IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN, Tác Giả: NGUYỄN VĂN DY VÂN
BenTreHome
post May 17 2019, 07:31 AM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



QUOTE


www.bentrehome.net/forums (BTH) hân hạnh giới thiệu:

Tác phẩm ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN, một Tự Truyện của Cựu Thiếu Tá Thiết Giáp Binh-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa NGUYỄN VĂN RĂNG, anh tốt nghiệp khóa 19 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Hiện định cư tại tiểu bang Georgia Hoa Kỳ theo diện HO năm 1993.

Anh là cựu học sinh Trung Học Kiến Hòa vừa do duyên cơ, tìm gặp được sau 56 năm xa trường xưa bạn cũ.

BTH chào mừng anh và giới thiệu cùng các bạn chúng ta và khách truy cập


Thay BTH: NhàQuê/Trần Bình Trọng

Connecticut, May 17, 2019


Sau đây là email liên lạc với anh sau 2 lần điện thoại



++++++++++++++++


Anh Trọng thân mến,

Trước cho hỏi thăm và chúc anh và gia đình luôn mạnh khoè và bình yên.

Cám ơn anh đã liên lạc với tôi tháng qua, cùng học chung trường mà chẳng biết nhau là đièu đáng tiếc.. Sang đây chỉ quẫn quanh trong Bang mình ở nên khó bắt liên lạc được bạn bè. Ai cũng có điều riêng tư và cuộc sống, nếu không có người nói lên thì cũng chỉ còn gặp nhau trong vô tình mà thôi.

Nghĩ hưu những 10 năm nay cũng ít đi đâu, phần thì gia đình vợ yếu con đau thêm vào sức khoẻ không còn như xưa nên chịu phép quẫn quanh..

Viết lách để làm vui, thỉnh thoảng mới được vài câu chuyện cùng bạn bè nhưng bạn bè thì ngày cũng ra đi. Sự cô đơn có lẽ cũng là nỗi buồn ít ai mong muốn, nhưng nó cũng đã tới.

Năm rồi thấy cũng chút rỗi rãi, ôn lại chút đời, ngồi viết lại chuyện đời mình coi trí nhớ còn giữ lại được gì trên từng bước chân mình được bao nhiêu. Cũng mỏi mệt thật mới moi ra đươc và viết, in nên được tập truyện nầy, Nghĩ rằng qua anh tôi muốn gữi đến quý bạn đồng hương tỉnh nhà rỗi rang hiểu thêm về số phận cùng những bước chân sau cùng của đời lính chiến..

Thỉnh thoảng mong những khi nhàn rỗi, dịp nầy mình trò chuyện cùng nhau , trao đổi thêm những gì chưa biết..
Cho tôi thăm hỏi những bạn hữu nào nhớ ra tôi mà tôi đã vô tình quên mất..
Cầu chúc anh thật manh khoẻ và vui nhiều.

RANG NGUYEN.

Attach tập sách Đâu bóng Thiên Thần.






Liên lạc Tác giả Nguyễn Văn Dy Vân

honghuynh521@gmail.com

(404) 428-4652

*****

Liên lạc Nhà xuất bản Nhân Ảnh

han.le3359@gmail.
















ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN

Tập truyện ngắn Nguyễn Văn Dy Vân

Bìa: Khánh Trường

Trình bày: Lê Hân

Kỹ thuật: Tạ Quốc Quang

Nhân Ảnh Xuất Bản 2018


ISBN: 978-1927781494

Copyright © 2018 by Nguyen Van Dy Van


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 07:38 AM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



MỞ ĐẦU

Nguyễn Văn Dy Vân

Ký ức là nơi lưu trữ mọi diển biến xảy ra trong đời, có khi rất đẹp, cũng có khi lắm phải đau buồn và chẳng trùng lặp cùng ai.

Tập tự truyện này chỉ ghi lại một phần những gì mà tác giả đã trải qua trong một giai đoạn chiến đấu chống lại những mưu toan của cộng sản trong vùng, mà Việt Nam ta lại nằm trong tầm ngắm trước tiên trong ý đồ và sách lược của khối cộng, do Liên Xô và Trung cộng lãnh đạo.

Sinh ra đúng thơì điểm đất nước bị đặt trong hoàn cảnh đau khổ như thế, thanh niên miền Nam có chút lòng với quê hương và dân tộc đều có chung một cảm nghĩ không thể nào sống chung với chủ nghĩa cộng sản được vì chủ trương và cương lĩnh của họ rõ ràng đã nói đảng là trên hết, Tổ quốc hay dân tộc chỉ là những gì xa xỉ mà người cộng sản phải biết và hiểu rõ.

Nếu nói bọn Cộng sản là bọn vô thần, vô gia đình và vô Tổ quốc thì cũng không sai. Lê Duẩn tên Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, năm 1981 đã cho chích Heparin giết chết đứa con gái của hắn là Lê Vũ Anh đi du học tại Liên Xô, đã lấy Viktor Maslov Viện Sĩ Hàn lâm Nga, trong cuộc đấu đá, cạnh tranh quyền lực với đối thủ chính trị Trường Chinh để khỏi bị đồng Đảng chỉ trích truất quyền mà hắn đề ra.

Trường Chinh cũng thế, chủ tọa trong buổi đấu tố Bố Mẹ của hắn trước công chúng để làm gương trong Đảng.

Danh vọng và bạc tiền, đến đâu đi nữa, rồi cũng về cùng giun dế, với thân phận bán nước, đánh thuê...

Ngồi ghép lại những mảnh đời, một thảm trạng của cuộc chiến đã qua, trên những tình tiết, một phần nhỏ trong đời chinh chiến được lồng vào trên từng câu chuyện, của từng đoạn đường trước và sau cuộc chiến mà tác giả đi qua. Gian khổ hay buồn vui, đời lính chiến có thế!.... chỉ có biết hiến dâng hơn là nhận lấy.

Với lối hành văn đơn sơ của người miền Nam, có khi chữ nghĩa diễn đạt không hợp với chuyện kể, cùng những phần trích đoạn từ những tác phẩm khác đưa vào từng câu chuyện có khi không cần thiết hoặc thừa thãi, rất mong được bỏ qua.

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 07:44 AM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



Mục lục

1/- Mạng người... 11
2/- Cũng một lối đi 23
3/- Vòng đồi- Khánh Dương 45
4/- Vùng DMZ 67
5/- Những bức chân dung 83
6/- Đâu bóng Thiên Thần 107
7/- Bóng tối đi qua 191
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 07:53 AM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





MẠNG NGƯỜI


Tham vọng chồng chất tham vọng, một luồng cộng sản tràn xuống Á châu, bước chân xâm lược của chúng gieo rắc biết bao đau thương cho người dân bản xứ với hằng núi căm hờn! Sau chiến tranh Triều Tiên đến Việt Nam, xứ sở đau khổ này lại rơi vào tầm nhắm của bọn Quốc tế cộng sản. Hiệp Định Genève là dịp cho bọn đế quốc cùng nhau phân tranh, cả nửa phần phía Bắc cộng sản giành lấy, thế mà bọn chúng vẫn thấy chưa đủ.

Chỉ mấy năm sau chúng tự tung tiến hành ngay việc khủng bố, võ trang, mưu đồ đánh chiếm luôn miền Nam như đã thấy. Thế chiến thứ II chấm dứt, Đông Âu nằm gọn trong tay trùm cộng sản Stalin, là vùng trái độn an toàn của Liên xô cùng Tây Âu. Ngay sau đó tay trùm Cộng sản này tiến hành ngay việc mở rộng ảnh hưởng xuống vùng châu Á.

Ngược về Liên Xô, sau khi cướp được chính quyền năm 1917, ổn định xong một phần tình hình trong nước Lenin và đảng Cộng Sản Nga của ông ta chủ trương thực hiện ngay việc bành trướng ra nước ngoài.
Nguyên vào thế kỷ 19, nước Nga đã chậm chân hơn các nước Âu Mỹ trong việc tìm chiếm thuộc địa trên thế giới. Nên khi Lenin nắm được chính quyền Nga, tham vọng đầu tiên của ông ta là đưa chủ nghĩa Cộng Sản ra truyền bá, khuyến khích cùng giúp các nước đang bị Thực dân phương Tây chiếm đóng đứng lên chống lại bọn đế quốc này, hầu gở tay chúng giành lại cho mình.
Kế hoạch xuất cảng cách mạng của Nga hấp dẫn ở chỗ khích động tinh thần dân tộc, kêu gọi các nước bị ngoại bang đô hộ đứng lên tranh đấu giành độc lập.
Dân tộc nào lại không muốn thoát khỏi ách đô hộ của thực dân, nên đã tập họp dưới tay khối xã hội chủ nghĩa, do Liên Xô lãnh đạo chống lại bọn đế quốc để giành lại độc lập. Sau khi đánh bật Tưởng Giới Thạch ra khỏi Trung Hoa lục địa, Mao và Stalin nghĩ ngay đến vùng bán đảo Triều Tiên, mặc dù trước đó Stalin đã cùng với Phía Mỹ thỏa thuận nhau dùng vĩ tuyến 38 làm lằn ranh chia đôi hai miền Nam Bắc Triều Tiên...
Tham vọng của Stalin về bán đảo Triều Tiên, là vì vùng đất này rất nhiều khoáng sản, kim loại quý, nhất là quặng Monazite, loại quặng có chứa chất phóng xạ dùng để chế tạo bom hạt nhân.
Ngay những ngày đầu của năm 1945 trên đất Triều Tiên các quan chức của Liên Xô đã phát hiện ra quặng Monazite và đã được chuyển vận về LX phân tích.
Tháng 3 năm 1949, Đại sứ Liên Xô Styukov đã hối thúc Stalin nhanh chóng khai thác các mỏ khoáng sản quý này, nhất là Tatalum, Niobium, đặc biệt là quặng Monazite mà Liên Xô rất cần để chế tạo vũ khí nguyên tử hầu mong chiếm ưu thế với Mỹ về loại vũ khí chiến lược này. Quặng Monazite là một cơ hội mà Liên Xô nhất định phải chiếm lấy.

Chiến tranh Triều Tiên xảy ra không như mong muốn, đã một phần làm cản trở tham vọng lớn của Stalin

Hắn ta đã chỉ đích thị Hồ tiến hành đánh phá xuống vùng Đông Nam Á để trả hận Mỹ tại Triều Tiên......

Hồ cuối đầu nhận ngay lệnh này của Stalin trước mặt Mao để sau đó đi đến chiến trận Điện Biên Phủ....

Phía Mỹ thì cũng chẳng phải chậm trễ, và với Học Thuyết Domino, nhảy ngay vào với Pháp chặn ngay ý đồ này của cộng sản, mưu toan tràn xuống vùng Đông Nam Á...


Hiêp định Genève ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 chia đôi nước Việt Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới giữa hai miền. Nửa phần phía Bắc thuộc cộng sản Hồ Chí Minh, nửa phần còn lại phía Nam thuộc Việt NamCH. Âm mưu chia cắt này là chủ trương của bọn Hán, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tiến hành đưa binh lính cùng vũ khí Tàu sang chỉ huy trận chiến để giành chiến công.

Mọi chỉ đạo và thương thảo đều do bàn tay Trung cộng sau lưng. Chia đôi trước tiên là làm suy yếu đi tiềm lực Việt Nam, hầu về sau này dễ dàng thôn tính... Ngay những ngày đầu thi hành hiệp định, Hồ chí Minh được lệnh cho ém người và cán binh chủ chốt ở lại miền Nam để còn tiến hành cuộc chiến tranh khác, chiếm nốt miền Nam.
Thế là miền Nam lại chịu trong cảnh chiến tranh, cả hai miền Nam Băc lại đi vào đường tiêu diệt nhau. Miền Nam cương quyết chiến đấu để tồn tại.
Năm 1960 bọn Bắc nôn nóng tiến hành dựng lên “Mặt trân giải phóng miền Nam,”dù vẫn chưa có sự đồng ý của Nga Tàu. Chúng cho tiếp tục các cuộc khủng bố, giết chết hàng loạt các viên chức chính quyền xả ấp trên hầu hết các tỉnh từ giới tuyến 17 trở vào bằng những chiếc mã tấu và cuốc xẻng một cách dã man cho người người khiếp sợ. Dựng lên phong trào Đồng khởi tại Bến tre, hàng ngày buộc các phụ nữ miền quê phải lên tỉnh thành biểu tình đòi hỏi, gây rối vơí những yêu sách vô lý…
Ngay những ngày đầu cướp được chính quyền, Lenin đã uỷ nhiệm lệnh cho thuộc hạ thẳng tay tiêu diệt bất cứ ai chống lại họ. Và hàng trăm ngàn, hàng triệu người dân Nga đã bị giết chết khi Lenin cùng đảng Bolshevik của ông ta tiến vào chiếm Moscow trong tháng 11 năm 1917. Với chủ trương dùng bạo lực trấn áp, hành quyết và đẩy vào tù hầu hết bất cứ phần tử nào đi ngược với đường lối thống trị của họ.

Lenin là hung thần của dân Nga. Sau Lenin thì là đồ tể Stalin, với bàn tay hắn ta, đã hành quyết hầu hết người nào có ý tưởng đối nghịch, kể cả người trong đảng và ngay trong hàng ngủ bộ chính trị của ông ta...
Cộng sản là thế, thì tên Việt Cộng nào của Hồ chí Minh cũng sẽ là như thế khi họ chiếm được miền Nam.
Đám tôi mọi Mặt Trận Giải Phóng / MN, bọn khoa bảng, đầu óc xơ cứng, thừa thải trong miền Nam không ai ngó ngàng tới này, được vài lời hứa hẹn hoa mỹ, là hám ngay. Danh lợi đã làm bọn này mờ mắt, vất bỏ cả lương tri chạy theo chúng, rồi cũng bị chúng vứt ra chẳng chút đoái hoài, may mà không bị chúng đập đầu thủ tiêu hay tù đày đến chết một cách âm thầm như những tên ngu xuẫn khác trước đây...
Cộng sản loại hình thái Lenin là dùng bạo lực trấn áp để bảo vệ thành quả. Dù là thành phần nào, nếu thể hiện lên tư tưởng đối nghịch thì, hoặc là phải giết đi hoặc đẩy vào nhà tù.... Ông ta cho thiết lập:
• Thứ Nhất: Các trại tù lao động khổ sai ở những vùng khí hậu khắc nghiệt (Siberia), ăn uống thiếu thốn, bệnh tật không thuốc men, kiệt sức rồi chết. Các trại tù này được thành lập từ năm 1919, giam giữ bất cứ ai chế độ thấy cần phải giam giữ mà không cần phải có bằng cớ về tội phạm.
• Thứ hai: Giết người tập thể bằng cách tạo ra nạn đói là một vũ khí để đạt được những mục tiêu khủng bố chính trị. Ông ta là cha đẻ của hộ khẩu, nắm hầu hết các phương tiện sản xuất. Đây là cách “cai trị bằng cách nắm bao tử”.
• Thứ ba: Hành quyết. Trong thời đại Lenin, giết người bằng cách hành quyết đóng vai trò quan trọng hơn là bắt giam để đối tượng chết dần chết mòn trong các trại tù lao động khổ sai. Công an, mật vụ là lực lượng chính thực hiện việc giết người kiều này và đã tạo ra thời kỳ “kinh hoàng đỏ”dưới triều đại của Lenin.
Người ta không biết đích xác con số nạn nhân là bao nhiêu, tuy nhiên con số ước lượng là từ 100 ngàn đến nửa triệu người đã bị hành quyết trong 4 năm Lenin cầm quyền. Với những cách giết người vừa kể, những nạn nhân của Lenin thuộc thành phần nào?
Trong chính trị, định nghĩa “kẻ thù”luôn luôn là điều quan trọng. Phúc Âm có câu “Ai không đứng chung với ta là chống lại ta”. Lenin đi xa hơn và dứt khoát hơn: “Ai chống lại ta thì phải chết”, và ông ta đã thực hiện điều này trên toàn xã hội Liên Xô…
Những lời hô hào đấu tranh cho nông dân, cho giai cấp vô sản, tiêu diệt tầng lớp tư sản, nhưng nông dân lại chính là thành phần nạn nhân bị giết dưới tay ông nhiều nhất.
Kẻ thù của ông không chỉ là chế độ cũ, giới quý tộc, giới tư sản hay sĩ quan quân đội của chế độ cũ, mà là tất cả những ai chống lại chính sách của Bolsheviks.
Ai có tư tưởng chống đối là lập tức bị liệt vào thành phần “tư sản”. Đối với Bolsheviks, bất cứ ai gây cản trở cho quyền lực tuyệt đối của họ, bất kể thành phần xã hội nào cũng đều là “tư sản” phải bị tiêu diệt.
Một đặc điểm “độc đáo”khác của Lenin là ông ta vô cùng thù ghét giới trí thức. Ngày 6/9/1919, sau việc vài chục trí thức bị bắt, trong lá thư gửi Lenin, Gorky, một ký giả và sử gia của Nga, đã cho rằng giới trí thức là tinh hoa, là sức mạnh của dân tộc, do đó cần phải đối xử với giới trí thức cho đàng hoàng. Tiêu diệt trí thức là tiêu diệt bộ óc của đất nước. Lenin đã trả lời thư đó như sau: “Thật là sai lầm khi so sánh sức mạnh trí tuệ của dân tộc với sức mạnh trí tuệ của đám trí thức tư sản. Sức mạnh trí tuệ của công nhân và nông dân sẽ phát triển trong cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp tư sản và đám đệ tử trung thành của chúng.
Lũ trí thức hạng hai và bè lũ tay sai của chủ nghĩa tư bản tưởng chúng nó là bộ óc của đất nước. Không, chúng nó không là bộ óc của đất nước, chúng nó chỉ là những”cục phân”. Người ta vẫn thường lầm tưởng rằng Mao Trạch Đông là người xem trí thức như cục phân.
Qua lá thư vừa nêu thì chính Lenin mới là người đầu tiên có sự so sánh như thế. Ngày 18 tháng 6 (1 tháng 7 Nga), đảng Menshevik và xã hội cách mạng đã âm mưu tổ chức nên một cuộc biểu tình quần chúng để biểu dương lực lượng, nhưng đảng Bolshevik theo chỉ thị của ông ta, đã tham gia cuộc biểu tình này và biến nó thành cuộc biểu tình ủng hộ đường lối đảng Bolshevick với các khẩu hiệu: “Đả đảo chiến tranh”, “Tất cả chính quyền về tay các xô viết”.
Hồ Chí Minh nhận Lenin làm sư Tổ là vậy, Hắn cũng đã lợi dụng: Ngày 17-8, tổng hội công chức tổ chức cuộc mít-ting tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, nhằm ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Trong khi các diễn giả đang nói chuyện, thì tên Trần Lâm ( tức Trần Quang Vân đảng viên Cộng Sản) ở trên lầu quăng xuống một lá cờ đỏ sao vàng của đảng Cộng sản.. Thế là người của Hồ Chí Minh trà trộn trong hàng ngủ người mit-ting chộp lấy và giương cao lá cờ này lên và xách động đẩy mọi người cùng nhau theo người dẫn đầu, biểu tình ủng hộ Công sản…
Ngày 19-8, Nhóm cộng sản tổ chức tiếp cuộc biểu tình, chiếm Bắc Bộ Phủ (Phủ Toàn Quyền Pháp cũ), cướp chính quyền Hà Nội. Có thể nói nhóm Cộng sản Hồ Chí Minh làm chủ được Hà Nội từ ngày 20-8-1945, nhưng những cuộc bạo động vẫn tiếp diễn.
Bạo động bắt nguồn từ cả hai phía: Bạo động của cộng sản tiêu diệt những phần tử đối kháng; bạo động của những đảng phái đối lập thì chống lại Cộng sản xảy ra nhiều nơi.
Tại Hà Giang, Vĩnh Yên và Hà Đông, đảng cộng sản gặp sự kháng cự mạnh mẽ của các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ngày 21-8-1945, Hồ Chí Minh cho vận động các đoàn thể họp mít-ting tại Hà Nội. Cuộc mít-ting lập ra một kiến nghị gồm ba điểm:

1) Yêu cầu vua Bảo Đại ở Huế thoái vị và giao quyền cho một chính phủ lâm thời do mặt trận Việt Minh thành lập.

2) Yêu cầu tất cả các đảng phái thảo luận để lập chính phủ lâm thời.

3) Yêu cầu tất cả các đảng phái, các tầng lớp dân chúng ủng hộ chính phủ lâm thời để củng cố nền độc lập quốc gia.
Khi ấy, Nhật Bản đầu hàng, quân đội Nhật tại Đông Dương hạ võ khí, rút lui vào các căn cứ quân sự, chờ ngày bị giải giới, để cho người Việt tự do hành động trước khi quân đồng minh có mặt. Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim không có Bộ Quốc Phòng, không có một lực lượng võ trang nào để giữ gìn an ninh. Thời gian này là cơ hội thuận tiện cho lực lượng Việt Minh tung hoành, không bị ai chặn đứng.
Ngoài sự giúp đỡ của O.S.S., sự bất động của quân Nhật, đây cũng là một trong những lý do giải thích vì sao, chỉ với một lực lượng dưới 5,000 đảng viên mà Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản cướp được chính quyền.

Trở lại Hiệp Định Genève, tại miền Nam sau khi được Vua Bảo Đại bổ nhiệm làm Thủ Tướng, Ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh, ổn định được các đảng phái và thành lập nên chính thể Việt NamCH tại miền Nam.
Trong vai trò là Tổng Thống, ông chủ trương theo đuổi và xây dựng một nền dân chủ tư bản tự do, với một chủ trương và chính sách chống cộng. Nhận thấy tham vọng tóm thâu luôn miền Nam ra ngoài tầm tay, khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ký văn kiện đẩy Pháp rút khỏi miền Nam, coi như hủy bỏ hoàn toàn việc tuyển cử vào năm 1956 mà Việt cộng đã ký với Pháp…
Năm 1960 cộng sản Hà Nội cho lập lên lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Cũng là một tổ chức chính trị khả dĩ để công bố với thế giới... dùng lực lượng vũ trang đã gài ém lại từ sau Hiệp Định Genève năm 1954 đi đánh phá, khủng bố nhiều nơi
Các trận đánh mở đầu của Việt cộng tại Bình Giả, Đồng Xoài, xuất hiện công khai dùng súng đạn khai chiến tại miền Nam, không cần dấu diếm ý đồ muốn nuốt trọn miền Nam. Song song vớí các mặt trận trên là hàng loạt đồn lũy làng mạc, cầu cống xa gần đều bị đánh phá, giật sập, mở đầu cho tham vọng của chúng.
Mậu Thân năm 1968 đã phá bỏ cam kết hưu chiến ngày Tết, đưa quân đánh chiếm Thị xã Thừa Thiên, Huế, giết chết và chôn sống khoảng 6 ngàn ngườì.
Mùa hề năm 1972, bao địa danh xương máu và xác người Nam Bắc chồng chất lên nhau trên các chiến trường An Lộc, Kontum, rồi Quảng Trị Đông Hà, Cổ Thành Quảng Trị...

Cũng vì những đầu óc bệnh hoạn, đam mê quyền lực cùng danh vọng, dĩ nhiên đám tay sai này phải dấn thân vào tội lỗi, mong theo đuổi những tham vọng điên rồ. Lợi ích thấy đâu nếu không nói là chỉ đem lại lợi ích chiến lược cho ngoại bang mà hủy hoại cả một đất nước và dân tộc.
Một quãng đường dài của Tổ Quốc, ngày nào Tổ tiên dựng nên chưa nghe lịch sử ghi lại bao giờ có cảnh người Việt chém giết tàn bạo như thời kỳ Hồ Chí Minh đưa quân vào miền Nam, tên trùm cộng sản khát máu này phải chi đánh ngoại xâm giành lại đất nước mà lại đi giành nhau chỉ nửa mảnh của người khác mà quan thầy họ đã phân ranh. Làm càn, dồn quân, kéo pháo vượt tường tràn vào cố chiếm cho bằng được miền Nam, quyết tạo nên việc đã rồi cho thỏa mản tham vọng.
Dù “Đốt hết dãy Trường sơn, đến người lính cuối cùng cũng đánh”. Nhưng tiếc thay, tham vọng của chúng ngờ đâu đều nằm trong quỷ kế của đế quốc. Hung hăng cũng chỉ là một bọn tay sai cho ngoại bang, cho bọn đế quốc hoàn thành chiến lược. Những ngày đầu chiếm được miền Nam say men chiến thắng, sẵn súng trong tay, bọn man di từ rừng núi chui ra, thấy của là ham, không còn gì nhân tính. Thấy người có của là bắn giết để đoạt lấy. Trước sân nhà, ngoài đường, trên tàu, dưới ghe, dọc theo những lề đường, giao lộ liên tỉnh, đầy dẫy thây người, xác nằm cong queo mỗi nơi mỗi kiểu. Chỉ một thời gian ngắn sau mới ngộ ra, đã lọt bẫy. “Họa vô đơn chí; Phúc bất trùng lai”. Máu người lại đổ và sẽ đổ mãi. Biết đến bao giờ để nói lên được sự khôn lớn của dân tộc.

Kể từ sau sự xuất hiện của Hồ Chí Minh, Việt Nam từ một dân tộc bất khuất biến thành một sắc dân ươn hèn, nhận thân phận mình nhược tiểu, gục đầu thần phục! Cầu vinh hay ăn xin, thế nào đi chăng, cứu cánh sau cùng bọn này là vậy, là đạt được tham vọng, giành lấy quyền thống trị dân tộc…
Miền Nam chúng ta cũng không lọt ra ngoài những cơn mê sảng quyền lực trong tay của nhóm lãnh đạo. Tham vọng lớn mà thân lại quá ươn hèn, cúi đầu tuân hành ngoại bang chẳng còn nghĩ gì đến đồng đội, đống bào hay chút liêm sỉ của một cấp lãnh đạo. Dùng xác thân đồng đội mình như là một cái khiên bảo kê cho gia đình và mạng sống, đẩy cả bao sinh mệnh của mấy quân đoàn vào tử lộ cho cộng sản cày nát, mở đầu cho sự bại trận được tính trước.
Như đã hoàn thành nhiệm vụ, xong cùng kéo nhau bỏ đi, mặc cho đất nước có ra sao! Hàng triệu đồng bào cùng binh lính dưới tay, phải nhận lãnh sự trả thù man rợ, khủng khiếp của kẻ thù với phận người bại vong. Trên những chuyến tàu chuyển ra Bắc sau đó, sự đớn đau nhất của người tù mất nước là cảnh đối xử mọi rợ, rừng rú kinh tởm của cộng sản mà đám người khiếp nhược ấy tạo ra... cũng là một khổ nạn chung cho miền Nam! Rồi mọi thứ cũng trả lại thế gian, chỉ có điều vinh hay nhục mà thôi!

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 05:32 PM
Gửi vào: #5


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





CŨNG MỘT LỐI ĐI

Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ,
Mũ tai bèo che khuất ánh tương lai!

Hay: Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ,
Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con!
Nghe qua nó chua xót làm sao cho hoàn cảnh và con người. Cộng sản, chiến tranh, cùng máu và nước mắt... những tiếng thở than nhẹ nhàng và châm biếm trên đã phát ra theo cung bậc chiến tranh, phơi bày lên bao nỗi xót xa của miền Nam trong cuộc chiến. Nó giết mất đi cả niềm tự hào và tự ái của dân tộc.

24 • Nguyễn Văn Dy Vân
Bắc Vịệt phát động chiến tranh xâm lược, Mỹ đổ quân vào gây nên biết bao xáo trộn cho mọi cuộc sống yên lành của miền Nam! Và hàng loạt, hàng loạt mạng người phải nằm chết dưới những lưỡi dao, những chiếc mã tấu oan nghiệt của lũ người man rợ, đẩy dân tộc vào đường chết chóc, đau thương kéo dài hằng nửa thế kỷ, để rồi đất nước chẳng còn gì ngoài những nghĩa trang cùng những đổ nát hoang tàn mà đám người nhận là tay sai cộng sản, ngụp lặn với lòng tham gây nên, ôm chân quỳ phục ngoại bang lấy thân xác đồng bào mình xây đắp lợi danh... Có phải vì lòng tự ti hay mặc cảm yếu hèn mà bao chục năm qua, mãi cam phận tôi đòi, đẩy đất nước và dân tộc vào cảnh trầm luân của đói nghèo và chém giết. Đám hổn quan vô lại, đầu óc nô lệ, hẹp hòi, mong cúi đầu thần phục để tồn tại cùng lợi danh mà tàn độc với chính đồng bào mình. Hiệp Định Genève đã qua 3 năm, hận thù vẫn chưa dứt âm ỉ trong lòng người. Miền Nam sau 3 năm vắng đi bóng dáng cộng sản, tưởng đâu đã mất hẳn, yên ổn lo kiến tạo gia đình, xây dựng đất nước, nhưng rồi không như đã nghĩ, chúng lại xuất hiện. Năm 1957, dù rằng chúng tôi còn quá nhỏ nhưng cũng thấy rõ bản chất độc ác của bọn người khát máu. Thời gian đó, tôi đang học lớp Đệ Ngủ một trường Trung học tư thục tại Tỉnh nhỏ Bến Tre. Trong giờ giải lao đang đứng đùa cùng các bạn cùng lớp ngoài sân trường thì một em gái cùng trường đến trao cho tôi một lá thư ngắn trong bì thư

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 25
nhỏ. Bước ra sau mở ra đọc và biết được em tên Phú, em ví von sao anh có nét hao người Palestine nên muốn làm bạn. Cả hai đều trong độ tuổi thiếu thời, em chỉ 13 trong một gia đình khá sung túc, lúc nào cũng tươm tất, hằng ngày đến trường và về có Ca-Nô riêng đưa đón. Phú nói rằng em cần một người bạn để tâm sự và trao đổi học hành. Em rất dễ cảm mến, long lanh như hạt sương mai, chúng tôi làm bạn với nhau đã nửa năm chỉ đôi lần dám cầm tay nhau, e rằng ngọc quý vỡ tan... Tôi rất mến thương Phú vì ngày nào đến trường Phú cũng mang cho trái cây nhà vườn như mận, xoài... ân cần quấn quýt cười đùa bên nhau trên ngưỡng cửa vào đời sau giờ học. Một sợi dây chuyền bạc và chiếc medal có hình em cũng là món quà, vật kỷ niệm đầu tay của đôi trai gái vừa mới lớn, chớm đượm tình yêu... Một hôm, vào sáng trước khi vào lớp, Phú mắng vào mặt một nam học sinh khác gần đó rằng, sao cứ theo nhòm ngó bêu xấu em, gia đình hắn ta là Việt Cộng trong xóm, ai cũng sợ, thỉnh thoảng mang sổ đến nhà đòi Ba Má đóng thuế. Hơn tháng sau cũng đang trò chuyện cùng các bạn trong giờ giải lao thì Phú bước nhanh tới trước mặt các bạn và quay lại chỉ vào mặt người bạn đó nói: “Anh ta là Việt Cộng” cứ rình mò em hoài... Tưởng vậy đã xong, ngờ đâu 3 ngày sau, Ca-Nô đưa Phú đi học về bị hai chiếc ghe máy chặn đầu, đâm chìm, Phú đang trên đó, em bị chết trong dòng nước. Nghe em bị hại chết, tôi như choáng đi cùng dòng nước mắt và nghỉ học

26 • Nguyễn Văn Dy Vân
hơn tuần liền. Đem chuyện kể lại cho mẹ, mẹ tôi cũng không cầm lòng được những khi thấy nước mắt tôi còn đọng trên má… Dù được mẹ an ủi, nhưng vết cắt như khắc ghi vào tận đáy lòng, hằn sâu trong tâm não tuổi thơ mà giờ này như vẫn chưa phai nhạt. Hỉ, nộ, aí, ố được diễn đạt qua sự xúc cảm mà Thượng Đế đặc biệt ban phát cho loài người, dòng nước mắt có phải là hiển thị một sự yếu đuối không! Bị cảm xúc quá mạnh... Vừa bước chân vào đời, đã mất đi bóng nhỏ quý giá nhất, làm sao không xót xa được! Nay cũng hơn sáu mươi năm, đã hơn nửa đời người, một lần nữa giở lại ký ức, để hướng về một khoảng đời, với đôi dòng, thay cho cánh hoa để tưởng nhớ em. Phú bé nhỏ mà tôi có trong tuổi thiếu thời... một hạt ngọc quý được ban tặng sao mà ngắn ngủi, như rằng Thượng Đế đã không cho tôi được giữ lấy em lâu hơn, đã đưa em sang một cảnh đời khác... để không bao giờ tìm lại được! Thuở của ấu thơ, niên thiếu, thuở của súng đạn lạnh lùng chết chóc ấy, phải chăng là bước nhỏ của cuộc đời, là một mảng bè trên làn nước bạc. Có trên ghềnh thác hay biển cả, hay gì rồi cũng phải ngưng tụ! Nhưng dư âm cùng những chiếc bóng kia cứ như vang vọng mãi bên cuộc đời! Có lần, Phú nói anh đưa Phú đến quầy sách gần đầu chợ để tìm mua vài tạp chí khoa học về cùng đọc... Phú ngồi sau yên xe đạp, chúng tôi thả xuôi theo con dốc thoải, đùa

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 27
vui như cõi riêng của mình, Địa Đàng đây chăng... Niềm vui của tuổi thơ ấy, thuở thái bình của miền Nam sau ngày Việt NamCH được thành lập. Biết bao hứa hẹn cho tương lai được gửi cho nhau, bỗng dưng thành mây khói. Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm về chấp chánh, phần nào ổn định được các sứ quân và đảng phái cũng là thời gian mà miền Nam được sống trong thanh bình thạnh trị nhất sau thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, trong đó có tỉnh Kiến Hoà. Rồi ông Phạm Ngọc Thảo từ đâu về làm quan đầu Tỉnh, cả một bộ máy tình báo miền Nam lúc ấy sao quá dễ dàng tin dùng vào một tên có nguồn gốc với cả một gia đình đã theo Việt minh. Dù rằng chính sách “bài phong đã thực”, khuyến khích những người theo kháng chiến cũ về với “chính nghĩa quốc gia” của ông Ngô Đình Diệm là vậy, nhưng Ông Ngô Đình Nhu và ông Trần Kim Tuyến cũng không phải vội vàng như thế, đặt niềm tin nào vào tên Việt cộng nằm vùng này, đưa hắn về làm Tỉnh Trưởng Bến Tre. Chủ tương của cộng sản đã rõ ràng là ai không cùng chung đường với chúng đều là kẻ thù, phải tiêu diệt. Trong khi những người lão luyện chính trị quanh ông Diệm như ông Nhu lại tin dùng một tên lé cộng sản gộc như Phạm Ngọc Thảo chứ! Lợi dụng vào chính sách khuyến khích những người theo kháng chiến cũ trở về ấy, Phạm Ngọc Thảo gian manh đã công khai hết nguồn gốc của mình, kể cả chức vụ tiểu đoàn trưởng cũ, chỉ trừ một điều, y là Đảng viên đảng Cộng

28 • Nguyễn Văn Dy Vân
sản Việt Nam. Hắn ta đã từng lãnh nhiệm vụ đưa tên Việt cộng gộc Lê Duẩn từ Phú Yên về miền Nam. Từng đảm nhận trưởng phòng mật vụ ban quân sự Nam phần. Từng đảm nhận tổ chức tình báo đầu tiên của Việt Minh, rồi chức vụ Tiểu đoàn Trưởng TD-410 Việt Minh tại Tây Nam phần... Năm 1952-53 là sĩ quan tham mưu trong các đơn vị chủ lực của Việt Minh tại miền Nam... Sau Hiệp định Genève, các cán bộ của Việt Minh (cả dân sự lẫn quân sự) đều được tập kết ra Bắc. Riêng Phạm Ngọc Thảo thì, chính Lê Duẩn đã chỉ thị cho hắn không tập kết ra Bắc mà ở lại miền Nam để hình thành «lực lượng thứ ba”trong trường hợp Hiệp định Geneve không được đối phương thi hành. Tên việt cộng Võ Văn Kiệt đã nói: “Anh Ba Duẩn rất tin cậy Phạm Ngọc Thảo và đã giao cho đồng chí Thảo một nhiệm vụ đặc biệt”. Đấy là một trong những bước mà Cộng sản dần lộ diện sau Hiệp Định Genève... oOo Ngày 20-12 năm 1960, cộng sản Hà Nội tiến hành dựng lên Mặt Trận giải phóng miền Nam cùng các cuộc

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 29
khủng bố theo sau, giết chết hàng loạt các viên chức chính quyền xã ấp miền Nam trên hầu hết các tỉnh từ giới tuyến 17 trở vào bằng mã tấu cùng cuốc, xẻng một cách man rợ cho người người miền Nam khiếp sợ. Năm 1961, chúng dựng lên phong trào Đồng Khởi tại Bến Tre, ngày ngày buộc các phụ nữ miền quê lên tỉnh lỵ biểu tình đòi hỏi, gây rối loạn sinh hoạt hằng ngày trong Thị xã với những yêu sách vô lý... Thanh niên miền Nam có ý thức trong thời gian ấy hầu như ai cũng nhận rõ cái hoạ cộng sản sắp đến, cùng những di hại về sau của nó như thế nào. Tại trại nhập ngủ số 3, gần cuối năm 1964. Chúng tôi gồm những người ý thức được và mang cùng lý tưởng đã gặp và thân thiết nhau. Lần đầu tiên mang đôi giày lính vào lạ lẫm thật, nhưng nhìn nhau chung một nụ cười, cùng một lối đi bằng cung cách của một quân nhân. Vững bước cùng hướng đi của mình, dũng cảm đảm nhận trách nhiệm này, mong chặn đứng cộng sản, trước mắt nó là cái họa, và lâu dài nó sẽ tàn phá cả đất nước và dân tộc. Ra khỏi quân trường vào giữa năm 1965 cùng đơn vị hoạt động trên lãnh thổ Quảng Nam- Đà Nẵng. Một thời gian cũng nửa năm, chúng tôi có mặt nhiều nơi, truy lùng và tiêu diệt trên hầu hết các nơi có sự hiện diện các đơn vị địch hoạt động.

30 • Nguyễn Văn Dy Vân
Mặt trận Thanh Quýt, quận Điện Bàn- gần Đà Nẵng xảy ra giữa ban ngày khi tình báo ta được sự chỉ điểm của hồi chính viên. Đơn vị chúng tôi cùng một đại đội BĐQ sáng sớm đã vào vị trí bao vây toàn khu vực ruộng mía với một đường hầm của Việt Cộng nằm sâu bên dưới có sức chứa lên đến cả một đại đội. Cánh BĐQ cùng công binh chiến đấu đánh mìn phá nổ cả một hệ thống đường hầm này. Chi đoàn thiết kỵ chúng tôi vây chặt con đường hầm và căn hầm trú ẩn của tên Khu ủy trưởng khu 5. Khoảng 11 giờ trưa, Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân khu I đáp trực thăng xuống cùng người hồi chính viên, đích thân ông ra lệnh khui căn hầm bắt tên Việt cộng gộc này. Sau ba lần phóng loa xuống gọi hắn lên, nhưng vẫn im lặng. Tr/Tướng Thi ra lệnh cho ném xuống một quả lựu đạn. Một quả lựu đạng màu vàng được một Sĩ quan/BĐQ thả xuống, kéo lên một tên già lối trên 50 tuổi trong chiếc áo cánh màu nâu, hắn ta chỉ còn chút thoi thóp, và chết sau đó... Ở thời điểm này, Quảng Nam là mảnh đất nằm giữa đường xâm nhập của quân Bắc Việt vào Nam và cũng là nơi cung cấp thuốc men lương thực lên trục đường Trường Sơn vào Nam của chúng, nên vùng đồng bằng nhiều ruộng mía này thường là những nơi ém quân để bảo vệ cho bọn giao liên của chúng mua và chuyển vận luơng thực, thuốc men mang lên các quận giáp miền núi như Đại Lộc, Dục

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 31
Đức,Thường Đức... Tháng 12 năm 1965, được lệnh về chỉ huy một đơn vị gồm 5 chiếc AM-8 trang bị canon 37 ly cùng DL-30 song hành, nhiệm vụ bảo vệ an ninh Thị xã Đà Nẵng là chính. Dinh cơ đơn vị được đặt trong khu riêng biệt phía trước câu lạc bộ SQ/ Đà Nẵng, ngang với quân trấn cạnh bờ sông Hàn. Chúng tôi luôn được khuyến cáo là phải cảnh giác ngày đêm về sự len lỏi nhòm ngó và đánh chất nổ để phá hủy đơn vị. Chúng thực sự rất e sợ các đơn vị Auto Blindé này, vì những bất thần xuất hiện với tốc độ nhanh cũng như tiếng động cơ rất êm chúng không trở tay kịp... Ngoài cổng gác chính thường xuyên có người canh giữ, chúng tôi còn phải kéo concertina bao quanh khu dành riêng để chiến xa lẫn các xe tải và truyền tin của đơn vị đậu và bố phòng. Mọi khác lạ cả người lẫn đồ vật đều phải được người HSQ an ninh cho phép mới được vào. Thường Trung Tá Toàn Trung đoàn Trưởng hay ra vào Đà Nẵng và thường ghé qua kiểm tra và dặn dò nên chi đội luôn phải có người ứng trực thường xuyên. Hàng đêm Chi đội được lệnh phải đi tuần tiễu an ninh Thị xã 2 lần do mình chọn trước cho quân Trấn biết... Những năm cuối 1965, lính Mỹ đổ vào Đà Nẵng khá lớn, ngoài các đơn vị Hải quân đóng nơi bán đảo Sơn Trà. Sư đoàn Không quân tại phi trường Đà Nẵng, các đơn vị công binh Mỹ thì ngày đêm làm đường từ Nam Ô đến

2 • Nguyễn Văn Dy Vân
Phước Tường, cầu đỏ Cẩm Lệ. Đà Nẵng những ngày này hầu như thấy lính Mỹ nhiều hơn Việt Nam. Về đêm trên các đường phố đông dày lính Mỹ, nhất là vào những đêm cuối tuần, đường Thái Phiên Snack-Bar san sát nhau cùng những kiều nữ xinh đẹp Việt Nam đón chờ những chàng GI tiền đầy túi ghé thăm... Không và Hải quân họ ăn mặc thật đẹp, vàng, xanh nhạt với ve áo óng ánh những chiếc “galon” của người lính viễn chinh. Họ cần đôi phút giải khuây trong lúc xa nhà, mượn thú vui khỏa lấp vào đời chinh chiến gian khổ nơi xứ người... Máu và mồ hôi họ đổ xuống để đánh đổi cho danh vị cường quốc trên đất nước họ, và hôm nay họ có mặt nơi đây. Chúng ta rất hoan nghênh sự hiện diện này và cũng sẵn sàng bảo vệ vùng hậu phương cho họ đi lại và vui chơi. Có đêm từng phân đội thiết giáp chúng tôi dừng lại trong im lặng tại Nam Ô hay ngã 3 Phước Tường với đôi mắt Cú đêm, sau nửa giờ lại đến nơi khác. Có khi sáng về, lại có lệnh lên đèo Hải Vân, xuống đầm Lăng Cô cho có sự hiện diện, xế trưa lên lại đèo và trở về bản trại. Một hôm có hai cô gái đến hỏi tìm ông Thiếu Úy chỉ huy đơn vị Thiết giáp. Đang vật lộn với tiếng ồn, nói chuyện với ông Chi đoàn Trưởng tại Huế bằng máy AN-106 thiết trí trên chiếc xe tải phủ mui kín, và Bình không nhận ra sự quen biết nào:

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 33 - Xin lỗi cô tìm tôi, có việc chi cần không? - Dạ chỉ ghé thăm Thiếu uý thôi, chắc ông T/Uý không còn nhớ ra chị em tôi? - Tôi không nhớ ra! - Hồi tuần trước tại mấy gian hàng trong khu chợ Cồn bán đồ dùng từ thương xá Mỹ, chúng em bị giật túi hàng, anh tài xế của Thiếu Úy rượt theo bắt được chú bé đó và giao lại cho chúng em đấy. - Thì ra vì việc ấy cô đến đây cám ơn lần nữa chứ gì. Bình gọi anh tài xế ra và nói: Trung, có hai cô đến cám ơn chú mầy kìa. Trung lịch sự chào hai cô, trong khi Bình lấy tiền đưa Trung nói: - Đưa hai cô sang quán nước bên kia ngã tư trò chuyện đi. - Thiếu Úy có sang đó không. - Chắc phải lâu lắm... Ngày hôm sau hai cô đúng hẹn đến quán ăn sâu trong chợ Cồn, Trung viện lý do phải ngồi giữ xe sợ quân cảnh phạt vạ... Nhìn qua, Bình chợt nghĩ ngay có gì đây nên hai cô gái này mới tìm đến gặp mình. Bình nói:

34 • Nguyễn Văn Dy Vân
- Hai cô thích ăn gì để gọi... Cô Điệp lém lỉnh hơn nói: Em ăn hủ tíếu bò kho, còn Bích cùng ăn với Thiếu Úy cho vui. - Lại cáp độ rồi phải không. Bình nói - Cũng được chớ có gì đâu. Điệp đáp lại. - Thế thì Bích trả lời đi. Bình nói. - Em như trái banh sao mà đá qua, đá lại vậy, nhưng sao cũng được. Đó là chuyện của 3 tháng trước, ba tháng lui tới, cũng chưa đủ cho chuyện gì, nào biết đâu lưỡi dao ghìm sẵn, Bình như vô tư bên binh lính hằng ngày. Bích tính tình rất dễ mến, nhẹ nhàng từng lời nói. Với giọng Huế, lơ lớ Quảng Nam nên cũng dễ nghe. Thế nào thì Bình cũng có một phần cảm tình với Bích, hình ảnh của Bích hằng ngày dù chưa có gì đi sâu vào cuộc sống tình cảm, nhưng Bình cũng có những sự lưu tâm giúp đỡ... Một sự tình cờ, hôm đó Bích đến nói Bình hôm nay chủ nhật anh không có công tác gì về nhà em chơi cho biết. Thế là sau khi nhấm nháp chút cà phê, Trung tài xế đổ thêm xăng xong cùng Chánh vào mang theo khẩu Carbine ngồi sau xe, và 4 người cùng đi, hướng về Thị xã Hội An. Xuyên qua Thị xã hướng về Cửa Đại, cầu ra cửa Đại bị

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 35
sập từ khi nào, nhưng đường rẽ phải vào nhà Bích xe không thể vào được và không gì là an ninh nên đành quay về. Sau một hồi nói lên sự tiếc rẻ phải để Bích về nhà một mình, Bình cùng tài xế và Chánh quay xe trở ra về lại Đà Nẵng. Trên đường trở ra, Bình ghé vào nhà một cô bạn gái tốt bụng được dịp quen biết trước đây khi còn trú đóng tại trại Cẩm Hà - Hội An. Nhà Huỳnh nằm sát con đường đi ra cửa Đại nhưng rải rác xa hai bên mới có nhà hàng xóm. Huỳnh, người Huế nhưng sống lâu tại đây vì Cha làm công chức trong trong Thị xã Hội An Tỉnh Quảng Nam. Chuyện dài dòng nhưng là người vui tính và lịch thiệp, hiếm gặp nên Bình rất quý cô ta... Huỳnh hỏi: Sao lâu quá không thấy anh vậy, hành quân hỉ? Đổi ra Đà Nẵng hơn 4 tháng, nay mới có dịp thăm Huỳnh đây. - Cũng còn nhớ đến đấy chứ! Mà có gì không? - Khi nãy đi ngang qua không thấy ai hết, giờ ghé ngang định gặp ai hỏi thăm coi Huỳnh lấy chồng chưa. - Chi vậy, chuyện của người ta mà, nhưng có ai chịu cưới đâu mà lấy chồng.

36 • Nguyễn Văn Dy Vân - Có đây. - Anh cũng cứ nói, nhỡ có người chờ thật thì sao. Bình cười như hỏi có thật không, Huỳnh thẹn đỏ mặt và sẵn cầm cây chổi lông gà gõ nhẹ vào đầu gối Bình: - Huỳnh dư biết anh chê gái Huế mà. - Có nuôi ngày nào đâu mà chê. - Mà Huỳnh hỏi thật nhé, chứ anh vào trong đó tìm ai mà trở ra nhanh vậy! Bình trả lời: - Có cô bạn gái mời về nhà chơi, tụi này dự định sẵn vào đó xong về ghé qua thăm Huỳnh và Hội An một chút. - Người nào cho Huỳnh biết với được không. - Được quá chớ sao lại không. - Cho Huỳnh biết coi có quen nhau hay không! - Tên cô ấy là Tài Bích. - Người dong dỏng cao tóc xõa dài phải không. - Ừ nhỉ, Huỳnh có quen à. - Chỉ biết vậy thôi... - Nói qua cho biết ít điều đi. - Anh về ngay đi, chiều mai Huỳnh ra Đà Nẵng gặp sẽ nói cho nghe. Nhớ vào khoảng 3 giờ đến địa chỉ nhà người

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 37
cô gặp Huỳnh. Đây là địa chỉ đến và nhớ bí mật đến nhé. Huỳnh giục Bình nhanh khỏi đây để tránh sự dòm ngó của người qua lại cho khỏi phải lo lắng... Hôm sau chi đội có lệnh giữ an ninh đoạn đường giữa Phước Tường và quận lỵ Điện Bàn cho Đại Tá Đàm Quang Yêu đến Đà Nẵng vì khoảng đường này thường bị Việt Cộng bắn sẻ vào các xe quân đội. Bình kín đáo về đến gặp Huỳnh trễ mất nửa giờ bị Huỳnh trách cứ không tiếc lời. Sau một lúc xin lỗi mới dịu đi, Huỳnh nói: - Sinh mạng của anh mà chẳng biết lo, Huỳnh muốn gặp anh gấp để chặn sự nguy hiểm mà anh cứ như vô tư mọi thứ. - Ừ nói đi, xin lỗi Huỳnh mà! - Hãy nghe nhé, Bích không là người bình thường đâu nghe anh. - Cô ấy thế nào hở Huỳnh. - Huỳnh nghĩ anh nên ngưng ngay mọi quan hệ với cô ấy là tốt hơn, theo Huỳnh được biết và các bạn thì thầm nhau thì cô ấy có nhiều liên hệ đáng nghi ngờ lắm. Theo những cảm tình viên an ninh trong tỉnh thì người cậu của Huỳnh trong sở cảnh sát có nói mấy tháng qua Bích thường lui tới Đà Nẵng với một cô gái tên Điệp, và cơ quan này lưu tâm đặc biệt theo dõi, vì gia đình cô gái này có

38 • Nguyễn Văn Dy Vân
người bỏ thành theo Việt Cộng. Có thể Cô Điệp nằm trong một đường dây đặc biệt nào hay giao liên gì đó... Nhớ lời người cậu, khuyến cáo mình về nhóm các cô gái này đang bị theo dõi, Huỳnh nhìn Bình nói khẽ: - Bích mấy lần đi lại với nhóm cô Điệp này, lân la ngoài chợ Cồn và các trại lính... - Ừ, là ra thế, không lẽ mình đã là tầm ngắm! - Cái đó tùy nơi cái nhìn của mình, phải chú ý và minh bạch sự kiện này, anh cẩn thận là hơn. - Cám ơn Huỳnh. - Huỳnh không dám xác định, nhưng anh đừng để quá trễ. - Huỳnh có về lại Hội An giờ này không. - Cũng đã trễ, chắc Huỳnh phải nghỉ lại với cô, ngày mai về sớm cũng được. - Vì sự trễ nãi của tôi mà ra, thật rất tiếc. - Sự việc liên quan cả cuộc đời là cần hơn, nên mọi thứ cho qua thôi! Nhớ ngưng mọi tiếp xúc với Huỳnh một thời gian... anh hiểu chứ! - Cám ơn Huỳnh. Mấy ngày liền, cứ mỗi sáng, Bình cùng chi đội phải di chuyển lên giữ an ninh hai sườn đèo Hải Vân, chiều lại về và tuần tiễu an ninh cho Thị xã Đà Nẵng cả đêm. Thời gian

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 05:44 PM
Gửi vào: #6


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622




38 • Nguyễn Văn Dy Vân
người bỏ thành theo Việt Cộng. Có thể Cô Điệp nằm trong một đường dây đặc biệt nào hay giao liên gì đó... Nhớ lời người cậu, khuyến cáo mình về nhóm các cô gái này đang bị theo dõi, Huỳnh nhìn Bình nói khẽ: - Bích mấy lần đi lại với nhóm cô Điệp này, lân la ngoài chợ Cồn và các trại lính... - Ừ, là ra thế, không lẽ mình đã là tầm ngắm! - Cái đó tùy nơi cái nhìn của mình, phải chú ý và minh bạch sự kiện này, anh cẩn thận là hơn. - Cám ơn Huỳnh. - Huỳnh không dám xác định, nhưng anh đừng để quá trễ. - Huỳnh có về lại Hội An giờ này không. - Cũng đã trễ, chắc Huỳnh phải nghỉ lại với cô, ngày mai về sớm cũng được. - Vì sự trễ nãi của tôi mà ra, thật rất tiếc. - Sự việc liên quan cả cuộc đời là cần hơn, nên mọi thứ cho qua thôi! Nhớ ngưng mọi tiếp xúc với Huỳnh một thời gian... anh hiểu chứ! - Cám ơn Huỳnh. Mấy ngày liền, cứ mỗi sáng, Bình cùng chi đội phải di chuyển lên giữ an ninh hai sườn đèo Hải Vân, chiều lại về và tuần tiễu an ninh cho Thị xã Đà Nẵng cả đêm. Thời gian

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 39
và nhiệm vụ cứ liên tiếp, nay đơn vị mới được một ngày nghỉ ngơi, dọn dẹp dinh cơ và tu bổ quân xa. Đang trên đường về hậu cứ Trung đoàn trên đồi Phước Tường - Hoà Khánh thì máy gọi cho biết chi đội vừa có công điện khẩn, về gấp. Thế nào thì cũng phải vào BCH /Trung đoàn để xin bổ sung cho một số thuốc và băng cá nhân cần thiết. Thấy xe và Bình vừa đến, Ban 3 cho người gọi Bình vào đưa cho lệnh di chuyển luôn.... Sau 4 ngày hộ tống đoàn tiếp vận vào Sư đoàn 2 ở Quảng Ngãi trở về thì được người tài xế cho biết có Cô Bích đến tìm và cho biết cô Điệp đã bị an ninh Thị xã Hội An bắt giam. Chi đội vào bố trí xong Bình gọi tài xế đưa đến Hòa Khánh tìm gặp Bích coi ra sao. Bình bảo tài xế cho xe đậu xa ra phía trước để không ai để ý và đi bộ vào, nhưng không gặp được một ai, đành trở về. Bình nghĩ, theo như Huỳnh nói thì trước sau gì Bích và Điệp cũng bị an ninh bắt vì đang nằm trong đường dây của Việt Cộng và đang bị theo dõi. Bình thực sự có phần lo nghĩ về sự liên hệ với Bích và hậu quả của nó, nhưng thử để xem ra sao. Ba ngày sau chi đội đang nằm giữ an ninh trên lưng chừng đèo Hải Vân phía bên đầm Lăng Cô thì từ Dinh cơ, nơi đóng quân gọi máy cho biết có Bích đến tìm. Bình gọi

40 • Nguyễn Văn Dy Vân
tài xế và cho xe chở cô ta đến. Vừa gặp Bình, Bích nhìn quanh và yên tâm nói rằng em sợ quá, Điệp bị cảnh sát bắt hơn tuần nay rồi, anh có giúp gì cho em được không. Bình hỏi: Em làm điều gì cùng với Điệp, có phải đang làm gì đó cho Việt Cộng phải không. - Em chỉ mới biết chị ấy trước khi gặp anh mấy tháng thôi, em đang làm trong xưởng dệt Hoà Khánh, trên đường về nhà gần cầu Cẩm Lệ thì Điệp từ sau gọi và hỏi thăm nhà bạn và quen em từ đó. - Rồi sao nữa. - Tới khi gặp anh thì bình thường nhưng sau đó một tuần, Điệp nói rằng chị ta cần người như em để giúp chị ta nhiệm vụ thu thập tin tức về đơn vị của anh. - Thế Bích trả lời sao. - Em thấy lo sợ quá, không trả lời được. Nhưng sau đó nói rằng, em sợ lắm, nhà em nghèo còn phải chăm sóc cho mẹ và hai đứa em nên xin chị tìm người khác. - Em nói thật chứ! - Em thề với anh là vậy, em chưa làm điều gì cả... - Em có thể phải ra trình báo cho Thị xã là hơn và nhờ sự bảo vệ mới cơ may ổn được.

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 41 - Em không thể làm như vậy được, họ sẽ chẳng tha cho gia đình em đâu. Câu chuyện đã bắt đầu khó xử từ đây, dù mấy tháng qua giữa Bình và Bích chưa có quan hệ nam nữ gì với nhau nhưng tình cảm thì có, đôi khi nghĩ đến có tìm đến tâm sự mà thôi. Như vậy phải có phần trách nhiệm gì không và phải làm gì đây nhỡ như Bích bị Việt cộng đuổi theo truy sát vì nghi ngờ về việc sa lưới của Điệp. Tạm thời Bình cho xe đưa Bích về lại Đà Nẵng vào trú nhà Cung người bạn cùng khóa thuộc đại đội an ninh phi trường Đà Nẵng gần bãi biển Thanh Bình. Bình kể sơ qua câu chuyện của Bích cho bạn nghe, Cung tỏ ra rất sẵn lòng.... Theo lời Bình cả tuần Bích không ra khỏi nhà, cũng như chẳng dám đến tìm Bình sợ lộ diện. Mấy ngày nay Cung được nghỉ phép có đến gặp Bình để rõ thêm chút nguyên do nào Bích phải như thế. Bình thuật lại mọi tiểu tiết để nhờ Cung giúp và được bạn bằng lòng bảo bọc mọi thứ. Tính tình Bích rất dịu dàng từ lời nói tới cung cách, hình ảnh duyên dáng ấy, sau một thời gian gần gũi, đã phải lòng Cung trong trái tim trống vắng này. Hai anh chị bên nhau êm đẹp, Bình thấy như vui lây. Mới đó mà cũng đã qua hơn 3 tháng, hôm nay đến đón

42 • Nguyễn Văn Dy Vân
bạn ra phố. Cung ngồi bên cạnh, Bích phía sau, Bình nóí rằng tuần sau chi đội mình đến lượt luân chuyển về trấn đóng bảo vệ quận lỵ Phú Lộc nằm giữa Đà Nẵng và Huế, nên muốn mời hai bạn một bữa ăn để chia tay. Cảm kích trước tình cảm của bạn, Cung và Bích mời Bình lại tối này cùng nhau đi ăn tối để tiễn bạn... Cũng hơn 11 giờ đêm, Bình đưa Cung và Bích về tận nhà chào nhau, lặng lẽ quay về với nhiều nỗi âu lo... Phú Lộc, nằm dưới chân địa danh Bạch Mã, điểm nghỉ mát nổi tiếng của người Pháp năm xưa. Phú Lộc cũng là nơi vắng vẻ, núi, biển, mây và gió. Hằng ngày không gì hơn là nhìn QL-1 từ đèo Phước Tượng vắt ngang qua trước mặt. Cũng hơn 2 tháng, giữa đêm quân Bắc Việt dùng sơn pháo tấn công, Bình bị trúng thương khá nặng được đưa về quân y viện trong thành Mang Cá Huế. Thời gian trong bệnh viện hầu như rất ít tin tức bạn bè bên ngoài, gián đoạn mọi thứ nên hơn tháng sau mới được biết tin Bích đã bị Việt Cộng bám theo bắt cho bằng được cô ta, chúng nghi ngờ về sự sa lưới của Điệp. Xác của Bích bị giết vất nằm bên lạch nước giữa đường về quận Điện Bàn trong khi Cung cùng toán an ninh Đà Nẵng lục lọi cả tuần mới tìm gặp... Tin Bích bị giết đau đớn như vậy, Bình không khỏi bàng hoàng qua cơn ác mộng này. Mấy hôm liền như chết lặng bên những nỗi buồn vây kín. Tiếc cho phận số của Bích cũng vừa thương hại cho Cung, đã mất đi người bạn yêu quý nhất trong đời, nghĩ đến không khỏi xốn xang...

ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 43
Buồn ơi! Sao cứ mãi theo ta, mười năm trước đây, cũng đã cướp mất đi của ta người yêu nhỏ đầu đời, và bây giờ cũng lại là các người. Bích chẳng làm gì cả, chỉ là một con người chân chất, hiền lành, chỉ biết sống cho tình yêu và gia đình... mà sao phải chịu lấy cuộc đời nghiệt ngã thế này! Suốt cả đoạn đường dài, cứ như trong trạng thái bềnh bồng... bao nỗi buồn kia cứ như quyện cùng tiếng đêm theo Bình vào giấc ngủ...



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 05:58 PM
Gửi vào: #7


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





VÒNG ĐỒI KHÁNH DƯƠNG


Sương in trên lá, long lanh chiếu
Nắng sớm lùa lên, hoa lá say.

Vòng đồi Khánh Dương trải dài xa về Đông Bắc óng ánh nắng vàng. Bình và Ratien đi thẳng đến chiếc Citroen màu xám nhạt của Y-Yalea nằm bên hông căn trại giữa mấy vòng rào an ninh của quận lỵ lưa thưa một ít nhà dân trên đường vào. Khánh Dương một quận miền núi nằm cheo leo cạnh một quãng đồi rộng và con đường đèo xuống miền duyên hải, xanh, đẹp Nha Trang. Hôm qua, Ratien nói với Bình rằng, em sẽ theo đơn vị mở đường xuống Nha Trang chơi, mình hẹn gặp nhau và ghé vào tìm Y-Yalea rủ anh ấy cùng đi Ninh Hòa ăn nem và Nha Trang ngắm biển.
46 • Nguyễn Văn Dy Vân
Sư đoàn 23 BB cùng Tiểu khu Đarlac thường hàng tháng có hành quân mở đường xuống Nha Trang để nhận tiếp tế cho đơn vị... Dịp này dân chúng trong Thị xã, các thương gia, đồn điền dựa vào sự bảo vệ này, họ cũng theo xuống vùng biển để trao đổi bán buôn cũng như mua về mọi loại thực phẩm cần thiết cho đời sống vùng cao nguyên. Ban Mê Thuột, Tỉnh lỵ của Tỉnh Darlac được bao quanh với hàng hàng lớp lớp những vườn cao su và cà phê, là một Thị xã nhỏ, khí hậu mát mẻ quanh năm. Đưòng phố thật sạch sẽ, êm đềm, với cây cao bóng mát, và nhiều cảnh đẹp dính liền cùng lịch sử. Biệt điện vua Bảo Đại chiếm một khuôn viên khá rộng rợp bóng cây xanh và tường gạch bao quanh, nằm bên kia con đường, đối diện qua BCH/Tiểu khu Darlac. Hồ Lạc Thiện lớn hàng cây số vuông cách Thị xã hơn chục cây số, là nơi ngày xưa Vua Bảo Đại đi săn bắn ghé vào nghỉ ngơi. Y-Yalea mừng quá chạy ra xoa đầu cô em và bắt tay Bình cùng vào văn phòng. Yalea chạy sang kéo ông quận Hùng sang giới thiệu. Ông Quận trưởng ngạc nhiên về sự quen biết này của Yalea mà chưa lần nào nghe Yalea nói đến. Ông nhìn cô em Ratien ôm chặt tay Bình. Ông quận Hùng nói: - Có được của hồi môn sở cà phê nào chưa. - Ratien có nghe ông Quận nói gì không. Bình nói.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 47
- Em không biết. Ratien trả lời. Yalea nói một tràng tiếng Rhadé và Ratien thoi vào bụng Bình cười với vẻ e thẹn, và nói: - Ông quận nói kỳ quá. - Thì ông Quận thấy Ratien nhũn nhặn, níu chặt cánh tay anh đó mà. Bình nói. - Em không hiểu hết đâu. - Thì ông Quận nói, Ratien có thật sự chuẩn bị cho anh gì chưa? - Em lại cũng không biết. - Yalea cười và nắm tay cô em nói cũng một tràng tiếng Rhadé. Ratien liếc nhìn ông quận rồi im lặng cào nhè nhẹ vào khuỷu tay Bình. Chốc sau em nói: - Em chỉ mến anh Bình thôi, không có yêu. Nhìn Ratien thật dễ thương, e lệ nữa, cho dù vậy tay cứ níu chặt cánh tay Bình. Nghe Ratien nói vậy, Yalea nắm tay em mình xoa nhẹ lên lòng bàn tay nói rằng: - Đó là trước kia thôi, phải vậy không. - Còn bây giờ thì sao? Ông Quận nhìn Ratien hỏi. - Em không biết đâu. Ratien trả lời.
48 • Nguyễn Văn Dy Vân
Bình vén nhẹ làn tóc rũ trên trán Ratien sang bên nói rằng ông Quận phỏng vấn cho vui vậy mà. Ratien nói: - Em mắc cỡ lắm, em muốn đi chơi Nha Trang. Ông Quận cho tôi nghỉ hôm nay đi một ngày nhé! Yalea hỏi ông Quận. Nhớ về cho sớm, đường đèo nguy hiểm... Dạ xin cám ơn ông Quận. Yalea nói và cúi đầu. Một sáng trời nắng đẹp và êm ả, xe đổ đèo M.Drak Phượng Hoàng và Dốc Cao xuống Ninh Hòa, Nha Trang cả ba cùng nhau hối hả mua sắm và đi chơi biển. Gặp mấy thuỷ thủ trêu chọc, Ratien cũng biết trả lời: Mấy anh lính Hải quân chọc gái, coi chừng bị phạt đó. - Xà-rông đẹp lắm đó em. - Đâu có đẹp bằng màu trắng của lính Hải quân đâu. - Vậy đi làm lính Hải quân đi. - Em không biết lội đâu, em thích ở trên bờ ấy. - Xe Thiết giáp cũng lội nước vậy. Ratien quay sang nhìn Yalea và Bình rồi cười: Họ lại trêu chọc em nữa đấy.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 49
Cả ba nảy giờ đi dọc bờ biển cũng thấm mỏi, Yalea đề nghị quay trở lại phố tìm quán nước giải khát và ăn vài món vì cũng thấy đói. Đường Công Quán có nhiều hàng ăn khá ngon, cả ba đều chọn nem nướng bánh hỏi... Cũng hai giờ chiều, Bình giục về kẻo tối nguy hiểm vì đèo cao. Ratien đòi Yalea đưa đi mua đôi giày và và ít đồ trang sức cũng mất 20 phút. Yalea cho xe phóng nhanh đến Ninh Hòa ghé vào mua 5 xách nem chua, sau đó quay xe lên đèo, vừa ngồi xe vừa mở nem ăn về tới Khánh Dương. Cũng đã hơn 4 giờ chiều, Yalea buộc phải mang xe đưa Ratien về lại Ban Mê Thuột... Bình thì về lại đơn vị đang trải quân giữ an ninh cho những đoàn xe quân sự của sư đoàn, Tiểu khu Darlac cũng như cho dân chúng lên xuống Nha Trang mua sắm bán buôn, hàng tháng chỉ một lần. Bình nhờ người lính mang đến hối lộ cho “Sếp” một chục nem... Ba hôm sau, Việt Cộng pháo kích mạnh và tấn công vào Quận lỵ Khánh Dương, làm sập cả một góc văn phòng quận và hai dãy nhà kho, nhưng không vào đến được các vòng rào phòng thủ. Yalea bị mảnh đạn vào đùi được đưa về Bệnh viện chính Ban Mê Thuột để điều trị. Hai ngày sau, Ratien xin gia đình cho xe đưa em xuống tìm Bình, e rằng có bị gì không. Bình đang cùng anh em lính ăn cơm thì Ratien tới,
50 • Nguyễn Văn Dy Vân
em mang xuống một xách thịt quay và bánh mì, Bình bước nhanh ra đón nhận quà, tay kia kéo nhẹ Ratien vào ngồi xuống cùng ăn. Ratien được một anh lính mang ra một cái ghế xếp, ngồi lên em nói líu lo tiếng Việt trộn lẫn tiến Rhadé. Nhìn cách ăn vận theo người Kinh, một anh lính hỏi, xà-rông màu đẹp lắm sao không mặc. Ratien nghịch ngợm hỏi lại: - Anh thích Xà-rông không, Nói xong Ratien nheo mắt cười: Người Kinh không thích người tộc thiểu số đâu. Thích chứ, bằng chứng là ai cũng thích nói chuyện với Ratien đấy. Bình nói. - Bề ngoài thôi. - Không đâu, anh Bình thích đấy. - Anh nói thật không. Ratien cũng làm điệu liếm môi, để hỏi lại. Mọi người cười ồ và Ratien tiếp: Ở đây buồn quá, nhưng mà cũng vui. Ratien nói gì không ai hiểu. Ý nói, nơi này chung quanh buồn, nhưng có anh Bình nên em thấy vui vậy mà. Cũng qua trưa, Ratien ra xe về lại Ban Mê Thuột, em
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 51
đưa tay vẫy chào và nói: - Em nhớ anh Bình đó nghen. Ai cũng cảm nhận sự vui lạ bên cô Thượng thật dễ thương này. Hậu tài xế nói: - Ông bị kẹt nơi đây rồi. Bình quay sang nói: Con nhỏ nó mến vì tao chiều chuộng và thường vuốt tóc vỗ về nó, nó hay làm trò giận dữ nên tao cũng ngán. - Rủi có gì thì sao. Phong hỏi. - Tao có làm gì đâu mà rủi. Binh trả lời. - Chuyện của ông ai biết được. - Anh của con nhỏ là bạn học cùng khoá, chơi với tao đẹp lắm, mình phải đáp lại cho đẹp hơn. - Mà ý cô Thượng ấy như thế nào. - Vẫn bình thường như lúc vừa thân nhau thôi, dù lúc nào ngồi gần cũng ghì chặt cánh tay tao, nhìn vào ai cũng nghĩ là đôi tình nhân. Bình tiếp: - Tao nghĩ như vậy là vui, là thú vị rồi, với một cô gái tuổi vừa chín muồi, tình yêu nó phảng phất nhiều màu, lắm vẻ... mơ vào đâu nữa! Bình đứng lên vừa bước ra sau thì có máy gọi cho biết đơn vị chuẩn bị thu quân về lại Ban Mê Thuột.
52 • Nguyễn Văn Dy Vân
Cũng phải hơn một tiếng sau mới có lệnh di chuyển, QL-21 coi như đóng lại và hoàn toàn không còn an ninh, Khánh Dương coi như bị cô lập... Năm ấy cũng là năm bầu cử Tổng Thống, vùng này tương đối khá yên ổn, Ông Thiệu thắng cử nhiệm kỳ 1. nhưng như là một sự yên ổn giả tạo. Tin tình báo thỉnh thoảng cho biết Việt Cộng xuất hiện nhiều nơi. Đơn vị có khi cả nửa tháng lội sâu, ngược xuôi trong rừng, lầy lội trơn trợt. Cả tháng không được một bữa ăn có rau sống, cá tươi, buôn làng thì thưa thớt, xa xa. Nay mới thấy được một dinh điền, vào trong mới gặp được mấy anh Thượng cho biết là chủ dinh điền là của một người Pháp đã có từ lâu lắm. Bình lấy làm lạ là sao Việt Cộng để yên một dinh điền của người Pháp như vầy và báo lại cho đơn vị trưởng. Ông cho xe chạy vào vừa thăm vừa xin cho đơn vị nước uống cùng một ít thức ăn tạm cho vài ngày... Anh Tây già ước lượng cũng ngoài 60 nói rành tiếng Việt gọi anh Thượng mang cho được 3 con gà và một ít thịt nai... Ngoài ra hỏi gì ông cũng nói không rõ... Hôm sau cả đơn vị ra đến QL-14 lần mò đến hai làng Hà Lan hầu như là người Bắc di cư năm 1954. Họ sống, buôn bán khá sung túc dọc theo QL-14, như rất gần gũi nhau, qui tụ sống đông đúc bên những ngôi giáo đường với lối tổ chức khá chặt chẽ. Quận Buôn Hồ nằm cách xa Thị xã Ban Mê thuột cũng
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 53
ngoài 35 cây số theo QL-14 về hướng Pleiku. Nhờ giáo dân nơi các làng Hà Lan và các họ đạo nơi đây mà Quận Buôn Hồ khá yên ổn và Việt Cộng khó chuyển quân theo QL-14 từ Pleiku đến Thị xã Ban Mê Thuột. Những ruộng bắp mà dân chúng trồng dọc hai bên quốc lộ nơi đậy thật đáng để nói đến, vì cây bắp nào cũng đậu hai hoặc ba trái to và no tròn... Được hai ngày đơn vị lại có lệnh di chuyển lên hướng Pleiku. Chỉ với một đại đội Bộ Binh tùng thiết mà lệnh phải đi giữa mưa và mờ tối qua mảng đèo độc đạo ngang núi và vực thấp đầy nguy hiểm vẫn còn mấy ngôi miếu thờ, mà khi xưa có một trận chiến đầy chết chóc nơi đây. Không có gì xảy ra, qua khỏi chân đèo khoảng 3 cây số, gặp một khoàng trống tấp vào đóng quân và nghỉ đêm dưới cơn mưa như thác đổ. Sáng hôm sau, đi nữa và đi nữa, sau mấy giờ đến cầu 110 đã bị giật sập từ bao giờ, chẳng biết còn cách Pleiku bao xa nhưng có lệnh trở lại ngã ba Mỹ Thạch Quận Phú Nhơn đường đi Tuy Hoà dừng lại và tạm bố quân tại đây. Xa bên trong là một căn cứ rộng của đơn vị nào đó của Mỹ... Vùng này rừng có vẽ thưa. Sang ngày thứ hai thì có lệnh trở về Buôn Hồ. Khi tới con đèo nguy hiểm (Đèo Chiến Sĩ ) đơn vị cho mỗi lần 3 chiến xa đi qua, và cũng êm xuôi. Qua khỏi đèo Cathy có lệnh dừng quân còn cách Buôn
54 • Nguyễn Văn Dy Vân
Hồ khoảng 5 cây số nghỉ đêm chờ lệnh. Dân chúng quanh đây cũng là người Bắc di cư từ vùng Buôn Hồ lên khai phá thêm rẫy. Họ xây dựng thêm xóm làng, nhà cửa nhất là về gỗ... Hôm sau về lại Buôn Hồ chờ đoàn tiếp tế nhiên liệu cùng thực phẩm đến. Bất chợt thấy Yalea lái chiếc Citroen đến, dừng sát bên lề cạnh ngôi nhà thờ, ngồi bên cạnh là Ratien. Bình giật mình nhỏm vậy thì Yalea la lên: - Đây này Ratien. Ratien vội bước xuống chạy đến đánh luôn mấy đấm vào lưng Bình: - Anh Bình ở đây mà không nói cho em biết. - Anh mới về đến đây ngày hôm kia, mà làm sao Ratien và anh Yalea biết được mà đến vậy, - Trong văn phòng quận có người bạn của anh Yalea nói có thấy xe tank ở đây. Anh Yalea đang nghỉ dưỡng thương nghe vậy chở em lên thăm anh Bình. Bình nắm tay Ratien xoa lên gu bàn tay em hỏi: Vài ngày nữa anh về rồi mà! Anh Yalea thấy em cứ hỏi anh Bình nên chở em đến đây gặp anh. Bình đưa Yalea và Ratien sang chiếc quán nước gọi
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 55
mấy ly nước đá chanh, chuyện trò kể lể chuyện nhà, chuyện của tháng qua. Yalea nói: - Ba có hỏi Ratien bấy lâu nay nói gì với Bình không, Ratien không biết gì để nói, chỉ e thẹn, mắc cỡ. - Ừ, cũng khó cho Ratien, mà nói gì! Tôi và Ratien như là anh em có gì đâu để nói. - Ba chỉ hỏi vậy thôi... vì thấy Ratien hay nhắc nhở anh Bình, Bình nắm tay Ratien cảm động: Ratien nói chỉ mến anh Bình thôi mà phải không? Ratien liếc nhìn Bình nói: Bây giờ nhiều hơn và đưa tay đẩy nhẹ vào hông Bình. Bình giật mình và lo âu về tình cảm này của mình, sợ hơn nữa phải nói sao đây khi Ratien một lòng vì mình. Chỉ còn duy nhất một điều là giữ đừng để xâm phạm vào thân thể em. Bình biết gia đình sẽ chẳng bao giờ bằng lòng mình thành hôn với cô gái Thượng, nên dù thương quý em cách mấy rồi cũng phải rời xa. Chỉ tội nghiệp cho Ratien, cô em rất dễ để yêu, cuộc đời là vậy, dư luận là điều gì mà người ta sợ đến thế chứ! Bình nghĩ rất khó để nói thế nào về việc trên với em. Gia đình Yalea có nhiều thế lực và giàu có bên những
56 • Nguyễn Văn Dy Vân
đồn diền cà phê và Cao su. Yalea học cùng khoá Sĩ Quan Trừ bị Thủ Đức nên khi Bình chuyển về đơn vị Thiết giáp tại Ban Mê Thuột, hành quân và giao dịch đã gặp lại Yalea khi đơn vị hành quân vào vùng Khánh Dương. Anh cho biết vài tháng nữa anh được chuyển về phòng hành quân Tiểu khu Darlac. Ratien Beti là tên thánh tin lành, em nhất định không chịu cho biết tên chính của gia tộc. Dáng em dong dỏng cao, hay rụt rè và có lúc dạn dĩ, gương mặt rất dễ mến, em học trong trường cao nguyên dành riêng cho người sắc tộc, thích ăn mặc theo các cô gái người Kinh, thỉnh thoảng vận Xà-rông đi chơi với Bình, vì biết Bình thích vậy. Người con út luôn được cha mẹ quan tâm và thương yêu, thế nên Ratien luôn được mẹ cha chiều chuộng... Dù màu da xạm đỏ nhưng mỗi khi vận Xà-rông em lại thích màu truyền thống của dân tộc Rhadé nâu xậm pha màu xanh nhạt và trắng. Em có nhiều loại Xà-rông vận rất lạ mắt. Riêng may mặc theo lối người Kinh thì em có nhiều kiểu thời trang của gái Sài Gòn... Về lại Ban Mê Thuột được hai tuần thì có lệnh khẩn cấp xuống phía Nam cùng một đơn vị của Trung đoàn 45 lục soát sâu về Tây nam cầu 14. Mấy ngày qua tình báo sư đoàn gửi qua cho biết có nhiều đơn vị địch xuất hiện nhiều nơi. Sư đoàn phòng khi chúng phá hoại khu phát tuyến nên gấp rút mở rộng lục soát. Sau ba ngày không gặp lực lượng nào của địch, đơn vị về lại hậu cứ tiếp tục tu sửa quân xa vũ khí.



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 06:02 PM
Gửi vào: #8


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 57

Doanh trại là vùng đất đỏ, từng cơn gió qua là bụi đỏ mù mịt, cả người Bình từ nón mũ đến giày đều đầy lấm tấm bụi đỏ. Trong khi đang đi quanh vòng đai bố trí phòng thủ của các xa đội thì người lính gác vào báo có cô Thượng tìm. Ratien một mình ngoài cổng vẫy tay. Bình vội ra đưa em vào phòng khách: - Ratien đến chơi hay có gì không? - Đến thăm anh Bình và nói với anh Bình, 5 ngày nữa anh Yalea và em đi Sài Gòn cùng với Ba thăm người bạn của Ba. Vậy anh có đi không. - Vậy để anh đưa Ratien về nhé, rồi anh xin phép đơn vị coi được không. - Dạ, như vậy nghe anh. Bình đưa em đến BCH Tiểu khu Darlac, nơi Yalea làm việc. Ratien theo ra tận cổng nhắc đi lại rằng, anh Bình đi với Ratien nhé! Trên đường về Bình nghĩ chắc gì đơn vị cho đi, mà không đi được con nhỏ buồn, và cũng sẵn dịp này đưa Ratien về nhà coi sao. Tối lại Bình lên gặp ông D xin cầu may, nhưng ông thông cảm cho Bình nghỉ 7 ngày về thăm gia đình tại Sài Gòn... Yalea ra hàng không Việt Nam lấy luôn vé cho Bình. Đúng 10 gìờ sáng ngày thứ sáu trong tuần, trên cùng chuyến bay cũng mất 2 giờ hơn đáp xuống Tân Sơn Nhất.
58 • Nguyễn Văn Dy Vân
Taxi đưa ra Sài Gòn, vào hotel Palace trên đường Nguyễn Huệ lấy hai phòng. Yalea chia ra, một phòng cho Ba và khách của Ba; Phòng còn lại cho Ratien, Yalea và Bình. Bước chân xuống Sài Gòn là Ratien sợ đủ thứ, lạc đường, xe cộ cọ quẹt... ra đường là cứ ôm dính cánh tay Bình, có khi hốt hoảng ôm cả người Bình. Yalea thì đi phía sau em cho Ratien khỏi sợ... Bình càng thương Ratien hơn khi người Sài Gòn thấy cô Thượng ăn vận Xà-rông sặc sỡ lạ mắt ai cũng nhìn và soi bói làm em thẹn quá nép mặt vào bên hông liếc nhìn ra. Bình nói: - Ratien sợ gì mà núp như vậy. - Họ nhìn và cười, em mắc cỡ vậy mà. Yalea nhìn em mình và nói gì đó một tràng tiếng Rhadé, Ratien cố giữ thẳng người lại, nhưng vẫn chưa hết e dè! Cũng qua hai ngày, Bình phải về thăm gia đình: Ratien, chuẩn bị về gặp gia đình bên anh nhé! Gặp ba má anh cho biết. - Em lo quá, sợ nữa. - Sợ cái gì. - Em mắc cỡ lắm. Tuy vậy Ratien cũng phải đi cho Bình vui. Hai anh chị về đến nhà mấy cô em chạy ra ngạc nhiên nhìn, dù đã được
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 59
Bình nói trước từ lâu. Bình nói rằng, Ratien từ Ban Mê Thuột cùng anh về thăm gia đình và mấy em. Giới thiệu mấy cô em cho Ratien biết xong. Cô em Út hỏi:- Chị mới về Sài Gòn, vui không? - Vui mà sợ lắm. - Mấy em đừng hỏi nhiều cô ấy sợ, mà Ba Má đâu. - Ba đưa Má về thăm Nội vì cũng gần Tết rồi. Bình đưa Ratien và hai cô em ra Chợ Lớn ăn trưa trong một quán ăn Tàu. Món gà rôti khoái khẩu ngày nào được đưa lên cùng đĩa cơm chiên thơm phức. Bình hỏi: - Cơm ngon không, Ratien thêm gia vị gì không. - Anh Bình ăn gì em cũng vậy... và liếc nhìn hai cô em. Cô em Út có vẻ thích cách nhỏ nhẹ của Ratien nên nhìn Bình cười luôn miệng. Lẽ dĩ nhiên mấy cô em không it nghi ngờ về tương lai của anh mình, không phải vì cuộc sống mà là về ngôn ngữ và lối sống khác biệt có thể làm cho anh mình về lâu phải trong đơn lẻ và xáo trộn... Bình thì không có điều gì hơn cái hiền thục và dịu dàng của Ratien. Em luôn thanh nhã và duyên dáng, dù ai cũng nhìn em là một cô gái Thượng.
60 • Nguyễn Văn Dy Vân
Bình nghĩ chắc gì những cô gái Việt có được những tình cảm chân thật và dễ mến như vậy. Bình muốn để thời gian giải quyết còn chuyện tình cảm muốn gì cũng phải vào lúc thuận tiện. Bình rất thương Ratien, ngoài sự hiền hậu và tốt bụng của em, gia đình em rất hậu hỷ, xem Bình như người trong gia đình vì là bạn học với Yalea. Sáng hôm nay Chủ nhật cũng là ngày thứ ba, Bình mặc bộ quân phục thẳng nếp với chiếc Beret đen Sĩ Quan Thiết Giáp trên đầu với cặp “Galon” Thiếu úy trên cổ áo thật chỉnh, cùng Yalea và Ratien kéo nhau đi ăn món phở và bách phố Sài Gòn sáng Chúa Nhật mà lâu rồi không được dịp nào.... Cả ba ăn sáng xong lên taxi trở lại bờ sông cho Ratien nhìn cảnh sông nước Sài Gòn cho biết, xong theo dọc đường tự do, đến Brodard, Bình kéo tay Ratien và Yalea vào tìm lại không khí quen thuộc của những ngày tại Sài Gòn. Cũng vừa có được chỗ tốt bên ngoài hàng hiên Brodard phía đường Tự Do, nhưng chỉ có 2 chỗ. Vừa tấp vào cùng nhau đứng chờ dọn bàn, khách sành điệu Sài Gòn ngồi dọc các bàn bên hàng hiên huýt sáo liên hồi, vì ái mộ chiếc Xà-rông đen vàng trộn lẫn cùng cách ăn vận theo màu áo xanh trắng tươi non của Ratien đã làm em mắc cỡ vội níu cứng cánh tay Bình. Bình kéo Ratien quay sang đưa tay chào làm quen theo lối quân kỷ, xong vẫy vẫy tay và cúi đầu. Một câu vang lên, Thương về xứ Thượng hả Thiếu Úy.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 61
Bình đứng lên cười chào và cúi đầu lần nữa. Ratien thẹn quá vào ngồi bên trong, mắt cứ liếc và ngó xuống vì sợ bị người hỏi đến... Yalea nói: - Ratien ngồi ngay lên và thêm vào mấy tiếng Rhađé. - Em mắc cỡ mà. - Đó là ý họ nói em ăn mặc đẹp đó thôi. Bình nói. - Sài Gòn vui quá anh Yalea? Ratien nói. - Em thích ở đây không. Yalea hỏi. - Nhà mình ở Ban Mê Thuột mà, sao ở đây được. Đại ý em thích lắm, lạ mắt nữa, nhưng thường thì em vẫn nhớ về rừng và cây hơn. Căn cơ và dòng máu của gia tộc mà, có lần Ratien nói em thích vườn cây, cùng dãy nhà sàn bên họ tộc. Em không đủ ngôn ngữ để nói, nhưng có thể hiểu, những ngày đi lễ đạo nhà thờ em nói cũng thấy vui nhưng sau đó Ratien lại muốn về lại với quanh nhà hơn. Yalea và Bình đều thích café. Ratien tay khuấy liên hồi ly cam nhưng không thấy em uống mà cứ như nhìn quanh ngoài đường phố, để ngắm người qua lại... Cũng hơn nửa giờ, Bình mong nơi này là dịp để gặp được bạn bè Sài Gòn, nhưng nay chắc cũng đã nhập ngủ cả nên chẳng gặp được ai. Yalea nói: - Mình đi xem phố nữa đi Bình. Bình nhìn Ratien thấy em gật đầu, liền gọi người hầu
62 • Nguyễn Văn Dy Vân
bàn tính tiền. Bình ra hiệu ra về, Ratien đứng dậy ghì sát Bình cùng nhau vẫy tay chào các bàn bên cạnh để ra về. Cũng lại nghe tiếng huýt sáo tiễn cô em Thượng cùng chiếc Xà-rông lạ mắt với gương mặt dễ thương, cùng bên anh Thiếu Úy của binh chủng Thiết giáp trẻ trung, trong phong cách của một người lính. Thế nào thì đây cũng là ngày đáng nhớ và vui trong đời quân ngủ mà Bình có được. Binh chủng anh phục vụ là một lực lượng hùng mạnh thực sự, là chỗ dựa của mọi chiến thắng. Đúng tuần sau Ba của Ratien cho biết, mọi việc đã xong xuôi, mình sẽ về lại Ban Mê Thuột đúng như dự định. Bốn người về đến Ban Mê Thuột ngay chiều hôm sau yên lành. Yalea muốn giữ Bình lại nhà một hôm chơi với gia đình. - Anh Bình ở lại nhà chơi em thích lắm. Ratien nói. - Anh cũng vui nữa nhưng ngày mai hết hạn nghỉ rồi, cũng phải về đơn vị thôi. Dịp này Yalea đãi Bình một bữa thịt nai mà người nhà vừa săn được. Gia đình Ratien dù là người Thượng nhưng thường có vài bữa ăn trong tuần theo cách nấu ăn người Kinh, nên Yalea làm thịt nai khá hợp khẩu vị của Bình. Sau bữa thịt nai khoái khẩu cùng gia đình, cũng đã xế chiều Bình đến chào Ba, mẹ và Yalea cùng Ratien để về lại
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 63
đơn vị. Ratien nắm tay Bình nói: - Anh Bình mỗi tuần đến nhà chơi, em nhớ anh đấy! Bình vuốt nhẹ tóc Ratien nói rằng, anh sẽ đến mà... Cũng là tháng 12 năm 1967, chẳng bao ngày nữa là đến Ngày Tết Nguyên Đán năm 1968. Thị xã cũng có phần rộn rịp chuẩn bị buôn bán Tết. Các đơn vị thì cũng lo tổ chức ăn Tất Niên cho đơn vị nhưng năm nay không nghe thấy đơn vị nói tới việc này nên mất đi truyền thống và tập tục mà binh lính các cấp mong đợi. Bình thì cứ vài hôm được Yalea đến chở về nhà tiệc tùng cùng những người bạn Thượng và gia đình dịp mấy ngày cuối năm. Ratien thì luôn ngồi kề bên và tỏ ra thật dễ thương bên Bình trò chuyện. Em cứ hay giận hờn, cái gì không bằng lòng là “chúm môi” và ngó xuống! Và rồi Tết Mậu Thân đến, giữa giao thừa Việt cộng đồng loạt tấn công vào, lửa đạn rền vang, nát tan cả trong lẫn ngoài Thị xã Ban Mê Thuột. Dân chúng chạy loạn tránh bom đạn, gia đình thất lạc kiếm tìm khắp nơi. Sang ngày thứ ba, rồi thứ tư vẫn chưa đẩy địch ra hết khỏi thành phố. Bình có gặp Yalea và hỏi qua Ratien, biết rằng nhà vẫn bình yên, Yalea thì phải vào lo việc bảo vệ BCH/Tiểu khu Darlac... Sang ngày thứ sáu, cố dứt diểm để chiếm lại toàn Thị xã, Chiến xa bị trúng B.41, Bình bị luôn 2 vết thương vào tay và chân, được đưa vào bệnh viện Sư đoàn sâu phía trong căn cứ, chẳng biết được gì hơn ngoài hằng ngày thêm số thương binh mới vào.
64 • Nguyễn Văn Dy Vân
Cũng cả tuần Sư đoàn mới báo cho đơn vị đưa xe đến đón Bình về cũng là ngày biết được Ratien đã mất đi vì bị Việt cộng xả súng bắn vào căn trại của gia đình công chức, cận bên Tiểu khu, trong lúc Ratien cùng dân chúng kể cả đàn bà trẻ nhỏ trong Thị xã chạy vào ẩn núp bom đạn... Vết thương còn nặng trên người, nay lại nghe tin Ratien mất, Bình như quỵ hẳn xuống. Nỗi đau cứ như bất tận, như xé nát tim gan. Bình vội thay lấy bộ Treilli, nhờ tài xế đưa anh đến nhà Ratien. Mẹ em đang tức tưởi bên chiếc bàn cùng di ảnh con. Bình gõ cửa, mẹ Ratien đứng dậy chắp hai tay trước ngực. Bình cúi thấp đầu chào Bà. Bà lại khóc mà không nói tiếng nào. Bình cũng muốn để cho Bà yên. Yalea bước ra bắt tay bạn và kéo tay Bình sang đứng trước di ảnh Ratien. Bình chấp tay cầu nguyện không chớp mắt như biết rằng, lần cuối này rồi thôi, được đứng trước mặt em, và chẳng còn dịp nào có lại em. Cúi đầu xá trước ảnh Ratien mấy cái, Bình sang nắm nhẹ hai tay mẹ Ratien an ủi: - Xin Bà cho chúng tôi chia buồn cùng gia đình (Yalea dịch lại ). Với giọng sầu não Bà nói: - Ông sẽ không còn gặp lại Ratien nữa. (Yalea lại dịch lại).
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 65
Ngậm ngùi Bình ngồi xuống chiếc ghế đối diện mà không nói lên được điều gì ngoài vị cay lòng mắt. Bình từ giã ra về, cúi chào di ảnh Ratien lần nữa. Hơn tháng sau Bình được lệnh thuyên chuyển về đơn vị khác. Như vậy là cách biệt hẳn luôn những con đường, những hàng quán mà lâu nay cùng Ratien và Yalea thường lui tới sau những phút giây thư thả tản bộ, nhìn phố xanh bóng mát Ban Mê Thuột. Về đơn vị mới, một chốn xa xăm cũng là nơi cần cho Bình lúc này. Cảnh quang này chỉ còn biết sống cho vọng nhớ. Cũng gần cuối năm 1968, Bình có được 7 ngày nghỉ phép, anh dùng một phần thời gian này từ Phú Bài Huế về lại Ban Mê Thuột để thăm mộ Ratien. Được sự quý mến và tiếp đón của gia đình, Yalea và mẹ cùng đưa Bình đến khu nhà mồ Tộc người Rhadé để chiêm bái chiếc “chum” đựng tro cốt Ratien đặt cạnh một tượng con hạt trắng nhìn khách... Bình không chớp mắt nhìn chiếc “chum” mà anh vừa đặt lên mấy cành hoa vừa mua trước khi đến khu nhà mồ. Anh không để phải mắt bị cay, và cố giữ cho hồn mình lặng đi một chốc dành riêng cho em, để rồi lát nữa đây phải rời xa em và mãi mãi. Bình theo gia đình rời khu nhà mồ sau khi hai tay xoa nhẹ quanh chiéc chum mà em nằm trong đó. Cúi chào em
66 • Nguyễn Văn Dy Vân
lần nữa và theo xe ra về mà chẳng dám quay nhìn lại. Yalea đến trạm hàng không Việt Nam lấy dùm một vé đặc biệt, nên Bình có chuyến bay sớm về Sài Gòn để tiếp nối mấy ngày nghỉ phép còn lại. Yalea thay mặt gia đình tiễn Bình ra sân bay. Một buổi sáng hanh lạnh, buồn, Bình bắt tay Yalea với cả một niềm đau xót cùng tận, một cái vẫy chào riêng về cho Ratien dễ thương nơi âm cảnh.

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 06:09 PM
Gửi vào: #9


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 67


VÙNG DMZ

Đông Hà ải Bắc Tuyến lửa địa đầu
Trời Nam nghiêng ngửa, chiếc cầu Bắc ngang
Bao năm tro cốt tương tàn!
Can qua lửa đỏ tương tranh ngất trời...

Sau một đêm lênh đênh trên biển đầy mưa bão, sóng to, tờ mờ sáng con tàu đã giảm tốc độ, đổi hướng và sẵn sàng cập bến. Chiếc LST của Hải Quân Mỹ vừa ra khỏi bãi ủi Đà Nẵng chưa bao lâu đã hứng ngay cơn bão lớn. Cả đoàn người trên tàu phải vật lộn với cơn say sóng, người người ói mửa rũ riệt vì sóng to.
68 • Nguyễn Văn Dy Vân
Vừa cặp vào bãi cho người và xe lên bờ thì mấy tràng pháo địch từ hướng Bắc gửi đến chào mừng. Chốc sau, phi cơ của Hải quân Mỹ vào tới xạ kích vị trí pháo của quân Bắc Việt. BCH/ Thiết đoàn 11 Kỵ Binh thành lập xong cùng chi đoàn 1/11Thiết Kỵ được Hải quân Việt Nam đưa ra Đà Nẵng và xuống bến trú tạm mấy ngày chờ lệnh. Riêng Chi đoàn 1/11 Thiết kỵ vẫn tiếp tục cuộc hành trình đổ vào cửa Thuân An, về vùng Phú Thứ đang cần đến... Do vậy, đổ vào cửa Việt chỉ có BCH/Thiết đoàn cùng với một số quân dụng yểm trợ. Hành trình vào Đông Hà cũng êm xuôi, dù trên gương mặt từng người chưa thoát khỏi cơn say sóng mệt mỏi của đêm qua. Nhiệm vụ của Bình là đưa đoàn commando car với 6 chiếc V.100 lên tàu nhỏ theo đường sông vào Đông Hà trong chuyến sau cùng. Tạm thời vào khu đất trước ngôi chùa cạnh quốc lộ 1 đóng quân. Sáng hôm sau, hơn 50 quả pháo 130 ly từ bên kia sông Bến Hải rót vào nơi đóng quân của các Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ nằm về mạn Nam và Tây Nam không xa Thị xã Đông Hà là mấy. Dịp này họ cũng gửi đến vài quả chào mừng chúng tôi vừa đến vùng hỏa tuyến. Mấy ngày hôm sau tất cả kéo nhau về trại Sóc Sơn ngay nhà ga cũ, bên quốc lộ-9 và nhánh sông Đông Hà gần ngôi Miếu nơi khúc quanh hướng về Khe Sanh...
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 69
Một thời gian sau khi nhận chức vụ chi đoàn trưởng CH&CV được mấy tháng, Bình được điều ra căn cứ A-2 với hình thức đa nhiệm vụ. Căn cứ này trước kia của Mỹ dùng do thám bên kia vĩ tuyến 17 thì phải, nay quân đội Việt Nam Cộng Hoà mình đảm nhận dù chỉ một phần nhưng cũng không ít khó khăn, vì chẳng có phương tiện nào ngoài cặp mắt và cái ống nhòm. Từ nóc của căn cứ A-2 nhìn thẳng ra chiếc cột và lá cờ của Bắc Việt vươn cao từ bên kia đầu cầu Hiền Luơng thì có lẽ đây đường thẳng ngắn nhất. Tại một góc quốc lộ-1 và lằn ranh phía Nam vùng DMZ (Demilitary Zone) còn lại một số nền nhà, phố cũ bị phá hủy, san bằng do bom đạn từ khi nào, mà trong bản đồ ghi là Lệ Môn. Ngồi trong căn cứ, mỗi lần nghe tiếng pháo từ bên kia bờ Bắc bắn qua, thì y như rằng tiếng còi hụ báo động của các sư đoàn TQLC Mỹ cũng vang lên mồn một. Những người canh giữ nơi đây chỉ còn biết dùng tiếng cười, chớ làm gì hơn, khi nằm cách bờ Bến Hải không hơn 5 cây số ngay trên vùng DMZ, mà chẳng biết lúc nào chúng tràn qua. Hiểu rằng như vậy, nhưng với một nơi không yên ổn tí nào này, chỉ còn đem bổn phận mình ra đặt lên là không còn gì thắc mắc. Tuy nhiên chưa điều gì xảy đến, phía địch sợ tốn đạn chăng hay chưa cần chiếm lấy làm gì. Ngược lại nơi đây chúng tôi có một hệ thống kiểm soát điện tử được nhiều người nghe qua và nhắc đến, đó là hàng
70 • Nguyễn Văn Dy Vân
rào điện tử Mc.Namara... được thiết trí và trang bị sẵn khi nào rồi, chúng tôi chỉ cần được huấn luyện sơ qua kỹ thuật là ngồi vào sử dụng được. Thay phiên nhau ngày đêm trong hầm máy trực, ghi. đếm và gọi pháo về trung tâm phân phối và điều chỉnh pháo bắn vào các điểm địch xuất hiện, cả đêm lẫn ngày. Căn cứ A-2 phụ trách khoảng hơn 20 trụ censor thu tín hiệu địch xuất hiện. Tại mỗi điểm (censor) mang một số, khi có người xuất hiện, số censor đó hiện lên, mỗi bóng người hiện lên một cái chớp của số đó, bất cứ điểm censor nào xuất hiện 3 cái chớp trở lên thì gọi điện thoại đến trung tâm phân phối pháo bắn vào toạ độ đó... Một việc đơn giản như vậy thôi, nhưng người nào cũng e nơi này vì như ca sĩ Duy Khánh hát lên ca khúc “Kẻ ở miền xa” của Trúc Phương thì nó eo xèo làm sao... Tôi ở miền xa, Trời cao đất lạ, Nhiều Đông, lắm Hạ Nối tiếp trôi qua, Thiếu bóng đàn bà... Hay: Ngoài kia súng nổ, Đốm lửa đêm đen, Tầm đạn thay tiếng em...
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 71
Buồn dâng chan chứa, vắng bóng đàn bà... Một nỗi mất mát mà người đời ít ai mong muốn! Ngày thì trời cao, mây tầng, gió cát. Tối lại sao trời lay lắt, chứa chan. Về đêm, thỉnh thoảng từ xa, từng chùm hải pháo gửi vào, nổ vang, tung lên sáng cả bầu trời những quả bom bi rực đỏ, theo sau là một chuỗi dài tiếng nổ... Bao la ơi, bao mảnh đời trong vòng quay của tham vọng. Từ sông Gianh lằn ranh Trịnh Nguyễn chưa đủ đau lòng cho đất nước hay sao, nay lại mang về gươm giáo ngoại lai vạch lằn ranh mới để giết hại đồng bào. Tham vọng mà trở thành xuẩn ngốc. Bọn Hán cầm lưỡi gươm vạch lên mảnh đất mình một lằn ranh máu như vậy mà lại công kênh, tôn vinh chúng. Dân tộc Việt Nam ngày càng yếu hèn cũng là do cốt lõi của đường ranh này... Cầm gươm, cầm súng vào Nam giết đồng bào mình cho chúng, vậy là yêu nước đó sao, có thấy được bao lâu Việt Nam này sẽ nằm gọn vào tay bọn Hán! Hồ Chí Minh, chỉ là một tên điếm thời cuộc, được tin cậy của nhà chứa, cho ra quân sau Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên. Bọn Mỹ cũng chẳng gì hơn bọn điếm, đám con buôn, miền Nam đang lúc cần củng cố và kiến thiết xứ sở sau sự ra đi của Pháp thì Mỹ đưa đồng Dollard vào. Đồng tiền vạn năng này thoạt đầu như là dòng máu tiếp
72 • Nguyễn Văn Dy Vân
cho sự sống của miền Nam, nhưng đi sâu vào, nó là dòng thuốc độc, quật ngã bất cứ ý tưởng độc lập và yêu nước nào đi ngược lại quyền lợi và chiến lược của nó. Anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị chết thảm là vậy. Có đứng trước lằn đạn, hay ngay đầu sóng ngọn gió mới thấy cái nhức nhối của đất nước... cùng những thảm trạng trên hai miền. Chiến đấu bảo vệ miền Nam là bổn phận của mọi người, nhưng nhìn sâu về Sài Gòn, Thủ đô của miền Nam, hậu phương tương đối yên ổn, ăn ngon mặc đẹp, lại thấy không ít những tên theo đuôi, ăn phải bùa ngải cộng sản, cố mài lưỡi kiếm để đâm nát vào những thành quả có được của bao máu xương người lính miền Nam, chúng tôi đêm ngày ngoài tuyến đầu phải đứng ngồi canh giữ từng rẻo đất cho chúng ngủ yên. Đám trí thức lừng khừng hám danh này còn lén lút thành lập chính phủ hòa giải dân tộc để gây rối với luận điệu rằng do miền Nam gây chiến tranh và ngóc đầu lên đòi hòa bình... Căn cứ A-2 được lập nên giai đoạn đầu sử dụng như một hàng rào tình báo, dòm ngó qua bên kia bờ Bắc. Toán người Mỹ trong căn hầm cùng những máy móc trong góc bìa căn cứ vẫn còn đó mà ta không được biết gì hơn về họ. Có khi cả ngày không thấy họ bước ra, có khi giữa đêm trực thăng đến bốc họ đi tối hôm sau trở lại. Một hôm họ muốn chúng tôi gồm 3 người cả vị Trung đội trưởng của trung đội Bộ binh được phái đến giữ an ninh phòng thủ quanh căn cứ cùng lên trực thăng bay quan
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 73
sát phần Nam vùng phi quân sự từ bờ biển đến cứ điểm Côn Thiên cho có ý niệm về việc ngăn chặn của hàng rào Mc Namara. Họ cho Trực thăng bay khá thấp hai lần để quan sát phần Nam vùng DMZ. Và bay thật cao để nhìn về phần đất vùng Bắc DMZ... Tình hình trong những ngày này có phần yên tĩnh ngoài trừ bị pháo kích. Có khi là hằng ngày, có khi vài ba ngày chúng pháo thẳng vào các sư đoàn TQLC Mỹ và quanh BCH Trung đoàn 2 BB của Trung tá Vũ Văn Giai, có khi lọt ra khu cư dân và chợ Đông Hà. Năm đó, tuổi thanh niên hào khí còn đầy, chiến đấu thì nơi nào cũng là bộn phận của người lính. Đến vùng địa đầu rồi thì đâu cũng trong vùng lửa đạn, vùng đất chết thì sự sống cũng mong manh, chỗ nào cũng có kẻ thù, trái mìn và tọa độ pháo. Đó là vùng câm, không tiếng người, không tiếng chân cầm thú, quanh mình chỉ là cát, sỏi, mảnh đạn cùng hố bom. Thấy một đàn chim cũng đã vội mừng, dù chúng hiện xa gần bên kia bờ Bắc. Những chiếc cầu vòng ngủ sắc theo sau những cơn mưa sớm, xa xa về chân núi cũng là niềm vui. Ráng chiều rực đỏ hiên Tây, ánh lên hình cánh quạt, dần khuất sau rặng Trường Sơn, rồi mờ dần vào bóng mây về phương Bắc. Bóng trăng lộ dần theo tiếng đêm, chiếc Radio cạnh góc bàn vọng lên:
74 • Nguyễn Văn Dy Vân
Đêm nay trăng sáng quá anh ơi, Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu... Hay Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng. Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên... ………. Căn cứ A-2 cứ thế lặng chìm, trăng cứ lên mà không cần người ngắm. Bình đứng bật dậy bước lên nóc hầm nhìn về hướng tiếng hải pháo bắn vào rực đỏ nổ vang cũng là hướng chiếc cột cờ bên kia cầu Bến Hải, nhưng nó vẫn cứ phất bay... bay phần phật, giật chìm đất nước. Rồi một lần đang cùng nhau trên nóc hầm phơi nắng sớm, một loạt đạn pháo 130 ly từ bên kia bắn qua, mảnh văng tung tóe, bụi phủ đầy người, cùng nhau phóng chạy, mất đi một ngày sáng sớm, nắng mai. Lần thứ hai, rồi lần thứ ba này cũng vào đầu hôm, pháo như vung vãi một lúc, nhưng đều rơi bên ngoài. Bên kia về hướng Tây, Côn Thiên pháo địch cũng đang loé chớp liên hồi. Hải quân từ Hạm đội 7 nào tha bọn phỉ, từng phi vụ nhào lộn đánh bom rực sáng cả góc trời... Lửa đạn buồn chán, sao trời lại còn ray rứt hơn, cứ mỗi lần sao đêm xuất hiện là nỗi nhớ hiện về, ít nhiều cũng chạnh lòng người xa xứ.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 75
Đêm ngày buồn vắng, chỉ còn chiếc Radio. Sài gòn ơi, buồn thương ta nhớ Người da diếc, và nơi này hỏa tuyến địa đầu ơi, ngập máu đồng bào. Bọn khiếp nhược ơi, những bài ca phản chiến, ác độc thay, rệu rã cả lòng người: Đại Bác đêm đêm dội về thành phố Người phu gác đường, dừng chổi đứng nghe Từng chuyến bay đêm con thơ giật mình
Ghế đá công viên dời xa đường phố Người già co ro buồn nghe tiếng nổ. Buồn não nuột, một vùng hoang địa, quanh năm cát gió. Năm, ba người kéo nhau lội bộ xuống bên ngoài căn cứ C-1 để được nhìn thấy bóng người quẩn quanh, lánh nạn tụ nhau thành xóm, hỏi han vài ba câu chuyện, hay nựng nịu vài trẻ nhỏ làm vui. Đời trai trẻ đổ vào chiến tranh, thui chột ước mơ. Một thế hệ của bom rơi, lửa đạn, một quãng đời của chết chóc và lầm than. Mấy đêm nay vùng DMZ như có gì đó biến động, Hải pháo Mỹ liên hồi bắn phủ đầu vào vùng Nam cầu Bến Hải hướng về căn cứ Côn Thiên. Lửa rực cả bầu trời, từ các pháo hạm bắn vào, toàn các loại pháo cỡ lớn nổ từ cao tung ra những quả nhỏ bom bi rơi xuống, nổ tiếp phủ quanh một vùng như pháo hoa ngày hội,
76 • Nguyễn Văn Dy Vân
sau đó là những ánh chớp của không ảnh... Sáng hôm sau trên bầu trời quần đảo nhiều loại thám sát cơ, lui tới liên hồi. Vài tuần được tiếp tế thực phẩm một lần, cũng là lúc được về Đông Hà qua phố. Uống ly café, ăn tô phở và nhớ về Sài Gòn... gửi vài lá thư, thăm bạn bè xong và trở lại chốn cũ. Một cô gái quen hồi mấy tháng trước thấy Bình đến, nở nụ cười thật tươi, đặt sấp vải vừa cắt bán xong xuống sạp vừa hỏi: - Anh mới về đến. Đáp lại Bình đưa bàn tay vẫy vẫy nhẹ ngang trước mặt, cười nói: - Chi hôm nay có chiếc áo đẹp quá. - Thôi đi, đẹp gì. - Thật mà. Thanh Chi là một cô gái gốc Hoa, nhỏ thó, hiền hậu, trắng, đẹp nhẹ nhàng, ba cô ta có hiệu thuốc Bắc tại phố nhỏ Đông Hà. Tuy là người gốc Hoa nhưng ở xứ sở với nhiều sắc lính, nên Chi cũng mến đời lính: - Lính Thiết giáp hiền quá vậy, ngồi đây. - Và cũng dễ thương nữa phải không. Bình nói. Em cười và nói:
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 77 - Ừ nhỉ! Mà khi nào anh trở ra ngoài đó. - Chốc nữa, xe đang chờ anh. - Chừng nào về lại lâu hơn, mình đi ăn kem anh nhỉ! - Biết có trở về không. - Anh nói nghe không hay tí nào. Bình vẫy nhẹ, hẹn gặp lại, nhưng: “Em chỉ là em gái thôi...” oOo Tuần sau Bình được lệnh về Đông Hà tạm thời đến chi đoàn 2/11Thiết Kỵ thay ông Trần Văn Minh chi đoàn Trưởng theo khoá học tại Hoa Kỳ. Đến căn cứ C-1 được hai tuần sau, một Đại đội của Sư đoàn 1 BB đến tăng phái càn về hướng Côn Thiên, len lỏi lục soát giữa các khu tràm nhỏ, sâu vào Tây Bắc nhưng chẳng thấy dấu vết mới nào. Tuy nhiên thỉnh thoảng trong các bụi cây lộ ra bộ xương, vài khẩu súng của địch. Có khi cây AK, có khi nòng súng cối 60 ly và khẩu B-40 mà chúng phải thoát thân bỏ lại... Chiến trường xảy ra khi nào hay vì pháo bầy từ hạm đội Mỹ. Rải rác cạnh các lạch nước những khúc xương khô hay nửa hàm răng, khúc xương đùi còn đó. Sinh Bắc tử Nam vùi chôn cùng đất lạnh, mây ngàn. Nằm bên khẩu súng của bọn thừa sai, bộ xương kia có thấy
78 • Nguyễn Văn Dy Vân
cái bọn khốn đó nó bỏ mặc xác các anh không. Những tên cán binh miền Bắc này vào đây nhận cái chết tan xác như vậy, có phải cho gia đình có được chén cơm, khỏi những cơn tố khổ, con cháu mới có chỗ học hành? Họ ra đi vì nghĩa cả gia đình hơn là giải phóng miền Nam như những tên Vẩu, Vẹm láo lếu. Ba ngày sau bị một trận pháo 130 ly tơi bời. Sau những loạt đạn đầu, bộ binh đều vào được trong xe. Bình cho các chi đội phân tán nên chỉ một số thành xe bị mảnh phang vào. Sau đó được lệnh rút về căn cứ... Tình hình lúc này có phần nhẹ đi, có lẽ trong Tết Mậu Thân chúng bị thiệt hại quá nặng, dù gây được tiếng vang khi chiếm được Huế. Tuyên truyền, nhưng cũng chỉ để lấp liếm sự thất bại mà thôi. Hơn 60 ngàn quân phơi thây thì lấy gì gọi là chiến thắng, nên lồng lộn lên giết hơn 6 ngàn dân quân miền Nam khi chúng chiếm cứ được Huế để trả thù khi thua chạy và rút đi. Cứ năm ba ngày có một cuộc hành quân tuần thám quanh căn cứ C-1 hay gần về Đông Hà. Từ Quốc lộ 1 ra biển thì tương đối trống trải, một vùng sóng cát, lượn dài, có tầm quan sát xa nên địch không mấy dám có ý đồ chiếm vùng này. Theo bản đồ những nơi này là những plantation, nhưng nay thì chỉ là những cánh đồng cát cùng hố bom mìn. Có những nơi đất không chân, chiến xa vào là bị vướng lầy cát
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 79
ngay, nên ít khi có mở cuộc hành quân nào vào. Hơn nữa Mỹ vẫn còn căn cứ tiếp liệu tại cửa Việt để đưa hàng tiếp tế vào cho các sư đoàn TQLC của họ tại Đông Hà. Đóng tại C-1, cảm nhận sự nhẹ nhàng hơn, vì căn cứ rộng lớn này có pháo đội 105 ly cùng một đơn vị bộ binh của sư đoàn 1 trấn giữ và phòng thủ. Các Bunker Mỹ để lại tương đối chắc chắn để trú ngụ và sinh hoạt. Cứ mỗi lần pháo 130 ly gửi đến là vào các Bunker này trú ẩn... Chiến trường vùng Hỏa tuyến những năm tháng này chỉ có pháo 130 ly là lo ngại nhất, vì sau trận Mậu Thân hoạt động của địch giảm sút đáng kể, lực lượng chúng không còn thấy xuất hiện nhiều như xưa, hẳn là quân số thiếu hụt chờ bổ sung. Pháo 130 ly của miền Bắc khá nguy hại và gây nhiều thương vong, vì từ bên kia vĩ tuyến bắn sang, ngoài tầm pháo 105 ly hay 155 ly của ta nên chẳng cách nào phản pháo lại được. Chỉ có hải pháo Mỹ, nhưng họ cứ như đùa cùng nhau... Mấy tháng sau toàn thể di chuyển về hậu cứ mới, một doanh trại do quân đội Mỹ giao lại trên đường vào nhà thờ La Vang Quảng Trị, về bên phải qua đường xe lửa một đoạn ngắn. oOo Thị xã Quảng Trị nằm sát phía Nam sông Thạch Hãn, nơi đây có thể gọi là hậu phương lớn của vùng Hỏa tuyến, nên mọi thứ đều nhẹ nhàng, cả về phòng thủ. Đấy là vào
80 • Nguyễn Văn Dy Vân
khoảng gần cuối năm 1968, quân đội Mỹ còn đóng giữ tại căn cứ và phi trưòng Ái Tử. Từ nơi này có thể dùng xe Jeep vào thăm nhà thờ La Vang hay mỗi tối vào Thị xã Quảng Trị nhấm nháp tách café hay ăn ly kem, nghe nhạc mà không phải lo lắng. Phi trường Ái Tử tràn ngập quân dụng tiếp liệu cho quân đội Mỹ. Vào trong vẫn thấy binh lính Mỹ cởi trần phơì nắng... Cổ thành Quảng Trị, nơi đặt BCH/tiểu khu Quảng Trị với lá cờ vàng vươn cao ấy vẫn là nơi cho các đơn vị đồn trú quanh vùng này nhìn vào, đặt niềm tin chiến đấu... Hậu cứ mới khá rộng rãi và tiện nghi, đầy đủ nơi ăn và sinh hoạt, cũng giúp một phần cho đời sống binh lính. Đang chỉnh trang lại doanh trại thì được “Sếp” Dung cho biết là có lệnh về miền Nam và về chuẩn bị bàn giao hậu cứ Chi đoàn 2/11TK... Nhận được Sự Vụ Lệnh sau đó mấy hôm, Bình chỉ kịp phóng xe ra lại Đông Hà đi một vòng cùng bạn bè với đôi lời giã biệt... để về Nam... oOo Huế vẫn vậy, sông Hương vẫn lặng lờ, chim chiều lượn ngang, đảo dọc. Thuyền xưa vắng bóng, ngày nào đó xa rồi. Thăm Huế như vậy cũng đủ chưa, vì còn ai đâu sau Tết Mậu Thân, tứ tán cả... Hôm sau Thanh Chi đưa Bình cùng ngắm lại sông Hương, để khoảng ngắn nữa đây chia tay.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 81
Thanh Chi cô gái Đông Hà thật dễ mến kia, nhìn Bình rồi nhìn lên đôi chim lượn bên sông. Em nghĩ gì giây phút nấy! Em kéo tay Bình vào trạm hàng không Việt Nam chờ chuyến xe ra phi trường. Ngồi chờ chuyến bay đến để về Sài Gòn, Thanh Chi ghì chặt vai Bình dụi mắt vào áo trận mà không nói được lời nào cho đến khi Bình bước lên cầu thang máy bay. “Đừng quên những ngày này nhé anh!”. Rời Phú Bài về Sài Gòn, Bình thầm thì, “Xin trả lại những bước đêm trên vùng Hỏa tuyến”...
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 06:20 PM
Gửi vào: #10


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





NHỮNG BỨC CHÂN DUNG

Tạo hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
(Bà Huyện Thanh Quan)

Đây là lần thứ hai đơn vị Bình có lệnh vượt qua biên giới tiến sâu hơn vào lãnh thổ Kampuchea sau khi toàn bộ Lữ đoàn tấn công qua vùng biên giới mạn Nam Tỉnh Sway-Rieng, nơi bọn Cộng sản Bắc Việt thiết lập cả một hệ thống hậu cần, trải dài dọc theo hành lang biên giới Việt Nam, chứa đủ mọi loại vũ khí đạn dược và lương thực từ Bắc chuyển vào.
84 • Nguyễn Văn Dy Vân
Vừa qua lãnh thổ Miên về phía Đông Thị xã Hồng Ngự chưa đầy 20 cây số thì tiếng của Đại Tá/Tư Lệnh vang lên trong máy từ Thị trấn Neak-Luong, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Lữ đoàn/hành quân - “Mặt trời” đang trên đường tới hãy giữ đội hình di chuyển cho tốt... Tiếng trong máy vừa dứt chưa đầy 15 phút sau là nghe tiếng trực thăng từ hướng biên giới đang tới. Trực thăng lượn một vòng và đáp xuống bên trái đội hình các thiết xa còn đầy bụi mù. Bình cho chi đoàn dừng lại và xách bản đồ cùng người HSQ/HQ mang chiếc máy truyền tin PRC-25 chạy đến. Thiếu Tướng Ngô Du Tư Lệnh Quân Đoàn IV cũng vừa bước xuống trực thăng. Ông hỏi Trung Úy là Chi đoàn Trưởng phải không, chỉ huy chi đoàn bao lâu rồi... Ông vẽ một đường lên bản đồ và bảo đi nhanh hơn lên về hướng Bắc cho kịp các cánh quân. Đấy là vào khoảng gần cuối tháng 4 năm 1970. oOo Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Hoàng Thân Sirit Matak của vương quốc Kampuchea cùng Thống Chế Lon-Nol đã đảo chánh lật đổ chính phủ ông Hoàng Sihanoux, thành lập nước Cộng Hoà Khmer. Vào khoảng trung tuần tháng 4/1970, chính quyền mới của Lon-Nol cho quân đội bố ráp kiều dân Việt Nam sống quanh Thủ Đô Phnom-penh và luôn cả các Tỉnh, Thành, Thị trấn, cùng làng mạc về phía Đông
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 85
và miền Nam đưa vào các trại tạm giam. Nơi đây các cuộc bắn giết, tàn sát bắt đầu xảy ra. Ngày 15/4/1970 có hàng trăm thi thể người Việt bị giết thả trôi trên dòng Tonlé Sap ngang qua Tân Châu và An Phú vào sông Cửu Long. Chính quyền và quân đội Lon-Nol lúc đó cho rằng số Việt kiều bị giết trên là người của Việt cộng và tình báo của Bắc Việt... oOo Sự việc quân đội Việt NamCH được bật đèn xanh đưa quân sang đất Miên đánh vào các khu hậu cần của quân Bắc Việt, một phần để giúp cho chính quyền mới Lon-Nol ổn định và cũng vừa phá hủy các khu tiếp liệu của chúng, phần khác cũng tạo áp lực lên chính quyền và quân đội Miên ngưng các cuộc tàn sát ấy. Thế nên cánh quân của Việt Nam Cộng Hòa này mới có lệnh tiến sâu hơn về hướng Bắc, cặp theo hướng Đông sông Mé-kong, về mạn Đông Nam Thị trấn KongPong-Chàm và cũng là phía Đông của Thủ Đô Phnom-pênh. Cũng đã hai giờ chiều, nắng nóng và khí hậu khô khan, nhìn quanh anh em binh lính ai cũng mỏi mệt, khô cả người nhưng phải theo lệnh vượt qua Quốc lộ-1 thẳng về hướng Kongpong Chàm. BCH/Thiết Đoàn cùng hai chi đoàn khác đi song song bên trái cách nhau non một cây số. Sau mấy giờ liền di chuyển, cũng được nửa đường, Lữ đoàn cho đóng quân lại vì trời cũng lờ mờ tối. Hôm sau BCH/Thiết đoàn cùng 2 chi đoàn chiếm dọc
86 • Nguyễn Văn Dy Vân
khu cư dân xa về phía Bắc tỉnh Prey-veng, phía Đông sông Mekong. Riêng chi đoàn chúng tôi thì hướng tới vùng Nam Đông Nam Thị trấn Kongpong Chàm khoảng hơn 30 cây số cũng về bên này bờ sông Mékong, lục soát và chờ lệnh. Khi đến mục tiêu cuối cùng thì chạm với một lực lượng địch chừng hơn Trung đội, chúng đã bỏ lại ba xác đồng bọn, toàn là bộ đội Bắc Việt. Ta bắt sống được hai tên Việt cộng, chúng khai là có một Tiểu đoàn phân tán rộng trong vùng này... Có lệnh tìm vị trí nghỉ đêm và Chi đoàn lui lại cách bờ sông Mékong cũng hơn 15 cây số, trên một khu đất khá rộng nhiều cây to thưa thớt, thích hợp cho Thiết Giáp và Bộ Binh đóng quân đêm. Đại đội Biệt Động Quân tùng thiết quân số khá đầy đủ, sau mấy ngày cũng đã mệt mỏi bơ phờ vì cái nắng đổ lửa trên đất Miên. Vị Đại đội trưởng đề nghị các tiền đồn xong, thành phần chỉ huy bố phòng phía trong một tàng cây rộng. Một trận đánh thứ hai cũng về phía Đông sông Mékong về phía Nam vị trí đóng quân 3 cây số, ta đã đẩy chúng phân tán xuống hướng Nam, gần tiếp giáp với vùng hành quân của Lữ đoàn TQLC trong tỉnh Prey-veng. Năm hôm sau toàn thể được lệnh rút về ngang qua vòng đai tỉnh lỵ Prey-veng, bắt tay được Lữ đoàn TQLC. Sau đó toàn bộ di chuyển thẳng xuống Thị trấn và cũng là bến phà Neakluong cũng đã vào nửa đêm. Hôm sau, Bộ Tư Lệnh/Lữ đoàn và thiết đoàn được tàu của Hải quân vùng IV đưa về Việt Nam. Riêng đơn vị Bình
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 87
lại tăng phái cho Liên đoàn BĐQ tiếp tục hoạt động xa về phía Đông bến phà Neak-Luong và phía Nam QL-1 trong tỉnh Sway-Rieng. Vùng này quân Bắc Việt còn nhiều đơn vị quanh quẩn, giữ các khu hậu cần còn lại xa về bên trong biên giới, và hầu như chạm mặt với chúng hằng tuần. oOo Sau hơn một tuần, toàn bộ lực lượng về ngang Kongpong Trabet thì có lệnh dừng quân. Thiết giáp phía Nam. BĐQ nằm vòng đai phía Bắc vừa giữ an ninh cho Thị trấn cũng vừa để chỉnh trang lại quân xa quân dụng sau hơn tháng trời vất vả cùng nắng cháy trên vùng biên giới. Lợi dụng đơn vị dưỡng quân mấy ngày, Bình và một số sĩ quan bên đơn vị bạn xin được phép nghỉ một ngày đi Thủ đô Phnom-Pênh mua sắm một ít đồ dùng cá nhân. Phnom-Pênh khá sạch sẽ và đẹp, lịch sự hơn cả Sài Gòn dù rằng nhỏ và không gì sầm uất hơn. Vẻ đẹp của PhnomPênh sang trọng nhờ vào những Dinh thự và nhánh TonLéSap của sông Mekong ngang qua khu cung điện Hoàng gia Kampuchea. Phố trung tâm đường xá có phần nhỏ hẹp nhưng các hiệu buôn rất đẹp, bày bán đủ loại hàng hóa đắt tiền và rẻ hơn Sàì Gòn. Trưa lại xuống vùng có tên là cầu Sài Gòn về phía Nam ngoại ô Phnom-Pênh bắt ngang dòng Tonlé – Sap, là một nhánh của sông Mékong, cầu khá dài, đẹp và rộng. Chúng tôi được nghe những người Việt còn sống sót sau vụ “cáp
88 • Nguyễn Văn Dy Vân
duồn” của mấy tháng trước kể lại là giữa đêm hôm đó lính Miên Lon-Nol bất thần bố ráp bắt tất cả người Việt sống quanh khu vực này ra tập trung lại trên cầu Sài Gòn một lúc chúng có lệnh giết tất cả và ném xác xuống sông. Đủ mọi cách, từ đập đầu đến súng đạn lưỡi lê, từng người, giết xong bỏ bào bao cột túm lại, đẩy xuống dòng Tonlé Sap. Đến lúc hết bao, giết xong hai tên hai đầu khiêng quăng xuống cho nước trôi đi. Nghe mà khiếp đảm cho cách giết người. Những lần hành quân sau đó, gặp mấy Sĩ quan Miên theo đơn vị quan sát, Bình có hỏi nguyên nhân sao phải giết người Việt Nam, thì họ cũng giải thích là số người Việt đó là người của Việt cộng đưa vào mà tình báo Miên đã nắm từ lâu... Vì giữ tình hữu nghị giữa Việt NamCH và chính quyền mới Lon-Nol, mọi thứ cũng đi qua. oOo Và hôm nay một lần nữa đoàn tàu của hải quân Việt Nam đến bến phà Neak-Luong Kampuchea đưa đơn vị Bình về nước. Đã hơn nửa năm qua nay mới được về lại quê nhà, đó là vào giữa năm 1971. Nước nguồn sông Mé-kong quanh năm vẫn cuồn cuộn theo dòng như ngày nào, một màu thẫm đục của phù sa từ xa xăm đâu đó trên nguồn mang về dâng tràn trải rộng trên khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long mênh mông, bát ngát. Những con tàu nhỏ mỗi chiếc chỉ chở được hai thiết xa
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 89
M.113, lừ đừ chậm chạp trên dòng cũng gần nửa ngày mới về được đến bãi ủi cạnh thị xã Châu Đốc. Dòng người qua lại dưới bóng chiều, từng chiếc lá cuộn rơi, xoắn nhẹ trong những cơn lốc nhỏ chạy dọc theo cạnh những chiếc M113 vừa lên bờ. Từ bờ sông dẫn vào thị xã một vài tiếng còi xe đánh động, làm Bình giật mình, anh bước tránh vào. Chiều bên phố thị Châu Đốc, lâu rồi mới được nhìn lại, những tà áo thướt tha cùng những dáng đi, hình ảnh quê hương yêu dấu lâu nay trong từng thớ thịt, huyết quản, giờ đây cũng ấm lại phần nào tâm hồn như lạc lõng bấy nay. Ngược xuôi, trên bến dưới thuyền, dập dìu phố thị, Châu Đốc một thị xã luôn nhộn nhịp với bán buôn đủ loại hàng hoá lậu thuế từ Trung cộng, Thái Lan, nơi mùi chiến tranh cứ như ẩn hiện trong từng giờ, từng lúc. Hầu như người đến Châu Đốc phần lớn là vì cuộc sống hoặc bán buôn hơn là có gia đình gốc chốn này, vì nơi đây là tỉnh lỵ biên giới trong khung cảnh chiến tranh. Ngoài ra thì lãnh thổ này, cũng là nơi Cộng sản Bắc Việt đặt nhiều trọng điểm xâm nhập, là đường dây đưa binh lính và vũ khí từ miền Bắc vào sâu xuống vùng đồng bằng. Quân đội ngày đêm vừa ngăn chặn vừa bảo vệ phần lãnh thổ trong lặng lẽ. Giao tranh không cận kề thị xã lắm, nhưng cũng có thể coi nơi đây là một thành phố nặng mùi chiến tranh. Các đơn vị Thiết giáp cũng thường xuyên qua lại trên đất Miên giúp chính quyền Lon Nol hoăc trấn giữ vùng núi Thất Sơn thường phải đi qua ngang đây. Những trận đánh
90 • Nguyễn Văn Dy Vân
xảy ra cũng đã quen mắt, quen tai với dân chúng nơi này, đêm đêm những ánh sáng của hỏa châu, cùng tiếng đại bác gầm vang cũng đã không làm họ phải giật mình. Châu Đốc thời binh lửa là thế, cuộc sống của cư dân những vùng biên giới, chiến tranh như thân quen với họ, tuy vậy một vài nơi đã phải bỏ ngỏ, hay phải rời xa mảnh đất của Tổ Tiên cùng ruộng đồng, nhà cửa thân yêu của mình. Sau khi xuống bãi và lên bờ đầy đủ, chi đoàn di chuyển đến một ngõ vắng chờ nhận tiếp nhiên liệu và kiểm soát lại quân xa, thì đoàn tiếp vận từ hậu cứ Long Xuyên cũng vừa đến. Một số gia đình binh sĩ biết được đơn vị về lại Việt Nam cũng lác đác tìm đến với chồng. Dù chỉ những niềm vui tạm thời nhưng trên từng nét mặt mỗi người, hiện hẳn lên lắm nỗi vui mừng bên người thân từ phương xa vừa trở về. Thời gian có ngắn ngủi, nhưng tình cảm của gia đình mang đến, phủ cả khúc đường, dâng tràn lên đơn vị. Chồng nâng niu đùa với con, vợ thì làm duyên kể lể những ngày xa vắng. Hoạt cảnh hiện tại, thử tưởng tượng cũng chẳng khác nào với hình ảnh người chinh phụ trong chinh phụ ngâm khúc... Một cuộc đời một cuộc sống, người dân Việt Nam được sinh ra để phải chịu mãi với chiến tranh, có phải đây là cái nghiệp với thế gian mà ông cha đã để lại! Đau thương tiếp nối đau thương, đất nước cứ mãi sống trong loạn ly, đổ nát vì đám ngoại lai từ phương xa ập tới...! Sau khi nhận tiếp tế xong, Chi đoàn theo lệnh vào trấn khu vực núi Cô-Tô và núi Dài. Đây là đường chuyển quân
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 91
của bọn Bắc Việt từ Bắc vô qua lãnh thổ Kampuchea vào miền Nam để xuống sâu vào miền Tây. Khu vực này Sư đoàn 9 BB đang hành quân bao vây và đánh hỏa công vào hang Tuk-Chup trên núi Cô Tô, nơi ẩn náu và chứa lương thực, vũ khí mọi loại của chúng từ Bắc đưa vào. Hang động này ăn sâu vào lòng núi, các đơn vị ta nhiều lần tiến vào bị khá nhiều thiệt hại nên Thiếu Tướng Trần Bá Di Tư lệnh sư đoàn 9 Bộ Binh quyết định đánh hỏa công, cho trực thăng mang từng lưới xăng thả vào hang và trực thăng võ trang bắn rocket đốt cháy. Hơn tháng sau, lệnh từ quân đoàn IV, đơn vị Bình rời khu vực qua lại đất Miên, hướng về vùng Tây Bắc Tỉnh lỵ Tà-Keo khoảng 5 cây số. Tà-Keo là tỉnh rộng lớn và trù phú nằm về cực Nam của Kampuchea giáp với tỉnh Châu Đốc Việt Nam cũng là nơi có đuờng xe lửa duy nhất từ hải cảng Sihanoux-Ville lên Thủ đô Phnom-Pênh. Về Tây Nam tỉnh Tà-Keo là tỉnh Kampot trải dài tới hải cảng Sihanoux-Ville. Thủ phủ tỉnh Kampot cùng với bãi biển Kép khá đẹp cũng là nơi nghỉ mát cho Sihanoux trước kia. Vùng này là khu vực mà các đơn vị Thiết giáp thường xuyên hoạt động và trấn giữ. Một lần cả Lữ đoàn Thiết giáp hành quân đến tận Hải cảng Sihanoux-Ville và chân đèo
92 • Nguyễn Văn Dy Vân
Pick-Nil giữa đường lên thủ đô Phnom-Pênh để giải cứu cho một tiểu đoàn lính Lon-Nol bị quân Khmer đỏ phục kích... Năm 1972, sau trận đánh với Sư đoàn 1 Bắc Việt tại Kongpong-Trach-Kampot, toàn bộ các đơn vị ta đã rút khỏi lãnh thổ Kampuchea về lại hoạt động trên lãnh thổ miền Tây. oOo Tháng giêng năm 1974, chỉ sau Hiệp định Paris chưa tròn năm, Trung cộng đưa một hạm đội Hải quân vào lãnh hải Việt Nam đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, gây nên một sự bất ngờ và là một sự mất mát lớn cho dân tộc ta. Việt NamCH là một nước, một chính thể có chủ quyền được quy định trong Hiệp định Quốc Tế Geneve năm 1954 bởi các nước Anh, Mỹ, Pháp, Nga sô và Trung cộng đồng ký vào. Thế nhưng các nước đồng ký ấy im hơi lặng tiếng để cho Trung cộng chiếm giữ! Nhập nhằng trong cuộc chiến Việt Nam cũng do bọn chúng tạo nên, một bọn cộng sản từ miền Bắc thối tha, sắt máu, đến đâu ngập máu người đến đó. Bọn chúng vì danh lợi đã chém giết dã man có hệ thống, ngay trên chính dân tộc họ... Hệ phái cộng sản tại Việt Nam hay đúng ra là bọn cộng sản Bắc Việt là con đẻ của Nga sô và được nuôi dạy của Trung cộng, lớn lên nhờ thực phẩm của Trung cộng, mạnh lên nhờ súng đạn cả hai phía Liên Xô lẫn Trung cộng. Nếu
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 93
không trung thành với sự sai bảo cũng như thi hành theo sách lược cùa chúng sẽ không có đất sống trên đất nước Việt Nam. Thua keo này quan thầy bày keo khác, tiếp tục xua quân vào đánh phá miền Nam để làm cho nước Việt Nam phải kiệt quệ, ngày càng yếu đi hầu dễ bề thống trị và thôn tính về sau... Giữa tháng 4 năm 1974, mở đầu chiến dịch mới, chúng đưa quân đánh vào một vài nơi trong miền Nam để gây xáo trộn cũng vừa đánh lừa sự chú ý của ta, chúng đưa Sư đoàn 5 Bắc Việt vây đánh căn cứ BĐQ biên phòng trong Tỉnh Hậu Nghĩa trên vùng biên giới Việt Miên. Quân của chúng tập trung quanh khu vực mật khu Ba Thu trên lãnh thổ Miên. Bị ràng buộc bởi Hiệp định Paris ta không thể đưa quân vào lãnh thổ Miên được. Đây là một vấn đề rắc rối ngoại giao nếu như ta càn qua đất Miên, nên Chuẩn tướng Trần Quang Khôi Tư Lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ binh lập kế hoạch đánh vào lưng chúng trình lên Quân đoàn 3, và phải xin lên Tổng Thống và cuối cùng thì được chấp thuận, nhưng phải điều quân đánh qua thật nhanh diệt xong mục tiêu là tức tốc rờì đất Miên về lại Việt Nam để tránh phiền phức về ngoại giao với chính quyền Miên... Như vậy là vào khoảng cuối tháng 4 năm 1974, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh dưới sự điều động của Ch/Tướng Trần Quang Khôi sau khi đánh lạc hướng địch, di chuyển về hậu cứ nghỉ quân, để rồi vào giữa đêm ông cho lệnh toàn bộ Lữ
94 • Nguyễn Văn Dy Vân
đoàn cùng các đơn vị tăng phái lặng lẽ di chuyển vượt qua biên giới Miên và từ Gò Dầu Hạ cho hai cánh quân gồm hai chiến đoàn 322 và 315 là hai mũi xung kích, tập kích sau lưng chúng từ Bắc xuống, bị đánh gần như bất ngờ, sư đoàn 5 Bắc Việt tan vỡ rút chạy về vùng Mỏ Vẹt cũng trên đất Miên giáp giới Tỉnh Kiến Tường Việt Nam. oOo BTL/HQ/ SD7BB đang đóng tại thị xã Mộc Hoá của Tỉnh Kiến Tường, liền mấy ngày qua bị các đơn vị này của Sư Đoàn 5 Bắc Việt vừa di chuyển tới quấy phá. Chúng sử dụng pháo 85 ly bắn vào thị xã Mộc Hoá, tạo nên ít nhiều xáo trộn sinh hoạt dân chúng nơi đây. Sau khi học xong khoá Cao cấp/Thiết giáp trở về Bình được chuyển sang đơn vị này đang hành quân trong vùng Kiến Văn-Cao Lãnh thuộc tiểu khu Kiến Phong, một vùng đầy đầm lầy và nhiều mương lạch nằm sát vùng Đồng Tháp Mười mênh mông, nơi thật lý tưởng cho Việt Cộng chuyển quân và vũ khí từ đất Miên xâm nhập vào. Đang khi hành quân sâu trong vùng giáp với Mỹ An thì đơn vị có lệnh ngưng tại chỗ chờ lệnh Quân Đoàn. Sông Vàm Cỏ Tây phát nguồn sâu trong đất Miên đi qua tỉnh lỵ Swray Rieng thẳng xuống biên giới Việt Nam tới Tân Thành - Cái Cái vào sâu trong Đồng Tháp Muời và qua ngang thị xã Mộc Hoá cách biên giới Miên khoảng 5 cây số. oOo
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 95
Đầu tháng 5 năm 1974, Sư đoàn 5 Bắc Việt sau khi rời khỏi biên giới tỉnh Hậu Nghĩa tớí dàn quân trên đất Miên dọc theo biên giới Việt Miên về phía Bắc Mộc Hoá xong, chúng mở nhiều đợt pháo kích vào thị xã Mộc Hoá và những đồn biên phòng vùng Long Khốt nơi thuộc khu chiến thuật Sư đoàn 7 BB. Thiết đoàn 6 KB thuờng xuyên có 3 chi đoàn hoạt động trong vùng này. oOo Đồn biên phòng Long Khốt nằm trên biên giới xéo về Tây-Bắc. Hướng về Đông-Bắc chừng 8 cây số là Thị trấn Konpong-RU của Kampuchea. Thẳng về hướng Đông nữa vào khoảng cũng hơn 10 cây số là vùng Chantréa Mỏ Vẹt. Xa lên phía Đông Bắc nữa là mật khu Ba Thu cũng là vùng hậu cần của bọn chúng. Sau những cuộc pháo kích đại bác 85 ly vào tỉnh lỵ Mộc Hoá, mấy hôm sau đánh chiếm đồn biên phòng Long Khốt, tạo một hành lang bất ổn cặp theo biên giới Việt Miên. Không như những lần trước, về họat động dọc theo QL4, giữ trục lộ và làm lực lượng trừ bị cho Quân khu, mà Chi đoàn được lệnh trực chỉ vào trình diện BTL/HQ của Sư đoàn 7 BB được đăt cạnh bên thị xã Mộc Hóa cạnh cạnh bờ Nam của sông Vàm Cỏ Tây, cách biên giới Việt Miên khoảng 5 cây số. oOo
96 • Nguyễn Văn Dy Vân
Thiết đoàn 6 Kỵ Binh cùng một Tiểu đoàn của Sư đoàn 7 BB được điều động đến đã đánh chiếm lại, tịch thu được của địch một số rất lớn vũ khí như DKZ-75, AT-3, đại-liên -12,8 ly và nhiều loại vũ khi khác B-41 và AK-47. Ngoài ra ta còn tịch thu được một Thiết-vận-xa M.113 đã bị sụp lầy ngoài rào đồn biên phòng Long Khốt, đây có lẽ là chiếc Thiết xa chúng lấy được của quân-đội Miên. Thiết đoàn 2 Kỵ Binh cũng có mặt một chi đoàn cũng đang hành quân trong vùng này... oOo Và toàn đơn vị Bình đã di chuyển đến được BTL/ SD7BB/HQ cũng đã 3 giờ chiều vào ngày 4/5/1974. Được lệnh vào TOC và gặp Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam Tư lệnh Sư đoàn 7. Việc đầu tiên ông hỏi thăm em binh sĩ đi xa như vậy có mệt lắm không, ông bảo Bình ngồi xuống ghế nghỉ một lát rồi sẽ có lệnh. Ông gọi một binh sĩ phía trong làm cho Bình một ly sữa lạnh và bảo uống đi rồi ông nóí rõ lệnh cho Chi đoàn. Trong trung tâm/HQ chi thấy có mỗi mình ông, với quân phục, nón sắt cùng Đ/Tá Huy, Tinh Trưởng Kiến Tường. Chập sau ông gọi Đ/Úy Nam Tiểu đoàn trưởng TĐ 3/10 BB ra cùng ngồi cạnh Bình, và đích thân ông cầm que chỉ lên bản đồ tình hình địch và bạn về phía bên kia biên giới chừng 5 cây số, trong vùng Konpong-Ru trải dài tới khu Mỏ Vẹt trên lãnh thổ Kampuchea.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 97
Như vậy Bình biết được rằng về bạn có Th. Đòan 6 KB cùng một tiểu đoàn Bộ Binh nằm về cánh bên trái, đã giải tỏa căn cứ Long Khốt xong đang tiếp tục hành quân truy lùng và ngăn chặn tại đó với đầy đủ 3 Chi đoàn và một Tiểu đoàn Bộ binh của Sư đoàn 7 BB. Về địch thì hiện diện trong vùng Konpong-Ru Kampuchea là có mặt đầy đủ Sư đoàn 5 Cộng Sản/Bắc Việt vừa từ vùng Đức Huệ - Hậu Nghĩa di chuyển đến, chúng có cả pháo binh tầm xa loại 85 nòng dài, mấy ngày nay cứ pháo vào thị trấn Mộc Hóa, làm moị sinh hoạt dân chúng nơi đây bị rối loạn đi. Ông ra lệnh cho Bình và Đ/úy Tiểu đoàn-Trưởng TĐ 3/10 BB: “Ông Chi đoàn Trưởng/thiết giáp cấp bậc ThiếuTá, nên tôi ra lệnh TĐ 3/10 đặt dưới sự chỉ-huy của ông Chi đoàn-trưởng.” chỉ huy cánh quân này Sau khi đưa bản khả năng tham chiến, ông bảo Bình cần thứ gì làm phiếu ông sẽ thỏa mản đầy đủ. Nhìn vào bản đồ bố trí lực lượng thì xa về phía Bắc cánh quân bên trái của Thiết đoàn 6 KB là những ước hiệu bố trí dự đoán của BCH /SD 5 Bắc-Việt, các đơn vị Pháo của địch nằm đan chéo nhau phía Tây Kongpong- Ru. Và một Trung đoàn gần như áp sát với cánh quân của Thiết đoàn 6 KB. Riêng vùng Bắc Thị trấn Kongpong-Ru, tức sát phía Bắc cánh quân của Chi đoàn Bình trấn giữ, trải rộng về phía Đông ra tới khu Mỏ Vẹt thì hầu hết đều có phía địch bố quân cấp Tiểu đoàn, dù cách xa biên giới nhiều cây số, nhưng tầm pháo của địch vẫn bắn tới các căn cứ hỏa lực
98 • Nguyễn Văn Dy Vân
của ta. Sau khi nhận đủ lệnh, Bình trở về Chi đoàn chuyển lại tình hình cho tất cả Sĩ quan và các xa đội biết qua đồng thời chuẩn bị tinh thần cùng kiểm tra lại quân xa vũ khí, nhất là khẩu súng phóng lựu tự động Mark-19. Đây là lá bùa hộ mạng, là vũ khí tối cần cho đơn vị lúc này vì sắp sửa gíáp trận với SD 5 Bắc Việt, cũng là một loại bom bi, mà khẩu Mark-19 phóng ra mỗi lần 50 viên, có khả năng bắn hiệu quả từ 200m đến một cây số, đánh ngã mọi toán vận động bao vây tập kích của địch. Sông Vàm Cỏ Tây quen thuộc, bao lần qua đây để truy diệt kẻ thù, đã chôn chặt vào lòng không ít binh lính đơn vị những bóng nhỏ thân yêu của người hàng nước. Và chuyến đi này có ai biết được, những gì sẽ xảy đến! Xăng, đạn và mọi thứ tiếp liệu xong xuôi, qua phà Mộc Hóa, Tiểu đoàn 3/10 BB lên xe xong bắt đầu di chuyển là đã hơn 5 giờ chiều. Vừa qua khỏi Thạnh Trị, băng qua biên giới là gặp ngay một bãi mìn chống chiến xa. Đơn vị phải dùng máy dò và lấy lên được hàng chục quả, xong tiếp tục tiến quân vào vùng Nam Konpong-Ru. Vừa đến nơi là được chào hỏi bằng nhiều quả đạn khói điều chỉnh cùa pháo binh địch. Cũng đã gần 7 giờ, trời bắt đầu xẩm tối, với sự đồng ý của Bình, Đ/Úy Nam Tiểu đoàn-Trưởng lập một cánh B cho Tiểu đoàn-Phó cùng hai Đại đội về hướng Đông Nam 2 cây số phân tán và phục kich dọc theo con lạch nước cạn, sợ
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 99
rằng tập trung một điểm bị pháo địch.... Chi đoàn cùng TĐ (-) gồm 2 Đại đội lùi lại 1 cây số đóng quân, chỉ để 1 Đại đội nằm lại làm tiền đồn và chốt chặn. Một đêm yên tĩnh, hai phía cùng nghỉ ngơi. Bình được lệnh án binh theo dõi và cho vài toán với một Chi đội hướng lên phía Bắc dò dẫm, lục soát, thấy khá nhiều hầm hố được đào sẵn, ẩn khuất trong những lùm cây, nhiều nơi chúng đào cặp theo các bờ ruộng, có nơi giữa đồng trống. Theo kinh nghiệm qua các trận chiến, chúng tôi đều nghĩ rằng bọn chúng đang chuẩn bị cho chiến trường vận động tập kích quanh vùng này, dự định để đánh chúng ta. Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam có dặn dò trong buổi hợp tại Trung tâm hành quân là thế nào Sư đoàn 5 Bắc Việt cũng đánh mình, cho nên việc tốt nhất là mình tìm địa thế nào thuận lợi nhất cho Thiết giáp và Bộ binh phòng thủ, chờ bọn nó đến đánh mình là hay nhất và chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhau phương kế này và tìm chọn vị trí thích hợp... Chiều lại thì bộ BCH/Thiết- Đoàn vào đến vùng hành quân, sau khi hướng dẫn vô vị trí, Bình gặp ông Thiết đoànTrưởng và cho ông biết rõ moị chi tiết tình hình bạn và địch chung quanh, Sư đoàn 5 Bắc Việt đang hiện diện trong vùng và đưa cho ông xem một mật điện vừa nhận được của Sư đoàn mới giải mã xong, cảnh báo cho biết là bọn Cộng Sản sẽ tấn công lớn vào các đơn vị ta hoạt động trong khu vực. Bình trình bày với ông là lực lượng mình chỉ bấy nhiêu, mà chịu cả một cánh nặng nề như vậy chẳng rõ trên Sư đoàn
100 • Nguyễn Văn Dy Vân
có ý niệm hành quân ra sao, mình không thể nào ước đoán được việc gì sẽ xảy đến. Toàn bộ Thiết đoàn 6 KB cùng một Tiểu Đoàn Bộ binh về cánh trái, so sánh thì lực lượng thì mình có yếu hơn nhiều, nhưng địa thế thì khá thích hợp cho Thiết giáp và bộ binh hơn. Nhìn xa về phía Đông thị trấn Konpong-Ru của Miên, chỉ thấy phần trên đỉnh chóp của ngôi chùa và bao quanh là những tàng cây lớn. Từ đấy có con đường xéo từ Đông Bắc xuống Tây Nam, ngang qua thị trấn Konpong-Ru, dẫn tới nơi chúng đang đứng khoảng 5 cây số. Bình nghĩ, sớm muộn gì mà mình còn ở đây, thì bọn nó cũng theo sát tấn công mình, muốn tránh cũng không được. Chi bằng mình chọn sẵn vị trí nào tốt nhất về địa thế và thuân lợi về mặt chiến thuật bố trí, để chờ chúng nó đến đánh mới tránh được thiệt hại. Và chúng tôi đồng ý là chọn được điểm đóng quân đêm này, nơi gần với trái đạn khói mà ta đã bắn vào điều chỉnh và xác định tọa-độ lúc ban chiều, vì không có nơi nào qua đêm tốt hơn. Địa điểm này rộng có nhiều cây cối bao bọc che chở cho Bộ binh bố trí và làm tiền đồn, rất thích hợp cho Thiết giáp và Bộ binh đóng quân đêm. Quãng đất rộng này, phía Nam trống trải. Phía Bắc có con đường từ Thị trấn Konpong-Ru thẳng xuống phía Tây Nam. Mặt Tây là con đường từ Bắc thẳng xuống biên gìới Việt Miên. Bên phảỉ, tức hướng Đông là một con lạch nhỏ chảy về biên giới phía Nam, hai bên bờ được Bình cho xe
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 101
lội qua thử khá dễ dàng. Mới hơn khoảng 10 giờ đêm, người lính gác trên nóc xe theo dõi trên máy hồng ngoại tuyến thấy địch xuất hiện. Bình quan sát về hướng địch di chuyển thì sơ khởi thấy có nhiều toán từ phía Đông, nơi thửa ruộng hướng vào, cũng có trên cả trăm tên. Về bên trái tức hướng Tây, thì có 2 toán đang kéo dây điện thoại theo đường từ Bắc xuống Nam điểm đóng quân. Địch cứ bình thản chuyển quân như chỗ không người và lũ lượt kéo tới lúc càng đông, chọn nơi bố trí bao quanh gần như ba phía. Địch có biết đâu đơn vị Bình còn giữ được chìếc máy hồng ngoại tuyến lớn này, có đường kính khoảng 5 tấc, thường xuyên ban đêm đặt trên chân 3 càng và anh em binh sĩ thay phiên nhau quan sát. Máy này có tầm quan sát xa hơn 2 cây số, về ban đêm rõ như trăng rằm, chì cần vài ánh sao đêm mình nhìn thấy như cách nhau năm ba chục thước. Chúng vào bao nhiêu là ta biết được hết. Bình đích thân tới báo cho Thiết đoàn-Trưởng sự việc địch đang điều động một lực lượng đang bao vây vị trí đóng quân mình và đưa ông đến quan sát cùng yêu cầu ông và đơn vị Bộ binh khoan vội báo về TT/HQ và Tiểu đoàn cũng đừng cho cánh B biết ngay bây giờ, vì cấp Sư đoàn Bắc Việt chúng có nhiều phương tiện kiểm thính sẽ nghe được ta biết rõ việc điều quân của chúng, để Bình vào tần số đặc biệt, trình rõ tình hình lại cho Th/Tướng Nam mà ông đã ghi cho hôm trước.
102 • Nguyễn Văn Dy Vân
Khi trình báo xong ông hỏi Bình cần gì cho ông biết ngay. Bình xin ông cho ưu tiên sử dụng pháo binh. Ông cho biết sẽ dành riêng cho Bình các tiểu đoàn pháo binh 105mm đang có trong khu vực và cả tiểu đoàn 155mm, nếu thấy cần đến. Ông cũng cho biết là ông luôn túc trực trên các tần số ngay cả tần số nội bộ của Chi đoàn, các đơn vị cứ yên tâm. Xong ông hỏi Bình ước tính lúc nào chúng nó sẽ đánh. Bình thưa rằng thường khi chúng nó hay tấn công các đơn vị Thiết giáp vào khoàng 2 đến 3 giờ khuya. Nhưng đêm nay lực lượng nó lớn như vậy có thể nó đánh mình trễ hơn, để nó dùng súng chống chiến xa, có cả AT-3 tiêu diệt mình, nếu bị tán loạn vào lúc trời vừa sáng. Ông dặn dò là tình báo điện tử vừa theo dõi hoạt động địch cho biết là có hai Trung đoàn địch đang có mặt trong vùng, bảo anh em binh sĩ đào hầm hố cẩn thận để có nơi ẩn núp chiến đấu. Tôi luôn có trên đầu máy với mấy anh em. Cũng đã hơn 11 giờ đêm, căn cứ vào chiếc máy hồng ngoại tuyến thấy được, Bình cùng vị Đ/úy Tiểu đoànTrưởng Bộ binh bàn tính lập nên 3 tuyến pháo dập lên đầu bọn chúng. Bình đánh dấu cho pháo binh dập lên ba tuyến A-B-C về phía Bắc, Tây và Nam của vị trí đóng quân cho anh tiền sát viên Pháo binh gửi cho Sĩ quan phối hợp hỏa lực Thiết đoàn và các Tiểu đoàn pháo binh 105 đang yểm trợ, cùng các điểm quấy rối xa về phía Bắc cho Tiểu đoàn 155, nơi có khả năng đặt BCH hoặc pháo binh địch. Cả đơn vị chẳng ai ngủ được, anh em binh sĩ cũng thế, Bình đi một vòng các xa đội, trở về lên chiếc hồng ngoại
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 103
tuyến quan sát lại chung quanh thì thấy rõ là bọn Việt Cộng bố trí rất đông nơi mặt Nam, có lẽ chúng định chặn đường rút chạy của ta nếu chi đoàn rời bỏ tuyến. Anh tiền sát viên pháo binh cho biết mình cho yếu tố sẵn rồi, các pháo đội đã chuẩn bị đâu đó, mình gọi một chốc là có ngay. Bình muốn nắm vững cho chắc, vì trong đầu Bình đã có ý từ lúc đầu là sẽ dập chúng nó bằng Pháo binh trước khi để chúng pháo mình, khi quan sát thấy chúng nó đi, đứng, lui, tới trên các tọa độ mà mình đã có chính xác trên bản đồ rồi. Và khi nghe Th/Tướng Nguyễn Khoa Nam cho biết là cho Chi đoàn ưu tiên sử-dụng các Tiểu đoàn/PB-105 mm sẵn có trong vùng, Bình càng vững tin vào ý định này của mình sẽ được thực hiện và hiệu quả tối đa của nó. Đúng hai giờ khuya, các xa đội đều mở máy liên lạc, chờ một lúc cho đủ các xa đội hỏi có gì động tĩnh không, tất cả nói vô sự! Tất cả thức dậy chuẩn bị và thường trực máy truyền tin và im lặng vô tuyến. Bình vào tần số đặc biệt xin lệnh “601” cho đánh pháo binh lên đầu chúng nó ngay bây giờ, mình không thể chờ nó pháo lên mình trước. Ông bảo chờ một lát, có lẽ ông chưa xác định được đầy đủ vị trí các đơn vị đang có trong khu vực, nên ông bảo sẽ gọi lại cho biết sau. Chờ mãi cũng đã hơn 4 giờ sáng, Bình rất nôn nóng, lo âu vì chúng nó không thể chờ trời sáng hơn nữa để đánh mình và goị lại “601” lần nữa. Lần này, Ông nói rõ rằng: Tôi vừa mới xong, tôi đồng ý với “316”, tôi sẽ cho lệnh
104 • Nguyễn Văn Dy Vân
pháo binh theo yêu cẩu. Dù là trễ nhưng cũng toại nguyện, anh Tiền sát viên cùng ngồi nghe cũng đã khẩn cấp yêu cầu tất cả các Tiểu đoàn Pháo binh bắn ngay cho vào 3 tuyến A-B-C đã cho tọa độ sẵn. Pháo đội trách nhiệm bắn tuyến A, tức tuyến phía Bắc bắn qua đầu vị trí đóng quân, nên phải chờ chỉnh vài quả an toàn mới dám bắn hủy diệt trên mục tiêu cũng mất cả hơn mấy phút. Bọn Việt Cộng cũng nhạy bén hay là đã nghe được máy chúng ta, pháo của ta vừa bắn vào mấy quả điều chỉnh, là pháo chúng nó cũng rót ngay vào vị trí mình. Lúc ấy thì các Tiểu đoàn Pháo binh của ta cũng đã cùng bắn dập lên 3 tuyến A-B-C rồi. oOo Ghi lại tới đoạn này mới thấy sự cần mẫn của Th/T Nam, ông thức trắng đêm với các đơn vị và thuộc cấp để bảo vệ từng tấc đất quê hương, chăm lo từng mạng sống binh lính thuộc quyền, trong khi bọn người khiếp nhược ăn trên, ngồi trước giành nhau nắm quyền lãnh đạo, tóm thâu quyền lực lại tỏ ra quá hèn nhát. Đến lúc thấy không còn ăn được và tính mạng khó bảo toàn, đã nhẫn tâm đẩy cả hai quân đoàn vào tử lộ cho quân thù tiêu diệt để góp phần giải quyết dứt điểm cuộc chiến tại Việt Nam cho quan thầy phủi tay. Thế có phải là quá tàn nhẫn không? Dương Văn Minh thì cũng chỉ là một phường không ra
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 105
gì, sinh ra cũng chỉ để buôn dân hại nước. Bộ dạng khúm núm trước quân thù của ông ta thấy mà xấu hổ cho một vị đại quan của miền Nam, sao mà hèn hạ đến như thế! Trong khi biết bao binh lính thuộc cấp đã tỏ rõ đầy dũng khí, dành viên đạn cuối cùng cho đời mình để khỏi lọt vào tay giặc… Nghĩ tới càng xót xa cho số phận và con người miền Nam, trước cảnh đao binh giành sự sống mà sinh mạng lại nằm trong tay bọn bất tài vô tướng này! Trở lại với chiến trận, sau hơn nửa gìờ pháo cùng nhau, trời cũng đã sáng tỏ, Pháo binh của ta dập nát toàn bộ các tuyến địch bố trí chung quanh để chuẩn bị tấn công ta. Chúng nó tan hàng, mang vác thương binh và xác chết bỏ chạy, một số không đem đi được nằm ngổn ngang. Dướí từng dây đạn của khẩu Mark-19 truy đuổi... Dù rằng không tiêu diệt được toàn bộ lực lượng địch nhưng hầu như Trung đoàn này của chúng đã bi pháo binh và lực lượng ta đập cho tan tác. Tiểu đoàn 3/10 BB báo cho tôi biết là đã thu đươc hơn 70 khẩu súng của địch đủ loại. Thiết giáp ta cũng giành lấy được 30 khẩu, đó là chỉ lục lạo cận kề thôi. Nếu như không ngưng việc truy kích để bảo vệ BCH/Thiết đoàn bị toán Việt Cộng vận động tập kích phía sau, giải vây cho lực lượng chính rút chạy, ta còn thu đoạt được kết quả nhiều hơn. Và nếu như từ đầu được Sư đoàn thỏa mãn cho đánh pháo binh sớm hơn, có lẽ kết quả còn cao hơn nhiều…

Giờ đây, nhìn lại chiến trường Kongpong-Ru, là nhớ đến Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam... với cả lòng tiếc thương. Ông đã lưu lại cho binh lính thuộc quyền trong đó có cả chúng tôi với bao niềm tiếc nhớ trên chiến trường. Vận nước đã hết, ông tuẫn tiết, để lại chúng tôi biết bao ngậm ngùi và tiếc nhớ! “Sinh vi Tướng, Tử vi Thần” Hơn trăm năm trước Kinh Lược Sứ Nam Kỳ, cụ Phan Thanh Giản uống thuốc độc tuẫn tiết khi bị quân Pháp đánh chiếm nốt miền Tây. Năm 1975, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam Tư Lệnh Quân khu IV miền Tây đã theo gương người trước dùng súng tuẫn tiết cho trọn lòng với nước Việt...

Xin hai ông hãy phò hộ cho dân tộc Việt Nam...

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 09:12 PM
Gửi vào: #11


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN


Vừa qua những ngày giá lạnh của vùng Hoàng Liên Sơn, đó là vào khoảng tháng 4 năm 1977, trên chiếc Molotova chuyển ba người vượt trại từ trại tù số 5 trên nông trường Trần Phú về trại tù Sơn Tây chờ ngày khởi tố. Đó là nội dung trên phiếu khởi tố từ nha quân pháp bộ quốc phòng Cộng Sản Bắc Việt tống đạt xuống, cho mỗi người một bản. Ba ngưòi này gồm: Lê Vĩnh Phú, Đỗ Ngọc và Nguyễn Thái Bình. Sau 8 ngày vượt thoát khỏi trại tù được 150 cây số, vì một bất cẩn đã bị bắt lại... Xe chở 3 người tù này dừng lại phía sau cổng một khu nhà đá cũng khoảng 4 giờ chiều sau một đoạn đường dài từ Ba Khe-Nghĩa Lộ đến. Nhà tù này đã có lâu đời, có lẽ từ thời Pháp để lại, được xây cất rất kiên cố, để giam giữ những tội nhân nặng án...
108 • Nguyễn Văn Dy Vân
Sau thủ tục chuyển giao, Giám thị từ trong ra buộc số tù nhân này bày tất cả tư trang ra cho họ kiểm tra, vất bỏ những vật dụng gì trong nhà tù cấm đoán. Chúng tách ra mỗi người vào một phòng giam riêng, coi như không còn dịp để tiếp xúc với nhau. Đầu tiên đập vào mắt Bình là tên của những tù binh Mỹ trên bốn bức tường trong phòng giam, có lẽ là trong những ngày trước đã bị giam giữ tại đây họ viết lên... Đúng rồi, có phải đây là nhà tù Sơn Tây, Bình nhớ khi xe trên đường từ Nghĩa Lộ qua phà Yên Bái thẳng đến Hà Nội. Sau một thời gian nghỉ ngơi ăn uống, xe theo đường Ô Cầu Giấy hướng về Sơn Tây. Đến đường vào Thị xã Sơn Tây thì rẽ trái xuyên qua các bãi chứa quân dụng phế thải một khoảng 30 cây số và dừng lại nơi đây. Những cái tên thấy và nghe rất quen và gần gũi này đã làm Bình quặn lòng vì nhớ đến những hình ảnh cũ, Đà Nẵng hay Sài Gòn, và miền Nam thân yêu... như Jack, John, Boby hay William cũng như Charlie... Tên cai ngục khoá trái lại cánh cửa dày, nặng chịch sát mặt nền cement, dù gián hay dế cũng chẳng thế nào qua được. Cuộc đời coi như bị đóng sập lại từ đây. Không suy đoán gì nữa, nhà tù Sơn Tây đây rồi, giam giữ tù binh Mỹ ngày trước, đã từng một lần biệt kích Mỹ đột kích vào đây giải cứu tù binh của họ vào cuối năm 1970. Bọn chính trị gia và tư bản Mỹ khi đặt bước chân vào
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 109
miền Nam, đã đưa ra những chiêu bài láo khoét như là giúp miền Nam chống cộng để bảo vệ độc lập và tự do, nhưng khi đến giai đoạn thấy rằng: “Hiểm họa Cộng Sản tại Á Châu không còn trầm trọng như trước nữa vì nay Nga Tầu chống đối nhau ra mặt như kẻ thù và đụng phải sức chống trả dữ dội của Thế giới Tự Do”. Năm 1965 họ cương quyết đổ quân vào, rồi năm 1969, 1970, cũng chính họ thực hiện ngay Việt Nam hoá chiến tranh... Quân đội Mỹ sẽ bàn giao trách nhiệm phòng thủ và bảo vệ miền Nam cho QĐ/Việt Nam CH. Như vậy là họ đã tính đến việc bỏ Việt Nam cũng như Đông Dương rồi, vì thuyết Domino đã không còn đứng vững, mất Việt Nam cũng sẽ không ảnh hưởng gì tới các nước Đông Nam Á. Và Quyết định bỏ Đông Dương coi như đã hình thành, vấn đề còn lại là rút lui trong danh dự để khỏi bẽ mặt một siêu cường. Từ năm 1969 họ đã đi đêm với Trung cộng để tìm cách rút quân ra khỏi Việt Nam, bỏ Đông Dương vì nó không còn đúng với ý nghĩa tiền đồn chống Cộng nữa. Ngày 21-2-1972, cái bắt tay giữa Nixon và Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh đã thay đổi cả một kỷ nguyên. Điều mà người Mỹ ao ước bấy lâu nay đã thành sự thật, Đông Nam Á không còn bị đe doạ bởi chiến lược tầm ăn dâu của Trung cộng, thuyết Dommino đến lúc đã lỗi thời, không còn giá trị, bỏ Đông Dương coi như là điều tất yếu. Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính đã ghi lại nhận xét của ông Ngô Đình Nhu từ đầu thập niên 60 về chiến lược
110 • Nguyễn Văn Dy Vân
toàn cầu của Mỹ như sau: “Nếu tụi nó (Mỹ) nhảy vô để chiến thắng Cộng Sản như ở Triều Tiên, bất kể một cuộc can thiệp của Tầu hay… đệ tam thế chiến, thì mình cũng để cho tụi nó thử sức với Cộng sản xem sao, chứ ở đây mục đích của tụi nó là tìm một thế “sống chung nào đó” với Cộng Sản, thì đánh để làm chi, rốt cuộc cũng chỉ như rứa? Con đường của Hoa Thịnh Đốn muốn đi tới là Bắc Kinh, mình chỉ là vật tế thần “cục kê” của tụi nó. Để rồi tướng Đính kết luận: “Nhận định đó đến thập niên 1970 đã trở thành sự thật và khi Nixon bắt tay được với Mao Trạch Đông, thì tiền đồn chống Cộng của Việt Nam CH đã hết ý nghĩa, và do đó Hoa Thịnh Đốn phải thu xếp để chấm dứt một cuộc chiến tranh không còn cần thiết, mặc cho cuộc thu xếp này đã làm sỉ nhục tính cách siêu cường của Mỹ và đẩy miền Nam vào địa ngục của Cộng Sản Hà Nội”. Sự thật phũ phàng này đã đẩy miền Nam vào tay khối cộng không chút xót thương, khi quay lưng bỏ đi, họ chẳng cần biết chuyện gì đến sau đó. Và một màu đỏ chết chóc, tang tóc đã xảy ra! Máu loang khắp cả ruộng đồng, thây người bị giết vất bỏ rải rác khắp mọi nơi với đủ mọi cách. Trên góc nhà, lề đường, bờ ruộng và cả trên các cành cây. Có nơi không còn đầu có nơi lưỡi cuốc còn ngập sâu trên bụng, trên sọ... Đó là chính sách Mỹ vạch ra cho miền Nam Việt Nam, phải chịu chết như vậy.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 111
Người Mỹ hiểu rõ về sự tàn ác của cộng sản nhưng lợi ích riêng của bọn tư bản, họ bất chấp lương tâm và sự phỉ nhổ của thế giới. Quay trở lại về nhà tù, thì trên các nước cộng sản chiếm được, nơi nào cũng đều như nhau, đói khổ và chết chóc. Trại tù Sơn Tây này hay nơi đâu trên miền Bắc cũng đều chung một hình thái là “địa ngục của trần gian”. Mỗi khu giam giữ là một building có 4 phòng giam quay ra 4 hướng riêng biệt có tường bao 4 mặt. Nhà tù này thấy được có 4 khu nhà giam tức 4 Building với 16 phòng giam. Mỗi phòng xây một bệ cement cao chừng 0,5 m, dài 2m và ngang 1,5m để giam giữ 2 người với tường dày 4 lớp, mặt trong lồi lõm để giảm âm, cửa thì ốp sắt... Như vậy trại tù này có thể giam giữ từ 32 người nếu là tù binh Mỹ. Người Việt thì có thể gấp đôi vì từ bệ ra đến cửa còn một khoảng rộng cho 2 người... Vào đây coi như chỉ chờ ngày gục ngã, cũng là nơi để thiêu đốt bất cứ ai đi ngược lại guồng máy cai trị của họ. Cứ ngày thứ 4 trong tuần cai tù đến mở cửa cho ra ngoài tắm với một thùng nước mà tù hình sự mang tới sẵn. Mỗi sáng được phát cho một tờ báo nhân dân để đọc cùng với bữa ăn trưa, và mỗi tháng được cắt tóc một lần... oOo Hơn tháng sau, viên Thượng Úy chấp pháp từ Hà Nội vào, với quân phục ka ki vàng nhìn và đưa tay chỉ vào chiếc
112 • Nguyễn Văn Dy Vân
ghế đối diện khi tên trực trại dẫn Bình vào căn phòng làm việc. Câu đầu tiên anh ta hỏi: - Anh có hút thuốc không. Anh ta đặt góí thuốc trước bàn. - Xin cám ơn anh, tôi không hút thuốc. Bình trả lời. - Bây giờ anh còn muốn chết nữa không. Anh ta nói. Nhìn anh chấp pháp, Bình nói: - Thưa anh, trên đời này mọi sinh vật đâu đâu cũng đều trân trọng mạng sống mình cả, dĩ nhiên tôi cũng vậy, nhưng tùy hoàn cảnh, tùy thời điểm để chọn lấy, chết hoặc sống. Mà sống dưới tay kẻ chiến thắng đê tiện thì anh nghĩ thế nào. - Trước đây trên Hoàng Liên Sơn, mấy lần anh nói rằng anh muốn chết. Viên chấp pháp hỏi. - Đúng, khi bị đặt vào hoàn cảnh phải nói như vậy, khép tôi vào những việc hầu như tưởng tượng rồi buộc tôi phải nhận. Điều đó có xứng đáng với hai chữ cách mạng của mấy ông tự xưng không? - Nhưng anh phải lựa lời cho để nói mới phải chứ! - Tôi đồng ý với ý này của anh, nhưng người kia đâu phải là anh, để chịu nghe những gì tôi trả lời... - Tôi nghĩ anh nên ổn định lại tư tưởng cho tốt... và buổi làm việc hôm nay của tôi đến đây tạm chấm dứt... anh nhớ rằng phải chấp hành tốt nội quy trại nhé!
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 113
Người vệ binh dẫn Bình về lại phòng giam cũng là nơi dùng thời gian để chôn vùi, triệt tiêu người đối kháng như lâu nay người cộng sản chủ trương. Cho là vậy, nhưng nỗi buồn và nước mắt vẫn là miền Nam thân yêu nay đã vào tay giặc. Những bàn tay hèn hạ xem đất nước như là món hàng riêng của họ, tự tại muốn vo tròn bóp méo, đem bán, đem dâng gì cho ai cũng tùy ý... Đám người hỏng nát tim gan, chỉ là đám ích kỷ hám danh, tham quyền, mới có cảnh đem đốt cháy đồng đội mình, để đánh đổi mạng sống cùng gia đình họ với quan thầy... Cũng vì bọn người ấy mà ngày hôm nay, phải rơi vào vòng lao tù này... Bình tựa vào tường đá, người nhợt nhạt nhìn lên tường, những tên John, Bob, Bill, Tom hay Davis... dội vào mắt, dù cố dìm đi những ảo giác theo sau những nét chữ, những ký tự xiên xẹo trên bốn bức vách lồi lõm đến mệt nhừ, Bình ngã lưng xuống bệ, mong nhẹ đi chút gì còn đọng kín trong lòng. oOo Giờ đây trên vùng đất tự do, nhưng nhớ lại cũng không sao quên được những gì đã xảy ra với bao tiếc nuối về chuyến đi của mình, cùng những hình ảnh trên bốn bức tường trong phòng giam như còn in sâu vào lòng mắt. Những tên tù binh Mỹ trên bốn bức tường kia, phải chăng sự bất thành này có lẽ do khi hoạch định cho cuộc đột kích vào đấy năm 1970 để giải cứu tù binh của họ,
114 • Nguyễn Văn Dy Vân
người Mỹ khá chủ quan về những tấm không ảnh mà họ chụp được. Và một phần cũng vì quá coi thường người châu Á, cho rằng chỉ có giống da trắng mới khôn ngoan, còn mọi dân tộc khác đều dưới gót chân họ, mà quên rằng bên dưới những tàng cây to... và thời gian, cái gì đã thay đổi. Những cái khôn lỏi cùng những ma mãnh mà đám lưu manh Bắc Việt đã cho họ nếm lấy thất bại này là vậy. Cuộc đột kích dù không được kết quả, nhưng cũng được cho là một sự kiện hữu ích, trấn an được tinh thần số tù binh là chính phủ Mỹ đã không bỏ quên họ... Từng building với 4 phòng nhìn ra bốn mặt khác nhau được phủ kín bởi những tàng cây to, dù không ảnh có chụp được cũng không thể giải mã được những gì bên dưới. Hơn nữa, những khoảng sân bên trong khu giam giữ không có chỗ đủ cho cánh quạt trực thăng hạ cánh, nên cánh quạt chém phải cây và rơi xuống... Hình ảnh mỗi Building với 4 mặt tường cao bao quanh và từng phòng giam chỉ nhìn ra được một hướng, hai tường cao ngăn hai bên như hiện về trước mặt. Bình tìm lật lại từng trang sách, báo có được ngày nào cũng như trên net để thấu rõ hơn về cuộc tập kích giải cứu tù binh Mỹ tại trại tù Sơn Tây-Bắc Việt hồi tháng 11 năm 1970: “Vào lúc 2 giờ 18 phút rạng ngày 21-11-1970, lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ do Đại tá Arthur Simons chỉ huy, đã có mặt tại trại giam tù binh Hoa Kỳ ở Sơn Tây.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 115
Trước hết Trung tá phi công Herb Zehnder, chở toán xung kích do Đại úy Richard J. Dick Meadows chỉ huy, đã đáp xuống sân trại tù, nhưng chiếc trực thăng vướng vào sợi dây phơi quần áo, cánh quạt chặt đứt một thân cây rồi rớt mạnh xuống đất. Đại úy Meadows cho biết, viên kỹ sư cơ khí Leroy Wright bị bình chữa lửa trên trực thăng đập vào chân làm bể mắt cá. Trung úy George Petrie, 31 tuổi thuộc lực lượng Mũ xanh bị hất tung ra khỏi trực thăng. Ngoài ra, không có ai bị thương cả. Lập tức, cả nhóm đã nhảy ra khỏi trực thăng và bắn hạ những tên lính gác. Đại úy Meadows chạy vào khu nhà, vừa nói qua chiếc loa phóng thanh cầm tay: “Chúng tôi là quân nhân Mỹ đến cứu các bạn đây. Tất cả hãy nằm xuống tránh đạn. Chúng tôi sẽ vào ngay”. Thế nhưng không nghe được một tiếng trả lời nào cả, trong trại vắng tanh. Trong khi đó, Trung tá phi công John A. Allison cho trực thăng chở toán yểm trợ do Trung tá Elliott P. Sudnor chỉ huy, đáp xuống bên ngoài vòng tường, vì sân bên trong rất hẹp, không đủ chỗ cho hai chiếc trực thăng. Thượng sĩ Herman Spencer dùng chất nổ phá thủng bức tường, nhóm yểm trợ chạy vào tiếp tay với nhóm xung kích đang tiến vào lục soát các căn nhà. Trung sĩ Tyrone J. Adderly dùng súng M-79 khoá miệng một ổ súng máy ở vị trí nguy hiểm nhất. Cũng vào thời gian này, Trung tá phi công Warren A.
116 • Nguyễn Văn Dy Vân
Britton, chở toán quân do Đại tá Arthur Simons chỉ huy, cho trực thăng đáp xuống vị trí ấn định, rồi liền cất cánh lên cao. Thế nhưng cả toán bị thả lộn vào trường trung học được lấy làm bộ chỉ huy sư đoàn 12 với 12,000 quân trú đóng gần đó. Thấy cảnh trí lạ hoắc, Đại tá Simons biết là đã sai địa điểm, nhưng trực thăng đã bay lên rồi, cho nên phải quyết tử chiến. Nghe tiếng động, binh lính Bắc Việt túa ra trong tình trạng hoảng hốt, còn mặc quần xà lỏn, áo thun và tay không. Đại úy Wather bắn gục 3 tên. Đại tá Simons nhảy xuống giao thông hào, đụng phải một tên đang ngơ ngác kinh ngạc, trong tích tắc, tên này bị hạ tại chỗ. Trong khoảng 10 phút, cả toán hạ khoảng 100 tên Việt Cộng khác. Sau khi biết đã đổ quân sai vị trí, phi công bèn trở lại đón và đưa cả toán về trại tù Sơn Tây. Sau cuộc hành quân, toán đặc nhiệm mới biết là tù binh đã được di chuyển ra khỏi Sơn Tây hồi đầu tháng 7 năm 1970 vì vùng này bị cơn ngập lụt đe dọa. Trại tù Sơn Tây Năm 1967, Ủy Ban Tù Binh Liên Cơ Quan được thành lập, do cục Tình báo Bộ Quốc Phòng quản lý. Đã tiến hành điều tra, thu thập tin tức về tù binh Mỹ ở Việt Nam. Vào mùa Xuân năm 1970, được biết có khoảng 450 tù binh Hoa Kỳ bị giam giữ ở miền Bắc Việt Nam và có 970 quân nhân bị mất tích trong các cuộc hành quân. Tin tức
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 117
tình báo cho biết, có khoảng 55 đến 70 tù binh Mỹ ở nhà tù Sơn Tây. Trại giam Sơn Tây là một địa điểm rất nhỏ, nằm dưới những tàng cây cao 40 ft (12m), che khuất tầm nhìn. Chỉ có một vài trụ và đường dây điện thoại chạy vào trại giam. Những tù binh bị giữ trong 4 căn nhà. Có 3 vọng gác cao để quan sát. Bức tường bao bọc chung quanh cao 7 ft (2m). Khu nhà rất hẹp, chỉ đủ chỗ cho một trực thăng đáp xuống mà thôi. Không ảnh cho thấy, có một trường huấn luyện pháo binh trong khu vực, Sư đòan 12 với trên 10,000 quân đồn trú ở đó cùng một trường trung học được sử dụng làm bộ chỉ huy sư đoàn. Cách nhà tù Sơn Tây 32 km là một căn cứ không quân. Trong tình trạng hỏa lực như thế, cuộc đột kích cứu tù binh phải được thực hiện chớp nhoáng. Kế hoạch hành quân Năm 1970, Thiếu tướng Donald Blackburn, cựu Chỉ huy trưởng MACV-SOG (Military Assistance Command Vietnam – Studies Oservations Group), là người đưa ra ý kiến, tổ chức một cuộc đột kích để cứu tù binh bị giam ở nhà tù Sơn Tây. Kế hoạch tổng quát được trình lên Tổng Tham Trưởng Liên Quân là Đại tướng Earle Wheeler. Tháng 6 năm 1970, kế hoạch được chấp thuận, và một toán gồm 15 chuyên viên tình báo được cử vào để soạn thảo chi tiết của kế hoạch. Ngày 8-8-1970, một lực lượng chính thức được thành lập, mang tên là Chiến dịch “Bờ
118 • Nguyễn Văn Dy Vân
biển Ngà” (Operation Ivory Coast), dưới quyền chỉ huy của Tướng D. Blackburn. Những không ảnh cho thấy một chữ “H” thật to được vẽ trên mặt đất của trại Sơn Tây. Có nghĩa là “Come get us”, hãy đến cứu chúng tôi. Ở trại tù Ấp Lỡ, cách Sơn Tây không xa, không ảnh chụp được chữ SAR (Search and Rescue), với mũi tên chỉ số 8, cho biết khoảng cách từ nhà tù đến chỗ “lao động”. Thiếu tướng Donald D. Blackburn chọn Đại tá Arthur D. “Bull” Simons làm trưởng toán. Đại tá Simons đến căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt Fort Brag để chọn 100 người trong số 500 tình nguyện. Đại úy Richard J. Dick Meadows được chọn chỉ huy toán tấn công vào trại tù Sơn Tây để cứu tù binh. Đêm 18-11-1970, đội Đặc nhiệm được đưa lên phi cơ vận tải C-141. Và 56 cảm tử quân đã không còn mặc quân phục hay mang phù hiệu của đơn vị nữa. Họ được đưa đến phi trường Thakhi, Thái Lan. Trước khi xuất phát, họ mới được cho biết cuộc đột kích bí mật này là để giải cứu các tù binh Mỹ trong trại tù Sơn Tây. Theo kế hoạch, nhóm biệt kích lên các trực thăng HH-53 tại căn cứ Không quân Udorn, Thái Lan, bay qua Lào rồi vào Sơn Tây. Để đánh lạc hướng, một cuộc không tập vào cảng Hải Phòng miền Bắc Việt Nam được tổ chức đồng thời với cuộc đột kích.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 119
10 chiếc F-4 Phantom ra nghênh chiến với mấy chiếc MiG đang bay tuần tiễu. Trong khi đó, một chiếc F-5 Wild Weasel tấn công các vị trí hỏa tiễn phòng không. 5 chiếc A-1 Skyraider tấn công các căn cứ quân sự. Cuộc hành quân táo bạo này của Mỹ là do vào sự kêu cứu bằng tín hiệu bí mật của số tù binh bị giam tại trại này. Vụ tập kích Sơn Tây hay còn được giới tình báo Mỹ gọi với cái tên mỹ miều đó là chiến dịch Bờ biển ngà. Chiến dịch này diễn ra vào đêm 20 rạng sáng ngày 21/11/1970 tại thị xã Sơn Tây, cách Hà Nội khoảng 50 km. Xét trong Chiến tranh Việt Nam, đây là cuộc tập kích xâm nhập vào miền Bắc có quy mô lớn nhất được thực hiện bởi biệt kích Mỹ. Mặc dù chỉ trực tiếp đưa 56 biệt kích Mỹ đặt chân xuống thị xã Sơn Tây, tuy nhiên phạm vi của chiến dịch này còn bao trùm toàn bộ khu vực từ Thái Lan-nơi lính biệt kích Mỹ xuất phát tới tận vịnh Bắc Việt, cùng với sự tham gia của lực lượng Không quân Hải quân Hạm Đội 7 của Mỹ làm nhiệm vụ tấn công Quảng Ninh, Hải Phòng để thực hiện kế nghi binh. Để thực hiện được một chiến dịch quy mô lớn như vậy, đòi hỏi các nguồn tin tình báo cực kỳ đáng tin cậy và được chuẩn bị trong nhiều tháng trời, với ưu thế khoa học kỹ thuật của mình, nếu như số tù binh còn hiện diện có thể đã đạt được mục đích ban đầu đề ra đó là đột kích giải cứu các tù binh phi công Mỹ đang bị giam giữ tại Sơn Tây. Mọi chuyện bắt đầu rất đơn giản, từ những chiếc móc phơi quần áo và những đống gạch vụn.
120 • Nguyễn Văn Dy Vân
Phi công tù binh Mỹ ở trại Sơn Tây Trại giam Sơn Tây chính thức giam giữ từ năm 1968, do số lượng phi công Mỹ bị bắt giữ ngày càng nhiều nên trại giam Hỏa Lò có nguy cơ bị quá tải, thêm vào đó, việc Mỹ ném bom xuống Hà Nội với số phi vụ ngày càng cao cũng khiến cho bọn lãnh dạo Hà Nội lo ngại nếu giam giữ phi công Mỹ ở một địa điểm duy nhất có thể dẫn tới việc tất cả bọn họ sẽ thiệt mạng nếu Hỏa Lò dính một… vệt bom từ máy bay Mỹ. Sau khi được thành lập vào năm 1968, trại Sơn Tây liên tục được bổ sung thêm những tù binh phi công Mỹ bị bắt và chỉ sau vài tháng số lượng tù binh tại đây đã lên tới con số vài chục người. Giống như ở Hỏa Lò, nơi các phi công Mỹ trìu mến đặt cho cái biệt danh là Hilton Hanoi nhại lại tên của chuỗi khách sạn Hilton lớn nhất nhì thế giới thời bấy giờ, Sơn Tây cũng có biệt danh riêng. Các phi công Mỹ đặt biệt danh cho Hilton là “Hy vọng”, với hy vọng về ngày được trao trả, được trở về quê hương hoặc táo bạo hơn là có thể trốn thoát được khỏi miền Bắc Việt Nam. Việc đi bộ trốn khỏi miền Bắc Việt Nam rõ ràng là điều không thể, họ cần có lực lượng ứng cứu và hỗ trợ. Tuy nhiên, các phi công này hiểu rõ ràng rằng Lầu Năm Góc không hề biết họ đang ở đâu và bản thân họ cũng không hề biết mình đang ở đâu. Cần phải nói thêm, khi bị giam giữ tại Hilton Hà Nội, tất cả các tù binh Mỹ đều biết mình đang
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 121
ở Hà Nội, tuy nhiên khi bị chuyển tới trại Sơn Tây, họ được đưa đi trong những chiếc xe bịt kín mít không cửa sổ, đường đi lại quá xấu, nhiều ổ gà nên các phi công không thể đoán nổi mình vừa trải qua đoạn đường dài bao nhiêu và kể cả khi có thể đoán được mình vừa di chuyển bao nhiêu kilometre thì họ cũng không thể biết được liệu đó có phải là một đường thẳng hay các sĩ quan an ninh Bắc Việt đã cố tình đưa họ đi lòng vòng để đánh lạc hướng họ. Nói tóm lại, các binh lính Mỹ ở trại Sơn Tây không hề biết mình đang ở đâu. Tù binh phi công kêu cứu Lầu Năm Góc Với sự mưu mẹo và trí thông minh của một người phi công, các phi công Mỹ trong trại giam đã tìm được cách liên lạc qua các phòng giam với nhau để chuẩn bị kế hoạch cầu cứu về Ngủ Giác Đài. Các tù binh trong trại Sơn Tây bị giam giữ khá thoải mái, họ được phép nói chuyện với nhau hàng ngày, nhưng lo ngại lực lượng an ninh Việt Nam có thể cài máy nghe lén được cuộc nói chuyện nên tuyệt nhiên họ không hề nhắc tới kế hoạch kêu cứu của mình khi nói chuyện trực tiếp, thậm chí không dám thì thầm với nhau. Tất cả mọi kế hoạch cầu cứu đều được bàn bạc trong bí mật và cách đơn giản nhất, hiệu quả nhất chính là gõ vào tường theo kiểu mã Morse hay Việt Nam ta còn gọi là “tà tạch”. Đây là thứ mật mã đơn giản mà bất cứ phi công Hải quân Mỹ nào đều thuộc nằm lòng, cách liên lạc bằng kiểu mã này tuy tốn thời gian vì tốn tới cả chục giây mới gõ được một chữ và đôi khi tốn cả tiếng mới nói xong một câu
122 • Nguyễn Văn Dy Vân
nhưng lại an toàn tuyệt đối vì lực lượng an ninh Việt Nam hoàn toàn không hay biết hoặc không để ý tới. Cứ như vậy, từng phòng giam một sẽ báo với phòng còn lại, hơn 50 phi công Mỹ trong trại giam Hy Vọng đã nắm vững được kế hoạch kêu cứu và tự giác làm việc theo sự phân công của nhau. Theo kế hoạch của mình, các phi công tù binh Mỹ biết hàng tuần, thậm chí là hàng ngày đều có các máy bay do thám của Mỹ bay qua bầu trời phía bắc Việt Nam để chụp ảnh do thám, những tấm không ảnh này sẽ được gửi về Lầu Năm Góc và được các chuyên gia tình báo phân tích kỹ lưỡng nhằm tìm ra những địa điểm quan trọng, những mục tiêu có giá trị cao cho lực lượng Không quân Mỹ tấn công. Nhìn từ trên cao, trại giam phi công Mỹ tại Sơn Tây không khác gì một trường học hoặc một khu nhà kho chứa hàng ít người qua lại, các phi công Mỹ biết điều đó và họ cố gắng tạo ra những ký hiệu lạ để thu hút sự chú ý từ Ngủ Giác Đài qua những bức không ảnh. Để làm được điều đó, các phi công Mỹ đã phơi quần áo theo ký hiệu mã Morse, phơi quần áo thành các ký tự có thể đọc được trên không, tận dụng việc được đưa đi đào rãnh, xếp gạch để mở rộng trại giam, họ còn bạo dạn xếp gạch, đào rãnh thành những ký hiệu khác nhau để kêu cứu. Các thông điệp thường được sử dụng đó là SOS (cấp cứu), H (hãy đến cứu chúng tôi) hay SAR (tìm kiếm và giải cứu) cùng với rất nhiều các ký tự khác lạ để cung cấp các thông tin khác cho Ngủ Giác Đài như số lượng tù nhân, tình trạng
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 123
sức khỏe, thậm chí là cả tên, cấp bậc và đơn vị của từng người. Những thông tin này được sắp xếp một cách cực kỳ khéo léo, chỉ có thể nhận ra được khi nhìn từ trên cao và sẽ trông như một mớ hỗn độn do sự bừa bãi, bất cẩn của con người khi nhìn từ dưới mặt đất, và cứ như thế, các phi công Mỹ đã qua mặt được lực lượng an ninh Việt cộng để “nói chuyện”với Ngủ Giác Đài. Dù không có bất cứ cách nào Ngủ Giác Đài đáp trả lại được những tín hiệu kêu cứu của họ, tuy nhiên những phi công tù binh vẫn kiên nhẫn gửi đi những thông điệp của mình ngày qua ngày. Và bằng một sự kỳ diệu nào đó, tiếng kêu cứu của họ đã vang đến tận Ngủ Giác Đài. Định mệnh thì cũng là định mệnh thôi, con người quá nhỏ bé trước cánh tay của Thượng đế! Qua từng hơi thở, như cảm nhận được chút gì đó, dao động theo từng lời mô tả chung quanh khu trại tù Sơn Tây. Bình hiểu được sự cố gắng ngoài tầm tay của chính phủ Mỹ. Tuy nhiên, vấn đề tù binh hay giải cứu tù binh là một việc mà cuộc chiến nào có nước Mỹ dính chân vào đều được họ đặt nặng... Cả đến việc tìm hài cốt binh lính tử trận hay mất tích... Bao ý nghĩ cứ như bồng bềnh, đã đưa anh sâu vào giấc ngủ. Tiếng chim đã đánh thức Bình dậy, trời cũng vừa ửng sáng, các chú chim thong thả chuyền từ cành nọ sang cành kia, ríu rít như gọi nhau để đón chào nắng sớm.
124 • Nguyễn Văn Dy Vân
Ánh nắng mai rực rỡ xuyên vào ánh lên cả góc phòng, đã gợi nhớ Bình về chuyến tàu mà Bình là một trong số trên dưới 300 người bị dồn vào dưới hầm trong những ngày ấy. Luồng ánh nắng chói chang kia bên tiếng kẻng đánh thức đinh tai nhức óc cách nay 42 năm, của tên Việt cộng từ trên thành tàu bằng một hồi dài để giật đoàn tù dậy kiểm soát có ai chết không sau khi tàu rời New Port giữa đêm rồi. Những chuyến đưa đi trước đã có người không chịu nổi trước cảnh khốn nạn thế này, đã cắt mạch máu tự tử... Họ uất ức vì thất trận, vì nuớc Mỹ thông đồng với cộng sản là lẽ dĩ nhiên, nhưng cái mà họ uất hận nhất là bọn bẩn thỉu tiếp tay cho đế quốc mới là chính. Bọn này nói ra thì còn gì thể diện của cái gọi là chính quyền miền Nam. Chỉ là một bọn trấn lột, đội lớp và theo chiêu bài chống cộng để đánh lừa người dân, che giấu giềng mối tôi đòi, chiếm lĩnh chính quyền để cuối cùng vì mạng sống mà quá ư hèn hạ, xé nát thực lực miền Nam theo lệnh quan thày, cho tan hoang đất nước nhanh như vậy... Suốt mấy đêm ngày lênh đênh, chập chờn trong một trạng thái cùng cực, chua cay nhất trong đời. Dù cố nhắm nghiền đôi mắt, xua đuổi đi những gì còn trong ý nghĩ nhưng trước mắt Bình cứ mãi như lảng vảng bóng nhà tù cộng sản đọc được của thời Liên xô hay Mao Trạch Đông đày ải dân họ... Miền Nam, sau một năm chiếm đóng, đây chẳng biết là chuyến tàu thứ mấy đưa thành phần quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà ra Bắc giam giữ. Chuyến này cũng vào giữa
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 125
năm 1976, với một chặng đường vô cùng bi thảm đói khát, thiếu vệ sinh. Số người thoát thân khỏi miền Nam tháng 4 -1975 nào ai biết qua được cảnh khủng khiếp này. Nóng bức, thu mình ngồi tựa lưng vào nhau như nêm, cả 300 mạng người bị dồn vào một khoang tàu chở hàng hoá, chẳng còn một lối đi, phải len nhau từng bước để đến chiếc thùng vệ sinh được đặt lộ thiên bên góc khoang tàu, với mùi hôi thối xông lên phủ trùm cả hầm tàu dưới nắng. Nóng bức và hôi thối kia đã làm không ít người lớn tuổi phải ngạt thở, cấp cứu. Chỉ những dân tộc man di mới có sự đối xử nhau tàn tệ như vậy, cùng bên những chính sách và ngôn ngữ bịp bợm, khoác lác: “Ta chẳng có ai thắng ai thua, chỉ có đế quốc Mỹ thua”. Chủ trương của ta là: “Đánh người chạy đi, chớ ai đánh người chạy lại.” Buồn cười cho nhiều nỗi, đám chạy lại bị chúng đánh còn thê thảm hơn, rồi nói rằng CIA Mỹ gài cho trở lại hoạt động... Một Lũ Vẹm...! oOo Thất trận chỉ là một vấn nạn của một giai đoạn lịch sử, là kết cuộc giữa một cuộc đối đầu của hai phía trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhưng nó không thể nói rằng là một sự
126 • Nguyễn Văn Dy Vân
khuất phục hay hèn kém của phía bại trận. Việt Nam Cộng Hoà bại vong chưa hẳn là sự yếu kém mà cũng vì nhiều nguyên nhân ngoại lai góp phần vào. Riêng miền Nam, thì giờ này ai cũng thừa biết và nghĩ rằng, các cấp lãnh đạo miền Nam quá tồi và hèn, gục mặt đem vận mệnh đất nước với cả hơn hai mươi triệu dân ra chỉ đánh đổi cho mỗi mạng sống và gia đình họ, mới ra nông nỗi. Quân lực Việt Nam CH suốt 20 năm đã anh dũng chống trả với cộng sản một cách kiên quyết, dù trước mắt nhận rõ rằng nguời Mỹ đã ra đi từ năm 1971, và vì tổ quốc thân yêu, mà vẫn kiên trì một lòng chiến đấu? Nhưng rồi bọn bội phản ấy cố tình phá bỏ cả hai quân khu, cũng là cái cột sống của miền Nam với những cái lệnh đáng nguyền rủa, phó mặc vận mệnh dân tộc này cho bọn Đế quốc. Nếu không, người lính Việt Nam CH có dễ dàng để cho bọn cộng sản tay sai vào tận Sài Gòn không! Thật tiếc nuối cho đất nước lại nằm vào tay bọn khiếp nhược nên giờ mới thế này. Bước đường cùng, đành chịu trói tay, danh dự bị chà đạp và có bị hành hạ cũng là chuyện thường trong mọi cuộc đối đầu và chiến tranh, duy chỉ một điều là, cuộc chiến Quốc Cộng tại miền Nam này lại quá nhiều bi thảm và chua cay như vậy. Ngày trước Đức Quốc xã giết người Do Thái bằng hơi ngạt. Liên Xô thì Lenin làm câm miệng dân Nga bằng cách hành quyết và treo cổ. Mao Trạch Đông thì tự tôn mình là Hán tộc, các sắc dân khác là man di, đày họ ra vùng băng giá bỏ đói chết, còn Hồ Chí Minh thì đập đầu và chôn sống
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 127
chính ngay đồng bào hắn. Ngày 19/8/1945, sau khi tên Hồ Chí Minh cướp chính quyền trên tay chính phủ Trần Trọng Kim xong, Chỉ trong vòng 2 tháng giành quyền đại diện dân chúng miền Nam, họ đã tiến hành các vụ giết người, các vụ khủng bố đẫm máu một cách tàn bạo, dã man khi ra lệnh đàn áp bằng súng đạn vào cuộc biểu tình của Phật Giáo Hòa Hảo tại Cần Thơ. Số người biểu tình này chỉ có tay không, khi đoàn ghe chở đầy dân chúng vừa tấp vào bờ bên phía Bình Minh là bị Việt cộng bố trí sẵn tiểu liên từ bên trong bắn ra, người chết thây nằm la liệt cả trên bờ lẫn mặt sông, máu đỏ cả khúc sông. Đàn bà lẫn trẻ nhỏ hằng trăm người không ai sống sót. Xong dùng loa phóng thanh khắp đường phố Cần Thơ, kết án Hòa Hảo âm mưu vượt sông cướp chính quyền ở Cần Thơ. Còn tại Huế trong Tết Mậu Thân năm 1968, bọn cộng sản Bắc Việt đã tàn sát, đập đầu và chôn sống hơn 6.000. Nhìn con số trên mà nhức nhối, thật xứng với mỹ danh là “bộ tộc man rợ!”. Năm 1975, ngoài số quân cán chính, con số dân lành chết vì quân Bắc Việt cũng không nhỏ hơn năm Mậu Thân 1968... Thành phần quân cán chính miền Nam một số bị chúng đến tận nhà, tận ngõ bắn giết, xác chết không toàn thây nằm tràn lan, vắt vẻo khắp nơi. Trên bờ ruộng, dọc theo đường lộ, trôi trên sông và cả treo trên cành cây cho

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 09:19 PM
Gửi vào: #12


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



128 • Nguyễn Văn Dy Vân


thỏa thú tính và oán thù. Thời gian lênh đênh trên biển, nhìn lại mà lòng đau, tim nát, cay đắng cho phận con ếch dưới giếng sâu, thấy gì ngoài bầu trời với những đám mây mù che phủ trôi ngang. Khoảng 2 tiếng đồng hồ họ ném một dây nước xuống, vừa cho uống và rửa ráy. Ướt đẫm tràn lan lên người cùng sàn tàu, nực mùi rừng rú tanh tưởi. Trưa lại ném xuống những thùng mì gói để chia nhau cho suốt chuyến hải hành. Có những vị Trung tá khốn khổ, thở không nổi vì nắng khô trong hầm tàu đã phải thoi thóp trăng trối trước khi ra đi, đã làm cho người người nào tránh khỏi cảnh phải khóc chung cho phận người mất nước này. Vì thương đồng đội, đau buồn cho vận nước, một chiến hữu đã không ngần ngại hét lên, chửi tên chó Hồ Chí Minh và Lê Duẩn không tiếc lời về sự đối xử tàn ác của chúng, nhưng cứ như đi vào hư không sau vài câu đáp trả lại! Cảnh khốn cùng này của kẻ mất nước, có đáng nên được ghi lại hay không, để người sau biết được trong cuộc chiến chống cộng này của miền Nam Việt Nam bị lọt vào quá nhiều đoạn đường cay đắng, mà các thế lực ngoại lai tròng vào đầu. Với cộng sản thì chẳng cần phải nói tới dân tộc hay đồng bào là gì. Với họ mục tiêu tối thượng là đoạt lấy chính quyền, ai đi ngược lại là phải tiêu vong, nên ai bày ra chi
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 129
cái chuyện nhân đạo với cộng sản thật vô ý thức! Bài học đạo đức này chẳng khác chi dành cho cộng sản đi đến chiến thắng, trong khi chủ trương khởi thủy của ông Tổ cộng sản Lenin của họ là thẳng tay tận diệt mọi mầm móng đối nghịch với họ. Cộng sản mà dùng sự nhân đạo để làm đối trọng nói chuyện lẽ phải là một điều buồn cười. Cấp lãnh đạo miền Nam theo đòi quan điểm Tư Bản, nhìn đám cộng sản như là một đảng chính trị đối lập thông thường thì lấy gì để thắng nó chứ! Nó là kẻ cướp dĩ nhiên phải hiểu rằng trong tay nó phải có súng hoặc dao găm, mình muốn chặn đứng nó thì cũng phải dùng súng và dao, không thể nói chuyện lịch sự hay nhân đạo với kẻ cướp được... Hãy nghe về người dân miền Bắc chịu dưới sự thống trị của cộng sản từ năm 1954 kể lại thì sẽ rõ hơn sách lược cai trị của chúng: “Đói” là một từ người dân miền Bắc trao nhau từng ngày trong những cơn nắng, mưa, giông, bão. “Tù” cũng là một từ mà người miền Bắc luôn nghe văng vẳng bên tai trong đêm. “Rình rập” cũng là hai chữ oan khiên chưa biết lúc nào nó đến với mình. Đó là lời của một người công giáo tỉnh Thái Bình bị đẩy lên sống trên vùng kinh tế mới gần trại giam trên vùng rừng sâu của tỉnh Hoàng Liên Sơn.
130 • Nguyễn Văn Dy Vân
Ngồi im lặng nhìn vào khoảng không gian đáng sống này rồi nhớ về câu chuyện kể trên của dân Thái Bình mà Bình được nghe, không thể nào so sánh và hiểu nổi họ có phải cùng một dân tộc! Dòng ký ức cứ như tuần tự hiện lên trước mắt về những ngày cuối của cuộc chuẩn bị ra đi. Những thứ cần thiết một phần cũng đã xong như dự tính, bỗng dưng có một buổi kiểm tra bất thần, nhưng còn cái may là kịp thời ném cả các thứ đó vào sàn và gốc giường ngủ trong gian trại giam ít ai để ý tới nên cũng qua. Trại tù Cộng sản thì nơi nào cũng đều vậy, thỉnh thoảng chúng đè cả trại ra kiểm tra vật dụng từng cá nhân, chúng e sợ những gì cũng khó đoán. Lần này kiểm tra xong mấy hôm, thì có tin lọt ra ngoài của những tên vệ binh dẫn tù đi làm qua một gia đình cư dân trong vùng là, trại này sắp chuyển đi nơi khác. Một chị mang ra cho một ít khoai mì và cho biết sơ qua như vậy. Thế là cả trại rỉ tai nhau là trại sẽ chuyển đi nơi khác. Bình và Phú cuống lên vì tin này, mọi dự định chưa tiến hành được, mà nay chuyển đi vùng khác thì biết có thuận lợi hơn nơi đây không. Suốt mấy giờ liền bàn bạc cùng nhau, Phú và Bình cùng nhất quyết phải cấp tốc thực hiện cho bằng được chuyến đi trước ngày đến khu trại giam mới. Việc ưu tiên là phải nắm vững đường đi và nơi mình muốn đi đến, như vậy bằng mọi cách phải lấy cho bằng được tấm bản đồ lớn đóng trên vách phòng ăn của bọn chúng, mà mấy tuần trước Bình và Phú trong dịp theo tên vệ binh đến kho
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 131
lấy dụng cụ đứng chờ đã nhìn thấy được. Tấm bàn đồ này lớn phủ trùm cả miền Bắc với các chi tiết địa hình rõ ràng đến biên giới Trung cộng, cả Lào và Thái Lan. Ngay cả sân bay, cầu cống, thị trấn, địa danh cũng đầy đủ, Bình chăm chú địa danh Sầm Nứa bên kia sông Mã. Phú thì quan sát đường đến Cố đô Luang-Brabang của Lào. Đó cũng là ước mơ của hai người đặt mục tiêu để đến. Cả hai ngồi dựa thân cây cạnh tảng đá bên dòng suối sau buổi lao động vất vả ngang qua dừng lại tắm rửa trước khi về đến trại. Có vẻ gì đó phấn khởi hơn mọi ngày, Phú mơ theo chuyện đi, qua được sông Mã và nét mặt có vẻ vui lên và nói: - Tao ước gì khi qua được sông Mã rồi có được món đồ chơi cầm tay thì yên tâm hơn. Bình biết đây là ý định chung, nhưng bây giờ thì quá sớm nhưng cũng phụ họa cùng bạn: - Dĩ nhiên là rất cần có được nó để thoát thân khi bị phát hiện. - Còn việc lấy cái bản đồ, mầy tính sao? Phú nêu lên. - Tôi cũng chưa biết cách nào để đến được gian nhà ăn tụi nó để lấy! - Mầy dám làm không, hừng sáng mai tao với mầy giả bộ đi cầu tiêu mặc áo quần màu sậm, bò qua rào phóng nhanh lên phòng ăn bọn nó lấy chứ còn cách nào. Phú và Bình chung cùng phòng giam, khoảng 4 giờ
132 • Nguyễn Văn Dy Vân
sáng, Phú lại giường Bình bấm vào chân bạn và hai bạn đồng hành kẻ trước, người sau xin đi nhà vệ sinh. Năm phút sau Phú bò ra khỏi rào và Bình cũng theo sát phóng nhanh lên nhà ăn của bọn bộ đội Việt Cộng. Nhà ăn vắng lặng vì mùa Đông bọn chúng ngủ thẳng cẳng, Phú bảo Bình nấp bên ngoài canh gác có dấu hiệu gì không ổn, báo động để ẩn núp. Phú vào trong lôi sập cả bản đồ và khung hạ xuống. Bình chạy vào dùng dao rạch quanh khung lấy trọn chiếc bản đồ cho khỏi nghe tiếng động xong xếp nhỏ laị, giao cho Phú nhét vào dưới lớp áo.Trong khi Bình xếp tấm bản đồ thì Phú cũng đã bẻ gập làm tư chiếc khung bó cứng lại ném xuống ao trước mặt, đoạn dùng chân nhấn sâu xuống bùn cho khỏi nổi lên. Thế là xong cả hai phóng nhanh ra rặng cây le vùi tấm bản đồ khuất sâu trong bụi rậm, giữ kín nơi đó khi nào cần sẽ đến lấy ra dùng. Thời gian ra và lấy chiếc bản đồ vỏn vẹn không hơn 20 phút và khi bò vào lại trong rào xong trời cũng vừa tờ mờ sáng, quanh mình đầy đất cát chỉ kịp cởi ra được bộ áo quần dính đầy bùn đất kia là tiếng kẻng cũng đã đánh thức... Phú nheo mắt với nụ cười thoả mản khi nhìn Bình cũng tỏ ra mãn nguyện với kết quả vừa rồi, hai người ngồi cận nhau đánh răng vừa kể lại sự liều lĩnh khi bò ra vòng rào cây, đan chéo bao quanh trại giam, nhất là lúc đột nhập vào căn nhà ăn, leo lên giật tấm bản đồ sập xuống, rồi thu dọn chiến trường, sau đó thoát nhanh ra ngoài để bò hỏa lực vào lại trại. Phú vẫn còn khoái trí cười khúc khích và nói:
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 133
- Đúng là Mission impossible, mầy thấy tao làm gọn không, phải nhanh như vậy mớí giải quyết xong được cái bản đồ cho hết nhức đầu. - Đúng là một sự liều lĩnh, không còn cách nào khác. Bình nói với bạn. Phú quay sang: - Mầy tính coi cái gì kế tiếp cần thiết cho mình và nhớ rằng vấn đề muối ăn là rất cần, làm sao có để ăn nhiều ngày bảo đảm tốt cho chuyến đi. - Được rồi việc này để ngày mai tôi sẽ nhờ gia đình ông cụ dùng chiếc áo len đổi giúp mình chắc cũng xong. Mấy ngày liền mưa luôn, đường trơn ướt, mây phủ đen bầu trời, cả trại đều nghỉ không ra khỏi rào. Bình kín đáo sang các buồng để thăm các bạn và tìm thêm một bạn đồng hành cho đúng theo dự tính, vì 3 người cùng đi vẫn hay hơn, có đau bệnh hay việc gì bất trắc cho người nào thì còn lại 2 người vẫn tiếp tục được cuộc hành trình... Mấy người bạn thân trong binh chủng thì ai cũng e ngại, không dám ra đi với nhiều lý do. Người ta sợ rừng sâu, đường xa cùng gian khổ khó đi khỏi và nhất là nhỡ bị bắt lại... Họ chấp nhận chờ bọn Việt Cộng giải quyết theo từng hy vọng của mỗi người... cả một buổi sáng, sau nhiều thất vọng, cuối cùng thì có anh Đỗ Ngọc Pháo binh SĐ7BB tham gia. Trời lại mưa dai dẳng, ngồi bên nhau mà bụng thì cồn cào vì đói. Cũng đã vào Đông, qua Tết chưa được mấy tuần, nhớ nhà Phú nhắc lại những ngày còn nhỏ sau Tết trốn ba
134 • Nguyễn Văn Dy Vân
má rong chơi và bị những trận đòn nên thân, mỗi người một chuyện, nay thì quê hương qua những ngày Tết đã thiếu vắng đi những người con yêu này... Không còn gì, ngồi quanh nhau trong trại tù với những cơn mưa thúi đất thế này, bụng thì cơn đói hành hạ, mấy người lớn tuổi thi co ro áo mũ quấn đầy người. Tội cho những ông anh lớn tuổi, mang cái bệnh suyễn khốn khổ, khí hậu ẩm ướt vùng núi thở không ra hơi, mặt mày đỏ gay. Những đêm lạnh buốt như vậy, hầu như mọi người trong từng buồng trại đều chung nhau thức để đốt lửa sưới ấm cho những người anh bị dị ứng nghẹt thở vì giá lạnh! Tuần qua, sinh hoạt trong trại rộn rịp hơn, chỉ dấu như đã biết được là chuyển trại, nhưng không biết ai đi và bao nhiêu. Ai cũng tỏ vẻ buồn vì nếu tách ra mỗi người một nơi như những lần trước, thì biết bao giờ mới có cơ may gặp lại. Những tình cảm gắn bó trong cảnh khốn khó này, cứ mỗi lần bị tách xa nhau là như xót cả tim gan. Chung cảnh ngộ, cùng chiến tuyến, hằng ngày san sẻ bên nhau, nên cũng qua đi ngày tháng, nếu không chưa biết tăm tối này sẽ ra sao. Đêm thì vang vọng âm thanh của đủ mọi loại côn trùng, muỗi mòng đốt cắn... Ngày thì bao quanh cảnh mây, rừng, núi thẫm cùng bên tiếng vọng của hoang vu. Vào tay cộng sản rồi ai cũng nghĩ đến, sớm muộn gì rồi cũng bị chúng thủ tiêu như đã biết và thấy. Khí trời giữa tháng hai năm 1977 rất lạnh, đêm về gió núi giá rét, ẩm ướt đưa vào, mọi người đều phải dậy đốt lửa để sưởi. Những niên trưởng lớn tuổi mang bệnh suyễn
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 135
một số đã bị chết do kiệt sức vì ăn uống thiếu thốn mà không có thuốc chữa trị, suy yếu dần hồi vì phải lao động khổ sai ngoài trời trong thời tiết khắc nghiệt, gió núi lạnh thấu xương, mòn mỏi đành phải chịu cảnh vùi thây lại chốn rừng sâu. Cách trả thù của họ với người miền Nam chúng ta quá ư là thâm độc, không cần phải dùng súng đạn như bọn Pôn-Pốt khi chiếm được Kampuchea mà vẫn loại trừ được hầu hết mọi thành phần quân cán chính miền Nam một cách yên lặng trong bóng tối. Thủ thuật giết người và loại bỏ triệt để chế độ miền Nam bằng cách bệnh tật không chữa trị, lao động khổ sai và đói khát là chủ trương chính để giết dần mòn sức khoẻ từng người. Như thế đã quá rõ ràng để hiểu được là tại sao chúng đã mang toàn thể Quân Cán Chính Việt Nam CH đưa ra giam giữ sâu trong những vùng núi non hoang dã tại miền Bắc. Nhưng mỗi người có cái nhìn và theo đuổi một cách riêng, hoặc chấp nhận cho số phận, hoặc hy vọng vào riêng tư nào đó, để có được ngày về... Riêng Bình và Phú luôn có những cái nhìn khác hơn qua sự đày ải những người công giáo Thái Bình lên tận vùng này. Họ bị người Cộng Sản phân biệt, coi họ là một tổ chức tôn giáo phản động nhất, những cây gai trong tư tưởng, là thành phần luôn mang đầu óc đối nghịch với đường lối cai trị của bọn chúng... Chỉ những câu chuyện của người Thái Bình quanh khu gần trại giam kể qua cũng đủ thôi thúc Bình và Phú phải rời khỏi chốn khốn cùng và chết chóc này...
136 • Nguyễn Văn Dy Vân
Mọi dự đoán coi như đã đến, hôm ấy, sau tiếng kẻng báo thức, thì đám quản giáo và bọn vệ binh xuống đầy các dãy phòng giam, sau khi làm vệ sinh xong chúng ra lệnh khám xét đồ đạc và cho biết chuyển trại. Có linh cảm gì đó, chiều hôm trước, trên đường đi làm về đến ngoài trại, chợt Phú nảy ra ý định đến lùm cây, nơi cất giấu tấm bản đồ lấy mang vào. Thực phẩm khô tìm được như lương khô của Trung cộng cùng dầu lửa và đá quẹt mà Bình đã tìm được đã chôn dưới gầm giường ngủ cũng sẵn sàng cho vào hành trang... Ngoài trời giá buốt, cái lạnh của mùa Đông năm này thêm vào gió rừng mây thấp, làm người người phải co ro bên chiếc Ba lô cùng tư trang bày trước sân cho bọn quản giáo kiểm soát vất bỏ những thứ gì chúng nghĩ là có thể dùng nó để vượt trại hay gây được thương tích... Rồi cả trại cũng qua giai đoạn kiểm soát, và chúng cho lệnh là chuẩn bị chuyển trại đi nơi khác, chỉ một số nhỏ tạm ở lại để dọn dẹp... Một lúc sau, đoàn xe molotova đến và đám trực trại la hét hối thúc lên xe, Bình giành lấy việc phụ mang thức ăn của nhà bếp trong đó là 5 kilo muối hột và một số phụ gia linh tinh. Bình liền lấy để riêng cho mình 2 kilo muối... Đoàn xe đi về hướng phà sông Hồng - Yên Bái, hầu như những bạn thân trong binh chủng đều cùng chuyển đi đến trại mới... Anh Nguyễn Ngọc, Huỳnh Vỉnh... mà trước đó Bình có kín đáo chia tay mà ít ai để ý biết tới.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 137
Mưa tầm tả, đoàn xe đi trong trơn ướt và gió rét của những ngày cuối tháng 2... Năm 1977, trời đất như cũng sầu theo lòng người, trần mây hạ thấp trôi nhanh, hạt mưa theo gió giạt vào mặt, từng cơn lạnh buốt, như xô, như đẩy cuộc đời này vào tận nơi cùng cốc, thâm sơn... Đúng như vậy, vào khoảng nửa đường từ Thị trấn Ba-Khe đến phà sông Hồng, đoàn xe rẽ trái vào sâu về hướng Tây chừng 15 cây số và chậm từ từ rồi dừng lại bên một đầu ngõ của một công trường lâm nghiệp nhỏ, cũng là một cửa ngõ của một thung lũng hẹp bên trong. Mọi người được lệnh xuống xe, và có lệnh nhanh chóng cho một số người chuyển trước vào khu vực mới một số thực phẩm được phân phối sẵn trên xe. Bình nằm trong toán chuyển thực phẩm và lên đường ngay sau khi xuống xe... Đoạn đường vào khu trại mới khoảng 6 cây số, hai bên đều là rừng dày che phủ với nhiều đoạn quanh co mà Bình ghi nhận là nơi thuận tiện nhất để thoát ra khỏi đoàn quân khi di chuyển vào trại mới. Khu dựng trại mới chỉ là một vùng rừng thấp với nhiều gò đất, chưa có nhà cửa gì cả, số thực phẩm và dụng cụ nhà bếp mang theo đã được giao lại cho đám vệ binh và số người nấu bếp lo nấu nướng cho đoàn người chuyển trại đến để ăn... Xong xuôi, toán chuyển thực phẩm cùng mấy tên vệ binh trở lại. Cũng đã hơn 5 giờ chiều đoàn người lại bắt đầu đi vào nơi trại mới, từng đội nối tiếp nhau mang vác tư trang đi và cứ đi về vùng giam giữ mới. Chúng tôi theo như xắp
138 • Nguyễn Văn Dy Vân
xếp để tách ra khỏi đoàn người, chia nhau kéo giãn đoàn người để khi đến từng khúc quanh thì thoát nhanh vào rừng. Thật dễ dàng vào điểm hẹn sẵn và đi nhanh ra khỏi khu vực... ung dung dọc theo đường ngang cửa lâm trường... Bấy giờ cũng hơn 10 giờ đêm, trời lạnh buốt, mọi nhà trong nông trường lâm nghiệp đều đi ngủ. Bình dẫn đầu đi nhanh trên đường hướng về liên tỉnh lộ Yên Bái-Nghĩa Lộ. Được cũng hơn 10 cây số, trời cũng đã hừng sáng, Phú bảo nên tìm chỗ núp sâu bên trong khu rừng của Nông trường để tránh bị người qua lại phát hiện. Cư dân vào rừng lấy gỗ từng toán, tuy nhiên chỉ có vào sáng sớm, buổi chiều thì mưa nên không thấy có người. Khoảng 11 giờ đêm là giờ tốt nhất để tiếp tục hành trình. Trời lạnh nên nhà nhà cũng đều ngủ yên chẳng ai để ý đến 3 người ẩn hiện giữa đêm khuya vắng lặng, rét mướt này. Phú tìm thấy bên đường một cây mía, cũng là món quà ngọt ngào trong đêm cho nhau. Tuổi trẻ trên chiến trận ngày nào nay đành phải dạt trôi theo phận số của đất nước, đã phải chắt chiu gìn giữ cho sức khoẻ và ý chí từng bước mà ngày nào đã tạo dựng, Mỗi bước đi giờ đây cũng là một lẽ sống trong tâm hồn, dù có cho là đi trong vô vọng, nhưng với Bình và Phú cũng như Ngọc, đấy là một hướng đi. Nếu như chấp nhận cho số phận, thì không có những chuyện vượt ngục này, trong một lưới cá khi kéo lên hầu như con cá nào cũng vùng vẫy, nhưng con nào nhanh chân thoát ra trước là khỏi bị cho vào nồi.... Đây không hẳn là cái lý đúng, nó còn phải đi kèm với nhiều yếu tố, vào sự khôn ngoan trong từng tình huống gặp phải.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 139
Mọi việc đều không ngoài ý chí cùng ước vọng, và cương quyết vẫn là bước khởi đầu của hành trình. Vượt ngục là đi tìm cho mình con đường thoát, là một sự sống còn mà người tù trong chế độ Cộng sản phải đặt ra khi thấy có được cơ hội. Nào biết ai sẽ ban ơn cho ta trong những cảnh ngộ này của đất nước. Giờ phút khốn cùng như vậy thì dựa vào đâu để đặt niềm tin, tin vào cái gì và tin vào điểm nào... vào lời nói khoan hồng của bọn chúng à! Phú và bình hiểu rằng, vượt trại nơi này tỷ số để thành công rất ít, cũng như thấy trước những khó khăn trên đất Lào. Nhưng trong cái rọ cộng sản, dù có sờ nắm được đi nữa mà lấy gì để làm chắc! Thiên đàng cộng sản hay địa ngục cũng chỉ đều một cửa mà. Bình và Phú tranh luận gay gắt giữa cái vùi thây chốn rừng hoang và cái chết do mình chọn... cách nào hay hơn! Nào ai muốn tìm cái chết, mà là cứ vẫn phải đi, lý do gì đã không giữ được nước, để phải bị kẻ thù bắt thì chỉ nên chọn lấy một cái. Biết rằng chết không phải là một giải pháp tốt nhất, thì nay ra đi, nếu có phải như thế cũng chẳng sao! Phú nghĩ đời mình chưa làm được gì hơn ngoài việc cầm súng! Bao năm đứng trên tuyến đầu, trực diện với kẻ thù, và vận nước đã không may rơi vào đường đi của đế quốc, lại nằm vào tay nhóm lãnh đạo tham quyền, hèn nhát mới nên. Bình cũng đồng ý với Phú là vậy, nhưng cuộc chiến Quốc Cộng này đến nay vẫn chưa ai đưa ra được gì có tính thuyết phục về những việc mà ông Nguyển Văn Thiệu hành
140 • Nguyễn Văn Dy Vân
xử và buông tay? Nghĩ như vậy cũng không ngoài quan điểm của nhiều người! Nhìn qua kết cuộc, có thể thấy miền Nam Việt Nam mình bị Mỹ đặt vào vật hy sinh ngay từ đầu. Mỹ đã không chịu có hiệp ước hỗ tương với Việt Nam CH mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu cầu nếu nước Mỹ muốn đưa quân vào miền Nam chặn đứng cộng sản? Việc Mỹ cố tình đổ quân vào miền Nam và lấy cớ giúp Việt Nam Cộng Hoà đánh lại bọn cộng sản Bắc Việt... để kích thích tính tự tôn và lòng hiềm thù của đám cộng sản quốc tế. Nếu như họ nhảy vô là đúng theo ý muốn rồi... Lừa qua, đảo lại, tên phù thuỷ đại bịp Mỹ lợi dụng đúng thời cơ về sự hiềm khích đất đai và biên giới Nga Tàu, đã bí mật đi đêm thương lượng với Mao tách đôi chúng ra và khối cộng yếu hẳn. Việc này cũng có vài ý kiến ngược lại, là Mỹ đi lầm nước cờ nên bị lọt vào bẫy và Mao đã lợi dụng sức mạnh của Mỹ sau lưng để giải quyết vụ xung đột biên giới với Liên xô... cùng chuỗi dài sách lược mang đến nhiều lợi ích to lớn cho Trung cộng về mọi mặt... Bước đầu, tên đại bịp thắng lớn, thắng liên tiếp, xoay đầu bọn Bắc Việt, nay ngã theo Liên Xô, mai theo Tàu, sau cùng lọt hẳn vào tay Liên Xô. Cuộc cờ hiện rõ lên khi Hà Nội thu tóm luôn cả miền Nam. Món quà mà Mỹ đã chuẩn bị dành cho Hà Nội sau 10 năm đặt chúng vào thế phải nối tiếp cuộc chiến khác tại
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 141
Kampuchea cùng chuỗi dài đối phó với các nước lân bang nhất là với Trung cộng... Thắng tuyệt đối của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam là đặt Trung cộng và Liên Xô từ đồng minh thành thù địch, đối đầu nhau. Liên Xô nuốt chửng cả hai miền Nam Bắc Việt Nam, và Trung cộng coi như tuột mất mọi toan tính. Quá tức tối, Trung cộng tấn công ngay đám phản phúc Hà Nội không chút nương tay. Chỉ còn được chút quà mọn Hoàng Sa, nằm ngay cửa ngỏ từ Bắc vào biển Đông, đã mở đầu cho tham vọng biển cả sau này của bọn Hán... Còn bọn đại bịp chỉ biết sống cho quyền lợi, chẳng cần phải danh dự hay nghĩa khí gì cả. Oán trách này cho cùng dù có dính chặt vào cuộc đời này chăng nữa, đó chỉ là cái oan khiên? Phận nhược tiểu, nghèo khó, miền Nam bao năm kiên trì, chịu đựng với cảnh chết chóc tang thương như vậy cũng vì lòng tin, mong ngày nào đó thoát ra được phần số, để rồi ngờ đâu vào quỷ kế bọn xấu, đẩy miền Nam vào bể đời đau đớn này. Nỗi buồn cũng chỉ là nỗi buồn, dù có mất thêm gì đi nữa, việc chính yếu vẫn phải là thoát ra khỏi hệ thống trại giam liên hoàn canh giữ này để đi, Bình thầm nghĩ. Hai đêm và một ngày và một quãng đường, thành quả đầu tiên đáng khích lệ cho mấy ngày đầu... Đêm đi và gần
142 • Nguyễn Văn Dy Vân
sáng tìm nơi kín đáo ăn uống, trú ẩn và nghỉ ngơi. Thức ăn thì đến đâu tìm đến đó, mùa Đông khoai sắn, xà lách, xu hào của dân chúng và các nông trường trồng đầy hai bên đường. Nhất là khoai mì thì mọi nơi trên miền Bắc đều dự trữ bằng cách giữ nguyên dưới đất, chỉ khi cần thì đào lên, ngoài ra còn có những cối giã gạo của người sắc tộc sử dụng nguồn nước suối hoạt động suốt đêm, mình có thể xin mượn để ăn... Ngày đầu còn e ngại bị lộ diện, nhưng sang ngày thứ hai vì khẩn cấp thoát nhanh ra khỏi khu vực hệ thống trại giam trải dài này đến gần tận Sông Đà. Bình bàn với hai bạn nên đi nhanh hơn, và Bình tình nguyện đi đầu dẫn đường. Ngay đêm thứ hai, khi ngang qua trại công an, bọn nó đang thể dục sáng chạy ắc-ê ra cổng trại. Bình dừng lại sát đường, việc của chúng là thể dục còn ta, vượt trại là ta cứ đi... Nhưng Phú và Ngọc đi sau chừng 50 đến 100 thước thấy đám Công an đã hoảng sợ tấp vào rừng. Đi xa hơn 500 thước không thấy hai bạn đâu, Bình đành tìm nơi dừng lại, ẩn núp chờ, nhưng mãi đến hơn 9 giờ đêm Bình mới đón và gặp lại được hai bạn. Phải đi nhanh khỏi khu vực, đừng mang nặng sự sợ hãi nữa! Đó là ý nghĩ chung để tiếp tục. Bình cũng dẫn đầu đội hình và hai bạn Phú và Ngọc đi phía sau một khoảng cách đủ nhìn thấy nhau vào Thị trấn Văn Chấn... Đúng gần 12 giờ đêm, Bình lách qua cổng Thị trấn có cây chặn, chó sủa vang và... chó sủa mặc chó, đoàn người vượt trại cứ vẫn đi, đi xuyên qua cả gần cây số nhà cửa phố xá của huyện đường nhưng chẳng bóng ma nào chặn hỏi. Phú và Ngọc kể lại là
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 143
có thấy chút lo sợ và hồi hợp, nhưng rồi cũng qua cơn... trời cũng đã gần sáng nên lại phải hướng sâu vào rừng lo ăn uống và nghỉ ngơi... Đường núi hoang vu, trời khá lạnh, gió rít từng cơn, chẳng biết đây có phải là mưa phùn như sách vở nói qua, từng hạt bụi nước theo gió phủ lên người lấm tấm như sương sớm trên cỏ hoa, dai dẳng liền mấy ngày vẫn chưa dứt. Những chiếc áo trên người dù không làm ấm được đoàn lữ hành giữa núi rừng Bắc Việt, nhưng cũng làm cứng lại đôi chân chinh chiến của ngày nào. Ba người cùng theo nhau dậy, Phú cuốn chiếc võng và gợi rằng bắt đầu cho ngày kế tiếp. Cũng 11 giờ đếm dự trù 4 giờ sáng sẽ tới chân đèo Lũng Lô (theo như chiếc bản đồ mang theo)... Đi được một tiếng đồng hồ vào đến thị trấn Ba Khe, Bình vào sát cây chặn cổng xe qua lại trên đường... Tiếng chó sủa ban đầu chỉ một con rồi dần dần thành chó hùa, vang dội cả khu phố... Bình có chút hồi hộp, nhưng trấn an ngay vì cần rút ngắn thời gian để ra khỏi khu vực nhiều trại giam này. Nép sát vào chân cổng gác quan sát độ chừng 5 phút, nhưng vẫn không một động tĩnh nào, Bình khoát tay Phú và Ngọc khuất phía sau khoảng 100 thước đi theo. Lũ chó hai bên phố sủa vang nhưng bên ngoài trời lạnh quá chẳng tên đảng viên hay chức sắc nào của Việt cộng xuất hiện đúng như gia đình người Thái Bình trước kia đã nói khi cho những chi tiết cần thiết để ra đi... Đây là một phần của hệ thống trại giam vì là lối đi độc
144 • Nguyễn Văn Dy Vân
đạo dẫn đến trại tù nổi tiếng thời Pháp giam giữ đám Việt Minh là trại tù Sơn La, Nghĩa Lộ... Qua được thị trấn Ba Khe yên lành cũng nhờ ơn phước ba đời ông bà dành cho... Gần 4 gìờ sáng vào cổng nông trường trồng bắp chen lẫn gừng hay củ dong riềng gì đó, thấy có nhà đèn sáng, Phú hối đi nhanh và ba người đi bước nhanh hơn ra khỏi nông trường lớn này thẳng về hướng chân đèo Lũng Lô. Trời sáng rõ và chạm mặt ngay một cụ ông tay cầm chiếc rựa, nhưng ông rẽ sang cánh rừng, theo cơn đường mòn vào sâu bên trong. Bình để ý coi ông có quay lại không nhưng đây chắc cũng là người dân chất phác hiền lành, đi lấy gỗ rừng cho gia đình nên không có ý dòm ngó ai... Bình kéo Ngọc và Phú về hướng khác và rẽ lối đi mới sâu vào rừng ẩn núp và nghỉ ngơi, ăn uống, nhìn lên bản đồ còn cách chân đèo Lũng Lô cũng hơn 5 cây số... Mọi bước đi phải hết sức thận trọng vì nếu sơ xuất là dẫn đến chết hoặc bị bắt, rồi lại cũng vào rọ hay xử bắn thôi, nên nhất nhất đều phải cẩn trọng, xa các lối mòn đi lại của dân làm củi hay lấy gỗ để tránh bị phát hiện... Hôm nay mưa có vẻ dứt hẳn, có chút nắng và có phần ấm áp, đường xá không còn trơn ướt, cũng đã 11 giờ đêm, Bình dự trù nếu đi êm xuôi cho đến hết ngày mai có thể qua khỏi Huyện Phù Yên và gần đến đươc Sông Đà... Bình vẫn dẫn đầu, Phú và Ngọc theo sau 100 thước Trời đêm nay trăng sáng, đi chưa hơn 30 phút. Thấy đám mía cạnh sân nhà của công nhân nông trường, Phú lẻn vào bẻ hai cây mía... Không may cho hai người, thường thì giờ
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 145
này mọi người đều ngủ, nhưng vì công nhân làm trong nông trường vừa tan ca về chưa ngủ nên Phú và Ngọc bị phát giác và họ gõ kẻng báo động, cả đám dân túa ra và Ngọc bị bắt. Phú thì nhanh chân phóng lẹ vào rừng cây, thoát được chạy theo hướng tới, hơn một giờ sau gặp lại được Bình đang ẩn núp chờ Phú dưới con suối nước nhỏ cạnh đường trong cảnh đỉa vắt hai bên bờ đeo cắn đầy người mà vẫn phải ngồi yên, trong khi công an và dân làng đang lục lọi tìm kiếm. Phải đành bỏ Ngọc lại với nhiều lo lắng e rằng Ngọc khai rõ đường đi nên Phú và Bình cấp tốc đi nhanh qua đèo giữa đêm tối, phải xuyên qua các khu cư dân dọc theo hai bên đường đèo. Mãi đến độ chừng 3 giờ sáng mới đến được đỉnh đèo vớí nhà cửa đường xá quanh co, xuyên qua, xéo lại không chút thứ tự, có lẽ vì nhiều sắc tộc sống trên đây nên Bình và Phú tìm mãi vẫn không ra con đường chính dẫn xuống bên kia đèo. Cả hơn nửa giờ mà vẫn không tìm ra lối. Trời lạnh buốt, trên mình chỉ có chiếc áo mỏng và chiếc “Pông-sô” may tạm che mưa trước khi ra đi mà mồ hôi cứ như tươm ướt. Bình nghĩ rằng nếu không tìm được đường chính để đi xuống đèo thì sớm muộn cũng bị phát giác và không thoát được, đành dựa vào đức tin nơi Thiên Chúa và Phật dẫn lối. Trong bóng đêm, cả hai thì thầm khấn nguyện, xong dặn Phú cứ ngồi đây đừng đi đâu, nhỡ ra lạc nhau kêu lên sẽ bị lộ ngay, và một mình đi tìm. Bình đánh bạo đi thẳng đến ngay trụ sở Ủy ban nhân dân gì đó phía trước may ra thấy được điều gì không. Gần đến ngã tư thì về bên trái có trụ cây số ghi đi Phù Yên 9 cây số...
146 • Nguyễn Văn Dy Vân
Như bắt được vàng, Bình trở lại gặp Phú và hai người đi nhanh và nhanh hơn như đã tưởng. Hơn giờ sau Bình và Phú đã xuống ngang trại tù Sơn La của Pháp xây ngày trước còn trơ hình thù và vách đá mà ngày nào đó đã giam giữ bọn lưu manh Đỗ Mười, Trường Chinh... cùng những tên ác ôn khác trong guồng máy bọn bán nước họ Hồ... Theo con dốc xuống một khoảng bất chợt nhận ra một đội hình của quân ta đang trong một trại giam gần đó đi thẳng ra và chạm mặt với Bình và Phú. Khi ấy cũng hơn 7 giờ sáng, cả hai phải kéo chiếc mũ che khuất nửa mặt, vì rằng nhỡ các bạn ta trong đó nhận ra thì sao... Nhưng cũng may, không có gì xảy ra. Xuống gần hết chân đèo thì một toán khác cũng từng bước hướng ra, vai cuốc, tay dao cùng cảnh như nhau, nhưng nào biết đâu có hai người được chút tự do đang xốn xang nhìn cảnh khốn khổ của đồng đội mình nơi đây. Nhìn cho đến bóng người sau cùng khuất sâu và mất hút trong cây rừng mới lặng buồn quay đi. Chân đèo đổ dốc xuôi theo đường hướng về thị trấn Phù Yên, vực đá trút xuống lũng sâu về phía trái, nối tiếp cùng thảm lúa xanh trải xa về phía trước. Sát bên trái là vách núi cao, lừng lững đưa xa về hướng Sông Đà, Phú theo sau Bình khoảng cách cũng vừa đủ để nhìn thấy nhau... Hôm nay không giữ được đúng giờ giấc, thay vì giờ này ẩn mình đâu đó, lại trên đường đi, cũng vào khoảng hơn 11 giờ trưa rồi, đành liều vậy thôi. Bình vẫn ung dung từng bước vào thị trấn Phù Yên, giờ này khá đông người qua nên cũng
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 147
dễ lẫn lộn và ít ai để ý tới, đến cách trạm công an Huyện khoảng 15 thước, Bình ngồi bệt xưống bệ đá nghỉ, như rằng mình cũng như mọi người địa phương vào chợ mua sắm gì đó ngồi nghỉ xả hơi... Phú ngồi cách nhau cũng 20 thước phía đối diện. Hơn nửa giờ quan sát quang cảnh thị trấn, nơi coi như là tiêu biểu cho sinh hoạt trao đổi của người dân trong khu vực. Không nhận thấy có một hình ảnh buôn bán nào đừng nói chi đến chợ búa có mua bán như trong miền Nam. Bên góc đường hay vài nơi gần các cửa hàng phân phối muối ăn hay cá khô có vài nhóm người trao đổi các loại thực phẩm, rau quả riêng với nhau như một loại buôn bán câm. Họ nhìn nhau với cảnh nghèo khó và an phận Ngán ngẩm cảnh xác xơ, nghèo khổ này, Phú đứng dậy ra hiệu tiếp tục... Đi được một khoảng xa, qua khỏi một cánh đồng trong nắng chiều vàng nhạt, Phú quay lại nói: - Tới phía trước mình coi nơi nào kín đáo vào nghỉ và ăn cái gì đã... Phú vượt lên phía trước và đi thêm chừng 3 cây số gặp con đường mòn đưa vào rừng tre gai. Phú đi sâu vào khoảng nửa cây số và rẽ vào trong các lùm tre chọn chỗ nấu ăn và nghỉ lưng. Còn được hơn 5 kg khoai mì và những trái xu hào cùng hơn 2 kg gạo còn nguyên trấu lẫn lộn đã mượn tạm dọc đường... Những bữa ăn nơi hoang dã này, hạt muối và niềm đau,
148 • Nguyễn Văn Dy Vân
hòa quyện vào nhau mới thấm sâu cho đời mất nước! Phú tựa một thân cây đăm chiêu như nhớ về nơi nào đó trong đời. Bình thì đãi gạo lo làm cơm cho bữa ăn tới phòng khi nơi nghỉ kế tiếp không có được nước. Đặt gạo vào bọc vải và ngâm vào suối nhỏ cho gạo thấm nước... đồng thời Bình và Phú cùng ngâm mình vào con suối cho trôi đi những bụi đất lẫn mồ hôi qua mấy ngày vội vã thoát thân. Phú mò mẫm bắt được mấy con tôm nhỏ với vài con cá bóng trong hốc đá ném lên bờ. Nhìn niềm vui của bạn Bình nói: - Anh Phú này! Mấy con tôm nhỏ để tôi còn cá bóng là phần anh đó nhé! - Sao mầy thích tôm mà không giành cá. - Thì chuyện Tàu thường ghi là “Tướng cá... Binh tôm”, nên tôi nghĩ rằng nếu không bị mai một, anh sẽ là “Cá”. Nhưng bây giờ anh thấy có phải anh là con cá đang nằm trên thớt không! Phú vừa vui cười và nói: - Còn mầy là tôm sao cũng bị nằm trên thớt vậy... - Ừ thì! Đã gọi bọn nó là Việt cộng rồi thì còn gì phải thắc mắc nữa, nó làm xả láng hết, anh không nhớ cái anh Thiếu uý trong đơn vị ĐPQ ở quận Đức Thành Tỉnh Sa Đéc khỏang 23 tuổi, khi bị Việt Cộng bắt, anh ta khai tên là Nguyễn Huệ, cấp bậc là Thiếu Tướng Tư lệnh Sư đoàn


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 09:25 PM
Gửi vào: #13


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 149

23 B. Bọn Việt Cộng cứ xem như bắt được con cá lớn, đem nhốt cái đã và đưa thẳng ra Bắc giam giữ chung với mình đó sao! - Tao nhớ ra rồi, mầy cứ hay phá tao, thôi mình thu quân lại... Bình xách bọc gạo trở lại chỗ cũ và đào một lỗ cạnh gốc cây và đặt bọc gạo vừa ngâm dưới suối vào rồi lấp một lớp đất lên, xong gom lá và những cành cây nhỏ phủ lên, đoạn đốt lửa. Khoảng nửa giờ là bọc cơm chín... cho ngày mai. Cũng đã hơn 6 giờ, trời cũng xẩm tối, cùng mắc võng ngủ nhưng cả hai chẳng chút yên lòng về ngày mai vì phải qua sông Đà, mà giấc ngủ là cần thiết bù lại cho ngày căng thẳng vừa qua. Và Bình đã đi vào giấc ngủ không lâu sau đó. Phú kể lại: - Thấy mầy ngủ ngon tao mừng cho, tao thì cố nhắm nghiền mắt mà vẫn không ngủ được. Tao thấy buồn cho cuộc đời, tao nhớ quân trường kinh khủng, tao nhớ trường xưa với bao hình ảnh bạn bè, mọi thứ đã hết rồi, và nghĩ mãi chắc không còn gì nữa. - Sao vội thất vọng vậy, anh phải tỉnh táo, dù có cay đắng mấy, phải tự tin và hy vọng mới vượt qua được những cam go đang chờ trước mắt. - Mầy ơi! Một cú trời giáng đã dập tắt tất cả rồi còn gì! Tiên sư nó, đúng là mình bị “Bề hội đồng”, mầy coi cả đám cộng sản cha, cộng sản con từ Nga Tàu tới Đông Âu...
150 • Nguyễn Văn Dy Vân
rồi thêm bọn Mỹ và Tây Âu nữa. Chúng nó hả hê phanh thây đất nước mình thẳng tay như vậy! - Ừ nhỉ!... - Biết rằng tức đi mấy cũng chẳng được gì, nhưng không thể nào gỡ ra được “cục tức” đó... Nhìn Bình rồi Phú cười trong chua xót dưới bóng trăng thoáng sau lùm cây. Tính ra thì Bình cũng chợp mắt được chốc lát, Phú thì cứ sột soạt mãi trên chiếc võng và hai người thì thầm trách mình và mắng chửi đời. Thời khắc trôi nhanh theo tiếng uất nghẹn sau rừng, Bình choàng dậy ra hiệu Phú đi tiếp. Trăng khuất trong mây, trời khá lạnh, Bình trước, Phú sau, im lặng cùng đi, đường đất đá của người Pháp làm ngày xưa còn lại với hai vệ đường rải rác nổi lên đầy những phiến đá tổ ong đỏ... Trời khuya không một bóng người, vắng lặng hoàn toàn nhường trọn lối đi cho hai bóng lữ hành, tim gan vun đầy mộng ước đi tìm lại lẽ sống.... Bình chậm lại gần bên Phú: - Anh Phú, chắc cũng không còn xa mấy là mình tới sông Đà rồi, anh dự tính qua sông thế nào? - Thế nào. Phú tiếp: - Thì phải đến nơi coi nó như thế nào cái đã! - Tôi e là gay go không nhỏ, khó có thể bơi qua được.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 151
- Tao có cầu xin tiền nhân, thổ địa nơi đây giúp cho mình rồi, giờ chỉ biết vậy thôi. - Tìm đường lên trời phải qua nhiều cửa ải thật! Bình nói. Vừa đi vừa vu vơ to nhỏ, sau khi xuyên qua như cả 4 khu công trường, hợp tác xã gì đó trông thật là xác xơ tồi tàn, ngoài những gian trại mái ngói nuôi trâu bò hoặc gia súc chẳng còn thấy gì hơn là những đụn đá hay những đống gỗ dài chơ vơ bên góc sân. Những gian nhà lợp tranh thì được dựng ngay ngắn hơn, với vách đất có lắp ghép từng cửa một, có lẽ cho người. Đấy chắc cũng là cơ ngơi dành ưu đãi cho người trong xã hội chũ nghĩa. Giành được nước rồi chỉ có thế sao! Trời cũng ửng sáng phía chân trời. Nhìn xa xa, bao quanh đều núi và rừng cây, bên trái là thảm lúa nhỏ chạy dài theo vách đá từ thị trấn Phù Yên đến, bên phải là rừng thấp... Vừa xuống đoạn dốc nhỏ, thoáng một bóng người trên đường mòn nhỏ hướng ra. Bình nói với Phú: Có bóng người bên phải đi ra, để tôi đi chậm lại gặp họ dọ hỏi coi ra sao và Phú đi nhanh hơn về phía trước. Đây là một buổi sáng mùa Đông đầy giá buốt, lúc ấy khoảng hơn 4 giờ sáng và rất nhiều sương mù, sâu về bên trái là những dãy núi cao sừng sững, bên dưới chạy dài theo chân núi là thung lũng rộng với một cánh đồng lúa xanh ngát, đẹp như tranh vẽ, suốt từ thị trấn Phù Yên đến. Bên
152 • Nguyễn Văn Dy Vân
phải là những dãy đồi thấp, với những nông trường rải rác đủ loại, hỗn độn, mà trên đường từ thị trấn Phù Yên đến đây suốt đêm rồi, đã đi xuyên qua. Cảnh xác xơ, loang lổ từ lều trại đến mặt nền trên các công trường, đã chứng tỏ cái nền móng của cuộc sống nghèo khó cuả dân chúng miền Bắc nó thảm thương và khốn khổ như thế nào. Cũng là cái may mắn, có lẽ cặp mắt Thượng đế soi rọi cho chúng tôi? Bình nhớ lại như in dáng người con gái vừa ra tới đầu đường thấy bóng Bình đứng cạnh lùm cây chợt giật mình khựng lại vì trời còn mờ tối. Bình lên tiếng: - Dạ chào cô. - Dạ xin lỗi, anh là ai? - Xin lỗi cô, tên tôi là Bình muốn nhờ cô giúp cho một việc, mong cô sẵn lòng cho? - Vâng, anh ạ! Dạ anh cần việc chi? - Tôi muốn sang bên kia sông Đà nhưng không biết nơi nào có thể qua được, nhờ cô chỉ giúp hộ cho, xin cám ơn nhiều lắm. Vì là giọng nói miền Nam, nên đã bị cô em phát hiện ra ngay và nói rằng: - Bến phà của Bộ đội nằm xa về phía bên trái kia, mà do bọn công binh bộ đội công tác đưa sang. Em tên là Thủy,
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 153
anh theo em vào đây em hỏi anh điều này. Bình theo cô ta nép vào sau lùm cây rậm, khuất bên trong và cô ta nói tiếp: - Em trông anh sao giống lính Cộng Hoà mà em đã gặp quá, sao anh đến nơi đây và làm gì, có phải anh bị bắt đi cải tạo trong các trại ở Phù Yên không mà những khi đi ra Phù Yên mua vật dụng mấy lần em đã thấy. Bình cảm thấy cô gái này như đã thấy được mọi thầm kín của mình. Sự im lặng của Bình kéo dài chừng vài phút thì Thủy nói: - Anh có biết gì về miền Bắc này mà anh bỏ trại trốn đi như vậy, Anh biết gì về bọn công an và các cấp Đảng uỷ của chúng nó chứ, đi đến đâu, hay làm gì cũng có cặp mắt chúng nó. Em thấy các anh khó có thể đi khỏi được. Bình cho Thuỷ biết thêm là có môt người bạn cùng đi nữa và tiếp: - Nếu nói như Thủy thì bây giờ chúng tôi phải làm gì đây! - Ừ! Em cũng không biết phải như thế nào, nhưng mà các anh định đi đâu? - Chỉ có con đường duy nhất là sang hướng Lào thôi, thế Thủy có thể giúp cho chúng tôi được gì không? Chẳng hạn như chỉ rõ những lối đi có thể vượt qua sông Mã mà không có, hay rất ít công an hay bộ đội trú đóng.
154 • Nguyễn Văn Dy Vân
- Thật với anh mấy tháng trước, khi trời chưa lạnh, em có cùng đi với người bạn đến Pahang sát biên giới Lào, ngay sông Mã, em thấy chắc mấy anh không dễ gì đi được đâu. Bọn công an biên giới rất nhiều, bên kia là Sầm Nứa bộ đội cũng rất đông, bọn nó sợ biệt kích xâm nhập nên kiểm soát gắt gao lắm. Năm ấy là mùa Đông 1976, trời lạnh như cắt, Bình vẫn tỏ ra không nản lòng, vì đã rút ngắn được một khoảng đường khá dài, đã vượt qua gần một phần năm đoạn đường với năm ngày đêm. Ngày đi, đêm nghỉ dù trong cái lạnh mùa Đông 1976 trong vùng rừng núi trùng điệp Hoàng Liên Sơn, đèo cao, dốc thẳm, tính ra cũng đã qua dược hơn 100 cây số. Ý chí đã tạo nên sức mạnh và sức chịu đựng của con người, chẳng biết sợ hãi với mọi nghịch cảnh hay trong các tình huống nguy hiểm là gì. Năm ngày qua, Bình và Phú đã đi xuyên qua nhiều hang ổ của chúng. Những thị trấn, trạm gác, Nông trường, hợp tác xã, ngay cả cùng Phú ngang qua trước đồn công an huyện Phù Yên vào buổi trưa, chúng cũng chẳng nhận biết. Mới hôm qua đây, trước khi vượt qua đèo Lủng Lô để sang vùng Phù Yên đi đến sông Đà, sau bốn ngày đi mệt nhọc gian khổ phần thì thiếu thức ăn, nên hai người bị đuối sức không ít, đôi khi như lả người đi vì khát và lạnh. Miên man hồi tưởng lại đoạn đường vừa mới đi qua trong những cảnh huống nguy nan mà Bình quên rằng Thủy đang soạn lấy ra giấy bút và vẽ nên những quãng đường cùng lối đi dẫn tới Thị trấn Mộc Châu, với những nơi phải
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 155
đi vòng để tránh bọn công an. Từ Mộc Châu phải cải dạng và đi theo những người sắc tộc để đến được biên giới Lào, nơi có nhiều lối để xuyên qua Lào của những người buôn hàng lậu. Pahang, một Thị trấn gần biên giới Lào rất nhiều bọn công an như tại Mộc Châu, nếu không khôn khéo sẽ bị chúng nó phát hiện ngay. Thủy dặn dò khá kỹ với nhiều điều đáng ghi nhớ cho những ngày kế tiếp bằng cả sự quan tâm và tận tình. Hướng về sông Mã, có lẽ đúng như Thủy nói là còn quá nhiều gian nan, vất vả! Nói đến sông Mã, Bình nghĩ ngay đến những ngày tháng xưa có đọc qua những dòng thơ Quang Dũng như: Đôi Bờ Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai? Sông xa từng lớp lớp mưa dài Mắt kia em có sầu cô quạnh Khi chớm thu về một sớm mai Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự Kinh thành em có nhớ ta chăng? ……… ……… Thoáng hiện em về trong đáy cốc Nói cười như chuyện một đêm mơ ……… ………
156 • Nguyễn Văn Dy Vân
Xa quá rồi em người mỗi ngã Để rồi: Đôi bờ đất nước nhớ thương nhau Em đi áo mỏng buông hờn tủi Dòng lệ thơ ngây có dạt dào? Hay rằng: Tây Tiến ……… Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa ……… ……… Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Chăng đây! Ngõ trúc quanh quanh sầu bóng lá
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 157
Trăng vàng rơi rắc nẻo nào xưa Ngõ cũ không mong người trở lại Mà mùi hoa mộc vẫn thơm đưa. Âm hưởng của những dòng thơ kia ít nhiều cũng liên quan đến những bước chân, khi vào chốn đã in nhiều dấu vết của chết chóc và cách trở này. Mộc Châu, Sầm Nứa xa xăm ấy, tận vùng rẻo cao biên giới Việt Lào trên hành trình đi tìm đất sống. Những con người không còn tương lai này chỉ còn bám víu vào vận may và ân phước dành cho! Đi tìm cái sống trong cái chết, Bình cũng được nghe nhiều trước khi ra đi, nên không lấy gì bi quan. Hơn nữa sách vở nói cũng khá nhiều về cộng sản, nhất là về nhà tù mà họ bày ra để giết bất cứ ai đi ngược lại lợi ích của họ. Họ giết tất cả, hủy diệt mọi thứ cản trở trên bước đường của họ. Đó lý tưởng cộng sản mà Lenin bày ra. Quãng đường vượt trại đầy cam go thật nhưng đặt chân ra đi chưa khi nào thấy chùn bước, có lẽ sự tàn bạo và độc ác của kẻ thù mà nẩy sinh ra việc coi thường mạng sống khi nghĩ đến chuyện vượt trại. Mỗi người sinh ra được tạo hóa phú cho một đức tính. Không biết Phú ra sao chớ riêng về Bình giờ này vẫn cho rằng những điều mình làm là đúng, vì sách vở cộng sản giờ đây tìm đọc lại thì vẫn còn dẫy đầy và vô vàn cảnh bắn giết đối phương mà không bao giờ xét xử. Cái tàn bạo của cộng sản là không cần phải đúng hay
158 • Nguyễn Văn Dy Vân
sai mà là có lợi nhiều hay ít. Lầm nhiều người nhưng đúng một người là lập được công rồi. Biết rằng “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi”. Và bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng cũng đã chẳng nói nhiều đến vùng sông Mã đấy sao? Đèo cao, dốc thẳm, lạnh lẽo hoang sơ chẳng thấm gì với hai chữ “Tự do”, thế nên chẳng còn chọn con đường nào khác. Phải có đến sông Mã, mới qua được Sầm Nứa, và có tới Sầm Nứa mới vào sâu đất Lào và sang Thái Lan được. Thủy nói: - Anh xem tờ giấy này và cất giữ khi cần. Và đây là địa chỉ của em ở Thái Bình, nơi bố mẹ em đang sinh sống. Nhớ rằng chỉ khi cần lắm anh mới viết thư gửi về và đừng viết gì có hại, ghi là nhờ chuyển về Thủy anh nhé! Bình thật sự cảm kích nghĩa cử dũng cảm vô vị lợi của một người con gái sinh ra lớn lên sinh sống và học hành trong xã hội cộng sản tại miền Bắc mà không gì hoen ố. Ngược lại Thủy còn hiểu được lẽ phải và đạo nghĩa để chọn hướng đi cho mình. Thủy tiếp: Em nghe bố nói ngày xưa có biết người lính Cộng Hoà trong miền Nam, với một ít ngợi ca, dù vậy em cũng thấu được phần nào dù quanh em chưa lần được gặp... - Cám ơn Thủy đã nói về vùng đất miền Nam! Còn miền Bắc?
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 159 - Để rồi các anh sẽ thấy... và phải chịu cảnh dần, mòn nơi đây. Nhìn vào sự đăm chiêu của Bình, Thuỷ tiếp: Từ khi lớn lên, em chỉ thấy có bắt bớ, tù đày và đói khổ. Nếu muốn thoát khỏi cảnh ấy, chỉ có con đường đi vào bộ đội vô Nam để đánh Mỹ thôi. Nhưng rồi vào đó thì trở về được bao nhiêu, chọn con đường nào thì cùng đi đến chỗ chết. Em thì bị họ đặt vào diện phải đi lao động, anh thấy như em này, có phải lao động là vinh quang không! Em cũng có nghe bố mẹ nói nhiều về cải cách ruộng đất của những năm 1953-1956, bố nói nghe mà ghê rợn. Bọn họ bắt buộc mỗi nhà hàng đêm phải đi theo toán người chuyên đi đấu tố cuả Huyện để hò hét theo đám phát động, bố tả lại nhiều cảnh giết dân lành dã man lắm, anh ơi em sợ cảnh ấy quá. - Khi em chuẩn bị lên đây mẹ em khóc hết nước mắt. Anh biết không, hàng ngày từ sáng sớm em phải dậy để sắm sửa mọi thứ, sau đó ra vùng núí rừng này để làm. Anh biết em là gái mà hàng ngày phải phát hoang, gom cây cỏ lại để đốt. Anh xem tay em đây này, bị gai và cỏ cắt đứt nát cả, mà mỗi ngày chấm công được 60 hào. Anh thấy được phần nào cuộc sống của bọn em nơi đây chưa. Trong một hoàn cảnh và lối sống man dại, gần với rừng rú như vậy nghe qua không khỏi mủi lòng. Dù là một cô gái nhỏ bé, nhưng đầy tình người, sao lại phải lâm vào cảnh nước đục này!
160 • Nguyễn Văn Dy Vân
Nhìn cô gái than thở mà nghĩ nhiều đến miền Nam biết rồi sẽ ra sao! Thuỷ nói: Em biết trong Nam mấy anh một người đi làm là nuôi cả nhà. Năm rồi bố có vào thăm người cháu họ, về lại bố có kể đến người miền Nam và cuộc sống, nên em rất là thương cảm cho hiện tại của các anh, đang bị tù đày ra tận nơi đây. Những hạt nước mắt trên đôi má, có lẽ là nỗi uất nghẹn bên cảnh đời bấy lâu, nay mới có được dịp thể hiện. Nhìn vào sự đau buồn của Bình, Thủy tiếp: - Nỗi xót xa của mấy anh, em hiểu được, nhưng mà tại sao mấy anh để phải đi đến đau khổ như thế này, sao mấy anh để phải thua bọn họ thế chứ! Bình chỉ còn biết gục đầu. Quay sang chiếc giỏ đựng thức ăn, Thủy lấy ra chiếc gói đậu phọng trộn muối và chiếc bánh bột luộc chín đặt vào tay Bình và nói: - Em gặp anh nơi đây, trong cảnh này mà chẳng giúp được gì hơn cho các anh, thật đáng buồn. - Đây cũng là tâm trạng chung của số người bị kẹt lại miền Bắc sau năm 1954, những gì họ mong đợi đã không đến, miền Nam đã không giải cứu họ, mà hôm nay lại phải như thế.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 161
Bình nói: - Thủy đã cho tôi quá nhiều ân nghĩa như vậy, tôi không dám nhận đâu. Bao nhiêu tình cảm dành cho chúng tôi từ sáng sớm đến giờ, cũng chưa biết đến lúc nào là có thể báo đáp lại được. Trên đời này chắc cũng không hiếm người tốt và đầy lòng cao thượng, nhất là trên bước đường đi tìm ánh sáng tự do lại gặp được. Cả cuộc đời, cho tới giờ này, Bình chưa lần đứng trước một con người có cả một tấm lòng can đảm và cao đẹp như thế, thế mà đây lại là một người con gái tuổi còn bé nhỏ. Thật là kỳ diệu cho cuộc đời này... Năm ấy Thủy nói rằng đã 21 tuổi, đã học xong lớp11 tức lớp cuối chương trình phổ thông trung học ngoài Bắc, gia đình người Thái Bình, công giáo, thế nên bị đẩy lên cảnh núi rừng khoanh vùng kinh tế này. Thân phận một cô gái vừa mới lớn, mà chẳng thấy chút ánh tương lai, lên đến đây coi như chết cả đời con gái, với cả một màu núi rừng hoang vu, đen tối.. Thiện cảm và những e dè dễ mến của Thuỷ, đã đánh tan đi sự dị biệt về con người giữa hai miền Nam Bắc, nhìn Thuỷ như người bạn quý nhất của mình sau năm 1975. Bình đặt tay nhẹ vào vai em: - Thủy ạ, ai cũng có số phần, núi rừng là nơi cũng có thể cho mình những tĩnh lặng và bình yên. Gặp em trong hoàn cảnh quá ư đặc biệt thế này và
162 • Nguyễn Văn Dy Vân
trong tình huống cấp bách, dĩ nhiên Bình không thể nghĩ gì ngoài cuộc hành trình cho tự do. Bao tâm trí Bình chỉ dồn vào chiếc bản đồ có được và mang theo bên mình. Đây là đường đi, là tương lai, và đây cũng là cái chết và sự sống hơn là những gì khác. - Thủy có cái nhìn về người miền Nam qua chúng tôi thế nào? - Ý anh muốn hỏi về anh chứ gì! Em không biết. - Sự dò hỏi như vậy có gì đáng chê trách không. - Anh có gì nặng lời với em đâu mà trách chứ! Em chỉ lo ngại cho anh thôi. - Và hiện tại Thủy có mong ước điều gì không? Có một điều nhưng em không nói đâu! Nắng sáng rực rỡ xuyên qua khe lá rọi vào, vài làn nước còn đọng lại trên mi, làm Bình không khỏi bồi hồi nghĩ đến lúc chia tay và nhìn em như em gái mình nơi quê nhà. Tóc Thủy cuộn tròn thả sau lưng, đầu phủ kín dưới chiếc khăn để chống bụi trần và nắng nóng. Tháo chiếc khăn xuống, Thủy làm dấu Thánh giá và nói: - Em cầu nguyện cho anh nhé! Bình cúi đầu tiếp nhận ân tình này trong im lặng? Thủy nhìn sang Bình:
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 163 - Cầu xin Chúa ban nhiều phước lành cho các anh. Cám ơn Thuỷ, chúng tôi cũng xin cầu phúc cho Thủy! Thủy ngó xuống, chập sau nói: - Mong các anh luôn yên lành trước ơn Chúa. - Xin cám ơn Thủy. - Em xin cầu chúc các anh luôn may mắn và bình yên trên đường đi và được tới nơi theo như ý muốn của mình. - Cám ơn Thủy đã trợ giúp chúng tôi với cả tấm lòng, cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ân phước cho em. Những tâm hồn rực sáng, vững vàng bên những đức tin kia thật đáng trân quý... và lần này mới nhìn rõ được trọn vẹn gương mặt của Thủy, đôi mắt vẫn còn hoen đỏ, da dẻ nhợt nhạt cùng rám nắng, phải chăng đã nói lên, cảnh đời và phần số, gian khổ và buồn đau mãi như quanh quẩn và đè nặng lên em. Thủy nhìn lên và nói: - Trong đầu em như có cái gì đã thay đổi. - Chắc tại hôm nay trời nắng ấm Thủy thấy ấm lòng hơn và vui nhiều với cây cỏ, núi rừng chăng. Hơn nửa ngày hôm nay Thủy đã làm được bao điều ân phước trước chúng tôi. - Không phải đâu, em thấy dường như lo lắng đâu đâu
164 • Nguyễn Văn Dy Vân
vậy đó! - Hay là Thủy sợ mất mát cái gì đó phải không. - Em có gì đâu mà mất chứ! Mà thôi em không muốn nghĩ tới nữa, để mặc như chiếc lá cứ trôi và trôi mãi, thì chắc thế nào cũng có ngày rữa nát và tan vào dòng nước! Ngước nhìn mặt trời, Thủy tiếp: - Chắc cũng đã hơn 7 giờ rồi, sao em thấy buồn quá! Em biết anh phải đi thôi, anh không thể ở đây mãi được. Mà các anh có vượt qua được những nơi hiểm yếu đó không. Em có linh cảm không yên chút nào. - Dù số phận như thế nào, mệnh số mà. Chỉ biết rằng, đến bao giờ mới được gặp lại nhau để đáp lại nghĩa ân này! - Vừa mới biết anh mà lại rời xa, em buồn quá! - Phải làm sao hơn khi hoàn cảnh đã vậy rồi, chỉ còn cầu xin điều lành đến cùng ta. Bình tiếp: Chắc là đến lúc mình phải chia tay. Bình chạm nhẹ lên tay Thủy. Với những cái chớp mắt, nhẹ nhàng Thuỷ rút tay ra và đặt lên vai Bình: - Em không nghĩ là mình có được phút giây ngắn ngủi như thế này, mà chỉ thế thôi sao! - Mọi thứ trên đời đều do Thiên Chúa dành sẵn cho Thủy ạ, nào ai làm khác đi được, cảnh ly biệt nào mà chẳng
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 165
buồn chứ. - Mà em là người ở lại, mới là buồn hơn! Xoa nhẹ lên trán Thủy như thương người em gái của mình và kéo tay em đi nhanh về phía sông Đà. Phú ngồi khuất trong lùm cây vội bước ra có vẻ trách móc, sao mà lâu vậy! Chập sau Phú nói: Tao nóng ruột quá, muốn đi cho nhanh! Bình biết Phú giận nên im lặng. Phú nhìn, rồi cười khi nhìn thấy Thủy mắt còn hoe đỏ đứng nép sang nói: - Có lẽ chỉ chốc nữa là có thuyền chở gỗ đi ngang đây, em sẽ nhờ các bác đó đưa mấy anh qua bên kia bờ. Với đôi mắt buồn nhìn dòng nước trôi nhanh trên sông Đà, Thủy lặng lờ như tiếc nuối cho khoảng thời gian ngắn ngủi này khác gì như làn mây mỏng trôi ngang. Trong cảnh rừng hoang, núi thẳm thế này lấy gì hòa nhịp được với tuổi đôi mươi, chỉ có sự dồn nén cùng những ảo giác vô tri của chốn hoang dã mà thôi.... Cảnh vật núi rừng, vời vợi ngút ngàn cùng những áng mây mà hàng ngày em phải gặp, Bình nghĩ liệu rằng nếu là mình thì phải ra sao... Tiếng vọng hoang vu giữa núi rừng, làm sao mà tránh được những nỗi buồn. Dù có giấu kín đi trong tâm hồn như thế nào em cũng không tránh khỏi dao động trước một
166 • Nguyễn Văn Dy Vân
quãng ngắn bất chợt này. Trước lúc chia tay sau buổi gặp gỡ kỳ thú, trao đổi phớt qua ít nhiều cũng đã chan chứa vào lòng em! Phải chăng vì bản tính dễ cảm, dễ buồn và là con đường mệnh số của em. Bên trái Bình là anh Phú, bên phải là Thủy, ngồi chờ những ghe chở gỗ đi ngang để Thủy đón nhờ họ đưa qua sông. Thời gian trôi qua cũng đã hơn nửa giờ, thấy Phú có vẻ nôn nóng, Bình hỏi: - Thủy, sao cũng khá lâu chưa thấy chiếc ghe nào đến cả vậy, hay là hôm nay nghỉ? - Em cũng chẳng rõ, nhưng em nghĩ giờ này chắc họ cũng sắp đến đây. Thủy quay sang kéo vai Bình nói nhỏ: Anh quên không cho em địa chỉ nhà anh trong Nam rồi? Bình bảo Thủy đưa cuốn sổ tay và ghi vào địa chỉ nhà ở Sài Gòn. Thủy lại nói: - Anh cũng chưa cho em biết ngày xưa anh làm gì trong lính Cộng Hoà. - Anh chỉ là một Sĩ quan chỉ huy một đơn vị nhỏ Thiết giáp thôi, mà Thủy hỏi để làm gì? - Ừ, thì em chỉ muốn biết vậy thôi, để chốc nữa đây,
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 167
anh đi rồi, em chẳng biết gì về anh sao! Nghĩ rằng đến gìờ chia tay, Thủy càng dạn dĩ hơn, kéo Bình ngồi xuống gần bên để được thêm đôi lời: - Em còn mãi bước trên con đường này đến bao giờ chứ! - Cũng phải ráng mà sống, nếu được bình thường, thì chúng tôi giúp đưa Thủy về miền Nam sống dễ dàng, đừng nghĩ quẩn. Con đường của bọn anh, đoạn tới này không chút đơn giản, nhưng không còn đường nào khác! Phú nhìn Bình trừng trừng, chẳng biết Phú có để ý và nghe Thủy nói điều gì không. Thoáng có chiếc ghe đang tới, Thủy đứng lên vẫy tay gọi, trên ghe có một người khá lớn tuổi và một cậu bé cũng khoảng 12. Ghe tấp vào, Thủy nói: Nhờ bác đưa hộ hai anh qua bên kia bờ cho, hai anh là người nhà của bố mẹ, đi Mộc Châu để thăm người anh họ, cháu định cùng đưa hai anh đi, nhưng còn nhiều việc chưa làm xong nên thôi. Ông chèo đò bước lên bờ, ngồi bệt xuống. Thủy kéo tay vừa đẩy Bình tới vừa nói: - Hai anh khi nào về nhớ có quà cho em và bác đấy nhé! Không có thì chẳng được qua lại sông đâu. - Chắc chắn là có rồi, nhưng mà bác và em thích gì mới được.
168 • Nguyễn Văn Dy Vân
Vả lả vài câu, Thủy loanh quanh như vừa rơi mất vật gì và nói: - Anh đến đây, em dặn. Đến đây anh! Thủy níu lấy cánh tay Bình và ngập ngừng nói: - Anh ơi! Sao thấy buồn quá, em như vừa lạc mất đi những gì quý giá nhất của mình! Phú ngồi bên trái nói: - Vài hôm nữa về lại, buồn gì em gái. Bình nhìn Phú, im lặng... và quay sang nhìn Thủy như nói lên sự đồng cảm với em trước giờ sắp chia tay. Chợt tiếng thằng bé: - Mình đi được rồi đấy bố. Ông lão đứng lên và bảo: Thôi mình đi, mời các bác lên thuyền tôi đưa sang. Thủy vội bước tới ghì vào vai, Bình nói khẽ và vuốt nhẹ tóc em để tỏ lòng biết ơn và cũng để chia tay: - Chúng tôi vô cùng biết ơn Thủy bên lời chúc lành của em: - Em cầu xin Chúa ban nhiều ơn lành cho anh. - Cám ơn Thủy, đã quên đi hiện tại đầy nguy hiểm này mà giúp đở bọn anh. Ước mong sẽ có ngày được gặp lại, để đền đáp nghĩa ân này.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 169
Nhìn vệt nước mắt Thủy, mà như lòng muốn chùn lại. Bình vỗ nhẹ lên đôi tay Thủy và bước nhanh theo Phú xuống ghe. Ghe đã ra khỏi bờ, ngược nhìn vào, em lặng đứng như bóng Thiên Thần vẫy vẫy tay ban phép cho thuyền nhẹ lướt qua sông, đưa hai kẻ khốn khổ qua khỏi lằn ranh khổ ải của cuộc đời. Những cái vẫy tay tiễn biệt kia có phải là một giấc mơ. Cho tới giờ này, Bình vẫn như còn trong giấc mơ ấy, dáng vẻ dịu dàng với đôi mắt buồn sâu thẳm, làm sao quên được. Cả một bức tranh chia tay mà Thủy để lại, in đậm vào ký ức như dấu son thắm đỏ của một đọan đời. Đã không chút ngần ngại, mà là sẵn sàng trợ giúp, dù biết rằng Bình và Phú là hai kẻ vượt trại, đang bị truy đuổi, thật đáng để ghi khắc vào lòng. Với dáng mộc mạc, Thủy khác nào em gái mình nơi quê nhà, đứng cạnh bờ nhìn theo mà giàn giụa nước mắt.. Ghe đã vào sát bờ, cả hai cùng bước lên, nhìn về bên kia sông, dáng Thủy vẫn nguyên đó. Binh và Phú cùng lấy trong ba lô ra chiếc khăn và cùng nhau vẫy tay chào ly biệt ngưòi ân của mình, người con gái nghĩa nặng của sông Đà muôn thuở. Hai bên bờ cố gắng níu kéo nhau, nhưng rồi cũng chỉ nhìn nhau được đến cái vẫy tay cuối cùng, để rồi cách biệt ngàn trùng, đôi ngã xa xăm, man mác về nhau cả cuộc đời.

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 09:30 PM
Gửi vào: #14


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



170 • Nguyễn Văn Dy Vân

Lãng mạn một chút thử đặt đoạn thơ của Quang Dũng này vào tâm tư của bước đi này: Ngõ trúc quanh quanh sầu bóng lá Trăng vàng rơi rắc nẻo nào xưa Ngõ cũ không mong người trở lại Mà mùi hoa mộc vẫn thơm đưa. Thơm đưa hay phảng phất, bước đi của người trốn chạy cứ vẫn còn và trôi mãi với không gian... Trên từng bước đi, dư âm cùng dáng vẻ bỏ lại ấy ít nhiều cũng khích lệ và ấm lòng người đi. Dưới những tàng cây phủ hai bên đường giữa Đông rét mướt, hai bóng lầm lũi: Đếm từng bước dài trong im lặng Cho hồn theo đuổi với xa xăm. Ước vọng kia có đến được hay không chưa hẳn là bận tâm chính, mà là đường đi cùng bên những trắc trở sắp tới. Gió lốc mưa sa xoáy vào mặt như cắt da, kẻ trước, người sau vẫn cứ thi gan theo bóng mờ trong bụi nước, đi và đi cố vượt qua khỏi nơi còn lắm gian nguy này. Đường trần là chuỗi chông gai, cuộc đời như suơng với khói. Bước chân ra đi, đời như làn mây mỏng, một cơn gió mạnh đi qua, tránh gì không loãng mất vào hư không. Nhưng kết cuộc có ra sao thì cũng là mệnh số, có đưa về đâu cũng là số mệnh.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 171
Kinh Phật mói rằng “Đời là bể khổ”. Bể khổ Việt Nam ta quá lớn, nó bao la nên dân Việt ngụp lặn mãi nào ra khỏi, đành chịu trầm mình với bể “Trầm Luân” này. Tự cho mình là vị trí quan trọng, dân tộc có 4 nghìn năm văn hiến, nâng giá chi cho cao. Có ai thấy đấy là cái hoạ của đất nước, điểm chết của dân tộc! Bọn đế quốc mượn chỗ làm chiến trường, có khi là nơi thử sức của loại vũ khí cực mạnh, giết người! Thử soi rọi xem dân tộc mình có xứng với tinh thần ấy không để cháu con khỏi nguyền rủa về sau. Suốt bao ngàn năm bị bọn Tàu đô hộ rồi Pháp chưa đáng để xấu hổ lắm sao. oOo Không gian như chìm dần theo bóng đêm! Theo sự hướng dẫn của Thủy cùng tấm bản đồ, hai người tiếp tục đi cũng gần 15 cây số. Tìm được chỗ tương đối kín đáo cùng lạch nước nhỏ lo việc cơm nước, ăn uống cùng nghỉ ngơi và qua đêm. Bóng chiều buông xuống, tiết trời lạnh hẳn hơn. Cảnh hoang vu này cũng rất thích hợp để tịnh dưỡng tinh thần, theo đuổi với ước mơ. Phú quay sang nói: - Coi như tạm no đủ, tao ngủ đấy! À, mà nếu không có con nhỏ đó, chẳng biết giờ này tao với mầy phải làm gì, và không biết có qua sông Đà được chưa, tao chịu thua mầy.
172 • Nguyễn Văn Dy Vân
- Anh Phú, anh có nghĩ rằng Thượng Đế đã cho mình được gặp người con gái ấy không, nếu không gặp cô ấy, thì chẳng biết cách nào khác để qua được sông Đà. - Thì mình đã dự tính kết bè để bơi qua. - Nhưng anh thấy, làm một chiếc bè để qua được không phải dễ dàng, sông Đà nơi đây khá rộng và nước chảy xiết như thế, mà tìm nơi kín đáo để đốn cây kết lại thành bè là một vấn đề. - Tao có khẩn xin Thổ địa nơi đây và mình đi chắc vào ngày tốt, nên mới gặp được cô gái ấy. Bình hỏi Phú: Khi còn bé tí, anh có đọc truyện cổ tích nhiều không, thường thì trong những câu chuyện, khi người ngay gặp lúc nguy khốn thì lập tức, có một ông hoặc bà Tiên nào đó đến, hiện ra thành vai một người nào đó để cứu giúp. Thì chuyện của mình cũng vậy, lúc sắp sửa qua sông đầy nguy hiểm này, thì có Thủy đến giúp cho hai đứa mình qua sông. Anh nghĩ thế nào, Tiên cô chứ gì? Phú thích thú cười: - Tao không nghĩ ra được, có vẻ thần tiên quá. - Dĩ nhiên là vậy, nhưng dáng Thiên Thần ấy, có phải chỉ là giấc chiêm bao? - Mầy có nghĩ... hay là Tiên thật. - Ừ nhỉ...
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 173
Bóng đêm và vắng lặng, Bình càng nghĩ nhiều đến bước đường dài vạn nẻo cùng gian khổ đang chờ phía trước. Cuộc phiêu lưu đầy cam go này biết rồi sẽ rẽ về đâu, chỉ còn dựa vào ơn trên... Phú như nhớ gì đó còn ẩn chứa trong đời, quay sang Bình mắng một hơi: - Bọn trốn chạy để đơn vị anh lâm vào cảnh đơn độc chiến đấu và tan tác cùng một số đơn vị bạn, trong khi Việt cộng quyết mở mặt trận Long Khánh để thu hút các đơn vị ta về đây, bỏ trống những nơi khác cho chúng chuyển quân. Phú tiếp: - Mà thật vậy, mầy thấy không, chúng nó đánh vào Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 25, quân còn đâu để giữ, phải phân tán, hồn ai nấy giữ, rồi tan rã... xong tiếp: - Nó điều sư đoàn 7 đưa cả pháo lòn qua sư đoàn 5 của ta ở căn cứ Lai Khê vào đặt giữa Phú Lợi và Sài Gòn, nã pháo vào khu Tân Sơn Nhất... bao trùm cả Thủ đô Sài Gòn thì lấy gì Sài Gòn sống sót... Đến đây Bình nói rằng: Bàn cờ đã sắp đặt như vậy rồi, dồn mình vào thế phải thua, nếu không có phép lạ hay bàn tay nào của ngoại bang can thiệp vào thì kết cục phải thế thôi. Bình Tiếp: - Mà anh thấy miền Nam mình sao chỉ biết chạy theo địch thì làm sao chủ động được chiến thuật nói chi đến
174 • Nguyễn Văn Dy Vân
chiến lược. Từ trận nhỏ đến trận lớn, như đê vỡ chỗ nào đắp chỗ đó, thì làm gì để thắng chứ! Tôi kể anh nghe năm 1972 trước khi Việt Cộng mở mặt trận An Lộc, nó đưa Sư đoàn Công Trường 1 áp sát quận lỵ Hà Tiên như chực đánh chiếm Hà Tiên. Quân đoàn IV vội vã điều động qua cả Lữ đoàn Thiết giáp cùng một Liên đoàn BĐQ sang để ngăn địch, rồi dính chân luôn nơi đó, không còn quân tiếp ứng cho vùng trên. Có tham dự trong mặt trận đánh trên mới thấy lối điều quân của địch, nó luôn tránh né không muốn chạm mạnh với ta nếu không đụng vào tuyến bố trí của chúng. Như vậy có phải địch chỉ muốn ta luôn phải canh giữ chúng. Rõ ràng địch chỉ muốn kềm chân lực lượng đáng kể này của chúng ta không lên tiếp ứng được cho mặt trận An Lộc... Như vậy anh thấy mình luôn là kẻ bị động, luôn bị địch dắt đi! Phú nói: Các cấp chỉ huy của mình thì chỉ biết độc đoán, đầu óc xơ cứng thì ước tính được gì ý đồ của địch để báo về cấp trên nghiên cứu chiến trường... Gió đêm lùa cây rừng, cành chạm vào nhau rơi lả tả bên đốm than còn đọng sau bếp chiều. Phú bước tới dập tắt và hai người nằm dựa vào thân một cây to sau một ngày đầy cam go, và cùng nhau nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 175
Hoang vắng và hoang vắng, trời cũng ửng sáng, gió Đông từng đợt tràn qua, đong đưa cây rừng, trời thì giá buốt. Phú quay sang Bình nói: - Dậy đi mầy, gió đầy hơi nước chắc là sắp có mưa. Thu xếp mọi thứ chưa xong thì đợt gió lạnh đưa tới phủ đầy những bụi nước nhỏ. Bình nhóm bếp, Phú lột khoai mì. Hai lon guigoz khoai sau đó không lâu cũng đã sôi sục và chín. Cùng nhau ăn, một nửa mang theo cho buổi trưa... và bắt đầu tiếp cho chuyến đi. Vùng sơn cước quanh co đồi dốc, dưới cây rừng trơ cành, từng cơn gió rít đưa qua đầy giá lạnh. Là đường liên tỉnh, hằng ngày cũng chỉ thấy một vài xe tải nhỏ của công trường nào đó thỉnh thoảng đi ngang, nhưng chẳng ai để ý đến hai bóng người lầm lũi bước đi, mong tìm lại chút gì trong đời đã mất. Phú quay sang hỏi: Sông Đà này phải núi Tản sông Đà của Thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đó không? Bình nhìn sang Phú: Anh cứ giả bộ phải không! Tao nhớ không chắc lắm mới hỏi vậy mà. Anh nghe đây: Trời sinh ra bác Tản Đà
176 • Nguyễn Văn Dy Vân
Quê hương thời có cửa nhà thời không Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông Bạn bè sum họp vợ chồng biệt ly Túi thơ đeo khắp ba kỳ Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng....” - Thơ của ông ấy đấy. Mầy còn nhớ bài nào nữa không? Cũng chút ít thôi: Sông Đà núi Tản đúc nên ai Trần thế xưa nay được mấy người Trung hiếu vẹn tròn hai khối ngọc Thanh cao phô trắng một nhành mai Hay: Vùng đất Sơn Tây này một ông Tuổi chưa bao nhiêu văn rất hùng, Sông Đà núi Tản ai hun đúc, Bút thánh câu thần sớm vãi vung... Bởi ông hay quá ông không đỗ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông. Nhất là bài thơ này của thi sĩ Vũ Hoàng Chương nghe như ru gọi hồn ai! … … … Có lẽ ngàn xưa là đáy sông Đêm đêm giọt lệ gái xa chồng Đè theo đôi tiếng tỳ hư ảo
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 177
Dâng tới thuyền ai ngủ bến không … … … … … … Cánh rượu thu dần vạn dặm khơi Nẻo say hư thực bóng muôn đời Ai đem xáo trộn sầu kim cổ? Trăng nước Đà giang mộng Liễu trai. Ngoài ra còn có những bài nói về sông Đà nữa tôi có biết qua nhưng không còn nhớ rõ! Phú nói: Mày kể làm tao càng mơ, mơ về nơi xa xăm nào đó mà mình chưa hề biết, đến đó rồi sẽ ra sao, lại là hư ảo cũng không chừng! Xong Phú tiếp: - Nghĩ tới tao thương cho đôi chân và tay súng của mình quá. “Ma cô”, nhà chứa, lấy tiền xong rồi chuồn đi. Bình hỏi lại: Anh muốn nói tới người Mỹ phải không? Phú bước đều trong im lặng như muốn ra khỏi sự đè nặng trong lòng những lẽ gì đó, mắt Phú trở buồn, như đang ôm sâu “mối sầu vạn cổ.” Đường dài, đêm thâu, giá rét. Trước đầy cạm bẫy, sau là nhà tù, nhưng chỉ có con đường duy nhất là hướng tới, tự do và sự chết! Những nỗi đau của người dân miền Bắc dưới chế
178 • Nguyễn Văn Dy Vân
độ cộng sản đã được miêu tả thấm thía qua dòng thơ của Nguyễn Chí Thiện: Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường Đảng đến là tan nát cả. Những câu ca dao: Một năm hai mét vải sô Nếu đem may áo bác hồ ló ra May quần thì hở “lá đa” Chị em phụ nữ đâm ra loã lồ Trong nhà có ảnh bác Hồ Bác mà nhìn thấy tô hô Bác cười. Và: Dưới cái mỹ từ “nhân dân anh hùng” người dân miền Bắc đã sống trong một giai đoạn dài của lịch sử trong cực kỳ nghèo đói: Tôn Đản là chợ vua quan. Vỉa hè là chợ toàn dân anh hùng. Dân miền Bắc chịu khổ nạn, súng đạn lưỡi lê và nhà tù cộng sản trong cả một chuỗi dài đói khổ, lầm than cùng máu và nước mắt dưới tay bọn đầu bò, cán ngố Bắc việt như thế cũng vì quan thày Trung cộng muốn chọn làm nơi thí nghiệm cho chủ trương đấu tranh giai cấp và cũng là để thử nghiệm mô hình xã hội chủ nghĩa đầu tiên mà Hồ Chí Minh mang về trồng trên đầu dân tộc. Đây cũng là giai đoạn kinh hoàng nhất mà họ phải chịu trong chiếc gông cộng sản tại Việt Nam. Tội ác này dù họ
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 179
có viết lại lịch sử đi nữa cũng không thể nào lấp liếm được những sự tàn ác với chính dân tộc của chúng. Vụ đấu tố cải cách ruộng đất càng kinh hoàng hơn xảy ra tại miền Bắc từ năm 1953-1956, giết đi hằng trăm ngàn người, rồi Tết Mậu Thân với cái lệnh đập đầu chôn sống hơn sáu ngàn người tại Huế. Ngày tháng dù qua đã lâu nhưng khó quên được từ đầu mùa Đông năm 1976 đến ngày vượt bỏ trại ra đi số người bị chết tại trại 3 cấp Trung Tá và trại 5 cấp Thiếu tá là con số đáng để ghi lại cho người sau cùng biết... Khu vực trại giam tại Nông trường Trần Phú có 5 trại giam, mà trại 3 giam cấp Trung Tá, đa số là lớn tuổi nhất. Núi rừng Bắc Việt vùng Hoàng Liên Sơn khí hậu rất ẩm ướt và lạnh giá, hơn nữa trại giam của Việt Cộng nằm giữa rừng sâu được dựng lên toàn bằng tre nứa, gió núi lạnh thấu xương người lớn tuổi, thiếu ăn, chẳng thuốc men, không chịu nổi... Cứ đôi ngày có người chết, bó chiếu đặt vào 4 tấm gỗ cây rừng, đong đưa với vài ba chiến hữu mang ra rừng đào lỗ dập xuống. Thảm thương cho kiếp người mất nước thua trận phải trong cảnh vùi thây, chua xót như thế. Sống chiến đấu cho đất nước dân tộc, chết chịu làm phân bón cho cây rừng, chẳng được một cây nhang nói chi đến lời tri ân... Đứng trườc cảnh đó ai mà không mủi lòng nghĩ đến
180 • Nguyễn Văn Dy Vân
thân phận mình trong vòng định mệnh mà người tù khổ sai, biệt xứ phải biết và biết nhiều hơn nữa... Chiều nay trời lạnh hẳn, Bình và Phú bước đi có phần vất vả hơn, đường đèo dốc, đêm lạnh và tối như mực cả hai cứ lầm lũi trong đêm, đi vào thâm sâu, u uất, tìm lại nẻo sống lối về để may ra thấy được mảnh đất tốt đẹp, tử tế hơn... Trời cũng ửng sáng trên cây rừng, Bình rẽ vào khoảng rừng rậm bên phải và nói vớí Phú là mình lên đó, sâu bên trong tìm nơi dừng lại nghỉ, cũng đã khá mệt rồi... Được một nơi khá kín đáo, ăn qua loa một ít khoai mì, thức ăn chuẩn bị của ngày hôm trước, xong ngả mình được một giấc tới gần trưa... Thức ăn cũng còn được vài ngày, vùng này thì chưa lo lắm về thức ăn vì hai bên đường vẫn còn đầy các rẫy khoai mì mình có thể chờ khuất mặt trời, đến nơi đó mượn thêm một ít làm thức ăn cho năm, ba ngày tới. Bình nhìn vào tấm bản đồ mang theo thấy rằng chỉ còn khoảng hơn 50 cây số nữa là đến bờ sông Mã, nhưng chắc chắn là khu này khó khăn lắm mới đến được vì là vùng biên giới Việt Lào, dày đặc bọn công an và bộ đội Bắc Việt lẫn Lào cộng... Bình lấy tấm bản đồ và vài trang giấy trắng cùng cây viết ra làm một bản decal theo như trên bản đồ trọn vùng từ Mộc Châu đến bên kia bờ sông Mã và vùng Sầm Nứa tới Luang Brabang, xếp gọn cất vào túi quần để đi. Tấm bản
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 181
đồ chính giao lại cho Phú cất giữ, và cùng bàn bạc nhau phương cách đi đứng cho những ngày tới... Trời vừa chập tối, Phú và Bình thoát đi về hướng rẫy khoai mì và lấy về mỗi người một nửa ba lô cùng một ít củ xu hào và xà lách... cả hai cùng mắc võng nghỉ ngơi. Hôm nay trời khá lạnh, muốn dậy đốt chút lửa để sưởi nhưng sợ rằng ánh lửa dội xa sẽ bị phát hiện, đành phải cùng nhau co ro và không tài nào ngủ được. Cũng đã 3 giờ sáng. Phú bảo: - Thôi mình chuẩn bị đi tiếp. Bình nói: - Anh Phú hôm nay tôi thấy trong người không được khoẻ và trời giá lạnh quá, hay là mình dừng lại nghỉ thêm một ngày lấy sức. Phú nói: - Tao nghĩ là mình cố gắng đi nhanh để qua bên kia sông Mã cái đã rồi muốn nghỉ bao lâu cũng được. - Tôi cảm thấy như có gì đó không ổn nên muốn nghỉ thêm ngày nữa... - Mầy chiều ý tao đi, trời hôm nay khô không có mưa, đường đi tốt mà. Thấy ý nghĩ của Phú thật sự cũng là những dự tính trước đây nên im lặng và chuẩn bị tiếp tục. Bình lấy tấm bản đồ ra và lần nữa nói với Phú là xem kỹ đường đi và địa danh để sẵn trong đầu cho bảo đảm...
182 • Nguyễn Văn Dy Vân
Và dặn Phú là đi sau giữ khoảng đủ để nhìn thấy nhau tùy đường xá trống trải hay quanh co, và đừng nói chuyện vì vùng này nhiều công an chìm nổi lẫn quất như Thủy đã chỉ ra và căn dặn trong khi còn tại bờ sông Đà... Trời mờ sáng, Bình theo sau nhóm người không biết là họ đi hợp chợ hay đi vào nông trường nuôi bò, nhưng có một ông cụ đi bước chậm lại và rít điếu thuốc Lào. Bình đi lên và ngang vớí ông nhưng bên kia đường theo vết của xe tải, im lặng đi song song tựa hồ như cùng đoàn với nhóm người này một đoạn khá dài. Nhưng khi đến ngã ba bên trái đi Hoà Bình, bên phải là về hướng thị trấn Mộc Châu có một tiệm nhỏ sửa xe đạp, sáng sớm mà có ba người ngồi tại đó. Bình theo đoàn người vượt qua khoảng 100m êm xuôi, nhưng khi Phú đến ngã ba chợt gọi lớn “Bình ơi dường như sai đường rồi”. Bình giật người lên biết là có thể lộ diện vì có 3 người trong tiệm sửa xe, Bình vội quay trở lại hướng đi Hoà Bình, nhìn thấy một khoảng xa phía trước có một khu rừng may ra có thể lẫn vào, nhưng không còn đủ thời gian, hai tên mặc thường phục mang hai khẩu AK-47 chạy xe đạp chậm phía sau một khoảng ngắn, chúng theo một đoạn chừng, 200m, thì một tên đạp nhanh lên chặn lại và chỉa AK đòi xem chứng minh nhân dân. Thế là cả hai bị bắt vì không có mảnh giấy nào, đành chịu bị chúng bắt ngay trên quốc lộ Hoà Bình-Lai Châu đúng ngay nông trường bò sữa Mộc Châu. Mộc Châu, một thị trấn nhỏ, nằm trên quốc lộ dẫn từ
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 183
Lai Châu xuống Hoà Bình ngang qua, thuộc một vùng xa trên vùng rừng núi tiếp giáp với Lào. Từ Mộc Châu đi đến sông Mã khoảng hơn 30 cây số, bên kia là Sầm Nứa, nơi mà Bình và Phú định từ đây để sang đất Lào. Mọi dự tính coi như thất bại vì một sơ xuất tai hại của Phú, bất cẩn lên tiếng với giọng miền Nam. Chúng trói ngoặt hai tay ra sau và dẫn bộ về công an Mộc Châu một khoảng đường cũng 5 cây số... Hôm ấy cũng là ngày kỷ niệm Phụ nữ, ngày 8 tháng 3 của Việt cộng ngoài Bắc, dọc đường với đầy biểu ngữ, bích chương và tập trung dân chúng biểu tình, hô vang thành tích phụ nữ trong sự nghiệp giành độc lập cho chúng thống trị... Trụ sở công an này nằm ngay trên đường đi sông Mã cũng là nơi giam giữ Phú và Bình. Cũng vào gần 9 giờ sáng hôm sau, chúng áp giải Phú và Bình đi bộ đến trại công an khác và lên chiếc Jeep lùn mà chúng lấy của quân đội miền Nam, trói hai khuỷu cánh tay ra sau bằng dây nylon dù và đẩy Phú ngồi bên phải Bình trên băng ghế sau của chiếc Jeep Lùn. Ngồi trong xe đợi chúng làm giấy tờ giải giao, một tên công an cùng ngồi phía trước canh giữ, xong cũng đã ngoài 10 giờ trưa. Trên xe ngoài Phú và Bình còn có một tên Công an của Huyện, một tên bộ đội mang cấp bậc Thiếu uý lái xe, tên khác cấp Trung uý ngồi ghế trưởng xa. Xe đi về hướng Tỉnh lỵ Sơn La và Lai Châu, đường trải nhựa tương đối không tệ
184 • Nguyễn Văn Dy Vân
lắm, nhưng hẹp và nhiều đèo dốc quanh co. Đi được khoảng hơn hai giờ, cũng khá trưa, xe ghé qua nhà dường như là bạn của tên công an nghỉ và ăn trưa. Sau đó tiếp tục hướng đến thị xã Sơn La. Đi cũng hơn hai tiếng nữa, đường khá nhiều đèo dốc vắng vẻ, chẳng bóng xe và người qua lại, cũng gần xế chiều. Xe đang lên một khúc quanh vào con đèo, bên trái sâu thẳm, nhiều cây to phía dưới, bên phải là vách núi đá. Nhìn thấy sườn dốc sâu hút bên trái, mong đợi bỗng dưng sáng lên, biết đâu là cơ may cho cuộc đời, là lối thoát cuối cùng cho bước dài vượt trại này. Đây là một quyết định liều lĩnh, Bình biết rõ từng kẽ tóc, cầm chắc trên 95 % là rơi xuống đèo và rơi tự do, mỗi người có một cái sống và chết khác nhau, nếu như xe lao xuống vực bên trái. Tìm cái sống trong cái chết còn hơn, khi ý tưởng mình đã đạt tới cực điểm dứt khoát, giữa sự sống và cái chết gần như nhau, không còn chút hãi sợ gì nữa... Đường xa mọi người mỏi mệt là dịp tốt nhất để ra tay, Bình rút tay ra khỏi dây trói, dùng lưỡi thép mỏng đã mài bén để trong bâu áo cắt dây cho Phú xong lấy dao đi rừng, gọi là tang vật mang theo nằm trong ba lô để dưới chân, ý định gây thương tích tên công an, đoạt lấy khẩu súng đeo bên hông hắn để uy hiếp lấy vũ khí của hai tên bộ đội kia rồi dùng xe thoát thân sang đất Lào. Nhưng cũng là sự xếp đặt của Thượng đế, mà lưỡi dao kia đã chạm phải kèo mui ngang của chiếc Jeep lùn, kêu lên
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 185
một tiếng “keng” làm tên công an quay ngược lại dùng tay chống đỡ, Bình chỉ kịp đánh bồi thêm mấy lần, trúng chiếc nón cối xoay trượt ngang chỉ sây sát nơi trán, tên tài xế hốt hoảng buông tay lái, xe tấp vào vách đèo và lật úp đè cả 5 người. Hai tên bộ đội và công an phía ngoài chui ra được rút súng bắn chỉ thiên, Bình và Phú còn bị kẹt trong xe... Chúng loay quay kéo Bình ra và sau đó có một xe khách đi Lai Châu cũng vừa tới dừng lại, trên xe có hai tên bộ đội mang cấp bậc Thượng Uý bước xuống phụ lật lại chiếc Jeep. Hai tên bộ đội áp giải tới tấp đấm đá vào người Bình, và bị hai tên Thượng Uý lớn tiếng ngăn lại... nào là Đảng ta nhân đạo, là khoan hồng... rập khuôn như cái máy gắn sẵn trong đầu... Tên Thiếu Úy tài xế đưa K-54 vào đầu Bình dọa bắn: Mầy cứ bắn. Bình đáp lại. Nhưng hắn không dám dấy máu và bị tên Thượng úy một lần nữa hét lớn: “Bao nhìêu người trên xe khách đang nhìn, đồng chí có thấy không”. Dân chúng trên xe la ó và xôn xao làm mấy tên áp giải phải dừng tay... Qụy lụy dù lén lút cũng tự thân mình thấy nhục. Phú ngồi đối diện thấy chúng đấm đá Bình, đã phải khóc. Phú sau này kể lại: - Khi thấy nó chỉa K-54 vào đầu mầy, tao ớn quá và
186 • Nguyễn Văn Dy Vân
bái phục mầy. - Anh Phú, đời người chỉ một lần chết. Bình nói.. - Ừ thì hiểu là vậy nhưng tao nghĩ, như thế chỉ thiệt thân. Ý niệm ráng giữ mạng sống để về với gia đình và người thân, bản thân ngưòi tù nào cũng nghĩ thế, nhưng Bình không nghĩ cặn kẽ như vậy. Giờ này vẫn nghĩ rằng chết đi khi ấy nó nhẹ nhàng hơn, để khỏi phải bị căng thẳng khi chúng đem ra xử tử hình bằng những loạt đạn xé tim... như vậy chưa hẳn sống thêm là giải quyết tốt được cho gia đình. Phú rất thương Bình cũng như ngược lại, trên cùng bước đường chỉ có tình thương dành cho nhau! Tình chiến hữu mà, nước mắt cho bạn thường được nêu cao. Sau đó chúng giải giao ngay Bình và Phú đến trại giam gần thị xã Sơn La. Đến đây, coi như hành trình này đã hoàn toàn đổ vỡ, cảnh ngộ của kẻ tử tù xảy đến sẽ không xa. Bình chuẩn bị cho mình một sự sẵn sàng để đón nhận mọi bản án dành cho. Sự vùng vẫy và mọi cố gắng cũng không ra ngoài định mệnh đã an bài. Miền Nam tươi đẹp một thời coi như đã chấm hết. Sài Gòn cũng chết theo trong tủi nhục, cho đám lừng khừng, bọn trí thức xuẩn ngốc phản bội bám theo chúng được sáng
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 187
mắt ra? Tuần sau, một xe của trại giam đến mang Bình và Phú về lại trại giam cũ. Mấy ngày sau chuyển qua khu kỷ luật biệt giam. Phú, nguyên tốt nghiệp khoá 19 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, anh mang cấp bậc Thiếu Tá, Tiểu đoàn trưởng của Sư đoàn 18 BB là người rất gan dạ và là người bạn thật lý tưởng trên đường vượt trại. Thủy, một cô gái chỉ gặp và trao đổi ý tưởng vỏn vẹn trên dưới hai tiếng đồng hồ. Sự đồng cảm có lẽ là yếu tố chính để Thủy sẵn lòng giúp đỡ Bình, mặc dù sống trong hai miền Nam-Bắc mang hai cuộc sống khác biệt nhau. Thủy kể rằng có nghe qua bố mẹ nói đến người lính Cộng Hoà sau năm 1954 đã vô miền Nam, cũng như đôi lần em đã gặp những người lính ấy trong cảnh tù đày, lao động trong khu vực huyện Phù Yên nên cũng đã ghi vào lòng. Thật là một điều quý quá và cao đẹp để cho Bình trân trọng mãi trong tâm hồn hình bóng em,. Sự gặp gỡ và trợ giúp này cũng là một liều thuốc mà em đã mang lại cho chúng tôi mạnh thêm ý chí và vững đôi chân trên đường hướng đến tự do. Thượng Đế đã cho chúng tôi một đoạn đường thật là tuyệt diệu, để được gặp Thủy và qua sông Đà. Bóng Thiên Thần ấy đã để lại trong lòng chúng tôi một hình ảnh cao đẹp, biểu tượng của sự can đảm mà đời này dễ gì gặp được nữa. Và đoạn đường đầy ân
188 • Nguyễn Văn Dy Vân
nghĩa này khó phai được trong mỗi chúng tôi... Bao chục năm qua, chưa lần gặp lại, nhưng với tấm lòng quả cảm và nhân ái của Thủy vẫn còn mãi trong chúng tôi, em vẫn là bông hoa đẹp nhất trong ký ức sau cảnh bể dâu đầy mất mát này... Chuyến đi gãy đổ, tâm tư u uất... bóng nhỏ sông Đà vẫn mãi còn đây, là một hình ảnh sâu đậm đáng để chúng tôi khắc ghi và nhắc nhở. Đà giang nằm trên lãnh thổ mà cộng sản Hà Nội chiếm cứ được sau Hiệp Định Genève năm 1954, là mảnh đất cuả Tổ tiên, và cũng lại là nơi mà chúng tôi gặp được một người con gái lòng đầy nhân nghĩa. Xin tạ ơn những thần linh nơi đây đã trợ giúp chúng tôi qua sông và sống sót được qua chuỗi dài nhà tù khắc nghiệt cộng sản sau năm 1975 để trở về cùng gia đình. Tổ tiên ta sinh cơ lập nghiệp cũng tại miền Bắc đã để lại cho dân tộc biết bao di sản đạo đức quý giá. Nhưng miền Bắc bây giờ sản sinh ra chỉ loài khuyển mã hại dân, bán nước, gian manh, phá nát đi cả một dân tộc có nền văn vật nghìn năm của ông cha gây dựng. Ngày nay nói tới người Hà Nội chẳng là để dè bỉu. Nét tinh hoa, văn vẻ nghìn năm của Hà Nôi trước đây được truyền tụng bao năm, đã bị đánh đổi bởi văn hoá “Cái Hĩm... Thằng Buồi” của chủ nghĩa cộng sản!
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 189
Còn đâu “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Một quá khứ không kém bi hùng trên đọan đường dài trong ký ức. Dù kết cục bất thành, bị đưa vào nhà tù Sơn Tây biệt giam, chờ ngày xét xử... khoảng đời mà không dễ gì quên. Bình gật đầu và tỏ ra vẫn đắc ý với cái quá khứ đáng nhớ ấy của mình...

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 09:41 PM
Gửi vào: #15


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





BÓNG TỐI ĐI QUA


... Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ ... ... ... ... ... ... Chén đã vơi mà ngập gió sương Men càng ngây ngất ý Tầm Dương Gót sen kỹ nữ đâu bên gối Tìm ái ân xưa, dễ lạc đường! (Vũ Hoàng Chương) Tựa dài trên chiếc sofa, Bình như bềnh bồng với những vần thơ hư ảo của vũ Hoàng Chương cùng chuỗi dài buồn hận của đoạn đời tù đày trong bóng tối cộng sản thì tiếng chuông cửa gọi giật đã cắt ngang dòng ký ức đang tuôn về. Bình choàng dậy khỏi chiếc sofa bước ra mở cửa đón người vợ yêu quý của mình vào.
192 • Nguyễn Văn Dy Vân
Huỳnh Hoa tay xách chiếc xách tay, tay kia là một gói quà sinh nhật thứ 66 của Bình. Bình vội bước tới đỡ lấy gói quà được gói cột cẩn thận, rất khéo từ cửa hàng và đặt trên bàn... - Anh ra xe mang hộ em số thực phẩm vừa mua vào nhà dùm. Huỳnh Hoa nói. Theo yêu cầu của vợ, mọi thứ được Bình mang vào chiếc bàn bên trong và nói: - Hôm nay em mua thức ăn sao lắm thế! - Sinh nhật anh mà, mình nấu thêm chút ít để anh vui cùng số bạn bè đến chơi. Bình bước tới vuốt tóc và đặt tay lên vai người vợ yêu của mình: - Ừ, cám ơn em đã chuẩn bị cho anh ngày sinh nhật chu đáo như thế này để vui cùng các bạn. Huỳnh Hoa nắm tay Bình và nhìn lên mái tóc đã ngã màu của chồng nói rằng: - Trước đây em không nghĩ rằng mình có ngày hôm nay mà lại là trên đất nước Hoa Kỳ, không biết có phải là em đang trong mơ... Đó là năm thứ 16 trên đất Mỹ sau ngày rời bỏ quê cha đến đây định cư vì lý do chính trị sau cuộc chiến tại miền Nam kết thúc, khi bị khối cộng đánh chiếm vào năm 1975. Cả gần 30 triệu người miền Nam rơi vào tay cộng sản,
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 193
đã phải sống trong khổ nạn trả thù của bọn Lê Duẩn, Đỗ Mười nham hiểm với tâm địa quá ư độc ác, coi chính đồng bào chúng nó như cỏ rác không bằng. Tù đày giết chóc tràn lan từ Bắc chí Nam sau khi chiếm lấy được miền Nam. Cả nước đói khổ hoảng loạn phải trốn chạy, rời bỏ quê cha đất Tổ đi tìm vận may bất cứ nơi nào trên thế giới. Họ chạy ra biển, biên giới bằng mọi phương cách có thể. Đúng là một khổ nạn cộng sản chồng lên đầu người dân miền Nam với đủ mọi loại cách chết, khi dồn cả khí giới khối cộng tràn vào đánh chiếm Sài Gòn, xong bọn Bắc này tiến hành ngay việc trả thù. Từng nơi, từng vùng chúng trả thù mỗi cách khác nhau, thây người tràn lan khắp ruộng đồng, sông rạch và ngay trước cửa nhà. Có khi mất đầu, phơi bụng cũng như không còn đủ chân tay... Đó là những ngày tháng đầu mới chiếm được miền Nam, sau đó thì khủng bố bằng cách, ngăn sông cấm chợ để cho thị dân trong các thành phố thiếu đi thực phẩm, thuốc men chữa bệnh, đói khổ phải rời bỏ tất cả gia sản vượt biển trốn chạy cho chúng chiếm lấy cửa nhà...... Số khác thì chúng gom hết vào nhà tù để đày cho thân tàn ma dại, hoặc chết rũ và bỏ xác trong các nhà tù... Bình thì ngót hơn mười năm trong các nhà tù khắc nghiệt nhất của cộng sản tại miền Bắc. Ngoài nhà tù Sơn Tây, Sơn La, Phú Sơn Thái Nguyên và Nam Hà... sau cùng là nhà tù Gia Trung Pleiku.
194 • Nguyễn Văn Dy Vân
Không thể nào phai được trong trí nhớ, sau khi được thả ra khỏi nhà tù Gia Trung, tay dìu người bạn từ cửa trại ra tới đầu đường. Chương đã bị ngã mấy lần, mặt anh nhăn nhó, tay ghì chặt vai Bình với từng bước đi xiêu vẹo, anh như đã kiệt sức. Khi đó Bình nghĩ nhiều đến cảnh huống người bạn, khi chia tay nhau rồi Chương sẽ ra sao, và cả đến chính mình nữa dù sức khỏe không tệ lắm nhưng rồi cái gì sẽ đến! Sau một ngày đêm đoàn xe lửa cũng về tới được Bình Triệu Sài Gòn. Rời nhà ga vào lúc nửa đêm nhưng không một phương tiện nào khác ngoài hai chân, lội bộ ra đến dốc cầu Bình Triệu mới có được chiếc xích lô. Ôm nhau, chia tay mấy bạn, Bình bước lên để về nhà, coi như trạm cuối của hành trình tù tội sau cảnh bể dâu ập lên miền Nam. Chiếc xích lô kót-két lăn bánh chở Bình trong đêm hôm ấy như hãy còn đây. Một thành phố không hồn, không sinh khí sau hơn 10 năm tàn lụi dưới sự cướp lấy tàn bạo của bọn Bắc tràn vào chiếm đóng. Như người say ngủ, mơ màng giật mình choàng tỉnh với một thực tế ngỡ ngàng! Thì ra... “Sông kia rày đã nên đồng!!”... Mọi thứ đã đổi thay! Liền ngay sau đó chưa được mấy ngày, vào lúc sáng sớm ngày 8 tháng 1 năm 1985 thì ồn ào tin tức về Tòa án nhân dân Sài Gòn đã xử tử hình anh Trần Văn Bá cùng hai ngưòi bạn….và anh bị chúng đem đi xử bắn ngay sau đó cùng 2 người bạn chiến đấu là anh Hồ Thái Bạch và Lê
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 195
Quốc Quân. Lại thêm một đám mây u ám trên bầu trời miền Nam, một tin không vui chút nào cho dân Sài Gòn. Nhìn trên mặt báo thì rõ ràng hình ảnh và tên tuổi của anh. Nhìn quanh thì như đâu đâu cũng là hận với thù, nhà tù và chết chóc... Về đây rồi ra sao nữa, Bình chưa thể nào hình dung ra được cho những ngày sắp tới. Phải làm gì để được yên ổn giúp gia đình nuôi dạy hai đứa con nhỏ dại đang sống nhờ bên người em, vì người vợ đã vượt biên mất tích trên vùng biển Rạch Giá từ năm 1978. Đang ngồi bàn tính cùng người em phương cách để ổn định cuộc sống thì Huỳnh Hoa bất ngờ xuất hiện làm Bình không khỏi bất ngờ và ngỡ ngàng. Dù bất chợt, nhưng Bình cũng nhận và nhớ ra ngay dáng vẻ cô gái trầm lặng của ngày nào, và không khỏi thắc mắc về sự hiện diện không được báo trước này của Huỳnh Hoa. Ngay lúc đó cô em Út của Binh vội bước ra nói rằng bộ anh Hai giật mình hả, hôm qua em báo cho chị ấy biết anh vừa được về đấy? Những năm 1970 và 1971 đôi lần về Sai Gòn, mấy lần cô em này cùng mấy người bạn học có nhờ Bình đưa đến đài phát thanh quân đội thăm bạn và những dịp này có gặp Huỳnh Hoa cùng đôi lần trò chuyện, trao đổi chút riêng tư, rồi muôn phương đây đó trên chiến trường, biền biệt với thời gian. Khi ấy Huỳnh Hoa đang phụ trách mục nhạc yêu cầu trong chương trình “Quỳnh Giao” cùng mục “đọc
196 • Nguyễn Văn Dy Vân
chuyện đêm khuya” mà thỉnh thoảng Bình chỉ nghe qua giọng nói trên chiếc radio cạnh đầu giường. Những năm giữa năm 1970 và sau đó, cô em này của Bình đang theo học luật khoa, những khi đi cùng các bạn đến đài phát thanh chơi và càng được biết nhau nhiều hơn. Có lần cô em hỏi Bình: - Anh Hai thích chị ấy không, chị ấy hiền thục và đáng mến lắm, chị ấy cùng tuổi với em, hợp tuổi với anh đó. Bình nói với cô em rằng, anh đang định kết hôn với một người khác rồi, nên chưa tính được điều gì! Rồi cuộc đời như đã được định sẵn không khác hơn được, Bình đã kết hôn vào cuối năm đó. Và chuyện về Huỳnh Hoa thoáng đến và qua đi, trong mấy lần gặp sau đó cô em cũng có nhắc tới nhưng Bình chỉ cười cho qua, thế mà cũng đã qua hơn mười mấy năm, rồi lại gặp... Nhìn anh Hai mình như đoán ra điều gì đó, cô em tiếp: Sau này tụi em gặp lại, chị đang bán buôn gần chợ An Đông. Hôm qua dịp ra chợ mua ít vật dụng linh tinh, em có ghé thăm và cho chị hay tin anh vừa được Việt cộng cho về... Bữa cơm trưa hôm ấy có thêm một khách quý là Huỳnh Hoa. Cô em và Huỳnh Hoa huyên thuyên trò chuyện, Bình chỉ thỉnh thoảng góp vào vài ý vì có biết gì dâu trong cái xã hội lạ đời này. Tuy nhiên câu chuyện dần hướng về phía Bình.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 197
Đây cũng là dịp cho Bình bắt đầu có chút ý niệm và niềm vui để chuyển dần theo môi trường sống. Ngày xưa đó cũng đã qua, và bóng nhỏ kia có phải là bóng mát của trưa hè hay chiếc cánh Thiên Thần trên góc trời đổ nát này. Huỳnh Hoa đang trước mặt, nay đã là một thiếu phụ, nét hiền thục dịu dàng ngày xưa vẫn còn đó, nhưng không tránh được dấu thời gian trên khuôn mặt với làn tóc rũ sầu lắng cùng nỗi ưu tư. Những ngày sau đó, Huỳnh Hoa thường lui tới chơi vớí cô em sau giờ buôn bán và dần dần thân thiết hơn với gia đình. Không lâu sau Bình gia nhập giới buôn bán thuốc tây đường phố từ Tân Định, Nguyễn Du đến An Đông, lui tới trao đổi nhau từng mặt hàng kiếm sống... Trong một tình bạn trong sáng, Bình cũng như Huỳnh Hoa chỉ biết giúp nhau lo cho cuộc sống riêng của từng gia đình hơn là những gì khác giữa một xã hội cộng sản vô luật lệ, chen chút nhau ngoi lên như cây rừng để sống, mà Huỳnh Hoa là một phụ nữ yếu đuối giữa đám hỗn độn ấy rất cần sự giúp đỡ của mọi người. Bình nhìn Huỳnh Hoa như cô em của mình, qua lại gặp nhau hằng ngày trong việc buôn bán làm ăn. Cô em của Bình cũng có kể qua về gia đình của Huỳnh Hoa rằng có nghe chị ấy nói là ngày cuối trước khi Sài Gòn mất, cả gia đình chị ấy được chồng đưa đến và sẵn sàng xuống tàu tại New Port, nhưng không hiểu sao ông chồng đổi ý, mà cả gia đình phải về lại nhà...
198 • Nguyễn Văn Dy Vân
Và từ đó cả gia đình và chị ấy kẹt lại sống với cộng sản và cũng từ đó sinh ra oán hận người chồng quá sai lầm, để mất đi cơ hội tốt cho vợ và hai con ra đi, để phải chịu sống trong khổ ải, cơ cực, buồn đau này với cộng sản và phải gồng gánh nuôi ông chồng trong nhà tù. - Vận nước như vậy rồi, sao lại trách chi cho thêm đau lòng thân tù tội chứ. Có lần gặp Huỳnh Hoa đến nhà chơi với em mình, riêng tư Bình nói như thế! Giữa buổi ăn trưa cùng gia đình, cô em của Bình nhạy bén hơn nói: - Anh Hai ăn cơm và cho qua chuyện đó đi. Huỳnh Hoa mím môi như thấm được ý của Bình, nhất thời cho câu chuyện ngang qua. Nhưng mấy hôm sau, một buổi trưa rỗi rảnh, Huỳnh Hoa trách Bình vội vã có kết luận và sao dễ dàng quá. Bình nói rằng: Huỳnh Hoa này, dường như em có phần cố chấp đấy! Hạnh phúc đòi hỏi nhiều phần sự thông hiểu lẫn nhau hơn mới qua được mọi đổ vỡ. Chính những lần trao đổi như thế cũng góp phần xoa dịu đi ít nhiều sự buồn phiền quá khứ của Huỳnh Hoa. Sáng sớm ngày 14 tháng 9 năm 1985, một lần nữa người dân lại là tiêu điểm của bọn Bắc. Họ cố tình giết hết người dân miền Nam, chúng phải làm cho miền Nam này phải bò xuống ăn xin, nhất nhất phải bần cùng. Sau lần đổi
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 199
tiền và đánh tư sản, dân miền Nam nay lại bị mất trắng thêm lần nữa, bao nhiêu năm dành dụm được, nay lại bị bọn chó lật lưng cưỡng đoạt, thế là lại trắng tay. Lần đổi tiền này đúng là bọn Bắc định đưa người dân miền Nam sâu vào biển chết được gọi là: “Cải cách giá-lương-tiền”: Thu đổi tiền: 10đ tiền cũ = 1đ tiền mới Đó cũng là một nhát dao trí mạng mà bọn chúng mưu thâu tóm thêm của cải trong dân chúng mong lấp vào lỗ hổng của cuộc chiến ngu xuẩn tại Kampuchea, mà Chúa và Phật có xuống ngăn lại cũng chịu thua cái lá bùa Cộng Sản đóng trên trán bọn chúng mà quan thày vẽ nên... Tháng 7 mưa Ngâu, Ngưu Lang và Chức Nữ mỗi mùa gặp nhau chưa tròn câu chuyện yêu thương thì, đáy sầu chan chứa, giọt mưa Ngâu gửi xuống trần, hoá ra là giọt lệ, đẫm ướt trời Nam, đẩy dần đàn con ra biển. Với chủ tâm đánh gục quyền tư hữu tại miền Nam, tên thiến heo cũng được gọi là hoạn lợn Đỗ Mười được giao lãnh nhiệm vụ lột cho sạch của cải người dân miền Nam để ôm về Bắc mà bao năm chúng hằng mong đợi. Cuộc đời không bao giờ cho được yên và dừng lại, cứ đẩy đưa. oOo Sự thân thiết làm ăn và trợ giúp nhau hằng ngày giữa
200 • Nguyễn Văn Dy Vân
Huỳnh Hoa và Bình được ghi vào cặp mắt của người bạn tốt cùng lớp với chồng. Tới kỳ gồng gánh đi thăm chồng, Huỳnh Hoa bị người chồng ghen. “Cũng vì nhiều lần gạ gẫm, mời mọc em đi Lái Thiêu chơi mà bị từ chối... Hơn nữa trước đây, anh ta thường đến mời chị bạn buôn bán chung đi ăn trưa... đến nỗi phải đi phá thai, giờ lại mon men đến quấy rầy thêm em nữa, em sợ lắm”. Huỳnh Hoa kể. Huỳnh Hoa cho rằng không gì xấu hổ và buồn hơn khi lần thứ hai bị chồng át giọng coi tình vợ chồng quá thấp. Sau lần nhục nhã này cùng trước đây đã không cho lên tàu ra đi tại New Port hồi tháng 4 năm 1975, đã đưa đến việc nẩy sinh ra quyết định chấm dứt thăm viếng anh ấy từ đây. Cuộc đời đúng là không đơn giản, nhất là khi xã hội hỗn độn và xáo trộn mà Việt cộng cố tình tạo ra như thế, nó phát sinh nên lớp người và lối sống không còn nghĩ gì hơn là chỉ biết cho riêng mình. Sài Gòn năm xưa của một thời vang bóng, với giai nhân và ánh đèn, nay chỉ còn là hình ảnh của khát uống, đói ăn! Tháng 12 năm 1987, Tòa án Nhân dân tối cao của Việt cộng tại Sài Gòn đã mở phiên tòa xét xử “Vụ Đề Đốc Hoàng Cơ Minh”. Trên các mặt báo tại Sài Gòn đều đăng tin ông Hoàng
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 201
Cơ Minh đã bị quân Việt cộng ngoại biên chặn đánh và giết chết trên đất Lào khi toán quân của ông trên đường xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam, với hình ảnh ông nằm chết bên buị rậm cạnh bên bờ suối. Một hình ảnh đã gây không ít xúc động trong lòng của người dân Sài Gòn. Ông Hoàng Cơ Minh chết cũng là một mất mát lớn của người miền Nam. Lại một lần nữa, sự nuối tiếc thoảng lên trong từng hơi thở của người miền Nam, trong cuộc sống tự do và nặng lòng với đất nước! Dù là những phảng phất từ xa xăm, chỉ thoáng qua lời kể về ông, cũng là một niềm hy vọng cho bao con người nhiều năm đã sống và hít thở cái không khí tự do trước đây... của miền Nam Xếp mấy tờ báo lại, Bình lấy chiếc xe cũ kỹ ì ạch một vòng định tìm người bạn nhưng không gặp được ai đành quay lại nhà cùng với bao buồn chán. Ngày tháng trôi nhanh, cuộc sống tanh tưởi dưới gót giày cộng sản cũng đến lúc được bàn tay Thượng đế đặt vào. Người Mỹ đã đạt được thỏa thuận với bọn cộng sản cho thành phần chống cộng quyết liệt trong chính quyền miền Nam đã và đang bị tù đày được sang định cư tại Hoa Kỳ. Tháng 9 năm 1988, cựu Đại Tướng John Vessey tới Việt Nam lần thứ hai để tiếp tục bàn thảo để hoàn tất về vấn đề POW/MIA và vấn đề nhân đạo khác trong đó có việc trả
202 • Nguyễn Văn Dy Vân
tự do cho những người tù cải tạo cùng với gia đình sang định cư tại Mỹ... Năm 1989, là năm chính sách nhân đạo của người Mỹ hoàn tất sau một thời gian dài tháo chạy khỏi miền Nam và chính thức rút chân ra khỏi Việt Nam, được đưa ra để đền đáp cho những thành phần trong chính thể Việt Nam CH ngày trước có dính líu vào sách lược của Mỹ trong cuộc chiến tại miền Nam - Việt Nam. Tin này được xì ra từ những viên chức Việt cộng Sài Gòn và loan truyền nhanh, lan ra cả Sài Gòn, rồi các Tỉnh, Thành. Người người nghe ngóng, đâu là sự thật. Xã hội cộng sản toàn rặt phường láo khoét, nên có là sự thật đi nữa cũng phải đi tìm bằng chứng... Dù vậy, làn gió mát kia cũng đã làm dịu lòng người đang trong cơn khát giữa sa mạc, số người miền Nam nằm trong thành phần ấy như thấy được chút ánh sáng trong đầu. Và rồi ông chồng cũng đã trở về, và Huỳnh Hoa vì mang một tự ái quá nặng, nên anh từ bỏ gia đình ra đi, anh đã vượt biên và đến được Hoa kỳ... Một người trầm lặng ít nói nhưng cương quyết, Huỳnh Hoa vẫn cứ tiếp tục với cuộc sống khó khăn còn lại bên hai cô con gái nhỏ. Và thời gian cứ trôi, dòng đời cứ chảy, niềm vui và nỗi buồn hoà trộn lẫn nhau cũng giữ cho vai người mẹ hoàn thành. Hai cô con gái cũng đã tốt nghiệp xong Trung học phổ thông và khôn lớn.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 203
Huỳnh Hoa thường tâm sự rằng em đã làm xong nhiệm vụ là người con, người vợ đối với gia đình bên chồng suốt thời gian chồng bị tù đày và bảo bọc được hai cô con gái như vầy là lòng em nhẹ hẳn rồi. Em hy vọng lương tâm sẽ không gì phải giằng xé chi.... Bình chỉ biết an ủi và giúp Huỳnh Hoa bình lặng với tuổi đời để kiên nhẫn chờ đợi những gì còn ao ước được chóng đến đó thôi. Ngày xưa, năm 1970 nếu gặp Huỳnh Hoa sớm hơn trước khi lập gia đình có khi đã thành hôn với nhau thì có đâu giờ đây hai người cùng trong cảnh mất mát rã rời như thế này. Cô em nhiều lần bóng gió nói về Huỳnh Hoa, nhưng Bình nghĩ rằng bây giờ không phải là dịp để tính đến việc ấy. Dù rằng chuyện cũ, chuyện mới có những tương quan nhau rất dễ hòa hợp nhưng không gì hơn là chữ “danh chính ngôn thuận”. Bình nói với cô em như vậy và cuối cùng phải giữ yên là tình bạn với nhau. Tới ngày sắp lên đường đi định cư, Bình có nói cô em làm một bữa cơm trưa tại nhà và mời Huỳnh Hoa tới ăn trưa gọi là từ giã trước khi đi. Hôm ấy Huỳnh Hoa khóc nhiều vì sẽ thiếu vắng Bình hằng ngày cùng bán buôn, san sẻ vui buồn trên phố chợ. Dù bên đường phố đông người nhưng những khi cần kíp thì biết níu nhờ ai. Huỳnh Hoa nói: - Chỉ mới cái tin ngày anh đi mà tâm trí em như
204 • Nguyễn Văn Dy Vân
mềm hẳn! - Huỳnh Hoa cứ yên lòng, hai cô em của anh sẽ giúp em nhiều mặt và đến nơi yên ổn rồi về mặt vật chất Huỳnh Hoa đừng lo nghĩ nhiều. Bữa cơm chia tay không ít ngậm ngùi, kẻ ở người đi! Bình nói lên ý nghĩ mình rằng, trong hai năm nếu Huỳnh Hoa và hai cháu chưa có dấu hiệu nào bảo lãnh của người chồng thì Bình sẽ về xin cưới để bảo lãnh em cùng hai cháu sang... Bùi ngùi chia tay nhau vào sáng sớm của một ngày mây trắng nắng trong. Cũng 11 giờ phi cơ cất cánh, đã để lại hầu hết những gì thân yêu nhất trong đời. Nuối tiếc mang theo cũng là một điều dĩ nhiên trong tình cảm của con người khi nhìn xuống ruộng đồng, thành phố và những gì thân yêu nhỏ nhất còn lại sau lưng. Nhưng giây phút này làm được gì... Sau hai giờ phi cơ đáp xuống phi trường Bangkok Thái Lan và chiều đến đổi phi cơ sang Nhật. Sau hơn 3 tiếng đồng hồ nghỉ ngơi, số người định cư Việt Nam lại được chuyển máy bay trực tiếp vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Khoảng 10 giờ sáng ngày 20-11-1993 chiếc phi cơ DC-6 đã đáp xuống phi trường Seatle, Tiểu Bang Washington, Bình và gia đình chính thức hoàn thành thủ tục di trú vào Hoa Kỳ. Sau đó hành trình lại tiếp tục, Bình và hai gia đình khác
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 205
trên cùng chuyến bay cũng đã đến nơi vào khoảng 9 giờ đêm và được người bạn bảo trợ đến đón đưa về tạm nghỉ trong đêm tại nhà anh. Mọi thứ đều xa lạ, một cảm giác nhẹ nhàng như bềnh bồng với không gian mới cùng bầu không khí tươi mát của của một đất nước tự do. Những gì đè nặng bấy lâu hầu như một phần đã được gỡ bỏ... Bình dậy khá sớm và bước ra ngoài một mình, trời đã ửng sáng, quay nhìn về hướng Tây, im lặng nghĩ về những gì còn đọng lại trong tâm hồn để phải làm trong những ngày tới. Bước đến cạnh chiếc cầu thang lên cái deck sau nhà, Bình tựa lưng vào và mông lung nhìn ánh đèn xa xa vế phía thành phố dội lên mà buồn về quá khứ cho xứ sở... ánh đèn của Sài Gòn năm xưa còn đây trong lòng, với biết bao yêu thương chồng chất nơi đó phải bỏ lại. Sài Gòn hôm nay còn gì cũng chỉ là kỷ niệm và ký ức. Huỳnh Hoa giờ này ra sao, đang chật vật với áo cơm phải không! Có thấy được sự giàu mạnh và thịnh trị của nước Mỹ cùng nếp sống văn minh của họ mới thấm thía cho đất nước mình, lạc hậu đi hàng thế kỷ. Cuộc chiến Việt Nam kết thúc một cách nhanh chóng và phũ phàng trước đây, phần nào cũng vì quá lệ thuộc vào nền chính trị Hoa Kỳ, sách lược của họ rõ ràng chẳng bao giờ biết thương xót dân tộc nào ngoài quyền lợi. Họ phải
206 • Nguyễn Văn Dy Vân
làm mọi cách để thu tóm quyền lực trên toàn cầu, là chúa tể thế giới để làm sao mang lại nguồn lợi tối đa cho giới tư bản cùng đất nước họ. Quan điểm chung của những nhà làm chính trị này của Mỹ, cũng là một thực tế và tất yếu mà Bình nghĩ. Cường quốc hay đế quốc cũng chỉ là cách chơi chữ, cũng không ngoài vì quyền lợi mà thôi. Với một nền học vấn vượt bậc, cùng nếp sống văn minh lâu đời, lại là một cường quốc giàu mạnh, hơn hẳn mọi quốc gia trên thế giới, hằng năm có hàng trăm phát minh cho nhân loại, cũng thật đáng để cho con cháu ta được sống và học hỏi. Tạm ổn được nơi ăn, chốn ở, hàng ngày Bình được xắp xếp học lớp học ESL để được hưởng trợ cấp như những người khác đến trước, quen biết thêm một số người cùng lớp. Một cặp vợ chồng người Đại Hàn rất tử tế và tỏ ra rất mến hai người con của Bình, hàng tuần Ông Bà mang đến trường thật nhiều quà cáp cho hai cháu. Thật là quý quá cho tình người bước đầu trên xứ lạ, dù là không gì to lớn nhưng cũng là một tín hiệu tốt cho cuộc sống mới sau những ngày rơi vào vũng bùn tăm tối cộng sản. Đây cũng là bước đầu đưa Bình và gia đình hòa nhập vào cuộc sống. Ba tháng sau Bình được người bạn mới Việt Nam định cư trước đây giới thiệu cho đến làm trong một hãng buôn
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 207
người Mỹ, lương bổng khá tốt và cũng là lúc Bình được thư của Huỳnh Hoa cho biết là đã được người chồng bảo lãnh cùng hai cô con gái, cũng đã bổ túc thêm hồ sơ và hoàn tất, đang lo việc làm Passport cho giai đoạn cuối để lên đường sang Hoa Kỳ. Vì đâu Huỳnh Hoa không giấu sự bực dọc và những tức tưởi của thời gian qua, dù được người chồng bảo lãnh! Thật khó hiểu hết những gì đã đọng kín trong lòng khi Huỳnh Hoa nói như thế. Bình viết liền mấy thư khuyên nhủ rằng, cơn bão cộng sản đã qua và còn sống sót thì mọi thứ gì khác nên cho qua đi cho đời nhẹ nhàng. Nhưng nơi người phụ nữ thật khó đoán được khi bị chạm nặng vào tự ái và lòng tự trọng của họ... Với cuộc sống bận rộn hàng ngày, thời gian qua nhanh, nửa năm sau được thư Huỳnh Hoa thông báo là ngày N sẽ đến Hoa Kỳ và ngày đó cũng đã đến. Hai tháng sau được điện thoại Huỳnh Hoa báo là đang sống với vợ chồng người em gái tại vùng Nam California và đang lo thủ tục ly dị người chồng... Thế là Huỳnh Hoa cương quyết giữ ý định sang ngõ rẽ khác... Đây cũng là một quyết định cho Bình bối rối hỏi rằng tại sao phải làm như thế. Đất Mỹ yên ổn, sao không chữa lành vết thương lại làm cho lở loét thêm và được trả lời bằng sự im lặng. Cũng ngoài hai tháng bình lặng đi qua, cùng bên những chuyện tình cảm, Bình đề nghị được gặp người của gia đình
208 • Nguyễn Văn Dy Vân
để thử xin ý kiến kết hợp tình cảm với nhau, nhưng Huỳnh Hoa như có ý tránh né và nói rằng Bà Mẹ và các chị em đều sống bên Pháp cần phải có thời gian để xin ý kiến, còn bên này chỉ có người em gái nên chưa thuận lợi nói lên chuyện đó. Tuy nhiên đôi bên vẫn giữ mối liên lạc tốt, nên đây cũng là một phần giúp cho giảm dần đi tẻ nhạt trong cuộc sống. Thế nào thì người phụ nữ Việt Nam ta cũng đã quen bên bóng mát gia đình, có người chồng bên cạnh vẫn yên lòng hơn. Phần Bình thì sự cô độc và buồn nản sau giờ làm việc trở về cũng đã thúc đẩy thêm tiếng nói, để rồi cuối cùng Huỳnh Hoa cũng phải bằng lòng với tình cảm tự nhiên của mình. Một sự đấu tranh khó khăn không ít để đi đến kết luận như vậy. Lá thư của Huỳnh Hoa như làn gió mát thổi vào trong những ngày nắng hè oi bức, đó là cảm giác của Bình sau những ngày vào đất Mỹ... Sau khi qua thăm Bà Mẹ cùng các em và chị trở về, Huỳnh Hoa gọi sang kể lại mọi điều đã gặp gỡ cùng những thân thuộc bên ấy cho Bình hiểu sơ qua và hỏi ý của Bình. Lẽ dĩ nhiên bao chờ đợi đã đến, hơn ba tháng sau Bình sang California với một bữa ăn đơn giản. Sau khi cùng đứng lên với vài lời ra mắt cùng gia đình, Huỳnh Hoa cúi chào các bạn xong, ngồi im lặng như bị điều gì đó đè nặng sau lưng. Sau này mới thố lộ rằng mình thấy ngày vui và sự xấu hổ cứ như ẩn hiện trong lòng. Cuộc sống mới bận rộn cũng đã giúp Huỳnh Hoa quên
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 209
đi phần nào những đau buồn và mất mát. Hai cô con gái đã trưởng thành, có những suy nghĩ riêng, đã từ đầu sống với người cha... Nhớ các con, thỉnh thoảng thấy vài giọt nước mắt trên đôi má như cằn cỗi cùng tuổi đời. Cũng đã ngoài bốn mươi, gần nửa đời người, Huỳnh Hoa nói rằng phận em quá hẩm hiu từ khi còn bé nhỏ, đã phải sớm tối giúp gia đình sau giờ học vì cuộc sống chật vật của Sài Gòn. Lớn lên được chút học hành, đi làm và lấy chồng. Cái vòng nhân quả từ thời nào của gia đình để lại cho em phải nhận lãnh. Ngày đó gặp em sao duyên đâu không đến cho em thoát được phận đời khổ nhọc kia chứ. Những lời nói đó làm Bình đau lòng không ít vì đâu! - Những ngày năm xưa sống chung với đạn bom và loạn lạc, mấy ai định đoạt được đời mình. Chiến tranh đã xé nát mọi thứ, giảm đi phần nào sinh lực đời người. Sống đó rồi chết cũng sau đó một vài giây khi chưa chuẩn bị được điều gì, nói chi tới riêng tư lâu dài... Bình nói với Huỳnh Hoa như vậy, và rằng: - Những ngày mới đang bên mình như vầy được rồi, mình đang trên đất Mỹ đây mà. Lại nữa ngày xưa không được duyên với nhau thì nay cũng đã đến. Chuyện xưa nhớ lại để tô đậm thêm cho đời thôi, chớ ôm lại làm gì cho tổn hao tâm trí chứ! Thời gian thấm thoát các con cũng đã lập gia đình, bạn bè, chiến hữu Bình ngày trước gặp lại ngày cũng nhiều, quy
210 • Nguyễn Văn Dy Vân
tụ nhau như cùng mái ấm, cũng là niềm vui cho quãng đời còn lại và tha hương này. Niềm hạnh phúc mới đã giúp Hùynh Hoa chóng quên được bao thầm trách của những ngày đầu bỏ lỡ và nay có Bình bên cạnh đi tiếp cuộc đời, rời xa được bóng tối cộng sản cũng là một ân phước của Thượng đế. Sống yên lành và luôn được sự thương yêu của Bình... cũng đã tiếp bước cho em trên những ngày mới, như Huỳnh Hoa đã nói. Cuộc sống đáng yêu cứ thế, dần theo thời khắc nhẹ nhàng tưởng chừng như rằng mình đang trên chính xứ sở và Tổ quốc mình... Cho dù là vậy, việc định cư tại Hoa kỳ cũng chỉ để thoát khỏi cảnh phải sống dưới chế độ cộng sản hơn là mong tìm những gì khác. Biết rằng nơi đây các con sẽ có tương lai tốt đẹp hơn nhưng trong tâm trí Huỳnh Hoa luôn còn vằng vặc nỗi đau đớn về những ngày tháng năm xưa của năm 1975. Không nơi nào ấm áp tinh thần bằng chính trên quê hương mình, nếu như không phải là cộng sản... Từ nhỏ đã được xem qua phim “Chúng tôi muốn sống”. Nó như đính chặt vào tim gan, có khác nào một “bể khổ”. Bọn nó giết người man rợ, khác chi ác quỷ, thế nhưng cũng có người lại chọn theo và sống chung với bọn trấn lột chính trị ấy, âu cũng là cái nghiệp của ông cha họ mà thôi, như Huỳnh Hoa nói.
ĐÂU BÓNG THIÊN THẦN • 211
Nghe đến đây Bình chỉ còn nhún vai khinh bỉ khi nhớ lại thảm trạng của Việt Nam Cộng Hoà mà người Mỹ đã làm nên, đẩy hàng chục triệu người miền Nam vào khốn khổ, hãi sợ, phải tứ tán bỏ chạy và chết thảm tràn lan trên rừng sâu và biển cả. Một cảnh tệ hại, bất nhân và khủng khiếp nhất của thời kỳ mà người Mỹ nói rằng, đến giúp miền Nam chống cộng... Dù có qua đi, nhưng nỗi đau ấy cứ như âm ỉ, phủ kín cả cuộc đời... Thử nhìn một hiệp sĩ đang đấu kiếm phía trước bị một nhát đâm từ sau lưng, quỵ ngã, ta sẽ nghĩ gì!
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post May 17 2019, 09:50 PM
Gửi vào: #16


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622






Liên lạc Tác giả Nguyễn Văn Dy Vân

honghuynh521@gmail.com

(404) 428-4652

*****

Liên lạc Nhà xuất bản Nhân Ảnh

han.le3359@gmail.



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 20th September 2019 - 09:25 PM