IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> TỪ BI, KHO BÁU TRONG TÂM CHÚNG TA, Biên Soạn: LÊ PHƯƠNG HƯỚNG, Cựu GS/TH
BenTreHome
post Mar 5 2015, 03:06 AM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,989
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





Thay lời giới thiệu:

Lê Phương Hướng

Gởi về các em cựu học sinh Trường Trung Học Ba Tri, tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre), thế hệ U.60, đồng nghiệp và phụ huynh đã cưu mang tôi trong thời gian mà “ai chưa qua chưa phải là người”

• Tôi mới tập đánh máy nên dễ bị lỗi kỹ thuật,trí bị lão hóa nên chỉ còn nhớ nghĩa mà quên chữ, xin các bạn từ bi hỷ xả ,xin cảm ơn!




TỪ BI, KHO BÁU TRONG TÂM CHÚNG TA


*PHẦN THỨ NHẤT: KHÁI QUÁT*


Đạo Phật, nếu tóm lại một chữ, đó là chữ NHƯ (1); nếu hai chữ, đó là TỪ BI (“Phật chỉ có lòng TỪ BI chứ không có tâm gì khác ” – Hòa thượng Thích Trí Tịnh ghi lại lời của Phật - “Hương sen Vạn Đức”- trang 60 )

TỪ BI là tâm Phật, tức CHÂN TÁNH, nhất nguyên, nên không thể dùng ngôn ngữ nhị nguyên để lý giải, “Đạo khả đạo phi thường Đạo”. Tuy nhiên, qua kinh sách cũng như cuộc đời và đạo nghiệp của các vị chân tu, ta cũng có thể lĩnh hội được phần nào ý nghĩa và sự nhiệm mầu của TỪ BI trong đạo Phật.

1) TỪ BI CỦA THẾ GIAN: Do căn tính khác nhau mà TỪ BI của thế gian khác với TỪ BI của Phật. TỪ BI của con người là lòng thương xót, cứu giúp người đau khổ, hoạn nạn, nhưng ít nhiều còn vướng vào đối tượng (như phải là nghèo, hiền, đáng thương, chứ không cứu giúp kẻ gian ác…); vướng vào tham vi tế như mong cầu phước đức…Và khả năng con người có giới hạn, chỉ giúp đỡ trong một thời gian nhất định mà thôi .

2)TỪ BI CỦA PHẬT: là lòng xót thương vô hạn, cứu độ tất cả chúng sinh, không phân biệt, không còn thấy người cho, kẻ nhận. Và đặc biệt là giải thoát chúng sinh ra khỏi luân hồi lục đạo, về các cõi giới tốt đẹp để sớm thành Phật đạo.

TỪ BI của thế gian ví như những dòng sông nhỏ, có lúc đầy, lúc vơi, có khi khô kiệt, TỪ BI của Phật giống như biển cả mênh mông. Biển có bao giờ vơi !

A. TỪ BI LÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHẬT VÀ BỒ TÁT

TỪ BI chính là BỒ ĐỀ TÂM. Hòa thượng Tuyên Hóa giảng: “BỒ ĐỀ TÂM có ba nghĩa: một là CHÂN TÁNH BỒ ĐỀ, tức PHẬT TÁNH; hai là THẬT TRÍ BỒ ĐỀ, tức TRÍ HUỆ BỒ ĐỀ; ba là PHƯƠNG TIỆN BỒ ĐỀ, tức phương tiện của những người sau khi chứng đắc, họ quan sát căn cơ, nghiệp lực của chúng sinh mà tìm phương cách thích hợp để giáo hóa (ba dạng BỒ ĐỀ chỉ là một)”(2).PHƯƠNG TIỆN BỒ ĐỀ là TỪ BI.

Ngay sau khi chứng đắc, Đức Phật Thích Ca liền khởi sự nghiệp TỪ BI để cứu độ chúng sinh. Bốn mươi chín năm ròng rã thuyết pháp, giúp chúng sinh vượt qua sông mê, bể khổ, trở về cố hương để tìm lại BẢN LAI DIỆN MỤC. Đức Phật A DI ĐÀ với bốn mưoi tám nguyện độ giúp chúng sinh về thế giới của Ngài, chấm dứt luân hồi sinh tử và tiếp tục tu hành cho đến khi thành Phật . Địa Tạng Vương Bồ Tát đã phát nguyện :

Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật
Chúng sinh độ tận, phương chứng BỒ ĐỀ

Hòa thượng Tuyên Hóa phát mười tám đại nguyện . Từ nguyện thứ nhất đến thứ chín, Ngài nguyện rằng nếu có vị từ hàng Bồ Tát cho đến địa ngục chưa thành Phật thì Ngài không thủ Chính Giác.

Địa ngục có bao giờ trống không, chúng sinh làm sao thành Phật hết, vì vậy sự nghiệp của Phật và Bồ Tát là đời đời, kiếp kiếp. Xét về mặt Lý thì Phật và Bồ Tát ở trong tâm ta, về mặt Sự thì các Ngài phân thân, ứng, hóa thân để độ khắp chúng sinh:

…Bạch hào uyển chuyển năm TU DI
Mắt biếc lắng trong bốn biển lớn
Vô số hóa Phật trong hào quang
Chúng hóa Bồ Tát cũng vô biên

Quan Thế Âm Bồ Tát tùy duyên, tùy thời mà ứng, hóa ra nhiều hình tướng (hữu hình và vô hình) như làm thân Phật, Thanh Văn, trời, người, A Tu La…

HT.Tuyên Hóa có lời nguyện thứ 13: “Nguyện phân chia tánh linh của con thành vô số nhập rộng khắp tâm chúng sinh nào không tin Phật pháp, làm cho họ đổi ác thành thiện, hối lỗi, ăn năn, làm một người mới biết quy y Tam Bảo, rốt ráo thành Phật ”.Và, Hòa thượng đã thành tựu ngay trong cuộc đời này. Trong tác phẩm “CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA”,Hòa Thượng đã hóa thân ra nhiều nhân vật để độ người . Xin tóm lược một câu chuyện kể ở trang 234 . Buổi sáng ,Hòa thượng bảo đệ tử rằng hôm nay, có một chú bé đến xin xuất gia, khi nào chú đến nhớ cho Ngài hay… 1giờ trưa, chú đến… Hòa thượng hỏi : “Tại sao chú muốn xuất gia ?” Chú đáp: “Nhà con ở cách xa nơi đây hơn1000 dặm, có một lúc con nằm mơ ba lần liên tiếp, đều mơ thấy có ông Hòa thượng mập, ổng nói nếu con muốn hết bịnh thì phải đến chùa Tam Duyên tìm thầy AnTừ, bái thầy làm sư phụ, xuất gia tu hành, tức sẽ hết bịnh ”. Hòa thượng nói với chú rằng ở đây không có thầy AnTừ (tên của HT.Tuyên Hóa ), chú quả quyết nói: “ Không thể có chuyện đó được, vừa bước vào chùa là con đã thấy có ông Hòa thượng mập …Chính ổng đã báo mộng cho con ba lần, bảo tới đây xuất gia mà”.

Ta Bà là cõi phàm thánh đồng cư, nên Phật và Bồ Tát luôn hiện hữu. Các Ngài hóa thân rất đa dạng: có khi đóng vai Đại sư như Ngài Vĩnh Minh là Đức Phật A Di Đà (3), Đại sư Ấn Quang là Đại Thế Chí Bồ Tát (4) ,HT.Tuyên Hóa là Bồ Tát (5)…;có khi nhập vai những nhân vật thế tục như học giả, cư sĩ, triết gia, nghệ sĩ, bác sĩ, nhà doanh nhiệp... Chúng ta không phải là Phật nên không thể nào biết được Bồ Tát tái sinh, nhưng do lòng tôn kính, ngưỡng mộ một số vị nào đó mà gọi họ là Bồ Tát như bác sĩ Quách Huệ Trân, một vị bác sĩ xả thân vì nghề nghiệp và Đạo Pháp, khó mà tìm ra một vị lương y thứ hai trên cõi đời này: cô không quan tâm đến hạnh phúc cho riêng mình, dù tuổi đời còn trẻ (như chuyện chồng con ), không quan tâm đến sức khỏe bản thân (bịnh nan y mà không biết ), vì lúc nào cũng nghĩ tới bệnh nhân và nhiều lần rơi lệ trước nỗi khổ đau của kiếp người !. Cô đã đem Phật Pháp đến cho họ rất đúng lúc (tức là khi mà người ta đã hiểu được lời Phật dạy“ sinh, bịnh, lão, tử là khổ”. Khi xuất gia, Ngài đã đem những câu chuyện thật, người thật kết thành một bài Pháp làm rung động lòng người, bài Pháp đó đã ngân lên thành“ LẮNG NGHE TIẾNG HÁT SÔNG HẰNG” như gởi cho đời một thông điệp về y đức, về phương pháp trị bịnh, phải kết hợp giữa y học và Phật Pháp. Y học trị được phần ngọn, Phật Pháp cứu được phần gốc, chuyển hóa được tâm thức, tâm thanh tịnh thì thân không bịnh. Ăn chay, làm việc thiện, niêm Phật, “Niệm Phật chuyển hóa được tế bào ung thư”…Bồ Tát là ai? Là người xả thân vì ĐạoPháp. Đơn giản vậy thôi, nhưng chỉ có Bồ Tát mới làm được .

Và,có khi Bồ Tát lại hóa thân thành những nhân vật mà ta không thể ngờ tới như Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nhập vai người hành khất, tên là Văn Cát cứu giúp cho HT. Hư Vân (khi Ngài BÁI HƯƠNG, tam bộ nhất bái với hành trình hơn 3000 km) như nấu ăn, giặt giũ, mang hành lý (Ngài Hư Vân không hế hay biết, người hành khất kia là Bồ Tát) (6).

Với sự ứng hóa đa dạng của Bồ Tát, chúng ta có thể nghĩ rằng trong đời mình cũng có đôi lần gặp Bồ Tát mà mình đâu có biết. Biết đâu bà lão ăn xin tật nguyền kia cũng là Bồ Tát, bà đến để khai mở dòng suối từ bi cho ta, nhưng ta đã lạnh lùng !

Bồ Tát hiện hữu là để giáo hóa, nhưng cũng sẵn sàng gánh nghiệp thay cho chúng sinh. Và, đây là phát nguyện thứ 14 của HT. Tuyên Hóa:“ Nguyện đem tất cả khổ nạn của chúng sinh trong Pháp Giới, đều để một mình con thay thế nhận chịu ”. Có một vị Tỳ Kheo ni bị bịnh nặng, ói mửa không ngớt. Cô rất tin tưởng vào Hòa Thượng , nên lễ lạy trước bức hình của Ngài để cầu nguyện, cô liền hết bịnh. Sáng hôm sau, cô đến chính điện, nơi Hòa thượng đang truyền tam quy, ngũ giới .Sau khi tan lễ, Ngài quay về phía cô nói : “Sáng nay thật là khó chịu cho tôi, vì tối hôm qua, tôi đột nhiên bị bịnh nặng, ói mửa suốt đêm”. Vị Tỳ Kheo đó biết rất rõ Hòa thượng đã gánh lấy sự đau khổ cho mình (7).

HT.Hư Vân (thầy của HT. Tuyên Hóa )có thần thông quảng đại, đã làm những việc mà con người không bao làm được, thế nhưng Ngài lại trải qua 48 biến cố và 10 đại nạn. Xin lược trích một đại nạn cuối cùng vào năm 1951. Ngày 3 tháng 3, ÂL, hơn 10 người lực lưỡng dùng gậy, côn sắt đánh Sư, gây thương tích trầm trọng, Sư bị lỗ đầu ,chảy máu, gãy xương sườn nhưng vẫn nhắm mắt, làm thinh như đang nhập định. Hai ngày sau, nghe tin Sư chưa chết, chúng bèn xông vào thất, đánh một lần nữa, tàn bạo hơn lần trước…Tai, mắt, mũi, miệng đều xuất huyết… Chúng bỏ đi vì nghĩ rằng Sư đã chết. Vài ngày sau, hay tin Ngài vẫn còn sống, chúng bắt đầu dao động. Một tên có vẻ là thủ lãnh hỏi các vị tăng. Đệ tử của Ngài đáp: “Hòa thượng vì chúng sinh mà chịu khổ, do không muốn các ông bị nạn nên Ngài cam bị đánh đập mà không chết . Sau này, các ông sẽ hiểu”(8). Không biết bọn chúng có hiểu không ,chứ Phật tử chúng ta ai cũng hiểu rằng chúng sinh khổ nạn là do nghiệp, Bồ Tát khổ nạn là vì gánh nghiệp thay cho chúng sinh.

Vì sự nghiệp TỪ BI mà Bồ Tát giáo hóa, gánh nghiệp cho chúng sinh. Tâm TỪ BI của Bồ Tát ví như ánh trăng vàng. Bất cứ nơi đâu, bất người nào, dù thiện hay ác, đều cảm nhận được màu vàng huyền diệu của TỪ BI …

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Mar 5 2015, 03:21 AM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,989
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





B - TỪ BI VÀ TRÍ HUỆ

-KHÁI QUÁT VỀ TRÍ HUỆ (9)

Chữ TRÍ gồm có chữ TRI (là biết) và bộ NHẬT (là mặt trời), nghĩa là nhờ ánh sáng mặt trời mà biết, cái biết bên ngoài, thuộc thế giới tự nhiên, tức biết về hiện tượng

Chữ HUỆ gồm chữ TUỆ (là cái chổi ) và bộ TÂM (thuộc về tình cảm, tâm linh), nghĩa là nếu dùng chổi quét bụi trong tâm thì tâm sẽ sáng; tâm sáng tức là thấy ở bên trong, thấy được bản chất của sự việc. Bụi trong tâm chính là tham, sân, si…Tham, sân, si …không những do ta tạo ra ở kiếp này mà cả kiếp trước còn tồn tại. Châu-lợi- bàn-đà- già( trong Kinh A Di Đà) là người đần độn, được sự trợ giúp của 500 vị A-la-hán, nhưng sau 100 ngày vẫn không thuộc được bài kệ, chẳng nhớ được chữ nào…Đức Phật giải thích rõ về lý đần độn của ông là ích kỷ (một tên gọi khác của tham, sân, si). Trong một đời trước, ông là một pháp sư tinh thông Tam Tạng, có 500 đệ tử, ngày nào họ cũng muốn học với ông nhưng ông không muốn dạy…,họ quỳ trước ông ba ngày, ba đêm mà ông vẫn không nói cho họ một lời…nên ông phải chịu quả báo… Nghe xong ông cảm thấy xấu hổ, tự trách mình…Đức Phật liền cầm cái chổi giơ lên và hỏi:

- Ông biết cái gì đây không ?
- Thưa ,cái chổi.
- Ông có nhớ được không ?
- Thưa, nhớ được.

Rồi Đức Phật dạy ông:

-Hãy lặp lại suốt ngày: “chổi, chổi, chổi”.

Ông học thuộc sau vài tuần, Đức Phật đổi các chữ ấy thành“quét sạch, quét sạch, quét sạch”. Nhờ cái chổi vô hình mà Đức Phật đã cho ông, với sự thành tâm sám hối, cố gắng, nổ lực mà ông quét sạch được tâm ông .Và, ông đã khai ngộ (10)

Chúng ta tại sao không khai ngộ? là vì chúng ta chỉ lo TẮM cái thân mà không bao giờ chịu RỬA cái tâm, nên tâm đầy bụi . TRÍ HUỆ ví như tấm kiếng; nếu như kiếng đầy bụi thì sẽ bị mờ, làm sao nhìn thấy được. TRÍ dù có sáng suốt, thông minh , dù là nhà khoa học, bác học mà không có HUỆ thì vẫn là vô minh. Ngược lai, nếu không biết chữ mà có HUỆ thì vẫn biết được bản chất của sự vật, biết những gì mà khoa học không thể biết, làm những gì mà khoa học không làm được như Lục tổ Huệ Năng, Hòa thượng Quảng Khâm…

1 - TỪ BI SINH RA TRÍ HUỆ

- Xin Hòa thượng chỉ dạy cho chúng con khai ngộ được tri kiến Phật (ĐẠI TRÍ HUỆ), một Phật tử hỏi HT.Tuyên Hóa. Ngài đáp:

- Kiến ngộ Phật tức hiểu rõ làm sao để thành Phật và có TRÍ HUỆ Phật, chớ không có chi là huyền bí cả. Học theo Phật, thực hành Tứ Vô Lượng Tâm: từ, bi, hỷ, xả… (11)

- Con hy vọng được nghe Hòa thượng giảng thêm về đề mục “phát khởi TRÍ HUỆ nội tâm”,một Phật tử khác hỏi, Hòa thượng trả lời :

-TRÍ HUỆ là phải tự mình khai thác. Không nên làm các chuyện ác, hãy làm các việc lành, trước hết là nên phát khởi từ đây(12)

Tại sao muốn khai mở TRÍ HUỆ thì phải thực hành TỪ BI, làm các việc thiện? Vì TỪ BI là đối trị, khắc chế được tham, sân, si, quét được bụi ở tâm nên tâm sáng, tức có TRÍ HUỆ. Và với tâm TỪ BI, hay làm những việc thiện thì tham, sân, si không bám vào tâm được

Như vậy, muốn có TRÍ HUỆ thì phải có tâm TỪ BI, nhưng TỪ BI có SANH ra TRÍ HUỆ ? Thực ra,TỪ BI và TRÍ HUỆ cùng lưu xuất, cùng đồng hành ngay tức khắc (đây là TỪ BI và TRÍ HUỆ Phật, chứ không phải của thế gian vì từ bi và trí huệ của con người là do tâm sai biệt nên không đồng hành. Vì vậy ,câu nói “ từ bi phải có trí huệ” là nhắc nhở những người mới tu hành rằng làm việc thiện cần phải có sự soi sáng của lý trí để làm đúng mục đích và tránh bị lợi dụng )

2- TỪ BI VÀ TRÍ HUỆ ĐỒNG LƯU XUẤT

Vô Trước tu trên núi 12 năm, quán tưởng Đức DI LẶC mà không thấy, thất vọng bèn rời khỏi hang động . Vừa ra khỏi động, Ngài thấy một con chó ghẻ đầy mình, dòi bọ nhung nhúc, đang hấp hối. Quá xúc động ,Ngài cúi xuống nhặt những con dòi ra để cứu con chó. Bỗng nhiên con chó biến mất ,Đức DI LẶC hiện ra. Ngài VÔ TRƯỚC thưa :

“Tại sao suốt 12 năm qua, con không thấy Ngài…” Đức DI LẶC đáp : “Ta vẫn ở bên con, nhưng vì TRÍ HUỆ con chưa khai mở…”. Con chó đáng thương kia tác động vào tâm thức Ngài Vô Trước làm hiển lộ tâm TỪ BI,và khi tâmTỪ BI lưu xuất thì TRÍ HUỆ liền khai mở nên có được thần thông, Ngài đã thấy Đức Di Lặc. Như vậy TỪ BI và TRÍ HUỆ đồng lưu xuất.

3- TỪ BI LÀ TRÍ HUỆ

Nói TỪ BI sinh ra TRÍ HUỆ, hay đồng lưu xuất tức là nói theo ngôn ngữ nhị nguyên, nghĩa là có hai thành phần, thực ra chỉ là một (một trong tất cả, tất cả là một), nênTỪ BI là TRÍ HUỆ; TRÍ HUỆ là TỪ BI. Bất nhị là lý nhất quán của Phật giáo, giống như Âm, Dương trong KINH DỊCH: “nhất Âm , nhất Dương chi vị Đạo”. Âm, Dương không thể rời nhau: động thì gọi là Dương, tịnh thì gọi là Âm. TỪ BI và TRÍ HUỆ cũng vậy. TỰ TÁNH thì tròn đầy, tĩnh lặng, sáng suốt, bao trùm…đó là ĐẠI TRÍ HUỆ (thể tịnh); khi duyên khởi (thể động) để cứu độ chúng sinh thì gọi là TỪ BI (tên gọi chỉ là giả danh vì cả hai chỉ là một, đó là PHẬT TÁNH Hay TỰ TÁNH ). TRÍ HUỆ duyên khởi là HÀO QUANG; HÀO QUANG hóa ra vô số Phật và Bồ Tát để độ chúng sinh, tức TỪ BI :
Vô số hóa Phật trong HÀO QUANG

Chúng hóa Bồ Tát cũng vô biên
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm sen vàng lên bến giác

Giáo sư Nguyễn Duy Cần giải thích: “TRÍ HUỆ do TỪ BI mà có, cũng như TỪ BI do TRÍ HUỆ mà sinh, không tách rời nhau được. Hay nói một cách khác: TỪ BI mà không do TRÍ HUỆ phát sinh, không phải là TỪ BI; cũng như TRÍ HUỆ mà không phải là TRÍ HUỆ của lòng TỪ BI phát sinh, chưa phải là TRÍ HUỆ …” (13)

C- TỪ BI và GIỚI :

“ GIỚI là cội gốc của Bồ Đề Vô Thượng” ( Hòa thượng Hư Vân) (14). Như vậy, GIỚI cũng lưu xuất trong TỰ TÁNH. Làm sao nhận biết được? Hòa thượng Tuyên Hóa nói:“ những điều do học hỏi mà biết được thì không phải là của chúng ta. Tâm Bồ Đề phải tự chúng ta phát. “…Một ngày nọ, nhân thấy người hàng xóm đi bắt chim dồng dộc còn đang sống ,đem về nhổ lông rồi nướng ăn. Nhìn sự đau đớn của con vật trước khi chết ,trong lòng Hòa thượng Trí Tịnh xót thương vô cùng. Từ đó, phát tâm ăn chay trường”(Hương senVạn Đức trang 9). Hòa thượng lúc bấy giờ mới có 10 tuổi, chưa có ý thức, thế nhưng Ngài quyết định ăn chay (tức giới sát ), chứng tỏ việc ăn chay phát xuất từ TỰ TÁNH. Nguyên nhân nào khiến Ngài ăn chay? Do lòngTỪ BI. Vậy GIỚI và TỪ BI là một. GIỚI và TỪ BI đồng lưu xuất (không cần giáo hóa, học hỏi), đây là dấu hiệu của người có thiện căn, những vị chân tu, chắc chắn họ sẽ thành tựu trên bước đường tu tập. Thật vậy, một Phật tử có đứa con cũng ăn chay giống như Hòa thượng Thích Trí Tịnh ngày xưa, hỏi Hòa thượng Tuyên Hoá :

Hỏi - : Đệ tử có đứa con 5 tuổi, năm ngoái nhìn thấy người bán gà giết gà thì nó òa khóc và phát nguyện rằng vĩnh viễn sẽ không ăn thịt chúng sanh, cho tới nay nó vẫn giữ lời, không hề thay đổi .Xin Hòa thượng chỉ dạy, đệ tử phải làm sao để giúp đứa con này tăng trưởng huệ căn, A Di Đà Phật!…

Đáp - : Cháu bé không ăn thịt chúng sinh thì nó không phải làm chúng sinh đó !

Câu trả của Hòa thượng rất sâu sắc : không phải làm chúng sinh tức là thành Phật. TỪ BI và GIỚI lưu xuất từ trong TỰ TÁNH rất sớm, tâm Bồ Đề đã tự phát, huệ căn sẽ tăng trưởng tự nhiên…( vì vậy mà Ngài không trả lời trực tiếp, chỉ gợi cho đệ tử mà thôi ). Chỉ có những bậc thiện căn sâu dày thì TỪ BI, GIỚI mới lưu xuất dễ dàng, còn chúng ta thì phải nổ lực hành trì, tác động bên ngoài để khai mở bên trong. TỪ BI sẵn có trong tâm ví như suối nước, bị lớp sỏi đá tham, sân, si…ngăn cản. Nếu ta làm một vài việc thiện thì nước trong suối TỪ BI đó sẽ ngấm qua lỗ mội, nếu tiếp tục làm việc thiện thì lỗ mội sẽ thành khe hở, lâu ngày khe hở thành khe nước lớn để suối TỪ BI lưu xuất dễ dàng. Hành trì GIỚI cũng vậy, mà niệm Phật cũng vậy (niệm Phật bên ngoài để làm hiển lộ Phật trong tâm)

Về mặt Sự thì GIỚI sinh ra ĐỊNH, ĐỊNH sinh ra HUỆ; về mặt LÝ thì GIỚI là ĐỊNH ,là HUỆ, Là TỪ BI…(một trong tất cả). Chúng ta phải nhờ SỰ để đạt LÝ nên GIỚI vô cùng quan trọng.Đức Phật dạy rằng sau khi Ngài nhập diệt, chúng ta phải lấy GIỚI làm THẦY.

D- TẤT CẢ CHÚNG SINH ĐỀU CÓ TÂM TỪ BI

Loài người thường tự hào về sự thông minh của mình, nhưng lại dùng cái trí thông minh đó để sát hại động vật, thay vì che chở cho chúng .Với cái trí thông minh khoa học đó, cho rằng động vật chỉ có bản năng, chứ không có trí óc và tình cảm. Đây là nhận định sai lầm, biết một mà không biết mười. Đức Phật đã dạy : “tất cả chúng sinh đều có Phật tính”, nghĩa là có lòng TỪ BI. Như vậy, súc sinh cũng có tâm TỪ BI. Tuy nhiên, súc sinh có tham dục nhiều hơn, nghiệp chướng nặng hơn người nên TRÍ HUỆ và TỪ BI rất khó khai mở . Nhưng, trong cộng nghiệp có biệt nghiệp. Có người nói rằng cứ vài ngàn con vật thì có con có tánh linh, có tình cảm như người (con số này chỉ là tương đối giúp ta có ý niệm mà thôi). Tại sao? vì kiếp trước, lúc sinh ra ở cõi người, chúng có tu tập, làm những việc phước đức, có hiếu thảo…

Chuyện kể rằng có người thợ săn bắn hạ một con vượn con, vượn mẹ quá thương con, nhảy xuống ôm con vào lòng, thế là nó bị bắt. Khi làm thịt, người ta thấy ruột vượn mẹ đứt ra từng khúc. Từ đó, hai chữ ĐOẠN TRƯỜNG (đứt ruột) được dùng để nói lên sự đau xót tột cùng…

Bạn có biết chữ LỆ (nước mắt), theo chữ Hán, gồm có: bộ THỦY là nước, chỉ nước mắt; chữ THI là xác chết; chữ KHUYỂN là con chó . Con chó thấy xác chủ bèn chảy nước mắt …Nngười tạo ra chữ Hán có lẽ là bậc Thánh, vì thấy rõ cái nghiệp ở tiền kiếp của chó làm thân người, quá thương yêu, quyến luyến , muốn che chở bảo vệ người thân . Khi chết đi, đầu thai vào thân chó, nhưng chủng tử tiền kiếp vẫn còn trong tâm thức. Sóng trong tâm phát ra, cộng hưởng với sóng trong tâm của người thân mà tìm đến nhau ,nhưng cả hai đều không biết, “đồng khí tương cầu”, vượt ra ngoài sự hiểu biết của lý trí) .

Người xưa giải thích rất hay nhưng lại không có bằng chứng; người đời nay có bằng chứng nhưng không giải thích được. Xin ghi lại hai câu chuyện thật sau đây: “Nhà khoa học WALMSLEY thuộc Đại học OXFORD, Anh quốc, cùng nhóm nghiên cứu đã ghi lại hình ảnh xúc động của một chú khỉ bờm đen đau buồn ôm xác con trong hai ngày tại bảo tồn thiên nhiên Tangkoko, thuộc vườn thú quốc gia Sulawesi, Indonesia. Các nhà khoa học cho biết bé khỉ trong bức ảnh chỉ vài tuần tuổi, thuộc loài khỉ bờm đen. Hình ảnh mẹ khỉ ghì chặt xác con vào ngực, sau đó thực hiện những hành động âu yếm như chải chuốt, hôn và nhìn nó bằng ánh mắt buồn bã. Thậm chí, có một hai lần mẹ khỉ lấy tay đẩy một con khỉ đực khi nó đang cố gắng tiếp cận chạm vào bé khỉ. Các nhà khoa học đã bỏ đi sau một giờ quan sát. Hai ngày sau, họ quay trở lại và sửng sốt trước cảnh tượng mẹ khỉ vẫn ôm chặt con. Và cuối cùng, khoảng một vài tiếng nữa, nó bỏ xác bé khỉ và ra đi trong tâm trạng đau khổ, tuyệt vọng.” (Trùng Dương-TUỔI TRẺ ONLINE ngày 13/5/2014 )

Câu chuyện con khỉ bờm làm ta liên tưởng đến con vượn mẹ ở trên, còn chú hươu cao cổ sau đây lại giống con chó rơi lệ khi nhìn thấy xác người chủ : “Theo hãng tin Mỹ ABC News ngày 21/3/2014, ông Mario bị ung thư giai đoạn cuối, có tâm nguyện được trung tâm y tế Ambulance Wish đưa đến sở thú Blijdorp để nói lên lời vĩnh biệt với các đồng nghiệp và muốn nhìn thấy lần cuối cùng những động vật được ông chăm sóc trong 25 năm qua, trong đó có những chú hươu cao cổ đáng yêu. Trong cơn hấp hối trên giường bệnh, một chú hươu cao cổ tiến tới gần, thò đầu qua khung chắn bảovệ và đặt nụ hôn tình cảm tri ân lên phần trán và mũi ông Mario. Đó là một thời điểm rất đặc biệt, ông Mario đã mĩm cười khi được chú hươu cao cổ hôn. Dường như con vật cảm nhận sức khỏe đang tồi tệ. Ông Kees Veldboer giám đốc Ambulance Wish nói với Dutch News của Hà Lan (Huỳnh Phương ,TUỔI TRẺ ONLINE ) .

Con người, dù may mắn sinh vào cõi Người, nhưng mỗi người lại có một nghiệp khác nhau, có người thiện, người ác, người hưởng phước đức, người bạc phước, “một trăm người đục, một chục người thanh”, thế giới súc sinh cũng vậy, đa số vô minh, mê muội nhưng cũng có những con có tình cảm, có tánh linh, có thần thông, biết biến hình . Các vị Pháp sư thường hay kể về một vị Hòa thượng giảng sai luật nhân quả mà phải bị 500 kiếp làm chồn, nhờ có thần thông, biến thành hình người, tìm gặp Ngài Bách Trượng để thỉnh giáo, nhờ vậy mà thoát được kiếp làm chồn.

Trong tác phẩm “THƠM NGÁT HƯƠNG LAN”, HT. Hư Vân đã kể lại nhiều con vật có tánh linh được Ngài quy y, biết ăn chay, niệm Phật, khi chết thị hiện tướng vãng sinh. Xin trích lại một vài trường hợp:

CHUYỆN CON SÁO Ở ĐIỀN TẠNG: “ Năm ấy, ở đại hội Phật giáo Điền Tạng, có một chuyện lạ nhỏ. Dân làng đem một con sáo biết nói đến phóng sinh. Mới đầu nó còn ăn thịt. Tôi quy y xong, dạy nó niệm Phật thì nó không chịu ăn mặn nữa. Sáo rất ngoan, dễ bảo ,biết tự động bay ra, bay vào. Ngày nào nó cũng niệm danh hiệu Phật và Thánh hiệu Bồ Tát QuanThế Âm không gián đoạn. Một hôm, nó bị chim ưng bắt đi, giữa không trung,vẫn còn nghe tiếng nó niệm Phật lảnh lót. Tuy nó mang thân thú nhưng lúc sắp xả báo thân, kề cận cái chết mà vẫn không bỏ niệm Phật, lẽ nào làm người, lại không bằng sáo nhỏ kia ư?” (trang 130)

CHUYỆN CON NGỖNG Ở CỔ SƠN: “Tháng sáu, khánh thành vườn phóng sinh, cư sĩ Trịnh Cầm Tiêu đưa đến một bầy ngỗng, trong đó có một con ngỗng trống rất là đặc biệt nặng 9kg6, hễ nghe tiếng mõ thì nó dang cánh, rướn cổ kêu to, lúc vào Điện Phật thì nó đứng yên chiêm ngưỡng. Được một tháng, nó đứng trước Phật mà mất, vẫn không ngã. Trịnh cư sĩ lấy làm lạ bèn xin thiêu nó như chư tăng. Để 7 ngày mới thiêu, vẫn không có mùi hôi. Nhân đó, mới làm ngôi mộ cho nó” (trang 178)

CHUYỆN CON CHỒN TRẮNG: Năm Dân Quốc 25, Bính Tý…Lâm quốc Canh( đoàn trưởng sư đoàn 16 ) đến thăm, tay xách cái lồng, trong có con chồn toàn thân trắng tuyết, điểm lấm chấm đen…Ông kể lại lý lịch ly kỳ của con chồn. HT. Hư Vân liền thu nhận,và quy y. Ngài thuyết Tam quy, Ngũ giới cho nó xong thì thả nó ra khu rừng rậm sau chùa. Từ khi thọ giới, nó không còn ăn mặn nữa. Những người thợ xây chùa trêu chọc nó, họ nhét thịt vào chuối đưa cho nó ăn. Con chồn khi biết mình ăn nhầm, liền nhổ ra, tỏ vẻ giận dữ, bất bình. Sau đó, nó bỏ đi suốt mấy ngày…Một hôm, chẳng biết nó đi đâu mà bị xe cán trọng thương, không đứng dậy nổi… Hòa thượng biết không thể cứu được, bèn khai thị : “Cái túi da này, không đáng để lưu luyến nữa, con đừng bám víu vào, hãy buông xả và sám hối tất cả nghiệp duyên .Khởi một niệm sai thì phải đọa, phải nhận lấy ác báo, chịu nhiều thống khổ. Giờ đây quả báo của nghiệp xưa đã mãn, ta mong con nhất tâm niệm Phật, để sớm được giải thoát. Nó hiểu ý, gật gật đầu, kêu lên mấy tiếng ,rồi tắt hơi. Thi thể nó để hai ngày mà vẫn không biến đổi …Nó được tổ chức tang lễ như môt vị tăng (tóm lược, trang 194-97)

Trong tác phẩm “CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA”, ta thấy có những nhân vật đặc biệt xin quy y với Ngài như lang sói, quỷ thần, giang hồ…Những đối tượng này, chỉ cần nghe tên là ta cảm thấy ớn lạnh, nhưng chúng lại có tâm hướng thiện. Theo lời kể của Ngài, người đệ tử thứ hai của Ngài là một kẻ hư xấu nhất, không một việc xấu nào mà chú không làm, pháp danh là Qủa Thuấn, sau khi xuất gia đã hoàn toàn thay đổi. Ngài nói: “Chú theo tôi xuất gia cũng nhiều năm nhưng chỉ mặc có một bộ đồ, không có áo ấm, không có giày đệm ấm, cái gì chú cũng không có. Chú còn giữ giới không giữ tiền, ngày ăn một bữa ngọ, thường ngồi, không nằm, tu hạnh Đầu Đà. Trong số các đệ tử của tôi, chú đứng nhất về tu hạnh Đầu Đà ,Quả Thuấn tinh tấn tu đạo, chuyên tâm, nhất ý thiền định, .. Trong định chú biết được tất cả các nhân quả ở quá khứ, hiện tại ,tương lai…” Có ai ngờ, từ một người xấu ác, chú đã trở thành vị đệ tử mà Hòa thượng ưa thích nhất. Hòa thượng kể : “Quả Thuấn có ba cái không sợ: không sợ đói chết, không sợ nghèo chết, không sợ lửa thiêu chết. Chú ta không giống như những vị thầy chính trị, vì sân hận mà tự thiêu cho chính phủ xem! Chú ta vì cảm nhận được nỗi khổ của thế gian này, nên muốn thay chúng sinh chịu khổ báo mà đốt thân cúng Phật, hồi hướng cho chúng sinh. Ngày hôm sau, dân trong thôn thấy chòi tranh bị lửa lớn cháy rụi, vội đến xem xét thì phát hiện thân thể Qủa Thuấn cháy thành tro, trong lúc vẫn còn ngồi ngay ngắn, duy có trái tim không bị cháy. Đây đủ chứng minh chú có định lực, đã thành đạo nghiệp, cử chỉ, hành động, lời nói của chú đã hoàn toàn không giống như xưa . Về sau, Vạn Phật Thánh Thành(ở Mỹ) có thành lập bài vị cho chú, rất tiếc là tôi không có hình của chú”(15)
Quả Thuấn, đã chứng minh câu nói của người xưa “ kẻ đại ác hồi đầu thành người đại thiện”. Quả thật, thiện ác, mê ngộ như hai mặt của một bàn tay, chỉ cần lật qua thì ta có ngay tức khắc mặt khác…Con sáo, con chồn chưa vào chùa thì vẫn còn kiếp súc sinh (ăn mặn, tức sát sanh…), khi gặp Ngài HưVân thì tự động ăn chay, tâm súc sinh đã thành tâm của người tu hành, dù vẫn còn mang xác súc sinh…Do vậy, chúng ta nên dùng tâm TỪ BI mà đối đãi nhau, đừng lấy tâm phân biệt mà chấp vào thiện ác, người tốt, kẻ xấu rất dễ gặp chướng ngại trên con đường tu tập.

PHỤ CHÚ: Đức Phật nói : “Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh”, nghĩa là đều có tâm TỪ BI nên tiêu đề (phần D) không cần phải giải thích, chứng minh. Tuy nhiên, do lòng xót thương kiếp súc sinh phải sống chung với cõi người, nên hàng ngày, có vô số, vô lượng con vật bị giết chết bởi bàn tay của con người.Một trong số những lý do giết hại đó là không biết con vật cũng có tình cảm, có tâm hướng thiện, có tánh linh, cũng biết đi tìm chân sư và chúng tìm còn chính xác hơn ta, nên chúng tôi sưu tầm những câu chuyện thật, có nhân chứng, vật chứng, có thời gian, không gian rõ ràng, giúp súc sinh minh oan, nói giúp chúng một đôi lời …Nếu bạn giết hại súc sinh (trực tiếp hay gián tiếp), tức là mình đã gieo trồng NHÂN súc sinh trong tạng thức rồi, con vật đó chính là bạn ở kiếp sau. Luật NHÂN QUẢ không bao giờ sai .Và, nếu giết lầm, ăn lầm một con vật có tánh linh thì tai họa sẽ đến ngay tức khắc.

Đây là câu chuyện “ Săn bắn chim linh thiêng bị tai nạn và chết thảm”, do chị Hòa Bình kể tại VIỆT NAM PHẬT QUỐC TỰ, ngày 11/11/2010,HT.Huyền Diệu ghi lại. Chúng tôi xin lược ghi: “Chùa Bái Đính là một quần thể chùa cũ và mới rất đẹp ở Ninh Bình do công ty Xuân Trường tái thiết rất đẹp, nhờ vậy mà cảnh hùng vĩ núi non nầy được phát hiện và bảo vệ, nên chim chóc nhiều loại về đây trú ngụ, đặc biệt là loại chịm quý hiếm mà nhiều người gọi là Linh Điểu… Việc xuất hiện nhiều loại chim đặc biệt này đã thu hút rất nhiều người yêu quý thiên nhiên…bên cạnh đó cũng đồng thời xuất hiện những con người thích săn bắn…Họ cho rằng khi bắn được loại chim này thì được bạn bè khen, cho đó là sự thành công của cuộc đời… Có người trong gia quyến của họ, vì lòng từ bi đề nghị đừng sát hại loại chim này thì bị mắng nhiếc, chửi bới…Có một vị bác sĩ nổi tiếng của địa phương cũng hợp tác …vào rừng săn bắn. Không lâu sau đó bỗng có một tin kinh hoàng xảy ra .Vị bác sĩ không biềt do nguyên cớ gì từ trên lầu cao nhảy xuống đất chết một cách thảm thiết . Còn một người khác thì tự nhiên lấy súng bắn vào đầu tự tử. Hai người khác thì bị xe cán chết trên đường đi nhậu thịt rừng.”(16)

E- TỪ BI LÀ TINH HOA CỦA ĐẠO PHẬT

Nói đến đạo Phật, người ta nghĩ ngay đến TỪ BI, vì chỉ có đạo Phật mới có TỪ BI, các tôn giáo bạn đều dạy cho ta làm điều thiện, nhưng chỉ thiện với con người mà không thiện với loài vật, cái thiện của tâm phân biệt, nên có một giới hạn nhất định. TỪ BI của đạo Phật là TỪ BI của TRÍ HUỆ (có lục thông, ngũ nhãn, nên thấy tất cả chúng sinh điều có mối liên hệ với nhau như từng là cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cháu…) nên tình cảm vừa có chiều rộng (thương tất cả các đối tượng), vừa có chiều sâu (cứu giúp, xả thân vì chúng sinh). TỪ BI của đạo Phật thể hiện một sự bình đẳng, không có nhân, có ngã, không còn tâm phân biệt đối tượng, HT.Tuyên Hóa đã nói:“Ai muốn giết con kiến hãy giết tôi đi”. Nếu tinh hoa của đạo Phật là bình đẳng quan về mặt triết lý, thì TỪ BI đã thể hiện được triết lý này; nếu tinh hoa của đạo Phật là nét đẹp về tâm hồn, thì TỪ BI chính là tinh hoa của đạo Phật ; nếu như tinh hoa của đạo Phật là sự nhiệm mầu, thì TỪ BI cũng chính là tinh hoa của đạo Phật, vì TỪ BI là siêu khoa học, đã làm được những điều mà khoa học dù có hiện đại đến đâu cũng không thể nào làm được…(Chúng tôi đề cập ở phần sau)

CHÚ THÍCH:

(1)Một vị Hòa thượng ở miền Trung (khuyết danh) :

Kinh sách lưu truyền tám vạn tư
Học hành chẳng thiếu, cũng chẳng dư
Đến nay tính lại, dường quên hết
Chỉ thoáng trong đầu một chữ NHƯ

(2) 347- 48 KINH THỦ LĂNG NGHIÊM, Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, tập 1, Thích Nhuận Châu dịch, NXB. Phương Đông

(3) Trang 73, 13 VỊ TỔ TỊNH ĐỘ TÔNG, Hòa thượng Thích Thiền Tâm, NXB .Phương Đông

(4)Trang 279, KINH THỦ LĂNG NGHIÊM, Hỏa thượng Tuyên Hóa giảng thuật,…tập 5

(5)Trang 347, CẨM NANG TU ĐẠO, LƯỢC THUẬT HÀNH TRANG HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂN, NXB.Tôn giáo: Hòa thượng Quảng Khâm và Hòa thượng Tuyên Hóa gặp nhau tại Đài Loan, vào năm 1974. Xin trích đoạn đối thoại của hai vị:

Hòa thượng Quảng Khâm :
-Ngài chính là Bồ Tát
Hòa thượng Tuyên Hóa :
-Ngài chính là Đại A La Hán ,chúng ta sớm đã biết nhau, mấy chục năm không gặp,bây giờ lại được trùng phùng,tuy nói vậy,nhưng chúng ta đã gặp nhau mấy lần rồi.
Hòa thượng Quảng Khâm :
-Ngài vừa đến, tôi đã biết trước, Ngài là ai. Tâm Bồ Tát định gặp là gặp.

(6)Trang 29 – 34, THƠM NGÁT HƯƠNG LAN (Hòa thượng Hư Vân), do Kiều Châu, Như Thủy, Hạnh Đoan dịch.

(7)Trang 121,THỬ LUẬN VỀ NHỮNG CỐNG HIẾN CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA ĐỐI VỚI NỀN PHẬT HỌC,Trần Do Bân, Sách Ấn tống.

(8) Trang 326 -36, THƠN NGÁT HƯƠNG LAN.

(9) Chữ HUỆ chính là chữ TUỆ (có bộ tâm), Phật giáo hay dùng chữ HUỆ, thế tục thì dùng TUỆ . Chữ TUỆ không có bộ tâm có nghĩa là cái chổi.

(10) Trang 145 -49, KINH THỦ LĂNG NGHIÊM Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, tập 5.

(11) Trang 28, GẬY KIM CANG HÉT (Hòa thượng Tuyên Hóa vấn đáp ký lục) tập 1.

(12) Trang 87, tập 2

(13) PHẬT HỌC TINH HOA, Nuyễn Duy Cần, NXB. Khai Trí

(14) Tang 287 THƠM NGÁT HƯƠNG LAN.

(15) Trang 225-229 và 325-326, CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA

(16)Trang 73, KHI MẶT TRỜI LÊN,Hòa thượng Huyền Diệu

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Mar 5 2015, 03:42 AM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,989
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





*PHẦN THỨ HAI: TỪ BI, SỰ MẦU NHIỆM SIÊU VIỆT*

Kho báu TỪ BI ở ngay trong tâm chúng ta, có một năng lực mầu nhiệm, siêu khoa học; nhưng muốn tìm được kho báu này, chúng ta phải buông bỏ hết “kho báu” thế gian, đó là sắc, thanh, hương,vị, xúc, pháp. Bỏ một đã khó, làm sao bỏ cả sáu ? Cho nên dù chư Phật và Bồ Tát xót thương chỉ dạy, con người vẫn cứ thờ ơ, chỉ thích bám lấy “kho báu” trần gian với bất cứ giá nào! May mắn cho chúng ta, các vị chân tu thời hiện đại đã buông bỏ hết vạn duyên thế tục, với một trái tim TỪ BI đã đến được kho tàng quý giá này, mang về cho đời những viên ngọc quý, rất nhiệm mầu… Sự nhiệm mầu thể hiện qua sự trải nghiệm tâm linh, và trong quá trình hoằng pháp với những mẫu chuyện thật, người thật, đây cũng là nhưng bài pháp viết bằng chuyện kể có khả năng làm thức tỉnh những ai còn chưa tin sâu vào sự nhiệm mầu của kho báu TỪ BI.

A- TỪ BI : PHẢN KHOA HỌC, SIÊU KHOA HỌC, VÀ KHOA HỌC

Căn cứ vào những trải nghiệm tâm linh của những vị chân tu để so sánh với khoa học, ta thấy TỪ BI vừa phản khoa học, vừa siêu khoa học, nhưng cũng là khoa học. Đặc điểm này dễ nhận biết nhất trong lãnh vực y học :

-VỀ ĂN UỐNG :

Về ăn uống, y học Tây phương chú trọng vào hàm lượng dinh dưỡng calori như tinh bột, chất đạm, chất béo, sinh tố… Đông y thì quan tâm về bổ âm, bổ dương, nếu thiếu chất dinh dưỡng thì cơ thể sẽ suy nhược, thiếu trầm trọng sẽ tử vong. Các vị chân tu thì có quan điểm ngược lại: HT. Quảng Khâm, chỉ có 10 cân gạo, ẩn tu trên núi 13 năm, Ngài ăn trái cây, củ rừng, HT. Tuyên Hóa cũng ăn uống như vậy trong ba năm thủ hiếu ở mộ mẹ, đôi khi phải nhịn đói, HT. Hư Vân ẩn tu trên núi hai lẩn(mỗi lẩn 3 năm). Ngài kể “Từ 28, 29, 30 tuổi, suốt ba năm này, tôi ở trong hang núi, chỉ ăn trái thông, rau cỏ…khát thì uống nước suối…tôi bấy giờ một bát cũng không có, vẫn sống vô ngại tự tại, thư thái an nhiên, thể lực ngày một cường tráng, tai mắt sáng tỏ, cất bước nhẹ nhàng, lẹ như bay …” (1)

-VỀ VỆ SINH, AN TOÀN THỰC PHẨM

HT. Quảng Khâm, sau mỗi buổi ăn, Ngài lượm những thức ăn rơi rớt dưới đất mà ăn .HT. Tuyên Hóa (lúc chưa xuất gia, nhưng Ngài đã phát Bồ Đề tâm) đã từng lượm vỏ khoai của cảc bạn vứt xuống đất mà ăn, kể cả khi bạn nhả ra vì ăn nhầm vỏ củ. Ngài kể, khi thủ hiếu ở mộ mẹ, có một vị Tỳ Kheo cho Ngài một thùng bánh bao(chừng21 cái): “Lúc bấy giờ trời nóng oi bức mà tôi thì không để ý gì hết, nên không đem bánh ra ngoài hong gió, hay phơi cho khô, rốt cuộc bên trong, bên ngoài đều nổi mốc, cao dày khoảng một tấc rưỡi(tấc mộc). Bánh bao bị hư mốc meo đến thế, nếu đem bỏ đi thì sao? Đây là vật người ta cúng dường, hơn nũa là do thầy Tỳ Kheo đem tới, trong khi đó, tôi chỉ là một chú Sa Di. Còn nếu không bỏ đi, rất khó ăn vì nó vừa cay nồng vừa hôi thúi…Có người đến thấy tôi ăn bánh bao meo mốc này, liền bảo tôi đừng ăn, nói ăn sẽ bị bịnh chết. Tôi nói: “sanh bịnh à ?Cái gì sanh bịnh?”…Nhưng tôi ăn hết bánh mốc đó cũng không bị bịnh, cũng không có việc gì xảy ra! Lúc đó tôi buông xả cả thân tâm, cho nên mới có thể ăn được “cái không thể ăn”. Tôi tin rằng lúc đó dù có cái gì khó ăn cách mấy đi nữa tôi đều có thể ăn được”(2)

-KHẢ NĂNG NHỊN ĂN, UỐNG

HT. Tuyên Hóa có khả năng nhịn ăn hai, ba tháng mà vẫn có thể xách được vật nặng chừng 14 kg. (Ngài từng nói, nhịn ăn là nhường phần mình cho người khác , vì vật chất sẽ không mất đi đâu cả). Các vị chân tu nhập định một vài tuần là chuyện bình thường, thậm chí cả hàng tháng . Nhập định thì không ăn, uống, khi vào sâu thì hơi thở cũng không còn như HT. Quảng khâm: “Hòa Thượng thường hay nhập định. Có lần Ngài nhập định vài tháng, không ăn, không uống, không động đậy thân thể; thậm chí hơi thở như đứt tuyệt. Có người gần đấy lầm tưởng rằng Ngài đã viên tịch, nên đã tức tốc cấp báo với HT. Chuyển Trần để lo việc hỏa táng. May thay lúc ấy, có vị cao tăng là Đại Sư Hoằng Nhất đang ở chùa gần đấy, nghe tin trên bèn cùng HT. Chuyển Trần lên núi xem hư thực. Tới nơi, Đại Sư Hoằng Nhất biết Ngài đang nhập định, liền gõ ba tiếng khánh đánh thức Ngài dậy từ trạng thái thiền định. Tin Ngài nhập lan đi khắp nơi, khiến ai ai cũng tán thán” (3) Ta biết rằng không uống nước bốn, năm ngày là chết, không thở vài phút là chết, vậy mà Ngài không thở, không uống hàng tháng trời mà vẫn sống. Thật là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, khoa học không thể nào giải thích được.

- NGỦ ( Nhất tâm bất loạn không cần ngủ)

Khoa học coi trọng giấc ngủ rất đúng vì cơ thể hoạt động mỏi mệt nên cần phải có thời gian ngủ nghỉ. Tại sao cơ thể mỏi mệt ? Vì mất đi năng lượng; năng lượng mất đi do hoạt động cơ bắp thì ít, mà mất do vọng tưởng, tham, sân, si …nhiều hơn vì nó làm cho hệ thống thần kinh ở não bộ hoạt động liên tục như lo sợ, buồn vui, hờn giận, tiếc thương…khiến ta tiều tụy, mỏi mệt hơn là lao động chân tay. Các vị chân tu,với tâm TỪ BI luôn luôn thanh tịnh(không vọng tưởng, không tham, sân, si, không vị kỷ…) nên thần kinh ở não hầu như không hoạt động, không mỏi mệt, do đó ngủ rất ít hoặc không ngủ. HT. Hư Vân không ngủ, nhưng Ngài thọ 120 tuổi, tâm trí siêu việt. HT. Thích Trí Tịnh không ngủ nhưng Ngài vẫn khỏe, khi siêu âm thì nội tạng vẫn tốt. HT.Quảng Khâm nói rằng khi ta đạt đến nhất tâm bất loạn thì ăn ngủ không thành vấn đề. Các vị tu khổ hạnh (thân càng khổ thì tâm càng an lạc) thì ngủ ngồi; thực ra cách ngồi kiết già để vào định, chứ không phải là ngủ như chúng ta.Thật vậy, nếu ngồi mà ngủ thì thân sẽ ngả nghiêng, lưng, cổ không thẳng, khí huyết lưu thông gặp trở ngại sẽ bị bịnh ngay, làm sao các Ngài có thể ngủ ngồi cả trăm năm như HT. Hư Vân, năm, sáu mươi năm như HT. Tuyên Hóa, Quạng Khâm. (HT. Quảng Khâm tuy ở chùa nhưng Ngài không vào chùa ngủ, mà ngồi kiết già thiền định ở ngoài sân) . Có một Phật tử hiếu kỳ hỏi HT. Tuyên Hóa:

- Ban đêm ngủ ngồi có ích chi?
Đáp:- Tối ngủ ngồi là không nằm xuống ngủ, chúng ta không những tiết kiệm được giấc ngủ mà tinh thần càng sáng suốt hơn và hàng phục được tâm dâm dục nữa (tức vào định)(4)

-GIỮ ẤM THÂN NHIỆT

Khả năng chịu đựng của con người có giới hạn nhất định, không thể chịu đựng được nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh. Có người cho rằng Đức Phật Thích Ca tu trên núi Tuyết là huyền thoại, vì làm sao con người lại chịu được cái lạnh của tuyết trong sáu năm. Nhưng, các đệ tử của Ngài hơn 2500 năm sau đã chứng minh điều đó như HT. Hư Vân, Quảng Khâm chỉ có áo vải mà ẩn tu trên núi trong một thời gian khá dài. Mùa đông ở Trung Quốc nhiệt độ âm rất lạnh. HT.Tuyên Hóa kể: “ Ở Đông Bắc vào mùa đông, thường thường là 33, 34 độ dưới 0 độ, khi xuống 38 độ dưới 0 là nhất định rét cóng chết người được. Khi thời tiết như vậy, tôi lại phát nguyện không mặc áo len, chăn bông, chỉ mặc áo vải…Tôi đi chân không trên tuyết, chân rét nhưng không bị tổn thương. Tôi tiết kiệm các y phục để dành hồi hướng cho người không có đồ mặc…Nếu người nào phát nguyện gì tức Phật, Bồ Tát sẽ mãn nguyện cho người ấy”(5). Khoa học không thể nào lý giải được, cũng không thể phản bác được, vì các vị chân tu đã chứng minh được điều mình nói(nói được thì làm được)

Sự so sánh nhỏ ở trên (mới chỉ là một lãnh vực) đã làm nổi bật sự tương phản, nhờ đó mà thấy được tính siêu khoa học. Tại sao gọi siêu khoa học? Vì các vị chân tu không dựa vào kiến thức của khoa học mà vẫn sống tốt hơn; chẳng những tốt hơn mà còn làm được những việc phi thường, tưởng như trong cổ tích ,HT.Hư Vân kể : “Mùa xuân, từ Đình Quan Âm, chúng tôi bắt đầu chở ngọc Phật đi, thuê tám người khiêng, giao hẹn rõ ràng…nhưng những người khiêng thuê nghi trong tượng có giấu tiền, vàng chi đó…họ muốn tăng thù lao lên gấp đôi. Tôi biết không thể cãi lý với họ, chợt thấy ven đường có tảng đá to, nặng gấp ba lần tượng Phật, tôi liền bảo họ:
-Tảng đá này so với tượng Phật, bên nào nặng hơn?

Họ Đáp:- Đá nặng gấp mấy lần!...Tôi bèn đưa hai tay nhấc bổng hòn đá lên khỏi mặt đất. Bọn họ le lưỡi, cảm phục …xá tôi …Họ chẳng còn đòi hỏi gì nữa…(6)

Một người “suy dinh dưỡng” trầm trọng và không ngủ, lại mạnh hơn lực sĩ và thọ đến 120 tuổi, tỉnh táo đến phút cuối cùng. Chắc có người cho là nhờ một sự bí ẩn nào đó. Phật pháp rất quang minh, không có gì là bí mật cả, bất cứ ai làm đúng phương pháp thì đều có kết quả, nghĩa là rất khoa học .Phật pháp có nhiều pháp môn (pháp môn nào cũng TỪ BI); mỗi pháp môn có một cách hành trì riêng, tùy thuộc vào căn cơ, hoàn cảnh của mỗi người, như Tịnh Độ Tông thì phát Bồ Đề tâm, tín, nguyện, hạnh(niệm Phật), ai tinh tấn, người đó sẽ được vãng sinh, không phân biệt xuất gia hay tại gia (ngày nay, vãng sinh đã trở thành chuyện thường ngày). Với cách tu khổ hạnh (hạnh Đầu Đà), tuy khó nhưng nếu chịu “khổ thông” sẽ được thần thông. HT.Quảng Khâm khi xuất gia, được HT. Chuyển Trần dạy: “ Ăn thức ăn mà người không muốn ăn, mặc cái mà người không muốn mặc, làm cái mà người không muốn làm, về sau con sẽ rõ”. Và về sau, Ngài đã trở thành một vị Thánh, một bậc ĐẠI TỪ BI.

Quả Thuấn, như đã đề cập ở trên, khi xin xuất gia, HT. Tuyên Hóa đã đưa những điều kiện rất cụ thể: “xuất gia là việc cực khổ, cần nhẫn điều mà người ta không nhẫn được, nhường những điều mà người ta không nhường được, ăn cái mà người ta không thể ăn, mặc cái mà người ta không thể mặc, quên mình vì người, bỏ việc tư vì việc công, mới chính là bổn phận của người xuất gia. Nếu chú có thể làm được như vậy thì mới có thể xuất gia được”(7) (có lẽ chú là giang hồ nên HT.mới nói rõ ràng các điều kiện khắc nghiệt như vậy). Chú đã y giáo phụng hành và đã thành công: khai mở được TRÍ HUỆ và có được cái tâm TỪ BI của Bồ Tát.

Làm đúng cách thì đạt kết quả và nhiều người tự làm được thì đó chính là khoa học vậy. (Lời của HT.Tuyên hóa trên, đã tóm tắt phương pháp hành trì hạnh TỪ BI một cách hiệu quả nhất)

B- TỪ BI: PHƯƠNG THUỐC TRỊ BỊNH MẦU NHIỆM

Bịnh có ba loại: thân bịnh, tâm bịnh, nghiệp bịnh. Khó trị nhất là tâm bịnh và nghiệp bịnh. Tại sao con người lại bịnh? Đông y cho là do tà khí từ bên ngài xâm nhập vào cơ thể. Tà khí là gì? Đó là thời tiết, vi trùng, hóa chất độc hại, phóng xạ… Ngoài ra, còn có một loại độc tố nguy hiểm khác mà y học không thể nào nhận biết được. HT. Tuyên Hóa giảng: “ Những vọng tưởng về tà tri, tà kiến của chúng ta, như các tâm sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói dối ,sân hận,ghen ghét…đều chứa đựng độc tố bên trong, nên khi chúng phát ra sẽ làm cho không gian bị ô nhiễm. Bởi không gian chứa nhiều độc tố, thành thử hấp thụ vào cơ thể, cơ thể sẽ trúng độc…”(8) Bên ngoài tà khí xâm nhập vào; bên trong chính khí suy nên bịnh. Chính khí suy do rối loạn về tâm lý, tình cảm như hờn giận, lo lắng,buồn đau, tiếc thương …( tức lục dục thất tình dậy sóng trong tâm) kéo dài liên tục, bị đè nén,âm thầm chịu đựng. Nguyên nhân bên trong mới là chính yếu. Chính khí suy nên ngũ tạng bị ảnh hưởng,hệ thống miễn nhiễm suy, kháng thể yếu không có khả năng chống lại tà khí…

Chính khí là gì? Đó là chất vô hình, khả năng con người không thể biết được nhưng cảm nhận được, vì cảm nhận nên cách lý giải thường khác nhau. Chỉ có bậc TRÍ HUỆ mới giải thích được. HT. Tuyên Hóa giảng: “ Pháp nghĩa là gì? Quý vị trả lời: “Tôi biết rồi, đó là Pháp của Phật,của Pháp,của Tăng”.Thực ra quý vị chưa hiểu gì nhiều, nếu quý vị thực sự hiểu được ,quý vị đã không đánh mất Pháp của chính mình. Rốt cuộc, Pháp là gì? Pháp là khí chất sinh động của chúng ta. Trên nó thông cả thiên đường,dưới nó thấu cả địa ngục. Đến mức như chư Phật ,Bồ Tát cũng đồng một thể với chúng ta, vì khí chất sinh động ấy của chúng ta quán thôn tất cả. Khí này như hơi thở. Bao trùm và điều động được khí ấy gọi là Pháp. Do vậy,chúng ta dứt khoát cần phải nuôi dưỡng khí chất này. Chúng ta không nên đề thất tán mà phải tu tập nuôi dưỡng khí này. Nên nói:

Tài bồi tâm thượng địa
Hàm dưỡng tánh trung thiên

Nghĩa là: Vun trồng mảnh đất tâm,nuôi dưỡng chân tánh sáng như bầu trời…Nếu quý vị nuôi dưỡng khí chất của mình thì đừng có rời Pháp của mình…”

Qua lời giảng của Hòa thượng, ta thấy Pháp bao trùm và điều động khí(Pháp do tâm tạo ), tức tâm điều khiển khí, điều này cũng phù hợp với các môm phái khác như khí công (dùng ý để dẫn khí vào kinh mạch), và tâm cũng ảnh hưởng đến khí vì nó điều khiển khí. Tâm tán loạn thì khí cũng tán loạn nên phải bồi dưỡng mảnh đất tâm . Khi giảng phần này Hòa thượng liên hệ thực tế, Ngài hướng về Đạo tràng mà nói: “Khi tôi đến nhà bếp và trai đường,nghe quý vị nói chuyện như cái chợ, sau đó tôi thấy phòng ngủ cũng như cái chợ. Người mà không biết hạn chế lời nói của mình thì khó có khả năng tu tập. Nếu quý vị không hàm dưỡng tánh khí của mình thì quý vị sẽ không có Pháp”(9) . Điều này có nghĩa là nếu ta bàn chuyện thị phi như ngoài chợ thì Pháp khí sẽ bị đánh mất…Như vậy, Pháp khí phải được nuôi dưỡng bởi chân tâm, tức tâm Phật hay tâm TỪ BI. Do đó , muốn lục dục, thất tình không dậy sóng để bảo vệ chính khí, tránh tà khí xâm nhập, ta phải có tâm TỪ BI . Đây cũng là lý do tại sao các vị chân tu chịu đựng được thời tiết khắc nghiệt, cũng như không quan tâm đến vệ sinh, an toàn thực phẩm mà vẫn khỏa mạnh.

Tâm TỪ BI giữ được chính khí nên diệt được tà khí giúp con người được khỏe mạnh. Nhưng trong thời Mạt Pháp này, nhất là sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật tạo ra quá nhiều tiện nghi vật chất làm cho dục vọng dâng cao, tâm tán loạn (cơ giới sinh cơ tâm), con người vẫn sống “khỏe”, và thực tế là y học vẫn trị được bịnh,vậy có mâu thuẫn với Phật Pháp ?

Không phải tâm tán loạn là sinh ra bịnh ngay tức khắc, mà phải trải qua một thời gian dài mới thành tâm bịnh,và còn tùy thuộc vào phước đức ở tiền kiếp nên mới có câu
: “ phước chủ may thầy”, mới có người ác vẫn sống thọ . Không ai có thể phủ nhận sự thành công nhất định của y học, nhưng y học chỉ trị bịnh mà không trị tâm, tức trị ngọn chứ không trị gốc nên bịnh nhân chỉ khá trong một thời gian hoặc khá bịnh này lại sinh ra bịnh khác (vì cái gốc tâm bịnh vẫn còn), giống như ta chặt nhánh cây này thì cây sinh ra nhánh khác. Vì sao? Vì gốc rễ vẫn còn. Nếu như sự tiến bộ của y học chữa trị bịnh của con người như Thần Thánh thì bệnh nhân phải càng ngày càng giảm.Trái lại, khoa học và y học càng tiến bộ thì bệnh viện ngày càng nhiều, diệt được bịnh này thì bịnh khác sinh ra... ( cái vòng lẩn quẩn)

Tâm bịnh là do con người tạo ra nên có thể điều trị được, nhưng nghiệp bịnh thì rất khó, thuốc men không có tác dụng. Nghiệp bịnh là quả báo mà mình phải trả, phải gánh chịu, do trong tiền kiếp mình đã hại chúng sinh, nhất là sát sanh. Và bây giờ họ tìm ta để đòi nợ. Họ nhập vào bộ phận nào đó của cơ thể thì bộ phận đó sẽ bị đau, có khi nhập rồi xuất, xuất rồi nhập, liên tục (người ta thường gọi là bịnh giả vờ), nếu vào não bộ thì cho là điên, khùng, (dân gian thì cho là ma nhập). Nợ của người ở thế gian còn có thể trốn tránh được, còn nợ với oan gia trái chủ (vô hình) thì không thể. Phật Pháp giúp ta cách hóa giải nghiệp chướng này, đó là sám hối, làm việc thiện, phóng sinh, giới sát, niệm Phật, trì chú Vãng Sanh, (ăn chay càng tốt) rồi hồi hướng cho oan gia trái chủ (quý vị nên tìm đọc VĂN PHÁT NGUYỆN SÁM HỐI của HT. Tịnh Không để hiểu rõ và hành trì). Nếu thành tâm sẽ có kết quả tốt (tin thì thật, thành thì linh). Thực ra, ma quỷ cũng là chúng sinh, đều có Phật tánh, nghĩa là điều có tâm TỪ BI, nhưng vì sân hận , oán thù nên chủng tử ác hiện hành trong tâm thức, còn chủng tử thiện thì chìm sâu, nên họ ác với ta. Nếu ta chân thành sám hối và hồi hướng công đức cho họ, làm cho tâm họ được nhẹ nhàng( nhẹ là dương; dương là thiện),Chủng tử thiện có cơ hội huân trưởng và tăng trưởng, họ sẽ có thiện cảm với ta, không còn oán thù (thù trở thành bạn).

Chúng ta sinh ra ở cõi Ta Bà này là do nghiệp, trong đó có nghiệp sát hại chúng sanh nên ai cũng có oan gia trái chủ. Nhưng tại sao chúng lại đến tìm người này mà không tìm người kia? Vì chỉ khi nào phước diệt, họa mới sinh, chúng phải chờ đợi khi có cơ hội, tức là lúc phước ta suy, diệt. Người có phước đức sâu dày (từ kiếp trước hoặc tạo ra ở kiếp này) thì không có một thế lực nào có thể hại được. Do đó, chúng ta cần phải tu hành như không sát sinh, ăn chay, làm việc thiện, niệm Phật để có công đức và phước đức (tu là phước lớn nhất). Vả lại, tu hành chính là “bồi dưỡng mảnh đất tâm, hàm dưỡng tánh trung thiên”, bảo vệ chính khí, diệt tà khí. (ma quỷ cũng là tà khí)

Có một bà lão họ Trương bị bịnh tê liệt tay chân đã ba năm tìm đến HT. Tuyên Hóa xin được trị bịnh. Hòa Thượng nói: “Tôi không hiểu y học! Nếu bà muốn khỏi bịnh, chỉ có thể dựa vào lòng thành, đồng thời ăn chay và niệm Phật, tất sẽ có cảm ứng” Bà nghe lời Hòa Thượng khai thị, qua 100 ngày sau , bà được lành bịnh. Sau đó cả nhà bà đều quy y, dốc lòng làm việc thiện.(10)

Ông Đái Quốc Hiền bị bịnh phổi bất trị. Quá tuyệt vọng, ông cầu Hòa Thượng cứu mạng. Ngài dạy ông chí thành niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, phát nguyện không sát sinh,ăn chay. Ông hoan hỷ tín thọ… Từ đó, ông quy y Tam Bảo, trì chú Đại Bi và không ngừng xưng niệm Quan Thế Âm Bồ Tát nên ông được lành bịnh như ý nguyện.(10b)

Phương thuốc trị bịnh ở trên là không sát sinh, ăn chay, làm việc thiện, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, hồi hướng công đức… gọi tắt là tâm TỪ BI. Các vị chân tu đã “ thử nghiệm” và đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Thuốc đã có sẵn trong tâm, không tốn tiền mua, không tốn công đi tìm, nhưng người sử dụng phải có lòng tin, lòng thành thì mới linh ứng

C-TỪ BI: HÓA GIẢI ĐƯỢC TAI HỌA:

Tai họa của con người gây ra là do nghiệp ác, nghiệp ác dễ làm hơn là thiện nên “phước bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Nghiêp có cộng nghiệp và biệt nghiệp.

Nghiệp cá nhân, chủ nợ đóng rất nhiều vai: có thể là người nhà, lối xóm, bạn bè, người yêu, quen có , lạ có, có khi là thú vật, ma quỷ... Ta luôn ở trong thế “tứ bề thọ địch”, không biết đâu mà tránh ( “họa phúc vô môn”). Chủ nợ đến để đòi mạng, đòi nợ, gây thương tích, gây khó khăn, nói xấu… nhẹ nhất là ác cảm . Khi nhân gặp duyên thì quả báo xảy ra, có khi không cần một lý do chính đáng nào cả (như một sự va quẹt nhẹ, một cái nhìn, một câu nói đùa cũng xảy ra án mạng). Người ta thường nói sự cố xảy ra như vậy thật là phi lý, nhưng Phật Pháp tìm ra cái lý trong sự phi lý đó, đó là luật nhân quả. Chẳng những giải thích được mà còn có cách hóa giải rất mầu nhiệm.

HT.Huyền Diệu kể một câu chuyện vui (tôi không ghi chép nên chỉ nhớ đại khái): có một bà đến tìm thầy để nhờ ếm bùa hại bọn thanh niên lối xóm, vì chúng thường gây phiền phức cho bà. Thầy nói vui: “Bà muốn tôi giết chúng phải không?”. Bà đáp: “Phải!” (bà không rành về Phật Pháp) . Thầy ân cần giải thích về luật nhân quả và chỉ cách hóa giải hận thù: lạy sám hối. Thầy bảo bà đọc tên từng người rồi lạy sám hối họ trong ba tháng (vì bà có lỗi với họ ở tiền kiếp). Năm sau, thầy về nước, bà tìm thầy cảm ơn và nói: “Thầy nói lạy ba tháng, nhưng mới có tháng rưỡi mà thành công, giờ chúng thương tôi lắm”11). Tâm chúng sinh giống như cái máy thu sóng và phát sóng (tất cả các cảnh giới đều có trong tâm ), nên lời sám hối sẽ đến đúng đối tượng, sự sân hận không còn nữa. Trước đây mỗi lần đụng chuyện với chúng, bà rất giận, vô tình tạo duyên sân hận làm cho chủng tử sân hận trong tâm của chúng tăng trưởng, và huân trưởng nhanh chóng nên oán thù ngày thêm chồng chất (bà muốn giết chúng). Nếu như không hóa giải bằng cách lạy sám hối, thì thảm họa sẽ đến cho cả hai.

Lạy sám hối khi biết được đối tượng rất mầu nhiệm, nhưng chỉ là nhất thời, chứ không phải là phương pháp phòng ngừa. Phòng ngừa mới thực sự cần thiết, vì chúng ta đâu chỉ có một oan gia, trái chủ mà vô số (từ trong nhà ra ngoài phố). Chẳng những oan gia, trái chủ hữu hình mà còn vô hình (ma, quỷ), chúng chờ đợi cơ hội thích hợp, tác động váo tâm thức ta , khiến ta mê mờ, không còn tỉnh táo rồi gây ra tai nạn, hoặc nhập vào một người nào đó để hại ta (như nhập vào người say rượu, say thuốc, nên mới gọi là ma men, ma túy )

Phương pháp phòng ngừa là tu hành (giới sát, ăn chay, làm việc thiện, niệm Phật…) và ngày nào cũng hồi hướng công đức cho oan gia, trái chủ từ vô lượng kiếp đến nay. Nhờ vậy mà oán thù được giải, cuộc sống được an vui . Như đã nói, tu hành cũng chính là vun bồi phước đức, phước đức lớn thì họa không thể hại được.

Họa đo cộng nghiệp (nhiều người cùng tạo nghiệp ác nên cùng nhận quả báo). HT. Hư Vân thuật lại một trận động đất kinh hoàng ở Đại Lý như sau : “Năm này, tôi đang giảng kinh ở Long Hoa Sơn, thì 4 huyện ở phủ Đại Lý phát sinh địa chấn kinh hồn, tại Đại lý là nặng nhất: nhà cửa, thành quách đều nhất loạt sụp đổ không còn gì. Chỉ có chùa viện, bảo tháp là không đổ…Trong cơn địa chấn đất rung chuyển trầm trọng, còn phát sinh ra lửa cháy ngùn ngụt tràn lan. Người ta tranh nhau chạy tránh nạn, thì dưới chân đất bỗng nứt ra, làm họ bị lọt xuống mắc kẹt trong đó, họ cố hết sức trèo lên, nhưng vừa ló được cái đầu thì đất liền khép lại, cắt đầu đứt lìa thân thể họ, nằm mắc kẹt trên đất. Cảnh tượng hãi hùng nhìn giống như người đang sống mà bị hãm trong địa ngục lửa thiêu, thảm đến mắt chẳng dám nhìn.

Mấy ngàn hộ dân trong thành tử nạn gần hết, sống sót rất ít.Trong đó có hai tiệm vàng: tiệm Vạn Xương của họ Triệu và tiệm Trạm Nhiên của họ Dương. Khi lửa cháy đến nhà hai gia đình này thì tự tắt.Chỗ họ ở cũng không bị địa chấn. Nhân khẩu mỗi nhà có mấy mươi người, tất cả đều bình an vô sự . Nguyên do là hai họ này, đời đời ăn chay trường và hay làm phước bố thí nên mới chiêu cảm được quả lành hi hữu như vậy. Ai biết được cũng đều xúc động.”(12). Trường chay và làm việc thiện mới chỉ là một phần của tâm TỪ BI mà vẫn có được sự nhiệm mầu không thể nghĩ bàn.

D- TỪ BI HÓA GIẢI ĐƯỢC SỐ MẠNG

Số mạng chính là luật nhân quả (trong dân gian và thi ca thường gọi là số trời). Đại sư Ấn Quang khuyên những ai tin vào số mạng nên đọc “Liễu phàm tứ huấn”. Đây là tác phẩm rất hay, nói về việc cải số, con người hoàn toàn làm được. Xin tóm lược vài nét chính: Liễu Phàm, họ Viên tên Huỳnh, tự Khôn Nghị, người Giang Nam, đời Minh, sinh năm 1535 mất 1609. Ông gặp Khổng tiên sinh, một nhà tướng số rất nổi tiếng đoán tương lai vận mệnh như : thi ở huyện đậu hạng 14, thi ở phủ hạng71,thi ở Đề Đốc hạng 9, đậu tú tài, làm quan 3 năm rưỡi rồi xin về hưu, mất giờ sửu ngày 14 tháng 8, thọ 53 tuổi, không có con.

Trải qua các kỳ thi ấy, đúng từng chi tiết.Từ đó, ông thối chí (vì biết trước số phận của mình chắc chắn sẽ như vậy). Một hôm, ông gặp Thiền sư Vân Cốc, Ngài giảng dạy cho ông về cách cải số rất hay như: “Mạng do ta tạo (tức luật nhân quả), phước do ta tìm (tức tu hành, làm nhiều việc thiện). Số mạng chỉ chi phối cho những người suốt đời xuôi chiều theo tánh mình, không biết thay đổi mà thôi; còn đối với những người có sự chuyển biến mạnh mẽ thì số mạng không thể chi phối…”Ông hoàn toàn tin phục những lời dạy của Thiền sư. Ông sám hối, phát nguyện làm việc thiện… tinh tấn từng ngày ( mỗi ngày đều ghi sổ), được sự trợ giúp đắc lực của vợ. Sau một thời gian dài, kết quả tốt đẹp mở ra, khác hẳn với lời tiên đoán của Khổng tiên sinh. Ông có một người con trai, đậu tiến sĩ, làm quan lâu dài, thọ 74 tuổi.!(13)

HT. Tịnh Không nói rằng theo tướng số thì Ngài chỉ thọ 45 tuổi(vì cằm ngắn), nhưng Ngài xuất gia thì tuổi thọ tăng lên gần gấp đôi. Năm 45 tuổi chỉ xảy ra một trận đau nặng mà thôi. Ngài còn nói thêm là thầy Lý Bỉnh Nam cũng vậy.

Ông Phan Tế Thời là người rất giàu có ở huyện Song Thành, hai vợ chồng đã quá 40 tuổi vẫn không có con, nên rất lấy làm hối tiếc. Họ rất ngưỡng mộ H T. Tuyên Hóa và thỉnh Ngài chỉ dạy cho việc cầu con, Hòa thượng bảo: “Ông nên làm nhiều việc thiện, sao ông không đem phân nửa tài sản của ông bố thí cho tất cả chúng sinh để tích lũy công đức. Nếu làm được như vậy, tin rằng ông sẽ được mãn nguyện”. Nghe theo lời chỉ bảo, ông bèn phát tâm bố thí, sửa chùa, tạc tượng, cúng dường Tam Bảo, trợ giúp hội từ thiện. Qua năm sau, vợ ông sinh được một bé trai, đặt tên là Thí Đức. Bé này thông minh lanh lợi. Sau khi có con, ông càng tin sâu vào Phật pháp, hằng ngày tụng kinh, niệm Phật, làm việc thiện…(14)

Người xưa nói : “Đức năng thắng số”, “ ở hiền gặp lành”quả thật không sai. Trước đây, chúng tôi có hỏi GS. Giản Chi về thuyết số mạng, thầy nói rằng câu “tam phần nhân, thất phần thiên”( người 3, trời 7)nên sửa là “tứ phần nhân” mới đúng. Lời dạy của thầy rất hay, đề cao sự nổ lực, phấn đấu của con người. Nay, tìm hiểu về Phật pháp, ta lại thấy khả năng của con người chẳng những là “tam, tứ, ngũ…phần”, mà có thể thay đổi tận gốc rễ về “số trời”. Tại sao? Vì khi ta phát tâm TỪ BI,làm việc phước đức, tức là mình đã tạo DUYÊN cho chủng tử TỪ BI(vốn có) trong tạng thức tăng trưởng, huân trưởng, hiện hành trong tâm. Tâm được điều hành bởi chủng tử hiện hành đó. Pháp do tâm tạo, tức cảnh giới bên ngoài đều do tâm cả. Tâm động bên trong (tham, sân, si) thì bên ngoài sẽ động (trong ngoài hợp nhất), cuộc sống sẽ gặp nhiều đau khổ, chướng ngại; nếu tâm thanh tịnh(TỪ BI) thì sẽ có cảnh giới bên ngoài bình yên, may mắn , chiêu cảm được những ước mơ chân chính (tùy thuộc vào công phu tu tập).
Đây là câu chuyện “Ăn mày học cách tạo mạng”: Có một gã ăn mày tên là Kỷ Đại Phúc thường lui tới chòi rơm lễ bái HT. Tuyên Hóa. Gã thỉnh vấn Hòa thượng:“ Tại sao đời này con lại bần cùng như vậy”. Ngài giải thích đạo lý nhân quả ba đời, và dạy: “…Do nhân gì mà đời này chịu cảnh hèn? Là bởi đời trước keo kiệt, không muốn cứu tế người nghèo.” Kỷ Đại Phúc nói: “Con thường tự nghĩ, con đã không làm chuyện gì thiếu lương tâm, mà giờ đây chịu cảnh cùng khốn…,vậy chắc là do đời trước con đã keo kiệt, bủn xỉn, không biết bố thí. Ngài có biện pháp nào cứu vãn cho đời sau này của con không?”. Hòa thượng đáp: “ Quân tử học cách tạo mạng, chỉ cần ông bắt đầu từ đây, nổ lực làm việc thiện, quảng tích âm đức, tức ông có thể tự tạo cho mình một vận mạng mới, vậy có phúc nào mà cầu không được?”...Kỷ Đại Phúc nghe xong rất đỗi vui mừng, phát nguyện…,thỉnh cầu quy y Tam Bảo.

Từ đó về sau, lúc đi ăn xin, miệng ông niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” không gián đoạn. Khi xin được tiền, gạo ông đem tế bần, giúp người . Qua nhiều năm tháng tinh tấn, vào mùa đông năm Dân Quốc thứ 29(1940), ông biết trước ngày giờ vãng sinh, an tường qua đời trong tiếng niệm Phật.(15) Như vậy, ông đã thay đổi tận gốc rễ số mạng (cho dù kiếp sau có được làm vua hay thành tiên cũng không thể sánh với cõi Cực Lạc được)

E- TỪ BI: HÀNG PHỤC ĐƯỢC THÚ DỮ

Trước hết, xin được phép ghi lại lời của Bảo Đăng, tác giả “ VÔ NHẤT ĐẠI SƯ, HÒA THƯỢNG THÍCH THIỀN TÂM”: “Người đọc cần phải hội đủ lòng tin và dùng tâm trân trọng, chớ nên nói rằng thời buổi khoa học này thì làm gì có các sự việc như vậy, hoặc là chừng nào tôi thấy thì tôi mới tin v.v…Bởi vì đây không phải là cảnh giới của mình, không phải là công đức tu hành của mình (tức là mình tu chưa đạt đến mức như vậy)…Có nhiều người (tại gia lẫn xuất gia) mỗi khi nghe nói ở phương nào đó có một Thượng tọa hay Hòa thượng tu cao, đạt vài ba sự phi thường(mà họ không bao giờ có được) thì họ hoặc bĩu môi,hoặc là cười nhạo…(họ chẳng tin có người đắc đạo mặc dù họ là người có đạo, và đang tu theo đạo)”

HT Thích Thiền Tâm ẩn tu ở Phú An, Đại Ninh, Lâm Đồng, một vùng có rất nhiều rắn độc. Một hôm, sau khi làm vườn xong, Ngài trở vào thì thấy một con rắn quấn đuôi trên cửa, há miệng, le lưỡi, thở khò khè. Ban đầu,Ngài cũng có ý sợ, chần chờ không dám bước qua, nhưng lại nghĩ chẳng lẽ đứng ở ngoài sân hoài, dùng cây đuổi thì gây oán thù. Ngài niệm Phật và nghĩ đến phép quán TỪ BI mà bước vào. Con rắn đánh đu bên này, bên kia chạm vào mặt, vào cổ mà không hề cắn. Có hôm, khi Ngài vừa ngủ dậy, đặt chân xuống thì trúng mình con rắn, nhưng nó vẫn không phản ứng… Sau đó, Ngài biết là rắn vào nghe kinh… Ngài đã quy y cho chúng. Đây là loại rắn thần, có khả năng biến hình và nghe được tiếng người . Và, rắn đã hộ pháp cho Ngài…Hòa Thượng viên tịch năm 1992. Ngày khai mộ (21- 12-1992) có đôi kim xà đến viếng mộ, chúng nằm yên trước mộ một lát, rồi cất đầu lên ba lần, nhìn trưởng tử Thanh Nguyệt, sau đó bò vào đám tranh, mất dạng…(Câu chuyện còn dài và có nhiều chi tiết khá thú vị , có ghi hình đôi kim xà).(16)

Và, đây là câu chuyện “Mãnh hổ quy y” với HT Quảng Khâm: “Một hôm như thường lệ, Sư ngồi thiền trong động, bỗng nghe mùi tanh nồng nặc theo gió bay vào, Sư lấy làm lạ. Trong bối cảnh mơ hồ, dường như có vật gì to lớn lần bước vào trong động. Sư mở mắt nhìn kỹ, không ngờ đó là con mãnh hổ…Sư thốt lên: “A Di Đà Phật”, mãnh hổ …kinh hãi, vụt tháo chạy. Sau phút kinh hồn, nó lấy lại tinh thần… từng bước, từng bước tiến vào hang động…Sư nói: “ A Di Đà Phật! Lão hổ đừng sân hận! Oan oan tương báo không bao giờ dứt, ngươi ở đây thì ta sẽ ra ngoài, còn ngươi nhường nơi này cho ta tu hành thì sau khi ta thành đạo, sẽ độ cho ngươi…”. Mãnh hổ nghe lời Sư nói, không biết có hiểu hay không, nhưng nó đứng lại… Thật bất ngờ, mãnh hổ gật đầu như tỏ dấu thần phục…Sau đó nó dắt vợ con đến trước Sư mà đùa giỡn, trình diễn các kiểu múa vờn cho Sư xem, nhiều lần gật đầu như cầu xin việc gì. Sư liền quy y cho chúng”.(17)

HT. Hư Vân kể : “Ngày 17 tháng 11 âm lịch, tôi làm lễ kết giới ở chánh điện. Vào đêm thuyết giới Bồ Tát, có con cọp đến quy y, đại chúng đều kinh hoảng. Tôi thuyết giới cho nó xong, nó hiền lành ra đi”. Câu chuyện này được đệ tử Ngài kể tiếp: “ Mùa đông,năm 1934,Sư khai đạo tràng, các vị quan lớn quý tộc đều dẫn quân lính theo. Đêm ấy, người cháu của Giang Khổng Vân đang đứng trên Tàng Kinh Các bỗng thấy ngoài cổng có hai luồng điện xanh lè, bèn đến gần xem, mới hay là con cọp, ông kêu ầm lên, binh lính giương súng định bắn, Sư vội đến nơi , cọp liền nằm mọp dưới thềm.

Sư thuyết Tam Quy cho nó nghe, dặn hãy vào ẩn trong núi sâu, đừng làm hại người. Cọp khấn đầu ba lần,rồi bước đi, song vẫn ngoái lại với vẻ rất lưu luyến. Từ đó, mỗi năm nó về thăm Sư một hai lần…”-lược ghi-(18)

Răng nanh và móng vuốt của hổ, sói không đáng ngại, chỉ ngại nhất là cái tâm tham (tham ăn) và sân si (hiếu chiến, dã man). Các vị chân tu đã hàng phục được cái tâm tham, sân, si thì chúng rất hiền lành như con hổ trong câu chuyện trên.

Nhờ đâu mà các bậc chân tu hàng phục được? HT. Tuyên Hóa đã giúp chúng ta lời giải đáp qua “Vượt bảy thử thách”(bảy của ải ), khi Ngài thủ hiếu ở mộ phần của mẹ. Chúng tôi chọn ải số 2, đó là ải muỗi. Lời kể có chút khôi hài nhưng lại chứa một bài pháp thâm thúy: “ Ở Đông Bắc vào tháng ba không có muỗi, nhưng không biết sao vào tối hôm thứ hai thủ hiếu, có rất nhiều muỗi bay tới kêu vo ve rất lớn…Tôi vốn có thể đập chúng chết hết, nhưng tôi đang để tang mẹ, làm vậy sẽ có lỗi với mẹ tôi sao ?Được rồi ! Tôi bèn phát tâm bố thí, tôi nói: “ Xin chúng bay cứ việc tha hồ hút máu, tao đãi khách đó!Tôi vừa cởi áo ra, chúng liền bay tới đậu tấp nập trên thân tôi, nhưng chưa chích tôi mũi nào thì tức khắc bay đi. Các vị thấy có kỳ quái không? Từ đó trở đi, tôi ở mộ phần thủ hiếu, không khi nào muỗi đốt. Nhưng khách tới thăm tôi đều bị muỗi chích đốt tứ tung. Họ nói: “ ái da, đâu mà nhiều muỗi thế, sao có nhiều vị bác sĩ bác quá vậy!”…

Tôi nói ra đây, phải chăng giống như chuyện thần thoại? Các vị nghe rồi có thấy buồn cười không? Thật ra, điều này chẳng vui chút nào! Vì ngay lúc đó, nếu tôi không có tâm bố thí…thì chúng dễ gì bỏ qua cho tôi. Lúc đó tôi nghĩ: “Được, ta bố thí máu này cho chúng bay! Chúng bay hãy hút hết máu ta đi, dù có chết nơi đây ta cũng không báo thù chúng bay đâu. Ta không những không báo thù mà nếu thành Phật, ta vẫn sẽ hóa độ cho loài muỗi mòng và làm bạn với chúng bay. Một khi nghĩ vậy rồi tức bọn muỗi làm bạn với tôi, nên dù có đậu trên thân tôi, chúng cũng không nhẫn tâm hút máu của tôi. Các vị xem có phải là do có lực cảm ứng hay không? Nói tóm lại,một khi tôi thật sự phát tâm bố thí là chúng nó liền tha cho tôi… Do chuyện này, nên về sau tôi có cái bút hiệu là”Tỳ Kheo Muỗi”, vì tôi ký tên “Độ Luân” và “ Tuyên Hóa”này có một số người thấy rất đau đầu..” (19)

Hòa thượng đã phát Bồ Đề Tâm, chẳng những đem thân mình ra bố thí, mà còn nguyện độ cho chúng… Đó chính là tâm TỪ BI của BồTát (Con người vì sinh mệnh của mình mà giết hại dã man súc vật để nuôi thân; Bồ Tát vì mạng sống của chúng sinh mà hy sinh thân mạng của mình). Nhờ vậy mà có lực cảm ứng. . Cảm ứng là gì? Có CẢM nên mới có ỨNG (ỨNG là đáp lại, thuận theo ). Nếu mình TỪ BI với chúng, chúng cũng đem lòng TỪ BI đáp lại mình (“ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”), vì tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tức tâm TỪ BI.TỪ BI có sự mầu nhiệm, siêu việt hơn cả thần thông, vì thần thông chỉ làm hạn chế, hoặc vô hiệu hóa khả năng đối phương chứ không thể biến thù thành bạn được. Nhưng có được cái tâm TỪ BI của các vị chân tu như HT. Thiền Tâm, Hư Vân, Quảng Khâm,Tuyên Hóa để cảm hóa chúng sinh là rất khó vì các Ngài là Bồ Tát, còn ta thì chỉ là Phật tử , còn nhiều tham, sân, si (nên luôn bị muỗi chích). Tuy nhiên, nếu tinh tấn hành trì hạnh TỪ BI, một ngày nào đó, mình cũng có chút lực cảm ứng, nếu không thì Ngài đâu có giảng rõ cho ta như vậy.



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Mar 5 2015, 04:01 AM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,989
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





F- TỪ BI KẾT NỐI ĐƯỢC VỚI CÁC THẾ GIỚI TÂM LINH

Các thế giới tâm linh cao hơn cõi Ta Bà là các cõi lành, muốn kết nối, ta phải có tâm thiện. Nếu muốn Bồ Tát Quan Thế Âm gia hộ cho mình, thì mình cũng phải là Bồ Tát của chúng sinh khác . HT. Tuyên Hóa nói: “Khi quý vị tu tập thành tâm, thành ý, thì trong người quý vị sẽ phát ra một loại ánh sáng, ánh sáng đó giao cảm với ánh sáng quang minh của chư Phật và Bồ Tát.”(20)

HT.Thích Thiền Tâm, sau khi quyết định từ chức Viện trưởng để ẩn tu, Ngài bâng khuâng không biết đi về nơi nào, Ngài niệm Phật, Bồ Tát, cầu xin gia hộ, chỉ dẫn cho mình một nơi bình an để tu tập cho đến cuối đời. Đêm đó, sau thời khóa trì niệm và nguyện cầu, SƯmơ thấy Thánh chúng dẫn mình gặp QuanThế Âm Bồ Tát…Và nhận được phong thư với mùi hương lạ….Tiếng chuông công phu buổi sáng vang lên, Ngài tỉnh dậy, vội chép lại bài thơ. Kỳ diệu thay! Mùi hương thơm vẫn còn! (nội dung bài thơ chỉ địa danh Phú An, Đại Ninh, và cho biết Ngài hạ lạp 48 năm, thọ 68 tuổi đời )(21).

HT.Huyền Diệu kể: “ Từ khi chim hạc xuất hiện, ngôi Việt Nam Phật Quốc Tự tại Lâm Tỳ Ni trở thành nơi thu hút rất đông du khách đến tham quan…Rồi không biết xuất phát từ đâu mà dân dịa phương đồn với nhau rằng nếu ai ăn được trứng chim hồng hạc sẽ sống được 500 tuổi, còn ăn thịt chim thì thọ 700 năm. Thế là sự sống của những sinh vật đẹp đẽ và hiền lành này bị con người đe dọa…Việc bảo vệ chim hạc khiến tôi tốn kém rất nhiều thì giờ, tiền bạc và nhất là công sức. Tôi vận động chánh quyền địa phương, kể cả báo chí… Chính quyền đã ra một thông báo, ai bắt giữ hơặc săn bắn chim sẽ bị phạt tiền rất nặng, thậm chí có thể bị tù…Thế nhưng, những nổ lực đó đều không đi đến đâu, trứng chim tiếp tục bị mất trộm. Tôi rất tin tưởng sự linh thiêng của thánh địa nơi Đức Phật giáng trần, nên mỗi khi có việc cấp thiết, đều đến nơi này khấn vái. Lần đó, tôi thành kính đi chung quanh trụ đá vua A Dục và khẩn cầu các đấng linh thiêng gia hộ cho tôi có một quyền năng đặc biệt để bảo vệ các con chim hồng hạc. Sau khi thành tâm cầu nguyện, tôi trở về chùa thảo ra thông báo…: Kể từ nay,người nào xâm phạm đến chim hạc sẽ phải nhận hình phạt nặng nề, nếu ăn trứng sẽ bị ghẻ lở trên người, còn ai giết hại chúng thì ba đời bị nạn… Khoảng hai tuần sau , bỗng nhiên, một người thợ bên chùa Nhật Bản và một công nhân tại chùa Việt Nam bị ghẻ lở đầy tay. Thế là cả hai hết sức hoảng sợ bèn đến gặp thầy Nabatame trụ trì chùa Nhật Bản và tôi để thú nhận tội lỗi. Đây chính là những thủ phạm đả ăn cắp trứng chim. Tin này nhanh chóng lan truyền ra bên ngoài. Nhờ vậy mà trình trạng đã đỡ rất nhiều.” (22).

Ngày 18 tháng 4 năm 2012, nhà nước có tổ chức đại lễ cầu siêu tại Trường Sa, gồm 6 tôn giáo, có khoảng 300 người tham dự. Trước khi đi, anh Nguyễn Văn Nhã có nhắn tin cho những Đạo tràng mà anh quen biết và các liên hữu: “Kính thưa quý vị! Tuần lễ từ ngày 18 đến 25, đất nước có sự kiện rất thiêng liêng: Đại lễ cầu siêu tại Trường Sa và biển Đông. Kính mong chư thiện hữu hoan hỷ cùng hướng ra biển Đông cầu nguyện cho âm siêu dương thới…”. Khi về, anh nói thành công ngoài sức tưởng tượng. Chuyến đi bị ảnh hưởng cơn bão số 1, gió cấp 8. Một số vị sư và Phật tử niệm Phật, niệm Quan Thế Âm Bồ Tát, trì chú, sóng gió liền ngưng lại ( rất kỳ lạ là phía trước con tàu không còn sóng gió, nhưng ở phía sau vẫn còn. Cá heo tung tăng trên mặt nước. Anh nghe đựoc tiếng nói của các hương linh, trong đó có ngươi mất từ thế chiến thứ hai (tức chưa siêu thoát) .Có một viên sĩ quan tán thán: “Nếu như trời yên thì cũng gió cấp 3,nay đang ảnh hưởng bão mà mấy ông làm gió cấp hai rưỡi, hay quá !” Khi làm lễ cầu siêu, bát nhang ở bàn thờ Phật phát cháy( tức có cảm ứng)

G- TỪ BI ĐỘ CHÚNG SINH.

HT. Quảng Khâm hỏi các sinh viên: “ Độ chúng sinh, độ bằng cách nào?”. Ngài tự giải đáp: “ Độ chúng sinh, thật ra không phải là chuyện dễ, chúng ta phải phát xuất từ lòng TỪ BI thì chúng sinh mới nghe theo, họ mới chịu để cho chúng ta độ; nếu họ mà không tin theo thì không có cách gì để độ họ được”(23).Tại sao phải phát xuất từ lòng TỪ BI? Vì TỪ BI có tâm lực rất mạnh, khắc chế được chủng tử tham, sân, si (chính thắng tà), đồng thời tạo duyên cho chủng tử thiện, chủng tử Phật trong tạng thức huân trưởng, tăng trưởng, giống như hạt lúa gặp nước thì nảy mầm, nên họ có thiện cảm(nhờ chủng tử thiện) và tin Phật( nhờ chủng tử Phật). Khi ta tiếp xúc với vị chân tu có tâm TỪ BI, ta cảm nhận được sự an vui, đó chính là sóng trong tâm vị ấy tỏa ra (cỏ ,cây nhiều khi còn hấp thụ được năng lượng này mà nở hoa,xin đọc “ THƠM NGÁT HƯƠNG LAN”, sẽ rõ). Bác sĩ Quách Huệ Trân nói: “Quý vị hãy xem hình của lão HT. Hư Vân, chỉ cần nhìn thần sắc của Ngài, chỉ cần xem phong độ phi phàm của Ngài mà không cần xem truyện ký, chúng ta cũng cảm nhận được tấm lòng của Ngài rộng lớn như thế nào mới có được thần sắc như vậy”, (thần sắc của Ngài chính là tâm TỪ BI tỏa ra, “tướng tùy tâm xuất”). Như vậy, dù không nói ra lời mà Ngài vẫn độ được ta, tức độ mà không độ. (vô vi)

Bác sĩ Quách Huệ Trân kể tiếp : “ Thêm một vị đại đức gần đây nhất là lão HT. Quảng Khâm, mọi người đều xưng tán là “bảo vật” trong Phật giáo… Năm lão Hòa thượng 92 tuổi, tôi có dịp theo Ngài lên núi, Ngài đi ở phía trước từng bước rất vững vàng và nhanh chóng, tôi đi phía sau rất mệt mới theo kịp…khi đi qua một đoạn đường có nhiều chướng ngại, Ngài quay đầu lại nói: “Con phải đi cẩn thận nghen!”. Giọng của Ngài khàn khàn nhưng có oai lực, ánh mắt nghiêm nghị nhưng chứa đựng lòng từ bi vô hạn. Tôi rất hổ thẹn. Bây giờ trên đường đời đã vấp ngã bao lần, đã gặp nhiều chướng ngại, nhớ lại lời Ngài nói thì tự nhiên lệ đẫm ướt mi lúc nào không biết. Có người tưởng Ngài rất huyền bí nên muốn đi “ điều tra” cặn kẽ. Đến khi nghe Ngài nói chuyện hết nửa ngày thì chỉ nghe toàn là những từ ngữ như “niệm Phật”, “đừng ăn thịt” nên trong bụng thầm nghĩ: “Tôi cũng biết nói như vậy, cần gì phải hỏi Hòa thượng”. Thật không sai, ai cũng biết nói như vậy, nhưng chúng ta không ai đã từng trải qua sự tu trì khổ hạnh, công phu chân thật như Ngài; lại không có đủ đức hạnh để cảm hóa người khác. Cho dù có nhiệt tâm để khuyên người,người ta còn chê mình “ nhiều chuyện” nữa. Ngài đã hàng phục được tâm mình, đã hạ thủ công phu rất sâu trong sự tu niệm, nên tự nhiên cảm hóa được hàng vạn người”(24).Thật kỳ diệu, câu nói đơn giản “đừng ăn thịt” lại khiến cho vạn người ăn chay, “niệm Phật” thì có hàng vạn người niệm theo. Do tâm lực đại TỪ BI mà Ngài đã chuyển hóa được cái tâm của Phật tử. Tiếng nói của Ngài thấm vào tâm khảm họ. Chỉ một câu dặn dò đơn giản của Ngài mà BS. Quách Huệ Trân suốt đời không quên.

Hòa thượng không bao giờ nói trước công chúng rằng mình đã làm được những gì. Trong một lần hội ngộ với HT. Tuyên Hóa, như gặp được tri âm, tri kỷ, hai vị đã đề cập đến phần nào những việc mà mình đã làm được. Đây là đoạn đối thoại:

-Độ chúng sinh không chỉ dùng lời nói, mà phải tu đạt đến chỗ vô hình cảm hóa được người, chứ không phải “lấy cái gì đó” để hoằng pháp.

Pháp sư Độ Luân (Tuyên Hóa):

- Đúng vậy, dùng pháp vô vi,không dạy bằng lời .Hiện nay, tôi muốn làm việc gì thì tôi cũng có thể làm được,thí dụ: tôi muốn chỗ tôi đang ở là thành phố SanFrancisco không động đất, thì không bị động, không phải là đất không động, mà do tôi khiến cho đất không động…Khi tôi còn là Sa di có quỷ, thần, rồng, hồ ly đến quy y. Bây giờ, tôi có một số đệ tử người Mỹ, dù tôi có đánh họ, mắng họ, họ cũng không bỏ tôi mà đi

-Tu hành phải tu tới chỗ nói được thì làm được…Còn phần tôi (HT.Quảng Khâm), tôi không nói là tôi đang làm gì cả, người ta thấy tôi hoặc nghe tôi nói một vài câu, họ cảm động; sau khi tôi đến Đài Loan, Đài Loan cũng tương đối được yên ổn.(25)

Khi Ngài viên tịch, Tổng Thống Đài Loan lễ viếng với câu liễn đặc biệt “ĐẠI TỪ BI”, ca tụng sự cống hiến của Ngài đối với dân, với nước (đem lại sự bình yên)



***TẠM KẾT.

Chúng ta không thể nào thấy hết được các bảo vật trong kho báu TỪ BI, những viên ngọc Mani, dù ở ngay trong tim ta, nhưng lại cảm nhận được qua những câu chuyện kể của các vị chân tu đã chứng đắc trong các tác phẩm như: “CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA”, “THƠM NGÁT HƯƠNG LAN” (HT.HƯ VÂN), “CẨM NANG TU ĐẠO VÀ HÀNH TRẠNG CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM”, “VÔ NHẤT ĐẠI SƯ, HÒA THƯỢNG THÍCH THIỀN TÂM”…Tác phẩm nào cũng nói về sự mầu nhiệm, ít nhiều mang dấu ấn thần thông. Nếu bạn mải mê yếu tố thần thông thì hãy nghe câu trả lời của đệ tử Ngài Tuyên Hóa với HT. Quảng Khâm:

-Thầy của các ông có thần thông phi thường. Ngài có thường dạy thần thông cho các ông không?
-Thần thông không thể dạy được. Thần thông xảy ra tự nhiên khi tu hành đến mức độ nào đó. Hơn nữa, thần thông không thể giúp chấm dứt luân hồi sinh tử. Đó không phải là mục tiêu tối hậu mà đạo Phật nhắm tới.(26)

Vậy, mục tiêu tối hậu đó là gi ? Đó là thành Phật, tức tâm ĐẠI TỪ BI. Thực ra, những câu chuyện các Ngài kể ra, hầu hết đều nói lên sự mầu nhiệm của tâmTỪ BI như khuyến tấn ta hành trì . Tác giả Trẩn Do Bân viết: “Nếu tín đồ Phật giáo chỉ quan tâm đến việc thầy mình có khả năng thần thông hay không, mà không nhận ra được tinh thầnTỪBI giáo hóa chúng sinh của thầy mình, thì các tín đồ đó nhầm lẫn mục tiêu và không phải là đệ tử chân thật của Phật”(26b).

Kho báu TỪ BI ở trong tâm ,nhưng chúng ta làm sao cho nó hiển lộ ? Kho báu ấy hiển lộ không biết bao nhiêu lần mà tại mình thờ ơ không biết. Nếu bạn giúp cho một người nghèo khổ nào đó một cách thầm lặng, thì ngay trong phút giây ấy, bạn cảm nhận được niềm an vui thánh thiện, đó chính là kho báu đã hiển lộ; nếu bạn thấy cảnh thương tâm mà rơi lệ, đó chính là kho báu hiển lộ; nếu ai có lỗi với bạn mà bạn vẫn vui, đó cũng chính là kho báu hiển lộ. Nếu muốn khai mở kho báu ấy, chúng ta trì niệm danh hiệu A Di Đà Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát, tụng kinh, trì chú (tùy duyên), ăn chay, làm việc thiện hằng ngày, nhẫn nhục,tinh tấn… Một ngày nào đó, cánh cửa sẽ từ từ mở ra. Hãy tin tưởng trở về kho báu của chính mình, đừng mải mê ngắm nhìn “kho báu” của người cho đời mỏi mệt. Đừng trở về khi quá muộn !

SÀI GÒN, MÙA THU GIÁP NGỌ
Lê Phương Hướng


Xin Tri Ân Quý tác giả, dịch giả của những tác phẩm mà chúng tôi dẫn chứng. Nhờ công đức của quý vị mà chúng tôi càng tin sâu vào Phật pháp.


CHÚ THÍCH:

(1) Trang 23, THƠM NGÁT HƯƠNG LAN

(2) Trang115, CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA

(3) Tang 12, CẨM NANG TU ĐẠO VÀ HÀNH TRANG CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM

(4) Trang ,167 GẬY KIM CANG HÉT 2

(5) Trang 109,CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA

(6) Trang 145, THƠM NGÁT HƯƠNG LAN

(7) Trang 225, CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA

(8) Trang 178, KHAI THI 6, HT. TUYÊN HÓA

(9) Trang 493 ,THỦ LĂNG NGHIÊM, tập 10, HT.TUYÊN HÓA giảng thuật

(10) (10 cool.gif Trang 123 CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA

(11) HT. HUYỀN DIỆU giảng tại CLB. KIM NGÂN, Nhà Bè ngày22/6/ 2014

(12) Trang 135, THƠM NGÁT HƯƠNG LAN

(13) Lược ghi theo bản dịch của BAN VIỆT NGỮ, VẠN PHẬT THÁNH THÀNH

(14) Trang 187, CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA

(15) Trang 126 -nt-

(16) Trang 307, VÔ NHẤT ĐẠI SƯ, HÒA THƯỢNG THÍCH THIỀN TÂM, tác giả BẢO ĐĂNG

(17) Trang 274, CẨM NANG TU ĐẠO VÀ HÀNH TRẠNG CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM

(18) Trang 190, THƠM NGÁT HƯƠNG LAN

(19) Trang 101, CUỘC ĐỜI VÀ ĐẠO NGHIỆP CỦA HÒATHƯỢNG TUYÊN HÓA

(20) Trang 20, QUÊ HƯƠNG CỰC LẠC, HT.TUYÊN HÓA

(21) Trang 274, VÔ NHẤT ĐẠI SƯ, HÒA THƯỢNG THÍCH THIỀN TÂM

(22) Trang 49, KHI HỒNG HẠC BAY VỀ, HT. HUYỀN DIỆU

(23) Trang 240 CẨM NANG TU ĐẠO VÀ HÀNH TRẠNG CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM

(24) Trang75, LẮNG NGHE TIẾNG HÁT SÔNG HẰNG, BS. QUÁCH HUỆ TRÂN (DIỆU ÂM dịch)

(25) Trang 145, CẨM NANG TU ĐẠO VÀ HÀNH TRẠNG CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG KHÂM

(26) (26b)Trang 105, 106 THỬ LUẬN VỀ NHỮNG CỐNG HIẾN CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA ĐỐI VỚI NỀN PHẬT HỌC.tác giả TRẦN DO BÂN

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Mar 5 2015, 04:05 AM
Gửi vào: #5


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,989
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





CỦA TIM CÒN MỘT CHÚT NÀY(ND)

Ai người trước đã qua
Ai người sau chưa đến
Nghĩ trời đất vô cùng
Một mình tuôn giọt lệ
( Trần Tử Ngang)

Người xưa nói: “ Mặt trời mọc từ phương Đông”, nghĩa là chân lý đến từ phương Đông ( sự hiểu biết về bản chất của vũ trụ thì người phương Đông có nhiều khả năng, còn Tây phương chỉ quan tâm về thế giới hiện tượng) Vì sao? Theo Kinh Dịch, phương Đông thì Dương ở bên trong, bên ngoài là Âm. Theo tính chất Âm Dương,Dương bên trong là nội lực sáng tạo, là trí huệ là tinh thần,(hướng thượng,tâm linh,triết lý có khả năng giải thích về bản chất sự việc, nối kết được với các cõi tâm linh ; Âm bên trong, tức phương vị của Tây phương. Âm thì mờ tối nên không có HUỆ( tức sáng trong tâm);chỉ cóTRÍ(sáng ở đầu), trí thì vô minh vì chỉ biết về hiện tượng vật chất mà vật chất thì giả hợp. Âm thiên về vật chất nên Tây phương thích tìm hiểu khám phá thế giới tự nhiên. Do đó,ít có khả năng khám phá được thế giới tâm linh, ít quan tâm về giá trị tinh thần, họ rất quan tâm thế giới tự nhiên nên giỏi về khoa học kỹ thuật(họ có khả năng khám phá được thân thể của động vật, nhưng không khám phá được tâm hồn nên khổ đau, tai họa của kiếp người vẫn còn nguyên vẹn, chuyên dưới đất chưa xong thì lại lo chuyện trên trời:khám phá sao Hỏa).

Trên sơ đồ phương vị trong Kinh Dịch thì Đông ,Tây đối lập nhau(tổng quát thì như vậy, chứ không tuyệt đối vì trong Âm có Dương; trong Dương có Âm). Nếu biết dung hòa nhau thì hay biết mấy . Đông y cho rằng bịnh là do mất quân bình Âm Dương; trị bịnh là lập lại thế quân bình.Theo triết Đông, thiên nhân tương hợp, một trong tất cả nên cơ thể con người và xã hội, đất trời đều giống nhau: xã hội loạn chính là mất quân bình Âm Dương .Đối với thế tục thì sự quân bình Âm Dương là lý tưởng, xã hội được bình yên; nhưng với việc tu hành hay tu dưỡng thì Âm(vật chất) là một chướng ngại , tâm dính vào vật chất(hưởng thụ) thì tâm bất an, khó vào định. Con đường đi đến giác ngộ là :GIỚI (khổ hạnh)mới vào được Định; Định mới có Huệ, tức chứng đắc, có lục thông ngũ nhãn (khổ thông mới có thần thông,thần thần thông của chánh pháp, khác với thần thông của ma, quỷ)). HT Hư Vân đã nói: “ thân càng khổ thì tâm càng an”. Do đó, người xưa không quan tâm đến vật chất, dù họ có được khả năng siêu việt, biết được bản chất của vật chất là đất,nước,gió, lửa, và do tâm tạo ra .Vì không quan tâm đến vật chất nên cũng không quan tâm đến khoa học kỹ thuật đề khám phá thế giới tự nhiên như Tây phương nên Đông phương lạc hậu.Trong khi đó ,Tây phương lại đăm mê vào lãnh vực này nên họ ngày một tiến bộ. Thời mạt pháp, chúng sinh nhiều nghiệp chướng, chủng tử tham, sân, si hiện hành , thích hưởng thụ tiện nghi vật chất, nên thích văn hóa Tây phương. Họ choáng ngợp,sùng bái, nhắm mắt theo Tây một cách mù quáng .Tại sao? Nếu ta đưa cho trẻ con một viên thuốc đắng chúng sẽ không uống ( vì chúng chưa có nhận thức được về bệnh tật), nhưng cho viên kẹo thì lấy ngay vì kẹo ngọt ngon thỏa mãn được vị giác. Ngày rằm tháng 7, bảo trẻ con vào chùa cầu siêu cho ông bà, chúng không đi, nhưng chỗ nào có cúng cô hồn thì chúng tới ngay vì có bánh kẹo, trái cây, tiền bạc. Người tôn sùng văn hóa Tây phương cũng giống như trẻ con vậy, bất kề họ là ai.

Nguyễn Tường Long, cây bút lý luận của TỰ LỰC VĂN ĐOÀN hô hào: “ theo mới, theo mới, không chút do dự”.Hậu quả là những con người cũ bị đem ra chế giễu,thi sĩ Tản Đà cũng là nạn nhân của họ. Do theo mới không chút do dự mà xã hội thời bấy giờ sinh ra NGỰA NGƯỜI, NGƯỜI NGỰA, XUÂN TÓC ĐỎ, GIÔNG TỐ tràn lan( tất nhiên, đây là một trong những nguyên nhân). Nguyễn Tường Long lấy bút danh là TỨ LY(giờ xấu nhất), không hiểu sao, sau đó,đổi lại là HOÀNG ĐẠO(giờ tốt nhất).Cuộc đời ông lại phù hợp với TỨ LY, chứ không phải HOÀNG ĐẠO.

Sự tôn sùng Tây phương ngày một gia tăng bởi sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật quá nhanh nên văn hóa Việt Nam ta ngày một chao đảo, lung lay tận gốc, đưa đến sự ngộ nhận tai hại: Tây phương hơn ta mọi phương diện, lấy văn hóa của họ làm chuẩn mực để “ phát huy” văn hóa dân tộc.Tiếp thu văn hóa nước ngoài để làm giàu cho văn hóa nước nhà không có gì sai cả nhưng phải biết chọn lọc, chứ không phải là bắt chước. Cái hay của văn hóa Tây phương như bảo vệ môi trường, súc vật(không ăn thịt chó, thịt chim), tôn trọng ngươì già, phụ nữ, trẻ con,làm việc đúng giờ,nghiêm túc v.v.thì không học mà rước về những cái dị ứng làm tổn thương văn hóa dân tộc. Có những lãnh vực mà ta có thể dạy họ được thì không phát huy, có thể hay hơn họ nếu tư tin sáng tạo thì lại ngoan ngoãn học ở họ. Tôi xin nêu ra một vài việc nhỏ nhưng có tính thời thượng như THI HOA HẬU, CA NHẠC , BÓNG ĐÁ(lấy hình nói bóng)

A HOA HẬU, NGƯỜI MẪU:

Người Tây phương thi hoa hậu ,chọn người mẫu thì hợp với văn hóa của họ,nếu không thì đó mới là chuyện lạ, vì hợp với phương vị (theo Kinh Dịch) .Tây phương thì Âm bên trong(Âm thiên về vật chất hơn là giá trị tinh thần); Dương bên ngoài ,tức phần giao tiếp, biểu hiện, là cái “tôi” xã hội( Dương thì phóng khoáng, phô trương…)nên họ thích phô trương thân thể, khoe thân sắc.Trái lại, Đông phương thì Dương ở trong,Âm bên ngoài( Dương ở trong nên trọng giá trị tinh thần, Âm bên ngoài nên kín đáo, không muốn,không thích phô trương vì Âm là che lấp, ngược lại với Dương).

Phương vị Âm,Dương chính là bản sắc văn hóa khu vực, tức Đông phương, trong đó có Việt Nam.Do đó,nếu ta tổ chức thi hoa hậu, người mẫu là không phù hợp,biến Đông thành Tây là làm tổn thương đến bản sắc văn hóa. Nếu cho rằng thế giới ngày càng thu hẹp,ta phải phóng khoáng ,cởi mở. Điều này cũng có lý nhưng phải biết hài hòa Âm,Dương(“ dĩ bất biến ứng vạn biến”), nghĩa là ngoài áo dài truyền thống ,thí sinh nên mặc áo đầm, váy, (biều tượng cho sự dung hòa vì kín không kín, hở không hở). Cởi mở phải có giới hạn nhất định (cởi mở, không phải là cởi quần áo).Nếu mặc áo tắm đứng trước đám đông thì làm tổn thương đến vẻ đẹp(tâm hồn) của người phụ nữ Đông phương( có một nghịch lý đang tồn là nếu có một ca sĩ ăn mặc hở hang thì bị ném đá, bị phạt, còn hoa hậu hở hang hơn nhiều thì lại được tung hô).

Người Việt ta có chiều cao khiêm tốn, tại sao lại lấy chân dài làm chuẩn? Hoa hậu là hoa hậu Việt Nam, ngươi mẫu là người mẫu Việt Nam, Sao không “Việt hóa” đôi chân cho phù hợp .Trang phục áo tắm và chân dài là bắt chước Tây như sáo , như vẹt, không có ý thức. Không hiểu trước khi làm việc gì, người ta có suy nghĩ về sự lợi hại,nên hay không nên , phù hợp hay không ?

Năm 1992,tôi có viết một bài báo về nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam.Lâu quá, tôi không nhớ là mình đã viết gì, nhưng chi tiết khơi nguồn cảm hứng thì còn nhớ rõ:Trong cuộc thi sắc đẹp tại châu Âu, có một thí sinh Việt Nam rất đẹp, duyên dáng với chiếc áo dài , ai cũng nghĩ là cô sẽ đoạt giải, nhưng đến phần mặc áo tắm thì cô xin bỏ cuộc vì không phù hợp với người phụ nữ Việt Nam, khiến khán giả ngỡ ngàng…và ngưỡng mộ .

Các bạn trẻ có biết nghĩa chữ TRINH là gì không? Đây là từ Hán Việt, gồm hai thành phần ghép lại: 1 là chữ THƯỢNG( nghĩa là trên, chữ này tỉnh lược bớt một nét), 2 là bộ BỐI(nghĩa là tiền bạc, viết dưới chữ thượng), có nghĩa là vượt lên trên tiền bạc , suy rộng ra là vượt lên danh và lợi để giữ gìn phẩm hạnh thì gọi là TRINH. Ôi ! một cánh chim non phiêu bạt cuối trời mà vẫn giữ được nét đẹp của người con gái Việt Nam,còn tại quê nhà thì làm điều ngược lại !

Đứng trên đạo lý thế gian mà luận, ta thấy rằng người đẹp thì rất ít, người sinh ra đời với ngôi sao xấu thì rất nhiều.Không ai muốn mình sinh đời là xấu, cha mẹ cũng không muốn con mình đẻ ra là xấu. Nay thi hoa hậu, tôn vinh vẻ đẹp trời cho với một ít người, vô tình làm rất nhiều người chạnh lòng, có hợp đạo lý hay không ? Vui được sao ?Vả lại, sắc đẹp có giáo dục được ai đâu, không phải là tấm gương sáng cho đời noi theo. Phía bên trong “sắc đẹp” thì bất tịnh: phân ,nước tiểu, đờm, nếu hơi thở không còn thì hôi thúi gấp trăm lần con chuột chết (vì xác lớn hơn).Tôn vinh để lảm gì? Để bán vé ư ?

Đứng trên kinh điển mà nói thì đây là đại họa cho nhiều người. SẮC gắn liền với DỤC(vì sắc mà dục phát sinh). Con người(và súc vật)vì sắc dục mà sinh ra và cũng vì sắc dục mà chết, trôi mãi trong luân hồi lục đạo, nặng thì ở địa ngục, nhẹ hơn chút thì làm kiếp súc sinh…HT Tuyên Hóa nói: “ Quý vị phải thận trọng, chớ có gần gũi sắc dục; gần gũi sắc dục tất sinh họa. Qúy vị hãy ghi nhớ rằng mình hãy hết sức cẩn thận, đừng bao giờ mê đắm sắc tướng”. Và, đây là lởi Phật dạy: “Hãy thận trọng, đừng nhìn ngó nữ sắc, cũng đừng nói năng với họ”(Phật dạy người xuất gia )

Lời của Phật là chân lý, các vị chân tu không bao giờ dám vọng ngữ.Như vậy, các thí sinh hoa hậu đã tạo nghiệp vì để cho nhiều người nhìn ngó. SẮC tức DỤC, nên lòng tà nổi lên, dẫn đến hậu quả không tốt .Đừng nghĩ đơn giản rằng thí sinh sống đàng hoàng sau khi đoạt giải là không có tội, điều này chỉ đúng với luật pháp chứ không đúng với luật nhân quả . Xin thí dụ đơn giản ở một lãnh vức khác: Nếu có người nào giới thiệu cho nhiều người rằng ăn con vật này bổ thận, con vật kia bổ gan… thì tội rất lớn dù mình không trực tiếp sát sinh .Nếu có hai người nghe theo mình thì tội mình gấp đôi, nếu có 10 người thì tội mình gấp 10. Vì sao? Vì số lượng con vật bị giết tăng gấp 10 lần. Hoa hậu cũng vậy, nếu vì sự hở hang của mình mà có 10 người sinh tà tâm… thì tội mình tăng gấp 10 lẩn. Nhà tài trợ , người tổ chức cũng bị, mà bị nặng hơn vì tạo điều kiện cho nhiều thí sinh phô diễn thân sắc .Một vị chân tu đã nói : “sống, tức là tạo nghiệp” Vì vậy, chúng ta nên thận trọng.Lỡ tạo nghiệp rồi thì cũng đừng bi quan, thành tâm sám hối, nghiệp chướng sẽ tiêu tan(tin thì thật, thành thì linh). Sám hối không khó, thành tâm mới thật là khó(99% chưa phải là tâm chí thành)

Người đẹp hay không đẹp đều do trời sinh như dân gian đã nói (oan cho ông trời), nhưng thật ra là do luật nhân quả, nghiệp báo.Nếu kiếp trước thường dâng hoa cúng Phật với lòng cung kính, vẻ đẹp tươi của hoa trong những phút giây thánh thiện đó in sâu vào tạng thức(tức chủng tử), đó chính là chủng tử thiện, gặp duyên lành được tái sinh làm người đề hưởng phước, chủng tử đó hiện hành tác động vào thai nhi mà tạo ra nét đẹp tươi như hoa.Đây là vẻ đẹp của người có thiện căn: trang nghiêm và phúc hậu( “tướng tùy tâm xuất”), người đẹp này sẽ không thích thi hoa hậu, người mẫu( ngoài ra, những người đẹp phúc hậu cũng có thể tiền kiếp thường đem lại niềm vui, làm rạng rỡ khuôn mặt cho người,hoặc không ganh tỵ với người đẹp hơn mình…).Những người mà “trời bắt phải đẹp” là để trả quả(vì mình đã lỡ tạo ác nghiệp), người xưa gọi là “ hồng nhan bạc phận”.Dù là “được”đẹp hay “ bị” đẹp thì tu dưỡng, làm việc thiện, tích lũy âm đức đều tốt cả: người có số tốt sẽ tốt hơn, bền lâu hơn, nếu tu tập thì đó là một lợi thế; người có số không may thì sẽ tiêu trừ nghiệp chướng,hoặc được giảm nhẹ(tốt nhất là sám hối, hồi hướng công đức cho oan gia trái chủ để họ không đến tìm mình)

B CA NHẠC

Năm 1986, cánh cửa thị trường đã mở, văn hóa Tây phương bắt đầu tràn lan .Cái tốt khó học, cái xấu dễ tiếp thu. Phim ảnh bạo lực, đồi trụy, cùng với dòng nhạc trẻ đã xâm nhập vào khá dễ dàng .Nhạc trẻ đã tạo ra một trận cuồng phong ,làm mưa, làm gió trên nền ca nhạc nước nhà một thời gian . Đó là một dòng nhạc lai căng, mất gốc, làm tổn thương đến bản sắc văn hóa dân tộc. Nó tạo ra một lớp ca sĩ ảo(không có chất giọng), một lớp nhạc sĩ có chút kiến thức về nhạc lý nhưng lại không hiểu biết về bản sắc văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ Việt(vì không có ai dạy họ).Một trong những lý do là sùng ngoại,mặc cảm tự ti về sự lạc hậu của mình nên choáng ngợp với nền văn minh Tây phương,không hiểu về sự khác nhau của các nền văn hóa…

Trước khi bàn về sự mất gốc của dòng nhạc trẻ. Chúng tôi xin sơ lược về bản sắc văn hóa Việt Nam,và sự thể hiện của bản sắc này trong ngôn ngữ :

- Thưa thầy! Bản sắc của văn hóa Việt Nam là gì?

Giáo sư Giản Chi đáp:

-Tình cảm đậm đà.

Chúng ta biết rằng bất cứ dân tộc nào trên thế giới cũng đều có tình cảm cả,nhưng phải công nhận rằng tình cảm của dân tộc Việt Nam ta rất đậm đà(ưu và khuyết cũng do đây mà ra).Chỉ cần tìm hiểu qua tiếng Việt là nhận thấy ngay.Thí dụ đơn giản về cách xưng hô: Mỹ, Anh dùng ngôi thứ nhất và thứ hai là I/ you; người Việt thì theo cảm xúc mà xưng hô.Thể hiện tình cảm trân trọng: ông(bà)/ tôi, chúng tôi; thương yêu :anh/ em; ghét(hoặc quá thân): tao/ mày;thể hiện tình cảm gia đình:cha(mẹ)/con, ông (bà)/ cháu, anh(chị)/em; với gia tộc : cô, bác ,chú ,thím .dì, dượng, cậu, mợ/cháu v.v.Ngoài ý nghĩa của từ ngữ, còn có những hư từ,từ láy…Đặc biệt, ta còn dùng âm thanh để biểu cảm, và chúng ta có đến 6 thanh(6dấu)là dấu sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã , dấu ngang(tức không dấu) .Đây chính là bản sắc văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ Viêt.Nhờ đó mà tiếng Việt uyển chuyển, mềm mại(dễ luyến láy), ngọt ngào, cảm xúc và có sẵn yếu tố nhạc trong ngôn ngữ , trong khi ngôn ngữ các nước khác thì khô, cứng,hầu như chỉ có lên giọng, xuống giọng.

Trước đây,Giáo sĩ Tây phương sang ta truyền giáo, họ rất ngạc nhiên khi nghe người Việt nói: “Người Việt nói như chim hót”,nghĩa lả tiếng Việt có nhạc điệu một cách tư nhiên.Nếu người sáng tác không nhận biết điều này,cứ đem yếu tố nhạc lý bác học, phức tạp của Tây phương vào khi sáng tác thì sẽ thất bại ngay .Vì sao? Vì “ vẽ rắn thêm chân”.Tiếng Việt đã có sẵn nhạc trong đó,chỉ cần dùng nhạc lý đơn giản để ghi lại cảm xúc là đủ, là phù hợp, vì sự đơn giản của nhạc lý không làm mất đi 6 thanh (tức 6 dấu) giúp cho 6 dấu phát huy tác dụng biểu cảm về mặt âm thanh .Nhạc lý phức tạp,hoặc dòng nhạc nào không phù hợp , hoặc bất cứ yếu tố nào mà làm mất đi các dấu,khiến cho âm thanh trở nên lơ lớ, khô cứng, xương xẩu, đều không hợp tai người Việt .Thí dụ đơn giản: Có một nhạc sĩ, tên H, xuất thân từ trường lớp,hay chỉ trích nhạc “ sến”(đơn giản về nhạc lý như bolero, êm tai, dễ hát, rất phù hợp với ngôn ngữ Việt), ông viết cả mấy trăm ca khúc nhạc “sang” nhưng tác phẩm của ông lại chết yểu ngay khi mới sinh(dù ông là người có điều kiện để phổ biến), trong khi đó, nhạc “sến”vẫn trường thọ, sống khỏe, sống mạnh.Có lẽ ông ta có kiến thức về nhạc lý mà không hiểu bản sắc ngôn ngữ Việt Nam, nên làm cho lời ca xương xẩu, khô cứng, trắc trở, chói tai,rất khó ca. Ông thiên về lý hơn là tình nên không có xúc cảm với những tác phẩm hay trước 1975. Nếu có, ông sẽ ngộ ra rằng những tác phẩm hay, vượt thời gian, đều đơn giản về nhạc lý, có vần điệu hòa hợp êm ái,rất dễ ca , và hầu như tác giả không qua trường lớp(nhạc thì không có sang, có sến ,không có mới ,không có cũ... chỉ có hay và dở mà thôi)

Về mặt âm thanh, bản sắc của ngôn ngữ Việt Nam là ĐƠN ÂM và có SÁU THANH. Nếu tiết tấu quá nhanh, thì đơn âm sẽ trở thành đa âm, các dấu sẽ không thể phát huy tác dụng, lời ca sẽ khô cứng, lơ lớ giống như ngôn ngữ đa âm .Nếu ca sĩ nào thích dòng nhạc này(nhạc trẻ thời trang) thì nên hát theo ngôn ngữ của nước đó, đừng ép tiếng Việt thành tiếng nước ngoài. Vẫn biết nhạc thì có nhanh ,có chậm,nhưng nhanh phải trong giới hạn của đơn âm,nhanh như ca khúc “Hòn vọng phu”(1 và 3) là mẫu mực. Nhanh phải hợp với nội dung. Như “Mẹ yêu”(Phương Uyên) khá nhanh nên phản tác dụng,vì lòng mẹ êm ái như làn gió nhẹ đùa mặt hồ , sao lại đem cơn bão cấp 10 thổi vào. Tình cảm thuộc về Âm, nhất là tình mẫu tử thì phải chậm. Ngoài ý nghĩa biểu cảm của ca từ, phải nhờ sự biểu cảm của âm thanh, tức 6 dấu (phải hát chậm thì các dấu mới phát huy được sự biểu cảm) .Việc chọn nhạc của cô đã sai về cơ bản. Xin được nói thêm : Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ rất nổi tiếng,rất tài hoa, nhưng khi ông sáng tác nhạc phẩm “ Huyền thoại người con gái tên Thi” (trước 1975) thì bị chỉ trích. Lý do là: một chuyện tình quá bi thương mà tiết tấu hỏi nhanh (tình thì buồn mà nhạc không buồn).Dường như trời sinh ra người nhạc sĩ tài hoa này là để viết nhạc vui).

Nên nhớ rằng nhạc Việt hay là do nhiều yếu tố, trong đó 6 dấu góp một phẩn rất lớn( hãy nghe lại một bản nhạc hay, bạn sẽ cảm nhận được điều này(ca sĩ Thu Hiền… đã thăng hoa được 6 dấu) . Có thể ví 6 dấu trong ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam như chân con cua, nếu bẻ chân, cua sẽ chết. Nhạc trẻ đã bẻ chân nó một các vô tư, không thương tiếc( nhận xét chung là như vậy, nhưng trong Âm vẫn có Dương, vẫn có một số bài hát khá dễ thương )
Một đặc điểm nổi bật khác của ngôn ngữ Việt trong thi ca là GỢI hơn là TẢ? Tại sao ?Như đã trình bày ở trên, Đông phương thì Dương bên trong( Dương là nội tâm , là tinh thần, là tâm hồn …được giữ bên trong) ; Âm ở bên ngoài, tức phần tiếp xúc, bộc lộ, diễn đạt,mà theo tính chất thì Âm là kín đáo,là đơn giản, là hình tượng…)nên thiên về gợi hơn là tả; gợi thì dùng hình tượng hơn là lý trí(trái với Tây phương, Dương bên ngoài nên thích phô trương,rõ ràng, phức tạp, thiên về tả nên hay dùng lý trí hơn là hình tượng) Như vậy, ta thấy nghệ thuật Đông phương sâu lắng hơn Tây phương trong lãnh vực nghệ thuật, nếu hiểu nghệ thuật là quy luật của tình cảm.Tại sao? Vì tình cảm khó mà tả hết được bởi nó quá mênh mông, sâu thẳm nên phải gợi, để dòng cảm xúc của người thưởng ngoạn tự tuôn trào,chảy ra , hoặc cảm nhận bằng sự hình dung. Người nghệ sĩ có tài chính là biết cách khai thông dòng cảm xúc .Thí dụ đơn giản: Lòng mẹ thì quá bao la, ngôn ngữ trần gian thì chật hẹp, không thể tả hết được nên nhạc sĩ Y Vân mới dùng hàng loạt hình ảnh: biển Thái Bình, đồng lúa chiều , làn gió đùa mặt hồ, tiếng sáo diều để giúp ta hình dung.Tuy nhiên, không phải là cứ đem hình ảnh vào thơ ,vào nhạc là thơ hay, nhạc hay mà phải biết chọn lựa,biết diễn đạt, nghĩa là phải có cái nhìn của họa sĩ, chọn cái thần, cái hồn của hình ảnh, phải có năng khiếu văn chương để diễn tả. Vì vậy, muốn trở thành một nhạc sĩ sáng tác đâu phải dễ dàng. Nhạc sĩ Phạm Duy nhìn người mẹ hiền bằng tâm hồn của họa sĩ, diễn đạt của người có năng khiếu văn chương,rồi dùng âm nhạc để ghi lại nên làm rung động lòng người qua bao thế hệ.Đây là hình ảnh mẹ và cũng là nghệ thuật của phương Đông, của Việt Nam:NGÔN NGỮ CỦA HÌNH TƯỢNG: “ Mẹ lần mò ra trước ao, mắn áo người xưa ngỡ trong giấc mơ. Tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ”, “ Cánh tay êm tựa mái đầu, ôi bóng hình từ bao lâu còn in dấu sắc màu”, “chiều rơi thoi thóp trên vài luống khoai,hiu hắt tiếng bà mẹ cười, vỗ về nồi cơm ngô đầy”.

Ngôn ngữ hình tượng không những chỉ diễn đạt về tình cảm mà còn giúp ta suy tư về cuộc đời , triết lý… , điều mà lý trí cũng không thể giải thích hết được. Đây chính là nghệ thuật tượng trưng, đặc điểm nổi bật trong thi ca cổ điển. “Con thuyền không bến”( Đặng Thế Phong) là tác phẩm kinh điển của nghệ thuật tượng trưng hiện đại( vì không có tính ước lệ, tức cảnh không thật) , cảnh vật ở tác phẩm này là cảnh hiện ra trước mắt, nó được tác giả thu vào tim nên có thần, có hồn( rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên là 1 trong 4 yếu tố của văn chương lãng mạn- theo giáo sư Hà Như Chi-) ,“ Con thuyền không bến”chính là bức tranh thủy mạc được vẽ bằng âm nhạc, vừa cổ điển , vừa hiện đại(lãng mạn), có nhiều ý nghĩa, tùy theo sự cảm nhận của người nghe . Có thể đây là thân phận của một tình yêu , hay thân phận của kiếp người trong cõi đời vô định…

Nhạc trẻ, đúng như tên gọi của nó: trẻ người non dạ, họ đã xây một lâu đài trên cát(vì không thấm được vào tim), nó ( nhạc và ca sĩ) giống như sao chổi, tuy có ánh hào quang , nhưng hào quang đó chính là lớp bụi khổng lồ,phản chiếu ánh sáng mặt trời(theo khoa học ), tồn tại trong một thời gian rất ngắn. Người lớn thì rất sợ nhưng trẻ con thì lại thích xem. Do đó, cơn bão nhạc trẻ đã biến thành áp thấp nhiệt đới (“vật cùng tất biến”).
Nếu đem những đặc điểm của ngôn ngữ Việt Nam như đơn âm, 6 thanh, giàu hình tượng, gợi hơn là tả để thẩm định nhạc trẻ ,ta sẽ thấy họ bị “việt vị” quá rõ(tiếc là trọng tài không thổi phạt). Chúng tôi không hề có ác cảm với dòng nhạc(vì nó vô tội), nhưng rất dị ứng với những người không có năng khiếu sáng tác, không hiểu biết về bản sắc ngôn ngữ Việt; sáng tác quá nhanh, như mì ăn liền,ca từ nhảm nhí,nhạc thì trắc trở,khô cứng,khó ca, khó nghe, khó cảm(lẽ ra,với những dòng nhạc khó Việt hóa, ta nên đắn đo,cân nhắc và thử nghiệm trước khi phổ biến). Nhạc chính là sự rung động, thổn thức tận đáy lòng rồi ngân lên thành điệu ,thành dòng nhạc và người ta ký âm lại để trở thành tác phẩm, chứ không phải chọn dòng nhạc rồi bắt ca từ “ chui” vào trong đó, và đó chính là thợ nhạc. Nghệ sĩ sáng tác cần phải biết chờ đợi nguồn cảm hứng đến với mình,thi sĩ Hồ Dzếnh gọi là PHÚT LINH ( “Phút linh cầu mãi không về…”), nếu không đến thì coi như mình chưa đủ duyên vậy .Chúng tôi cũng không hề ác cảm với ca sĩ nhạc trẻ nhưng lại dị ứng với các “ngôi sao”: có người hát thì thào như không có hơi, có người phát âm không rõ, tiếng được, tiếng mất, có người gầm thét, có người la hét,người Việt không hề biểu đạt tình cảm như vậy( trước năm 1975,ở miền Nam, muốn trở thành ca sĩ thì điều kiện tiên quyết là phải có chất giọng ngọt ngào hay âm sắc đặc biệt, không hề có giọng ca khô khan,chát chúa mà thành ngôi sao được).Dường như nhạc thời trang, “thời thượng” cố ý làm cho tiếng Việt giống như tiếng nước ngoài( khô cứng, lơ lớ, xương xẩu), để chứng minh rằng mình tiến bộ, theo kịp trào lưu thế giới !

Đêm qua, tôi thấy một giấc mơ: Ông Thánh Đặng Thế Phong, người tạo cho đời “Giọt mưa thu”,đã rời trần gian, bỗng hiện về, tìm đến chốn thiên thai , uống ly rượu đào cùng ông Tiên Văn Cao. Hai vị ngồi nghe chú tiểu đồng Cao Minh gợi lại ca khúc “Bến xuân” . Ông Thần Phạm Duy ở gốc đa, quá vui khi nghe tiếng hát từ Bồng Lai vọng về,liền sai cô cháu gái là Ngọc Hạ lên đồi thổi lại khúc nhạc chơi vơi. “Quê hương ơi! Bóng đa ôm đàn em bé… những con trâu lạnh trên đồi mằn mộng gì, chờ đợi tôi thổi tiếng sáo chơi vơi”.Có Tiên, có Thánh, có Thần nên ông Hoàng Bolero Trúc Phương, sống lưu vong trên mảnh đất quê hương hơn 20 năm , rất tự tin bèn đón chiếc “Tàu đêm năm cũ” trở về.Trong một “Chiều cuối tuần”, có những ông già U60, U70, U80, cùng con cháu đến sân ga chào đón và hát lên rằng: “ Còn tôi trong mơ, còn tôi đợi chờ, thì dù xa xôi, tôi vẫn là của người”.
Ông Hoàng trầm ngâm,rồi nói rằng ta cầu mong cho nhạc “thời thượng” giãy chết ,chớ đừng chết thật,vì nhờ có bóng đêm ta mới quý ngọn đèn dầu, nếu nhạc “thời thượng” không còn thì bolero cũng sẽ mất…Đây là di chúc của ta: muốn tồn tại thì cần có đối lập.(không có Âm, tức sẽ không có Dương)

Dân tộc ta trải qua 1.000 năm nô lệ , 100 năm bị đô hộ, 20 lệ thuộc nhưng văn hóa dân tộc vẫn không bị đồng hóa vì vẫn giữ được Hồn dân tộc, đó là một ngôn ngữ êm ái, ngọt ngào, giàu nhạc điệu và hình tượng( có người nói ngôn ngữ Việt là một đặc ân của thượng đế ban tặng cho người Việt), làm sao mất được vì ngay từ thuở còn nằm nôi, mẹ hiền đã rót vào tim con một chất sữa ngọt qua làn điệu dân ca: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru những câu xa vời”( à…à…ơi tiếng ca ru hời !-NV-).
BÓNG ĐÁ
Tôi rất thích triết Đông, nhất là cách nói ngược của Phật và Lão: ĐẠI tức TIỂU, THỊ tức PHI ,HỮU tức VÔ, TỬ tức SINH ,SẮC Tức KHÔNg…nhờ đó mà ta mới hiểu được hai mặt của một vấn đề. Vì vậy, khi người ta nói “thánh”thì tôi lại nói quỷ.
Bóng đá thế giới,bóng đá châu Âu, bóng đá Anh đã và đang là thần tượng, là khuôn vàng, thước ngọc, làm sao có thể nói NGƯỢC lại được? Nếu chúng ta tự tin vào triết Đông(đúng tức là sai, hay tức là dở, thần tượng tức là tầm thường…) và tự tin vào chính mình, tất sẽ nói ngược không mấy khó khăn; nói ngược mà không ngang.
Khi hai đội tuyển quốc gia thi đấu ,họ đều chào cờ và hát quốc ca của nước mình, vì bóng đá không chỉ là môn thể thao đơn thuần mà còn tượng trưng cho màu cờ sắc áo, tài năng của dân tộc. Thế nhưng, họ lại mướn HLV nước ngoài, điều này rất mâu thuẫn. Ai cũng biết thắng hay thua phần lớn là do HLV trưởng,vị này giống như vị nguyên soái thống lĩnh ba quân ngoài chiến trường. Nếu chúng ta hỏi một học sinh cấp 2 rằng chiến thắng Đống Đa được chỉ huy bởi ông tướng người Tây, người Nhật thì có đáng tự hào, có đáng tiêu biểu cho sức mạnh, tài trí của dân tộc không? Chắc các em nói là không, lý do đơn giản: ông tướng không phải là người Việt. Việc mời H.L.V nước ngoài là tự nhận đất nước mình không có bậc hiền tài.Vậy có gì phải tự hào, hãnh diện(nếu chiến thắng ). Cũng may là quốc kỳ không biết nói năng:
Quốc kỳ mà biết nói năng
Thì VFF hàm răng không còn
Nhưng,nếu trách VFF thì oan lắm, vì ông thầy mình (bóng đá Tây phương) làm như vậy, anh Cả Nhật Bản, anh Hai Hàn Quốc, anh Ba Thái và cả khu vưc từng mướn HLV nước ngoài,có ai nói gì đâu? Cái sai lâu ngày trở thành cái đúng và không ai để ý. Ta biết rằng người Tây Phương(Phần Âm bên trong) thiên về vật chất,ít quan tâm về giá trị tinh thần, với họ là kết quả đạt được một cách cụ thể, nhanh chóng mới có giá trị ,nên nền văn minh của họ là văn minh lượng( còn văn minh Đông phương là văn minh phẩm, thiên về tinh thần). Lẽ ra chúng ta dạy họ mới đúng, trái lại , cả khu vực đều bắt chước cái sai của họ. Tại Sao? Bị choáng ngợp bởi nền khoa học kỹ thuật, cứ nghĩ là lãnh vực nào của họ cũng hay cả. Mê hào quang, mê thần tượng mù quáng dễ dẫn đến sai lầm, ngô nghê . Ông Nguyễn Hiến Lê có nêu ra một câu chuyện khá thú vị về một tên lính Đức Quốc Xã, vì quá ngưỡng mộ Hitler, anh ta hỏi mọi người rằng không biết Hitler có đi cầu không? Với anh ta, thần tượng này là thánh nên không có phàm tục.Chính vì tôn sùng quá đáng làm cho ta thấy quỷ là thánh .Xin đừng cười anh lính ngây thơ này vì biết đâu mình cũng vậy. Mê thì mờ, bất cứ ai, kể cả trí thức…( thí dụ: quá mê người yêu thì không còn thấy cha mẹ).

Xin trở lại chuyện sân cỏ. Năm 1982, danh thủ Võ Thành Sơn giã từ sân cỏ, nhà báo C.T.(nhà bình luận bóng đá được ví như cây đa, cây đề) đã viết: “Sơn không có chút gì để so sánh với Johan Cruyff, nhưng Sơn và Joahn Cruyff có nét giống nhau, đó là sự giã từ sân cỏ vẫn còn nét hào hùng ”. Sơn là ai? Johan Cruyff là ai? Sơn là cựu trung phong hay nhất của tuyển miền Nam, sau 1975 ,anh vẫn tiếp tục chơi bóng(tiếc là anh hay bán độ). Sơn là cầu thủ hay toàn diện( đá được cả hai chân, đánh đầu, đi bóng , chuyền bóng đều tốt, lại có cú “lật bàn đèn” điệu nghệ).Có lần xem bóng đá nghiệp dư ở sân Tao Đàn, tôi hỏi anh Hồ Thanh Cang, cựu thủ quân tuyển miển Nam: “ Sơn và Cù Sinh, ai hay hơn”, anh đáp mà không cần suy nghĩ: “ Sơn hay hơn nhiều, hậu vệ đá sao, nó đá cũng được, trung phong chỉ cần vậy thôi” . Còn John Cruyff là danh thủ người Hà Lan rời sân cỏ 1974 ( trước năm 1975 , truyền hình Sài Gòn không có truyền hình trực tiếp bóng đá châu Âu như bây giờ, nghĩa là ông C.T chưa thấy danh thủ này đá bóng, nhưng ông lại đem ra so sánh.Cụm từ “không có một chút gì” thật là đau xót như một sự xúc phạm.

Thế nhưng,khi đội Hải Quan thi đấu với đội tuyển quân đội Cộng Hòa Dân Chủ Đức, vị HLV Đức phát biểu sau trận đấu: “Nếu có một đặc ân, tôi sẽ mang cầu thủ số 7 về nước”( Nguyễn Hoàng Minh, tức Minh Nhí).
Tại sao người nước ngoài thì khen cầu thủ Việt,người trong nước lại chê một cách thậm tệ? Người Tây phương thường tôn trọng sự thật, còn ta thì giàu trí tưởng tượng , lại mặc cảm tự ti, nếu quá vọng ngoại thì chính trí tưởng tượng đó khiến ta có ảo tưởng rằng Tây phương là thiên đàng,nên ta không có chút gì để so sánh với người cõi trên( Xin được mở rộng thêm một ý nhỏ: Chúng ta sống ở cõi Ta Bà bất tịnh, không có chút gì để so sánh với cõi Tiên, nhưng nếu tu hành chân chính,đúng chánh Pháp,thì khi nói Pháp, Tiên sẽ xuống nghe)

Chỉ khi nào chúng ta tự tin, nhìn thẳng vào sư thật, thấy được cái sai,cái dở của người thì ta mới thật sự tiến bộ. Nếu muốn có một nền bóng đá vững mạnh thì hãy tìm ra cái dở, cái hạn chế của bóng đá Tây phương, đừng làm theo họ. Bóng đá cũng là nghệ thuật; nghệ thuật thì thiên hình vạn trạng, là sáng tạo, có thể đi đường tắt, chứ không phải là bắt chước, không phải là y sao bản chính. Chúng tôi xin nêu ra những cái sai, cái dở,cái hạn chế của bóng đá Tây phương:

SAI lẦM TRONG ĐÀO TẠO:

Sân cỏ châu Âu là nơi để cho các lực sĩ điền kinh đua tốc độ, với sức mạnh giả tạo(sẽ nói về sức mạnh ảo ở phần sau ), là nơi biểu diễn của những con người gỗ, vì họ đem khoa học kỹ thuật để huấn luyện nghệ thuật không đúng cách.Xin nêu ra một vài nhận xét:

LỪA BÓNG :

Họ cho các em lừa bóng qua các cột mốc,hoặc con đường đã định sẵn, mới nhìn vào thì thấy rất bài bản, nhưng thật ra, đó là sai lầm vì sẽ tạo ra con người gỗ.Tại sao? Vì nó tạo cho các em quán tính( qua trái rồi qua phải, lặp đi lặp lại) , quán tính thì giết chết phản xạ tự nhiên(nhất là khi còn nhỏ tuổi).Không có đối thủ trước mặt thì phản xạ không phát huy .Tập như vậy mà không trở thành người gỗ mới là chuyện lạ(cầu thủ Tây phương dùng sức rướn để lừa bóng qua người, chứ không phải là nhờ sự mềm dẻo,khéo léo của đôi chân người có phản xạ tốt, và sự mền mại khéo léo mới chính là nghệ thuật). Một nhà bình luậnTây phương đã nói: “ Các ngôi sao bóng đá Brazil(có lẽ là những thế hệ trước)là những cầu thủ VỈA HÈ”.Đúng vậy, ở lứa tuổi thơ, họ thường hay chơi bóng ở vỉa hè, nghĩa là lừa bóng qua con người trước mặt nên phát huy được phản xa .Ngày nào cũng lừa, quên cả giờ giấc, sức khỏe. Phản xạ được phát huy mỗi ngày , thời lượng “luyện tập” lại gấp nhiều lần hơn so với các học viện bài bản,nếu họ không có kỹ thuật lừa bóng điêu luyện, không trở thành ngôi sao thì đó mới là chuyện lạ.
Tại sao HLV người Đức lại thích cầu thủ Minh Nhí? Vì cầu thủ này lừa bóng rất hay. Anh rất thấp mà thường đi bóng qua cầu thủ cao hơn mình cả 3 tấc, Do đâu mà anh có khả năng như vậy? Thuở nhỏ, anh chơi bóng ở “ sân bóng” miệt vườn tại Đồng Tháp(chứ không qua trường lớp) trước khi đến với đội Hải Quan,nhờ vậy mà có phản xạ rất tốt và trở thành ngôi sao. Tại sao Công Phượng lại có khả năng lừa bóng rất hay? Công Phượng có tố chất, đăm mê, đặc biệt là chơi bóng từ khi tuổi còn thơ. Bà Hoa, mẹ cháu nói rằng người “thầy” đầu tiên của Phượng là Khoa, anh của Phượng. Hai anh em dẫn trâu ra đồng rồi thì chơi bóng với nhau .Trong cái rủi có cái may. “Nhờ”sinh ra trong gia đình nghèo ở quê, cha mẹ ít quan tâm đến việc học, sức khỏe(theo y học) nên cháu có cơ hội chơi bóng thoải mái với bạn bè .Khi đến với Hoàng Anh,thì cháu có 6, 7 năm “thâm niên” lừa bóng qua đối tượng con người, phản xạ tự nhiên phát huy tối đa( nhất là tuổi thơ, chân còn mềm, dễ tập) Nhờ cái vốn “trời cho”mà Phượng nổi tiếng là cầu thủ đi bóng hay nhất , chứ không phải là do Hoàng Anh- Arsenal đào tạo . Vì sao? Nếu do học viện này ,thì tại sao các cầu thủ khác không lừa bóng được như Phượng, dù họ cũng có tố chất tốt.Suy rộng ra , tại Anh quốc, Arsenal chỉ đào tạo ra “ chân gỗ”( có cầu thủ nào của họ có thể sánh được với cầu thủ vỉa hè Brazil).Ngoài ra, ta có thể nói rằng Tuấn Anh, tuy có tố chất, tài hoa nhưng lại con nhà bác sĩ, có bác sĩ nào lại chịu đề con mình chơi bóng ngoài đường, quần áo bụi bặm… nên phản xạ không phát huy tốt như Phượng, cái hay của cầu thủ này là khả năng chuyền bóng tấn công hơn là đi bóng .

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Mar 5 2015, 04:11 AM
Gửi vào: #6


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,989
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





SÚT BÓNG:

Có thể nói kỹ năng sút bóng trong nền bóng đá hiện đại chỉ thấm ngoài da chứ chưa vào được xương tủy cầu thủ. Ta thử đưa ra một vài tiêu chí để đánh giá khả năng cầu thủ:Trong một mùa bóng,nếu cầu thủ nhận bóng trong vùng cấm địa,với tư thế trống trải , sút bóng vào bên trong khung thành (không nhất thiết phải qua tay thủ môn) với xác xuất 100%100, chắc khó có, với 70%100, xưa nay hiếm . Khung thành thì rộng mênh mông, nhưng sút vọt xà, chệch cột dọc thì rất phổ biến( kể cả ngôi sao), Lỗi này do đâu? Chính là do khâu đào tạo theo bài bản Tây phương. Chúng ta thử nhìn lại các ngôi sao thì rõ. Rooney, cầu thủ đắt giá nhất thế giới, đã giúp gì cho tuyển Anh . ra sông Euro thì bị lật thuyền, vào biển Vorld cup thì đắm tàu. Vẫn biết bóng đá là môn thể thao tập thể nhưng nếu hàng công dứt điểm tốt thì tuyển Anh có thể vào sâu hơn như tứ kết, bán kết. Thử thống kê từ ngày khoác áo đội tuyển đến nay, Rooney ghi được bao nhiêu bàn thắng. Kết quả sẽ là câu trả lời hay nhất( sự nổi tiếng của tiền đạo chính là do giới truyền thông: sút bóng hỏng thì không ai nói gì cả nhưng ghi được bàn thắng thì được ca ngợi tận mây xanh, lên mây nhiều lần thì sẽ thành sao ). Thật không ngờ các ông lớn mùa World cup 2014 như Ý, Tây Ban Nha, Anh , Bồ Đào Nha với nhưng chân sút đắt giá mà không biết ghi bàn thắng.Tôi còn nhớ một mùa bóng nào đó( tôi ít quan tâm tới họ, nhưng có một chi tiết không thể nào quên), tuyển Ý đấu với một đội yếu, sút bóng 26 lần mà không ghi được một bàn thắng nào. Trong giải U19 châu Á tại Myanmar, Tuyển Nhật sút 20 lần, chỉ ghi được 1 bàn nên thua Trung Quốc(đội kém hơn) với tỷ số 2/1( Nhật là bản sao sắc sảo của bóng đá Tây phương) Các đội bóng Châu Âu, Đông Á đá kém, đá dở,thì báo chí mình không phê phán lỗi do đâu( có lẽ tưởng họ là người cõi trên),còn với tuyền VN thì chụp cái mũ như: hệ thống đào tạo lạc hậu , lỗi thời,nhưng không hề dẫn chứng lỗi thời, lạc hậu ở chỗ nào( ý họ là ngầm so với Tây phương).Dường như chiếc mũ trên tay họ kích thước chỉ vừa cái đầu cầu thủ VN, nên không thể chụp vào các ông lớn. Nghĩ cầu thủ mình cũng tội nghiệp: “Trời sinh ra cái thớt/ nên suốt đời ăn dao”( TMH).

Do đâu mà họ sai lầm? Trước nhất là lỗi về nhận thức. Ta biết rằng bóng đá có nhiều kỹ năng, tất cả kỹ năng đều là phương tiện, nhưng sút bóng là quan trọng nhất, nó vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh. Tại sao? Vì thắng thua không phải là tấn công nhiều,sút nhiều mà là sút chính xác, tung lưới đối phương).Như vậy, trong quá trình đào tạo, phải dành thật nhiều thời gian cho kỹ năng sút bóng( thời gian tập sút bóng trong giáo trình huấn luyện của bóng đá hiện đại là quá ít vì họ dạy nhiều kỹ năng khác cùng một lúc.Thử hỏi một tuần có mấy buổi tập sút, thời gian tập mỗi buổi bao lâu, mỗi em sút bao nhiêu lần, chắc là rất ít.Vì vậy, khả năng sút bóng chỉ thấm ngoài da, Thật không thể hiểu nổi , cầu thủ chuyên nghiệp, “tốt nghiệp” rồi, có người từng ở trong đội tuyển trên, dưới 10 năm nhưng khi tập trung vào đội tuyển họ phải tập lại kỹ năng này. Hầu như HLV nào( ông Tây,ông Nhật , ông Việt) cũng đều than thở về khả năng sút bóng quá kém của các tuyển thủ, và phải dạy lại họ. Các HLV thở than cũng có cái lý của họ vì họ không phải là người đào tạo. Nhưng thầy Giôm “đau đầu” (nhiều lần) về khả năng dứt điểm của học trò mình thì có cái để nói: Các học viên được tuyển chọn rất kỹ ( phạm vi cả nước) ,đều có tố chất bóng đá, đăm mê,chăm ngoan; thầy thì tận tụy;cơ sở vật chất rất lý tưởng; giáo trình, phương pháp là của Arsenal. Có bột, có đường mà không tạo ra bánh ngon, lỗi do đâu ? Chính là hệ thống đào tạo của Tây phương .

Có thể nói, nhờ chơi chung lâu năm nên khá ăn ý, dễ đánh bại các đối thủ có trình độ ngang tầm nhưng mới tập trung, nhờ phong cách tốt,lối chơi đẹp, tận lực , tận hiến, nhờ hư danh của Arsenal, nhờ hào quang thật của Công Phượng về khả năng đi bóng ,U 19 VN(nòng cốt là Hoàng Anh- Arsenal )che lấp đi cái dở “muôn thuở”:khả năng sút bóng .Nếu lấy tiêu chí đánh giá khả năng sút bóng mà chúng tôi nêu ở trên thì U 19 Hoàng Anh không đạt yêu cầu. Quý vị hãy nhớ lại 4 giải đấu đã qua thì rõ : không biết bao nhiêu lần họ có bóng trong tư thế trống trải ở vùng cấm mà sút bóng vọt xà, chệch cột dọc, thậm chí Công Phượng, Văn Toàn đối diện với thủ môn nhưng không sao đưa bóng vào lưới được. Lỗi này không phải tại thầy, tại trò mà do cách huấn luyện của bóng đá Tây phương là như vậy: chỉ ngấm vào da, chứ chưa vào được xương

Làm sao kỹ năng này ngấm vào xương. ? Rất dễ: tăng thời gian tập sút bóng. Xin nêu ra một thí dụ: Từ 12 đến 16 tuổi, các em chỉ học hai kỹ năng duy nhất: sút bóng 70% thời gian, lừa bóng 30%), nghĩa là ngày nào cũng sút bóng, thời gian mỗi buổi tăng dần theo lứa tuổi(tập nhiều tư thế…). Sau 16 tuổi mới học các kỹ năng khác, không có ảnh hưởng gì nhiều( sút bóng vẫn duy trì). Nếu thời gian tập sút bóng như vậy,cầu thủ sẽ sút khá chính xác , ngay cả người không có năng khiếu cũng có đạt loại khá giỏi . Chắc có người sẽ hỏi rằng các kỹ năng khác thì sao? Các kỹ năng khác học sau vẫn không muộn và chỉ cần một thời gian ngắn.Ta biết rằng nhiều cầu thủ trong đội tuyển quốc gia đến với bóng đá sau khi học xong phổ thông nhưng rất hay ở các kỹ năng khác(chỉ trừ sút bóng, đi bóng )

Làm sao ngấm vào tủy? Đó là sự tập trung cao độ trong khi tập sút bóng. Nếu sút vào khung thành thì sự tập trung coi như không có, vì nó quá rộng lớn. Do đó , treo một quả bóng trước khung thành rồi nhắm vào đó mà sút.Nhờ có vật làm chuẩn mà ta mới biết độ lệch khi sút hỏng là bao nhiêu để lần sau điều chỉnh thì sự chính xác gia tăng theo thời gian. Sút vào khung thành thì dễ, sút trúng vào quả bóng thì quá khó;tập luyện là phải tập cái khó mới có sự thành công sau này( cũng như học vậy, nếu chịu làm nhưng bài tập khó thì thi mới đậu, đậu cao được).

Theo Duy Thức Học, tâm có 8 thức, các thức đồng một thể nhưng vì chức năng mà phân chia. Thức thứ 7 ví như vua(chấp ngã), thức thứ 6 ví như thủ tướng có khả năng nhận xét,phê bình, đánh giá…thường xuyên nhận báo cáo của thức số 5, gồm nhãn thức, nhĩ thức, vị thức, tỷ thức, thân thức, ví 5 bộ trưởng. Mắt (nhãn thức) thấy quả bóng rất vô tư, nhưng nhờ thức thứ 6(ví như sự chỉ dẫn của thủ tướng) mà biết nó nhỏ hay lớn, cách bao xa, nằm ở bên nào mà báo cho thân thức thực hiện ý của vua là phài sút trúng bóng, đúng mục tiêu. Sự tập trung cao độ tức là 3 thức cùng hoạt động chung(ví như thủ tướng và 2 vị bộ trưởng cùng làm việc), lâu ngày ăn ý với nhau. Chân sút bóng lệch,tức thân thức sai, nhưng vô tư không biết, thứ số 6 nhận ra ,góp ý (ví như thủ tướng góp ý với bộ trưởng,tên là thân thức) sự hoạt động các thức diễn ra nhanh chóng, tới một lúc nào đó như tìm ra một thông số chính xác,và cả 3 là 1 là đạt tới trình độ mắt không cần nhìn trái bóng dưới chân, sút vẫn trúng mục tiêu mà người đời thường nói là chân có mắt.Khi thi đấu, cầu thủ chỉ cần quán tưởng(quán tưởng tức thức số 6 làm việc,hai thức kia có nhiệm vụ làm theo) trái bóng treo ở trong khung thành( vị trí do ta quán tưởng)mà sút bóng .Giả sử có chệch mục tiêu 1 tấc, vẫn tung lưới vì khung thành quá lớn.Đạt được trình độ này, thì không có đội bóng nào trên hành tinh có thể thắng được. Thí dụ đơn giản: đối phương sút 20 lần, có thể ghi 5 bàn( vì khả năng của họ mới chí thấm ngoái da); ta sút 10 thì ghi 10 bàn(vì thấm vào tủy),thậm chí không đạt được100%100,chỉ cần 70%100(7 bàn) là thắng.Thật ra, chỉ cần thấm vào xương là đủ, chỉ cần mức 60% là chiến thắng( vì bóng đá hiện đại chưa cải thiện được kỹ năng sút bóng, do sai lầm trong nhận thức)
MƯU TRÍ : Người Tây Phương thiên vể trí, còn Đông phương giỏi về mưu.Trong nền bóng đá hiện đại, ta không thấy dấu ấn vế mưu trí của HLV, nếu hiểu mưu tri là tự mình nghĩ ra, là sáng tạo. Họ chỉ vận dụng bài bản trong sách giáo khoa về bóng đá của ông thầy khoa học,kỹ thuật. Bóng đá châu Á lại sao y bản chính châu Âu nên không phát huy được thế mạnh vốn có do đặc điểm của phương vị, đó là mưu chước.Nếu khổng Minh, Tôn Tẫn, Nguyễn Huệ... tái sinh, làm HLV thì bóng đá sẽ cục kỳ hấp dẫn. Khán giả sẽ thấy được trận đồ bát quái, thấy cảnh “thất điên, bát đảo”. Thấy cầu thủ của Khổng tiên sinh ghi bản dễ như “ thất cẩm Mạnh Hoạch”…Tại sao sân cỏ không biến thành bàn cờ? Vì có trí mà khôn có mưu.

Bóng đá có hai trạng thái : động và tịnh. Thể động thì khó “lập trình” thế cờ, cầu thủ phải tùy cơ ứng biến; thể tịnh thì hoàn toàn có thể, đó là khi bóng chết như: phát bóng, ném biên, đá phạt.Với cờ tướng thì cao thủ là người nghĩ ra nhiều nước, người thấp thì chỉ có 1 nước. Nếu sân cỏ là bàn cờ thì HLV hiện tại có trình chơi cờ rất thấp vì mới nghĩ được có 1 nước, thí dụ đơn giản : khi đá phạt, họ ra dấu hiệu vị trí điểm rơi cho một cầu thủ nào đó,rồi cầu thủ đó tùy cơ ứng biến, nghĩa là chỉ 1 nước . Như vậy , đối phương có thể cản phá được vì sự đơn điệu. Giả sử ta nghĩ thêm vài nước nữa thì đối phương sẽ bị động ngay, đó mới là cao thủ, là cờ thế, làm cho họ rơi vào bẫy.Thí dụ đơn giản:trong luyện tập, ta lập thế cờ như sau: Nếu cầu thủ A đá phạt ở giữa sân, tất cả cầu thủ đều biết là B ở phía bên phải, cạnh đường biên dọc,vị trí ½ sân đối phương sẽ nhận bóng, họ sẽ di chuyển sang trái ,để B nhận bóng trong tư thế trống trải.Khi B nhận bóng, tất cả điều biết B sẽ chuyền cho C và điểm rơi là góc vuông ở vùng cấm, phía bên trái.Tất cả cầu thủ tấn công tiếp tục di chuyển chiến thuật, chạy sang bên mặt; còn cầu thủ C từ phía trên di chuyển xuống rất chậm( để bảo vệ khoảng trống ở góc vuông vùng cấm).Khi B vừa chuyền thì C dùng tốc độ lao xuống sút bóng, đối phương trở tay không kịp vì bị động nên phát xuất chậm(trong bóng đá chỉ cẩn nhanh hơn 1 bước chân là ghi được bàn thắng, nếu sút chính xác) .Tiếc rằng bóng đá hiện đại quá thật thà, ngây thơ, chỉ biết phô diễn cỏ bắp( “hữu dõng vô mưu”). Nếu bóng đá đỉnh cao là cuộc đấu trí (mưu trí),mền mại, uyển chuyển thì bóng đá Tây Phương không có.Đông phương có ưu thế hơn,nhưng con cháu của Khổng Minh , Tôn Tẫn, Nguyễn Huệ… vẫm cỏn mê ngủ trong căn phòng quá đầy đủ về tiện nghi vật chất mà không mộng thấy người xưa !

THỂ LỰC: Đông phương có triết lý rất hay: “chịu khổ hết khổ, chịu đau hết đau”. Các vị chân tu, tu hạnh Đầu Đà, chịu cái khổ đến tận cùng nên các Ngài đã chứng đắc, thân tâm an lạc, ung dung tự tại, thoát ra cảnh khổ của thế gian như HT Hư Vân ,Tuyên Hóa, Quảng Khâm…Tuy nhiên, đó là những vị thượng căn, hay Bồ Tát hóa thân, triệu người chưa được một(lấy cái khổ để an cái tâm). Nhưng phàm phu chúng ta, tuy không an được cái tâm,nhưng vô tình( do nghèo khổ) lại làm cho cái thân có một sự chịu đựng phi thường bằng cách chịu khổ hết khổ, chịu đau hết đau. Có những người đạp xích lô trước đây, họ chở khách từ Sài gòn ra xa cảng Miền Tây(10 cây số), đâu phải chỉ một lần trong ngày( với họ thì nhiều lần càng tốt), công nhân khuân vác một trọng lượng nặng hơn họ, từ bến tàu đến nhà kho suốt ngày,những người chở lu đựng nước đi bán(trước đây), một chuyến 5 cái, từ Bình Dương xuống miền Tây vài trăm cây số bằng xe đạp. Quả thật sức chịu đựng của con người rất kỳ diệu.

Với các võ sư khí công, thì biến cái thân yếu đuối thành một sức mạnh không thể nghĩ bàn như dùng tay chặt bể nhiều viên gạch, dùng đầu đóng đinh, dùng cây đánh vào người thì cây gãy . Ta hãy xem màn biểu diễn của võ sư thiết đầu công trên mạng và nghe sự giải thích của ông( tựa: “ Võ sư thiết đầu công và những màn biểu diễn phi thường, Lê Đình Phước” (tại quận 6,năm 2007). Xin được tóm lược: dùng hai ngón tay đâm thủng lon bia;dùng cây đánh vào người, cây gãy;dùng hai thanh gang đập vào đầu, thanh gang gãy; dùng dây xích , một đầu móc vào mí mắt, một đầu móc vào xe xích lô chở người, kéo xe chạy 2m.Do đâu mà ông làm được điều phi thường, đó là “chịu đau hết đau”. Ông giải thích về sự khổ luyện thiết đầu công: ban đầu cụng vào bao cát, sau đó là sỏi, rồi gạch.Quả thật, khả năng chịu đựng của cơ thể con người không thể nghĩ bàn, không thể giải thích theo khoa học.Khoa học lấy tiêu chuẩn chịu đựng(hay chịu lực)của một người bình thường rồi áp dụng chung cho tất cả,rồi đưa ra những giới hạn, sự cảnh báo, vô tình làm cho con người yếu đi, không có được khả năng mà mình có thể có. Thí dụ đơn giản: cầu thủ bóng đá không được đá quá 90 phút/ một trận, không được chạy quá 60 phút, không được đá liên tiếp mỗi ngày một trận…(chưa thực nghiệm mà khẳng định). Kết quả là cầu thủ trên thế giới đều yếu cả. không có đội nào có khả năng vượt qua giới hạn như nậy, thậm chí 10 ngày đá 5 trận cũng không nổi. Cầu thủ ăn uống đầy đủ, bổ dưỡng, có chuyên gia dinh dưỡng , chân đẹp như lực sĩ nhưng lại quá yếu. Tại sao? Ví tuân theo khoa học, y học hiện đại, không dám vượt lên chính mình, Giống như một học sinh, dù thông minh mà chỉ làm mãi bài tập dễ, thì làm sao giải được bái toán khó.Xin nêu một thí dụ rất đơn giản khác:Một cầu thủ chấn thương, dù không gãy xương, bong gân… thì bác sĩ xịt thuốc tê, chườm nước đá, cầu thủ tiếp tục thi đấu.Mới nhìn ta thấy hay quá, Tây y hay quá nhưng có biết đâu, can thiệp như vây là hạn chế khả năng chịu đựng vốn có của con người,không chịu đau nên mãi chịu đau khi va chạm( giống như học sinh vừa gặp một bài toán hơi khó thì thầy giáo đến chỉ ngay, làm sao học giỏi được), làm sao họ có đủ tự tin khi tranh bóng với nhưng cầu thủ lớn hơn mình .Triế lý chịu đau hết đau không đơn giản như vậy, nó còn có một ý nghĩa khác : làm cho xương thịt rắn chắc hơn cả gạch, gỗ, gang… Tại sao?. Có lẽ cơ thể con người phải biến đổi để hợp với môi trường sống, để tồn tại.Thí dụ: chúng ta không thể chịu đựng nhiệt độ 40độC, nhưng ngưởi Ấn lại chịu được 48 độC, vì khí hậu nơi đây là như vậy; nếu người Việt định cư ở đó thì dần dần thích nghi .Từ đó, có thể suy ra rằng nếu cơ thể ta cứ va chạm vào vật cứng lâu ngày( tức luyện tập) thì cơ thể sẽ tiết ra một tố chất nào đó để cho cơ, xương rắn chắc,nếu không,làm sao làm vỡ được gạch, gỗ.. . (Việc biểu diễn của võ sư rất phổ biến,và có thể nói là khoa học vì nhiều người làm được,nếu làm đúng cách nhưng khoa học hiện đại không khám phá, không lý giải được sự kỳ diệu của cơ thể. Bởi vậy, có người nói: chuyện dưới đất chưa xong, thì các nhà khoa học lại lo chuyện trên trời)
.
Nếu những gì chúng tôi nói là đúng,thì việc tập thể lực cho cầu thủ rất đơn giản, đâu cần phải rước chuyên gia nước ngoài cho tốn kém mà hiệu quả chưa chắc tốt.Đó là mời các võ sư khí công tư vấn hoặc hướng dẫn. Tất nhiên, ta không thể dạy cho cầu trở thành võ sĩ, mà chỉ giúp cho cơ thể họ rắn chắc, chịu đựng được sự va chạm trên sân cỏ. Kinh nghiệm cho thấy, trước 1975, ở miền Nam có môn võ TỰ DO(thời của Minh Trình, Huỳnh Tiền, Hà Trọng Sơn…),võ sĩ được dùng chân đá rất tự do.Tất cả các võ đường đều có treo bao cát cho võ sinh tập luyện. Nhờ vậy mà họ có đôi chân rắn chắc, đứng vững được trên võ đài, chịu đựng được những cú đá như trời giáng của đối phương. Cầu thủ có thể học tập được kinh nghiệm của tiền nhân để áp dụng trong bộ môn của mình.

Huấn luyện sức bền có gì khó, nếu ta không bi ám ảnh vào tài liệu bác học của Tây phương. Cho cầu thủ đá tập 90 phút vài tháng rồi nâng dần lên 100 phút, 120 phút…chắc sẽ thấy được sự kỳ diệu của cơ thể. Bác xích lô lần đầu cũng chỉ chạy được chừng 1km, ê ẩm, tay chân đau nhức, nhưng về sau thì chạy 10 km là chuyện thường ngày( chạy càng nhiều thì càng vui, vì có nhiều tiền, ngày đó gia dình sẽ bớt khổ).Nếu cầu thủ ta có khả năng va chạm, có khả năng chơi trên 100 phút/ trận, đá được với mật độ dày thì hoàn toàn có thế vô hiệu hóa được cầu thủ có thể hình cao to. Đó là lấy nhiều đánh ít, không ngại va chạm( nhờ sức bền mà lên công về thủ với số đông, nhờ không sợ va chạm mà áp sát đối phương ,“mãnh hổ nan địch quần hồ”).

VỀ DINH DƯỠNG: Tây phương và Phật giáo có khác nhau: một bên ăn chay, một bên ăn thịt. Các vị chân sư nói được thì làm được, chẳng những ăn chay mà còn ăn uống rất khổ hạnh nhưng thân tâm an lạc; người Tây phương chú tâm vào hàm lượng dinh dưỡng, nhất là thịt nhưng phải sống nhờ thuốc và tâm không được an.

Ta biết rằng hổ, báo có tốc độ nhanh hơn nai, nhưng chúng phải ẩn núp, rình mò chờ con mồi đến gần mới bắt được. Vì sao? Vì không có sức bền, chúng chỉ chạy được một thời gian ngắn ,rồi phải dừng lại; trong khi đó nai vẫn tiếp tục chạy được, nhờ vào sức bền. Nai thì ăn cỏ, hổ báo…thì ăn thịt. Vậy ăn chay có sức bền thể lực. Khi nói đến những con vật có sức mạnh thì người ta nghĩ những con vật ăn cỏ như: khỏe như voi, mạnh như trâu, “khỏe re như bò kéo xe”. Có bao giờ ta nghĩ , tại sao con bò ăn rơm rạ mà lại khỏe?(rơm rạ đâu có chất bổ)Phật Pháp giúp ta câu trả lời: thịt hay cỏ đều có cùng một gốc là thân tứ đại, tức đất,nước, gió, lửa kết hợp mà thành, nên giống nhau,đâu có khác.Tuy ăn thảo mộc nhưng còn phải tùy thuộc vào nghiệp duyên, nên có loài ăn rơm,cỏ, có loài ăn ngũ cốc, có loại ăn trái cây, đều khỏe cả(khoa học không thấy được,nên họ đi theo một hướng khác).Chúng ta ăn chay mà quán tưởng là đầy đủ thì sẽ đủ , nhưng cứ sợ thiếu chất thì nó sẽ thiếu thật (vạn pháp do tâm tạo

Tại sao ăn chay khỏe hơn ăn thịt? Cỏ(hay thảo mộc) là vô tình,tức không có tâm(không có tâm nên không có độc) ; còn thịt thì được chế biến lại do thân tâm chúng sinh(hữu tình).Tâm chúng sinh thì tham, thân,si, chúng phát ra luồng sóng độc hại ngấm vào máu thịt, đặc biệt khi con vật bị giết thì sân hận càng dữ dội, ngấm vào cơ thể nhiều hơn nên thịt ẩn chứa nhiều độc tố, là một trong những nguyên nhân gây bệnh, suy nhược cơ thể( luồng sóng tham, sân ,si phóng ra ngoài không gian, cộng hưởng lại, gây tác hại còn hơn bom nguyên tử, quý bạn đọc “Khai thị số 6”, của HT Tuyên Hóa sẽ rõ hơn, có trên mạng.) Vậy cầu thủ muốn có sức bền thể lực nên ăn nhiều rau quả hơn là thịt.

Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton, ông “vua”của một nước có nền y học tiên tiến nhất thế giới, ông “hoàng” của một nước ăn thịt, xuất khẩu thịt hàng đầu thế giới lại là người ăn chay; chẳng những ăn chay mà còn cổ vũ ăn chay để bảo vệ sức khỏe và môi trường, “bàn dân thiên hạ” chẳng lẽ không nghe theo ? Khả năng của vua thì chỉ biết có vậy, chứ Thánh thì biết rất sâu rộng hơn nhiều: ăn chay còn ngăn ngừa chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh...

Có người nói HLV người Nhật cũng đang áp dụng chế độ dinh dưỡng mới( tăng phần rau quả, gảm bớt phần thịt để tăng sức bền cho cầu thủ (?). Nếu đúng thì đây là một tín hiệu tốt, cần sớm phổ biến.

Ngoài ra,có một cách hay nhất để có một thể lực tốt, để tránh chấn thương, là phát tâm TỪ BI, vì tâm được an thì năng lượng mất rất ít,thân thể sẽ khỏe mạnh, nhẹ nhàng, sóng TỪ BI phát ra sẽ làm cho sóng tham, sân,si của đối phương tan biến, họ không ác ý với mình, hoặc đi lệnh hướng, không dính đòn của họ….Sân chơi bóng đá rất khắc nghiệt: hỷ, nộ từ sân và cả khán đài.Là môn đối kháng,va chạm thường xuyên nên dễ sân hận, cái đầu dễ bốc hỏa, ngay cả cầu thủ mẫu mực như Zidane, Minh Phương có lúc phải dùng “thiết đầu công”.Tuy nhiên, nếu cầu thủ nào có thiện căn, nhân duyên, phước đức, quy y tam bảo thì sân chơi này là cơ hội tốt nhất để mình thực hành hạnh nhẫn nhục. Nếu bị ai đá ác ý thì mình coi họ là Bồ Tát đang khảo nghiệm mình tu tập đến đâu,phát tâm hỷ xả, cầu nguyện cho họ sớm chuyển đổi tâm thức.Ra sân với tinh thần thượng võ, không cay cú ăn thua; nguyện có những có những pha bóng đẹp giúp cho người lao động có phút giây vui vẻ sau một tuần mệt nhọc; nguyện làm tấm gương sáng cho các em thiếu niên noi theo về phong cách, đạo đức…Thực hiện được những điều này thì sự nghiệp cầu thủ tiến rất xa,gặp nhiều may mắn trong và ngoài sân cỏ.

***
Nếu cho rằng “mặt trời mọc từ Đông phương”, nghĩa là người Đông phương hiều được chân lý thì tại sao mình lại tôn thờ văn minh Tây phương .Những dẫn chứng rất nhỏ về các lãnh vực nêu trên( hoa hậu, ca nhạc, bóng đá), chúng ta thấy mình ngoan ngoãn, mê muội văn minh Tây . Tại sao? Ta biết rằng văn minh nhân loại và thế giới hiện tượng tự nhiên bao giờ cũng đi trên con đường vòng theo từng chu kỳ: từ thiếu dương đến thái dương, hết thái dương thì qua thiếu âm, rồi đi tới thái âm và chấm dứt một chu kỳ…(chu kỳ kế tiếp lặp lại như vậy, tận cùng là khởi điểm). Thí dụ: mùa xuân là thiếu dương , mùa hạ là thái dương, mùa thu là thiếu âm, mùa đông là thái âm , đây là chu kỳ một măn, theo kinh Dịch (chu kỳ của vũ trụ thì rất lâu, ta không thể biết được vì kiếp người quá ngắn). Nói ngắn gọn lại là hết dương thì đến âm và ngược lại . Nếu mùa Đông đến thì phải chịu lạnh, không thể tránh được. Người khỏe mạnh thì chịu đựng được, người ốm yếu thì sẽ bị rét run.Âm khí(vận hạn của Vũ trụ) đến cũng ảnh hưởng với con người như vậy , chỉ có thiện tri thức , người có nội lực mới tránh được tà khí này.

Âm dương rất huyền diệu, sinh động , bao trùm lên tất cả, nhỏ như vi trùng, lớn như vũ tụ đều có âm dương. Sự chuyển động của nó tạo tạo ra THỜI giúp cho vạn vật biến đổi nên THỜI tạo ra cơ hội,gọi là thời cơ.

Con người và trời đất có tác động tương hợp(thiên nhân tương hợp). Vận hạn của đất trời(vũ trụ) tác động mạnh vào con người. Nếu sống trong thời DƯƠNG khí thì con người hướng thiện, trọng đạo lý và giá trị tinh thần, gần với ĐẠO của Thánh nhân,người với người lấy nhân nghĩa mà đối đãi nhau nên xã hội an vui, không có chiến tranh, đây là thời mà quân tử dạy tiểu nhân, vua là bậc minh quân dùng đức dộ mà cảm hóa dân, như vua Nghiêu , vua Thuấn ( vì DƯƠNG là thiện,là tinh thần, là tâm linh, hướng thượng…), thời này Phật gọi là chánh pháp, rất thuận lợi cho tu tập, nhất là thiền, tu hành dễ chứng ngộ.

Nếu sống trong thời ÂM khí, thì đây là thời kỳ đăm mê vật chất, sắc tướng, hưởng thụ,xa rời giá trị tinh thần, thiên về lý trí, thời của khoa học kỹ thuật lên ngôi, thời của chiến tranh, chết chóc, hận thù, ích kỷ, thời của tiểu nhân “dạy” quân tử, vua là hôn quân như Kiệt ,như Trụ…( vì ÂM là vật chất, là chết, là tham dục, ganh ghét, thực dụng, ích kỷ, tức thu vào mà không nhả ra…) Phật gọi là thời mạt pháp.Làm sao chúng ta biết thế giới ngày nay là thời Âm khí(chắc là thái âm), nhìn vào xã hội là có ngay câu trả lời.( các bạn tìm đọc : “Chu dịch huyền giải” của Nguyễn Duy Cần, trưởng ban triết Đông ĐH Văn khoa Sài gòn, để hiểu biết đầy đủ)

Phương vị của Tây phương là âm nên khi gặp âm khí thì coi như gặp thời nên họ có cơ hội phát triển về khoa học thực dụng như cá gặp nước.Một thí dụ khác dễ cảm nhận hơn: Âm là tối nên ma quỷ mới có đất dụng võ, vì ma quỷ là âm ( ban ngày thì bất lợi vì ban ngày là dương, tức ánh sáng, ma kỵ ánh mặt trời .)
Đông phương ở phương vị là dương nên khi gặp thời âm khí thịnh thì bất lợi (ví như cỏ cây gặp hạn hán), giá trị tinh thần khó phát huy, thiếu tự tin nên dễ bị ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương.(phần Dương bị phần Âm lấn dần nên càng ngày càng thu hẹp lại cho đến một ngày mà ta mong đợi: “ vật cùng tất biến”).
Thiên nhân tương hợp, thời vận của trời đất theo chu kỳ ảnh hưởng đến con người , nhưng con người cũng có thể thay đổi được vận hạn của trời đất vì vạn pháp do tâm tạo( bên trong có gì thì bên ngoài cũng có như vậy) .Tâm TỪ BI phát ra một luồng sóng đem lại sự an vui , ngay cả một vọng tưởng thiện cũng tốt cho bầu không khí .Các vị chân tu thời cận đại đa làm được điều này: HT. Quảng Khâm đã đem lại sự bình an cho Đài Loan, nơi HT. Tuyên Hóa cư ngụ cũng vậy, HT Hư Vân còn tạo ra sinh khí cho cây cỏ ra hoa, ngay cả cây khô héo( xin đọc “Thơm ngát hương lan”)…Điều này chứng tỏ sóng TỪ BI có khả năng biến âm khí thành dương khí . Giả sử trên quả đất này, hầu hết chúng ta đều có thiện tâm thì thời đại đau khổ, nhiễu nhương này sẽ trở thành thiên đường trên mặt đất , bởi vũ trụ bên ngoài là do cộng nghiệp tạo ra. Nhưng đây chỉ là một ý nghĩ lãng mạn vì tâm của con người thời mạt pháp, thời âm khí cực thịnh này quá tham , quá gian ác .Thế giới này chính là do tâm tham, sân, si tạo thành( tâm động, cảnh động; tâm ác, cảnh ác). Bồ tát nhìn xuống chắc cũng phải rơi lệ!

Văn minh Tây phương là làm cho cái tâm ta phóng ra ngoài( vì phần Dương ở ngoài,như đã nói ở phần đầu), dẫn chúng ta đi đến tận chân trời, nhưng đường chân trời thì không có thật, tức thế giới ảo. Văn minh Đông phương là giữ cái tâm ở bên trong, nếu lỡ đi xa thì phải trở về.Lão Tử nói : “viễn tức cận”, Phật gọi là “hồi đầu”. Nhờ biết quay về mà ta mới nhận thức được cái sai , cái sai ngay từ lúc vừa mới biết đi. Đại sư Ấn Quang đã nêu ra một dẫn chứng: “Ông Cừ Bá Ngọc đến tuổi 50 mới biết mình có 49 năm sai lầm”.Bước chân cuối cùng là trở về nơi khởi điểm. HT Tuyên Hóa nói: “Tôi từ hư không đến, tôi trở về hư không”, Hư không là Tự Tánh, là cố hương của chúng sanh, là kho báu vô giá,nhiệm mầu, chấm dứt luân hồi sinh tử.

Thế nhưng, tại sao con người lại không muốn trở về cố hương mà lại mê thế giới ảo để rồi đọa lạc vào tam đồ ác đạo(địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh)? Vì trở về cố hương phải sống khổ hạnh,không tranh, không tham, không mong cầu, không tư lợi, không ích kỷ,không nói dối, quá khó( phải bỏ xe hơi, nhà lầu, địa vị,công danh, ca nhạc, bóng đá, hoa hậu,bỏ lại tất cả những gì mà thế gian ưa thích); thế giới ảo còn có một tên gọi khác là VẬT CHẤT,SẮC TƯỚNG, chúng sinh thời mạt pháp ai mà không mê, người ta sẵn sàng đem tính mạng,danh dự đánh đổi lấy nó. Họ nghĩ rằng vật chất đầy đủ là hạnh phúc mà quên rằng: “Cái thân ngoại vật là Tiên trên đời”.Người đời hay mong ước sướng như Tiên mà không biết rằng muốn thành Tiên thì phải tìm nơi vắng vẻ, tránh chốn lao xao (chữ Tiên do bộ NHÂN là người và chữ SƠN là núi ghép lại, nghĩa là phải lên núi mà tu, phải thoát ra ngoài mọi sự ràng buộc, nhất là tiện nghi vật chất, sắc tướng).

Có bao giờ chúng ta tự hỏi mình rằng tại sao Vua Trần Nhân Tông lại từ bỏ ngai vàng, lên núi ần tu khi tuổi đời vẫn còn trẻ. Hỏi tức là trả lời,chúng ta sẽ tìm ra được con đường trở về cố hương qua bài Pháp không lời mà Ngài đã gởi cho chúng ta.

Thi sĩ Bùi Giáng thoát được sự ràng buộc của thế gian và vật chất, trên vai mang một con số KHÔNG to tướng nên bước chân ông rất nhẹ nhàng, sống ung dung giữa chốn bụi hồng, khiến cho nhạc sĩ Phạm Duy phải ao ước: có được một ngày sống như Búi Giáng. Thì ra, trong cuộc đời này,đôi lúc cũng cần những vị trí thức thượng thừa hóa thân vào nhân vật người Điên(viết hoa) để nhắc nhở những người “tỉnh” như chúng ta đừng đắm chìm trong mông mị, chiêm bao.Cuộc đời của Bùi Giáng mới chính là tác phẩm hay nhất.Người ta đi tới, ông thì đi lui, lần bước tìm về CỐ QUẬN(ông hay dùng danh từ này), quê hương đích thực của ông. Ông uống rượu nhưng không say, đi lang thang nhưng có dịnh hướng, cười để lệ ngấm vào trong!

Nước non thế này
Thân ta thế đấy
Cuộc đời như vậy
Nên tỉnh hay say
Ta đi lang thang
Ta nói tàng tàng
Ta cười nghênh ngang
Nhưng chửi đàng hoàng
Ai khen ta tài
Ta cũng làm thinh
Ai chê ta dại
Ta cũng làm thinh
Ai trách ta điên
Ta cũng làm thinh(…)
( Nguyễn Ngu Í)

Tác giả của đoạn thơ trên cũng là một nhà thơ Điên thứ thiệt, cùng đi lang thang, cùng nói tàng tàng , cùng song hành với Bùi tiên sinh trong một nền văn học hoang vu ở cõi Ta Bà .(trước 1975)

Saigon, cuối thu Giáp Ngọ
Lê Phương Hướng


Gởi về các em cựu học sinh trường trung học Ba Tri, Bến Tre, thế hệ U.60, đồng nghiệp và phụ huynh đã cưu mang tôi trong thời gian mà “ai chưa qua chưa phải là người”
• Tôi mới tập đánh máy nên dễ bị lỗi kỹ thuật,trí bị lão hóa nên chỉ còn nhớ nghĩa mà quên chữ, xin các bạn từ bi hỷ xả ,xin cảm ơn!

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Apr 23 2015, 09:23 PM
Gửi vào: #7


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,489
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





PHẬT PHÁP TRONG CHỮ HÁN

April 23, 2015 at 8:58am

Lê Phương Hướng


Nếu tôi nói rằng Bồ Tát tạo ra chữ Hán thì chắc có người phản bác vì cho rằng Phật giáo ra đời cách đây hơn 2500, còn chữ Hán thì có rất lâu. Sự phản bác này rất đúng nếu hiểu về mặt Sự ( Đức Phật Thích Ca hóa thân vào nhân vật lịch sử nên được lịch sử ghi nhận rõ ràng) , nhưng về mặt Lý thì chư Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp( như đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Quan Thế Âm …).Vì sự nghiệp TỪ BI mà các Ngài ứng hóa thân để giáo hóa chúng sinh. Hóa thân ra nhiều nhân vật như :thái tử, đại sư, bần tăng, bần đạo, quan lại, cư sĩ, triết gia, học giả, thậm chí là người hành khất…Vì vậy mà người ta gọi cõi Ta Bà là phàm Thánh(Phật, Bồ Tát…)đồng cư. Do đó ,ta có thể nói rằng nếu chúng sinh có mặt trên quả đất này 100 triệu năm, thì chư Phật và BồTát cũng đã giáng trần 100 triệu năm; nếu quả đất còn tồn tại 100 triệu năm, thì các Ngài vẫn sẽ còn đồng cư với chúng ta. Cho nên vấn đề đặt ra không phải là chữ Hán có trước hay sau Đức Phật Thích Ca mà làm sao chứng minh được rằng Phật pháp có trong chữ Hán một cách thuyết phục. Chúng tôi xin nêu ra một số chữ sau đây:

1-CHỮ THỜI: gồm bộ NHẬT (日) chỉ thời gian và chữ TỰ (寺) là ngôi chùa.Tại sao chữ THỜI lại có chữ TỰ (chùa) ? Câu hỏi rất thú vị. Trước hết ,xin nói về chữ THỜI.THỜI là chữ quan trọng nhất trong kinh Dịch: “Chu Dịch nhất bộ thư, khả nhất ngôn nhi lược chi viết thời”(Chu Dịch nếu tóm lược lại một chữ,đó là chữ thời). Học Dịch để biết thời; biết thời để hành động(tức CƠ) cho đúng, nên thường được gọi là THỜI CƠ: (“gặp thời thế ,thế thời phải thế”).Người quân tử sinh ở thời loạn thì đầu đội nón cời, chân đạp đất mà đi, mới tránh được tai họa do tiểu nhân hãm hại. THỜI gồm có THÁI và BỈ(kinh Dịch) , CHÁNH PHÁP, MẠT PHÁP(Phật), TRỊvà LOẠN, ( chính trị ), THỊNH, SUY (xã hội). Khả năng của con người không thể thay đổi được thời vận, nếu có cũng chỉ là chữa bịnh ngoài da, không thể nào lành bịnh được, vì bịnh từ ngũ tạng mà có. Nhưng Thánh nhân cho rằng dù sống trong thời Mạt pháp mà tu đúng Chánh pháp thì thời Mạt pháp sẽ trở thành Chánh pháp; dù sống trong thời loạn, khổ đau mà mọi người phát tâm TỪ BI: làm việc thiện, đừng sát sinh… thì sẽ tránh được chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh cuộc sống được an vui… Vì vậy mà Thánh nhân dùng chữ TỰ(chùa) tạo ra chữ THỜI, để khuyến tấn người đời tu hành hầu thay đổi thời vận( cá nhân tu hành thay đổi vận hạn cá nhân, xã hội tu hành sẽ thay đổi vận hạn của đất nước…)Tại sao tu hành lại thay đổi được ? Vì vạn pháp do tâm tạo, bên trong thế nào thì bên ngoài thế đấy (nội ngoại tương thông, tương hợp), Vũ tụ, xã hội, thời vận đều do tâm tạo ra, tức là cộng nghiệp( tâm của chúng sinh cùng gieo nhân thì cũng cùng nhau nhận quả tương ứng). Tóm lại, chữ TỰ trong chữ THỜI chúng tỏ là Phật giáo có trước chữ Hán( chữ Hán là chữ hình tượng, dựa vào hình tượng đã có mà tạo ra), và người tạo ra chữ này không phải là người bình thường,mà là Thánh nhân, vì chỉ có Thánh nhân mới biết vạn pháp do tâm, mới khuyên người tu hành để thay đổi vận hạn.

2- CHỮ VÔ (無)là không: gồm có bộ HỎA ở phía dưới, ở giữa là bó củi, phía trên là chữ NHÂN( là người), Khi thiêu xong, thì xác NGƯỜI trở thành tro bụi, không còn gì cả, nên VÔ là không. Nhưng, tại sao người ta không đặt một con vật nào đó thay cho chữ NHÂN, hoặc bó củi cháy xong thì cũng thành tro, cần gì phải để chữ NHÂN ở trên? Đây chính là ngụ ý của Thánh nhân, nhằm nhắc nhở con người rằng THÂN XÁC là giả tạm, do đất ,nước, gió, lửa hợp lại, khi chết thì trở thành tro bụi, chẳng còn gì, chỉ có linh hồn hay thần thức mới tồn tại. Con người không nhận ra điều này, cứ lo o bế cái thân, khiến cho ta vốn đau khổ(vì sinh, bệnh, lão, tử) lại chịu thêm cái khổ khác. Vì muốn ấm cái thân nên con người lao đầu vào danh lợi( như con thiêu thân lao vào bóng đèn) để có quyền, có tiền mà phục vụ cái thân như : cao lương mỹ vị, biệt thự, xe cộ sang trọng…rồi kết quả được gì?Cuối cùng thì cái thân cũng trở về cát bụi, còn thần thức thì mang theo cái nghiệp ác đi vào tam đồ ác đạo (địa ngục ,ngạ quỷ, súc sinh): nghiệp sát sinh do ăn uống tẩm bổ cái thân, nghiệp gây đau khổ cho người để đạt danh lợi, nghiệp vọng ngữ, lường gạt…

Thân và tâm tỷ lệ nghịch với nhau.Cái thân càng sướng thì cái tâm càng khổ, xin hỏi những người quyền quý rằng tâm của họ có được yên hay không, nhất là những ngày cuối đời, oan gia trái chủ chập chờn tước mặt… Trái lại, các vị chân tu hạnh Đầu Đà ăn những gì mà người ta không muốn ăn, mặc những gì mà người không muốn mặc, làm những gì mà người ta không muốn làm… các Ngài lại sống ung dung tự tại. Chữ VÔ như một lời khuyên, một lời nhắc nhở củaThánh nhân . Thế nhưng, con người vẫn cứ o bế cái thân giả tạm cho đến phút cuối. Con người đau khổ thì thường than thở, trách trời, trách Phật… nhưng các Ngài đã dạy từng chữ, từng lời mà có ai học đâu ,như chữ VÔ chẳng hạn là cả một bài pháp.

Biết chúng sinh ngoan cố như thế mà Bồ tát vẫn âm thầm nhắc nhở như mẹ thương con, bẳng cách này không được, thì dùng cách khác. Chữ không chịu đọc, thì dùng thơ, dùng nhạc…Các Ngài nhập vào tâm thức một nhạc sĩ nào đó trong giây lát để họ viết lên lời nhắc nhở: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai tôi về làm cát bụi…”

3-CHỮ NHẪN: (忍) , gồm bộ tâm (心), chỉ về tâm linh, giá trị tinh thần và chữ đao(刃), đao có ngạnh: nghĩa là dao đâm vào tim mà vẫn chịu được thì gọi là NHẪN.Tuy nhiên, ta nên hiểu rằng tim ở đây không phải là bộ phận tuần hoàn, mà là gía trị tinh thần, danh dự…( bởi nếu NHẪN là chịu đau về thể xác thì dao đâm vào bộ phận nào mà chẳng đau: như gan, ruột, phổi …). Trên thực tế thì nhiều người có thể chịu được nỗi đau thể xác, có người sẵn sàng chết để thanh minh, nhưng rất ít người chịu được nỗi đau về tinh thần . Chỉ có Thánh nhân, những bậc chân tu mới hành trì được hạnh NHẪN nhục . NHẪN là điều kiện cần phải có của người tu hành vì nó diệt được SÂN SI, tiêu trừ NGÃ MẠN ( còn sân hận, còn cảm thấy bị nhục thì còn chấp ngã; chấp ngã thì vô minh). NHẪN là một tiêu chuẩn để khảo nghiệm công phu tu tập của hành giả rất chính xác. Nếu có một vị tu sĩ nào, dù có bằng cấp là tiến sĩ Phật học mà khi bị chỉ trích thì phản ứng lại, hoặc thanh minh thì coi như có học mà không tu; có tu mà không hành; có hành mà không trì. Việc tu hành của họ như xây nhà lầu trên cát, cơn gió BÁT PHONG thổi đến là sụp đổ ngay. Ngược lại,một tu sĩ mà hành trì NHẪN nhục tinh tấn thì dù không biết chữ vẫn chứng ngộ(vì không còn chấp Ngã), trí huệ được khai mở.

HT Quảng Khâm sau 13 năm ẩn tu trên núi, Ngài trở về chùa,bị sư phụ âm thầm phao tin là ăn cắp tiền chùa, Ngài bị các vị đồng tu khinh bỉ… Thế nhưng, HT vẫn ung dung tự tại, coi như mình đang uống nước cam lồ… và Ngài đã vượt qua bài thi khảo nghiệm quá dễ dàng. Một lần khác, đệ tử Ngài đến một ngôi chùa nọ nghe giảng pháp, Vị sư này nói xấu Ngài, đệ tử tức giận về thưa, HT liền bảo đệ tử mình hãy mau mau đến chùa ấy sám hối, xin lỗi vị sư đó, vì sư đó nói đúng! Chữ NHẪN của Thánh nhân là như thế, vì vậy mà các Ngài đã ĐÁO BỈ NGẠN, còn ta thì coi cái Ngã quá lớn nên từ vô lượng kiếp đến nay vẫn cứ mãi gọi đò:

Đời nửa khói mây chìm bóng mộng
Gọi đò một tiếng lạnh hư không
Quách Tấn

Thôi thì hãy viết chữ NHẪN dán lên tường, để xem vậy !

4- BI (悲) gồm bộ tâm (心) và chữ phi (非) là không phải, là lỗi lầm. Chữ này được các từ điển giải thích rất rõ nên chúng tôi chỉ đề cập ở phần chiết tự mà thôi. BI là thương những người lỗi lầm, tức sai phạm .Thông thường ta chỉ thương và giúp những người khốn khổ nhưng hiền lành, chứ không ai thương người xấu, người ác ;chúng ta thấy súc sinh là con vật mà không biết mối liên hệ trong tiền kiếp nên cho rằng TỪ BI với chúng là không đúng.Chỉ có Thánh nhân mới không chấp thiện, chấp ác, không chấp người, chấp vật( vượt lên thiện ác, đúng sai, người và súc vật), chỉ có Thánh nhân mới thấy người hay súc vật đó chính là cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cháu, bè bạn… của mình từ vô lượng kiếp trước. Gặp lại người thân mà không thương, không cứu hay sao? Chúng ta do vô minh , chỉ biết có hiện tại nên tình thương có giới hạn , không thể sánh với Thánh nhân được. Vì vây, Thánh nhân khéo tạo ra chữ BI là thương cả kẻ lỗi lầm,những đối tượng mà được cho là không phải , không đúng .Phật pháp trong chữ này có thể viết được cả một cuốn sách .

5-NGỘ (悟) gồm bộ TÂM (忄 ) và chữ NGÔ (吾) là ta, tôi, chủ thể, nghĩa là cái biết do ta tự tìm ra, tự mình cảm nhận chứ không phải do học ỏi người khác. Những kiến thức do mình học hỏi mà có thì không gọi là NGỘ, nên không ai nói rằng mình NGỘ về toán, về lý…NGỘ là ánh sáng từ trong TỰ TÁNH phát ra, tức TRÍ HUỆ tự khai mở.TRÍ HUỆ ai mà chẳng có, nhưng vì vô minh(bụi tong tâm) che lấp. Vậy muốm NGỘ thì phải TU TẬP, quét bụi trong tâm, tức vọng tưởng, tham, sân ,si . NGỘ là thấy được chân lý , tức ĐẠO, mà “Đạo khả đạo phi thường Đạo” . Chân lý hay Đạo là nhất nguyên, nên không dùng ngôn ngữ (nhị nguyên )diễn đạt được, ngôn ngữ chỉ gợi mở, chỉ đường mà thôi. Do đó , muốn NGỘ thì phải dựa vào sự gợi mở, chỉ đường trong Kinh sách, dựa vào ngón tay chỉ mặt trăng của Đúc Phật mà tự tìm trăng (chọn pháp môn cho đúng căn cơ, hoàn cảnh, tránh chướng ngại trên đường đi…) . Ngài sợ chúng ta lầm ngón tay là mặt trăng nên đã dạy : “ Ta thuyết pháp 49 năm nhưng chưa từng nói một lời” . Chữ NGỘ đã giúp ta Ngộ ra lời Phật dạy.

6-KIẾN (見) vừa là bộ,vừa là chữ. Chữ này gồm chữ MỤC (目) là mắt, là nhìn thấy, phía dưới là hai cái chân, chứng tỏ là đang đứng nhìn.Ta thấy người đang đứng nhìn này không có đầu, không có mình mà chỉ có mắt. Tại sao ? vì thoát ra khỏi sự chi phối của lý trí nhị nguyên( đầu óc )và sự tham dục (phần mình cơ thể). Như vậy, KIẾN là thấy từ trong TỰ TÁNH, nên thấy được bản chất của sự việc . Vì Vậy, KIẾN được dùng với TÁNH : KIẾN TÁNH thành Phật.( xã hội càng ngày càng thay đổi , nên ý nghĩa của chữ cũng phải thay đổi theo, cho nên “kiến” ngày nay cũng khác xưa, bị chi phối bởi đầu,và mình vẫn được gôi là “ kiến”

7-THỨ (恕) gồm bộ TÂM (心) và chữ NHƯ (如), có nghĩa là tha thứ. Xem lỗi của người như là lỗi của mình. Có THÔNG mới cảm;có CẢM mới THỨ. Đây là ý nghĩa thông thường . Tìm hiểu về Phật pháp, ta thấy chữ này có ý nghĩa rất sâu xa.THỨ là không quan tâm đến thiện ác ,vì quan tâm đến thiện ác sẽ rơi vào tâm phân biệt, đối đãi, chấp trước, vọng tưởng sẽ nổi lên. Thí dụ đơn giản ở một khía cạnh khác : Khi ta nói Đẹp thì tâm đã có cái Xấu rồi,vì đẹp nhờ xấu mà có, nhờ có so sánh mới có xấu ,đẹp. Do dó, khi ta chấp THIỆN, thì cái ÁC(chủng tử ác) hiện ra, tất nhiên ta sẽ chấp THIỆN,ghét ÁC, như vậy là tâm chấp trước, làm sao đứng vững ở TRUNG ĐẠO. Hành trì Phật pháp là không chấp, phải đi trên trung đạo.Đừng cho rằng không quan tâm đến THIỆN ÁC là trái với lời dạy của Phật; Phật dạy chúng ta: “ chư ác mạc tác; chư thiện phụng hành”( chớ làm việc ác, làm các việc lành).Chúng ta làm việc thiện nhưng không nghĩ là mình đang làm điều tốt vì suy nghĩ như vậy vọng tưởng sẽ nổi lên, nhất là tham vi tế(sẽ được phước), ngã mạn(mình là người tốt) . Ta làm, mà không biết mình đang làm, tức VÔ VI, coi như một phản xạ tự nhiên.Đức Phật nói: “ Nếu có kẻ chặt tay ta, và có một kẻ khác săn sóc, băng bó cho ta, thì đối với hai người ấy, ta xem NHƯđồng đẳng”.Đây mới chính là THỨ, không quan tâm đến kẻ hại mình, cũng không mừng với kẻ giúp mình, vì mừng người tốt sẽ giận người xấu, nên coi họ NHƯ nhau. Như vậy, THỨ là không quan tâm đến thiện ác, tốt xấu, đúng sai, không chấp bên này, bên kia, vượt lên tất cả sự mâu thuẫn, đứng ở TRUNG ĐẠO.Đó là lý do tại sao THỨ lại có chữ NHƯ. Nói một cách khác, còn chấp là sẽ không bao giờ có THỨ ( có bao giờ mình coi kẻ hại mình NHƯ người giúp mình không ? Hãy hồi tưởng lại những lần mình đã THỨ cho người.)

Ngoài ra,nhờ có đại TRÍ HUỆ mà Phật thấy Phật và chúng sinh NHƯnhau( chỉ khác một chút: Phật là người đã thành, chúng sinh là người sẽ thành); người thiện và người ác NHƯ nhau( chỉ khác một chút : người thiện là người đã tu, người ác là người sẽ tu) . Thấy NHƯ nhau, tức sẽ THỨ

8-NHỤC (肉) là thịt, vừa là bộ, vừa là chữ, gồm KHẨU (口) là miệng và chữ hai NHÂN (人) là người đang ở trong miệng, xô đẩy nhau ( chữ khẩu hở nét dưới, chứng tỏ là đang há miệng để ăn). Tại sao là ăn người, làm sao có chuyện nầy trên cõi đời, người chỉ ăn súc sinh mà thôi. Một lần nữa ta lại thấy rằng chữ Hán là do Thánh nhân tạo ra. Vì sao? Vì chỉ có Thánh nhân mới thấy tiền kiếp của các con vật là người( nhờ có lục thông, ngũ nhãn) ,nên mới nói ăn thịt súc sinh chính là người ăn người, người ngoài đẩy người trong vào miệng, nhai nuốt nhau( đó là chưa kể con vật kia tiền kiếp là cha mẹ ,con cháu, vợ chồng, bè bạn …của nhau .Vô lượng kiếp, chẳng lẽ không có lần quan hệ nhau?).Quý vị có thể xem lời giảng của HT.Tuyên Hóa về việc người ăn thịt người trong “ ĐẠI BI CHÚ giảng giải”, trang 83-93 (có trên mạng) . Xin lược ghi một vài hàng: Thiền sư Chí Công, vị cao tăng, có lục thông ,ngũ nhãn đã chỉ cho mọi người trong bàn tiệc biết: những người đang ngồi ăn, tiền kiếp là dê , heo, gà;còn dê ,heo, gà trên bàn chính là bà con thân thuộc của họ trong tiền kiếp, vì mang nghiệp sát sinh nên phải chịu quả báo làm súc sinh để trả nghiệp (Chữ NHỤC này chúng tôi phỏng theo HT Tuyên Hóa)

9-HIẾU (好) là ham, thích gồm bộ NỮ (女) là con gái và chữ TỬ (子) là con trai ( chữ này có một âm khác là HẢO nghĩa TỐT). Nam, nữ đứng gần thì sinh ra ham muốn. Trên đời nầy có biết bao điều vui thích, nhưng không có sự vui thích nào hơn chuyện NAM NỮ.Người bình dân gọi là “trai gái”, trí thức thì gọi là tình yêu, nghệ sĩ thì xây “lâu đài tình ái” để rước họa vào thân .Vì vậy mà Thánh nhân dùng hai chữ này để tạo ra chữ HIẾU (là ham muốn) nhằm cảnh báo chúng ta.Chúng tôi không có khả năng lý giải về tai họa này nên xin trích lời dạy của một vị Bồ Tát thời hiện đại:

-Hiện nay quả địa cầu đang lâm vào một đại tai kiếp. Như chúng ta đã làm cho môi trường bị ô nhiễm, quan chức thì tham ô, hối lộ v.v…đều là các cảnh trạng tuyệt vọng quá đi. Là Phật tử,chúng ta còn có phương pháp gì hầu cứu vãn tình cảnh này không ?- một Phật tử hỏi HT. Tuyên Hóa

-Hãy đoạn dục bỏ ái! Chính là cái này đây, nếu không có cái này thì mọi chuyện đều tốt đẹp cả. Bất kể dù có ai phản đối đi nữa, nếu tôi không nói về điều này tức không thể được, còn tin hay không là tùy quý vị.
Câu hỏi và câu trả lời có vẻ như không khớp nhau. Nhưng câu hỏi tiếp theo lại làm sáng tỏ , lời của Ngài là chính xác.

-Phật nói, Phật tánh vốn thanh tịnh, vậy vô minh từ đâu có?
-“Nhất niệm bất giác sanh tam tế, cảnh giới vi duyên trưởng lục thô”, vô minh của con là từ tình ái mà sinh ra, mà vô minh là cái tên riêng của ngu si đó. ( “ Gậy kim cang hét”tập 2 )

Như vậy, NAM NỮ hay tình ái( Phật pháp gọi là sắc dục )là gốc của vô minh.Do đó,sắc dục chính là nguyên nhân của mọi nguyên gây nên đau khổ trên cõi đời. Không cần bàn về triết lý mà chỉ cần nhìn vào xã hội từ xưa đến nay là có thể chứng minh sự tác hại của sắc dục. Tại sao An Lộc Sơn làm loạn? Câu trả lời là quá dễ. Tại sao người ta thích quyền lực? Hãy hỏi ông Chu Vĩnh Khang. Tại sao ai cũng muốn làm vua? Câu trả lời ở ngay trong HẬU CUNG của các ngài . Hàng ngày có những tin tức đau buồn , đau đầu như học sinh đánh ghen, giết nhau , gây thương tích, tù tội, tự tử, bịnh hoạn, phá sản sự nghiệp, gia đình chia ly…do sắc dục gây ra khá nhiều .

Tại sao sắc dục lại có sức lôi cuốn con người như thế, không “tha” cho ai cả: từ vua chúa, quý tộc, trí thức …cho đến kẻ bần cùng ngu dốt? Là vì con người do sắc dục mà sinh ra và cũng do sắc dục mà chết đi, nối tiếp nhau trên một vòng tròn,triền miên, bất tận.Ta biết rằng THÂN NGƯỜI khó được, nếu chết đi rồi mà muốn sinh làm người trở lại thì rất khó, khó hơn trúng số độc đắc(sáu số), nhưng làm súc sinh thì rất dễ, chỉ cần sát sinh,dù một lần là sẽ trở thành súc sinh.Nếu như tuổi thọ con người là 60 năm, thì khi chết đi ta sẽ làm kiếp súc sinh cả ngàn, vạn kiếp( theo luật nhân quả), Tại sao? Vì ngày nào mình cũng ăn thịt chúng (gà,vịt, trâu, bò, dê, chó, tôm, cá…tức sát sinh gián tiếp), hoặc giết chúng… Chúng ta thử làm một phép tính nhân cho 60 năm thì sẽ biết số kiếp làm súc sinh trong tiền kiếp và ở tương lại của mình( Xin đừng biện minh rằng mình không trực tiếp giết là không có tội.HT.Tuyên Hóa đã nói vui nhưng rất ấn tượng: “ Mình ăn thịt bò thì cơ thể của mình là CÔNG TY TNHH thịt bò, không thành bò mới là chuyện lạ”). Tại sao chúng tôi lại đề cập nhiều về kiếp súc sinh? Là vì súc sinh tham dục rất vô tư theo bản năng. Chúng sinh(người , và thú vật…)khi chết đi thì thần thức, tức phần hồn mang theo theo tất cả chủng tử mà mình đã tạo ra khi còn sống đi đầu thai( chủng tử là những ý nghĩ, ý niệm, sự thọ cảm… phần vô hình). Khi ta mãn án kiếp súc sinh(tức trả nợ xong) thì trở lại làm THÂN NGƯỜI, trong tâm thức ta bây giờ có tất cả các chủng tử của hàng vạn kiếp súc sinh; súc sinh thì phước mỏng, đần độn nên chủng tử đó toàn là THAM DỤC. Đó là lý do tại sao con người sống ở thế giới văn minh hơn súc vật mà lại có tính súc vật, tham dục .

Người Hoa thấy sự cảnh báo trong chữ hiếu( NAM, NỮ đứng bên nhau) là nguy hại nên tìm cách tách họ rời ra bằng “ đạo luật”: “ nam nữ thọ thọ bất thân”, phụ nữ không được đi học, không được làm việc ngoài xã xội. Luật nầy giống như luật kinh tế thời bao cấp, tức “ngăn sông, cấm chợ”, gây ra bất công … Ở Tây phương không có chữ HIẾU nên người ta không sợ, cho tự do yêu đương,tức mở cửa, giống như kinh tế thị trường . Hậu quả là trẻ em, học sinh cấp 2 cũng tham gia vào “tự do mậu dịch”. Thiên hạ đại loạn rồi ư?

Ở Đông phương, Việt Nam tệ nạn xã hội rất nhiều, nhiều khi chúng tôi không dám đọc báo … nhưng ba luồng tư tưởng Nho , Lão, Phật như ba mạch nước ngầm vẫn còn âm thầm chảy trong lòng đất, hòa quyện vào văn hóa dân tộc. Chỉ có cỏ cú là chết cháy khi trời khô hạn, nhưng những cây cổ thụ vẫn còn vì bám được vào lòng đất, nên còn tỏa cho đời bóng mát để chở che cho đàn em bé. Ơ Mỹ ( phương Tây), nhờ luật pháp rõ ràng, trình độ quản lý tốt, hiệu quả nên tệ nạn ít hơn… nhưng bên trong (tâm) thì là hình ảnh NAM NỮ, sắc dục.Sắc dục là vô minh( vô minh là có TRÍ mà không có HUỆ, một chướng ngại rất lớn khi tìm hiểu về triết Đông). Do đó, HT. Tuyên Hóa,người mà được Lục Tổ Huệ Năng báo cho biết trước là sẽ đến Mỹ hoằng pháp và sẽ có năm cánh hoa sen ở đó( 5 đệ tử đắc đạo ), đã than rằng lên trời đối với Ngài không khó, xuống đất không khó , cho gà trống đẻ không khó nhưng giáo dục cho người Mỹ là quá khó.

Tuy quá khó, nhưng Ngài vẫn làm được vì Ngài là Bồ Tát hóa thân ,có 18 đại nguyện .Và, sen đã nở trên đất Mỹ(VẠN PHẬT THÁNH THÀNH), hương DIỆU PHÁP LIÊN HOA đã và đang tỏa hương thơm ngát. Hàng phục được người Mỹ( Tây phương) thì thế giói sẽ bình yên vì khi ông TRÙM hồi đầu thì đối thủ sẽ buông đao ( đây là quy luật của tình thương )

11- HÔN (婚) gồm bộ NỮ (女) và chữ hôn (昏) là hoàng hôn, mờ tối, hôn trầm, hợp lại,nghĩa là cưới vợ, tức kết hôn. “ Kết hôn” được người đời coi như song hỷ, còn Thánh nhân cho là hôn trầm . HT Tuyên Hóa đã nói : “Kết hôn có nghĩa là sống trong hỗn độn rối loạn, không sáng suốt được chút nào cả. Trong Hán văn, quý vị có thể suy luận về nghĩa của hai chữ KẾT HÔN. HÔN có nghĩa là mờ tối”( “ Thủ Lăng Nghiêm”, tập 9, trang33, HT. Tuyên Hóa giảng thuật).

Bác sĩ Quách Huệ Trân kể lại: “Có nhiều bệnh nhân hỏi tôi: “Bác sĩ năm nay bao nhiêu tuổi…lập gia đình chưa? Tôi làm mai cho”. Tôi liền hỏi họ: “ Cuộc sống của bà rất sung sướng phải không?”. Thật kỳ lạ, không có người nào đáp là “ phải”…”( chỉ có một người đáp là “ phải”, nhưng vài tháng sau thì bà bỏ nhà đi trong 5 ngày và rồi tự tử…) (“Lắng nghe tiếng hát sông Hằng”).

Vợ hỏi chồng:- Anh ơi! Tại sao con chim này hót hay quá ?
Chồng đáp:- Tại vì nó chưa có vợ, chưa thiếu nợ .(sưu tầm)
Cuộc đời vốn là khổ, sống một mình hay kết hôn đều khổ cả, Thế gian là cõi trần( trần là bụi) ai mà chẳng hít bụi.Tuy nhiên, kết hôn là gánh thêm nhiều cái khổ vào thân, cái khổ nào cũng làm cho tâm ta chẳng yên : buồn ,lo, hờn,giận, tham,sân , si phủ thêm lên tâm một lớp bụi, làm sao mà không mờ tối, hôn trầm:

Lấy vợ, sinh con, rồi đẻ cháu
Làm chồng ,làm bố,lại làm ông

Trên vai, người đàn ông “tội ngiệp” này nặng vai gánh: gánh vợ , gánh con, gánh cháu…không khổ, không lo, không hôn trầm thời coi như nhờ phước đức bao đời để lại.

Nhưng thật ra, sự kết hôn là do nhân duyên, là sự trả ơn , báo oán mà mình đã tạo ra từ kiếp trước, thường thì OÁN nhiều hơn ÂN ( vì ác dễ làm), không oan gia trái chủ thì không sống chung một nhà. Vì trả nghiệp (ác) nên dễ có chuyện buồn, chỉ cẩn một lý do mơ hồ cũng tạo nên sóng gió, tâm có sóng gió tức là hôn trầm( giận mất khôn). Thánh nhân khéo tạo ra chữ hôn ( có chữ HÔN trầm, mờ tối bên cạnh bộ NỮ) như nhắc nhở, cảnh báo ta, chớ có lý tưởng mà thất vọng.Trong chỗ mờ tối đó, ta cần phải tìm ra ánh sáng để khỏi vướng vào chướng ngại . Đó là ánh sáng Phập pháp rất nhiệm mầu. Phật là đấng Y vương, biết rõ bệnh của chúng sinh. Nếu ta có 84 ngàn bịnh tật thì Ngài cũng có 84 loại thuốc cho ta, chỉ khó có một điều là phải có nhân duyên, có đức tin thời mới gặp. Đừng nghĩ rằng mình lập gia đình là hôn trầm thì không hóa giải được nghiệp chướng, không thể tu hành được. Kinh sách đâu phải dành riêng cho người cho xuất gia mà cho tất cả chúng sinh. Nhờ có đau khổ mới thấy phiền não là BỒ ĐỀ, một lợi thế của người tại gia; nhờ khổ đau mới kiểm chứng lời Phật dạy (bát khổ) là đúng. Người tại gia phát tâm tu hành tuy muộn nhưng rất tốt ví như chuối chín cây; người xuất gia mà không có thiện căn ,chưa đủ duyên, chỉ vì một lý do nào đó thì coi như chuối giú hóa chất .Trong quyển “Niệm Phật thấy Phật vãng sinh” của cư sĩ Tịnh Hải (ở Mỹ) đã cho ta thấy có rất nhiều Phật tử tại gia, có gia đình (tức đã từng hôn trầm, trong cảnh tối tăm) mà vẫn được vãng sinh, lưu xá lợi( sách ghi chép rõ ràng, có nhân chứng, vật chứng, không gian, thời gian , thời hiện tại). Pháp môn thù thắng cho người tại gia chúng ta trong thời mạt pháp nầy chính là TỊNH ĐỘ. Chỉ cần tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật tinh tấn là có kết quả. Cư sĩ Tịnh Hải 60 tuổi mới tìm đến Phật pháp, 70 tuỗi mới hạ thủ công phu, hơn 10 năm mà vãng sinh, lưu lại hơn 13.000 viên xá lợi, ( xem trên mạng, từ khóa: “ cư sĩ Tịnh Hải vãng sinh lưu xá lợi” )

12- CHỮ TRÍ, HUÊ.
TRÍ (智) gồm bộ NHẬT (日) là mặt trời và TRI (知) là biết,có nghĩa là nhờ ánh sáng mặt trời mới biết được, tức cái biết bên ngoài, biết về thế giới vật chất, hiện tượng .Sáng trong đầu gọi là trí .Đây là cái biết của khoa học kỹ thuật. Tây phương rất giỏi về lãnh vực này. Theo Phật pháp thì vật chất là giả hợp, không có thật, chỉ tồn tại trong một thời gian mà thôi, nên cái biết của TRÍ là VÔ MINH .Do một niệm sai lầm mà tạo ra vô lượng, vô biên sai lầm khác, vũ trụ chính là từ một niệm sai lầm mà ra.Đức Phật giảng cho Ngài A- nan vì sao có thế giới: “ Do ông vọng tưởng, mê mờ chân lý nên phát sinh si ái, khiến gây ra mê lầm cùng khắp nên có hư không. Cái mê biến không cùng nên có thế giới…”( Kinh Thủ Lăng Nghiêm). Si ái là mê lầm trong yêu thích mà sinh ra chấp nhân ,chấp ngã. chấp đẹp chấp xấu, thiện ác, lớn nhỏ, trong ngoài, sáng tối, đúng sai, cao thấp, ngắn dài, sang hèn…sự mâu thuẫn đối đãi nhau kéo dài vô tận tạo ra một thế giới sai lầm, hư ảo. Ví như có một con số 1, rồi cứ ghép với con số 0, thành một dãy số dài vô tận, tạo ra một số thành quá lớn không thể tính đếm được ,nhưng nếu bỏ con số 1 đi thì số thành trở nên vô nghĩa. Vậy nếu không có một niệm vọng tưởng si ái thì sẽ không có thế giới . Tại sao có chiến tranh? Chiến tranh bắt đầu từ một niệm sai lầm mà ra. Tìm được nguyên nhân sẽ không còn chiến tranh, không tìm được thì thế giới còn triền miên khói lửa. Do vậy, thế giới ,hư không, vũ trụ đều do vọng tưởng tạo ra, tức do TÂM tạo. Thế nhưng, đối với người TRÍ (khoa học) thì họ không chấp nhận vì họ chưa hiểu được TÂM ở đâu, cho rằng TÂM không có , không thấy nó sinh ra vật chất bao giờ.Tôi đã từng nghĩ như vậy. Tôi tin vật chất là do tâm tạo một cách miễn cưỡng, do tin Phật mà tin vậy thôi. Cái nhà là do tôi tạo ra, cái xe là do tôi mua chớ đâu phải là TÂM tạo, cái dao là có thực,nếu không tại sao nó làm mình đứt tay.Nhưng nhờ giấc chiêm bao mà ngộ ra câu “vạn pháp do tâm tạo”.Thí dụ đơn giản: “ Bạn đang ở Ba Tri, mằm chiêm bao thấy mình ở Sài Gòn, trong giấc mộng không ai biết là mình mơ.Cảnh Sài Gòn hoàn toàn như thật: phố xá, nhà cao từng, cửa hàng, quán ăn, xe đủ loại, ồn ào,náo nhiệt. Vào quán ăn cũng cảm nhận mùi vị thức ăn, nếu té cũng thấy đau, nếu chạm vào vật nhọn thì máu chảy…Nhưng, khi tỉnh mộng, cảnh Sài Gòn liền tan mất, bạn lại nhận ra rằng mình đang ở Ba Tri. Vậy thì cảnh giới vừa thấy kia do đâu mà có, ai tạo ra ? Nó ở trong tâm, do tâm tạo ra. Chiêm bao là giấc mộng con, cuộc đời là giấc mộng lớn , cả hai đều giống nhau, thoáng qua là mất, mộng thực khó phân biệt. TrangTử mơ thấy bướm và tự hỏi :“ không biết Trang Chu là bướm hay bướm là Trang Chu.” Vạn pháp do tâm tạo, nhỏ như hạt bụi ,lớn như vũ trụ đều do tâm tạo ra, 10 phương pháp giới đều ở trong tâm cả.
Tâm ví như màn hình TV, 10 phương pháp giới giống như các kênh : kênh 1 là địa ngục, 2 là ngạ quỷ ,3 súc sanh, 4 là A Tu La, 5 là người, 6 là tiên, 7 là Thanh Văn, 8 là Duyên Giác, 9 là Bồ Tát, 10 là Phật. Chúng ta đang say sưa xem kênh số 5( là người), nếu chẳng may, Diêm Vương sai Ngưu Đầu, Mã Diện bấm kênh số 1 thì kênh 5 biến mất chỉ trong một sát na, ta buộc phải xem kênh số 1 của họ, thật hãi hùng cảnh Địa ngục; nếu ta “ bấm nhầm”kênh 2 thì lại thấy ngạ quỷ đói khổ, sống ở nghĩa trang, hay lang thang trong bụi rậm;nếu may mắn chuyển được kênh 6 thì thích vô cùng vì cảnh quá đẹp;nếu may mắn hơn nữa chuyển được từ kênh 7 đến 1O thì thấy được cảnh ung dung tự tại, an lạc , không bao giờ dám xem các kênh ở dưới vì chuyên nói về tham dục.
Sinh, tử do mê lầm mà có vì thực ra chỉ là một sự chuyển đổi kênh mà thôi. Vì thế mà HT. Quảng Khâm, trước khi viên tịch đã nói với đê tử: “ Không đến ,không đi, không việc gì cả”. ( tức chuyển đổi cảnh giới)
TRÍ dù có thông minh đến đâu cũng không thấy được TÂM, các cảnh giới trongTÂM ; muốn thấy được TÂM thì phải có HUỆ
CHỮ HUỆ (慧) là sáng trong tâm, gồm bộ TÂM (心) và chữ TUỆ (彗) là cái chổi. Muốn cho tâm sáng thì phải dùng chổi quét sạch bụi( bụi trong tâm là vọng tưởng,tham ,sân ,si… không phải chỉ có ở kiếp nầy mà cả kiếp trước còn tồn tại.). Tâm cũng giống như tấm kiếng, nếu bị bụi bám vào thì không sáng.
Châu-lợi- bàn –đà –già( trong kinh A Di Đà) là người đần độn, được sự trợ giúp của 500 vị A La Hán nhưng sau 100 ngày mà vẫn không thuộc được bài kệ, chẳng nhớ được chữ nào. Đúc Phật giải thích cho ông biết nguyên nhân sự đần độn đó là ích kỷ.Trong một đời trước, ông là một pháp sư tinh thông Tam Tạng, có 500 đệ tử, ngày nào họ cũng muốn học với ông nhưng ông không dạy, họ quỳ trước ông 3 ngày ,3 đêm mà ông không dạy cho họ một lời, nên ông phải chịu quả báo. Nghe xong, ông cảm thấy xấu hổ, tự trách mình. Đức Phật cầm cái chổi giơ lên và hỏi:
-Ông biết cái gì đây không?
- Thưa, cái chổi.
-Ông có nhớ được không ?
-Thưa, được.
Rồi Ngài dạy ông:
-hãy lặp lại suốt ngày : “ chổi ,chổi, chổi.”
Ông học thuộc sau vài tuần, Đức Phật đổi các chữ ấy thành “quét sạch, quét sạch , quét sạch”. Ông tinh tấn thực hành lời Phậtt dạy.
Nhờ cái chổi hữu hình và vô hình mà ông quét sạch bụi trong tâm (ích kỷ) nên TRÍ HUỆ được khai mở, đắc quả A La Hán( Chúng tôi phỏng theo bài giảng của HT Tuyên Hóa về sự tích này trong Kinh A Di Đà và Thủ Lăng Nghiêm )
Lời dạy của Đức Phật phù hợp với chữ HUỆ (chiết tự) chứng tỏ rằng chữ Hán là do Thánh nhân tạo ra, một minh chứng quá rõ ràng.
* GHI CHÚ: Chữ HUỆ có một âm khác là TUỆ. Thế tục dùng chữ TUỆ, còn trong Phật pháp,chữ HUỆ thường được dùng nhiều hơn( có lẽ do thói quen này mà TUỆ nghiêng về TRÍ, HUỆ nghiêng về TÂM ) TUỆ có hai chữ: chữ có bộ tâm là HUỆ, không có bộ tâm là cái chổi.
Đối với bậc đại giác thì TRÍ và HUỆ là một. Trong TRÍ có HUỆ; trong HUỆ có TRÍ, tuy hai mà một. Với phàm phu chúng ta thì trí và huệ là hai. Trí có thể thông thái, nhưng huệ thì rất mơ hồ( vì vọng tưởng)
Cổ nhân dạy rằng nếu xem kinh mà không hiểu thì xem tâm, nghĩa là do tâm đầy bụi, quét sạch bụi là ngộ được kinh, dù chỉ nghe thoáng qua, tâm còn bụi thì dù có thông thái đến đâu cũng không ngộ được. Thần Tú rất uyên bác về kinh điển, còn Huệ Năng thì không biết chữ ( vào chùa làm công quả, giã gạo…) ,nhưng lại được Ngũ Tổ trao Y Bát và trở thành Lục Tổ vì tâm Ngài không còn bụi, tức TRÍ HUỆ đã khai mở.
Trí là sở tri chướng,làm cho huệ không khai mở,vì vậy trong tu tập nên học theo cái “NGU”của Thánh nhân, phải vứt bỏ cái trí thông minh( kiến thức nhị nguyên, tức khoa học) Xin chép lại câu chuyện hay nhất trong tác phẩm “Góp nhặt cát đá”:
Nan-in, một thiền sư Nhật sống vào thời Minh Trị(1868-1912), tiếp một giáo sư đại học đến hỏi về Thiền.
Nan-in mời trà. Ông đã rót đầy tách của khách, nhưng vẫn tiếp tục rót thêm. Vị giáo sư ngồi nhìn nước trong tách trà tràn ra cho đến khi không còn kiềm mình được nữa:
-Đầy quá rồi, xin đừng rót nữa.
- giống như cái tách này, ông cũng đầy ắp những quan niệm, những tư tưởng của ông. Làm sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được, nếu ông không cạn cái tách của ông trước.
Lời quê góp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.(ND)

Lê Phương Hướng




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jun 6 2015, 08:04 PM
Gửi vào: #8


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 1,989
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





PHẬT PHÁP TRONG CHỮ HÁN

(tiếp theo)


CHỮ NGÃ (我) gồm bộ QUA (戈) là cái mác, một loại binh khí thời xưa và chữ THỦ (手) là tay. NGÃ là tiếng xưng hô, ngôi thứ nhất, có nghĩa là TA, tôi. TẠI sao tiếng xưng hô không dùng chữ KHẨU là miệng, hay chữ NGÔN là lời mà dùng TAY (thủ) và MÁC (qua). Có lẽ Thánh nhân thấy chúng sinh, nhất là cõi NGƯỜI chấp NGÃ quá nặng nên dùng hai hình tượng này để diễn đạt cái tâm của con người. Con người vì vô minh nên cho rằng THÂN SẮC (do đất ,nước, gió, lửa tạo ra) là có thật; cái TÂM vọng tưởng là có thật, nên ra sức bảo vệ, không cho ai đụng chạm đến mình. Khi tiếp xúc, đối đãi nhau thì đưa mác ra để ngăn chận, nếu cần thì sẵn sàng gây thương tích cho nhau. Xã hội càng văn minh thì chấp NGÃ càng nặng và “hàng” càng hiện đại: mã tấu, súng, chất nổ…Vì chấp NGÃ nên chỉ nghĩ đến mình mà không quan tâm đến người, coi mình là trên hết. Ông Nguyễn Hiến Lê nói rất đúng: “ mỗi người đều có một ông quan, đó là ông quan trọng”. Chấp NGÃ là một chướng ngại rất lớn trên bước đường tu tập. Còn cái tôi cá nhân là còn mãi trong luân hồi lục đạo. Muốn tu hành (kể cả tu thân, xử thế) thì phải biết buông đao. Cổ nhân nói rằng buông đao sẽ thành Phật (thực tế đã chứng minh điều này). Tu là phải diệt tiểu NGÃ, còn chấp NGÃ mà muốn chứng đắc chẳng khác nào nấu cát thành cơm. Tiểu NGÃ trở về đại NGÃ, tức một trong tất cả, tất cả là một, là giác ngộ, thấy được 10 phương pháp giới.

Chữ NHẪN trong Phật pháp giúp ta diệt tiểu NGÃ rất hiệu quả. Trước khi diệt NGÃ, chúng ta cần phải tìm hiểu về TỨ NIỆM XỨ mới thấy diệt NGÃ là đúng và mới vui vẻ thực hành (Nếu có người tối ngày ra sức xây dựng, trang trí cái nhà thuê trong một thời gian ngắn thì bị cho là điên vì chỉ có điên mới làm như vậy; nếu đời là cõi tạm, như nhà thuê thì trên thế gian, người điên nhiều như cát sông Hằng).

Có người nói vui rằng kẻ giang hồ có mã tấu, quan chức có súng, còn người dân “lương thiện”, đâu có “hàng” mà buông! Nên nhớ là “hàng” có hai loại: hữu hình như dao, súng…; vô hình như tự ái, giận hờn, ich kỷ, tham, sân, ngã mạn…đều là chướng ngại do chấp NGÃ mà có.

Trong chữ Hán còn có một từ chỉ ngôi thứ nhất nữa, đó là chữ NGÔ

Chữ NGÔ (吾) gồm có bộ KHẨU (口) và chữ NGŨ (五) là 5. Sự khác nhau giữa NGÃ và NGÔ như sau: Hướng về mình mà xưng là NGÃ (nên quá coi trọng mình); còn hương về người mà xưng là NGÔ, hướng về người nên có sự thông cảm, quý mến nhau nên dùng KHẨU, chứ không dùng tay cầm mác, chữ NGŨ là 5 đức tính tốt đối đãi nhau, đó là NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN .

Chúng tôi xin giải thích thêm một ý khác nữa: Tay cầm mác ở đây ví như người chiến sĩ canh nơi biên giới, canh chừng quân thù, nghĩa là nếu có một vọng tưởng tham, sân, si nào nổi lên thì phải đốn ngay tức khắc, đây là cách diệt NGÃ rất hay,đòi hỏi một quyết tâm cao như chiến sĩ ngoài biên thùy.

CHỮ ÁI (愛) là thương yêu gồm có bộ TÂM (心), chữ TRẢO (爫) là móng vuốt của thú vật, chữ MỊCH (冖) là bao trùm, che chở, chữ TRUY (bộ ở dưới cùng của chữ ái) là đến sau, phía sau. Con thú đưa móng vuốt ra chiến đấu, hù dọa để che chở cho con của chúng, con chúng núp ở phía sau mẹ.

ÁI là một tình cảm đẹp của con NGƯỜI, tại sao lại dùng hình tượng con vật để diễn tả. Đây chính là điều thú vị giúp ta tìm hiểu, chỉ có Thánh nhân mới nghĩ ra như vậy. Tại sao? Vì các Ngài có lục thông, ngũ nhãn, hiểu rõ TÂM chúng sinh. Con người thường tự hào mình văn minh, có lý trí nhưng đâu có biết rằng, chúng ta đã trải qua vô lượng kiếp trong luân hồi lục đạo, vô lượng kiếp làm kiếp súc sinh. Khi trở thành người, ta mang theo vô lượng chủng tử, tập khí của súc sinh, cho nên tình cảm, sở thích… con người giống muông thú là điều đương nhiên (Chuyện kể rằng có một vị chân tu đắc quả A La Hán nhưng Ngài hay ngồi trên cây vì tiền kiếp của Ngài là con khỉ, dù chứng đắc nhưng tập khí thích ở trên cây trong tiền kiếp vẫn còn).

Tuy nhiên, súc vật kém phước đức nên mê muội nhiều hơn, tình cảm rất hẹp hòi ,chỉ trong phạm vi con cái, bầy đàn. Ở một mức độ thấp, thì lòng thương con của súc vật giống như con người. Bởi vậy, có người hỏi một triết gia Đông phương rằng NHÂN là gì, ông đáp: “ hùm sói chính là NHÂN” (vì chúng cũng biết thương con như người). Lời đáp rất thâm thúy: nếu chúng ta không tu tập, rộng mở tâm hồn, sống hẹp hòi, chỉ biết có con cái, gia đình,phe phái thì chẳng khác gì hùm sói.

Nếu không tu tập, sống buông xuôi, thì chủng tử súc sinh sẽ hiện hành mạnh mẽ, điều khiển tâm chúng ta, khiến ta hành động y như súc vật. Người bình dân, thất học nhưng nhận xét của họ lại đúng với chân lý: khi thấy một kẻ xấu xa, gian ác, họ nói: “đồ súc sinh”, tức đúng phần gốc; trong khi các vị trí thức thì cho là do gia đình, xã hội, giáo dục tác động, tức đúng phần ngọn (tu tập sửa được phần gốc, giáo dục sửa được phần ngọn). Súc vật cũng thương yêu con chúng, giống như con người.Nhưng con người có cộng nghiệp tốt hơn, thân xác hoàn hảo hơn (nhờ phước đức), văn mimh hơn, có lý trí tốt hơn, có nền giáo dục… nên tình yêu (ÁI) được nâng cấp theo thời gian. Từ tình cảm gia đình đến xóm làng, rồi vượt qua lũy tre làng đến tình yêu đất nước. Chữ ÁI tiếp tục được nâng cấp bằng cách thêm chữ NHÂN, chữ BÁC (nhân ái, bác ái). Tột cùng của ÁI là tình nhân loại (vượt qua biên giới quốc gia ). Thế gian rất ngưỡng mộ những con người giàu lòng nhân ái, nhưng Phật pháp thì không dùng từ ÁI mà dùng chữ TỪ BI. Trong kinh điển ta thấy chữ SI ghép với ÁI (SI ÁÍ). SI là mê mờ, là bụi đầy trong tâm nên không nhìn thấy xa (không có lục thông), không nhìn thấy được các cõi khác, tiền kiếp của mình, của súc sinh (là bà con thân thuộc) nên chỉ tốt với người mà giết hại thú vật. Vì vậy mà người có lòng nhân ái, vẫn sát sinh vô tư…Chẳng những sát sinh thú vật mà cả người nữa. Vì mạng sống của mình, của người thân, của phe nhóm … mà giết hại nhau. Từ Bi thì hoàn toàn ngược lại, vì mạng sống của chúng sinh (kể cả súc sinh) sẵn sàng hy sinh bản thân mình. Trong sử Phật có những câu chuyện kể về việc nầy rất cảm động, tưởng như huyền thoại, nhưng chúng tôi chỉ xin nhắc lại chuyện (đời nay) về HT. Thích Thiền Tâm, lúc Ngài ẩn tu ở Đại Ninh, Lâm Đồng (vãng sinh 1992): Khi Ngài vào chùa thì có một con rắn du trên cửa, đe dọa, Ngài có dư khả năng để giết nó, cứu mình. Nhưng không, Ngài quán Từ Bi và niệm Phật bước vào, chấp nhận rủi ro, chứ không hại nó. Từ Bi là như vậy, khác xa với Bác Aí. Tuy nhiên, chúng ta không nên tranh luận (Từ Bi và Nhân Ái, Bác Ái), vì bên nào cũng có lý cả. Thí dụ: Có một cậu bé theo cha sống nơi xa xôi, mấy mươi năm, một hôm cha cậu nhận ra có những người bà con ruột thịt tìm đến, cha cậu tiếp đãi ân cần, cho tiển bạc, thế là người con trách cha, tại sao lại tốt với người dưng. Lý của cậu rất đúng, lý của cha cậu thì không sai. Nhưng nếu như cha đưa cậu về quê hương, thì lúc đó cậu mới nhận ra rằng mình đã sai rồi, các vị “khách” đó là người một nhà.

CHỮ ĐẶC (特) là đặc biệt,gồm bộ NGƯU (牜) là con trâu, chữ TỰ (寺) là chùa. Nghĩa đầu tiên là con TRÂU ĐỰC (Từ điển Hán Việt ,Thiều Chửu), ngày nay không còn dùng nữa, nghĩa tiếp theo là hiếm có, độc đáo, riêng biệt, thường gọi là ĐẶC BIỆT. Tai sao con trâu ở chùa là đặc biệt ? Vì chùa nuôi súc vật là chuyện bình thường. Do đó,con trâu nầy phải có một ấn tượng, một hành động khác thường, thì nó mới tạo ra được một từ ngữ trong TỪ ĐIỂN (như chữ “CHÍCH” Trong “ ĐẠO CHÍCH” (ăn trộm) vốn là tên riêng của một tên ăn trộm, nhưng y là siêu trộm nên mới chết danh). Như chúng tôi đã từng nói, súc sinh nghiệp nặng, kém phước đức, ngu muội, nhưng vẫn có một số cá biệt, có con có thần thông, nghe được tiếng người, tìm đến chùa, tìm được chân sư.Do kiếp trước có tu tập, khai mở được một phần trí huệ, tức thần thông, nhưng vì phạm giới nên phải đọa làm kiếp súc sinh như câu chuyện sau đây: Kiều-phạm- ba- đề là một trong 1250 vị A La Hán theo hầu Đức Phật.Tên của Ngài có nghĩa là “bò nhai lại” (theo tiếng Phạn). Tại sao Ngài lại có tên như vậy ? Vì tiền kiếp, tuy có tu tập, nhưng thấy một vị Tỳ-kheo già rụng răng, ăn rất chậm bèn nói: “Ông nhai thức ăn thật không khác nào con bò nhai cỏ”. Vì tội hủy báng Tăng nên ông phải chịu quả báo 500 kiếp làm bò… Nhưng nhờ có căn tu trong tiền kiếp mà Ngài được gặp Phật...và đắc quả A La Hán, tuy đắc quả ,nhunng do tậpp khí 500 kiếp làm bò, Ngài ăn rất chậm, nhai đi nhai lại như bò, nên mới chết danh là “ bò nhai lại” ( phỏng theo HT Tuyên Hóa, trong Kinh A Di Đà, do Ngài thuyết giảng, trang 125). Câu chuyện trên, ta cứ ngỡ là hoang đường, nhưng rất may cho chúng ta, trong tác phẩm “Thơm ngát hương lan” của hòa thượng Hư Vân, một vị chân tu chứng đắc thời cận đại, thầy của HT. Tuyên Hóa (Ngài viên tịch 1959), có thuật lại cuộc đời mình từ lúc mới sinh cho đến những năm cuối đời. Trong đó, Ngài có kể nhiều con vật tìm đến hoặc do Phật tử mang đến chùa, nghe được tiếng người, và quy y Tam Bảo, có con khi chết thị hiện tướng vãng sinh. Như vậy, con trâu trong chữ “ĐẶC” trên kia chắc là nó tự ý đến chùa xin quy y. Xin trích nguyên văn một câu chuyện tương tự do HT. Hư Vân kể để giúp quý vị liên tưởng: “ Lúc chở kinh đến chùa Vạn Thọ, Đằng Xung, tôi đang ngồi trong tiệm trò chuyện với Đề đốcTrương Tùng Lâm, thì bỗng có một con bò vàng chạy đến quỳ xuống trước mặt tôi, mắt nó tuôn lệ đầm đìa. Lúc nầy ông chủ bò là Dương Thắng Xương cùng đám người rượt đuổi bò cũng vừa chạy đến. Tôi nói với con bò: “ Con muốn sống thì phải quy y Tam Bảo”. Bò liền gật đầu .Tôi bèn thuyết Tam Quy rồi bảo nó đứng dậy, nó dễ dạy như người. Tôi lấy tiền bồi thường cho Dương Thắng Xương, nhưng y không dám nhận. Dương xưa nay chuyên sống bằng nghề mổ bò, giờ quá xúc động về chuyện này, nên dũng mãnh phát thệ từ nay xin bỏ nghề đồ tể và xin quy y với tôi, Dương còn phát nguyện là sẽ ăn chay trọn đời. Đề đốc họ Trương chứng kiến cảnh này cảm động lắm, liền mời Dương Thắng Xương vào làm việc ngay trong tiệm của mình.”( trang 107)

Tạo ra chữ này, Thánh nhân vừa ghi lại một câu chuyện thật, vừa dạy cho ta rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính, là những vị Phật trong tương lai.

CHỮ THỊ (恃) là nhờ cậy (trong chữ Hán có 13 chữ THỊ) gồm Bộ TÂM (忄) và chữ TỰ (寺) là chùa. Nói đến nhờ cậy, thì người đời nghĩ ngay đến những con người có thế lực như vua chúa, quan lại… chứ ai lại nghĩ phải đến chùa, vì xưa nay, chùa có giúp ai thăng quan, tiến chức đâu. Đây chính là chữ do Thánh nhân tạo ra để dạy ta.
Nếu nhờ cậy quyền lực thì quá dễ: “đánh kẻ chạy đi, chứ không đánh người chạy chọt”. Nhưng nương nhờ quyền lực ta được gì? Có quyền lực nào giúp ta tránh được sinh, lão, bệnh, tử, giúp ta siêu thoát khi chết. Sống ở đời, tạo được sự nghiệp, công danh gì không quan trọng (vì đời là giấc mộng), chết đi về đâu mới là vấn đề, chấm dứt luân hồi sinh tử mới là cứu cánh, nếu không thì uổng phí cả kiếp người (vô lượng kiếp mới được làm người), hơn nữa, có quyền lực thì dễ tạo nghiệp, dễ rơi vào tam đồ ác đạo (địa ngục ,ngạ quỷ, súc sanh ), vua chúa còn không cứu được mình (có vị chui ống cống, có vị trốn dưới hầm, trốn ở rừng, chết thảm…) vậy ta nhờ họ để làm gì ? Chỗ nương nhờ đáng tin cậy nhất là CHÙA, tức nương nhờ Phật, Pháp, Tăng (Tam Bảo). Chữ TÂM gắn với TỰ có hai ý: phải đem TÂM vào chùa, chứ không phải đem THÂN vào lạy Phật như một khổ nhục kế để gạt Phật (thân trong chùa, TÂM ngoài cổng, thì đến chùa có ích chi, “TU” có lợi gì?) ; Trong tâm ta có đủ 10 phương Pháp giới, có Phật, có Bồ Tát…Nếu ta phát Bồ đề tâm dũng mãnh, khai mở suối TỪ BI… thì trái tim chính là ngôi chùa. Chỗ nương nhờ đó chính là ta, bên ta lúc nào cũng có Phật, có Bồ Tát, Long Thần hộ pháp…

CHỮ ĐÃI (待) là chờ đợi(như “thủ châu đãi thố”, ngồi giữ gốc cây, chờ thỏ tới )…gồm bộ SÁCH (彳) là chân trái, đi phía trái và chữ TỰ (寺) là chùa. Tại sao lại bước chân trái, và đợi ở chùa. Bước chân trái, đi về phái trái tức là TU. Tại sao? Vì phải làm ngược lại thế gian. Phàm phu chúng ta thì làm theo chiều thuận; thuận dễ làm như đi xuống dốc, trôi theo dòng sông; chiều nghịch (tức phía trái) thì ngược lại, rất khó, đòi hỏi sự phấn đấu cao như leo lên dốc, bơi theo dòng nước ngược. Thuận thì làm theo bản năng như thích tham dục, nghịch thì quá khó là phải từ bỏ sự ham muốn; thuận thì tô đậm tiểu ngã, nghịch thì phải diệt trừ…Cổ đức dạy : Tu là ăn những gì mà người ta không muốn ăn (kham khổ), mặc những gì mà người ta không muốn mặc (áo cũ, áo vá), làm những gì mà người ta không muốm làm, nhẫn những gì mà người ta không thể nhẫn…như HT Tuyên Hóa (đã chứng đắc) vẫn đi làm công việc mà người ta không ai muốn: làm vệ sinh nhà xí; đang tụng kinh mà bị bạn đồng tu nhục mạ, đánh, đuổi mà Ngài vẫn ung dung tự tại. Ngài từng nói rằng tu là phải làm ngược lại người đời, phải biết “ngu si”: không tranh, không tham, không mong cầu, không tư lợi, không ích kỷ, không nói dối. TỰ chỉ sự tu hành, ngôi Tam Bảo. Đi theo chiều ngược đến chùa hay vào chùa tu , làm ngược lại với thế gian thì TRÍ HUỆ sẽ khai mở. Vậy ĐÃI là chờ đợi TRÍ HUỆ khai mở, tức chứng ngộ, chứ không phải là đợi chờ danh lợi, thời vận tốt để làm ăn…khác với nghĩa của chữ ĐÃI hiện hành, trong cuộc sống (đã biến dạng, tạo ra nghĩa rất thông dụng là TIẾP ĐÃI..)

Với ý nghĩa của bộ SÁCH, bạn có thể giải được chữ VÃNG (往) (vãng sinh), chữ ĐỨC (德) (đạo dức).

CHỮ MINH (明) gồm bộ NHẬT (日) là mặt trời, chữ NGUYỆT (月) là trăng, một sự kết hợp hai nguồn sáng. NHẬT là dương, bên ngoài; NGUYỆT là âm bên trong. Sáng bên ngoài giúp ta biết về hiện tượng vật chất, sáng bên trong (tâm) giúp ta hiểu về bản chất sự việc (nếu tâm không có bụi). Vì vậy mà người ta nói MINH TÂM thì kiến TÁNH (chân lý), kiến tánh thành Phật hay MINH tất TRIẾT (hiểu biết về bản chất sự việc). Sáng bên ngoài (dương) do học hỏi, sáng bên trong do tu tập. Ngày nay, do ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật, người ta thường quan tâm đến ánh sáng bên ngoài (NHẬT) nhiều hơn là sáng bên trong (ÂM). Do đó, coi trọng việc HỌC (việc dạy) hơn là TU, nên chữ MINH mất cân đối về âm dương. DO dó, xã hội mất cân đối giữa vật chất và tinh thần.

TRIẾT (哲) gồm bộ KHẨU (口) là miệng và các chữ THỦ (扌) là tay, chữ CÂN (斤) là cái búa . Như vậy, TRIẾT có nghĩa là dùng tay cầm búa đập vỡ tất cả các hiện tượng, rồi dùng miệng tra hỏi, bên trong là cái gì? Đây là nghĩa đen, nghĩa về hình tượng của chữ. Nghĩa sâu rộng hơn là ngoài việc tìm hiểu về vật chất, hiện tượng,còn phải xét đến TÂM, PHÁP, rồi phải tra hỏi về bản chất của nó. Hỏi ở đây là tự hỏi chứ không nhờ người khác (vì chân lý không nói được, không diễn đạt được). Phật Pháp giúp ta về phương pháp nầy rất hay như thiền quán, đặc biệt là thiền công án: một câu hỏi mà ta không thể nào trả lời được (như âm thanh của một bàn tay). Tại sao câu hỏi mà không thể trả lời được lại tìm ra chân lý. Nếu TÂM ta suốt ngày, suốt tháng, suốt năm… duyên vào câu hỏi vô nghĩa nầy thì nó sẽ không còn nghĩ đến cái khác, tức vọng tưởng không khởi lên, như gương không có bụi, nên gương sáng. Gương sáng thì cảnh chiếu vào, TÂM sáng thì thấy được bản chất sự việc. Ta cũng có thể nêu ra một ví dụ khác: TÂM bị cột chặt vào câu hỏi vô nghĩa giống như ly nước đứng yên, bụi lóng xuống nên nước trong, thấy được đáy vậy. Tai sao con người ta không thấy được chân lý, kể cả người thông minh là vì cái TÂM cứ phóng ra ngoài, duyên vào trần cảnh như cái tâm của các nhà khoa học tối ngày cứ nghĩ đến các hiện tượng, định lý, công thức, các mối tương quan, đúng sai, việc trường, việc nhà… cái tâm phóng ra ngoài mà không hề hay biết! HT. Tuyên Hóa đã nói rằng nếu con gà, con chó phóng ra đường thì ta chạy theo bắt lại ngay vì sợ mất, còn tâm phóng ra đường không ai giữ lại (có lẽ là không có ai để ý điều này). Tâm ra ngoài thì bị ô nhiễm, khi “về” thì đầy bụi, làm sao thấy rõ được.

Thập niên 1960, ở Sài gòn ,tuổi trẻ chịu ảnh hưởng triết hiện sinh (hiện tượng lạ) vì họ chủ trương dùng búa tạ đập phá, đập cả thần tượng, văn hóa, đạo đức, triết học của họ… nhưng sau một thời gian ồn ào chẳng ai còn quan tâm tới vì chẳng đem lại lợi ích gì, chẳng khám phá được gì, vì họ không biết cách HỎI. Ông Phạm Công Thiện cho đó là triết lý ba xu, ông cũng dùng búa tạ đập lại họ . Nhưng có điều lạ là một con người ngã mạn, “ dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (thần tượng của một số giới trẻ Sai Gòn) lại ngoan ngoãn, cúi đầu, chấp tay đứng trước Phật và Lão: “ tôi chỉ có một người thầy duy nhất là Đức Phật Thích Ca và một người bạn là Lão Tử” (thầy không còn thì không còn học ai nữa). Phải chăng là ông đã ngộ được TRIẾT ĐÔNG: Phật và Lão…vì giúp ta khai mở trí huệ, thấy được BẢN LAI DIỆN MỤC.

(còn tiếp)

MT đánh máy, HHT chèn chữ HÁN.

======


PHẬT PHÁP TRONG CHỮ HÁN(TT)

* Chữ XÚ (臭) là HÔI THÚI, gồm bộ TỰ (自) là do mình và chữ ĐẠI ( 大 )là lớn.Tự mình làm cho mình thành một nhân vật to lớn( ảo), nghĩa là tự phô trương, biến rắn thành rồng, biến gà thành phượng, biến phàm thành Thánh để dụ , lừa, phỉnh, gạt người, hầu mưu đồ sự nghiệp, là HÔI THÚI

Lẽ ra khi nói đến mùi hôi thúi thì phải dùng chữ THI ( 尸 )(thây, xác chết mới đúng) nhưng Thánh nhân lại chọn chữ ĐẠI . Tại sao? Vì cái hôi thúi của thể xác chỉ lan tỏa trong phạm vi năm mười thước, tồn tại trong một thời gian ngắn,nhưng cái hôi thúi về tinh thần thì vượt không gian,thời gian: “trăm năm bia đá thì mòn/ ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Bọn hôn quân, bạo chúa dù có lăng mộ hoành tráng, dù chết đã lâu nhưng mùi hôi thúi(về tinh thần) của họ vẫn còn . Đây là lời dạy về phép tu thân, còn tu hành thì sao?

T Tu hành là phải diệt trừ ngã mạn. Tự đề cao mình, thì dù có tinh thông kinh sách cũng không thể nào chứng đắc, nếu không muốn nói là sẽ bị đọa. Một trong những lý do mà Phật cấm đệ tử phô trương thần thông là sợ họ ngã mạn( ngã mạn thì chấp ngã; chấp ngã thì vô minh…)Nhân đây, xin tóm lược vài hàng về một câu chuyện thật: Có một vị tu sĩ đạt tới một trình độ nào đó, nên chữa bịnh rất hay bằng cách niệm thần chú, được người đương thời gọi là LA HÁN SỐNG. Một hôm, ông gặp HT. Tuyên Hóa ( lúc còn ở Đại Lục), Ngài nói thẳng với ông rằng nếu còn phô trương thần thông thì trong tương lai sẽ bị đọa,không được làm người xuất gia. Ông nói: “ Nếu tôi bị đọa, xin Ngài cứu độ”

Quả thật, khi qua Hồng Kông, “ LA HÁN SỐNG” thì trở thành phàm tục ( chắc là mất hết khả năng) . Sau đó, Hòa Thượng độ cho tu trở lại, nhưng chỉ một thời gian rồi cũng bỏ chùa ra đi vì bịnh cũ ( ngã mạn) tái phát ( “Cuộc đời và đạo nghiệp của HT. Tuyên Hóa” trang 299, sách nầy có trên mạng) .

Có lẽ vì vậy mà Thánh nhân mới nhấn mạnh chữ XÚ là phô trương cái tôi cá nhân, cái tôi cá nhân càng “vĩ đại”, thì càng thúi. Riêng kẻ tu hành dù có khai mở chút trí huệ ( thần thông) cũng sẽ bị đọa vào tam đồ, ác đạọ.


*****************************


**Chữ THI ( 詩 ) là thơ, gồm bộ NGÔN (言 )là lời nói và chữ TỰ ( 寺 )là chùa. Đây là thơ ca cổ điển( vì chữ Hán có từ lâu đời). Thật khó mà lý giải.Tuy nhiên, nếu dựa vào chữ TỰ là chùa, là tu hành ,là Phật pháp, ta cũng có thể đưa ra được một vài ý( tất nhiên, chưa hẳn là đúng)

Ta có thể nói rằng, thời xa xưa, các vị Thánh hóa thân làm thi sĩ, dùng nghệ thuật thi ca để hoằng pháp( Xem kinh Phổ Môn, ta thấy Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân vào vô số nhân vật, nhiều thành phần khác nhau trong xã hội ). Đạo Phật cho rằng tình ái là sợi dây trói buộc, khiến cho con người bị chìm trong luân hồi lục đạo; đạo Phật là vô NGÃ, cho rằng chấp NGÃ thì vô minh. Phải chăng vì vậy mà thơ ca cổ điển không bao giờ đề cập đến cái tôi cá nhân , tình yêu đôi lứa như trường phái lãng mạn…

Có một thực tế rất thật, phần lớn những thi sĩ cổ điển là người ngoại đạo, và thời cận–hiện đại vẫn có những thi sĩ hoài cổ. Tại sao? Con người khi mất đi, thể xác trở về cát bụi, nhưng linh hồn( tâm) vẫn tồn tại và tái sinh. Theo DUY THỨC HỌC, thì tư tưởng, tình cảm, mọi ý niệm … chính là những chủng tử ở trong tâm thức (thức số 8) sẽ đi đầu thai. Khi tái sinh làm người, nó sẽ hiện hành nếu gặp duyên.

Thuở xa xưa, có lẽ là thời chánh pháp hay tượng pháp nên những người có căn tu tái sinh nhiều( dù kiếp tái sinh nầy không tiếp tục tu, nhưng chửng tử tiền kiếp vẫn còn) nên mới tạo được một dòng thi ca cổ điển(?). Xin trích ra một bài thơ hay nhất của Trương Kế: "PHONG KIỀU DẠ BẠC" (Ông không phải là một nhà sư mà là một vị quan, đỗ tiến sĩ, nhưng bài thơ trên lại in đậm dấu ấn Phật giáo từng chữ, từng câu, từng hình ảnh , từng âm thanh, ánh sáng… Ta có thể nói là tiền kiếp ông là người đã xuất gia):

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại, Hàn San Tự
Dạ bán, chung thanh đáo khách thuyền

********

*Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(Tản Đà dịch)

Có một điều lạ là những câu thơ , bài thơ thể hiện tư tưởng Phât giáo thì lại được người đời ngưỡng mộ, như Trương Kế, ông sáng tác rất nhiều nhưng chỉ có bài thơ trên là hay nhất, tạo nên” thương hiệu”để ngồi chung chiếu với những thi sĩ nổi tiếng nhất ở đời Đường; Hồ Dzếnh, một thi sĩ lãng mạn, cũng rung động bởi tình yêu đôi lứa nhưng không dám mạnh dạn bước vào, ông NGẬP NGỪNG, rồi dừng bước: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé…”.Không phải ông sợ: “ Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn”, mà vì: “ Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở”. Tại sao? Có lẽ trong tiền kiếp ông đã hiểu về Phật pháp: Có SINH, TRỤ, tất phải bị DỊ, DIỆT. Nếu tham lam đi đến cuối đường tức sẽ bị hoại, diệt, cái hình ảnh đẹp buồi ban đầu sẽ mất đi. Ông đã thành công khi đem Phật pháp vào tình yêu( tôi chỉ nói cho vui, xin đùng chấp). Và, bài thơ “NGẬP NGỪNG” chính là “thương hiệu độc quyền” của Hồ Dzếnh trong dòng văn học lãng mạn 1932- 1945.Nói đến ông, hầu như ai cũng nhớ: “ Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé”. Và, ngàn năm sau đời vẫn nhắc: Đừng bước vội,hãy ngập ngừng và quay lại, kẻo lỡ chuyến đò ngang về bến giác như thi sĩ xứ trầm hương:

Đời nửa khói mây chìm bóng mộng
Gọi đò một tiếng lạnh hư không
(Quách Tấn)

* Thành phố buồn đã vào đông *

Trong FB PhuongHuong Le



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jul 27 2017, 07:19 PM
Gửi vào: #9


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,489
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





ĐẠO PHẬT NGÀY XƯA


Quan niệm tu hành của đạo Phật ngày xưa khác xa với đạo Phật ngày nay.Ngày xưa, dù văn minh vật chất còn đơn sơ,cơ giới chưa có nên chưa sinh ra “ cơ tâm”, con người còn tốt, còn chất phác nhưng những người tu hành thường tìm đến nơi núi rừng,xa lánh con người để tu. Vì vậy, nơi tu hành gọi là TÙNG LÂM( rừng cây rậm rạp); tu Tiên cũng vậy, chữ TIÊN(từ Hán Việt) gồm chữ SƠN là núi và chữ NHÂN là người, tức là người tu trên núi ; ngay cả tu thân cũng muốn xa loài người: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ…” NBK.
Ngày nay, người ta lấy cái lý Phật tại tâm,cho rằng tu đâu cũng được, cần gì phải lên núi ẩn tu( nên chùa mọc lên như nấm, người xuất gia đông vô số). Mới nghe qua thì thấy rất có lý, nhưng nó chỉ đúng về mặt LÝ, còn về mặt SỰ thì không thể. Nếu tu đâu cũng được thì tại sao đức Phật không tu ở kinh đô mà lên núi Tuyết, Phật Hoàng Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử.
Khi chứng đắc , các vị chân tu mới dám xuống núi hoằng pháp, độ người, giống như đã chích ngừa, được miễn dịch nên vào “ổ dịch” sẽ không bị lây nhiễm.
Vả lại, khi chứng đắc, tức trí huệ được khai mở, sóng từ bi lưu xuất mới có khả năng độ người,* (không chứng đắc thì lấy chữ nghĩa ra giảng, chẳng khác gì giáo viên thế tục dạy học, làm sao chuyển hoá được cái tâm chúng sinh.)
Dù tu trên núi lâu năm mà chưa chứng đắc, chưa đối trị được tham,sân ,si mà xuống núi thì vẫn bị con người “độ” lại, hết đường tu, huống chi tu ở chốn lao xao. Chuyện kể rằng có một chú tiểu tu trên núi , xa cách loài người, khi đến tuổi dậy thì, theo sư phụ xuống núi, chú thấy cô gái bèn hỏi thầy: “con gì đây”? Thầy sợ đệ tử mình “lỡ yêu người ta thêm trái ngang” nên doạ : “ cọp đấy con!”. Khi về núi, thấy đệ tử ngẩn ngơ , thầy hỏi: “con làm sao vậy” .Đáp: “con nhớ cọp quá!”.
Tôi vô cùng kính nể những vị tu sĩ trong đạo Phật ngày nay vì họ dám tu ở chốn phồn hoa, đô hội đầy tiền, đầy “cọp”, chưa miễn dịch mà cứ xông vào vùng dịch,nhưng cũng vô cùng thất vọng vì chẳng gặp được bóng dáng người xưa trong đạo Phật ngày nay
(Còn tiếp)
*Tâm của người chứng đắc phát ra sóng từ bi rất mạnh, hàng phục được tâm tham, sân, si người đối diện, làm cho chủng tử thiện tăng trưởng, trở thành người hiền ,ngay cả thú dữ cũng bi hàng phục bởi tâm từ bi . Bởi vậy, người xưa chỉ hoằng pháp khi chứng đắc.

====

ĐẠO PHẬT NGÀY XƯA(tt)
Người ta ai cũng biết đời là cõi tạm,là quán trọ, là giấc mộng nhưng tại sao không đặt ra câu hỏi : cõi thực ở đâu,nguyên quán ở đâu.Chẳng lẽ suốt đời ở trọ,sống trong mộng.Phải chăng người ta nói đời là cõi mộng là để làm duyên, chứ vẫn cho mộng là thực, vẫn đầu tư vào quán trọ, để rồi một ngày nào đó Diêm Vương gọi thì hoảng hốt, không biết đi về đâu,tưởng chừng như bầu trời sụp đổ.Nếu thường xuyên đặt câu hỏi như vậy như một công án (“gõ cửa, cửa sẽ mở”),biết đâu lúc lâm chung,chúng ta sẽ an vui vì biết mình sắp về lại quê hương.
Thánh nhân thương cảm giúp cho mình biết cách tìm đường về.Các Ngài là đức Chúa, là Phật vì chúng ta mà giáng trần,thị hiện, dìu dắt cho mình về nguyên quán.Đức Phật thuyết pháp 49 năm nhằm giúp ta NGỘ, ngộ rồi thì phải CHỨNG mới thấy được đường về. Kinh điển là ngôn ngữ nhị nguyên nên không thể giúp ta thấy được chân lý vì chân lý là nhất nguyên(“đạo khả đạo phi thường đạo”) Vì vậy, Đức Phật sợ ta mắc vào kinh điển nên Ngài phủ nhận:“ Ta thuyết pháp 49 năm nhưng chưa từng nói một lời” ( kinh Lăng Già)và:“Thuyết pháp là không có thuyết gì để thuyết nên mới thuyết pháp”( kinh Kim Cang).
Ngài cho ta một bộ kinh không lời, viết bằng hành động cụ thể nhằm giúp ta CHỨNG ĐẮC . Bộ kinh đó chỉ có 3 chữ là GIỚI , ĐỊNH , HUỆ. Ngài thị hiện bộ kink nầy bằng cách buông bỏ tất cả những gì mà thế gian mơ ước, lên núi Tuyết ẩn tu khổ hạnh (6 năm) là GIỚI; nhờ GIỚI mà 49 ngày ngồi thiền dưới cội bồ đề vào được đại ĐỊNH; nhờ đại ĐỊNH mà trí HUỆ bừng sáng , chứng đắc, thành Phật.
Đệ tử của Ngài chọn bộ kinh không lời để thực hành mà biết được đường về.Xin dẫn chứng một vài trường hợp:
1/ Thiền sư Hư Vân( viên tịch 1959, thọ 120 tuổi):
Ngài là con một của một vị quan lớn, cha Ngài sợ con đi tu nên dùng những sợi dây thế gian trói buộc con mình như:mướn thầy về dạy văn, dạy võ,cưới cho Ngài cùng một lúc hai vị tiểu thư,thậm chí còn khoá cửa lại.Ngài thuyết phục mẹ kế và nhị vị phu nhân, cả ba đồng ý để Ngài trốn thoát lên núi ẩn tu ( 3 vị nầy về sau cũng xuất gia),Ngài trở thành một vị chân tu huyền thoại thời cận đại như: quy y cho thú vật, trong đó có cả hổ,thay đổi dòng chảy của sông trong 1 đêm, nhấc được một tảng đá lớn, khi thuyết pháp có cây khô trổ bông, có mùi hương lạ… Nhưng điều đáng nói là Ngài còn tại thế, còn ở trọ mà có lần đến được cõi trời ĐÂU SUẤT*( những người tu thiền chứng đắc sẽ về cõi nầy sau khi mất)
Trước khi ra đi, đệ tử xin Ngài lời dạy cuối cùng, Ngài nói : “GIỚI , ĐỊNH, HUỆ”( tức kinh không lời, bất cứ pháp môn nào muốn chứng đắc thì đều phải lấy GIỚÍ làm thầy)
2 / HT. Thích Thiền Tâm(1925- 1992)
Ngài sinh tại Gò Công,có bằng Thành Chung( thời đó mà có bằng nầy thì dễ trở thành công chức). Ngài muốn xuất gia nhưng cha mẹ ngăn cấm, nhờ người anh thứ năm trợ giúp nên trốn thoát được gia đình vào chùa ẩn tu. Sau một thời gian tu tập, Sư trụ trì gởi Ngài lên Sài Gòn học Trường Cao đẳng Phật học đầu tiên, đậu thủ khoa,Sư phụ mời ở lại giảng dạy nhưng Ngài từ chối, về BếnTre, Mỹ Tho tu tập. Mời không được ,sư phụ dùng quyền lãnh đạo giáo hội triệu tập,nên Ngài phải lên Saigòn nhận nhiệm vụ:Viện trưởng Viện Phật học Huệ Nhgiêm, Sài Gòn, giáo thọ ĐH.Vạn Hạnh .Năm 1968, Ngài xin từ nhiệm, BỎ PHỐ LÊN RỪNG ẨN TU ( một sự kiện chưa từng có trong Phật giáo Việt Nam thời cận-hiện đại) Ngài xây một ngôi chùa nhỏ,đơn sơ( tự lao động để sống) ở nơi rừng hoang, thưa vắng : Phú An, Đại Ninh, Lâm Đồng. Chùa gần hang rắn mà người ta gọi là rắn thần,rắn quy y và hộ pháp cho Ngài.Hoà Thượng đã trở thành một vị chân tu huyền thoại ở Việt Nam . Ngài đã buông bỏ tất cả địa vị, danh lợi… lên rừng ẩn tu và tìm được con đường về quê hương. Ngài biết trước năm ,tháng, ngày, giờ vãng sinh( Tây phương cực lạc). Lúc lâm chung, Ngài ngồi kiết già, tay trái kết ấn Di Đà,tay phải lần chuỗi giữa tiếng trợ niệm của đệ tử.Bỗng Ngài mở mắt nhìn, rồi nói : “Ta đi đây,đại chúng nên bảo trọng”** ( Tây phương cực lạc là quê hương của người tuTịnh Độ).Bộ kinh không lời thật mầu nhiệm,sang một cõi khác mà giống ta đi định cư nước ngoài: dặn dò, ung dung, tự tại, rồi bước lên tàu! ***.
Đạo Phật ngày xưa và ngày nay khác nhau quá nhiều, như đối nghịch nhau: XƯA thì buông bỏ hết vạn duyên, lấy giới khổ làm thầy nên người xuất gia rất ít ; NAY thì không quan tâm đến giới khổ như xưa, chẳng những không buông xả mà còn ôm chặt , ngoài đời có cái gì, trong chùa có cái đó, thậm chí còn đầy đủ hơn người không tu .Tu hành quá thoáng , qúa sướng nên người XUẤT GIA nhiều như XUẤT GIÁ, đó là điều rất đáng quan ngại vì kinh nghiệm cho thấy: LƯỢNG CÀNG TĂNG THÌ PHẨM CÀNG GIẢM( giống như đại học Việt Nam vậy)
CHÚ THÍCH: * “ THƠM NGÁT HƯƠNG LAN”, HT. HƯ VÂN
** “VÔ NHẤT ĐẠI SƯ”, BẢO ĐĂNG
*** Đọc qua tiểu sử của các vị chân tu, nhiều khi chúng ta nản chí tu hành vì thấy mình không có một chút gì để so sánh với các Ngài,nhưng cái hay nhất trong Phật giáo là sự bình đẳng ,không chấp sớm hay muộn,thiện hay ác, tại gia hay xuất gia,nhất là pháp môn Tịnh Độ. Nếu phút giây cuối cùng mà ta buông xả được tất cả vạn duyên, nhất tâm niệm Phật thì vẫn được vãng sinh( đồ tể buông đao sẽ thành Phật, huống chi ta, vấn đề quan trọng là ta có chịu buông hay không mà thôi).

======








--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 19th February 2018 - 02:35 PM