

XXVI

vàng vàng hoa mướp nở
mang mang hạt bụi rơi
pháp thân phi tướng

ba mươi hai tướng ngọc,
chẳng quán được Như-Lai.
dùng sắc không thấy Phật,
pháp thân nào trong ngoài.

dùng thân vàng thấy Phật,
dùng khánh ngọc cầu ta,
người đó lạc tà đạo,
đũa ngọc gắp sao tà.

XXVII

ngọn suối sương un trắng
rì rào bọt nước xô
vô đoạn vô diệt

xa lìa thân huệ ngọc,
nên chứng đạo bồ đề.
từ ý đó cầu đạo,
vạn pháp diệt tan đi.

vì phát tâm vô thượng
không chấp pháp đoạn trừ
xá chi mây tan hợp,
chân thực tướng như như.

XXVIII

vào ra cơn mây nổi
áo rũ bụi vàng rơi
bất thụ bất tham

bồ tát dùng thơ ngọc,
như cát nổi cửu long,
vô lượng kiếp bố thí.
có vị chứng pháp không,
được tạo thành pháp nhẫn.
công đức kể vô cùng,
hơn núi vàng biển ngọc.

vạn pháp không thật ngã,
hòa hợp đốm mây xanh.
chẳng tham chấp phước đức,
không hưởng phước quả sinh.
tâm ngọc không đắm nhiễm,
tròn tịnh nhật quang minh.

XXIX

chân khỏa ngọn suối trong
tan mấy từng sao biếc
vô nghi vô tĩnh

có người chấp Như-Lai,
là như lui, như tới.
là như nằm, như ngồi,
thật không hiểu nghĩa nói,

Như-Lai không đâu lại,
không do nơi nào đi.
Như-Lai như thực trí,
vì khởi ngộ tan mê.
ngã, pháp thể không tịch,
không đi cũng không về.

XXX

một ngọn suối cát trắng
thả mười cõi mây bay
nhất hợp ly tướng

nếu có người thiện nam,
đem đại thiên thế giới,
nghiền nát như bụi vàng.
ông nghĩ bụi nhiều chăng ?

tu-bồ-đề tác bạch:
vô cùng hạt bụi vàng
vì nếu bụi có thực,
Như-Lai không nghĩ bàn.
thực tướng lìa ngôn thuyết,
ẩn dụ ý mang mang.

những hạt bụi nhỏ đó,
tức không phải bụi vàng,
mới thật là bụi nhỏ.
Thực tướng khó suy bàn,
chẳng chấp phương tiện thuyết,

ba nghìn cõi đại thiên.
không ba nghìn thế giới,
mới gọi đại tam thiên.
vị thể không biện biệt.

nếu cõi kia có thực,
hình tướng hợp như mây,
một hình tướng hợp lại,
tức không phải tướng này.
mới gọi tướng hợp lại,
nhân duyên giấc mộng vầy,
như ánh chớp trời ngọc,
như thoảng nắm sương bay.

hình tướng mây tan hợp,
lời không thể nghĩ suy.
lòng tham chấp sự tướng,
nghe thêm chẳng ích gì.
như dưới cầu nước chảy,
vừa đó đã qua đi.

tôi thuyết, phương tiện thuyết,
người nghe, không chấp nghe,
bỏ quên lời bặt ý,
tự hiện tâm bồ dề.
mười phương nào ngăn ngại.

XXXI

máu huyết cất nhật nguyệt
một cõi ánh lưu ly
trí kiến bất sinh

nếu có người cho rằng:
Phật nói ngã, nhân kiến,
chúng sanh, thọ, gỉa kiến,
có hiểu ý tôi chăng ?

người nào đó hiểu nghĩa,
phương tiện thuyết Như-Lai.
lời nói không trọn ý,
người nghe chẳng vẹn lời.
vì tập kiến chấp chặt,
càng xa nghĩa diệu vời.
người phát tâm bồ đề,
tin, thấy, biết như thực.
chấp trược chẳng sinh lòng,
thực chứng minh huệ đức.

viên ngọc dấu trong tay,
nghe lời, tin lời thế
chẳng khởi tâm giữ lời,
cốt lìa xem ngọc thể.
niềm tin thoảng bóng mây.

XXXII

một cành hoa mai nở
trang nghiêm đồi thông hồng
vô hóa phi chân

có người dùng mưa ngọc,
rộng cho khắp tam thiên.
phúc đức vô lượng bể,
chưa bằng viết dòng kệ.
trì tụng hoặc diễn bầy
ca ngâm kinh ngọc này,
khiến tỉnh tam giới mộng.
nghiệp đức nước trùng dương,
cứu độ nhất thiết khổ.
đền ơn Phật mười phương.

người nhập kinh diệu này,
xa lìa huyễn ngã pháp,
vô ngại bóng mây bay,
cúng dường nhất thiết vật.
tự tại giữa vần xoay,
thể như như bất động,

trùng trùng pháp hữu vi,
như huyễn mộng bọt nước,
như bóng chớp sương mai,
thường quán tưởng như thị,

Phật nói kinh này rồi,
hoa cúng dường phơi phới.
chim tụng vi diệu âm,
mây về mười cõi giới.
trưởng lão tu-bồ-đề
tỳ khưu, tỳ khưu ni,
ưu bà tắc bà di,
khắp cõi quỉ trời người,
hoa hỷ bừng pháp hội.

KHÉP KINH

chẳng nương bè trúc ngọc,
vượt qua suối mây hồng,
con chim vô lượng kiếp,
về tha trái nhãn không.

ĐỘNG HOA VÀNG

chim từ
bỏ động hoa thưa
người từ tóc biếc
đôi bờ hạ đông
lên non
kiếm hạt tơ hồng
đập ra chợt thấy
đôi dòng hạc bay
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Apr 22 2007, 11:35 PM
Gửi vào: #40


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8






Thơ Hoàng Ngọc Liên

Nhật Trường Trần Thiện Thanh: Người Bạn Trẻ Đã Đi Rồi



Mình cứ ngỡ không bao giờ ngăn cách,
Sẽ cùng nhau tham dự hết cuộc chơi
Khi được tin Người Bạn Trẻ Đã Đi Rồi
Mình ngơ ngẩn như một phần mình vừa mất
Đành Cõi Tạm: Ai cũng về với Đất
Có lẽ đâu Bạn đi sớm cho đành!
Khiến cuộc chơi vắng bóng Trần Thiện Thanh
Người Ở Lại Charlie, xa cách mãi
Tôi còn nợ cuộc đời nhiều Oan Trái
Hệ lụy nào qua khỏi bến Vô Thường
Đã "Lập Thân Tối Hạ Thị Văn Chương
Thì tự nhủ " Tài Tình Thiên Cổ Lụy"!
Thanh Đàm, Nhã Tập, Minh Văn, Diễm Ý
Bạn thoát rồi hệ lụy khúc Vô Thanh.
Ai sẽ ca: "Anh Không Chết Đâu Anh"
Để tiển Bạn về Bên Kia Bờ Giác?
Xin hẹn Bạn trong một Miền An Lạc
Nơi không còn hệ lụy của trần gian.


Hoàng Ngọc Liên
hngocl@gmail.com




--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

7 Pages: V < 1 2 3 4 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 21st November 2019 - 03:36 AM