IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> LƯU BÚT NGÀY XANH & CÁC BÀI VIẾT, của Hoàng Châu- Châu Văn Đễ, Thủy-Chung
BenTreHome
post Jul 16 2017, 08:02 PM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





(Bài Viết của anh Hoàng Châu- Châu Văn Để, Chs/Trung Học Công Lập Bến Tre , thế hệ 1955, Tốt Nghiệp Quốc Gia Hành Chánh ban Đốc Sự)


Lưu Bút Ngày Xanh



Cái thuở học trò còn “lều chỏng” đi thi và trước đó, không biết có chuyện “Lưu Bút Ngày Xanh” hay chưa. Nhưng, chắc có lẻ từ lúc văn hóa Tây phương tràn vào Việt Nam, nhứt là ở “Nam Kỳ” người ta thấy xuất hiện phong trào “Lưu Bút Ngày Xanh” với bài ca “Tạm Biệt” mỗi khi “Hè về”. Bọn học trò hay nhại riết thành “Đồng dao” luôn kèm với các phim truyện “Robin, Tazan, Zorro”:

“Ò e… RoBe đánh đu,
“Tazan nhảy dù,
“Zorro bắn súng
“Chết cha con ma nào đây,
“Thằng Tây hú hồn,
“Thằn lằn cụt đuôi
(Giờ đây anh em chúng ta cùng nhau tới ngày bồi hồi xa cách
Cách xa nhưng ta hằng mong rồi đây có ngày còn hòng gặp nhau).

Trong tất cả các kỷ vật của tuổi hoa niên học trò, tôi nghĩ “Lưu Bút Ngày Xanh” là một kỷ vật quý báu nhứt. Đó là tâm tình hình ảnh kỷ niệm mà một học sanh mang theo mình suốt đời khi rời xa chiếc ghế nhà trường. Lưu Bút Ngày Xanh chỉ chuyền cho những bạn bè thân thiết, tri kỷ tri âm của mình. Những mẩu chuyện vui, những lời bộc bạch thầm kín, những hình ảnh thân thương được ghi lại và miêu tả rạch ròi. Nó còn nói lên tâm sự của thuở còn chung lớp chung trường, chung thầy, chung đường về hay những buổi sanh hoạt tập thể với nhau.

Lưu bút còn nói lên tình đồng hương chung xóm chung làng, cùng chạy giặc vô bưng, cùng chung ngồi trên “ghế hỏa lộ” của Thầy giáo nơi “vùng tạm chiếm” của thời Việt Minh (1947-1948); hoặc trên đường về cùng níu nhau lội qua khúc lộ đứt, cây cầu sập, ống cống bị bang phá vì chiến tranh.

Lưu bút cũng nói lên những tâm tình ấp ủ của tuổi ấu thơ, những lời mơ hồ úp mở chỉ những ai trong cuộc mới rõ. Có những lời khuyên lơn gởi gấm tình tự bàng bạc khắp các trang giấy.

Tôi cũng có một tập Lưu Bút Ngày Xanh kỷ niệm khi rời THB, tức Trung Học Công Lập Bến Tre vào thời Ông Đốc Nguyễn Văn Trinh làm Hiệu Trưởng khi trường mới thành lập. Thuở ấy, trường chỉ tới lớp Đệ Tứ. Sau khi thi đậu “Bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp”, các học trò hoặc thi vào ngành nghề chuyên môn hoặc tiếp tục thi tuyển vào các trường Gia Long, Nguyễn Đình Chiểu, Petrus Ký, Phan Thanh Giản, hoặc tình nguyện ghi danh vào Trường Võ Bị Đà Lạt hay Trừ Bị Thủ Đức…

Tôi quý Tập Lưu Bút Ngày Xanh vô củng, nhưng đành phải thất lạc, phải bõ lại như bõ lại SàiGòn thân yêu sau 3 giờ chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Trên bước đường lưu vong hải ngoại, mỗi khi thay thời đổi tiết, nỗi hoài hương dâng lên ngùn ngụt như sóng cồn Biển Đông. Những đêm mưa buồn, nhớ câu thơ cổ

“Cố hương qui mộng tam canh vũ
Lữ xá hoài ngâm tứ bích trùng”

Mà giáo sư, cố Tổng Thống Trần Văn Hương đã dịch

”Ba canh mưa phủ mơ vườn cũ
Bốn vách trùng ngâm tủi xứ người”

thật thắm thía cho nỗi thương nhà nhớ nước của kẻ tạm dung!

Tập Lưu bút của tôi dù không còn, nhưng nét chữ và hình ảnh của bạn trong ấy không mờ, “lời vàng ý ngọc” của bạn vẫn phưởng phất đâu đây. Nhưng sao mà lạ, hễ nhớ tới đâu, nghĩ đến “đứa nào” thì đứa đó đã không còn trên dương thế! Đâu có bao lâu, chỉ mới hơn sáu bảy mươi năm!

Hôm nay tôi ngồi viết lại ý nầy là nhờ vô tình tìm thấy ký ức mình sống dậy qua trang mạng “bentrehome.net” nơi mục tình xưa bạn cũ. Tôi rất quý mến các bạn đã bõ tâm huyết ra thực hiện trang mạng nầy. Tôi xin bổ túc về “Logo” cũa trang mạng. Đó là phần ruột của “logo” Hội Ái Hữu Bếntre KiếnHòa do Trương Hoàng Lâm (em út của Họa sĩ Trương Bữu Giám thực hiện) trong lúc cùng quản lý Printing Shop cùng với các anh Minh Châu, Anh Dũng, Tài Nhân. Trong một buổi trưa hè nắng ấm tại California, Trương Bữu Gám quá bận rộn với khách hàng, đã ra đề tài cho Trương Hoàng Lâm vẽ trên computer trong một tiếng đồng hồ cho kịp in trang bìa Đặc San Bếntre Kiếnhòa. “Logo” có tàng dừa cành trúc và cô lái đò trên sông nước nối nhịp thân yêu.

Nơi mục “Tình xưa Bạn cũ” đã gợi cho tôi nhớ tới bạn Hồ Chí Ngiệp (anh của Hồ Công Cửng, quê Batri cùng với Trần Bình Trọng). Nghiệp là “họa sĩ” từ thời nhỏ mà Giáo sư Nguyễn Siên (tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội) đã khen ngợi là tài hoa. Nghiệp đã vẽ ngay trong tập lưu bút của tôi một “bông lục bình” rất linh hoạt. Ta đã biết bông lục bình màu phớt tím xanh, nhưng thuở ấy học trò nghèo Hồ Chí Nghiệp đâu có màu vẽ nên phải vẽ bông trên nền màu đen để cho bông nổi lên như thật. Nghiệp rất giỏi toán, đã cùng học với tôi từ Đệ Thất đến Đệ Tứ tại Bếntre; sau đó đã cùng qua Trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho cùng ở trọ trong Chùa Vĩnh Tràng, Đầu Kinh Cụt, cùng thuê nhà khu Vườn Lài Nhà Đèn với tôi. Mỗi tuần cùng về quê và ở nhà tôi tại Cầu Dầu Trúc Giang để rồi chiều chủ nhựt hai đứa cùng cỡi xe đạp qua Mỹ. Nghiệp đã đầu quân vào Thủ Đức Khóa 15 và đã hy sanh vì tổ quốc tại Mõ Cày Thạnh Phú, vinh thăng Thiếu Tá, hình như lúc đó vẫn còn “độc thân” vì…
Nghiệp không muốn có “Lưu Bút Ngày Xanh” riêng cho mình; nhưng lại muốn tôi đề tặng nơi tranh của Nghiệp:

“Chàng là họa sĩ đất Ba Tri
Mang một con tim nặng quá chi
Sống giữa thị thành hoa bướm ấy
Chàng tìm trăng gió gởi chi chi…”
“Giữa cảnh phồn hoa ai biết chăng
Một con chim nhỏ nhảy tung tăng
Đời hoa xanh biếc như nhung phủ
Chim lại đi tìn sắc xám chăng!?”

Bông Thắm Bên Đường là lời thơ tôi mở đầu tập Lưu Bút Ngày Xanh của tôi:

“Gió bể trăng ngàn thân lữ thứ
Phong trần lúi húi dựng cô đơn
Mộng ngày xanh dệt qua năm tháng
Nấu lại hoa thương ướp tủi hờn!”

Bài đầu tiên mở đầu cho Lưu Bút Ngày Xanh của tôi là bài viết của Võ Thị Yến Ngọc. Yến Ngọc quen biết từ thuở nhỏ cùng ở lối xóm. Yến Ngọc học giỏi, hay hỏi chọc Giáo sư âm nhạc Vũ Năng, lúc nào cũng mặc một bộ đồ màu “beige” ba túi. Có lần Yến Ngọc lén gạch viết mực vào góc chéo áo khi Thầy đứng tựa bàn viết cạnh chỗ ngồi của Yến Ngọc. Ngọc nói “để xem Thầy mấy ngày mới giặc bộ đồ nầy!” Yến Ngọc cũng là một nhà thơ trữ tình lãng mạn, lấy bút hiệu là Yên Hà cùng với Nguyển Thị Hà lấy bút hiệu là Bạch Thủy.

Khi qua Trung Học Mỹ Tho, Yến Ngọc cùng học Ban C, Văn Chương Pháp Ngữ với tôi, khác với (Ban D, Văn chương Hán Ngữ, Ban E, Văn Chương Anh Ngữ). Trong lớp hồi ở Mỹ Tho, Yến Ngọc cũng hay hỏi “hốc búa” trêu chọc Giáo sư Hồ Thế Viên (tức thi sĩ Thế Viên với tác phẩm Người Yêu Tôi Khóc).

Trong lưu bút, Yến Ngọc viết lách rất bay bướm. Dưới bức hình bán thân cắt cánh hoa tim với câu thơ:

“Khói chiều tha thướt thướt tha
Ráng chiểu rực rỡ Yên Hà là đây”

Đúng là Yên Hà như mây như khói, vạn dậm đi tìm mộ chồng đã bị tù đày và bõ thây nơi đất Bắc sau 1975. Câu chuyện dài đầy bi thương cảm động đã dược Mạc Hoài Phạm văn Mến và Mạc Vân Tô Thị Hồng Vân tả trong Đặc San Bếntre.

Cách đây mấy năm, tôi được bạn Huỳnh Tấn Phúc (Khóa 17 Sĩ Quan Đà Lạt), sĩ quan Sư Đoàn 7 Bộ Binh, cũng là cựu học sanh Bếntre cho biết là Yên Hà Võ Thị Yến Ngọc đã lìa trần tại Úc Châu. (Mạc Vân và MĐ đã có nhiều bài thơ khóc Yên Hà). Nay được biết thì Huỳnh Tấn Phúc cũng đã qua đời tại Houston Texas!

Lưu Bút Ngày Xanh có cái ly kỳ là khi phóng ra rồi không biết bao giờ mới trở lại với mình. Bởi vì bạn bè có đứa giữ rất lâu, viết xong lại chuyền cho đứa khác viết tiếp; trong khi sở hữu chủ thì nóng lòng muốn tìm thấy đứa con cưng của mình để đọc coi như thế nào.

Tôi nhớ học lớp sau tôi có “thằng Chấng” ở bên Cù Lao Minh cùng với bọn thằng Trân, thằng Hồng Minh Nghiệm, Nghiệp Trần, với bốn thằng Tây, thằng Đức thằng Nhựt thằng Tào con của Ông Chánh Võ! Chấng đã viết mở đầu tập Lưu Bút Ngày Xanh của tôi bằng 4 câu thơ, ý nói “Hai đứa Chớ Quên nhau”:

“Chấng kiến cảnh đời luôn hợp tan
“Đễ tường tấc dạ thủy chung toàn
“Chớ nhìn ly biệt trong sầu não
“Quên tạm cho lòng được tạm an”
Nguyễn Trường Chấng

Nay biết ra thì Chấng cũng đã thành người thiên cổ! Chấng hiếu học và học giỏi. Chấng đã cùng Minh Nghiệm, Thanh Trân và tôi cùng “học tập thể” ở Cầu Dầu và khu Chợ Ngả Năm. Sau nầy nghe đâu Chấng đã thi vào ngành sư phạm.

Lưu Bút Ngày Xanh của tôi là một tập dày cộm, đầy ấp tâm tư của rất nhiều bạn bè như Thể, Hà, Luận, Toàn, Ngôn, Ẩn, Tiếu, Hưởng, Tỵ, Hiếu, Hồng, Liên, Tánh, Hạnh, Bích, Lâu, Yến, Phụng, Dung, Nhan, Hoa, On, Xuân, Thu, Trung, Hoàn, Khánh, Trân, Nghiệm, Thượng, Truyền, Lộc, Hoa, Tươi, Vui, Chơi, Nhịn, Huân…

Có nhiều đứa trong tập Lưu Bút Ngày Xanh của tôi đã hy sanh giữa hai lằn đạn của cuộc chiến huynh đệ tương tàn như KN, Đặng Văn Rê, Đặng Văn Ve, Lại Văn Chấm, Nguyễn Thanh Xuân, Nguyễn Văn Để ( Xuân và Để Nguyễn là con và cháu của Ông Sáu Đó ở Cầu Dầu, Trúc Giang). Còn rất nhiều đứa trong tập Lưu Bút của tôi, không thể kể hết tên; không biết ai còn ai mất!

Một trò viết sau cùng trong Lưu Bút Ngày Xanh của tôi là trò Châu Thị Dể, cũng là em ruột của tôi. Nó học sau tôi nhiều lớp, khi trường Trung Học Công Lập mở tới lớp Đệ Nhị Đệ Nhứt. Dể là học sanh rất giỏi đủ các môn học. Dể cũng là công chức Bộ Tài Chánh, Ty Thuế Vụ Kiến Hòa và sau cùng với chồng là Đại úy Đào Hà phục vụ tại Bộ Quốc Phòng, Tổng Nha Hành Ngân Kế, Sở Hành Chánh Tài Chánh số 7 tại Mỹ Tho.

Châu Thị Dể cũng đã thành người thiên cổ tại California Hoa Kỳ ngày 15 tháng 5 năm 2013, thọ 63 tuổi.
Châu Thị Dể với tập thơ “Bông Trúc” viết nhiều về dòng sông, chiếc nón lá và con chuồn chuồn, đặc biệt về tình tự quê hương dân tộc và tuổi học trò. Trong thơ tập Bông Trúc, tôi chỉ còn nhớ hai câu:

“Ai thương Bông Trúc thì thương
Tôi thương Bông Trúc với hương học trò”

Không biết Trúc có bông hay không và hình dáng màu sắc thế nào, chắc là phải hỏi lại cô cháu là Bà Già Nhà Quê, tức nhà thơ Thụy Mai, Lê Thị Dung.

Nay viết lại vài dòng riêng tặng nhóm thực hiện trang mạng “bentrehome.net” với tất cả lòng mến phục.

Hoàng Châu Châu Văn Đễ

Cựu Học Sanh Trung Học Bến Tre
(Miền Tây Hoa Kỳ, năm lưu vong thứ 42)



BTH đăng nguyên văn từ Email
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Dec 17 2018, 04:54 AM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





Nói Lái

Thủy-Chung Châu Văn Đễ


“Bậu nhỏ“còn khuyên Qua“bỏ nhậu”
“Say mèm” dơ dáng lúc “xem mày”
“Đi lầy” cho tởn “đầy ly” cạn
“Chai hết” lăn ra “chết cả hai”

“Ba lằn “ngang trái” hằn “ngay tráng”
“Sau đầu” còn một nỗi “sầu đau”

“Ngồi đó” “ngó đồi thương chuyện cũ
“Băng trống” một mình với “bóng trăng”
Thơ Hoàng Châu


Colonel Frey, sĩ quan viễn chinh Pháp tại Việt Nam (1885-1895), tác giả quyển “L’Annamite, Mère des Langes” (Tiếng An Nam, Mẹ các ngôn ngữ), đã nói rõ địa vị của tiếng Việt trên văn đàn thế giới (Nhà Xuất bản Hachette, Paris 1892). Ngay trong nuớc, mỗi miền lại phong phú hóa theo đặc trưng của địa phương. Tại Miền Nam, ngoài chữ Hán chữ Nôm còn đồng hóa thêm chữ Tây, chữ Nhựt, chữ Miên, chữ Lào, chữ Thái, chữ Mã, chữ Thượng, chữ Chà Và…Ta thấy có những chữ, những thành ngữ rất thông dụng đã Việt hóa một cách mặc nhiên, thí dụ như: đoạn trường, ba đào chuyển động, tâm sầu bạch phát, cái tách, bến bắc, trái banh, xếp phơ, tờ giấy ngẩu, giấy quảnh, giấy xăng, sầm lé, vô tổ nái, trái lê kim mai, trái sa kê, trái sa pô chê, chàng với nàng, lủy với ẻn, moi với toi, qua với bậu…
Nhiều khi dịch âm, dịch nghia, nói lái, nói trại, nói vần lân, nói bắt quàng, nói có ca có kệ, đủ mọi hình trạng. Nói lái càng dí dỏm tục tỉu, hóc búa càng đuợc để ý nhiều hơn. Kể thì không thể nào kể cho xiết cho đủ.
- Hôm qua qua nói qua qua mà qua không qua;
hôm nay qua nói qua không qua mà qua qua.
- N K M H U O / M K N H M R Q N
(Anh Ca Em Hát U Ơ; Em Ca Anh Hát Em Rờ Cu Anh)
- U T Q (đọc là U Tê Cu, là Uống trà quạu). Lúc kháng chiến chống Tây, không có trà uống chỉ dùng lá ổi lá xoài phơi khô nấu uống. Khi nào gặp “trà con khỉ“với đường táng thì gọi là uống trà quạu.
- Thuốc hút SALEM thì đọc là “Sao Anh Làm Em Mệt Mà Em Làm Anh Sướng”
- Thuốc hút PALL MALL thì đọc “Phải Anh Là Lính, Mời Anh Lên Lầu”
- Thuốc hút CAPSTAN thì đọc “Con Anh Phá Sản Tại Anh Ngu”
- Rượu COGNAC V.S.O.P thì đọc rượu rót không quên ai “Verser Sans Oublier Persone”. Khi rót ra rồi không ép ai thì đọc “Verser Sans Obliger Persone”.
Dùng cùng một phụ âm bắt đầu như:
- Chán chường cho chị chưa chồng
Lung lay lá liễu lạnh lùng lẻ loi
Hoặc thuận nghịch đọc như:
- Thương bấy thiết tha lòng héo liễu
Nhớ thêm vàng võ má phai hồng
(Hồng phai má võ vàng thêm nhớ
Liễu héo lòng tha thiết bấy thương) (Thơ Vua Tự Đức)
Hoặc chơi chữ pha trộn như:
- Cha con thầy thuốc về quê
Gánh một gánh “hồi hương phụ tử“
(Hồi hương và phụ tử là tên hai vị thuốc bắc, cũng có nghia là về quê và cha con)
Hoặc hốc búa như:
- Thầy giáo tháo giầy vấy đất vất đấy
- Thầy Tu Thù Tây
- Cạo đầu cầu đạo
- Tiếp tiệp hoàn hoàn tê ư tư sắc tứ
Binh bình sứ sự hát ô hô huyền hồ
(Nhận được tin thắng trận rồi thì vui vẻ mà về; được thuởng phẩm hàm xong việc binh nhung, làm tòa sứ)
- Vợ cả vợ hai hai vợ đều là vợ cả
- Thầy tu thầy chùa, chùa thầy cứ việc thầy tu
- Giáo đa thậm oán (đọc trại Gáo tra dài cán)
- Bất đắc dĩ (đọc trại mất bát dĩa)
- Nhứt tự vi sư bán tự vi sư (đọc trại “một chùa cũng do sư mà “bán chùa” cũng do sư”
- Nhơn chi sơ (Tay sờ cơm nguội)
- Tánh bổn thiện (Cái miệng đòi ăn)
- Gia (nhà) Quốc (nước) Quân (vua)
Phụ (cha) Mẫu (mẹ) Tự (chùa) Vân (mây)
- Bần cư náo thị vô nhơn vấn
Phú tại thâm sơn hữu khách tầm
(Bần cưa ván ngựa đôi ba tấm
Cú tại màng tang đứng chết trân)
- Mười giờ tàu lại Bến Thành
“Súp lê” vội thổi bộ hành lao xao
- Cinq quand dix corbeaux (Năm khi muời quạ)
- Cinq six dix douze (Xanh xít đít đuôi)
- Thème (Thèm me)
- Vocabulaire (Vỏ cá bự lại rẻ)
- Harrico Harrico, moi pas rideau (Đậu đậu, tôi không màng)
- OK thau (ói)
- OK Salem (chịu chơi)
- No Star Where (Không sao đâu)
- Ăn me ăn rê (ê răng)
- One Two Three (Quánh Tù Tỳ)
- Deuxième classe (Đơ dèm cùi bắp)
- Henry hăn rết (hết răng)
- Chặt me đui then (che mặt đen thui)
Lúc nguời Anh chiếm Đông Dương, tại Hà Nội có treo một biểu ngữ “Vietnam to the Vietnamese” nhưng các cụ đồ cố gắng đọc “Việt Nam to thế Việt Nam mề sề“. Học trò nói tiếng Tây ấp úng “parce que”…thì Thầy giáo giục “đi Cần Giờ uống nuớc mặn”. Học trò nói luôn vừa tiếng Việt vừa tiếng Tây “phân ra đít tanh ghê” (distinguer)
Lúc Cộng Sản lợi dụng núp dưới chiêu bài Việt Minh để thủ tiêu đàn áp thành phần quốc gia kháng chiến, ở trong Nam đã thấy rõ và hay nói lóng những gì “hay ho xảo trá’ là “độc như thịt vịt”. Nếu ai tò mò bảo là thịt vịt làm sao mà độc được thì đuợc trớ ngay là “độc như thịt vịt Xiêm”. Nếu lại cãi nữa là thịt vịt Xiêm nên thuốc chứ sao lại độc; thì được bào chữa là “độc như thịt vịt Xiêm lai”. Nếu lại bị hỏi vặn là thịt vịt Xiêm lai ngon và hiền; bấy giờ nguời Miền Nam mới nói “độc nhu Vịt Miên” nói lái là “độc như Việt Minh”.
Chúng ta cũng biết Đốc Phủ Sứ, Nguyễn Văn Tâm, người Tây Ninh, còn được mệnh danh là “Hùm Xám Cai Lậy”, là một người Việt Nam chống Cộng độc nhứt vô nhị. Lúc còn là Quận Trưởng Cai Lậy Mỹ Tho, mỗi khi bắt được Việt Minh Cộng Sản, ông không giết mà chỉ thẻo lổ tai rồi thả ra. Sau nầy người Cộng Sản thù ông dữ lắm. Nên khi Ông làm Thủ Tướng Chánh Phủ, những nguời Việt Minh Cộng Sản thêu dệt chuyện “Đại Điểm Quần Thần” có nghĩa là “chấm to bầy tôi” nói lái là “Chó Tâm Bồi Tây”. Do đó ta nên lưu ý là những ai bây giờ nói câu châm biếm ấy, coi họ có phải là người có mất lổ tai hay không?!
Ở các Tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Vinh Long, Mỹ Tho, Gò Công, Tân An có một thể loại nói lái đặc biệt. Bắt đầu bằng các nguyên âm để ghép vào câu mình muốn nói cho đủ âm điệu. Các nguyên âm là: A, I, U, Ư, E, Ê, O, Ô, Ơ. Thí dụ như câu: “Mầy ăn cắp đồ tao đánh chết cha”. Nếu ráp vần “U” thì đọc là “Mầy mù ăn u cắp cú đồ đù, Tao tu đánh đú chết chú cha chu”. Nếu ráp vần “O” thì đọc là “mầy mò ăn o cắp có đồ đò, tao to đánh đó chết chó cha cho”. Nếu ráp vần “A” thì đọc “Mầy mà ăn a cắp cá đồ đà, tao ta đánh đá chết chá cha cha”.
Hoặc như câu “Hồ Chí Minh bán nước” ráp với âm “U” sẽ là:
Hồ hù, Chí chú, Minh mu, bán bú, nước nú. Nếu ráp với âm “O” sẽ là:
Hồ hò, Chí chó, Minh mo, bán bó nước nó, v.v…
Trở lại Miền Nam, nghiên cứu về ngôn ngữ học mà thiếu nói lái là đã thiếu mấy chục phần trăm. Tôi nói có quá đáng chăng? Chứ thật ra, ngay như một chữ “CỤ“, khi nguời Miền Nam xử dụng là đến quá bán châm biếm, ẩn tàng ý khinh bỉ bên trong. Vì là âm “Cu” lại thêm “dấu nặng” nên khi nói lái hay ghép lái thường có ý nghĩa tục tỉu, chế giểu. Gặp một kẻ ba hoa khoác lác, lúc nào cũng tự hào ta đây là số một thì nguời Miền Đông Nam Việt thường hay bồi thêm một câu “người như cậu là Nhứt Cậu rồi”. Gặp lính tráng hoạnh hẹ nạt nộ thì nguời Miền Tây Nam Việt bỏ nhỏ “xin cậu đừng la lối, xin NHẸ CÂU giùm”. Ngay cả bị lính bắt bớ cũng còn giểu cợt như thường “Thầy làm ơn tha cho, tôi già cụ rồi đừng BẮT CỤ tội nghiệp”. Văn hào Hồ Hữu Tường cho là nguời Miền Nam chỉ “Nói Thơ”, “Đọc Thơ” mà không bao giờ “NGÂM THƠ”, vì ngâm thơ đọc lái là “NGƠ THÂM”.
Nói lái là một trong những yếu tố phong phú hóa ngôn ngữ. Bất cứ ai, bất cứ lứa tuổi nào cũng đều nói lái được cả. Nói lái cũng có qui luật hẳn hòi, tùy theo cấp độ mà gia giảm cho phù hợp với đối tượng và tùy theo sở thích mình muốn ẩn dụ. Nói lái đúng luật phải đọc là “Nái Lói”. Âm điệu bằng trắc, luật chánh tả, các dấu đều phải đúng, đối nhau chan chát. Một chữ có thể có nhiều cách nói lái khác nhau. Thí dụ:
- Thằng Tây, thầy tăng, thây tằng, tầy thăng…
- Tranh đấu, trâu đánh, tránh đâu, đấu tranh
- Bà nhỏ, bõ nhà, bò nhả, nhà bỏ
- Lộng kiếng, liệng cống, cộng liếng, lống kiệng
Nhiều khi không nhằm nói lái mà chỉ nói lên cái ẩn dụ mà thôi như là:
- Tiền làng, tàn liền
- Bảng đỏ, bỏ đãng
- Sao vàng, sang giàu
- Ai ơi bảng đỏ sao vàng
Đó là bỏ đãng sang giàu mấy khi
- Tiền lính, tính liền
- Thiền tu, thu tiền
- Dân chủ, chủ dân
- Chịu chơi, chơi chịu
- Ai hú thầy tu thầy tu hú
Ai la thợ mã thợ mã la
- Xã hội, hả xội
- Độc lập, lộc đập
- Tự do, dự to
- Cách mạng, máng cạch
- Kháng chiến, khiến chán, chán khiến
- Tu thiền, thu tiền
- Cầu đạo, cạo đầu, đầu cạo
Hoặc là từ chữ đó mà nói dòng do tam quốc lái ngược lái xuôi cho tới khi nào vừa ý mình muốn thì thôi. Dầu câu dài ngắn bao nhiêu, cứ ghép hai chữ một mà lái. câu ba chữ thì lái chữ thứ nhứt và chữ thứ ba. Câu bốn chữ thì lái chữ thứ nhì và chữ thứ tư.
- Chợ Bà Chiểu, chịu bà chở
- Đứng trông hoài, đái trong quần
- Khoái ăn sang, sáng ăn khoai
- Bái lổ tung, bún lổ tai
- Chà đồ nhôm, chôm đồ nhà
- Chả có chi, chỉ có cha
- Chả có bì, chỉ có bà
- Chả lo gì, chỉ lo già
- Ông đạo dừa, ưa đạo dòng
- Chả sợ gì, chỉ sợ già
- Con cua con còng, con công con rùa
- Đồng vợ đồng chồng, đồng vọng đồng chờ
- Lăng quằng lít quịt lăng quằng trứng, lưng quần trắng
- Con mèo đuôi cụt nằm mụt đuôi kèo
Nếu câu dài thì tìm ẩn dụ trong ý nói lái:
- Ông đánh cái cheng bà bảo đừng: Cheng Đừng là Chưn đen
- Cau bìa không bẻ, bẻ cau ranh: Canh rau
- Ông câu bắt đuợc ông câu bành: Canh bầu
- Thầy ký bắt đuợc thầy ký banh: Canh bí
- Vừa đi vừa lủi vừa mổ: Lổ mủi
- Bên nầy cưa một ngọn, bên kia cưa một ngọn: Con Ngựa
Khi gặp các chữ tận cùng bằng T, C, CH với các dấu huyền hoặc dấu hỏi, dấu ngã, thì đọc lái nghe như tiếng ngoại quốc.
- Chặt chẻ, chẹ chẳt
- Bắc Bộ Phủ, phú bộ bẳc
- Luợm lặt, lặt luợm
- Bắt bớ, bớ bắt
Khi gặp các tiềng đệm cùng âm cùng dấu thì chỉ lập lại hoặc đọc ngược lại mà không thể lái được:
- Xanh xanh
- Râm râm
- Vút vút
- Đỏ đỏ
- Vàng vàng
- Ầm ầm
- Đùng đùng
- Cắc cớ, cớ cắc
- Cắc ké, ké cắc
- Bẻn lẻn, lẻn bẻn
Theo Lê Quý Đôn trong “Vân Đài Loại Ngữ“ thì người Tàu cũng có nói lái như trong sách “Dậu Dương Tập Trở“ của Đoàn Thanh Thu có chép: Lý Bá Lịnh sai em đi lấy 100 hộc gạo ở Kinh Hà đã quá kỳ mà không thấy trở về. Lý Bá Lịnh lại nằm mộng thấy “Tẩy Bạch Mã“ nghĩa là tắm con ngựa trắng, bèn đến hỏi Ông Lý Bá Thành, và được đoán giải như sau: Tẩy Bạch Mã nói lái là “Tả Bạch Mễ“ có nghĩa là gạo trắng chảy đổ xuống, như vậy là có chuyện lo ngại về sóng gió chăng?
Vài ngày nguời em về đến quả nhiên nói ghe gạo bị lật úp ở Sông Vị.
Sách “Tập Dị Ký” chép: Trương Dật chiêm bao thấy người ta bảo “Nhiêm Điều Giá Tướng” nghĩa là Ông Nhiêm Điều được trao chức Tể Tướng.
Ông suy nghĩ hết họ nội ngoại, không có ai tên Nhiêm Điều. Cháu của Ông là Lý Thông nói lái Nhiêm Điều là “Nhiêu Điềm” nghĩa là ngọt nhiều. Ngọt nhiều thì chỉ có Cam Thảo mà cam thảo là loại “trân dược” (loại thuốc quý). Trân Dược nói lái là Trương Dật, tức tên của Ông Cậu. Được ít lâu, Vua Phong Trương Dật làm Tể Tướng.
Việt Nam cũng có nói lái theo kiểu dòng do tam quốc như vậy. Lúc di hành dả trại ở Quang Trung (giai đoạn I của Khóa 1/68 Si Quan Trừ Bị), khi ngồi nghĩ, mỗi đứa phải kể một câu chuyện vui. Có đứa kể cuời nôn cả ruột, vào hàng còn cuời sùng sục để bị phạt dả chiến. Có đứa chỉ kể như thế nầy: Được mời đến ăn giỗ, tôi thấy “đàn bà nấu nướng, đàn ông đông vui”. Bạn bè không ai cười cả mới hỏi và nó giải thích như sau: “Nấu cũng như đun, nướng cũng như thui. Hễ đun thì phải có khói MÙ mà thui thì thịt phải CO. Tức là đàn bà đang “MÙ CO”. Còn “đông vui” nói lái là “đui dông”. Đui nhu MÙ và dông (giông) như VÓ (gió). Tức là đàn ông đang “MÙ VÓ”.
- Quân Đội Cộng Sản còn gọi là Quân Đội Nhân Dân. Nếu nói lái là “Quân Dận Nhân Đôi”. Nhân đôi tức là nhân cho hai. Đọc là “Quân Dận Nhân Hai” lái là “Quân Hại Nhân Dân”
Có những câu không hẳn là lái, nhưng phải hiểu phối hợp Việt Hán và lắt léo mới am tường.
- Nuớc lổ trâu chảy ra khổng mạnh, phải viết ra Nước “Lổ“và Nuớc “Trâu” chảy ra “Khổng, Mạnh”; nếu chỉ đọc suông thôi ta hiểu là nuớc ở lổ chưn trâu chảy ra không mạnh. Nhưng khi viết ra thì lại có nghia là Nuớc Lổ xuất ra Khồng Tử và Nuớc Trâu xuất sanh ra Mạnh Tử
- Bó tre lẻ chẻ ra văn vỏ
Đút vô lò than đỏ thành than.
(Có nghia là bó tre chẻ ra cọng nhỏ (văn) và cọng to (vỏ), nếu chụm vô lò thì tất phải cháy thành than. Nhưng nếu viết ra “Bó tre lẻ, chẻ ra VĂN VỎ, Đút vô lò than đỏ THÀNH THANG” lại có nghia là Vua Văn Vương, Vua Vỏ Vương Nhà Châu và Vua Thành Vua Thang.)
Nhiều khi phải chiết tự Hán Văn mới trọn nghỉa như:
- Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc
Phận liễu sao đà nẩy nét ngang
Thơ Hồ Xuân Huong
(Chữ THIÊN nhô đầu dọc lên là chữ PHU; chữ LIỄU nẩy nét ngang là chữ TỬ ý nói chưa có Chồng (Phu) mà đã có Con (Tử).
- Chim chích mà đậu cành tre
Thập trên tứ dưới nhứt đe chữ tâm
(Chiết tự ra là chữ ĐỨC)
Chọc ghẹo mấy bà lăng loàn gọi là “dấm chua” lái là “chúa dâm”
Hỏi mua “vấm xủ“ nói lái để chọc những cô xẩm bán hàng
Vào tiệm thuốc Bắc hỏi mua vị thuốc “Tông khai” lái là “tay không”
Đi chợ mua 6 con cá “không đầu” 9 con cá “không đuôi” tức là con số O (Zéro) vậy.
Mấy cô gái giang hồ gọi là “Chị Hai Trầu Lặt Cau” (hầu trai…)
Me Tây me Mỹ lòe loẹt ỏng ẹo thoa son “đỏ chí”, tuớng đi như “rồng lộn”.
Thấy mấy thầy đội thầy cai hách dịch thì gọi là thầy “cai nặc”, thầy “đội dù”, Ông “ách đăng”
Nguời trai hào phóng thì gọi là “hào hoa phong nhỉ“(phong là gió, nhỉ là tai. Gió tai nói lái nghe không thanh).
Gái xí xọn mắt “mơ huyền”, miệng cuời như “sen nở“, mủi “minh thối”, răng “tu nguyệt”, chưn “cảo bình“. Sen nở phát âm tiếng Pháp “chien”, nở như “đẻ“ tức là “chó đẻ“. Mủi minh như “mẩn” thối nhu “lui” tức là “mủi lân” Răng tu nguyệt, tu là “râu” nguyệt là “trăng” tức là “răng trâu” Chưn cảo bình, cảo là “Cỏ“ bình là “Bằng” tức là chưn như “cẳng bò”
Nói lái bàng bạc trong ca dao tục ngữ, ngạn ngữ, thi ca, chuyện tiếu lâm, pha trộn đủ mọi thứ tiếng.
Tiếp theo đoạn trên, còn vài thí dụ như:
- Đốt rẩy bay tàn (bàn tay)
- Le le mất mẹ le le kiếm (liếm ke)
- Chim vàng lông đậu trên “vồng lang”
- Con cá đối nằm trên “cối đá”
- Cá khoai, khoái ca
- Cá kho, khó ca
- Cá kèo, kéo cà
- Cá reo, kéo ra
- Cá chim, kiếm cha
- Cá mè, mé cà
- Bầu đa, ba đầu
- Hiện đại, hại điện
- Đơn giản, đang giởn
- Bùi Lan, bàn lui
- Đèo Ngang, đang nghèo
- Thời trang, than trời
- Thiện tai, tại thiên
- Bầu trông, bông trầu
- Đầu năm, nằm đâu
- Đầy năm, nằm đây
- Năm đó, nó đâm
- Dô ta, Da tô
- Cô ta, Ca Tô
- Thầy tu, thù Tây
- Niết bàn, nàng biết
- Cổ dám, cám dổ
- Sông núi, nuôi sống
- Búa đỏ, bó đủa
- Tay thiếc, tiếc thay
- Ba mầy, bầy ma
- Rợp cờ, rờ cọp
- Búa lông, bông lúa
- Rùa đui, ruồi đua
- Rồng đui, ruồi đông
- Đá cầu, đầu cá
- Má cang, mang cá
- Má cắt, mắt cá
- Má kiện, miệng cá
- Trời cho, trò chơi
- Cư sỉ, kỷ sư
- Đội nón, đón nội
- Ông đội ngù
- Bà chủ động
- Anh học neo (Nail) heo nọc
- Chị Hai néo, heo nái
- Bà chà vải, bảy chà và
- Bà xẩm, bầm xả
- Bông đậu, bậu đông
- Bậu chán, bán chậu
- Sắt máu, sáu mắt
- Sặc sáu, sáu mặt
- Mua cá, ca múa
- Xa mợ, sợ ma
- Mấy ngàn, ngán mầy
- Xóa mờ, sờ mó
- Bầy thỏ, bõ thầy
- Trầu cay, cày trâu
- Trầu độc, trọc đầu
- Thiền tích, thích tiền
- Thiên đuờng, thường điên, đương thiềng
- Hiệp ra cổng, hổng ra kịp
- Mê đi vòng, mong đi về
- Câu nói lái, cái nói lâu
- Qua chê, quê cha
- Bông trà, bà trông
- Bông cau (cao), bao công
- Bông cỏ, bõ công
- Bông cúc, bút cong
- Bông điển, biển đông
- Bông héo, beo bóng
- Bông lúa, búa lông
- Cất đồn bên cồn đất
- Đụng bao, đau bụng
- Đại lộ, độ lại
- Cái cổ, cố cải
- Cái đầu, cầu đáy
- Cái mủi, cúi mãi
- Bắt chuột, buột chắc
- Binh đao, bao đinh
- Bàng giao, bao vàng,
- Bông đào, bao đồng,
- Bao nhỏ, bõ nhau
- Tinh xảo, tao xỉn
- Chưa đúng, chúng đưa
- Chưa đủ, chủ đưa
- Ba con mắt, bắt con ma
- Con sóc con cò, con sò con cóc
- Con công con rùa, con cua con rồng
- Đứng trông hoài, đáy trong quần
- Nghìn tay, ngay tình
- Nghìn mặt, ngặt mình
- Nghìn năm, nằm nghinh
- Ngàn năm, nằm ngang
- Cái chung, cúng chai
- Cái chổi, chối cải
- Công khó, có không
- Thân tình, tinh thần
- Ôm tăng, ăn tôm
- Ép tăng, ăn tép
- Yêu tăng, ăn tiêu
- Hai chàng, hàng chai
- Bốn chàng, bán chồn
- Bảy chàng, bàn chải
- Diệu cơ, vợ kêu
- Bao công, bông cau
- Quả gì, quỉ già
- Tiểu lộ, tổ liệu
- Bác hồ, bồ hác (t)
- Chính mi, chí minh
- Công không khó, có không công
- Công thật khó, có thật không
- Nguyễn y vân, vẫn y nguyên
- Có gì đâu, câu gì đó
- Nắm hương tàn, Nàng Hương tắm
- Mời vào trong, mong vào trời
- Kinh trong dầu, cầu trong dinh
- Con cá lóc nuốt con “cóc lá”
- Con rắn trung mổ “trúng răng”
- Chào trò cửu viết thác rằng (thằng rác)
- Chào cô mỹ thiện tốt lành (lái tục)
- Móng chuồng mọc giữa đồng chòi (muốn chồng, đòi chồng) Bỏ một câu
- Trai anh hùng tứ hải đại du (lái tục) Bỏ một vế đối.
- Chèo ghe chóng suối, chuối sống
- Cồn bần, cồn lái, cồn lát (lái tục)
- Lái giỏi (dỏi), lái vọt, lái vui, lái dông (lái tục)
- Bứt cỏ, lặt cỏ (lái tục)
- Mù trời mù đất mù mây (lái hai chữ sau)
- Đói nghèo, nghèo đói (lái tục)
- Bình mực, bực mình
- Sân cụt, sụt cân
- Bánh Mễ, bể mánh
- Nuôi sống, sông núi
- Hại chết, hết chạy
- Chợ búa, chúa bợ
- Chợ Búng, chúng bợ
- Chợ bồng, chồng bợ
- Gió Nồm, dòm nó
- Gió Mùa, múa giò
- Mùi rục, mụt ruồi
- Chúc cậu, chậu cúc
- Bà trình, bình trà
- Bồng binh, bình bông
- Cúng chai, cái chung
- Tốt đôi, tôi đốt
- Chối cải, cái chổi
- Miếng thịt, thích miệng
- Đồ tây, đầy tô
- Tối mặt, mắc tội
- Vu khống (lái tục)
- Giải phóng (lái tục)
- Lính làng, láng lình
- Thủ tuớng, tuởng thú
- Có chức (lái tục)
- Kiêm chức (lái tục)
- Đầu tiên, tiền đâu
- Đại hán, đáng hại
- Sâm củ (lái tục)
- Đụt cá, Đá cục
- Trở về, trễ giờ (vờ)
- Nhiều lắm, nhắm liều
- Tắm lội, tội lắm
- Lo ngay ngáy, ngáy o o
- Mẹ ròng ròng, mộng rè rè
- Cá vô bung, búng vô ca
- Cá đua, cua đá
- Thâm độc, thọc đâm
- Động trời, đời trọng
- Trời Đông, trông đời
- Buột chắc, bắt chuột
- Bắt cò, bò cắc
- Bắt cô nhỏ, bõ “cognac”
- Con gầy, cây gòn
- Con giống má giống ba (giá móng, giá bông)
- Ông hiền tạ tác biệt (hà tiện tiếc bạc)
- Ông Cả là ông cả xủ (củ xả)
- Ông Vua là ông vua cỏ (vỏ cua)
- Ông cố là ông cố ra (cá rô)
- Ông bái vọng (bọng dái)
- Quan ăn mứt co quan ăn mứt kiến (mo cức, miếng cức)
- Cán bộ vửa cộ vừa bán
- Con ngựa rằng, răng ngựa còn
- Ca múa, mua cá
- Thua chiến thiên chúa
- Cái chuộng cái vong, vọng (dọng) cái chuông
- Đi Chùa đâu có đùa chi
- Đùa chơi một chút đời chua
- Băng trống một mình đợi “bóng trăng”
- Bõ đời theo đạo cho “đào đợi”
- Bõ đạo theo đời để “đợi đào”
- Hạ cờ Tây, hạ cầy tơ
- Thợ rèn nuớng sắt (lái tục)
- Thợ đụt đẻo đá (lái tục)
- Thợ cày nắng cực (lái tục)
- Thợ cấy lo mưa dầm (lái tục)
- Thợ cưa cắt cụt (lái tục)
- Tình cháu đạo chú (lái tục)
- Bốn ngù hai néo (heo nái)
- Cá chẳng reo, kéo chẳng ra
- Cục đỏ đỏ bỏ trên giường, cục đường bỏ trên giỏ
- Làm chứng đứng đầu chái, đái đầu chứng
- Mô hình cắc bạc, Minh Hồ bác cặc
- Du kích (lái tục)
- Đặc công, đặc cống, đặc cầu (lái tục)
- Đặc vụ, đặc cách (lái tục)
- Cộng Bắc, Cộng Trung, Cộng Nam toàn giặc Cộng (lái tục)
- Cháy chợ, chớ chạy
- Bỏ về, bể vò
- Hại chết, hết chạy
- Can ông, công an
- Tiết kiệm, kiếm tiệc
- Đại lễ, để lại
- Búng sồng, bồng súng
- Búng suông, buông súng
- Bằng ngón tay ngồi ngay bàn thánh
Tụng kinh rồi búng cánh bay xa (câu đố bánh cúng)
Có khi một cách nói pha tiếng Miên, Chàm, Tàu, Pháp, Nhựt, Anh Mỹ nghe cho lạ mà có ý nghia
- Chặt me đui then (che mặt đen thui)
- Xí xí bù than (chết chết không than)
- Ngầu lôi tăng kể (ngồi lâu tê cẳng)
- Con mèo cái nằm trên mái kèo
- Con rắn hổ nằm trong rổ hắn
- Bỏ nhau vì cái bao nhỏ
- Bàng giao một bao vàng
- Trên trời té xuống mau co (mo cau)
- Sào dài chóng suối (chuối sống)
- Sào ngắn chóng khe (ché không)
- Bữa com bữa nước (bước nữa)
- Ba ba nồi ba, cửu cửu thành tam chưng chín
- Tám giờ xe lửa huýt (huit)
- Hai cẳng duỗi ngay đơ (deux)
- Chuồng gà kê áp chuồng vịt (kê là gà, áp là vịt)
- Trâu khát bò xuống uống
Cá trê lóc lên bờ (Chữ bò và chữ lóc là tiếng động từ)
- Con chuột ra bóp con bò (Rat là chuột, boeuf là bò)
- Ba ba đã chín (3x3=9)
- Cát cát đầy xe (4x4=16 hay quatre x quatre =seize)
- Trai anh hùng “đối gái” thuyền quyên (đối gái lái là đái gối)
- Phú Điền có chị Tám Hai
Thuyền quyên hò mí “đối trai” anh hùng (đối trai lái là đái trôi). Phú Điền là địa danh ở Cù Lao Minh Bếntre. Chị Tám Hai là nguời con thứ tám tên là Hai. Hò mí hay hò mép là hò ứng khẩu nóí dòng do để xuống câu cho ăn vận và đối đúng đối tuợng ẩn dụ của mình. Đó là điệu hò đặc biệt tại Bếntre.
Có những câu đối phải đoán mò mới ra nghĩa như:
“Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi”
phải đáp là “bò”, đi không được thì phải “bò”.
Có câu đố:
“Le le, vịt nước, bồng bồng
Con cua, con rạm, con còng mấy chưn?”
phải đáp là 6 chưn vì cua, rạm, còng chỉ có càng và ngoe không kể là chưn.
“Chim đại Bàng bay ngang chợ Đệm
Thức Lưu Bị bàn chuyện Chiêm Bao”
(Nói về bàng, đệm, bị, bao)
“Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc
Cá bã trầu lội tuốt mươn cau”
(Nói về vôi, thuốc, trầu, cau)
“Nước chanh giấy rưới vào mắm mực
Rau mủi viết trộn lẫn giấm son
Bốn mùi hợp lại càng ngon
Như qua đây gần bậu, chẳng còn lo chi”
(Tả giấy, mực, viết, son)
Một me Tây đi Chợ Bến Thành nhắc khéo ông chồng là “très chaud”, ông nầy ngạc nhiên vì Chợ Tết mà tại sao bà xã kêu nóng được? Về nhà mới mới hiểu ra “très chaud” đọc lái là Trôp chère”, mắc quá chời!
Các nhà chiêm tinh và lý số Triều Nguyễn hay coi chỉ tay cho các Vua bàn về các đường chỉ Tâm đạo, Mạng đạo, Trí đạo, Long đạo. Nhưng vào cuối Triều Nguyễn có nhiều vị Vua xuất bôn hay bị lưu đày cực khổ. Đuợc hỏi tại sao thì các nhà chiêm tinh trả lời: Đường “Long Đạo” nơi chỉ tay, theo họ không phải đường làm Vua mà nói lá Long Đạo là “Lao Động”! Vì khi xuất bôn ra nước ngoài thì phải lao động mới sống chứ!
Bàn về việc cải tổ ở Việt Nam Cộng Sản, lúc nào cũng có ông “Vũ Như Cẩn” và bà “An Như Chi” tham chánh. Tức nói lái thành “Vẫn như cũ và Y như chang”!
Về địa danh thì không biết bao nhiêu mà kể:
- Đi lên Bắc Kạn còn gì bán?
Về lại Bắc Ninh cũng cố binh.
- Ra Thủ Đức năm năm thức đủ
Về Giồng Trôm tháng tháng giòm trông
- Bê tha vào chốn Núi Ba Thê
- Cơ thần cậy có đất Cần Thơ
- Hốc Môn vừa hôn vừa móc
- Gò Công vừa gồng vừa co.
- Chợ Thủ, chủ thợ
- Thủ Ngữ, thử ngủ
- Củ Chi chỉ cu
- Cần Giuộc, giuộc cần
- Chợ Búng, chúng bợ
- Hạ Long, họng la
- Kiến Phong, Cống Phiên.
- Sông Đuống, xuống đông
- Hai đứa yêu nhau, mừng cho nó (mò cho nứng)
- Yêu nhau như thế, phụ cho đành (lái tục)
- Chợ Đào, đạo chờ
- Bùi Chu, bu chùi
- Cù Lao Dê, về lau cu
- Cù Lao Dung, dùng lau cu
- Bến Hải, bãi hến.
Hai cô gái chèo đò miệt Hậu Giang, bổng phía sau có hai chàng trai chèo nhanh đuổi theo. Một chàng bèn gióng tiếng hỏi:”Cô ơi, tôi từ Định Quán về Định Yên qua Định Thủy tìm Định Khú muốn hỏi thăm “Định Mù” ở đâu? Một cô bèn phản pháo:” Anh “né mặt” của Anh là thấy liền”. Hai anh chàng ba lăm biết gặp tay dữ, bèn chèo thẳng một mạch không dám quay nhìn lại.
Trong thi văn, càng không bao giờ kể hết các bài bài thơ hay các về nói lái, tục lẫn thanh.
- Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo
Chày kình tiểu để suông không đấm
Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo

- Khen ai đẻo đá tạc nên mầy
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây
Trên cổ đếm đeo dăm chuổi hạt
Dưới chơn đứng chéo một đôi giày.

- Hồ tù ngán nỗi con rồng lộn
Ngọc vết thương tình kẻ cố đeo
(Tú Mỡ trêu cô Hồ Ngọc)
- Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo
- Tán vàng lọng đá, che đầu nhau đở khi nắng cực
Thuyền rồng mui vẽ, vén buồm lên rồi sẽ lộn lèo

Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm (1875) tại Hưng Yên nổi tiếng bài Thơ Đuờng Yên Thế tự thuật nói lái hai chữ các câu sau đây:

Thiên lý du du nhứt lộ kỳ
Kỵ lồ tương cố một tương tùy
Tuy tường thiên nhận, do ngu nạn
Nan ngụ cô son, tác trụ trì
Trị trù nguyện học Y tiên giác
Dang tiết nan phù Hán cố ky
Ký cô lạc ngã canh sừ hạ
Hà sự yêm yêm tác tríu my

Một bản khác chép:

Hà sự phân vân thuyết lộ ky
Kỵ lô tương cố một tương tùy
Tuy tường thiên nhận, do ngu nạn
Nan ngụ cô son tác trụ trì
Trị trù thả học Y tiên giác
Dang tiết nan phù Hán cố ky
Ký cô thác tích canh sừ hạ
Hà sự phân vân thuyết lộ ky..

Và có lẻ bài Đuờng Luật thủ vỹ ngâm mà lái rất ý vị sau đây đã được truyền tụng hơn nửa thế kỷ qua, tôi xin sao chép lại:

Chính Mi bán nuớc CHÍ MINH ôi
Chủ Tịch mà đi CHỊCH TỦ nguời
Thi Đua sao khiến THUA ĐI mãi
Kháng Chiến nhàm tai KHIẾN CHÁN thôi
Đô Thành đồng khởi trò KHƠI ĐỔNG
Chiến Khu thu lúa CHÚ KHIÊNG rồi
Tổ Quốc lộn đầu là TẤT KHỔ
Chính Mi bán nuớc CHÍ MINH ôi!
____________
(Câu thứ 7 có nơi chép:
Tổ Cuốc lộn đầu là CHUỐC KHỔ)

Giai thoại một nguời tự xưng tài giỏi về chữ nghĩa văn chương tự dán tấm biển trước cửa ghi “Thiên hạ nghi nhứt tự lai vấn” (Có nghĩa là trong thiên hạ, ai không biết chữ gì thì đến hỏi). Có một chú tiểu đến hỏi một câu:”Thượng Bất Khả Thượng, Hạ Bất Khả Hạ, Chi Nghi tại Hạ Bất Khả tại Thượng” (Trên không trên, dưới không dưới; chi nghi ở dưới không phải ở trên). Nhà tự hào kia không đáp được lấy làm hổ thẹn. Cậu bé giải thích:
Trong chữ Thượng, Bất, Khả (chữ nhứt nằm trên)
Trong chữ Hạ, Chi, Nghi (chữ nhứt nằm duới).

Giai thoại vào thời Tam Kỳ (Bắc Kỳ là xứ Bảo Hộ, Trung Kỳ Tự Trị với Tòa Khâm Sứ Pháp bên cạnh Triều Đinh và Nam Kỳ là xứ Thuộc Địa) Một vị quan vong bản nịnh bợ nguời Pháp ra câu đố có ý phế bỏ “vương quyền” Triều Nguyễn thì quốc gia sẽ được an định:
“Rút ruột vương Tam kỳ phân định”
(Chữ Vuong chiết tự có ba vạch song song và một sổ ở giữa. Nếu bỏ sọc sổ tức là rút ruột thì còn lại là chữ Tam, có nghỉa là Tam Kỳ Bắc Trung Nam)
Một vị quan Nam Triều đối lại:
“Chặt đầu Tây Tứ hải bình an”
(Chữ Tây chiết tự gồm chữ Tứ và phần trên. Nếu bỏ phần trên tức chặt đầu chữ Tây thì còn lại là chữ Tứ)
(Câu đối có ý nghia là “chặt đầu Tây) thì bốn phương thái bình)
Thật là nghệ thuật chơi chữ rất thạnh hành và ý nghĩa trong lối nói lái vòng vo vậy.
Nói lái, tùy cơ ứng biến, một pho tàng văn chương bình dân bất tận!
Thủy-Chung
(Một Bút hiệu khác của Hoàng Châu)





User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Dec 22 2018, 04:02 AM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



Bài Viết Khác của HOÀNG CHÂU- CHÂU VĂN ĐỄ- NHỰT KHUÊ

++++++++








Lễ Xây Chầu


Tôi viết lại bài nầy theo tài liệu của Đốc Sự Châu Ngọc Thôi, Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa VNCH, theo Chánh Trí Mai Thọ Truyền, theo Đốc Sự Đỗ Văn Rỡ, Trưởng Ban Quý Tế Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (Lăng Ông Bà Chiểu) theo nhà văn Sơn Nam và nguồn “Wikipedia”cùng những phim ghi lại các lễ Xây Chầu tại Miền Nam Việt Nam.
Tôi giữ nguyên văn những lời chú nguyện theo âm điệu cổ truyền, chỉ mạn phép thêm vài chi tiết cho phù hợp với thân trạng hoàn cảnh của người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại.

Đốc sự Châu Văn Đễ
Chủ Tịch
Hội Lăng Ông Bà Chiểu Association
(Sao lục nhơn Lễ Vía Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt ngày 10 tháng 9 năm 2017 tại Hội Trường Việt Báo, thành phố Westminster, California)

Niệm Hương trước Bàn Thờ Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt:

(Tay cầm 3 cây nhang xá 3 xá)
Nguyện:
Tạ Thiên tạ Địa
Tạ tối cao lãnh đạo Tổng Thống Donald Trup, đời thứ 45 Hoa Kỳ
Tạ Linh Thần thành phố Westminster, California
Phục duy:
Huyền hư hữu tượng
Cảm dĩ tại thông
Cẩn chú thanh hương
Kiền thiền bái khải
Nhứt niệm Đạo hương: Thượng thấu Thiên quang
Nguyện vĩnh bảo san hà xã tắc
Nhì niệm Đức hương: Trung đạt Địa quang
Nguyện quốc thới dân an vật phụ
Tam nguyện Thanh Tịnh hương: Hạ triệt Thủy quang
Nguyện tứ hải phong hòa võ thuận
Tứ thời diệu võ
Lệ đáo Kỳ Yên
Ca xướng nhứt diên
Chấp lệnh giả… (xưng tên họ; Châu Văn Đễ)
Nhập đàn khởi cổ
Nguyện tứ trinh tường
Cung vọng:
Tôn Thần vi linh
Phù thùy chứng lễ
Nhứt bái: Nguyện thiên cao ấn giám (1 lạy)
Nhì bái: Cầu địa hậu minh tường (1 lạy)
Tam bái: Vọng Tiên Thánh chiêu dương (1 lạy)
Tứ bái: Thỉnh Linh Thần hân cảm (1 lạy)
(Xá, đi ra bàn Tổ Xây Chầu đặt trước sân khấu)

Niệm Hương trước Bàn Thờ Xây Chầu:

Phục duy: Thánh Thần chi đạo
Cảm dĩ tại thông
Cẩn chú thanh hương
Kiền thiền kính khải (xá)
Nhơn tư diệu võ
Lệ đáo Kỳ Yên
Ca xướng nhứt diên
Chấp lệnh giả đệ tử … (Tên họ: Châu Văn Đễ)
Nhập đàn khởi cổ
Nguyện tứ thông linh
Cung vọng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt
Minh minh chứng thị:
Nhứt bái Thiên (1 lạy)
Nhị bái Địa (1 lạy)
Tam bái Đức Tả Quân (1 lạy)

Tẩy Uế:

(1 chén nước 3 cái bông, 3 cây nhang. Cầm chén nước có bông và 3 cây nhang quay về hướng Bắc đọc chú)
Thiên nhứt sanh thủy
Địa lục thành chi
Nhứt lục ký lịnh
Ngủ hành nại ky
Thần thủy sái động
Uế trục trần phi
(Quay qua hướng Đông hớp sanh khí thổi nhang vào trong chén nước và nguyện:
CÀN--NGƯƠN--HANH--LỢI—TRINH
Lấy bông quậy vô nước rồi rải lên dùi trống, lên sân khầu, lên bên cái trống)

Lên Sân Khấu:

Đứng trước trống chầu, vừa đi chung quanh vừa khấn:
Luân hoàn động chuyển, định âm dương
Tứ trụ Thiên Thần trấn tứ phương
Đệ tử nhập đàn cầu khởi cổ
Trùng hưng xã tắc thọ miên trường
(mở khăn đỏ để trên mặt trống, lau mặt trồng và dùi trống)

Khởi Cổ:

Đọc chú lau mặt trống:
Nhứt tẩy cổ diện, tịnh trừ cấu uế
Nhì tẩy cổ diện, diện sắc quang minh
Tam tẩy cổ diện, diện xuất lôi âm
Chú khai cổ:
Đọc chú và viết chữ LÔI
Thượng thân nhứt túc
Âm tợ Lôi sanh
Biến cổ chấn thanh
Thông thiên triệt hạ
Tà ma quỉ mị
Viễn ẩn thâm kinh
Hoặc cầm dùi trống vẽ trên không chữ Thạnh, thụt lùi 3 bước, chưn bấm vẽ chữ Sát để trừ ác quỉ. Bước lên vẽ trên mặt trống Tứ Tung Ngủ Hoành (Vẽ liên tục)
Chú điểm dăm: (Nhắm hướng đại lợi, miệng đọc chú, tay nhịp dăm trống)
Nhứt trịch chư Thiên giáng phước
Nhì trịch chư Địa phi tai
Tam trịch chư Thần lai chứng
Chú điểm dùi trống:
Nhứt khắc mộc, mộc phát sum lâm
Nhì khắc mộc, mộc quái bất sanh
Tam khắc mộc, mộc danh bất trụ
Chú điểm mặt trống: (Ba điểm tam giác trên mặt trống)
Nhứt điểm, nguyện tối cao lãnh đạo, Tổng Thống Donald Trump, đời thứ 45 Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ
Vượng bá hà xương
Vạn thọ trinh tường
Thiên niên đức hóa (Nhịp 3 nhịp)
Nhì điểm, nguyện tứ phương ninh tịnh
Hải yến hà thanh
Văn võ công khanh
Linh qui hạt toán (Nhịp 3 nhịp)
Tam điểm, nguyện quốc phú binh cường
Văn tu võ tiến
Quốc gia lạc kiểng
Điền uyển phong đăng
Nhơn khương vật phụ
Túc thực mãn y
Sĩ nông vinh vi
Công thương hưng phát
Ngư lâm thạnh đạt
Bá tánh đắc thường (nhịp 3 nhịp)
Chú điểm nhựt nguyệt: (nhịp giữa mặt trồng)
Phụng thỉnh:
Dần Thân Tỵ Hợi luân tứ trụ
Tứ thánh, cùng Thần cổ linh linh
Lai giáng bổn đàn
Minh minh chứng chiếu (Nhịp 3 chập, mổi chập 2 nhịp)
Chú Khởi cổ: (Đọc chú, đánh 3 dùi mạnh, 3 chập, tay chấp âm dương, hai tay cầm dùi)
Nhứt kích cổ (3 dùi đều) Thiên thời đại thạnh
Nhì kích cổ (3 dùi đều) Địa lợi trường tồn
Tam kích cổ (3 dùi đều) Nhơn hòa vĩnh phúc
Chú đả liên thanh (đánh ba hồi trước nhẹ sau mạnh và vuốt gọi là tiền bần hậu phú)
Nhứt liên thấu triệt Thiên đình (30 dùi chậm, thúc mạnh, vuốt gọi là Tam tài)
Nhì liên thông toàn Trung giới (40 dùi chậm, thúc mạnh, vuốt gọi là Tứ quí)
Tam liên đáo tận Long cung (50 dùi chậm, thúc mạnh, vuốt gọi là Ngủ phúc)
Chú lại dùi:
Nhứt thông (1 dùi mạnh) Thiên hạ thái bình
Nhì thông (1 dùi mạnh) Thành phồ Westminster, California đắc an ninh
Tam thông (1 dùi thật mạnh) bổn ban Câu Lạc Bộ Hát Bội đồng hòa tấu cửu liên để nghinh Thần tiếp giá
Nghinh Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt:
(Hai tay chấp âm dương, đánh 3 dùi đều 3 chập. Nhạc tế lễ trổi 3 hồi 9 chập nghinh tiếp. Chấp sự đứng ngay thẳng, 2 bàn tay nâng dùi trống ngang ngực, ngó ngay bàn Đức Tả Quân mặc niệm).
Theo một tài liệu khác, cũng viết tương tợ: Nhứt kích cổ, đánh nhẹ ở điểm tâm linh số 1 ba tiếng trống đọc lời nguyện “Sơn hà xã tắc thiên hạ thái bình, hoặc Quốc thới dân an”
Nhị kích cổ, đánh nhẹ ở điểm số 2 đọc lời nguyện “Phong hòa võ thuận, Bá tánh lạc nghiệp”
Tam kích cổ đánh nhẹ ở điểm thứ 3 đọc lời nguyện “Lê thứ thái bình
Ba hồi trống kế tiếp là “Điểm cổ” đánh nhẹ cái hình Thái cực vẽ trên mặt trống
Nhứt điểm cổ: đánh nhẹ 3 tiếng, xướng Trừ Càn Khảm (trừ sự bại sự hư)
Nhị điểm cổ: đánh nhẹ 3 tiếng, xướng Lập Trung Cấn Chấn (cô lập sự khóc lóc, sự chết, quỉ ma)
Tam điểm cổ: đánh nhẹ 3 tiếng, xướng Tốn, Ly, Khôn, Đoài (cầu lộc, phúc đức)
Sau đó là 3 hồi trống đánh mạnh, trước ít sau nhiều, tiền bần hậu phú. Theo cổ lệ, phần nầy phải đánh cả thảy 3 hồi là 300 dùi (80-100-120) sau giảm bớt, nay chỉ còn 120 (20-40-60) dùi vì người đánh trống chầu già yếu, không đủ sức….

Xướng Chúc:

Dạ dạ…Tiền khởi mãn hậu khởi sung
Kính chúc hòa hiệp thủy chung
Đồng hưng hỉ lạc
Câu Lạc Bộ Hát Bội thạnh đạt
Diễn viên nam nữ
Thanh sắc lưỡng toàn
Khởi cổ khai tràng
Để cống hiến Linh Thần và quý khách

Khai Tràng:

Đánh 9 tiếng 2 chập đều và lơi. Chập thứ ba 2 nhặt 1 khoan.
Trống chiến hát bội bắt mỗi chập và trống khai tràng
Xướng: Đuôi trống chầu là đầu trống chiến
Thùng ! Thùng ! Thùng ! …. Rụp
Thùng ! Thùng ! Thùng ! ..... Rụp…Rụp
Thùng ! Thùng ! Thùng ! …. Rụp…Rụp…Rụp
(Nhạc khai tràng)
Hạ giá: Khiêng trống xuống để phía bên mặt, ngó lên sân khấu

Hồi Chầu:

(Sau khi nghệ sĩ hạ vãn, chấp sự đứng ngó ngay lên bàn thờ Đức Tả Quân cầm dùi trống bợ hai đầu để ngang ngực)
Xướng:
Đắc thành chí nguyện
Thượng thấu Hoàng Thiên
Ca xướng nhứt diên
Hồi chầu viên mãn
(Đứng quay lại đánh 12 tiếng đều: 3X4=12 và thúc vuốt, không lại dùi, quăng dùi trống lên sân khấu, có người lượm trao lại…)

Hát Xây Chầu:

Mở đầu thường xuất hiện Ông Bàn Cổ, tục truyền sống tới cả ngàn năm ra múa nghinh thần, tay cầm nắm nhang gọi là “Điểm Hương”.
Kế đến là Xang Nhựt Nguyệt âm dương một nam một nữ y phục sặc sỡ tay cầm cái chén bịt khăn đỏ tượng trưng cho mặt trời (dương) và người cầm cái chén bịt khăn màu trắng tượng trưng cho mặt trăng (âm).Thỉnh thoảng họ âu yếm ôm nhau tượng trưng cho âm dương hòa hợp.
Người nam hát:
Thiên khai nhựt ảnh chiếu huy hoàng
Địa tịch hành phong võ lộ đoan
Hổn độn sơ khai chơn khí tượng
Càn khôn giao thới thế gian quang
Người nữ hát:
Nguyệt phách tinh quang thông thế giới
Âm dương tương khắc thị bình bang
Nam Bắc tương phân chơn bách lý
Đông Tây phối hiệp tứ thập giang
Lễ Tam Tài, Tam Tinh Thiên Địa Nhân hay gọi là Phước Lộc Thọ. Ông Phước bận áo xanh râu dài bồng đứa bé. Ông Lộc bận áo quan, tay bưng quả tươi. Ông Thọ còng lưng chống gậy. Phước Lộc Thọ còn gọi là “Ba Ông Hiền”.
“Vững tựa Nam San Phước Lộc Thọ
Nhơn gian vĩnh phước tăng huê xứ
Thế thượng thùy nhơn chiếu mãn đường”
Kế đến là Ngủ Hành “thài” rất đẹp mắt. Đó là 4 đào đẹp đẽ cầm quạt phe phẩy mặc sắc phục rực rỡ 4 màu khác nhau tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy Hỏa, hay Xuân Hạ Thu Đông. Và một người nam sắc phục màu vàng là Thổ tức là Đất nuôi dưởng muôn loài) hay còn gọi là “Đứng Cái”. Thài là vừa hát vừa múa theo điệu bình dân chúc phúc cho bá tánh như nhịp điệu ngủ hành xung khắc mà hóa sanh muôn vật. Màn nầy còn gọi là “Một ông bốn bà” ý nói lên phong tục đa thê nhiều con nhiều vợ. Thài có những câu rất hay như:
“Âu vàng vững đạt báu ngôi
Trên Vua khai rạng dưới tôi trung thần”
…”Làu làu tiết chói Nghiêu thiên
Hây hây Thuấn nhựt, Vua Lê trị đời”
(Vua Lê đây là nhà Hậu Lê, khi Chúa Nguyễn vào Nam mở nước).
Có khi có màn trình diễn Tứ Thiên Vương bắt nguồn từ Ấn Độ. Bốn vị nầy tượng trưng cho mưa gió sấm sét, họ hòa hợp nhau tạo mưa thuận gió hòa. Khi múa xong họ trưng ra những biểu hiệu như “Thiên hạ thái bình”, “Quốc thái dân an” để dâng lên cho ban tổ chức. Đó là 4 người nam mặt trắng, đầu đội kim khôi, chưn đi hia, lưng mang cờ lịnh cùng múa và hát:
Đông Phương giáp ất Mộc
Thiên Vương Mã Lê Thanh
Tây Phương canh tân Kim
Thiên Vương Mã Lê Bạch
Nam Phương bính đinh Hỏa
Thiên Vương Mã Lê Hồng
Bắc Phương nhâm quý Thủy
Thiên Vương Mã Lê Thọ
Theo nhà văn Sơn Nam, khi Đức Phật chào đời, chín con rồng hiện ra phun nước tắm Ngài và bốn vị Thiên Vương Ma Lễ Hải làm mưa, Ma Lễ Thanh thổi sáo gọi gió, Ma Lễ Thọ gìn giữ mưa điều hòa và Ma Lễ Hồng dùng cây đàn Ấn Độ điều tiết cho gió vừa phải.
Cũng có màn Bát Tiên múa chúc thánh thần và dâng lễ dân làng. Cũng có màn “Gia quan tấn tước”, một nghệ nhơn mang mặt nạ “Ông Địa” xuất hiện múa vui.
Sau cùng là các màn Hát Bội như Thần Nữ dâng Ngủ Linh Kỳ, Bao Công Xử Án Quách Hòe, Ngủ Long Công Chúa, Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Tôn Vương Đường Lý Đáng… và đặc biệt Tuồng San Hậu. Các tuồng tích Hát Bội của Đào Tấn vào thời Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt làm Tổng Trấn Gia Định Thành đã cho trình diễn và hiệu đính rất nhiều. Nhứt là Tuồng San Hậu hay Sơn Hậu là “Sau Núi” tương truyền là của Đức Tả Quân biên soạn. Tuồng San Hậu là “Tuồng Thầy”, thường diễn với 3 cảnh: “Phàn Viên Ngoại tống cung ái nữ, Tạ Thiên Lăng soán nghiệp Tề Vương”; “Giận Tạ tặc, Phàn Công chém sứ, lạc Kim Lân, Bà Thứ lìa con”; “Tạ Nguyệt Kiểu xuống tóc xuất gia, Tề Đông Cung đuổi tà phục nghiệp”. Tuồng San Hậu nói lên gương trung liệt vì nước vì dân quyết khuông phò xã tắc. Có nơi mở đầu bằng Tề Thiên Đại Thánh hay Na Tra là những nhơn vật quyền phép có tài đằng vân giá võ, lên xuống trời đất như không.

Văn hóa “Đàng Trong” còn giữ được đến ngày nay là do Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt hoằng hóa và bảo tồn. Đức Tả Quân sanh năm 1863 tại Trà Lọt làng Long Hưng Tỉnh Định Tường Mỹ Tho và tạ thế ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn 1832, thọ 69 tuổi./.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 24th August 2019 - 02:29 AM