IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> Chuyện Đó Đây (Tập Thứ)
BenTreHome
post Mar 9 2016, 03:33 AM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,938
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





SƯU TẦM: Từ FB Lăng Anh

Nguy cơ chiến tranh Việt Trung và chiến lược pḥng vệ của Việt Nam (P1)

8-8-2015

Series này sẽ có ít nhất 8 phần, do tính dài kỳ của nó nên anh Lăng không dự kiến thời gian kết thúc. Nó có thể được bổ sung trong tương lai khi xuất hiện thêm các nhân tố mới trong cục diện Châu Á – Thái B́nh Dương. Tác giả giữ bản quyền về các bài viết này, mọi hành động sao chép và phổ biến v́ mục đích phi lợi nhuận đều được cho phép với điều kiện trích dẫn nguồn và link tới bài viết gốc.

Phần 1 – Đi t́m nguyên nhân từ nguồn gốc lịch sử

Ngày 05/09/2008, mạng Sina.com, một website trong lănh thổ Trung Hoa, loan tải một bản kế hoạch mang tên: “Kế hoạch A – càn quét Việt Nam trong 31 ngày”. Bản kế hoạch này nhanh chóng được hàng loạt các trang web Trung Quốc đăng tải lại gồm cả tờ South China Morning Post và trở thành một trong những chủ đề gây xôn xao dư luận trong một thời gian dài. Kế hoạch A, không nổi tiếng v́ các kiến giải chiến dịch, chiến lược quân sự thâm sâu, nhưng lại khét tiếng v́ tham vọng mà nó đặt ra: Đánh chiếm toàn bộ Việt Nam trong 31 ngày, điều mà 15 cuộc xâm lăng của các triều đại Trung Quốc trong suốt nhiều thế kỷ chưa bao giờ làm được, hoặc ngay cả các đạo quân hùng mạnh nhất thế kỷ 20, gồm lực lượng viễn chinh của Pháp, liên quân Hoa Kỳ và cả đạo quân 600 ngh́n người của Đặng Tiểu B́nh năm 1979 chưa bao giờ dám mơ tưởng tới. Xét về mặt quân sự, đây là một kế hoạch có tính ảo tưởng, nhưng nó phản ánh một xu hướng và khao khát bắt rễ thâm sâu trong chính quyền và xă hội Trung Hoa: Tham vọng nuốt sống Việt Nam và kế đó là các quốc gia Đông Nam Á lân cận. Không có ǵ ngạc nhiên, nếu trong một bối cảnh ảo tưởng đẹp đẽ của giấc mộng Trung Hoa, nếu kế hoạch A thành công, chắc chắn sẽ có các kế hoạch B,C,D … với mục tiêu là Lào, Campuchia, Thái Lan, Mă lai … và rộng hơn là toàn khu vực.

Tháng 8/2011, trang China News liệt kê về 6 cuộc chiến tranh Trung Quốc sẽ phát động trong 50 năm tới. Bao gồm cuộc chiến thống nhất Đài Loan (2020 – 2025); Cuộc chiến thu hồi các đảo tại Biển Đông (2025 – 2030); Cuộc chiến thu hồi Nam Tây Tạng, đánh bại Ấn Độ (2035 – 2040); Cuộc chiến thu hồi quần đảo Điếu Ngư (sekaku) và quần đảo Lưu Cầu (Okinawa), đánh bại Nhật Bản (2040 – 2045); Cuộc chiến thống nhất Ngoại Mông, xâm lược và xóa tên Cộng ḥa nhân dân Mông Cổ (2045 – 2050); Cuộc chiến thu hồi vùng Viễn Đông, đánh bại nước Nga (2055 – 2060). Bản kế hoạch này gây một tiếng vang c̣n lớn hơn kế hoạch A v́ tham vọng không tưởng của nó. Theo đó tất cả các quốc gia láng giềng hiện hữu của Trung Quốc đều sẽ nằm trong phạm vi mục tiêu của một cuộc chiến trong tương lai mà Trung Quốc sẽ đánh bại tất cả.

Một cuộc trưng cầu trên trang báo mạng Hoàn Cầu, một trang tin trực thuộc Nhân Dân Nhật Báo, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng (Không dùng từ này) Trung Quốc năm 2008 cho thấy có 80% người sử dụng mạng Trung Quốc ủng hộ “hành động quân sự cứng rắn” với Việt Nam.

Điều ǵ đang diễn ra trong ḷng xă hội Trung Hoa, v́ đâu mà cái ư tưởng gây chiến và xâm lược các nước khác lại có sức sống kinh khủng đến thế trong suy nghĩ của người dân và chính quyền đang cai trị đất nước này???

Bản đồ xâm lăng của đế chế Trung Hoa (Phần màu đen là một phần lănh thổ gốc của Trung Quốc trong lịch sử)


H1Ảnh: internet

Trong lịch sử, lănh thổ Trung Quốc (phần màu đen trên bản đồ) chỉ là một phần nhỏ so với Trung Hoa hiện đại. Vùng đất phát tích của Trung Quốc là vùng Hà Nam (H́nh tam giác nhỏ màu đỏ trên bản đồ). Rất khó để phân tích rạch ṛi về chủng tộc gốc của người Trung Quốc. Nhiều nghiên cứu nhân chủng học kết luận sắc dân Hoa Hạ (hay Hán Tộc – khái niệm có từ thời nhà Hán), là kết quả hỗn huyết từ các cuộc xâm lăng của người Mông Cổ phía bắc, ḥa huyết với các sắc dân bản địa và h́nh thành chủng tộc Mongoloid. Sự lai giống trong quá tŕnh xâm lăng diễn ra liên tục, cuối cùng h́nh thành một chủng người được gọi là Hoa Hạ, và được người Trung Quốc ngày nay thừa nhận là chủng tộc chính thống của Trung Quốc hiện đại. Có thể nói lịch sử h́nh thành của người Trung Quốc “chính thống” là kết quả của các cuộc xâm lăng, và được viết tiếp cũng bằng các cuộc xâm lăng. Người Trung Quốc liên tục bành trướng ra bốn phía, lần lượt sát nhập Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông và phần đất thuộc về Bách Việt. Luôn có ưu thế về số đông so với các dân tộc giáp giới, người Hoa Hạ luôn có cảm giác về một sự ưu việt, giống như quan điểm của Hitler sau này về một giống dân siêu đẳng so với các dân tộc xung quanh. Quan điểm này là một quan điểm bén rễ đến tận xương tủy trong suy nghĩ của người Trung Quốc suốt chiều dài lịch sử. Tuy nhiên, cũng chính v́ thế mà nhiều lần dân Hoa Hạ cảm thấy bị sỉ nhục chua cay. Lần đầu tiên là khi các đạo quân của Thành Cát Tư Hăn tràn ngập Trung Hoa và dựng lên nhà Nguyên, cai trị Trung Quốc từ năm 1271 – 1368. Lần thứ hai là dưới triều đại Măn Thanh, một dân tộc du mục thiểu số phương Bắc, xâm lược toàn bộ Trung Hoa và duy tŕ cai trị trong 268 năm, từ 1644 – 1912. Cho đến nay, đây vẫn là những thời kỳ lịch sử được coi là sỉ nhục của người Hoa Hạ hay Hán tộc, được coi là thời kỳ mà người Hán phải nhận giặc làm cha. Chính điều đó h́nh thành nên những hiện tượng tâm lư phức tạp của người Trung Quốc hiện đại. Một mặt họ vẫn tự coi là một giống dân siêu đẳng, luôn có cảm giác ưu việt v́ lợi thế số đông. Mặt khác cũng cái số đông ấy luôn mặc cảm tự ti, dù chôn sâu trong ḷng, v́ số đông vượt trội ấy vẫn phải khuất phục nhiều lần trước các sắc dân thiểu số và phải chấp nhận hai triều đại cai trị “Nhận giặc làm cha” như những triều đại chính thức trong lịch sử Trung Quốc. Mặc cảm đan xen giữa kiêu ngạo và tự ti ấy được tô đậm thêm với thời kỳ chiến tranh Nha phiến và cuối triều Thanh, khi các cường quốc phương Tây kéo nhau vào đặt tô giới trong lănh thổ Trung Quốc, và được nhấn đậm bằng cuộc xâm lăng của người Nhật Bản từ năm 1937 – 1945. Một lần nữa, người Hoa Hạ bị khuất phục bởi một dân tộc ít người hơn rất nhiều lần. Chỉ nhờ vào cơ may lịch sử khi Nhật Bản bị liên quân Hoa Kỳ và Liên Xô đánh bại mà Trung Quốc giành lại được độc lập. Chính quá tŕnh lịch sử h́nh thành phức tạp ấy đă tạo ra người Trung Quốc hiện đại ngày nay, họ luôn có khao khát dựa vào số đông để chứng minh tính ưu việt siêu đẳng của ḿnh bằng cách tiếp tục xâm lấn các vùng lănh thổ xung quanh. Khao khát chứng tỏ sức mạnh cơ bắp ấy được làm mạnh thêm bởi nỗi tự ti dai dẳng h́nh thành từ nỗi nhục nhiều lần phải “nhận giặc làm cha” trong lịch sử. Kết quả là cái máu xâm lược trong người Trung Quốc luôn vượt trội so với khao khát chung sống ḥa b́nh, mạnh hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới ngày nay. Mỗi khi có điều kiện mạnh lên, điều người Trung Quốc nghĩ tới đầu tiên là phải thể hiện đẳng cấp ưu việt số đông của ḿnh bằng các hành vi xâm lấn. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe hoàn toàn có lư khi phát biểu trước lưỡng viện Hoa Kỳ, rằng người Trung Quốc có máu xâm lược “Thâm căn cố đế”

Từ những dữ liệu lịch sử và những tham vọng hung hăng trong các kế hoạch xâm lược được lan truyền phổ biến trên các website tiếng Trung hiện nay và một tỷ lệ luôn cao hơn 80% số lượng thanh niên Trung Quốc sử dụng mạng ủng hộ các hành vi quân sự chống lại các nước láng giềng, cho thấy đây không phải là những ư tưởng đơn lẻ, ngược lại, nó là một trào lưu tư duy thâm căn cố đế trong xă hội Trung Quốc. Đây là điều mà tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia giáp giới với Trung Quốc phải nh́n nhận một cách thấu đáo và KHÔNG ĐƯỢC PHÉP ẢO TƯỞNG VỀ D̉NG TƯ DUY CHỦ LƯU CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC VÀ CHÍNH QUYỀN TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI DĂ TÂM XÂM LƯỢC CŨNG NHƯ CÁC HÀNH VI CHIẾN TRANH. Mọi nhận định sai lầm hoặc coi nhẹ ḍng tư duy chủ lưu này đều sẽ dẫn đến hậu quả rất đắt.

Phần 2 – Thực lực và khả năng Quân đội nhân dân Trung Hoa

Quay trở lại với Kế hoạch A – càn quét Việt Nam trong 31 ngày của mạng Sina.com. Khó có thể nói ai là tác giả của bản kế hoạch này. Nếu nói đó là một phương án phác thảo của một sỹ quan tham mưu có kiến thức nào đó của Trung Quốc th́ sẽ là không chính xác, v́ tính ngô nghê rất lớn của nó khi nhận định về thời gian và kết quả của các chiến dịch tấn công. Nó giống như việc vạch ra một trận chiến tranh mà một bên chỉ việc đấm c̣n bên kia th́ không có ai hoặc là không chống cự. Chưa tính đến việc thiếu vắng hoàn toàn các phân tích về hậu cần, vốn là một phần thậm chí c̣n quan trọng hơn cả việc vạch ra các ư tưởng chiến dịch, chiến lược tấn công, cho thấy đây không thể là một sản phẩm của một quân nhân chuyên nghiệp. Tuy nhiên cũng rất khó kết luận v́ có nhiều tướng tá Trung Quốc như thiếu tướng La Viện là một điển h́nh cho một quân nhân cấp tướng nhưng dường như không có kiến thức quân sự. Do đó cũng không có ǵ ngạc nhiên nếu kế hoạch này lại do một quân nhân mang hàm cấp tướng tương tự như tư lệnh của binh chủng “Hỏa lực mồm” La Viện của Trung Quốc vẽ ra. Dù vậy, bản kế hoạch A này cũng có một phần khá gây chú ư, đó là ư tưởng về các mũi tiến công chiến lược của Trung Quốc nếu tiến đánh tổng lực Việt Nam.

Bản đồ về các mũi tấn công theo Kế hoạch A – càn quét Việt Nam trong 31 ngày:


H1

Ư tưởng xuyên suốt của Kế hoạch A, là tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu ồ ạt bằng hàng ngh́n tên lửa chiến thuật, tên lửa hành tŕnh và tên lửa đạn đạo vào các mục tiêu quân sự, kinh tế, chính trị của Việt Nam. Tiếp đó là sử dụng từ 1000 – 1500 phi cơ tấn công oanh tạc vào các mục tiêu quân sự trong giai đoạn 2, nhằm tiêu diệt năng lực đề kháng của quân đội Việt Nam. Trong giai đoạn sau cùng, bộ binh và lục quân, hải quân được sử dụng trong các chiến dịch tấn công tổng lực. Phần lớn các đạo quân giáp biên giới sẽ tiến công theo các đường tiến quân giống năm 1979, đạo quân quan trọng nhất, dưới sự yểm trợ của không quân và hải quân, sẽ đổ bộ tấn công khu vực Thanh Hóa, nhằm cắt rời lănh thổ Việt Nam ở phần hẹp nhất, cô lập miền Bắc khỏi miền Trung và Miền Nam. Tổng lực lượng quân sự huy động cho kế hoạch A, ngoài lực lượng tên lửa chiến lược, chiến thuật, sẽ gồm khoảng 3500 máy bay, 1200 xe tăng và 3000 xe bọc thép, cùng với số quân huy động trực tiếp tham chiến khoảng 520 ngh́n người. Dự kiến mục tiêu của kế hoạch là sẽ chiếm Hà Nội sau 16 ngày chiến tranh, và chiếm toàn bộ lănh thổ Việt nam sau ngày thứ 31.

Đây là một kế hoạch không tưởng khi xét về các mục tiêu chiến tranh. Nó giống như một bản phác thảo các tham vọng xâm lược hơn là một kế hoạch chiến tranh đúng nghĩa. Thực lực quân đội nhân dân Trung Hoa hiện nay rất mạnh, nhưng không đủ năng lực về hậu cần và yểm trợ để hỗ trợ cho một đạo quân nửa triệu người tác chiến trên một chiến trường kéo dài 2000 km với địa h́nh rất phức tạp. Đặc biệt và việc yểm trợ và đảm bảo hậu cần cho cánh quân thứ ba, được coi là cách quân quan trọng nhất đánh găy xương sống Việt Nam khi đổ bộ vào Thanh Hóa. Trong điều kiện Việt Nam dù yếu thế hơn, nhưng các lực lượng không quân, hải quân và bộ binh pḥng thủ mặt đất của nó hoàn toàn có khả năng đánh quỵ một hạm đội đổ bộ xuất phát từ Trung Quốc và kéo dăn đội h́nh hành quân 500 km trên biển trước khi đến được mục tiêu. Bên cạnh đó, số lượng tên lửa, oanh tạc cơ và máy bay được đưa vào sử dụng trong kế hoạch có vẻ gây ấn tượng, nhưng dường như vượt quá nhiều lần năng lực không quân thực sự của Trung Quốc, khi chỉ có khoảng trên 500 máy bay là thuộc các thế hệ tương đối hiện đại có thể đảm trách các kế hoạch tấn công sâu vào lănh thổ Việt Nam, do đó khó có thể thực hiện được tham vọng tiêu diệt năng lực quân sự của Việt Nam trong các đ̣n đánh phủ đầu. Ngoài ra, kế hoạch hoàn toàn không tính toán tới các phản ứng của đối phương, khi chắc chắn Việt nam luôn có kế hoạch dự pḥng chu đáo để bảo tồn năng lực quân sự và phản công trước các đ̣n đánh của tên lửa và máy bay Trung Quốc. Sau 20 năm chiến tranh với lực lượng quân đội mạnh nhất thế giới là Hoa Kỳ, hơn bất cứ quốc gia nào, người Việt nam có kinh nghiệm hơn ai hết về kỹ năng phân tán và bảo vệ khí tài chiến tranh trước các đ̣n oanh tạc không quân. Mà xét về năng lực thực sự, không quân PLA ngày nay c̣n thua không quân Mỹ những năm 1970 về khả năng tác chiến tổng thể.

Quân đội nhân dân Trung Quốc PLA hiện có ǵ trong tay? Trên bảng xếp hạng của Global Firepower, Trung Quốc xếp thứ ba trong số các quân đội mạnh nhất thế giới, chỉ sau Mỹ và Nga. Ngân sách quốc pḥng năm 2014 của Trung Quốc khoảng 188 tỷ USD (số liệu thực theo ước tính của Mỹ), xếp thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ và gấp nhiều lần ngân sách quân sự Nhật Bản (50 tỷ USD) và Nga ( 98 tỷ USD).

Năm 2013, Trung Quốc lần đầu tiên công bố quân số của lực lượng vũ trang, số quân tại ngũ của Trung Quốc hiện khoảng 2,2 triệu người. Trong số 1,483 triệu quân sử dụng trực tiếp cho hoạt động tác chiến, lục quân có 850.000 quân, hải quân có 235.000 quân, không quân có 398.000 quân. Cũng trong năm 2013, Bộ Quốc phòng Mỹ dự đoán chỉ riêng Lục quân Trung Quốc đă có 1,25 triệu quân. Lục quân Trung Quốc biên chế tổng cộng 18 tập đoàn quân, thực chất là tập đoàn quân độc lập hợp thành các binh chủng, bao gồm tất cả các binh chủng. Bên dưới tập đoàn quân là các sư đoàn và lữ đoàn – ở cấp này bộ binh có 31 đơn vị, cơ giới có 23 đơn vị, xe tăng có 17 đơn vị, pháo binh có 19 đơn vị, hải quân đánh bộ có 5 đơn vị, nhảy dù có 3 đơn vị. Kho vũ khí lục quân có khoảng 7.000 chiếc xe tăng hiện đại, 8.000 khẩu pháo. Trong 18 tập đoàn quân, có 11 tập đoàn quân triển khai ở khu vực phía bắc Trung Quốc, giáp với Nga. Ngoài lực lượng nhảy dù và hải quân đánh bộ, lực lượng đặc nhiệm Trung Quốc cũng có nhiều nhất 14.000 quân, trong biên chế là các trung đoàn độc lập và tiểu đoàn đặc nhiệm. Các lực lượng nhảy dù, hải quân đánh bộ và đặc nhiệm Trung Quốc chủ yếu trang bị xe bọc thép nội địa, bao gồm xe tăng đổ bộ và xe chiến đấu bộ binh nhảy dù.

Ngoài ra, trong danh sách Lục quân Trung Quốc c̣n có lực lượng dự bị và cảnh giới được trang bị rất nhiều vũ khí cũ. Căn cứ vào các dự đoán khác nhau, Quân đội Trung Quốc tổng cộng có 9.000 – 12.000 xe tăng, khoảng 12.000 xe chiến đấu bộ binh và xe vận tải bọc thép (trong đó có 3.500 xe chiến đấu hiện đại), hơn 2.000 khẩu pháo tự hành các loại, gần 3.000 khẩu rocket, hơn 7.000 hệ thống tên lửa chống tăng, 15.000 pháo cao xạ và hệ thống tên lửa pḥng không, khoảng 6.000 khẩu pháo kiểu kéo dắt và 10.000 khẩu pháo cối.

Vào cuối thế kỷ 20, so với Quân đội Mỹ, trang bị quân sự của Trung Quốc c̣n lạc hậu một thế hệ. Nhưng, hiện nay, t́nh h́nh đă thay đổi, Trung Quốc ở tŕnh độ dẫn trước hoàn toàn về số lượng xe bọc thép bánh xích mới các loại. Đến nay, Quân đội Trung Quốc sở hữu gần 1.000 xe tăng Type 99, tính năng hoàn toàn có thể sánh ngang với xe tăng chiến đấu của các nước phát triển. Không lâu trước đă trang bị pháo tự hành và rocket hiện đại, bao gồm rocket Vệ sĩ-2D tầm bắn tối đa 400 km, có uy lực mạnh nhất thế giới. Tất cả những điều này cộng với sự thành công của công nghệ ô tô Trung Quốc (năm 2014 sản xuất gần 24 triệu xe), làm cho bộ binh Trung Quốc trở thành một lực lượng có tính cơ động mạnh, trang bị tốt. Ngoài ra, chuyên gia quân sự Mỹ chỉ ra, huấn luyện tác chiến của Quân đội Trung Quốc cũng đă có xu thế mới, bắt đầu thông qua diễn tập để tập các chiến dịch tiến công tốc độ nhanh với chiều sâu có thể đạt 1.000 km. Đồng thời, tiềm lực động viên khổng lồ của Trung Quốc vẫn chưa biến mất, ở đầu thế kỷ 21 dự đoán có thể động viên 380 triệu người, trong đó 208 triệu người thích hợp đưa vào biên chế.

Về số lượng máy bay tác chiến, Trung Quốc đứng thứ ba, chỉ sau Mỹ và Nga. Căn cứ vào dự đoán của chuyên gia Mỹ, Không quân Trung Quốc bao gồm lực lượng hàng không hải quân có khoảng 2.100 máy bay chiến đấu các loại tương đối tiên tiến và 1.500 máy bay chiến đấu cũ, khoảng 500 máy bay vận tải, hơn 100 máy bay giám sát và trinh sát đặc chủng, tổng cộng có khoảng 31 sư đoàn và 4 trung đoàn độc lập.

Lực lượng tên lửa hạt nhân Trung Quốc c̣n gọi là Lực lượng pháo binh 2 có khoảng 120.000 quân, tổng cộng có 1.500 – 2.000 quả tên lửa đạn đạo có thể lắp đầu đạn hạt nhân, bao gồm gần trăm quả tên lửa xuyên lục địa có thể tiêu diệt các mục tiêu trong lănh thổ Mỹ và Nga.

Hiện nay, Trung Quốc đang sản xuất hàng loạt tên lửa chiến lược, từ tên lửa đạn đạo xuyên lục địa phóng giếng Đông Phong-5A lắp nhiều đầu đạn độc lập và có tầm bắn trên 13.000 km, đến tên lửa xuyên lục địa cơ động kiểu đường sắt và kiểu bánh lốp với tầm bắn có thể đạt 11.000 km, họ có đủ mọi thứ. Theo đánh giá của chuyên gia, về số lượng vũ khí hạt nhân Trung Quốc chỉ kém Nga và Mỹ, ít nhất có 130 quả tên lửa đạn đạo lắp đầu đạn hạt nhân, khoảng 40 quả tên lửa đạn đạo lắp đầu đạn hạt nhân trang bị cho tàu ngầm hạt nhân, vài chục quả bom hạt nhân trang bị cho máy bay ném bom chiến lược và 150 – 350 tên lửa hành tŕnh lắp đầu đạn hạt nhân.

Hải quân Trung Quốc, được đầu tư mạnh liên tục trong nhiều năm, hiện nay cũng là một lực lượng rất đáng gờm. Căn cứ vào số liệu của Mỹ, năm 2014, Hải quân Trung Quốc tổng cộng có 1 tàu sân bay, 24 tàu khu trục, 49 tàu hộ vệ tên lửa, 9 tàu hộ vệ hạng nhẹ, 57 tàu đổ bộ và mấy trăm tàu tuần tra bảo vệ bờ biển cùng 61 tàu ngầm dầu diesel và 5 – 8 tàu ngầm hạt nhân. Hải quân Trung Quốc chia làm 3 hạm đội lớn trong biên chế tác chiến: Hạm đội Bắc Hải phụ trách bảo vệ Bắc Kinh từ phương hướng trên biển, Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải trước hết được sử dụng cho các hành động nhằm vào Đài Loan.

Trung Quốc cũng đă xây dựng cho ḿnh một nền công nghiệp quốc pḥng hùng mạnh. Các nhà cung cấp quốc pḥng chính của Trung Quốc hiện nay bao gồm:

Tập đoàn Công nghiệp vũ khí Trung Quốc (Công ty Công nghiệp phương Bắc)

Tập đoàn trang bị vũ khí Trung Quốc (Công ty Công nghiệp phương Nam)

Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Trung Quốc

Tập đoàn Công nghiệp đóng tàu Trung Quốc

Tập đoàn Công nghiệp Hàng không Trung Quốc

Tập đoàn Công nghiệp và khoa học vũ trụ Trung Quốc

Tập đoàn Công nghiệp cơ giới Trung Quốc

Với thực lực quân sự tổng hợp như trên, có thể nói PLA hiện nay là một đội quân hùng mạnh, gần như áp đảo các nước trong khu vực châu Á. Con số thống kê về số lính, số dân có thể huy động vào quân đội, số tăng, pháo, máy bay, tên lửa và số lượng tàu chiến có khả năng gây choáng váng cho những người yếu tim. Giống như bất cứ thời kỳ lịch sử nào, Trung Quốc chưa bao giờ thiếu người và thiếu số lượng vũ khí liệt kê. Tuy nhiên những con số ấy không phản ánh năng lực chiến tranh thực sự của người Trung Quốc. (C̣n tiếp)

Bài thứ hai: Chiến tranh tổng lực và chiến tranh cục bộ. Giải pháp trước mối đe dọa hạt nhân)

Bài thứ ba: Phân tích thực lực quân sự Việt Nam. Những vấn nạn căn bản, các giải pháp tăng cường năng lực quốc pḥng

Bài thứ tư: Chiến lược chống tiếp cận, đâu là vũ khí chiến lược?

Bài thứ năm: Chiến lược pḥng thủ trước Trung Quốc, các phương án mới trong t́nh h́nh hiện tại

Bài thứ sáu: Các liên minh chính trị và kinh tế

Bài thứ bảy: Thoát Trung, một lần và lâu dài

Kết luận

Đại loại các bài kế tiếp sẽ bàn về các nội dung trên
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Mar 9 2016, 03:39 AM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,938
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



Phần 2: Chiến tranh tổng lực và chiến tranh cục bộ, giải pháp cho mối đe dọa hạt nhân

Chính trị, chiến tranh không thể tách rời kinh tế. Sau đây là vài nét về t́nh h́nh kinh tế tổng hợp của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó đến cục diện châu Á – Thái B́nh Dương.

Ngày 10/08/2015 trong một động thái gây bất ngờ nhưng nằm trong một tổng thể đă được dự đoán từ trước: Trung Quốc phá giá NDT 2%. Ngay sau đó hai ngày, Trung Quốc tiếp tục phá giá đồng NDT 1,6%. Tác động dây truyền của sự kiện lan tràn trên thế giới. Đồng NDT trên thực tế mất giá ngay 4,8%. Một loạt các quốc gia châu Á có phản ứng gần như ngay lập tức. Ngày 11/08/2015 Việt Nam nới biên độ tỷ giá thêm 1%. Một loạt các nước khác có động thái gần như tương tự. Báo hiệu cho một cuộc chiến tiền tệ sắp lan tràn.

Cuộc chiến đă nổ ra về phương diện kinh tế, và liệu cuộc chiến ấy sẽ có tác động như thế nào đến một cuộc chiến tước đoạt sinh mạng con người?

Trung Quốc bước vào thời đại Tập Cận B́nh từ năm 2012. Trong một thiên Lăng luận trước đây anh Lăng từng nhận xét về gă Khựa này: “Một gă rắn tay, ưa lối giải quyết bằng bàn tay sắt và bạo lực. Trung Quốc rồi sẽ trả giá v́ lối cai trị sắt máu này của Tập, cả tại Tân Cương hay ngay chính từ cuộc chiến thanh trừng thâu tóm quyền lực của Tập Cận B́nh”. Sau hơn 200 ngày kể từ khi Tập nắm quyền, có vẻ nhận xét này đă được ứng dụng trên t́nh h́nh thực tế.

Để tránh sa đà khi bàn luận về t́nh h́nh kinh tế chính trị nội tại của Trung Quốc trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng đang lan tràn (Sẽ bàn riêng trong một thiên Lăng luận về Tương lai Trung Quốc và sự suy tàn của giấc mộng Trung Hoa”, có mấy nhận xét ngắn thế này:

– Cuộc chiến thống nhất quyền lực của Tập Cận B́nh đă có một dấu chấm hoàn hảo. Bằng việc bỏ tù Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, Cốc Tuấn Sơn, Từ Tài Hậu và phó chủ tịch Quân ủy Quách Mạnh Hùng, Tập hiện không c̣n đối thủ. Ngày 12/08/2015, Tập cho đăng trên Nhân dân nhật báo lời cảnh cáo: “Các lănh đạo về hưu nên tránh xa chính trị, người đi th́ trà cũng nguội”, một cái tát vỗ mặt Giang Trạch Dân và có thể là cả Hồ Cẩm Đào. Tập đủ tự tin để truy tố nốt cả Giang nếu cảm thấy quyền lực của ḿnh tiếp tục bị thách thức. Sau thời đại Mao Trạch Đông, Tập là người duy nhất đạt tới đỉnh cao quyền lực gần như tuyệt đối tại Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng chính cuộc chiến quyền lực này đă đào rỗng ruột bộ máy cầm quyền Trung Quốc. Tập đă bỏ tù và truy tố hàng triệu quan chức nhằm lấy tính chính danh cho ḿnh. Bằng cách đó, Tập được ḷng dân nhưng những lỗ hổng trong bộ máy cai trị khó ḷng bù đắp một sớm một chiều. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc đang đi vào một cuộc khủng hoảng không thể cứu văn.

– Thị trường chứng khoán Trung Quốc sụp đổ gần như là một kết cục không thể đảo ngược. Từ năm 2012, khi lên nắm quyền, Tập t́m mọi cách duy tŕ một nền kinh tế với tâm lư thịnh vượng gia tăng, nhằm vẽ lên một giấc mộng Trung Hoa hùng cường trong mắt dân Trung Quốc. Các chính sách và ḍng tiền được định hướng để đảm bảo thị trường chứng khoán liên tục tăng cao. Người dân Trung Quốc thấy túi tiền ảo của ḿnh ph́nh lên ghê gớm. Đáng buồn cho Trung Quốc, nó lặp lại những ǵ mà Việt Nam đă trải qua cách đây 8 năm, khi cơn băo khủng hoảng quét qua thị trường chứng khoán cuối năm 2007. Dù Trung Quốc đă đổ trên 141 tỷ USD để cứu thị trường, nhưng chắc chắn nó sẽ bước vào một thời kỳ suy giảm kéo dài không dưới 5 năm. Cái chết trên thị trường chứng khoán rồi sẽ c̣n lan rộng sang thị trường bất động sản, kéo theo sự khủng hoảng dây truyền trong hệ thống ngân hàng v́ nợ xấu tăng cao. Đây sẽ là một kỷ nguyên suy tàn cho giấc mộng Trung Hoa.

– Các chính sách ngăn chặn kinh tế mà Mỹ định h́nh có vẻ đang bồi một cú đấm thôi sơn vào nền kinh tế Trung Quốc. Xuất khẩu của Trung Quốc vào Nhật đă giảm 13% so với cùng kỳ, vào EU đă giảm 12% và vào Mỹ cũng đă giảm trên dưới 2%. Trong bối cảnh khó khăn trong nước lan tràn th́ đây là những đ̣n chí mạng, tổng hợp chung, xuất khẩu của Trung Quốc đă giảm 8,3% trong tháng 7/2015. Khi TPP thành công, Trung Quốc sẽ c̣n gánh thêm các cú bồi nặng nề và tiếp tục phải đối mặt với đà suy giảm của ḍng thương mại xuất khẩu.

– Nỗ lực khôi phục ḍng thương mại xuất khẩu vốn là thứ đă làm nên điều thần kỳ cho nền kinh tế Trung Quốc suốt 50 năm, Tập Cận B́nh cho phá giá đồng tiền. Anh Lăng nhận định rằng biện pháp này chắc chắn sẽ thất bại, bởi bối cảnh thế giới ngày nay không c̣n như thời kỳ những năm 1990, khi Clinton dung dưỡng và chấp nhận một đồng NDT định giá yếu trong nền kinh tế toàn cầu. Chính sách kiềm chế Trung Quốc gần như đă định h́nh trong thế giới phương Tây, do đó mọi hành động phá giá tiền của Trung Quốc nhằm kích thích xuất khẩu gần như sẽ gặp các đ̣n đáp trả ngay lập tức. Vấn đề lớn hơn thế, bởi hàng hóa Trung Quốc hiện nay không phải chỉ bị ngăn chặn bởi các nhân tố thị trường (tỷ giá) mà c̣n bằng cả các hàng rào pháp lư và chính sách (TPP là một điển h́nh). Do đó, bất kể đồng NDT bị phá giá đến mức nào th́ đà suy giảm của ḍng hàng hóa xuất khẩu Trung Quốc là mặc định.

– Tham vọng lớn nhất của Tập Cận B́nh là đưa NDT thành một đồng tiền quốc tế, cạnh tranh với vị trí thống trị của USD. Bằng việc phá giá NDT 3,6% trong ít ngày, Tập kéo lùi giấc mơ này thêm 20 năm, nếu thực sự TQ c̣n có cơ hội gượng dậy sau cú sốc.

– Chính sách cai trị sắt máu của Tập tại Tân Cương, Tây Tạng rồi sẽ khiến Trung Quốc trả giá nặng nề. Khi kinh tế suy tàn, khủng hoảng rồi sẽ lan rộng trong xă hội Trung Hoa, vốn từ lâu c̣n rất ít sự gắn kết dựa trên nhân tính. Thế giới sẽ chứng kiến một kỷ nguyên bắn giết và bỏ tù tại Trung Quốc.

Khủng hoảng Trung Quốc không làm thế giới an toàn hơn mà là ngược lại. Không giống Liên Xô, vốn c̣n mang đôi nét văn minh châu Âu, cuối cùng đă sụp đổ trong ḥa b́nh, Trung Quốc chắc chắn sẽ t́m cách xuất khẩu khủng hoảng ra thế giới nhằm ổn định t́nh h́nh trong nước. Chính v́ thế, mối đe dọa chiến tranh của các nước giáp giới Trung quốc không những không giảm đi khi đất nước này suy yếu mà là ngược lại. Cần nhớ rằng năm 1979, một trong những lư do Đặng Tiểu B́nh xua quân xâm lược Việt Nam là nhằm cố kết xă hội Trung Quốc sau nhiều thập niên suy tàn dưới thời đại cai trị Mao Trạch Đông.



Việt Nam và các nước láng giềng của Trung Quốc buộc phải cảnh giác tối đa, tận dụng mọi cơ hội để nâng cao sức mạnh tổng hợp về kinh tế, chính trị, quốc pḥng và củng cố các liên minh, nhằm có đủ sức mạnh để ngăn ngừa hoặc trụ vững trước các chính sách hiếu chiến mới của Trung Quốc, cho đến khi quốc gia khát máu ấy đủ suy tàn để phải thu ḿnh và ngừng đe dọa các nước xung quanh.

Chúng ta buộc phải tiếp tục bàn về chiến tranh, trong lúc mưu cầu cho một nền ḥa b́nh lâu dài.

NGUY CƠ VỀ MỘT CUỘC CHIẾN TRANH TỔNG LỰC VIỆT-TRUNG

Nguy cơ này không lớn, nhưng vẫn buộc phải đặt ra v́ thế giới này vốn không có điều ǵ là không thể. Lịch sử Việt Nam chỉ xét riêng từ thế kỷ thứ 10, đă không dưới 10 lần phải đối mặt với các đạo quân xâm lăng từ Trung Quốc

Tham khảo thiên Lăng luận – Việt Nam Trung Quốc, một lịch sử đau thương

Trong thế kỷ 20, Việt Nam phải liên tục đánh nhau với 3 cường quốc: Pháp, Mỹ và Trung Quốc. Chưa tính đến cuộc chiến khốc liệt với Ponpot ở biên giới Tây Nam. Lịch sử chiến tranh khiến người Việt khao khát ḥa b́nh, nhưng họ cũng chứng minh bằng xương máu của hàng ngh́n thế hệ về khả năng bảo vệ đất nước. Do đó có thể nói Trung Quốc gần như không thể có hy vọng tiêu diệt Việt Nam trong một cuộc chiến tranh tổng lực. Điều đó khiến chúng ta có nhiều cơ sở để loại trừ một cuộc chiến tranh lớn giữa hai quốc gia, nhưng vẫn phải đề pḥng cho nguy cơ ấy. (Mối đe dọa hạt nhân và giải pháp cho nó sẽ được bàn riêng ở cuối bài viết này)

Một cuộc chiến tổng lực Việt Trung sẽ mang đầy đủ nét điển h́nh của một cuộc chiến tranh quy ước và phi quy ước hiện đại, trên bộ, trên không và trên biển. Là quốc gia có năng lực quân sự mạnh hơn tuyệt đối, tuy nhiên Trung Quốc không thể dốc hết lực lượng tiến đánh Việt nam. Nó buộc phải duy tŕ lực lượng quân sự pḥng thủ ở vùng giáp giới Ấn độ, Nhật Bản và thậm chí là cả với Nga. Nó cũng buộc phải duy tŕ một lực lượng quân sự lớn để đảm bảo t́nh h́nh trong nước ổn định, bởi mối đe dọa ly khai tại Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương là nguy cơ thường trực. Khi Trung Quốc sa lầy vào một cuộc chiến tranh, nguy cơ tan ră của nó sẽ lớn dần theo thời gian, đặc biệt nếu nó gặp bất lợi chiến trường.

Trung Quốc chắc chắn sẽ áp dụng lối tiến công phủ đầu ồ ạt bằng tên lửa định vị vệ tinh nhằm tiêu diệt chủ lực quân đội Việt Nam và gây hỗn loạn tại lănh thổ đối phương. Tất cả các căn cứ hải quân và không quân trải dài từ Móng Cái đến Cà Mau đều sẽ nằm trong tầm tiến công của tên lửa Trung Quốc. Tuy nhiên hiệu năng của nó sẽ giảm dần khi xuống phía Nam. Trong 3 năm tới, các căn cứ quân sự của Trung Quốc tại Trường Sa vẫn chưa được củng cố đủ để làm các bàn đạp tấn công Việt Nam ở khu vực phía Nam, do đó, miền Nam Việt Nam sẽ vẫn là một hậu phương khá an toàn cho một cuộc chiến tổng lực với Trung Quốc. Máy bay sau đó sẽ được sử dụng ồ ạt để oanh tạc và bắn phá. Mỹ đánh bom tan hoang Iraq một tháng trước khi xua quân tấn công, tiềm lực Trung Quốc hiện nay đủ để quốc gia này oanh tạc miền Bắc Việt Nam trong không dưới 15 ngày. Kết thúc giai đoạn tấn công phủ đầu, bộ binh cơ giới Trung Quốc sẽ tấn công ồ ạt ở biên giới phía Bắc theo các mũi tấn công gần giống cuộc chiến năm 1979.

Ở miền Trung và miền Nam, Trung Quốc chắc chắn sẽ sử dụng lực lượng t́nh báo để tiến hành cuộc chiến phá hoại gây hoảng loạn bằng số đặc t́nh Trung Nam Hải cài cắm rộng khắp Việt nam, qua các dự án kinh tế đưa lao động Trung Quốc vào ồ ạt tại Tây Nguyên, Vũng Áng và miền Nam. Trung Quốc chắc chắn sẽ nghiên cứu khả năng đổ bộ bằng hải quân vào khu vực Thanh Hóa và Vũng Áng, với lực lượng xuất phát từ căn cứ Tam Á tại đảo Hải Nam, nhằm cắt đôi lănh thổ Việt nam tại phần hẹp nhất, khiến miền Bắc bị cắt rời khỏi hậu phương của nó.

Với lực lượng tăng thiết giáp và bộ binh cơ giới hùng hậu, sức tiến công của Trung Quốc ở biên giới phía bắc sẽ là rất mạnh. Hệ thống hạ tầng giao thông của Việt Nam trong những năm qua phát triển rất nhanh, đặc biệt là các tuyến đường cao tốc nối với Trung Quốc ở Lạng Sơn, Lào Cai và nhiều cửa ngơ biên giới sẽ khiến xe tăng Trung Quốc có khả năng có mặt ở Hà Nội sau ít giờ tham chiến. Lực lượng đặc biệt sơn cước của Trung Quốc sẽ được sử dụng để đảm bảo an toàn cho các đầu cầu tiến công của bộ binh cơ giới Trung Quốc, pháo binh và máy bay sẽ được sử dụng để thực hiện các đ̣n oanh tạc hủy diệt vào các cụm quân mà Trung Quốc cô lập hoặc bao vây được trước khi tiến hành trận đánh chính ở Hà Nội. Trung Quốc có thể tung ngay tức khắc khoảng 600 ngh́n quân vào các mũi tiến công phía Bắc. Khoảng 400 ngh́n quân sẽ được sử dụng để dàn trận đánh tại các mặt trận kéo dài 13 tỉnh giáp giới, mũi tấn công thọc sâu xuống đồng bằng sông Hồng mà mục tiêu chính là Hà Nội sẽ gồm ít nhất 2000 xe tăng, 3000 xe thiết giáp và xe cơ giới và trên dưới 2000 pháo lớn có cỡ ṇng trên 57 ly. Tối thiểu 1000 máy bay, gồm tiêm kích, oach tạc cơ và trực thăng tấn công sẽ được huy động để đảm bảo cái ô tấn công cho mũi tấn công thọc sâu này.

Từ căn cứ Tam Á và đảo Hải Nam, sau khi đặc t́nh Trung Quốc phá hoại trên diện rộng các cơ sở thông tin và mạng lưới giao thông tại miền Trung, không quân và Hải quân Trung Quốc sẽ tiến đánh rất mạnh các căn cứ không hải của Việt Nam, đặc biệt là vịnh Cam Ranh. Máy bay Trung Quốc xuất phát từ Hoàng Sa và Hải Nam sẽ thực hiện các đ̣n tấn công hủy diệt với căn cứ này sau các đ̣n đánh phủ đầu bằng tên lửa hành tŕnh. Chắc chắn Cam Ranh sẽ bị hủy diệt v́ năng lực pḥng không hiện nay của Việt Nam không đủ để tự vệ cho một mục tiêu có tọa độ cố định nằm trong phạm vi tấn công 500 km tính từ các căn cứ quân sự Trung Quốc. Hải quân Trung Quốc sau đó sẽ huy động ít nhất hai trong số ba hạm đội của nước này cho cuộc chiến đổ bộ tại Thanh Hóa hoặc có thể là Vũng Áng tại miền Trung (Có khoảng cách gần như nhau tính từ các căn cứ tại Hải Nam)

Các mũi tấn công đổ bộ của Trung Quốc xuất phát từ Hải Nam:



H1Ảnh: internet

Tối thiểu 200 chiến hạm và 1000 tàu thuyền các loại (gồm tàu đổ bộ quân sự và các tàu hỗ trợ hậu cần) sẽ được Trung Quốc huy động cho cánh quân đổ bộ này. Lực lượng đổ bộ dự tính khoảng 30 ngh́n quân, đủ để cài một chốt chặn cắt đôi lănh thổ Việt Nam và đánh vu hồi Hà Nội từ phía Nam.

Nếu tất cả các chiến lược của Trung Quốc được thực hiện thành công, Việt Nam có thể sẽ mất Hà Nội và toàn bộ miền Bắc. Đó là kế hoạch của người Tàu. C̣n người Việt Nam có thể làm ǵ để chặn nguy cơ ấy?

Quân đội Việt Nam hiện có trên 300 ngh́n lính thuộc lục quân. Không quân có trên dưới 300 máy bay các loại, chủ yếu là tiêm kích đời cũ mig21, tiêm kích bom su22 và khoảng 40 máy bay tiêm kích đa năng khá hiện đại su27, su30 và một số trực thăng chiến đấu. Việt nam không có oanh tạc cơ hạng nặng và không có máy bay cảnh báo sớm trên không. Việc cảnh giới bầu trời và các đ̣n tấn công phủ đầu chủ yếu dựa vào các trạm rada mặt đất mà ngày nay đă lạc hậu khá nhiều. Hải quân Việt Nam hiện có khoảng 100 chiến hạm các loại, chủ yếu hoạt động ven bờ, trong đó chủ lực là 10 hạm tầu tên lửa tấn công lớp tarantus, monlya, hai khinh hạm Gerparc và 4 tàu ngầm lớp Kilo mới được bàn giao. Lục quân Việt nam có trên 1000 xe tăng đời cũ, khoảng 3000 thiết giáp và xe cơ giới và khoảng 7000 pháo lớn, lực lượng tên lửa bờ biển có một số tổ hợp yakhon hiện đại nhưng số lượng rất ít. Lực lượng pḥng không, ngoài hai tổ hợp P300MU, chủ yếu vẫn dựa vào các giàn tên lửa Sam3 có từ thời chiến tranh Việt Nam. Tổng quân số trong biên chế của Việt nam vào khoảng 450 ngh́n quân. Bên cạnh đó c̣n khoảng 500 ngh́n thuộc lực lượng an ninh và bán vũ trang có thể được huy động cho cuộc chiến chống phá hoại tại hậu phương. Trong điều kiện chiến tranh tổng lực, Việt Nam có thể tổng động viên để có một đạo quân dự bị vào khoảng 2 triệu người trong ṿng 3 tháng. Nếu chiến tranh kéo dài và cần đánh tất tay, Việt Nam có thể có một lực lượng dự trữ không dưới 15 triệu người cho cuộc chiến pḥng thủ chống xâm lược.

Năng lực quốc pḥng Việt Nam hiện tại rất hạn chế. Các nhà máy quốc pḥng Việt Nam hiện chỉ đủ khả năng sản xuất súng bộ binh, đạn các loại (bao gồm đạn pháo lớn) và đóng một số tàu chiến cỡ nhỏ (máy và vũ khí trang bị theo tàu vẫn phải nhập khẩu). Nói chung năng lực quân sự và quốc pḥng tổng hợp của Việt Nam, trong t́nh huống không có nguồn hỗ trợ vũ khí từ bên ngoài, chỉ đủ cho một cuộc chiến tiêu hao du kích.

Chiến lược chính của Việt Nam trước các đ̣n oanh tạc bằng tên lửa và không quân của Trung quốc chỉ có thể là phân tán và ẩn núp. Nếu có kế hoạch phân tán tốt, lục quân Việt Nam có khả năng bảo tồn ít nhất 80% lực lượng và trang bị trước các đ̣n đánh phủ đầu. Dù diện tích rừng phía bắc đă bị phá hoại hầu như triệt để, nhưng địa h́nh vùng giáp giới Trung quốc vẫn rất hiểm hóc, có lợi cho phân tán và ẩn náu. Bên cạnh đó, thời tiết miền Bắc Việt Nam khác với vùng sa mạc khô nóng ở Iraq, rất không thuận lợi cho hoạt động kéo dài của không quân và tính chính xác của các loại vũ khí định vị do thường xuyên có mưa lớn, mây mù và nhiều cơn băo lớn. Trong trường hợp Trung Quốc đột kích ồ ạt, lục quân Việt Nam cần thiết lập ṿng đại pḥng thủ chính nằm vắt qua Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Quảng Ninh. Trong lúc đó, cần tổ chức các mũi đột kích vu hồi vào các đường tiến quân của Trung Quốc tại các tỉnh giáp giới Cao bằng, Lạng sơn, Lai Châu và Hà Giang, nhằm chặn đường và gây tổn thất nặng cho bộ binh cơ giới Trung Quốc.


H1

Địa h́nh nhiều rừng núi giúp Việt Nam triển khai lợi thế của các trận chiến phục kích mà các vũ khí chống tăng cầm tay có thể phát huy tác dụng. Việt Nam có thể sử dụng 200 ngh́n bộ binh chính quy làm ṇng cốt cho các vành đai pḥng thủ. Các mũi tấn công đột kích trang bị nhẹ có thể huy động 3 – 4 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập với quân số khoảng 50 ngh́n người. Để chống lại đà tiến công của các mũi đột kích bằng xe tăng và cơ giới, hệ thống cầu và đường bộ trên các hướng tiến quân của Trung Quốc sẽ được phá hoại hàng loạt. Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra các nút chặn chôn cứng xe tăng và bộ binh cơ giới của Trung Quốc ở các tuyến đường hiểm trở ven núi. Trong t́nh huống đó, một số tỉnh phía Bắc như Cao Bằng, Lai Châu, Hà Giang và Lạng Sơn có thể thất thủ, nhưng Trung Quốc sẽ bị kéo vào cuộc chiến sa lầy ở vành đai pḥng thủ tiếp sau, và sẽ phải đối mặt với các mũi tấn công đột kích kéo dài trên những địa h́nh rừng núi mới chiếm đóng. Cuộc chiến sẽ nhanh chóng biến thành một cuộc chiến vỗ mặt thay v́ các đ̣n tấn công thọc sâu chia cắt, và trở thành một cuộc chiến sa lầy đẫm máu. Trung Quốc có lợi thế lớn về quân số chính quy và năng lực hậu cần. Ngược lại, ở phương diện pḥng thủ, Việt Nam có lợi thế vượt trội về lực lượng có thể sử dụng cho các hoạt động tấn công du kích, và lực lượng chủ lực Việt nam sẽ thường xuyên được tiếp máu v́ chiến đấu ngay tại hậu phương. Việt Nam không có lợi thế về các phương tiện cơ giới, nhưng số pháo lớn trên 7000 khẩu thừa đủ để hỗ trợ cho các mặt trận pḥng thủ. Ở đây phải xét đến đ̣n tiến công tâm lư: Lính Trung Quốc, vốn là sản phẩm của chính sách con một trong suốt 50 năm, một đứa trẻ Trung Quốc được 6 người lớn nuôi dưỡng (2 ông bà nội, có một con trai; hai ông bà ngoại có một con gái; thế hệ thứ hai kết hợp để đẻ ra duy nhất một đứa thuộc thế hệ thứ ba), số lính này không có khả năng để chịu đựng một cuộc chiến sa lầy kéo dài 6 tháng. Duy tŕ được cuộc chiến kéo dài, vốn là một năng lực đặc thù của người Việt Nam. Có thể nói đ̣n tấn công lục quân của Trung Quốc ḥng tràn ngập miền Bắc chắc chắn sẽ bị chặn lại.

Không quân Việt nam không thể tiến hành một cuộc chiến vỗ mặt với không quân Trung quốc. Nó phải lẩn tránh nhằm bảo tồn lực lượng sau các đ̣n oanh tạc phủ đầu. Để thành công cho cuộc chiến bảo tồn này, Việt Nam bằng mọi giá phải tiêu diệt được lực lượng t́nh báo và quân báo Trung quốc hoạt động sâu trong hậu phương. Đây là một bài toán nan giải nếu xét theo bản đồ xâm nhập tràn ngập của công nhân và thương nhân Trung Quốc trên khắp lănh thổ. Tuy nhiên Việt Nam có một bộ máy khá hữu hiệu về hệ thống công an khu vực và tự vệ địa phương. Lực lượng này sẽ phát huy được năng lực của nó tại hậu phương khi bước vào thời chiến. Chiến thuật chính của không quân Việt Nam, là đánh tỉa quấy rối vào lực lượng oanh tạc cơ trung quốc, tránh các đ̣n đánh vỗ mặt với tiêm kích đối phương. Trong lúc đó toàn bộ oanh tạc cơ mang tên lửa chống hạm và tiêm kích đánh biển sẽ được ưu tiên giành cho hạm đội đổ bộ Trung Quốc từ hướng biển.

Hơn 100 máy bay các loại có thể được huy động cho cuộc chiến này. Để pḥng thủ miền Trung, từ Thanh Hóa hất vào Đà Nẵng, Việt Nam có thể triển khai một quân đoàn, vừa nhằm làm lực lượng pḥng thủ chống đổ bộ, vừa làm dự bị chiến lược cho mặt trận pḥng thủ miền Bắc. Việt Nam cũng cần huy động tối thiểu năm triệu người vào lực lượng tự vệ quốc pḥng để chống chiến tranh phá hoại và hỗ trợ cho các lực lượng chính quy. Với số dân trên 40 triệu người tại Miền Bắc, có đủ số người để thiết lập vành đai phongf thủ ở hậu phương. Không quân và các tàu tên lửa tấn công nhanh của Việt Nam có thể được huy động để đánh vào chặng đường tiến công kéo dài trên 500 km của hạm đội đổ bộ Trung Quốc từ Hải Nam. Với các đ̣n đột kích bất ngờ, liên tục từ các căn cứ không quân dă chiến trong đất liền và các vịnh nhỏ kín đáo giáp biển và các đảo ven bờ, hải quân và không quân Việt Nam có thể đánh quỵ hạm đội đổ bộ của Trung Quốc bằng các mũi đột kích liên miên với số lượng nhỏ máy bay và tàu tham chiến. Lực lượng tàu ngầm có thể được huy động để răn đe chiến lược với các tàu chiến có giá trị cao của hải quân trung hoa. Gần như có thể chắc chắn rằng, việc một hạm đội đổ bộ phơi ḿnh trên chặng đường hành quân 500 km trống trải giữa biển, nằm gọn trong tầm oanh tạc của không quân Việt nam và tầm hoạt động của các tàu nhỏ hải quân, sẽ bị tiêu diệt phần lớn sinh lực trước khi nó đến được mục tiêu (Không quân trung Quốc không đủ năng lực để che ô bảo vệ 24/24 trên đầu hạm đội, và kể cả có hoạt động liên tục, cũng không thể chặn hết các đ̣n tiến công của phi cơ đối phương khi chặng đường tiến công từ căn cứ ven bờ đến mục tiêu không quá 30 phút bay). Đón sẵn hạm đội đă bị tổn thất nặng ấy là pháo lớn, tên lửa bờ và các trận địa pḥng thủ bờ biển. Nếu Trung Quốc đủ năng lực như liên quân Mỹ Anh để đổ bộ 155 ngh́n quân lên Normandy trong đợt đầu và 1,33 triệu quân lên trong đợt kế tiếp (Với 12 ngh́n máy bay hỗ trợ, 6900 chiến hạm và 4500 tàu đổ bộ, không quân oanh tạc 14000 ngh́n phi vụ và khoảng cách hành quân chỉ ít giờ do khoảng cách eo biển Pháp – Anh), có lẽ nó sẽ đủ khả năng đổ bộ lên miền Trung Việt Nam, c̣n với năng lực tất tay của không quân và hải quân Trung Quốc hiện nay, đó vẫn là một giấc mơ c̣n rất xa vời.

Phản ứng của thế giới về cuộc chiến Việt Trung và các lợi thế Việt nam có thể tận dụng

Phương Tây và thế giới sẽ không bất ngờ, v́ năng lực vệ tinh định vị hiện nay đủ khả năng giám sát mọi hoạt động tập kết và chuyển quân của Trung Quốc đến từng thời điểm. Mỹ chắc chắn sẽ gửi ít nhất 2 hạm đội tàu sân bay đến Biển Đông, chắc chắn không phải là để tham chiến mà là để giám sát với cái cớ đảm bảo an ninh hàng hải. Nhật sẽ không ngồi im và cũng sẽ gửi hạm đội của ḿnh đến biển đông. Giống Mỹ, người Nhật chắc chắn không tham chiến. Sự có mặt của hạm đội Nhật Mỹ sẽ có tác dụng ḱm chế và ngăn chặn hoạt động của không quân và hải quân Trung Quốc tại Biển Đông và đảm bảo cho ḍng hàng hóa viện trợ của các nước đổ vào Việt nam ở phía Nam, bao gồm hàng hóa quốc pḥng.


H1

Hơn 20 năm qua, người Nhật trung thực giúp đỡ Việt nam để Việt nam mạnh lên, cả về kinh tế và năng lực quốc pḥng. Viện trợ ODA của Nhật đổ vào Việt nam đến nay không dưới 30 tỷ USD. (Riêng năm 2015, Nhật Bản cam kết viện trợ 3,1 tỷ USD). Một cuộc chiến Việt Trung, người Nhật chắc chắn sẽ giành một ngân khoản không dưới 10 tỷ USD giúp Việt nam pḥng thủ, bởi giúp Việt Nam, cũng chính là đảm bảo cho tương lai nước Nhật.

Do vướng mắc trong quá khứ và sự khác biệt chính trị, ḍng viện trợ từ Mỹ vào Việt Nam nhiều khả năng sẽ chảy ṿng vào Nhật Bản, rồi từ đó rots vào Việt Nam. Đây sẽ là một sự hậu thuẫn có ư nghĩa cho cuộc chiến tự vệ kéo dài của người Việt.

Ấn độ, với mối thâm thù kéo dài nhiều thập niên với Trung Quốc chắc chắn cũng hướng về phía Đông một cách thiết thực. Các ḍng vũ khí Ấn độ, dù được viện trợ cho không hay thuê mua, đều sẽ giúp củng cố mạnh năng lực quốc pḥng của Việt nam ở giai đoạn đầu cuộc chiến do tính tương đồng về khí tài.

Sự kiểm soát gần như tuyệt đối của Mỹ, Nhật, Ấn đối với Ấn Độ Dương, eo biển Mallacca và thậm chí là Biển Đông sẽ cung cấp một cái ô cho không quân và hải quân Việt nam ở phía Nam, khi hạm đội Trung Quốc không thể triển khai mạnh trong điều kiện hạm đội Nhật Mỹ hiện diện trong khu vực.

Bài toán chính với Việt Nam là đánh tiêu diệt các căn cứ không quân và hải quân Trung Quốc tại Hoàng Sa và các đảo bồi đắp tại Trường Sa trong giai đoạn hai của cuộc chiến. Các căn cứ này sẽ mang lại lợi thế lớn cho Trung quốc trong giai đoạn 1 của cuộc chiến khi làm cơ sở xuất phát cho các đ̣n đánh phủ đầu. Tuy nhiên do đây là những mục tiêu cố định nằm giữa biển, nằm trong khoảng cách 30 phút bay từ các căn cứ không quân mặt đất của Việt nam. Bằng việc triển khai máy bay oanh tạc bay thấp trong đêm, đột kích liên tục kết hợp các đ̣n đánh cảm từ của lực lượng đặc công hải quân, Việt nam có đủ khả năng xóa sổ và vô hiệu hóa các căn cứ này, và loại chúng khỏi ṿng chiến đấu trong các giai đoạn chiến đấu kéo dài. Thậm chí ngay cả khi Trung Quốc cố gắng vượt cả ngh́n cây số (với tổn hại nặng khi bị không quân Việt Nam đột kích vào đội h́nh kéo dài trên biển), để khôi phục và tiếp viện cho các căn cứ này, Việt Nam vẫn có khả năng mở lại các đ̣n đột kích liên miên để xóa sổ chúng khỏi vai tṛ quân sự. Trong t́nh huống đó, Việt Nam có đủ lợi thế để phong tỏa tàu dầu và các tàu vận tải Trung Quốc qua lại eo biển mallacca. Cuộc chiến kéo dài, Trung Quốc sẽ hết dầu để đổ cho các phương tiện chiến tranh cơ giới.

Phần c̣n lại của thế giới về cơ bản sẽ ngồi im và nghe ngóng. Châu Phi, Nam Mỹ sẽ ngồi xem phim. Asean sẽ phản đối bằng mồm và ngồi im quan sát. Nước Nga sẽ nghe ngóng và ngồi im. Châu Âu sẽ phản đối chiến tranh và tiến hành cấm vận Trung Quốc. Việt Nam cũng chỉ cần thế để tiến hành một cuộc chiến tự vệ kéo dài.

Kết cục của cuộc chiến

Miền Bắc Việt Nam sẽ phải gánh chịu tổn hại nặng nề. Hà Nội, Hải Pḥng và một loạt đô thị lớn sẽ biến thành gạch vụn. Hầu hết các nhà máy điện, năng lượng, các đập thủy điện và các cơ sở kinh tế chính ở miền Bắc sẽ bị hủy diệt. Tổn thất nhân mạng ước tính từ 3 – 5 tr người. Tổng thiệt hại có thể lên tới 100 tỷ USD và nhiều hơn.

Trung Quốc sẽ tổn thất ở Việt nam ít nhất 200 ngh́n quân, số bị thương có thể lên tới 1 tr lính nếu cuộc chiến kéo dài. Hạm đội Trung Quốc sẽ tổn thất khoảng 1/3 do phải chiến đấu ở vùng chiến trường thuộc lợi thế đối phương. Không quân Trung Quốc cũng sẽ mất từ 500 – 1000 máy bay các loại. Tuy nhiên, những ǵ diễn ra sau đó trong ḷng Trung Hoa mới là cơn ác mộng.

Việt nam sẽ bị tổn hại nặng nề, nhưng nó sẽ thoát khỏi cái bóng Trung Quốc một lần và măi măi. Quỹ đạo Việt Nam sẽ gắn với phương tây và không thể quay đầu. Người Việt sẽ mất ít nhất 1 thế hệ để xây dựng lại những ǵ đă mất nhưng tương lai sẽ là thịnh vượng và tự do.

Ngược lại, cuộc chiến sa lầy nặng tại Việt nam, ḍng thương mại bị phong tỏa và cuộc chiến cấm vận của phương Tây sau chiến tranh sẽ khiến Trung Quốc sụp đổ. Khi kinh tế đói kém và hoảng loạn lan tràn, sự chia tách ly khai của Trung Quốc là không thể tránh khỏi. Đài Loan sẽ tuyên bố độc lập khi Trung Quốc sa lầy và không c̣n rảnh tay bóp cổ Đài Loan. Người Tân Cương cũng sẽ tận dụng sự rối ren. Tây Tạng cũng sẽ là một ḷ lửa mới. Ấn độ sẽ nghe ngóng để đoạt lại vùng biên giới giáp hymalaya. Kịch bản tồi tệ nhất là Trung Quốc có thể bị tách làm ba sau các cuộc nội chiến kéo dài. Trung Quốc sẽ mất 50 năm và có thể nhiều hơn để văn hồi những ǵ đă mất. Nhưng giấc mộng Trung Hoa th́ vĩnh viễn sụp đổ.

Do không thể đối mặt với một cuộc chiến kéo dài, cả Trung Quốc và Việt Nam rồi sẽ phải ngồi vào đàm phán sau 6 tháng chiến tranh. Cuộc chiến sẽ để lại nghi kỵ kéo dài và hậu quả thảm khốc cho cả hai bên tham chiến.

Do tính khốc liệt và mức tổn hại kinh khủng của nó, một cuộc chiến tổng lực Việt Trung là cuộc chiến cả hai phía cùng thua. Do đó, đây là một kịch bản có khả năng thấp nhất trong xung đột hai nước. Thay v́ thế, cả hai phía sẽ đối mặt với một cuộc chiến có khả năng lớn hơn nhiều: Cuộc xung đột cục bộ tại khu vực Hoàng Sa và Trường Sa trên biển đông.

Do cuộc chiến cục bộ tại Biển Đông sẽ gắn rất chặt chẽ với chiến lược phát triển quốc pḥng của Việt nam trong tương lai, anh Lăng sẽ bàn riêng về cuộc chiến này và các giải pháp pḥng thủ chiến lược của Việt nam trong bài viết ở phần kế tiếp.

Chúng ta quay lại với một nguy cơ lớn:

MỐI ĐE DỌA HẠT NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

Trung Quốc hiện có không dưới 500 đơn vị vũ khí hạt nhân, Việt Nam không có.

Trung Quốc hiện có không dưới 200 máy bay có thể oach tạc bằng vũ khí hạt nhân, Việt nam không.

Trung Quốc hiện có 2000 tên lửa đạn đạo, hành tŕnh có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, Việt Nam không.

Điều ǵ sẽ diễn ra nếu Trung Quốc giă vào tất cả các thành phố lớn của Việt Nam mỗi nơi một đầu đạn nhiệt hạch? Tất nhiên, đó sẽ là mùa đông hạt nhân.

Việt Nam có giải pháp nào khi không có ǵ trong tay để trả đũa và tự vệ.

Lời giải đến với chúng ta từ lịch sử.

Năm 1952, liên quân Trung Quốc choảng nhau chí tử với liên quân do Mỹ dẫn đầu ở Triều Tiên. Trung Quốc chết trận hơn 1 tr người, tổn thất của Mỹ và đồng minh là hơn 50 ngh́n lính. Cuộc chiến đă dẫn đến kết quả tách đôi Triều Tiên và đẩy Mỹ và Trung Quốc vào vị thế của những kẻ thù cốt tử. Thực trạng ấy giữ nguyên cho đến năm 1969, khi đó Mỹ vẫn là kẻ tử thù của Trung Quốc và nhiều nước (Không dùng từ này).

Cũng trong năm 1969, Mao Trạch Đông xua lính lấn chiếm lănh thổ Liên Xô. Lúc này đang ở đỉnh cao về quân sự, người Nga nhanh chóng đáp trả và hất cẳng toàn bộ bộ binh Trung Quốc về bên kia biên giới. Nga sau đó tập hợp một đạo quân ở vùng viễn đông lên tới 400 ngh́n lính chính quy và trên 12000 xe tăng, khoảng 7 ngh́n máy bay các loại. Đạo quân này được đánh giá là quân đội PLA hiện nay vẫn không phải là đối thủ. Nhưng nguy cơ hủy diệt của Trung Quốc không nằm ở đạo quân này. Liên Xô, quốc gia lúc đó có hơn 20 ngh́n đầu đạn hạt nhân, đă lên kế hoạch về một cuộc tấn công hạt nhân ồ ạt vào lănh thổ Trung Quốc bằng tên lửa tầm trung. Vào năm 1969, Trung Quốc có trong tay không nhiều hơn vài chục đơn vị vũ khí hạt nhân (vụ thử đầu tiên của Trung Quốc là vào năm 1964) với phương tiện mang phóng rất hạn chế, và người Nga đánh giá thiệt hại do khả năng trả đũa của Trung Quốc nằm trong phạm vi kiểm soát. Bộ trưởng Quốc pḥng Liên Xô, Nguyên soái A. A. Grecho và trợ lư Bộ trưởng, Nguyên soái V. I. Chuikov đă cho soạn thảo một kế hoạch tấn công hạt nhân ồ ạt tất cả các thành phố và căn cứ quân sự chính của Trung Quốc. Liên Xô có thừa đầu đạn cho kế hoạch của ḿnh, đối phương cũng gần như không có ǵ trong tay, nhưng Liên Xô đă bị chặn lại, không phải bởi Trung Quốc mà v́ nước Mỹ.

Kể từ khi vũ khí hạt nhân ra đời, nó chỉ được sử dụng duy nhất một lần trong chiến tranh thế giới lần 2. Thứ vũ khí này là phương tiện hủy diệt kinh khủng nhất mà loài người sáng tạo ra. Nước Mỹ đă sử dụng nó trong bối cảnh cả thế giới không ai ngoài Mỹ có. Năm 1969 năng lực răn đe hạt nhân Xô Mỹ là khá cân bằng, cả hai phía đều có thể hủy diệt và gây tổn hại nặng cho nhau. Trung Quốc mới góp mặt trong cuộc chơi hạt nhân và có năng lực không hơn ǵ Kim Jong Un của Bắc Triều Tiên hiện nay là mấy. Liên Xô, với lănh thổ 17 tr km2, vùng lănh thổ trọng yếu phía Tây nằm ngoài năng lực tấn công của Trung Quốc hầu như không đếm xỉa đến vài chục đầu đạn hạt nhân của Mao Trạch Đông. Tuy nhiên trạng thái cân bằng hạt nhân thế giới lúc đó được thiết lập trên quy tắc: Không ai được dùng vũ khí hạt nhân trước. Khi Brezhnev thăm ḍ ư kiến của Mỹ về khả năng tấn công hạt nhân của Liên Xô đối với Trung Quốc, nước Mỹ đă đưa ra một phản ứng cực mạnh và tức thời: Mỹ lên kế hoạch và thông báo sẽ tấn công 130 thành phố của Liên Xô bằng vũ khí hạt nhân nếu phát hiện tên lửa tầm trung mang đầu đạn hạt nhân của Liên Xô rời bệ phóng.

Nhận được tin này qua đường t́nh báo và ngoại giao, Tổng bí thư ĐCS Liên Xô Brezhev thốt lên đầy cay đắng: “Bọn khốn kiếp đó (Mỹ) đă bán đứng chúng ta”. Kế hoạch tấn công hạt nhân của Liên Xô nhằm hủy diệt Trung Quốc được xếp vào ngăn kéo.

Mỹ yêu Trung Quốc chăng? Chuyện cổ tích thời đại v́ năm 1969 Mỹ Trung c̣n gằm ghè sau cuộc chiến chí tử tại Triều Tiên. Nước Mỹ của tự do càng không thể ưa nổi Mao của đại cách mạng văn hóa và đại nhảy vọt. Tuy nhiên, nước Mỹ đă đe dọa tấn công Liên Xô v́ chính an toàn nước Mỹ.

Nếu một quốc gia có vũ khí hạt nhân tùy ư phóng tên lửa hủy diệt một quốc gia khác ngày hôm nay, không có ǵ đảm bảo ngày mai tên lửa đó không quay đầu hươngs về nước Mỹ. Với tư cách là một đại cường, Mỹ chặn nguy cơ ấy lại v́ chính sự sinh tồn của Mỹ chứ không phải v́ Trung Quốc.

Năm 2015, trong phương án tấn công tối mật của Mỹ về một cuộc đại chiến thế giới lần 3, hơn 1000 thành phố, căn cứ quân sự và các mục tiêu trọng yếu của Trung quốc đă nằm sẵn trong một phương án tấn công hủy diệt bằng vũ khí hạt nhân của Mỹ (Wiki leak rồi sẽ tiết lộ phương án này). Do đó, người Việt Nam có thể yên tâm, sử dụng vũ khí hạt nhân tấn công chỉ nằm trong giấc mơ đêm trước tận thế của người Trung Quốc.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Mar 9 2016, 03:48 AM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,938
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



.
Nguy cơ chiến tranh Việt Trung và chiến lược pḥng vệ của Việt Nam (P3)


FB Lăng Anh

7-3-2016

Trước khi các bạn định đọc thiên Lăng luận này các bạn cần lưu ư: (1)Bài viết này rất dài và anh khuyến cáo đừng ai đọc. (2)Nếu đă đọc th́ hăy đọc chậm, đọc kỹ và đọc cho hết. Đă đọc rồi th́ đừng vội comment, nghĩ thật kỹ rồi hăy comment. Và (3) nếu ai đọc lời cảnh báo này rồi mà c̣n comment tại sao bài viết quá dài th́ sẽ bị anh block thẳng tay không thương tiếc smile.gif. Trân trọng!

Nội dung chính của bài viết này sẽ tập trung vào mối nguy của một cuộc chiến tranh cục bộ tại biển Đông, phạm vi chiến trường giới hạn trong khu vực quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Chiến sự cũng sẽ lan rộng đến một loạt các căn cứ không quân và hải quân nằm dọc bờ biển Việt Nam, từ Quảng Ninh kéo dài xuống khu vực duyên hải miền Trung. Đây là cuộc chiến có xác suất lớn nhất và cũng sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng lâu dài nhất đối với bối cảnh địa chính trị khu vực Đông Nam Á, trong đó chịu tác động nặng nhất chính là Việt Nam.

Để nắm được mạch phân tích trong bài viết này, đề nghị các bạn cần đọc kỹ lại các phần phân tích trước trong cùng loạt bài:

Phần 1: Đánh giá mối nguy cơ chiến tranh Việt Trung từ các phân tích lịch sử và văn hóa; các phân tích tổng hợp về tiềm lực quân sự Trung Hoa

Phần 2: Phân tích về cuộc chiến tổng lực Việt Trung, giải pháp cho một cuộc chiến tranh hạt nhân. Đây là một bài phân tích có tính loại trừ, tuy nhiên, để đề pḥng cho một cơn mưa, người ta vẫn luôn cần mang theo một chiếc áo mưa gấp gọn. Hiểm họa sẽ luôn xảy ra ngay khi bạn không có chuẩn bị ǵ cho nguy cơ ấy.

3. Đây là một bài phân tích không nằm trong loạt bài này, nhưng có mối quan hệ tương quan khá chặt chẽ. Hẳn hiện nay có nhiều người vẫn c̣n ám ảnh về cuộc chiến khốc liệt ba bên Việt – Trung – Campuchia cuối những năm 1970 và kéo dài đến tận năm 1988. Bối cảnh lịch sử và chính trị ở Campuchia hiện nay đă rất khác. Ngày nay, với một chế độ bầu cử tự do, dù vẫn đang nằm dưới sự ngự trị của Hunsen nhưng người Campuchia rất thực dụng và dân trí đang tiến nhanh. Campuchia đang tận dụng rất tốt mâu thuẫn giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam để mặc cả quyền lợi cho ḿnh. Điều đó khiến Campuchia trở nên đáng ghét nhưng cũng chính v́ thế mà mối nguy xung đột giữa Campuchia và Việt Nam gần như có thể loại trừ: Khi một dân tộc bắt đầu được nếm mùi tự do và trở nên thực dụng hơn, họ cũng đồng thời biết đâu là giới hạn và khôn ngoan hơn và khó có điều ǵ khiến họ đủ ngu dốt để bán máu cho dân tộc khác, đất nước khác: Cambodia, lá bài cũ và câu chuyện mới của người Trung Quốc

Quay trở lại câu chuyện chính: THANH GƯƠM DAMOCLES TREO TRÊN BIỂN ĐÔNG

Hầu hết các hăng thông tấn toàn cầu và nhiều nhà phân tích chính trị đều bày tỏ mối lo ngại lớn về nguy cơ xung đột trên biển đông trong những tháng cuối năm 2015 và đặc biệt là đầu năm 2016. Nỗi lo ngại của họ hoàn toàn có lư khi xét đến mật độ tập hợp các phương tiện chiến tranh của các nước có liên quan trong vùng biển hẹp này đang tăng nhanh và dày đặc tới mức rất đáng sợ. Số tàu ngầm, chiến hạm, máy bay và các phương tiện vũ khí khác được triển khai dày đặc tại các căn cứ bao quanh biển Đông bởi Trung Quốc, Việt Nam, Mỹ, Singapore, Mă lai, Indonesia và Philipin. Và dù ở xa hơn, cả người Nhật, người Ấn và người Úc cũng đều gửi các hạm tàu và máy bay tuần tiễu của ḿnh đến vùng biển này. Nếu chiến tranh là một hệ quả tất yếu của các tranh chấp lănh thổ bế tắc và sự sẵn sàng của các phương tiện chiến tranh, th́ có thể nói các điều kiện cần thiết cho xung đột ở Biển Đông đều đă sẵn sàng.

Có những lư do khiến nhiều người tin chiến tranh chưa thể nổ ra, do tính kết nối quá lớn của các quốc gia khu vực với giao thương quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên nh́n vào lịch sử, mối quan hệ kinh tế tăng mạnh đă chẳng ngăn được cuộc chiến Đức – Anh, và màn tŕnh diễn đơn phương của Putin ở Crimea tiếc thay lại là một ví dụ tham khảo tốt cho Trung Quốc về điều một nước lớn có thể làm trong một cuộc xâm lược có kiểm soát đối với láng giềng. Tất nhiên sức mạnh răn đe của TQ chưa thể bằng Nga, và trong khu vực cũng không có ai giống như Ucraine, khi Việt Nam vốn luôn là một đối thủ đáng gờm, c̣n Philipin vẫn có hiệp ước an ninh với Mỹ.

Tuy nhiên, nh́n từ nhiều yếu tố, cả về lịch sử lẫn các áp lực hiện tại, có quá nhiều cơ sở để thấy lưỡi gươm Damocles đang treo lơ lửng trên đầu các quốc gia ven biển Đông, mà trực tiếp nhất chính là Việt Nam, cụ thể:

Cuộc chiến quyền lực của Tập Cận B́nh ở TQ đă chấm dứt. Tập hiện là một tay độc tài có quyền lực tuyệt đối thậm chí vượt xa Đặng Tiểu B́nh và bám sát nếu không muốn nói là ngang bằng Mao Trạch Đông. Đây là một tín hiệu không lành với chính Trung Quốc và các nước láng giềng. Đặc tính chung của những quyền lực độc tài là xu hướng dùng bạo lực thay v́ thỏa hiệp với các tranh chấp.
Kinh tế TQ đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng. Số lượng người mất việc đang tăng rất nhanh, tạo ra những vấn đề lớn về an sinh. Bên cạnh đó, các mâu thuẫn nội tại vốn có trong xă hội TQ vẫn c̣n nguyên và chỉ chờ một tác nhân dẫn lửa là bùng phát. Tăng trưởng yếu đi khiến các mũi dùi chĩa vào quyền cai trị độc tài của Đảng (Không dùng từ này) TQ mỗi lúc một tăng. Xuất khẩu khủng hoảng ra bên ngoài bằng một cuộc chiến có kiểm soát là một lối thoát cho Tập Cận B́nh và ĐCS Trung Quốc. Đây cũng là giải pháp được nhiều triều đại Trung Hoa quen dùng, gồm cả Mao Trạch Đông lẫn Đặng Tiểu B́nh, và đối tượng được nếm giải pháp này nhiều lần nhất trong lịch sử, không phải ai khác chính là Việt Nam.
Trong nhiều thập niên, Trung Quốc đă thực hiện chiến dịch tuyên truyền và chuẩn bị tâm lư rất kỹ càng cho đại bộ phận dân chúng Trung Quốc về đường lưỡi ḅ và chủ quyền của Trung Quốc về các quần đảo ở biển Đông. Thế mạnh quân sự vượt trội khiến trên 80% số thanh niên TQ hiện đều rất hung hăng và cho rằng việc dùng sức mạnh để chiếm trọn biển Đông là hoàn toàn hợp lư. Có thể nói, Trung Quốc đă chuẩn bị rất kỹ cho cuộc chiến về mặt tuyên truyền và con người cho cuộc chiến tranh tương lai ở Biển Đông.
Các khoản đầu tư hàng trăm tỷ USD mỗi năm vào quân sự khiến TQ có sức mạnh bằng hầu như tất cả các nước châu Á cộng lại. Số lượng máy bay tại các đại quân khu, số khu trục hạm, tuần dương hạm và tàu tên lửa biên chế tại ba hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải của Trung Quốc hiện vượt xa quy mô không quân và hải quân của cả Ấn Độ và Nhật Bản cộng lại. Dù các tàu chiến và máy bay TQ có thể thua kém Nhật Bản đôi chút về công nghệ tinh vi, nhưng khoảng cách đang ngày một thu hẹp, và điều quan trọng là số lượng th́ TQ vượt xa mọi đối thủ. Nếu chiến tranh là sự so đọ khả năng chấp nhận tổn thất và tiêu hao, th́ về mặt này châu Á không ai so được với TQ. Riêng hạm đội Nam Hải và lực lượng không quân đóng tại căn cứ Tam Á, Du Lâm có sức mạnh vượt xa hải quân và không quân của tất cả các nước Đông Nam Á cộng lại, nếu chỉ xét đơn thuần về số lượng trang bị và đơn vị khí tài.
Dù bảy đảo nhân tạo tại Trường Sa vẫn chưa hoàn tất, nhưng sự sẵn sàng phục vụ chiến tranh của các căn cứ tại đảo Phú Lâm – Hoàng Sa và các căn cứ tại Du Lâm – Hải Nam khiến Trung Quốc có thể tung một đ̣n đánh phủ đầu ồ ạt bằng không quân tới các căn cứ ven biển của các nước ven biển Đông, đặc biệt là Việt Nam. Mức đe dọa sẽ ngày một nặng nề khi các phi đạo tại Trường Sa hoàn tất. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc có khả năng uy hiếp nặng nề mọi quốc gia Đông Nam Á, và phần nào loại trừ được nguy cơ bị kiểm soát yết hầu Mallaca từ Mỹ và đồng minh.
Giữa năm 2016, vụ kiện của Philipin với Trung Quốc tại Ṭa án Trọng tài Thường trực Liên hợp quốc (PCA) sẽ có kết quả rơ ràng. Với sự từ chối tham dự của Trung Quốc và các chứng lư Philipin đă nêu, có tới 99% khả năng TQ sẽ phải nhận một phán quyết bất lợi cho tham vọng độc chiếm biển Đông của họ. Điều này có thể thôi thúc TQ hành động mạo hiểm để tạo sự đă rồi trước một phán quyết bất lợi cho ḿnh.
T́nh h́nh căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên có thể cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội tuyệt hảo để lợi dụng cho các hành vi xâm lăng có kiểm soát. Nước Nga và châu Âu đang bận rộn với câu chuyện Syria và ḍng người di dân. Mỹ cũng buộc phải phân tán nguồn lực của ḿnh để đối phó với các căng thẳng ngày một tăng ở châu Âu và Trung Đông. Bên cạnh đó, lần đầu tiên kể từ năm 1952, Trung Quốc đă bắt tay với Mỹ và đưa ra một lệnh trừng phạt rất nặng nề đối với Triều Tiên. Có thể cho rằng đó là sự trừng phạt của Trung Quốc đối với thái độ nhờn mặt của Kim Jung Un kể từ khi lên nắm quyền tại Bắc Triều Tiên, nhưng cũng có thể lư giải Trung Quốc đang chơi một ván cờ với nhiều mục tiêu. Bằng việc dồn Kim Jung Un đến thế đường cùng, bán đảo Triều Tiên đang nóng hơn bao giờ hết, rất có thể Triều Tiên sẽ phản ứng cực kỳ hung hăng đối với các biện pháp kiểm soát tàu bè ra vào Triều Tiên theo nghị quyết trừng phạt mới. Điều này có thể khiến nổ ra các vụ chạm súng trực tiếp giữa Bắc Triều Tiên với Hàn Quốc và Nhật Bản, những quốc gia thù địch sát sườn. T́nh huống này nổ ra sẽ đặt Mỹ và đồng minh Đông Bắc Á trước áp lực cực kỳ căng thẳng v́ Triều Tiên sở hữu vũ khí tấn công hạt nhân. Ngoài ra, năm 2016 nước Mỹ đang bước vào mùa bầu cử, mọi sự chú ư đều đang dồn vào cuộc đấu giữa các ứng viên và hai đảng Dân chủ – Cộng ḥa, Mỹ sao nhăng rất nhiều các vấn đề quốc tế. Trung Quốc chắc chắn sẽ tận dụng cơ hội này để giải quyết mọi vấn đề đă nêu từ mục (1) đến mục (6) như đă phân tích ở trên.
Điểm lại lịch sử, tham vọng mở rộng lănh thổ của Trung Quốc là vô cùng lớn và nó luôn được mọi triều đại cai trị Trung Quốc nung nấu và kế thừa, dù đó là thời phong kiến hay đến thời cận đại của Tưởng Giới Thạch. Và dù là một đối thủ một mất một c̣n nhưng Mao Trạch Đông chẳng thấy phiền hà ǵ khi tiếp thu và phát triển thêm tham vọng bành trướng biển Đông của Tưởng. Đến thời Đặng Tiểu B́nh, nó được hiện thực hóa bằng cuộc xâm lăng Hoàng Sa năm 1974, cuộc chiến biên giới khốc liệt với Việt Nam kéo dài từ 1979 đến 1988, và đặc biệt là cuộc xâm lăng chiếm 6 đảo đá tại Trường Sa năm 1988. Trong tất cả các cuộc chiến xâm lược ấy, rất đáng tiếc, nạn nhân luôn là Việt Nam và phần thất trận cũng luôn thuộc về Việt Nam. Ngày nay, Tập Cận B́nh đang kế thừa tiếp dă tâm ấy, và Tập đă rất sẵn sàng. Cái c̣n thiếu chỉ là thời cơ.

Có thể nói Trung Quốc rất giỏi trong việc tận dụng thời cơ. Tây Tạng từng giành được độc lập năm 1913, và họ duy tŕ được nền độc lập của ḿnh đến năm 1951. Lợi dụng việc toàn thế giới bị hút vào cuộc chiến Triều Tiên 1950 – 1953, dù đă gửi hàng triệu lính đến Triều Tiên, Mao Trạch Đông vẫn âm thầm gửi một đội quân đến Tây Tạng mà không ai kịp nhận ra. Khi nước Mỹ thoát khỏi được cuộc chiến Triều Tiên th́ Tây Tạng đă là một câu chuyện đă rồi với Trung Quốc. Năm 1959, sau một cuộc kháng cự bất thành, nền độc lập của Tây Tạng chính thức bị xóa sổ. Quốc gia này đă biến mất trên bản đồ thế giới. Người Tây Tạng đang bị gạt ra bên lề và biến thành thiểu số trên chính quê hương sau các kế hoạch Hán hóa của Bắc Kinh. Ngày nay, họ chỉ c̣n dám mơ về một quyền tự trị ít ỏi về văn hóa mà cũng chẳng thể đạt tới.

Năm 1974, khi cuộc chiến Nam – Bắc ở Việt Nam đang bước vào chặng xế chiều. Mỹ kư hiệp định Paris và rút khỏi cuộc chơi, miền Nam kiệt quệ v́ viện trợ cắt giảm c̣n miền Bắc đang há miệng mắc quai v́ công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng kư ngày 14/09/1958 theo đó thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc (Đây là một vết nhơ lớn nhất trong sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh, năm 1958 đang là lănh tụ tối cao và đầy quyền lực, ông Hồ không kư, nhưng tất nhiên ông Phạm Văn Đồng chỉ có thể kư công hàm dưới sự cho phép của ông Hồ); Mao Trạch Đông chớp lấy thời cơ ấy đă gửi hạm đội đến Hoàng Sa (Từ 1954 – 1972 khi Mỹ c̣n sát cánh với VNCH, quyền kiểm soát Hoàng Sa luôn nằm trong tay người Việt và Mao chưa bao giờ dám gửi hạm đội tới đó). Sau nỗ lực kháng cự ngắn ngủi bất thành của Việt Nam Cộng Ḥa, lúc đó đă rất suy yếu và đang trên đà bại trận trước Bắc Việt, người Việt mất trọn vẹn Hoàng Sa và chưa nh́n thấy tương lai lúc nào đ̣i lại được.

Năm 1988 đồng minh duy nhất của Việt Nam là Liên Xô đang sụp đổ, kinh tế Việt Nam khủng hoảng và kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh và cai trị dốt nát của ĐCS, Đặng Tiểu B́nh chớp thời cơ gửi hạm đội tới Trường Sa. Hải quân Việt Nam nhận lệnh không nổ súng, dù vô cùng dũng cảm, họ mất một số tàu và 64 thủy binh. Việt Nam cũng đồng thời mất 6 đảo đá chiến lược tại Trường Sa.

Năm 1995, lợi dụng liên minh Mỹ – Philipin suy yếu sau khi người Philipin yêu cầu Mỹ rời căn cứ hải quân Subic từ năm 1992, Trung Quốc gửi bảy tàu đến chiếm đá vành khăn đang nằm dưới sự kiểm soát của Philipin. Quốc gia này bất lực và thấm đ̣n đau cho sự sai lầm chiến lược của ḿnh.

Năm 2012, Trung Quốc lần đầu tiên thí điểm chiến lược bắp cải để chiếm đoạt băi đá scaborough do Philipin kiểm soát. Bằng việc sử dụng tàu cá, tàu công vụ chiếm lĩnh ṿng trong và tàu quân sự đe dọa ṿng ngoài, cuối cùng Trung Quốc kiểm soát được băi đá này. Bất lực trên thực địa, người Philipin sau đó chọn một hướng đi mà họ ít nhiều đạt được thành công khi kiện Trung Quốc ra ṭa quốc tế.

Tháng 5/2014 Trung Quốc điều giàn khoan Haiyang 981 và hơn 100 tàu chiến vào lănh hải Việt Nam. Các nguồn lực và sự chú ư của Việt Nam bị hút cạn vào cuộc chiến ṿi rồng và đâm húc không cân sức với Trung Quốc (Chính xác th́ chỉ có TQ dùng ṿi rồng và đâm húc tàu Việt nam, phía Việt Nam chỉ duy tŕ sự hiện diện và dùng loa phản đối). Trong lúc đó Trung Quốc ồ ạt xây 7 đảo nhân tạo tại các băi đá đă chiếm từ Việt Nam và Philipin ở Trường Sa, tiến một bước rất dài trong lộ tŕnh xâm lược biển Đông.

Điểm lại tất cả các sự kiện trên, có thể nói Trung Quốc rất giỏi trong việc chớp thời cơ cho các hành vi xâm lấn của ḿnh.

Năm 2016 và các năm kế tiếp, có rất nhiều thời cơ Trung Quốc có thể tận dụng để phục vụ cho dă tâm xâm lược xuyên suốt của họ. Cũng trong vài năm tới đây, nhu cầu xuất khẩu khủng hoảng bằng một cuộc chiến tranh sẽ ngày càng lớn với TQ. Một cuộc chiến có kiểm soát và giành thắng lợi ở Biển Đông, có thể khiến Tập Cận B́nh ngồi vững trên ngai vàng thêm ít nhất 10 năm bất chấp các biến động xă hội lớn trong nước do kinh tế suy thoái, và nếu thắng, đương nhiên TQ sẽ bước càng xa trên lộ tŕnh độc chiếm Biển Đông mà họ chưa bao giờ xao nhăng. Có quá nhiều lư do cho chiến tranh và có quá ít lư do để ngăn chặn nó. Đó là thực trạng hiện tại.

NẾU CÓ XUNG ĐỘT, TRUNG QUỐC SẼ ĐÁNH AI?

Không khó để trả lời, Việt Nam là đối tượng thích hợp nhất. Philipin và Việt Nam đang là những quốc gia đối đầu với TQ mạnh nhất ở Biển Đông, có mâu thuẫn lớn nhất. Tiềm năng quân sự của Philipin không đáng kể, nhưng vùng lănh thổ tranh chấp giữa Philipin với Trung Quốc tại Trường Sa nằm rất gần Philipin. Nếu Philipin bị buộc ép vào xung đột, quốc gia này có thể gây những tổn hại dai dẳng cho TQ bằng các hoạt động tấn công du kích, dù là vào thương thuyền Trung Quốc hay các tàu quân sự của TQ tại Trường Sa. Trong khi Trung Quốc hầu như không thể tấn công vào các căn cứ trên lănh thổ đất liền và nội hải của Philipin v́ đất nước này được bảo vệ bởi hiệp ước an ninh Mỹ – Phi, và điều đó sẽ kéo trực tiếp Mỹ vào xung đột.

So với Philipin, Việt Nam sẵn sàng cho chiến tranh hơn rất nhiều. Trong nhiều năm qua không quân và hải quân Việt Nam được đầu tư lớn. Hiện nay không quân Việt Nam đă vượt lên đứng đầu Đông Nam Á về số lượng tiêm kích hạng nặng hiện đại. Năng lực tấn công của Hải quân cũng đă có một bước tiến rất dài với việc biên chế 5 tàu ngầm tấn công Kilo và 10 tàu tên lửa thế hệ mới. Ngoài ra, Việt Nam c̣n có một kho vũ khí lục quân rất hùng hậu, dù tính năng tác chiến có thể thua kém các thế hệ vũ khí gần đây nhưng chúng vẫn có uy lực sát thương ghê gớm và hoàn toàn có thể phát huy hiệu quả khi sử dụng đúng cách. Sự thất trận năm 1974 và 1988, đặc biệt là t́nh trạng căng thẳng ngày càng leo thang khiến Việt Nam luôn cảnh giác trên biển. Tuy nhiên, so sánh với Trung Quốc, về mọi tiêu chí lực lượng quân sự song phương đều chênh lệch quá xa. Ngoài ra, Viêt Nam hoàn toàn không có một hiệp ước an ninh với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới. Bên cạnh đó, do có biên giới đất liền kề sát, Trung Quốc dễ dàng tập kết quân đe dọa trong trường hợp căng thẳng để răn đe khiến Việt Nam phải tự hạn chế các phản ứng quân sự trả đũa trên biển của ḿnh. Và đặc biệt là, việc người Trung Quốc hiện diện với số lượng cực lớn khắp từ Nam chí Bắc khiến Trung Quốc có lợi thế vượt trội trong việc thu thập các thông tin t́nh báo về vị trí và hiện trạng của hầu như toàn bộ các căn cứ không quân và hải quân chính của Việt Nam. Điều đó khiến thiệt hại của đ̣n phủ đầu nếu TQ muốn đánh vào các lực lượng không quân lẫn hải quân của Việt Nam có thể vô cùng lớn.

Do đó, có thể nói Việt Nam là mục tiêu thích hợp nhất của Trung Quốc.

PHƯƠNG ÁN TẤN CÔNG CỦA TRUNG QUỐC

Khi một cường quốc muốn t́m cớ cho một cuộc chiến tranh, không khó để họ làm điều đó. Cuộc xung đột có thể bắt đầu bằng hành vi bắt bớ gia tăng của tàu chấp pháp Trung Quốc đối với các tàu dân sự, thậm chí cả tàu chấp pháp Việt Nam. Trung Quốc có thể ép Việt Nam vào thế đường cùng bằng cách mở rộng quyền kiểm soát thực tế tới sát mép ngoài của đường lưỡi ḅ, vốn ăn rất sâu vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của lănh hăi Việt Nam. Nó thậm chí có thể mang giàn khoan đến cắm sát mép này, hoặc nổ súng trong các cuộc rượt đuổi các tàu chấp pháp hoặc tàu quân sự Việt Nam. Ở thế chủ động gây hấn, Trung Quốc sẽ chuẩn bị rất kỹ các phương tiện nghe nh́n. Ngay khi một tàu Việt Nam bị ép vào thế đường cùng buộc phải nổ súng, Trung Quốc có thể quay lại, họp báo công khai và biến đó thành cái cớ cho cuộc chiến.

Phi đạo tại Trường Sa giờ đă sẵn sàng cho máy bay Trung Quốc cất cánh. Trong những giờ đầu cuộc chiến, Trung Quốc có thể đồn trú trên dưới 50 tiêm kích bom và oanh tạc cơ tại các phi đạo này. Một lực lượng không quân tương tự cũng được đồn trú tại Phú Lâm và các đường băng tại Hoàng Sa. Các lực lượng này, phối hợp với 200 – 300 máy bay tiêm kích và oanh tạc cơ tại Hải Nam sẽ là lực lượng đột kích đánh đ̣n phủ đầu chủ yếu của Trung Quốc.

Máy bay xuất phát từ Trường Sa sẽ chỉ đánh đ̣n phủ đầu ồ ạt một chiều, vào các căn cứ không quân và hải quân đồn trú tại Biên Ḥa, Nha Trang và khu vực phía Nam. Ngay sau khi kết thúc các đ̣n đánh phủ đầu, số máy bay này sẽ không hạ cánh tại các phi đạo Trường Sa mà rút về Hoàng Sa và sau đó là Hải Nam để tránh các đ̣n tấn công trả đũa. Riêng các căn cứ không quân và hải quân khu vực Đà Nẵng và duyên hải miền Trung sẽ được chăm sóc rất kỹ với các đ̣n đột kích xuất phát từ Hoàng Sa. Cam Ranh sẽ là nơi bị chăm sóc triệt để nhất để đánh tê liệt và vô hiệu hóa căn cứ hải quân trọng yếu và là cảng nhà của hạm đội tàu ngầm Việt Nam. Mất Cam Ranh, sau 1 tháng chiến tranh lực lượng tàu ngầm Việt Nam sẽ bị vô hiệu hóa do không c̣n được đảm bảo hậu cần.

Lực lượng oanh tạc cơ xuất phát từ Hải Nam, với số lượng từ 200 – 300 máy bay, sẽ tấn công ồ ạt vào các căn cứ hải quân và không quân nằm ven biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh. Các đ̣n tấn công này nếu đạt được mục đích ban đầu sẽ gây thiệt hại cực lớn cho các lực lượng không quân, hải quân và đặc biệt là có khả năng hủy diệt các căn cứ ven biển của Việt Nam. Mức tàn phá của các đ̣n đánh này được đảm bảo thêm v́ sự hiện diện cực kỳ đông đảo của người Trung Quốc ở Việt Nam, khiến họ có lợi thế định vị bằng mắt người trên thực địa thay v́ vệ tinh quan sát.

Trong những giờ đầu tham chiến, các chiến hạm lớn của Trung Quốc sẽ được giữ yên trong căn cứ, trong lúc tàu ngầm sẽ được huy động để phong tỏa các cảng biển và đối phó lực lượng tàu ngầm của Việt Nam. Nếu Việt Nam bị động trước các đ̣n tấn công phủ đầu, nhiều khả năng các tàu ngầm sẽ bị tiêu diệt ngay tại cảng hoặc bị tiêu diệt ngay khi rời căn cứ bởi tầu ngầm Trung Quốc. Các khu trục hạm và tàu tên lửa cỡ nhỏ Trung Quốc sẽ được sử dụng để loại khỏi ṿng chiến đấu các đảo nhỏ và Việt Nam đang đồn trú ở Trường Sa.

Do đây là cuộc chiến cục bộ, Trung Quốc sẽ giới hạn sự tham gia của lực lượng tên lửa chiến lược. Trung Quốc có thể tấn công các căn cứ không quân sâu trong nội địa Việt Nam bằng tên lửa đạn đạo và tên lửa hành tŕnh, số lượng nằm trong phạm vi kiểm soát để gây thiệt hại trong những giờ đầu và tránh chiến tranh lan quá rộng.

Để gây sức ép khiến Việt Nam kiềm chế, trên bộ Trung Quốc sẽ huy động 20 – 25 sư đoàn áp sát biên giới. Có thể sẽ có các đ̣n tấn công khiêu khích tại đường biên hoặc các vụ bắn pháo qua biên giới để gây đe dọa. Tuy nhiên, chỉ trừ trong t́nh huống muốn chiến tranh tổng lực, lục quân Trung Quốc sẽ không ồ ạt tấn công.

Trong trường hợp các mục tiêu quân sự của TQ đạt được, Việt Nam có thể bị tổn thất từ 30 – 50% lực lượng không quân, 50 – 70% lực lượng hải quân và mất tất cả các căn cứ hải quân ven biển. Điều này sẽ khiến năng lực trả đũa của Việt Nam hoàn toàn bị bẻ gẫy.

Trong giai đoạn hai của cuộc chiến, Trung Quốc sẽ chiếm toàn bộ các đảo Việt Nam kiểm soát tại Trường Sa. Nó sẽ củng cố các căn cứ, duy tŕ lực lượng không quân và hải quân phù hợp tại Hoàng Sa, Trường Sa, kết hợp với lực lượng không quân chủ lực tại Hải Nam để thường xuyên phong tỏa mọi hoạt động hàng hải và hàng không của Việt Nam từ vịnh Bắc Bộ kéo dài tới TP Hồ Chí Minh. Mục tiêu của giai đoạn này là săn lùng và tiêu diệt những ǵ c̣n lại của hải quân Việt Nam, bẽ găy các đ̣n đột đích của lực lượng không quân c̣n lại và đặc biệt là hủy diệt giao lưu kinh tế hàng hải Bắc – Nam của Việt Nam. Mục đích chính của giai đoạn này, là khiến Việt Nam kiệt quệ, lâm vào khủng hoảng và buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với các điều kiện do Trung Quốc áp đặt. Nếu thành công, Trung Quốc sẽ loại Việt Nam ra khỏi Trường Sa và hiện thực hóa được đường lưỡi ḅ trên thực tế.

VIỆT NAM CÓ THỂ LÀM G̀?

Để chống lại các đ̣n tấn công phủ đầu của Trung Quốc, Việt Nam chỉ có thể dựa vào hai giải pháp chính. Thứ nhất là lực lượng pḥng không mặt đất, gồm các trận địa tên lửa pḥng không và pháo mặt đất. Giải pháp thứ hai, chính là phân tán và ẩn núp. Việt Nam hiện có trên dưới 40 máy bay tiêm kích đa năng thế hệ 4 và 4+ Su27/Su30 khá hiện đại, có thể gây thiệt hại cho hải quân và không quân Trung Quốc. Tuy nhiên số lượng này rất ít ỏi nếu so sánh với không quân Trung Quốc. Ch́a khóa thắng bại chiến tranh của Việt Nam nằm ở việc có bảo tồn được số khí tài này cho cuộc chiến du kích lâu dài hay không. V́ vậy, mấu chốt của vấn đề là Việt Nam phải bảo tồn số phương tiện chiến tranh này, và tránh đưa chúng nghênh chiến trong giai đoạn đầu của chiến tranh, mà giành chúng cho cuộc chiến du kích trường kỳ sau này.

Giai đoạn đầu cuộc chiến, do đó Việt Nam chỉ có thể dựa vào lực lượng pḥng không mặt đất, đưa một số lượng ít tiêm kích đời cũ Mig21 và Su22, lợi dụng lợi thế địa h́nh và các đài dẫn đường mặt đất để đánh tập kích quấy rối các lực lượng không quân tấn công Trung Quốc, c̣n lại toàn bộ các lực lượng không quân và hải quân hiện đại đều phải phân tán ẩn núp để bảo tồn sinh lực. Nếu Việt Nam giữ được 70 – 80% lực lượng không quân và hải quân của ḿnh sau các đ̣n tấn công phủ đầu, có thể nói, đó sẽ là yếu tố chiến lược quyết định kết quả cuộc chiến. Việt Nam hiện có hai tiểu đoàn tên lửa S300 PMU tối tân nhưng cơ số đạn chỉ vài chục quả. Số tên lửa này chỉ có thể dùng để bảo vệ Bộ tổng tư lệnh trong t́nh huống chiến tranh chứ không thể đem ra ứng chiến.

Để bảo tồn sinh lực, Việt Nam cần làm tốt công tác thu thập t́nh báo, theo dơi mọi hoạt động chuyển quân và tập kết khí tài của Trung Quốc, khi có dấu hiện chiến tranh, cần phân tán và sơ tán khí tài, đặc biệt là các máy bay thế hệ mới và các tàu chiến chủ lực, cần sơ tán xa vào các căn cứ khu vực phía Nam. Ngoài ra, phải vận dụng lực lượng an ninh tự vệ để loại bỏ lực lượng thám báo và t́nh báo mặt đất của Trung Quốc. Đây không phải là chuyện dễ dàng, và Việt Nam phải chuẩn bị cho nó ngay từ bây giờ. Nếu cứ tiếp tục để người Trung Quốc tràn ngập mất kiểm soát, từ lao động cho đến định cư chui hoặc mua bán tự do như hiện nay, mọi việc sẽ là quá muộn.

Lực lượng tàu ngầm là lực lượng chiến lược, có uy lực răn đe rất mạnh nhưng cũng rất dễ tổn thương và vô hiệu hóa khi bị loại mất cảng nhà. Việt Nam cần xây dựng các căn cứ tiếp vận lâm thời cho tàu ngầm ở khu vực phía Nam, thậm chí xa về mạn Phú Quốc, cần tận dụng các vịnh kín ven bờ được che chở bởi các đảo để làm các chỗ trú ẩn kín cho tàu ngầm và chiến hạm, đồng thời đảm bảo được năng lực tiếp vận hậu cần cho chúng trong giai đoạn sau của chiến tranh khi tất cả các căn cứ hải quân cố định chính đă bị tiêu diệt.

Do lực lượng pḥng không mặt đất của Việt Nam hiện vẫn dựa chủ yếu vào các dàn tên lửa S125 (Sam3) nâng cấp và các trận địa cao xạ. Số khí tài này có từ thời chiến tranh Việt Nam và đă lạc hậu rất nhiều về mặt kỹ thuật, đặc biệt khi đối phương sở hữu số lượng lớn các chiến đấu cơ thế hệ 4, do đó có thể nói các căn cứ mặt đất và hải quân ven biển chắc chắn sẽ bị Trung Quốc hủy diệt. Tuy nhiên, với kinh nghiệm tổ chức tốt các trận địa phối hợp và các trạm rada cảnh giới dày đặc, Việt Nam vẫn có thể bắn hạ từ 20 – 50 máy bay Trung Quốc trong giai đoạn tấn công phủ đầu. Đổi lấy chiến quả này là một số lớn các trận địa tên lửa bị tiêu diệt và sự hủy diệt của các mục tiêu cố định. Việt Nam cần tính toán để đảm bảo các lực lượng pḥng không mặt đất c̣n duy tŕ được ít nhất 60% lực lượng cho cuộc chiến lâu dài sau này.

Các đảo tại Trường Sa sẽ bị cô lập ngay từ những giờ đầu. Việc giữ hay chi viện cho các đảo này là bất khả thi và sự tồn tại của chúng đành tùy thuộc vào lực lượng đồn trú tại các đảo. Tất nhiên, hy vọng giữ được chúng là rất mong manh.

Trên biên giới phía Bắc, ngay khi Trung Quốc tập kết quân, Việt Nam cần thiết lập vành đai pḥng thủ với trên dưới 15 sư đoàn, đồng thời tổng động viên để có từ 2 – 5 triệu người sẵn sàng bổ sung cho lực lượng pḥng thủ. Nhiệm vụ của lục quân Việt Nam là pḥng thủ chặt và sẵn sàng cho mọi t́nh huống leo thang.

Trong giai đoạn hai của cuộc chiến, với số khí tài c̣n bảo tồn được, chiến lược chủ yếu của Việt Nam là đánh quấy rối và du kích với các lực lượng không quân và hải quân Trung Quốc đồn trú tại Hoàng Sa, Trường Sa và mọi tàu thuyền mang cờ hiệu Trung Quốc di chuyển ra ngoài Mallaca. Mục tiêu chính của Việt Nam trong giai đoạn này, là phải loại được khỏi ṿng chiến đấu các phi đạo tại Trường Sa và Phú Lâm – Hoàng Sa. Việc này hoàn toàn có thể làm được nếu Việt Nam tổ chức các đ̣n đột kích chớp nhoáng bằng không quân bay đêm với độ cao thấp từ các căn cứ không quân dă chiến nằm dọc lănh thổ từ Thanh Hóa kéo dọc duyên hải miền Trung cho đến phía Nam. Các tàu tên lửa cỡ nhỏ của hải quân cũng có thể được vận dụng phối hợp cho các đ̣n tấn công từ các căn cứ ẩn núp ở các vịnh biển ven bờ. Việt Nam cũng có thể sử dụng tàu ngầm cỡ nhỏ để chở các đội đặc công cảm tử tiếp cận và tấn công phá hoại các phi đạo và căn cứ Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong đêm. Do các căn cứ này đều có tọa độ cố định, nằm rất gần lănh thổ Việt Nam (từ 10 – 30 phút bay tính từ bờ biển Việt Nam), nên nếu tổ chức tốt, Việt Nam có thể loại chúng khỏi ṿng chiến. Việt Nam có thể tái tổ chức các đ̣n đột kích bất ngờ dạng này, để ngăn ngừa Trung Quốc khôi phục chúng trong suốt giai đoạn sau của cuộc chiến. Việt Nam có một số tên lửa scud B,C mua từ Bắc Hàn, tuy nhiên đă có tuổi đời trên dưới 25 năm và độ sai số tính bằng km (tương tự tên lửa scud Saddam dùng trong chiến tranh vùng vịnh 1991) do đó khó có thể dùng cho cuộc chiến diệt các phi đạo. Số tên lửa đối đất hiện đại Klub gắn kèm các tàu ngầm Kilo có thể là giải pháp hiệu quả để đối phó các mục tiêu này. Tuy nhiên đầu nổ của các tên lửa này cũng chỉ tương đương bom, hơn nữa số lượng rất ít chỉ vài chục quả, chỉ có thể dùng để răn đe, đe dọa diệt các đầu năo hoặc các mục tiêu giá trị cao của TQ tại căn cứ Du Lâm – Hải Nam nhằm tránh TQ leo thang chiến tranh, chứ không thể phung phí cho cuộc chiến lâu dài tại các đảo. Trong trường hợp này, Việt Nam sẽ giành lại quyền kiểm soát không phận từ khu vực Đà Nẵng trở vào và Trung Quốc chỉ có thể tham chiến bằng lực lượng không quân và hải quân xuất phát từ căn cứ Du Lâm, Tam Á tại Hải Nam.

Lực lượng tàu ngầm chiến lược của Việt Nam có thể được sử dụng để răn đe chiến lược với các tàu có giá trị cao của Trung Quốc tại Tam Á và các vùng biển phụ cận Hoàng Sa, nhằm gây rối loạn cho các kế hoạch chuyển quân hoặc tiếp vận bằng đường hàng hải. Trong t́nh huống này, Việt Nam sẽ có thể giành lại quyền kiểm soát các đảo tại Trường Sa, khi cô lập chúng khỏi lực lượng tiếp vận phải trải dài trên 1000 km tính từ Hải Nam, trong bối cảnh chi viện không quân của TQ sẽ rất hạn chế khi các phi đạo tại Hoàng Sa bị loại bỏ.

Cuộc chiến chuyển sang một cuộc chiến tiêu hao. Các căn cứ của Việt Nam từ Quảng Ninh tới Thanh Hóa sẽ vẫn bị tấn công gây thiệt hại thường xuyên bởi không quân Trung Quốc. Tuy nhiên Việt Nam vẫn có thể tung ra các đ̣n đột kích chớp nhoáng bằng tiêm kích bom su22 và các tàu hải quân cỡ nhỏ để ngăn chặn và làm rối loạn khả năng thâm nhập của hạm đội Trung Quốc. Ngược lại, từ Đà Nẵng trở vào Nam, sau khi giành lại quyền kiểm soát bầu trời, Việt Nam có lợi thế lớn để thực hiện cuộc chiến tiêu hao với Trung Quốc. Các lực lượng hải quân từ các căn cứ phía Nam có thể phong tỏa vùng biển, giải thủy lôi trên những tuyến hàng hải chính dẫn tới Trung Quốc từ Mallaca, trong lúc lực lượng không quân có thể sử dụng để đánh ch́m các tàu chở dầu hoặc các tàu chuyên chở tài nguyên chiến lược đến Trung Quốc. Nếu bảo tồn tốt lực lượng và đánh du kích lâu dài, Việt Nam sẽ khiến Trung Quốc tổn hại nặng nề sau 6 tháng chiến tranh.

Nếu cuộc chiến đi theo hướng này, hai bên sẽ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán. Việt Nam có thể giành lại quyền kiểm soát các đảo Trung Quốc đă chiếm tại Trường Sa, ngược lại, Trung Quốc sẽ lấn rất sâu vào khu vực lănh hải ngoài vịnh Bắc Bộ kéo dài tới Hoàng Sa. Trong mọi t́nh huống, hai phía khó có thể quay lại thời kỳ ḥa hoăn v́ thiếu niềm tin và luôn phải đề pḥng lẫn nhau.

Tổn thất chiến tranh của Việt Nam trong mọi trường hợp đều nặng hơn Trung Quốc. Các căn cứ không quân và hải quân bị tàn phá có hệ thống, các cảng biển khu vực phía bắc sẽ bị hủy hoại, hoạt động kinh tế Bắc Nam chịu nhiều ảnh hưởng. Ngược lại, Trung quốc sẽ bị tổn thất nặng tại phía Nam, và có thể mất quyền kiểm soát các căn cứ đă xây dựng tại Trường Sa do chúng nằm cách quá xa đất liền và quá gần đối thủ.

Diễn biến chiến tranh sẽ đi theo dự tính của Trung Quốc hay Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào việc bên nào sẽ chuẩn bị và áp dụng được lối chơi của ḿnh lên đối phương. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người giữa hai bên và đây là điều hầu như không thể đoán định trước.

ĐẦU TƯ QUỐC PH̉NG CHUẨN BỊ CHO NGUY CƠ CHIẾN TRANH



(C̣n tiếp)

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Mar 9 2016, 03:53 AM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,938
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĐẦU TƯ QUỐC PH̉NG CHUẨN BỊ CHO NGUY CƠ CHIẾN TRANH

Thời gian qua Việt Nam đă chi nhiều tỷ USD để mua sắm máy bay, tàu ngầm và đóng mới chiến hạm. Số khí tài này đă tăng nhanh cấp thời năng lực chiến tranh của Việt Nam, nhưng nó đều là các sản phẩm đi mua, số lượng rất ít, thậm chí số đạn tên lửa và bom dùng kèm với chúng cũng không nhiều và phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung nhập khẩu. Việt Nam không thể đánh lâu dài nếu đặt cược vào nguồn cung vũ khí từ Nga do các yếu tố chính trị khó dự đoán. Đây là điều đầu tiên cần tính toán tới trong đầu tư quốc pḥng.

Đa dạng hóa nguồn cung, do đó là một tất yếu. Có lẽ ngay từ bây giờ, Việt Nam nên tiếp cận với các nguồn cung vũ khí từ Nhật Bản. Hai loại vũ khí Việt Nam có thể nhắm tới từ Nhật, là tàu tên lửa cỡ nhỏ và tên lửa diệt hạm đi kèm, cả các hệ thống mặt đất lẫn trên tàu chiến.

Hải quân Nhật hiện sở hữu lớp tàu tên lửa Hayabusa, lượng choán nước chỉ 200 tấn nhưng vũ trang cực mạnh và tính năng cực kỳ tiên tiến. Nó có kích cỡ nhỏ và thiết kế tàng h́nh, rất thích hợp ẩn núp và thực hiện các đ̣n đột kích bất ngờ từ các vịnh kín ven biển Việt Nam. Tốc độ tối đa của Hayabusa lên tới 46 hải lư/h kèm theo 04 tên lửa diệt hạm SSM -1B, tầm bắn 150 km có khả năng tiêu diệt các tàu trọng tải tới 8000 tấn chỉ bằng một đầu đạn. Có thể nói đây là một loại vũ khí rất thích hợp với Việt Nam nếu phải đánh nhau với hải quân Trung Quốc. Và điều quan trọng nhất là nguồn cung vũ khí từ Nhật sẽ ổn định và đáng tin cậy hơn Nga nhiều trong t́nh huống chiến tranh. (Với t́nh h́nh chính trị Nga hiện nay, trong t́nh huống chiến tranh cần tính tới việc TQ có thể bỏ ra 10 tỷ USD từ quỹ dự trữ trên 3000 tỷ USD để hối lộ Nga, xác suất cao là Nga sẽ cắt nguồn cung vũ khí cho Việt Nam nếu trường hợp này diễn ra)

Vũ khí Nhật có nhược điểm là giá thành cao do Nhật chưa từng xuất khẩu và do đó chi phí duy tŕ dây truyền sản xuất rất lớn. Tuy nhiên việc Nhật viện trợ cho Việt Nam tới 30 tỷ USD trong những năm qua là một cơ sở cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể t́m kiếm một khoản tín dụng từ 2 – 5 tỷ USD nếu chuyển hướng sang nguồn cung cấp quốc pḥng của Nhật. Điều này phù hợp với lợi ích chiến lược của Việt Nam và tất nhiên là cả Nhật Bản nữa. Nó cần được xúc tiến ngay từ bây giờ.

Tuy nhiên mọi giải pháp mua sắm đều không phải là giải pháp căn cơ. Năng lực chiến tranh lâu dài chủ yếu của một quốc gia phải dựa vào năng lực quốc pḥng nội địa. Thời gian qua báo chí loan tin Việt Nam đă tự sản xuất được ḍng tên lửa diệt hạm KCT15 tương tự KH35-UranE của Nga trên cơ sở tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ Nga. Đây là một tin tốt, nhưng có lẽ vẫn rất đáng ngờ. Điều chắc chắn là hầu hết các bộ phận cấu thành trọng yếu nhất của tên lửa này, Việt Nam vẫn phải nhập từ Nga, ví dụ các thiết bị điện tử, cảm biến, radar dẫn bắn … Do đó ngay cả nếu Việt Nam tự sản xuất hoàn thiện được trong nước, th́ nó vẫn cứ lệ thuộc vào nguồn cung từ Nga. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu ngay từ lúc này.

Một loại vũ khí có từ thế chiến thứ nhất nhưng vô cùng hiệu quả là thủy lôi. Do Trung Quốc có nhiều hạm tàu giá trị cao và lệ thuộc cực lớn vào thương mại đường biển. Việc Việt Nam sản xuất và sử dụng ồ ạt thủy lôi sẽ là một cách có chi phí rẻ nhất và tổn thất ít nhất để làm rối loạn ḍng thương mại và cả hoạt động quân sự của Trung Quốc trên biển. Đây là một điều cần tính toán rất kỹ ngay từ bây giờ. Cần nghiên cứu sản xuất các loại thủy lôi để có thể giải được bằng thậm chí tàu cá.

Do khoảng cách Việt Nam – Trung Quốc rất gần, Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát trên không nên phương tiện chiến tranh hiệu quả nhất để đánh quỵ hải quân Trung Quốc là tàu ngầm. Tàu kilo của Việt Nam có sức chiến đấu mạnh, tính răn đe lớn nhưng cũng dễ tổn thương và nếu tổn thất th́ sẽ không thể bù đắp được. Việt Nam cần tính toán tới việc tự sản xuất các tàu ngầm cỡ nhỏ, với chi phí thấp, trang bị loại vũ khí như ngư lôi tầm xa có thể giúp xoay chuyển cán cân chiến tranh giữa Việt Nam với Trung Quốc. Từ các hoạt động sản xuất tàu ngầm tự phát của ông Phan Bội Trân hay ông Nguyễn Quốc Ḥa, với giá thành rất rẻ, cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được các tàu ngầm cỡ nhỏ, số lượng lớn. Các tàu ngầm này có thể giúp Việt Nam phong tỏa các căn cứ hải quân Trung Quốc tại Hải Nam bằng các đ̣n đột kích hoặc phục kích ban đêm. Chúng cũng có thể làm tê liệt mọi hoạt động chi viện cho các căn cứ của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Và điều quan trọng nhất, là các tàu ngầm này có thể hoạt động mà không cần căn cứ. Nó thậm chí có thể tiếp vận dễ dàng bằng các tàu cá nhỏ, khác với kilo cần đến những căn cứ tốn kém, dễ bị phát hiện và dễ tổn thương. Điều quan trọng là sự tổn thất của các tàu ngầm loại này là chấp nhận được với Việt Nam, trong khi đó chúng lại có khả năng gây phiền toái lớn cho những con tàu có giá trị rất cao của hải quân Trung Quốc.

CHUẨN BỊ MẶT TRẬN VỀ NGOẠI GIAO

Trước khi chiếm Crimea, Putin vô cùng tự tin là vũ khí khí đốt của ḿnh sẽ rất khó thay thế với châu Âu, và nước Nga do đó rất khó có thể bị châu Âu cô lập. Quả thực các nước châu Âu do Đức dẫn đầu đă vô cùng khó khăn khi đưa ra các quyết định trừng phạt kinh tế Nga, thậm chí là vô cùng miễn cưỡng. Nhưng Châu Âu hùng mạnh hơn người ta nghĩ và năng lực thích nghi của các cơ chế thị trường ở Châu Âu lớn vượt mọi h́nh dung. Đến nay đă hơn 2 năm Nga bị cô lập khỏi châu Âu và Châu Âu th́ đă hoàn toàn thích nghi sau cú sốc ban đầu. Trong khi đó nước Nga kiệt quệ.

Việt Nam hiện nay có quan hệ kinh tế và chính trị rất tốt với phương Tây, quan hệ với Mỹ cũng nồng ấm hơn bất cứ thời điểm nào trong quá khứ. Việt Nam cũng đă gia nhập TPP, về bản chất chính là một dạng Nato kinh tế do Mỹ dẫn đầu nhằm loại Trung Quốc khỏi các luật chơi thương mại. Trong trường hợp bị Trung Quốc lôi vào một cuộc chiến, Việt Nam cần nỗ lực bằng mọi giá để đạt được các trợ giúp về ngoại giao, kinh tế và pháp lư từ các nước châu Âu. Trong khi đó, các nước như Mỹ, Nhật và Ấn Độ, v́ nhiều lư do chiến lược thiết thực hơn, có thể giúp Việt Nam nhiều hơn về phương tiện chiến tranh. Trong mọi trường hợp, nguồn cung vũ khí từ Nhật và Ấn Độ cần được tính toán tới, đặc biệt là từ Nhật Bản, v́ đó sẽ là nguồn cung có thể tin cậy được trong trường hợp có chiến tranh với Trung Quốc.

Sự tồn tại của Campuchia, Thái Lan và phần nào đó là Lào đă khiến Trung Quốc xé nát hoàn toàn sự đoàn kết của ASEAN. Tính đến nay, sự tồn tại của ASEAN đem lại rất ít lợi ích thực tế cho Việt Nam, cả về kinh tế, chính trị lẫn thương mại. Việt Nam hầu như nhập siêu từ hầu hết các nước Asean nhóm trên, cơ cấu hàng hóa rất tương đồng và bị cạnh tranh mạnh, thậm chí ngay trên sân nhà. Các hiệp định kinh tế kư với tư cách cộng đồng ASEAN với các nước khác trên thực tế hầu như đă được thay thế bởi các hiệp định thương mại song phương kư trực tiếp giữa Việt Nam với các nước đó, ví dụ BTA với Mỹ, FTA với EU, gần đây nhất là FTA với Hàn Quốc và các thỏa thuận thương mại với Nhật Bản – Đó đều là những đối tác kinh tế và đầu tư lớn nhất và quan trọng nhất của Việt Nam. Với phần c̣n lại của thế giới, hoạt động thương mại của Việt Nam được điều chỉnh trong khuôn khổ WTO. Có thể nói, cơ chế ASEAN hiện nay có rất ít giá trị đối với Việt Nam, thậm chí các hiệp định thương mại kư giữa Trung Quốc và ASEAN đang gây hại cho Việt Nam, v́ Việt Nam là nước lớn duy nhất trong ASEAN có chung biên giới với Trung Quốc, các nước khác th́ không. Do đó nhiều điều khoản vô hại với họ nhưng gây tổn hại nặng cho Việt Nam.

Trong nhiều năm qua Việt Nam và nhiều nước Asean như Singapore, Indonesia, Malaysia và Philipin cố gắng sử dụng cơ chế đống thuận Asean để đàm phán giải quyết biển Đông với Trung Quốc nhưng đă bị Trung Quốc dùng con cờ Campuchia, Thái Lan và Lào phá nát. Campuchia thậm chí c̣n lợi dụng điều này để thu về các khoản viện trợ và đầu tư béo bở từ Trung Quốc. Campuchia làm vậy chẳng có ǵ sai, họ phải v́ lợi ích của ḿnh. Nhưng việc Việt Nam cứ để chuyện đó diễn ra th́ lỗi thuộc về Việt Nam.

Có lẽ Việt Nam cần ngồi lại với Philipin, Indonesia, Singapore và Malaysia để bàn tới việc thiết lập một cộng đồng kinh tế 5 nước, lấy tên là Cộng đồng kinh tế vành đai biển đông chẳng hạn. Ít nhiều tầm nh́n giữa Việt Nam và các nước này đối với các vấn đề chung trong khu vực đều có nhiều điểm chung và chia sẻ được nhu cầu duy tŕ ḥa b́nh và hiện trạng tại biển Đông. Và Việt Nam cần tính tới việc rút khỏi Asean, hoặc nếu không th́ cũng đ́nh chỉ các hiệp định thương mại gây hại cho ḿnh từ asean, đồng thời chấm dứt việc trông chờ vào các tuyên bố chung asean trong câu chuyện biển đông. Điều đó sẽ có tác dụng cảnh tỉnh các quốc gia như Campuchia, vốn được lợi nhiều khi tham gia vào khối, và thậm chí là vô hiệu hóa luôn quân cờ Trung Quốc tốn sức đầu tư này.

Mỹ là cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Nó vẫn luôn có nhu cầu làm bá chủ. Nước Mỹ chinh phục thế giới bằng thương mại, văn hóa và quyền lực mềm. Trên thực tế Mỹ không có tham vọng về lănh thổ. Nó từng trả độc lập vô điều kiện cho Philipin ngay khi kết thúc thế chiến hai. Mỹ cũng không chiếm của Nhật Bản hay của Đức, những quốc gia bại trận, dù chỉ một mẩu đất. Nước Mỹ tuy yếu đi nhưng vẫn vô cùng hùng mạnh. Dù thế nó có quá nhiều mối bận tâm khi can thiệp ở mọi nơi trên thế giới. Các vấn đề Ucraina, Syria, Châu Âu và Triều Tiên đều khiến Mỹ bị phân tán và chia nhỏ nguồn lực. Do đó những thứ Mỹ c̣n để dốc vào biển Đông nếu nó muốn cũng không hề nhiều.

Mỹ chắc chắn không bao giờ đi đánh nhau thay cho ai. Nó chỉ đánh v́ chính nó. Mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc không đủ lớn để cấu thành chiến tranh nếu Trung Quốc chưa tấn công trực tiếp Nhật Bản hay Philipin. Do đó trông đợi vào Mỹ là một sự sai lầm, nhưng nếu không trông chờ vào nó th́ lại là một sai lầm c̣n lớn hơn. Mỹ có thể dẫn đầu một cuộc chiến cấm vận một phần của phương Tây với Trung Quốc nếu Trung Quốc chủ động xâm lược láng giềng. Mức độ cấm vận có thể giống như những ǵ phương Tây đă làm với Nga: tăng dần theo thời gian và theo mức độ thích ứng của các cơ chế thị trường Âu châu. Tất nhiên Trung Quốc có thể tự tin rằng điều đó không thể xảy ra v́ Trung Quốc đang là nhà cung ứng hàng hóa lớn nhất thế giới, cũng giống như Putin từng tự tin rằng Nga không thể bị cầm vận kéo dài, thậm chí bị từ chối mua khí đốt v́ Nga là nhà cung cấp khí đốt lớn nhất cho châu Âu. Kinh tế thị trường phương tây có khả năng thích nghi tuyệt vời. Chỉ cần có đủ thời gian, việc cấm vận một phần tiến tới toàn phần Trung Quốc là điều không phải Mỹ và đồng minh không làm được. Mỹ có nhu cầu làm việc này, và nó có thể ảnh hưởng tới các đồng minh đă gắn kết rất lâu dưới cái bóng của nước Mỹ.

Trong mọi t́nh huống, Việt Nam cần thúc đẩy mọi nỗ lực ngoại giao để t́m kiếm sự hỗ trợ từ các nước trên thế giới, dù chỉ là về tinh thần nếu Trung Quốc tấn công.

KẾT LUẬN:

Một cuộc chiến cục bộ tại Biển Đông với Trung Quốc, Việt Nam có thể bại tan tác và mất tất cả những ǵ c̣n lại nếu để Trung Quốc áp đặt luật chơi. Tuy nhiên nếu có chuẩn bị tốt và đánh theo cách của ḿnh th́ Việt Nam hoàn toàn có thể lật lại thế cờ.

Việt Nam sẽ chịu thiệt hại lớn trong mọi trường hợp, nhưng nếu thắng, nó sẽ giữ được Trường Sa, kiểm soát được vùng hải phận phía Nam và duy tŕ được chủ quyền với hải phận phía Bắc. Điều cốt tử là Việt Nam sẽ thoát khỏi bóng ma kinh tế Trung Quốc. Nó sẽ gắn kết chặt hơn với Mỹ, Nhật, Châu Âu, vốn là những đối tác Việt Nam có thể buôn bán thực sự b́nh thường, chứ không phải buôn bán với một đối tác luôn có động cơ phá hoại như Trung Quốc. Cái giá phải trả của Việt Nam là lớn, nhưng tương lai đất nước sẽ sáng sủa hơn rất nhiều. Tất nhiên, với điều kiện Việt Nam phải trụ được trong cuộc chiến cục bộ ấy chứ không phải là thất bại.

Tuy nhiên cách tốt nhất để thắng một cuộc chiến tranh là ngăn ngừa nó xảy ra. V́ thế thay v́ việc ngồi chờ để đợi đến lúc Trung Quốc chọn một thời cơ thích hợp đánh Việt Nam, chúng ta cần t́m mọi cách để Trung Quốc không có cái thời cơ ấy. Điều tốt nhất có thể làm là củng cố năng lực quốc pḥng ngày một mạnh, thắt chặt các mối quan hệ kinh tế với các đối tác tốt, kiểm soát và loại trừ sự thâm nhập và tràn ngập lănh thổ phi pháp của công nhân và thương nhân Trung Quốc mà đi kèm theo đó chắc chắn là vô số nhân viên t́nh báo. Chuẩn bị mọi phương án để bảo tồn lực lượng trước các đ̣n tất công bất ngờ, bảo mật các căn cứ… Để khiến Trung Quốc nhận thức rơ nó không thể đánh Việt Nam, và nếu đánh sẽ phải bước vào một cuộc chiến không có đường ra. Giải pháp bền vững nhất th́ chính là việc thay đổi thể chế, thúc đẩy dân trí, xây dựng xă hội dân chủ tự do để phát huy tối đa tiềm năng con người, biến Việt Nam thành một quốc gia văn minh về văn hóa, phồn thịnh về kinh tế và mạnh mẽ về quốc pḥng, gia nhập và ḥa nhập được với các nước phát triển trên thế giới. Tất nhiên điều này đ̣i hỏi lộ tŕnh thời gian không hề ngắn. Trước mắt, việc dân chủ hóa đất nước theo con đường Myanmar đang đi là cách thức phù hợp nhất với chế độ chính trị và đặc điểm xă hội hiện tại ở Việt Nam. Đó mới chính là thượng sách cho nguy cơ xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Mar 20 2016, 05:34 AM
Gửi vào: #5


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8






GÓP LỜI BÀN VỀ THẢM HỌA HẠN HÁN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG



Nguyễn Thái Nguyên

18-3-2016

Là một cán bộ khoa học của ngành Nông nghiệp, lại có một số năm công tác ở hầu khắp các tỉnh ĐBCL, dù từ lâu tôi không tham gia ǵ vào công việc của ngành Nông nghiệp nữa, nhưng nay đọc tin và xem TV thấy cảnh hàng ngàn mẫu lúa của bà con cô bác bị cháy rụi bởi hạn hán và nhiễm phèn và mặn mà ḷng tôi vừa thấy xót xa vừa thấy xấu hổ bởi v́ tôi và hàng ngàn, hàng vạn cán bộ khoa học, cán bộ quản lư trên lĩnh vực nông nghiệp đă mắc lỗi, góp phần gây ra thảm họa nặng nề này. Không thể đổ hết lỗi cho El Nino hay cho bọn “cướp nước” Trung Quốc được, mặc dù đó là hai nhân tố khách quan rất lớn.

Thiên nhiên đă ban tặng cho hành tinh chúng ta một nguồn nước khổng lồ, nhưng đáng tiếc, 98% trong số đó (khoảng 1.400 triệu km3) là nước biển mặn. Phần c̣n lại đă ít lại bị đóng băng lớn trên hai cực Trái đất và một số vùng rộng lớn trên các núi cao ở khắp các lục địa. Tổng nguồn nước nói chung và nguồn nước ngọt sử dụng được nói riêng như một hằng số trong khi dân số trên thế giới gia tăng không ngừng. Với hai tính cách căn bản của con người là tham lam và tàn ác, loài người không chỉ tiêu diệt lẫn nhau qua hàng ngàn cuộc chiến tranh lớn nhỏ mà c̣n hủy hoại dần chính môi trường sống của ḿnh.

Nước chỉ là một trong những yếu tố bị sử dụng bừa băi và gây ô nhiểm nặng nề mà thôi. Nh́n xa hơn trong quá khứ, loài người đă từng sống hàng trăm ngh́n năm kể từ khi có con người khôn ngoan trong môi trường “nhiều như nước, rẻ như nước” th́ nay, nước đă trở thành một tài nguyên quư hiếm, thậm chí trong tương lai gần sẽ quư hơn dầu mỏ và bởi vậy mà tranh chấp nguồn nước đă dần trở thành các cuộc chiến thật sự. T́nh h́nh này không chỉ xẩy ra trên sông Mekong mà xẩy ra ở hầu khắp các con sông lớn chảy qua nhiều nước, như con sông dài nhất thế giới, sông Nile chảy qua 11 nước châu Phi vẫn thường xuyên xẩy ra các tranh chấp ở mức độ khác nhau, nhưng việc tranh chấp, cướp đoạt nguồn nước trên sông Mekong là một trường hợp rất đặc biệt.

Trời không phụ riêng ai, nhưng Việt Nam chúng ta lại không may mắn là một trong số 14 nước láng giềng của một nước lớn nhưng cực kỳ tham lam tàn bạo và vô trách nhiệm. Một khi họ vô trách nhiệm với cả thần dân của chính họ th́ c̣n trông mong ǵ vào trách nhiệm của họ đối với các nước láng giềng; trông mong ǵ vào t́nh hữu nghị và đồng chí hăo huyền. Tham vọng bành trướng là bản chất của các tập đoàn cầm quyền của TQ qua tất cả các triều đại chứ không riêng ǵ thời đại cộng sản. Nhưng phải đến thời đại cộng sản, với sự giúp sức của người Mỹ mà “công đầu” thuộc về Tổng thống Richard Nixon và ngài cố vấn cực kỳ xảo quyệt Henry Kissinger (từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX), con quái vật Trung Quốc cùng với giấc mộng bá chủ thế giới bị giam cầm hàng ngàn năm trong nghèo nàn và lạc hậu đă trở thành một “cường quốc mới nổi”. Hẵn rất nhiều các cựu quan chức của chính quyền Việt Nam Cộng ḥa không thể nào quên được bức điện độc nhất vô nhị của Kissinger chỉ duy nhất một từ “Eureka” gửi về Mỹ trên chuyến bay sau khi ông ta hoàn thành sứ mệnh tiền trạm từ Bắc Kinh trở về Mỹ tháng 7 năm 1972!

Khi “trong tay đă sẵn đồng tiền”, tập đoàn cầm quyền Trung Nam Hải không c̣n ngần ngại triển khai ồ ạt sức mạnh cứng, sức mạnh mềm để chiếm đất, chiếm biển đảo của các nước có thể chiếm được và dĩ nhiên, họ đă không c̣n coi Mỹ là một thực thể đáng v́ nể ǵ nhiều trên con đường bành trướng ra biển Đông và biển Hoa Đông. Trong bối cảnh đó, họ chiếm đoạt luôn nguồn nước của hơn một nửa con sông Mekong từ thượng nguồn Tây Tạng qua Thanh Hải cho đến hết địa phận tỉnh Vân Nam bằng hàng chục con đập thủy điện khổng lồ là điều không có ǵ khó hiểu.

Họ đă làm được điều mà tổ tiên họ chưa thể làm được. Không phải đến bây giờ mà từ hơn 10 năm về trước, họ đă bắt đầu triển khai việc xây dựng các đập thủy điện trên gịng chảy chính của sông Mekong. Dù chiếm hơn quá nửa chiều dài sông Mekong từ phía thượng nguồn, nhưng Trung Quốc lại kiên quyết từ chối tham gia vào Ủy hội Sông Mekong cũng đă quá rơ ư đồ của họ. Tất nhiên việc xây các đập thủy điện trên gịng chính sông Mekong th́ họ không cần xin phép các nước tham gia Ủy hội sông Mekong, nhưng về phía chúng ta, cũng giống như việc họ gây tranh chấp rồi “cướp đoạt bằng t́nh hữu nghị” hoặc bằng lực lượng vũ trang hàng ngàn km2 đất dọc biên giới phía Bắc hay Hoàng Sa và một số đảo thuộc Trường Sa, chúng ta đều im lặng “v́ đại cục” th́ việc xây các đập bậc thang trên gịng chính sông Mekong dù các nhà khoa học và lănh đạo, tuy không biết thật chi tiết nhưng không phải chúng ta bây giờ mới biết về những hậu quả có thể gây ra cho vùng hạ lưu sông Mekong mà tồi tệ nhất, rộng lớn nhất là Đồng bằng SCL, nhưng chúng ta không hề có những phân tích, đánh giá và thông báo cho nhân dân biết cũng như không hề chính thức phản đối việc làm vụ lợi và vô trách nhiệm của phía Trung Quốc. Bởi thế mà không nói đến dân mà cả một số nhà khoa học cũng không thể biết và dự báo được một cách đúng đắn tai họa sẽ xẩy ra để pḥng tránh có hiệu quả, đỡ bị tổn thất lớn như hiện nay.

Tôi cũng chia xẻ quan điểm của các nhà khoa học nông nghiệp, nhất là các anh chuyên ngành về Thủy Lợi, Thủy Nông rằng không thể đổ lỗi cho các con đập này gây ra t́nh trạng khô hạn hiện nay mà c̣n nhiều nguyên nhân khác. Chúng ta đang đối diện với sự biến đổi theo chiều hướng xấu và bất thường của thời tiết, điều này ai cũng biết và đă được cảnh báo từ lâu. Không chỉ có El Nino, La Lina mà c̣n nhiều biến động phức tạp khác gây ra những đảo lộn không chỉ riêng đối với cây trồng và vật nuôi mà với chính cả cuộc sống con người mà ai ai cũng có thể cảm nhận được một cách rơ ràng bằng sự mệt mỏi, bệnh tật, ốm đau rất phức tạp.

Đó là việc của trời. Tôi cho rằng chúng ta không chỉ phải “sống chung với lũ” mà phải có chiến lược mới cho toàn vùng để có thể “sống chung với biến đổi khí hậu” một cách an toàn và có hiệu quả. Đúng là những tác động của con người trên sông Mekong không phải là nhân tố quyết định gây ra thảm họa cho ĐBCL. Tôi cũng chưa dám nghĩ tới mức độ như anh Nguyễn Hữu Thiện lo ngại rằng ĐBSCL sẽ bị xóa sổ sau 100 năm. Nhưng sự tác động này cũng không “nhẹ nhàng” như một số nhà khoa học của Việt Nam đánh giá mà rơ ràng đă và sẽ c̣n gây ảnh hưởng rất xấu đối với toàn vùng hạ lưu Mekong, nhất là vùng ĐBCL.

Người ta nói rằng với tổng sản lượng thủy điện có thể khai thác khoảng 60.000 MW mà mới khai thác được gần 20.000 MW, nghĩa là trong con mắt của các nhà quản lư Trung Quốc, “tiềm năng” vẫn c̣n lớn và kế hoạch xây 14 con đập (chứ không chỉ 6 như hiện nay) là khả thi! Chúng ta thử h́nh dung tiếp sau 3 con đập lớn là Mạn Loan (Manwan) 1.500 MW, Đại Chiếu Sơn (Dachaosan) 1.350 MW và Cảnh Hồng (Jinghong) 1.350 MW là con đập Tiểu Loan (Xiaowan) với công suất 4.200 MW. Đây là con đập cao nhất thế giới và là con đập lớn thứ hai sau Tam Hiệp với diện tích hồ chứa hơn 190 km2 và sức chứa 15 tỷ m3 nước mà nguồn chính là sông Lan Thương (tên gọi TQ của một nhánh chính sông Mekong) phải mất 4 năm từ năm 2009 mới lấy đủ nước chứa cho hồ!

Hăy chưa nói tới nắng hạn bất thường như năm nay, mà những năm trước, nước sông Mekong đi đâu mà giảm sút? Người Trung Quốc thông báo rằng gịng Lan Thương chỉ chiếm 13,5% lưu lượng nước sông Mekong chảy qua nó nên những con đập ở Vân Nam không ảnh hưởng ǵ nhiều đến lượng nước về hạ lưu! Đó là một cách nói trí trá thường dùng của người Trung Quốc. Theo Milton Osbome, một chuyên gia nghiên cứu về Đông Nam Á có uy tín đă khẳng định trong một cuốn sách nghiên cứu về sông Mekong th́ trong mùa khô, lưu lượng nước sông Lan Thương chiếm 40% lưu lượng nước sông Mekong, cao gấp gần 3 lần con số Trung Quốc công bố nhưng không thấy các nhà khoa học Trung Quốc đính chính ǵ. Dĩ nhiên, Trung Quốc quen thói ăn hiếp các nước nhỏ theo cách của một đại bá, c̣n các nguồn nước lớn chảy từ Tây Tạng sang Ấn Độ như sông Brahmaputra chảy xuyên qua dăy Hymalaya th́ đương nhiên Trung Quốc không dám ngang ngược theo kiểu đối với các quốc gia thuộc Ủy hội sông Mekong, nếu như Trung Quốc không muốn xẩy ra một cuộc chiến về nguồn nước ngay tại địa bàn mà những năm 1959-1962 họ đă từng đánh nhau.

Nhưng đó là cuộc chiến liên quan đến tôn giáo, c̣n nếu là cuộc chiến về nguồn nước th́ ai mà lường hết hậu quả thảm khốc đến đâu nếu như đập Tam Hiệp hay đập nào đó của Trung Quốc bị vỡ? Cổ nhân ta có câu “tham th́ thâm”. Đạo trời là thế chứ không phải là một đạo lư nói suông. Chúng ta đừng bao giờ có ảo tưởng trông mong ǵ vào ḷng tốt, vào t́nh hữu nghị của phía Trung Quốc để kêu gọi, để đề nghị phía Trung Quốc chia xẻ thông tin, điều tiết nước các hồ chứa của Vân Nam giúp chống hạn ở ĐBCL, chừng nào Việt Nam c̣n là một quốc gia độc lập.

Không chỉ Trung Quốc xây đập trên sông Mekong thuộc lănh thổ của ḿnh mà họ c̣n “giúp vốn và chuyên gia” để cả Lào và Campuchia cũng xây các con đập lớn trên sông Mekong th́ chẳng ai nói được Trung Quốc v́ chính các thành viên của Ủy hội sông Mekong cũng xây đập, thậm chí có những con đập như Sambor của CPC với công suất lên tới 2.600 MW và vốn đầu tư là 5 tỷ đôla. Tất cả các con đập trên gịng chính Mekong không chỉ làm ảnh hưởng đến lưu lượng gịng chảy, đến mùa vụ mà c̣n giữ lại một nguồn phù sa rất lớn trên các hồ nước, đó là nguồn phù sa chủ yếu kiến tạo nên ĐBSCL trong hàng ngàn năm qua. Theo số liệu đă được công bố th́ năm 1990, sông Mekong mang tải khoảng 150-160 triệu tấn phù sa cho toàn châu thổ th́ đến năm 2015, con số này chỉ c̣n 75 triệu tấn!

Chính v́ lẽ này mà tôi cũng chia xẻ quan điểm với anh Nguyễn Hữu Thiện rằng “quá tŕnh kiến tạo (ĐBSCL) sẽ bị đảo ngược và nguy cơ ĐBCL bị tan ră” là có thật. Vấn đề không nhẹ nhàng một chút nào. Ở đây chưa bàn đến nguồn lợi thiên nhiên về thủy sản. Thiên tai và nhân họa bên ngoài đă như thế th́ chính chúng ta đă và đang tự phá hủy các giồng cát ven biển, khai thác bừa băi nguồn cát để “đô thị hóa”, để hiện đại hóa kết cấu hạ tầng khu vực, để xây dựng nông thôn mới… không những hàng năm bờ biển cực Nam của tổ quốc không c̣n được bồi đắp thêm hàng trăm mét ra biển như xưa mà ngược lại, t́nh trạng sạt lở đất ngày càng trầm trọng, làm mất đi hàng ngàn ha đất mỗi năm, riêng bán đảo Cà Mau mất b́nh quân 927 ha/năm trong mấy năm gần đây là một vấn đề hết sức đáng quan ngại. Nếu theo số liệu dự báo của Cục quản lư tài nguyên nước th́ 50 năm tới, diện tích bị xâm mặn ở mức trên 4 phần ngàn sẽ lên tới 47% diện tích ĐBSCL, c̣n diện tích bị nhiễm mặn trên 1 phần ngàn sẽ chiếm tới 64% diện tích toàn vùng…

Trở lên là thực trạng đáng buồn mà chúng ta đều rất dễ nhận biết và phải đối diện như một thực tế khách quan không có cách ǵ chống lại hay có thể “cải tạo thiên nhiên” theo mong muốn của chúng ta mà phải có một sự thay đổi rất căn bản cả về tư duy lẫn hành động. Một cuộc cách mạng thật sự đối với nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng là tất yếu bởi v́ nền nông nghiệp Việt Nam đă đi lạc hướng và bị trói buộc trong t́nh trạng tŕ trệ và lạc hậu quá lâu.

Chúng ta không cần cầu xin ai rủ ḷng thương mà chính ḿnh đủ sức để xây dựng một nền nông nghiệp an toàn, bền vững và hiệu quả trong điều kiện thiên tai và nhân họa có thể khốc liệt hơn t́nh h́nh đă nói trên đây. Vấn đề chính yếu ở đây, ngay trước những hậu quả nặng nề này không phải là rút ra bài học nào khác ngoài một thái độ thật sự cầu thị và khoa học. Cứu trợ nhân đạo là việc trước mắt của tất cả các cấp các ngành ngay trong những ngày tháng trước mắt, nhưng không được phép để bà con cô bác ở ĐBSCL phải nhận cứu trợ dài dài do thiên tai và nhân họa. Tuy nhiên cũng giống như đối với t́nh h́nh chung của đất nước, chừng nào chúng ta c̣n khư khư ôm chặt lấy một thứ ư thức hệ đă lỗi thời, một thứ chủ nghĩa đă thất bại trên một nửa thế giới th́ không thể nào có được cải cách thể chế chính trị hay thể chế kinh tế để đất nước thoát khỏi con đường ṃn bảo thủ tŕ trệ, để ra khỏi t́nh trạng ngày càng tụt hậu xa hơn so với các nước ngay trong cộng đồng kinh tế ASEAN.

Trong Nông nghiệp cũng vậy. Chừng nào chúng ta c̣n giữ lấy “truyền thống” của nền văn minh lúa nước khắp tất cả mọi lúc mọi nơi; chừng nào chúng ta c̣n kiên tŕ phát triển một nền nông nghiệp sử dụng rất nhiều nước như nhiều chục năm qua; Chừng nào chúng ta c̣n khuyến khích một nền nông nghiệp theo lối khai thác nguồn lợi thiên nhiên là chính th́ không có nguồn lực nào để đầu tư cho việc hiện đại hóa và phát triển nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả.

Theo tài liệu nghiên cứu về nước tŕnh lên Liên hợp quốc th́ số quốc gia và số dân sống trong t́nh trạng “cực kỳ nghèo về nước” đă tăng nhanh chóng mà kẻ có tội đầu tiên của t́nh trạng này chính là các nền nông nghiệp sử dụng nhiều nước. Người ta đă tính được rằng Trung Quốc và Ấn Độ đă sử dụng lượng nước ngọt cao hơn cả Mỹ, Liên minh châu Âu, Nga và Nhật Bản cộng lại! Tôi không có ư nói chúng ta phải từ bỏ cây lúa nước truyền thống, nhưng không thể cứ đẩy mạnh sản xuất lúa nước ngay cả những tiểu vùng mà chúng ta biết chắc nguy cơ không có nước ngọt là rất cao.

Chúng ta thường nói nhiều về an ninh lương thực, đó cũng là một vấn đề mang tính chiến lược. Nhưng “lương thực” bao gồm những ǵ và chúng ta cũng không thể gánh vác được trách nhiệm an ninh lương thực cho hàng triệu người tiêu dùng ở nhiều nước khác khi nhất thiết phải đứng thứ nhất thứ nh́ về xuất khẩu gạo. Chúng ta đều biết không một nước nào, một hộ nông dân nào làm giàu từ lúa gạo, vậy v́ sao chúng ta cứ đầu tư rất tốn kém để “đảm bảo diện tích trồng lúa” ngay cả những vùng mà chúng ta biết chắc là sẽ nhiễm mặn, sẽ rất khô hạn trong tương lai gần. Vậy chúng ta chuyển hướng ǵ trong môi trường thiên nhiên bất ổn? Không phải chỉ Việt Nam mới bị t́nh trạng nhiễm mặn và bị mực nước biển dâng tấn công mà rất nhiều nước ở trong t́nh trạng đó, thậm chí c̣n nặng nề hơn chúng ta. Vậy họ đă giải quyết thành công bằng cách nào?

Chính v́ những lẽ như trên, tôi rất đồng t́nh với nhiều quan điểm của Giáo sư Vơ Ṭng Xuân. Trong trạng thái quá bức xúc, có thể GS Vơ Ṭng Xuân đă quá gay gắt như Tiến sĩ Tô Văn Trường đă nói, nhưng về căn bản, rất cần thiết phải tiến hành một cuộc cách mạng như GS Vơ Ṭng Xuân kỳ vọng. C̣n cuộc cách mạng ấy bắt đầu từ đâu, mang tải những nội dung ǵ, c̣n tùy thuộc vào năng lực lănh đạo của những người có trách nhiệm có chịu ra khỏi bàn giấy để đến với thực tiễn từng vùng, có quy tụ được trí tuệ của các nhà khoa học trong lĩnh vực Nông Lâm Ngư nghiệp hay không.

Đúng là xă hội ta đang có quá nhiều học hàm học vị không do chân tài thực học mà có, nhưng cũng đang có rất đông các nhà khoa học tâm huyết, có thực tài, có hiểu biết sâu sắc thực tiễn, chúng ta có thể tin là sẽ cùng nhau t́m được hướng đi mới cho nền nông nghiệp đất nước trong những năm tới. Vào những năm tháng đất nước ở trong t́nh trạng cực kỳ khó khăn thiếu thốn những năm cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80, chính nông dân và nông nghiệp đă là lực lượng đi tiên phong trong công cuộc đổi mới để góp phần tạo ra bước ngoặc rất căn bản cho nền kinh tế. Tôi tin rằng một lần nữa, khu vực nông thôn nông nghiệp sẽ tự ḿnh tạo ra được bước đột phá mới, mang tầm vóc của một cuộc cách mạng về thể chế kinh tế. Người Israel không từng kêu ca thiếu nước để phát triển một nền nông nghiệp chất lượng cao, quy mô lớn th́ không lư ǵ chúng ta lại bó tay trước những thử thách của biến đổi khí hậu một khi chúng ta đang c̣n nhiều nguồn nước hơn họ.

Hà Nội 18/3/2016

Nguyễn Thái Nguyên


--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Mar 27 2016, 05:44 AM
Gửi vào: #6


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Bàn về lộ tŕnh cải biến xă hội

Posted 26/03/2016

Lang Anh

26-3-2016

Có lẽ mọi triều đại đều có thời của nó. Khi mà sự bất cập và mâu thuẫn lịch sử đă đến đỉnh điểm, tất yếu phải có một sự cải biến xă hội.

Những vấn nạn ở Việt Nam đều đă tới giới hạn của sự chịu đựng. Từ sự đe dọa của Trung Quốc ở biển đông, đến các ḷng sông chết khát ở đồng bằng sông Cửu Long; Từ nền kinh tế què quặt v́ hàng nhập lậu, đến sự què quặt của toàn xă hội về thực phẩm độc; Từ thực trạng về t́nh trạng tham nhũng đến mức không thể chịu đựng nổi cho đến việc các nguồn lực và cơ hội phát triển của đất nước ngày ngày tiêu biến như chui vào lỗ đen. Mọi thứ đều giống như một thùng thuốc súng đang chờ nổ. Tất cả những vấn nạn này vẫn đang ngày một trầm trọng và nguyên nhân chỉ có một thôi: Hệ thống chính trị lỗi và không hợp thời này đă gây ra tất cả.

Trong quá khứ và thậm chí là ngay cả thời hiện đại, sự thay đổi chế độ thường gắn kèm chiến tranh, chết chóc và xáo trộn. Nhiều trường hợp lịch sử của một quốc gia và các giá trị của nó thậm chí c̣n bị kéo lùi vài thập niên giữa chiến tranh loạn lạc. Người ta nh́n thấy những chuyện này ở Iraq, libya, Syria và thậm chí cả một quốc gia nằm bên ŕa châu Âu là Ucraine. Thế nhưng không phải bao giờ sự chuyển tiếp xă hội cũng gắn với chiến tranh. Ở một góc xa xôi hẻo lánh của Đông Nam Á, nơi nền công nghiệp c̣n hoang sơ, và cuộc sống của người dân c̣n dưới cả tiêu chuẩn thế giới thứ ba, nhưng Myanmar đă là một ví dụ đắt giá về cách thức mà một quốc gia lạc hậu có thể tiến hành cách mạng xă hội mà không phải dùng bạo lực. Cuộc cách mạng ấy đến từ nền tảng thứ tha, thiện chí và hoà giải. Những người từng là cai ngục bắt tay với chính tù nhân của họ, cả hai phía cùng bỏ quá khứ lại sau lưng, thỏa hiệp để thiết lập một lộ tŕnh phù hợp với hiện tại và tương thích với tương lai của nó.

Cho đến nay phe quân sự độc tài ở Myanmar đă thực hiện một bước chuyển ḿnh lịch sử. Từ chỗ cai trị xă hội bằng bàn tay sắt với thể chế độc tài, họ thả tù chính trị, chấp nhận đa đảng phái và bầu cử tự do. Và đặc biệt là, họ chấp nhận tự do báo chí ngay khi quyết định bước tiến lịch sử của ḿnh. Tiếp nối giữa quá khứ và hiện tại, phe quân sự giữ lại cho ḿnh 25% số ghế chỉ định trong nghị viện, kèm với đó là quyền phủ quyết hiến pháp. Nếu nh́n một cách cực đoan, th́ nhiều người sẽ cho đó là một nền dân chủ không toàn vẹn, ngược lại, những người tích cực chỉ ra rằng, chỉ có bằng cách để những quyền lực cũ giữ lại một phần quyền lực, mới là cách đảm bảo sự chuyển tiếp giữa cũ và mới diễn ra trong hoà b́nh.

Trong bức tranh về cuộc cách mạng đẹp nhất lịch sử nhân loại ấy, người ta nhắc nhiều đến vai tṛ lịch sử của bà Aung San Suu Kyi. Người phụ nữ ấy đă đấu tranh không mệt mỏi trong nhiều thập niên, bị cầm tù và giam lỏng trong hàng chục năm, thế nhưng chưa bao giờ phai nhạt lư tưởng của ḿnh. Nhờ có Aung San Suu Kyi, xă hội dân sự Myanmar nhanh chóng trưởng thành khi nó được giải phóng. Đảng NLD của Myanmar ngay lập tức được tái thành lập và phát triển nhanh chóng ngay khi phe quân sự cho phép đa đảng. Sự trưởng thành vượt bậc ấy, đóng góp lớn nhất đến từ ảnh hưởng cá nhân của bà Aung San Suu Kyi. Tuy nhiên, nếu bà Suu Kyi rất vĩ đại, th́ người đă giải thoát cho bà và quyết định nhượng bớt quyền lực khi đang ở đỉnh cao cũng vĩ đại không kém. Đó chính là Tổng thống Theinsein, từng là tổng tư lệnh quân đội Myanmar trước khi nắm quyền tổng thống. Nếu bà Aung San Suu Kyi đại diện cho sức mạnh tương lai của Myanmar, th́ ông Theinsein chính là người mở cánh cửa cho tương lai ấy. Đại diện cho cái cũ và cái mới, họ bắt tay nhau để xây đắp đất nước của ḿnh. Câu nói của tổng thống Theinsein khi chuyển giao quyền lực: “Ngày hôm nay là một thắng lợi lịch sử của dân tộc Myanmar. Cuối cùng Myanmar cũng đi vào quỹ đạo văn minh sau khi đứng bên lề nền dân chủ trong 5 thập kỷ”. Phải, đó là một chiến thắng chung dù là của những người bảo thủ hay cấp tiến.

Câu chuyện Myanmar là một niềm cảm hứng lớn cho con đường giải phóng của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Đến giờ nhiều chính trị gia phương tây vẫn rất ngạc nhiên không hiểu bằng cách nào mà một dân tộc dân trí c̣n rất thấp, nhiều thập niên qua luôn ch́m trong xung đột ly khai, lại thực hiện được một cuộc cách mạng hoà b́nh đẹp đến thế bằng chính những yếu tố bên trong của nó. Các dân tộc khác cần nh́n vào tấm gương này để rút ra bài học cho ḿnh.

Myanmar là một bức tranh của hoà hợp và hoà giải, nơi những lực lượng chính trị có lư tưởng và quyền lợi khác nhau đă cùng ngồi lại thỏa hiệp với tinh thần hoà giải v́ lợi ích quốc gia. Đây chính là điều mà người Việt Nam cần tham khảo, đối chiếu và nh́n sâu vào thực trạng xă hội hiện nay, để t́m lối thoát cho ḿnh.

Có lẽ đây là lúc những công dân tiến bộ người Việt Nam, cần ngồi lại và suy nghĩ để t́m lối thoát cho đất nước này. Nếu các đảng viên đảng cộng sản chưa chịu nghĩ, th́ chúng ta có lẽ cần nghĩ thay cho họ. Khi có một phương án chấp nhận được và trước sức ép của lịch sử, cơ hội cho một bước tiến lớn vào tương lai trong hoà b́nh không phải là điều viển vông.

Trong bài diễn văn đầy cảm hứng của Barack Obama ở Havana có một câu rất hay thế này: “Tôi không ở đây để kêu gọi lật đổ bất cứ cái ǵ. Tôi ở đây chỉ để kêu gọi các bạn xây dựng một cái ǵ đó”

Trong loạt bài viết này (Sẽ là một loạt bài), tôi cũng không kêu gọi lật đổ những người cộng sản hay bất cứ ai. Nhưng tôi sẽ cố gắng phân tích t́m ṭi một phương án chấp nhận được cho những quyền lực đại diện cho cái cũ ở Việt Nam và một lộ tŕnh phù hợp cho cái mới. Có lẽ sẽ phải mất nhiều thời gian để khuyến khích hoặc gây sức ép đủ mức để những quyền lực cũ chấp nhận thỏa hiệp cho lợi ích chung. Và chắc chắn cũng sẽ mất không ít thời gian để đoàn kết những lực lượng cấp tiến trong ánh sáng chung của tri thức nhưng với triết lư tha thứ và hoà giải, chứ không phải hung hăng và đạp đổ. Tôi sẽ cố gắng góp phần của ḿnh vào tiến tŕnh đó ở đây.

Nhiều người sẽ nói rằng nhưng những người cộng sản sẽ chẳng thèm nghe ai. Tôi muốn những người đó biết là tôi biết rơ điều đó. Nhiều người khác cũng sẽ nói rằng lực lượng trí thức và những người cấp tiến Việt Nam không ai có tính biểu tượng như bà Aung San Suu Kyi. Một lần nữa, tôi muốn nói rằng tôi biết rất rơ điều này. Tôi biết là ở Việt Nam có nhiều điều rất khác Myanmar, họ có những vận may và lịch sử đă mỉm cười. Tuy nhiên, tôi tin là bài toán ở Việt Nam sẽ có lời giải trong hoà b́nh.

Trong một lộ tŕnh mà tôi chưa thể đoán biết lúc nào sẽ đến đích này, nếu những ai muốn cùng tham gia và tôi mơ ước sẽ có rất nhiều người cùng tham gia, triết lư xuyên suốt ở đây phải luôn là : “Hăy luôn kiên định cho mục đích cuối cùng và không bao giờ từ bỏ, nhưng phải suy nghĩ trên tinh thần hoà giải và xây dựng”. Chỉ có bằng cách đó, chúng ta mới có thể khép lại lịch sử luôn giải quyết mâu thuẫn bằng chiến tranh ở đất nước này sau lưng và mở cách cửa cho một lộ tŕnh mới hứa hẹn hoà b́nh thịnh vượng.

P/S Nếu ai đó vào đây với tinh thần xây dựng và hoà giải, hăy ở lại và góp ư cùng với tôi. C̣n nếu ai đó đến với sự cực đoan, với lối nghĩ thất bại, th́ cánh cửa luôn ở phía ngoài. Nó luôn mở rộng cho cả người đi và người đến.




--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Apr 27 2016, 05:15 AM
Gửi vào: #7


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8



Nguồn: Internet

NHỮNG ĐIỄU CẦN BIẾT

Chuyện bé như hạt gạo hay thảm họa quốc gia: Nguy cơ ngộ độc kim loại nặng ven biển miền Trung và những tác hại lâu dài

27/04/2016

Vietnam Journal of Science


ThS. Trần Thị Thanh Thoả1, Thiều Mai Lâm 2, và GS.TS. Trương Nguyện Thành3

26-4-2016

1 Khoa Sinh học, Trường Đại học Thủ đô Tôkyo, Nhật Bản (thoa.tran@riken.jp)

2Viện Khoa học Cao phân tử, Đại học Kỹ thuật Virginia, Mỹ (thieu@vt.edu)

3Khoa Hóa Học, Đại Học Utah, Mỹ (Thanh.Truong@utah.edu)


Cá chết hàng loạt ở băi biển miền Trung. Nguồn: internet

Hiện tượng cá biển chết hàng loạt ở Vũng Áng và dọc bờ biển dài hàng trăm km ở các tỉnh miền Trung đă khiến dư luận cả nước quan tâm, bức xúc, cuộc sống của nhân dân các tỉnh liên quan gần như bị đảo lộn [1]. Biển và nguồn lợi biển không chỉ là nguồn sống của rất nhiều ngư dân dọc bờ biển, nó c̣n là một trong những nguồn kinh tế trọng yếu của nước ta. Bên cạnh đó, việc ngộ độc do ăn đồ biển nhiễm độc đă khiến người dân trở nên hoang mang. Những hiện tượng tương tự như thế này và hậu quả nghiêm trọng của nó đă từng được ghi nhận trong lịch sử môi trường thế giới [2]. Do tính nghiêm trọng của vấn đề, ngay khi hiện tượng này xảy ra, GS.TS Trương Nguyện Thành đă lập tức cảnh báo vào ngày 20 tháng 4 năm 2016 trên Mạng Kết Nối Các Nhà Khoa Học Việt Nam ở Toàn Cầu [3].

Với nghi vấn là việc cá chết liên quan đến nhiễm độc kim loại nặng (KLN) và những tác hại lâu dài của nó, giáo sư và cộng sự đă có bài viết trao đổi về vấn đề này dưới góc nh́n của những người làm khoa học.

Kim loại nặng là ǵ? Nguồn gốc của kim loại nặng là như thế nào?

Kim loại nặng (KLN) là những nguyên tố kim loại có khối lượng riêng lớn (>5g/cm3), có thể gây độc tính mạnh ngay cả ở nồng độ thấp. Ví dụ về kim loại nặng gồm có: ch́ (Pb), thuỷ ngân (Hg), cadimi (Cd), arsen (As), bạc (Ag)…KLN có rất nhiều ứng dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, y tế, cũng như các sản phẩm công nghệ cao như điện thoại thông minh, xe hơi điện … [4]
Kim loại nặng (kim loại quí hiếm) thường có trong ḷng đất và thường bị khóa chặt trong cấu trúc của một số loại đá nên b́nh thường trong thiên nhiên th́ vô hại. Ngay cả trong cơ thể sống, với nồng độ cực thấp KLN cũng có vai tṛ quan trọng trong quá tŕnh trao đổi chất. Lượng kim loại nặng tích luỹ trong ḷng đất rất ít trong khi nhu cầu sử dụng nó ngày càng tăng do đó kim loại nặng càng trở nên quí hiếm. Trong qui tŕnh khai thác, các kim loại này được giải phóng; một số c̣n tồn lại trong chất thải (đa số là chất lỏng nhưng đôi khi chất khí) sẽ thoát ra môi trường chung quanh qua các ống thải. Nó có thể bay trong không khí, ngấm xuống nguồn nước ngầm, hấp thụ bởi cây cỏ, hải sản, và súc vật [4].

Đường xâm nhập của các kim loại nặng và tác hại của nó với sức khoẻ.

Kim loại nặng thường có tính bền vững rất cao. Do vậy, nó sẽ tồn tại rất lâu trong đất, nước, không khí. Nếu các sinh vật hấp thụ các KLN này th́ chất độc sẽ được tích luỹ và chuyển qua các sinh vật (động vật cũng như thực vật) khác nhau qua chuỗi thức ăn. Con người thường là mắt xích cuối cùng của chuỗi thức ăn và các KLN này sẽ đi vào cơ thể qua ăn uống. Ngoài ra, chúng cũng có thể xâm nhập qua đường hô hấp và qua niêm mạc (da) [5].

Nếu hàm lượng KLN vượt quá ngưỡng cho phép sẽ rất độc và gây tác hại lâu dài đến cơ thể con người. Những nguyên tố KLN như arsen, cadimi, crom, ch́, thủy ngân đều được cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) và Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư (IARC) coi là tác nhân gây ung thư ở người [4]. Nguy hiểm hơn nếu cơ thể tích lũy hàm lượng lớn kim loại nặng sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nặng nề, gây tổn thương năo, co rút các bó cơ, biến dạng các ngón tay, chân, khớp, làm người bệnh phát điên và tử vong sau khi tiếp xúc từ vài giờ đến vài tháng hoặc năm. KLN có thể tiếp xúc với màng tế bào, ảnh hưởng đến quá tŕnh phân chia DNA, dẫn đến thai chết, sự dạng, quái thai của các thế hệ sau. Tác hại về sức khỏe của kim loại nặng đă được cộng đồng khoa học quốc tế nghiên cứu và công bố trong thời gian dài [5].

Tại sao lại nghi ngờ cá chết ở Vũng Áng và miền Trung hiện nay là do nhiễm độc kim loại nặng?

Để khẳng định một cách chính xác, các phương pháp phân tích hóa chất thường dùng trong các pḥng thí nghiệm hóa học, phân tích chất lượng nước, v.v. có thể xác định chính xác hóa chất gây cá chết. Thí dụ dùng phương pháp Atomic Absorption Spectroscopy (AAS) có thể t́m ra những kim loại nặng hấp thụ trong cá chết hoặc Gas Chromatography Mass Spectroscopy (GC-MS) xác định hàm lượng vết các chất hữu cơ. Những thí nghiệm này không quá phức tạp chỉ cần tŕnh độ cử nhân hóa học là làm được. Tuy nhiên lư do v́ sao cho đến giờ chưa có một báo cáo nào công bố cụ thể các chỉ số cho toàn dân biết để pḥng tránh vẫn là một điều khó hiểu [6]. Trong lúc chờ kết luận của cơ quan chức năng, chúng tôi đưa ra những bằng chứng sau để có thể kết luận khả năng hai trường hợp có thể xảy ra.

Trường hợp 1: Nhiễm độc kim loại nặng

Chất có khả năng giết hàng loạt cá biển trên một diện rộng như thế phải là chất kịch độc như kim loại nặng và kể cả chất phóng xạ. Theo thiết kế của KCN, cổng xả thải được đặt ở vị trí 2 km ngoài khơi, nơi được cho là có khả năng làm loăng mọi hóa chất một cách nhanh chóng do dung lượng lớn của nước biển. Tuy nhiên, đối với các kim loại nặng như ch́ th́ một lượng rất nhỏ chỉ cần 1 g trong 1,000,000 litter nước cũng đủ chết người (Nồng độ IDLH (Immediately Detrimental to Life and Health) từ Environmental Protection Agency (EPA -Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ) và 1 g trong 10 triệu litter nước đủ nguy hại đến cá 2 (Xem bài báo khoa học của Solomon).
KLN khối lượng riêng nặng nên khi bị phát tán sẽ dần ch́m xuống dưới nên mới gây chết rất nhiều cá ở tầng đáy. Như các thông tin báo chí đăng có thể thấy cá sống ở lớp nước sâu bị ảnh hưởng nhiều hơn cá sống ở lớp nước mặt. Điều đó có thể là dấu hiệu cho thấy do các hợp chất chứa kim loại nặng ch́m xuống dưới làm chết các loại cá và sinh vật dưới đáy biển.
Kết luận kiểm tra của Sở NN&PTNT Thừa Thiên – Huế cho biết, nguyên nhân cá chết hàng loạt là do pH nước thay đổi đột ngột, chất lượng phú dưỡng (PO43-) tăng cao đột ngột. Câu hỏi đặt ra “PO4 từ đâu ra và tại sao pH nước tăng đột ngột?”
a. Đá ở khu vực Vũng Áng rất giống loại đá phosphorite: có lỗ nhỏ và màu ngả vàng.


H́nh 1- So sánh đá ở khu vực Vũng Áng và đá phosphorite


H́nh 2- Nước thải từ Formosa (trái) và nước thải từ quá tŕnh khai thác vàng (phải)

b. Trong qui tŕnh khai thác đá phosphorite sẽ thải ra nước thải màu vàng.

Nếu đúng như nhận định ban đầu nguyên nhân gây chết cá là từ nước thải của Formosa th́ ta có thể liên hệ thấy nước thải này có màu vàng, rất giống với màu đặc trưng của nước thải khi khai thác phosphorite.

c. Cấu trúc của đá phosphorite điển h́nh thường có chứa gốc iôn kim loại nặng và PO43- :



(Một số ít ion bạc trong cấu trúc này có thể được thay thế bởi các loại kim loại nặng khác nhau). Khi khai thác đá phosphorite sẽ giải thoát một lượng lớn PO4, ion Ag cũng như một số kim loại nặng vào nước thải.

Phosphoric acid là một acid yếu do đó với lượng lớn PO4 3- ion, theo nguyên tắc chuyển dịch cân bằng Le Chatelie, chiều phản ứng sẽ bị đẩy ngược để tạo nhiều OH ion hơn và do đó nâng cao độ pH của nước.
Theo nghiên cứu của Salamon, chỉ cần 0.1 ppb (part per billions) lượng ion bạc là đủ giết cá. 0.1 ppb tương đương với 1 g cho 10 triệu litter nước. (hệ số biến đổi: 1 ppb = 1 g/1 triệu L) 2

Trường hợp 2: Nhiễm độc bởi cyanide

Trong kỹ thuật khai thác mỏ kim loại, NaCN thường dùng để chiết xuất vàng và các kim loại quí hiếm. Thí dụ trong trường hợp chiết xuất vàng từ quặng, NaCN giúp biến vàng thành chất có thể tan trong nước theo phản ứng sau và đồng thời sản xuất NaOH, một bazơ mạnh theo phương tŕnh sau:

4 Au + 8 NaCN + O2 + 2 H2O → 4 Na[Au(CN)2] + 4 NaOH

NaCN là một loại muối rất dễ tan trong nước. Do đó nếu không kết hợp với kim loại th́ ion cyanua sẽ xuất hiện ở dạng ion trong nước thải.

a. V́ phản ứng hóa học thải ra NaOH do đó nồng độ pH của nước sẽ tăng phù hợp với báo cáo của Sở NN&PTNT Thừa Thiên – Huế.

b. Ion Cyanua (CN–) tan trong nước là một chất cực kỳ độc. Nó làm hệ thống hô hấp của động vật mất chức năng tiêu thụ oxy. Nồng độ IDLH của CN là 25 g/ 1 triệu L. [14]. Tuy không độc bằng kim loại nặng nhưng với lượng lớn cyanua cũng có thể gây cá biển chết hàng loạt.

c. Khu vực miền Trung được biết có nhiều mỏ vàng. Do đó khả năng chất thải có từ việc khai thác vàng và kim loại quí hiếm cũng không phải là thấp (Xem h́nh 2- so sánh nước thải của Formosa và nước thải từ quá tŕnh khai thác vàng)

Tác hại có thể dự đoán trên diện rộng của sự việc ở Vũng Áng.

Khi cống thải được đặt ở 2 km xa bờ biển th́ cột nước thải có thể cao vài chục đến cả trăm mét. Ḍng hải lưu nơi đó đủ mạnh để phát tán chất độc trong diện rộng từ vài trăm đến ngàn km dễ dàng và nhanh chóng. Thực tế cho thấy tác hại đă lan ra trên 250 km bờ biển.


H́nh 3- Cột nước thải và sơ đồ vùng biển nhiễm độc [8]

Theo lí thuyết, những chất này nếu là kim loại nặng th́ tác hại của nó có thể là khôn lường và rất khó ước đoán. Các loại hải sản ở khu vực nhiễm độc đều có thể bị nhiễm nặng. Lượng độc tố có thể ngấm sâu xuống mạch nước ngầm và gây hại lâu dài. T́nh trạng ở Vũng Áng có tầm nguy hại đến sức khỏe và mưu sinh của dân chúng trên diện rộng do ḍng hải lưu và phân phối hải sản tiêu thụ trên cả nước chứ không chỉ giới hạn ở Vũng Áng. Lịch sử thế giới đă ghi nhận rất nhiều trường hợp thương tâm về việc nhiễm kim loại nặng từ môi trường và cuộc đấu tranh pháp lí không hề dễ dàng.

Một vài ví dụ đau thương được ghi nhận về nhiễm độc kim loại nặng


H́nh 4- Nạn nhân bị nhiễm bệnh Minamata

Bệnh Minamata là đại thảm họa môi trường của Nhật-như cái giá phải trả cho việc quá nôn nóng phát triển kinh tế mà bỏ qua việc bảo vệ môi trường. Từ năm 1932-1968, công ty Chisso (Nhật) sử dụng thủy ngân hữu cơ là chất xúc tác để sản xuất acetaldehyde, axit acetic và các chất dẻo. Methyl thủy ngân là chất kịch độc, độc đến nỗi chỉ vài giọt rơi vào da có thể dẫn đến tử vong ngay lập tức. Trong quá tŕnh sản xuất, methyl thủy ngân được sinh ra và đổ thẳng xuống vịnh Minamata mà không qua bất ḱ một sự xử lư nào. [9]

Thủy ngân phát tán trong môi trường nước, bám vào phù du và lắng xuống bùn. Cá hấp thụ oxy trong nước qua mang cá, tích lũy thủy ngân trong cơ thể. Khi ăn phải những con cá bị nhiễm độc đó dần dần, người ăn sẽ tích lũy lượng thủy ngân đáng kể trong cơ thể. Khi đi vào trong cơ thể người, thủy ngân tấn công thẳng vào hệ thần kinh trung ương, hệ nội tiết, và các cơ. Thủy ngân làm con người trở nên loạn trí, các khớp xương bị co rút, dẫn đến biến dạng cơ thể. Người mẹ nhiễm thủy ngân sẽ đẻ con ra quái thai, dị dạng hoặc bị nhiễm bệnh Minamata bẩm sinh. Hậu quả là hơn 17 000 người dân phải gánh chịu căn bệnh này suốt hơn 60 năm. [10]

Tác hại của việc khai thác KLN cho môi trường có thể biểu hiện trực quan hơn ở chung quanh khu vực nhà máy khai thác kim loại nặng ở Baotou, Trung Quốc năm 2012 súc vật bị chết do nhiễm khí độc. Ngay cả cây ăn trái cũng èo uột và trái có mùi hôi thối [11].

Nếu là NaCN th́ sao?

Tuy tính độc hại lâu dài của cyanua không tàn khốc như kim loại nặng, chất độc này có thể phá hủy hệ thần kinh và bộ phận hô hấp, thay đổi hồng cầu. [15]. Người bị nhiểm độc rất khó thở và dễ bị chảy máu mũi. Những triệu chứng này không phù hợp lắm với triệu chứng t́m thấy ở những người bị ngộ độc do ăn cá nhiễm độc báo chí đă đưa thời gian gần đây. [12]

Không ăn cá chết thôi chứ hải sản sống th́ ăn không sao? Tắm biển cũng không sao?

Đây là một nhận định sai lầm trầm trọng. Khi cá chết có nghĩa nồng độ chất độc đă vượt ngưỡng. Nhưng cá c̣n sống không có nghĩa là không có bị ngấm chất độc. Tuy trường hợp cá chết do NaCN th́ ít nguy hại hơn nhưng nếu là kim loại nặng th́ hệ quả lớn hơn nhiều. Xin nhắc lại tất cả hải sản từ vùng ô nhiễm có xác suất hấp thụ độc tố rất cao đặc biệt là những loại sinh vật sống sát đáy. Những độc tố này tồn dư, tích luỹ qua chuỗi thức ăn. Do cơ thể con người không có khả năng thải kim loại nặng hiệu quả, nó sẽ tích lũy dần dần và gây tác hại lâu dài như nói trên. Đă có nghiên cứu chỉ ra lượng nhiễm độc thuỷ ngân vào cơ thể người từ việc ăn cá lên đến 95%. [10] Ngay cả lí do lần này không liên quan đến kim loại nặng th́ việc chất độc tồn dư ở những con cá chưa đủ liều lượng giết chêt cá là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Thậm chí đă có ngộ độc với người xảy ra ở Quảng B́nh (Bố Trạch), Hà Tĩnh (Ḱ Anh) [12]. Do vậy, đây là một nhận định vô cùng nguy hiểm. Người ngộ độc KLN qua đường tiêu hóa thường có triệu chứng bụng quặng đau, buồn nôn, tiêu chảy, nhức đầu và kiệt sức.

Bên cạnh đó, như chúng tôi đă đưa ra trước đó bên cạnh sự nhiễm độc do hô hấp và qua đường thức ăn th́ chất độc có thể đi vào cơ thể qua da (niêm mạc). Do vậy, trong thời gian này hạn chế việc tắm biển, thậm chí các bạn tham gia điều tra nên có bảo hộ khi lặn sâu vào vùng nhiễm độc.

Không đưa ra lời cảnh báo để tránh việc chặn đi đường sống của hàng triệu dân nghèo?

Cũng có một vài ư kiến cho rằng, khi chưa có bằng chứng cụ thể chúng ta không đưa ra nhận định để tránh làm mất đi nguồn sống của người dân hay làm nhân dân hoang mang. Theo chúng tôi đây là một nhận định hết sức sai lầm. Khoa học ngoài việc t́m ra bằng chứng c̣n có chức năng dự báo để đề pḥng trường hợp xấu nhất. Chúng ta đề pḥng trường hợp xấu nhất nhưng mong đợi vào t́nh huống khả quan nhất. Nếu chúng ta không cảnh báo kịp thời, hậu quả sẽ lan nhanh, sâu và rộng hơn cho cộng đồng đến mức độ không c̣n khả năng kiểm soát được. Như ví dụ trên: vụ nhiễm độc Minamata cũng được phát hiện nhờ vào lời cảnh báo của viện trưởng Hosokawa của bệnh viện Kumamoto khi nghi ngờ nhiêm độc thủy ngân hữu cơ của các bệnh nhân. Tại thời điểm đó, sự việc như này chưa hề có tiền lệ trước đó [10]. Chúng ta đi sau nên học những bài học của người đi trước để tránh sai lầm. Hơn nữa việc chúng ta được cảnh báo là để chúng ta biết và đề pḥng chứ không hề v́ thế mà sợ hăi.

Những phát ngôn thiếu trách nhiệm

Thời gian gần đây nhiều cơ quan chức năng nhà nước đưa ra kết luận “nguyên nhân cá biển chết hàng loạt là do độc tố” [13]. Về điều này, một người dân không có hiểu biết về khoa học cũng có thể kết luận được, đặc biệt là những nạn nhân trúng độc phải cấp cứu do ăn đồ biển ở khu có cá chết. Có hai nguyên nhân cá biển chết hàng loạt: 1) báo hiệu sắp có thiên tai từ động đất hay núi lửa ở thềm lục địa (điều này xưa nay chưa bao giờ xảy ra ở Việt Nam), 2) có sự thay đổi lớn về số lượng vi sinh vật trong vùng nước (hiện tượng nước nở hoa, hay dịch bệnh) và 3) chất kịch độc do con người thải ra trong nước biển. Kết luận của cơ quan chức năng chỉ khẳng định rằng chúng ta sẽ không có thiên tai. Điều 90 triệu dân Việt cần biết từ cơ quan chức năng là xác định cá chết và người dân bị ngộ độc là do hóa chất ǵ để cộng đồng khoa học có thể hổ trợ t́m phương án giải quyết.

Lănh đạo Formosa nói 300 tấn hóa chất nhập về sử dụng để tẩy rửa một số đường ống không gây hại và với khu công nghiệp th́ chỉ “bé như hạt gạo” [13]. Kết luận của lănh đạo Formosa rất mập mờ và khó hiểu, gây phẫn nộ cho rất nhiều người dân Việt Nam. Xin phép được hỏi hóa chất tẩy rửa đường ống đó có tên hóa học là ǵ? Nếu lănh đạo Formosa không trả lời được th́ xin cho biết tên thương mại là ǵ? Chi cục Hải Quan Hà Tĩnh có thể cho dân biết thông tin cụ thể về 300 tấn hóa chất này không?

Mới đây lănh đạo Formosa c̣n tuyên bố để phát triển kinh tế việc chết vài con cá biển là chuyện nhỏ và là cái giá phải đánh đổi. Chỉ tiếc là việc chết cá biển không phải là chuyện “bé như hạt gạo” mà nó có thể là cảnh báo cho một tai họa c̣n khủng khiếp hơn chất độc màu da cam sắp đổ xuống các thế hệ tiếp theo của Việt Nam.

Kết luận:

Có thể coi sự việc nghiêm trọng này là một thảm họa quốc gia, một quốc nạn tác hại khôn lường và lâu dài. Với sự nguy hiểm của chất độc chúng tôi cho rằng cần có một nghiên cứu toàn diện với sự hỗ trợ của cộng đồng khoa học quốc tế như World Health Organization (WHO) và nên khẩn cấp trong thời gian này. Chính phủ cần yêu cầu Formosa dừng ngay việc xả nước thải ra biển cho đến khi có kết quả điều tra chính thức. Các cơ quan luật pháp cũng như các luật sư cần thu thập thông tin đầy đủ để có thể bắt buộc Formosa bồi thường thiệt hại cho dân về sức khỏe cũng như thiệt hại kinh tế nếu sự thật chất độc là do Formosa thải ra. Trong khi chờ kết luận của cơ quan điều tra th́ người dân tạm dừng tiêu thụ các loại hải sản và không đi tắm biển. Người dân ở vùng bị nhiễm, cần phải xét nghiệm mẫu nước sinh hoạt và sản xuất nơi ḿnh đang sống. Chúng tôi đă có bài viết hướng dẫn cách lấy mẫu và gửi đi xét nghiệm để có kết quả chính xác. Nếu các bạn cần tư vấn thêm về cách xử lư nước hoặc trao đổi về các kết quả nhận được có thể gửi email cho chúng tôi. Nếu có điều kiện hăy dùng máy lọc để lọc nước trước khi dùng kể cả đó là nguồn nước sinh hoạt. Đồng thời chúng ta cũng nhanh chóng phổ biến đến người dân, để nhân dân an tâm, có biện pháp đề pḥng và cũng cần đề pḥng các lực lượng mê tín dị đoan lợi dụng hiện tượng này để tung tin đồn nhảm và trục lợi. Hơn lúc nào hết người dân cần tự ḿnh trang bị những kiến thức cần thiết để bảo vệ cho chính bản thân và gia đ́nh.

Tài liệu tham khảo

1- http://m.vietnamnet.vn/vn/thoi-su/300459/c...u-vung-ang.html

2- Frances Solomon, ‘Impacts on aquatic ecosystems and human health’, Mining.com (April, 2008)

3- https://www.facebook.com/groups/ivanet.org/

4-Tác hại của KLN : ” Heavy Metals Toxicity and the Environment”.

5- Lars Järup, Hazard of heavy metal contamination, British Medical Bulletin 2003; 68: 167–182

6- http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/...guyen-nhan.html

7- Ảnh bồn chứa nước xả. http://m.nguoiduatin.vn/kinh-ngu-mat-tich-...sa-a237658.html

8- http://dantri.com.vn/xa-hoi/vu-ca-chet-han...42210520221.htm

9- Bệnh minamata điều người Nhật không thể nào quên

10- Sách của bộ Môi trường Nhật Bản (Japanese Ministry of the Environment –環 境 省)

11- Khai thác kim loại nặng ở Baotou, TQ.

12-http://thanhnien.vn/doi-song/vu-ca-bien-chet-bat-thuong-mua-ca-chet-ve-an-nguoi-dan-bi-ngo-doc-693922.html
13- http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/yeu-t...at-3392108.html

14- https://www3.epa.gov/airtoxics/hlthef/cyanide.html

15- http://nj.gov/health/eoh/rtkweb/documents/fs/1693.pdf

Về quảng cáo




--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post May 1 2016, 09:25 PM
Gửi vào: #8


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Sài G̣n giải phóng tôi

30/04/2016



Nguyễn Quang Lập

30-4-2016

Măi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái ǵ rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi ḱ chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đă cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài G̣n ngay lập tức, để cùng Sài G̣n tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài G̣n, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài G̣n năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lư lịch của ông và các con ông hai chữ “đă chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài G̣n. Ba tôi quá mừng v́ ông bác tôi c̣n sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài G̣n”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hăy c̣n sống, mừng hơn nữa là “gia đ́nh bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ṛng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần c̣n xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời ḱ diệu.

Dù chưa được vào Sài G̣n nhưng tôi đă thấy Sài G̣n qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, ḿ tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài G̣n gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài G̣n lại có thể sản xuất được cái bút tài t́nh thế kia.

Tối hôm đó thằng Minh bóc gói ḿ tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ư lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa căi nhau. Không đứa nào tin Sài G̣n lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa c̣n bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các nhà du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassette ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây th́ tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassette là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassette của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động t́nh báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của ḿnh. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không c̣n tin vào mắt ḿnh nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài G̣n là tây à? Thằng Minh tủm tỉm cười không nói ǵ, nó mở cassette, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài G̣n, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca 7. Kết thúc Sơn ca 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài G̣n là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Ḱ nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài G̣n. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đă cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài G̣n.

Tôi sẽ không kể những ǵ lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều ḥa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đă làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, v́ đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những ǵ buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài G̣n.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống ḷng đường thành phố Sài G̣n và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho ḿnh, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Th́ ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy ḿnh có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đ̣i hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nh́n khinh bỉ, v́ đó là đ̣i hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu đần. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài G̣n làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh căi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đă bán sườn cho tôi và vui mừng đă chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết v́ sao bà chủ tạp hóa Sài G̣n đă làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi t́m tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài G̣n. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê v́ nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy ḿnh lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ư quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết ḿnh sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vă lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng răi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn ǵ mua cuốn ǵ. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành tŕnh trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài G̣n xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói ǵ hơn.

Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là ǵ trong buổi sáng hôm ấy. Tôi c̣n ở lại Sài G̣n thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là ǵ. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi th́ rất vui v́ biết ḿnh đă được giải phóng.



--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post May 13 2016, 08:44 PM
Gửi vào: #9


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Người việt nam hèn hạ

Tuesday, May 10, 2016 1:38:55 PM



Xin mời quí vị đọc một bài viết và rất can đảm của một phụ nữ trẻ hiện đang sinh sống tại Việt Nam (zoomzy@hotmail.com; K3HH@yahoogroups.com)

Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa. Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.



Ảnh tác giả trên trang blog cá nhân. (blog hanwonders)


Cách đây đă lâu, tôi đọc“người trung quốc xấu xí” của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay/dở/ đúng/ sai của nội dung cuốn sách gây tranh căi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật ḿnh của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong ḷng. Tôi biết thế giới đă từng có những cuốn như “Người Mỹ xấu xí,” ”Người Nhật Bản xấu xí,” rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ ḿnh trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,...” ...nh́n đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ... Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?

Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng ḿnh có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, c̣n báo chí không cần hỏi vẫn có những h́nh ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy th́ thi cái ǵ? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó c̣n có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi th́ năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng “thần tượng Su-Ju” của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đ́nh, nhà trường, xă hội - những nền tảng đă cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn ḷng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế... trước thần tượng. Một dân tộc ǵ đă sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?

Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đă nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. V́ trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xă hội, xă hội đổ cho cha mẹ... nhà trường. Tóm lại, đừng đổ thừa nữa. Hăy biết hốt về ḿnh đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.

Bởi người lớn có hơn ǵ? Một xă hội mà người ta đang sẵn ḷng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan th́ chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy tŕ sự thống trị trước nhân dân.
Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn ǵ thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường... trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,... nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm.” Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn th́ hăy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời b́nh.” Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không c̣n nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc c̣n phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân ḿnh. Cuộc chiến đó là ŕnh ṃ, là theo dơi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lư do, là bị bịt miệng tại ṭa, là con cháu theo lời lănh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ cḥm xóm của ḿnh v́ họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ ǵ khi quay lưng lại với dân tộc ḿnh? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng v́ lợi ích cá nhân ... gia đ́nh nó- nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu c̣n cái lư tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là “lư tưởng Hồ Chí Minh” hay “lư tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đă thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động.”

Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ ḥa b́nh, tự do, hạnh phúc. C̣n bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đă cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân pḥng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,...

Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân ḿnh. Họ c̣n biết làm ǵ nữa?

Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho ḿnh, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức:Bên trên, chúng nh́n thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nh́n thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ c̣n biết nghĩ tới ḿnh + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh... ức hiếp bên dưới.

Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!

Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lư, làm công an, làm công chức,... làm “đầy tớ” của nhân dân!

Bọn công bộc đó đă cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài G̣n ngồi vạ vật dầm mưa dăi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.

Bọn công bộc đó đă đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đ̣i lại công bằng. V́ trong tay họ c̣n có ǵ để chống lại chúng ngoài phẩm cách của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?

Bọn công bộc đó đă đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền v́ không c̣n sức để chịu đựng chúng...

Tôi sợ bọn chúng v́ bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xă hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội - thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.

Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những ǵ chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,... không c̣n một lựa chọn nào khác. Không biết làm ǵ khác, không có phản ứng ǵ khác! V́ chúng ta lương thiện.

Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xă hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.

Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hăm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.

Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.

Tôi đọc tin một gă thanh niên có học chặt chém bạn gái ḿnh thành từng khúc chỉ v́ một chiếc xe máy và chút ít tài sản.

Tôi đọc tin bọn chủ... lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.

Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.

Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay v́ bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!... C̣n rất nhiều tin.

Một dân tộc ǵ mà độc ác và hèn hạ thế? Dĩ nhiên không chỉ có ḿnh tôi biết đau đớn v́ những điều đó.

Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc.”

Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói ḿnh đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng t́m ṭi, cố gắng t́m kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,...” một cách đúng nghĩa. V́ hăy quên những h́nh tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, t́m cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết... chết. Không hơn không kém.

Các bạn có t́m kiếm giống tôi không? Và các bạn có t́m thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:

- Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.

- Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?

- Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi!

Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.

C̣n những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, v́ đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu ḿnh đi, không cần suy nghĩ nữa làm ǵ cho mệt óc.

Vậy cái ǵ đă gây nên nông nỗi? Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái ǵ cũng do lỗi cộng sản.

Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái ǵ sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản. Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, th́ chúng ta cũng tệ không kém!

Nghe nói cụ Tản Đà có câu:

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!
Cho nên quân ấy mới làm quan.

Những ǵ độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đă nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ ḿnh cũng không cần nhắc lại.

Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái ǵ đă làm cộng sản tồn tại lâu như thế?

Ngoài sự cấu kết quyền lực-quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đă làm ǵ để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hăi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng c̣n làm ǵ nữa?

Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, th́ hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngơ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đă hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ, ...V́ những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,... th́ họ c̣n sợ ǵ nữa? Việc ǵ mà họ không dám làm?

C̣n những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng ḿnh, giúp đỡ ḿnh, ngự trị trong ḿnh, th́ họ c̣n biết dựa vào đâu để t́m lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự t́m lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đă ban cho mỗi chúng ta?

Tôi có cảm giác như ḿnh đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất - nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?

Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ ḿnh lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách - nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực - một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lăng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm ǵ cho đúng.

Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập-tự do-hạnh phúc.

Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản ǵ?

Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân ḿnh, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những ǵ mà một con người có lương tri cần phải hành động.

Bạn có đang tự hào v́ ḿnh là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong ḿnh một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào v́ tôi là người việt nam “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,...” đă từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xă hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ c̣n thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi... Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta c̣n không hơn con chó th́ cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?

Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đă đến biển Đông,” “bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn,”... để mong ḷng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đă từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đă “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Đĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà “đĩ” như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?

C̣n dân việt nam th́ sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm ǵ? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.

Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.

Bổ sung: Sau khi bài này được upload, tôi nhận được khá nhiều comments và cả message. Không biết phải đánh giá như thế nào về những comments hỏi ngược lại tôi với một thái độ khinh khỉnh, qua nhiều câu chữ khác nhau, nhưng đại khái cùng 1ư: “Vậy bạn có hèn không?” He he... Tôi chỉ muốn nhấn mạnh lại 1 điều, suốt cả bài viết, tôi không gọi những người hèn là “các bạn,” tôi gọi là “chúng ta.” Như vậy có dễ hiểu hơn chưa nhỉ?

Tôi không thích tự nhận hay gán ghép. Tôi chỉ nói lên những suy nghĩ của ḿnh, c̣n đánh giá tôi hay đánh giá chính ḿnh, các bạn cứ tự làm lấy. Thiết nghĩ, đâu cần phải tranh luận chuyện ai hèn, ai không hèn ở đây! Biết hay không biết mới là quan trọng. Mà cái sự khổ sở để đi từ cái “không biết/chưa biết” đến cái “biết” nó sẽ là một quá tŕnh gian nan mà mỗi người phải tự thân trải nghiệm. Không ai giúp ai được đâu. Và tôi hiểu, cái “biết” của tôi nó cũng chỉ giới hạn trong tầm nhân sinh quan nhỏ bé của cá nhân tôi mà thôi. C̣n bạn, hăy tiếp tục giữ lấy niềm lạc quan của bạn. Con cừu vẫn có được niềm hạnh phúc mỗi ngày được gặm cỏ non, uống nước suối, ngắm bầu trời xanh, chờ đến ngày xẻ thịt mà! Đúng không? Hạnh phúc vẫn khắp quanh ta! Những con cừu không biết “tự sướng,” không biết “thủ dâm tinh thần” th́ quả thực là ngu c̣n hơn... cừu! He he...

Bổ sung tiếp: “....Ông bảo xă hội nào cũng có những điều bẩn thỉu. Tôi công nhận điều ấy. Nhưng xă hội bẩn thỉu nhất ông có biết là xă hội nào không? Là xă hội mà thằng ăn cắp không cho rằng nó phạm pháp, nó đang làm điều xấu, người lương thiện th́ run sợ, thằng bất lương lại coi việc nó làm là b́nh thường và kẻ vô liêm sỉ như ông th́ vênh vang tự đắc: ta là số đông. Chính là xă hội này đây....” (trích comment của khongnoibiet).

Tự Do Phải Tranh Đấu Bằng Xương Máu Và Cả Tính Mạng

(Nguồn: a20xuanphuoc@googlegroups.com)



--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post May 25 2016, 04:54 AM
Gửi vào: #10


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Cảm nghĩ về chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng Thống Barack Obama tại Hà Nội

25/05/2016

“Như nhiều người, tôi biết rằng chỉ có người Việt Nam mới có thể tranh đấu giành lại quyền làm chủ đất nước, độc lập cho đất nước, dân tộc bằng sức mạnh, nội lực và sự đấu tranh của chính ḿnh. Hi vọng vào sự giúp đỡ, can thiệp bởi một thế lực, sức mạnh bên ngoài là điều hoang tưởng và giả sử rằng nếu có được cũng khó ḷng bền vững“.

_____

Thạch Đạt Lang

25-5-2016

Người dân Sài G̣n đổ ra đường đón TT Obama tối 24/5/2016. Nguồn: Thao Joy/ BBC
Người dân Sài G̣n đổ ra đường đón TT Obama tối 24/5/2016. Nguồn: Thao Joy/ BBC
Chuyến thăm viếng Việt Nam của Tổng thống Barack Obama bắt đầu từ tối 22.05.206 – lúc 21:30´ giờ Việt Nam – Hiện tại ông Obama đang ở Sàig̣n.

Cách xa Việt Nam hàng chục ngàn cây số, tôi theo dơi cuộc thăm viếng của ông Obama bằng TV, Facebook và… email với môt tâm trạng gần như b́nh thản của một người ngoại cuộc và một người ngoại quốc, dùng chữ “gần như” v́ trong thâm tâm, tôi vẫn ước ao chuyến thăm viếng của ông sẽ đem lại một vài điều thay đổi tốt đẹp cho Việt Nam – dù ít ỏi – và tất nhiên không phải là băi bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương.

Sau khi chiến tranh Quốc – Cộng chấm dứt tháng 04.1975, Barack Obama là Tổng thống Mỹ thứ ba đến thăm Việt Nam trong hơn 41 năm.

Chuyến thăm viếng của cựu Tổng thống Bill Clinton vào năm 2000 không gây ồn ào, náo nhiệt, sôi nổi, hào hứng như lần này, có thể là do internet thời đó chưa phổ biến, mạng XH thời đó chưa có, nên nhiều người dân không biết nhiều về chuyến thăm VN của TT Clinton.

Người dân Việt Nam ở Hà Nội háo hức chờ đón chuyến viếng thăm của Barack Obama nhiều giờ trước khi chiếc máy bay Air Force One của ông đáp xuống phi trường Nội Bài vào tối ngày 22.05.2016.

Không biết bao nhiêu người dân Hà Nội – chắc phải vài ngàn là ít – đă ra đường một cách tự nguyện vào lúc khuya khoắt để vẫy tay đón chào ông, một hành động chưa hề có trước đây, chẳng những đối với lănh đạo của một nước cựu thù mà ngay cả các nước hữu nghị anh em trong khối CS cũng không.

Điều ǵ đă khiến cho người dân VN nói chung, Hà Nội nói riêng, nôn nao, háo hức, vui mừng như thế? Nó hoàn toàn khác hẳn chuyến thăm viếng Việt Nam của Tập Cận B́nh đầu tháng 11.2015.

Ra đón Tổng thống Obama không hề có nghi thức đón quốc khách, không có 21 phát đại bác chào mừng, không có hàng quân dàn chào danh dự, không có sự hiện diện của người nào trong tứ đầu chế Trọng, Quang, Phúc, Ngân. Có lẽ cả 4 người này đều e ngại tiếng “hắt x́” của Tập Cận B́nh.

Chỉ có một ít nhân viên ngoại giao cấp thấp của Hà Nội, cùng một cô gái Việt Nam mặc áo dài vàng, trao cho ông Obama một bó hoa – lá nhiều hơn hoa.

Tuy nhiên ngược lại, thay vào những nghi thức ngoại giao ŕnh rang có tính cách tŕnh diễn, là những vẫy tay nồng nhiệt, chân t́nh, ấm áp của người dân.

Việc người dân tự nguyện ra đường đón chào nguyên thủ quốc gia khác đến thăm đất nước cũng đă từng xảy ra nhiều lần trên khắp thế giới – trừ các nước cộng sản.

Sự tự nguyện đó, nhất là vào lúc gần nửa đêm, nói lên t́nh cảm chân thành của người dân Hà Nội nói riêng, người dân Việt Nam nói chung đối với Tổng Thống Obama, thứ t́nh cảm không hề bị bắt buộc, cưỡng ép, mua chuộc, tuyên truyền dối trá…

T́nh cảm đó phát xuất từ đâu? Nếu không phải là một sự tin cậy, thật sự mong muốn một mối quan hệ tốt đẹp, mật thiết cho hai đất nước, hai dân tộc?

Mặc cho những tuyên truyền gian xảo một chiều, ra rả hàng ngày trong hơn 71 năm với hệ thống báo chí, truyền thông dầy đặc, mặc cho những h́nh ảnh, chứng tích ngụy tao lịch sử với những chuyện hoang đường, những viện bảo tàng ngập máu, mặc cho những lễ lạc, kỷ niệm chiến thắng tốn kém, ồn ào… người dân Việt Nam giờ đây hoàn toàn không c̣n nh́n dân Mỹ, chính phủ Mỹ như những kẻ thù mà đảng hằng mong muốn, lèo lái.

Tổng thống Obama đến Việt Nam. Tại Hà Nội, ông không ban huấn từ một cách láo xược trước quốc hội VN như Tập Cận B́nh, ông nói chuyện vui vẻ, tươi cười khi tiếp xúc, bắt tay với người dân, thưởng thức món ăn Việt Nam một cách b́nh dị trong một quán ăn, thân mật như với những người bạn là điều chắc chắn không một lănh đạo cộng sản nào có thể làm được.

Trong cuộc họp báo, tuyên bố chung của lănh đạo Mỹ-Việt, bên cạnh khuôn mặt không lấy ǵ làm vui vẻ cho lắm của chủ tịch nước Trần Đại Quang, phong thái ḥa nhă, lịch sự, tươi cười của Obama không làm mất đi tư cách xứng đáng lănh đạo đất nước hàng đầu thế giới của ông. Nó tương phản với thái độ trịch thượng, hách dịch, hung hăng của Tập Cận B́nh khi phát biểu trước quốc hội VN tháng 11.2015.

Hợp đồng cung cấp vũ khí sát thương cho chế độ CSVN sẽ được gỡ bỏ từng bước, kèm theo một số điều kiện đă được kư kết. Những điều kiện này có được CSVN tôn trọng hay không lại là một chuyện khác. Cộng sản Việt Nam vốn dĩ là thiên tài trong lừa lọc, gian trá, phản bội.

Quyền lợi của hai chính phủ Mỹ – Cộng sản VN đă được thỏa thuận mà không có ư kiến của người dân Việt Nam, bởi chế độ CSVN hoàn toàn không do dân bầu.

Không biết sang năm, đến ngày 30.04.2017, chế độ CSVN có ăn mừng thống nhất đất nước, đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào nữa không?

Chắc chắn sẽ có nhưng lời lẽ nói về Mỹ sẽ được thay đổi, bởi ngoài chuyện đó ra, CSVN chẳng có ǵ để tự hào và tự sướng.

Giờ này ông Obama đă ở Sàig̣n. Mọi chuyện quan trọng, cần giải quyết đă hoàn tất, những việc c̣n lại chỉ là phụ. Việc đi thăm chùa Ngọc Hoàng ở Đa Kao, gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp ở Dreamplex, qua ngày 25.04 nói chuyện với giới trẻ YSEALI ở GEM Center… có càng tốt, không có cũng chẳng sao.

Con đường đi đến dân chủ, tự do, nhân quyền cho Việt Nam sau chuyến viếng thăm của Tổng Thống Obama lại xa hơn, trắc trở, cam go, đ̣i hỏi hi sinh nhiều hơn.

Tuy nhiên dù thế nào đi nữa, tôi vẫn cảm phục nhân cách của ông Obama, cũng không trách cứ ông điều ǵ. Là người Mỹ, ông phải đặt quyền lợi của dân tộc, đất nước ông lên trên hết. Chỉ buồn, tội nghiệp cho những người đă đặt quá nhiều hi vọng vào chuyến viếng thăm của ông.

Như nhiều người, tôi biết rằng chỉ có người Việt Nam mới có thể tranh đấu giành lại quyền làm chủ đất nước, độc lập cho đất nước, dân tộc bằng sức mạnh, nội lực và sự đấu tranh của chính ḿnh.

Hi vọng vào sự giúp đỡ, can thiệp bởi một thế lực, sức mạnh bên ngoài là điều hoang tưởng và giả sử rằng nếu có được cũng khó ḷng bền vững.




--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post May 25 2016, 05:06 AM
Gửi vào: #11


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Tiến về hướng Việt Nam, nhưng nhớ đến các bài học của Việt Nam

25/05/2016

New York Times

Tác giả: John Maccain, John Kerry và Bob Kerry

Dịch giả: Đỗ Kim Thêm

23-5-2016


Khi Tổng thống Obama thăm Việt Nam, chúng tôi bị tác động do một sự kiện là hầu hết người dân của cả hai nước không có kư ức sống động của một cuộc xung đột đă cướp đi sinh mạng của hơn 58.000 người Mỹ và trên hằng triệu người Việt.

Khi những người Mỹ đă chiến đấu trong cuộc chiến, chúng ta thường xuyên được hỏi về bài học của cuộc chiến. Có vài câu trả lời dễ dàng, một phần v́ mọi xung đột là có nét đặc thù và v́ chúng ta đă học được rằng các cố gắng để áp dụng những bài học trong quá khứ cho các cuộc khủng hoảng mới đôi khi làm hại nhiều hơn lợi. Nhưng một vài điều là rơ ràng.

Bài học đầu tiên không phải là chuyện cá nhân cho chúng ta, nhưng là một nguyên tắc áp dụng cho tất cả những người mặc quân phục: Một lần nữa chúng ta không bao giờ nhầm lẫn giữa một cuộc chiến tranh với các chiến binh. Các cựu chiến binh Mỹ xứng đáng được chúng ta kính cẩn tôn trọng, tri ân và hỗ trợ bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào mà họ phục vụ.

Bài học thứ hai là các nhà lănh đạo của chúng ta cần phải trung thực với Quốc Hội và người dân Mỹ về các kế hoạch, các mục tiêu và chiến lược khi sinh mạng của các nam nữ chiến binh đáng gặp nguy cơ. (Nhiệm vụ của quân chiến đấu Mỹ đầu tiên được triển khai tại Việt Nam được mô tả là “cứu trợ lũ lụt.”)

Bài học thứ ba là thể hiện sự khiêm tốn khi tự cho ḿnh là hiểu biết về văn hoá ngoại quốc. Trong cuộc chiến tranh ở Đông Nam Á, không phải các đồng minh của Mỹ và cũng không phải các đối thủ của chúng ta đă hành động phù hợp với sự mong đợi của chúng ta.

Bài học thứ tư và cuối cùng của các cuộc xung đột Việt Nam đang phơi bày trước mắt chúng ta: sự khác biệt dường như không thể hàn gắn được, nhưng với nỗ lực và ư chí đầy đủ có thể hoà giải được. Thực tế là ông Obama là Tổng thống Mỹ thứ ba liên tiếp đến thăm Việt Nam là bằng chứng cho thấy những kẻ thù cũ có thể trở thành các bạn đối tác mới.

Là các cựu chiến binh, những người đă may mắn phục vụ trong công quyền, chúng tôi rất tự hào về những đóng góp của chúng tôi để nối lại các quan hệ ngoại giao b́nh thường giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tiến tŕnh khôi phục các quan hệ là khó khăn và đ̣i hỏi sự hợp tác đầy đủ của Hà Nội trong việc phát triển thông tin về người Mỹ mất tích từ cuộc xung đột – một nỗ lực c̣n tiếp tục đến nay.

Nhưng hơn 20 năm sau khi b́nh thường hoá, chúng ta đă đạt đến cao điểm, khi chương tŕnh nghị sự của chúng ta với Việt Nam là nh́n về phía trước và trên phạm vi rộng. Các cuộc thảo luận của ông Obama với người Việt Nam sẽ bao gồm các vấn đề từ hợp tác an ninh, thương mại và đầu tư đến giáo dục, và từ môi trường đến tự do tôn giáo và nhân quyền.

Chương tŕnh nghị sự rộng lớn hơn này phản ánh những thay đổi trong mối quan hệ đang triển khai tốt. Hai mươi năm trước đây, hàng năm đă có ít hơn 60.000 du khách người Mỹ đến Việt Nam. Ngày nay, có gần nửa triệu. Hai mươi năm trước, thương mại song phương về hàng hoá của chúng ta với Việt Nam chỉ là 450 triệu. Ngày nay, nó gấp 100 lần. Hai mươi năm trước đây, đă có ít hơn 1.000 sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ngày nay, có gần 19.000.

Đáng kể hơn, trong Bộ Chính trị Việt Nam có hai người đạt được tŕnh độ đại học Mỹ khi họ theo chương tŕnh học bổng Fulbright. Do đó, trong tuần này, một tổ chức mới cho chương tŕnh cao học sẽ mở ra tại thành phố Hồ Chí Minh: Đại học Fulbright Việt Nam, đó là chuyện thích hợp. Một người trong chúng tôi, Thượng nghị sĩ Kerry tự hào phục vụ trong chức vụ là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của trường.

Gần nửa thế kỷ trước, khi chúng tôi đă phục vụ ở Việt Nam, chúng tôi sẽ không bao giờ tưởng tượng được rằng đất nước của chúng ta sẽ một ngày nào đó làm việc với chính phủ Hà Nội để giúp họ giữ đồng bằng sông Cửu Long bằng cách tạo ra một sáng kiến để quản lư hệ sinh thái và đối phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Chúng tôi không bao giờ có thể tưởng tượng rằng hai nước chúng ta sẽ là đối tác trong một thỏa thuận về mẩu mă trong thương mại, trong các đối tác Xuyên Thái B́nh Dương, với mục đích là nâng cao tiêu chuẩn lao động và môi trường, đồng thời mở rộng sự thịnh vượng ở nước ta và các nước dọc theo ṿng cung Thái B́nh Dương.

Sẽ khó khăn hơn để tưởng tượng rằng Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ hợp tác về các vấn đề an ninh. Hoa Kỳ đă giúp thành lập một trung tâm đào tạo mới cho Quân đội Nhân dân Việt Nam trong các vùng ngoại ô của Hà Nội, nơi những người lính trẻ Việt sẽ chuẩn bị để phục vụ trong nhiệm vụ ǵn giữ ḥa b́nh do Liên Hiệp Quốc tài trợ.

Hoa Kỳ và Quân đội Việt Nam đang tiếp xúc thường xuyên, và các nhà ngoại giao của chúng ta tham khảo ư kiến thường xuyên về những tranh căi xung quanh tranh chấp chủ quyền hàng hải ở Biển Đông. Chính phủ của chúng ta không đứng về phía nào trong cơ sở pháp lư của các yêu sách, nhưng chúng ta tin tưởng mạnh mẽ rằng họ nên được giải quyết một cách ḥa b́nh và phù hợp theo với luật pháp quốc tế và không được đơn phương theo bất kỳ quốc gia nào t́m cách khẳng định quyền bá chủ trên các nước láng giềng.

Dĩ nhiên, Hoa Kỳ và Việt Nam có hệ thống chính trị khác nhau và phương sách khác nhau đối với một số vấn đề. Nhưng nhân quyền là phổ quát, và chúng ta đă làm rơ ràng để các nhà lănh đạo Hà Nội tin mạnh mẽ là Việt Nam sẽ đạt được đầy đủ tiềm năng chỉ nếu và khi người dân có quyền thể hiện một cách tự do trong phạm vi chính trị, lao động, các phương tiện truyền thông và tôn giáo. Trong cuộc viếng thăm Việt Nam, chúng tôi đă rất ấn tượng bởi sự háo hức của người dân Việt khi họ tận dụng lợi thế của công nghệ và cạnh tranh trong thị trường lao động toàn cầu. Chúng tôi tin rằng chính phủ Việt Nam không có ǵ để mất, và đạt được nhiều bằng cách tin tưởng người dân Việt.

Nh́n về tương lai, trên hết, chúng ta biết rằng lợi ích hỗ tương sẽ thúc đẩy quan hệ đối tác của chúng ta với Việt Nam. Cũng như vậy, nhưng khi nó được củng cố do t́nh cảm thu hút tự nhiên giữa các xă hội của chúng ta. T́nh cảm này bao gồm các mối quan hệ gia đ́nh, một xu hướng lạc quan, ḷng mong muốn mănh liệt cho tự do và độc lập và khi am hiều một cách khó khăn rằng ḥa b́nh là được yêu chuộng nhiều hơn là chiến tranh.

John Kerry là Ngoại trưởng Hoa Kỳ. John McCain là Thượng Nghị sĩ đảng Cộng ḥa bang Arizona, Chủ tịch của Ủy ban Quân vụ Thượng viện. Bob Kerrey là cựu Thượng Nghị sĩ đảng Dân chủ bang Nebraska, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Đại học Fulbright Việt Nam.

____

VOA

Ba nhà lănh đạo Mỹ suy tư về chiến tranh Việt Nam, hướng về tương lai

24-5-2016



H1Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry (phải) đến thăm ấp Kiến Vàng nằm bên bờ sông Mekong, Việt Nam, ngày 15 tháng 12 năm 2013. Ảnh: Reuters

Ba nhân vật nổi tiếng đă và hiện đang phục vụ trong chính phủ Hoa Kỳ từng chiến đấu trong cuộc chiến tranh Việt Nam, suy niệm về cuộc xung đột này trong khi khi hướng tầm nh́n vào hiện tại và tương lai.

Trong một bài viết chung tŕnh bày quan điểm đăng trên báo The New York Times hôm thứ Ba, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, Thượng nghị sĩ John McCain và cựu Thượng nghị sĩ Bob Kerrey viết rằng trong khi Mỹ tăng cường quan hệ với Việt Nam, điều quan trọng là phải nhớ những bài học đă học được từ cuộc chiến tranh đă cướp đi sinh mạng của hơn 58.000 người Mỹ và gần một triệu người Việt Nam.

Dù có “ít câu trả lời dễ dàng” cho những câu hỏi về các bài học này, họ nói “chúng ta không bao giờ một lần nữa nhầm lẫn chiến tranh với các chiến sĩ.” Những cựu chiến binh Mỹ “xứng đáng nhận được sự kính trọng, ḷng biết ơn và và sự ủng hộ sâu xa nhất của chúng ta vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi nào mà họ phục vụ.” Họ nói thêm như thế, rơ ràng ngụ ư ám chỉ sự chế giễu mà những cựu chiến binh Việt Nam phải đối mặt khi họ trở về nhà sau cuộc chiến gây tranh căi trong những năm 1960 và 1970.

Họ cũng nêu ra rằng các nhà lănh đạo “cần phải trung thực” với Quốc hội và công chúng Mỹ về những kế hoạch quân sự, một tuyên bố được đưa ra vài chục năm sau khi những binh sĩ tác chiến đầu tiên của Mỹ được điều tới Việt Nam được mô tả là “cứu trợ lũ lụt.”


H1Thượng nghị sĩ John McCain trong chuyến thăm nhà tù Hỏa Ḷ, Hà Nội, ngày 8 tháng 4 năm 2009. Ảnh: AP

Thể hiện “sự khiêm tốn trong việc tiếp nhận kiến thức về những nền văn hóa của nước ngoài” và vượt qua “những khác biệt dường như không thể thu hẹp được,” những điều hiện rơ trong tuần này tại Việt Nam, là một trong những bài học khác mà Mỹ đă học được từ cuộc chiến tranh, kéo dài ở Đông Nam Á từ năm 1955-1975.

Ba ông Kerry, McCain và Kerrey tự hào về những đóng góp của họ cho việc nối lại quan hệ ngoại giao b́nh thường từ 20 năm trước giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Ví dụ, mỗi năm có chưa đầy 60.000 người Mỹ đến thăm Việt Nam cách đây 20 năm, so với gần nửa triệu người hiện nay, và kim ngạch thương mại song phương với Việt Nam tăng gần 100 lần con số 450 triệu đôla của 20 năm trước.

Trong khi Tổng thống Barack Obama thăm Việt Nam tuần này, ba cựu chiến binh mô tả nỗ lực xây dựng mối quan hệ của ông Obama là “rộng khắp,” bao gồm những vấn đề an ninh, thương mại, đầu tư, môi trường và “tự do tôn giáo và nhân quyền.”

Nh́n về phía trước, họ viết, “những lợi ích chung” và “t́nh cảm thân ái tự nhiên” như quan hệ gia đ́nh và “ḷng khát khao tự do mănh liệt” sẽ giúp tăng cường mối quan hệ giữa hai nước.

Ông John Kerry từng là sĩ quan hải quân ở Việt Nam. Ông John McCain từng là sĩ quan hải quân và là tù binh chiến tranh ở Việt Nam suốt năm năm rưỡi. Ông Bob Kerrey được trao Huân chương Danh dự cho công tác phục vụ của ông với tư cách một biệt kích Hải quân ở Việt Nam.




--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 12 2016, 01:17 AM
Gửi vào: #12


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





TÔN NỮ THI NINH, BÀ LÀ AI?





Lê Trọng Kim

10-6-2016

Thưa bà,

Bà Tôn Nữ Thị Ninh. Ảnh: internet
Bà Tôn Nữ Thị Ninh. Ảnh: internet
Tôi vốn biết bà từ lâu và cũng nghe danh bà là người có học thức và được học hành từ môi trường đại học Tây Âu, dù tôi không biết bà có chức vụ ǵ, nhưng từ ấy cũng cho tôi có chút ḷng kính trọng bà. V́ lẽ đương nhiên tôi tin bà đă sống và học ở trời tây, nơi có các nền chính trị rất tự do phóng khoáng, nơi mà một người dân b́nh thường cũng có thừa hiểu biết về dân quyền, nhân quyền của mỗi công dân, thế nào là b́nh đẳng và b́nh đẳng là thứ mà người ta phải tuyệt đối tôn trọng và cũng là nơi mà người dân luôn có ư thức về một nhà nước chân chính luôn tôn trọng dân quyền, phục vụ dân sinh.

Nhưng qua bài viết “Bob Kerrey là khởi điểm xấu cho trường ĐH Fulbright” và bức thư ngỏ của bà sau đó, tôi thấy bà như hội đủ yếu tố của một mụ phù thủy ranh ma, tráo trở, lấp liếm, đạo đức giả, thù dai… và trả thù vặt, chứ không phải như một nhà khoa học, một trí thức như tôi đă từng nghĩ.

1- Bà khoe khoang cái mẽ bà đă từng tham gia biểu t́nh ở Paris chống chiến tranh Việt Nam trong những năm 60-70, tôi nghe bà nói mà nực cười v́ sự tự hào của bà. Tôi nghĩ những người VN cùng biểu t́nh với bà, đa số họ đă thức tỉnh từ lâu, v́ sự mê muội, v́ sự cả tin mà một thời bị cuốn theo. Nếu bà là một người Pháp biểu t́nh tại Paris hay một người Mỹ biểu t́nh ở nước Mỹ để phản chiến th́ tôi chấp nhận và chia sẻ quan điểm v́ con em của họ phải hy sinh tính mạng v́ một dân tộc ở một nơi xa xôi hay v́ họ yêu ḥa b́nh và muốn thế giới này măi được yên b́nh, đừng có chiến tranh.

Nhưng với bà, một người VN đă sống ở miền nam, dưới chính thể Việt Nam Cộng Ḥa, tổ tiên của bà, quê hương của bà cũng ở miền nam. Hẳn bà cũng thừa biết là chiến tranh giữa hai miền nam – bắc VN là do chế độ miền bắc cổ súy xâm lăng với ư đồ thôn tính, đặt cả nước VN vào quỹ đạo của cộng sản VN và cộng sản quốc tế. Chứ người miền nam, chính phủ miền nam chỉ cầu mong cho có ḥa b́nh để làm ăn và mưu cầu thịnh vượng cùng các nước năm châu, bốn biển. Vậy nếu bà muốn biểu t́nh chống chiến tranh th́ phải ra miền bắc mà biểu t́nh mới phải chứ? Phải kêu họ, chính quyền Bắc Việt và đảng cộng sản VN đừng bắt hàng triệu thanh niên cầm súng vào “giải phóng miền nam”, để rồi phải đau khổ hy sinh xương máu một cách oan uổng khi tuổi đời chỉ mới 18-20. V́ miền Nam đang sống sung túc và tự do hơn miền bắc của họ nhiều, th́ có ǵ mà phải giải phỏng theo lời bịp bợm của nhà cầm quyền miền bắc? Điển h́nh như bà thấy đấy, sau ngày 30/4/1975 có biết bao của cải, đủ cả Ti vi, cassette, tủ lạnh, xe máy, lúa gạo… và cả rất nhiều vàng được chở đem về miền bắc.

Những người VN mang danh nghĩa chống chiến tranh thời bấy giờ ai cũng biết đa phần trong số họ là những người có cảm t́nh với chế độ miền bắc hoặc là cán bộ Việt cộng nằm vùng, ngoài mặt họ đưa chiêu bài phản chiến nhưng thâm ư của là họ muốn Mỹ thôi giúp cho chế độ miền nam chống cộng sản, để miền nam càng mau bị miền bắc thôn tính đúng theo ư đồ phản bội của họ. Tôi gọi đó là những kẻ đă lầm đường và những kẻ phản bội, bởi lẽ nếu họ yêu thích chế độ miền bắc th́ khi trao đổi người giữa hai miền sau hiệp định Geneve, sao họ không cuốn gói về miền bắc sinh sống với chế độ mà họ yêu thích?

C̣n điều này nữa, bà là người học rộng, chẳng lẽ bà không hiểu, v́ sao VN chiến thắng lớn tại Điện Biên Phủ mà phải kư hiệp định Geneve chấp nhận chia đôi đất nước? Sao không thừa thắng mà tiến lên đánh đuổi quân pháp, chiếm cả Việt Nam (trong đó có Nam Kỳ Tự Trị mà thực dân pháp đă mở rộng một số quyền theo quy chế tự trị cho miền nam dưới quyền của Quốc trưởng Bảo Đại và các chính phủ của ông) để thống nhất ngay từ đó?

Chắc bà cũng biết Liên Xô và Trung Cộng đă âm mưu chia cắt nước VN làm hai miền nam – bắc từ trước khi trận Điện Biên Phủ mở màn, thành ra chiến thắng Điện Biên Phủ tuy là lớn, nhưng không có nhiều ư nghĩa với tiến tŕnh lịch sử của dân tộc. Bởi v́ bọn Trung Quốc sau chiến tranh Triều Tiên, họ đă tổn thất rất nhiều, và t́nh h́nh bất ổn trong nội bộ nước họ, họ không muốn chiến tranh VN kéo dài thêm nữa, và với ư định chia đôi nước VN, miền bắc vẫn chịu ảnh hưởng của họ, lệ thuộc vào họ, miền nam dù Mỹ có nhảy vào giúp bảo vệ chế độ miền nam, th́ Trung Quốc cũng không phải lo về đối đầu với Mỹ v́ có lănh thổ miền bắc trở thành vùng đệm, che chở rất an toàn cho nước họ. Thế là trong một hội nghị ở Quảng Châu họ đă ép ông Hồ Chí Minh phải kư hiệp định Geneve theo ư của họ và họ đă hứa với ông Hồ Chí Minh là sau này nếu chiến tranh có bùng phát trở lại th́ lúc đó họ sẽ giúp cho miền bắc bằng mọi giá. Và ngay lúc này ông Hồ Chí Minh đă cho họ biết là ông sẽ đánh miền nam.

Và thế là để thi hành hiệp định Geneve theo đúng th́ các cán bộ, đảng viên đảng cộng sản, từ bắc vào và những người thuộc Việt Minh phải rút hết về miền bắc, những ai c̣n ở lại th́ phải ra tŕnh diện với chính quyền miền nam và không được tiếp tục hoạt động chống chính phủ miền nam. Những người dân miền nam nào ưa thích chế độ miền bắc th́ cứ tự do di chuyển về miền bắc sinh sống. Ngược lại những người đang ở miền bắc mà thích sống với chế độ miền nam th́ cứ di cư vào nam. Thế là hơn 1 triệu người miền bắc đă di cư vào nam và người miền nam th́ tập kết ra bắc.

Lúc này ông Lê Duẩn, bí thư xứ ủy Nam kỳ đă giả bộ lên tàu chuẩn bị về miền bắc, nhưng ông đă bí mật hóa trang xuống tàu và ở lại miền nam, cùng với việc ở lại miền nam bất hợp pháp của Lê Duẩn là nhiều vũ khí được chôn giấu lại trên khắp miền nam và một số lượng cán bộ được bố trí bí mật ở lại, nhiều tài liệu nói là số cán bộ bí mật ở lại này lên đến con số 800.000 người, thật kinh khủng để tiếp tục tổ chức lực lượng chống phá chính quyền Ngô Đ́nh Diệm ở miền nam, dưới sự lănh đạo của Lê Duẩn. Và chính ông này đă viết ra đề cương chiến lược “giải phóng miền nam”, mà gọi cho đúng tên là kế hoạch chiếm đoạt miền nam mới phải. Lúc này ở miền nam chưa hề có một tên lính Mỹ nào cả. Và kế hoạch chiếm miền nam này của Lê Duẩn đă được ông mang ra miền Bắc tŕnh bày với bộ chính trị đảng công sản và đă được thông qua với quyết tâm chiếm miền nam bằng mọi giá.

Ngay sau đó là đường ṃn Hồ chí Minh được xây dựng vào năm 1959 và Mặt trận Giải phóng Miền Nam cũng ra đời năm 1960, lúc này vẫn chưa có lính Mỹ ở miền nam. Thế th́ cái chiêu bài đánh Mỹ “giải phóng miền nam” chỉ là thứ giả hiệu, là chiếc b́nh phong che đậy mưu đồ xâm lược miền nam của chính quyền miền bắc thôi, chứ chẳng có giải phóng ai, cũng chẳng có đánh Mỹ ǵ cả, v́ cho măi đến năm 1965, lính Mỹ mới đổ bộ vào miền nam với mục đích cao cả là bảo vệ chính phủ miền nam, bảo vệ miền nam để đừng rơi vào chủ nghĩa cộng sản, đừng rơi vào tay của chính quyền miền bắc.

Bà chắc cũng biết chế độ Ngô Đ́nh Diệm ở miền nam trước sau vẫn cự tuyệt, không kư hiệp định Geneve, họ đ̣i không chia đôi đất nước và đ́nh chiến, phe nào ở đâu th́ giữ nguyên vị trí ở đó. Điều này trái hẳn với ư đồ của Trung Cộng, nên Trung Cộng ra sức thuyết phục người pháp, thuyết phục ông Hồ Chí Minh, cuối cùng Hiệp định Geneve đă h́nh thành mà không có chữ kư của chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và phần phụ lục về việc tuyển cử để thống nhất đất nước là hầu như không có nước nào dự hội nghị kư vào văn bản này và đương nhiên là chính quyền miền nam của Ngô Đ́nh Diệm cũng không có kư vào đây. V́ thế cho nên luận điệu tuyên truyền của miền bắc nói rằng, v́ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm không thi hành tổng tuyển cử nên họ tiến hành cách mạng giải phóng miền nam rồi xua quân đội miền bắc vào miền nam chỉ là luận điệu giả dối cho tham vọng chiếm miền nam của họ.

Và bà cũng không đờ đẫn, không điên khùng đến mức không biết là sau hiệp định Paris th́ không c̣n lính Mỹ ở miền nam, thế mà Bắc Việt vẫn dốc toàn lực vào đánh miền nam, th́ là đánh Mỹ sao hả bà Ninh? Chỉ có những người mất trí mới nghĩ như thế.

Thành ra cái tṛ biểu t́nh phản chiến mà bà kể công ở đây, chỉ là thứ biểu lộ cho sự thiếu hiểu biết, không thức thời hay sự mê muội nghe theo luận điệu tuyên truyền mà bà vẫn c̣n cố giữ. Bà không thể phản chiến để kêu chính quyền miền nam đừng đánh trả miền bắc đang tấn công họ, mà bà có giỏi th́ nên biểu t́nh ngăn chặn ư đồ và hành động tàn nhẫn của chính quyền miền bắc, đưa quân tấn công miền nam, như thế th́ bà mới là người có công với dân, với nước, tránh được đau thương cho dân tộc bà ạ.

2- Bà cũng khoe khoang cái mẽ bà đă từng công tác trong ngành ngoại giao hơn 30 năm và từng quen biết với nhiều nhân vật người nước ngoài, từ nhà báo, nhà văn, nhà chính trị, nhà học thuật, nhà kinh tế … và nhiều nhà khác nữa. Nhưng qua những ǵ bà thể hiện trong bài viết, tôi nghĩ bà đă đem danh dự, ḷng tự trọng, tính nhân đạo, ḷng vị tha … của dân tộc VN phỉ báng trước thế giới có lẽ là nhiều hơn những ǵ bà đă làm ǵ cho giống ṇi VN được tôn vinh trên trường quốc tế. Những con người hẹp ḥi, nhỏ mọn, ích kỷ, thâm thù … như bà, mà cũng làm công tác ngoại giao ngót hơn 30 năm th́ càng khẳng định thêm chế độ này lắm khi rất u tối trong việc t́m hiền tài để phụng sự tổ quốc và nhân dân. Có thể một phần v́ thế mà người nước ngoài họ đánh giá VN, là nước không chịu phát triển? Trên đời này có một nhà nước nào lănh đạo quốc gia mà không muốn cho nước ḿnh phát triển không chứ? Tôi hỏi trời hay hỏi ai đây?

Th́ ra chỉ có những con người như bà chỉ lấy hận thù, chỉ lấy cái ích kỷ cá nhân mà đem ra làm việc lớn, việc nước, việc dân, bà đem cái thành kiến nhỏ mọn của cá nhân bà ra đặt trước cái lợi ích của nhân dân, của đất nước, cái loại cán bộ như thế này th́ đất nước không phát triển, nhân dân không được tự do, hạnh phúc là phải lắm. Ba mươi năm đổi mới rồi, 70 năm xă hội chủ nghĩa rồi, mà đất nước ngày càng tụt hậu so với thế giới, cái ǵ cũng thua thiệt với người ta, chỉ có ḷng tự hào rởm, chỉ có tham nhũng, đàn áp, bất công … là hơn người. C̣n nước nghèo vẫn nghèo, kinh tế phụ thuộc nước ngoài, biên cương bị gặm nhấm, lănh hải, hải đảo bị người ta xâm lấn, chiếm giữ và ngạo nghễ từng ngày. Nhân dân ở các vùng xa, vùng sâu, vùng cao … đa số vẫn c̣n nghèo và đói, phải cứu trợ bằng gạo, thời đại ngày nay mà phải cứu trợ bằng gạo, th́ hỏi có đau ḷng không? Đạo đức xă hội suy đồi, không biết bao nhiều là thứ tội phạm, không biết bao nhiều thứ tṛ lừa đảo trên mọi lănh vực đời sống và ngày càng tinh vi tàn ác … !

Nhân phẩm con người VN bị đem ra bán rẻ trước thế giới, phụ nữ chỉ mong được lấy chồng Đài Loan, Trung Quốc, Hàn quốc, kể cả đàn ông nghèo khổ châu Phi, chỉ mong thoát khỏi cảnh nghèo hèn, chỉ mong được đổi đời và bất chấp tất cả những ê chề, tủi nhục. Thanh niên nam nữ th́ mong xa ĺa gia đ́nh, quê hương, đất tổ để đi t́m kế sinh nhai, dù đó là vùng xa xôi, nước xa xôi mà họ chưa hề biết đến. Nhưng đi để được làm ǵ? Chỉ được làm lao động chân tay và làm osin, thế nhưng cũng bị cơ quan công quyền đặt ra những chi phí quá cao, thủ tục nhiêu khê và bọn lừa đảo cũng dựa vào đó mà ra tay lừa gạt, khiến cho nhiều người phải mang nợ không biết đến bao giờ mới trả hết được. C̣n những người đă đi th́ khi sang đến xứ người chỉ mong được trốn ra ngoài làm chui hay trốn ở lại làm chui th́ mới mong trả được nợ khi đi và dư được chút tiền. Cái bóc lột ngày nay nó như thế đó.

Nhưng những t́nh cảnh này, những kẻ làm quan như bà chắc chẳng mấy khi đếm xỉa đến, mà chỉ quan tâm đến vấn đề sĩ diện cá nhân rởm, chỉ lo làm giàu thôi th́ phải? Những kiểu dùng người chỉ theo cảm tính, sử dụng nhân tài không cần nghĩ đến quá tŕnh, công lao và ḷng nhiệt thành của họ đă và đang đam mê với lư tưởng, với công việc như ông Bob Kerrey, rồi bỗng nhiên bị người ta dứt ngang cho ra ŕa. Cái cách chọn người, sử dụng con người vô tâm, tàn nhẫn … và phá hoại này vẫn thường thấy ở chính quyền VN, chính v́ thế mà đôi khi có những chính sách tốt, những ư tưởng hay… nhưng cuối cùng th́ thực hiện chẳng đến đâu, chỉ làm lăng phí và tăng thêm sự tŕ trệ, tụt hậu thôi.

Phải, bà nói nước Mỹ không thiếu nhân tài, nhưng sử dụng nhân tài như bà và như chính quyền của bà th́ chẳng ai c̣n động lực để phục vụ, chẳng ai muốn phục vụ cho những kẻ vô tâm, vô ơn và không tôn trọng nhân tài như thế. Thật ngớ ngẩn khi bà ví ông Bob Kerrey và trường đại học Fulbright như một cuộc hôn nhân, nhưng đến phút cuối khi đôi tân lang, tân nương sắp lên xe hoa, họ chẳng có lỗi ǵ cả, họ vẫn yêu thương, th́ bà lại muốn thay đổi, tân lang phải là người khác, mà nguyên nhân là do bà chụp mũ và gán ghép, không thừa nhận ḷng thành của người ta. Hôn nhân kiểu của bà là hôn nhân ǵ vậy, tôi không nghĩ bà là một người có học, mà là một kẻ vô học th́ đúng hơn. Bà học kiểu ǵ mà sống như kiểu rừng rú như thế?

Bà cũng khoe khoang cái mẽ làm luận án thạc sĩ qua tác phẩm của một nhà văn Mỹ, nhưng tôi nghi ngờ những ǵ bà viết trong đó cũng chẳng có ǵ hay ho!

3- Cái tâm tốt của con người là biết nh́n ra lẽ phải, biết thừa nhận cái sai và biết ăn năn hối căi, dù sự ăn năn hối căi ấy có muộn màng nhưng cũng sẽ làm cho người ta dễ quên đi nỗi đau. Ngược lại cái tâm xấu xa là kẻ không nh́n thấy cái ác quanh ḿnh, tức là cũng đồng phường, đồng hội với kẻ ác, hoặc thấy cái ác mà im lặng th́ ta là người hèn nhát hay đồng lơa, c̣n nếu ta ca ngợi cái ác th́ chính ta c̣n ác hơn kẻ đă thủ ác.

Bà chai mặt và vô tâm đến mức khi một người đă nói ra lời xin và đă có nhiều hành động để chứng tỏ họ đă ăn năn và chuộc lại lỗi lầm, khi trong một t́nh thế mà họ phải đối diện với cái chết của chính họ và đă gây ra tội lỗi. Những kẻ vô tâm như bà khiến tôi cảm thấy ghê tởm nên tránh xa và càng ghê tởm khi biết là chung quanh bà vẫn có nhiều cái ác khác gấp hàng trăm lần, nhưng v́ bà và họ cùng một phe, một phái nên bà đă làm ngơ, lăng quên hay chối bỏ, chứ đừng nói chi đến thừa nhận hay xin lỗi như ông Bob Kerrey.

Hẳn là bà không thể không biết đến cuộc cải cách ruộng ở miền bắc từ năm 1953 đến năm 1956, đă giết hại hàng mấy chục ngàn đồng bào vô tội, bà không thể thấy cái tàn ác của chế độ, khi một số người cần mẫn, chăm chú làm ăn và khi tích cóp được một số tài sản, dù tài sản cũng chẳng nhiều ǵ, chỉ cần 0,65 ha đất, hai con heo thôi, cũng đủ bị khép vào loại địa chủ, rồi bị chế độ này đem ra đấu tố để chiếm hết tài sản và có khi là cướp luôn cả tính mạng của họ. Chẳng những bị mất tài sản, tính mạng mà trước khi chết họ c̣n bị một lũ côn đồ của chế độ mạ lỵ, vu khống, chửi bới … vô cùng tàn nhẫn.

Chắc bà cũng không thể không biết vụ án của bà Nguyễn Thị Năm, chủ cửa hàng bán vải sợi Cát Hanh Long. Bà này chồng mất sớm, nhờ tài quán xuyến và làm ăn chăm chỉ qua bao nhiêu năm nên bà đă khá giả, giàu lên. Bà Năm rất có tinh thần v́ nước, v́ nền độc lập tự do của dân tộc nên trước cách mạng tháng 8 năm 1945, bà ấy đă hiến cho “cách mạng” một số tiền tương đương với 700 lượng vàng. Sau cách mạng tháng 8, trong tuần lễ vàng do ông Hồ Chí Minh phát động, bà Năm lại hiến thêm 100 cây vàng nữa. Nhà bà là nơi các lănh đạo cao cấp của đảng thường tới lui, bà đă đối xử và nuôi dưỡng, che giấu như các ông Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Vơ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ …

Trong 9 năm kháng chiến chống pháp, đồn điền cao su mà bà Năm mới mua là nơi chứa, nơi đóng quân của nhiều đơn vị bộ đội. Bản thân bà Năm cũng là Hội trưởng Hội phụ nữ tỉnh, hai con bà cũng là bộ đội với chức vụ chỉ huy tiểu đoàn. Thế mà khi cần loại ra khỏi hàng ngũ đảng, những thành phần không xuất thân từ giai cấp bần cố nông, dù họ đă đóng góp rất nhiều công lao và hết cả tài sản cho đảng, th́ đảng cũng không chùn tay chừa cho họ quyền được sống, v́ thế nên bà Năm đă bị họ đấu tố và giết hại một cách tàn nhẫn.

Thật đê hèn cho những người lănh đạo khi giết hại một ân nhân rất lớn của ḿnh, và đan tâm giết một người phụ nữ để mở màn cho cuộc đấu tố giết hại dân lành. Làm sao bà Ninh không biết bài báo “Địa chủ ác ghê” đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 và tác giả của nó, nếu bà đă là đảng viên cộng sản và tôn thờ lănh tụ tối cao của đảng. Một bài báo đă trơ trẽn vu khống bà Năm đă giết hại đến 32 gia đ́nh và 260 người … để rồi họ bắn bà một cách dă man, chỉ v́ muốn có một phát pháo khởi đầu đấu tố cho thật ác độc để dọa nạt quần chúng.

Bà cũng không thể không biết đến cuộc tàn sát hơn 4000 thường dân vô tội ngay tại Huế, quê hương của bà, trong trận chiến Mậu Thân 1968 do Việt cộng gây ra. Những kẻ thủ ác đă nhẫn tâm giết đồng bào, đồng loại của ḿnh bằng cách trói họ lại với nhau bằng dây kẽm gai và dùng súng đạn, cuốc, xẻng … họ dă man không thua ǵ bọn Khmer đỏ giết người, diệt chủng. Và gần đây ngay trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, chắc bà cũng không thể không nghe về chuyện bộ đội miền Bắc đă xả súng tàn sát hơn 200 thường dân tại ấp phú Mỹ, xă Xuân Lập, thị xă Long Khánh trên đường họ tiến về Sài g̣n. C̣n rất nhiều tội ác của chế độ này lắm, biết bao nhiêu người đă chết tại trụ sở của cơ quan công an, trong nhà giam … và mới đây nhất là chuyện đầu độc môi trường biển suốt chiều dài 4 tỉnh miền trung mà cho đến nay vẫn chưa rơ nguyên nhân, chưa rơ thủ phạm, việc mất dần biển đảo, ngư dân bị bắn, bị cướp hàng ngày … dường như bà cũng chưa lên tiếng lần nào cả. Bà yêu nước hay bà yêu cái ǵ đây?

Nếu bà nói bà đă từng làm quan, làm chức to suốt hơn 30 năm qua, và tự hào về điều đó, khi mà đất nước chẳng tiến đến đâu, vẫn c̣n ngày càng tụt hậu xa với các nước khác, th́ bà thật là kẻ dày mặt mới dám tự hào bà là quan chức. Nếu bà thấy quanh ḿnh vẫn có rất nhiều điều tàn ác xấu xa và không ai dám thừa nhận tội ác, không ai có một lời xin lỗi với nhân dân, với vong linh của những người đă chết thê thảm, mà bà cũng không lên tiếng, để rồi bà vạch tội của một người khác, một người nước ngoài và bà một mực cố chấp, dù họ đă ăn năn hối căi, th́ bà thật là thứ lưu manh đầy dẫy trong xă hội VN ngày nay. Nếu bà bảo rằng ông Bob Kerry có ăn năn hối lỗi th́ chỉ một ḿnh ông ấy biết, chứ bà … làm sao biết và cũng không cần biết, dù ông ấy không những đă thể hiện bằng lời nói, cả hành động và ước muốn tốt đẹp của ông ấy dành cho đất nước VN và tương lai của người dân VN, th́ theo tôi, bà đúng bà là một kẻ rừng rú, một con thú đội lớp người, chứ không là một nhà trí thức ǵ cả.

4- Một con vật hay một hạt mầm cây cỏ khi được sống trong một môi trường tốt th́ bao giờ cũng tươi tốt, sẽ cho những bông hoa đẹp hay những trái chín ngon ngọt hơn là những cây, hoa, cỏ sống trong môi trường không thuận lợi. Đó là lẽ tự nhiên. Một con người nếu may mắn được rèn luyện, học tập trong một thế giới văn minh như phương Tây th́ thường là hấp thụ được những điều hay lẽ phải, khi hiểu biết được những đều hay lẽ phải ấy, th́ phải có ḷng với quê hương đất nước, với dân tộc ḿnh để khai sáng cho nước non và cho dân tộc, một nghĩa vụ và một trách nhiệm cao cả với tiền đồ của tổ tiên, họ không v́ lợi lộc riêng mà bỏ cái sở học của ḿnh để nghe theo những điều ngu muội của những kẻ ít học, không v́ sự hèn nhát mà không dám đấu tranh cho cái lẽ phải được tồn tại và không v́ bất cứ cái ǵ, để đánh mất tri thức của ḿnh, th́ đó mới là một nhà khoa học của dân của nước.

Bà đă đi học ở châu Âu, bà đă làm việc ở châu Âu, bà thừa biết cái nguyên tắc đối trọng để cân bằng quyền lực trong các nền chính trị dân chủ ở châu Âu, để đối trọng với đảng cầm quyền, chính phủ đương quyền là các đảng đối lập, là lá phiếu được toàn quyền lựa chọn của người dân, là cơ chế tam quyền phận lập nghiêm minh và rơ ràng của nó, để tránh đảng đương quyền, chính phủ đương nhiệm lạm quyền, tự tung tự tác và tham quyền cố vị. Đó mới đúng là những đối trọng để điều chỉnh một chính quyền của đảng đương quyền, họ sẵn sàng bị mất quyền lănh đạo bất cứ lúc nào nếu họ bất tài, thất đức, thiếu trách nhiệm … làm dân chúng mất niềm tin. Thế nhưng trong t́nh trạng đất nước bi đát, v́ tham nhũng và thất thoát trầm trọng … do lăng phí, năm 2007, bà đă viết trên Tạp chí Cộng sản về quan niệm đối trọng với quyền lực, theo bà chỉ cần các đoàn thể, các tổ chức như là công đoàn, mặt trận, đoàn thanh niên, hội phụ nữ … là đủ!

Một kiểu bồi bút, nịnh hót không thể tưởng tượng được, chẳng lẽ bà không biết các tổ chức này do đảng, của đảng “đẻ’ ra và trực tiếp lảnh đạo th́ c̣n là đối trọng cái nổi ǵ?

Bà đă từng lư luận phản bác những người đấu tranh cho nhân quyền trong nước bằng luận điểu này đây:

“Trong gia đ́nh chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh th́ để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gơ cửa đ̣i xen vào chuyện riêng của gia đ́nh chúng tôi”. Thật hết biết với thái độ trịch thượng kẻ cả của bà, trong nhân dân có những người có tuổi bằng tuổi của cha bà, mẹ bà …, trong những người bất đồng chính kiến với đảng, có những người cũng có tuổi đáng tuổi cha bà, mẹ của bà như ông Trung tướng Trần Độ, như nhà sư Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ … thế mà bà gọi họ là con em, cháu … nhân dân là con, em cháu của bà? Tôi phải chửi bà, người dân phải chửi bà như thế nào cho xứng đây? Có lẽ không c̣N từ nào cả bà Ninh ạ.

C̣n nữa, cho dù bà có là gia trưởng độc quyền, độc đoán trong cái nhà của bà, th́ bà cũng phải sống trong một xă hội, c̣n có rất nhiều nhà chung quanh, những nhà hàng xóm nếu thấy bà quá tàn nhẫn, độc ác với các thành viên trong nhà của bà th́ họ cũng có quyền can thiệp chứ, luật pháp của nước nào cũng có điều khoản đó bà Ninh à. Và một thế giới văn minh th́ nhân quyền chỉ có một định nghĩa cho toàn thế giới này, thành ra tôi không biết bà là người hay thú và bà đang sống ở đâu đây?

Đối với ông Bob Kerry, nếu không được làm Chủ tịch Hội Đồng Tín Thác của trường Đai Học Fulbright, th́ ông cũng có những chỗ làm xứng đáng khác, v́ ông là một người có tài và tôi cùng nhiều người khác cũng khẳng định ông ấy là người có đức, v́ chính ông ấy đă nhiều lần nói với mọi người là xin đừng biện hộ hay giải thích cho ông, v́ ông có mặt trong toàn lính Mỹ trong cái đêm tai vạ ở làng Thạnh Phong th́ xem như là ông đă có tội rồi và điều đó đă làm ông ray rứt cả đời, nó cũng làm cho mẹ của ông phải khóc, khi ông thành thật kể lại với mẹ của ông.

Tôi thấy tư cách và phẩm giá của ông ấy tăng lên rất nhiều sau sự cố một kẻ tiểu nhân, cố thù dai, trả thù vặt … với ông. Tôi xin bà Ninh đừng có ngụy biện là bà v́ lợi ích của nhân dân, của lịch sử, của dân tộc nhé. Nếu bà v́ mục đích cao cả đó th́ bấy lâu nay bà đă không ngậm miệng với những sự việc đau thương rất lớn lao mà tôi đă kể ở trên.

Và thật ngớ ngẩn khi trong thư ngỏ ngày 7 tháng 6, bà Ninh viết, bà sẵn sàng gặp lại ông Bob Kerry … Trời, sao bà lại có thể sấc sược, trịch thượng đến mức xem ông Bob Kerry là trẻ con như thế, bà kêu ông ấy gặp bà như để bà tha tội cho ông ấy và bà ban phát cho ông chức vụ … Một thái độ trịnh thượng như thế này, hèn ǵ bà gọi nhân dân VN là con em, cháu của bà như trên cũng phải. Một kẻ hết sức khốn nạn ?



--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 24 2016, 04:04 AM
Gửi vào: #13


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





CSVN bán nước!!!


Bảo Giang

- Khi Tổng thống Hoa Kỳ Obama sang Việt Nam, tôi viết bài chào: “Chống Mỹ cứu nước!”. Nay ông ta đă rời VN, chẳng lẽ tôi không thể viết: “Đả đảo Cộng sản Việt Nam!”? Tôi đả đảo nó v́ suốt 80 mươi năm qua, nó chỉ đem đến cho Việt Nam về đời sống là nghèo đói, bất hạnh. Về xă hội là sự vô luân là gian trá, lừa bịp, phản trắc. Về con người là phi nhân bất nghĩa và tội ác. Với gia đ́nh là không cha không mẹ, không t́nh nghĩa. Với tổ quốc là phản nghịch, là buôn dân bán nước!

Khi Đệ Nhị Thế Chiến vừa tàn, hội nghị San Francisco 1951 mở ra và ở đó một bản Ḥa Ước giữa người thắng kẻ bại đă được đúc kết, công bố và thi hành. Trong Điều 2, đoạn 7 của Ḥa ước này đă minh thị về trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bị Nhật chiếm giữ như sau: “Nhật Bản khước từ mọi chủ quyền và đ̣i hỏi đối với tất cả các lănh thổ mà họ chiếm bằng vũ lực trong đệ nhị thế chiến, trong số đó có các quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands)”.

Trước đó, khi đệ tŕnh bản tu chính vào ngày 5-9-1951, ngoại trưởng Nga, Andrei Cromyko đă tính vươn tay dành 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cho Trung cộng, là một tập đoàn CS vừa có chiến thắng tại Trung Hoa lục địa (1949). Tuy nhiên, vào ngày 7/9/1951, trong Hội nghị San Francisco với sự tham dự của các phái đoàn đại diện cho 51 quốc gia, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng VN, ông Trần Văn Hữu, đă long trọng tuyên bố trước hội nghị như sau: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đă có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”...“Chúng tôi cũng sẽ tŕnh bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận... Và để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đă có từ lâu đời của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Lời công bố này đă được bỏ phiếu chấp thuận trong hội nghị với tỷ lệ 48/51, trong đó có các cường quốc hàng đầu như Mỹ, Pháp, Anh. Ḥa ước này đă có hiệu lực từ 28/4 năm 1952.

Tưởng cũng nên nhắc lại vào ngày 16-3-1974, cựu thủ Tướng Trần văn Hữu trong một cuộc phỏng vấn tại Paris đă nói: “...Chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa đă được công khai tuyên bố nơi Hội nghị Ḥa b́nh với Nhật, tại San Francisco vào năm 1951. Lúc ấy là lần đầu tiên mà Việt Nam vào hàng 50 cường quốc có quyền định đoạt vấn đề quốc tế. Lá cờ quốc gia, nét son nền vàng phất phới trước Hội nghị... Việt Nam có mặt ở San Francisco là VIỆT NAM THỐNG NHỨT, thống nhứt đă hai năm rồi. Và ai cũng biết, ngày 8-3-1949 là ngày chánh phủ Pháp công khai nh́n nhận nền độc lập của Việt Nam. Việt Nam hoàn toàn thống nhứt từ đó... ”

Như thế, vào thời điểm 1951, Việt Nam đă là một quốc gia Độc Lập, có chủ quyền. Lănh thổ chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, dặt dưới quyền lănh đạo của chính phủ Bảo Đại. Trong khi đó, lợi dụng tinh thần kháng pháp của quân dân Việt Nam, CS trương cờ cướp lấy chính quyền tại Hà Nội vào ngày 2-9-1945. Nhưng chẳng bao lâu sau, tập đoàn CS do Trung cộng đỡ đầu đă bị đánh bật ra khỏi Hà Nội. Cuộc sống tăm tối. Giống như thổ phỉ, ngày ẩn trốn, đêm đêm đi cướp của giết người. Và cái chết của bà Nguyễn thị Năm, người đă bỏ ra hàng trăm lượng vàng giúp kháng chiến đă là cái án treo vào cổ những cái tên Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Đặng Xuân Khu, Lê Đức Thọ, Vơ Nguyên Giáp... đời đời không thể tẩy rửa được.

Tuy nhiên, cuộc chiến thắng của Mao Trạch Đông ở lục địa Trung Hoa (1949) đă dần dần làm thay đổi bộ mặt của tập đoàn cộng sản tại Việt Nam. Trước hết, với sức người sức của, dưới sự điều binh khiển tướng trực tiếp của những viên tướng Tàu là Lă Qúy Ba, Trần Canh... Trung cộng đă dần dần tạo ra và giúp tập đoàn CS Hồ Chí Minh có chỗ đứng, mà điểm vang là trận Điện Biên Phủ. Từ trận chiến này, TC đă gây ra hoang mang và làm đổ vở tinh thần cũng như sức chiến đấu của quân đội Pháp tại Đông Dương. Nó là nguyên nhân chính đem lại tai họa cho Việt Nam qua hội nghị Geneve. Là nơi, với sự góp sức của Tàu và Liên Sô, Việt Nam đă bị chia ra làm 2. Miền bắc, từ vĩ tuyến 17 trở ra do tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh chiếm đóng. Phía nam vĩ tuyến 17 thuộc về quân đội và nhân dân Việt Nam. Kết quả này cho thấy, Hồ Chí Minh và tập đoàn cộng sản đă cậy nhờ vào Tàu cộng mà đạt thành ước nguyện của Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc xưa kia.

Sau khi giúp cho tập đoàn Hồ Chí Minh có chỗ chống gậy, TC không quên đ̣i lấy quyền lợi cho ḿnh. Việc đầu tiên họ ra một thông báo, trong đó quy định điều mà họ gọi là lănh địa và lănh hải thuộc nước CHNDTH, một điều mà họ đă không thể thực hiện được tại Hội nghị San Francisco 1951. Bản tuyên bố của Chu Ân Lai đề ngày 4 tháng 9-1958, gồm 4 điều khoản. Điều khoản số 1 đă viết như sau: “Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc về Lănh Hải (1) Bề rộng lănh hải của nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lư. Điều khoản này áp dụng cho toàn lănh thổ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan... và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc...”

Theo thông báo này, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi mà hội nghị quốc tế San Francisco đă khẳng định là của Việt Nam đă bị TC quy vào ṿng cương tỏa của họ với cái tên khác là Nam Sa và Tây Sa. Việc cương tỏa này hoàn toàn không có giá trị với Việt Nam trên phương diện pháp lư. Tuy nhiên, trái ngược với thái độ của miền nam Việt Nam, tập đoàn CSBV dưới sự lănh đạo của Hồ Chí Minh tự biết, đây chẳng qua chỉ là việc phải trả nợ chiến phí mà TC đă giúp cho Lê Chiêu Thống kiếm được chỗ dung thân. Theo đó, nhân cơ hội TC ra thông báo về các quần đảo tiếp cận, Hồ Chí Minh qua Phạm Văn Đồng đă cống nạp hai quần đảo HS, TS đang nằm trong công quyền của miền Nam Việt Nam cho TC. Việc làm này phải được coi là một công trạng lớn nhất của tập đoàn CS Hồ Chí Minh sau khi chúng t́m được chỗ tựa: Đồng viết:

“Thủ Tướng Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Ḥa,

Thưa Đồng chí Tổng lư... Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa... Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư của Trung-quốc... Ngày 14 tháng 9 năm 1958.”

Thật ra, bản công hàm của Phạm Văn Đồng đă không xuất hiện lẻ loi. Trái lại, nó đă được sửa soạn rất kỹ từ trước đó hai năm. Vào tháng 6 năm 1956, thứ trưởng Ngoại giao Việt cộng là Ung Văn Khiêm đă nói với Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung quốc tại Hà Nội là: “theo dữ liệu của Việt Nam th́ đảo Tây Sa (tức Paracels, Hoàng Sa) và đảo Nansha (tức Spratleys, Trường Sa) là một phần thuộc Trung quốc theo lịch sử”. Sau Y, vào ngày 3-12-1992, Nguyễn Mạnh Cầm trong vai bộ trưởng ngoại giao tại Hà Nội xác minh: “các nhà lănh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương th́ tất cả lănh thổ từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam là thuộc về chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này. Trong tinh thần đấy và do tính cấp bách, quan điểm lănh đạo của ta ủng hộ Trung quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là cần thiết. V́ nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc!”. Không biết Y muốn nói đến bảo vệ tổ quốc nào, chắc là Tổ quốc Trung quốc? Thêm vào câu chuyện bán nước này, Hoàng Tùng, ủy viên trung ương, cũng xác nhận: "V́ ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và chưa đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn Trung Quốc giải phóng. Sau này ḿnh thống nhất đất nước rồi phía bạn sẽ trả cho ḿnh." (RFA). Riêng Lê Đức Thọ, ủy viên BCT, trưởng ban tổ chức TƯ đảng th́ mạnh dạn hơn:“Hăy an tâm, Trường Sa, Hoàng Sa trong tay Trung quốc c̣n hơn là trong tay ngụy quyền miền nam”.

Dĩ nhiên, chuyện nhượng địa cho TC chưa dừng lại ở đó. Vào năm 1990 một phần trong vịnh bắc bộ gồm băi biển Tục Lăm, rồi núi Lăo Sơn, Nam Quan, Bản Giốc cũng đă ĺa đàn chim Việt. Và c̣n biết bao nhiêu rừng đầu nguồn, đất đai thuê bao, sang nhượng mà CSVN không c̣n được phép lui tới nữa. Đó là chưa kể đến những cơ sở kinh doanh nhỏ, tràn sang mua nhà chiếm đất dưới h́nh thức tư nhân. Đă thế, hầu như tất cả các ngành liên quan đến hệ thống nền tảng như đường sá cầu cống, điện nước đều nằm trong tay Trung cộng xây dựng, quản lư!

a. Việt Nam c̣n lại ǵ?

Ngày nay, mỗi khi nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc... người ta luôn nhắc đến hậu qủa của cuộc dàn xếp giữa kẻ đi xin ăn, và kẻ cấp phát lương thực cho kẻ nghèo khó trong thế giới cộng sản là Trung cộng và CS Bắc Việt. Đó là cái kết qủa mà không một ai, không một nước nào trong cộng đồng thế giới muốn chen vào để giải quyết những bất đồng giữa 2 tập đoàn cộng sản này. Bởi v́, đứng về phương diện ngoại giao, không ai muốn đứng về, hoặc ngả theo những kẻ biển lận, muốn dùng mánh khóe để lừa đảo. Và cũng chẳng ai chống lưng cho kẻ muốn dùng cái xác lớn để đi chiếm hữu. Đó là lư do, dù đă mất HS, TS và biển đảo Bắc bộ vào tay TC, tập đoàn CSVN vẫn không thể thoát ra, tệ hơn, c̣n phải cúi đầu, bám theo bước chân TC ngày một chặt chẽ hơn! Đó là một bất hạnh lớn, nếu không muốn nói là một sỉ nhục cho đất nước và dân tộc Việt Nam khi bọn “Lê Chiêu Thống” gặp thời.

b. Hậu qủa của việc “cỏng rắn cắn gà nhà”.

Khi đọc bản văn này, ai cũng biết là Hồ Chí Minh đă dùng tay Phạm Văn Đồng để dâng hiến biển đảo của Việt Nam cho TC. Riêng phần lư do th́ cho đến nay không ai xác định được đâu là điểm chính. Nhiều người cho là vào thời điểm đó, tập đoàn CS Bắc Việt chỉ nghĩ đến vấn nạn của chiến phí trong chiến tranh, nên đă nhân cơ hội có bản thông báo của TC, họ đă hùa theo để, một phần là trả nợ trên giấy. Phần khác là cậy nhờ TC tiếp tục trợ giúp vũ khí đạn dược, cũng như các chuyên viên cho CS Bắc Việt trong cuộc xâm lăng miền nam Việt Nam. Khi quyết định, không phải là họ không biết 2 quần đảo này trực thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa. Trái lại biết rất rơ. Theo đó, họ c̣n muốn đưa cả TC bước vào cuộc chiến với Nam Việt Nam để chia chác thành qủa cho nhau sau này. Phía CSVN là thế, riêng với HCM có lẽ c̣n phải kể đến cái lư lịch người Hẹ của Y để Y mạnh dạn chuyển những vùng đất này cho TC. Kết quả, VN đă mất Hoàng Sa và Trường Sa v́ cái kế bán đất nhà người của HCM.

c. Làm sao có thể đánh dấu hay đ̣i lại những ǵ đă mất?

Người ta tin rằng, hành vi tự ư công bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong bản thông bào của Chu Ân Lai là bất hợp pháp và TC không bao giờ có thể thủ đắc hai quần đảo này. Tuy nhiên, bản văn trả lời đầy bợ đỡ và gian trá của Phạm Văn Đồng đă giúp cho Trung cộng có lợi thế trong việc ra quân chiếm giữ lấy hai quần đảo này. Từ đó, nguy cơ chiếm cứ lâu dài và có thể trở thành vĩnh viễn sẽ xảy ra. Bởi lẽ chẳng ai có khả năng đầy chúng ra khỏi vị trí đang chiếm đóng, ngoại trừ chính người Việt Nam sau một cuộc chiến tranh. Và TC là kẻ chiến bại toàn diện.

Đứng trước nguy cơ bị TC chiếm hữu một cách vĩnh viễn và Việt Nam mất luôn cơ hội để đ̣i lại, Việt Nam phải làm ǵ? Trước hết, ngoài việc phải đưa Trung cộng ra trước ṭa án Quốc Tế, nhà nước cộng sản tại Hà Nội buộc phải tự làm công việc sau: Bằng một công hàm đồng cấp, với sự chuẩn thuận của QH, nhà nước CHXHCNVN phải công khai tuyên bố hủy bỏ bản Công Hàm của Phạm Văn Đồng, coi đó là một hư thư vô gía trị v́ nó không đi qua việc duyệt tŕnh của Quốc Hội. Bản tuyên bố này cũng buộc phải gởi đến người đồng cấp của TC. Đồng thời thông báo rộng răi trên truyền thông, cũng như cơ cấu thẩm quyền của Liên Hiệp Quốc. Trong đó có thể phải viện dẫn đến lư do: Vào thời điểm sau 20-7-1954, hai quần đảo này trực thuộc quyền quan lư của Việt Nam Cộng Hoà theo hiệp định Geneve 54 về VN và mang tên Hoàng Sa và Trường Sa. Theo đó, nhà nước CHXHCN Việt Nam không có tư cách pháp nhân cũng như pháp lư để công nhận cái không có, hay không thuộc về minh trực thuộc về quốc gia đệ tam.

Nếu có một văn bản công khai đồng cấp như thế trên trường Quốc Tế, câu chuyện của Hoàng Sa, Trường Sa sẽ có nhiều lư do để thay đổi. Từ đó, có khả năng đặt TC vào vị trí chiếm hữu bất hợp pháp. Đây là một công việc mang tính cách tạo ra thế diên tŕ của chủ quyền mà Việt Nam phải bảo vệ. Hơn thế, nhờ phương cách này, Việt Nam vẫn luôn luôn có thế chủ động trong việc đ̣i hỏi TC phải trao trả hai quần đảo này lại cho VN (bất kể thời gian). Có thể nói, đây là phương cách duy nhất để nhà cầm quyền Hà Nội chứng minh rằng cái Công Hàm của PVĐ không có gía trị. Ngoài ra không có một phương cách nào khác, nó càng không thuộc về những cái loa xó bếp lên tiếng. Nhưng ai, viên TT nào của CSVN dám kư bản Công Hàm này? Có lẽ là không ai?

Nh́n lại, lịch sử đă cho chúng ta thấy rằng: Đất nước và Dân tộc là một khối kiên vững trường tồn không bao giờ chết và cũng không bao giờ hết. Phần các triều đại, các thể chế th́ đều phải theo qua đi. Qua đi theo ngày tháng dài hay ngắn mà chúng nó đă phục vụ hay phản bội lại đất nước và dân tộc này. Đây không phải là một định lư hay một định đề nguyên tắc nào cả, nhưng nó là luật biến hóa của thời gian và được tác động bởi con người.

Cách riêng, lịch sử của dân tộc Việt Nam hơn 4000 năm qua luôn luôn chứng minh một điều rơ nét là: Tất cả những vua quan, mũ áo đi cầu cứu Trung Hoa để về tranh danh đoạt quyền lợi tại Việt Nam đều là những tên phản quốc, và cái kết quả cuối cùng của chúng, một là bị bêu đầu hay trở thành những kẻ cô hồn nơi đất ngoại. Xa kia, là Kiều Công Tiễn. Kế đến là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống. Nay, Hồ Chí Minh và tập đoàn bán nước chắc chắn cũng không có ngoại lệ. Có khác là chúng đă nhờ Tàu mà đày đọa Dân Tộc để hưởng được đôi phần bổng lộc trong một khoảng thời gian nào đó mà thôi.

Khi trực diện nh́n lại những h́nh ảnh này, mọi người đều thấy: Cái tai họa lịch sử với dân tộc Việt Nam hôm nay không phải là cái họa mất nước, mất biển đảo vào tay Trung cộng, nhưng chính là việc tập đoàn cộng sản đă đưa Trung cộng vào xẻ đất, chia áo của Việt Nam. Theo đó, muốn trừ cái họa này cho dân tộc, xem ra chúng ta cũng không có một cách chọn lựa nào khả dĩ khác và tốt hơn, ngoài việc nh́n lại và học lại bài học của Ngô Quyền, của Hưng Đạo Vương trên sông Bạch Đằng khi xưa. Đứng dậy mà đi.

Điều ấy có nghĩa, nếu chúng ta măi ngủ vùi trong cuộc tuyên truyền xảo trá của CS, hoặc giả, nghe theo lời của những hiện tượng vô văn hóa, vô tổ quốc, vô gia đ́nh như tên Vũ Minh Giang, Hiệu trưởng Đại học Quốc Gia Hà nội, tuyên bố "Đào mồ, cuốc mả tổ tiên của tôi th́ được. Chớ đập bỏ tượng Lenin là vô văn hóa" th́ ngày Việt Nam mất tên, thành một chi tộc của tập đoàn Trung cộng cũng chẳng c̣n bao xa!

Để kết. Bạn nghĩ ǵ về tập thể cộng sản vô gia đ́nh, vô tổ quốc này? Khi theo Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc bán nước cầu vinh th́ Hồ Chí Minh và tập đoàn CS rêu rao lên những khẩu hiệu lừa đảo từ bà già đến lũ trẻ là “giải phóng” là “Chống Mỹ cứu nước”. Nay đường đi không đến, “giải phóng” không thấy, nhưng có hơn 3 triệu nhân mạng bị chết v́ “kháng chiến”. Lại thấy cả nước điêu linh v́ tai họa cộng sản và rồi sẽ điêu tàn v́ cái họa ngàn đời từ phương bắc do chúng cỏng vào. Hỏi xem, liệu chúng có đáng bị đả đảo và bị lên án hay không?

Có hay không? Câu trả lời của bạn hôm nay chính là hướng đi của Việt Nam trong ngày mai đấy. Nghĩa là, Tổ quốc Việt Nam của chúng ta sẽ Trường Tồn trong Tự Do, trong Độc Lập hay sẽ bị đặt vào trong ṿng nô lệ của Tàu cộng là tùy thuộc vào câu trả lời của chúng ta hôm nay.

23.06.2016


--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jan 30 2017, 04:38 AM
Gửi vào: #14


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Đảng cộng sản Việt Nam, ngă ba đường lịch sử: Tồn tại và diệt vong?


FB Lang Anh

29-1-2017

Các ông tổ cộng sản Karl Marx, Angels, Lenin, Stalin được so sánh với nhà lănh đạo độc tài phát xít Hitler. Nguồn: internet
Các ông tổ cộng sản Karl Marx, Angels, Lenin, Stalin được so sánh với nhà lănh đạo độc tài phát xít Hitler. Nguồn: internet
Phong trào cộng sản toàn cầu, được khởi xướng từ những nhà tư tưởng thủy tổ là Marx và Engels, cho đến khi được nhào nặn thành một nhà nước thực tế bởi một người có tư duy thực dụng là Lenin, đă trải qua một thời kỳ dài với những phép thử liên tiếp về mặt tư tưởng. Hầu hết những lư luận cốt lơi của lư thuyết cộng sản đều khá mù mờ, với nền tảng là một xă hội ảo tưởng dựa trên khao khát và hiện nay th́ đă bị phủ nhận hoàn toàn.

Trong khi đó, con đường mà những đệ tử của Marx t́m cách đến với xă hội chỉ có trong mơ đó th́ lại đầy rẫy sai lầm. Kết quả của những phép thử về mặt tư tưởng này là một thế giới bị cày xới bởi những biến động xă hội sâu sắc. Có nhiều triệu sinh mạng đă phải trả giá trong những cuộc chiến đẫm máu, nhiều quốc gia ch́m vào vài chục thập niên trong bóng tối để đến lúc nhận ra th́ đất nước đă phải trả giá nặng nề và họ lại phải bắt đầu lại từ vạch xuất phát, trong khi phần c̣n lại của thế giới đă có những bước tiến quá xa trong lộ tŕnh hướng tới văn minh.

Thời hoàng kim của những lư thuyết cộng sản là những năm 1960. Khi đó người ta thống kê được trên dưới 100 quốc gia áp dụng theo hoặc mô phỏng theo các mô h́nh tổ chức xă hội mang sắc thái cộng sản. Sự đào thải của thực tế là một phép thử rất đắt giá. Ngày nay chỉ c̣n năm quốc gia tự nhận là hậu duệ của những nhà cách mạng cộng sản, gồm Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào và CuBa. Toàn bộ các chế độ cộng sản c̣n lại đều đă bị lịch sử đào thải.

Với 5 chế độ cộng sản c̣n đang thoi thóp, họ cũng chẳng c̣n chút bóng dáng nào của những mô h́nh xă hội mà họ tuyên bố kế thừa. Cốt lơi lư luận của họ đều đă bị chính họ đào thải về mặt thực tiễn, phần c̣n lại chỉ là một xă hội lai căng quái đản giữa thể chế cai trị độc tài và nền kinh tế thị trường vay mượn từ các nước phương tây. Trong năm quốc gia đó, Trung Quốc đạt được những bước tiến rất mạnh mẽ trong khoảng 45 năm qua và hiện được coi là cường quốc số hai thế giới. Việt Nam có những cải cách vay mượn học theo ở một tŕnh độ thấp hơn và lọt tốp các quốc gia có mức thu nhập trung b́nh thấp, trong khi đó, Bắc Triều Tiên thoái lui trở lại thành một xă hội phong kiến, hai quốc gia kế chót c̣n lại th́ đang ngấp nghé bởi những trào lưu hứa hẹn sự tan ră của các chính thể độc tài.

Sự phát triển của Trung Quốc thường được các tay tuyên huấn cộng sản tuyên truyền như một khởi đầu mới của các lư thuyết cộng sản. Trên thực tế, chính bản thân những nhà lănh đạo cao nhất của Trung Quốc cũng hiểu rất rơ họ đang đối mặt với sự sụp đổ từ bên trong, và thời gian tồn tại của nền cái trị độc tài cộng sản ở quốc gia này là một chiếc đồng hồ đếm ngược. Sự lai căng quái đản giữa mô h́nh cái trị độc tài và nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc và Việt Nam đă tạo ra những vấn nạn mà các chế độ này không thể tự giải quyết được. Toàn bộ nền tảng lư luận của họ đă bị thực tế phủ nhận và lộ rơ tính ảo tưởng, những đảng viên từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất lâm vào sự khủng hoảng khi không c̣n lư tưởng soi đường. Trong khi đó, quyền lực độc tài và những món lợi kinh tế được tạo ra từ sự cấu kết giữa quyền lực chính trị và các hoạt động kinh tế tư bản rừng rú đă khiến bộ máy cai trị của họ tha hoá nhanh chóng đến tận gốc rễ. Trên thực tế, tất cả các đảng viên từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất tại Trung Quốc và Việt Nam đều không sống bằng những nguồn thu nhập công khai, họ vơ vét tiền và làm giàu nhanh chóng từ những lợi thế quyền lực và thông tin mà chế độ ban phát cho họ. Bằng cách vay nợ và đánh đổi các giá trị môi trường, Trung Quốc đạt được nhiều thành tích kinh tế ngắn hạn, nhưng đi kèm với nó là sự tha hoá của toàn bộ đội ngũ cầm quyền. Tập Cận B́nh khá thực ḷng khi phát biểu công khai trong một hội nghị cấp cao của Đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm 2012: “Chúng ta đang phải dựa vào một đội ngũ tội phạm để cai trị đất nước”

Hầu như không c̣n ai tại Trung Quốc và Việt Nam c̣n tin rằng chế độ cai trị có thể trường tồn. Câu cửa miệng của các quan chức Trung Quốc khi gửi vợ con và các tài sản vơ vét được ra nước ngoài là: “Cũng chẳng c̣n được lâu nữa đâu”. Trên thực tế các xă hội như Trung Quốc và Việt Nam từ lâu đă biến thành những xă hội phân biệt đẳng cấp sâu sắc. Nếu có những thống kê thực tế về tài sản của các Đảng viên Đảng cộng sản cỡ trung cao cấp và toàn bộ phần c̣n lại của đất nước th́ chắc chắn rằng hầu hết các tài sản và nguồn lực kinh tế của những quốc gia này đều nằm dưới sự chi phối, sở hữu và thao túng của các hậu duệ cộng sản. Khởi nguồn từ những cuộc đấu tranh giai cấp, nhưng hiện nay chính họ lại là một giai cấp mới, sở hữu hầu kết các nguồn lực kinh tế và sở hữu tuyệt đối về quyền lực chính trị. Tất nhiên, kiểu tồn tại của họ sẽ không thể lâu dài, v́ tự thân nó là nguyên nhân của sự diệt vong. Vậy nhưng các nhà nước cộng sản tại Trung Quốc và Việt Nam vẫn đang tồn tại và cố t́m mọi cách níu kéo quyền lực của ḿnh.

Bằng cách tận diệt tài nguyên và đánh đổi các giá trị môi trường, Trung Quốc tạo được nhiều thành tích ấn tượng về phát triển kinh tế ngắn hạn. Đây được coi là thứ bùa thiêng để các nhà tuyên huấn của Đảng Cộng Sản Trung Quốc tuyên truyền nhằm duy tŕ tính chính danh của ḿnh. Tuy nhiên, đó là sự phát triển không có ngày mai v́ đó là sự vay mượn tận diệt từ tương lai để đốt hết cho hiện tại. Trong lúc các vấn nạn về tham nhũng, tha hoá, bất b́nh đẳng và sự ḱm kẹp xă hội đến nghẹt thở càng lúc càng nặng nề. Ở chiều ngược lại là một nền tảng dân chúng ngày một khao khát tự do. Một điều gần giống như thế cũng diễn ra ở Việt Nam, tuy nhiên chế độ cộng sản ở Việt Nam kém thành công hơn trong việc tạo ra các thành tích kinh tế ngắn hạn (điều không may) và đồng thời cũng kém thành công hơn trong việc bóp nghẹt sự giao lưu về các lư tưởng tự do (điều may mắn). Giữa hai chế độ độc tài cộng sản có thể coi là c̣n hùng mạnh này, Việt Nam có nhiều cơ sở để tạo ra sự đổi thay nhanh hơn Trung Quốc.

Mặc dù biết chắc phía trước là vực thẳm, nhưng đội ngũ lănh đạo chóp bu ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều tin rằng họ có thể tŕ hoăn được thời gian. Những nỗ lực của họ không phải để hướng tới tương lai mà là để kéo dài cái chết. Điểm kết cuối cùng là những tay cộng sản nặng túi sẽ t́m cách đào thoát khỏi con tàu sắp đắm. C̣n những ǵ diễn ra sau lưng th́ có lẽ đúng với câu ngạn ngữ cổ xưa: “Khi trẫm đă thôi trị v́ th́ dẫu có nạn hồng thủy trên vương quốc cũng mặc”. Có những cách thức để họ có thể thay đổi và tŕ hoăn ngày tàn, và đó cũng chính là thứ mà các tay lư luận cộng sản cố gắng t́m kiếm. Bài viết này sẽ bàn đến những cách thức đó.



--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Feb 1 2017, 12:38 AM
Gửi vào: #15


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8






Tiếp theo phần 1: Đảng cộng sản Việt Nam, ngă ba đường lịch sử: Tồn tại và diệt vong?

Những người cộng sản ở hầu hết các nước đều giành được quyền cai trị theo những cách thức giống hệt nhau. Bằng những khẩu hiệu tuyên truyền về một xă hội ảo tưởng, họ đặt trước mặt những người nghèo và thất học một cái bánh vẽ và xúi họ vào ḷ lửa chiến tranh. Tuy nhiên cơn điên dại tập thể cuối cùng cũng qua đi và hầu hết người dân nhận ra ḿnh đă bị lừa v́ không hề thấy sự b́nh đẳng cũng như phồn thịnh ở đâu mà chỉ thấy những ông chủ mới. Cho đến khi hàng loạt chế độ cộng sản sụp đổ vào cuối những năm 1980, nhân loại và chính người dân các nước đó đă phải trả những cái giá quá mức nặng nề. Dẫu sao họ đă gặp may v́ cuối cùng cũng thoát khỏi một thứ quái vật ghê sợ trong lịch sử.

Tôi không phủ nhận rằng đă có những lớp người cộng sản sống v́ lư tưởng với niềm tin cuồng tín rằng ḿnh duy nhất đúng. Họ sẵn sàng phạm những tội ác không ghê tay để tiêu diệt và buộc những người khác phải nghe ḿnh. Giữa những người cộng sản cuồng tín thời kỳ đầu và những tay đao phủ của nhà nước hồi giáo IS hiện nay có sự tương đồng giống hệt nhau: Khi cắt cổ người, chúng đều cho rằng ḿnh đang làm v́ điều đúng.

Với thứ bùa thiêng về một xă hội ảo tưởng, nơi con người có thể hưởng thụ theo nhu cầu bất chấp năng lực tạo ra của cải, những người cộng sản thế hệ đầu đă rất thành công trong việc nhồi sọ và lôi kéo con người. Họ đặc biệt thành công ở những xă hội đói nghèo với nền tảng dân trí thấp. Nhưng có lẽ khả năng trại lính hoá xă hội, triệt hạ tri thức độc lập mới là thứ vũ khí siêu hạng của những người cộng sản. Lenin và những đệ tử của ông ta đă diệt không gớm tay những người Mensevich và Trotsky, dù họ cùng là những đệ tử của Marx. Tất nhiên là bằng chuyên chính vô sản, số phận của trí thức và những kẻ thù giai cấp c̣n lại th́ cực kỳ thê thảm. Mao Trạch Đông diệt hàng chục triệu người và tận diệt mọi tri thức đối lập cũng như các đối thủ chính trị trong Đại Cách Mạng văn hoá. Ở Việt Nam, ông Hồ Chí Minh cũng d́m chết mọi tư tưởng độc lập bằng cuộc thanh trừng nhân văn giai phẩm. Họ hành động rất giống nhau dù quy mô khác biệt nhau và mục đích th́ chỉ có một: Tạo ra một xă hội tê liệt về tư duy và chỉ biết cúi đầu. Ở đây có lẽ nên có một nhận xét công bằng, Hồ Chí Minh không tàn bạo như hai tiền bối của ông ta. Trong hầu hết trường hợp, Hồ Chí Minh luôn t́m cách nấp phía sau giật dây và đẩy thuộc cấp ra hứng chịu búa ŕu (Trường Chinh với cải cách ruộng đất, Tố Hữu với nhân văn giai phẩm).

Tuy nhiên những xă hội cộng sản đời đầu nhanh chóng đối diện với thực tại mà họ không thể vượt qua. Do xuất phát từ một lư tưởng sai lầm, họ thất bại trong việc tạo ra đủ của cải vật chất nuôi sống xă hội. Mục tiêu về sự công bằng th́ lại càng xa vời v́ cách thức họ kiểm soát quyền lực độc tài tự thân nó là gốc rễ tạo ra bất b́nh đẳng. Cuối năm 1980, sự tan ră của hàng loạt nhà nước cộng sản đánh dấu sự cáo chung của phong trào cộng sản toàn cầu.

Trong lúc đó, những người cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam loay hoay t́m cách thay đổi để kéo dài thời gian cai trị. Họ thấy rằng có thể vay mượn nền kinh tế thị trường vốn có năng lực nổi trội để tạo ra của cải ở phương Tây, và dựa vào đó làm bầu sữa nuôi sống cho bộ máy cai trị độc tài của ḿnh. Trung Quốc tiến hành những cải cách cho phép sự hiện diện của đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân vào cuối những năm 1970. Việt nam nối gót chậm hơn, vào khoảng cuối những năm 1980. Cả hai chế độ cộng sản này đều gặp may, v́ các nước phương Tây sau khi chứng kiến sự tan ră của hàng loạt nhà nước cộng sản đă cho rằng sớm muộn ǵ Trung Quốc hay Việt Nam cũng sẽ phải từ bỏ con đường bế tắc ấy. Vốn nước ngoài và công nghệ đổ vào những đất nước này và tạo ra những nguồn lực mới. Trong khi đó việc giành được quyền tồn tại cũng khiến các lực lượng tư nhân tham gia vào việc tạo ra của cải. Tuy nhiên đây cũng là lúc đánh dấu sự tuyệt chủng của những người cộng sản cuối cùng. Các lợi ích kinh tế được tạo ra cùng với quyền lực độc tài không được kiểm soát đă khiến toàn bộ đội ngũ cai trị tại Trung Quốc và Việt Nam nhanh chóng thoái hóa và đánh mất chút niềm tin lư tưởng cuối cùng. Kết quả là họ trở thành một tập đoàn tội phạm gắn kết với nhau bởi những khẩu hiệu chẳng ai c̣n tin và các món lời được tạo ra từ ḅn rút ngân sách, từ việc lạm dụng quyền lực hoặc kiếm lợi từ lợi thế thông tin bất b́nh đẳng. Thực tế chế độ cộng sản đă chết từ lâu ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, c̣n lại chỉ là một tập đoàn cai trị độc tài tham nhũng dưới cái vỏ cộng sản.

Hai thứ bùa thiêng từng giúp những người cộng sản nắm quyền là cái bánh vẽ về một xă hội b́nh đẳng th́ nay đă chẳng c̣n lừa gạt được ai khi chính họ đang là một đẳng cấp ưu tiên với mọi đặc quyền. Tuy nhiên, thứ vũ khí siêu hạng c̣n lại là kiểm soát thông tin và tiêu diệt mọi trí thức có năng lực tư duy độc lập th́ họ vẫn đang làm rất tốt. Trung Quốc kiểm soát mạng xă hội cực kỳ ngặt nghèo và thanh trừng khốc liệt mọi trí thức đối lập. Việt Nam cũng đàn áp và triệt hạ không tiếc tay mọi trí thức phản biện với hàng loạt án tù. Bên cạnh đó, họ vẫn tiếp tục cố gắng duy tŕ hoạt động tuyên truyền để có thể lừa gạt càng lâu càng tốt những thành phần dân trí thấp nhằm kéo dài thời gian tồn tại. Tất nhiên đó là những nỗ lực không có ngày mai v́ theo thời gian, khi chứng kiến t́nh trạng tham nhũng lan tràn, khi đối diện với sự tận diệt môi trường, những món nợ khổng lồ mà những tay cộng sản tham nhũng mang về cho đất nước, sự tuyên truyền của bộ máy cộng sản ngày một mất thiêng. Và cuộc cách mạng Internet đă bồi thêm những đ̣n trí mạng vào bức màn sắt kiểm duyệt tư tưởng và tuyên truyền của những chế độ cộng sản. Họ càng lúc càng mất khả năng kiểm duyệt và bóp nghẹt các luồng tư tưởng tự do. Bên cạnh đó chính nền kinh tế thị trường mà họ vay mượn từ các xă hội phát triển phương tây đă tạo ra sự hội nhập và giao lưu văn hoá mà họ không thể chặn lại được. Vấn đề mà tất cả các lănh tụ cộng sản đều nhận ra: Không phải là có tồn tại được hay không mà là c̣n tồn tại được bao lâu nữa?

Những căn bệnh trầm kha mà Trung Quốc và Việt Nam đang mắc phải gần như giống hệt nhau. Một bộ máy tha hoá tham nhũng đến tận gốc rễ với hiệu năng cai trị ngày càng suy giảm. Các nguồn tài nguyên cạn kiệt và môi trường bị tàn phá nặng nề đến mức mất khả năng duy tŕ cuộc sống thông thường. T́nh trạng bất công lan tràn với nạn lạm dụng quyền lực của bộ máy cai trị đă bị lưu manh hoá. Gánh nặng nợ công đè ngập cổ người dân cộng với mức thuế phí nặng nề trong khi các dịch vụ an sinh xă hội vô cùng tồi tệ.

Nhà lănh đạo thuộc thế hệ thứ 5 của chế độ cộng sản Trung Quốc là Tập Cận B́nh cố gắng t́m lối thoát bằng một cuộc đại thanh trừng với chiến dịch đả hổ diệt ruồi, nhắm mục tiêu vào những đối thủ chính trị của ông ta và những thành phần quan chức tham nhũng không nằm trong phe cánh của Tập. Nhưng hơn ai hết Tập Cận B́nh hiểu rất rơ rằng ông ta đang dựa vào một phe cánh tham nhũng để triệt hạ phe cánh c̣n lại. Cái gọi là đấu tranh tham nhũng của Tập Cận B́nh tự thân nó thất bại ngay từ đầu khi không giải quyết được sự cai trị độc tài: Quyền lực độc tài không được kiểm soát tự thân nó là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng. Tập triệt hạ được một phe nhưng nếu Tập tước đoạt quyền lợi hoặc chĩa mũi dùi vào phe cánh đang pḥ trợ ông ta th́ khi đó cái ǵ sẽ bảo vệ được Tập?

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sau khi thanh trừng được đối thủ chính trị lớn nhất của ḿnh tại đại hội XII có vẻ cũng muốn thừa thắng xông lên với một chiến dịch học theo Tập Cận B́nh. Nền chính trị của Việt Nam có độ tản quyền cao hơn và do đó dù có học theo th́ Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng chẳng diệt nổi muỗi, chưa nói ǵ đến ruồi hay hổ. Và mục đích chống tham nhũng tự thân nó mâu thuẫn ngay từ đầu với nền chính trị độc tài.

Lá bài nguy hiểm nhất của Tập Cận B́nh nhằm kéo dài thời gian cai trị lại chẳng dính dáng ǵ đến bộ máy nhà nước hay các tư tưởng tự do. Nó chính là chủ nghĩa dân tộc cực đoan mà nhiều thế hệ lănh đạo Trung Quốc đă nối tiếp nhau vun xới như một giải pháp dự pḥng cho các bất ổn xă hội.




--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Mar 9 2017, 10:08 PM
Gửi vào: #16


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Nhật Hoàng vuốt mặt không nể mũi, không quan tâm, không tránh né đảng CSVN.


HaiViet Hoang


Nhà vua Akihito và Hoàng hậu Michiko thăm nhà tưởng niệm Phan Bội Châu tại thành phố Huế chiều 4/3.

Trong chuyến thăm Việt Nam từ ngày 28/2-5/3 2017, Nhật hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko đă có 1 chuyến viếng thăm đặc biệt mang thật nhiều ư nghĩa đối với người Việt nam, khi ông thăm viếng cố đô Huế và đăc biệt là khu tưởng niệm chí sĩ Phan bội Châu, là người mà Nhật hoàng đă tôn kính với tuyên bố là người VN bỏ một đời đấu tranh độc lâp cho đất nước.

Thăm cố đô Huế và thăm viếng lăng mộ của 1 chí sĩ đă đấu tranh cho độc lập của VN bắt buộc phải có một ư nghĩa nào đó v́ đó là hành động của một nguyên thủ quốc gia khi thăm viếng một quốc gia khác, vậy th́ thật ra Nhật hoàng muốn nói ǵ với người VN?

Nhật hoàng và hoàng hậu được chào đón bởi chủ tịch nước Trần đại Quang và bí thư đảng CSVN Nguyễn phú Trọng, nhưng không hề có lời về Hồ chí Minh chứ không nói tới ca tụng như ông nói về chí sĩ Phạn bội Châu, vậy th́ phải chăng Hồ chí Minh không là rơm rác ǵ trong con mắt của Nhật hoàng và nước Nhật, và với họ đảng CSVN vẫn không là 1 đảng phái chính danh, chỉ là 1 phường ǵ đó.

Nhật hoàng c̣n nhắn nhủ người Việt là "Lịch sử rất cần thiết, nh́n lại lịch sử mới có thể nh́n về hiện tại và tương lai." Vây th́ cái lịch sử nào Nhật hoàng muốn nói tới kể từ đời Phan bội Châu, khi Hồ chí Minh đă bán Phan bội Châu cho người Pháp, là nước đang đô hộ Việt nam lúc bấy giờ và chí sĩ Phan bội Châu đă bị người Pháp giam cầm, quản lư cho tới chết, là khu tưởng niệm mà Nhật hoàng thăm viếng.

Nếu Nhật hoàng sợ đảng CSVN th́ ông đă không thăm viếng khu tưởng niệm Phạn bội Châu và có những lời nhắn nhủ dân Việt như vậy, nên với việc làm này, xem ra Nhật hoàng đă vuốt mặt mà không nể mũi, tức người CSVN, nhất là khi ông nhắc nhở người Việt nam, hăy nh́n cho kỹ lịch sử để phân biệt trắng đen, tốt xấu, để từ đó mà ủng hộ hay đấu tranh cho đất nước của ḿnh.

Từ trước tới giờ người Nhật, nhất là ông vua của họ, nổi tiếng có một lối sống mà mọi dân tộc khác trên thế giới đều nể v́, họ sáng suốt, cứng rắn và thắng thắn, không hèn hạ sợ hăi bất kể ai.




--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Mar 27 2017, 08:10 PM
Gửi vào: #17


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





TRÔNG NGƯỜI MÀ NGẪM




Bộ trưởng quốc pḥng TQ Bành Hoài Đức đă bị Mao trừng trị như thế nào sau khi góp ư về việc xây dựng CNXH ở Trung Quốc?

Trần Hồng Phong


Mục "Sách" kỳ này, tôi giới thiệu đến quư vị cuốn "Hồng đô nữ hoàng" (tạm giải nghĩa là nữ hoàng cộng sản ở thủ đô (Bắc Kinh, TQ) - chính là Giang Thanh - vợ thứ tư của lănh tụ cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông). Cuốn sách này được nhà xuất bản Văn Nghệ TP.HCM xuất bản năm 1984, là thời kỳ quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đang c̣n khá căng thẳng, sau cuộc chiến tranh (chống xâm lược) Biên giới phía bắc năm 1979.



<- B́a cuốn Hồng đô nữ hoàng xuất bản năm 1984 tại Việt Nam

Với chỉ 130 trang, tác giả người Mỹ là Rô - xan Uưt - cơ (tôi viết lại nguyên văn), với sự đồng ư của đảng cộng sản Trung Quốc, qua nội dung cuốn sách, đă thể hiện một cách sinh động, thậm chí "hấp dẫn", về những màn đấu tố tàn bạo, mất hết tính người, không theo một khuôn khổ luật pháp nào, của và giữa những lănh đạo chóp bu của đảng cộng sản TQ, gồm cả Mao Trạch Đông. Đó là những màn hăm hại các lănh đạo cao cấp nhất của Đảng cộng sản TQ như: Lâm Bưu (Bộ trưởng quốc pḥng), Hạ Long (Phó thủ tướng, Phó chủ tịch Hội đồng quốc pḥng), Lưu Thiếu Kỳ (Chủ tịch nước Cộng ḥa nhân dân Trung Hoa) và Bành Hoài Đức (Bộ trưởng quốc pḥng). Thậm chí chính "hồng đô nữ hoàng" Giang Thanh về sau cũng bị các đồng chí của ḿnh đấu tố không thương tiếc.

Cũng qua cuốn sách này, chúng ta biết rơ hơn về "thuật ngữ" có tên "đấu tố" - của cộng sản Trung Quốc. Thật khủng khiếp, tàn nhẫn, và đặc biệt là không theo một quy định hay luật lệ nào cả. Khái niệm phản bội đảng quá mơ hồ. Thế mới thấy đừng tưởng rằng lănh đạo cấp cao, thậm chí rất rất cao của đảng cộng sản Trung Quốc là sung sướng hay hạnh phúc!

Cuốn Hồng đô nữ hoàng được xuất bản lần đầu năm 1977, thời điểm ngay sau khi "tập đoàn bè lũ bốn tên" gồm Giang Thanh bị triệt hạ, và được đánh giá là đă gây được "tiếng vang" khi đó (trong phần giới thiệu cuốn sách).

Trong bài viết này, tôi tóm lược và kể lại việc Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng quốc pḥng (đầu tiên) của nước Cộng ḥa nhân dân Trung Hoa Bành Hoài Đức, đă bị Mao Trạch Đông hăm hại đến thảm khốc như thế nào, chỉ v́ đă gửi thư cho Mao, góp ư về chuyện xây dựng xă hội chủ nghĩa ở Trung Quốc - thời gian năm 1959.

Hầu hết những câu chữ dưới đây, tôi đều giữ nguyên văn như trong cuốn sách, chỉ kết nối lại mà thôi.

Tiểu sử của Bành Hoài Đức

Bành Hoài Đức sinh năm 1898, cùng quê Mao Trạch Đông (tỉnh Hồ Nam). Thời kỳ chống Nhật, Bành Hoài Đức là Phó tổng tư lệnh Bát Lộ quân.

Sau khi nước Cộng ḥa nhân dân Trung Hoa thành lập, Bành Hoài Đức là Phó chủ tịch Ủy ban quân sự cách mạng nhân dân.

Năm 1954 là Ủy viên Bộ chính trị đảng cộng sản Trung Quốc, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc pḥng.

Năm 1959, trước Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản TQ (hội nghị Lư Sơn), Bành Hoài Đức đă gửi thư góp ư đến Mao Trạch Đông, có nội dung phê phán đường lối "đại nhảy vọt" trong xây dựng XHCN tại TQ do Mao Trạch Đông đưa ra.

Ngay sau đó, Bành Hoài Đức bị cách chức khỏi mọi chức vụ. Tiếp đó bị bức hại đến chết vào tháng 11 năm 1974.

Đến năm 1978, Bành Hoài Đức được Đảng cộng sản TQ "phục hồi danh dự". (Ghi chú: Điều này cho thấy Bành đă bị hại chết, chứ không phải làm điều sai, dù là với Đảng cộng sản TQ).

Bành Hoài Đức đă góp ư với Mao Trạch Đông những ǵ?

Ngày 14/7/1959, Bành Hoài Đức gửi thư góp ư cho Mao Trạch Đông. Mặc dù lời lẽ của bức thư rất dè dặt, khen rồi mới dám chê, nhưng vẫn làm Mao Trạch Đông nổi giận, ép Hội nghị Trung ương 8 thông qua "Nghị quyết về tập đoàn chống Đảng do Bành Hoài Đức cầm đầu".

Nội dung bức thư có những đoạn như sau (nguyên văn):

- Việc xây dựng cơ bản trong công nghiệp năm 1958 là quá nôn nóng và mở rộng trong một số lĩnh vực. Kết quả là phải phân tán một số tiền vốn, vật tư, làm chậm một số lĩnh vực khác.

- Một số công tŕnh xây dựng cơ bản nếu không có khả năng hoàn thành th́ nên tạm đ́nh chỉ. Nếu không, chúng ta sẽ vấp phải t́nh trạng mất cân đối nghiêm trọng.

- Trong phong trào toàn dân sản xuất thép, quá nhiều ḷ cao tí hon đă mọc lên, lăng phí nhiều tài nguyên.

- Nguyên nhân những sai lầm và thiếu sót của Đảng gồm nhiều mặt, song chủ yếu là chúng ta c̣n bỡ ngỡ với sự nghiệp xây dựng CNXH, không có kinh nghiệm đầy đủ trên tất cả các mặt. Giải quyết các vấn đề trong xây dựng kinh tế không giống như những vấn đề chính trị như: pháo kích vào đảo Kim Môn, dẹp yên cuộc nổi loạn ở Tây Tạng.

- Chiều hướng tích khoa trương, phóng đại lan tràn phổ biến. Người ta đưa lên báo chí những kỳ tích quả không thể tin được. Căn cứ vào các báo cáo các nơi gửi về, người ta có cảm tưởng là chủ nghĩa cộng sản đă thực hiện được đến nơi, nhiều đồng chí bốc đồng.

- Nhận thức về phát triển ngành gang thép rất phiến diện, chưa có việc xem xét một cách nghiêm chỉnh như thế nào là ngành luyện cán thép, sức lao động như thế nào, sức mua, phân phối hàng hóa trên thị trường thế nào? ...

- Trong phương pháp tư duy, lẫn lộn giữa sự bố trí chiến lược với những biện pháp cụ thể, giữa phương châm lâu dài với việc làm trước mắt. Chẳng hạn khẩu hiệu do Mao chủ tịch đề ra "Đuổi kịp nước Anh trong 15 năm" là thuộc phạm vi phương châm chiến lược và dài hạn.

- Chúng ta đă xa rời thực tế và không được quần chúng ủng hộ. Phủ nhận một cách đơn giản những quy luật kinh tế và các định luật khoa học. Ưu tiên chính trị không thể thay thế được quy luật kinh tế.

Mao đă đối xử với người đồng hương, đồng chí Bành Hoài Đức như thế nào?

Sau khi bị cách chức (phần tiểu sử), vào một đêm giá lạnh tháng 12/1966, ngôi nhà của Bành Hoài Đức ở Thành Đô bị một nhóm Hồng vệ binh từ Bắc Kinh đến bao vây. Vị nguyên soái từng nổi danh một thời, là Bộ trưởng quốc pḥng đầu tiên của nước Cộng ḥa nhân dân Trung Hoa, đă phải cúi đầu theo gót các tiểu tướng lên tàu về Bắc Kinh.

Trước đó, khi Hội nghị Lư Sơn thông qua "Nghị quyết Bành Hoài Đức", Mao đă hỏi Bành suy nghĩ ǵ về quyết định đó. Bành Hoài Đức đă trả lời ngay rằng sẽ bảo đảm 3 mặt sau đây:

- Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không chống lại cách mạng.

- Trong bất cứ bối cảnh nào cũng không tự sát.

- Sau này sẽ không làm việc nữa, chỉ lao động kiếm sống.

Mùa thu năm 1959, Bành Hoài Đức trả lại cho Đảng cộng sản TQ bộ quân phục nguyên soái, và tất cả các huân chương, huy chương đă được trao tặng. Khi đó ông nói: "phàm những ǵ người dân lao động b́nh thường không cần đến, th́ tôi cũng không cần".

Sau khi bị tống giam, Tết nguyên đán năm 1967, Bành Hoài Đức viết bức thư cuối cùng cho Mao. Nội dung bức thư như sau:

" Thưa chủ tịch!

Tối 22 tháng 12, tôi đă bị các Hồng vệ binh thuộc Học viện hàng không Bắc Kinh bắt giam tại trụ sở của họ ở Thành Đô. Ngày 23, các Hồng vệ binh giao tôi cho vệ binh Đông Phương Hồng thuộc Viện địa chất Bắc Kinh. Ngày 27, nhóm này đă giải tôi đến Bắc Kinh. Hiện tôi đang bị giam. Hai nhóm lực lượng cảnh vệ và Hồng vệ binh trên đă cùng trông coi tôi.

Tôi xin gửi Chủ tịch lời chào vĩnh biệt!

Chúc chủ tịch bách niên giai lăo!

Bành Hoài Đức
Ngày 1 tháng 1 năm 1967"

Có lẽ do bức thư này, nên trong thời gian từ cuối năm 1966 đến nửa đầu năm 1967, Bành Hoài Đức tuy bị giam cầm, nhưng không bị giày ṿ về tinh thần và thể xác, bởi những hành động, như người TQ nói là "mất tính người" của Hồng vệ binh.

Tuy nhiên, từ ngày 19/7/1967, theo sự chỉ đạo và đạo diễn của Giang Thanh, Đảng cộng sản TQ đă chính thức khởi động cuộc đấu tố nhằm vào Bành Hoài Đức.

Việc đấu tố Bành Hoài Đức trong cuốn sách mô tả như sau, lấy ra từ các bản báo cáo của Hồng vệ binh:

- Ngay trong buổi đấu tố đầu tiên, Bành đă bị Hồng vệ binh lục vấn, đánh đập, nâng dậy, lại hỏi, lại đánh ngă, rồi đỡ dậy ... tất cả 7 lần.

- Khoảng 30 - 40 Hồng vệ binh đă tiến hành đấu tố Bành Hoài Đức. Tại sàn đấu, Bành đă bị đánh lên dập xuống 7 lần, bị đánh vỡ trán, rách bụng, tổn thương vùng bụng. Ngày mai sẽ c̣n đấu tiếp.

- Bành sau khi bị đấu bằng vơ lực, ngực tím bầm, hơi thở rất khó khăn, không nhổ được nước miếng, không ăn cơm, không ngồi dậy được.

- Cơ thể đă bị tổn thương nghiêm trọng, hai xương sườn đă bị đánh găy. Sau mỗi trận đấu, tối thường bỏ cơm, không đại tiểu tiện được. Khi các vệ binh yêu cầu ông ta viết một số tư liệu cần thiết, ông ta đă trả lời "hiện giờ tôi chưa thể viết được". Các vệ binh nói "phải viết". Bành liền đáp "tôi không viết nổi, các người cứ chặt đầu ta đi".

- Đến hôm nay đầu óc đă tỉnh táo hơn chút ít, song thường hay thở dài. Trở về giường nằm thường trằn trọc suốt đêm không ngủ. Mạch đập và huyết áp đều tăng.

- vv ...

Ngày 17/9/1970, tổ chuyên án Bành Hoài Đức, dưới sự điều khiển của Hoàng Vĩnh Thắng (một thuộc hạ thân tín của Giang Thanh) đă viết báo cáo "về cuộc điều tra tội trạng của tên đầu sỏ phản Đảng, thông đồng với người nước ngoài Bành Hoài Đức". Trong đó có đoạn: "Chúng tôi đề nghị: tước mọi chức vụ trong và ngoài đảng của Bành Hoài Đức. Khai trừ vĩnh viễn khỏi Đảng, tống giam không thời hạn, tước quyền công dân suốt đời".

Đến mùa hè năm 1974, các tế bào ung thư đă phát triển lan sang phổi, bán cầu đại năo, song chẳng hề được tiêm liều thuốc nào. Thần chết đă đến với vị nguyên soái bất hạnh đó ngày 29/11/1974.

Đoạn kết của cuốn sách: "Nhà cầm quyền đă cố giấu nguyên nhân cái chết của Bành Hoài Đức. Trên tấm thẻ trắng gắn bên xác Bành chỉ viết vẻn vẹn hai chữ "Vương Xuyên". Sau khi bí mật thiêu xác, tro hài cốt được đưa giấu về Tứ Xuyên với số hiệu: "327, tuổi 32, (người Thành Đô)".

* *
*

Tôi không b́nh luận thêm, v́ thấy rằng tự thân câu chuyện đă nói lên tất cả.

Tôi chỉ chợt nghĩ, giả sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc cứ luôn "tốt đẹp bạn vàng" như hiện nay, th́ có lẽ những người Việt Nam chúng ta cũng khó có cơ hội để đọc được những cuốn sách chân thật nhưng không kém phần "lạnh xương sống" như thế này.









--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post May 4 2017, 02:47 AM
Gửi vào: #18


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Chính thống hay nguỵ quyền


(Tŕnh bày tại Montreal ngày 30-4-2017)

Trần Gia Phụng - Từ năm 1945 cho đến nay, cộng sản (CS) luôn luôn giành chính nghĩa về phần ḿnh, gọi Quốc Gia Việt Nam (QGVN) rồi Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) là “ngụy quân”, “ngụy quyền”… Bài nói chuyện nầy xin dựa vào lịch sử để xác định rơ ràng ai là chính thống và ai là ngụy quyền?

1. Định nghĩa

Trong chữ “chính thống”, th́ “chính” là “ngay thẳng”, “đích xác”; c̣n “thống” là “mối tơ”, giềng mối nối tiếp nhau. Nói chung, “chính thống” là ḍng chính từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Ví dụ ḍng chính của một ḍng họ, một môn phái, một học thuyết. Trong chính trị, chính thống là sự tiếp nối chính thức từ đời trước qua đời sau, đúng theo luật định, tập quán, phong tục…

Trái với “chính” trong chữ “chính thống”, là “ngụy”. “Ngụy” có nghĩa là giả, không thật, không chính thống. Các nhà cầm quyền thường tự cho ḿnh là chính và dùng chữ “ngụy” để chỉ những đối thủ chính trị, như ngụy triều, ngụy quyền, ngụy quân. Ví dụ gần nhứt trong lịch sử là nhà Nguyễn (vua Gia Long) gọi nhà Nguyễn (vua Quang Trung) là “ngụy triều”, “ngụy Tây”, “ngụy Tây Sơn” …

Nhân viết về nhà Tây Sơn, sử gia Trần Trọng Kim bàn rằng: "Những người làm quốc sử nước Tàu và nước ta thường cứ chia những nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp ở đất trung nguyên, th́ cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, làm sự thoán đoạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại chủng vào chiếm nước làm vua, th́ cho là ngụy triều." (Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sài G̣n, Nxb. Tân Việt, in lần thứ bảy, 1964, tr. 367, chương “Nhà Nguyễn Tây Sơn”.)

Tuy vậy, có triều đại cầm quyền do đảo chánh, cướp ngôi, lúc đầu bị xem là ngụy triều, nhưng nhờ có công chống ngoại xâm hay xây dựng đất nước hợp ḷng dân, nên được gọi là chính thống. Trái lại, có triều đại chính thống, nhưng về sau trở nên tàn bạo hoặc cầu viện ngoại bang, th́ lại bị xem là ngụy triều.

Ngoài những tiêu chuẩn trên đây, ngày nay trên toàn thế giới, một chế độ được xem là chính thống khi được dân chúng chọn lựa qua một cuộc phổ thông đấu phiếu minh bạch, tự do dân chủ, xây dựng đất nước, tôn trọng dân quyền và nhân quyền, bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm. Nói ngắn gọn, một chế độ chính thống là một chế độ “của dân, do dân và v́ dân”.

2. Quan điểm của cộng sản

Trong cuộc chiến 1946-1954, lúc đầu CSVN gọi các đối thủ chính trị là “Việt gian”, “phản động”, “bù nh́n”, “tay sai thực dân Pháp”. Sau hiệp định E1ysée (8-3-1949), cựu hoàng Bảo Đại thành lập chính thể QGVN và thành lập Quân đội QGVN, th́ CSVN gọi quân đội QGVN là “ngụy binh” và sau đó gọi quân đội VNCH là “ngụy quân”, chính thể VNCH là “ngụy quyền”.

Hồ Chí Minh (HCM) bắt đầu dùng chữ “ngụy binh” trong các bài báo từ năm 1951, đăng lại trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6 (in lần thứ hai, Nxb. Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000). 1) “Vận động ngụy binh”, kư tên Đ.X, báo Cứu Quốc số 1851, 30-6-1951. (Tập 6, tr. 234.) 2) “Thư gửi các ngụy binh”, kư tên Hồ Chí Minh, báo Cứu Quốc, số 1915, 28-9-1951. (Tập 6 tr. 305.) 3) “Lời kêu gọi ngụy binh quay về với tổ quốc”, kư tên Hồ Chí Minh, báo Nhân Dân, số 32, 15-11-1951. (Tập 6 tt. 332-333.) …

Trong suốt cuộc chiến 1960-1975, và nhứt là sau 30-4-1975, ngày nào đài phát thanh và đài truyền h́nh CS cũng ra rả rêu rao và lên án “ngụy quân, ngụy quyền Sài G̣n”. Tuy nhiên, không phải CS tự tiện gọi đối thủ là “ngụy”, th́ CS tự nhiên trở thành chính thống. Vấn đề là sự đánh giá của quần chúng, sự phán xét của lịch sử, dựa trên thành quả của nhà nước CS trong lúc nắm quyền lực.

Muốn đánh giá thật đúng th́ phải qua thời gian thử thách. Nay đă hơn 40 năm sau ngày 30-4-1975, có lẽ là thời gian đă quá đủ để người Việt hiểu CS thấu tận “ngọn nguồn lạch sông”, để đánh giá chế độ CS.

3. Trước năm 1975

Xin bắt đầu khi chế độ CS mới thành lập. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 14-8-1945, chính phủ Trần Trong Kim sụp đổ. Hồ Chí Minh (HCM) cùng mặt trận Việt Minh (VM) nổi lên cướp chính quyền ở Hà Nội, gởi điện yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. (Nhóm chữ “cướp chính quyền” do VM đưa ra.)

Lúc đó, đại sứ Nhật ở Huế đề nghị giúp vua Bảo Đại dẹp VM, v́ lực lượng Nhật ở Việt Nam c̣n nguyên vẹn. Tuy nhiên, v́ ḷng yêu nước thương dân, v́ muốn tránh nội chiến, vua Bảo Đại từ chối đề nghị của đại sứ Nhật, và tuyên chiếu thoái vị ngày 25-8, rồi làm lễ thoái vị ngày 30-8-1945, trao quyền cho VM, tạo thời cơ lịch sử rất thuận lợi, giúp HCM và VM thế kế tục chính thống hợp pháp trước quốc dân Việt Nam và cả chính trường quốc tế.

Lúc đó, ít ai biết HCM và VM là cộng sản (CS), kể cả vua Bảo Đại. Trong “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2-9-1945, HCM nói: “Khi Nhật đầu hàng Đồng minh th́ nhân dân cả nước ta đă nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa…” Như thế là HCM tự hào rằng VM cướp chính quyền, chứ không phải do vua Bảo Đại trao lại, phủ nhận thiện chí của vua Bảo Đại, và phủ nhận luôn sự truyền thừa chính thức từ triều đ́nh Huế mà vua Bảo Đại tượng trưng.

Dù mới cầm quyền, HCM và VM để lộ ngay bản chất độc tài đảng trị. V́ vậy, khi thoát qua được Hồng Kông, và gặp lại Trần Trọng Kim vào tháng 8-1947, cựu hoàng Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim: “Chúng ḿnh già trẻ mắc lừa bọn du côn.” (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài G̣n: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tr. 146.) Ư kiến của Bảo Đại có thể xem là lời tuyên bố phủ nhận tất cả những ǵ mà trước đây vua Bảo Đại đă lầm khi tin tưởng giao quyền cho HCM. Đây là trường hợp mà trong dân gian thường nói là “trao duyên lầm tướng cướp”.

Qua việc HCM tự hào đă cướp chính quyền và việc cựu hoàng Bảo Đại nhận ra sai lầm v́ đă trao quyền cho bọn du côn, th́ VNDCCH chắc chắn không phải là chính thể kế truyền chính thống của nhà Nguyễn, hay của chính phủ Trần Trọng Kim.

Khi Pháp trở lui Việt Nam, HCM nhượng bộ Pháp để duy tŕ quyền lực, kư liên tiếp hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946), công nhận sự hiện diện của Pháp ở Việt Nam. Dần dần, bị Pháp áp lực mạnh mẽ, HCM họp Trung ương đảng CS tại Vạn Phúc (gần Hà Nội) ngày 18 và 19-12-1946, quyết định tấn công Pháp, nhằm trốn chạy khỏi Hà Nội, và đổ gánh nặng chiến tranh lên vai dân tộc Việt.

Việt Minh thua chạy cho đến năm 1949. Khi Trung Cộng thành công ở Trung Hoa năm 1949, th́ đầu năm 1950, HCM qua Tàu rồi qua Liên Xô cầu viện. Hồ Chí Minh qua Tàu cầu viện năm 1950 th́ có khác ǵ bà thái hậu nhà Lê qua Tàu cầu viện năm 1788?

Trong Đại hội 2 đảng CSĐD vào tháng 2-1951 tại Tuyên Quang, để đưa đảng Cộng Sản (CS) hoạt động công khai trở lại với danh xưng mới là đảng Lao Động (LĐ) do Stalin đặt, HCM phát biểu: "Về lư luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin...lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam.". (Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ & Quốc hội, Nxb. Văn Nghệ [tái bản], California, 1995, tt. 150-152.)

Chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông hoàn toàn xa lạ đối với người Việt Nam, không nằm trong ḍng văn hóa dân tộc cổ truyền chính thống. Ai cũng biết đây là loại chủ nghĩa không tưởng, không thể thực hiện được. Ngay cả những người hầu như đồng thời với NAQ, như hai nhà cách mạng Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu và nhà văn Phan Khôi đều chỉ trích chủ nghĩa Mác-Lê.

Khi khởi chiến năm 1946, VM rất cần giới trí thức tiểu tư sản để lôi cuốn quần chúng. Thời nào cũng vậy, trí thức tiểu tư sản là lớp người trung gian giữa nhà cầm quyền với quần chúng và là thành phần ṇng cốt thúc đẩy tiến bộ xă hội. Tuy nhiên, khi được Trung Cộng viện trợ, VM khá vững, HCM theo chủ trương của Mao Trạch Đông, tiêu diệt giới trí thức tiểu tư sản bằng những phong trào rèn cán chỉnh quân, v́ HCM và CS sợ giới nầy sẽ hướng dẫn quần chúng chống lại độc tài đảng trị CS, nên ra tay trước.

Hồ Chí Minh c̣n học theo Mao Trạch Đông tổ chức những cuộc Cải cách ruộng đất kinh thiên động địa, gây chia rẽ dân chúng, gây căm thù giai cấp và làm cho bàn tay nông dân nhuốm máu đồng bào, không c̣n con đường rút lui, mà chỉ c̣n con đường duy nhất là phải nhắm mắt vâng phục CS.

Khi Trung Cộng gởi viện trợ qua giúp và nhất là gởi cố vấn qua điều khiển chiến tranh, th́ VM tuân phục tuyệt đối sự lănh đạo của cố vấn Trung Cộng. Cố vấn Trung Cộng chỉ đông th́ đánh đông, chỉ tây bắc th́ lên tây bắc, chỉ ngừng đánh để họp Genève th́ lo họp, chỉ chia hai đất nước ở vĩ tuyến 17, th́ tuân lệnh ngay lập tức. Tất cả những trận đánh lớn nhỏ của bộ đội VM, từ Đông Khê đến Điện Biên Phủ, đều nhờ khí tài và cố vấn Trung Cộng, do quân ủy Bắc Kinh chỉ huy. Vơ Nguyên Giáp chẳng qua là đốc công chiến trường, c̣n Hồ Chí Minh là thư kư chiến trường cho đoàn cố vấn và quân ủy Bắc Kinh mà thôi.

Sau khi đất nước bị chia hai, Bắc Việt Nam cử người qua Bắc Kinh năm 1956 xin viện trợ nhằm đánh Nam Việt Nam. Lúc đó, Trung Cộng ra tuyên bố tự ư xác định hải phận của Trung Cộng là 12 hải lư, và khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (vốn của Việt Nam) thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Để trả ơn Trung Cộng, Phạm Văn Đồng kư công hàm ngày 14-9-1958, với sự chuẩn thuận của HCM và đảng Lao Động, theo đó CSVN “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc”. Như thế có nghĩa là CSVN nhượng hai quần đảo nầy cho Trung Cộng.

Chưa hết, trong cuộc chiến 1960-1975, Lê Duẩn c̣n khẳng định: “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô.” (Nguyễn Mạnh Cầm (ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000) trả lời phỏng vấn BBC ngày 24-1-2013.)

4. Thực tế đời sống

Một kinh nghiệm thực tế rất dễ nhận thấy trong chiến tranh, là khi CS tiến đánh đến đâu, th́ dân chúng bỏ phiếu bằng chân ngay tức khắc, chạy khỏi đó, và trốn về phía Quốc Gia hay Việt Nam Cộng Ḥa. Năm 1954, sau hiệp định Genève (20-7-1954), khoảng một triệu người bỏ nhà cửa, ruộng vườn di cư vào Nam. Ngày 30-4-1975, CS chiếm Nam Việt Nam, th́ dân chúng t́m tất cả các cách trốn chạy ra khỏi nước.

Tuy chiến thắng ngày 30-4-1975, thống nhất lănh thổ, nhưng CS không thống nhất được ḷng dân và chủ nghĩa CS không chiến thắng được văn hóa miền Nam. Nói cách khác, do hoàn cảnh quốc tế, CS đă chiến thắng Việt Nam Cộng Ḥa, nhưng CS không thể tiêu diệt được tinh thần Việt Nam Cộng Ḥa. Bằng chứng là sau năm 1975, người Bắc vào Nam học theo văn hóa miền Nam, đọc sách miền Nam, nghe nhạc miền Nam, ăn bận theo kiểu người Nam, chở hàng từ Nam ra Bắc, nghĩa là miền Bắc được Nam hóa. Cách đây 10 ngày, một trung niên người Sài G̣n sinh trong thập niên 90 (dưới 30 tuổi), lớn lên dưới chế độ CS, đă trả lời đài RFA rằng: "Gọi là giải phóng miền Nam th́ không hợp lư v́ không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu.” (RFA, ngày 20-7-2017)

Sau năm 1975, CS đổi quốc hiệu là “Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”. Đây là một cuộc áp đặt trắng trợn v́ đại đa số dân chúng Việt Nam không theo CS. Số đảng viên CS từ trước đến nay luôn luôn dưới 10% tổng dân số Việt Nam.

Cho đến nay, tức hơn bốn mươi năm sau ngày 30-4-1975, đảng CS vẫn không thay đổi bản chất độc tài, đảng trị, toàn trị. Ngày nay, nguyên tắc nầy được đảng CS thể hiện công khai bằng điều 4 hiến pháp rất nổi tiếng mà hầu như ai cũng biết.

Để có thể đứng vững, sau năm 1975, CSVN dựa vào Liên Xô cho đến năm 1990. Khi Liên Xô sụp đổ, CSVN thần phục Trung Cộng. Cho đến nay, chưa ai biết nội dung hội nghị Thành Đô (Trung Hoa), trong hai ngày 3 và 4-9-1990 giữa CSVN với Trung Cộng. Chỉ biết sau hội nghị nầy, CSVN nhục nhă kư hai hiệp ước liên tiếp: 1) Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc ngày 30-12-1999, nhượng cho Trung Cộng ải Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc, một số diện tích đất biên giới. 2) Hiệp ước phân định lănh hải ngày 25-12-2000, mất vào tay Trung Cộng 10,000 km2 mặt biển Vịnh Bắc Việt.

Về kinh tế, cũng sau ngày 30-4-1975, do chính sách kinh tế chỉ huy, Việt Nam càng ngày càng suy sụp. Sợ nội loạn xảy ra, tuy vẫn cương quyết giữ vững nguyên tắc độc quyền chính trị, nhưng từ năm 1985, CS bắt đầu thay đổi về kinh tế, hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Do CS mới ứng dụng kinh tế thị trường, cơ chế lỏng lẻo, các doanh nghiệp nhà nước (công ty quốc doanh) được ưu đăi, vay vốn ngân hàng nhà nước dễ dàng, tài sản chung không ai quư. Nạn tham nhũng bùng nổ mạnh mẽ. Cán bộ CS cấu kết với nhau thành những nhóm lợi ích trong chính quyền, liên hệ đến các thế lực chính trị. Những nhóm lợi ích nầy va chạm nhau, tranh ăn hối lộ, tranh chấp quyền lợi, đưa đến chia rẽ trong nội bộ CSVN.

Tham nhũng tràn lan từ lớn đến nhỏ, từ trên xuống dưới, trong tất cả các ngành của nhà nước, nặng nhứt là ngành công an, nhà đất, hải quan. Tham nhũng chẳng những cướp nhà, cướp đất, mà c̣n bán đất cho ngoại bang, tạo ra những tệ nạn khủng khiếp như vụ bauxite ở Cao nguyên Trung phần, và nhất là vụ Formosa gây ô nhiễm độc hại về lâu về dài, làm cho dân chúng điêu đứng.

Cộng sản thường tự hào là đă mở các cuộc cải cách ruộng đất để chia đất cho người nghèo. Ngày nay, CS cướp đất của người nghèo, bán cho công ty nước ngoài hay cho công ty nước ngoài thuê dài hạn, dài hơn cả thời hạn cho nông dân thuê đất. Dân chúng bị cướp nhà, cướp đất, mất hết đất đai mưu sinh, nên liều chết tranh đấu bảo vệ đất, khiếu nại, kiện tụng hằng ngày, tạo thành phong trào dân oan trên toàn quốc.

Tiếp xúc với cử tri quận 4 TpHCM (tức Sài G̣n cũ) ngày 3-12-2014, Trương Tấn Sang (chủ tịch nhà nước CS 2011-2016) phát biểu: “Hiện tham nhũng không c̣n đứng riêng lẻ, mà trở thành bè cánh bao che cho nhau.”

Nguyễn Phú Trọng (tổng bí thử đảng CS từ 2011) ví von tham nhũng là giặc nội xâm, và đă phát biểu như sau khi tiếp xúc với cử tri quận Ba Đ́nh, Hà Nội ngày 17-10-2016: “Chống ngoại xâm đă khó, chống nội xâm càng khó hơn v́ là ta đánh vào ta.” (BBC tiếng Việt ngày 17-10-2016.) Ta đánh vào ta th́ lấy ai phục vụ chế độ? Đảng CS bèn thả lỏng tham nhũng để cùng nhau bảo vệ chế độ CS.

Đặc biệt, khi nh́n lại chế độ CS hiện nay, Nguyễn Phú Trọng đă thốt lên ngày 23-10-2013 tại quốc hội Hà Nội, nhân thảo luận về việc sửa đổi hiến pháp năm 1992: “Đến hết thế kỷ này không biết đă có chủ nghĩa xă hội hoàn thiện ở Việt Nam chưa?” (Các báo Internet ngày 24-10-2013.) Sao ngụy vậy? Không hoàn thiện được, sao buộc dân Việt phải theo?

Trong khi đó, nhờ internet, nhờ thông tin, sách vở từ nước ngoài tràn vào, dân chúng càng ngày càng thấy rơ bản chất gian tham của CS. Từ đó dân chúng khinh thường cán bộ CS, không c̣n sợ sệt CS như trước nữa. Cách đây hơn 40 năm, không ai có thể tưởng tượng nổi là có những cuộc biểu t́nh hàng chục ngàn người chống đối CS. Cũng không ai có thể tưởng tượng hàng ngày, người dân công khai nguyền rủa chế độ, cán bộ, công an khắp nước, được đưa lên Internet hoặc face book, You tube…

5. Quan điểm của dân chúng

Sau những kinh nghiệm lịch sử và sau những kinh nhiệm bản thân, dân chúng Việt Nam ngày nay đă nhận định rơ ràng ai là chính thống, ai là ngụy quyền. Nhận định nầy gồm hai phần:

a) Thứ nhứt, dân chúng bất măn đối với chế độ CS: Hiện nay, ngày nào cũng có những cuộc biểu t́nh, kiện tụng, phản đối từ thành phố đến nông thôn trên toàn quốc. Các biểu ngữ trong các cuộc biểu t́nh thật đầy đủ ư nghĩa: “Đảng CSVN 1 tập đoàn tội đồ có tổ chức. Mục đích chỉ là để áp bức bóc lột hút máu dân Việt.” Hoặc “Đảng Cộng sản, c̣n chế độ công an trị dân ta c̣n mất hết quyền làm người.”



Sinh viên Lê Trung Thành đă viết: "Các anh ơi! Các chị ơi! Các mẹ ơi! C̣n cờ đỏ sao vàng th́ không bao giờ có độc lập, tự do, hạnh phúc.” (đăng trên các web site13-03-2009.) Càng ngày, các cuộc biểu t́nh càng mạnh mẽ, như vụ Fomosa ở Ha Tĩnh, vụ xă Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức ở Hà Nội.

Trên đây chỉ là một vài ví dụ đơn sơ về việc đánh giá của quần chúng đối với chế độ CS. C̣n một kho tài liệu lớn lao chưa được đề cập đến trong bài nầy. Đó là sách báo, hồi kư của những nhà văn, những cán bộ hưu trí, từng một thời theo CS, mà “Đến già mới chợt tỉnh”. (Tên tác phẩm của Tống Văn Công). Ví dụ Dương Thu Hương, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Hộ, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên …

cool.gif Thứ hai, phản ứng tâm lư tự nhiên của người dân là càng chống đối CS th́ càng nhớ lại chế độ trước CS, tức Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH). Những người lớn tuổi đă từng sống dưới thời VNCH th́ tiếc nuối một thời tự do dân chủ đă qua. Dân chúng Bắc Việt Nam và giới trẻ trên toàn quốc sinh sau năm 1975, chưa biết về VNCH, nhưng nhờ Internet, nên có cơ hội t́m hiểu VNCH, so sánh với chế độ CS, th́ họ mới nhận chân được giá trị của VNCH. Thế là VNCH bắt đầu sống lại trong ḷng dân chúng.

Từ đó, khắp nước Việt Nam, kể cả Hà Nội và các tỉnh Bắc Việt Nam, xuất hiện lá Cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của Việt Nam Cộng Ḥa, tung bay trong các buổi lễ tưởng niệm, trong các cuộc biểu t́nh. Cả những bản hùng ca, những bản nhạc vàng VNCH, được hát vang trong các cuộc tập họp đông người, ngay cả trên đường phố Hà Nội. Đây chính là biểu hiện ước mơ thầm kín của dân chúng trong nước, mong đất nước được sống như thời VNCH thuở trước. Tự do, dân chủ, tự hào dân tộc, cương quyết bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ. Ước mơ nầy chính là ư dân, ḷng dân.

Một người dân Hà Nội đă viết: “Người ta gọi các anh là “quân ngụy”,/ Bởi các anh là lính Việt Nam Cộng Ḥa./ Nhưng tôi gọi các anh là liệt sĩ,/ Bởi các anh ngả xuống v́ Hoàng Sa.” (http://phanduykha.wordpress.com, Phan Duy Kha, “Sẽ có một ngày lấy lại Hoàng Sa”, 14-1-2014.)

Sinh viên Nguyễn Viết Dũng, người Nghệ An, học đại học Hà Nội, bị bắt trong cuộc biểu t́nh ở hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội) v́ anh bận áo quần quân nhân VNCH. Sau 15 tháng tù giam, ngay khi bước ra khỏi nhà tù, Dũng bận áo trắng, trên ngực mang cờ Việt Nam Cộng Ḥa, trên tay xăm hai chữ SÁT CỘNG.

Kết luận

Nếu muốn viết đầy đủ vấn đề chính thống hay ngụy quyền ở Việt Nam trong cuộc chiến vừa qua, th́ có thể cả một quyển sách cũng chưa đủ, nhưng ở đây thời gian không cho phép, nên bài nầy chỉ phác thảo sơ lược những nét chính của vấn đề.

Vấn đề chính thống hay ngụy quyền không phải tự biên tự diễn như CS mà được. Cộng sản chỉ giỏi to miệng tự đề cao và to miệng vu khống người khác. Việc thẩm định chính thống và ngụy quyền sẽ do lịch sử phán xét, dựa trên nền tảng dân ư. “Trăm năm bia đá th́ ṃn,/Ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ.” Bia miệng chính là dân ư lưu truyền qua hàng ngàn năm lịch sử.

Dân ư ở trong nước hiện nay như thế nào th́ mọi người đều đă biết, khi các cuộc biểu t́nh đ̣i quyền sống, đ̣i tự do dân chủ, đ̣i dân quyền và nhân quyền, chống Trung Cộng, phản đối chế độ CS, hằng ngày được phổ biến lan tràn trên Internet.

Những biểu ngữ, những khẩu hiệu của dân chúng cho thấy cộng sản chỉ là một chế độ hành dân, hại dân và phản dân. Điều nầy không có ǵ là lạ, v́ chế độ CS dựa trên chủ thuyết Mác-Lê, mà ngày nay, ai cũng biết chủ thuyết Mác-Lê chỉ là một ngụy thuyết. Ngụy thuyết Mác-Lê sinh ra ngụy đảng CS và ngụy quyền CS.

Ngược lại, cũng trong các cuộc biểu t́nh, các lễ tưởng niệm, các cuộc tụ họp của dân chúng, ư dân, ḷng dân được thể hiện qua sự xuất hiện của lá Cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của Việt Nam Cộng Ḥa, hiện đang bị CS cấm đoán. Cấm đoán th́ cấm đoán, nhưng làm sao cấm được ư dân, ngăn được ḷng dân.

V́ nhiều lư do phức tạp, Việt Nam Cộng Ḥa đă thất bại trong cuộc chiến vừa qua, nhưng sau cơn gió bụi trong thời chiến làm mờ mịt thức mây, ngày nay mọi người đều sáng mắt ra, mới hiểu ra vấn đề, và ước mơ Việt Nam Cộng Ḥa trở lại. Việt Nam Cộng Ḥa tuy chưa hoàn hảo, nhưng nhân bản, dân chủ, tam quyền phân lập rơ ràng, cương quyết bảo vệ lănh thổ, chống ngoại xâm. (Ở Việt Nam có chuyện tiếu lâm là mấy ông thầy bói mù cũng sáng mắt ra sau năm 1975.)

Ư dân, ḷng dân là nền tảng để lịch sử phán xét. Với nền tảng ư dân và ḷng dân hiện nay như thế, rơ ràng Việt Nam Cộng Ḥa mới đúng là chế độ chính thống trong cuộc chiến vừa qua. Ḷng dân ước mơ, ḷng dân mong đợi, th́ trước sau ǵ Việt Nam Cộng Ḥa cũng sẽ có ngày trở lại. Hiện t́nh rối loạn trong nước cho thấy ngày đó sẽ không xa.

(Montreal, 30-4-2017)


Trần Gia Phụng



--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post May 11 2017, 08:52 PM
Gửi vào: #19


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,394
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8












--------------------


Góc rượu nồng nàn c̣n khúc cuối
Dốc bầu cho trọn nghĩa t́nh ân



NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 23rd October 2017 - 11:22 AM