IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

8 Pages: V « < 6 7 8  
Reply to this topicStart new topic
> VềPHẬT (Của HOAHẠ)
hoaha
post Nov 14 2016, 12:43 AM
Gửi vào: #141


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



GIỚI THIỆU
ĐẠI CƯƠNG VỀ DUY THỨC HỌC

(Tâm lư học Phật giáo)
Tuệ Hạnh

Duy thức học (Tâm lư học Phật giáo Phát triển) là một trong những hệ thống tư tưởng lớn của Phật giáo đă gây sự kinh ngạc đối với khoa Tâm lư học phương Tây hiện đại, đặc biệt là chuyên ngành Tâm lư học trị liệu. Tuy nhiên, khác với Tâm lư học thông thường, Duy thức học không phải là một nhận thức luận đơn thuần, cũng không nhằm xiển dương cho một triết lư nào đó, mà trong mục tiêu cứu kính của Phật giáo, Duy thức học đă khai sáng một nhận thức mới về sự giác ngộ qua hành tŕnh t́m hiểu Tâm. Đây là một vấn đề Phật học quan trọng và rộng, nhưng trong giới hạn dung lượng của chương tŕnh Phật học hàm thụ, Ban Hướng dẫn trân trọng giới thiệu bài giảng: "Đại cương về Duy thức học" của tác giả Tuệ Hạnh, Ph.D.; ngoài bài giảng này, trong điều kiện cho phép, học viên cần tham khảo thêm các tài liệu được giới thiệu ở cuối bài.

DẪN NHẬP
Duy thức và Trung quán là hai trường phái lớn, triển khai tư tưởng Đại thừa đến cực điểm của triết học Phật giáo vào những thế kỷ II đến thế kỷ VI tại Ấn Độ. Duy thức được biết qua Phạn ngữ bằng 3 từ: 1) Cittamàtra, chủ trương tất cả đều do tâm, duy tâm; 2) Yogacàra, gồm 2 từ Du-già và hạnh, đề xướng hành tŕ du-già, quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện Bồ tát; 3) Vijnanaptivàda, học thuyết cho rằng tất cả vạn vật đều do thức hiện khởi, duy thức. Cả ba từ này được dùng cùng nghĩa với nhau, tuy rằng về sau, do các bộ luận chuyên về "duy thức" của Thế Thân, Vijnanaptivàda được phỗ biến hơn và chấp nhận như là tên gọi cho triết thuyết của tông này (Vijnanaptimatràtavàda). Trong khi đó, Cittamàtra hầu như không c̣n được nhắc tới, c̣n Yogàcàra được dùng xen lẫn với Vijnanaptivàda như là đồng nghĩa. Trong khi Trung quán chú trọng về biện chứng bằng trí tuệ th́ Du-già đặt trọng tâm vào việc hành tŕ thiền định; cả hai đều nhằm mục đích nhận chân thực tánh của hiện hữu.

Tuy rằng sự ra đời của trường phái Duy thức được xem là xiển dương và phát huy triết lư Đại thừa đến cực điểm, nhưng căn bản tư tưởng của nó, cũng như của Trung quán, bắt nguồn từ truyền thống sớm nhất của Phật giáo, tức ngay vào thời Đức Phật tại thế, khi Ngài dạy trong kinh Pháp Cú, rằng "Tâm làm chủ, Tâm dẫn đầu, Tâm tạo tác tất cả các pháp", rằng Thức vốn có bản tánh thanh tịnh, v.v... Tâm do đó rất quan trọng trong Phật giáo ngay từ thời nguyên thủy. Có thể nói rằng tất cả các học phái của Phật giáo, tại Ấn Độ cũng như tại Trung Hoa, cũng đều xây dựng triết thuyết trên vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của Tâm.

Du-già [1] thực ra không phải là một phương pháp thực hành thiền quán đặc biệt nào, mà là một phương tiện diễn đạt dùng để t́m hiểu nội trạng của hành giả khi hành động và ư nghĩ của hành giả khi thực hiện hành động đó. Mục đích là để chuyển biến thức thành trí (tuệ). Sự ra đời của triết thuyết Duy thức, theo vậy, không phải là để xiển dương một triết lư, mà là để khai sáng một nhận thức mới về sự giác ngộ qua hành tŕnh t́m hiểu Tâm thức bằng thuyết Ba tự tánh (trisvabhava) rồi thiết lập một con đường thực hành (Bồ tát đạo), tạo nên một triết thuyết đưa nội dung tư tưởng Đại thừa đến chỗ toàn vẹn.

I. CÁC LUẬN SƯ DUY THỨC

Thế Thân (Vasubandhu) và người anh là Vô Trước (Asanga), sống khoảng thế kỷ IV, được xem là hai khuôn mặt vĩ đại, đă chủ xướng, hệ thống hóa và xiển dương triết lư Duy thức khiến chỉ trong một thời gian ngắn, học phái này được phỗ biến rộng răi và lôi cuốn một số luận sư tài danh khác, đương thời cũng như các thế kỷ sau, nhập cuộc và khởi đầu cho một số luận sớ, sớ giải, v.v..., hoặc tán thành và triển khai thêm, hoặc biện bác, phủ quyết, v.v... với học thuyết này.

Thế Thân (315-395 sdl) [2] nỗi tiếng qua hai quyển luận ngắn, luận thuyết rằng tất cả đều duy chỉ là thức [3] (Duy thức Nhị thập tụng và Duy thức Tam thập tụng, Vimsatikà- và Trimsikà-vijnịapti-kàrikà) [4], cùng một quyển nhỏ khác, nói về ba tánh của hiện hữu, tức tam tự tánh (Trisvabhàva-nirdesa), hay c̣n gọi là Tam vô tự tánh luận (Trinisvabhàva-sàstra) [5]. Truyền thuyết cho rằng sau khi được người anh khác mẹ là Vô Trước thuyết phục theo Đại thừa, Thế Thân mới viết các luận trên để bày tỏ quan điểm mới và phủ nhận ư hướng Tiểu thừa được biết qua bộ A-t́-đạt-ma Câu-xá luận (Abhidharma-kosa-bhàsya) cũng vô cùng nỗi tiếng của ngài. Thật ra, là một triết gia lỗi lạc, càng lớn tuỗi th́ kinh nghiệm tâm linh càng thâm sâu và tư tưởng triết lư càng cao rộng, cho nên các bộ luận trên chỉ là thành quả triển khai đương nhiên của nhà luận sư tài ba này mà thôi.

Vô Trước là tác giả của Bồ tát địa (Bodhisattvabhùmi), A-t́-đạt-ma Tạp tập luận (Abhidharmasamuccàya), và Du-già sư địa luận (Yogàcàryà-bhùmi-sàstra) [6], viết theo quan niệm Duy thức.

Thầy của Vô Trước là luận sư Di Lặc (Maitreyanàtha) [7], một nhân vật lịch sử, mà các học giả ngày nay như giáo sư Giuseppe Tucci đă có ư kiến rằng ngài mới chính là người xiển dương và là sáng tổ của Duy thức tông; tài năng của ngài không kém Long Thọ, tuy rằng tên tuỗi và niên đại của ngài lại ít người biết đến [8]. Theo truyền thống Tây Tạng, ngài là tác giả 5 bộ luận, mà nỗi tiếng nhất là Biện trung biên luận tụng (Madhyànta-vibhàga-kàrika) [9], luận giải về sự phân biệt giữa trung đạo đối với các cực đoan [10]; cùng với Đại thừa trang nghiêm (Mahàyànasùtra-lankàra), Hiện chứng trang nghiêm (Abhisamayàlamkàra) v.v...

Đại diện trường phái Duy thức tại Ấn Độ có Sthiramàti (An Huệ, sống khoảng thế kỷ VI), vốn là đại đệ tử của Gunamàti, Đức Huệ, người sáng lập trung tâm Valabh́, trong khi Dharmapàla, Pháp Hộ (530-591), người có công xác lập vị trí của trung tâm Đại học Nàlandà với khuynh hướng xiển dương Duy thức, là hai trung tâm học thuật Phật giáo nỗi tiếng đương thời. Pháp Hộ chủ trương Duy thức tuyệt đối, trong khi An Huệ có ư muốn dung ḥa quan điểm "thực tướng" của Nagarjuna (Long Thọ) với quan niệm "nhất thiết duy tâm tạo" của Duy thức [11]. Ngoài ra c̣n có đệ tử Thế Thân là Dignàga (Trần Na), và đệ tử Trần Na là Dharmaḱrti (Pháp Xứng); cả hai dựa trên quan điểm nội hàm luận lư học của Thế Thân về tương liên giữa nhận thức về đối tượng để xiển dương Nhân minh học (Hetuvidyà), một phương pháp tranh luận bằng lư luận, logic.

Tại Trung Hoa, Duy thức được xiển dương bởi ngài Huyền Tráng và đệ tử là Khuy Cơ (K'uei-chi, 632-685), người được xem như là sáng tổ Duy thức hay Pháp Tướng tông (Fa-hsiang), một trong 8 tông phái lớn của Phật giáo Trung Hoa. Ngài Huyền Tráng (Hsuan-tsang, 596-664) sau khi dịch Duy thức Nhị thập tụng và nhất là Duy thức Tam thập tụng, bèn hội ư tất cả mười bản luận giải của các luận sư Ấn Độ về Duy thức Tam thập tụng để viết Thành Duy thức luận (Vijnịapti-màtratà-siddhi), làm căn bản triết thuyết cho Pháp Tướng tông Trung Hoa [12]. Ngoài ra c̣n có Đại Thừa Đăng, một đại sư người Việt Nam, cùng với Khuy Cơ được xem như là hai đại đệ tử đă cộng tác với Huyền Tráng trong công tŕnh dịch thuật các bộ luận về Duy thức này, cho thấy tài năng của một đại sư Việt Nam mà tên tuỗi chưa được giới học thuật Phật giáo Việt Nam trước đây chú ư [13].

II. SƠ LƯỢC VỀ DUY THỨC NHỊ THẬP TỤNG VÀ DUY THỨC TAM THẬP TỤNG (Nhị thập tụng và Tam thập tụng)

Vasubandhu viết Nhị thập tụng và tự viết thêm phần chú giải, trong khi Tam thập tụng th́ có phần chú giải của Sthiramati (An Huệ). Theo hai bản luận căn bản của Duy thức tông này [14], th́ tất cả mọi hiện tượng đều là sự biến hiện của thức trong hành vi và hoạt động nội tại của chúng; những nhận thức của chúng ta không phải là do từ đối tượng ngoại tại tạo thành, những đối tượng mà ta tưởng là hiện hữu bên ngoài và tạo thành ư nghĩ của chúng ta. Cũng giống như trong giấc mộng, chúng ta có những kinh nghiệm về thiên h́nh vạn trạng, người ta, cảnh vật, thời điểm, cảm giác, v.v..., tất cả đều y như thật trong giấc mộng đó. Đến khi tỉnh giấc, ta c̣n vẫn c̣n có những cảm giác như thật khi tiếp xúc và phản ứng với những ǵ trong mộng [15]. Ấy thế mà khi tỉnh giấc, th́ chẳng có ǵ. Cũng vậy, tất cả các đối tượng ngoại tại chẳng qua chỉ là do thức hiện khởi mà thôi.

Do đó mà Thế Thân mới kết luận rằng những chứng cớ bằng nhận thức về sự hiện hữu của thế giới đối tượng không thể tin được. Dụ như, ta có thể đặt vấn đề, là những đối tượng của nhận thức qua đôi mắt, nhăn thức, chỉ hoàn toàn là một hiện thể trọn vẹn, hay nhiều thành tố như nguyên tử hợp lại. Chúng không thể hoàn toàn là một, bởi v́ nếu là một trọn vẹn th́ phải bao gồm nhiều thành phần trong chúng; chúng cũng không thể có đặc tính của những nguyên tử, là những thành tố không c̣n có thể chia chẻ phân tách ra nữa được [16]; bởi lư do đơn giản là nếu chúng có thể phối hợp được th́ chúng đă không thể được xem là nguyên tử. Để phối hợp, một thành tố phải có 6 cạnh, Nam Bắc Đông Tây trên dưới [17], như vậy có nghĩa là nguyên tử đó không c̣n phải là nguyên tử nữa. Lại nữa, nếu những đối tượng của nhận thức hoàn toàn là một, th́ sự tiếp diễn và kết quả của nó không thể giải thích được và nhận thức của ta về sự vật khác biệt nhau cũng không thể nào kể đến được. Do thế mà tuy chúng không có một hiện hữu thật sự là đối thể, nhận thức đó lại dẫn dắt ta đến việc tin tưởng là chúng hiện hữu thật sự bên ngoài. Như trong giấc mộng, chúng ta tạo dựng một thế giới khách thể mà chỉ khi nào ta đạt được trí tuệ siêu việt đối đăi, nhị nguyên, ta và không-ta (lokottaranirvikalpa- jnanalabhat prabuddho bhavati), khi ấy chúng ta mới biết rằng thế giới đó cũng giả tá như giấc mộng giả tá với thiên h́nh vạn trạng mà thôi. Theo quan điểm này, th́ không có một thế giới khách thể bên ngoài, và nhận thức của chúng ta không phải bị ảnh hưởng bởi những đối tượng ngoại tại.

Trong Tam thập tụng của Vasubandhu và chú giải của Sthiramati, quan điểm Duy thức được quảng diễn rơ ràng hơn. Chủ thể tri nhận và những ǵ được tri nhận như là ư tưởng chủ thể hay đối tượng khách thể đều chỉ là sự hiện hành của thức (vijnnànaparinàma) tàng trữ thanh tịnh. Sự hiện hành hay chuyển biến (parinàma) của thức là sự h́nh thành của một kết quả khác biệt với sự h́nh thành của một gian kỳ nhân-quả mà cùng lúc, gian kỳ nhân-quả đó cũng chấm dứt. Ở nơi thức này, không có ngoại tại cũng không có chủ thể, nhưng chúng bị lầm tưởng là có; mà v́ bị tưởng lầm như thế cho nên phải có một tồn thể nào đó hiện hữu nhưng bị tưởng lầm là một cái ǵ khác. Tồn thể đó, Thế Thân định nghĩa là Thức (Thức a-lại-da nơi trạng thái thanh tịnh, vijnanaptimatràta), mà Thế Thân và cả An Huệ đều cho là thực tại chân thật tối hậu. Trong khi đó, kinh Lăng Già cùng một số luận sư cực đoan khác lại phủ định luôn cả thực tại của thức này (asat).

Thức tối hậu vốn hàm chứa tất cả mọi biến thái do hai thức trước gửi vào, gọi là àlayavijnanana (thức A-lại-da) trong dạng thức bị biến thái, bởi v́ nó là cái kho chứa đựng (huân tập) tất cả kinh nghiệm nhận thức. Khi tâm của bậc giác ngộ đă định tĩnh (pratisthita) trên thức thanh tịnh này, th́ khuynh hướng suy nghĩ nhị nguyên về chủ thể và khách thể (grahyagrahaka-anusaya) chấm dứt và trí vô phân biệt (nirvikalpa) và siêu việt thế gian (lokottara) hiện khởi. Trí này đă tẩy sạch hết tất cả phiền năo (klesa), không c̣n một khuynh hướng đối đăi nào nữa cả, nên được gọi là trí vô lậu (anàsrava), có nghĩa là không c̣n rơi lọt vào ṿng nhị nguyên nữa. Nó không thể nghĩ bàn được (bất khả tư nghị), không thể diễn đạt được (bất khả thuyết) v́ đó là trí tự chứng (pratyatmavedya) đồng thời biết tất cả, nhất thiết trí tri (sarvajnanata; omniscience), v́ không c̣n ǵ có thể hạn cuộc, không ǵ có thể chướng ngại (àvarana) được nó nữa. Alayavijnnana trong trạng thái trong sạch thuần túy được gọi là pháp giới (dharmadhàtu) của mọi đức tính, và cũng là nơi mà tất cả những tâm thức đă đánh mất tất cả những phiền năo hạn cuộc và được gọi là Pháp thân (dharmakàya) của Phật (klesajneyavarana-prahanat [...] sarvadharma-vibhutualabhata's ca dharmakaya ity ucyate). Đây là giai đoạn chuyển thức thành trí.

III. HỌC THUYẾT

1. Bốn điểm quan yếu của học thuyết Duy thức: Đó là

a. tất cả hiện hữu chỉ là do thức, duy thức (vijnanapti-màtratà);
b. tất cả do v́ tạng thức (àlayavijnanana) hiện khởi;
c. thức có ba tự tánh (tri-svabhàva), mà sau khi phân tích, thật ra lại là ba vô tự tánh;
d. tương liên giữa ba tự tánh và ba thân Phật (trikàya).
Theo Duy thức, a-lại-da huân tập các hạt giống (chủng tử, b́ja) trong quá khứ, từ đó sinh khởi các hiện tượng tâm thức do v́ chủng tử chín muồi theo tác động của nghiệp (nghiệp quả). Chúng tác động nhau tạo nên ảo ảnh mà chúng ta cho là thật. Cảm nhận của con người do đó bị nhiễm ô, khiến phát sinh ra ấn tượng về một cái "ta". Ấn tượng này là sai lầm, v́ chỉ có sự cảm nhận (thức), chứ không có "người" cảm nhận; do v́ sai lầm bám víu vào cái ngă cho nên phải đau khổ. Sự cảm nhận, hay nhận thức ngoại cảnh, được phân tích là vốn không có tự tánh (ba tự tánh). Để không c̣n bị thức chuyển hiện, ta phải hành tŕ Du-già để chuyển thức thành trí, chuyển ba tự tánh thành ba thân Phật.
2. A. Thế nào là tất cả hiện hữu chỉ duy thức?

Duy thức học hay Duy thức tông chủ trương mọi hiện tượng đều chỉ là thức, là cảm nhận của tâm, ngoài thức đang cảm nhận th́ không có ǵ hiện hữu, không có một đối tượng khách thể, độc lập. Thế gian chỉ là ảo ảnh (màyà), hay tợ cảnh, bởi v́ tất cả hiện thể đều không bền vững, không có tự thể (vô ngă), và không tồn tại (vô thường). Tâm thức, bị ảnh hưởng của vô minh (avidyà), tin vào những ǵ mà nó tiếp xúc, trong cả hai trạng thái tỉnh giấc và ngủ mơ, cho rằng đối tượng thật sự hiện hữu bên ngoài nó, trong khi thật ra, chỉ v́ cái tâm thức đó phóng thể, hay là hiện ra (tập khởi), cho nên thấy như là thế gian như là hiện hữu, vậy thôi. Chủ thể, cái ta, do đó không có thật; và khách thể, thế giới bên ngoài, cũng không có thật.

KHÁI NIỆM VỀ THỨC

Thức, hay ư thức, là sự nhận biết về một "cái ngă", "cái ta". Nguyên lư căn bản của Duy thức học là "tất cả một hiện hữu đều do thức tạo tác" (nhất thiết duy tâm tạo). Thức là nền tảng của tất cả mọi hiện hành, từ khi sinh ra cho đến khi đạt giác ngộ; "tất cả đều đặt trên tiến tŕnh sinh khởi và diệt tận của ư thức, tức là sự phân biệt tự bên trong của tâm. Thức là hành vi, hoạt động tạo tác phân biệt của tâm, vừa tạo tác (tập khởi tâm) vừa sinh khởi phân biệt (tư lương tâm), không chỉ trong trạng thái tỉnh thức mà ngay cả trong trạng thái vô thức hay tiềm thức nữa. Ư thức, trong khi phân biệt cái ta và tất cả những ǵ không phải là ta, trở thành chủ thể và xem tất cả những hiện tượng bên ngoài cái ngă đó là đối tượng, là khách thể. Ư thức, tự nó, là thật. Nó hiện hữu như là một tràng tiếp nối liên tục nhau của từng gian kỳ (moment) nhận biết về những hiện tượng diễn biến bên ngoài nó (duyên lự tâm); mỗii một gian kỳ như thế vừa hiện khởi lên th́ liền được thay thế bởi gian kỳ kế tiếp liên tục nhau, không gián đoạn (tương tục thức). Ư thức do đó, không có thực chất, nó sinh khởi nhờ nương dựa vào ư thức của gian kỳ hiện khởi trước. Do v́ tất cả, cho đến khi hành giả đạt đến giây phút giác ngộ, đều là do thức, cho nên tất cả mọi đối tượng của thế giới ngoại tại đều chỉ là những biểu hiện, những "đại diện", những biểu hiện của thức (hiện thức) mà thôi. Do v́ tất cả đều chỉ là biểu hiện của thức, cho nên mỗii một hiện tượng sinh khởi đều không có tự tánh nội tại của chúng. Cho nên cái mà ta tưởng là "cái ta", cái ngă của ta, chỉ là một ảo tưởng, không có cái "Ngă" chân thật; mọi vật đều chỉ là hiện tượng do thức tạo thành. Cuối cùng, khi ư thức dính mắc vào những biểu hiện để rồi phát sinh ra phân biệt nhị nguyên đó được nhận diện, và chuyển thành trí tuệ, th́ tất cả mọi chấp trước vào cái ngă và những hiện tượng ngoài ngă đều bị diệt tận, và giác ngộ hiện tiền.

Khi cho rằng "thế gian chỉ do tâm hiện khởi", triết thuyết Duy thức phủ quyết rằng thế gian không phải là một thể hiện hay tạo cụ của một đấng tối cao vô biên hay tuyệt đối nào đó. Thượng đế, chúa trời, hay thiên chủ, v.v..., chỉ là một đối tượng sản xuất do bởi tâm thức mà thôi.

Không có ǵ có thể hiện hữu độc lập hay bên ngoài thức. Thế gian chỉ là sự cấu tạo bằng nhận thức của chúng ta, và nếu ta phân tích cái tâm chưa giác ngộ sẽ khám phá ra có nhiều cấp độ nhận thức khác nhau dựa trên ư thức tàng trữ, tạng thức hay a-lại-da thức, thức thứ 8, nơi chứa đựng các hạt giống, chủng tử (b́ja), nghiệp lực của các hành vi, hoạt động thuộc quá khứ.

2. B. Tám thức

Tâm lư học phương Tây thông thường giải thích cơ cấu của sự nhận thức bằng 6 thức, dựa trên 6 căn (indriyas), tức là 6 giác quan: mắt (nhăn, caksu-), tai (nhĩ, srotra-), mũi (tĩ, ghràna-), lưỡi (thiệt, jihva-), thân (kàya-) và ư căn (mana-indriyas). Mắt, khi tiếp nhận đối tượng của nó là cảnh vật bên ngoài (trần cảnh), th́ thấy; cũng vậy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm và ư nghĩ suy. Nhưng nếu nhận thức của chúng ta chỉ dựa trên các căn, th́ chỉ là một mớ nhận thức rất rời rạc, không thể giải thích được những hiện tượng tâm lư tương quan và thâm sâu. Thí dụ, từ thuở nhỏ, ta quen biết một người bạn, cách xa nhau ba mươi mấy năm, t́nh cờ gặp lại, ta nhận được ngay là người bạn cũ thuở xưa. Trong hơn 30 năm đó, ta không hề nghĩ nhớ đến người ấy, mà nay bỗng nhiên gặp, vẫn nhận ra ngay, vậy th́ trong suốt thời gian này, h́nh ảnh của người đó được giữ ở đâu trong 6 giác quan trên để khi vừa gặp lại nhận biết ra ngay? Vấn đề này Tâm lư học phương Tây không giải thích được.

Trong khi đó, ngài Thế Thân đă tiến xa một bước, và đóng góp một thành quả lớn lao cho tư tưởng thế giới, đó là đề nghị một cơ cấu ư thức gồm 4 thành tố: i. 5 thức trước; ii. thức thứ 6; iii. thức thứ 7, gọi là mạt-na thức; và iv. thức thứ 8, tức a-lại-da thức, hay tạng thức. Hai thành tố sau, mạt-na và a-lại-da thức là đóng góp vĩ đại của Thế Thân đối với lịch sử triết lư của nhân loại. Thức thứ 8, như tên gọi, là tạng thức, tức tàng trữ tất cả những nhận thức của chúng ta, có thể ví như bộ nhớ (memory) của máy vi tính. Chính nơi tạng thức này mà h́nh ảnh của người quen 30 năm trước được cất giữ; khi gặp lại, th́ thức thứ 7, vừa tiếp nhận h́nh ảnh người mới vừa gặp lại, vừa t́m kiếm trong tận cùng sâu thẳm của thức thứ 8 h́nh ảnh người quen cũ trước đó 30 năm, phối hợp lại, để trong nháy mắt cho ta biết ngay đây là người đă quen. Thức thứ 7 này là bộ xử lư (DOS) của vi tính.

2. B. i. A-lại-da thức (àlaya-vijnanana)

Như vậy, phần chính yếu của nhận thức của chúng ta là thức thứ 8, a-lại-da thức, hay thức tàng trữ (tạng thức, năng tàng) làm cơ sở cho 7 thức kia. A-lại-da thức c̣n gọi là "chứa đựng mọi ảnh tượng" (sở tàng); từ nơi a-lại-da này mà tất cả những ư niệm về cái ta (ngă chấp), và những hành vi hoạt động của nó trong thế giới ngoại tại (pháp chấp) sinh khởi. Nếu ta có thể lấy ví dụ a-lại-da thức này như là một biển nước rộng lớn mênh mông, th́ 7 thức kia chính là những đợt sóng nhấp nhô, hay ào ạt, trên mặt nước đó. Theo đó, 7 thức trước không thể tách rời khỏi thức thứ 8 này, cũng không làm quấy động sự yên tịnh nơi đáy sâu của biển; nước và sóng là một, th́ cả 8 thức này căn bản cũng không hai. Ta cũng t́m thấy tỷ dụ về nước và sóng này trong học thuyết Tánh Không.

Thức thứ 8 này siêu việt "nhị nguyên của chủ thể và khách thể, của hiện hữu và không hiện hữu"; nó không có một chủ ư nào trong hoạt tŕnh của nó, không hề nhận biết đến đối tượng, không phân biệt, không bị ngăn che (vô phú), không tốt cũng không xấu (vô kư). A-lại-da thức là nơi tàng trữ các hạt giống (chủng tử) do hành động tạo tác bắt đầu từ nguyên nhân đưa đến kết quả (nghiệp), do v́ những hành động mê muội của chúng ta. Thức này không tạo nên nghiệp chủng, nhưng nó giữ vai tṛ như là chủ thể của quả báo đối với những hành hoạt cố ư trong quá khứ, dẫn đến kết quả nơi hiện tại, và ảnh hưởng đến những hoạt động và chấp trước vào tương lai, khiến chúng sinh phải luân hồi trong 3 cơi (tam giới) và 9 vùng (cửu địa). Tiến tŕnh chín muồi của các chủng tử, những suy tư, những nhận thức về đối thể, tất cả đều là chủ quan; cho nên tiến tŕnh đó và kết quả của nó đều không có thật.

Giải thoát khỏi ṿng luân hồi khi tất cả những hạt giống phiền năo được thay thế bởi các chủng tử thanh tịnh do những tịnh nghiệp tạo thành. A-lại-da thức cũng huân chứa các hạt giống thanh tịnh nội tại, là nguồn gốc cho ư chí hướng về giác ngộ. Khi đạt được giác ngộ, th́ thức thứ 8 này không c̣n những hạt giống chưa chín muồi (dị thục chủng) nữa, và chuyển thành Trí của tấm gương tṛn lớn (Đại viên cảnh trí, Great mirror wisdom).

A-lại-da thức có 2 phần: phần chủ thể và phần đối tượng được nhận thức. Phần trước th́ tương duyên với thức thứ 7, phần sau duyên với thức thứ 6 và 5 thức trước, thể hiện qua các trạng thái trí thức, đạo đức và tâm linh, như tham ái, tính toán, phân tích, thiền định, tin tưởng, hỗ thẹn, trí tuệ, v.v... Khi phần sau chuyển biến trong lúc giác ngộ, th́ nó trở thành Hậu đắc trí (subsequently-attained wisdom). Tuy A-lại-da thức phải duyên với tất cả 3 loại biến chuyển (parinàma) để chuyển thức thành trí, nhưng bên trong nó c̣n có một cơ sở thường tồn tŕ giữ tư tưởng trong sạch, bất biến và vĩnh cửu. Đó là thức thứ 9, a-mạt-na hay a-mà-na thức (amàna-vijnanana) do Phật giáo Tây Tạng chủ trương nhưng chưa được bàn rộng sâu, bởi v́ đến đó, chỉ c̣n trạng thái tự nhận mà thôi, không c̣n phải nương theo những loại h́nh ngôn ngữ thông thường.

B. ii. Thức thứ 7 (Mạt-na thức, mano-vijnanana)

Thức thứ 7 che lấp chân tánh của con người bởi quan niệm về cái ngă, cái tôi (ngă chấp). Đây cũng gọi là thức truyền thống (defiling-transmitter consciousness), bởi v́ nó là nơi chất chứa, huân tập những hiện hữu của thế giới không thật bên ngoài, biến chúng thành những hạt giống ảo tưởng, từ đó cho rằng có một cái ngă cá biệt bên trong, làm cho ô nhiễm 6 thức trước. Thức thứ 7 này cũng làm nhiễm ô thức thứ 8 bằng cách liên tục cung cấp cho thức A-lại-da một cái ngă tưởng rằng có thật (chấp nội ngă, ngă thật tướng), trong không gian và thời gian.

Tri nhận của thức thứ 7 này là sai lầm (phi lượng) do v́ bản tánh chấp trước của nó, tạo nên 4 loại ảo ảnh: ngă kiến, ngă ái, ngă si và ngă mạn. Nó cũng duyên với 8 đại tùy phiền năo, như giải đăi, bất tín, v.v...

B. iii. Thức thứ 6 (manaskàra)

Tri kiến và nhận thức hiện hành nơi thức thứ 6, ư thức. Thức này, cùng 5 thức trước, "nh́n thấy" thế giới hiện tượng bên ngoài. Thức này chấp mắc vào những hiện hành của 5 uẩn như là đối tượng và nảy sinh những ư niệm không ngừng nghỉ về cái ta như là chủ thể, trong tiến tŕnh tương duyên 51 pháp với tâm. Thức này là thức phân biệt nhị nguyên, phải trái, trắng đen, lạnh nóng, v.v..., và tự chuyên phê phán, phân biệt, tính toán, so lường trên căn bản đạo đức (duyên lự tâm) những ǵ mà 5 thức trước thâu nhập vào. Phân biệt (vikalpavasana), gồm có 3:

i. tự tánh phân biệt;
ii. kế độ phân biệt, phân biệt do tính toán khiến tạo nghiệp trong tương lai;
iii. tuỳ niệm phân biệt, phân biệt do hồi tưởng những kinh nghiệm quá khứ.
Thức này cũng duyên với các tâm sở căn bản và tùy phiền năo đồng thời với tam tánh và tam trí khi các tánh trí này xâm nhập vào ba trạng huống bên ngoài (tam cảnh). Trong tiến tŕnh đó, thức thứ 6 tạo nên nghiệp bởi do phân biệt, suy đoán, và quyết định đưa đến thể hiện những hành động cụ thể bằng thân và khẩu, hoặc bằng hành động tâm linh như tính toán, nghĩ ngợi, hoặc bằng hành động t́nh cảm như yêu, ghét, tham muốn, v.v... Khi hành giả đạt đến địa thứ 8, th́ những dính mắc chấp trước vào cái ngă của thức thứ 6 này đă đoạn dứt, chỉ c̣n chấp mắc vào pháp.
B. iv. Năm thức trước (panäca-parijnananas)

Năm thức trước được gọi là thức tiếp nhận, do 5 giác quan (căn) cảm nhận, gồm có nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức. Những cảm nhận này sinh khởi từ nơi thức thứ 8. Mỗi căn thức gồm có 2 phần: a. Phần chất thể, tức 5 căn, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; và b. Phần nhận thức; và những thần kinh dẫn đưa 5 căn vào phần nhận thức của a-lại-da. Chúng có thể hiện sinh cùng một lúc nhưng không nhất thiết phải theo thứ tự như liệt kê, hoặc chỉ 1 hay 2 căn hiện sinh mà thôi, tùy theo hoàn cảnh. Năm căn thức này duyên với 31 tâm sở (5 biến hành, 5 biệt cảnh, 11 thiện, 10 tùy phiền năo), và đồng thời duyên với thức thứ 6 khi thức này tiếp nhận những ǵ mà 5 căn thức thâu nhập vào, để tạo nên một h́nh ảnh trong tâm thức về thực tại. Sau khi những nhận thức của 5 căn thức này được thức thứ 6 tiếp thu, chúng được chuyển qua thức thứ 7, để từ đó những tri nhận này được gửi vào thức thứ 8 là nơi tàng trữ tất cả những ǵ mà 5 căn nhận thức xuyên qua quá tŕnh tiếp nhận của thức thứ 6 và 7. Tiến tŕnh này tương tục tiếp diễn không ngừng, và tạo nên những hạt giống nghiệp nơi thức thứ 8. Tất cả 5 thức tiếp nhận này đều không có khả năng phân biệt đạo đức, cho nên chúng thuộc tánh trung dung (vô kư tánh). Cả 5 căn thức đều có mặt nơi cơi dục giới, trong khi nhăn, nhĩ và thân thức c̣n có mặt nơi địa thứ nhất của cơi sắc giới. Qua đến địa thứ hai (nhịthiền định, sinh hỷ lạc địa) của sắc giới th́ 5 căn thức này không c̣n sinh khởi.

B. v. Tiến tŕnh phân biệt của thức

a. Ba loại trí phân biệt (Tam lượng)

Sự phân biệt, là thấy có ta có người, có chủ thể và khách thể, có cái ngă nội tại và thế giới ngoại tại. Chủ thể có 3 loại trí phân biệt (tam lượng):

i. Nhận thức trực tiếp ngay tức thời hiện tượng đang xảy ra (hiện lượng, direct veridical perception), duyên với 5 thức trước, cho thấy h́nh ảnh chân thật của thực tại. Thí dụ: Quả cam màu xanh.
ii. Dựa trên nhận thức đó, nảy sinh suy đoán (tỷ lượng). Thí dụ: Trái cam này chắc sẽ ngọt/chua.

iii. Nhận thức tưởng tượng, ảo giác, không phù hợp với giá trị chân thật của thực tại (phi lượng). Thí dụ: Quả cam này chắc sẽ có nhiều người giành mua.

b. Ba cảnh (Tam cảnh)
Ba trí phân biệt th́ duyên với chủ thể, đến phần hai của sự phân biệt th́ duyên với đối tượng hay khách thể của nhận thức.

i. Khi những phương diện của cảnh giới tự nhiên bên ngoài (tánh cảnh) được thức tiếp nhận, chúng chưa bị méo mó bởi dính mắc vào ngă và pháp. Tánh cảnh này chưa bị điều kiện của nhân quả chen vào, tương đương với nhận thức a/i. của tam trí kể trên. Thí dụ: ta thấy một đóa hoa mọc bên vệ đường.
ii. Những ấn tượng do trí suy đoán và tưởng tượng a/ii. & a/iii. của thức thứ 6 tạo thành (đới chất cảnh) khiến ta lại suy đoán. Thí dụ: đóa hoa này đẹp quá.

iii. Quan niệm về cái ngă khiến ta suy nghĩ sai lạc và bóp méo thực chất của đối tượng, tạo nên một ảnh tượng không có thật (độc ảnh cảnh). Thí dụ: đóa hoa này chắc chắn là v́ ta mà nở đây.

c. Ba loại cảm thọ (Tam thọ)
Tất cả những kinh nghiệm t́nh cảm hay tâm linh của chúng ta, do 6 căn duyên hợp với 6 trần, để sinh ra 6 thức, được phân tích thành 3 loại: i. vui vẻ (lạc), ii. không được như ư (khổ), iii. không khổ không vui (vô kư). Mỗi một kinh nghiệm đều phải thuộc một trong 3 loại này.

d. Ba [đức] tánh

Để phân biệt với Tam tự tánh là 3 đặc thái thuộc về hiện tượng của thức, ta gọi đặc thái thuộc về đạo đức là 3 đức tánh, phân tích theo hành hoạt nhân quả của thức mà diễn đạt. Ba tánh này, theo khái niệm đạo đức, thay đỗi từng giây phút một, và gồm 3 loại:

i. Tốt, thiện (wholesome); khi một hành động mang lại lợi ích, là kết quả của những nghiệp chủng từ những hành hoạt thiện trong quá khứ. Hành hoạt thiện này duyên với 11 thiện pháp.
ii. Không tốt, bất thiện (unwholesome); hành động trái với thiện là bất thiện, tạo thành những nghiệp chủng xấu. Tánh này duyên với các tâm sở tùy phiền năo.

iii. Vô kư, những hành động không thiện không ác. Tánh này duyên với 5 thức trước.

B. vi. Pháp
Duy thức tông, cũng như các tông phái khác trong đạo Phật, có mục đích tối hậu là diệt tận cái tâm thức nhị nguyên (pratisamkhyà-nirodha) đó, bằng phương pháp phân tích tâm hay thức, đưa đến kết luận rằng chúng vốn chỉ là thành tố của các pháp (bách pháp) cho nên vô ngă, v́ chỉ là một phối hợp của ngũ uẩn. Do vậy không có một bản thể (dravya) có thể t́m thấy được; cho nên khi nói rằng một cái tâm hay một người có ư nghĩ là v́ tâm thức (vijnanana) đó chỉ là một ḍng lưu chuyển của những ư nghĩ (vijnanapti) mà thôi.

Pháp là những yếu tố tối hậu củng cố và duy tŕ sự hiện hữu của vạn vật. Trong truyền thống triết học Ấn Độ, trong đó có Phật giáo, quan niệm tất cả mọi hiện hữu đều là pháp. Con người là một pháp; con người gồm có đầu, thân, tay chân, v.v..., th́ đầu là một pháp; đầu gồm có mắt, mũi, miệng, tóc, chân mày, v.v., th́ mắt là một pháp, tai là một pháp; mắt gồm có vành mi, tṛng trắng, tṛng đen, lông nheo, v.v..., th́ tṛng trắng, lông nheo, v.v..., lại cũng là pháp, v.v... Và cứ thế mà chia chẻ ra cho đến tận cùng, đến chỗ không c̣n có thể chia chẻ được nữa, mà khoa học gọi là nguyên tử. Những nguyên tử này là những thực thể hiện hữu liên đới nhau, tạo nên bản tánh của thực tại. Do đó mà Thế Thân đă nêu lên vấn đề, ngay cả nguyên tử cũng không phải là không chia chẻ được, bởi v́ chúng phải liên hợp nhau, mà khi có liên hợp th́ phải có chất thể, gồm 6 mặt, Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới, không phải là không có ǵ hết để không c̣n chia chẻ được nữa. Cho nên, mỗi một pháp là do tâm thức tạo thành theo một chuỗi các sự cố liên hợp theo gian kỳ. Từ đó, những ǵ hiện hữu cũng chỉ là sự dính mắc chấp trước vào một thực tại huyễn hóa do thức tạo tác mà thôi. Trong tiến tŕnh các sự cố hiện h́nh, th́ các pháp đều ảnh hưởng và bị ảnh hưởng (tương tức) bởi 8 thức.

Duy thức học kê 100 pháp thuộc về tâm thức, vốn có thể xếp làm nhiều loại dựa trên 3 tánh (thiện, bất thiện và vô kư, đă kể trên) của chúng, bởi v́ các pháp đều không hiện hữu thực sự. Có 5 loại pháp (ngũ vị):

a. Tâm pháp, gồm có 8, thể hiện 8 thức;
b. Tâm sở hữu pháp, gồm 51, liên đới hiện hành (tương ưng) với 8 tâm pháp. 51 tâm sở hữu pháp này lại được chia làm 6 loại phụ: i. liên đới hoạt động phỗ quát, có 5 (5 tâm sở biến hành); ii. 5 trạng thái đặc biệt ( 5 biệt cảnh); iii. 11 pháp hoàn toàn tốt (11 tâm sở thiện: tin tưởng, biết hỗ thẹn, v.v.); iv. 6 căn bản phiền năo: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến; v. 20 tâm sở tùy phiền năo: trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đăi, phóng dật, thất niệm, bất chánh tri, vô tàm, vô quí, v.v...; và vi. 4 tâm sở bất định (hối, miên, v.v...).

c. Sắc pháp, gồm có 11: 5 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) và 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp); các pháp này là h́nh bóng của hai loại trên;

d. Bất tương ưng hành pháp, gồm có 24 pháp không tương ưng với 3 loại trên, dụ như thời gian, sinh diệt, phân biệt, v.v...;

e. Vô vi pháp, gồm có 6, là những pháp không bị điều kiện, như hư không, sự suy nghĩ, v.v..., do 4 loại trên hiển bày.

Nhận diện được ngũ vị trăm pháp này khi chúng tương ưng hay câu sinh với các thức, là bước đầu căn bản trên đường giác ngộ, cho đến khi đạt đến Đại viên cảnh trí, khi hành giả không c̣n phân biệt về ngă và ngă sở nữa.
2. C. Ba tự tánh hay ba vô tự tánh

Luận Trisvabhavanirdesa đặc biệt xiển dương ba tự tánh, phân tích tường tận các đặc thái của chúng và sự liên hệ giữa 3 tánh này với nhau. Trong Nhị thập tụng, ngài Thế Thân bảo vệ thuyết Duy thức và đả kích các chủ trương chống đối bài bác Duy thức, nhưng chưa nói rơ vai tṛ và cấu trúc của ba tánh trong học thuyết Duy thức của ḿnh. Trong Tam thập tụng, ngài Thế Thân bàn đến sự liên hệ giữa ba tánh vốn trở thành là ba "vô tự tánh", khi phân tích theo đặc tánh về tướng trạng của chúng (laksana-nihsvabhavata), khi phân tích về sự tạo tác của chúng (utpatti-nihsvabhavat), và cuối cùng là về tự tánh chân thật của chúng (paramartha-nihsvabhavata). Kinh Giải Thâm Mật (Samdhinirmocana -sùtra) có bàn đến Ba tự tánh này, nhưng không đề cập đến liên hệ của chúng với quan điểm Duy thức, cũng không đi sâu vào những liên hệ giữa chúng với nhau.

Duy chỉ có ngài Thế Thân trong luận Tam tự tánh này mới phân tích tỉ mỉ về triết lư Duy thức khi bàn đến ba tự tánh và giải thích chúng tương liên sự vận hành và hoạt động cùng nhau như thế nào. An Huệ, khi chú giải Tam thập tụng (Trimsikà-kàrika), đă đồng nhất Ba tự tánh với ba vô tự tánh theo trong kinh Giải Thâm Mật. Quan điểm này của An Huệ được các luận sư Tây Tạng như Tsong-Khapa và MKhas Grub tuyệt đối chấp nhận không tranh căi thêm. Bởi v́:

a. Một đối tượng khi hiện hữu, mang nhiều ư nghĩa cho nhiều chủ thể khi nh́n thấy đối tượng đó. Thí dụ: i. Một cô gái đẹp có thể khiến nhiều thanh niên ham muốn nhục dục, mà cũng là miếng mồi ngon cho con cọp trong rừng, hay chỉ là một đăy thịt thúi đối với vị La hán đă giác ngộ; ii. một ly rượu, đối với người ghiền là "nước cam lồ", với người bệnh gan là thuốc độc, v.v...
b. Duy thức thường dùng thí dụ về giấc mộng để chỉ sự không có thật có thực tại. Điều thích thú là, ngày nay, khoa học nhất là phân tâm học, cũng đă tiến đến tŕnh độ chứng minh những sai lầm và thiếu sót của các căn thức. Thí dụ như một người, sau khi dùng các ngón tay để bịt kín đôi mắt và đôi tai, sau một lúc sẽ thấy mắt chói ḷa và tai lùng bùng, tiếp đến sẽ sinh ra những ảo giác như tự bay được lên mây, lên trời, vào thiên đ́nh nghe Ngọc hoàng Thượng đế sai phán, v.v... Người đó tự tạo một thế gian đầy đủ ba chiều (3 dimensions) y như thật. Tỷ dụ với những hiện tượng xảy ra trong giấc mộng cũng thế, đối với phân tâm học và tâm lư học phương Tây ngày càng có cơ sở chứng thực và được chấp nhận học tập cũng như ứng dụng để trị bệnh [18].

c. Duy thức phủ bác sự hiện hữu độc lập của các đối tượng bằng dẫn chứng là ngay cả nguyên tử cũng vẫn c̣n có thể bị chia chẻ đến vô cùng vô tận. Thuyết này nay cũng được tân vật lư học phương Tây chấp nhận, khi khám phá ra rằng, cũng như ngài Thế Thân đă đề xướng gần hai ngàn năm về trước, là nguyên tử (atom) - một đơn vị chất thể không c̣n bị chia chẻ ra được nữa- là bất khả thể. Bởi v́ sau atom c̣n có thêm một loạt những đơn vị chi li hơn atom nữa, nào là proton, neutron, negatron, v.v...

Sau khi phủ bác sự hiện hữu chân thật của đối tượng vật chất, các luận sư Duy thức bèn xướng lập thuyết tương đối giữa chủ thể và khách thể, nội ngă và ngoại tại, để nhận diện đối tượng của thức trong tương liên với chính các thức tự nó/chúng. Thuyết này rất quan trọng trong Duy thức học, tức là thuyết ba tự tánh của thực tại. Nói cách khác, ba tự tánh là 3 đặc tánh của một pháp, được nhận diện qua kinh nghiệm của hành giả. Cả ba tánh này đều trực tiếp có mặt khi nhận thức hiện khởi.
a. Tánh biến kế sở chấp, là tánh chấp trước vào những biến hiện bên ngoài mà cho là thực (biến kế sở chấp tánh, parikalpita). Thật ra, tất cả những hiện hữu trong thế gian đều chỉ là ảo ảnh (màyà), hay tợ cảnh, bởi v́ chúng không bền vững, không chắc thật có không tự thể (vô ngă), và không tồn tại (vô thường). Đây là tánh tưởng tượng do phân biệt chủ thể-khách thể tạo thành; là tánh chấp nhận thực tại của "cái ngă", chấp nhận giá trị của sự tưởng tượng đó cho là thật. Thí dụ, khi đi trên sa mạc khô khan và nóng bỏng, ta thấy có nước lấp lánh, th́ liền cho là có nước thật, nhưng thật ra chỉ là ảo ảnh, là bóng nước mà thôi.
b. Tánh y tha khởi, là tánh nương dựa vào những yếu tố khác để có thể sinh khởi được (y t

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 14 2016, 01:15 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 14 2016, 01:12 AM
Gửi vào: #142


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Khi ta kinh nghiệm sự tương duyên trong tiến tŕnh của tâm, biết là thức y tha hiện khởi không có những đặc tánh đối thể ngoại tại của thức biến kế sở chấp, khi đó ta c̣n có thức viên thành thật; mọi khái niệm về "cái ta", về "đối tượng" đều đoạn diệt, th́ kết quả là "sự vật như là tự nó", là giác ngộ. Tô Đông Pha đă diễn đạt kinh nghiệm này qua hai câu sau viết về Lô Sơn: "... Đi rồi về lại không ǵ lạ, Lô Sơn mù tỏa khói triều dâng".
(Lô Sơn yên tỏa Triết giang triều
Vị đáo b́nh sinh hận bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa Triết giang triều).
Trong 3 tánh trên, Y tha khởi tánh giữ vai tṛ hết sức quan trọng, làm trọng tâm cho triết thuyết Duy thức, bởi v́ tánh này, một mặt có thể tạo nên ảo giác làm ta phải lăn lộn trong sinh tử luân hồi; mặt khác, cũng tánh này, có khả năng đưa ta đến giác ngộ, Niết bàn. Khi tâm thức phân biệt một đối tượng ngoại tại, khiến tánh y tha khởi này nhận thức là có chủ thể và khách thể, tạo nên tánh biến kế sở chấp, rồi ta chấp mắc vào đó, th́ đó là luân hồi. Nhưng cũng tánh y tha khởi này, một khi đă thanh tịnh, siêu việt những ư nghĩ có tánh cách phân biệt, khi Tánh Không của chủ thể và khách thể được nhận diện, th́ cũng có thể duyên với tạng thức (thức thứ 8, hay căn bản thức, theo Tây Tạng), khiến thức này thanh tịnh, siêu việt nhị nguyên, th́ hành giả đạt giải thoát. Như thế, tánh y tha khởi này đứng giữa hai lộ tŕnh của tâm thức, hoặc tạo tác ảo tưởng khiến đi vào sinh tử luân hồi, hoặc duyên với tánh chân thật tṛn đầy do trí tuệ bất nhị điều hành, th́ đó là Niết bàn.
D. Ba thân Phật

Tuy rằng tâm giác ngộ th́ bất nhị, nhưng căn bản Duy thức th́ lại là một phương pháp diễn đạt và phân tích, cho nên ta cần biết đến sự phân loại hoạt tŕnh của tâm thức trong tương quan với 4 bậc tâm giác ngộ (được gọi là trí, tức trí tuệ). Đó là sự chuyển biến 8 thức thành 4 trí, khi tánh Y tha khởi duyên với tánh chân thật tṛn đầy, khi hành giả đạt giác ngộ.

i. Năm thức trước (tiền ngũ thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) trở thành trí thành công trong hành hoạt, tức Thành sở tác trí (wisdom of successful performance). Đặc tính của trí này là thanh tịnh và không c̣n bị vướng mắc khi tiếp xúc với các căn và đối tượng của chúng, tức các trần.
ii. Thức thứ 6, trở thành trí quán sát tuyệt vời, tức Diệu quan sát trí (wonderful contemplation wisdom). Đặc tính của trí này là biết tường tận về cái hoàn toàn không của ngă (cái ta) và của pháp (vạn vật bên ngoài), tức ngă không và pháp không. Với trí này, Đức Phật biết rơ các pháp như thật không bị bóp méo, không bị ngăn trở, từ đó, Ngài biết rơ tất cả các điều kiện thuộc tâm và thân của vạn vật, hữu t́nh cũng như vô t́nh, cho nên có thể tùy phương tiện giáo hóa chúng.

iii. Thức thứ 7 trở thành trí có tánh b́nh đẳng, B́nh đẳng tánh trí (wisom of equality), với đặc tánh là nhận biết tận tường bản tánh b́nh đẳng giữa cái tưởng là ta và những hiện hữu không phải ta.

iv. Thức thứ 8 trở nên trí sáng soi như tấm gương tṛn lớn, tức Đại viên cảnh trí (Great mirror wisdom), phản chiếu toàn thể vũ trụ một cách như thật, không sai trái, méo mó.

Tuy rằng 4 trí này chỉ hiện hành sau khi con người đă đạt được giác ngộ, nhưng một vài khía cạnh của Diệu quan sát trí và Đại viên cảnh trí cũng đă bắt đầu hoạt động trong một cường độ yếu kém hơn trước khi bước đến cảnh giới giác ngộ.
Trước khi giác ngộ, sự hiểu biết của chúng ta chỉ là mớ kiến thức thu thập qua kinh nghiệm, đọc sách, học hỏi khi giao tiếp với thế giới hàng ngày của chúng ta mà tập thành. Một khi tri kiến đó tập trung vào nơi giác ngộ, th́ tri kiến này bắt đầu chuẩn bị để tiếp nhận trí căn bản (Căn bản trí). Cần nhắc lại, trí tuệ là sự hiểu biết nhất nguyên, nhận biết sự vật là như thật, như là chính nó, không có phân biệt chủ thể và đối thể, không phê phán, không có nhận thức nhị nguyên chen vào. Trí tuệ này siêu việt ngôn từ, văn cú, khái niệm; hoàn toàn là sự biết thanh tịnh rằng Chân như là căn bản của thực tại. Trí căn bản này nảy sinh Trí hậu đắc (Hậu đắc trí: subsequently-attained wisdom) là một h́nh thức thanh tịnh của trí tuệ phát sinh khi không c̣n phân biệt, nhưng chưa đạt đến giác ngộ giải thoát, cho nên đó gọi là "trí thế gian đă thanh tịnh". Đây là trí cần thiết phải có để có thể phân biệt tất cả các pháp, mà không vướng mắc dính chấp vào chúng hay bởi chúng, nên có thể loại bỏ mọi mê lầm về hiện tượng giả tá do thức tạo thành. Đức Phật dùng trí hậu đắc này để thuyết pháp độ sinh mà không thấy có người được độ, cho nên thong dong tự tại, đi lại không c̣n buộc ràng, là bậc Như Lai. Trí hậu đắc này giải thích hành vi, hoạt động của bậc sau khi đă giác ngộ, vẫn có thể đối diện với tất cả những h́nh danh sắc tướng của ngoại tại trong thế gian huyễn hóa này.

Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa (hay Ứng) thân. Chỉ có thân thứ 3, Pháp thân (Dharmakàya) là chân thật. Báo thân (Sambhogakàya, Enjoyment body) và Hóa thân (Nirmànakàya, Transformation body) chỉ là những biểu hiện của Pháp thân, và là những hiện thể dùng làm phương tiện tương đối tương đương với thức c̣n mê muội, chưa giác ngộ.

a. Hóa thân, nói đến thân thể vật chất trong thế giới hiện tượng này. Hóa thân này cần thiết để Đức Phật giáo hóa chúng sinh, đưa họ đến con đường giác ngộ. Thành sở tác trí hiện hữu nơi Hóa thân này để Đức Phật có thể hành vi, hoạt động bằng nhận thức, như người b́nh thường trong chúng ta. Đó là Đức Phật lịch sử, Đức Thích Ca Mâu Ni, thị hiện nơi cơi Ta bà này để thuyết giảng giáo lư vạn pháp duy thức.
b. Báo thân là một hiện thể vô hạn, diệu dụng mà Đức Phật dùng để giáo hóa bậc Bồ tát, những đấng hữu t́nh trước giai đoạn cuối cùng của giác ngộ. Có rất nhiều Báo thân, mỗi Báo thân có một cơi trời, hay một tịnh độ riêng, siêu việt ngoài hệ thống mặt trời của thế giới chúng ta, nơi rất dễ dàng để được nghe và thực tập pháp. B́nh đẳng tánh trí tương đương với Báo thân này.

c. Pháp thân Phật có 2 tướng:

i. Tổng tướng, là cái Nhất siêu việt cả một và nhiều, là chân thể tuyệt đối, là bản tánh nội tại mà tất cả chư Phật đều có, thể hiện như là trí vẹn toàn, hoàn hảo, tuyệt đỉnh; là bản tánh tối thượng của thực tại, của chân như, như thị, không;
ii. Biệt tướng, là Sai biệt, là hoạt tŕnh hiện tượng, là h́nh thức đặc thù của Pháp; đó là thức thứ 8, tạng thức, hay a-lại-da thức chuyển biến và là Pháp thân được trực nhận thể hiện ngay khi đạt giác ngộ. Pháp thân này tương đương với Đại viên cảnh trí.

Lư tưởng và mục đích của con người theo Phật giáo là đạt đến giác ngộ. Duy thức quan niệm giác ngộ là thực trạng của Chân như (True Suchness, hoặc Thusness), là bản tánh tối thượng của vạn vật. Chân như là trạng thái hiện hữu duy nhất của thực tại. Khi không c̣n phân biệt giữa nội tại và ngoại giới, th́ hành giả đạt giác ngộ, trực nhận một sự thật bất nhị tuyệt đối, siêu việt ư thức về một "cái ta" phân biệt, chấp trước, dính mắc. Trong ư nghĩa này, ta thấy Duy thức học không phải là thuần túy một triết lư dùng để biện luận suông. Khi giác ngộ, tiến tŕnh đi t́m kiếm đối tượng bên ngoài của tâm chấm dứt, cũng như tiến tŕnh liên tục phóng thể năng lực của thức vào thế giới ngoại tại vốn bị điều kiện ràng buộc cũng đoạn diệt. Khi đó, tâm thức đă ở trong trạng thái định tĩnh, tiếp thu năng lực ngoại tại để củng cố và tăng trưởng tâm thức không c̣n phân biệt đó, giống như cành hoa cúc tiếp nhận năng lượng ánh sáng mặt trời để rạng rỡ.
E. Phản đề của Ba thân Phật

Đoạn trên, ta đă nói đến chuyển thức thành trí, do từ nơi tánh y tha khởi. Cũng tánh này, khi tâm thức phân biệt một đối tượng ngoại tại, khiến tánh y tha khởi nhận thức là có chủ thể và khách thể, tạo nên tánh biến kế sở chấp, rồi ta chấp mắc vào đó, tạo nhân đưa đến quả, gây thành nghiệp, th́ đó là luân hồi.

a. Nghiệp

Kết quả của những hành động tạo tác, cố ư hay vô t́nh, của chúng ta, gọi là nghiệp. Hậu quả của những hành động đó để lại dấu vết hay là hạt giống gieo trồng trong tạng thức. Những hạt giống này nẩy mầm theo thời gian và nảy sinh thêm những hạt giống mới. Từ đó, những cuộc đời của chúng ta, trong quá khứ, hiện tại cũng như ở tương lai, đều bị dẫn dắt bởi những hành động trong quá khứ kết thành nơi hiện tại (dị thục, vipaka) và đưa đẩy đến những hành động trong tương lai. Nghiệp chịu trách nhiệm cho sự tiếp diễn liên tục của cá tánh mỗi hiện thể, thông qua sự chết hoặc vô thức. Sau khi một hạt giống kết trái, th́ nó đă xong trách vụ. Tuy nhiên, những hạt giống mới cũng theo đó mà sinh khởi ngay, trong mỗi gian kỳ nhanh hơn nháy mắt. Và cứ thế mà chúng ta cứ bị dẫn dắt măi trong ṿng ảo ảnh của hiện tượng ngoại tại, vẫn cứ măi tin tưởng vào sự thật bị bóp méo trong khuôn khổ của nhận thức nhị nguyên, cho đến khi nào mà ta đạt đến giây phút giác ngộ mới thôi.

Bởi v́ giữa các chủng tử của nghiệp và những ảo tượng mà chúng tạo tác giống nhau, cho nên sự nhận thức của mỗi người về thế gian bên ngoài đều tương tự với nhau. Cho nên, chúng ta thường đồng ư với mọi người về cái thế giới ngoại tại mà chúng ta đang đắm ch́m trong ṿng sinh tử luân hồi trong đó. Đồng thời, chúng ta cũng kinh nghiệm những ảnh hưởng từ bên ngoài theo ḍng hiện tượng tâm thức, bởi v́ những thể hiện của riêng ḿnh cũng ảnh hưởng đến thế giới bên ngoài, trong đó có những người khác.

Tiến tŕnh của nghiệp có 3 giai đoạn:

i. Ảo tưởng hiện khởi bắt nguồn từ nơi thức thứ 6, là thức tạo tác nên hành động dẫn đưa đến nghiệp (dẫn nghiệp);
ii. Nghiệp tạo tác do v́ gây giống (chủng tử) nơi thức thứ 8, là nơi chứa đựng tất cả mọi tâm thức (tạng thức). Ṿng sinh tử và luân hồi trong tương lai dẫn đưa tạng thức này tái sinh vào trong 6 cơi (lục đạo luân hồi, 6 levels of existence);

iii. Cuối cùng, thọ nhận nghiệp báo là sự nảy nở của các hạt giống nghiệp (măn nghiệp); chúng ta gặt hái những ǵ chúng ta gieo trồng, gieo gió gặt băo.

b. Nghiệp báo luân hồi dẫn dắt chúng ta trong 3 cơi (tam giới: dục, sắc và vô sắc giới). Ba cơi này, bậc phát tâm Bồ tát hành tŕ Du-già, lần lượt kinh nghiệm qua, trải qua 9 vùng (cửu địa), trước khi giác ngộ viên măn, bởi v́, tuy nói là đạt giác ngộ, nhưng đấy chỉ là một kinh nghiệm chớp nhoáng, là một "satori", chứ chưa phải thực chứng Niết bàn.
Cửu địa trong tam giới gồm có:

b-1. Dục giới : địa thứ nhất, thế giới của ái dục, nơi của 6 nẻo luân hồi, nơi 5 loại chúng sinh đồng sống lẫn lộn chung nhau (ngũ thú tạp cư địa);
b-2. Sắc giới: 4 tầng thiền:

i. Sơ thiền ly sinh, hỉ lạc địa (Joyful stage of leaving production);
ii. Nhị thiền định, sinh hỉ lạc địa (Joyful stage of the arising of samàdhi);
iii. Tam thiền ly hỉ, diệu lạc địa (Stage of wonderful bliss of being apart from joy);
iv. Tứ thiền xả niệm, thanh tịnh địa (Stage of renouncing thought);
b-3. Vô sắc giới: 4 bậc thiền:
i. Không vô biên xứ địa (Infinite Space);
ii. Thức vô biên xứ địa (Infinite Consciousness); ở bậc thiền này, thức thứ 7 không c̣n câu sinh với thức thứ 8, phá chấp ngă và trở thành B́nh đẳng tánh trí;
iii. Vô sở hữu xứ địa (Unmoving Ground or Nothing Whatsoever); tất cả thức thứ 6 và 7 đều diệt tận, trở thành Diệu quan sát trí;
iv. Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa (Neither Cognition nor Non-cognition).
KẾT LUẬN
Một lần nữa, cần nhận định rằng Duy thức hay Du-già không phải là một trường phái nhận thức luận, thiết lập cơ cấu ư thức 4 nhánh chỉ để biện luận suông. Trong khi Duy thức, như tên gọi, chú trọng đến luận lư suy diễn về thức, th́ Du-già, cũng theo tên gọi, chú trọng đến sự thực hành tâm linh để chuyển thức đó thành trí.

Ta cũng nên ghi nhận ở đây những điểm tương tựå giữa hai triết lư Tánh Không và Duy thức. Quan niệm về luân hồi và Niết bàn của Duy thức tương liên với quan niệm Tục đế và Chân đế của Trung quán. Nhân duyên (prat́tyasamutpàda, interdependent origination) là nguyên lư nối liền Tục đế và Chân đế, nối liền luân hồi và Niết bàn, sinh tử và giác ngộ. Như Long Thọ đề xướng, nếu ta xem nhân duyên như là mốc nối giữa nhân và quả, ta có luân hồi (samsara), nhưng nếu ta dụng nhân duyên như Tánh Không, ta có Niết bàn. Điều làm mốc nối giữa nhân và quả, giữa nghiệp và những hậu quả của nghiệp lực, đó là khái niệm, là nhận thức, là tưởng tượng. Tục đế của Trung quán như thế tương hợp với tánh biến kế sở chấp của Duy thức, bởi v́ cả hai đều luận về nhân và quả, về chủ-khách, về nội-ngoại; trong lúc Chân đế cũng là tánh viên thành thật, v́ cả hai là thực tánh, là không, bất nhị, vô-nhân (duyên).

Nguyên lư về nhân duyên của Trung quán là nguyên lư về tánh y tha khởi của Duy thức. Cơ sở cho cả hai thuyết này là Tâm (hay Thức); tâm rất quan yếu trong cả hai, nhân duyên và y tha khởi. Giữa hai triết thuyết, ta có một bên là tương đối, thực tại giả tá, đối đăi nhị nguyên; một bên là tuyệt đối, chân như, tánh viên thành thật; và mốc nối giữa hai cực đoan đó là nguyên lư tương đối (của Trung quán), hay nguyên lư y tha khởi (của Duy thức), vốn là căn bản của Tâm.

Tóm lại, tất cả các triết thuyết của Phật giáo đều xoay quanh vấn đề Tâm (Thức) và, bằng biện luận hay bằng hành tŕ, cũng đều đặt cơ sở trên Tâm để đạt giác ngộ. Giác ngộ là mục đích tối hậu của hành giả; ngoài giải thoát và giác ngộ, không c̣n mục đích nào khác. Bồ tát phải đạt giác ngộ xong mới có thể hoằng hóa mà không phải bị trầm luân trong luân hồi sinh tử.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 14 2016, 01:14 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 17 2016, 01:59 PM
Gửi vào: #143


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH
========================
Lời Giới Thiệu

Thời giờ của mỗi người chúng ta rất ít mà công việc th́ lại rất nhiều cho nên ta thường không lo tu học mà chỉ lo chu toàn những việc trong cuộc sống thôi. Cuộc đời này không bao giờ hết việc v́ vừa xong và buông bỏ việc này th́ lại c̣n việc khác. Do đó chúng ta phải tranh thủ thời gian để tu học không nên để tới ngày mai v́ khi vô thường đến th́ làm ǵ có được ngày mai. Trong cái vô thường th́ người tu phải ư thức rằng những ǵ mà ḿnh có thể làm được để tốt đẹp về mặt đạo đức th́ ḿnh nên làm ngay chẳng nên đợi tới lúc ḿnh già hoặc ổn định mới làm. Đạo Phật là hiện thực không có chờ đợi hoặc hẹn ḥ v́ vậy mới có câu “Cần tu như lửa đốt đầu”. Hạnh phúc mà chúng ta đang có là được nghe và học giáo lư Phật, được gặp gỡ nhau trên cùng một đạo lộ và sẽ cùng đến một mục tiêu, được cùng chia xẻ kinh nghiệm của các vị tu sĩ và pháp hữu.

Đây là hạnh phúc Phật đă nói trong Kinh Pháp Cú: “Hạnh phúc thay chư Phật giáng sinh, hạnh phúc thay giáo pháp cao minh, hạnh phúc thay Tăng già ḥa hiệp và hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu.” Chúng ta cố gắng tranh thủ thời gian trong cuộc sống để t́m một hạnh phúc thật trong mỗi ngày bằng con đường chánh niệm của đức Phật đă dạy. Làm thế nào để nhận thức được quá tŕnh thời gian vô thường trôi qua trong cuộc sống? Làm thế nào để có chánh niệm vững chắc có thể phá vỡ được những ràng buộc của tự thân để cuối cùng tự đạt được an lạc? Tiếng phạn có danh từ “maya” nghĩa là ảo ảnh dùng để diễn tả cuộc sống của chúng ta đây. Trải qua một thời gian của 10 hoặc 20 năm cách xa quê hương, biết bao thay đổi từ thế hệ này qua thế hệ khác, những thay đổi đó gọi là ảo ảnh. Khi nhận thức cuộc sống này là ảo ảnh th́ chúng ta làm ǵ để giữ được sự an ổn hoặc, nói một cách khác, nhân cách sống của đạo Phật làm ǵ để hỗ trợ cho chúng ta được ổn định, t́m hạnh phúc thật sự trong từng giây phút ngắn ngủi của maya? Đức Phật nói rằng mỗi Phật tử khi hiểu được hành động, lời nói, suy nghĩ của ḿnh th́ người đó sống một đời sống chân thật thanh tịnh và v́ người mà không v́ ḿnh th́ sẽ không bao giờ chiêu cảm đau khổ. Hạnh phúc là những cái mà chúng ta sẵn có, cảm nhận được chứ không phải là cái mà chúng ta chạy đi t́m kiếm. Khi chờ đợi, theo đuổi hạnh phúc th́ chúng ta vô t́nh đóng hết những hạnh phúc đang có sẵn ở xung quanh ḿnh. Hạnh phúc xung quanh c̣n tồn tại là bởi v́ chúng ta có một kho tàng trí tuệ mà đức Phật đă giáo dưỡng cho chúng ta. Đức Phật đă nói rằng: “Hăy tự ḿnh thắp đuốc lên mà đi” và ngọn đuốc đó là tự thân của mỗi người chúng ta.
Sau đây là những góp nhặt của 6 bài giảng của HT Thích Minh Hiếu. 6 bài giảng này (Hạ Thủ Công Phu, Thực Tập Quán Niệm, Nghệ Thuật Chăn Trâu, Phóng Hạ Đồ Đao, Hồi Đầu Thị Ngạn, Thiền Tịnh Song Tu) chỉ là phần nhỏ của số băng thâu cho những thời giảng Pháp của Thầy tại Úc, Mỹ, Gia Nă Đại và Âu Châu. V́ đề tài của những bài này có phần liên quan với nhau nên đă được tóm tắt lại thành một bài để chúng ta nắm được ư chính trước khi tuyển lựa đề tài để nghe và học hỏi thêm trong hơn hàng trăm băng giảng của HT (www.minhquangthienvien.com).
*****

HẠ THỦ CÔNG PHU

Trong việc tu học th́ có nhiều nhưng phần hạ thủ th́ lại hiếm hoi v́ hành giả không chịu xả cho nên tiếp thu không được. Hạ thủ là ra tay và cần sự dấn thân, công phu là làm việc ǵ đó một cách cần mẫn, tập trung. Khi hiểu được rơ ràng th́ thực hành mới có thể đem đến kết quả hữu hiệu cho sự học tập. Đạo Phật là con đường hiện thực và chỉ thẩm thấu trong ta th́ mới tồn tại được. Con đường này sẽ không đi hết nếu như ta không có một sở đắc hoặc thành tựu nào đó để chúng ta tiếp tục trong đời này hoặc đời sau. Hạ thủ công phu đem đến sự thành tựu cần thiết đó. Phật đă hạ thủ công phu, đă nhất quyết ngồi cho đến khi giác ngộ th́ nay chúng ta mới có những giáo lư của Ngài.

Chúng ta không nên phân biệt giai cấp trong việc tu học Phật. Tâm lư ta là hay nh́n lên nên chỉ có thấy những sai biệt. Đức Phật đứng trên nh́n xuống th́ ngài nh́n tổng quát, không thấy sai biệt. Khi Phật giác ngộ, Ngài muốn nhập Niết Bàn v́ thấy thế giới này quá phức tạp, đầy dẫy hoài nghi cho dù có dạy Pháp cũng không chịu nghe. Tứ Thiên Vương hiện ra để thỉnh Phật chuyển pháp luân và thưa rằng: “Thế gian này tuy là như vậy nhưng cũng có người thượng căn muốn nghe Pháp”. Phật nh́n hồ sen th́ thấy có sai biệt trong những bông sen trong hồ và hiểu những sai biệt đó cho nên đem ra nhiều phương tiện để độ sanh. Nếu chúng ta cố gắng hạ thủ công phu th́ một ngày nào đó ta cũng có thể vươn lên trên mặt hồ. Cho dù sinh ra trong cái chỗ tận cùng trong thế giới, ta cũng có khả năng để vươn lên và thoát ra khỏi những chỗ dơ bẩn, đau khổ, chỉ cần ta có quyết tâm hạ thủ hay không.

Bước đầu tiên là xả toàn bộ tất cả những ǵ thuộc về nhân ngă cá nhân để ta có thể tiếp thu tinh hoa của Phật học bởi v́ chỉ có vô ngă mới có Niết Bàn. Kiến thức rất dễ tạo nên cái ngă và ngă sở hữu cho nên phải biết rằng kiến thức là để trang bị cho sự tu học của chính ḿnh và chia xẻ kinh nghiệm với bạn đồng tu chứ không để hơn thua.
Hạ thủ công phu là trở lại t́m ḿnh hoặc t́m cái bản lai diện mục của ḿnh. Sau đây là những phương pháp tu liên hệ đến hạ thủ công phu:

HẠ THỦ

1. Quyết tâm dừng lại những khát vọng, nhu cầu. Chúng ta cần có sự thành tâm và một căn bản vững vàng để không dễ bị lay chuyển.
· Phải chấp nhận dừng khát vọng th́ mới có thể hạ thủ công phu
· Nhân quả rất là chính xác. Chúng ta có thể dối thiên hạ hay chính ta, nhưng ta không thể dối công lư. Cho nên khi ta dừng lại những tham vọng th́ mới có thể tránh gieo nhân quả xấu.
· Phước hữu lậu và công đức: Phước hữu lậu chỉ đem đến giàu sang, phú quư mà chính những thứ đó nhiều khi lại là chướng ngại cho hạ thủ công phu. Khi có công đức th́ sự thành tựu đó có thể đem ta đến chỗ cao thượng hơn và ta có y báo nên đi đâu cũng có sự bảo vệ.

2. Quyết tâm xả bỏ tạp niệm.
· Tịnh tâm lắng nghe chính ḿnh có nghĩa là t́m vị chân sư của chính ḿnh. Chân lư là chính ta và ta phải tự dấn thân để t́m chân lư. Nói một cách khác là mỗi người chúng ta đều có Phật tánh. Muốn được tịnh tâm th́ ta phải làm chủ những khái niệm, hành động của chính ta trong đời sống hằng ngày th́ cơ may ta mới có sở đắc.
· Khi không có tạp niệm th́ ta sẽ nhận ra chân lư nhưng lúc này là c̣n nghe Phật nói. Măi lắng nghe cho đến khi ḿnh không c̣n thấy Phật, không c̣n nghe Phật nói nữa th́ ta đă hoàn toàn hội nhập với Phật tánh trong ta.
· Luyện tập cho đến lúc tâm hoàn toàn nhất như, không có tạp niệm th́ mới mong có thành công trong phần hạ thủ. Khi bước vào thiền, tất cả những kiến thức, nhu cầu của chúng ta đều phải dừng lại, không c̣n truy cầu nữa. Cho nên trước khi bắt đầu hạ thủ chúng ta cần phải có một thời gian dừng lại. Thường th́ ta hay để cho tâm suy nghĩ đủ thứ chuyện của thế gian và tự gieo nhân khổ đau. Khi ta bắt đầu hạ thủ th́ ta nên kiểm soát và tế nhị trong mỗi ư niệm, hành động và việc làm v́ chính những thứ này gieo nhân quả.

“Thường tự thấy lỗi ḿnh
Không nói lỗi của người
Người lỗi ta không lỗi
Nói lỗi là tự ḿnh lỗi
Tâm trụ chỗ niệm Phật”

3. Quyết tâm làm cái phương pháp đă chọn và phải miên mật với phương pháp đó một thời gian lâu dài.
· Khi hạ thủ th́ ta phải có sự chuẩn bị để đi một con đường dài.
· Phải t́m một phương cách nào đó để t́m chỗ tham trú, quyết tâm t́m về bản lai của ta và hạ thủ công phu. Chỉ có như vậy th́ mới giống như chư Phật, chư Bồ Tát hạ thủ công phu xưa kia. Chúng ta ngày nay là chỉ tu chơi thôi chứ không miệt mài như các Ngài.
· Nếu như chúng ta tu mà cứ hướng ngoại hoài th́ càng mệt mỏi. Chúng ta không có thời gian để giải đáp những thắc mắc viễn vông của xă hội, thế giới mà mỗi người chúng ta phải t́m lại chính ḿnh tức là cần phải hướng nội. Ta tự hỏi rằng lâu nay ta chưa tu cái ǵ? Chưa làm được cái ǵ?

CÔNG PHU
Công phu là làm một việc ǵ đó cho đến khi hoàn mỹ cho nên tốn rất nhiều công sức và tâm niệm.
1. Quyết tâm công phu miên mật để tích trữ nhân thiện và hưởng quả thiện, thí dụ: muốn nhơn thừa th́ thọ tam quy và ngũ giới, muốn thiên thừa th́ tu thập thiện nghiệp.
2. Khi niệm Phật th́ tránh được miệng nói lời thị phi và lạy Phật để thân bớt đi những hành vi ác:
Thêm niệm nhiều câu Phật bớt nhiều lời thị phi
Thêm lạy nhiều đức Phật bớt nhiều ác hành vi
· Thời gian không có nhiều cho nên ta phải quyết tâm hạ thủ công phu mà không hề để ư đến những chuyện xung quanh nữa. Thế giới này lần lần hủy diệt, biến động và chi phối bởi vô thường và ta không c̣n nhiều thời gian nữa nên ta phải nhanh chóng quyết tâm hạ thủ công phu. Ta cần dùng thời gian để niệm Phật, để t́m lại b́nh an cho chính ḿnh và lạy Phật để cầu nguyện cho chính ḿnh, để tăng thêm công đức hoặc sám hối tội lỗi, có nghĩa là ta nên làm những hành động thiết thực thay v́ những niềm tin vu vơ. Nhưng cái chính là phải có căn bản vững vàng để làm tư lương.

THỰC TẬP QUÁN NIỆM

Quan điểm đạo Phật có hai khía cạnh:

1. Khi đức Phật giới thiệu cảnh Niết Bàn th́ đồng thời ngài cũng cho chúng ta thấy được khổ đau của sinh tử.

2. Trong Tứ Diệu Đế, đức Phật thuyết minh về nguyên nhân nào đưa đến khổ rồi tuần tự ngài đưa ra con đường diệt khổ và đạo diệt khổ. Nếu muốn thoát sinh tử, chúng ta phải biết nguyên nhân nào đưa đến khổ đau và đạo lộ nào đi đến Niết Bàn.

Khi chúng ta bị quá nhiều đau khổ, áp lực, tuyệt vọng th́ chúng ta đâm ra ước mơ, mong đợi, thiết tha. Tỷ dụ như người rớt sông mà khi mất đi cái phao chính th́ họ bám víu vào bất cứ người nào. Cũng vậy, trong quá khứ chúng ta đă mất mát quá nhiều cho nên chúng ta bám víu vào cái hạnh phúc của hiện tại dù cho hiện tại này rất mỏng manh. Chính cái bám víu đó tạo cho chúng ta khổ đau bởi v́ hy vọng nhiều th́ tuyệt vọng nhiều. Chánh niệm là con đường mà không cho chúng ta bám víu vào những cái hạnh phúc mỏng manh mà là con đường đưa chúng ta đến hạnh phúc thực tại. Con đường chánh niệm này chỉ có thể thành tựu với những ai tự đi từng bước, tự nhận thức từng kinh nghiệm để hưởng được hạnh phúc, tự nổ lực vượt ra khỏi những tham ái để có được sức mạnh chịu đựng cuộc đời và biến thế gian này thành Tịnh Độ. Cho nên bến vinh quang chỉ chờ đón những con thuyền đi trong giông tố. Để thật sự hưởng cái hạnh phúc của chánh niệm, chúng ta phải tự nhận ra những gút mắc, nhận ra con đường nào tháo gỡ gút mắc đó để tự giải thoát và tiết ra những chất liệu ǵ để có đủ sức mạnh dấn thân vào đời và biến thế gian này thành Tịnh Độ.

Đi trong chánh niệm là đi để mà đi chứ không phải đi để t́m chỗ đến, có nghĩa là đi với một tâm tư an lạc, hơi thở nhẹ nhàng và miệng mỉm cười bởi v́ chúng ta có hạnh phúc. Từng bước chân đi chúng ta biết là ḿnh đang nghĩ ǵ, đang nói ǵ, đang làm ǵ và không chạy theo ảo ảnh của maya. Khi thực tập trong chánh niệm, chúng ta không hồi tưởng về quá khứ hoặc ước mơ của tương lai. Như vậy, sau khi nhận chân nguyên nhân đưa đến khổ đau, chúng ta t́m nguyên nhân nào đưa đến Niết Bàn.
Vô Ngă là Niết Bàn

· Nguyên nhân đưa đến sinh tử khổ đau là tham ái, chấp thủ, vô minh đă đem chúng ta qua 12 năm, 120 năm, 1200 đời.
· Nguyên nhân đưa đến Niết Bàn là tỉnh thức, trí tuệ, chánh niệm và chánh trí thường soi sáng từng bước chân, từng ư niệm của chúng ta.

Theo Duy Thức Học, trong khi đi vào đời, mỗi hành động, ư niệm chúng ta huân tập từng chút một rồi chúng ta lầm lẫn nghĩ rằng chúng ta có thể hóa giải được tất cả và không bị đời làm ô nhiễm, do đó không tự nổ lực để quán niệm và giải thoát khỏi những ràng buộc của chính ḿnh mà cứ lo nh́n vào những lỗi lầm của người khác th́ cuối cùng chúng ta chẳng thể đạt giải thoát.

Pháp môn quán niệm là pháp môn của chánh niệm tức là mỗi người phải tự quán sát nội tâm của chính ḿnh để tự cắt đứt những sợi dây phiền năo, tham ái. Thường tự nổ lực với chánh kiến tạo nên một sức mạnh đề kháng để chúng ta chịu đựng được trần gian, và cho dù sau này có đi vào trần gian nhiều lần chúng ta cũng không sợ trần gian làm cho hoen ố.

Chỉ có phút hiện tại là phút chánh niệm và là giây phút tuyệt vời bởi v́ chúng ta hưởng hạnh phúc bằng chính ḿnh tạo nên chứ không qua một môi trường nào khác. Thường tự quán sát lại chính ḿnh trong chánh niệm tức là phản quan tự tánh để tiêu diệt những tham chấp, thanh lọc đi những hạt giống bất tịnh và dùng từ, bi, hỷ, xả mà tưới vào vườn tâm chứa đựng những hạt giống của thương yêu, hiểu biết, an lành. Cho dù sống trong ảo ảnh, chúng ta cũng không bị ảo ảnh lôi cuốn và như vậy chúng ta đang sống trong chánh niệm. Khi nào tự ḿnh vượt ra được những ràng buộc, chướng ngại và hiểu rơ nguyên nhân làm cho ḿnh sinh tử để rồi không c̣n ngă chấp nữa th́ trong thế giới này chúng ta được tự tại, đây là con đường đi vào Niết Bàn. Trong Kinh nói rằng Phật đă sống trong thiền định suốt 24 giờ mỗi ngày tức là sống trong chánh niệm. Ngài tự điều động ba nghiệp thân, khẩu, ư thiện lành bằng khả năng của chính ḿnh và hướng dẫn cuộc sống đưa đến con đường hạnh phúc cho chư thiên và loài người.

T́m lại chính ḿnh, t́m được sự an tịnh, t́m được cái hạnh phúc mà không cần dùng đến dục vọng là chúng ta đă làm chủ thân và tâm. Giá trị của chánh niệm, của những người tu học theo đạo Phật là làm chủ được phút giây nào có nghĩa là chúng ta được giải thoát giây phút đó.

NGHỆ THUẬT CHĂN TRÂU

Đức Phật nói: “Trong đời này có 4 hạng người:

Đó là người từ bóng tối đi vào trong bóng tối: Có những người rất nghèo khổ dù cho được ở trong một nước văn minh, tốt đẹp mà họ vẫn đi theo con đường cũ và tiếp tục tạo ác nghiệp

Người từ bóng tối đi lần vào ánh sáng: Người sanh ra bất hạnh hơn người khác nhưng v́ hiểu đạo và rơ nhân quả nên tạo thiện nghiệp để kiếp sau tốt hơn, tiếp tục học Phật và làm người lương thiện

Người từ ánh sáng đi vào trong bóng tối: Người được sanh vào cảnh giàu có, đầy đủ do kiếp trước có phước lành nhưng kiếp này lại không chịu tu học và chỉ tạo ác nghiệp

Người từ ánh sáng đi lần vào ánh sáng: Người được sanh vào chỗ giàu có, quyền lực mà vẫn tiếp tục làm việc thiện

Là một người Phật tử th́ ta nên biết làm thế nào để duy tŕ cái hạnh phúc của ḿnh để không bị rơi vào khổ đau. Muốn cho ḿnh không bị khổ đau th́ ḿnh không gieo khổ đau đến với những người khác. Nếu muốn biết quả báo sau này th́ ḿnh xem những việc ḿnh đang làm bây giờ là gieo hạt giống ǵ trong tương lai. Khi ḿnh thấy là ḿnh sống đầy đủ, b́nh an và ḿnh làm những việc tốt cho người khác để họ bớt đau khổ th́ đó là người từ ánh sáng đi vào trong ánh sáng. Trong cuộc đời vô thường này, không có ai có thể bảo đảm hoặc che chở cho ai hết và chỉ có phước đức mà tự ḿnh tạo nên là có thể che chở cho ḿnh. Do đó khi ḿnh ở trong ánh sáng th́ ḿnh đừng bao giờ để cho ḿnh đi trở lại vào bóng tối. Có nghĩa là ḿnh đă được sanh vào chỗ tốt đẹp hơn người khác th́ ḿnh hăy tiếp tục tŕ giới, bố thí, làm lành, đừng gây khổ đau cho người khác để tự ḿnh đi vào ánh sáng trong đời này và đời sau.

Đạo Phật là từ ánh sáng này ta đi vào trong ánh sáng khác để càng lúc càng trở thành con người cao thượng hơn, chẳng hạn như làm người rồi lên cơi trời và lên măi cho đến khi giác ngộ.

Quan điểm Phật học qua bức tranh chăn trâu:

Bước đầu tu là ta quy ngưỡng Phật, Pháp và Tăng một cách chân chánh và đây là t́m trâu. Với sự ổn định tâm linh này ta chắc chắn sẽ không bao giờ bị đọa lạc (không bao giờ rơi vào địa ngục, không bao giờ rơi vào ngạ quỷ và không bao giờ rơi vào súc sanh). Lên một bậc nữa là ta bắt đầu chăn trâu có nghĩa là ta cải thiện hệ thống con người ḿnh để con trâu đen trở thành con trâu trắng có nghĩa là từ con người phàm phu trở thành con người thánh nhân.

Đức Phật dạy rằng trẻ chăn trâu có 11 cái nghệ thuật chăn trâu như sau:
1. Phải biết dễ dàng nhận ra con trâu của ḿnh khi nh́n vào một đàn trâu
Người tu phải biết nhận ra yếu tố chính (đất, nước, gió, lửa và không, kiến và thức) tạo nên sắc thân của ḿnh. Do mê mờ nhận sắc thân này là thật mà ḿnh sanh ra ngă, sở hữu và khổ đau. Những yếu tố này là tạm bợ và bị tan ră khi ta chết cho nên ḿnh đừng quá yêu thương, nuông chiều, lệ thuộc vào nó để rồi tạo nghiệp ác và chịu khổ đau. Duyên sinh không có thực chất do đó theo cái nh́n của mỗi người mà có khác biệt và theo thời gian mà nó tự hoại diệt. Khi hiểu được lư duyên sinh th́ ḿnh không chấp thủ để chịu khổ đau.
2. Phải biết h́nh tướng của mỗi con trâu
Người tu phải biết dùng trí tuệ để kiểm soát những hành động của thân, khẩu và ư của ḿnh. Trước khi nói lên hoặc làm một điều ǵ th́ ḿnh phải biết rơ kết quả sẽ đem đến khổ đau cho người khác hay không. Phải biết phân biệt thế nào là đúng và thế nào là sai trong từng lời nói, từng việc làm. Nên nói ít và nghe nhiều. Lắng nghe nhiều có nghĩa là suy tư, hiểu biết nhiều hơn là nói. Nghe và suy nghĩ để biết là điều mà người ta nói đó có đúng không, rồi ḿnh có nên làm việc đúng đó không và việc không nên làm th́ ḿnh nên bỏ mà không suy nghĩ đến nó nữa. Do đó ḿnh biết được những hành động của thân, khẩu, ư và việc nào đáng hoặc không đáng làm.
3. Biết cách tắm rửa cho trâu được sạch sẽ
Người tu th́ phải biết cách buông xả, gội rửa thân và tâm của ḿnh để trừ những tham dục, hờn oán và si mê của con người ḿnh. Càng giảm bớt được tánh tham lam, sân giận th́ ḿnh càng bớt đi thao thức, bất an trong nội tâm. Chúng ta thường hay nghe nói là lửa sân đốt đi hết rừng công đức của ḿnh. Cho nên chúng ta phải biết xả bỏ tham, sân, si để tâm được thanh tịnh th́ cuộc sống của ḿnh được b́nh an.
4. Biết cách chăm sóc vết thương của trâu

Trong cuộc đời của ḿnh không ai là không có những vết thương trong tâm linh. Người biết tu tập là người biết hộ tŕ 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư) để khi đối với 6 trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) và tạo thành 6 thức (nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ư thức) th́ không bị phiền năo, khổ đau. Khi đóng các căn ta giảm đi những vết thương tạo nên bởi 6 trần xúc tác với 6 thức. Chúng ta biết giảm đi sức thấy, nghe, v...v... để bảo vệ thân tâm ḿnh.

5. Biết đốt khói để trâu không bị muỗi cắn
Chúng ta học hỏi và biết đem giáo lư của đạo Phật làm an lạc, lợi ích cho mọi người. Do đó ḿnh biết xả bỏ cái ngă để đem lại hạnh phúc cho người khác. Tinh thần vô ngă, vị tha là cuộc đời của mọi người được hạnh phúc, b́nh an tức là hạnh phúc, b́nh an cho chính ḿnh.
6. Biết t́m con đường an toàn cho trâu đi
Chúng ta biết t́m những con đường tu học chân chánh để theo thay v́ đi trên con đường gai góc của danh lợi, sắc dục. Nếu như ta đi trên những con đường gai góc này th́ ta sẽ bị nó làm chủ ḿnh và định hướng đi bất thiện cho ḿnh, gây nên nhiều khổ đau.
7. Trẻ chăn trâu biết thương yêu trâu

Chúng ta phải biết thương ḿnh có nghĩa là chỗ nào ḿnh cảm thấy không an toàn th́ ḿnh nên tránh xa. Chúng ta phải biết thay đổi pháp thực hành để không tiếp tục gây khổ đau cho chính ḿnh. Chúng ta phải biết quư trọng những kết quả do pháp hỷ thực, thiền duyệt thực đem đến.

8. Biết t́m bến tốt để trâu qua sông
Chúng ta phải biết nương tựa vào tứ diệu đế (4 sự thật): khổ, tập, diệt, đạo. Cái chính của khổ là sanh, lăo, bệnh, tử và c̣n những khổ khác như là thương yêu, xa ĺa, gặp gỡ, ấm xứ thịnh khổ, cầu bất đắc khổ. Đây là những nguyên nhân đưa đến cái khổ. Phật nói rằng cũng chỉ v́ ḿnh thương, ḿnh ghét, ... nên tự ḿnh làm ḿnh khổ đau. Cũng v́ tham dục nên con người ḿnh chịu khổ đau và đó là tập đế. Để chấm dứt tham dục th́ ḿnh phải vô ngă, vị tha và buông xả. Phương pháp để ḿnh chấm dứt tham dục là đạo đế (bố thí, tŕ giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ). Trong những phương pháp tu tập Phật dạy Bát Chánh Đạo (chánh kiến, chánh niệm, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn và chánh định). Người nào biết duy tŕ Bát Chánh Đạo th́ sẽ diệt được những khổ đau và chỉ có ḿnh mới làm cho ḿnh thoát khỏi mọi khổ đau thôi.
9. Biết t́m những chỗ cỏ non và nước sạch cho trâu ăn, uống
Chúng ta phải biết tu hành 4 cái quán niệm để an trú tâm. 4 quán niệm hoặc tứ niệm xứ là: quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường và quán pháp vô ngă. Đây là phương pháp tu để giải thoát.
10. Biết chỗ để thả trâu mà không để trâu tàn phá đất đai
Người tu phải biết dè dặt, cẩn thận trong việc tiếp xúc và thọ nhận của cúng dường để không gây khổ đau cho thân và tâm.
11. Biết để con trâu lớn làm gương cho những con nhỏ

Chúng ta biết học hỏi kinh nghiệm của những thiện hữu tri thức để ḿnh không bị lầm lạc, không rơi vào con đường khổ đau.

Trong nghệ thuật chăn trâu, 2 điều sau cùng là phần của giới tu sĩ và 9 điều c̣n lại là tất cả Phật tử có thể làm được.

Khi chúng ta nh́n cuộc sống với cặp mắt duyên sinh th́ ḿnh khắc phục được những khổ đau. Đạo Phật là con đường trung đạo có nghĩa là không có ǵ nằm ở chỗ thái quá. Chính con đường trung đạo này là chánh đẳng, chánh giác.

PHÓNG HẠ ĐỒ ĐAO

Quan điểm hoằng pháp dựa trên nhu cầu người Phật tử muốn nghe pháp và cơ duyên đầy đủ cho thời giảng được diễn ra. Muốn nghe pháp của đức Phật cũng phải do căn duyên th́ mới có thể nghe được. Ngài Tuệ Trung nói rằng:
“Lang thang làm khách phong trần

Quê hương ngày một muôn lần cách xa”

Mỗi lần mà chúng ta luân hồi trở lại cơi này là chúng ta cách xa dần với cái chân tâm, cái tri kiến Phật của chúng ta. Chúng ta tu học để gội rửa thân tâm th́ ít mà nhuốm bụi trần th́ nhiều. “Quê hương” đây nói lên cái chân tâm của ḿnh và chỉ khi nào tâm thanh tịnh th́ ta mới có Tịnh Độ.

Thường thường ta nghe nói “Phật tức tâm, tâm tức Phật” và người ta hay nghĩ rằng ứng dụng câu nói này là cách để đạt con đường đạo. Câu nói này có nghĩa là chính tâm ta có Phật và Phật chính là chúng ta. Nhưng đây chỉ nói trên phương diện ngôn ngữ thôi chứ c̣n làm thế nào để thành Phật và làm thế nào để thật sự ḿnh có Phật lại là một quá tŕnh rất dài và khó khăn.

Thời xưa có câu: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” có nghĩa là buông dao đồ tể th́ lập tức thành Phật. Đây nói lên khi ta biết buông dao là ta có cái ư giác ngộ rồi nhưng đó chỉ là nói trên lư thôi c̣n về sự th́ là một vấn đề khác.

Khi xưa có người muốn hại Phật nhưng không thể làm tổn thương ngài được nên hỏi Phật rằng: “Nguyên nhân nào ngài có khả năng hóa hiện tường thành để tự bảo vệ thân? Nguyên nhân nào mà ngài không sợ sinh tử? Nguyên nhân nào mà đối với cuộc sống khổ đau này mà ngài có trí tuệ để tự giải thoát?” Phật trả lời:

“Đa văn năng tŕ cố
Phụng pháp vi viên tường

Tinh tấn nan vô hỷ
Trùng thị giới tuệ thành
Đa văn linh trí minh
Dĩ minh trí tuệ tăng”

Đa văn là nghe nhiều, hiểu nhiều, rơ ràng con đường đi và mục đích cho nên “đa văn là sức kiên cố”. “Phụng pháp là bờ tường thành” cho nên tu học theo chánh pháp th́ đó là bức tường thành che chở cho chúng ta. “Tinh tấn là khó phá vượt” có nghĩa là sự tinh tấn tu học che chở cho ḿnh và người khác khó phá được cho nên “nhờ đó mà giới tuệ sanh”. Con người chúng ta đi trong luân hồi nhiều lần cho nên cái tạp chất xấu th́ nhiều c̣n cái thánh thiện nguyên thủy th́ bị che mờ. Do “đa văn mà tâm sáng” và khi tâm sáng th́ trí tuệ tăng trưởng. Khi ta nghe Kinh nhiều th́ tâm trí ḿnh trở nên rỗng rang và không c̣n chấp mắc nữa. Lư do ta c̣n chấp mắc là v́ ta không hiểu cho nên khi hiểu lư của thế gian rồi th́ dần dần cái sở chấp giảm đi cho đến khi không c̣n nữa. Phật nói tiếp:

“Trí tắc bát giải nghĩa
Kiến nghĩa hành pháp an”

Có trí tuệ ta hiểu rộng nghĩa lư và do rơ nghĩa th́ người tu không c̣n lầm lẫn nữa, không bị hướng dẫn sai lạc trong pháp môn tu hành.
Phật nói tiếp:
“Đa văn năng từ ưu

Năng dĩ định vi an
Thiện thuyết cam lộ pháp
Tự trí đắc nê hoàn”

Có nghĩa là người nào đa văn th́ hết ưu phiền, luôn vui trong thiền định và khéo nói pháp cam lộ cho nên đến được chỗ vô sinh. Phật nói tiếp:
“Văn vị tri pháp luật
Giải nghi diệc kiến chánh
Trùng văn xả phi pháp
Hành đáo bất tử tứ”

“Nhờ nghe pháp biết luật” là nhờ nghe giáo pháp nhiều mà “hết nghi thấy đạo chánh” tức là biết giới luật để làm tất cả thiện và xả bỏ tất cả những bất thiện v́ vậy “do nghe hết phi pháp”. Khi không c̣n làm những pháp bất thiện nữa th́ đến được thành bất tử.

Chuyển hóa con người ác thành thiện mà đạt đến chánh quả th́ phải có thực hành. Quá tŕnh này trải qua giai đoạn đầu là tịnh tín bất động có nghĩa là một niềm tin không lay động và có thể kéo dài trong nhiều kiếp. Có những vị mà chúng ta nghe thấy là đạt được quả vị Thánh trong một thời gian ngắn tu hành là v́ họ đă trải qua một quá tŕnh tu trong nhiều kiếp và đến khi phát Bồ Đề Tâm th́ mau đạt quả.

Ngài Mục Kiền Liên tuy đă chứng quả A La Hán và thần thông đầy đủ nhưng khi nghiệp đến th́ cũng phải trả quả rất là đau thương. Một buổi sáng hôm đó khi ngài đi khất thực, ngài đă bị nhiều người đánh đập đến tan xương nát thịt mà ngài chẳng thể dùng thần thông để thoát được. Đây cho ta thấy rằng dù cho tu hành đến chỗ cao thế nào đi nữa ta cũng vẫn phải trả quả cho những nhân bất thiện đă gieo trong quá khứ. Chúng ta muốn tu hành giải thoát th́ phải trả nghiệp nhưng với người chứng đạo th́ có năng lực kéo dài thời gian trả quả và nguyện dùng thời gian đó để tu hành cho đến khi đạt được kết quả th́ sẽ chịu trả nghiệp. Ai ai rồi cũng phải trả tất cả những nghiệp đă tạo tác.

Nếu hiểu câu: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” theo cái nghĩa là buông dao xuống th́ lập tức được thành Phật là hiểu sai lầm. Như chúng ta đă thấy ngay cả đến chứng quả A La Hán mà c̣n nghiệp th́ vẫn c̣n phải trả. Cho nên nếu chúng ta thiếu xót phần đa văn th́ ta sẽ hiểu một cách sai lầm. Nhưng cũng có người t́m hiểu rất nhiều mà vẫn nói sai và do đó cũng phải chiêu cảm nhân quả như một vị tăng thời xưa đă phải làm thân chồn suốt 500 kiếp v́ trả lời sai. Vị tăng này đến nghe Tổ Bá Trượng giảng pháp và Tổ hỏi:
“Ngươi là ai mà đến đây nghe lén pháp của ta?”

Vị tăng trả lời: “Con không phải là người mà là con chồn ở đằng sau chùa. 500 năm về trước con là một tỳ kheo. Có một người đến hỏi con rằng “Người đại tu hành có rơi vào nhân quả không?”

Con trả lời là “Không” và v́ vậy mà con bị đọa làm chồn 500 kiếp”. Vị tăng xin Tổ trả lời câu hỏi để ông ấy được thoát kiếp làm chồn.

Tổ nói: “Người đại tu hành không mê mờ nhân quả” Lúc đó, vị tăng hiểu được đạo và nói: “Như vậy th́ con đi được rồi. Ngày mai xin ngài lấy xác con ở đằng sau chùa và chôn theo nghi lễ của một vị tăng.” Ngày hôm sau, Tổ ra sau chùa th́ kiếm thấy xác một con chồn và cho người thiêu xác theo nghi lễ của tu sĩ. Cho nên khi ta chưa rơ một điều ǵ th́ ta không nên nói v́ nếu nói sai th́ ta sẽ phải thọ nhân quả. Chúng ta càng cẩn trọng th́ càng tăng thêm phần công đức. Giáo lư đạo Phật quan trọng hơn và thực tiễn hơn là ḿnh chỉ nói lư thuyết suông mà không sợ nhân quả.

Thập Nhị Nhân Duyên gồm có vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh và lăo tử. Trên đời này không có ǵ ra ngoài nhân duyên cả. Phật nói:

“Giả sử bách thiên kiếp
Sở tạo nghiệp bất vong
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hoàn tự thọ”

Có nghĩa là dù cho trăm ngàn kiếp, cái nghiệp ḿnh tạo ra không có mất đi và khi đủ duyên th́ ḿnh sẽ tự nhận lấy quả báo. V́ vậy, Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả. Đời nay chúng ta không rơ là ta đă tạo những nhân ǵ trong quá khứ nhưng khi quả đến th́ chúng ta than van. Khi ta hiểu nhân quả th́ chúng ta làm tất cả các việc thiện và cố tránh các việc ác, như vậy đời sau chúng ta không sợ chiêu cảm quả khổ đau. Khi nghiệp hết, phước được đầy đủ và đủ duyên th́ chúng ta mới về Tịnh Độ được. Cho nên chúng ta phải tu và nhân không có th́ quả cũng không phải trả. Nếu như chúng ta chỉ có học để mà tràn đầy với những tri kiến, lư thuyết suông mà thiếu phần thực hành th́ ḿnh sẽ không có lợi ích ǵ trên con đường tu. Để tránh không bị rơi vào trường hợp này, chúng ta luôn kiểm soát hành vi của ḿnh và tích đức tu nhân bằng cách không làm cho người khác khổ đau. Như vậy là ḿnh đă dấn thân để tránh đi những nhân quả ác. Có thực hành th́ con đường tu của ḿnh mới có giá trị.

Làm thế nào để phân biệt Từ Bi tâm và Bồ Đề Tâm?

Từ bi tâm: Trong quá khứ khi Phật c̣n tu hạnh Bồ Tát, ngài đă giết chết một người v́ người này muốn giết 500 người khác. Với ḷng từ bi mà Phật cam chịu gây nhân giết người thay thế cho người này khỏi phải tạo cái nhân giết chết 500 người. Nếu như người này giết 500 người th́ người đó sẽ phải trả cái nợ cho hơn 500 người trong tương lai. Sự hy sinh của Phật là chấm dứt cái quá tŕnh sinh tử của một người này và đồng thời cứu được 500 mạng người.

Bồ Đề tâm bao hàm Từ Bi tâm và c̣n nhiều tâm khác (bố thí tâm, nhẫn nhục tâm, thiền định tâm) trong cái Bồ Đề tâm. Nói trên nghĩa lư th́ Bồ Đề tâm và Từ Bi tâm là một. C̣n trên mặt văn tự th́ Từ Bi tâm là một phần của Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm là tâm giác ngộ. Người phát Bồ Đề tâm là chỉ một nguyện tu hành thành Phật để độ chúng sinh, thành chánh quả và không mong cầu điều ǵ khác. Có Bồ Đề là có giác ngộ, có giác ngộ là có giải thoát và có giải thoát là có tự tại.

Hỷ và lạc khác nhau như thế nào?

Hỷ và lạc th́ giống nhau về mặt nội dung nhưng khác nhau về quá tŕnh thành tựu

Hỷ: Có động lực bên ngoài đưa đến (phần tích cực) như là nghe được pháp th́ vui.

Lạc: Cái thành quả đạt được sau khi có cái hỷ (phần thụ động) và trạng thái an vui kéo được dài lâu. Cái đạo đức của ḿnh ở bên ngoài có thể nuôi dưỡng cái an lạc ở bên trong.

Trong thiền có những giai đoạn như sau:

Tầm: Đi t́m nguyên nhân hoặc lư do làm ḿnh không tỏ sáng.

Tứ: Dán tâm hoặc tư tưởng ḿnh vào một điểm và khi quán một điều ǵ th́ hướng dẫn tư tưởng ḿnh lên, xuống để phá vỡ những ǵ mà ḿnh bị bế tắc.

Tịnh: Sau một quá tŕnh ḿnh ngồi thiền mà giữ được tâm an ổn và mọi thứ đều lắng dịu.

Định: Thời gian an tịnh kéo được dài lâu.

Khi niệm Phật mà nhất tâm bất loạn th́ mới thành và hai là khi tu thiền th́ phải phá ngă chấp, phá ngă sở hữu th́ mới thành. Như vậy th́ làm sao để chúng ta tu hành trong cái đời sống mà có nhiều trách nhiệm và ràng buộc mà có thể có lợi ích hoặc thành tựu được?

Đây nói cái đỉnh cao của sự tu hành của một vị thiền sư chẳng hạn có nghĩa là muốn chứng thiền th́ phải không c̣n ngă và muốn về Tịnh Độ th́ phải niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn (tức tâm, tức Phật) đồng nghĩa với tam nghiệp đều tịnh. Chúng ta có những ràng buộc trong cuộc sống hằng ngày cho nên không đạt đến chỗ cứu cánh như chư Tổ, các vị thiền sư nhưng cũng có thể thực hành niệm Phật hoặc thiền mà vẫn có lợi ích do được đầy đủ phước báu và gieo trồng nhân lành với Phật. Ít ra chúng ta cũng an tịnh được phần nào trong tâm ḿnh và tránh tạo tác nghiệp ác khi ḿnh chuyên niệm Phật. Khi ta tu thiền dù không phá được hết ngă nhưng cũng bớt được tham, sân, si hơn lúc chưa biết tu. Cũng vậy, nếu như ḿnh gần gủi thiện tri thức mà cho dù ḿnh không thành đạt quả vị ǵ cả nhưng lâu dần th́ vị thiện tri thức cũng cảm hóa được con người ḿnh để không làm ác và chuyên làm thiện.

HỒI ĐẦU THỊ NGẠN

Luận giải trong Phật học thường đề cập đến những câu như là “Khổ hải man man, hồi đầu thị ngạn” có nghĩa là biển khổ mênh mông nhưng quay đầu th́ thấy bến hoặc câu “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” có nghĩa là buông dao đồ tể th́ có thể thành Phật.

Chúng ta không thể hiểu những câu này trên mặt chữ mà phải hiểu chiều sâu theo lư tưởng của thiền. Cái quá tŕnh mà khi chúng ta mới bắt đầu biết được hướng đi cho đến lúc đến bờ b́nh an rất là dài và gian khổ. Muốn vượt qua được cái ảo tưởng của ngă và pháp th́ người tu phải có một công phu rơ ràng. Trong pháp môn niệm Phật th́ người tu phải niệm đến nhất tâm bất loạn tức là tâm đạt đến chỗ vô niệm. Cũng như trong pháp môn thiền th́ người tu phải định tâm và khi tâm định th́ 6 căn không c̣n phan duyên bởi sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp nữa. Do định tâm nên chúng ta không tạo nghiệp sinh tử nữa. Ngài Trần Nhân Tông nói rằng:

“Trời đất nấu nung vạn vật tượng thành,
Xưa nay không một, không móng, cũng không manh
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 16 2017, 01:43 AM
Gửi vào: #144


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



VÔ NGĂ HAY KHÔNG CÓ LINH HỒN

Lư thuyết của Phật Giáo về Luân Hồi ta cần phân biệt với thuyết tái sanh nhằm chỉ sự chuyển đổi của linh hồn hay sự tái sanh của một xác thân thường c̣n. Phật Giáo phủ nhận sự hiện hữu của một linh hồn bất tử hay trường tồn được tạo nên bởi đấng Thượng Đế hoặc phát xuất từ một Đại Ngă.

Nếu linh hồn mà người ta giả thiết như tinh hoa của con người là vĩnh cửu th́ linh hồn không thể phát sanh hay tiêu diệt. Ngoài ra, người ta cũng không thể giải thích tại sao “Từ lúc đầu, linh hồn này lại khác với linh hồn kia”.

Để chứng minh sự hưởng phước đời đời ở trên thiên đàng vĩnh viễn và sự đau khổ vô tận dưới một địa ngục trường cửu tức nhiên tuyệt đối phải chủ trương có một linh hồn bất tử. Nếu không, th́ cái ǵ sẽ bị trừng phạt ở địa ngục hay được tưởng thưởng nơi thiên đàng?

Bertrand Russell viết: “Ta phải nói rằng sự phân biệt cũ kỹ giữa linh hồn và thể xác đă hoàn toàn tiêu tan bởi v́ vật chất đă mất tính chất cứng rắng của thể đặc mà tâm cũng mất tính chất tinh thần của nó. Tâm lư học đang bắt đầu trở thành một ngành khoa học. Trong hiện t́nh của khoa tâm lư học, niềm tin vào một điều ǵ bất tử đă không được sự tán trợ của khoa học”.

Người Phật tử đồng ư với Russell khi ông nói: “Rơ ràng có lư do để tin rằng cái 'Tôi' ngày hôm nay và cái 'Tôi' ngày hôm qua là một và để lấy một ví dụ rơ ràng hơn nữa, nếu cùng một lúc, tôi thấy một người và nghe người ấy nói th́ hiển nhiên là cái 'Tôi' nghe và cái 'Tôi' thấy là một”.

Cho đến những năm gần đây các nhà khoa học đă tin tưởng vào tính cách bất khả phân và không thể tiêu diệt của nguyên tử. “Với đầy đủ lư lẽ, các nhà vật lư học đă phân chia hạt nguyên tử ấy thành những phần nhỏ. Cùng với những lư do chính đáng, các nhà tâm lư học khám phá rằng tâm không phải là vật thể đồng nhất của một cái ǵ trường tồn mà là một số yếu tố được kết hợp với nhau qua những liên quan mật thiết nào đó. Cho nên, vấn đề của sự bất diệt trường tồn trở thành câu hỏi rằng những liên quan này có c̣n tồn tại giữa những yếu tố của xác thân đang sống và xác thân đă chết hay không”.

Cũng như C.E.M. Joad viết trong cuốn “Ư Nghĩa của Đời sống” (The Meaning of Life): “Vật chất đă tan ră dưới mắt của chúng ta. Nó không c̣n là thể đặc, không c̣n vững chắc, không c̣n do những định luật cưỡng chế quy định; và quan trọng hơn tất cả, người ta không c̣n biết nó là ǵ nữa”.

Cái được gọi là nguyên tử h́nh như vừa “có thể bị phân tán, vừa có thể bị tiêu diệt”. Những điện tử và dương tử bao gồm trong một nguyên tử “có thể gặp và tiêu diệt lẫn nhau trong khi ấy, sự bền vững của điện tử và dương tử, giống như sự vững bền của một làn sóng, không có những giới hạn chắc chắn và trong tiến tŕnh biến đổi liên tục, cả hai đều thay đổi h́nh thức và vị trí”.

Giám mục Berkley bảo rằng cái được gọi nguyên tử là một điều tưởng tượng siêu h́nh và chủ trương có một thực thể tinh thần gọi là linh hồn.

Chẳng hạn, Hume (49) nghiên cứu và nhận thấy rằng ư thức không có ǵ khác ngoài những trạng thái tinh thần biến đổi và kết luận rằng “Cái Ta thường c̣n” là không thực tồn tại.

Và Hume viết: “Có vài triết gia nghĩ rằng trong mỗi chập tư tưởng, chúng ta ư thức cái gọi là Ta, và chúng ta cảm giác rằng cái Ta là có thật, thường c̣n; và chúng ta là chắc thực..., không thể biến đổi và phân chia. Riêng về phần tôi, khi tôi tiếp xúc mật thiết với cái mà tôi gọi là 'Tôi' th́ tôi luôn luôn gặp phải một vài cảm giác đặc biệt như nóng hay lạnh, ánh sáng hay bóng tối, thương hay ghét, buồn hoặc vui. Tôi chưa từng bắt được cái 'Tôi'... và không bao giờ có thể t́m thấy được cái ǵ ngoài cảm giác... cũng như không thể nhận thức được cái ǵ khác cần thiết để làm cho Tôi trở thành một thực thể hoàn toàn không tồn tại”.

Bergson (50) nói: “Tất cả ư thức chỉ tồn tại trong thời gian sinh hoạt. Một trạng thái tâm lư, nếu không biến đổi, th́ không c̣n là một trạng thái nữa.. Nó là sự biến đổi không ngừng; khi sự biến đổi ngưng th́ trạng thái tâm thức cũng ngưng, trạng thái tâm thức chính là sự biến đổi”.

Đề cập đến vấn đề linh hồn, giáo sư James viết: “Cho đến nay, thuyết linh hồn là hoàn toàn vô ích khi dùng nó để giải thích các sự kiện thực sự có thể chứng minh được về kinh nghiệm của tâm thức. Cho đến nay, cũng không ai có thể bị bắt buộc phải chấp nhận lư thuyết ấy v́ những lư do khoa học cụ thể”.

Nơi phần kết luận của chương thích thú nói về linh hồn, ông viết: “Và trong tác phẩm này, giải pháp tạm thời mà chúng ta đă đạt tới phải là lời kết luận: Chính tư tưởng là con người tư tưởng”.

Watson (51), nhà tâm lư học trứ danh đă viết: - “Chưa có ai từng sờ đụng một linh hồn hay nh́n thấy linh hồn trong một ống thí nghiệm, hay bằng phương cách ǵ khác, để tiếp xúc với linh hồn như đă từng va chạm với các vật khác trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, ngờ vực sự hiện hữu của linh hồn được xem như người theo tà giáo; và thời xưa điều ấy có thể dẫn đến việc khiến người ta bị rơi đầu. Cả đến ngày nay, người có địa vị quan trọng cũng không dám nêu vấn đề đó lên”.

Hơn 2500 năm trước, đức Phật đă đề cập đến những vấn đề này. Theo Phật Giáo, ư thức không ǵ khác hơn là một tổng hợp phức tạp của những trạng thái tâm thức luôn luôn biến đổi. Mỗi chập tư tưởng gồm có ba giai đoạn - phát sanh hay khởi đầu, tĩnh lặng hay phát triển, và chấm dứt hay hủy diệt. Ngay khi một chập tư tưởng vừa qua giai đoạn diệt, tức th́ giai đoạn sanh của chập tư tưởng kế tiếp lại tiếp hiện ra. Trong tiến tŕnh luôn luôn biến đổi của đời sống, mỗi chập tư tưởng khi diệt, chuyển toàn bộ năng lực và tất cả những cảm giác thâu nhận cho chập tư tưởng kế tiếp. Mỗi chập tư tưởng mới gồm các tiềm năng của những chập tư tưởng trước đó cùng với một vài cái ǵ khác nữa. Cho nên, có sự luân chuyển tiếp tục của tâm thức như một ḍng suối không ngừng trôi chảy. Chập tư tưởng theo sau không hoàn toàn giống những chập tư tưởng trước đó - bởi v́ thành phần cấu tạo đă đổi mới - mà cũng không hẳn là khác, v́ cả hai đều nằm trong cùng một ḍng sống Nghiệp Lực. Ở đây không có chúng sanh giống nhau nhưng có sự đồng nhất trong tiến tŕnh đời sống (của chúng sanh).

Trong mỗi phút giây (của đời sống) đă có sự sanh và sự chết. Sự phát sanh của một chập tư tưởng này có nghĩa là có một chập tư tưởng khác đă hủy diệt và ngược lại. Trong ḍng thời gian của đời sống, có sự tái sanh nhứt thời mà không có linh hồn.

Tưởng không nên hiểu rằng ư thức của ta bị cắt ra từng khúc nhỏ và được nối liền lại với nhau như những toa xe lửa hay một sợi giây xích. Nhưng trái lại, “nó trôi chảy liên tục như một ḍng sống, tiếp nhận từ những phụ lưu của các giác quan để bồi đắp thêm cho sự phong phú của nó và măi măi cung cấp cho thế giới bên ngoài những tư tưởng mới mà nó tiếp thu trong cuộc đời” (52). Ḍng sông ư thức ấy phát sinh từ cội nguồn và chấm dứt nơi cửa sông của nó. Chập tư tưởng tồn tại nhanh chóng đến nỗi không có bất cứ tiêu chuẩn nào có thể đo lường ước tính được. Tuy nhiên, các nhà chú giải cho biết rằng thời gian kéo dài của một chập tư tưởng có thể c̣n ngắn hơn một phần tử thời gian của một cái chớp.

Ở đây, chúng ta thấy có sự kề nhau nối tiếp trong chuỗi dài của những trạng thái ư thức, chứ không có sự chồng chất lên nhau của các trạng thái đó như một số người lầm tưởng. Không có một chập tư tưởng đă qua mà c̣n trở lại; cũng không có chập tư tưởng sau giống hệt chập tư tưởng trước đó. Nhưng người đời chúng ta bị che lấp bởi màn ảo giác, đă lầm tưởng sự liên tục giả tạo như một cái ǵ vĩnh cửu, và c̣n tiến xa hơn cho rằng có một linh hồn trường tồn, một cái Ngă (Ta), một con người giả định vừa hành động và chứa nhóm tất cả hành động vào trong cái tâm luôn luôn biến đổi này.

“Cái được gọi là con người chẳng khác ǵ một cái chớp tạo nên bởi sự kế tiếp của những tia sáng nối liền nhau quá nhanh đến nỗi mắt trần của ta không thể trông thấy chúng riêng biệt; và người mê lầm cũng khó nhận biết được sự liên tục của những tia sáng rời rạc ấy”. Như bánh xe lăn chấm một điểm trên mặt đường, con người chúng ta cũng chỉ sống trong từng chập tư tưởng. Ta luôn luôn sống trong hiện tại, và hiện tại nhất định phải trôi vào quá khứ. Tương lai cũa chúng ta ra sao, sẽ được quyết định bởi chập tư tưởng trong hiện tại.

Người ta có thể hỏi, nếu không có linh hồn th́ cái ǵ tái sanh? Thực ra, không có cái ǵ được gọi là tái sanh cả. Khi cuộc sống chấm dứt, Nghiệp Lực lại tự hiện hữu trong một h́nh thức mới. Như Đại Đức Silacara đă viết: “Dù không thấy Nghiệp Lực đi qua ở đâu, nhưng các điều kiện thích ứng với sự biểu hiện rơ ràng của nó vẫn có mặt. Nghiệp Lực xuất hiện dù nơi con muỗi hay con trùng bé nhỏ vẫn khiến ta thấy rơ nó như sự hiện hữu của ánh sáng rực rỡ của một đấng Thiên Thần hay Thượng Đẳng Thiên Sứ. Khi phương thức của Nghiệp dừng nghỉ, ḍng Nghiệp Lực chỉ chuyển tiếp, và khi gặp điều kiện thuận lợi, Nghiệp sẽ tự phát hiện trở lại trong một tâm thức hay h́nh thể khác”.

Sanh là sự phát khởi của hiện tượng nhất thời tâm vật lư. Chết chỉ là sự chấm dứt tạm thời của hiện tượng (tâm vật lư) ấy.

Cũng như sự phát sanh của một trạng thái vật chất được h́nh thành do bởi trạng thái trước đó làm nguyên nhân; và sự xuất hiện của hiện tượng tâm vật lư đă do những nguyên nhân trước tạo điều kiện để nó phát sanh. Cho nên tiến tŕnh của một kiếp sống có thể diễn tiến mà không cần có một thực thể thường c̣n chuyển tiếp từ chập tư tưởng này sang chập tư tưởng khác; vậy th́ một loạt tiến tŕnh của những đời sống cũng có thể diễn tiến mà không cần có một linh hồn bất tử di chuyển từ kiếp này sang kiếp nọ.

Phật giáo hoàn toàn không phủ nhận sự hiện hữu của một bản ngă trong cái nghĩa thực nghiệm của nó. Phật Giáo trong định nghĩa rốt ráo, nhằm chứng tỏ rằng không có một bản ngă (bất biến) thực sự. Danh từ triết học Phật Giáo gọi một cá nhân là Santana - một ḍng sống hay sự liên tục. Nó gồm cả những yếu tố tinh thần cũng như vật chất. Nghiệp lực của mỗi cá nhân đă kết hợp những yếu tố đó lại với nhau. Ḍng sống không ngừng hay sự liên tục của hiện tượng tâm vật lư này đă do Nghiệp Lực tạo nên, không những chỉ giới hạn trong đời hiện tại, mà Nghiệp Lực ấy đă bắt nguồn từ những kiếp quá khứ vô thỉ, và nó sẽ c̣n tiếp tục diễn tiến trong tương lai - Chính ḍng sống (Nghiệp Lực) này theo Phật Giáo là cái mà các tôn giáo khác gọi là cái “Ta” vĩnh cửu hay “linh hồn” bất tử.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 16 2017, 02:01 AM
Gửi vào: #145


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



NHẬN ĐỊNH VỀ GIÁO LƯ LÀNG MAI
Trí Thông

07 tháng 12, 2009

LTS: Nhân có bài viết "Xin giữ cho đạo Phật được trong sáng" của tác giả Nguyễn Trí Cảm vừa đăng hôm 04Dec09, bài viết này được đăng lại từ Thư Viện Hoa Sen để bạn đọc có thêm dữ liệu về giáo lư Làng Mai, không nhất thiết tất cả đều phản ảnh quan điểm về tôn giáo của sachhiem.net.

trích http://www.thuvienhoasen.org/batnhalangmai-01.htm

NHẬN ĐỊNH VỀ GIÁO LƯ LÀNG MAI


Trí Thông
CHÚ THÍCH CỦA BBT TVHS:

Bài viết của thầy Trí Thông đă được phổ biến hạn chế qua một số e-mails từ lâu. Nay do nhân duyên thích hợp nên ban biên tập TVHS chính thức phổ biến trên mạng. Ban biên tập sẵn sàng đón nhận các ư kiến phản hồi tích cực từ quư độc gỉa. Xin gửi về thuvienhoasen@yahoo.com chúng tôi sẽ post ngay dưới bài này. (01-11-2009) *

* http://www.thuvienhoasen.org/batnhalangmai-01.htm.

Hiện nay nói đến thầy Nhất Hạnh, không ai mà không biết đến Thầy. Gần bốn mươi năm hành đạo ở nước ngoài, thầy Nhất Hạnh đă có những thành công và ảnh hưởng đáng kể về mặt đạo học cũng như xă hội học.

Thầy Nhất Hạnh vừa là một vị đạo sư Phật giáo, vừa là một nhà văn, một nhà thơ rất có tiếng tăm. Thậm chí thầy Nhất Hạnh c̣n được tôn vinh là một nhà văn hóa lớn của thế giới hiện đại. Tuy xuất thân là tu sĩ Phật giáo nhưng là mẫu người có tư tưởng phóng khoáng, thầy Nhất Hạnh không chỉ ảnh hưởng tư tưởng của các triết gia hiện sinh Thiên Chúa Giáo như Garbriel Marcel, Merleau Ponty và nhất là Emmanuel Mounier mà c̣n ảnh hưởng tư tưởng của thiền sư Shunryu Suzuki thuộc thiền phái Nhật Bản. Cộng thêm một ít giáo lư của Phật giáo Nguyên Thủy, một ít giáo lư của thiền sư Tăng Hội thuộc tông phái thiền Việt Nam. Đồng thời để phát triển đạo Phật ở Tây phương, thầy Nhất Hạnh đă sử dụng những yếu tố văn hóa của họ và dựa vào nhu yếu của cái gọi là “Thực dụng”, rồi h́nh thành một hệ tư tưởng “Thiền” của Làng mai là “Hiện pháp lạc trú”.

Chính v́ pha trộn nhiều tư tưởng, cho nên thoạt đầu giáo lư Làng mai cho ta cảm giác mới lạ, hấp dẫn. Nhưng càng đi sâu vào chi tiết mới phát hiện, thầy Nhất Hạnh phát triển đạo Phật theo khuynh hướng “Tâm lư học” hơn là đào sâu giá trị tâm linh của đạo Phật. Cho nên con đường Thiền của thầy Nhất Hạnh không sâu sắc, sự tu tập chỉ đạt đến mức “Chánh niệm tỉnh giác” rồi đứng lại đó. Nếu đạo Phật phát triển theo hướng này th́ chắc chắn một điều “Trong tương lai, đạo phật mất dần giá trị chứng ngộ tâm linh đến tuyệt đối như thời Đức Phật”. Điều này cho thấy thầy Nhất Hạnh đă phát triển một đạo Phật xa dần cái gốc của nó.

Không biết có phải v́ tùy thuận theo nhu cầu cuộc sống thực dụng của người Tây phương, tức là làm việc ǵ cũng phải có hiệu quả trước mắt th́ họ mới tin theo, c̣n như nói về cái được nào đó có vẻ mơ hồ xa xôi, hoặc thuộc về một thế giới mà họ chưa thấy chưa biết, khoa học chưa chứng minh nên họ không tin. Cho nên thầy Nhất Hạnh đă xây dựng một hệ thống giáo lư đạo Phật không căn bản, đó là:

1/ Không xiển dương giáo lư Nhân Quả Nghiệp Báo, trong khi chính nhờ Nhân Quả này mà đạo Phật thật sự đem đến cho con người đạo đức và sự tiến bộ.


Theo như năm phép thực tập “Chánh niệm” mà thầy Nhất Hạnh cho đó là con đường thoát duy nhất, có thể cung cấp những giáo lư; những phép thực tập có khả năng giúp cho mọi giới nhất là giới trẻ, giới trí thức tháo gỡ những khó khăn nội tâm; chuyển hóa được những phiền giận lo âu; những nghi kỵ, tuyệt vọng; tái lập lại được truyền thông với người thân và đóng góp được một cách tích cực vào việc xây dựng một nền đạo đức dân tộc có khả năng chuyển hóa những tiêu cực hiện có như nạn tham nhũng, nạn mại dâm, nạn ma túy, nạn đổ vỡ gia đ́nh…mà thầy lại không thiết lập những điều đó trên nền tảng của Nhân quả th́ giống như xây nhà không đặt mống. Bởi v́ có tin Nhân quả, con người mới yêu quư đạo đức và đi t́m đạo đức, nhẫn chịu được nghịch cảnh một cách b́nh an và c̣n phấn đấu làm tất cả những việc lành, không mê tín, không làm các điều ác. Ai cũng thấy “Luật pháp” không thể kiềm giữ được thú tính trong mỗi con người mà chỉ có Nhân quả trong mỗi con người mới giúp họ sống đúng và tự giác mà thôi.

Cho nên, nếu không có một luận thuyết về Luật Nhân Quả mà lại kêu gọi mọi người phải sống đạo đức th́ cái đạo đức đó không có nền tảng. Do Không có một một giáo lư chuẩn nên người ta không thiết tha trong cái việc xây dựng đạo đức cho cuộc sống. Bởi v́ đạo đức cuộc sống, nó đ̣i hỏi người ta phải thay đổi nội tâm ḿnh để sống cho tốt.

Hiện nay, tuy khoa học chưa chứng minh được đường đi của Nhân quả nhưng đó là điều có thật. Nó là một nguyên lư tự nhiên rất công bằng và khách quan của vũ trụ mà Đức Phật là Người khám phá, có cái nh́n xuyên suốt, thấy rất rơ.

Khi Đức Phật nói về Nhân quả là do Ngài đă chứng kiến rơ ràng trong thiền định. Tức là khi Ngài đắc đạo, Ngài nhập định trong thiền định liền thấy được vô lượng kiếp của mọi người và thấy rơ ràng mọi chuyện đă diễn ra theo Nhân quả. Với người gieo nhân như thế…sẽ có kết quả như thế! Nghĩa là nó luôn có một sự bù đắp rất công bằng trong vũ trụ này.

Cho nên, quan điểm Nhân Quả Nghiệp Báo luôn là yếu tố chủ đạo xuyên suốt, nhất quán trong hệ thống giáo lư của đạo Phật. C̣n những vị Đạo sư đời nay, nếu bỏ qua, không dạy cho tín đồ tin hiểu vững vàng về Nhân Quả Nghiệp Báo th́ chắc chắn mọi người sẽ hiểu sai đạo Phật, sẽ dễ rơi vào mê tín và sẽ không ứng dụng được đạo lư cho cuộc sống cũng như định hướng cho sự tu hành giải thoát của họ được tốt đẹp hơn.

2/ Không tin các cơi Trời, không đề cập đến ba cơi sáu đường.

Ḥa Thượng cho rằng: “Niết bàn, Thiên đường, sự sống bên kia cái chết” chỉ là sáng tạo phẩm của một nhận thức chủ quan, là những giả thiết siêu h́nh không thể kiểm soát.

“Những từ Niết bàn, Hư vô, Tịch diệt, Bản ngă, Luân hồi…không có nghĩa nhất định. Có bao nhiêu định nghĩa về Niết bàn rồi. Và những cố gắng ấy là để làm nên một việc mà chính Đức Phật Thích Ca đă không làm nổi.

Hỏi Niết bàn là ǵ? Ngài đă từ chối không trả lời”.

Đúng là cái bệnh tâm lư ngă mạn của người đời sau, luôn cho rằng ḿnh nói đúng hơn ngay cả với Đức Phật. Với trí tuệ của một Đức Phật th́ không điều ǵ trong vũ trụ này mà Ngài không lư giải được hết. Những lời dạy của Ngài luôn có giá trị vượt cả không gian và thời gian. Có điều do hành nghiệp căn cơ của chúng sinh quá thấp nên không thể hiểu nổi về cái thấy biết của một tâm chứng đến tuyệt đối mà ngôn ngữ không diễn tả được. Chỉ có người nào chứng rồi mới biết cho nên Đức Phật không nói là vậy.

Có câu chuyện về “Con Rùa Và Con Cá”, chuyện kể rằng:

Con Rùa có thể sống dưới nước và lên bờ cũng được, trong khi con Cá do nghiệp của nó chỉ sống dưới nước mà không lên bờ được. Cho nên khi nghe con Rùa nó kể chuyện trên bờ cho con cá nghe th́ con Cá không thể nào tin, bởi v́ nó không chứng kiến nên không tin. Nhưng thật ra có chuyện ở trên bờ chứ không phải không có.

Cũng vậy, ở đây chúng ta không chứng kiến được cơi Trời nhưng không phải là không có. Hồi Đức Phật c̣n tại thế, Ngài đă nói trong các kinh rằng “Có Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới”, tức là có hằng hà sa số thế giới. Tuy nhiên vào thời đó, chưa ai tin hết v́ người ta chỉ thấy phạm vi thế giới của ḿnh thôi. Đến khi khoa học phát triển, họ đă t́m ra được các hành tinh khác. Mỗi v́ sao là một thế giới. Rồi lên được cung trăng họ cũng phát hiện đó là một thế giới, nhưng các nhà khoa học nói đó là một trái đất chết không có người sống. Thật ra ở đó cũng có những sanh linh sống. Sở dĩ họ không thấy được v́ cách nhau bởi biệt nghiệp.

Tương tự, Đức Phật có nói đến Lục đạo luân hồi tức là sáu con đường mà chúng sinh chết đi rồi sống lại và nó luân hồi qua lại măi “Ta thấy tất cả chúng sinh luân hồi trong lục đạo, xây vần trong sáu đường này. Cũng như một người đứng trên lầu cao nh́n xuống dưới ngă tư đường, thấy người nào đi đường nào…đường nào”.

Tùy theo nghiệp lực đă gây tạo mà sau khi chết có người sinh về cơi Trời hay cơi người. Có người rơi vào ngạ quỷ, địa ngục hay súc sanh. Nói sáu đường mà sự thật ta chỉ thấy có hai đường là người và súc sanh. Bốn đường c̣n lại là Trời, Atula, Ngạ quỷ, Địa ngục th́ không thấy. Ta không thấy do không chứng kiến được chứ không phải là không có, tại v́ cái biệt nghiệp của mọi loài mọi chỗ mà sống th́ cái nh́n nó khác nhau. Ví dụ cơi Trời sống không bằng h́nh tướng mà bằng tư tưởng. Cái tư tưởng đi qua đi lại không có h́nh tướng th́ làm sao ta thấy được.

Chính v́ không tin có thế giới siêu h́nh nên thầy Nhất Hạnh chủ trương “Tôi không có ước ao cái cơi Niết bàn, Tịnh độ hay Thiên đường, tại v́ Niết bàn là ở đây; Tịnh độ là ở đây; Thiên đường là ở đây”.

“Trong tâm ḿnh nhẹ nhàng, thảnh thơi và hạnh phúc th́ ba nẻo đường đen tối là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh không thể xuất hiện. Những nẻo đường đen tối đó có thể phát hiện trong ta bất cứ lúc nào trong ngày nếu ta đánh mất niệm, định và tuệ”. V́ vậy không cần phải đi về tương lai mới có hạnh phúc, hay không cần phải chết mới đi vào Tịnh độ.

Bởi vậy nhiều người nhận định, có lẽ thầy Nhất Hạnh do bị ảnh hưởng của nền văn hóa Tây phương và kiến thức tâm lư học của ḿnh nên có lối giảng rất thực dụng. Thầy là một vị tu sĩ Phật giáo có sứ mệnh hoằng truyền chánh pháp của Đức Thế Tôn lại không tin Niết Bàn tuyệt đối của Phật. Cho nên đă chủ trương đi t́m sự thảnh thơi an nhàn trong hiện tại. Điều này làm cho Đạo Phật bị biến dạng, thật đau ḷng!!!

Đối với những vấn đề mà khoa học chưa chứng minh được như:

- Giáo lư Nhân quả nghiệp báo, t́nh trạng tái sinh luân hồi măi hay sự an lạc trong thiền định, các cơi Trời, cơi Địa ngục, Ngạ quỷ làm người trí thức hay nghi ngờ. Nhưng chúng ta là người đệ tử Phật phải có niềm tin và đức tin quả quyết về một sự thật là “Ngoài thế giới vật lư này c̣n tồn tại thế giới của siêu nhiên, có sự hiện hữu của chúng sinh trong đó”. Hơn nữa đó là những giáo lư quan trọng được Phật thân chứng và thấy rơ, có thế chúng ta mới tu được.

Sự thật, địa ngục không phải là sản phẩm tưởng tượng của tâm để muốn có là có, muốn không là không, mà địa ngục là khách quan ngoài ư muốn của tâm. Tuy địa ngục thuộc về thế giới tâm linh, thế giới siêu h́nh nhưng lại có thật. Khi một người làm ác, họ không muốn vào địa ngục nhưng cứ bị một sức hút vô h́nh đẩy vào. V́ có địa ngục nên con người rất sợ tội lỗi và sống một đời hiền lương đạo đức.

3/ Việc dùng tâm lư để giải quyết đau khổ chỉ là tạm bợ,


phải có yếu tố công đức mới là tận gốc.

Thầy Nhất Hạnh dạy rằng: “Mỗi khi có nổi buồn, cơn giận hay niềm tuyệt vọng, ta dùng phương pháp trị liệu là ôm ấp những cảm xúc đó một cách ưu ái và hết ḷng th́ năng lượng ưu ái đó sẽ làm cho cơn giận hay nổi buồn dịu lại”. Cách thực tập là hăy chấm dứt hết mọi ưu tư, chỉ bám sát vào hơi thở ra hơi thở vào.

Chúng ta thấy với cách thức đó, nếu có t́m được sự an lạc th́ cũng chỉ là một chút yên ắng tạm thời thôi. Nếu không có phước, những cái bung xung tâm lư vẫn tiếp tục trổi dậy. Rồi ta lại tiếp tục đè nén và cứ thế th́ tâm càng mệt mỏi. Lúc này tâm không c̣n yên nữa mà trở nên rất vọng động.

Muốn trị tận gốc ta phải biết nguyên nhân của đau khổ là do đâu ?

- Có thể do thiếu đạo đức, do không có lư tưởng giải thoát, do nghiệp quá khứ.

Thường thiếu đạo đức là do nhân vị kỷ nên cái quả là đau khổ. Ngược lại với cái nhân vị tha th́ cái quả là an vui, đó là sự hổ tương trên nhân quả. V́ vậy để giải quyết cái khổ một cách rốt ráo, chúng ta nên theo lời Phật dạy là hướng về mục tiêu vô ngă sẽ tránh được lỗi lầm hơn. Ngay cả khi đạt được cái tâm thanh tịnh sáng suốt vẫn phải tự nhắc ḿnh bản ngă chưa hết, lỗi lầm chưa sạch để đừng chủ quan tự măn.

Mặt khác phải làm nhiều việc phước song song với việc tu tập thiền định. Chính việc làm lợi ích cho mọi người sẽ có cái phước tác động trở lại làm tâm được yên một cách tự nhiên chứ không phải do tu tập. Đó là v́ phước và nhân quả luôn đi đôi, phối hợp nhịp nhàng với nhau không sơ hở. Cho nên muốn đi t́m sự định tâm mà phước ít quá sẽ không nhiếp tâm được. Đừng tưởng chỉ thực hành phương pháp nhiếp tâm là nhiếp được. Bên ngoài thấy cũng ngồi yên đó nhưng bên trong vọng tưởng vây kín. Cho nên sự tu hành của mỗi người chỉ tự ḿnh biết. Quan trọng là phải thành thật với chính ḿnh th́ công phu tu hành mới tiến.

Một vài điều kiện quan trọng để hóa giải đau khổ là phải tinh tấn lễ Phật, tinh tấn tu tập thiền định để nhiếp tâm cho được. Bởi v́ khi tâm ta thanh tịnh th́ những mục tiêu thế gian không lừa gạt được ḿnh. Ta vẫn sống giữa cuộc đời đầy bất trắc nhưng không đau khổ. Trong đời sống ta thấy được lỗi lầm của ḿnh trong từng điểm nhỏ. Ngoài ra c̣n thương yêu giúp đỡ người khác được. Chính cái tâm vị tha làm ḿnh quên đi thực tại rằng ḿnh đang có đau khổ, v́ niềm vui có được trong những việc làm giúp người khác đă phủ kín hết tâm ḿnh. Cho nên vừa tu tập, vừa làm phước, vừa tu dưỡng đạo đức. Đó là những cái nhân tác thành công đức để giải quyết tận gốc của đau khổ, chứ không phải đi t́m một nội tâm an lạc cho chính ḿnh là hết đau khổ. Cái ǵ đi t́m cho chính ḿnh là dấu hiệu của cái tâm c̣n ích kỷ. Mà ích kỷ là nguyên nhân của đau khổ. V́ vậy chúng ta phải có trí tuệ thoát ra khỏi chính ḿnh để hướng về mục tiêu vô ngă th́ hạnh phúc là chắc thật.

4/ Cách dụng công thiền quán thường sử dụng tưởng tượng

Làm mệt đầu óc và tăng thêm ảo tưởng kiêu mạn.

Trong năm bài thực tập “Chánh niệm” từ thấp đến cao, ta thấy bài nào trong cách dụng công cũng có tưởng tượng. Bài tập càng cao th́ tưởng tượng càng nhiều. Ví dụ bài tập thứ tư:

1. Thở vào, tôi biết tôi thở vào


Thở ra, tôi biết tôi thở ra

2.Thở vào, tôi thấy tôi là bông hoa

Thở ra, tôi cảm thấy tươi mát


5. Thở vào, tôi trở nên không gian mênh mông

Thở ra, tôi cảm thấy tự do thênh thang

Hoặc bài thứ năm:

1. Thở vào, tôi thấy tôi là em bé năm tuổi

Thở ra, tôi cười với em bé năm tuổi là tôi

………………………………………………..

6. Thở vào, tôi thấy em bé năm tuổi là mẹ tôi rất mong manh, rất dễ bị thương tích.

Thở ra, tôi cười với em bé là mẹ tôi với nụ cười hiểu biết và xót thương.



Qua những câu quán tưởng như thế, ta thấy phương pháp thực tập nó không đúng thật như bài kinh “Tứ Niệm Xư” Phật đă dạy. Mà nó vừa lai lai một chút ở bài kinh này, vừa lai lai ở khía cạnh tâm lư, tức là thiết lập lại truyền thông giữa bản thân và cha mẹ.

Đức Phật dạy: “Hơi thở vô dài, tôi biết hơi thở vô dài

Hơi thở vô ngắn, tôi biết hơi thở vô ngắn”.

Tức là hơi thở như thế nào, ta biết như thế đó. Không có tưởng tượng nó như thế này, như thế kia khi thở vào hay thở ra. Cái việc tưởng tượng cho tâm ḿnh phủ trùm “Tôi cảm thấy tôi trở nên không gian mênh mông”. Chính cái tâm tưởng tượng đó là một loại tâm loạn, làm mệt trí năo.

Ở đây chúng ta không đi t́m cái phủ trùm đó v́ nó là một sự tưởng tượng và sự tăng trưởng của bản ngă.

Tu thiền là đi t́m cái không thời gian, không có đối tượng phải suy nghĩ. Từng phút thấy cái hiện tại nó tan vỡ, không có. Đó là lúc tâm ta thanh tịnh không c̣n thời gian nữa. C̣n việc tâm nó phủ trùm, đó là điều tự nhiên nó phải như vậy, không tưởng tượng. Nếu khởi động cái tâm để tưởng tượng th́ ngay lúc đó là sai lầm. Chúng ta tu như thế lâu ngày sẽ tẩu hỏa.

Yếu chỉ của Làng mai trong việc thực tập thiền chánh niệm là nhiếp tâm vào hơi thở, mĩm cười làm cho thân tâm an lạc, vững chải thảnh thơi. Và ngay đó cho rằng ḿnh đă về đă tới, không c̣n mục đích nào tiến tới nữa.

“Thiền” lúc đầu là vô niệm. Sau sẽ đi dần đến vô ngă. Đó là mục tiêu cuối.

Đừng tưởng tâm được thanh tịnh, thấy ḿnh thảnh thơi vững chải, có trí tuệ rồi cho rằng trạng thái đó là viên măn nên ca ngợi đề cao, cho rằng “Chỉ có pháp môn thực tập của tông phái ḿnh là có khả năng giúp hành giả nhiếp được tâm”. Nghĩ như thế th́ mặt dù tâm đang thanh tịnh đó nhưng vẫn đang tự cao. Một khi có tự cao, rồi cộng thêm tưởng tượng th́ coi chừng nếu không có phước sâu dầy trong quá khứ, người đó sẽ trở nên điên loạn.

Cho nên tâm tự hào là một trở ngại rất nguy hiểm đối với người tu. Ví dụ hôm nay ta ngồi thiền được an lạc, thảnh thơi, vững chải. Nhưng nếu ta khởi tâm nghĩ “À! Ḿnh hay thật, ḿnh tu có tiến bộ” th́ qua ngày hôm sau trạng thái yên ắng sẽ không c̣n nữa. Đó là do cái tâm tự hào nó phá tan hết công đức, làm lui sụt lại công phu tu hành của ḿnh.

Tóm lại, lối tu thiền của Làng mai không đủ sức có được chánh niệm tỉnh giác mà chỉ là tâm tư duy thôi.

5/ Trong giáo lư Làng Mai, chữ “Thiền” bị lạm dụng.


Lạm dụng đến nổi bất kỳ sự vật, sự việc nào, chỉ cần gán thêm phía sau chữ “Thiền” một từ nào đó là ta có ngay một cái tên gọi rất kêu. Ví dụ: Ḥa thượng b́nh thường cũng gọi là Thiền sư. Lễ lạy gọi là Thiền lạy. Nằm gọi là Thiền buông thư. Đi gọi là Thiền đi. Ngồi gọi là Thiền ngồi. Ngoài ra c̣n có Thiền thở, Thiền làm việc, Thiền sỏi, Thiền trà, v.v…Toàn là những danh từ hơi lạ so với tự điển Phật học.

6/ Đánh giá Đức Phật như một triết gia dễ thương, chứ không có ǵ cao siêu
.

Trong quyển Thiết Lập Tịnh Độ, trang 59 của Thầy Nhất Hạnh. Có đoạn viết:

“…Tuy Bụt Thích Ca không nói rơ nhưng chúng ta biết rơ Bụt A Di Đà là một người có khả năng rất lớn trong việc xây dựng tăng thân. Nếu Bụt A Di Đà không dễ thương th́ đâu có ai muốn đến cơi đó để cộng tác và sống chung với Ngài. V́ Đức A Di Đà dễ thương quá chừng, cho nên hầu hết tất cả những người dễ thương đều quy tụ về bên đó”.

Đọc trích đoạn trên, ta có cảm giác Thầy Nhất Hạnh tán thán công hạnh của Phật A Di Đà, nhưng thông qua đó là ngầm ca ngợi ḿnh đă có công thiết lập được nhiều Tăng thân trên khắp thế giới. Đồng thời Làng mai là một cơi Tịnh Độ thiết thực bây giờ và ở đây. Cho nên phương pháp “Mỗi bước chân đi vào tịnh độ” là quà tặng quư nhất của Làng mai đối với những ai muốn thực tập. Riêng thầy Nhất Hạnh là người dễ thương nhất nên Thiền sinh khắp nơi quy tụ về Làng mai, cùng tu tập để tận hưởng từng bước chân an lạc đang dẫm lên mảnh đất Tịnh độ ở trời Tây.

Thầy Nhất Hạnh hiểu Đức Phật chỉ là người tỉnh thức không cao siêu lắm. Điều đó đă hạ thấp giá trị chứng ngộ của Đức Phật xuống mức ngang bằng một triết gia. Tức là cho rằng Đức Phật ngồi suy nghĩ dưới cội bồ đề mà chứng đạo. Thấy như vậy tức là thầy Nhất Hạnh không hiểu ư nghĩa lớn lao của sự “Giác ngộ”.

* Để chứng đạo, một người đệ tử Phật phải thành tựu khả năng nhập xuất tự tại bốn mức định là từ Sơ thiền cho đến Tứ thiền”.

Do mục tiêu tu tập của Làng mai là đứng lại ở chỗ tư duy, cho nên hiểu sai về Đức Phật như thế là làm cho đạo Phật chóng suy tàn.

Sự thật nhân quả của việc thành Phật rất phức tạp. Phải có chánh nhân là kiếp nào đó đă từng cung kính thiết tha một vị Phật. Tôn kính đến mức có thể hy sinh cả mạng sống v́ Phật. Nhờ cái tâm tôn kính như vậy mà chúng sinh đó trở nên khát khao thành Phật. Rồi trải qua nhiều kiếp tinh cần, chúng sinh đó phải tu tập theo đúng Bát Chánh Đạo, làm được vô số công đức, thành tựu các mức thiền định phi thường, diệt trừ hoàn toàn chấp ngă, thoát ra khỏi tâm thức riêng của ḿnh để trở thành toàn thể vạn hữu. Đó là như thế.

7/ Xem Phật và Chúa giống nhau.


Thầy Nhất Hạnh chủ trương chính Sách vượt thoát khỏi khuôn khổ tôn giáo của đạo Phật để có thể ḥa đồng các tôn giáo khác với nhau.

Bởi vậy các thầy và các sư cô đạo tràng Mai Thôn cũng học Phúc Âm. Đồng thời cũng đă từng đi tham dự những sinh hoạt tu tập và trao đổi ở các Tu viện Cơ Đốc Giáo tại Pháp, Hoa Kỳ, Au Châu.

Vào năm 1995, thầy Nhất Hạnh có viết quyển sách “Living Buddha, Living Christ”. Dịch sang tiếng Việt có tựa đề là “Bụt trong ta, Chúa trong ta”. Với nội dung có sự so sánh giữa Bụt và Chúa rất giống nhau. Đó là quan điểm riêng của thầy Nhất Hạnh. Kỳ thực xét về mọi phương diện Chúa làm sao bằng Phật được. Thầy Nhất Hạnh nói như thế khiến cho tín đồ Phật giáo mất cảnh giác về âm mưu bành trướng của kitô. Nghĩa là người Phật tử lập gia đ́nh thoải mái theo Chúa mà bỏ đạo nhà.

Nói như thế không có nghĩa là chúng ta tự tôn, kỳ thị, phân biệt mà là một sự bảo vệ đạo Phật. Ngay cả Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ XIV trong cuộc gặp gỡ với Đức Giáo Hoàng John Paul II đă từ chối đề nghị một h́nh thức hỗn hợp hay thống nhất giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Ngài nói rằng:

"Thật khó để có chuyện hợp nhất giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo. Nếu bạn muốn có mối quan hệ mật thiết hơn, thông hiểu nhau hơn, điều đó đang diễn ra trong các tôn giáo." Ông lưu ư: Với những cá nhân hành đạo, việc có một chân lư, một lư tưởng là rất quan trọng. Có nhiều chân lư, nhiều lư tưởng là mâu thuẫn nhau.

Ông tiếp: "tôi là Phật tử, do đó Phật giáo đối với tôi là chân lư duy nhất, tín ngưỡng duy nhất. Đối với người bạn Hồi giáo th́ đạo Hồi là chân lư, là tín ngưỡng duy nhất. Trong lúc ấy tôi vẫn tôn trọng và ngưỡng mộ những người bạn Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Và nếu hợp nhất theo nghĩa trộn lẫn vào nhau th́ không thể được và cũng vô ích”. ( Nguồn tin Zenet News Agency )

8/ Thầy Nhất Hạnh tuyên bố Phật Di Lạc đă Đản Sanh


với h́nh thức một Tăng đoàn, một Tăng thân hay một cộng đồng.

Trong một bài giảng với tựa đề ĐỨC PHẬT CỦA THẾ KỶ XXI, tại chùa Hoằng Pháp. Thầy Nhất Hạnh nói rằng: “Đức Phật Di Lạc đă đản sanh. Năm nay Ngài được năm hay sáu tuổi. Lần này Đức Phật được sinh ra không phải là h́nh thức một cá nhân mà là h́nh thức một tập thể, một cộng đồng, một tăng đoàn, một tăng thân”…

Đây là điều kỳ lạ mà hội chúng mới được nghe. Nhưng khi hiểu rơ đường lối của Làng mai th́ thấy ẩn ư của câu nói đó muốn ám chỉ “Tăng thân” của Làng Mai là hiện thân của Phật Di Lạc.

Trong những thập niên qua, thầy Nhất Hạnh dành rất nhiều công phu để xây dựng một tăng đoàn xuất gia, có khả năng gây được niềm tin cho giới trí thức và người trẻ tuổi. Cho nên trong mỗi khóa tu thầy Nhất Hạnh tổ chức nơi nào là đều có sự góp mặt của tăng đoàn. Tăng đoàn này có khả năng giảng dạy, hướng dẫn tu học cho mọi người. Đây là một đ̣n tâm lư chứng tỏ cho quần chúng thấy giáo lư làng Mai có thể đáp ứng được nhu yếu của mọi thành phần trong thời đại mới. Chứ c̣n nếu thầy Nhất Hạnh một thân độc mă đi đến các Nước thuyết giảng th́ cho dù thầy có nói cao siêu cách mấy cũng không đủ gây niềm tin tưởng cho tứ chúng tại các nước ấy.

Tuy nhiên nói như thế là thầy Nhất Hạnh dám bẻ cong lời Phật và gây nên một tà kiến trong đạo Phật.

9/ V́ không tôn trọng Phật nên thầy Nhất Hạnh


đă tuyên bố ḿnh đang có hóa thân giáo hóa khắp thế giới.

“Khi mà tôi nghĩ những tác phẩm của tôi in ra hằng 40 – 50 thứ tiếng, nó đi khắp thế gian, nó đi vào các tu viện của người Công giáo, vào trong nhà tù, vào trong những ngơ ngách…Giúp cho người ta tiếp xúc được với chánh pháp của Đức Thế Tôn. Tôi thấy rằng tôi là những cuốn sách đó, tôi đang hành đạo ở khắp nơi, tôi có hóa thân khắp nơi. C̣n cái quư vị đang nh́n thấy đây không phải là tôi đâu, nó chỉ là một mặt nhỏ xíu. Và tôi có những người bạn, có những người đệ tử tiếp nối tôi trên khắp thế giới, và đó là những hóa thân của tôi, đó là những sự tiếp nối của tôi. Khi h́nh hài này tan hoại, quư vị đừng nghĩ tôi chết, không đâu. Bản chất của tôi cũng giống như bản chất của đám mây, nó là vô sanh, bất diệt. Mà bản chất của quư vị tương tức cũng vậy là vô sanh là bất diệt”.

Thường chỉ có những vị đắc đạo mới tuyên bố có Pháp thân, Báo thân, Hóa thân. Thầy Nhất Hạnh tự cho ḿnh có hóa thân như thế là chứng tỏ ḿnh bằng Phật. Đành rằng thầy Nhất Hạnh là một vị Tu sĩ có tài, có lư tưởng, có bản lănh, có công phát triển đạo Phật ở Tây phương. Nhưng nếu thầy Nhất Hạnh đừng tự nói những cái hay của ḿnh, đừng xác quyết ḿnh như Phật th́ cái ḷng tôn kính của mọi người đối với thầy Nhất Hạnh thật là vô hạn.

Thiền Sư Zen Zetsu (Nhật) căn dặn đệ tử: “Đừng nói cho người chung quanh biết về con trước khi họ tự khám phá ra con”.

Người chân chính không bao giờ nói ra cái hay của ḿnh, nhưng tự họ trong đời sống có những hành vi tốt đẹp toát ra. Điều này khiến người khác cảm nhận được và họ tin chắc đây là một bậc Thánh nhân.

Ở các đạo khác, họ xây dựng ḷng tôn kính đối với giáo chủ rất mạnh. Ví dụ đạo Hồi. Bởi vậy đạo của họ vững vàng và phát triển mạnh là vậy. Chỉ có đạo Phật rất lạ là có tư tưởng xem nhẹ ḷng tôn kính đối với vị giáo chủ của ḿnh. Cho nên đôi lúc có những vị Thiền sư chứng ngộ, thích bày tỏ sự cao siêu của ḿnh để cạnh tranh ngang hàng với Phật.

10/ Truyền đăng

Vào thời Đức Phật, kết quả tu tập của các vị đệ tử do chính Đức Phật xác nhận là họ đang ở vị trí nào theo tiêu chuẩn của bốn mức Thiền và bốn Thánh vị. Cho nên việc truyền tâm ấn có nghĩa là thầy công nhận đệ tử đắc đạo giống ḿnh.
Ngày nay quư thầy, quư sư cô và cư sĩ Làng Mai, trước khi tấn phong làm giáo thọ cũng được làm lễ truyền đăng nhưng là một h́nh thức tâm lư để giữ chân họ chứ không c̣n giá trị tâm linh nữa. Và trong khi thọ lănh đó mỗi vị được tặng bài kệ giống như một sự công nhận, ví dụ:

TT Thích Phước Tịnh:

Phước duyên ḷng đất nở hoa
Bước trong cơi tịnh, ngồi ṭa chân như
Cánh đồng sao mọc vô dư
Đỉnh xuân hằng hữu bây giờ trăng lên.

Chị Châu Hương Sơn:

Vầng trăng trên biển bạc
Đă về ngự Hương Sơn
Sóng không sinh chẳng diệt
Mưa biển lại về nguồn.

11/ Thầy Nhất Hạnh kêu gọi ḥa hợp, bắt tay với tất cả.

Nếu các nước liên hiệp Châu Au có những yếu tố triết học, thần học và văn hóa chung làm nền tảng cho sự thực hiện cộng đồng th́ các nước Đông Nam Á chúng ta cũng có những yếu tố như thế để làm mẫu số chung. Đó là đạo Bụt, đạo Khổng, Đạo Lăo, tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên, lư tưởng đại đồng, quan điểm tam tài, ư hướng yêu chuộng ḥa hợp với thiên nhiên và nhất là sự yêu chuộng sự thảnh thơi nhàn du.

Ai cũng thấy rơ ràng trong thời đại này, không ai c̣n có thể bế quan tỏa cảng, không ai c̣n có thể đứng một ḿnh như một hải đảo nữa. Ta không thể nào cô lập trong cô lập. Ta chỉ có thể đứng thế liên lập mà thôi (Tuổi trẻ – T́nh yêu – Lư tưởng).

Lời nói như thế là nhen nhúm kêu gọi đa nguyên đa đảng chứ không phải đạo lư. Bởi v́ thầy Nhất Hạnh cho rằng: “Nhiều ư kiến vẫn hơn một ư niệm độc tôn. Nhiều thành phần chính kiến tôn giáo, xă hội đồng tâm hiệp lực xây dựng quê hương vẫn hơn một đảng phái độc quyền, bao cấp quản ly”.
C̣n đạo lư là ta thương yêu mọi người nhưng phải dẫn dắt mọi người về với Phật pháp, không phải tạo điều kiện cho kẻ xấu phát triển. Người có bản lănh là không ch́u theo cái sai của thế gian. Đôi lúc phải chấp nhận đụng chạm để thay đổi một quan điểm sai nhằm đưa đến lợi ích sau này. Có như thế lẽ phải chân lư mới được bày tỏ.
12/ Thầy Nhất Hạnh có bổn phận giải thích thật hay
những điều sư cô Chân Không đề ra có vẻ kỳ lạ.

Ví dụ:
- Sư cô Chân Không, không cho thầy Nhất Hạnh giữ điện thoại, email, tiền bạc th́ thầy phải nói đó là do “Thầy tự tại không vướng mắc”.
- Sư cô Chân Không, không cho thầy Nhất Hạnh tiếp khách th́ thầy phải nói là “Thầy được sư cô bảo hộ chu đáo”.
- Sư cô Chân Không hạn chế tất cả quyền lợi của tăng ni th́ thầy Nhất Hạnh giải thích là “Tuy không có địa chỉ hay điện thoại riêng nhưng quư thầy cô ở làng Mai chấp nhận một cách hoan hỷ. Tại v́ đó không phải là giới hạn tự do mà là một phương pháp thực tập uy nghi để bảo hộ tự do”.
- Ngoài ra sư cô Chân Không c̣n quyết định mọi kế hoạch, nhân sự và kể cả đưa ra giáo lư cho thầy Nhất Hạnh giảng dạy.
Qua những điều như vậy cho thấy sư cô Chân Không là người rất nguy hiểm, tuy là người đứng phía sau nhưng luôn chỉ đạo cho thầy Nhất Hạnh trong mọi vấn đề.

Kết luận:

Nh́n những điểm phân tích trên, ta thấy:

- Thầy Nhất Hạnh phát triển đạo Phật nhưng bỏ mất cái gốc.
- Không yêu quư tôn trọng cái gốc từ Đức phật đă dựng lập v́ có ư tự cho ḿnh không thua kém Phật.
- Không tin có Niết bàn tuyệt đối của Phật cũng như không tin có thế giới siêu h́nh.
- Có khuynh hướng ḥa đồng các tôn giáo là làm loăng đạo lư của Phật trộn lẫn giữa đúng và sai.
- Thầy Nhất Hạnh đưa “Tâm lư học” Tây phương vào trong cách giảng dạy nên đă lái đạo Phật sang hướng thực dụng hơn là chứng đạt chiều sâu tâm linh.

- Trong cách dụng công tu “Thiền” hay tưởng tượng.- Có những ư đồ thầm kín khó hiểu.
- Lệ thuộc quá nhiều vào sư cô Chân Không.

Mong các vị Tăng Ni và phật tử phải cảnh giác đừng bị những lời hoa mỹ lôi kéo, dẫn dụ đi sai đường.

Tháng 6/ 2005
Trí Thông
Cần xem “giáo lư làng mai” để đối chiếu.
http://www.thuvienhoasen.org/index-tacgia-nhathanh.htm
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Nov 12 2018, 03:28 AM
Gửi vào: #146


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 517
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Các Bài K? Tán
Thích Nguyên T?ng (s?u t?m)
H?nh C? (d?ch)
H??ng vân nhi b?
Thánh ??c chiêu ch??ng
B? ?? tâm qu?ng m?c n?ng l??ng
Xúc x? phóng hào quang
Vi tho?i vi t??ng
Ng??ng kh?i pháp trung v??ng
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát (3 l?n).


Mây h??ng th?m b?a kh?p
Thánh ??c t?a sáng ng?i
Tâm b? ?? r?ng l?n
Hào quang chi?u n?i n?i
?i?m lành hi?n tr??c m?t
Kính ng??ng ??ng Pháp V??ng
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát

Tâm nhiên ng? ph?n
Ph? bi?n th?p ph??ng
H??ng yên ??ng t? ng? ch?n th??ng
T? quán di?u nan l??ng
Tho?i ái t??ng quang
Kham hi?n pháp trung v??ng
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát (3 l?n).


Tâm th?p n?m ph?n h??ng
Bi?n kh?p c? m??i ph??ng
Trong khói h??ng nghi ngút
??ng t? ng? chân th??ng
Mùi vi di?u khó l??ng
Mây lành sáng an t??ng
Dâng cúng ??ng Pháp V??ng
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát



L? h??ng s? nhi?t
Pháp gi?i mông huân
Ch? Ph?t h?i h?i t?t diêu v?n
Tùy x? ki?t t??ng vân
Thành ư ph??ng ân
Ch? Ph?t hi?n toàn thân
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát (3 l?n).


Ḷ h??ng v?a ??t lên
Xông kh?p cùng pháp gi?i
Ch? Ph?t các pháp h?i
G?n xa th?y ??u nghe
Ch?n ch?n k?t mây lành
Tâm chí thành dâng cúng
Ch? Ph?t hi?n toàn thân
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát

Chiên ?àn h?i ng?n
L? nhi?t danh h??ng
Da Du t? m?u l??ng vô ??ng
H?a n?i ??c thanh l??ng
Chí tâm kim t??ng
Nh?t chú bi?n th?p ph??ng
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát (3 l?n).


H??ng chiên ?àn h?i ng?n
Ḷ ??t ngát mùi th?m
M? con bà Da Du
An toàn không b? n?n
Trong l?a cháy h?ng h?c
Nghe mát m? d? th??ng
Nay ?em ḷng chí thành
M?t nén th?u m??i ph??ng
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát

Diêu thiên ng?c l?
Giác h?i kim ba
??i thiên sa gi?i sái phân ?à
Tam mu?i ??ch tr?n kha
Thi?u th?y thành ?a
Nh?t ?ích t?nh s?n hà
Nam mô Cam L? V??ng B? Tát (3 l?n).


S??ng ng?c cơi tr?i xa
Sóng vàng bi?n tu? giác
T? ba ngàn th? gi?i
R?i hoa sen tr?ng ng?i
Tam mu?i r?a tr?n c?u
N??c ít bi?n thành nhi?u
M?t gi?t s?ch th? gian
Nam mô Cam L? V??ng B? Tát



D??ng chi t?nh th?y
Bi?n sái tam thiên
Tánh không bát ??c l?i nhân thiên
Pháp gi?i qu?ng t?ng diên
Di?t tôi tiêu khiên
H?a di?m hóa h?ng liên
Nam mô Thanh L??ng ??a B? Tát (3 l?n).


N??c s?ch ??u cành d??ng
R??i kh?p ??i thiên gi?i
N??c t? tánh v?n không
??y ?? tám công ??c
L?i l?c c? tr?i ng??i
R?ng vô cùng pháp gi?i
Tiêu tr? h?t t?i ch??ng
Hóa gi?i m?i oan khiên
H?m l?a hóa ao sen
Nam mô Thanh L??ng ??a B? Tát

Ki?t t??ng h?i kh?i
Cam l? môn khai
Cô h?n Ph?t t? giáng lâm lai
V?n pháp phú h??ng trai
V?nh thoát luân h?i
U ám nh?t th?i khai
Nam mô Vân Lai T?p B? tát (3 l?n).


H?i cát t??ng ?ă l?p
R?ng m? c?a cam l?
Ch? cô h?n Ph?t t?
Xin vân t?p ?àn tràng
Nghe pháp th? h??ng trai
Xa ĺa n?i t?m t?i
V?nh vi?n thoát luân h?i
Nam mô Vân Lai T?p B? Tát



A Di ?à Ph?t
Vô th??ng y v??ng
Nguy nguy kim t??ng phóng hào quang
Kh? h?i tác châu hàn
C?u ph?m liên bang
??ng nguy?n văng Tây ph??ng
Nam mô Ti?p d?n ??o s? A Di ?à Ph?t (3 l?n).


??c Ph?t A Di ?à
B?c y v??ng vô th??ng
S?ng s?ng thân s?c vàng
Phóng hào quang r?c r?
??a ng??i v??t bi?n kh?
V? chín ph?m hoa sen
Chúng con ??ng phát nguy?n
Văng sinh v? Tây-ph??ng
Nam mô Ti?p D?n ??o S? A Di ?à Ph?t

Ph?t t? qu?ng ??i
C?m ?ng vô sai,
T?ch quang tam mu?i bi?n hà sa
Nguy?n b?t ly Già da
Giáng ph??c trai gia
Kim ??i dơng liên ba
Nam mô ??ng Vân L? B? Tát (3 l?n).


Ph?t ḷng t? r?ng l?n
C?m ?ng tâm chân thành
Ánh sáng chi?u vô biên
Không r?i c?i b? ??
Ban ph??c nhà thí ch?
Túi vàng n?y hoa sen

Liên tŕ h?i h?i
Di ?à Nh? Lai
Quan Âm Th? Chí t?a liên ?ài
Ti?p d?n th??ng kim giai
??i th? ho?ng khai
Ph? nguy?n ly tr?n ai
Nam mô Liên Tŕ H?i H?i Ph?t B? Tát


N?i h?i h?i Liên-tŕ
??c Ph?t A Di ?à
Cùng Quán Âm, Th? Chí
Ng? trên ?ài hoa sen
Phát th? nguy?n r?ng l?n
Ti?p d?n chúng h?u t́nh
Nguy?n m?i loài chúng sinh
??ng văng sinh C?c-l?c
Nam mô Liên Tŕ H?i H? Ph?t B? Tát



?oan nghiêm sanh tín
Tuy?t t??ng siêu tôn
??n vong nh?n pháp gi?i ch?n không
Bát nhă v? trùng trùng
T? cú dung thông
Ph??c ??c thán vô cùng
Nam mô Bát nhă H?i th??ng Ph?t B? Tát (3 l?n).


?oan nghiêm ḷng tin kính
T??ng t?t x?ng Th? Tôn
Ngă pháp th?y ??u không
Trí bát nhă siêu vi?t
B?n câu v?n dung thông
Ph??c ??c nói không cùng
Nam mô Bát Nhă H?i Th??ng Ph?t B? Tát



Th?p nh? d??c xoa
Tr? Ph?t tuyên ho?ng
Ng? s?c th? l? k?t k? danh
Tùy nguy?n t?t viên thành
Oan nghi?p b?ng thanh
Ph??c th? v?nh kh??ng ninh
Nam mô D??c S? H?i Th??ng Ph?t B? Tát (3 l?n)


M??i hai t??ng D??c-xoa
Giúp Ph?t tuyên giáo pháp
Ch? ng? s?c gút tên
Mong c?u ??u măn nguy?n
M?i oan nghi?p tiêu tr?
H??ng ph??c th? dài lâu
Nam mô Du?c S? H?i Th??ng Ph?t B? Tát

Trí hu? ho?ng thâm ??i bi?n tài,
?oan c? ba th??ng tuy?t tr?n ai.
T??ng quang th??c phá thiên sanh b?nh,
Cam l? n?ng tr? v?n ki?p tai.
Túy li?u ph?t khai kim th? gi?i,
H?ng liên dơng xu?t ng?c lâu dài.
Ngă kim kh? th? ph?n h??ng tán,
Nguy?n h??ng nhân gian ?ng hi?n lai.
Nam mô ??i bi Quan Th? Âm B? Tát (3 l?n).


Trí tu? r?ng sâu ??i bi?n tài
??ng trên sóng n??c tuy?t tr?n ai
Ánh sáng an t??ng tr? b?nh kh?
N??c cam l? r?a s?ch n?n tai
Sau r?ng li?u cơi vàng r?ng m?
Trên hoa sen s?ng s?ng lâu ?ài
Con cu?i ??u dâng h??ng tán thán
Xin Ngài ?ng hi?n ?? muôn loài
Nam mô ??i Bi Quán Th? Âm B? Tát



??a T?ng th?p v??ng kh? ai lân
K?t án tiêu danh n?p thi?n duyên
H??ng linh tu tr??ng Nh? Lai giáo
Nguy?n b?ng Ph?t l?c văng Tây ph??ng
Nam mô Siêu L?c ?? B? Tát (3 l?n)


M??i vua ??a T?ng kh?i ḷng th??ng
Bày án nêu tên k? duyên lành
H??ng linh n??ng t?a l?i kinh giáo
Nh? Ph?t ti?p ?? v? Tây-ph??ng
Nam mô Siêu L?c ?? B? Tát

L?c niên kh? h?nh Thích Ca tôn,
Ca Di?p A Nan v?n lư ch?n.
Trung th? giang s?n ??ng b? ng?n,
Nh?t chi ng? di?p l?i nh?n thiên.
Nam mô ?? nh?n s? B? Tát (3 l?n).


Ph?t Thích Ca kh? h?nh sáu n?m
Ca Di?p, A Nan truy?n v?n d?m
Non n??c này lên ??n b? kia
M?t cành n?m lá l?i tr?i ng??i
Nam mô ?? Nhân S? B? Tát

Tr?m nh? chiên ?àn giá m?t luân
H??ng yên tài nhi?t phúng t??ng vân
Nh?n ôn bi?n tri?t tam thiên gi?i
Vi tho?i vi t??ng ??t Th? Tôn
Nam mô H??ng cúng d??ng B? Tát (3 l?n).


B?t tr?m h??ng v?a ??t
Khói xông áng mây lành
T?a ba ngàn th? gi?i
Cúng d??ng ??c Th? Tôn
Nam mô H??ng Cúng D??ng B? Tát



Ph?t thân thanh t?nh t? l?u ly,
Ph?t di?n do nh? măn nguy?t huy.
Ph?t t?i th? gian th??ng c?u kh?,
Ph?t tâm vô x? b?t t? bi.
Nam mô Th?p ph??ng th??ng trú Tam b?o (3 l?n).


Thân Ph?t trong s?ch nh? l?u li
M?t Ph?t tṛn ??y nh? tr?ng r?m
Ph?t tr?i ḷng t? kh?p n?i ch?n
C?u kh? muôn loài ? th? gian
Nam mô Th?p Ph??ng Th??ng Trú Tam B?o

Gi?i h??ng, ??nh h??ng d? hu? h??ng,
Gi?i thoát gi?i thoát tri ki?n h??ng.
Quang minh vân ?ài bi?n pháp gi?i,
Cúng d??ng th?p ph??ng vô th??ng tôn.
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát (3 l?n).


H??ng gi?i, h??ng ??nh, cùng h??ng tu?
H??ng gi?i thoát, h??ng bi?t gi?i thoát
?ài mây sáng t?a cùng pháp gi?i
Cúng d??ng Ch? Ph?t kh?p m??i ph??ng
Nam mô H??ng Vân Cái B? Tát


Ph?t di?n do nh? t?nh măn nguy?t,
Di?c nh? thiên nh?t phóng quang minh.
Viên quang ph? chi?u ? th?p ph??ng,
H? x? t? bi giai c? túc.
Nam mô B?n s? Thích Ca Mâu Ni Ph?t (3 l?n).


M?t Ph?t nh? tr?ng r?m
Nh? ánh sáng m?t tr?i
Chi?u soi kh?p m??i ph??ng
?? t? bi h? x?
Nam mô B?n S? Thích Ca Mâu Ni Ph?t



Ph?t nhi?p kim liên h? th?u phong,
Thi?n Tài tham l? giác thành ?ông.
Liên Hoa T?ng gi?i phi vô l?,
?âu Su?t ?à thiên bi?t h?u cung.
Nam mô Th?p ph??ng th??ng trú Tam b?o (3 l?n).

Ph?t ng? ṭa sen vàng
H? giáng ??nh Linh-s?n
Thi?n Tài l? tham v?n
Th? gi?i Liên-hoa-t?ng
???ng r?ng m? thênh thang
N?i cơi tr?i ?âu-su?t
B?-tát có cung riêng
Nam mô Th?p Ph??ng Th??ng Trú Tam B?o



Kh? th? Tây ph??ng an l?c qu?c,
Ti?p d?n chúng sanh ??i ??o s?.
Ngă kim phát nguy?n nguy?n văng sanh,
Duy nguy?n t? bi ai nhi?p th?.
Nam mô Liên Tŕ h?i th??ng Ph?t B? Tát (3 l?n).


Cúi ??u ??nh l?
??ng ??i ??o S?
? n??c C?c-l?c
Ti?p d?n chúng sinh
Con nay phát nguy?n
Nguy?n ???c văng sinh
Xin ??c T? Bi
Xót th??ng ti?p ??
Nam mô Liên Tŕ H?i Th??ng Ph?t B? Tát

Ph?t nhi?p kim liên h? th?u phong,
Pháp khai b?o t?ng ly long cung.
T?ng tùng n?i uy?n bi?t thuy?n ??nh,
Tam b?o lâm ?àn pháp h?i ??ng.
Nam mô Th?p ph??ng th??ng trú Tam b?o (3 l?n).


Ph?t ng? ṭa sen vàng
H? giáng ??nh Linh-s?n
Kho báu Long-cung m?
Pháp b?o ???c tuyên d??ng
T?ng-già tâm th??ng ??nh
Ḍng pháp v?n n?i truy?n
Ba Ngôi Báu hi?n ti?n
??o tràng th??ng nghiêm t?nh
Nam mô Th?p Ph??ng Th??ng Trú Tam B?o



Ngă kim ph?ng hi?n cam l? v?,
L??ng ??ng Tu Di vô quá th??ng.
S?c h??ng m? v? bi?n h? không,
Duy nguy?n t? bi ai n?p th?.
Nam mô Thuy?n Duy?t T?ng B? Tát (3 l?n).


Con xin dâng cúng v? cam l?
Dù núi Tu-di c?ng không h?n
Mùi th?m, v? ngon kh?p h? không
Xin ??c T? Bi th??ng n?p th?
Nam mô Thi?n Duy?t T?ng B? Tát



B? Tát li?u ??u cam l? th?y,
N?ng linh nh?t ?ích bi?n th?p ph??ng.
Tinh chuyên c?u u? t?n quyên tr?,
Ph? sái pháp diên t?t thanh t?nh.
Nam mô Cam l? v??ng B? Tát (3 l?n)


N??c cam l? ??u nhành d??ng li?u
M?t gi?t bi?n kh?p c? m??i ph??ng
Bao nhiêu c?u u? ??u r?a s?ch
??o tràng ?ây thanh t?nh trang nghiêm
Nam mô Cam L? V??ng B? Tát



L?c t? Di ?à vô bi?t ni?m,
B?t lao ?àn ch? ?áo Tây ph??ng.


Ch? sáu ch? Di ?à
Không có ni?m nào khác
Không phí công lao nh?c
Sát na ??n Tây-ph??ng

B?ch ng?c giai ti?n v?n di?u pháp,
Hu?nh kim ?i?n th??ng l? Nh? Lai.


Ng?i tr??c th?m ng?c tr?ng
Nghe giáo pháp nhi?m m?u
Trong b?o ?i?n hoàng kim
Con ??nh l? Nh? Lai


S?n trung t? h?u thiên niên th?,
Th? th??ng nan l?u bách tu? nh?n.


? sâu trong r?ng núi
Có c? th? ngàn n?m
Trong ??i s?ng th? nhân
Khó có ng??i tr?m tu?i


Thiên giang h?u th?y thiên giang nguy?t,
V?n lư vô vân v?n lư thiên.


Sông dài ngàn d?m tr?ng ngàn d?m
Không mây che t?c hi?n tr?i xanh


M?t trúc b?t pḥng l?u th?y quá,
S?n cao vô ng?i b?ch vân phi.


Trúc kín không ng?n ḍng n??c ch?y
Núi cao mây tr?ng v?n bay qua

?ông ph??ng A Súc Ph?t,
Nam ph??ng B?o T??ng Ph?t,
Tây ph??ng Di ?à Ph?t,
B?c ph??ng Thành T?u Ph?t,
Trung ph??ng T? Lô Giá Na Ph?t.


??c Ph?t A Súc ? ph??ng ?ông
??c Ph?t B?o T??ng ? ph??ng Nam
??c Ph?t Di ?à ? ph??ng Tây
??c Ph?t Thành T?u ? ph??ng B?c
??c Ph?t T́ Lô Giá Na ? trung ??ng



Vi?n quan s?n h?u s?c,
C?n thính th?y vô thanh.
Xuân kh? hoa th??ng t?i,
Nh?n lai ?i?u b?t kinh.


Nh́n xa núi có màu
Nghe g?n n??c không ti?ng
Xuân ?i hoa c̣n ?ó
Ng??i ??n chim không s?



Ái hà thiên xích lăng,
Kh? h?i v?n trùng ba.
D?c thoát luân h?i kh?,
T?o c?p ni?m Di ?à.


Sông ái dài ngàn d?m
Bi?n kh? sóng muôn trùng
Mu?n thoát ṿng sinh t?
Hăy g?p ni?m Di ?à



D??ng T? giang tâm th?y,
Mông S?n ??nh th??ng trà.
H??ng linh tam ?m li?u,
T?o sanh pháp v??ng gia.


N??c gi?a sông D??ng-t?
Pha trà ??nh Mông-s?n
H??ng linh u?ng ba tu?n
Sinh vào nhà Pháp v??ng



C?n y tam th?a giáo,
X??ng t?ng th?t Nh? Lai.
H??ng linh th?a Ph?t l?c,
Thoát hóa b?o liên ?ài.


N??ng giáo pháp ba th?a
X?ng t?ng b?y ??c Ph?t
H??ng linh nh? Ph?t l?c
Hóa sinh lên ?ài sen


Ki?n v?n nh? huy?n u?,
Tam gi?i nh??c không hoa.
V?n ph?c ? c?n tr?,
Tr?n tiêu giác viên t?nh.


Th?y nghe nh? huy?n m?ng
Ba cơi nh? không hoa
?i?u ph?c tâm tan m?ng
S?ch b?i tr?i trong xanh


Hoa Nghiêm b?o di?n,
Lâu các môn khai.
Chung ti?n Tri?u Châu trà,
H??ng linh quy kh? lai.


Cơi Hoa-nghiêm hi?n l?
C?a lâu ?ài r?ng m?
H?t tu?n trà Tri?u-châu
H??ng linh v? cơi Ph?t.



S? ch??c Tào Khê th?y,

Tam hu?nh Tri?u Châu trà.
Nguy?n ti?m hinh pháp v?,
Quy kh? pháp v??ng gia.


Tr??c rót n??c Tào-khê
Sau châm ba tu?n trà
Xin th?m nhu?n pháp v?
Tr? v? nhà Pháp v??ng.



H??ng tài nhi?t,
L? ph?n b?o ??nh trung,
Chiên ?àn tr?m d? ch?n kham cúng,
H??ng yên liêu nhi?u liên hoa ??ng,
Ch? Ph?t B? Tát h? thiên cung,
Thiên Thai s?n La Hán,
Lai th? nh?n gian cúng.
Thiên Thai s?n La Hán,
N?p th? nh?n gian cúng.
Nam mô H??ng cúng d??ng B? Tát (3 l?n).


L? báu tr?m h??ng xông ngát
Cúng d??ng Ch? Ph?t m??i ph??ng
Khói h??ng quy?n ??ng sen vàng
Cúi xin t? bi n?p th?
Nam mô H??ng Cúng D??ng B? Tát




Quang minh chính ??i
C?m ?ng ??o giao.
Th?n t? minh ph??c nghi?p b?ng tiêu
Ph?t nh?t v?nh chiêu chiêu
L?i ích phong nhiêu
Tán thán qu? cao siêu


Ngay th?ng rơ ràng
C?m ?ng su?t thông
Th?n thái sáng t??i
Ph??c t? nghi?p tiêu
M?t tr?i trí tu? h?ng sáng r?
L?i ích d?i dào qu? cao siêu.



T? ho?ng ph? b?
V?n ??c công viên
Cao siêu Th?p ??a vi?t Tam hi?n
Qu? h?i ngh?ch l?u
Tuy?n bi nguy?n di kiên
Ti?p v?t l?i nh?n thiên


B?n nguy?n l?n ??y ??
Muôn công ??c trang nghiêm
V??t Ba-hi?n lên M??i-??a
Ng??c ḍng ??i qua b? kh?
Tâm t? bi kiên c?
Làm l?i ích tr?i ng??i

M?ng ?o?n s?n ??u vân y?u y?u,
T? thù h?i h??t th?y tu du.

Ngă kim y giáo ki?n l?p m?ng hoa tai
L??ng ??ng h? không kim cang vi b?o ??a

Th?n thông du hư
Hóa ??o vô duyên
T? bi ph? t? b?t thân uyên
Giác ?? qu?n ho?ng tuyên
Di?u d?ng chiêu nhiên
??n ch?ng l? kim tiên


V? l?ng kh?ng t??c thi?t châu trà,
Thanh th?y h??ng tuy?n h? phách ba.
Phân khí ng?c bôi ph??ng phúc úc,
Cúng d??ng Hi?n Thánh h? thi?n ?a.
Nam mô Ph? cúng d??ng B?Tát (3 l?n).

SÁM NGĂ NI?M

H?nh C? d?ch

Kính l?y Ph?t! Con t? vô l??ng ki?p,

Mây vô minh che l?p tánh viên minh,

T?o bao vi?c ác, b? h?t vi?c lành,

Quanh qu?n luân h?i, vào ra sinh t?,

??i xác thay h́nh, bi?t bao kh? s?!

Nh? chút duyên lành ??i tr??c, nay ???c làm ng??i;

May g?p ng?n gió thanh l??ng, ĺa b? thói ??i,

C?o râu tóc, m?c ca sa, vào ḍng Thích t?.

Nh?ng l?i buông lung theo ???ng ác c?,

T?o nhi?u t?i l?i: phá gi?i ph?m trai,

Sát sinh h?i v?t không chút bi hoài,

Th?t cá tanh hôi nuôi thân b?n th?u,

L?m d?ng c?a Tam B?o,

Tham lam l?y c?a ng??i,

Nghi?n r??u, ??m s?c, mê m?i ch?i b?i,

S?ng măi ???ng tà ḷng không nhàm chán;

B?i ngh?a, vong ân, coi th??ng s? tr??ng,

H?y báng Kinh Pháp, khinh Ph?t, m? T?ng;

Hay ?? k?, chèn ép k? tài n?ng,

Dùng l?i ngoa, khoe khoang ḿnh cao ??c;

Giành gi?t l?i danh, d?i ng??i chân th?t,

H?n thua nhân ngă, tranh căi th? phi;

B? ngoài gi? d?i hi?n t??ng oai nghi,

Th?t t? bên trong ngông cu?ng ng?o m?n;

Suy ngh? l?ng nh?ng tâm luôn tán lo?n,

Ư tà ni?m ác c? măi loay hoay,

Chuy?n ng??i bàn tán ph?n kh?i h?ng say,

Ni?m Ph?t t?ng kinh dùng d?ng u? o?i,

Bi?ng nhác tu hành, ch? ham ng? ngh?,

Tham lam b?n s?n không bi?t th?n thùng;

Ru?ng hoang m?m m?c ch?ng có ch? dùng,

Thây n?i ??i d??ng, trôi không d?ng ngh?.

B?n thân không m?y may ph??c trí,

Ch?c ch?n ph?i ch?u kh? ba ???ng.

Con cúi xin n?i C?c-l?c Tây-ph??ng,

Ph?t Di ?à cùng Quán Âm, Th? Chí,

Phóng quang uy nghi chi?u soi tr?n th?,

C?u con t? vô th? ki?p ??n nay,

Sáu c?n nghi?p ch??ng sâu d?y,

Sát na di?t h?t t?i này s?ch không;

Nguy?n cùng pháp gi?i ??i ??ng,

Viên quang thanh t?nh d?t ṿng t? sinh.





Sám Ngă Ni?m

Ngă ni?m t? tùng vô l??ng ki?p,

Th?t viên minh tánh tác tr?n lao,

Xu?t sanh nh?p t? th? luân h?i,

Di tr?ng thù h́nh tao kh? s?,

Túc ? thi?u thi?n sanh nh?n ??o,

Ho?ch ng? di phong ??c xu?t gia,

Phi truy, t??c phát lo?i Sa môn,

H?y gi?i, phá trai ?a quá ho?n,

Ho?i sanh, h?i v?t vô t? ni?m,

??m nh?c, san huân d??ng u? xu,

Chúng nh?n tài v?t t? sâm măn,

Tà m?ng, ác c?u vô y?m túc,

?am dâm, th? t?u d? hoàng mê,

M?n Ph?t, khinh T?ng, báng ??i th?a,

B?i ngh?a vô thân h?y s? tr??ng,

V?n quá s?c phi d??ng k? ??c,

Ho?ch tai l?c h?a y?m tha n?ng,

H? cu?ng khi v?u c?nh l?i danh,

??u c?u th? phi tranh nh?n ngă,

Ác ni?m tà t? vô t?m t?c,

Kinh phú tr?o tán v? th??ng ?́nh,

Truy phàm nh?n s? d? tinh chuyên,

Tŕ t?ng Ph?t kinh duy kh?n kh?,

Ngo?i hi?n oai nghi t?ng si?m trá,

N?i hoài ngă m?n cánh s? cu?ng,

L?i ??a huân tu t? thùy manh,

Xan t?t, tham lam vô úy s?,

Dă ?i?n u? b?n t??ng hà d?ng,

??i h?i phù thi b?t c?u ?́nh,

Kư vô nh?t ni?m kh? t? thân,

T?t ??a tam ?? oanh chúng kh?,

Ng??ng nguy?n B?n s? Vô l??ng th?,

Quán âm, Th? chí, Thánh hi?n t?ng,

??ng tri?n oai quang ph? chi?u lâm,

C?ng t? minh gia hàm c?u b?t,

Vô th? kim sanh ch? t?i ch??ng,

L?c c?n, tam nghi?p chúng khiên v?u,

Nh?t ni?m viên quang t?i tánh không,

??ng ??ng pháp gi?i hàm thanh t?nh.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

8 Pages: V « < 6 7 8
Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 19th March 2019 - 05:08 PM