IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

14 Pages: V  1 2 3 > »   
Reply to this topicStart new topic
> Sưu Tầm Đó Đây (Của Hoa Hạ)
hoaha
post Aug 10 2005, 01:24 PM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Hung Pham, B.S.W lược dịch


Trong một buổi fieldtrip đến một cơ sở nuôi dưỡng trẻ em bị ngược đãi, tôi đã được chứng kiến một số trẻ em trong cộng đồng chúng ta có mặt tại đây. Hiện tượng ngược đãi trẻ em tưởng chỉ có trong các cộng đồng khác, thế nhưng nó đã xảy ra trong cộng đồng chúng ta. Để góp phần phòng chống ngược đãi trẻ em, tôi xin được tạm lược dịch một bài viết liên quan đến ngược đãi trong cuốn sách "Child Welfare", hiệu đính bởi Neil A. Cohen, một trong những giáo sư của tôi tại Cal State Los Angeles.

Ray Helfer, một bác sĩ y khoa cũng như một chuyên viên nổi tiếng về phát hiện cũng như phòng ngừa ngược đãi con cái, cho rằng nếu cha mẹ không được học năm kỹ năng căn bản sau đây khi họ còn nhỏ, họ sẽ không làm tốt nhiệm vụ làm cha mẹ của mình.


1. Học cách đòi hỏi nhu cầu của mình một cách hợp lý. Nếu không ai dạy cho cha mẹ cách nhận biết nhu cầu của chính mình và làm cách nào đòi hỏi để được đáp ứng, cha mẹ cứ nghĩ rằng mọi người biết mình muốn gì. Thí dụ như, khi một đứa bé đòi uống nước, cha mẹ không đáp ứng nhu cầu của nó, đứa nhỏ cứ phải đòi đi đòi lại. Cuối cùng, đứa nhỏ bắt đầu trở chứng, vì nó trở chứng cha mẹ phải đáp ứng. Đứa nhỏ bắt đầu học được rằng bằng cách trở chứng cha mẹ nó mới mới đáp ứng. Đứa nhỏ suy nghiệm rằng dùng hành động quá đáng như trở chứng là cách để cha mẹ đáp ứng. Khi lớn lên, đứa nhỏ này (lúc này trở thành cha hay mẹ) chỉ biết phản ứng với con cái bằng những hành động quá khích. Vì vậy, khi con hư, người cha mẹ này chỉ biết phản ứng bằng cách la đánh hơn là nói chuyện với con một cách nhẹ nhàng.

2. Học được sự khác nhau giữa cảm xúc và hành động. Tất cả cha mẹ có những lúc cảm thấy tức giận với với con mình, nhưng có nhiều cách để đối trị với cơn giận hơn là đánh đập con cái. Nhiều bậc cha mẹ không học được cách nào khác hơn để bày tỏ cơn giận của mình ngoài bạo lực.

3. Học cách quyết định. Khi người ta không học được cách quyết định lúc khi còn thơ ấu (qua những việc đơn giản như được cha mẹ mình hỏi "con thích ăn món kho hay món canh buổi trưa?"), khi lớn lên họ sẽ cảm thấy bị khủng hoảng, tê liệt khi phải đương đầu trong việc giải quyết một việc gì đó. Họ cảm thấy mình yếu đuối và mất tự chủ. Họ có thể quay ra hành hạ những người yếu đuối hơn-thường là con của họ.

4. Học rằng họ chỉ có trách nhiệm với hành động của họ, không phải với hành động của người khác. Nhiều người khi còn nhỏ hay bị cha mẹ mình nói những lời nói đổ tội như, "Nếu không vì mày, cha mày đã không bỏ tao," hay là "nếu không vì tụi bây thì tao đã không phải chịu khổ với cha tụi bây", hoặc "Vì mày, tao phải lấy cha mày, bây giờ tao khổ như vậy đây." Những lời nói này làm cho trẻ con có mặc cảm tội lỗi và bị đổ tội. Cuối cùng mặc cảm đó trở nên quá lớn. Khi lớn lên, chúng hay thấy bối rối không biết chúng có hay không có trách nhiệm với một việc gì đó. Một vài người ngay cả còn lập lại những lời nói đó với con của mình gây nên những vết sẹo tâm lý khó phai.

5. Học cách trì hoãn sự ham muốn của mình. Một vài người có tuổi thơ không được hạnh phúc và vững chãi và khi sự kiên nhẫn của họ không được đền bù bằng sung sướng. Ví dụ như khi còn nhỏ, họ mong chờ hoài một cái cặp tốt để đi học mà cuối cùng họ không có dù đã kiên nhẫn đợi chờ. Đứa trẻ như vậy sẽ học cách tìm cho được sự sung sướng ngay khi nào mà nó muốn mà không thể chờ đợi lâu được nữa. Cha mẹ có tuổi thơ như vậy hay muốn được cảm thấy thỏa mãn ngay lập tức, họ muốn con mình vâng lời mình ngay tức thì. Suy nghĩ như vậy sẽ làm cho cha mẹ dễ đánh đập la hét con mình nhiều hơn.

Hiểu được những nguyên nhân quan trọng kể trên, chúng ta thấy rõ cách thức giao tiếp hàng ngày giữa cha mẹ và con cái ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường giáo dục gia đình. Để phòng ngừa nạn ngược đãi con cái trong gia đình, mỗi người chúng ta trước hết cần nhận rõ hơn hết về mình và môi trường mà mình lớn lên. Năm kỹ năng trên giúp cho công tác viên xã hội làm việc hữu hiệu hơn với những trường hợp ngược đãi con cái.

Được chỉnh sửa bởi NhaQue on Oct 10 2013, 05:35 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 20 2006, 04:42 AM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chiếc Bong Bóng Bay



Câu chuyện được thuật lại xảy ra tại vùng Nam Italia, nơi dân chúng không được sung túc cho lắm, so với những vùng khác. Câu chuyện trên mang tựa đề là : "Chiếc bong bóng bay màu hồng".

Chiếc bong bóng này là kết quả của sự góp nhặt và tiết kiệm từng xu của Beppo, một em bé lên tám. Hôm ấy, trong lúc các trẻ đồng tuổi cắp sách đến trường, Beppo trốn học, chạy nhanh lên ngọn đồi để thả chiếc bong bóng màu hồng bay lên không trung. Cùng với chiếc bong bóng, Beppo cẩn thận cột bức thư nó đã nắn nót viết từng chữ như sau: "Chúa ơi, vài tuần nữa con sẽ có một đứa em. Gia đình con đã có sáu anh em, nhưng cha mẹ con nghèo lắm. Nhà cửa chật chội và không có đủ giường chiếu, nên chúng con phải ngủ chung ba đứa một giường. Lần này con không xin gì cho con, nhưng con xin Chúa cho đứa em sắp sinh của chúng con một ít quần áo và tã, quần áo xài rồi cũng được. Nhà con ở làng Arcol miền Nam nước Italia. Con tên là Beppo Sala".

Sau khi thả chiếc bong bóng hồng mang bức tâm thư lên trời, Beppo đứng ngước mắt nhìn lên trời mãi đến khi chiếc bong bóng mất hút trong đám mây, nó mới thơ thẩn đi về nhà.

Những ngày sau đó là những ngày tháng hồi hộp nhất đời của Beppo. Nhưng nó vẫn tiếp tục hy vọng và cầu nguyện. Sáu ngày nặng nề trôi qua, nhưng một buổi kia, lúc đang chơi với các trẻ khác cùng xóm, Beppo thấy người giao bưu phẩm mang vào nhà một thùng quà. Nó hồ hởi chạy nhanh về và nghe cha nó đang lớn tiếng cãi vã với nhân viên bưu điện: "Chắc anh lầm rồi, tôi đâu có quen ai ở thành Rovigo. vả lại chúng tôi đào đâu ra tiền để mua quà cáp". Người giao bưu phẩm phân trần: "Món hàng đề tên và địa chỉ nhà ông, nếu không phải gửi cho ông thì còn gửi cho ai nữa? Ông nhận nhanh lên, tôi còn phải đi giao nhiều món hàng nữa chứ có phải chỉ có thùng này thôi đâu". Cha của Beppo trả lời: "Thôi đi ông ơi, nhận hàng không phải của mình để rồi sau đó mang họa, làm gì có tiền mà bồi thường".

Thấy câu chuyện dai dẳng, Beppo bạo phổi nói xen vào: "Thì cha cứ mở ra xem thử, nếu không phải là của mình thì mình gói trả lại". Thùng đồ được mở ra, thấy toàn đồ cho trẻ sơ sinh. Nào tã, nào những chiếc áo nhỏ tí ti, nào băng rốn. Người gửi không quên gói vào hai hộp phấn và một lố những chiếc kim tây. Mắt của mẹ Beppo bừng sáng lên. Beppo cảm thấy vui như ngày tết, vui nhất là người gửi đồ không đề địa chỉ nên không thể gửi trả lại. Nó chạy nhanh ra ngọn đồi, nơi nó thả chiếc bong bóng màu hồng sáu ngày trước đây. Ðến nơi nó ngước mắt nhìn trời, miệng thì thầm: "Chúa ơi, con cám ơn Chúa".

Tuổi trẻ thường được gọi là tuổi thơ, mà nói đến thơ là nói đến mộng. Trẻ thơ thường có những mơ ước đơn sơ: mong bắt được nhiều dế, mơ con diều mình đang thả được bay cao, mong cho mình khéo tay ăn được nhiều đạn trong cuộc chơi bi, mơ đội banh mình được thắng trong cuộc đá bóng sắp tới. Nhưng đã có những mái đầu xanh đã bắt đầu lo lắng cho cha mẹ, cho anh chị em như trong trường hợp của em bé mới lên tám tuổi Beppo.

Theo cha Michel Bonnet, đã từng truyền giáo tại Nhật bản và nay đang làm cho phong trào quốc tế đặc trách mục vụ cho trẻ em, thì tại Á Châu, số trẻ em vì hoàn cảnh gia đình hay xã hội bắt buộc phải làm những công việc nặng nhọc vượt qua tuổi của chúng nhiều hơn là số trẻ em được cắp sách đến trường.

Cũng theo cha Bonnet, đã đến lúc các tín hữu phải đọc dòng Phúc Âm mà mọi người đều thuộc nằm lòng, nhưng với cái nhìn khác: "Hãy để các trẻ nhỏ đến cùng Ta, chớ ngăn cản chúng, vì Nước Trời thuộc về những kẻ giống như chúng".

Và cha Bonnet đề nghị: câu Phúc Âm trên tạo dịp cho chúng ta thấy Chúa Giêsu trong những trẻ con bị cưỡng bách phải làm việc nặng nhọc. Qua các em, Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta: "Hãy đến và theo Ta".

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 1 2007, 07:40 AM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chiếc Lon ‘Gô’



Huy Phương


Tôi đã lang thang trên “net” chiều nay nhưng không thể nào tìm ra hình ảnh của người chiếc lon “gô”, người bạn ngày nào của tôi. Bao bì của các món hàng sản xuất mỗi ngày mỗi tân tiến, mới lạ, đẹp đẽ và gọn nhẹ. Bây giờ người ta dựng sữa bột trong những bao bằng giấy dày hoặc bằng thứ kim loại mỏng, không như bằng chiếc hộp nhôm không rỉ sét, dày dặn như cái thời xa xưa đó. Người vẽ kiểu của chiếc lon “gô” ngày nào chắc cũng đã ra người thiên cổ, không còn để cái đám tù tập trung trong các trại tù (Không dùng từ này) sau này gặp gỡ để nói một lời cám ơn về một thứ đồ dùng, một bao bì mà sau khi dùng sản phẩm, có thể vứt bỏ, nó lại được dùng như một vật tiện dụng và hữu ích qua nhiều năm tháng.

Loại sữa Guigoz của Hòa Lan được nhập cảng vào Việt Nam nhiều nhất là sau khi người Pháp trở lại Việt Nam vào khoảng năm 1956. Vào thời ấy lon sữa bột Guigoz không lấy gì làm đắt. Một công chức trung bình ở miền Nam cũng có thể nuôi con bằng loại sữa bột này. Có hai loại sữa Guigoz, loại trắng cho trẻ sơ sinh, và loại màu vàng cho tuổi từ một năm trở đi. Loại sữa bột này phổ biến đến nỗi hầu như gia đình trung lưu nào cũng nuôi con bằng sữa Guigoz, và những chiếc lon nhôm, dày dặn, với dung tích 0.75 lít, có chiều cao 18cm, đường kính 8cm, không rỉ sét này thường được các bà nội trợ cất giữ để đựng thực phẩm ở trong bếp, trừ muối, nó có thể đựng đường, ớt, tiêu hành hay các thức ăn khô. Tuy chiếc lon Guigoz tiện dụng nhưng thật ra nó không có giá trị gì, nó có thể ra nằm ngoài đống rác. Từ năm 1965 trở về sau, miền Nam đã nhập cảng nhiều loại sữa bột khác dành cho trẻ em, nhưng chiếc lon sữa Guigoz vẫn còn tồn tại trong hầu hết gia đình vì nó bền, chắc, khó móp méo hay hư hỏng.

Thế mà chiếc lon Guigoz đó lại trở thành người bạn thân thiết từ Mùa Hè năm 1975 khi tôi phải giã từ quân đội, bỏ lại vợ con và thành phố yêu đấu để trình diện đi tù, làm cái công việc của một người lính thất trận. Thoạt đầu chiếc lon chỉ mang theo mớ thức ăn khô dùng tạm cho vài ngày, nhưng về sau khi thức ăn đã hết, chiếc lon kia đã đổi chức năng để từ đây gánh vác một phần tháng ngày gian khổ cho tôi. Về sau khi thấy tôi không còn hy vọng gì quay trở lại với gia đình trong một thời gian ngắn, chiếc lon sữa Guigoz kia đã không rời tôi nửa bước như một người bạn tri kỷ có thể chia ngọt xẻ bùi với nhau, khi với một nắm rau bên vệ đường, khi với một con nhái bén, có khi với một mẫu sắn thừa sau ngày thu hoạch còn sót lại trong đám đất bị cày xới.

Có khi chiếc lon ấy trở thành một bình trà với những đọt chè xanh, đậm đà hơn một tuần Thiết Quan Âm thời phong lưu hay mở ra một ngụm cà phê sảng khoái đánh lừa khứu giác với những hạt bo bo cùng với mấy hạt ngô rang cháy. Nó cũng trở thành người bạn mỗi sáng với những công việc vệ sinh thường nhật bên “lán” tù, và cũng tội nghiệp cho chúng tôi trong một miền Bắc không có thừa lấy một manh giấy báo hay một mẫu giẻ rách, nó đã theo những người tù mỗi lần vì nhu cầu phải đi thăm... “lăng Bác”.

Ngày xưa chiếc lon kia mang một cái tên ngoại quốc khá đẹp từ xứ Hòa Lan có nhiều nhà máy xay gió, những cánh đồng cỏ bất tận và những đàn bò bình yên, đến miền Nam với hình dáng tròn trịa, mới mẻ, nay nó mang một cái tên xấu xí trần tục trong một xã hội đói nghèo, lạc hậu. Nó là “gô”, là “cống” hay có người gọi nó là “hăng gô”(?) những cái tên rất khó bề giải thích. Nó dần dần trở thành đen điu, xấu xí, hèn mọn, móp méo qua những lần bị nung nóng trên bếp lửa của trại tù hay trên đám cỏ khô giữa cánh rừng bạt ngàn hay bên dòng suối nhỏ trong những buổi trưa, để thêm một chút “cải thiện” với nắm rau “tàu bay” hay một mẫu khoai mài. Những ngày có thăm nuôi, nó cũng chắt chiu nắm mì gói hay chút ruốc thịt mang cho “sang cả” thêm cho bữa ăn khốn khổ của người tù. Những lúc chẳng có gì, một gô nước lã cũng đầy bụng.

Chiếc lon gô ngày nay đã đen điu hình dáng nhưng chưa bao giờ chịu để mình bẩn thỉu, nó đã nhiêu lần được kỳ cọ như chủ nhân đã kỳ cọ cái thân thể gầy còm khốn khổ của người tù dưới suối sau một ngày kiệt sức, vắt mồ hôi. Ðêm về, chiếc lon kia cũng lặng lẽ ở trên đầu nằm cùng với mớ chăn chiếu lẫn lộn với những mảnh nhung y sờn rách, bạc màu, để sáng mai thức dậy trong tiếng kẻng tù gắt gỏng.

Chưa có một vật dụng nào thiết thân với người tù như cái lon “gô” đen điu ấy. Bộ áo quần tù có thể thay đổi, đôi dép có thể mòn vẹt, nhưng chiếc lon “gô” đã bền bỉ với thể chất cũng như tấm lòng với người tù qua những đoạn đường gian khổ, những ngày lên nương xuống rẫy, những sáng Mùa Ðông giá buốt cũng như những trưa Hè đổ lửa. Nó gần gũi, khắng khít không rời người tù đi đâu nửa bước.

Thế mà...

Như những ông già H.O. trên đất Mỹ, tôi thường đẩy xe cho vợ đi chợ mua thức ăn. Những hàng hóa, thực phẩm bày biện trong những ngôi chợ to lớn, chỉ gây ngạc nhiên cho tôi lúc đầu tiên mới đặt chân đến Mỹ cách đây hàng chục năm, bây giờ trở nên quen thuộc và thường tình đến nhàm chán. Những kệ hàng bán đầy khoai lang đủ loại hay những đống khoai mì đầy ắp, nhưng mớ cải xanh, những bó rau muống tươi tắn, những củ su hào mập mạp... không hề nhắc nhở hay cho tôi một suy nghĩ nào về những tháng ngày tù tội, thiếu thốn mà những củ khoai, những nắm rau xanh đó như một nỗi mơ ước thèm thuồng thường nhật của một người tù.

Nhưng có một buổi nọ, khi đẩy chiếc xe đi chợ đến bên hàng bày bán khoai mì, không hiểu sao lần này tôi dừng lại, cổ họng như nghẹn ngào, những giọt nước mắt như muốn trào ra. Trong một thoáng tôi bỗng nhớ lại hình ảnh của nồi sắn luộc không bóc vỏ với những mẫu sắn rơi vãi nhuộm một màu tím sẫm, hình ảnh của người bạn tù say sắn, té từ chỗ ngủ ở tầng trên xuống nền gạch và những tiếng la cầu cứu trong đêm. Những củ sắn nằm trên kệ hàng ở đây, là một món ăn chơi của những người no đủ, không hề có một giá trị gì với đời sống của một con người bình thường này trên mảnh đất giàu có như nước Mỹ.

Chúng ta thật đã nhàm chán với những bữa tiệc tùng sang trọng, mỗi tuần không dám ăn tới ba quả trứng gà, bắt đầu thấy sợ thịt, không bao giờ đụng đến bơ, sữa hay phó mát. Phần tôi, đã nhiều lần đi qua những ngôi chợ khác nhau mà lòng thấy dửng dưng trước những món thực phẩm tầm thường như nhìn một vật xa lạ chưa lần nào gặp gỡ hay gắn bó trong cuộc đời mình. Phải chăng những vật hèn mọn này, những củ khoai lang, những miếng sắn luộc này đã từng ám ảnh chúng ta trong giấc ngủ ngày nào?

Và tôi nhớ ra một điều, khi được ra khỏi nhà tù, tôi đã quên hẳn và vất bỏ ở xó xỉnh nào đó cái lon “gô” đen đúa, người bạn thân thiết của những tháng ngày tù tội của tôi. Tôi đã đi một vòng khá xa, từ Bắc vào Nam, từ Tây sang Ðông, qua bao nhiêu cánh rừng, qua bao nhiêu eo biển, bỏ lại sau lưng quê hương và quá khứ của tôi.

Ðôi khi tôi cũng đã quên tôi, nói gì đến những vật tầm thường hèn mọn như thế!
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 26 2010, 03:49 PM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Câu chuyện đáng SUY GẪM !!
(Nhớ lại phim Rashomon của Nhật năm
xưa)




Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi duthuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đivới Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là haihọc trò yêu của Khổng Tử.


Trong thời Đông Chu, chiến tranh liênmiên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúngphiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ … Thầytrò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí;tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.

May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy tròmột ít gạo … Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc thổi cơm.

Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi- một đệ tử đạo cao đức trọng mà KhổngTử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất - phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.


Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.

Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử
ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống … thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ … Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh … rồi từ từ đưa cơm lên miệng …

Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài … ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”

Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về … Nhan Hồi lại luộc rau … Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ … Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.

Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: “Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước


Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa com đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy … cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?

Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nên ạ!”

Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”

Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.”

Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”

Nhan Hồi thưa: “Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi … nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ
lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng
thầy và tất cả anh em …

Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi … bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và … thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ! Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Jan 26 2010, 04:01 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 26 2010, 09:38 PM
Gửi vào: #5


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Một bài tham luận ngắn nhất, nhưng sâu sắc nhất, được viết ra bằng máu và nước mắt của một anh hùng trungt trinh, tiết liệt.



Một lá thư thật hay....Xem nguoi ma nghi đen .



Xin mời quí vị đọc một lá thư Lịch Sử, thật anh hùng và cảm động.
Lá Thư Lịch Sử của Cố Thủ Tướng Kampuchia Sosawath Sirik Matak
gởi cho ông Đại Sứ Hoa Kỳ (1975)






Vào tháng 4 năm 1975 , khi quân đội Cộng sản đang trên đường tiến vào Nam vang
thì người Mỹ đã mời Thủ tướng Sirik Matak và toàn bộ chính phủ Miên nên ra đi, vì
ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại.
Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động
gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean . Lá thơ đầy nghĩa khí và
tiết tháo của một người anh hùng “sinh vi tướng, tử vi thần” như sau :




Phỏng Dịch.-

Nam Vang ngày 16 tháng 4 năm 1975.

Thưa Ngài và Bạn,
Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do .
Than ôi ! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn nhát như vậy !
Với Ngài (đại sứ John Gunther Dean) và nhất là với xứ sở vĩ đại của Ngài , không bao giờ
tôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do .
Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết .
Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này ..
Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ở đây và ở lại đất nước tôi yêu dấu thì tuy
đó là điều tệ hại , nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó .
Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và chót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ !
Xin Ngài nhận những cảm nghĩ chân thành và thân hữu của tôi .
Sirik Matak

~~~~~~~~~~~~ ~
Sau ngày 17 tháng 4 năm 1975, tổng cộng có 150 người trong chính phủ Miên
đã di tản theo ngưỡi Mỹ .
Còn lại toàn bộ chính phủ Miên đều bị giết hết .


Riêng gia đình ông Sisowath Sirik Matak, từ con cháu đến các người giúp việc
trong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Mar 26 2010, 11:03 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 19 2010, 12:19 AM
Gửi vào: #6


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Mỹ Dung và “Ngàn Giọt Lệ Rơi” đến San Jose
GIAO CHỈ SJ/Việt Tribune
Lời nói đầu:
Ða số hồi ký của các nhân vật lịch sử Việt Nam thường viết về thời gian trước tháng tư 75, và thiếu vắng tác phẩm của phụ nữ. Nhưng bút ký về cuộc đời bà Mỹ Dung đã viết về một giai đoạn chính từ sau tháng tư 75. Phải chờ giải mật năm 1995 tức là 20 năm sau tác phẩm bằng Anh ngữ “A Thousand Tears Falling..” mới được xuất bản. Ngay khi tác phẩm ra đời, báo chí và các nhà điểm sách Hoa Kỳ đã không tiếc lời khen ngợi. Nhiều độc giả Việt Nam cũng đã mua và đọc nguyên tác Anh Ngữ. Nhưng đa số vẫn còn mong có cơ hội đọc bản Việt ngữ của một câu chuyện thực hết sức bi thương và hấp dẫn. Vào lúc 1 giờ chiều ngày chủ nhật 16 tháng 5-2010 bộ sách lịch sử cả Anh và Việt ngữ sẽ ra mắt San Jose. Dân Sinh Media sẽ tổ chức tại hội trường của quận hạt Santa Clara số 90 W. Hedding, San Jose. Như vậy là chúng ta phải chờ đợi 20 năm để đọc bản Anh ngữ. Rồi chờ thêm 15 năm mới có bản tiếng Việt. Sau này không biết bao giờ câu chuyện này sẽ được dựng thành phim. Trong khi chờ đợi, xin vui lòng dành cho chúng tôi cơ hội giãi bầy về việc thảo luận cho Ngàn Giọt Lệ Rơi trên con đường đi lên màn ảnh,... sau này.

Ngàn Giọt Lệ Rơi
Sau 30 năm chiến tranh Việt Nam đã có nhiều hoàn cảnh éo le trong đời sống. Cuộc binh đao giữa hai miền Nam Bắc, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đưa đến cảnh gia đình chia cắt. Câu chuyện được ghi lại lần này là một nhà chia đôi ngả. Cha và con trai theo miền Bắc. Mẹ và 5 con theo miền Nam. Câu chuyện thật và đầy đủ tình tiết để dựng nên một cuốn phim làm di sản cho đời sau. Phim ảnh Hoa Kỳ thường hay phỏng theo các cuốn tiểu thuyết hoặc ký sự dựa theo chuyện có thật đã xảy ra. Nếu người Việt chúng ta làm một cuốn phim tại hải ngoại để có thị trường phải là phim nói Anh ngữ, có cái vai Mỹ Việt, tình tiết éo le, hấp dẫn, pha chút màu sắc điệp viên với các giây phút lo sợ kịch tính. Ðồng thời có những lúc vai chính phải ray rứt nội tâm. Màn ảnh chiếu gần, diễn tả bằng nét mặt.


Bà Đặng Mỹ Dung – YungKrall, tác giả cuốn Ngàn giọt lệ rơi

Sự lựa chọn giữa lý tưởng và bổn phận của các vai chính làm cho chuyện phim đóng mở, lôi cuốn khán giả. Nội dung cần có cơ hội để lấy ngoại cảnh từ Việt Nam, Nhật Bản, Hạ Uy Di, Hoa kỳ và Âu châu. Vai chính đi từ những phân cảnh của gia đình Việt Nam trong chiến tranh đến các buổi tiếp tân của ngoại giao đoàn tại các quốc gia Tây phương. Từ các phòng ăn tráng lệ tại các câu lạc bộ sĩ quan Hoa Kỳ cho đến các chiến khu ở rừng già Nam Bộ. Từ văn phòng của bộ ngoại giao chính phủ (Không dùng từ này) Việt Nam đến cơ sở tình báo của hải quân trong Ngũ Giác Ðài. Một chuyện phim như thế mà phỏng theo một câu chuyện hồi ký có thực thì vô cùng lý thú. Có thể tìm thấy không? Trên thực tế chuyện này đã xảy ra.
Chúng ta có thể tìm được câu chuyện tình tiết như vậy với nội dung bao gồm cuộc chiến Quốc Cộng giữa Việt Nam với Việt Nam. Giữa Việt Nam với Hoa Kỳ. Câu chuyện gián điệp thực sự xảy ra đã được kể trong cuốn hồi ký của một phụ nữ.

Người đàn bà viết cuốn sách này tên là Ðặng Mỹ Dung và cuốn sách có tựa đề là Ngàn Giọt Lệ Rơi. Nguyên tác Anh ngữ là A Thousand Tears Falling. Bà Yung Krall sáng tác theo thể tự truyện dựa vào cuộc đời của cha mẹ rồi đến chính cuộc đời của tác giả. Tất cả mọi danh tính đều giữ nguyên như là một sử liệu. Dựa theo tác phẩm Anh ngữ, chúng tôi viết bản phác họa cho một cuốn phim tương lai của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại.

Ðây là phim truyện về một người chủ gia đình theo kháng chiến rồi đi tập kết 54 trở thành nhân viên cao cấp trong chính phủ (Không dùng từ này). Người vợ ở lại miền Nam trong vùng quốc gia rồi di tản qua Hoa Kỳ. Bà đã từ chối không về sống với chồng ở Việt Nam. Sau khi đất nước thống nhất, con cái mỗi người theo một ngả. Tiếp theo cuộc chiến Quốc Cộng tiếp tục bàn giao cho thế hệ thứ hai. Tác giả là con gái trong gia đình đã thành hôn với một sĩ quan hải quân Mỹ. Trong hoàn cảnh éo le, cô gái đã trở thành gián điệp nhị trùng. Một bên là cha ruột, một bên là chồng. Ðứng giữa hai phe thù nghịch nhưng tác giả thực sự làm việc cho phía Hoa Kỳ. Ðã góp phần phá vỡ âm mưu của Hà Nội lúc đó đang tìm cách cài người vào bộ ngoại giao tại Hoa Thịnh Ðốn.

Chuyện thật đã xảy ra tại Mỹ vào cuối thập niên 70. Trong chiến tranh Việt Nam, phe quốc gia và đồng minh Hoa Kỳ thường bị phía (Không dùng từ này) cài người nằm thật sâu vào các cơ quan của ta, nhưng phe ta chưa hề có được những đòn gián điệp đáng kể lừa được đối phương. Câu chuyện Ngàn Giọt Lệ Rơi là một biệt lệ đặc biệt cần được biết đến, cần được nhắc lại và cần được đóng thành phim. Cảm khích với nội dung của tác phẩm, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị sau đây là câu chuyện về một cuốn phim tương lai, nhân dịp 35 năm sau kể từ tháng 4-1975.

Phác hoạ chuyện phim Ngàn Giọt Lệ Rơi

“A thousand Tears Falling” bắt đầu từ ngoại cảnh tại Nhật Bản. Thời gian lúc đó là tháng 6-1975, không gian là tại phòng tiếp tân của đại khách sạn Nhật Bản tại Ðông Kinh. Tại đây, một hội nghị quốc tế giữa các nước Ðông Nam Á đang diễn ra. Ông Ðặng Quang Minh là trưởng phái đoàn của nước (Không dùng từ này) Việt Nam vừa chiến thắng Sài Gòn 2 tháng trước, đến dự hội nghị với niềm tự hào và được sự lưu ý của báo chí thế giới. Tuy nhiên, cũng vào chiều hôm đó tại Ðông Kinh, người cán bộ cao cấp của phe (Không dùng từ này) gặp lại con gái sau 23 năm xa cách. Từ hình ảnh trong đại sảnh của khách sạn quốc tế tại Tokyo, phía trước treo cờ các nước dự hội nghị, có cờ đỏ sao vàng. Hình ảnh vị trưởng phái đoàn rạng rỡ tươi cười mở đầu cuốn phim để tiếp đến hình ảnh hồi tưởng thời kỳ trongchiến khu với cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Ông Minh sinh năm 1909 tại Vĩnh Long, đi theo Kháng Chiến và trở thành nhân viên cao cấp của Mặt Trận. Năm 1954, ông dẫn con trai lớn 17 tuổi là Ðặng Văn Khôi ra Bắc. Vợ ông Minh là bà Trần Thị Phàm và 5 con nhỏ ở lại miền Nam. Khi chia tay hẹn 2 năm trở lại nhưng thật sự phải hơn 20 năm sau người (Không dùng từ này) mới vào được Sài Gòn thì lúc đó đã biết bao nhiêu vật đổi sao rời. Người con trưởng theo bố ra Bắc đã trở thành sĩ quan của quân đội nhân dân được gửi đi Nga học về hỏa tiễn phòng không năm 1968. Ðến năm 1975, ông Minh trong khi vẫn một lòng trung thành với chế độ và trở nên cán bộ cao cấp ngành ngoại giao thì người con trưởng Ðặng Văn Khôi có thái độ chống chiến tranh nên đã bị sa thải khỏi quân đội miền Bắc.
Tại miền Nam, người con trai thứ của ông bà là Ðặng Hải Vân, lúc ông tập kết chỉ có 5 tuổi sau này đã trở thành phi công của Không Quân Việt nam Cộng Hòa. Nhưng không may Hải Vân đã bị thiệt mạng trong một phi vụ bay huấn luyện tại Hoa Kỳ lúc 21 tuổi. Chị Ðặng Mỹ Dung là con thứ tư của ông bà đã thành hôn với đại úy phi công của Hải Quân Hoa Kỳ tại Sài Gòn và năm 75 gia đình chị đang sống tại Hawaii.

Cuộc sống thơ mộng và bình yên của ông Krall và bà Mỹ Dung hoàn toàn thay đổi từ tháng 4-1975.

Cũng vào tháng 4-1975, lúc đó cha của bà Dung là ông Minh đang làm đại sứ (Không dùng từ này) Hà Nội tại Nga Sô, mẹ của bà và đứa em út thì kẹt ở Sài Gòn. Với bao năm xa cách, với quan niệm về cuộc sống khác biệt, bà Phàm vợ ông Minh không hề có ý muốn ở lại Sài Gòn để chờ đoàn tụ với chồng. Ðặng Mỹ Dung từ Hạ Uy Di liền yêu cầu thiếu tá Krall tìm cách về Sài Gòn đón gia đình bà mẹ qua Mỹ. Khi ông Krall qua Sài Gòn đã lâu mà chưa có tin tức gì. Tại Hawaii, bà Ðặng Mỹ Dung lo sợ đã nói chuyện trực tiếp qua điện thoại cầu cứu với đề đốc Gaylor, tổng tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương tại Trân Châu Cảng. Lời nói chỉ vắn tắt báo cáo chuyện chồng bà về Sài Gòn để lo cứu gia đình sao chưa thấy qua, nhưng bà nói thêm một tin tức động trời, bà là con gái của đại sứ (Không dùng từ này) Việt Nam tại Mạc Tư Khoa.

Lập tức guồng máy quân báo của Hải Quân Hoa Kỳ chuyển động và cả FBI lẫn CIA nhập cuộc. Hệ thống tình báo Mỹ ghi nhận ngay đây là một đầu mối vô cùng quan trọng mà tại sao lâu nay không ai biết. Ngay cả lúc hồ sơ thành hôn của vị sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ cũng không ai lưu ý đến mối liên hệ huyết tộc của cô dâu nước Mỹ có đầu mối Hà Nội. Họ cứ tưởng đây chỉ là cô gái thuần túy Sài Gòn. Tiếp theo khi chuyến bay chở mẹ và em gái út của Ðặng Mỹ Dung ra khỏi Việt Nam do CIA Sài Gòn trực tiếp sắp đặt thì một khế ước bất thành văn đã bắt đầu. Mỹ Dung nợ khối tình báo Mỹ một yêu cầu. Cuộc đời điệp viên khởi sự. Khi bà Minh đã yên ổn tại Hoa Kỳ thì hơn 60 ngày sau Mỹ Dung dắt con nhỏ qua Nhật Bản thăm thân phụ đã hơn 20 năm xa cách. Guồng máy tình báo của thế giới tự do mở chiến dịch để Con Chim Xanh với Ngàn Giọt Lệ lên đường công tác.

Sơ lược chuyện phim.

Bây giờ xin mời khán giả trở lại Ðông Kinh của tháng 6-1976. Cánh cửa phòng họp riêng của đại sảnh Tokyo hé mở, một cán bộ ngoại giao của Hà Nội bước vào trình với thủ trưởng Ðặng Quang Minh: “Thưa đồng chí thủ trưởng, bà Việt kiều ở Mỹ và đứa con lai đã có hẹn xin vào gặp.” Ông Minh vẫn còn đang ngồi xem hồ sơ hội nghị, nói mà không nhìn lên: “Ðây là đại diện Hội Việt Kiều Yêu Nước đến để động viên và mừng đất nước thống nhất. Ðồng chí mời vào đi.” Ðặng Mỹ Dung bước vào cùng con gái nhỏ nép một bên.
Hơn 20 năm qua, lúc thân phụ ra đi, cô là đứa bé con. Giờ đây, đứa cháu ngoại lai Mỹ xinh đẹp mắt mở to nhìn người đàn ông xa lạ mà e ngại. Cuộc gặp gỡ riêng tư nhưng hết sức khách sáo. Cả cha con đều phải đóng kịch dù rằng trong lòng như lửa đốt. Trước khi chia tay, ông Minh nói nhỏ với con gái là sẽ thu xếp để gặp lại người vợ cũ là bà Phàm đã hiện di tản qua Hoa Kỳ.

Sau cuộc gặp gỡ lần đầu tiên vào tháng 6-1975, cuộc đấu tranh chiến tranh chính trị, tình báo và ngoại giao giữa hai cha con bắt đầu. Một bên là Việt Nam (Không dùng từ này) đã thống nhất và một bên là guồng máy tình báo Hoa Kỳ. Cả hai bên đều tìm cách mua chuộc lẫn nhau. Cuốn phim Ngàn Giọt Lệ Rơi thực sự sẽ có cả hàng trăm phân cảnh hết sức độc đáo để dàn dựng.

Chiến tranh tình báo.

Thủ trưởng Ðặng Quang Minh về báo cáo lên bộ chính trị và được Lê Duẩn đồng ý cho phép qua Paris gặp lại vợ con. Ông dự trù sẽ thuyết phục để đưa vợ con trở về Hà Nội dưới hình thức chiến thắng ngoại giao sau khi tuyên bố là gia đình ông ở Sài Gòn đã bị Hoa Kỳ áp đảo bắt phải di tản. Hà Nội chắc chắn một lần nữa sẽ đạt được một thành tích đánh bại Hoa Kỳ trên diễn đàn dư luận quốc tế. Phía Hoa Kỳ, Hoa Thịnh Ðốn đã cho phép CIA giúp đỡ hai mẹ con bà Minh qua Pháp để bắt nhịp cầu làm việc trực tiếp với tòa đại sứ (Không dùng từ này) Việt Nam tại Paris. Tình báo Mỹ chấp nhận nhập cuộc.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chính trị giữa (Không dùng từ này) và Hoa Kỳ đã trở thành một mối xung đột và mâu thuẫn trong nội bộ gia đình họ Ðặng, vượt ra khỏi tầm tay của những thế lực đằng sau từ cả hai bên. Ông Minh hết lòng thuyết phục bà vợ tao khang trở về với một đất nước nay đã thanh bình, độc lập, thống nhất và hoàn toàn chiến thắng. Ông thề thốt lấy cả cuộc đời ra để bảo đảm cho sự an toàn của bà và người con út cùng đi với bà.Nhưng bà Minh vẫn còn dè đặt và sau cùng quyết định ở lại Hoa Kỳ. Một quyết định sáng suốt mà sau này bà vẫn cho là hết sức may mắn.

Trong thời gian đó, phe (Không dùng từ này) hết lòng chiều chuộng móc nối với Ðặng Mỹ Dung với hy vọng cô sẽ thuyết phục bà mẹ. Và hơn nữa, dù bà Minh chưa muốn về Hà Nội nhưng Mỹ Dung với ảnh hưởng sẵn có trong quân đội Mỹ, có thể dễ dàng trở thành một nguồn tin đáng giá và tốt nhất là cô chuyển hộ các tài liệu trên đường hàng không từ Hoa Thịnh Ðốn qua Paris. Con Chim Xanh của Ngàn Giọt Lệ Rơi luôn luôn sẵn sàng hợp tác như là một người cảm tình với phe chiến thắng mà thân phụ của cô cũng góp phần.
Dần dân Mỹ Dung gián tiếp trở thành một phụ nữ Việt Nam yêu nước kết hôn với người Mỹ những vẫn hồn nhiên đóng góp công tác cho chính phủ Hà Nội và các tổ chức thân Cộng. Cũng vào thời điểm đó, sinh viên thân cộng Trương Ðình Hùng là con của luật sư Trương Ðình Dzu đang hoạt động cho tình báo (Không dùng từ này). Hùng du học Mỹ trước 1975 và tiếp tục ở lại Hoa Kỳ móc nối lấy tin tức từ bộ ngoại giao. Hùng rất tin tưởng ở sự thân hữu chặt chẽ của Mỹ Dung với Hà Nội và tòa đại sứ (Không dùng từ này) Việt Nam tại Pháp.

Ronald Humphrey là nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ được phép đọc tài liệu tối mật. Lúc còn ở Việt Nam, Humphrey lấy cháu gái Võ Thị Ðịnh, một nữ cán bộ quân sự của Giải Phóng Miền Nam. Hà Nội đưa điều kiện nếu Ronald muốn cho phép đem vợ qua Mỹ phải lấy hồ sơ mật của bộ ngoại giao Mỹ trao cho Trương Ðình Hùng. Hùng nhờ Ðặng Mỹ Dung chuyển tài liệu cho (Không dùng từ này) qua tòa đại sứ Việt Nam tại Paris Tài liệu Humphrey đưa ra qua tay Hùng đến Mỹ Dung thì CIA đổi thành tài liệu giả để chuyển qua Pháp.

Khi chính phủ Hoa Kỳ quyết định truy tố Trương Ðình Hùng và Humphrey thì cần có Mỹ Dung ra làm nhân chứng. Nếu như thế là cuộc đời gián điệp sẽ chấm dứt và đồng thời bà Dung phải chấp nhận mọi rủi ro thách đố về sau. Ðây là một quyết định khó khăn đối với một phụ nữ. Lần đưa mẹ ra khỏi Việt Nam, Mỹ Dung đã phải trả giá bằng cách bước vào con đường chông gai của nữ điệp viên. Lần này lại thêm một thử thách mới.

Sau cùng Mỹ Dung yêu cầu chính phủ Mỹ phải cam kết đưa cha và anh bà được vào Mỹ, trước khi phiên tòa bắt đầu. Việc này sẽ được thu xếp trước khi vụ gián điệp tại bộ ngoại giao được chuyển qua tòa án. Hồ sơ cam kết mật đưa lên tổng thống Carter xin chấp thuận. Guồng máy tình báo Hoa Kỳ lại mở chiến dịch mới.

Bà Mỹ Dung viết thư cho Lê Duẩn, tổng bí thư của dảng (Không dùng từ này) Việt Nam và Nguyễn Duy Trinh bộ trưởng ngoại giao Hà Nội xin cho cha là Ðăng Quang Minh qua London gặp gia đình vợ con vì bà Minh bị bệnh nan y có thể chết. Giáng Sinh năm 1977, Hà Nội chấp thuận cho ông Minh xuất ngoại. Trong hai tuần lễ sống bên cha, cả hai chị em bà Mỹ Dung thuyết phục ông Minh đi Mỹ nhưng không thành công. Cuộc tranh luận, phân giải trong gia tộc với nghĩa phu thê, và tình cha con của một gia đình Quốc Cộng đã kéo dài suốt mùa Giáng Sinh tại thủ đô sương mù London năm 1977. Ông Minh đã dành cả cuộc đời đi theo con đường của ông, đêm nằm trằn trọc cùng phòng với đứa cháu ngoại thân yêu.

Bà Minh suốt thời gian nghe con gái và chồng tranh luận mệt nhoài nên đã nói những lời sau cùng trước khi chia tay đôi ngả. Bà yêu cầu chồng và các con chấm dứt tranh luận, cãi cọ qua lại về chính trị, về chủ thuyết, và tương lai. Hãy ngồi với nhau lần cuối trong tình huyết tộc rồi đường ai nấy đi.Cuộc chia tay của hai phe đấu tranh chiến tranh chính trị trong một gia đình bây giờ chỉ còn toàn nước mắt của “Ngàn giọt lệ rơi.”

Sau cuộc họp mặt Giáng Sinh lịch sử 1977 của gia đình họ Ðặng, Hoa Kỳ quyết định đưa vụ án ra ánh sáng. Chính phủ Mỹ truy tố Trương Ðình Hùng và Ronald Humphrey mỗi người bị tù 15 năm. Cả hệ thống ngoại giao của (Không dùng từ này) Hà Nội bị lung lay, rung động từ đại sứ Ðinh Bá Thi tại Liên Hiệp Quốc cho đến đại sứ Ðặng Văn Sung tại Paris.

Câu chuyện gián điệp nữ Ðặng Mỹ Dung được viết lại thành ký sự bằng Anh ngữ nhưng CIA đã yêu cầu bỏ đi gần 200 trang trước khi in

Về sau ông Ðặng Quang Minh sống độc thân tại Hà Nội, thỉnh thoảng đi thăm mộ con trai là thiếu úy Ðặng Hải Vân của KQVNCH tại miền Nam. Ông mất năm 1986, hưởng thọ được 77 tuổi. Ðặng Văn Khôi, người con trai lớn theo ông tập kết ra Bắc có đến chào cha trước khi vượt biên, Ðoàn tụ với mẹ và các em ở miền Ðông Hoa Kỳ. Từ một sĩ quan của đơn vị phòng không quân đội nhân dân đã du học bên Nga, nay ông trở thành người tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ông sống độc thân, cho đến khi bà mẹ mất, rồi ông cũng qua đời mấy năm sau. Dù theo cha đi tập kết 1954, đi học bên Nga, sĩ quan của đơn vị phòng không tên lửa, nhưng ông không chịu vô đảng. Sau cùng ông chết theo mẹ trên miền dất tự do. Bà Minh sống với vợ chồng con gái là Ðặng Mỹ Dung. Khi được tin chồng chết, bà không muốn về chịu tang dưới nghi lễ của đảng (Không dùng từ này). Một lòng kiên quyết, bà muốn để cho chồng đi trọn con đường ông lựa chọn. Ông chết trong lòng đất quê hương, nơi có mộ phần con trai út của ông là sĩ quan miền Nam. Bà Minh qua đời khi nước Mỹ bước vào thế kỷ thứ 21. Có thể ngày nay ông bà đã cùng những người con trai phục vụ cho hai miền đất nước đang đoàn tụ ở một nơi không còn khác biệt về ý thức hệ.
Cuốn sách A Thousand Tears Falling hiện được một số giáo sư Hoa Kỳ dùng để dạy cho các trường trung học. Tác phẩm Ngàn Giọt Lệ Rơi sẽ được đến tay độc giả Bắc California cùng với chương trình 35 năm nhìn lại tại San Jose vào tháng 5-2010. Còn cuốn phim A Thousand Tears Falling của Giao Chỉ thì đang dự thảo. Cũng mới chỉ là một ý kiến mà thôi. Chỉ sợ rằng để lâu quá thời gian sẽ làm cho nước mắt đã khô hết cả mất rồi. Nhưng dù lâu hay mau, câu chuyện Ngàn Giọt Lệ Rơi sẽ rất xứng đáng để quay thành phim. Và hàng triệu giọt nước mắt sẽ chan hòa rạp hát. Vì vậy chúng tôi xin kể lại chuyện này nhân dịp tháng 4-2010, ba mươi lăm năm sau. [GC, 2010]

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 20 2010, 05:34 AM
Gửi vào: #7


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Phúc, Lộc, Thọ - Các cụ là ai ?
Tác Giả : Dương Duy Ngữ


Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn"


Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.
Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…
Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.
Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ diện phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…
Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.
Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc.
Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:
- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?
Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua.
Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy âm để dưỡng dương.
Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:
- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.
Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:
- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?
Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội.
Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?
Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.
Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 20 2010, 05:46 AM
Gửi vào: #8


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35





MỘt cách nhìn khác vỀ tinh thẦn dân tỘc

TS. Đỗ Ngọc Bích
Gửi cho BBC Việt ngữ từ ĐH Yale, Hoa Kỳ


Tác giả phản biện các quan điểm được cho là 'bài xích' Trung Quốc từ trong nước.
Trong vài năm gần đây, người dân Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại thường lên tiếng bài xích nhà nước (Không dùng từ này) Việt Nam, bênh vực những blogger dũng cảm đấu tranh vì Hoàng Sa - Trường Sa, rên rỉ rằng nhục quá vì Việt Nam dần dần cứ dâng đất cho Trung Quốc, vv.
Dân Việt Nam ở hải ngoại, đặc biệt là những người thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa phải tị nạn sau biến cố tháng 4/1975 'ghét' nhà nước (Không dùng từ này) Việt Nam và nhà nước (Không dùng từ này) Trung Quốc từ xưa thì rõ rồi.
Trung quốc đã hỗ trợ Bắc Việt Nam rất lớn trong cuộc chiến tranh Việt Nam, 'đánh bại' người Mỹ và 'lật đổ' chính thể Việt Nam cộng hòa.
Vì vậy không rõ là họ bài xích Việt Nam và Trung quốc là do sự thù hằn nội chiến đó, hay là thực sự muốn bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, đau xót uất hận khi thấy Việt Nam “mất đất”?
Song những người dân có tri thức ở trong nước, những blogger gần đây gặp vấn đề về chính trị mà phần đông là những thanh niên đầy tâm huyết và lý tưởng thì có lẽ khác.
Họ có vẻ như không bị ảnh hưởng bởi tư tưởng chống Cộng, chỉ đơn giản là yêu nước thôi. Thế mới có chuyện đáng bàn.
Chuyện đáng bàn
Một tranh cổ động hải quân Trung Quốc tại khu vực tranh chấp Hoàng Sa.
Những thanh niên này hầu hết đều lớn lên vào những năm 1980, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc có điều khiển của nhà nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, bài xích Trung Quốc, tố cáo Trung Quốc 'hơi nhiều.'
Họ không nhận ra được rằng Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc, chia sẻ nguồn gốc văn hóa và tư tưởng, và nhận được khá nhiều ân huệ từ Trung Quốc trong suốt hơn 20 năm chiến tranh (1950-1975).
Cho dù Trung quốc giúp Việt Nam là vì tính toán chính trị của họ, được giúp đỡ để chiến thắng cũng là điều tốt mà 'mình nên nhớ'. Câu “yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ti họ hàng” trong tình huống này có lẽ đúng.
Điều này làm tôi liên tưởng tới hàng vạn người Trung Quốc trong những năm 1990 đã là nạn nhân của cái gọi là "state-controlled nationalism" (chủ nghĩa dân tộc có sự điều khiển) khi họ đấu tranh lên án Nhật vì những điều đã xảy ra trong chiến tranh thế giới thứ II, đòi công bằng và chủ quyền với Nhật Bản.
Những thanh niên đó đã quá bị ảnh hưởng bởi tư tưởng chống Nhật trong Trung Quốc những năm dưới quyền Mao. Khi tình hình đất nước thay đổi, họ không thay đổi kịp.
Họ cũng đã bị công an Trung Quốc đàn áp, bịt miệng vì khi đó nội các Trung Quốc đang muốn giải quyết “ngoại giao cấp cao” với Nhật Bản và không muốn làm mất lòng các nhà đầu tư Nhật Bản.
Những thanh niên đó đã quá bị ảnh hưởng bởi tư tưởng chống Nhật trong Trung Quốc những năm dưới quyền Mao.
Khi tình hình đất nước thay đổi, họ không thay đổi kịp. Mao đã từng tuyên truyền rằng trong vụ thảm sát Nam kinh, hàng chục vạn người Trung Quốc đã bị giết, nhưng gần đây con số thống kê đó đã được đem ra xem xét lại về tính xác thực của nó.
Những blogger của Việt Nam bị bắt giữ gần đây cũng vậy. Họ không thích nghi theo kịp được môi trường ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc trong những năm 1990, vẫn tiếp tục sống trong cái “anti-China nationalism” (chủ nghĩa dân tộc chống Trung quốc hay bài Trung) của những năm 1980.
Câu hỏi đặt ra
Bản đồ hình 'lưỡi bò' được cho là bằng chứng về chiến lược và tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông.
Có một câu hỏi đặt ra là “Tại sao người dân thanh niên trí thức Việt nam có tư tưởng phê phán, sẵn sàng nghi ngờ, bác bỏ những điều mà nhà nước Việt Nam đang tuyên bố và thi hành, mà lại không sẵn sàng phê phán chính hiểu biết về lịch sử của họ hay những điều mà nhà nước Việt Nam tuyên bố và thi hành từ 50 năm trở lại đây?”
Chúng ta quen nghe “Lịch sử Việt Nam 4.000 năm dựng nước,” liệu có bao giờ tự hỏi xem cái con số 4.000 ngàn năm ấy lấy ở đâu ra? Liệu có đúng như vậy không? Mảnh đất Việt nam có hình thù thế nào trước thời Triệu Vương?
Một thực tế là lịch sử Việt Nam suốt hơn 2.000 năm từ thời Triệu Đà đến thời Nguyễn, cho dù thỉnh thoảng có tuyên bố "Sông núi nước Nam, Vua Nam ở," thì Việt Nam vẫn luôn là một phần của Trung Quốc.
Những blogger đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ đã bao giờ đọc Đại Việt Sử Ký, Đại Việt Sử Lược, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư hay Việt Nam Sử Lược ở dạng nguyên bản, chưa qua biên soạn, cắt xén chưa?
Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha... từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v...
Chúng ta đã bao giờ tự hỏi mình xem lịch sử Việt Nam mà chúng ta học có đúng là lịch sử không?
Những blogger đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ đã bao giờ đọc Đại Việt Sử Ký (Lê Văn Hưu), Đại Việt Sử Lược (tác giả khuyết danh thời Trần), hay Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên), hay Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim,) ở dạng nguyên bản, chưa qua biên soạn, cắt xén chưa?
Họ tin rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam trên cơ sở nào, hay chỉ biết thế từ sách giáo khoa lịch sử Việt Nam và từ các thông tin trên đài báo chính thống của Việt Nam lưu hành từ sau năm 1975?
Từ khi nào?
Một cuộc biểu tình của thanh niên trong nước đòi chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Chúng ta coi Trường Sa và Hoàng sa thuộc về Việt Nam từ khi nào?
Hiệp ước Tự Đức hiến đất Cochinchina cho Pháp (1862), Hiệp ước nhà Thanh thỏa hiệp với Pháp về quyền cai trị An-nam và Ton-kin (1885), hay các tuyên ngôn độc lập tự chủ sau này có nhắc đến chủ quyền của mấy cái đảo ấy không?
Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có bao giờ tuyên ngôn chủ quyền các đảo đó không, hay chỉ mãi đến năm 1974 mới điều hải quân ra trấn giữ và bảo vệ? Chúng ta đã bao giờ dành thời gian nghiên cứu xác nhận thông tin trước khi đấu tranh đòi chủ quyền chưa nhỉ?
Chủ nghĩa dân tộc mù quáng đôi khi cũng tai hại không kém gì chủ nghĩa bành trướng đế quốc vậy.
Chỉ biết là bắt đầu từ đầu thập niên 1970, khi giá trị của dầu mỏ trở nên rõ ràng, khi thông tin về trữ lượng dầu ở mấy đảo đó được xác nhận, và người ta nhận ra tầm quan trọng của việc xây dựng sân bay, điểm cất cánh trung chuyển và căn cứ quân sự ở Đông Nam Á, thì một loạt 6, 7 nước cùng xông vào nhận nó là của mình với những “bằng chứng lịch sử” đáng ngờ.
Xét cho cùng, đất nước Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam hiện nay có được là nhờ sự “mở mang bờ cõi” Nam tiến vào lãnh thổ Chiêm Thành, Khơ-me.
Lịch sử là vậy, đất đai dân cư di dời, sở hữu chuyển đổi, do thỏa thuận cũng như do xâm lấn.
Rút cục, có thể nói chủ nghĩa dân tộc mù quáng đôi khi cũng tai hại không kém gì chủ nghĩa bành trướng đế quốc vậy.
Bài viết phản ánh quan điểm và lối hành văn của tác giả với chuyên môn là tiến sỹ về Quan hệ Quốc tế và Hoa Kỳ học, hiện đang giảng dạy Việt học và tham gia dịch thuật các công trình sử học cổ, trung đại của VN tại Đại học Yale, Hoa Kỳ.

THƯ NGỎ GỬI VỊ TIẾN SĨ ĐẠI HỌC YALE


Đinh Kim Phúc


Nhân đọc bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích đăng trên BBC Việt ngữ ngày thứ bảy, 17 tháng 4 năm 2010, tôi có đôi điều muốn thưa chuyện cùng Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích.

Trước hết, đọc những dòng sau đây của Đỗ Ngọc Bích:

1. “Những thanh niên này hầu hết đều lớn lên vào những năm 1980, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc có điều khiển của nhà nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, bài xích Trung Quốc, tố cáo Trung Quốc ‘hơi nhiều”.

Thưa tiến sĩ, trong những năm cuối 1970 và đầu 1980 tiến sĩ đang ở đâu? Đang ở trời Tây trong giảng đường đại học hay nép mình trong góc phố an bình nào đó ở Việt Nam trong lúc hàng ngàn người dân Việt đã ngã xuống chống giặc để cho cô có mãnh bằng học vị hôm nay. “Chủ nghĩa dân tộc có điều khiển” là gì thưa tiến sĩ? Sao lời lẽ của tiến sĩ tương tự như bộ máy tuyên truyền chụp mũ trên Mạng Hoàn Cầu đến thế!

2. “Họ không nhận ra được rằng Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc, chia sẻ nguồn gốc văn hóa và tư tưởng, và nhận được khá nhiều ân huệ từ Trung Quốc trong suốt hơn 20 năm chiến tranh (1950-1975)”.

Cô tiến sĩ ơi, tôi tin rằng cho dù Cô được học và lớn lên trên đất Mỹ, nhưng giáo trình nào? tài liệu nào của Mỹ đã dạy cho Cô “Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc”? Sao tiến sĩ không nói luôn là “Việt Nam vốn bị Trung Quốc đô hộ tự nghìn xưa, là phần đuôi của Đại Hán?” Còn cái mà Cô gọi là “ân huệ” thì phải chăng Cô muốn cùng Giáo sư Lê Xuân Khoa thảo luận lại “ Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?”.

3. Thêm nữa, “Cho dù Trung quốc giúp Việt Nam là vì tính toán chính trị của họ, được giúp đỡ để chiến thắng cũng là điều tốt mà ‘mình nên nhớ’. Câu “yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ti họ hàng” trong tình huống này có lẽ đúng”.

Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích muốn nhớ, thì nhân đây tôi giúp cho Cô nhớ:

“Theo dõi việc đưa tin về Hội nghị Giơ-ne-vơ từ ngày đầu đến ngày cuối, tôi – và các nhà báo khác có quan hệ chặt chẽ với các đoàn xã hội chủ nghĩa – không nghi ngờ gì về việc đoàn Trung Quốc không ủng hộ mạnh mẽ đoàn Việt Nam. Nhiều năm sau Hội nghị, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn còn nói một cách trung thành: “các kết quả đã đạt được qua thảo luận và thỏa thuận chung”. Điều đó đúng sự thật theo nghĩa đen, nhưng không đúng sự thật thực sự, dù chỉ là một nửa.

Khi hội nghị thảo luận đến vấn đề quy định một giới tuyến để quân đội Pháp rút về phía Nam và quân đội Việt Minh rút về phía Bắc, ông Phạm Văn Đồng đề nghị một đường ranh giới dọc theo vĩ tuyến 13. Trong tình hình thảm hại của lực lượng Pháp sau thất bại Điện Biên Phủ, và số còn lại trong những lực lượng tinh nhuệ của họ thì đang bị bao vây ở đồng bằng Sông Hồng và các nơi khác ở miền Bắc, đó không phải là một đề nghị không phải chăng. Đề nghị đó sẽ cho Việt Minh có 100km biên giới chung với Cam-pu-chia và sẽ bù đắp lại việc họ không giành được một vùng tập kết cho các lực lượng Khơ-me I-xa-rắc. Nhưng, trước “chủ nghĩa thực tế” và “chủ nghĩa thực dụng” đó, từng bước ông Phạm Văn Đồng đã buộc phải lùi đường ranh giới của mình qua vĩ tuyến 14 (như vậy cũng vẫn cho Việt Minh có một biên giới nhỏ với Cam-pu-chia) , rồi qua vĩ tuyến 15 tới vĩ tuyến 16, tại đó ông kiên quyết giữ lập trường.

Đã hai lần trong lịch sử Việt Nam, vĩ tuyến 16 từng là ranh giới phân chia tạm thời. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, khi quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc kéo vào phía Bắc và quân đội Anh vào phía Nam (bề ngoài là để vây quét tàn dư của quân đội chiếm đóng Nhật và đưa chúng về Nhật), đường ranh giới giữa hai lực lượng này chạy dọc theo vĩ tuyến 16 và qua ngoại ô phía Nam của Đà Nẵng. Khi đất nước bị chia cắt giữa nhà Trịnh và nhà Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, đường ranh giới cũng chạy dọc vĩ tuyến 16 trở thành giới tuyến lô-gích – nếu cần phải có một giới tuyến.

Những người Pháp đòi một đường ranh giới dọc vĩ tuyến 17. Sau một cuộc gặp riêng giữa Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng mới của Pháp, Pi-e Măng-đét Phrăng và Chu Ân Lai, Chu ủng hộ lập trường của Pháp…

Chu Ân Lai nói rõ với người Pháp rằng Trung Quốc đến Giơ-ne-vơ trước hết là để bảo vệ lợi ích của chính mình chứ không phải lợi ích của các lực lượng cách mạng Đông Dương. Điều này trở nên sáng tỏ một cách tàn nhẫn trong một cuốn sách về Hội nghị Giơ-ne-vơ, dựa trên những tài liệu về Hội nghị chưa hề được công bố, của nhà viết sử và chuyên gia về Châu Á người Pháp Phrăng-xoa Gioay-ô – Tác giả kể lại một cuộc họp giữa Chu Ân Lai và An-tô-ni I-đơn tại Giơ-ne-vơ một ngày trước khi Bộ Ngoại giao Anh công bố quan hệ ngoại giao giữa hai nước sẽ được nâng lên hàng đại sứ.

“Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc đã nói riêng với I-đơn là ông ta nghĩ rằng có thể ‘thuyết phục được Việt Minh rút khỏi Lào và Cam-pu-chia’. Qua đó, Trung Quốc đã đi một bước rất dài theo luận điểm của người Cam-pu-chia, người Lào, người Anh và người Pháp. Điều đó bao hàm việc thừa nhận rằng Việt Minh đúng là kẻ xâm lược ở hai nước đó, ngược lại với luận điểm lâu nay của Việt Minh – đó cũng là coi các vấn đề Lào và Cam-pu-chia không giống như vấn đề Việt Nam. Ngoài ra, Chu Ân Lai còn nói sẵn sàng công nhận tính chất hợp pháp của các Chính Phủ Vương quốc Lào và Cam-pu-chia ngay khi nào ông ta được bảo đảm rằng không một căn cứ quân sự nào của Mỹ được xây dựng ở hai nước này”.

Trung Quốc thực sự đã quyết định quay lưng lại các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Lào và Cam-pu-chia để cầu xin ân huệ của các Chính phủ Anh và Pháp. “Nó cho phép trang bị quân đội chính phủ hiện nay đang đấu tranh chống du kích Pa-thét Lào và Khơ-me I-xa-rắc, và trong tương lai có thể đẩy lùi mọi hoạt động mới của Việt Minh ở bên ngoài biên giới Việt Nam”…

Bài phát biểu ngắn của ông Đồng tại phiên họp bế mạc phản ánh sự cay đắng của ông khi phải chấp nhận những quyết định do sự áp đặt của người khác, bè bạn cũng như đối thủ. Các nhà báo không được dự phiên họp này (cũng như mọi phiên khác), nhưng Gioay-ô đã tóm tắt những gì đã xảy ra:

“Ông Phạm Văn Đồng chỉ có một câu cám ơn hai đồng Chủ tịch, chứ không nói một lời nào biết ơn đối với Trung Quốc. Liệu có thể giải thích sự im lặng này một cách nào khác hơn là dấu hiệu về sự bất bình của Việt Minh đối với đồng minh của họ, những người tuy là nguồn ủng hộ vững chắc trong quá trình thương lượng, nhưng vẫn không ngần ngại tìm cách hạn chế những yêu cầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mỗi khi lợi ích dân tộc của chính họ đòi hỏi?”.

Tối ngày 22 tháng 7, ông Phạm Văn Đồng và các thành viên khác của đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến dự một cuộc chiêu đãi của Chu Ân Lai để “chúc mừng thắng lợi của Hội nghị”. Họ chờ đợi một cuộc “chúc mừng giữa những người đồng chí”. Họ rất ngạc nhiên khi thấy đoàn đại biểu Liên Xô đã không được mời, trong khi các đoàn đại biểu của “Hoàng đế” Bảo Đại, Vương quốc Lào và Cam-pu-chia lại có mặt. Chu Ân Lai trước hết nâng cốc chúc mừng Hoàng đế Bảo Đại rồi đến Vua lào và Vua Cam-pu-chia. Người phụ tá cao cấp của ông Phạm Văn Đồng (mà tôi đã trích dẫn trước đây) nói với tôi :

“Chúng tôi hầu như không thể tin ở mắt và tai mình nữa. Về sau, chúng tôi thấy vấn đề rõ hơn. Trung Quốc muốn các nước Đông Dương nằm trong túi mình, và hy vọng rằng ba Vương quốc ở đây sẽ được duy trì như những nước triều cống như kiểu Thiên hoàng trị vì đế quốc Trung Hoa với những quốc gia phiên thuộc! Trung Quốc không thể coi thường hơn nữa nội dung xã hội của các quốc gia ấy cũng như số phận của các lực lượng cách mạng ở đó – Nhìn lại những gì xảy ra sau này với Khơ-me đỏ ở Cam-pu-chia và việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam rõ ràng đã được khởi động bởi thái độ của Trung Quốc tại Hội nghị Giơ-ne-vơ và đặc biệt là cuộc chiêu đãi cuối cùng này”.

Chu Ân Lai đã bố trí để tại cuộc chiêu đãi các trưởng đoàn Cam-pu-chia và Lào, Tép Phan và Phủi Xa-na-ni-côn, ngồi cùng một bàn với vài phụ tá cao cấp của Chu Ân Lai. Tại bàn do Chu Ân Lai chủ trì, Ngô Đình Luyện (em Ngô Đình Diệm, người mới được CIA đưa lên cầm quyền ở Sài Gòn) được xếp ngồi giữa Phạm Văn Đồng và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngô Đình Luyện và Tạ Quang Bửu đã từng cùng học tại Pháp và Chu Ân Lai tìm hết cách làm cho hai người gợi lại những kỷ niệm thời thanh niên. Có lúc, Chu gợi ý Ngô Đình Luyện sang thăm Bắc Kinh. Khi Luyện hỏi sang đó dưới danh nghĩa nào, Chu Ân Lai trả lời: “Tại sao các ngài không đặt một công sứ quán ở Bắc Kinh?”. Nhận thấy ông Phạm Văn Đồng giật nẩy người phản ứng, Chu Ân Lai lạnh lùng nói rằng việc ông Phạm Văn Đồng gần gũi với Trung Quốc hơn về tư tưởng không loại trừ việc Sài Gòn có đại diện ngoại giao tại Bắc Kinh. “Dù sao, hai ngài đều chẳng phải là người Việt Nam cả sao, và tất cả chúng ta đây chẳng phải là người Châu Á cả đó sao?”. Đây nữa lại là một viên thuốc đắng mà ông Phạm Văn Đồng phải nuốt tại Giơ-ne-vơ. Lý do khiến Chu Ân Lai ủng hộ việc đẩy lùi càng lâu càng tốt cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nước đã trở nên quá rõ ràng. Trung Quốc quan tâm tới việc mở rộng ảnh hưởng của chính mình ở Sài Gòn hơn là giúp Việt Minh giành thắng lợi chính trị và tái thống nhất đất nước…

“Chúng tôi lẽ ra đã có thể giành được hơn nhiều, nhiều lắm. Chúng tôi đã thỏa thuận trước với người Trung Quốc về mọi vấn đề – nhưng Chu Ân Lai đã họp kín với Măng-đét Phrăng, và tất cả đều bị thay đổi. Nếu lúc đó chúng tôi cứ tiếp tục chiến tranh, thì có lẽ chúng tôi đã thắng và được tất cả. Phải nói rằng người Trung Quốc đóng một vai trò cực kỳ nguy hiểm trong suốt cuộc thương lượng, và đã phản bội chúng tôi một cách đê tiện nhất”.

Việc các nhà lãnh đạo Việt Nam giữ gìn điều bí mật về vai trò của Trung Quốc tại Hội nghị Giơ-ne-vơ là một điều đáng khâm phục về tính thận trọng, ý thức trách nhiệm và tinh thần đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa – nhưng cũng là một điều đáng tiếc là họ không thông báo rộng rãi trong một chừng mực nào đó những việc xảy ra sau hậu trường ở Hội nghị. Tôi đã từng theo dõi đưa tin về Hội nghị Giơ-ne-vơ, đã từng thường trú ở Hà Nội trong nhiều năm để đưa tin về việc thi hành các quyết định của Hội nghị, đã từng có vô số cuộc nói chuyện với Cụ Hồ Chí Minh, ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Nguyên Giáp và những người khác, nhưng tôi chẳng hề được một gợi ý xa xôi nào về những gì xảy ra sau hậu trường ở Giơ-ne-vơ, cho mãi đến khi Trung Quốc đã phạm điều phản bội tột cùng bằng cách xâm lược Việt Nam!…”(1)

4. Lại nữa: “Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có bao giờ tuyên ngôn chủ quyền các đảo đó không, hay chỉ mãi đến năm 1974 mới điều hải quân ra trấn giữ và bảo vệ? Chúng ta đã bao giờ dành thời gian nghiên cứu xác nhận thông tin trước khi đấu tranh đòi chủ quyền chưa nhỉ?”.

Thưa tiến sĩ, Cô đọc được tiếng Việt và tiếng Pháp không? Thôi thì tôi nhắc lại tài liệu sau đây bằng hai thứ tiếng Pháp-Việt cho Cô dễ hiểu:

Ngày 5.9.1951, trong phiên họp khoáng đại hội nghị thứ 2 của hội nghị San Francisco, đại biểu Liên Xô Andrei A. Gromyko sau khi chỉ trích tính cách bất hợp pháp và sự vô nghĩa của bản dự thảo hòa ước của Anh – Mỹ để ký với Nhật Bản đã đưa ra một đề nghị 7 điểm gọi là để hướng dẫn việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Điểm 6 đề nghị trao trả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này với 48 phiếu chống.

Hai ngày sau, ngày 7.9.1951 Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, đã lên tiếng tái xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước 51 phái đoàn ngoại giao như sau:

“Và nói một cách thẳng thắn rằng phải tranh thủ mọi cơ hội để chặn đứng những mầm mống gây xung đột, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vốn từ xưa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam”.

(“Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet Nam”)

Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái đoàn, không có một phái đoàn nào phản đối.

5. “Xét cho cùng, đất nước Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam hiện nay có được là nhờ sự “mở mang bờ cõi” Nam tiến vào lãnh thổ Chiêm Thành, Khơ-me.

Lịch sử là vậy, đất đai dân cư di dời, sở hữu chuyển đổi, do thỏa thuận cũng như do xâm lấn.

Rút cục, có thể nói chủ nghĩa dân tộc mù quáng đôi khi cũng tai hại không kém gì chủ nghĩa bành trướng đế quốc vậy”.

Xin thưa với Cô tiến sĩ Quan hệ quốc tế và Hoa Kỳ học:

Nếu dựa vào những lý lẽ “lịch sử” theo kiểu như vậy, tuy có phần hấp dẫn đối với cô nhưng rõ ràng sẽ mở ra một hộp Pandoras của những xung đột không thể nào giải quyết được.(2)

Một sách giáo khoa về luật pháp quốc tế của Michael Akehurst khái quát vấn đề chung đó như sau : “Đất đai chinh phục được ngày nay, hoặc ít ra đất đai do một kẻ xâm lược chinh phục, thì không thể được thừa nhận quyền sở hữu. Trong quá khứ thì được. Nhưng quyền sở hữu trước kia dựa vào sự chinh phục bây giờ có trở nên mất giá trị không? Nếu trở nên mất giá trị, thì kết quả sẽ rất là sửng sốt; nếu rút ra kết luận logic của việc đó, thì có nghĩa là bắt Mỹ sẽ trả lại cho người Idian da đỏ, và người Anh sẽ phải trả lại nước Anh cho người xứ Welsh”.(3)

Những ví dụ như vậy có thể nhân lên không bao giờ hết. Kết luận mà phần đông các nhà cầm quyền đạt được là những khái niệm về luật pháp quốc tế không thể áp dụng lui trở lại cho các cuộc xung đột trong quá khứ để làm mất giá trị pháp lý của những biên giới ngày nay được.

Những vấn đề đó đặc biệt gay gắt trong các thuộc địa cũ của các cường quốc thực dân Châu Âu. Akehurst nhận xét : “Những biên giới thuộc địa, được vạch ra bằng vũ lực trong các thế kỷ trước, ngày nay phần lớn đã trở thành những biên giới của những nước mới độc lập, mà không nước nào muốn thấy biên giới của họ bị đưa ra đặt vấn đề lại. Các nước Mỹ la tinh và Á-Phi, với một cái ngoại lệ (như Trung Quốc chẳng hạn) đã đồng ý rằng các biên giới thuộc địa phải được tiếp tục sử dụng, theo luật pháp quốc tế, như những biên giới sau độc lập. Ở Mỹ la tinh, điều đó được hiểu là nguyên tắc Utipossidetis, nghĩa là :Như bạn đã sở hữu, bạn sẽ tiếp tục sở hữu”(4). Các biên giới thuộc địa, nhất là ở Châu Phi thường không theo thiên nhiên, không tính đến sự phân chia của bộ tộc và cắt qua các khu vực thuộc cùng một đơn vị kinh tế, nhưng vì các quốc gia mới được độc lập không thể đồng ý vạch lại một cách triệt để các biên giới nên khôn khéo hơn cả là duy trì các biên giới hiện có để tránh tình hình mất ổn định và xung đột.

Như vậy, lý luận như tiến sĩ thì nước Mỹ cũng là một phần của Trung Quốc như một vị tướng Trung Quốc từng tuyên bố gần đây.

6. Cuối cùng, “Những blogger đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ đã bao giờ đọc Đại Việt Sử Ký, Đại Việt Sử Lược, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư hay Việt Nam Sử Lược ở dạng nguyên bản, chưa qua biên soạn, cắt xén chưa?”

Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…

Chúng ta đã bao giờ tự hỏi mình xem lịch sử Việt Nam mà chúng ta học có đúng là lịch sử không?”

Một câu hỏi thật bất ngờ, tôi không tin rằng ở một trường đại học danh tiếng của Mỹ lại có một giảng viên ngạo mạn và kém cỏi về lịch sử nước nhà đến thế.

Thưa tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích, đọc những quan điểm và cách đặt vấn đề về lịch sử của Cô, chúng tôi không thể không nghi ngờ về trình độ hiểu biết sơ đẳng cũng như tự hỏi rằng Tiến sĩ Đỗ Ngọc Bích hẳn phải là một người Hoa xa xứ Trung Quốc?

Chào trân trọng




Chú thích:

(1) Wilfred G. Burchett, China, Cambodia, Vietnam Triangle, Vanguard Books, 1982.

[ Tam giác Trung Quốc – Campuchia – Việt Nam, NXB TTLL, HN, 1986].

(2)- Theo thần thoại Hy Lạp, Pandoras là người đàn bà do Thần lửa tạo ra và bị đưa xuống để trừng phạt trần gian đã lấy trộm lửa. Thần Zeus cho chị ta một cái hộp, khi mở ra thì đủ tất cả các thói hư tật xấu bay ra làm ô nhiễm cả thế giới. Hộp Pandora do đó có nghĩa là vật hào nhoáng nguy hiểm.

(3), (4)- Grant Evans – Kelvin Rowley. The Red Brotherhood at war (bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Tấn Cưu – Chân lý thuộc về ai?), NXBQĐND, 1986.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 20 2010, 05:49 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 21 2010, 01:09 AM
Gửi vào: #9


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Hội Thảo 'Việt Nam , 35 Năm Nhìn Lại' tại Washington D.C

'Theo thời gian, sự thật lịch sử sẽ được phơi bày'


WASHINGTON D.C. - Sáng sớm ngày 9 tháng Tư, gần 200 người, trang phục chỉnh tề, tụ tập tại phòng họp lớn của Câu Lạc Bộ Hải Quân Hoa Kỳ, tọa lạc trên đường 17th Street Northwest, ngay trung tâm thủ đô.

Họ là những người Mỹ gốc Việt, sử gia, học giả, chính trị gia, giáo sư các trường quân sự, cựu quân nhân và sĩ quan các cấp, cựu đại sứ, cố vấn, của hai quốc gia Hoa Kỳ, và Việt Nam trước đây (VNCH).

Họ đến từ nhiều nơi, từ California , Canada , Florida , Texas ... để tham dự cuộc hội thảo có tên: “Việt Nam , 35 Năm Nhìn Lại” (“ Vietnam – a 35 Year Retrospective Conference”).



Toàn cảnh buổi hội thảo Việt Nam-35 Năm Nhìn Lại. (Hình: Hà Giang)


Họ đến để cùng nghe, cùng tìm hiểu và cùng nói lên sự thật về “Chiến Tranh Việt Nam,” cuộc chiến đã gây không biết bao nhiêu tranh cãi, và ngộ nhận trong suốt 35 năm qua.

Những ngộ nhận và những sự thật về cuộc chiến này là gì? Lý do nào thực sự khiến Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh Hoa Kỳ thua trận?

Mở đầu buổi hội thảo, cựu đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm, nói: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bày.”

“Thời gian thật lâu,” là bao lâu? Ba mươi lăm năm có thể được xem là “đủ lâu?”



Cựu Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ trong cuộc hội thảo Việt Nam - 35 Năm Nhìn Lại: “Người thắng trận có quyền viết lịch sử theo ý họ, nhưng qua một thời gian thật lâu, thì lịch sử thật sự sẽ được phơi bầy.” (Hình: Hà Giang)

Tiến sĩ Stephen Randolph, cựu đại tá không quan Hoa Kỳ, hiện là phó khoa của Đại Học Không Quân Quốc Gia, tác giả cuốn sách có tên: “Powerful and Brutal Weapons: Nixon, Kissinger, and the Easter Offensive,” do Havard University Press xuất bản, cả quyết: “Năm 1972, trong một cuộc gặp gỡ tại Tòa Bạch Ốc, Henry Kissinger báo cho tổng thống Johnson biết là tình báo Hoa Kỳ khám phá rất nhiều xe vận tải chứa vũ khí tối tân tại miền Bắc Việt Nam, tiêu hủy những chiếc vận tải này là việc rất dễ, nhưng nếu chậm trễ để cho chỉ một chiếc xe vận tải này lọt vào Việt Nam thôi, thì Nam Việt Nam sẽ khốn đốn.”

Cũng theo lời tiến sĩ Stephen Randolph, thì Henry Kissinger nói rằng tổng thống Johnson lúc đó “băn khoăn, đi ra đi vào mãi” mà không quyết định được, lý do là vì Hoa Kỳ sắp hội thảo với Bắc Kinh trong vòng mười ngày nữa.

Cuối cùng, Tổng Thống Johson quyết định làm lơ với tin tình báo này.

“Tổng thống (Johnson) sợ là phá hủy vũ khí của Bắc Việt sẽ ảnh hưởng không tốt đến tương quan với Bắc Kinh.”


Tiến sĩ Stephen Randolph kết luận, rằng Việt Nam và Hoa Kỳ thua cuộc “là vì lý do chính sách,” và vì Hoa Kỳ lúc đó “has bigger fish to fry” (đang câu con cá lớn hơn).

Ngậm ngùi, ông nói: “Đây là nhận thức mà tôi biết rằng sẽ ám ảnh tôi cho đến suốt cuộc đời.”

Ngoài một vài tiếng thở dài, cả phòng họp dường như yên lặng sau lời tâm sự của ông.

Cuộc hội thảo hoàn toàn bằng Anh ngữ cũng đã dẫn cử tọa đi ngược thời gian, chứng kiến những trận đánh quan trọng của chiến tranh Việt Nam, qua lời kể của những nhân chứng sống, cũng như những tài liệu tham khảo, trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, trận chiến An Lộc, kỳ công tái chiếm cổ thành Quảng Trị.

Bằng giọng kể vừa linh hoạt vừa đầy xúc cảm, Trung Tá (lieutenant colonel) biệt cách dù Nguyễn Văn Lân, lãnh đạo của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vẽ lên một cách sống động trận chiến An Lộc, mà tiến sĩ Jim Willbanks cho là “trận đánh quan trọng nhất trong chiến tranh Việt Nam.”

“Thời điểm 1972, Bắc Việt rất tin là họ sẽ chiếm được miền Nam, vì chính sách “Việt Nam Hóa” chiến tranh của Hoa Kỳ đã cho Bắc Việt nhiều lợi thế, cả về quân sự lẫn chính trị.”

“Binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn phương chống cự với một đạo quân đông gấp bội, và hỏa lực ngày càng hùng hậu và tối tân do Nga và Tàu cung cấp.”

Trung Tá Nguyễn Văn Lân nói.

“Thế nhưng, lòng quả cảm của quân đội VNCH đã khiến chúng ta đẩy lui được quân Bắc Việt, dù phải chịu thiệt hại nặng nề.”

Chỉ lên tấm hình một nghĩa trang ngút ngàn thập tự giá, Trung Tá Nguyễn Văn Lân chia sẻ: “Không gì đau lòng hơn cảnh nhìn các binh sĩ của mình tìm cách chôn cất đồng đội, trong khi chính bản thân họ cũng đang cận kề cái chết.”

Rồi ông đọc một câu thơ do một phụ nữ trong vùng làm tặng các chiến sĩ bỏ mình vì thương cảm trước hoàn cảnh bi đát của họ:

“An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Kích Dù… vị quốc vong thân…”

Cử tọa xúc động khi ông nghẹn lời, run giọng, không đọc rõ nổi bốn chữ “Vị Quốc Vong Thân.”

“Đã đến lúc phải trả lại sự thật cho lịch sử. Chúng ta phải cho các thế hệ con cháu biết là cha ông chúng đã anh dũng hy sinh để bảo vệ đất nước, để họ không bao giờ phải hỏi tại sao chúng ta đã thua trận. Chúng ta không thể để cho những người đã nằm xuống phải tức tưởi.”

Ông kết luận.

Nếu lòng quả cảm, ý chí bảo vệ bờ cõi đến giọt máu cuối cùng, và sự hy sinh anh dũng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bên cạnh đồng minh Hoa Kỳ được làm sáng tỏ, thì mặt khác, cử tọa cũng được các diễn giả cho thấy rõ quyết tâm tiến chiếm Miền Nam của quân đội miền Bắc, bên cạnh sự hỗ trợ ngày càng cao của hai nước Nga Sô và Trung Quốc.

Giáo sư kiêm học giả Nguyễn Ngọc Bích trình bày cuộc thảm sát, rằng Bắc Việt “chối bỏ cáo buộc là chính họ ra lệnh cho cuộc tổng tấn công và thảm sát,” và “đổ tội cho những hành động riêng lẻ của cấp dưới.”

Ông cũng nói đến vai trò của giới truyền thông trong việc tạo nên những ngộ nhận về cuộc chiến, qua biến cố Mậu Thân, “cuối cùng dẫn đến quyết định bỏ rơi Việt Nam của Tổng Thống Johnson.”

Trong một buổi hội thảo có mặt của biết bao nhân vật có tầm cỡ của cả hai chính quyền, sự có mặt và phần trình bày của thứ trưởng John Negroponte được nhiều người chú ý nhất, và ông cũng là người được nhiều người và các cơ quan truyền thông đặt câu hỏi “hóc búa” nhất.

Trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Người Việt, rằng ông nghĩ gì về nhận định cho rằng việc Mỹ bỏ rơi đồng minh đã dẫn đến việc thua trận của họ và miền Nam Việt Nam, ông trả lời: “Hoa Kỳ đã hỗ trợ Việt Nam từ năm 1950 cho đến năm 1975, khi đã hỗ trợ nhau một thời gian dài như thế thì không thể gọi là bỏ rơi được. Chỉ là vấn đề lúc đó Tổng Thống Johnson đã quá kiệt sức, không “deal” nổi với cuộc chiến đó nữa.”

“Nên nhớ là sau đó Johnson quyết định không tái ứng cử nữa. Ông đã quá mệt mỏi!”

Cuộc hội thảo có sự góp mặt của một danh sách hùng hậu nhiều diễn giả có tầm vóc, và các nhân chứng sống của cuộc chiến như: Sử Gia Dale Andrade (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, người đã viết ba cuốn sách về cuộc chiến Việt Nam: “Ashes to Ashes: The Phoenix Program and the Vietnam War”, “Spies and Commandos: How America Lost the Secret War in North Vietnam”, and “America’s Last Vietname Battle: Halting Hanoi’s 1972 Easter Offensive”), Tiến sĩ John Carland (Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, và là một chuyên gia nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam), ông Hoàng Đức Nhã (cựu Bộ trưởng bộ Thông Tin VNCH), Đại Tá Cảnh Sát Trần Minh Công, Đại Tá Hoàng Ngọc Lung...

Nhiều người tham dự ra về trong tiếc rẻ, vì khó có thể tóm tắt quá nhiều sự kiện quan trọng của một cuộc chiến đã làm thay đổi bàn cờ thế giới trong vòng một ngày, nhưng ai cũng đồng ý, đây là bước đầu trong việc trả sự thật cho lịch sử, và danh dự cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh, cũng như ghi ơn những người đã nằm xuống.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Aug 23 2010, 10:54 AM
Gửi vào: #10


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Thế giới bí mật của các triệu phú Hoa Kỳ




Khi báo Forbes công bố Hoa Kỳ là xứ có nhiều triệu phú đô la nhất thế giới thì chuyện này không làm ai ngạc nhiên, vì một xứ có GDP bằng hàng trăm quốc gia nhỏ trên thế giới cộng lại mà …nghèo thì mới là chuyện lạ!

Chuyện lạ là có nhiều người đã hiểu sai đời sống các triệu phú Hoa Kỳ. Thật ra cũng đúng thôi, vì đại đa số các triệu phú này sống ‘làm thinh’ như mọi người, không ném tiền qua cửa sổ như các đại gia ở Nga, Tàu, Ba Tây, Ấn Độ thi làm sao bạn và tôi biết được anh ta có vài chục triệu đô bỏ nhà băng?

Claire Bradley, một người bỏ công sưu tầm tài liệu và nghiên cứu về các triệu phú USA, mới đây có bài viết về 7 huyền thoại chúng ta hay gán cho các triệu phú đô la như sau:

Đầu tiên chúng ta cứ tưởng các triệu phú (TP) trốn thuế. Bạn cần biết số TP chỉ chiếm 1% của những người kiếm ra tiền ở đất Mỹ, lại trả thuế bao trùm đến 40% toàn bộ số thuế hàng năm dân chúng Mỹ trả cho Sở Thuế chính phủ! Dĩ nhiên cũng có những tay nhà giàu ‘ma bùn’ qua mặt, nhưng đa số đều bị hỏi thăm sức khỏe và bị phạt gãy lưng!

Thứ nhì là không phải các TP đã ẵm nhẹ gia tài của mẹ gì cả. Theo quyển “The Millionaire Next Door: The Surprising Secrets of America’s Wealthy” của Thomas J. Stanley thì chỉ có 20% toàn bộ các TP là có hưởng gia tài.

Rất nhiều trự nhà giàu đã từ tay trắng gây dựng cơ đồ. Đó là những người bình thường phải đi làm full time như mọi kẻ khác. Không có chuyện một người thân TP ngã ra chết thì chỉ một đêm là con cháu trở thành một người ngồi trên đống bạc, ai cũng phải làm việc rất cực.

Kỳ cục nhất là khi chúng ta cứ tưởng các TP sẽ thấy mình giàu và an toàn thì thực tế họ hết sức âu lo, nào là thuế má, tiền học đại học của con cái và mortgage ra làm sao, y hệt như một người bình thường khác. Người nào mới giàu thì mối lo lắng hồi hộp càng tăng cao hơn thấy rõ!

Đa số các TP đều tốt nghiệp đại học, khoảng 80%. Có chừng 18% có bằng master. Có khoảng 50% “đi làm lương cao”, và phần còn lại tự sở hữu một doanh nghiệp nhỏ, tự quản lý “lời ăn lỗ chịu”

Khác với các TP ở nhiều quốc gia có nhiều “nouveau riche” như Nga, Tàu, Ấn Độ, Ba Tây, nơi mà “dấu ấn đẳng cấp” phải là chạy xe Ferrari hay Roll-Royces bóng cáu cạnh, đa số các TP Hoa Kỳ lái xe…Ford. Có sang hơn chút nữa thì họ rớ tới chiếc Cadillac, thậm chí có nhiều tay không đi “con Mẹc”(Mercedes) hay “con Bì” (BMW), mà chỉ sắm chiếc Lincoln mới là chán mớ đời Tám Tàng à!

Thực ra các TP Hoa Kỳ không “đánh giá cao” xe hơi vì họ biết xe hơi không phải là nguồn đầu tư có lợi. Một xe Roll-Royces “bóng nhỡn nhơ” giá trên 300,000 đô la vừa chạy ra khỏi hãng đã mất ngay gần 40% giá trị của nó thì đầu tư làm gì!

Các TP cứ lẩn quẩn bên các sân golf suốt ngày, với điếu xì gà tổ bố trên môi là hình ảnh sai lầm. Chỉ có 20% các TP Hoa Kỳ là người về hưu mà thôi. Các TP khác đều “đi cày” như chúng ta. Bạn đừng tưởng ngồi không rồi “tiền sinh ra tiền”, các TP cũng vất vả kiếm tiền như mọi người vậy. Không đi làm thì làm sao tiền chạy vào các trương mục ngân hàng?

Như thế các nhà TP Hoa Kỳ không phải là loại người lạ lùng gì hết. Họ là các anh Joe bình thường, đi làm, có con, lo lắng và dĩ nhiên…ngã bệnh như chúng ta. Có thể họ là người giỏi giang xuất sắc, nhưng phần đông do “đổ mồ hôi, xót con mắt” chứ không làm gì sai trái, đó là chưa kể đại đa số đóng thuế đàng hoàng nữa.

Ngày nay các TP Hoa Kỳ là những người sống bình thường trong phạm vi tài sản (có những ngoại lệ như tỉ phú Warren Buffet giàu hạng nhì thế giới mà lại ở căn nhà ngày xưa ông bà mua có 32,000 đô la và đi xe cũng…tệ hại không kém)

Họ chi xài khá khôn ngoan, không hề ném tiền qua cửa sổ, thậm chí có người còn có ý thức tiết kiệm nữa. Những thói quen tốt đẹp đó đã trở thành một thứ kỷ luật mà họ theo gần như suốt đời.

Hoa Kỳ là quốc gia tốt đẹp nhất thế giới về chuyện các khả năng mở ra bình đẳng với tất cả mọi người. Ai cũng có thể trở thành TP, nếu chí thú làm ăn và đầu tư khôn ngoan.

Vậy thì nếu Tám Tàng có lái chiếc xe Ford đời… Bảo Đại thì cũng không nên tủi thân làm chi. Nếu Tám Tàng sống ở Mỹ thì có thể Tám sẽ là triệu phú đô la nếu “hội đủ điều kiện”như vừa nêu, hay con và cháu của Tám sẽ đếm tiền không xuể nếu Tám dạy tụi nó là việc làm giàu là bình thường ở xứ Cờ Hoa này!

No regret!

Hồng Quang



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 4 2010, 01:23 AM
Gửi vào: #11


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



NO HURRY DAY!

MỘT NGÀY KHÔNG VỘI VÃ!




..... " 'Nếu chỉ còn một ngày để sống
Chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp
Phải chăng ta sống quá vội vàng
Nên ra đi chưa được bình an.....''

Mỗi năm một lần , tôi về thăm Mẹ và các em hiện đang sống ở Montréal, Canada. Năm nay cũng như thuờng lệ, tôi về thăm nhà 2 tuần cuối tháng 6. Nói sao cho hết niềm vui gặp lại gia đình. Montréal vào mùa hè thật nóng bức, có ngày lên đến hơn 100 độ F, nên cả nhà thường rủ nhau đi ra ngoài chơi cho mát mẻ.

Tôi còn nhớ sáng hôm đó, cả nhà định dẫn mấy đứa cháu ra công viên cho tụi nhỏ hưởng chút khí trời. Tôi thì đã thay quần áo từ lâu, cứ chờ mãi mà mọi người cứ "xàng qua xàng lại", gần 9 giờ vẫn chưa xong, nhất là mấy đứa nhóc thì cứ lăng xăng chơi game, không ai chịu thay quần áo.

Thế là tôi bắt đầu nổi quạu: "Nhà mình sao làm gì cũng như rùa bò vậy? Có đi hay không thì bảo ... ?

Cô em tôi nhỏ nhẹ: "Thì từ từ, vacation mà lị, chị sống ở Mỹ riết rồi quen thói "stress out" hà ... ".

Cậu em trai thì nói: "Chị làm gì mà dữ vậy, chị có biết hôm nay là "Ngày không vội vã" hôn ?

Tôi ngạc nhiên, tưởng tai mình nghe lầm, nên hỏi lại: "Ngày gì ? Không vội vã là sao?".

Thế là Má tôi bật tivi lên. Trên màn ảnh, đài nào cũng đang nói về cái ngày đặc biệt này. Ồ, thì ra là từ vài năm nay, mỗi năm chính phủ Canada chọn ra một ngày, thường là vào mùa hè, một ngày cuối tuần, và năm nay rơi vào ngày 26 tháng 6, gọi là "Một ngày không vội vã".

Khoảng chừng vài tuần truớc đó, là báo chí, các cơ quan truyền thông đều loan báo và nhắc nhở để mọi người chuẩn bị. "Ngày không vội vã" bắt đầu từ 8 giờ sáng cho đến 9 giờ tối. Mọi người được khuyên là "Bạn hãy ngủ cho thẳng giấc, thức dậy khi nào mình muốn. Hãy nhâm nhi tách cà phê, và ngồi ngắm khu vườn của bạn, nghe tiếng chim hót líu lo. Hãy đi ra ngoài nếu bạn thích, vào ăn trưa ở một restaurant nào mà bỗng dưng bạn muốn. Còn nếu không, bạn có thể mời bè bạn đến nhà làm BBQ. Bạn cũng có thể chạy xe đạp một vòng thành phố, hay nằm dài trên bãi cỏ của một công viên gần nhà, vân vân và.... vân vân" .

Tóm lại, chính phủ khuyến khích người dân : "Hãy enjoy từng phút giây hạnh phúc, bình an của ... một ngày không vội vã. Hãy biết sống và tận hưởng Hạnh phúc ở quanh ta", như lời của một người phóng viên trên đài tivi đang nói.

Rồi còn có các màn phỏng vấn vài người dân , hỏi xem họ dự định sẽ làm gì trong cái ngày đặc biệt này trong năm, thì đa số câu trả lời đều là "spend time với gia đình, người thân".

Có một cảnh trên màn hình làm tôi nhớ mãi. Hình ảnh một cụ già tóc bạc phơ, lụm cụm trả lời phỏng vấn với nụ cười móm mém: "Tôi luôn mong đợi và yêu nhất cái ngày này trong năm, vì đó là ngày duy nhất mà tất cả con cháu tôi không ... bận rộn, chúng nó tề tựu đông đủ để họp mặt với tôi. Cám ơn chính phủ, cám ơn ân nhân nào đã "đặt ra" cái ngày ý nghĩa này...".

Thế là bỗng dưng tôi đổi ý. Tôi bảo gia đình: "Hôm nay là ngày đặc biệt, vậy thôi mình làm chương trình gì special đi nhe....".

Thế là cả nhà nhao nhao hưởng ứng, người thì bảo "khỏi nấu cơm, đi ăn tiệm cho khỏe", kẻ thì nói "nhà hàng đông lắm, đi xuống downtown chơi".

Em trai tôi thì muốn đi xe đạp ( ở Montréal có rất nhiều bãi cho mướn xe đạp, bạn chỉ cần "quẹt" cái credit card vô là có thể lấy xe đạp đi ngay) .

Mấy cháu nhỏ lại muốn đi tàu BateauMouche. Rồi lại có ý kiến đi câu cá, hay đi xe ngựa một vòng thành phố. Và thế là giơ tay biểu quyết. Cuối cùng thì đa số thắng thiểu số: đi xuống Vieux-port (khu phố cổ) chơi và sẽ đi tàu BateauMouche. Thế là chúng tôi lên đường, thảnh thơi, không vội vã.....

Đường xuống phố đông nghẹt, và kẹt xe, thế mà không một xe nào bóp kèn. Thiên hạ ngồi trong xe, an nhiên chờ đợi, còn mở cửa kiếng xuống nhìn nhau cười, và vẫy tay "No hurry ! Be happy!''. Tôi thật sự "thấm" được thế nào là ý nghĩa của 3 chữ "Không vội vã! ".


Đến chừng xếp hàng mua vé đi tàu, thì lại là một hàng thật dài, trong cái nắng gắt của mùa hè. Vậy mà ai ai cũng cười, cũng nói, cũng bắt tay, với cả những người ... không quen biết. Dường như con người ở đây, ngày hôm nay, không ai bị stress cả. Cả một thế giới hoà bình, thanh thản quanh tôi ...

Lúc bước xuống tàu, David, thằng cháu nhỏ 5 tuổi hối hả muốn chạy đến dành chỗ, thì bị Christina - cô cháu 4 tuổi , "chỉnh" ngay: "David ! Bữa nay là "No hurry day" mà, sao David cứ hurry hoài vậy?", làm cả nhà cùng cười. Tôi cũng bật cười theo vì sự nhận thức dễ thương của cô bé này. Trưa đến, đói bụng, chúng tôi ghé vô một nhà hàng Tàu. Lại đông nghẹt khách, nhưng ai ai cũng vui vẻ xếp hàng đợi đến lượt mình. Đang đứng chờ thì người bên cạnh tôi, một phụ nữ Quebécois bắt chuyện hỏi tôi đã làm gì ngày hôm nay. Tôi kể lại một ngày vui chơi với gia đình cùng các cháu. Bà cười, chỉ hai người con: "Chồng tôi mất lâu rồi, năm nào vào ngày này, tôi cũng để tụi nó quyết định muốn đi đâu, làm gì... Cuộc sống mà, có gì mà phải vội vã ...". Rồi bà tiếp: "Như trưa nay nè, bỗng dưng con gái tôi thèm ăn món lẩu Tàu, thế là chúng tôi vô đây, xếp hàng, nghe nói nhà hàng này món nào cũng ngon lắm!". Tôi gật đầu đồng ý và cảm thấy vui vui trong lòng......

Ăn no xong, thì đến chiều. Không ai muốn về nhà, thế là kéo nhau ra park chơi. Nhìn quanh, thiên hạ đông như kiến , tự dưng tôi thấy lòng mình vui chi lạ. Trải tấm chiếu trên bãi cỏ, tôi nằm xoải người, vươn vai một cái thật đã. Dường như hơn 10 năm sống trên đất Mỹ, tôi chưa hề có được cái "đã" nào như thế này. Cứ để mặc tụi nhỏ tha hồ chơi xích đu, cầu tuột, chạy chơi, la hét ... tôi nằm đeo cặp mắt kính mát, tận hưởng từng làn gió thoảng qua một cách khoái chí, do ... nothing , lim dim ... ngẫm nghĩ sự đời. Kể cũng lạ, nhờ có cái ngày này, mà tôi mới nhận ra là hình như trong đời , tôi chưa hề bao giờ có được một ngày không ...vội vã ...

... Sinh ra và lớn lên ở Saigòn, trong một gia đình nghèo, nên tôi biết rất rõ là chỉ có ráng học thì mới có thể giúp tôi thoát khỏi cái kiếp nghèo muôn thuở đó. Ngay từ nhỏ tôi đã rất hiếu học. Từ lớp tiểu học, đến phổ thông, rồi đại học, cả đời tôi chỉ biết có sách vở, và suốt ngày chỉ cắm đầu cắm cổ mà học. Tuổi thơ tôi chưa hề có một ngày không vội vã. Hôm nào cô giáo bệnh , được nghỉ và về sớm , trong khi các bạn bè cùng trang lứa lăng xăng tìm chỗ đi chơi, hay la cà các hàng quán , thì tôi lại vui mừng vì..... có thêm giờ để học bài. Tôi hối hả đạp xe về nhà, rửa mặt vội vàng và ngồi vào ngay bàn học. Bài thi nào cũng vậy, được 9 điểm là tôi buồn, vì phải điểm 10 cơ thì tôi mới chịu. Mọi người luôn bảo là tôi thích sự tuyệt đối, và như vậy thì đời tôi sẽ khổ...

Vào đại học, 5 năm, tôi lại chưa hề có được một ngày không vội vã. Lúc nào tôi cũng bận rộn, với bài vở và với những cuộc thi. Tôi luôn tham lam, mong muốn mình phải đạt điểm 10 trong mọi bài thi. Tôi sẵn sàng thức khuya, dậy sớm, miễn sao đạt được điểm tối đa là tôi vui. Có lần nhỏ bạn thân bảo tôi một câu chí lý: "Học mà không chơi giết mòn tuổi trẻ. Chơi mà không học giết cả tuơng lai.....". Tôi nói ngay: "thì bởi vậy, tao học nè, chỉ có cái học mới giúp mình thoát ra khỏi nghèo khó". Nhỏ bạn cười: "Tao thì chọn ... cả hai, vừa học vừa chơi, miễn sao không thi lại là "đủ xài" rồi, rồi mai này mày sẽ hối tiếc khi tuổi trẻ trôi qua uổng phí ... ". Tôi chỉ cười, nhưng bây giờ mới nhận ra là nó có lý ...

Ra trường ở Canada, đi làm, tôi lại lao vào công việc, làm thật nhiều, để mong kiếm thật nhiều tiền trong thời gian ngắn nhất. Tôi tình nguyện là 7 ngày 1 tuần, mỗi ngày 13 tiếng. Ròng rã 3 năm thì tôi đuối sức, nên đành giảm bớt chỉ làm 5 ngày. Mười năm trời, tôi dành dụm được một số tiền, và nỗi ao ước, làm giàu, thật nhanh, đẩy tôi vào thị trường chứng khoán. Tôi say mê chơi stock, nên ngày nào tôi cũng luôn bận rộn với Wallstreet, với giá cả và những con số lên xuống của từng công ty. Trúng stock, chỉ qua một đêm, tôi bỗng nhiên thành triệu phú. Ấy thế mà tôi vẫn chưa có được một ngày không bận rộn. Ngay hôm đó, đầu tôi lại tính toán cách đầu tư nào để nhân đôi, nhân ba số tiền tôi đang có. Thế là lại mạo hiểm, lại chơi những ván bài to hơn. Ông bà ta đã có câu "Có gan làm giàu kia mà". Tôi đã có gan, và tôi đã giàu, thì bây giờ nếu muốn giàu hơn, tôi cần phải có gan hơn ...


Thị trường chúng khoán sụp đổ, tôi trở tay không kịp, thế là mất trắng . Tôi không nản "Không sao, còn sức khoẻ, còn quyết tâm, ta có thể làm lại từ đầu, thì sẽ có tất cả". "Có chí thì nên", nên tôi quyết định qua Mỹ, vì Hoa kỳ là đất nước của cơ hội. Tôi lại lao vào công việc, cần cù, ký cóp ... để dành tiền.

Vào những năm sau 2000, ngành dược và computer đang lên cơn sốt thiếu người. Thế là thiên hạ ùn ùn đổ sang Mỹ, vì làm việc nhiều tiền hơn. Tôi lại đi làm full time, 5 ngày một tuần , và luôn sẵn sàng làm overtime bất cứ khi nào công ty cần. Tôi đi làm từ sáng đến tối, ăn thì "cơm chỉ", food to go, không xài gì cả, cắc ca cắt củm để dành từng đồng xu, hy vọng sẽ có cơ hội đổi đời ... Và rồi thì cơ hội đến thật, khi cơn sốt bất động sản bùng nổ. Giá nhà cửa tăng vùn vụt , từng ngày. Hễ ai chậm tay là ... sorry, ráng mà chịu khó ngồi nhìn "căn nhà mơ ước" vuột khỏi tầm tay, bạn nhé. Và tôi lại bị cuốn xoáy vào cơn lốc này, như hàng triệu người ở xứ Mỹ .

Mỗi tuần chỉ có được hai ngày nghỉ làm, tôi rời nhà từ 8 giờ sáng đến 9 giờ tối, lái xe khắp mọi ngõ ngách, để tìm xem có căn nhà nào "For sale by owner" không. Hay có căn nào trông lụp xụp mà mình có thể tân trang chút đỉnh lại rồi "flip", kiếm vài chục ngàn bỏ túi. Có những bữa tôi không có cả thời giờ để ăn cơm, mua vội vàng chút food to go bỏ bụng. "Thảy" 1 căn nhà, wow, ngon ăn quá, tôi làm căn thứ nhì, rồi thứ ba. Lòng tham con người là không đáy kia mà. Thì đùng một cái, cái "bong bóng" nhà đất nổ tung. Bao nhiêu kẻ mất nhà, tay trắng, và có tôi trong số đó. Từ một triệu phú (lần thứ hai), tôi trở thành người mang nợ ngập đầu. Và thế là tôi phải đi làm bù đầu bù cổ để ráng cầm cự mấy căn nhà. Đến chừng thật sự đuối, thì tôi đành phải buông - trong cay đắng, vì không còn sự lựa chọn nào khác. Tôi shortsale mấy căn nhà, trước khi để nhà bank kéo. Rồi giờ thì tôi phải tiếp tục đi cày, cả đời, để mà trả nợ. Một bài học..... suốt đời không thể nào quên. Cho đáng kiếp mày, một kẻ tham lam ...

Hôm nay nằm dài trên bãi cõ, hít thở bầu không khí trong lành của một ngày nắng ấm, chẳng có việc gì phải làm, thế mà tôi thấy lòng mình, tâm mình sao mà thảnh thơi chi lạ. Giờ phút này, tôi không giàu, nhưng sao tôi lại có được sự bình an, điều mà đã hai lần là triệu phú, tôi hoàn toàn chưa bao giờ có được. Thật sự tôi phải cám ơn chính phủ Canada, hay cám ơn người ân nhân "trí tuệ" nào đó, đã nghĩ ra cái ngày đặc biệt này trong năm, để giúp người dân biết trân quý sự thanh thản mà cuộc sống ban cho chúng ta....

Bỗng dưng tôi chợt nhớ mới cách đây vài tuần, tôi tình cờ gặp lại cô bạn cũ hồi trung học, khi vô tiệm food to go ở Cali mua đồ ăn. Hai đứa chỉ kịp chào hỏi vài câu, thì cô bạn vội vã về đón con, còn tôi thì lật đật đi ra xe sợ trễ giờ làm. Cô bạn than: "Sao cuộc sống tụi mình lúc nào cũng tất bật quá há, chỉ khi nào hết thở thì mới hết ... bận rộn ...".

Tôi chỉ cười: "Xứ Mỹ mà lị ...".

Cô bạn tự dưng hỏi xin địa chỉ email của tôi, rồi bảo rằng "sẽ email gửi cho bồ một bài ý nghĩa lắm", rồi cô cười nói thêm "nhưng đọc thì hay, mà làm có được hay không lại là chuyện khác ...".

Tối đó check mail, tôi nhận được ngay, với vài dòng nhắn nhủ "Bồ ráng cố gắng thực hành theo lời khuyên trong bài này nhé, còn mình thì ... đời vẫn lăng xăng ...".

Tôi bật cười , và click vô đọc bài viết ngắn của cô bạn :

BẬN RỘN làm cho ta không có bình an và hạnh phúc

BẬN RỘN làm cho sự hành xả của ta vụng dại

BẬN RỘN làm cho cái hiểu biết của ta khô cằn

BẬN RỘN làn cho sự sống của ta ngắn lại

BẬN RỘN khiến ta không thấy được cái đẹp của người ta thương yêu

BẬN RỘN khiến ta đi trên đường như ma rượt ...

Đời sống bận rộn là đời sống ... bất hạnh nhất trên đời ...!

Thế đấy, nhưng con người ai ai cũng luôn tìm đủ mọi lý do để mà ... BẬN RỘN.

Và rồi một ngày kia, thử hỏi có ai mang theo được cái "BẬN RỘN" về bên kia thế giới?

Hãy biết dừng lại

Hãy biết ngơi nghỉ

Hãy tập thanh thản

và buông xả, thảnh thơi.....

thì khi cái ngày ấy đến, chúng ta mới có thể ra đi với cái tâm..... KHÔNG..... BẬN RỘN.... !!!

Đúng vậy, dường như chúng ta, ai ai cũng luôn tự tìm cho mình một "lý do" để mà bận rộn, mà chưa hề bao giờ biết cách "nếm" được hương vị cuộc sống của mỗi ngày. Tôi chợt nhớ đến cô Kim Anh , cô cũng đã bảo tôi câu này khi bác sĩ cho biết là cô chỉ còn vài tháng để sống, và cô đã nói với tôi "Mỗi người đều có số phần, cô cũng mừng là cô còn "vài tháng", thì ít nhất cô cũng sẽ có được vài tháng sống trong bình an, không vội vã....".

Chiều xuống, trời bắt đầu ngã tối. Thiên hạ lần lượt rời công viên. Cả nhà tôi cũng lục đục thu xếp đồ lại.

Bé Tina có vẻ nuối tiếc, bé hỏi bà chị tôi: "Mommy, ngày mai có còn là "No hurry day" hôn?".

Chị tôi cười: "Hết rồi con, mỗi năm ở Canada có một ngày hà....".

Na phụng phịu: "Na muốn everyday đều là "No hurry day"cơ...".

Chị tôi nói ngay: "Dễ thôi con, nếu mỗi ngày mà con biết enjoy, thư thả, con đừng làm việc gì gấp gáp hết, thì mỗi ngày sẽ là "No hurry day" rồi.. .".

Tôi đứng đó, nuốt từng lời bà chị nói, và cảm thấy "ganh tỵ" với đứa cháu của mình, vì chỉ mới 4 tuổi, mà cháu đã được học một bài học quý giá nhất trên đời, còn tôi , gần nửa đời người mới được học bài học đó.....

Lên xe, cậu em trai mở nhạc, vặn thật lớn bài hát mà tôi rất thích:

..... " 'Nếu chỉ còn một ngày để sống
Chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp
Phải chăng ta sống quá vội vàng
Nên ra đi chưa được bình an.....''

Đúng thật , cả một đời tôi luôn sống quá vội vàng, thì làm sao có thể ra đi bình an? Một lần nữa, xin cám ơn cái ngày đặc biệt này, đã giúp tôi có một cái nhìn mới, khác hơn về cuộc sống ...

Tự dưng tôi nhớ đến hai cô bạn thân. Cô bạn đạo Chúa thì chủ nhật nào cũng đi nhà thờ, hễ rảnh là đọc cuốn Thánh kinh nhỏ lúc nào cũng kè kè trong bóp. Cô hay nói với tôi: "Chúng ta nên làm theo lời dạy của Ngài, thì lúc ra đi, mình sẽ được lên Thiên Đàng với Chúa....".

Nhỏ bạn đạo Phật thì hễ rảnh là đến Chùa, niệm Phật, nó nói tôi: "Ở lành, giữ ngũ giới, làm từ thiện, thì chắc chắn sẽ được về với Phật....". Còn giờ phút này, tôi hiểu ra một điều "Nếu như chúng ta biết tự làm cho mỗi ngày của mình thành " 'MỘT NGÀY KHÔNG VỘI VÃ " , thì chúng ta sẽ có được 365 ngày một năm đang sống ở Thiên Đàng, hay Niết Bàn..... rồi đó.....

Chúc mỗi người trong cuộc đời, luôn có được những ngày..... không vội vã.....
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 1 2010, 03:29 AM
Gửi vào: #12


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



\


NGƯỜI BẠN, KẺ ĐỐI NGHỊCH

Kim Thanh, nguyễn kim quý


Niên khóa 1959-60, tôi lên lớp Terminale (lớp Tú Tài 2) ở trường Jean-Jacques Rousseau, Sài Gòn. Lúc ấy, trường này không mang tên Chasseloup Laubat nữa, như một ông tác giả nào đó còn gọi (tên này có từ thời thái tử Sihanouk Cao Miên còn theo học, học nửa chừng sắp thi Bac I thì cha chết, ông được Pháp đưa về nước lên ngôi vua, phế bỏ Sirik Matak, là hoàng tử thuộc dòng "chính thống", vì thế Sirik Matak rất hận Sihanouk, và khi Lon Nol đảo chánh Sihanouk, đầu thập niên 70, Sirik Matak theo ngay).
Lớp học là một phòng riêng biệt nằm ở góc đường Công Lý và Hồng Thập Tự, gần dinh Độc Lập. Trong lớp Terminale, ban Philosophie, có một số học sinh cũ từ dưới lên, có một số ở các trường ngoài vào, hoặc "học nhờ", như các nữ sinh Marie Curie. Ca sĩ Kim Tước, mà tôi rất mê tiếng hát, là nữ sinh Marie Curie, cũng "học nhờ" Philo tại Jean-Jacques Rousseau, nhưng trên tôi một, hai năm, tôi không nhớ rõ, vì chị lớn hơn tôi một, hai tuổi gì đó, nhưng hồi ấy, đâu có biết nhau, thấy chị, chỉ đứng xa mà nhìn, kính nhi viễn chi (Mãi sau này, vào đầu thập niên 70, khi chị trở thành vợ của Đại tá Nguyễn Trọng Hiệp, chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, và tôi phục vụ Đại Đội 204 CTCT trú đóng tại Nha Trang, mới có dịp gặp chị một lần, trong lễ mãn khoá của Trung tâm, nói chuyện xã giao, không thân tình lắm).
Lớp Philo của tôi năm đó có sáu cô từ Marie Curie, hay trường các bà sơ Pháp Regina Pacis, Regina Mundi, vào "học nhờ", chiếm hẳn ba bàn học, mỗi bàn ngồi hai cô nàng, xếp liền nhau, trong sáu cô nàng đó bây giờ tôi còn nhớ ba, là Nguyễn Thiếu Nga (nhí nhảnh, dễ thương, sau đi Mỹ học, bây giờ không biết ra sao, nếu tình cờ đọc được bài này, làm ơn lên tiếng nhé, bà Nga!), Caroline (mà tên Việt tôi quên mất, vui tính, lúc nào gặp cũng cười, và bọn con trai cứ gọi đùa là Caroline chérie, theo tựa đề một quyển sách Pháp), và Nhung (tôi quên họ, hiền thục, ít nói, luôn mặc áo dài xanh hoặc trắng đi học).

Trịnh Công Sơn là học sinh từ ngoài vào Jean-Jacques Rousseau học Philo, tôi chẳng rõ từ đâu tới mà cũng chẳng bao giờ hỏi. Lần đầu, các học sinh chọn chỗ ngồi, đâu vào đó rồi, không ai được thay đổi nữa, vì các thầy cô muốn vậy để dễ nhận diện, như thế cho đến hết năm học. Sơn đeo kính cận, gọng đồi mồi lớn, mặt mày, râu ria, và dáng dấp gầy gầy giống tôi, nên các thầy cô, nhất là Monsieur Pezeu, thầy Sử-Địa (Histoire-Géographie), một giáo sư vào tuổi sồn sồn (nổi tiếng dê cụ, nghĩa là lúc giảng bài cứ hay đưa mắt dòm dòm về phía các cô cười cười), thường lẫn lộn Sơn với tôi. Nhiều lần Pezeu gọi lên khảo bài, tên thì gọi đúng của tôi, nhưng ông hất hàm, đưa mắt nhìn Sơn, hoặc ngược lại, gọi Sơn mà cứ đăm đăm ngó tôi, khiến hai đứa bối rối, nhìn nhau, tự hỏi không biết đứa nào sẽ phải "hy sanh", và có khi tôi, có khi Sơn, nếu hôm đó đứa nào thuộc bài, tự nguyện đứng lên bục trả lời thay cho đứa khác. Rủi là hai đứa đều kém Sử Địa một cách tồi tệ giống nhau, nên điểm đứa nào cũng dưới trung bình. Tôi nhớ một lần, lên "hy sanh" cho tôi, bị hỏi một câu về Géo (Địa) khó quá, Sơn đứng như trời trồng, nhìn Pezeu cười trừ, vẻ rất ngây thơ vô tội, và bị ông thầy phết cho con 03 (trên 20), nhưng khổ một nỗi đó là điểm mang tên... tôi. Biết thế, nhưng chả đứa nào cải chính, vì hai đứa đều dốt và ghét Sử-Địa ngang nhau. Đó có lẽ là kỷ niệm duy nhất tôi có về Sơn.
Trong lớp Philo năm đó, có khoảng 40 tên. Ngoài Trịnh Công Sơn, tôi nhớ còn Nguyễn Văn Hòa, con của một giáo sư trung học tắm biển chết ở Vũng Tàu. Hòa trẻ nhất, nhỏ con nhất, nhưng học giỏi nhất lớp, nhất là môn Triết, thường đến bắt chuyện, hỏi thăm tôi một cách rất tử tế. Có Vương Quang Sơn, con của Bác sĩ Vương Quang Trường, cháu của luật sư Vương Quang Nhường, gia đình vọng tộc nổi tiếng vào thời ấy; Sơn Vương này cũng đeo kính cận, không biết nói tiếng Việt. Có Lê Hoàng Ân, bạn khá thân, mà lúc đầu tôi tưởng lầm là tên của ông tân Tổng lãnh sự Mỹ tại Việt Nam, Lê Công Ân. Có Trương Cam Hiển, không biết có liên hệ gì với các cụ Trương Cam Vĩnh, Trương Cam Khải hiện ở Mỹ không. Có ba anh Tây con, mà tôi chỉ nhớ hai: Claude Desboeufs (Desboeufs có nghĩa "của những con bò", đúng ra phải đọc là Đề-Bơ, khi boeuf (bớp) ở số nhiều, nhưng chúng tôi muốn chọc anh ta gọi là thằng Đề Bớp, anh ta bực lắm, và Alain Bui (đọc là Bui, chứ không phải Bùi, Tây chính cống, đẹp trai, dễ thương, chơi thân, vì vậy nhớ đến anh ta tôi bèn lấy tên Julien Bui trên email cho có vẻ... nặc danh bí hiểm một chút). Những người bạn học này, tôi không biết tin tức gì từ ngày rời trường, năm 1960, tức đã đúng nửa thế kỷ rồi.
Có ba người tôi biết tin chính xác. Đó là:
1) Hoàng Văn Kim, rất đẹp trai, trắng trẻo, người Bắc, năm 1963, tôi về Nha Trang dạy học, thì bất ngờ gặp Kim đang là SVSQ tại Trung tâm Huấn Luyện Không Quân. Về sau, lúc tôi ra Thủ Đức, về đơn vị ở Ban Mê Thuột, Kim trở thành phi công lái khu trục A37 và năm nào đó, Kim lái biểu diễn tại quân trường Thủ Đức nhân dịp Nguyễn Cao Kỳ chủ tọa một buổi lễ lớn. Theo báo chí, máy bay của Kim đâm xuống đất sâu mấy thước. Khi TCS viết bản nhạc "Cho một người nằm xuống" (Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây...), tôi cứ tưởng anh ta làm để tưởng niệm Kim, một bạn học cũ. Nhưng nghĩ lại Sơn không chơi thân với Kim hay bất cứ ai trong lớp bèn thắc mắc không biết đối tượng là ai, cho đến sau này, qua cô ca sĩ "mùa chay nào cũng có nước mắt" mách trên sân khấu mới rõ là cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, người đã chứa chấp cho Sơn trốn quân dịch và Sơn khóc để trả ơn.

Nhân đây tôi cũng xin mở ngoặc nói thêm về bài hát trên. Đó là một trong những bài phản chiến nặng nhất của TCS, cùng với bài "Kỷ vật cho em" của Phạm Duy, có hậu quả, hoặc mục đích, làm nhụt ý chí chiến đấu của các chiến sĩ QLVNCH. Không ai muốn chiến tranh, và phản chiến tự nó không có gì xấu. Nhưng trường hợp TCS, cái nghịch lý làm khó chịu là ở chỗ, anh ta cũng như các tay phản chiến quốc tế, mà tôi xin phép được gọi một cách bình dân là "cà chớn" hoặc nặng hơn, xuẩn động, như Bob Dylan, Jane Fonda, John Kerry, Jean-Paul Sartre, Bertrand Russell v.v... chỉ biết to mồm kết án Miền Nam mà quên, hoặc không dám, động gì đến lông chân của bọn lãnh đạo (Không dùng từ này) miền Bắc, thậm chí còn ca ngợi chúng -thực ra mới là lũ gây chiến, hiếu chiến, đã xua hàng trăm ngàn quân, thôn tính Miền Nam, muốn nhuộm đỏ cả nước Việt Nam (điều chúng thực sự đã làm sau từ khi cưỡng chiếm đất nước ta, tháng 4, 1975), trong khi quân dân VNCH không đưa quân ra Bắc, mặc dầu dư sức làm điều ấy, chỉ thi hành nhiệm vụ tự bảo vệ. Kêu gọi chấm dứt chiến tranh một chiều như thế là tiếp tay cho VC trong mưu đồ, chiến thuật bắt Miền Nam đầu hàng mà thôi. Nếu thực sự yêu hòa bình chân chính, tại sao TCS, hay Phạm Duy, không làm bài hát nào thương khóc cho đồng bào ở Huế bị VC chôn sống vào Tết Mậu Thân, và lên án bọn đao phủ VC? Có không? Rồi, không hiểu sao, Trung tâm băng nhạc Asia, nổi tiếng hay tự cho là chống Cộng, mới đây, trong băng vinh danh người lính VNCH, lại đưa bài hát "cực kỳ" phản chiến này của TCS vào? Cẩu thả, dốt nát, hay chạy theo nhu cầu thị trường phải thỏa mãn tất cả khách hàng, thượng vàng hạ cám? Dĩ nhiên, ai thích nhạc TCS thì cứ việc mở máy thưởng thức một mình ở nhà, không ai thắc mắc, nhưng bắt người khác nghe theo mình, đó là áp chế.

2) Phan Quang Tuệ, con của Thủ tướng Phan Quang Đán, hiện là thẩm phán Di trú tại San Francisco. Tuệ lúc còn ở trường chơi với tôi khá thân, thường nói chuyện qua lại, giọng của Tuệ hình như là Nghệ An, Hà Tĩnh lai Nam. Mấy năm trước, chị Kiều Mỹ Duyên cho tôi số điện thoại làm việc hay cell của Tuệ, tôi gọi mấy lần không được, nên bỏ luôn.
3) Trần Quý Phong, con nhà giàu, chủ khách sạn Catinat, sau này trở thành dân biểu VNCH. Từ lâu tôi nghe tin ai nói, và đinh ninh, rằng Phong đã chết trong ngục tù cải tạo. Nhưng cách đây mấy tháng thôi, tôi đọc trên báo một bài tường thuật lễ kỷ niệm nào đó ở vùng DC hay Virginia, có nhắc rõ ràng tên "cựu dân biểu Trần Quý Phong" tham dự. Tôi dụi mắt, đọc lại cho kỹ. Té ra anh ta còn sống, mừng lắm! Không lẽ trước đây có hai ông dân biểu Trần Quý Phong? Dĩ nhiên, tôi không biết gì thêm nữa qua bài báo tình cờ được đọc ấy. Lúc còn học, Phong đôi khi quên làm bài philo ở nhà. Trước giờ nộp bài, Phong rủ tôi ra "gánh" kem trên lề đường Hồng Thập Tự, trước cổng trường, đãi tôi một ly, rồi mượn bài philo của tôi, chép lại tại chỗ. Tôi dễ dãi, vì còn kẹt ly kem, nhưng cũng thòng một câu: "Nhớ đừng chép nguyên văn nghe không toa." Cũng may thầy Lê Văn Hai (hay Hải?), giáo sư Philo, có lẽ không đọc bài, nói chi sửa bài, mà cứ nhắm mắt cho điểm, không ghi một lời phê dù nhỏ nào, đứa nào cũng vừa đủ trung bình (trừ bài của Nguyễn Văn Hòa luôn luôn trên 16), cho nên bài của tôi và của Phong gần như sao y bản chánh, mà tôi (khổ chủ, tác giả) được 10, Phong (chép viên) lại được 12.
Thầy Hai là agrégé (không phải thạc sĩ) Triết, tốt nghiệp École Normale (trường Sư phạm Pháp), như Sartre, người gầy thấp. Ông giảng (hay đúng hơn, đọc) bài bằng tiếng Pháp, dĩ nhiên, miệng chúm lại, như bị hô, những tử âm gió (consonnes sifflantes, s, z, ch, v.v...) bay ra vù vù (giống như TNS McCain nói tiếng Anh, quý bạn để ý nghe lại). Khi đọc, ông bỏ kiếng trắng, nhưng thỉnh thoảng nghe đứa nào nói chuyện to quá, ông nổi nóng, vội chụp kiếng đeo lên, nhìn chòng chọc thủ phạm, mắng chửi một hồi, rồi cúi xuống đọc tiếp. Không bao giờ thầy cười hay nói chuyện với học trò. Xong lớp, ông biến đâu mất. Còn thầy dạy Physique-Chimie (Lý Hóa) là một ông già béo phệ, Monsieur Breton, quanh năm suốt tháng chỉ đóng một bộ complet xanh nhạt, dính đầy bụi phấn, hình như không bao giờ giặt. Dạy Lý-Hóa mà mới bước vào lớp ông đã thao thao bất tuyệt ngay, nói không người lái, như đọc thuộc lòng, hồn ai nấy giữ, chả đứa nào "nắm" (tiếng VC) được cái gì. Ông hiền lắm, nên học sinh phá, có đứa khi thực tập thí nghiệm hóa học, vô tình hay cố ý pha trộn hóa chất bậy bạ, ống thủy tinh nổ, làm giật mình, lúc ấy ông mới lớn tiếng thôi, và gọi ông Tây Tổng giám thị rất hắc ám, có nickname là Bù Lệt, vào chửi giùm và cho hình phạt. Còn bà dạy Khoa Học (Sciences Nat), Madame Cervetti, đẹp, hiền, năm nào cũng mang bầu bự. Mỗi lần thực tập mổ nghiên cứu chuột, ếch, v.v... mấy anh nam sinh trời đánh, cứ xách chuột nhát các cô "học nhờ" khiến các cô hoảng hồn, la ơi ới. Dạy Sử Việt Nam thì có thầy Nguyễn Văn Ban, mỗi tuần vào lớp mở sách ra đọc rào rào đủ một giờ, rồi "dọt". Thầy dạy Việt văn là ông Tôn Thất Dương Kỵ, mà sau này tôi mới biết là cán bộ ######, bị tướng Nguyễn Chánh Thi trục xuất qua bên kia Bến Hải cùng với hai người khác. Khi học Việt ngữ, mỗi tuần một lần, tất cả các lớp, đều tụ lại học chung trong một phòng lớn, nghe thầy Kỵ đọc một bài văn tiếng Việt rồi bản dịch ra tiếng Pháp của chính ông, và ngược lại. Chả đứa nào phải làm gì, nhưng không trốn học được, vì ông Bù Lệt lù lù đứng đó.
Sở dĩ tôi kể tên một vài thầy cũ, nay chắc đã chết cả rồi, và bạn cũ, chẳng phải để khoe mẽ gì ráo, nhưng chẳng qua tôi có cái tật nói có sách mách có chứng. Lý do thứ hai, tôi muốn những người bạn cũ đã mất liên lạc nếu đọc bài này biết tôi còn sống nhăn đây, cũng chẳng để làm gì, chỉ muốn cùng nhau ôn kỷ niệm, khi bóng đời đã xế. Thế thôi.

Trở lại Trịnh Công Sơn. Anh ta rất đơn độc, suốt niên học không nói chuyện với ai, trừ tôi ngồi cạnh, nhưng cũng chỉ thỉnh thoảng thôi, để hỏi bài vở. Ít nói, không thân thiện, nhưng không làm phiền ai bao giờ. Trái lại, tôi thấy vẻ ngoài Sơn dễ thương. Xong các giờ học, không thấy anh ta đâu nữa. Riết rồi chẳng ai còn nhớ sự hiện diện trong lớp của Sơn. Tôi nghĩ bây giờ những người học lớp Philo năm đó, không chắc có ai còn nhớ đến Sơn, trừ sau khi đọc bài này của tôi. Lúc ấy, tiếng tăm của Sơn chưa nổi. Sơn sinh hoạt tại Jean-Jacques Rousseau như một bóng mờ. Khi đọc báo nghe biết anh soạn nhạc từ thời đi học, tôi rất ngạc nhiên, vì ít ra suốt thời gian còn ngồi cạnh nhau, tôi không hề thấy anh trong lớp viết lén nhạc hoặc ca âm ỉ trong miệng, trái lại học hành chăm chỉ, đôi khi tay chống cằm lơ đãng nhìn ra phía đường Công Lý, dập dìu xe cộ.
Niên học của tôi cũng là năm đầu tiên chính phủ Pháp áp dụng thủ tục mới thi Bac II: thi hai lần, không có vấn đáp. Tháng 4 thi đợt đầu, hai tháng sau, đợt hai, tại khuôn viên trường Marie Curie. Điểm số của hai đợt được cộng lại để lấy trung bình cho đậu hay rớt. Cũng như với Bac I, bài thi từ Paris gửi đến qua Tòa đại sứ Pháp Sài Gòn. Tôi được đậu, nhờ bài Triết (số điểm ấn định cho môn này là 40 thay vì 20 cho các môn khác) mà tôi đầu tư vào tối đa, vì tôi biết mình kém về các môn khác, chủ trương "được ăn cả ngả về không", như hiện giờ thỉnh thoảng đánh phé tapis (all in) với bạn bè, em út. Năm đó, Trịnh Công Sơn, tôi dò đọc, không thấy tên trên bảng vàng. Và anh biến mất khỏi trường, khỏi trí nhớ tôi.

Chuyện về Trịnh Công Sơn và bài viết của tôi có thể kết thúc tại đây. Nhưng thời gian phục vụ tại trường Đại Học CTCT, một đêm nào, tôi đi lang thang, tắp vào một quán cà phê, Tùng hay Domino (?), bất ngờ gặp lại Trịnh Công Sơn đang trình diễn nhạc ở đấy. Sơn không nhớ tôi, phải nhắc trường JJR, Monsieur Pezeu và chuyện "hy sanh" trả bài Histoire-Géo cho nhau, Sơn mới "à" ra, cười thành tiếng -điều rất hiếm hoi. Sơn còn nhái giọng nói của Pezeu khi gọi tên hai đứa: Ngu-y-en-Kim-Ky và Chin-Kông-Xon. Tôi cũng cười. Vì không khí ồn ào và Sơn bận tíu tít, tôi từ giã ra về, sau đó lòng thấy dửng dưng không buồn, không vui, bởi vì cả hai không thân nhau. Rồi ngày 30/4/1975, trong lúc đất nước hấp hối, và quân trường CTCT vừa mới tan hàng, tôi và tất cả quân dân Miền Nam nghe trên radio tiếng hát của Sơn, trong bài "Nối vòng tay lớn". Hát rồi nói, nói rồi hát tiếp, lặp đi lặp lại, giọng mỗi lúc một to hơn: "Hôm nay ngày vinh quang của dân tộc, ngày này chúng đã mong đợi từ lâu, mời các bạn văn nghệ sĩ hãy về đây cùng ca với chúng tôi Nối Vòng Tay Lớn, vòng tay của anh em, của tình thương, của bẻ gẫy xích xiềng, của chống Mỹ, của diệt Ngụy." Tôi ngỡ ngàng, đau xót, tức giận, buột miệng chửi thề: "Salaud, thằng khốn nạn!" Trên đường về nhà, đường Lê Văn Duyệt, thấy những chiếc xe tăng đầu tiên chở lúc nhúc những "sâu bọ" và những "đàn bò vào thành phố" (chữ của TCS), tôi nghẹn ngào, nước mắt chảy quanh. Đọc trên báo, thấy có người "quốc gia phe ta" lên tiếng bênh vực hành động này của Sơn (ví dụ, Sơn bị bắt buộc), nhưng lập luận của họ quá ấu trĩ, không thuyết phục nổi ai. Những tài liệu tôi đọc được chứng minh rằng anh ta là VC nằm vùng thứ thiệt từ lâu. Nhưng đây không phải là chủ đích bài này.
Rồi năm 1989, tôi đang ở Paris. Cô cháu gái tôi từ Việt Nam trở về. Cháu khoe với tôi, có ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đi cùng chuyến Air France, mang theo nhiều bức tranh, "bị cảnh sát phi trường Orly chận hỏi, ông ta cãi lại, bằng tiếng Pháp, cũng lưu loát lắm." Tôi nói, "ông đó học cùng lớp với cậu ở trường Jean-Jacques Rousseau Sài Gòn trước kia." Cháu reo lên, "hèn gì ổng nói giỏi tiếng Pháp." Quả vậy, năm đó, Trịnh Công Sơn đến Paris để triển lãm tranh, hay trình diễn ca nhạc gì đó, dưới sự bảo trợ của tòa đại sứ VC. Dĩ nhiên, còn lâu tôi mới đi tìm gặp anh ta, xem tranh, hay nghe hát. Trịnh Công Sơn, một người bạn học cũ, đã chết trong tôi như một kẻ đối nghịch, một đứa phản bội, ăn cơm quốc gia thờ ma (Không dùng từ này), kể từ ngày 30 tháng 4, 1975, trước khi chết thật, vào năm 2001.

Những người yêu nhạc Trịnh Công Sơn ca tụng nhạc của anh hay, lời óng chuốt như thơ. Tôi không nghĩ vậy. Tôi không rành về nhạc, nhưng có thể nói mà không sợ sai rằng nhạc Trịnh Công Sơn đơn điệu (monotone), tẻ nhạt quá, bài nào cũng một âm giai, nghèo nàn, buồn rầu, nghe là biết của anh liền, so với những ca khúc của Phạm Duy, phong phú, biến đổi (varié), mỗi bài mỗi khác, hay của Văn Cao nghe sang, cổ điển, cung điệu trầm bổng, thay đổi ngay trong cùng một bài, như "Thiên Thai" hoặc "Bến Xuân". Còn lời ca? Những chữ như rong rêu, sỏi đá, ghế đá, đá xưa, đá ngây ngô, hòn cuội, công viên, sâu bọ, kiếp người, hư vô, tiền kiếp, cát bụi, hóa kiếp, trần gian, hiện tại, xa lạ, một ngày như mọi ngày v. v... đều là những cụm chữ lấy từ những bài học Triết dựa trên tác phẩm của Sartre, như La Nausée (Buồn nôn), và Camus, như L'Étranger (Kẻ xa lạ), chẳng hạn, mà Trịnh Công Sơn đã lấy dịch ra và được thấy nhan nhản trong Sáng Tạo của lớp nhà văn, nhà thơ hiện sinh mới. Chả có gì mới mẻ đối với văn học sử Pháp và chúng tôi, thuộc lớp Philo tại Jean-Jacques Rousseau đầu thập niên 60.
Tại Qui Nhơn năm nào, sau một cuộc hành quân trở về, tôi cùng với anh hạ sĩ tài xế vào một tiệm kem, chuyên chơi nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi đến quán ấy không phải để nghe Trịnh Công Sơn, mà để ngắm cô chủ tiệm có mái tóc thoảng hương bưởi, nước da trắng bóc và đôi mắt tình không chịu nổi. Lúc ấy, trong băng cassette, Khánh Ly đang hát bài "Ru mãi ngàn năm". Đến câu "bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm..." anh tài xế nói nhỏ với tôi: "Bàn tay em nào chả năm ngón, ông nhạc sĩ này thiệt kỳ, còn nếu bàn tay em có sáu ngón thì làm sao đây?" Anh ta không biết rằng, bàn tay năm, sáu ngón ấy Trịnh Công Sơn lấy từ một bài thơ của một ông thi sĩ trường phái Siêu thực Pháp nào đó mà thơ thuộc loại "hũ nút" như của Thanh Tâm Tuyền, hoặc Bùi Giáng. Hay cụm từ dài tay em mấy trong câu dài tay em mấy thuở mắt xanh xao là một cấu trúc văn phạm quen thuộc trong thơ Pháp (tĩnh từ hay trạng từ đứng trước danh từ). Những mưa hồng, nắng thủy tinh v.v... là hình ảnh, ẩn dụ rất thường gặp trong văn chương Pháp.
Bởi vì bài của tôi không có chủ đích phê bình nhạc và lời của Trịnh Công Sơn, nên xin phép tạm ngưng ở đây. Muốn viết một bài phê bình hẳn hoi, phải nêu ra nhiều dẫn chứng, ví dụ, điều mà tôi nghĩ sẽ, hay đã, có người khác làm.

Nhạc Trịnh Công Sơn là nhạc phản chiến nặng, cộng thêm những bức ảnh của Nick Út, một tên Việt gian khác, chẳng hạn, đã góp phần vào sự sụp đổ của đất nước Miền Nam thân yêu của chúng ta bằng cách tiếp tay cho (Không dùng từ này) Việt Nam trong mưu đồ xâm lược (kêu gọi phản chiến một chiều) của chúng, tác động ít nhiều trên tinh thần đấu tranh của toàn quân toàn dân ta trước thực trạng bi thảm của chiến tranh (một cuộc chiến tranh do chính lũ Cộng Phỉ gây nên), và nhất là trên cái đầu tăm tối, xuẩn ngu của những chính trị gia và ký giả quốc tế vô luân. Chúng ta mất nước, ra đi tỵ nạn, gia đình tan nát, cá nhân bị bắt bớ, tù đày, thân nhân bị hãm hiếp, hoặc vuù thây trong lòng đại dương, và xa hơn những đồng bào ruột thịt tại quê nhà đang rên siết dưới gông cùm (Không dùng từ này), tất cả cũng bởi vì những món độc dược văn hoá nguy hiểm ấy.
Vả lại, nhạc và lời của Trịnh Công Sơn đâu đặc sắc gì lắm đâu, mà những kẻ đầu nhỏ như đầu chim sẻ phải khen ngợi, mê man, ca ngợi rối rít, ầm ĩ. Tuy nhiên, tôi tôn trọng ý thích của mọi người, miễn là họ đừng viết những bài để thổi Trịnh Công Sơn và sự nghiệp âm nhạc của anh ta lên tận mây xanh, các chủ băng video đừng bắt đồng hương quyết tâm chống Cộng tới chiều, như tiện nhân đây, và những thế hệ con em lớn lên sau chiến tranh, chưa biết (Không dùng từ này) là gì, phải nghe những ca khúc Trịnh Công Sơn trong khi họ lợi dụng danh nghĩa chiến sĩ, thương phế binh, tử sĩ VNCH để bán hàng. Những việc làm vô ý thức đó rất mâu thuẫn, có tính cách phản bội, và đâm sau lưng chiến sĩ đấy. Không ai cấm các người mê nhạc Trịnh, chúng ta đang ở trong một nước tự do, dân chủ mà! Chỉ xin các người làm ơn hát, nghe hát nó trong xe, trong phòng ngủ, phóng tắm, như khi các người làm việc cá nhân kín đáo. Đừng bắt thiên hạ mê theo các người, khổ lắm! Các người cũng đừng ngụy biện rằng nghệ sĩ, nghệ thuật là phi chính trị, và Trịnh Công Sơn là nghệ sĩ nên không cần biết lập trường của anh ta là gì. Sai, chủ trương "nghệ thuật vị nghệ thuật" là ảo tưởng. Có giỏi cứ đem vấn đề này ra tranh luận với ######, là bọn chuyên bắt nghệ thuật (kể cả thơ con cóc của Bác) phục vụ cho mọi ý đồ chính trị đen tối. Tranh luận đi, chúng sẽ cười cho thối mũi.

Còn những người tỵ nạn lưu đày chân chính? Chúng ta hãy luôn tỉnh táo, đừng thấy ai khen, mình cũng vỗ tay khen theo, nức nở. Xưa rồi.
Kim Thanh Nguyễn kim Quý, SQCH
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Dec 9 2010, 06:43 PM
Gửi vào: #13


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,620
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Kính gởi anh HoaHạ,

Bài anh post hôm qua, tôi tạm đặt dưới dạng "Không Hiển Thị", vì đây là bài lấy từ nguồn trong nước nên phần lớn chữ dùng không thích hợp với Chủ Trương, Qui Định của BTH.

Xin anh thông cảm,

NhàQuê Nov 09, 2010


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 9 2010, 09:12 PM
Gửi vào: #14


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



QUOTE(NhaQue @ Dec 9 2010, 03:43 AM) *



Kính gởi anh HoaHạ,

Bài anh post hôm qua, tôi tạm đặt dưới dạng "Không Hiển Thị", vì đây là bài lấy từ nguồn trong nước nên phần lớn chữ dùng không thích hợp với Chủ Trương, Qui Định của BTH.

Xin anh thông cảm,

NhàQuê Nov 09, 2010


smile.gif
thankyou.gif Anh NhàQuê đã cho biết lý do không post được . cungly.gif
H.H 09/12/10
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 12 2010, 01:54 AM
Gửi vào: #15


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chỉ Hà Nội mới có...

Còn đang sống ở Việt Nam, tôi đã nghe nói nhiều đến nền văn minh, văn hóa của Thủ đô Hà Nội. Thành phố đang mở rộng để phình ra to nhất nước, đang ráo riết “quy hoạch” để đẹp nhất nước,... xứng đáng là trung tâm văn hóa – chính trị, kinh tế lớn nhất nước và ôm giấc mơ lớn nhất cả Đông Nam Á này.

Nhưng rồi qua bao nhiêu năm, kể từ khi khôn lớn, rời bỏ miền Bắc ra đi, tôi rất ít khi trở lại Hà Nội. Có một hai lần đi qua, ghé vào thủ đô như một trạm dừng chân trong ngôi phố cổ rồi lại thản nhiên trở lại Sài Gòn. Không có dịp đi sâu ở lâu để “khám phá” nền văn minh Hà Nội, chưa được thưởng thức “ẩm thực” tinh tế nổi tiếng Hà Nội, chưa có thì giờ dạo chơi ngắm lại những danh lam thắng cảnh xưa. Chỉ có một buổi sáng ngồi trong nhà thủy tạ ăn sáng, ngắm mặt nước Hồ Gươm xanh biếc sau dàn liễu rủ.Hơn thế, từ xa xưa Hà Nội vốn nổi tiếng là mảnh đất “kinh kỳ ngàn năm văn hiến”, người Hà Nội thanh lịch dịu dàng. Chẳng thế mà trăm năm trước, người Hà Nội vẫn tự hào với câu :

”Chẳng thơm cũng thể hoa nhài.

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.

Vậy trăm năm sau nó phải “văn hiến” hơn chứ. Tôi cũng mong có được lòng tự hào về mảnh đất thủ đô của ông cha ta để lại tiếng thơm cho con cháu

Người “Hà Nội thực thụ” còn lại rất ít

Tuy nhiên, dù vậy trong giao tiếp hàng ngày, tôi cũng đã từng được nghe giọng nói Hà Nội ngày nay, khác với ngày xưa rất nhiều. Ngay cả trên các đài truyền thanh truyền hình và trong những cuốn phim, tiếng nói Hà Nội cũng đã khác xa. Lý do cũng dễ hiểu, bởi những người dân “thực thụ Hà Nội” đã cao chạy xa bay từ nửa thế kỷ rồi, số “thực thụ Hà Nội” còn ở lại rất ít. Những người đến Hà Nội sinh sống sau này hầu hết từ khắp các vùng nông thôn và trước hết là những người có công với “kháng chiến”, có địa vị “nhà nước” được đưa về thủ đô “công tác” rồi kéo cả nhà, họ hàng về “ăn theo” nghiễm nhiên trở thành dân Hà Nội” và cứ thế phát triển dần, phát triển thoải mái, du nhập đủ thứ thói quen, kể cả những thói hư tật xấu, phong cách ô hợp, chẳng ai buồn để ý tới, chẳng ai coi đó là chướng tai gai mắt. Ngược lại, có khi còn thấy … thú vị, nên nó phát huy tối đa những góc cạnh “lạ lùng quái đản”. Thói hư dễ bắt chước, tính tốt khó làm quen là tâm lý thông thường.

Có một số người từ Hà Nội vào Sài Gòn sinh sống đã có thể tạm thời “hòa nhịp” với giọng nói Sài Gòn. Nhưng vẫn còn một số người mới vào Nam sinh sống và cả một số vào đã lâu nhưng vẫn giữ mãi giọng nói “đặc biệt” của miền Bắc, không thay đổi được. Cho nên người miền Nam thường có thể đoán ra ngay “Bắc Kỳ 75” hay “Bắc Kỳ 54”. Họ hàng nhà tôi cũng vậy. Cho nên tôi không cho đó là tốt hay xấu, hay hoặc dở. Tôi chỉ nói đến sự khác biệt mà thôi. Ngay cả cách dùng từ ngữ cũng khác. “Điện cho tôi nhé” chẳng biết điện thoại hay điện thư (e mail) hay điện tín. Vất vả lắm thì nói “vất lắm”. Liên lạc với nhau thì nói “liên hệ”, đề phòng thì nói “cảnh giác”, bảo đảm thì đảo ngược thành “đảm bảo”… Có hàng trăm kiểu nói như thế, nghe qua biết liền. Có lẽ cần phải có một cuốn từ điển Việt Nam mới để mọi người VN cùng dùng chung và hiểu nhau hơn.

Chỉ Hà Nội mới có

Những cái hay, cái đẹp của Hà Nội, báo chí ở VN đã nói đến nhiều rồi, tôi cũng được nghe không thiếu. Cả cái dở, cái xấu cũng khá nhiều. Đó là chuyện tự nhiên của một thành phố lớn. Ở đâu chẳng vậy.

Nhưng có một thứ mà chỉ Hà Nội mới có, đó là chuyện ẩm thực với “bún quát, phở đuổi, cháo chửi”. Chuyện này tôi nghe từ lâu đã thấy kinh ngạc lắm rồi. Không ngờ đi ăn bún thì bị quát, đi ăn phở thì bị đuổi, đi ăn cháo thì bị chửi. Các bạn đã thấy, đã nghe ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, kể cả ở những nước lạc hậu nhất, có chuyện này chưa?

Ấy thế mà bây giờ lại còn có chuyện “động trời” hơn. Nghe qua cứ tưởng là chuyện bịa, bịa trắng trợn, bịa láo lếu. Làm gì trên đời này lại có thứ chuyện quái đản đến như thế. Song tôi cũng rất tiếc rằng đây là chuyện có thật 100%. Nói có sách mách có chứng. Chỉ cần dẫn chứng một nguồn tin trên báo của một anh phóng viên ở ngay Hà Nội là đủ, không cần thêm mắm muối đã hoảng hồn rồi.

Đọc nguồn tin kia, tôi còn đang phân vân thì lại nhận được cái “meo” của một người đẹp được mệnh danh là “Bà Phổi Bò Hồng O.” từ Seattle, tuốt tận bên Huê Kỳ, gửi tới. Hồng O. cũng chẳng “bình loạn” gì thêm, chỉ gửi nguyên xi tin này “bố cáo” với bạn bè. Thế là quá đủ. Tôi đành phải viết bài này tường trình cùng bạn đọc cho rõ ràng, kẻo sợ người biết người không, hoặc “tam sao thất bổn” cái thừa cái thiếu, mất đi tính xác thực, vốn là thứ quý nhất của nguồn tin.

Phong cách mới

Những phong cách “bún quát, phở đuổi, cháo chửi”, như tôi đã nói ở trên, bây giờ đã thuộc về quá khứ. Không phải nó tàn lụi mà nó “phát triển lên một chiều cao mới”, kinh hoàng hơn. Anh chàng phóng viên của Hà Nội gọi là “ác liệt” hơn. Có lẽ từ ngữ này cũng bị ảnh hưởng từ thời chiến tranh, thí dụ như B52 đánh phá ác liệt.Tôi còn nhớ hồi đó, đứng từ xa nhìn máy bay B52 đánh phá ác liệt như thế nào, song nghe qua những lời lẽ trong vài quán ăn được diễn tả, cũng có thể hình dung ra lời nói đó làm ù tai hoa mắt không kém gì nghe B52 dội bom giữa thời bình.

Không còn cách dùng từ nào khác nên tôi tạm gọi những cách hành xử sau đây là một “phong cách mới” vậy. Nếu bạn đọc nào có câu chữ hay hơn, xin vui lòng góp ý để bà con cùng bàn luận cho vui chuyện “thiên hạ sự”.

Hầu như một số rất lớn người Hà Nội, công tư chức, thuộc dạng trung lưu, tiểu thương có thói quen đi ăn sáng ở những hàng quán nổi tiếng dù nó nằm ở ngóc ngách nào. Ham rẻ thì ít, ham ngon thì nhiều. Còn những “đại gia” thì không ham ngon, ham rẻ mà lại ham “làm sang”, chọn những quán nổi tiếng được trang trí như “bố thằng Tây” và điều kiện là phải chém đắt mới đúng là nơi đáng ăn. Cho dù lúc này đang là lúc suy thoái kinh tế trầm trọng, ai thắt lưng buộc bụng ở đâu không biết, các “đại gia” vẫn không từ bỏ thói quen đã làm nên tính cách đại gia của mình.

Ở Sài Gòn và các thành phố lớn cũng thế thôi, nhưng mỗi cửa hàng có một phong cách phục vụ khác nhau. Ở đây tôi đi vào cụ thể, một số hàng quán ở đất Thủ đô ngàn năm văn vật hiện nay (Nếu viết phóng sự hồi xưa, tôi không ngần ngại diễn tả rằng “Hà Nội ngay bây giờ, liền tút suỵt”. Lối đó hơi xưa rồi nên tôi không xài nữa, cho vào viện bảo tàng chữ nghĩa).

“Miệng nhai, tai nghe chửi”

Xin nói ngay, đó là tiêu đề của anh chàng phóng viên sống ở Hà Nội, chứ không phải của tôi. Thực khách đã quá quen với lối vừa ăn vừa nghe chửi này rồi nên cứ tỉnh như ruồi, ăn uống xì xụp ngon lành. Ngay từ khi khách chưa bước chân vào cửa hàng, đã có thể nhận ngay một lời chào đầy tình cảm chua lòe của chính chủ nhân.

Tại quán bún canh dọc mùng nổi tiếng thơm ngon với món lưỡi, sườn, giò heo chấm xì dầu, hông chợ Ngô Sĩ Liên (Hà Nội), trưa ngày 15-02-2009 vừa qua, một khách mới dừng xe trước quán hỏi bà chủ:

- “Chị ơi, để xe ở đâu?”.

Bà đốp ngay vào mặt:

- “Để lên nóc nhà này này!”.

Bà chủ ngoài 50, ít khi ngớt tiếng léo nhéo chua loét. Một thực khách thích ăn rau sống, gọi rau đến lần thứ 3, bị bà chồm qua bàn bán hàng quát nạt:

- “Đây không có rau, tự trồng mà ăn!”.

Ấy thế mà khách không giận mới là lạ.

Một bà khách sau bữa trưa ngon miệng, biết tính bà chủ hay cáu gắt, chị lại gần bà chủ nhỏ nhẹ: “Chị gói cho em 1 cái lưỡi mang về nhà. Nhà em ít người, chị cho cái nho nhỏ thôi”. Bà chủ quán ngồi cạnh nồi canh nghi ngút khói, mặt đỏ phừng phừng quắc mắt: “Đây không có hàng nho nhỏ! 60 nghìn đổ đầu”. Chị khách bắt đầu sợ, đành phải gật đầu ngay. Nhưng bà hàng chưa hết cơn. Bà vừa gói hàng, múc nước chấm, vừa nguýt chị khách: “Đã muốn ăn ngon lại còn đòi rẻ!”. Rồi cơn cáu giận dâng cao, bà móc cái lưỡi heo luộc ra khỏi túi nilon định đưa cho khách, song lại ném vào rổ: “Thôi không bán nữa đâu, về đi!”. Chị khách tím mặt lủi thủi ra về.

Ở một quán ăn khác, quán mì vằn thắn trên phố Trần Hưng Đạo, hai vợ chồng chị Chị Hồng Hạnh (ở Vĩnh Hồ, Hà Nội) kể, một lần chúng tôi đến ăn, chờ mãi không thấy nhân viên đến hỏi, chồng chị ra tận quầy chủ quán gọi món ăn. 10 phút sau không thấy ai mang đồ ăn ra, hai vợ chồng ngại quán đông, đứng dậy ra về. Vừa ra khỏi cửa, đã nghe một giọng đàn ông chửi với theo: “Loại giẻ rách, có C. tiền mà ăn!”.

Vợ chồng chị Hạnh ấm ức lắm, nhưng không dám phản ứng vì: Thứ nhất, không đáng phải đối phó với những loại người thô tục như thế này. Thứ hai, cái quán ăn nổi tiếng này chắc nó phải có “bảo kê”, có bọn “mặt rằn” đứng sau, chính quyền ở đây chắc cũng không xa lạ gì với chủ quán. Thứ ba, chị thấy người ăn vẫn vòng trong vòng ngoài chầu chực để được “xin ăn “. Thôi thì đành “nhắm mắt làm ngơ” vậy. Chị không hiểu tại sao giữa thành phố lớn, những người ra vẻ lịch sự như thế này mà vẫn có những người chấp nhận “tủi nhục” để được ăn. Họ quen với lối “xin cho” thời bao cấp rồi chăng?

Một kiểu vừa bán hàng vừa “chửi chó mắng mèo”

Khi bạn đến chơi nhà ai, thấy chủ nhà tiếp đãi bạn ân cần, nhưng trong khi đó vẫn cứ quát nạt chửi bởi, mắng nhiếc con cái, bạn đã thấy nhột lắm rồi. Trong cách xử thế, người ta gọi là kiểu “chửi chó mắng mèo” để gián tiếp đuổi khách.

Quán bún ngan trên đường Trần Hưng Đạo bà chủ quán áp dụng chiêu này để ra oai. Bà tỏ ra ngọt ngào với khách nhưng lẫn lộn trong sự ngọt như mía lùi ấy là những câu chửi thậm tệ đám “lâu la” bưng bê của cửa hàng: “Mày đi đâu mà giờ mới vác xác đến, ở nhà chôn bố mày à?”.

Thì ra nạn nhân là cô giúp việc mới đang đứng chịu trận trước bà chủ và hàng chục thực khách đang tất bật nhai và… nhẫn nại nghe. Bà chủ quán thấy nhiều người ngẩng đầu ngó, như được khuyến khích (ở Hà Nội còn gọi là được động viên), tay làm hàm càng… chửi!.. Càng chửi càng hăng.

Ở hàng hủ tiếu nổi tiếng trong “ngõ ẩm thực” phố Hàng Chiếu, bà chủ hàng cũng phải chửi người giúp việc liên tục. Bà chửi rất du dương, xen lẫn lời mời với khách hàng khá êm đềm:“Mày có rồ không mà cắt rau dài thế này?”. Rồi quay sang phía một khách hàng trẻ, bà tiếp nối luôn: “Em không ăn rau sống, à”. Rồi lại quay vào chửi người làm: “Cái con ngu vạ ngu vật kia, khách chờ vòng trong vòng ngoài mà cứ đứng như con chết rồi thế kia à?” Lại quay sang phía khách hàng bà “hát luôn”: “Chưa đến lượt em, đợi tí, gái nhé!”. Lại liên tục chửi: “”Xéo về quê mà hốc C.! Loại lười thối thây như mày chỉ tổ ngứa mắt tao!”. Quay sang khách bà đổi giọng một chút: “Ngồi xuống đây em, chật chội tí, thông cảm nhá!”… Cứ thế liên tục bà vừa chửi vừa “hát” vừa bán hàng, không hề biết mệt.

Nhiều người khẳng định họ đều ít nhất 1 lần vừa ăn hàng vừa… được nghe chủ quán chửi người làm. Bà Lan (bán hàng lưu niệm) kể: Cuối tuần trước, cả nhà bà đến quán hải sản biển B.H trên phố Tô Hiến Thành. Bà chủ ở đấy đang quát tháo một nhân viên, thỉnh thoảng lại xỉa xỉa con dao về phía cậu người làm; cậu này thì mặt lạnh tanh như không nghe thấy gì. Các cháu bà Lan ngồi cạnh sợ rúm ró trước lưỡi dao sắc lẻm thỉnh thoảng vung loang loáng trước mặt.

Trước những chủ quán mồm năm miệng mười, chửi người làm như hát hay, nhiều khách nghẹn. Bà Lan chỉ còn biết nói:”Nuốt chưa hết miếng đã muốn đứng lên, ăn một lần là cạch đến già”

Nhưng cũng với nhiều người, nghe chửi ở quán hàng thường như… vừa ăn vừa xem biểu diễn (cốt sao tiếng chửi không dành cho mình!).

Thế nên, “phong cách bán hàng” kiểu… chửi không chỉ phát huy cao độ ở các quán hàng nhỏ, mà nay nó còn được lan sang ở hệ thống nhà hàng bậc trung như L.V (phố Lý Thường Kiệt), Q.N (phố Phan Bội Châu)…

Văn hóa Hà Nội của các anh như thế đó

Điều kinh ngạc hơn cả là tại sao người Hà Nội, dù chỉ là một số người, lại chấp nhận “phong cách” mọi rợ này như một nét riêng của Hà Nội. Những ví dụ nhỏ nhưng có ý nghĩa rất lớn. Đó chính là văn hóa, chính là bộ mặt của Hà Nội. Chẳng lẽ cứ để thế mãi sao, hỡi những nhà thông thái, những nhà xã hội học, những người có bổn phận xây dựng Hà Nội, những người lo cho cả một thế hệ tương lai Hà Nội??? Có lẽ nào các vị này đã quá quen rồi nên thấy như thế là chuyện bình thường chăng? Du khách sẽ nghĩ gì, sẽ “kinh sợ” Hà Nội đến như thế nào nữa?

Một người bạn tôi ở Hà Nội, đang làm việc tại Sài Gòn, đã cam đoan rằng nếu ở Sài Gòn thì những hàng quán như thế không có một cơ hội nào sống sót. Dù rằng cũng còn có một vài hàng quán chưa tiếp đãi ân cần, chưa thể hiện được tính văn minh lịch sự đúng nghĩa, nhưng “phở đuổi, bún quát” thì không hề có. Ngay cả trong cách giao tiếp hàng ngày, hai tiếng “cảm ơn” và “xin lỗi” ở Sài Gòn cũng nhiều hơn ở Hà Nội. Anh bạn tôi ngán ngẩm: “Nếu vừa ăn vừa nghe chửi mà được gọi là “nét văn hóa Hà Nội” thì xin lỗi, chắc tôi không bao giờ dám nhận mình là người Hà Nội nữa”.

Một độc giả ở miền Nam cũng lên tiếng: “Tôi là người miền Nam, tôi thường hay ra Hà Nội công tác và rất thích các món ăn ở Hà Nội. Những lúc rảnh rỗi, tôi thường lân la ăn nhiều món ở Hà Nội. Tuy nhiên, ăn ở đây tôi có cảm giác mình không phải là thượng đế. Ăn mà phải tự mình phục vụ, tự bưng bê, lấy ghế, trông xe, giữ xe, tự đi tính tiền… rồi còn nghe chủ quán quát tháo, cằn nhằn.

Điều này khác hoàn toàn với trong miền Nam, khách hàng khi vào ăn được nhân viên giữ xe ân cần dắt xe, khi ra thì ân cần dắt ra, vào quán chỉ cần kêu, chủ quán phục vụ tận bàn, cho dù gọi lắt nhắt, đủ thứ thì bao giờ người bán hàng cũng vui vẻ, niềm nở.

Không có kiểu “không ăn thì biến” như ngoài Hà Nội”.

Một người có bạn ở nước ngoài về, hãnh diện đưa bạn đi ăn sáng ở quán bún riêu hôm mùng năm Tết. Khi phải đợi hơi lâu, anh bạn lịch sự hỏi người bán hàng, vậy mà được nhận ngay câu chửi: “Từ từ, là bố người ta đ… đâu mà đòi ăn là có được…”. Anh bạn người Hà Nội ngượng tím mặt, đành đem “lịch sử” ra bào chữa rằng “Cái thời mà anh biết về Hà Nội thanh lịch xưa qua rồi, thời đồ đá có lối giao tiếp của đồ đá, thời đồ đồng có lối giao tiếp của đồ đồng, thời đồ đểu có lối giao tiếp của đồ đểu. Anh bằng lòng vậy, anh chỉ ở đây vài ngày rồi đi, còn chúng tôi ở dài dài mới đau”.

Một độc giả khác kể: Tôi được một người bạn mời ăn phở tại quán Phở Nhớ trên đường Huỳnh Thúc Kháng (ngã tư Huỳnh Thúc Kháng – Nguyên Hồng). Thật ngạc nhiên khi bước vào đã nghe thấy bà chủ quán chửi người làm bằng ngôn ngữ thô tục hết chỗ nói, thật sự là ngồi ăn trong hoàn cảnh đó làm sao mà ngon được.

Chưa hết, khi anh bạn tôi hỏi người thái hành: “Hành chưa rửa hay sao mà trông bẩn thế?”. Lập tức bà chủ quán quát tháo: “Anh nói gì? Ai chưa rửa, nhà tôi bán hàng có cho mình anh đâu, ăn thì ăn không ăn thì bước, không cần bán, đ.m cái loại khách này đ.. cần”.

Ôi trời! Tôi nghe như tiếng sét bên tai, thật quá hãi hùng, tôi không thể hiểu nổi người bán phở này nghĩ cái gì trong đầu? Văn hóa nào dạy họ có cách cư xử như vậy? Bây giờ nghe cái gì có từ “Nhớ” tôi cũng giật mình! Thật sự là quán phở đáng “nhớ”! Tôi cảm thấy xấu hổ và xót xa cho Thủ đô của chúng ta”.

Không phải mình bạn xấu hổ đâu, cả Hà Nội, cả nước xấu hổ và ngay cả người VN ở nước ngoài cũng xấu hổ nếu có một du khách nào đó kể về văn hóa Hà Nội của các anh như thế đó.

Không tin bất cứ cái gì ở VN

Tạo nên một phong cách giao tiếp về mọi mặt, từ ẩm thực đến lối cư xử, từ nhà hàng buôn bán, khách sạn, sân bay, bến xe, nơi du lịch của người dân Thủ đô là điều cần thiết. Xin lấy một ví dụ khác, vừa xảy ra:

Ngày 14-2, bà Huyền Thanh – Giám đốc Công ty cổ phần Thương mại & Du lịch Sen Rừng cho biết, lại vừa có thêm hai khách du lịch nước ngoài đi tự do bị taxi “dù” tại sân bay Nội Bài lừa tiền trắng trợn.

Ông bà Duguay Lionel trước khi sang Thái Lan thăm con gái đã dành một tuần vào VN du lịch từ ngày 13-2. Ở Canada, hai người đã tự đặt trước phòng khách sạn và đã biết rõ, giá taxi bốn chỗ từ Nội Bài về khu phố cổ Hà Nội cao nhất là 250.000 đồng VN một chuyến.

Theo lời kể của khách, mặc dù đã thỏa thuận với tài xế taxi ở Nội Bài đúng giá 250 ngàn nhưng khi về tới khách sạn tại phố Hàng Trống, người này “giở mặt” đòi thanh toán 450 ngàn. Thấy hai bên to tiếng, nhân viên khách sạn ra can thiệp nhưng tài xế taxi kiên quyết không mở cửa cho khách xuống. Cuối cùng, hai vợ chồng già đành phải trả thêm 200 ngàn để được yên thân.

Bà Thanh than phiền: “Khi tới văn phòng Sen Rừng mua tour, khách vẫn bất bình và tuyên bố “không tin bất cứ cái gì ở VN”.

Nghe câu này người nào còn ở Việt Nam mà không đau. Đau mà không chối cãi được, không “đính chính” gì được. Chỉ còn biết than: Ô hô! Ai tai!. Văn minh Thủ đô là như thế đó!

Và đến chuyện chợ búa

Tại chợ Ngã Tư Sở trưa 16-2, tại một quầy quần áo, một khách bị chủ hàng túm tóc, nắm chặt tay không cho đi, chủ hàng lấy lý do vì “chưa mở hàng, mặc cả rồi thì phải lấy!”. Hỏi ra, mới biết giá nói thách của chiếc áo là 300.000 đồng, khách chỉ trả 100.000 đồng. Thấy khách đi chợ tò mò đứng lại xem, bà chủ hàng đành buông tay giữ khách, tay kia quăng cái áo vào mặt khách, miệng không ngớt ném theo sau “thượng đế” những câu chửi tục tĩu.

– “Đồ con điên”, xấu như Thị Nở còn bon chen áo xống!”.

– “Khố rách áo ôm, một xu không dính túi thì đừng có sờ vào hàng người ta, hãm tài cả ngày!”.

Cảnh chèo kéo, chửi bới khách xem hàng rồi không mua, không chỉ đầy dẫy ở chợ Ngã Tư Sở mà còn “thường như cơm bữa” ở nhiều cửa hàng, chợ Hà Nội.

Có những điều mà nếu luật pháp nghiêm minh, quyết tâm trừng trị vẫn có thể dẹp được. Nhưng cũng có nhiều thứ mà luật pháp không thể can thiệp được. Người ta chửi thề mấy câu, nói tục vài tiếng, cử chỉ ngông nghênh thô lỗ, khó có thể phạt được, dù là phạt hành chính. Chỉ có sự giáo dục trong từng gia đình, trong từng con người từ lúc còn nhỏ, chỉ có tính cách truyền thống mới làm nên phong cách lịch lãm của một thành phố. Từ trên xuống dưới phải hấp thụ được cái tinh hoa đó thành thói quen và phải có thái độ phản kháng lập tức với những thái độ thô tục, những ngôn ngữ “chợ búa”. Không thể coi đó là chuyện bình thường để rồi chấp nhận nó như một lối sống. Nó sẽ phát huy làm tiêu tan cả một nền văn hóa thanh lịch của người Tràng An, ông cha ta đã để lại.

Chỉ có ý thức của người dân Hà Nội mới tự bảo vệ được thanh danh của mình.
VĂN QUANG
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 12 2010, 03:22 AM
Gửi vào: #16


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Hà Nội nay

Mùa thu Hà Nội vẫn còn
Mà người Hà Nội lên non bú dù
"Bú dù" rời khỏi chiến khu
Trở về Hà Nội "bú dù" kinh đô
"Kinh đô trả lại thằng rồ"
"Man di trả lại sinh đồ trạng nguyên !!!"

Hà thành lắm chuyện ưu phiền
Thằng khôn lên núi thằng "điên" dạy đời
Ba đời bần cố à ơi !
Thăng Long nay đã thành nơi "bú dù"
Thủ đô chữ nghĩa chiến khu
Không câm cũng ngọng không mù cũng đui
Kách mệnh văn hóa không lùi
Tiến lên "Xã Nghĩa" sặc mùi "Khâm Thiên"
Lênin Kátmát muôn niên ... biggrin.gif
H.H

Hai câu ca dao của miền Bắc VN như sau :

"Kinh đô cũng có thằng rồ"
"Man di cũng có sinh đồ trạng nguyên"


đã "bị" H.H ăn cắp sửa lại như trên


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Dec 12 2010, 03:29 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 15 2010, 01:36 PM
Gửi vào: #17


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35








Chiếc Ghế Trống Và Người Tù Vô Tội.

Oslo, ngày 10 tháng 12. Trước tòa thị sảnh, những bước chân đưa tôi đến gần hơn với chiếc ghế trống dành cho một người vô cùng đặc biệt ngày hôm nay. Một người Trung Quốc được vinh dự đoạt giải Nobel Hòa Bình- nhà hoạt động ly khai Lưu Hiểu Ba, nhưng trớ trêu thay anh vẫn bị tước mất tự do, tước mất quyền được đón nhận giải thưởng mà anh xứng đáng được trao.

Đứng xếp hàng chờ đến phiên mình trước toà thị sảnh cùng anh Nguyễn Đức Hóa, hội trưởng Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Nauy, tôi nhận thấy xung quanh mình là những gương mặt quen thuộc của những nhà chính trị cấp cao của Nauy xen lẫn những gương mặt của những khách mời đến dự lễ. Không khí nhộn nhịp với những bài nhạc của đội kèn, và tiếng hô trả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba của những nhóm ủng hộ đứng xa xa.
Trước khi vào, mọi túi xách mang theo đều được kiểm soát qua máy, và mọi người đều phải đưa giấy mời có tên họ của mình cũng như giấy chứng minh để cảnh sát kiểm tra xem có đúng người không. Sau khoảng 5 phút chờ đợi, tôi đã được đặt chân vào bên trong. Đập vào mắt tôi là những bông hoa trang trí kết rất đơn sơ mà nét đẹp hài hòa thanh tú. Hội trường trao giải cho tôi cảm giác thật ấm cúng và nghiêm trang với những hình tạc của nhà sáng lập giải Nobel được đặt ở hai bên.

Chúng tôi được hướng dẫn xuống lầu phía dưới treo áo khoác và chờ đến giờ khai mạc lễ trao giải Nobel cho năm 2010. Đứng lẫn lộn giữa những nhà chính trị gia lãnh đạo Nauy và những gương mặt nổi tiếng, cả tôi và anh Hội Trưởng đều có cảm nhận là nơi đây, mọi người dù quyền cao chức trọng hay vô danh tiểu tốt đều được đối xử như nhau. Rất đáng để các nhà lãnh đạo nước ta học hỏi.

Còn 5 phút nữa thôi thì buổi lễ sẽ bắt đầu. Chúng tôi trở lại hội trường và tôi vô cùng xúc động khi thấy tấm hình của nhà ly khai Lưu Hiểu Ba đang được treo lên trang trọng giữa hội trường, nơi 7 chiếc ghế được dành cho sáu người trong Uỷ Ban Trao Giải Nobel Hoà Bình và người đoạt giải.

Thêm hai chiếc ghế danh dự dành cho nhà vua và hoàng hậu Nauy.

Mọi người vào chỗ, cả hội trường hầu như không còn chỗ trống.

Uỷ ban trao giải Nobel Hòa Bình từ từ tiến vào chỗ ngồi trong tràng pháo tay không dứt của những người tham dự.

Marita Kvarving Sølberg mở đầu buổi lễ trao giải với giọng ca ngọt ngào làm lắng lòng người nghe với bài nhạc «solveigs sang»

Thorbjørn Jagland, chủ tịch Ủy Ban Nobel Hoà Bình bắt đầu bài phát biểu của mình trong không khí vô cùng nghiêm trang của thính giả. Sau khi tuyên bố giải thưởng được trao về nhà đấu tranh dân chủ Lưu Hiểu Ba và lý do Ủy Ban trao giải này cho ông, Jagland đã xin lỗi rằng người được đón nhận vinh dự hôm nay không thể có mặt ngày hôm nay, ông đang bị giam giữ tại nhà tù phía Đông bắc Trung Quốc, cả vợ và người thân của ông cũng không thể có mặt. Do đó hôm nay sẽ không có nghi lễ trao huy chuơng và bằng danh dự tại đây.

Ông Jagland cũng nhấn mạnh rằng: chỉ việc này thôi cũng đã cho thấy sự cần thiết và thích hợp của giải Nobel Hoà Bình năm nay. Và ông chúc mừng ông Lưu Hiểu Ba.

Chiếc ghế trống dành cho người đoạt giải!

Đây là lần đầu tiên trong 65 năm qua của giải Nobel Hoà Bình mà chiếc ghế của người nhận giải phải bỏ trống. Trong bài phát biểu của mình, ông Jagland đã nhắc lại nhiều trường hợp những người đoạt giải trước đây cũng bị ngăn cản không cho đến dự như Carl von Ossietzky- năm 1935, Andrej Sakharov năm 1975, Lech Walesa- năm1983, Aung San Suu Kyi -năm 1991.

Ông Jagland cũng nhấn mạnh là những giải thưởng Nobel này không hề có ý muốn xúc phạm bất cứ ai, mà Uỷ Ban Nobel chỉ muốn truyền tải thông điệp về mối liên hệ giữa nhân quyền, dân chủ và hoà bình. Những giải thưởng nhắc cho chúng ta nhớ rằng những giá trị mà phần lớn trên thế giới có được là nhờ sự đấu tranh của những người đã hy sinh rất nhiều. Họ làm vì người khác và ông Lưu Hiểu Ba là người xứng đáng được sự ủng hộ của chúng ta.

Ông Lưu cũng nhờ vợ mình nói lại là ông muốn dành giải thưởng năm nay cho những linh hồn đã hy sinh trong trận Thiên An Môn ngày 4.tháng 6, năm 1989. Và uỷ ban Nobel rất vui được làm theo ý ông.

Tôi lắng nghe Jagland và thầm ngưỡng mộ khi ông nói về giá trị đích thực của mối quan hệ hòa bình thật sự giữa các quốc gia với nhau không thể được tạo ra nếu thiếu yếu tố nhân quyền và dân chủ. Về sự thiếu quân bằng khi phát triển kinh tế mà thiếu tự do ngôn luận sẽ chỉ làm gia tăng tham nhũng và thói kiêu ngạo quyền lực. Ông cho rằng mỗi bộ máy quyền lực phải được cân bằng bằng sự kiểm soát từ nhân dân, tự do truyền thông và quyền chỉ trích của mỗi cá nhân.

Jagland cũng nêu rằng Trung Quốc đã ký kết một số phê chuẩn của Liên Hiệp Quốc và ILOs về nhân quyền. Điều thú vị là Trung Quốc đã chấp nhận cơ chế giải quyết xung đột siêu quốc gia trong WTO.

Ông còn nêu: “Hiến pháp của Trung Quốc bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Điều 35 của hiến pháp để rằng: "Công dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và tự do hội họp, tự do biểu tình ." Điều 41 bắt đầu bằng:"công dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền chỉ trích và nêu quan điểm của họ trên bất kỳ cơ quan nhà nước và bất kỳ người đại diện chính phủ nào ".

Dựa trên tất cả những điều này thì Lưu Hiểu Ba hoàn toàn vô tội. Ông không làm điều gì sai trái, chỉ xử dụng quyền công dân của mình mà thôi. Và ngược lại chính phủ Trung Quốc đang làm ngược lại những gì mình đã cam kết.

Kết thúc bài phát biểu của mình, ông Jagland đặt huy chuơng và bằng danh dự vào chiếc ghế trống dành cho người thắng giải.

Những tràng pháo tay vang dội cả trong lúc Jagland phát biểu và sau khi ông kết thúc.

Tôi chưa từng được nghe bài phát biểu nào hay đến thế. Cả hội trường như cùng òa vỡ trong những tràng pháo tay không ngớt.

Nhạc lại trỗi lên. Lynn Chang với tiếng violin êm dịu và réo rắt như muốn đưa những thông điệp này đến xa hơn, cao hơn.

Khán phòng lại im phăng phắc khi Liv Ullmann đọc bài viết của ông Lưu Hiểu Ba «I Have No Ennemies.My Final Statement».

Tôi không thể nhớ hết được cả bài nhưng tôi nhớ nhất là ông đã luôn lấy tình yêu thương để đáp lại những đàn áp, bất công mình phải gánh chịu, ông không hề mang thù hận trong lòng mà chỉ mang một tình yêu quê hương tha thiết với ước muốn cho một Trung Quốc tốt đẹp hơn. Một bài viết làm cả khán phòng vô cùng xúc động. Tôi thích nhất điều ông viết rằng không có quyền lực nào có thể ngăn cản nổi khát vọng vươn đến tự do, khi người ta ngăn cản quyền tự do cũng là lúc người ta chà đạp quyền làm người và che giấu sự đi sự thật. Nươc mắt tôi rơi không kềm được và xung quanh nhiều người cũng đưa tay lau mắt. Hơn bao giờ hết tôi cảm nhận được giá trị của giải Nobel năm nay và cảm nhận được sự xứng đáng của người nhận giải. Từ giây phút này, ông đã trở thành một thần tuợng của tôi.

Sau bài viết đầy xúc đông của chính người đoạt giải. Ca đoàn thiếu nhi của Den Norske Opera og Ballett đã hoàn thành nguyện uớc của ông với nhiều bài hát. Ông Lưu Hiểu Ba đã nhờ người truyền đạt lại uớc muốn này đến ban tổ chức. Ông ao uớc sẽ có một ca đoàn thiếu nhi hát trong lễ trao giải của ông, vì đối với ông, thiếu nhi là thế hệ tuợng trưng cho tuơng lai. Ông luôn mong muốn một tuơng lai tốt đẹp hơn cho TQ nói riêng và mọi người nói chung nên ông rất chú trọng vào thế hệ mai sau.

Buổi lễ đã kết thúc, nhưng những tràng pháo tay vang mãi. Một buổi lễ trao giải Nobel lịch sử. Tôi thấy mình thật may mắn và vinh dự được chứng kiến và tham dự cho sự kiện trọng đại và ý nghĩa như hôm nay. Và không khỏi hãnh diện khi mình được là một trong những người đại diện cho cộng đồng người Việt ở Nauy có mặt nơi đây để thể hiện sự ủng hộ và biết ơn nhà đấu tranh dân chủ Lưu Hiểu Ba. Trong khi đại sứ quán Việt Nam tại Nauy từ chối tham gia thì tôi mong rằng sự hiện diện của mình sẽ nói thay cho sự ủng hộ của bao người Việt ở hải ngoại cũng như trong nuớc đối với giải Nobel này.

Khán phòng thưa dần nhưng chiếc ghế trống vẫn giữ buớc chân tôi ở lại. Tôi đến gần hơn và tự hỏi cả thế giới sẽ nghĩ gì khi nhìn vào chiếc ghế trống ấy ?

Riêng tôi, trong lúc nhìn vào chiếc ghế trống, tôi cảm thấy rất đau lòng. Đau lòng khi nghĩ đến ông Lưu Hiểu Ba và những người đã hy sinh hay vẫn trong vòng tù tội chỉ vì họ nói lên niềm khao khát tự do và một tương lai tốt đẹp hơn, chỉ vì họ hy sinh quên bản thân mình để mong muốn mang lại một sự thay đổi tốt hơn cho đất nước cho dân tộc mình, chỉ vì họ muốn quyền làm người phải thực sự được tôn trọng. Tôi đau lòng vì tôi nhìn thấy một chính quyền Trung Quốc độc tài mù quáng. Thay vì song song với việc phát triển kinh tế, họ phải quan tâm hơn, bảo vệ quyền lợi của người dân, nhưng ngược lại, Trung Quốc đang chà đạp những giá trị đích thực để đem đến sự hùng mạnh cho một quốc gia. Tôi đau lòng vì khi một quốc gia tiêu cực như thế, cả thế giới này cũng bị ảnh hưởng dù ít dù nhiều. Và tôi đau lòng hơn khi biết rằng hiện trạng quê huơng mình cũng không hơn gì so với Trung Quốc.

Nhưng chiếc ghế trống cũng mang lại cho tôi cảm giác hạnh phúc. Đó là tôi biết rằng những hy sinh lớn lao của những người không mệt mỏi đấu tranh cho nhân quyền, tự do dân chủ không bị mai một hay quên lãng. Những hy sinh đó vẫn được cả thế giới quan tâm. Bốn bức tường của nhà tù không đủ để ngăn cản sự đồng cảm và chia sẻ giữa những người đang hiện diện nơi này với những người đang mòn mõi trong chốn lao tù.

Chiếc ghế trống còn cho tôi hy vọng. Hy vọng về những điều tốt đẹp mà bao người đang hy sinh rất nhiều để đạt đến. Hy vọng rằng một ngày nào đó một trong những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam cũng sẽ có được vinh dự ngồi vào chiếc ghế trống ấy.

Hôm nay là một ngày ý nghĩa nhất trong đời tôi.

Oslo 10.12.2010.

Nguyệt Minh.



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 23 2010, 09:43 AM
Gửi vào: #18


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Xuất Tuyệt Chiêu QE2 : Cứu Mỹ Hạ Tàu



Khi FED xuất chưởng QE2 $600 ngày 03.11.2010, thì giới Tài chánh chuyên môn của Bắc Kinh thấy sợ hãi liền vì họ biết từ lâu cái quyền lực nhân tiền của FED bằng tăng tốc độ quay tiền (Accélération de la vitesse de rotation de la monnaie). Nói đến FED, họ coi như những ông thần ảo thuật nhân tiền. Trong gần 20 năm làm việc với Tập đoàn Tài chánh Mỹ có Trụ sở tại Zurich,
PAPADAKIS INVESTMENT WORLD Co.Inc., tôi đã có dịp nhìn thấy những Chứng nhận Vốn ngân hàng (Bank Proofs of Funds) từng tiền tỉ phát hành bởi Ngân Hàng Trung quốc (Bank of China) gửi qua Tập đoàn để nhờ liên hệ với FED mà nhân tiền. Giới Tài chánh chuyên môn từ Bắc Kinh, Hồng Kông biết cái quyền lực nhân tiền của FED như ảo thuật. Với $600 tỉ, FED có thể nhân lên gấp hai, gấp ba… vân vân… tùy nhu cầu phải hành động.
Trung quốc chỉ nhằm lợi dụng Mãi lực của Dân Mỹđể làm giầu cho riêng mình
Khi mới đắc cử, TT.Obama sang Trung quốc và đã tuyên bố nịnh Tầu như trên Thế giới chỉ có hai đối tác chính là Mỹ và Tầu để hướng dẫn cân bằng phát triển Kinh tế Thế giới. Nhưng trong chuyến đi Á châu mới đây, sau khi đảng Dân chủ mất nhiều ghế và chính Ông bị công kích về việc thụt lùi của Hoa kỳ về Kinh tế, TT.Obama đã không có quyền nói ngoại giao mơn trớn Trung quốc nữa, mà đã thẳng thừng công kích các nước Á đông, nhất là Trung quốc đã lợi dụng Mãi lực của Dân Mỹ mà làm giầu cho mình. Ông tuyên bố tại Hội nghị Thượng đỉnh G20 Seoul và Hội Nghị APEC Nhật:
“Không quốc gia nào nên chỉ dựa tăng trưởng vào việc xuất khẩu hàng sang Mỹ.
Các nước có thặng dư lớn phải có các bước đi nhằm thúc đẩy nhu cầu nội địa. Điều này rõ ràng là ám chỉ tới Trung Quốc.
Không nước nào nên cho rằng con đường dẫn tới thịnh vượng của họ chỉ dựa vào việc xuất khẩu hàng sang Mỹ.
Nhìn về phát triển, không nước nào nên cho rằng con đường tới thịnh vượng của họ chỉ dựa vào việc xuất khẩu hàng sang Mỹ.
Cạnh tranh lành mạnh không cần phải gây ra rạn nứt giữa các quốc gia.”
Câu nói chót này ám chỉ Trung quốc đã cho tiền của mình bám xà nẹo lấy Đo-la và sử dụng gian giảo Tỷ giá đồng Yuan thấp đối với Đo-la để làm cạnh tranh bất chính cho xuất cảng.
Nếu nhìn lại phát triển Kinh tế Nhật, Đài Loan, Nam Hàng, thì các nước này đã nhờ Mãi lực lớn của Thị trường Hoa kỳ mà làm giầu. Ngày nay trong những chục năm trường, Trung quốc làm việc cho xuất cảng sang Mỹ chính yếu, lại thêm gian giảo sử dụng tỷ giá đồng Yuan thấp để cạnh tranh.
TT.Obama không phải là nhà Kinh tế, chuyên viên Marketing, nhưng những cố vấn của ông đã yêu cầu ông phải nói ra sự thật. Lời nói của Ford còn đó: “Tôi trả lương cao cho Thợ để họ mua xe hơi tôi sản xuất“ nghĩa là phải cộng tác tạo mãi lực cho chính khác hàng của mình. Sau Thế Chiến thứ II, Âu châu kiệt quệ, chính Hoa kỳ phải bỏ ra $173 tỉ để tái thiết Âu châu, làm cho Mãi lực Âu châu cao lên, thì Mỹ mới có thể bán hàng sang Âu châu được.
Trung quốc chỉ nhằm khai thác Mãi lực dân Mỹ cho đến kiệt quệ, trong khi đó lại không tạo Mãi lực cho chính dân của mình để Mỹ có thể xuất cảng hàng sang bán ở Trung quốc.
Nếu chủ trương Kinh tế Trung quốc chỉ nhằm ích kỷ hại người, thì những hậu quả sẽ xẩy đến cho chính Kinh tế Trung quốc. Thực vậy nếu làm Kinh tế mà chỉ lo vơ vét, làm cho khách hàng trở thành nghèo kiết xác, thì Trung quốc sẽ bán hàng cho ai. Kinh tế Hoa kỳ đang bị đe dọa bởi tụt giá (Déflation) vì thiếu Mãi lực tiêu thụ. Thất nghiệp gần tới 10%, dân không có lương, thì tất nhiên không có mãi lực như trước. Chính Trung quốc phải lãnh nhận hậu quả này vì Kinh tế Trung quốc lệ thuộc vào hai Thị trường lớn là Hoa kỳ và Liên Âu. Mỹ và các nước Liên Âu nợ nần, thất nghiệp tăng.
Hệ luận của tình trạng này là phải ra Độc chiêu để cứu mình và hạ tính ích kỷ gian giảo của Trung quốc.
FED phải đi tới cùng của Độc chiêu QE
Trước khi đi tham dự cuộc Họp thượng đỉnh G20 Séoul, theo CNN, New York Times, Hồ Cẩm Đào đã được các chuyên viên Tài chánh Bắc Kinh nói cho biết ảnh hưởng của Độc chiêu QE2:
“Các chuyên gia có tiếng tại Trung Quốc vừa cho biết việc Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) quyết định tung 600 tỉ USD mua lại trái phiếu chính phủ Mỹ là một đòn độc với Trung Quốc.
Việc FED tung 600 tỉ USD mua lại trái phiếu được cho là một đòn độc với Trung Quốc.
Các chuyên gia có tiếng tại Trung Quốc đã nhận định rằng hành động trên sớm muộn sẽ khiến cho Trung Quốc vấp phải nhiều vấn đề nan giải.
Trước tiên, tỉ giá đồng nhân dân tệ (NDT) có khả năng tăng vượt tầm kiểm soát của Trung Quốc. Xu thế NDT tiếp tục tăng giá là khó có thể đảo ngược. NDT tăng giá là cản trở rất lớn đối với xuất khẩu của nước này.
Quyết định của FED cũng khiến cho việc thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô của Trung Quốc đang đứng trước nhiều thách thức to lớn.”
Như chúng tôi đã nhận xét về cuộc Họp thượng đỉnh G20, đó là cuộc họp G2 giữa Mỹ và Tầu. Các nước khác không thể công kích Mỹ để làm cho Mỹ căng thẳng mà quyết định đi đến Che Chở Mậu dịch (Protectionnisme). Trung quốc cũng hiểu như vậy và tỏ thái độ như nhận lỗi của mình. Trong cuộc Họp riêng giữa TT.Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Trung quốc không còn giọng hống hách như Thủ tướng Ông Gia Bảo đã bất lịch sự đối với TT.Obama như trong cuộc Họp về Hâm Nóng Bầu khí tại Thụy Điển, bằng cách không thèm đến cuộc Họp riêng do TT.Obama mời.
Trong cuộc Họp riêng tại Seoul, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chỉ than thở cho hậu quả Độc chiêu của Mỹ lên Kinh tế Tầu. Theo tiết lộ của Đài CNBC đêm 12.11.2010, ngày kết thúc cuộc Họp thương đỉnh, ông than với TT.Obama rằng Trung quốc không thể tăng Tỷ giá đồng Yuan theo hướng thúc đẩy tăng lên hiện giờ bởi vì việc tăng Tỷ giá đồng Yuan sẽ làm hỗn loạn Kinh tế Trung quốc:
=> Giá hàng hóa lên cao và do đó những Đặt mua hàng Trung quốc bị giảm
=> Đặt mua hàng giảm thì các Công ty thải thợ, thất nghiệp tăng tại Trung quốc
=> Thêm vào đó, một số Công ty nước ngoài thấy không có lợi nữa và sẽ chuyển sản xuất sang các nước khác có lợi hơn
=> Đồng Yuan tăng vọt Tỷ giá, thì tình trạng Lạm phát cũng tăng làm Dân chúng bất bình.
=> Lạm phát tăng làm Dân chúng bất bình. Thất nghiệ tăng làm công nhân bất bình. Cả hai sẽ dẫn đến xáo trộn Xã hội và Chính trị
Hồ Cẩm Đào chỉ than cho hậu quả của Độc chiêu QE trên nước mình, mà không nghĩ rằng chính sách triền miên hạ Tỷ giá đồng Yuan đang gây hậu quả rất đau lòng cho Kinh tế Hoa kỳ hiện nay với tình trạng Thất nghiệp lên tới 10% và với lo lắng tình trạng Tụt giá (Déflation) của những năm 1930.
Thực tình, tôi lo lắng TT.Obama mang nhiều tình cảm, với nhãn hiệu Nobel Hòa bình, có thể trở thành mủi lòng trước những than thở đau lòng của Hồ Cẩm Đào. Tôi ngầm mong TT.Obama không vì xung động tình cảm trước những than vãn của Hồ Cẩm Đào mà nhượng bộ. Hãy để cho GsTs Ben BERNANKE, gốc Do Thái, lạnh lùng tung Độc chiêu QE bẻ gẫy tính kiêu ngạo của Trung quốc cho đến cùng.
Hãy thương nước Mỹ trước đã, trước khi xung động tình cảm thương Trung quốc, kẻ đã gian giảo lợi dụng Mỹ cho đến tình trạng ngày hôm nay.
Luật nhân quả đang hoành hành lên Gian giảo Kinh tế Trung quốc
Phải thương mình trước đã. Còn đứng trước đối phương cạnh tranh, nếu đối phương quỵ ngã sau khi đã gian giảo hại mình và nếu việc qụy ngã này không hại gì cho mình, thì để cho kẻ đã hại mình ngã quỵ chết luôn.
Chúng tôi đã viết nhiều những chi tiết về mục đích đạt tới và tầm ảnh hưởng của Độc chiêu QE2. Hôm nay, chúng tôi chỉ nói đến một số mục đích và những ảnh hưởng điển hình.
=> Mục đích của Chiêu QE cho Hoa kỳ.
Giáo sư Tiến sĩ Ben BERNANKE được một số nhà Kinh tế cho cái tên là “Mr.Helicopter” bởi vì Giáo sư chủ trương rải tiền như Helicopter thả truyền đơn cho Dân chúng có tiền tiêu mà kích thích sản xuất.
* Nhân tiền lên để mua Trái phiếu Ngân khố với chủ đích hạ Lãi suất dài hạn. Việc hạ Lãi suất này sẽ làm cho các Vốn đầu cơ dồn sang các nước khác để tìm Lợi nhuận cao. Chính việc hạ Lãi suất dài hạn này còn làm cho các nhà đầu tư đổ dồn vào những Cổ phiếu ngắn hạn khiến những Cổ phiếu này tăng giá. Theo con số Thống kê Hoa kỳ, thì Dân chúng Mỹ giữ số lượng USD.7,000 tỉ dành cho Cổ phiếu. Khi giá Cổ phiếu lên cao, thì Dân chúng thấy mình giầu hơn và tăng Mãi lực tiêu thụ tại Mỹ.
* Làm cho Thị trường Tài chánh có dồi dào vốn để các Công ty dễ dàng vay tiền đầu tư. Đây là khía cạnh làm giảm thiểu Thất nghiệp tại Mỹ.
* Rót những lượng tiền nhân lên từ $600 tỉ vào lưu hành làm giảm giá đồng Đo-la. Như vậy hàng Hoa kỳ dễ dàng xuất cảng hơn và do đó các Công ty tăng sản xuất và nhận thêm thợ làm giảm Thất nghiệp.
=> Tầm ảnh hưởng của Độc chiêu QE lên các nước khác
Như trên chúng tôi đã nói, vấn đề chính yếu là cứu mình, còn tầm ảnh hưởng lên các nước khác, nhất là Trung quốc, thì để họ lo giải quyết những vấn đề của họ.
* Khi nhân tiền lên từ $600 tỉ để mua Trái phiếu Ngân khố làm giảm Lãi suất dài hạn, thì những khối vốn đầu cơ chạy vòng vòng trên Thế giới bỏ Thị trường Hoa kỳ và dồn vào những nước có độ tăng trưởng mạnh như Trung quốc hoặc nhóm những nước bắt đầu phát triển để kiếm Lợi nhuận cao. Ảnh hưởng này đang xẩy ra:
“Stock Markets across Asia have been boosted by hot money inflows from European and American Investors “ (Financial Times 23.11.2010, page 26)
(Những Thị trường Chứng khoán khắp Á châu đã được phồng lên bằng việc chảy vào bằng tiền nóng do những nhà đầu tư Âu châu và Hoa kỳ).
Hậu quả của việc chảy vào này làm tăng Lạm phát. Cái hậu quả này đang làm cho Trung quốc nát cái đầu với những biện pháp cứu chữa tạm thời. Lạm phát tăng vọt sẽ chuyển sang những xáo trộn Xã hội và Chính trị. Đối với Trung quốc, nếu Độc chiêu QE có thể làm cho Dân nghèo bạo loạn, thì đó cũng là việc làm phúc đức của Độc chiêu QE. Thay vì đòi hỏi Nhân quyền chỉ làm công việc kêu gọi suông, thì hãy làm cho Dân chúng bạo loạn lật đổ độc tài để dành lấy Dân chủ và thực hiện những quyền của con người đã bị độc tài cướp đoạt. Đây là việc thiện mà Độc chiêu QE phải tiếp tục đẩy mạnh làm sứ mạng của mình cho Dân nghèo bị bóc lột.
* Khi đồng Đo-la hạ giá tràn vào, điều đó có nghĩa là làm cho tỷ giá đồng Yuan phải tăng đối với Đo-la. Đây là phương pháp bắt ép Trung quốc phải tăng tỷ giá đồng Yuan với hậu quả làm giảm xuất cảng. Như vậy Cán Cân Mậu dịch Hoa kỳ đối với Trung quốc cũng giảm thua lỗ. Không cần phải khuyên Trung quốc nữa, mà cứ tiếp tục tăng cường chưởng lực cho Độc chiêu QE. Cứ làm mà không cần nói nữa. TT.Obama đã cảnh cáo về việc Trung quốc và các nước Á châu lợi dụng Mãi lực Dân Hoa kỳ mà làm giầu riêng cho mình. Dùng Độc chiêu QE mà chặn đứng tính ích kỷ này của Trung quốc.



Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 25.11.2010
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 5 2011, 04:43 PM
Gửi vào: #19


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Dear all Seniors,
Đầu năm mới dương lịch gửi đến quí Seniors bài viết về Tiền Tệ Nước Mỹ, trước đây vài năm cũng có một bài của một vị Bác Sĩ người Việt nói cùng một vấn đề như thế này. Là một chuyên viên Địa Ốc mà phổ biến bản tin này thì thật là nghịch lý, tuy nhiên mỗi người trong chúng ta cần có cái nhìn chính xác hơn khi chúng ta đang sống ở xứ Mỹ mà Tư Bản Mỹ đầy quyền lực đã dùng đồng Đô La chi phối cả thế giới. Bài nghiên cứu rất công phu, bỏ qua rất uổng.
Thân mến





Subject: Tien te nuoc My



Câu trả lời là: KHÔNG BAO GIỜ MUA NHÀ HOẶC ĐẦU TƯ VÀO ĐỊA ỐC. Vì vấn đề rất phức tạp nên chúng tôi xin được tách ra từng phần để quí vị dễ hiểu.

1.Ai điều khiển (control) và là chủ thật sự của địa ốc.
2.Ai kiểm soát hệ thống tiền tệ của Mỹ.
3.Họ là ai?
4.Những Tổng Thống Mỹ đã liên quan đến “Họ”.
5.Có nên mua nhà hay không?
1. Ai điều khiển (control) và là chủ thật sự của địa ốc.

Họ là những người có quyền qui định lãi suất thật thấp để đánh vào lòng tham con người. Vì lãi suất thấp nên mọi người đổ xô đi mua nhà. Gía nhà tăng giả tạo (buble housing), đương nhiên.

Khi giá nhà đã lên tới đỉnh và số người mua nhà đã đủ nhiều theo ý họ, họ bắt đầu tăng lãi suất. Họ tăng tới khi nào số người mất nhà đã đủ theo ý họ, lãi suất sẽ không tăng.

Bước kế tiếp là họ tịch thu nhà bao gồm cả lấy nhà từ những nhà bank bị phá sản (Countrywide, Washington Mutual…) dưới hình thức mua lại các nợ xấu với giá rẻ mạt một cách hợp pháp. Hiện tại, họ đã là chủ hơn 55% đất đai, địa ốc ở Mỹ.

Sau khi đã lấy được tài sản của quí vị, họ lại hạ lãi suất để bán ra trở lại với giá của họ.

Họ đã từng gây ra cuộc khủng hoảng những năm 1930. Bây giờ, bổn cũ xào lại.

Quí vị thường hay nghe nói khủng hoảng kinh tế có chu kỳ. Thưa đúng vậy. Chính họ tạo ra chu kỳ đó để kiếm tiền thật nhanh, thật nhiều. Vì chu kỳ suy thoái không thể tự nhiên mà có. Nếu nó tự nhiên có, sẽ có qui luật ngăn ngừa. Vì do người gây ra nên không biết lúc nào xảy ra.

Chính T.T. thứ ba Thomas Jefferson (1801-1809) còn phải thốt lên: “ Nếu cứ như thế này, con cháu chúng ta sẽ thức dậy vô gia-cư, trên cái lục địa mà cha mẹ của chúng đã chiếm được.”

Giáo sư Milton Friedman, Nobel Prize về kinh tế, viết: “Nhứt định là “họ” đã gây ra cuộc Đại Khủng Hoảng vì thu rút lại một phần ba (1/3) số tiền đang lưu hành từ năm 1929 tới năm 1930”.

Quí vị có thể hỏi tiền ở đâu mà họ có thể khuynh loát toàn thể địa ốc nước Mỹ?

Câu trả lời rất đơn giản: Họ có quyền in tiền (giấy xanh dollar) và họ đã in gần 100 năm nay. Sau khi in tiền, họ mua lại bond của Chính Phủ, họ cho các nhà bank nhỏ mượn. Tiền lời từ bond trả cho họ là từ tiền thuế của người dân. Như vậy, họ đã ăn cả chì lẫn chài. Nghĩa là, họ in tiền ra từ số không (from nothing) và mọi người phải trả lời cho số tiền đó.

Họ là ai?

2. Ai kiểm soát hệ thống tiền tệ của Mỹ

Năm 1691, các thuộc địa của Anh trên đất Mỹ phát hành tiền giấy gọi là “Colonial Scrip” để trả lương cho công chức và để cho dân sử dụng.

Ông Benjamin Franklin, chủ nhà in, chỉ phát hành đúng theo nhu cầu, cần bao nhiêu thì phát hành bấy nhiêu. Chính phủ không cần lấy thuế để có tiền. Lạm phát (inflation) hay giảm phát (deflation) không xảy ra. Nhờ vậy mà các thuộc địa trở nên rất phồn thịnh, không có thất nghiệp. Ngược lại, London của mẫu-quốc có đầy dãy ăn xin.

Năm 1751, các chủ nhà bank Anh lobby triều đình. Sau đó, vua George II ra lệnh cấm các thuộc địa phát hành tiền giấy, mà phải dùng tiền “coins” của mẩu-quốc (do các nhà bank Anh đã hợp thành một thể dưới tên là Bank of England phát hành).

Năm 1752, Vua George III kế vị giữ nguyên lệnh ấy. Các thuộc địa bị ảnh hưởng tai hại. Vì thiếu tiền coins do mẩu quốc siết để tạo sự kém phát (deflation), người chủ không đủ tiền mướn thợ, hàng hóa không được sản xuất. Mười ba thuộc địa bị nghèo đói, nên họ đứng lên chống đối chính quyền dẫn đến cuộc Cách Mạng Mỹ năm 1774..

Quốc hội Mỹ (Congress) quyết định phát hành tiền giấy được gọi là “the Continental” dưới hình thức IOU (I owe you.). Chính Phủ sẽ trả lại bằng tiền coins (vàng hay bạc) sau này. Khoảng 200 triệu dollars dưới hình thức IOU được phát hành để chi phí cho cuộc chiến giành độc lập. Mẫu quốc (Anh) phản ứng bằng cách in tiền giả đổ ào ạt vào thị trường các thuộc địa. Một cuộc đại lạm phát xảy ra. Nghĩa la, mẫu-quốc Anh thua trên chiến trường, nhưng thắng trên mặt trận kinh tế.

Tiền IOU không còn giá trị vì nạn tiền giả. Hiến Pháp Hoa Kỳ đã được viết ra: “Congress có quyền “create coin money” (thay vì “create money”). Khai thác lỗ hở to tát đó, các ngân hàng Anh quốc tư nhân nói rằng chiếu theo Hiến Pháp, chính phủ chỉ có quyền phát hành coins, và nhà bank có quyền phát hành tiền giấy. Nhà bank in giấy cam kết sẽ trả lại đúng số coins (bằng vàng hay bạc) ghi trên giấy. Dân chấp nhận coi những giấy ấy như là tiền.

ARTICLE 1, SECTION 8 OF THE CONSTITUTION STATES THAT CONGRESS SHALL HAVE THE POWER TO COIN (CREATE) MONEY AND REGULATE THE VALUE THEREOF.

Tổng Thống thứ ba Thomas Jefferson (1801-1809) thấy cái nguy hại cho đất nước và gọi liên đòan các nhà bank (the banking cartel) là ”một con quái vật ăn thịt ngưởi có cái đầu của con hydra”.

Theo online dictionary, Hydra là một con rắn có chín đầu (trong thần thoại) hể chặt đầu này thì nó sẽ mọc hai đầu khác. Nó có nhiều cái vòi (tentacles) rất dài để bắt mồi từ xa.

Tổng Thống Thomas Jefferson nói rằng “Nếu dân Mỹ để cho nhà bank kiểm soát việc phát hành tiền tệ của mình, thì trước hết bằng sự lạm phát (inflation) rồi bằng sự giảm phát (deflation) các nhà bank và các công ty sẽ phát triển và tước đoạt hết tài sản của dân, thì con cháu chúng ta sẽ thức dậy vô gia-cư, trên cái lục địa mà cha mẹ của chúng đã chiếm được.”

Năm 1811 Congress không chấp nhận tái bản cho đặc quyền (phát hành tiền giấy) cho First U.S.Bank. Thì chiến tranh với Anh quốc (the War of 1812) bùng nổ. Chiến tranh đưa quốc gia đến sự lạm phát (inflation) và nợ nần (debt).

Năm 1816, vi lạm phát và nợ nần do chiến tranh , Tổng Thống thứ tư James Madison (1809-1817) vị T.T. phải ký một đặc quyền 20 năm (a twenty year charter) cho Second Bank of The United States.


Năm 1832, Tổng Thống thứ 7 Andrew Jackson (1829-1837) veto dự luật của Congress cho phép tiếp tục ban đặc quyền cho Second Bank of the United States.

Trong bản veto Ông viết:” Không có cái gì nguy hại cho sự tự do và độc lập của chúng ta hơn là hệ thống nhà bank nằm trong tay của người ngoại quốc. Họ kiểm soát tiền tệ của chúng ta, lấy tiền của dân ta, và bắt giữ cả ngàn công dân của chúng ta phải lệ thuộc, thì còn đáng sợ hơn và nguy hiểm hơn là một thủy binh hay một quân đội của địch”.


Cho nên đến tháng 4- 1834 Hạ Viện (House of Representatives) với 134 phiếu thuận và 82 phiếu chống, đã hủy bỏ việc tái bản đặc quyền (phát hành tiền giấy) cho Second U.S.Bank.

Đến tháng 1- 1835 thì T.T. Jackson trả được hết các nợ của chánh phủ. Rồi ngày 30-1- 1835, khi T.T. Jackson đến Capitol để dự tang lễ của Dân-biểu Warren R. Davis của South Carolina thì ông bị mưu sát bởi một tên thợ sơn điên đứng cách Ông có sáu feet bắn hai phát đều trật.

Nhưng sau khi T.T. Jackson đóng cửa nhà bank trung ương (Central Bank) thì tiền giấy được dùng là những banknotes của của các nhà banks tư của các Tiểu Bang, hứa sẽ trả lại bằng vàng hay bạc chớ không phải là tiền của quốc gia (national currency). Mghĩa là con quái vật chưa chết.

T.T. thứ 16 Abraham Lincoln (1861-1865), liền sau khi đắc cử thì Nội Chiến Nam-Bắc (The Civil War) bùng nổ (1860) vì vấn đề “Nô-lệ” (Slavery).

Các nhà bank của vùng Đông (tức là thuộc về Union) đề nghị cho chánh phủ vay $150 triệu với phân lời rất nặng từ 24 tới 26%. T. T. Lincoln từ chối và quyết định chánh phủ sẽ in tiền lấy. Tiền in ra có tên chính thức là “United Note’ nhưng dân chúng quen gọi là “Greenback”.

Vì tiền được in ra vừa đúng nhu cầu của dân, nên trong một nhiêm kỳ, ngoài việc chiến thắng lọan Miền Nam, T.T Lincoln đã biến Hoa-kỳ thành một nước kỹ-nghệ khổng lồ.

Kỹ nghệ thép (steel industry) được thành lập. Hệ thống hỏa-xa xuyên lục-địa được xây dựng. Bộ Canh Nông được thành lập để thúc đẩy việc chế tạo nông cơ rẻ tiền. Hệ thống đại học miễn phí được thành lập. Mức sản xuất lao động (labor productivity) tăng lên từ 50 đến 75 %.

Nhưng đến ngày 14-4-1865, thì một kịch-sĩ tên là John Wilkes Booth ám sát T.T. Lincoln trong lúc Ông đang xem tuồng hát Our American Cousin trong rạp hát Ford’s Theatre ở Washington.

Thế là con hydra lại có cơ mọc đầu lại. Năm 1913, thì một con hydra mới xuất hiện nhờ luật Federal Reserve Act 1913.

Năm 1907 xẩy ra một cuộc “Kinh Khủng Tài Chánh” (a Financial Panic).

Năm 1908 T.T.thứ 28 Theodore Roosevelt (1901-1909), National Monetary Commission để chỉnh đốn vấn đề tài chánh. Chủ tịch Commission là Nghị Sĩ Nelson Aldrich (bên ngoại của David Rockefeller Sr.).

Aldrich Commission đi sang Âu-châu để nghiên cứu trong vòng hai năm. Khi trở về, Ông lập lên một nhóm bí mật gọi là “The First Name Club” và cấm không ai trong gia đình được nhắc tới Last Name. Nếu có lộ ra ngoài cũng không ai biết là có những ai trong cái club này.

“First Name Club” được triệu tập đến một hòn đảo nhỏ bé, riêng biệt và vắng vẻ có tên là đảo Jekyll Island, ở Georgia, họp trong chín ngày liên tiếp, để viết một dự luật cải tổ hệ thống nhà bank và luật pháp tiền tệ (the banking and currency legislation) sẽ trình cho Congress.


Để mọi người có cảm giác đây là cơ quan chính phủ, danh từ “Federal” và “Reserve“ có trong tên gọi của nó.

Tên của con hydra, ngày nay, được gọi một cách cung kính là FED hay Federal Reserve Bank hay Quỹ Dự Trữ Liên Bang (QDTLB).

Ngày 18-9-1913, dự luật được Hạ Viện chấp thuận Dự Luật Tiền Tệ của “First Name Club”, 287 phiếu thuận và 85 phiếu chống.

Ngày 19-12-1913, Thượng Viện chấp thuận với nhiều sửa đổi bằng 54 phiếu thuận và 34 phiếu chống.

Có một việc lạ nhứt chưa bao giờ xẩy ra trong lịch sử của Hoa Kỳ.

Dự luật ở Hạ Viện có 40 điểm mà Thượng Viên không đồng ý nên đã sửa lại. Sau khi Thượng Viên biểu quyết, hai Viện phải ngồi chung lại để sửa lại sao cho cả hai bên đều đồng ý.

Thế mà việc đó được thực hiện chỉ có trong một weekend. Ngày Thứ Hai 22-12-1913 dự luật được biểu quyết ở Hạ Viện với 282 phiếu thuận và 60 phiếu chống rồi cùng ngày, sang Thượng Viện được chấp thuận luôn với 43 phiếu thuận và 23 phiếu chống.

Và T.T. Woodrow Wilson (1913-1921), vị T.T.thứ 28 của Mỹ ký thành Luật ngày hôm sau Thứ Ba 23-12-1913.

Một đặc ân lớn nhất Chính Phủ Hoa Kỳ thời đó đã cho không QDTLB (FED) là:

QDTLB ĐƯỢC QUYÊN IN TIỀN GIẤY (dollar xanh).

Còn chính phủ chỉ in tiền coin (one dollar, quarter, dime, nickel, peny).


Hạ Viện Dân Biểu Charles Lindbergh Sr. nói:” Luật tạo ra FED là một cái tội pháp luật tệ hại nhứt của mọi thời đại Hệ thống tài chánh đã bị lật lại cho một nhóm ngừơi chỉ có biết lợi dụng Hệ thống là của tư-nhân, được hướng dẫn về mục tiêu duy nhứt là lấy cho được những cái lợi tối đa từ việc xử dụng tiền của người khác “.

T.T. Woodrow Wilson cuối đời đã hối hận vì ký dự luật trên.


Còn Ông Louis T. McFadden Chủ tịch The House Banking and Currency Commttee, thì nói: “Cuộc khủng hoảng không phải là bất ngờ ngẫu nhiên mà là một việc được trù liệu rất cẩn thận … Những chủ nhà bank quốc tế tìm cách đem đến đây sự thất vọng để rồi họ có thể trở thành nhưng kẻ ra lệnh cho tất cả chúng ta”


3. Họ là ai

Điều cần nhớ là QDTLB là nhà bank tư nhân. Những điều này được giữ rất bí mật, nhưng cuối cùng cũng bị công khai hóa. Họ là:

Rothschild Bank of London,
Warburg Bank of Hamburg,
Rothschild Bank of Berlin,
Lehman Brothers of New York,
Lazard Brothers of Paris,
Kuhn Loeb Bank of New York,
Israel Moses Seif Banks of Italy Goldman,
Sachs of New York,
Warburg Bank of Amsterdam,
Chase Manhattan Bank of New York (Reference 14, P. 13, Reference 12, P. 152)

Những nhà bank này có một sự llên hệ chặt chẽ với nhà bank ở Anh (London Banking Houses) để kiểm soát QDTLB.

4. Những Tổng Thống Mỹ đã liên quan đến “Họ”.

- Tổng Thống thứ ba Thomas Jefferson (1801-1809) phản đối hệ thống nhà bank tư nhân, nhưng đã không làm gì trong suốt những năm tại chức.
- Tổng Thống thứ tư James Madison (1809-1817) phải ký một đặc quyền 20 năm (a twenty year charter) cho Second Bank of The United States, vì nợ nần và chiến tranh.
- Tổng Thống thứ 7 Andrew Jackson (1829-1837) veto dự luật của Congress cho phép tiếp tục ban đặc quyền cho Second Bank of the United States. Sau đó, bị mưu sát.
- T.T. thứ 16 Abraham Lincoln (1861-1865), quyết định chính phủ sẽ in tiền lấy. Kết thúc là bị ám sát chết.
- T.T.thứ 28 Theodore Roosevelt (1901-1909), thành lập National Monetary Commission, khai sinh ra con hydra mới.
- T.T. thứ 28 Woodrow Wilson (1913-1921) ký thành Luật ngày Thứ Ba 23-12-1913. Nghĩa là FED được quyền in tiền giấy.
- T.T. John F. Kennedy thứ 35 (1961-1963) ký một Hành Pháp Lệnh (an Executive Order số 11110) cho phép chính phủ liên bang phát hành tiền mà không phải qua FED ngày 4-6-1963. Năm tháng sau, ngày 22-11-1963, T.T.Kennedy bị tên Lee Harvey Oswald ám sát và tên này hai ngày sau bị Jack Ruby (Rubenstein) giết chết trong Dallas Police Station. Lệnh hành pháp không được thực hiện.

Nói tóm lại, số phận của những vị Tổng Thống đã có gan dám chặt đầu con hydra tiền tệ: T.T.Andrew Jackson bị mưu sát, T.T.Abraham Lincoln và T.T.John F.Kennedy bị ám sát.


5. Có nên mua nhà hay không?

Quí vị hãy nhớ lại sau vụ 911 và dot com phá sản, tỷ lệ thất nghiệp khoảng 6%. Hơn một năm sau, dưới thời T.T. Bush đã hạ xuống 5%. Không hiểu vì sao ông Greenspan, chủ tịch QDTLB vội vã hạ tiền lời xuống thật thấp. Thế là mọi người đổ xô mua nhà.

Kịch bản cũ lại tái diễn. Khoảng 2 năm sau, ông Ben Bernanke bắt đầu tăng lãi xuất và gây ra cuộc khủng hoảng gia cư như những năm 1929-1930. Hàng triệu người mất nhà. Nhà bank nhỏ khai phá sản. QDTLB mua lại những nợ xấu với giá rẻ mạt môt cách hợp pháp.

Có một điều người viết cũng không hiểu.

Tại sao lại có vụ 911? Quí vị sẽ trả lời là để phá hoại kinh tế Hoa Kỳ. Quí vị đúng vì tỷ lệ thất nghiệp tăng. À, lúc này ông Greenspan có lý do để hạ lãi suất. Nhờ hạ lãi suất nên có buble housing. Nhờ có buble housing nên Ben Bernanke có lý do tăng lãi suất, tịch thu nhà, in tiền… Thật là một chuỗi khó hiểu.

Chương trình kích cầu của TT Obama mới có 600 tỷ mà mọi ngưòi đã la í ới. Tháng 11-2010, Fed tuyên bố đã tung ra 9000 tỷ cho các nhà bank nhỏ vay. Số tiền kích cầu chưa bằng số lẻ của FED tung ra.

Mới đây, Ben Bernanke còn tuyên bố sẽ in ra 600 tỷ dollar và mua lại bond từ chính phủ. Thế là tự nhiên, in tiền từ giấy (from nothing) và chính phủ phải trả tiền lời cho FED. Chúng ta là những người thỏ thuế phải trả tiền lời đó.

Cũng như nợ của chính phủ do FED gây ra lớn lên từ số không cho tới năm 2006 là $8.5 tỷ (trillion). Hiện nay, nợ đã lên trên 13,000 tỷ (trillion).


Nếu quí vị có thừa tiền nhàn rỗi và có thể trả off căn nhà muốn mua, quí vị có thể mua.

Nếu quí vị phải down payment và mượn tiền nhà bank thì đừng mua. Quí vỉ chỉ là nạn nhân của con quái vật hydra. Quí vị phải nhớ là cách tính tiền lời của nhà bank là lãi mẹ đẻ lãi con, nói theo kiểu bình dân. Nói theo kiểu toán học là hàm số mũ (exponential equation) và phân lời nằm trên lũy thừa. Cho dù lãi suất thấp đến đâu, số tiền quí vị bán căn nhà sau khi trả off vẫn ít hơn số tiền quí vị không mua nhà và để dành.

Điều quan trọng khi mua nhà quí vị cần biết, quí vị đã không hỏi. Cho dù quí vị hỏi, loan officer cũng chưa chắc có câu trả lời. Quí vị cần phải hỏi: “Tôi sẽ trả cho nhà bank bao nhiêu sau 30 năm?”. Sau đó quí vị thử tính xem có thể bán hơn con số đó hay không cộng với lạm phát 4% hàng năm.

Không phải TT Bush gây ra cuộc khủng hoảng. Cũng chẳng phải TT Obama cứu nước Mỹ. Chính con quái vật FED gây ra. Nó chính là kẻ thù của nước Mỹ.

Quí vị yên tâm. Kinh tế Hoa Kỳ không bao giờ suy tàn. Vì QDTLB in tiền US Dollar.

Reference:
The Federal Reserve Is A PRIVATELY OWNED Corporation By Thomas D. Schauf
The Federal Reserve Bank", by H.S. Kenan, published by The Noontide Press
National Committee to Repeal the Federal Reserve Act, P.O. Box 156, Westmont, IL 60559.
"The New World Order, Saving America", P.O. Box 1205, Middleburg, FL 32050-1205
"The Most Secret Science", Betsy Ross Press, P.O. Box 986, Ft. Collins, CO 80522 (Book) States attempt to abolish the FED.
$16 trillion in government and private debt, much of which the FED printed and collected interest on (Reference 3).
"Dark Secrets of the New Age" by Texe Marrs
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 11 2011, 01:22 PM
Gửi vào: #20


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Moi cac Ban doc bai phat bieu cua GS Thach Nguyen, BS Giao Su tai HK, doc tai Hanoi khi nhan hoc vi GS Danh Du cua DHYK Vietnam

=================




Kính thưa quý thầy, quý GS và các bạn,
Năm nay đánh dấu 19 năm làm việc của tôi ở Á châu, chủ yếu ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam. Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn GS Nguyễn Đức Hinh, Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Hà Nội, GS Phạm Gia Khải, nguyên Chủ tịch Viện Tim mạch học Quốc gia Việt Nam và GS Nguyễn Lân Việt, Chủ tịch Viện Tim mạch học Quốc gia Việt Nam về lòng hiếu khách nồng hậu và mối quan hệ làm việc tốt đẹp trong những chuyến đi Việt Nam của tôi.
Hôm nay, một ngọn gió lành đã đưa tôi đến Hà Nội và buổi lễ chiều nay là kết tinh của những ngày dài rong ruổi ở những thủ đô và thành phố lớn của châu Á, chủ yếu là Trung Quốc. Đây là lần thứ 8 tôi nhận chức GS danh dự hay thỉnh giảng, trong đó 3 lần từ các trường đại học y ở Bắc Kinh và 2 lần từ các đại học ở Nam Kinh, Trung Quốc.
Nhân dịp này, tôi muốn chia sẻ những tâm tình và một vài kinh nghiệm với các GS và các bạn BS trẻ về chìa khóa thành công tại Trung Quốc. Những ý tưởng trong bài này đã được trình bày nhiều lần, đặc biệt là vào năm 2008 tại Bệnh viện Quân đội trung ương 301 của Quân đội Nhân dân Trung Quốc.
Tôi đến Bắc Kinh và Vũ Hán vào mùa thu năm 1992 để dạy kỹ thuật nong động mạch vành tại Hội nghị Tim mạch Song Dương Tử lần thứ ba. Sau khi chứng kiến các BS Trung Quốc học kỹ thuật nong mạch vành do tôi biểu diễn bằng cách quan sát qua màn hình TV, tôi đã đề nghị với GS Dayi Hu áp dụng phương pháp cầm tay chỉ việc như tại các bệnh viện Mỹ. GS Dayi Hu là người bạn thân nhất của tôi tại Trung Quốc, hiện nay là Chủ tịch Hội Tim mạch Trung Quốc.
Trong phòng thông tim, các BS Trung Quốc là người thực hiện thủ thuật nong mạch vành, trong khi các chuyên gia Mỹ đứng ngay sau lưng họ, cầm tay và giúp họ thực hiện thủ thuật từng bước một. Đây là lần đầu tiên phương pháp giảng dạy này được áp dụng ở Trung Quốc.
Phương pháp này đã rất thành công và được các nhà tim mạch học Trung Quốc tiên phong hoan nghênh nhiệt liệt. Một trong những bác sĩ Trung Quốc học viên trẻ lúc bấy giờ nay đã là một GS đầu ngành tại Bác Kinh và năm 2012 sẽ là Chủ tịch Hội Tim mạch Trung Quốc.
Phương pháp cầm tay chỉ việc đó cũng đã được áp dụng tại Hà Nội, Việt Nam từ năm 1997, khi phái đoàn Mỹ đến Việt Nam lần đầu tiên. Giờ đây thì những BS tim mạch của Hà Nội, Sài Gòn, và Huế đã làm rất giỏi các kỹ thuật thông tim, đặt giá đỡ, đốt điện trong buồng tim, đóng các lỗ thông bẩm sinh trong buồng tim. Đó là những đóng góp lớn cho đất nước của cộng đồng tim mạch Việt Nam . Đây là điều làm tôi sung sướng và hãnh diện nhất.
Sau đó, năm 1993, tôi tổ chức những khóa học tương tự và xây dựng chương trình tim mạch học can thiệp tại Bệnh viện Chao Yang, một trong những bệnh viện lớn nhất tai Bắc Kinh. GS Dayi Hu và tôi cùng tổ chức lần đầu tiên một hội nghị tim mạch quốc tế mang tên Vạn Lý Trường Thành mà hôm nay đã trở thành hội nghị tim mạch lớn nhất Trung Quốc.
Từ năm 1992 đến nay, mỗi năm tôi đều đi dạy học ở Bắc Kinh, Thượng Hải hay Nam Kinh. Năm 1994, có một số bạn Việt Nam thấy tôi đi Trung Quốc nhiều mà không ghé Việt Nam , thì họ thắc mắc tại sao tôi hay đi làm việc ở Trung Quốc mà không hay đi Việt Nam hay những quốc gia khác.
Tôi trả lời là có một thôi thúc mãnh liệt khiến tôi đi làm việc nhiều ở Trung Quốc là vì tôi muốn đảo ngược một hướng lịch sử đã đã kéo dài gần 2.000 năm. Trong suốt gần 2.000 năm qua, cho đến tận thế kỷ 20, các học giả Việt Nam, Hàn Quốc, và Nhật Bản đều phải đến Bắc Kinh Trung Quốc để học hỏi về Khổng giáo hay tham vấn một kỹ thuật và nghệ thuật trị quốc khác. Nay tôi muốn đến Bắc Kinh để dạy lại và đóng góp vào sự phát triển và lớn mạnh của ngành tim mạch Trung Quốc.
Nhưng những ý kiến nào sẽ làm cho những bài báo cáo của tôi ở Trung Quốc trở thành đặc biệt? Có những điều gì tôi nói sẽ khác biệt và hay hơn so với bài báo cáo của những đồng nghiệp Mỹ khác? Tôi xin kể lại hai câu chuyện về một câu hỏi khó được đặt ra cho tôi khi làm việc tại Bắc Kinh.
Việc thứ nhất là vào năm 2002, trong dịp kỷ niệm 10 năm giảng dạy của tôi ở Trung Quốc, khi kết thúc một cuộc phỏng vấn với một tờ báo Y khoa Trung Quốc, người phóng viên yêu cầu tôi cho một lời khuyên cho cộng đồng bác sĩ tim mạch Trung quốc.
Ngạc nhiên vì tầm vóc và ảnh hưởng quá lớn của câu hỏi này, tôi đã trả lời một cách nhã nhặn: “Trong 10 năm qua, các GS người Mỹ đã đến Trung Quốc để dạy làm các thủ thuật. Sau 10 năm, các BS Trung Quốc đã biết cách làm tất cả các thủ thuật tim mạch trên, và có thể làm giỏi hơn các GS Mỹ. Nên bây giờ các GS Mỹ đến Trung Quốc không phải để chuyển giao những kiến thức có sẵn nữa, mà để chỉ cho các BS Trung Quốc cách đặt câu hỏi”.
“Khi đối diện với một vấn đề, nếu chúng ta biết đặt câu hỏi đúng, chúng ta sẽ có câu trả lời đúng. Nếu chúng ta đặt câu hỏi sai, câu trả lời và cách giải quyết cũng sẽ sai. Đó chính là chìa khoá thành công của phương pháp làm việc của Mỹ khi phân tích và giải quyết một vấn đề”. Câu trả lời này đã làm những GS Trung Quốc thích thú vì tôi đã giúp họ tìm ra một chìa khoá đưa đến thành công.
Câu chuyện thứ hai cách đây hai tuần khi tôi đang dạy học ở Nam Kinh, tôi gặp một GS đồng nghiệp cũng là một tướng hai sao trong Quân đội Nhân dân Trung Quốc. GS này mời tôi đi giảng dạy tai một hội nghị tim mạch can thiệp vào tháng 4 năm tới, do BV Quân đội lớn nhất vùng Đông Bắc Trung Quốc tổ chức.
Dĩ nhiên, việc được mời là một niềm hãnh diện. Tuy nhiên, nó cũng đem đến một câu hỏi gai góc. Trong vòng 15 năm về trước, khi tôi đến Trung Quốc hay châu Á, tôi có thể báo cáo bất cứ đề tài nào tôi thích. Ngày nay trình độ hiểu biết về tim mạch ở Trung Quốc và Việt Nam đã rất cao.
Vì vậy tôi phải nói những gì mà khiến cử tọa không ngủ gục và thực sự thách đố trí thông minh của họ (như buổi lễ ngày hôm nay chẳng hạn). Nếu tôi muốn được tiếp tục mời giảng dạy trong tương lai, thì những bài báo cáo của tôi phải chứa đựng những kiến thức rất mới mẻ, rất đặc biệt và rất đột phá.
Tôi tìm ra lời giải cho câu hỏi khó trên khi đến báo cáo tại Bệnh viện 301 ở Bắc Kinh. Đây là Bệnh viện TW Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, một nơi mà tôi đến đây hàng năm từ năm 1997. Bạn tôi, một Đại tướng của Quân đội Nhân dân Trung Quốc, GS Shi Wen Wang đã hỏi tôi có chịu nhận các BS đang học chương trình tiến sĩ đến Mỹ tu nghiệp với tôi hay không?
Ngạc nhiên trước yêu cầu này, tôi hỏi ngược lại: Các BS tim mạch học Trung Quốc đã làm được tất cả các thủ thuật tim mạch, tại sao họ phải đến Mỹ để học? Vị Đại tướng Trung Quốc trả lời: “Họ phải đến để học cách tư duy của ngừơi Mỹ.” Tôi nghĩ đây là một câu trả lời rất đột phá và cực kì đặc biệt.
Vị GS, Đại tướng Quân đội Nhân dân Trung Quốc này đã khám phá chìa khoá thành công của người Mỹ là lối tư duy của họ: khi tiếp cận một vấn đề, người Mỹ đi thẳng vào sự việc, nhìn vấn đề từ nhiều khía cạnh, có khi tư những lối tư duy tất khác biệt, không theo lối mòn hay le trái le phải, bật ra ngoái khuôn mẫu để giải quyết tận gốc và không “đánh trống bỏ dùi” khi công việc còn dở dang.
Tôi hiểu rằng tất cả các yếu tố trên đã đem lại thành công do cách nghĩ và làm việc theo kiểu Mỹ. Từ đó tôi áp dụng các phương pháp làm việc trên, nhấn mạnh cách làm việc đó với các BS Trung Quốc và đó là chìa khoá thành công cho tôi và cho nhiều BS và GS Trung Quốc làm việc với tôi.
Cách đây 2 tuần, tại Nam Kinh, tôi đến báo cáo tại một nhà thương đại học lớn nhất ở đây. Khi BS Giám đốc của nhà thương biết tôi sắp đi Việt Nam với ĐH UIC để làm việc với Bệnh viện ĐH Hà Nội, ông liền khẩn khoảng yêu cầu tôi giúp cho việc hiện đại hoá Bệnh viện Đại học ở đây.
Viên giám đốc Bệnh viện cho biết hiện đại hoá nay đòi hỏi những thay đổi rất lớn và hành chính, nhân sự và nhất là lối nghĩ. Đây là một câu nhận xét tối đã nghe nhiều lần ở Trung Quốc.
Khi nhìn đến cách làm việc ở Trung Quốc hôm nay, xin đừng tưởng là đường lối làm việc ở Trung Quốc bảo thủ dâu. Trung Quốc đang tiên bộ rất nhanh là vì người dân và giới lãnh đạo Trung Quốc học lối tư duy mới, dám nói, dám làm, dám nhìn nhân sự thật và dám thay đổi.
Không phải là cứ khư khư ôm các tư tưởng cũ rích 2500 năm về trước (dù đó là của Khổng Tử) hay những tư tưởng nhảm nhỉ, dị đoan từ nước ngoài về mà tôn sùng nó và bảo đó là tiến bộ, là sáng tạo, là văn minh đâu. Phải có tư tưởng đột phá để thay đổi và phát triển. Đó là cách làm việc thần kì của Trung Quốc hôm nay và đó là chìa khoá thành công của một nền kinh tế Trung Quốc hùng cường phát triển vượt bậc hôm nay.
Nhưng có một điều đã làm cho nhiều người ngạc nhiên hơn nữa là tại sao tôi có thể làm việc thành công tại Trung Quốc một cách LÂU DÀI TRONG SUỐT HƠN 18 NĂM khi xã hội Trung Quốc đã thay đổi gấp 1000 lần kể từ ngày tôi đến Trung Quốc đầu tiên năm 1992. Làm sao tôi có thể làm việc tại Trung Quốc MỘT CÁCH LÂU DÀI khi các bạn Trung Quốc đầu tiên của tôi nay đã già và nghỉ hưu và bây giời tôi đang làm việc với các GS lớp trẻ thế hệ 2 ở Trung Quốc?
Tôi trả lời, chúng tôi (gồm có GS BS Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Việt Nam, Thái Lan, v.v) làm việc dựa trên nguyên tắc năm nguyên tắc cơ bản của Khổng giáo là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín và Đức Dũng của Phật Giáo.
Trên cơ sở của luân lý Khổng Mạnh và Phật giáo này, chúng tôi hợp tác trong một tình bạn trung thực, đối xử trên quan hệ bình đẳng, không phải là một quan hệ chủ tớ, không phải là người mạnh uy hiếp người yếu. Chúng tôi làm việc trong một tâm tính kính trọng lẫn nhau và giúp nhau không để bị người khác lợi dụng, cộng tác để dựa trên thành công chung, có lợi cho tất cả mọi người.
Tôi xin nhắc các GS. TS khi đến làm việc tại Bắc Kinh, không phải là cứ quỵ luỵ, hạ mình luồn cúi thì người Trung Quốc sẽ ban thêm cho chút tình “hữu nghị” và cơ hội “hợp tác” đâu. Người Trung Quốc thông minh lắm, họ biết ngay những người nào là bạn thật và người nào là kẻ xu nịnh sẵn sàng phản bội khi có cơ hội.
Xã hội và lịch sử Trung Quốc không hề ca tụng những nịnh thần, những kẻ bán nước cầu vinh, mà còn khinh bỉ những người đó nữa. Lời chỉ trích xây dựng của một người có giá trị hơn lời ca tụng xuông của cả nghìn người khác. Ở Bắc Kinh, không ai thèm nghe và tin những lời ca tụng sáo rỗng đầy giả dối đâu.
Trong suốt gần 20 năm, sau gần một phần ba cuộc đời bôn ba giảng dạy ở Trung Quốc, tôi cũng chưa hề đọc được một tác phẩm nào của bất cứ sử gia chân chính người Trung Quốc hay nghe một GS Trung Quôc nào ca ngợi những Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung hay Lê Chiêu Thống… cả.
Trong khi đó, các chiến công và lòng yêu nước của Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo hay Quang Trung Nguyễn Huệ… đều đã được ghi chép cẩn thận bởi những sử gia Trung Quốc. Mặc dù họ không đồng thuận với lòng yêu nước của các anh hùng hay liệt nữ Việt Nam, nhưng những tấm gương đó luôn được kính trọng và ngưỡng mộ từ Việt Nam, Trung Quốc và ngay tại Mỹ.
GS Noboyoshi người Nhật nói rằng, ông thường hay nhắc các GS, TS, nhân viên Chính phủ Nhật khi đến họp hay làm việc ở BK, một ngạn ngữ rất thông dụng ở Trung Quốc: Nếu bạn xử sự như một con lừa thì đừng ngạc nhiên nếu hôm nào có một người cưỡi trên lưng trên cổ đấy.
Hôm nay, trong niềm vinh hạnh được nhận chức danh GS danh dự tại Đại Học Y Hà Nội, tôi đã mở đầu bằng lời cảm ơn các GS, các thầy. Nhưng khi kết thúc, tôi xin ngỏ lời cảm ơn các BS trẻ Việt Nam đã học giỏi, làm việc tốt, đóng góp lớn cho xã hội, cộng cuộc nghiên cứu y khoa và ngành y tế Việt Nam. Nhờ sự đóng góp to lớn của các BS trẻ đó mà nhà trường và bệnh viện đã nhớ đến tôi ngày hôm nay và tặng tôi danh hiệu GS danh sự này. Tôi xin cảm ơn các bạn rất nhiều, các BS trẻ của Việt Nam .
Hôm nay cũng nhiều lần trước, tôi đã cảm ơn các bác sĩ trẻ học trò của tôi ở Trung Quốc làm việc rất giỏi nhờ đó các Đại học và Bệnh viện mới nhớ đến tôi và tặng cho tôi các bằng GS danh dự.
Thực ra tôi không dám nhận nhiều chức GS danh dự tại Trung Quốc, hiện có 4 đại học y và bệnh viện ngỏ ý tặng tôi các chức danh GS danh dự mà tôi không dám nhận vì khi nhận xong, các khoa trưởng trường y và giám đốc bệnh viện đều nói: Do bây giờ ông là GS của chúng tôi, xin đến đây và giúp các bênh viện và đại học của chúng tôi thường xuyên hơn. Nhưng làm sao tôi có thể đi đến Trung Quốc và các nước khác nhiều hơn được nữa, vì ngày ngày còn phải đi cày ruộng kiếm cơm ở Mỹ nữa chứ!
Cuối cùng, trong một cái nhìn bao quát, do sự phổ biến khắp nơi của cellphone, Internet, Facebook, thế giới ngày nay đã và đang trở thành một ngôi làng nhỏ. Khi bước ra thế giới, ước nguyện của người Việt chúng ta là sẽ đóng góp các giá trị cao quí về phẩm cách, tri thức Việt Nam dựa trên niềm tin vào sự thật cho sự thanh bình và thịnh vựơng của ngôi làng chung mang tên thế giới đó.
Mỗi lần về Hà Nội, tôi cảm thấy ấm lòng khi thấy các sinh viên, bác sĩ, GS Việt Nam, những người mẹ, những người cha, những người anh, chị và em vẫn hăng hái làm việc trong tinh thần Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín và Dũng. Với những nguyên tắc chỉ đạo đó, tôi thấy người Việt Nam có thể hãnh diện ngẩng cao đầu phục vụ xã hội và tự tin làm việc với bạn bè năm châu.
Với những nguyên tắc Nhân Lê Nghĩa Trí Tín của Khổng Mạnh và Dũng của Phật giáo, chúng ta mới có thể hoà mình với thế giới không sợ để làm mất đi những di sản tinh thần và vật chất, hay đất nước yêu quí mà tổ tiên để lại. Với lòng tự tin và đoàn kết đó, chúng ta mới có thể, đối phó một cách mạnh mẽ và hữu hiệu với những khó khăn gây ra do những người láng giềng gần hay xa, trên biển Đông, bên kia Thái Bình Dương, từ Tây Phương xa xôi hay từ phương Bắc ngàn trùng cách trở qua dãy núi mang tên Thập vạn đại sơn.
Với lòng tự tin, hãnh diện và đoàn kết đó, chúng ta mới có thể ra biển lớn đóng góp vào ngôi làng thế giới đó mà không lo những hành động, thái độ hay lời nói của chúng ta làm tủi hổ cho lịch sử anh hùng, quật cường của cha ông mà chính chúng ta là người thừa kế. Chỉ như vậy, chúng ta mới xứng đáng để hãnh diện với tổ tiên, với chính bản thân và với con cháu chúng ta là tương lai đất nước sau này.
Khi nhìn vào sự cố gắng vượt bậc, niềm tự hào, hãnh diện đó trên những khuôn mặt Việt Nam già và trẻ hôm nay, tôi vững tin vào một tương lai rạng rỡ, hưng thịnh của Tố quốc và dân tộc Việt Nam, thế giới mà mọi chúng ta là những thành phần gắn bó.
Với những ý tưởng khiêm tốn và hành động nhỏ bé này, tôi xin kết lời và cảm ơn các thầy, các GS, các bạn trẻ Việt Nam đã lắng nghe .
Thạch Nguyễn ,
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

14 Pages: V  1 2 3 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 18th September 2019 - 08:35 PM