IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

13 Pages: V < 1 2 3 4 > »   
Reply to this topicStart new topic
> Sưu Tầm Đó Đây (Của Hoa Hạ)
hoaha
post Jan 14 2011, 12:10 AM
Gửi vào: #21


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Phúc, Lộc, Thọ - Các cụ là ai ?

Tác Giả : Dương Duy Ngữ
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn"

Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn của đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.
Hiện nay, từ thành thị đến nông thôn, ở đâu ta cũng gặp các cụ Phúc, Lộc, Thọ. Các cụ thường được đặt ở nơi trang trọng nhất trong phòng khách, trên nóc tủ chè, có nhà còn làm cả bàn thờ rõ đẹp để thờ ba cụ cầu mong được phúc, được lộc, được thọ. Người sang thì có cả ba cụ bằng gốm Tàu rõ to, rõ đẹp. Người tầm tầm thì bằng gỗ pơ-mu hoặc sứ Bát Tràng…
Xin thưa, theo truyền thuyết, cả ba cụ đều là người Hán và dĩ nhiên đều sinh ra ở Trung Nguyên. Và ba cụ đều làm quan to ở ba triều đại.

Hãy kể theo thứ tự, bắt đầu từ cụ Phúc. Cụ Phúc tên thật là Quách Tử Nghi, Thừa tướng đời Đường. Cụ xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, cụ sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.
Cụ bà và cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: "Cùng tuổi nằm duỗi mà ăn". Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai cụ rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ diện phải là nam tử rồi. Cụ Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy. Theo phong tục của người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế cụ mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi cụ cười một hơi mà thác. Được thác như cụ mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du. Cụ bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao giời chẳng cho đi cùng…
Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cũng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và cụ được người đời đặt tên là Phúc.


Cụ thứ hai là cụ Lộc. Cụ Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng cụ Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. Cụ hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót của những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc.
Trong nhà cụ, của chất cao như núi. Tưởng cụ Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. Cụ chỉ hiềm một nỗi, năm cụ tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy cụ lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. Cụ ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. Cụ nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái cũng không dám đến gần. Đến khi chết, cụ cũng không nhắm được mắt. Cụ than rằng:
- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?


Còn cụ thứ ba, cụ Thọ. Cụ Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của cụ Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. Cụ coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng cụ Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi cụ nhất định không nhận đút lót. Cụ chỉ thích lộc của vua ban thưởng. Được bao nhiêu tiền thưởng, cụ lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh cụ, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua.
Cụ thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi cụ là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, cụ Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. Cụ Đông Phương Sóc bảo, cụ được thọ như vậy là nhờ cụ biết lấy âm để dưỡng dương.
Do cụ Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời của cụ, cụ chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên cụ:
- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.
Cụ Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:


- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?
Cụ Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi cụ chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở cụ nội.
Vậy làm quan như cụ, thọ như cụ phỏng có ích gì?

Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.
Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi.





User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 30 2011, 10:37 AM
Gửi vào: #22


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Lạc quan... tự sướng


Cách đây vài năm, công ty nghiên cứu tiếp thị Hoa Kỳ “The Nielsen” đã đưa ra nhận xét “Việt Nam: Hạnh phúc vào hàng thứ 5 trên thế giới!” bỏ xa “thiên đàng nước Mỹ” đến 109 nước.
Tôi đã cho rằng đó là thứ hạnh phúc... xót xa. Bây giờ cơ quan nghiên cứu thị trường BVA (Pháp) và Gallup Poll Quốc Tế, trụ sở đặt tại Washington DC (Mỹ) lại lên tiếng: “Việt Nam là dân tộc lạc quan nhất... trên trái đất này”.
Người lạc quan là người vui vẻ, yêu cuộc sống, luôn luôn nhìn cuộc đời qua cặp kính màu hồng, xem thế giới và đời người là vui sướng. Có triết gia cho rằng: “Một cái nhìn vui vẻ biến được những món ăn thành một buổi tiệc”, vui vẻ trong sự nghèo nàn, tăm tối, như trong câu ca dao: “Râu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.” Ngày xưa ông Vinh Khải Kỳ lạc quan vì ông được làm người mà loài người là cao quý nhất; được làm đàn ông mà đàn ông địa vị hơn đàn bà, được làm người khỏe mạnh hơn người đui què, bệnh tật. Người lạc quan là người theo chủ thuyết “Sức mấy mà buồn, buồn chi, bỏ đi Tám!” (PD), hay: “Tôi là ai mà yêu quá cuộc đời này” (TCS), là người hy vọng chiều nay mình có thể trúng số “cá cặp”, chứ không bao giờ nghĩ mình có thể bị công an đánh bể đầu vì không đội nón an toàn.
Người lạc quan đương nhiên là người luôn luôn bằng lòng với cuộc sống, vẽ ra cho mình một viễn ảnh theo ý riêng của mình, nhiều khi không quan tâm đến thực tế chung quanh. Những ngày đầu mới bị (Không dùng từ này) tập trung vào trại “cải tạo”, những người bi quan than thở cho rằng thế này là tù đày không có ngày về, tương lai gia đình, con cái mờ mịt, trong khi những người lạc quan thì suy nghĩ chỉ mươi lăm ngày một tháng là học tập xong, về lại với gia đình, trở lại với đời sống bình thường. Là một người lạc quan, trước khi xách túi rết đi trình diện, tôi còn dặn vợ tôi: “Anh đi ‘học tập’ mười ngày rồi về đi dạy học lại, có gì đâu mà em lo lắng!” Tôi còn lạc quan quá đỗi, đến nỗi chỉ mang đi 10 gói mì “Hai Con Cua” để ăn sáng, ngày mười một là có thể ung dung xơi cơm nhà rồi. Những ngày đầu đó, trong trại tù rất dễ xảy ra xung đột, có khi sắp xảy ra chuyện đánh nhau vì bất đồng ý kiến giữa hai phe lạc quan và bi quan. Anh lạc quan vẫn giữ ý kiến của mình, trong lòng nuôi hy vọng được trở về nhà sớm, khi nghe anh bi quan cho rằng thế này là ở tù mút mùa, thì sừng sộ, giận dữ. Bi quan quá đáng thì có lẽ không nên, nhưng anh chàng lạc quan tỏ ra không hiểu gì (Không dùng từ này), vẫn tin “những gì (Không dùng từ này) nói”. Cán bộ chiến tranh chính trị như bản thân người viết bài này mà còn ngây thơ, những ngày cuối tháng 4 năm 1975, còn ung dung không chịu xuống tàu tìm đường đi, nay mai có thể “đi dạy học lại”, để hệ lụy đau khổ cho gia đình, nói gì đến những người dân bình thường khác. Ðó là một thứ “lạc quan... tếu”, ngu dốt, khó được tha thứ. Như vậy người lạc quan cũng là người nhẹ dạ dễ tin người như thằng ngốc đi mua vịt trời.
Có phải trên thế giới hiện nay, quốc gia có con người lạc quan nhất là Việt Nam?
Tôi vẫn nghĩ rằng khi chúng ta lạc quan yêu đời, thì tâm hồn nhẹ nhàng thong thả, tử tế vui vẻ với người chung quanh, thì vì sao một dân tộc lạc quan... nhất thế giới, lại cộc cằn, quạu cọ sẵn sàng đánh nhau vì những chuyện không đâu. Cái đất nước có con người yêu đời... nhất hành tinh ấy, sao lại có thể sản sinh ra thứ hàng quán phở chửi, cháo quát, bún... lầm bầm rất là mất dạy hiện nay. Con người lạc quan sao có thể nói với nhau những lời thô lỗ, ghét bỏ, thù hận trong khi giao tiếp với nhau hằng ngày. Lạc quan sao con người lúc ra đường va chạm nhau, trong quán nhậu gây gổ nhau cũng có thể dễ dàng đưa đến án mạng giết người. Phải là những con người bất mãn, không bằng lòng với cuộc sống, bực mình, giận con cá mà chém cái thớt mới sinh ra tình trạng như vậy.
Ở một phương diện nào, nói người Việt Nam bằng lòng với cuộc sống, vì thỏa mãn với hiện tại cũng có phần đúng. Từ thời kỳ bao cấp bo bo, khoai sắn, tem phiếu, cô thầy giáo giữa giờ học bỏ học trò chạy lên văn phòng chia thịt, ngày nay chợ búa gạo thịt thả giàn, sao không vui. Thời “giải phóng” nhà nhà xe đạp, bây giờ xe hơi, xe gắn máy không có chỗ chen trên đường, sao không “hồ hởi”. Nhưng trong một xã hội, bây giờ vẫn con trâu cái cày mà vẫn làm vui, mò cua bắt ốc suốt ngày mà vẫn làm sướng, phải chăng đó là đạo sống ở đời. Ông cụ Ðặng Huyền, 98 tuổi ở Huế đang còn phải đạp xích lô kiếm cơm vẫn còn đạp xích lô dài dài; bà cụ Phạm Ðoàn, 76 tuổi ở Khánh Hòa, vẫn sáng sáng ngâm mình dưới biển lạnh để mò cua cho có bát cơm bỏ vào miệng, vẫn còn mò cua cho đến khi tắt thở; ông già mù Ðoàn Văn Thành mò mẫm đi bán vé số đề nuôi thân, còn bán vé số cho đến lúc Việt Nam tiến lên đỉnh cao xã hội chủ nghĩa “hưởng theo nhu cầu” có được mỗi ngày hai chén cháo mà khỏi đi làm. Ba ông, bà cụ mặc áo lụa do Tố Hữu đã cao hứng vẽ thành thơ để “tặng già” này đều là những người lạc quan cho đến chết. Cái lạc quan này làm tôi nhớ đến bốn chữ “an tâm tin tưởng” trong trại “cải tạo”, luôn luôn nói, luôn luôn khai báo mà ruột rối bòng bong. Nỗi đau khổ của dân tộc Việt Nam kéo dài đã mấy thế kỷ rồi, quả tim và tấm lòng chai đá không còn biết sướng, biết khổ nữa. Thời Tây cai trị lúc còn trẻ, khổ đã quen, bây giờ đến lúc già, còn lạ gì với khổ.
Thằng lớn thì nhà, xe, tiền bạc rủng rỉnh, dư ăn dư mặc phải chuyển ra nước ngoài; kẻ lình bình thì bia rượu, ăn nhậu thả giàn, gái non đầy dẫy; người nghèo khổ thì tin tưởng vào số mệnh, đất trời. Cái chính phủ này đúng là vận may vì có được một đám dân như thế, chịu đựng suốt đời, không đám bộc bạch, không hề thở than, nên cũng chẳng bao giờ dám ngóc đầu đứng dậy. Tiêu chuẩn của mỗi “hộ”, sau “giải phóng” do Phạm Văn Ðồng ao ước là “đủ nước chấm”, mỗi gia đình có một cái “phích nước”, bây giờ xe gắn máy không đủ đường mà chạy, còn mơ thiên đường chi nữa!
Làm cách mạng thì phe cánh, chúng với nhau, bán rừng, chia đất, còn làm ông chủ của đất nước rồi cũng cái cảnh “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”.
Ôi ngọt ngào biết mấy những chữ hạnh phúc, lạc quan, an tâm, tin tưởng mà không hề khao khát, không muốn một cuộc đời sáng sủa hơn, ung dung tự tại, mặc cho thế giới tiến bộ, dời đổi, con người lên đến cung trăng hay thám hiểm tận lòng đại dương. Sinh viên Trung Cộng ngoan ngoãn, an tâm như sinh viên Việt Nam thì làm gì có Thiên An Môn, ông Lech Walesa lạc quan, tin tưởng ngồi chờ thì làm gì có biến cố Ðông Âu.
Cứ lạc quan kiểu này thì mười năm nữa, “đầu tôm với ruột bầu” vẫn còn ngon, lối lạc quan không cần so sánh, không cần mở mắt, lối lạc quan mang nhãn hiệu Việt Nam, được chấm điểm là... nhất thế giới, là quay mặt vào vách, cúi đầu xuống, ngắm nghía, mân mê cái của mình đang có, mà chữ nghĩa đúng nhất dùng trong trường hợp này là thứ lạc quan... tự sướng.

Tạp ghi Huy Phương
=======================

Những Người Mới Tập ... Làm Giàu


Dạo này tôi đọc rất nhiều bài viết về đám cưới siêu sang, về những dàn xế hộp lộng lẫy rước dâu, rồi có những người ở Việt Nam mỗi ngày đi ăn sáng với mức giá 750000 VND / tô phở. Trong các comment phản hồi, tôi thấy thiên về 2 luồng ý kiến : Một là ngưỡng mộ, người ta làm ra tiền, người ta đáng được hưởng. Hai là cho rằng lãng phí, nên nghĩ cho người nghèo.


Tôi thử làm phép tính : 750000 đồng tương đương khoảng 35 USD, khoảng bằng giá bữa sáng buffet ở Đan Mạch. Nhưng ở VN, nó là số tiền mà một bạn sinh viên có thể chi xài trong nửa tháng (thậm chí 20 ngày), là số tiền mà những người nông dân đầu tắt mặt tối mơ ước có được để nuôi con ăn học, là số tiền mà những bệnh nhân ở bệnh viện ao ước để có thể có chén cháo trắng ăn uống qua ngày, là số tiền mà những trẻ em nghèo nẻo cao có thể mua được nhiều manh áo ấm cho qua mùa đông rét mướt, là số tiền mà những em bé mồ côi, những bệnh nhân HIV - AIDS có thể có thêm ít thuốc thang, là số tiền mà có thể lau bớt đi giọt nước mắt của những con người đang ở tận cùng cái khổ ... là ... là ... & …
Tôi ghét cay ghét đắng cái cách khoe mẽ của những con người mới tập làm giàu. Vì sao lại là tập làm giàu ? Đó là vì họ sinh ra trên một đất nước vừa may mắn được rút ra khỏi danh sách nước nghèo nhất thế giới. Nhưng đất nước ấy hiện nay đang đứng ở đâu ? Vị trí nào ? Bao nhiêu trẻ em không được đến trường ? Bao nhiêu bệnh nhân không tiền thuốc, tiền mổ đang hàng ngày chờ chết ? Bao nhiêu mái nhà xiêu vẹo chông chênh dưới lũ ? Bao nhiêu con sông chưa có nổi cây cầu ? Bao nhiêu người phó mặc cuộc đời trôi theo dòng chảy chỉ vì chữ tiền nheo nhóc đớn đau ?

Xin đừng nhìn vào những chiếc xe siêu sang để tự vỗ về mình rằng Việt Nam giờ nhiều người giàu lắm. Xin đừng nhìn vào những biệt thự xa hoa để quên đi rằng cái phần đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Tôi đã từng gặp nhiều người Việt Nam, họ tin rằng người Việt Nam giờ nhiều người giàu lắm, và họ cho tôi những ví dụ về những đám cưới xế hộp xịn, những ngôi nhà thiết kế hoành tráng ... Nhưng khi tôi hỏi có bao nhiêu người giàu ? Số biệt thự đó khi so sánh với số nhà còn lại tỷ lệ bao nhiêu, thì họ không trả lời được. Bởi vì, tỷ lệ ấy quá nhỏ thôi.

Khi tôi kể về những chuyện của những người Việt đang tập làm giàu tiêu tiền, tất cả bạn bè Tây của tôi đều bật cười như nghe tôi kể chuyện đùa. Nhiều người trong số họ đã từng đến Việt Nam, đã đến những nơi nghèo nhất và đã từng nhỏ nước mắt trước những em bé Sapa bé xíu cởi trần trong tiết trời sương giá. Nhiều người trong số đó đã hàng tháng đều đến những nơi đặt hộp quyên góp cho Việt Nam mà bỏ ống ủng hộ, nhiều người trong số đó đã luôn nhiệt liệt quan tâm khi Đan Mạch có những hoạt động tài trợ, ủng hộ Việt Nam không hoàn lại. Họ cảm thấy nực cười cho lớp người mới tập làm người giàu nhưng suy nghĩ còn nghèo ấy.

Nếu muốn so sánh ư ? Đan Mạch có thể coi là một trong những đất nước giàu nhất thế giới, hệ thống y tế xã hội tốt nhất thế giới. Hệ thống trường công tốt nhất thế giới. Cơ sở hạ tầng tốt nhất thế giới. Phúc lợi xã hội cao nhất thế giới. Và tỉ lệ tham nhũng cũng thường ở mức 0 (Các bạn có thể kiểm chứng những điều này từ mạng internet). Với một đất nước Bắc Âu có thể nói là gần như hoàn hảo về mọi phương diện ấy, bạn cũng hầu như không bao giờ bắt gặp trên đường những chiếc xe siêu sang ? Để loè ai ? Chẳng có ai mà loè cả. Vì đồng tiền ở đây không thể hiện đẳng cấp của bạn. Một người lao công bình thường cũng có thể kiêu hãnh làm hàng xóm với những bác sĩ. Và nếu bạn có dịp đến đây, hãy đi vào trong con phố chính, bạn sẽ thấy rất nhiều em bé 8-9 tuổi, tay cầm ống bơ giữa trời Đông tuyết trắng ? Trên áo họ là dòng chữ : Hãy ủng hộ trẻ em châu Phi. Hãy ủng hộ các bệnh nhân nghèo Đông Nam Á. Trong đó tất nhiên có Việt Nam chúng ta đó các bạn ạ !

Trúc Quỳnh, Copenhagen, Đan Mạch 2011/01/20
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 12 2011, 11:23 PM
Gửi vào: #23


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ngộ Đạo Đất Trời

Ông Tư bị ung thư và biết chắc không thể sống lâu hơn sáu tháng. Ông bình tĩnh chờ cái chết, và vui vẻ sống những ngày ngắn ngủi còn lại, mà không bi ai, không sợ hãi. Ông muốn sau khi chết, gia đình làm đám tang theo ý riêng của ông. Bà vợ nghe dặn dò cách thức làm đám tang kỳ dị, thì nói giọng buồn, với đôi mắt cầu khẩn:
- Em nghe nói ngày xưa ở Huế, người đàn bà đầu tiên đi xe đạp, bị cả thành phố phỉ nhổ, xem như là Me Tây, như kẻ phá hoại phong hóa nơi đất thần kinh. Cho đến khi chiếc xe gắn máy hiệu "Velo solex" ra đời, người đàn bà đầu tiên xử dụng, cũng bị xem như là thứ côn đồ, cao bồi du đãng, chẳng ai dám giao du thân mật. Đến như bà Thu, vốn là một công chúa, dù là con của vị phế đế, là người đàn bà có xe hơi, và lái xe hơi đầu tiên ở Huế, cũng bị thiên hạ nghi ngờ oan ức đến cái đức hạnh của bà, mà suốt đời không kiếm được một tấm chồng. Thế mà bây giờ, anh bảo em làm đám tang khác thiên hạ, không giống ai, thì chịu sao nổi lời tiếu đàm của bà con, họ hàng!
Ông Tư cười, nhìn vợ và nói :
- Cái gì cũng phải có khởi đầu, có người làm trước, về sau thiên hạ thấy hay mà làm theo. Không ai khởi đầu cả, thì làm sao có tiền lệ để mà bắt chước? Thời trước nếu không có cô, bà nào dám tiên phong leo lên xe đạp, thì bây giờ đàn bà đi bộ cho rã cẳng ra. Ngày nay, còn có ai xì xầm khi thấy các cô, các bà đi xe đạp, xe gắn máy và lái xe hơi đâu?
- Sao anh bắt em phải làm cái việc khác đời, cho tội cho nghiệp em. Em đâu phải là hạng người thừa gan dạ, để có thể phớt lờ dư luận, khen chê của thế gian ?
Ông Tư trả lời với giọng rất bình tĩnh:
- Chỉ là ước mong nhỏ nhoi cuối cuộc đời của anh, mà em cũng không giúp anh được sao? Ai có nói gì, thì em cứ bảo đó là ý nguyện của anh trước khi chết. Mà có lẽ, mọi người đều biết anh muốn như vậy, em khỏi cần giải thích cho ai. Em không làm theo ý nguyện, anh chết không nhắm mắt, làm sao linh hồn siêu thoát? Như thế, em không sợ anh về quấy phá em mãi sao?
Nghe đến đây, thì bà Hoa tái mặt. Bà vốn sợ ma, sợ người chết, sợ bóng tối, sợ sự thiêng liêng. Bây giờ ông chồng còn sống, bà có thể lấn áp, bắt nạt ông được, chứ sau khi ông chết rồi, thì bà phải chịu thua, phải sợ ông. Ông Tư biết tính vợ, nên đem ma quỷ ra mà dọa trước, may ra sau khi ông chết, thì bà chịu theo lời ước nguyện của ông.
Nếu có ai biết ông Tư đang cận kề cái chết mà ái ngại cho ông, thì ông cười vui mà an ủi họ - chứ không phải là họ an ủi ông - rằng, nếu tin theo đạo Chúa, thì khi chết được về thiên đàng, ngồi dưới chân Chúa, sung sướng thế sao mà ai cũng sợ chết? Nếu theo đạo Phật, thì khi chết cũng sẽ về Tây Phương Cực Lạc, vĩnh cửu an bình, thì mừng vui chứ sao lại bi ai? Và nếu nói theo đức Đạt Lai Lạt Ma, thì cái xác thân ở trần gian, có thể ví như bộ áo quần ta mang, khi nó đã sờn cũ, xấu xí, rách rưới mục nát rồi, thì nên bỏ đi, mà mang bộ áo quần khác, đại ý nói đi đầu thai kiếp khác, mang thân xác mới hơn. Ông Tư nói với bạn rằng, thân xác ông bây giờ như cái quần đã mục mông, rách đáy, không còn che được cái muốn che, thì phải bỏ đi, không xài nữa là hơn. Bởi vậy, ông bình tĩnh đón chờ cái chết cận kề. Khi biết ông bị ung thư sắp chết, thì phút đầu tiên, ông lặng người đi. Nhưng rất mau sau đó, ông nghĩ ra rằng bây giờ chỉ còn hai con đường để lựa chọn. Một là rầu rĩ bi ai, than thân trách phận, oán thán trời đất, làm cho những ngày ngắn ngủi còn lại trở thành u ám, khổ sở, muộn phiền. Hai là bình tĩnh chấp nhận điều không thể tránh được với thái độ tích cực, lạc quan, vui vẻ. Làm cho những ngày còn lại thành tươi vui, tốt đẹp và ý nghĩa hơn. Khi ra đi sẽ không có chút tiếc thương vướng bận. Ông chọn con đường sau, nên không buồn bã, không hoang mang, không bi ai. Ông thấy cuộc đời bỗng đáng yêu hơn, đẹp hơn. Ông mở lòng vui vẻ đón nhận từng thời khắc, từng ngày còn lại. Mỗi sáng dậy, ông ca hát nhạc vui, và nói chuyện khôi hài cùng vợ con. Ông cố làm đẹp lòng mọi người, vì ông nghĩ rằng, sau khi nhắm mắt nằm xuống, thì dù có muốn tử tế với những người thân thương, cũng không còn làm được nữa. Ban đầu, vợ con, gia đình, ai cũng ái ngại, nên cư xử tế nhị, dè dặt, gượng nhẹ với ông. Về sau, thấy thái độ bình tỉnh của ông, mọi người quên đi chuyện ông sắp xa lìa cõi đời nầy, mà cư xử với ông không khác gì người bình thường. Đôi khi bị vợ gắt gỏng, bị con giận hờn, bị bạn bè to tiếng, ông không buồn giận, mà cảm thấy tức cười, và thấy thương họ hơn.
Ông Tư dặn thêm vợ rằng đừng đăng báo, không đăng cáo phó gì cả. Đừng làm rộn, bận trí bà con gần xa, buộc họ phải thăm viếng. Không nên để phiền ai phúng điếu chia buồn. Ông đưa tờ báo cho bà, và nói:
- Em nhìn vào mấy cái cáo phó nầy đây, đọc thấy buồn cười : Chúng tôi đau đớn báo tin cho thân bằng quyến thuộc: Ông Nguyễn Văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày , tháng, năm, hưởng thọ 82 tuổi... Được Chúa gọi thì phải vui mừng, sung sướng, chứ sao lại đau đớn báo tin ? Về với Chúa là khổ lắm sao? Có đi tù cải tạo đâu mà đau buồn? Đáng ra phải cáo phó bằng câu : "Chúng tôi hoan hỉ báo tin cùng thân bằng quyến thuộc rằng, Ông Nguyễn văn Mỗ đã được Chúa gọi về vào ngày, tháng, năm,..". Và đây, một cáo phó khác, cũng "khóc báo" với thân bằng quyến thuộc là thân nhân chúng tôi đã về cõi Phật. Về cõi ma vương quỷ sứ mới khóc báo, chứ về cõi Phật, sướng quá, mà khóc cái nỗi gì?
Bà Hoa nhăn mặt nói :
- Anh đừng chi li bắt bẻ từng câu từng chữ . Đó là một lối nói thôi. Vì có ai biết chắc đi về đâu mà dám vui, buồn. Nhưng cứ cho là về thiên đàng, cực lạc, về với Chúa Phật, cho người sống an lòng. Không lẽ báo tin ông nội tôi được quỷ sứ rước đi rồi. Dù sống có gian ác đến đâu, khi chết cũng có quyền hy vọng về nơi lạc phúc, bình an.
Ông Tư lắc đầu nói tiếp :
- Em có thấy ông cụ Trương nằm liệt giường hai năm, không cử động được, như bị hành hình, cả nhà lao đao lận đận chăm sóc. Hai vợ chồng bác Thu con cụ, vì khổ nhọc quá, gây gỗ nhau, gia đình suýt tan vỡ. Khi cụ mất, cả nhà thở phào sung sướng cho cụ, và cho mọi người trong gia đình. Thế mà khi cáo phó, cũng đau đớn báo tin. Bà con bạn bè đăng báo chia buồn, cũng là vô cùng thương tiếc, vô cùng đau đớn. Tang gia mừng, mà bà con lại chia buồn. Bà con muốn cụ nằm đó mãi, để khổ thân cụ, khổ con cháu cụ lâu dài hơn nữa hay sao? Hay là họ không phải khổ cực chăm sóc cụ, không phải đau lòng khi thấy cụ nằm liệt ra đó, nên cụ chết họ buồn đau? Bởi thế, khi anh chết, anh không muốn cáo phó, không muốn ai phân ưu chia buồn. Chết cũng là một tiến trình của tự nhiên của trời đất, thì có chi mà phân ưu, chia buồn. Có ai sống mãi được?
Bà Hoa không đồng ý, nói lớn:
- Mất mát nào mà không đau buồn? Dù biết chắc rằng, ông cụ Trương chết là thoát được khổ đau đang hành hạ. Nhưng khi cụ mất, cả nhà cũng buồn vì mất cụ, mà vui vì cất đi được gánh nặng, bớt được mối thương tâm khi thấy người thân yêu của mình khổ cực nằm đó.
- Thế thì khi cụ mất, chắc chắn cả nhà vui nhiều hơn buồn, mừng nhiều hơn tiếc. Không ai dám nói mừng khi thấy thân nhân mình chết, vì sợ thiên hạ hiểu lầm, tiếu đàm. Thế thì đừng giả dối, nói là đau đớn, tiếc thương, mất mát. Mất cái gì mới ngại, chứ mất cái khổ đau hành hạ, thì cầu cho mất sớm, mất đi càng nhiều càng mau, càng tốt. Anh nghe nói người Lào có quan niệm rất hay về lẽ sống sự chết. Khi trong gia đình có người chết, họ không bao giờ khóc lóc rầu rĩ, mà bình tĩnh an nhiên, chắc rằng họ đã thấm nhuần cái lẽ thâm sâu của Phật giáo, biết chết là giải thoát, rũ sạch nợ đời.
Bà Hoa hỏi:
- Hay là đời sống dân họ đau khổ lầm than quá, nên chết đi là khỏe chăng? Chết là hết lo cơm áo, khỏi đói khát bệnh tật?
Bà Hoa nghĩ là ông Tư không thương bà đủ nhiều, nên cứ thản nhiên trước cái chết cận kề. Bà không biết làm sao chịu nỗi cảnh cô đơn khi sống thiếu ông trên đời. Ông Tư thường nói với bạn bè rằng, rồi ai cũng phải chết. Không chết sớm thì chết muộn. Không chết lúc ba bốn mươi, thì bảy tám chín chục tuổi cũng phải chết. Cuộc đời, có thể ví như một đêm, không đi ngủ lúc chín mười giờ, thì mười hai giờ, một giờ sáng cũng phải đi ngủ. Nếu đêm không vui, thì tội gì không đi ngủ sớm cho khỏe, mà phải thức để nỗi buồn gặm nhấm. Nếu đêm nay đau răng thì cố thức làm gì, ngủ sớm đi mà quên đau. Nhiều người sống với thái độ như sẽ không bao giờ chết, cho nên tích tụ của cải, bao nhiêu cũng không vừa, làm nhiều điều không đúng, không phải. Bởi vậy , khi biết mình sắp chết, thì hốt hoảng khóc lóc, bi ai, mà vẫn không tránh được. Nhiều vị vua chúa đời xưa cũng muốn sống đời, nên uồng thuốc trường sinh, mà ngộ độc chết sớm. Còn gia đình, thì thời gian đầu thấy thiếu vắng, mất mát, nhưng rồi sau cũng quen dần, vì phải lo lắng nhiều công việc khác trong một cuộc sống bình thường, không còn có thì giờ mà tiếc thương, mà bi ai. Phần người chết, buông tay là xong tất cả, bình yên vĩnh viễn. Không còn phải lo công việc làm ăn, lo cơm áo gạo tiền, không còn lo làm giàu, lo tích trữ của cải, không còn ghen tuông, giận hờn, không còn phải thức khuya học hành, hoặc viết văn làm thơ mệt nhọc, không còn theo đuổi mộng lớn mộng bé, không ưu tư dằn vặt vì thời thế, vì đất nước, quê hương... Bỏ hết. Tất cả cũng chỉ là tro bụi. Thiên hạ còn ngưỡng mộ, còn khen ngợi những anh hùng liệt sĩ trong lịch sử, nhưng chính các người nầy có còn biết gì nữa đâu? Cũng là một mớ xương khô mục nát, đâu có nghe, có cảm xúc, hân hoan, vui thú gì. Có ca ngợi, nhắc nhở thì để các thế hệ con cháu về sau noi gương người đi trước mà dìn giữ quê hương, mà sống cho đàng hoàng, cho nên người, đừng làm việc xấu xa đê tiện.
Ông Tư dặn vợ làm một đám tang đơn giản, không mở nắp hòm cho bạn bè thăm viếng nhìn mặt. Hát nhạc vui trong tang lễ, không khóc lóc, mà vui cười tự nhiên. Sau khi thiêu xong thì gởi tro xương về quê nhà, đừng xây mộ, đừng đắp bia. Bà Hoa thì chỉ muốn làm giống như tất cả mọi người. Ai làm sao mình làm vậy trong khả năng tài chánh của gia đình. Bà không muốn làm khác ai, để họ có thể nghị dị, bàn ra nói vào, thêm thắt thêu dệt. Nhưng bà cũng không nỡ từ chối ước nguyện cuối cùng của ông. Hai người con của ông bà, đứa con gái đầu thì tán thành, muốn làm theo ý kiến cũa bố, đứa con trai phản đối, vì sợ thiên hạ chê cười. Ông nói với con : Con nên vì bố, không nên vì thiên hạ. Ông Tư xin nghỉ việc, đi thăm bà con họ hàng, đến đâu ông cũng nói chuyện khôi hài, vui vẻ, nồng nàn với bạn bè bà con, thức đêm, uống rượu, hát hò, ngâm thơ, ăn uống không kiêng cữ. Theo ông, thì kiêng cũng chết, mà không kiêng cũng chết, chết sớm hơn vài tháng, vài tuần, cũng chẳng nghĩa lý gì. Còn chẳng bao lâu nữa, kiêng cữ làm chi cho khổ thân, cho đời mất đi một phần ý vị. Ông cho rằng, đã sống đến trên năm mươi tuổi là quá lời, quá đủ, không có gì để nuối tiếc. Thấy ông tươi vui, người biết ông có bệnh sắp chết, cũng quên mất là ông đang bệnh, người không biết bệnh trạng của ông, thì ông cũng không muốn nói ra làm gì. Ông đưa bà và hai con đi chơi một chuyến trên du thuyền. Ông tham gia các cuộc chơi tập thể trên du thuyền như hát hò, nhảy múa ca hát, tham gia các buổi hòa nhạc, uống rượu, cho đến khi mãn cuộc. Ông vui vẻ, bình tĩnh đến nỗi nhiều khi bà quên mất là vợ chồng không còn bên nhau bao lâu nữa.
Ông Tư chuẩn bị tinh thần cho vợ, cho con, để chấp nhận một sự thực không tránh được. Chấp nhận với sự bình tĩnh, sáng suốt, không vui vẻ nhưng không bi ai. Có người nói cho ông Tư nghe về kinh nghiệm của những kẻ đã chết thật rồi, mà sống lại nhờ sự mầu nhiệm nào đó. Rằng khi chết, thì thấy mình đi vào một vùng ánh sáng lạ, rất hân hoan sung sướng, khoái cảm tràn trề. Bỡi vậy, nên người đã trải qua cận tử, thì không cón sợ chết nữa, mà đón nhận như là một ân huệ của trời đất. Ông Tư không tin chuyện cận tử, vì ông vốn con người thực tế và lý trí, cái gì chưa kiểm nghiệm được thì chưa tin. Nhưng cho rằng, nếu được như vậy thì càng tốt. Nếu không được vậy, thì cũng thôi.
Cuộc đời ông Tư đã trải qua nhiều giai đoạn sướng khổ. Chưa xong đại học thì bị kêu đi lính, tham dự những trận chiến kinh hoàng, ngày đêm trấn đóng nơi ma thiêng nước độc, đã từng bị bắt làm tù binh, đã vượt ngục. Khi miền Nam thua trận, phải đi tù nhiều năm. Đã sống trong chế độ hà khắc kìm kẹp, bữa đói bữa no. Đã đi qua biển tìm tự do. Và ước nguyện rằng, được sống thêm một ngày trong xứ tự do, thì có chết cũng không có gì tiếc nuối. Thế mà ông đã sống thêm được nhiều năm trong một xã hội có tự do, dân chủ. Con người được pháp luật bảo vệ, tôn trọng. Ông biết ơn trời đất đã cho ông cái phần thưởng vô cùng quý giá đó trong nhiều năm qua.
Ông Tư chỉ là một người bình thường, có đủ cả tốt xấu. Có chút rượu chè, nhưng không ghiền và say sưa. Khi vui bạn vui bè, thì ai đến đâu, ông đến đó. Ông hòa đồng cùng đám đông. Thỉnh thoảng ăn nhậu cùng bạn bè, nói chuyện trời đất, vui chơi. Cờ bạc ông cũng có chút chút, từ xì phé, bài cào, cờ tướng, cờ vua, đi sòng bài. Nhiều khi ông xoa mạt chược cùng bạn bè, một mạch từ sáng thứ bảy cho đến chiều Chúa nhật mới thôi, ai về nhà nấy để chuẩn bị cho ngày đi làm vào thứ hai. Ông không mê, không lậm, biết dừng lại đúng lúc, không phải khi thua cờ bạc thì nóng mặt cố gỡ, và gỡ cho đến bán nhà. Trai gái ông cũng có, nhưng không làm hại đến ai, biết giới hạn của cuộc chơi. Không làm khổ vợ con, không gây khổ đau cho người khác phái. Thuốc lá, cà phê hàng ngày, ông không ghiền, nhưng cũng không bỏ hút thuốc. Ông Tư còn có chút máu nghệ sĩ . Ông thổi kèn hắc tiêu rất đạt, nên lâu lâu theo người bạn Mỹ gốc Phi Châu đến các hộp đêm thổi kèn chơi, không lấy thù lao. Ông có chân trong một ban nhạc tài tử, lâu lâu đi trình diễn ở các nơi công cộng. Ông Tư có sáng tác vài bản nhạc, nhưng không ai hát, và hát không ai nghe, không ai khen, nên ông không sáng tác nữa. Ông Tư cũng thích đọc truyện, đọc thơ. Ông cũng có làm thơ, nhưng bà Hoa là vợ ông, khuyên đừng để cho ai biết những bài thơ đó do ông viết, vì người sợ người ta cười lây cả bà. Ông nghe vợ chê, nản lòng, không muốn làm thơ nữa. Tuy nhiên, có nhiều khi cao hứng, không cầm được cảm xúc, ông cũng làm thơ chơi, và dấu kín, vì sợ vợ đọc được chê bai .
Một người bạn của ông Tư cũng thích thơ phú, thường cùng ông ngâm vịnh khi nhàn tản, một hôm nghe ông nói về quan niệm cuộc đời, lẽ sống và cái chết. Ông nầy ngồi nghe mà đờ ra, và nói:
- Bác chờ chút, tôi lục tìm bài thơ của một ông bạn tôi, sao mà ý tưởng của bác với ông kia trùng nhau, như cùng học một sách. Kỳ lạ ghê. Lần đầu đọc bài thơ nầy, tôi khoái quá, phải xin ông bạn cho tôi mượn, chạy ra phố, chụp lấy một bản, còn cất giữ đây.
Ông Tư cầm lấy bài thơ dài, vừa đọc vừa gật gù, đọc xong ông vỗ đùi sung sướng, nói:
- Tuyệt. Hoàn toàn giống hệt suy nghĩ của tôi. Bác đem tôi đến giới thiệu tác giả bài thơ nầy đi. Bác xem đấy, đâu phải một mình tôi suy nghĩ khác đời đâu. Có nhiều người cùng một ý nghĩ, nhưng không dám nói ra, không dám thi hành. Đúng như cụ Nguyễn Công Trứ có viết là chỗ ta ngồi hiện tại, người xưa đã ngồi rồi. Tôi dốt chữ Hán, nhớ mang máng hình như là Ngã kim nhật tại tọa chi địa, cổ chi nhân tằn tiện ngã tọa chi . Mấy ông Tây cũng từng viết là dưới ánh mặt trời nầy, không có cái gì mới cả. Những suy nghĩ của tôi về cái chết, sự sống, người xưa cũng đã viết nhiều, tàng ẩn bàng bạc trong kinh Thánh, kinh Phật. Ngày xưa khi còn nhỏ, bố mẹ tôi gởi tôi vào học nội trú trường đạo Thiên Chúa, mỗi ngày mỗi đêm đều đọc kinh Thánh. Hồi đó tôi không hiểu hết ý nghĩa của kinh, tôi tưởng lầm đọc kinh là ngày đêm kêu gào sự xót thương của Chúa. Tuổi trẻ ngu muội và ngông cuồng nên tôi không có cảm tình với chuyện kinh kệ, nhưng khi lớn lên, đọc lại kinh Thánh, tôi thấy hay quá ông ạ. Lời kinh an ủi, vỗ về con người trong khổ đau, trong bước đường hoạn nạn, khi gặp cam go chìm nổi, tìm được yên bình để chịu đựng mà hy vọng qua khỏi nghịch cảnh .
Ông bạn cười, nói:
- Tôi thấy nhà bác thờ Phật, mà lại nói chuyện Chúa rành rẽ. Bác có theo đạo Cao Đài hay không?
- Không phải đạo Cao Đài, nhưng Phật Chúa gì cũng hoan nghênh. Bà xã tôi vẫn thường đi chùa. Ngày xưa khi còn trong quân đội, đóng quân giữa núi rừng, mẹ tôi gởi cho mấy bộ kinh Phật, không có sách vở, báo chí, buồn mà đọc chơi. Không có tâm tu hành, nhưng đọc mãi, nó thấm vào trong tư tưởng lúc nào không hay. Bởi vậy, tôi có quan niệm rất rõ ràng về sự sống, cái chết, và bình tĩnh đón nhận như một lẽ thường của trời đất, tạo hóa.
Hai người đang nói chuyện, thì có bà bạn ghé chơi. Bà nầy yêu cầu ông Tư và bạn ông đóng tiền để mua đất chôn cất và xây mộ cho một người đồng hương Việt Nam nghèo mới chết. Gia đình không đủ tiền để làm ma chay và mua đất chôn ở nghĩa trang. Ông Tư móc ví, đóng ba chục đồng, và nói:
- Kêu gọi thì tôi đóng tiền, chứ thực tình trong lòng tôi nghĩ khác. Chết thì hỏa thiêu là đẹp nhất, tốt nhất và lại vệ sinh. Chôn xuống đất cho dòi bọ nó rúc rỉa, cho sình thối chứ có được gì. Một vạn cái xác, mới có được một cái không thối rữa, mà cũng khô đét nằm nhăn răng ra, hôi hám xấu xí. Nằm chật chội trong tối tăm âm u, dưới đất lạnh lẽo, chứ có sung sướng gì đâu. Rồi lâu ngày, thịt da cũng rữa, xương cũng mục. Được bao nhiêu năm? Mà cứ nghĩ kỹ xem, nếu mỗi người chết phải có một nấm mồ chừng hai thước vuông, thì trên thế giới nầy từ triệu năm trước đến nay, và nhiều triệu năm sau nữa, tỉ tỉ người đã chết và sẽ chết, lấy đâu ra đất mà chôn. Không lẽ cả thế giới nầy chẵng còn một tấc đất mà trồng trọt, nhịn đói chết hết sao? Nhiều xứ văn minh hiện nay, người ta thiêu xác. Bên Nhật, bên Tàu, Ấn Độ và nhiều xứ khác nữa, người chết được hỏa thiêu. Đạo Phật chính tông, thì các tăng ni đều được hỏa táng, nhưng những người theo đạo Phật nửa vời, thì lại chôn cất. Bày đặt ma chay linh đình cho thêm tốn kém.
Bạn ông Tư hỏi:
- Có phải người theo đạo Chúa không dám hỏa táng? Nghe đâu họ tin có ngày phán xét cuối cùng, và được sống lại. Bởi vậy nên phải giữ thân thể, không muốn thiêu tan thành tro bụi.
Ông Tư cười lớn nói:
- Chờ đến ngày phán xét cuối cùng, thì sắt đá cũng đã mủn ra tro bụi, nói chi đến cái thân xác mong manh? Có lẽ những mê tín, kém hiểu biết, diễn dịch sai ý nghĩa của kinh Thánh chăng? Mà dù cho xương cốt có còn, thì cũng chỉ là bộ xương cũ mục, làm sao mà sống lại trên bộ xương đó được?
- Nghe đâu các nghĩa trang cũng chỉ bán đất trong vòng một trăm năm thôi- Bà bạn bàn thêm - Sau một trăm năm thì không biết họ có đào lên, đem chôn ở hố tập thể, hoặc đem thiêu đốt đi chăng? Nhưng khi mua đất chôn, thân nhân, không nghe ai nói đến điều nầy. Mà dù cho chủ nghĩa trang có hứa miệng là bán đất vĩnh viễn, thì sau một trăm năm, họ đào bỏ đi, cũng chẵng ai hoài công đi kiện. Lời hứa trăm năm trước con cháu không nghe, không còn chứng cớ, cả người hứa hẹn lẫn người nghe hứa hẹn, đã chết từ lâu. Mà có lẽ con cháu cũng vì lo làm ăn, sinh kế, đi tứ tán, không ai còn đoái hoài chi đến mấy ngôi mộ của tiền nhân trong các nghĩa trang đây đó.
Bạn ông Tư nói:
- Trong phim tài liệu về Tây Tạng, ở đó đạo Phật là quốc giáo, ông Phật sống cai trị dân như vua. Khi có người chết, thì họ quàng dây kéo lê lên núi, sau đó mấy ông chuyên môn chặt xác chết ra nhiều khúc, và ném cho chim kên kên ăn. Trông khiếp lắm. Không biết họ làm như thế, có đau lòng thân nhân ? Rõ như câu nguyền rủa ở xứ mình là chim tha quạ rỉa.
- Chẳng có đau lòng chi cả - Ông Tư bàn thêm - Bên đó toàn đá núi cứng. Muốn đào đá ra làm huyệt mộ cũng quá cực khổ. Thân nhân người chết, dẫu có muốn chôn cất đến mấy cũng không ai làm nổi việc đó. Cho chim ăn là tiện nhất. Có điều, không biết làm sao chim kên kên không lây bệnh người chết, biết bao nhiêu là bệnh nan y, vi trùng, vi khuẩn. Bởi thế, nên tôi cho hỏa thiêu là sạch sẽ và tiện lợi nhất.
Câu chuyện bàn rộng đến phong trào Việt Kiều về quê xây lăng mộ cho thân nhân, cho tổ tiên, đến nỗi có nhiều làng thi đua xây cất cho nguy nga, cho to lớn. Thấy lăng mộ người khác lớn hơn, thì đập cái cũ ra, xây lại cho lớn, cho đồ sộ hơn. Có nơi người ta đặt tên là Làng Ma, vì toàn cả lăng mộ. Ông Tư cho rằng, xây lại mồ mả cho tổ tiên để báo hiếu, cũng là một hành động tốt, không có chi sai trái. Nhưng thi đua nhau xây và xây cất có tính cách phô trương thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Liệu những phần mộ kia đứng vững được bao nhiêu năm, và còn được con cháu chăm sóc đến bao giờ? Rồi cũng có ngày trở thành hoang phế, chẵng ai đoái hoài đến, mà mục rữa với thời gian. May ra, những nơi thiêng liêng như đền quốc tổ Hùng Vương, lăng mộ các bậc anh hùng giữ nước, dựng nước, mới được con cháu tiếp tục tu sửa chăm nom. Thế mà cũng có còn tả tơi, tàn tạ, không ai chăm nom. Huống chi mình, là thứ thường dân, vô danh tiểu tốt, chưa làm được gì. Chưa kể những kẻ là tội đồ của dân tộc, bày đặt xây lăng ướp xác, như các ông lãnh tụ (Không dùng từ này) từ Âu sang Á, từ từ rồi mồ mả cũng bị phá bỏ , san bằng. Bởi thế, ông Tư dặn vợ con đừng xây mộ, tạc bia cho ông làm chi.
Ông Tư mượn bài thơ của ông bạn về đánh máy và sắp xếp lại cho đẹp, in ra nhiều bản, phóng ra một bản lớn, để dành khi ông chết sẽ sử dụng.
Chỉ bốn tháng, sau khi được báo tin ung thư, ông Tư qua đời mà không đau đớn nhiều, không dùng hóa học trị liệu trước khi chết. Có người mách cho ông nhiều loại thuốc ngoại khoa, ông cũng dùng thử. Trong giới bạn bè thân tình, có người nói là ông Tư đã tự chọn lấy con đường ra đi nhẹ nhàng, không để bệnh hoạn hành hạ trước khi chết. Ông Tư thường đùa rằng, còn nước thì còn tát, biết là dù có tát thì thuyền cũng chìm, thì quẳng gàu đi cho đỡ mệt trước khi thuyền chìm.
Bà con bạn bè đến viếng tang ông Tư tại nhà, khi bước vào cổng, họ cố sửa soạn lại bộ mặt cho có vẻ buồn rầu, nghiêm nghị, để hợp với cảnh tang ma, dù trong lòng họ không có chút bi ai nào. Nhưng họ nghe có tiếng nhạc vui đang rộn rã vẳng ra từ bên trong, hòa với tiếng nhạc là tiếng cười vui vang vang, tiếng ồn ào. Người nào cũng giật mình, vội vã xem kỹ lại số nhà, sợ đi lầm .
Vào nhà, mỗi khách viếng tang được phát một tờ giấy màu hồng, bên trên ghi bài thơ Khi Tôi Chết . Bài thơ cũng được chụp phóng lớn, dán trên tấm bảng che kín cả một bức tường. Khách và chủ đang vui vẻ chuyện trò, cười đùa. Không thấy quan tài ông Tư đâu cả. Trên bệ thờ có cái ảnh ông Tư phóng lớn, miệng cười toe toét, tóc bù gió lộng. Trước tấm ảnh có cái hộp vuông chứa tro xương của ông Tư. Tiếng nhạc vui vang vang từ máy hát. Bài thơ in đậm nét:
-
Khi Tôi Chết
Khi tôi chết, viếng tang đừng buồn bã
Cười cho to, kể chuyện tếu vui đùa ,
Trong sáu tấm biết chắc tôi hả dạ,
Lên tinh thần, ấm áp buổi tiễn đưa,
Nếu làm biếng, cứ nằm nhà thoải mái
Viếng thăm chi, vài phút có thêm gì ?
Mắt đã nhắm. Lạnh thân. Da bầm tái .
Dẫu bôi son, trát phấn cũng thâm chì .
Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó,
Ai thay da mãi mãi sống trăm đời .
Kẻ trước người sau, xếp hàng xuống mộ
Biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi .
Nếu có khóc, khóc cho người còn lại,
Bởi từ nay thiếu vắng nỗi đầy vơi .
Cũng mất mát, dáng hình , lời thân ái
Tựa nương nhau, hụt hẫng giữa đất trời .
Đừng đăng báo, phân ưu lời cáo phó
Chuyện thường tình, phí giấy có ích chi ?
Gởi mua gạo, giúp người nghèo đói khó
Dịu đau buồn những kiếp sống hàn vi,
Trổi nhạc vui cho người người ý thức,
Cuộc nhân sinh sống chết cũng tương đồng,
Khi nằm xuống, xuôi tay và nhắm mắt
Thì đau buồn hạnh phúc cũng hư không .
Đừng xây mộ, khắc bia ghi tên tuổi
Vài trăm năm hoang vắng, chẳng ai hoài .
Vũ trụ vô cùng, thời gian tiếp nối,
Tỉ tỉ người đã chết tự sơ khai
Khi tôi chết đừng ma chay đình đám,
Hỏa thiêu tàn, tro xác gởi về quê
Dẫu bốn biển, cũng là nhà, bầu bạn
Trong tôi còn tha thiết chút tình mê
Thì cũng C, H, O, N kết lại
Nắm tro xương hài cốt khác nhau gì
Nhưng đất mẹ chan hòa niềm thân ái
Cho tôi về, dù cát bụi vô tri .

Khi đọc xong bài thơ, có người thì mỉm cười, có người vui hẵn, và nói chuyện oang oang. Họ cho rằng bài thơ đã nói hết ý nguyện của người chết. Người chết không muốn bạn bè buồn rầu, thương tiếc, thì việc chi mà lại làm bộ, gượng gạo tạo ra nét buồn khổ trên mặt . Vợ con người chết cũng không tỏ vẻ buồn rầu, mà cũng không hớn hở. Không một tiếng khóc lóc, thở than. Nhạc vui vẫn dồn dập phát ra từ máy vang dội. Khi khách đã đến chật nhà, và đúng giờ cử hành tang lễ, bà vợ ông Tư và đứa con trai mang áo quần trắng đứng chắp tay bên bàn thờ, cô con gái đứng bên tấm ảnh ông, cầm máy vi âm nhoẻn miệng cười và nói:
-Thưa các cụ, cô bác chú dì, bà con bạn bè thân thiết xa gần, chúng tôi xin cám ơn quý vị đã có lòng đến viếng tang Ba chúng tôi. Tang lễ nầy làm theo ý nguyện của người quá cố. Không làm tang lễ theo tục lệ bình thường, vì sợ trái với ước vọng cuối cùng của Ba chúng tôi. Chúng tôi xin nhận lấy mọi lời trách móc nếu có từ bà con bạn bè. Ba chúng tôi đã bình tĩnh và vui vẻ đón cái chết như một sự trở về không tránh được . Trong những ngày cuối của cuộc đời, Ba chúng tôi rất vui, chuẩn bị kỹ cho gia đình và cho chính ông. Ông đã dặn dò chúng tôi, không nên khóc lóc, không nên buồn rầu, vì sự thực không có chi đáng buồn cả. Ông dặn chúng tôi vặn cuốn băng sau đây cho bà con cô bác nghe.
Người con gái đến bên bàn thờ, bật máy , có tiếng ông Tư cười hăng hắc vui vẻ, làm một số người không cầm được, cũng cười theo. Một vài bà yếu bóng vía sợ xanh mặt. Sau tiếng cười chào, thì có tiếng ông Tư dọc bài thơ dán trên tường, giọng đọc rất chậm rãi, rõ ràng, như đang nói chuyện thủ thỉ với bạn bè. Mọi người im lặng lắng nghe, người thì nghiêm trang, người thì mỉm cười. Giọng Huế của ông Tư đọc chậm và ngân dài những đoạn ông đắc ý : Tôi đi trước, hẹn gặp nhau ở đó . Ai thay da mãi mãi sống muôn đời, Kẻ trước người sau xếp hàng xuống mộ, biết đâu là khởi điểm cuộc rong chơi. Cuối cùng, có một tràng cười ha ha của ông Tư để chấm dứt bài thơ. Sau bài thơ, có ba ông người Mỹ, hai ông da đen, một ông da trắng, cầm đàn và kèn trổi lên mấy khúc nhạc vui, các ông nhún nhẩy uốn éo, nhiều lúc dậm chân xuống sàn. Ba ông cùng lúc lắc, làm hàng một, đi quanh phòng khách, như múa lượn trước bàn thờ ông Tư. Những ông nầy, là bạn chơi nhạc với ông Tư tại các quán ca nhạc ban đêm.
Bỗng nhiên, bà chị ông Tư nhào ra, lăn lộn trước bàn thờ mà khóc lóc gào lớn:
- Cậu Tư ơi là cậu Tư. Chúng nó đem cái chết của cậu ra mà bêu rếu họ hàng. Vợ cậu muốn đi lấy chồng sớm nên bày ra cái cảnh chướng tai gai mắt nầy. Con cậu cũng là thứ bất hiếu bất mục, cha chết mà không có một giọt nước mắt, còn cười nói lung tung. Chỉ có tôi là chị cậu, thương cậu thật tình thôi, ruột đứt lòng đau, nên khóc than đây.
Ông chồng chạy đến ôm bà kéo ra, và nhỏ nhẹ giải bày. Bà vùng vằng và càng khóc lớn hơn, xỉ vả bà Tư những câu tục tĩu nặng nề. Bà Tư ôm mặt khóc lóc. Bà chị chồng nói lớn: Mai mốt chúng mày chết, bà đến phóng uế lên hòm chúng mầy. Nhiều người bà con đến phụ ông chồng lôi bà chị ông Tư ra xe chạy đi.
Khách viếng tang lảng ra, và có người lẳng lặng ra về không chào hỏi ai, vì sợ gia quyến ngượng ngùng. Cô con gái ông Tư đứng ra xin lỗi mọi người vì chuyện không may, không vui vừa xẩy ra.
Một bạn thân của ông Tư, quen nhau từ thuở trung học, đại diện bà con, đến trước bàn thờ, vỗ vào hộp tro xương, cười ha hả và nói:
- Tư ơi, ông là số một rồi đó, chả có ai bằng ông. Ông hiểu tận tường lẽ huyền vi của tạo hóa. Sống cũng vui, mà chết cũng vui. Sống cũng dám làm, mà chết rồi cũng dám làm, và làm được. Tôi cũng ước mong rằng, sau khi chết, vợ con làm cho tôi một đám tang như thế nầy, thì vô cùng sung sướng. Tưởng ông nói đùa chơi, ai ngờ làm thật.
Một vị mục sư là bạn thân của gia đình, cũng đến trước bàn thờ, và đoan chắc rằng bây giờ ông Tư đã được về với Thiên Chúa. Ông cho rằng thái độ của ông Tư trước cái chết rất sáng suốt, đáng khâm phục, và đáng được mọi người noi theo. Một vị sư già, có bà con họ hàng với ông Tư, đã từng viết nhiều sách Phật và rao giảng đạo từ bi, nói trước linh vị :
- Bần đạo không cần đọc kinh cầu siêu cho thí chủ. Bỡi linh hồn thí chủ đã thực sự siêu thoát trước khi chết. Thí chủ không vướng bận cõi trần, không hệ lụy vào cái thân xác tạm bợ. Thanh thản ra đi như kẻ đi chơi, thong dong, dễ dàng. Thí chủ đã hiểu thấu đáo cái lẽ vô thường trong đạo pháp.
Mọi người ra về, lòng nhẹ nhàng, tưởng như đi trong mơ. Từ phía nhà ông Tư, còn vang vọng nhạc vui đưa tiễn đám tang khách.
Sau tang lễ, bà Hoa vợ ông Tư thở phào. Bà vui mừng vì đã làm được đúng lời căn dặn của chồng mà không bị tai tiếng. Bà chỉ sợ tai tiếng thôi. May mắn, đa số bà con đều tán thành nghi thức tang lễ, và nếu không tán thành, họ cũng im lặng, chỉ có bà chị ông Tư gây rắc rối thôi.
Nắm tro xương của ông Tư được vợ con gói kỹ bốn năm lớp, bỏ vào hộp bằng chất nhựa dày, để cho khỏi vỡ, rồi gởi bảo đảm về Việt Nam . Chiếc xe chở hàng của hãng vận chuyển bị tai nạn trên đường ra phi trường. Xe rơi từ cầu xa lộ cao ba từng xuống đất, thùng xe vỡ nát, hàng hóa tung vung vãi, rách nát, cháy xém. Anh tài xế gãy hết tay chân và xương sống, hấp hối. Người ta đồn rằng anh tài xế buồn vì bị vợ cắm sừng, đã uống rượu say xỉn, không điều khiển được tay lái. Cái hộp tro xương của ông Tư bị rách và cháy xém mất một phần địa chỉ, được gởi lầm đi ngao du qua xứ Nambia bên Phi Châu. Cô con gái ông Tư hỏi tin tức bên nhà hàng ngày, qua liên mạng máy vi tính, về cái hộp tro xương, mãi đến hai ba tháng vẫn chưa nhận được. Bà Hoa viết nhiều thơ khiếu nại hãng chuyên chở. Họ trả lời là sẽ bồi thường cho bà hai trăm sáu mươi tám đồng. Bà Tư khóc lóc, thuê luật sư đâm đơn kiện. Sáu tháng sau, nhờ còn có địa chỉ người gởi, nên cái hộp tro xương được hoàn trả cho gia đình, với ghi chú là không có địa chỉ người nhận. Bà Hoa mừng ôm cái hộp mà khóc ròng.
Lần nầy, bà Hoa quyết định tự tay đem hộp tro xương ông chồng về tận Việt Nam . Bà sợ thất lạc thêm lần nữa, thì tấm lòng hoài.


Tràm Cà Mau



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 22 2011, 10:44 PM
Gửi vào: #24


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ý NGHĨA THỰC SỰ CỦA CUỘC ĐỜI



"Chúng ta là những lữ khách trên hành tinh này.
Chúng ta có mặt ở đây nhiều lắm là chín mươi hay một trăm năm.
Trong quãng thời gian đó, với cuộc đời của chúng ta,
ta phải cố gắng làm những điều tốt lành và ích lợi.
Nếu quý vị góp phần vào việc mang lại hạnh phúc cho người khác,
quý vị sẽ tìm thấy mục đích chân thực, ý nghĩa thực sự của cuộc đời."


Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14



THE TRUE MEANING OF LIFE



We are visitors on this planet.

We are here for ninety or one hundred years at the very most.

During that period, we must try to do something good, something useful, with our lives.

If you contribute to other people’ s happiness,

you will find the true goal, the true meaning of life."


H. H. The 14th Dalai Lama


Có người hỏi Đức Dalai Lama:
"Điều gì làm Ngài ngạc nhiên nhất ở nhân loại?"
Ngài trả lời:
" Con người … bởi vì con người phung phí sức khỏe để tích tiền của, rồi lại bỏ tiền ra để tìm mua lại sức khỏe.
Và vì quá lo nghĩ cho tương lai, con người quên mất hiện tại, đến nỗi không sống với hiện tại lẫn tương lai.
Con người sống như thể sẽ không bao giờ chết … Nhưng rồi sẽ chết như chưa từng sống bao giờ."

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
NIỆM PHẬT LÀ ĐANG SỐNG TỪNG GIÂY PHÚT
H.H.

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Feb 22 2011, 10:56 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 24 2011, 03:35 AM
Gửi vào: #25


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Mời đọc ̣để suy ngẫm....

Lee Tran Nguyen




Phóng sự của Đài BBC của Anh, Alastair Leithead từ Hà nội gởi về nói về dân nhà giàu ăn chơi. Tựa đề phóng sự là “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam (Không dùng từ này)”. Chơi xe máy dầu Harley Davidson mà một thành viên người ngoại quốc của câu lạc bộ nhận xét "Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới." Chơi xe hơi mắc, mới, lạ không thể tưởng. Xe Porsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người đặt hàng mua.

Tin RFA, thống kê của Bộ Công thương của CS Hà nội công bố trong năm 2010, Việt Nam CS đã “nhập khẩu“ những mặt hàng xa xỉ lên đến 10 tỷ đô la. Ô tô và xe máy chỉ chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như: điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm 9 tỷ đô la.

Số triệu, tỷ phú đô la nổi ở trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay để đi nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dấu kín. Đó là những cán bộ đảng viên có quyền khi tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ cướp được của đất nước và nhân dân nhiều vô số kể.

Làm gì trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, một thiểu số 3 triệu 6 cán bộ đảng viên CS không hối mại quyền thế, tham ô nhũng lạm, dĩ công vi tư khi họ đang cầm quyền, nắm tiền, nắm của của nước Việt Nam. Họ giàu có, thừa mứa, mỗi năm xài hết 10 tỷ Mỹ kim cho hàng “nhập” xa xí. Họ là những người làm giàu nhờ nguời dân trong nước thì khi người dân gặp thiên tai thì họ là người phải gíup trả lại một phần cho cộng đồng chớ.

Người Việt hải ngoại đâu có giàu như họ, phải làm việc một tuần 40 giờ, hàng chục thứ hoá đơn phải trả, đóng thuế cao, đâu có được hưởng quyền lợi gì ở VN như họ, tại sao khi có thiên tai thì lại bị kêu gọi góp tiền đem về cứu trợ.

Hỏi có người Việt Hải ngoại nào ăn tô phở bò 35 Đô mắc như vàng, đi xe máy dầu loại dầu Harley Davidson hạng sang, xe hơi Porsche hai cầu, Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người chủ mua. Có mấy người mua Iphone 4 mới ra giá tương đương 900 Đô.

Thử tính sơ đi, sẽ thấy cán bộ, đảng viên và những người ăn theo trong nước ###### giàu thế nào trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái thời Đảng Nhà Nước và bọn tài phiệt theo cướp của quốc gia, bóc lột công người lao động như thời kinh tế tư bản hoang.

Từ hải ngoại, người Việt hải ngoại cũng đóng góp cho cái giàu của đảng viên, cán bộ và bọn tài phiệt ăn theo trong nước. Mỗi năm “Việt Kiều” gởi về nước 8 tỷ Đô và về chơi mang theo để xài tối thiểu cũng 6 tỷ nữa ( 300,000 người về, mỗi người tốn 2000$ để xài). Liên Hiệp Quốc viện trợ 3 tỷ. Sơ sơ Đảng Nhà Nước thu được 17 tỷ là giá chót. Đó là chưa nói số ngoại tệ Đảng Nhà Nước bòn vét tài nguyên dầu khí, cao su, gạo, v.v đem bán thô cho ngoại quốc. Phải hàng chục tỷ nữa.

Nếu so sánh với chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà thời trước 75 ở Miền Nam mới thấy CS họ hoang phí vô độ. Việt Nam Cộng Hoà khi xưa chỉ nhận viện trợ dân sự 700 triệu Mỹ Kim mà phải lo cho 17 triệu dân với giáo dục công lập, y tế công cộng miễn phí. Tài trợ cho đồng bào Miền Trung ăn gạo giá có thể chịu được.

Thế nhưng khi có thiên tai bão lụt, nhân dân và chánh quyền đùm bọc lấy nhau, đâu có ngửa tay xin ngoại quốc. Và công dân VNCH lên máy bay đi ngoại được các nước xem là công dân của một nước có nền kinh tế phát triển, hơn Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan.

Còn bây giờ, Đảng Nhà Nước (Không dùng từ này) Hà nội là cơ quan có nhiệm vụ pháp lý và đạo lý phải lo cứu trợ. Luật CS Hà nội qui định không tổ chức nào trong và ngoài nước được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Thế mà Đảng Nhà Nước giàu nứt đổ đổ vách lại lơ là không làm. Mà người Việt Hải ngoại đi làm một việc Đảng Nhà Nước CS cấm không cho làm.

Người Việt hải ngoại làm là trái luật của CS Hà nội. Nên đa số thu tiền ở hải ngoại đem về nước làm từ thiện đều tuyên bố khi thu rằng sẽ giúp trực tiếp cho dân. Nhưng kinh nghiệm cho thấy tất cả đều phải qua nhà cầm quyền CS ở địa phương mới đi đứng, gặp gỡ người cần gíúp được. Ở trong xứ CS không thể họp dân mà nhà cầm quyền không hay biết.

Trong việc cứu trợ nhà cầm quyền địa phương có uyển chuyển với những người ngoại quốc vì có lợi cho họ. Họ không đòi hỏi phải giao tiền và quà cứu trợ cho họ vì họ biết đòi hỏi như thế “Việt Kiều” sẽ không đồng ý. Họ cho Việt Kiều đứng ra phát để chụp hình đem về chứng minh và làm thành tích của hội đoàn ở hải ngoại. Nhưng họ nắm quyền lợi của CS bên trong. Họ được “Việt Kiều” phải quấy với họ, làm “thủ tục đầu tiên” khi gặp để xin phát cho dân. Họ chọn người được phát đa số là thân nhân, bè bạn của họ.

Số tỷ, triệu phú Đô la ở VNCS hiện rất nhiều. Đảng Nhà Nước CS Hà nội rất giàu. Họ quá giàu đến đổi phải hoang phí. Không lý do gì người Việt hải ngoại lại đi làm vú sữa cho họ nữa. Mấy mươi năm đã quá thừa rồi. Không lý do gì để CS và những người chuyên sống bằng nghề từ thiện lợi dụng tình đồng bào, khai thác tai nạn của dân chúng để móc túi người Việt hải ngoại nữa. Người Việt có thương ai, giúp ai cứ gởi trực tiếp, đường dây chuyển tiền bây giờ quá dễ./. (Vi Anh)
***************
Hà Nội ăn tiêu xa hoa
Vũ Thanh Bình - Lâm Hoài

TTCT - Ăn sáng bằng một tô phở 650.000 đồng, ăn tối trong một căn phòng vàng và đêm đến thì ngủ ở một khách sạn với giá 6.200 US đô la một đêm...? Hà Nội là nơi có thể thỏa mãn bất cứ ai có tiền bằng những dịch vụ đắt tiền như thế.

Trên những con phố Hà Nội chật chội, ngột ngạt vì kẹt xe, vỉa hè ngập tràn những quán vịt om sấu hay bún ốc, ít ai ngờ rằng thủ đô có những chốn “xứng danh kim tiền” đến vậy.

Ấn tượng đầu tiên về khách sạn Grand Plaza Hà Nội khánh thành mới đây trên đường Trần Duy Hưng, gần Trung tâm hội nghị quốc gia, là từ sảnh lớn cho tới nhà vệ sinh đều dát kim loại màu vàng. Khách sạn có 618 phòng khách cao cấp và phòng hạng sang cùng nhiều nhà hàng mang nhiều phong cách ẩm thực, phòng tiệc, hội nghị...

Có hai phòng tổng thống với giá cao ngất: phòng 325m2 giá 3.900 USD/đêm, còn phòng 410m2 giá 6.200 USD/đêm, tức hơn 125 triệu đồng. Kim loại màu vàng dát đầy trên các chi tiết trang trí trong phòng, theo như lời kể của ban quản lý khách sạn. Bước vào căn phòng này, sờ tay vào cái giường ngủ của “tổng thống”, ta có cảm giác như mình đang bước vào một bảo tàng kim hoàn.

Nếu đã ở phòng “tổng thống” thì sao không đi ăn tối theo kiểu “hoàng đế”, với một phòng ăn được gọi là phòng vàng tại nhà hàng Long Đình trên phố Quán Sứ? Nhà hàng này nhìn bên ngoài cũng khá bình thường, nhưng có thêm những phòng ăn đặc biệt gọi là phòng vàng, phòng bạc. Những ly tách muỗng nĩa trên bàn lấp lánh màu của kim tiền. Thực đơn của quán toàn những món với tên gọi hào nhoáng và tiền thì tất nhiên cũng... xả láng. Cô Phạm Thị Vân Anh, phụ trách PR của công ty sở hữu nhà hàng này, cho biết một bát xúp vi cá giá 72 USD, một bữa tiệc có giá ít nhất cũng 800 USD.

Anh Việt, một doanh nhân Hà Nội từng mời bạn hàng Trung Quốc đến nhà hàng Long Đình, kể: “Người ta đến đây để hưởng cảm giác yến tiệc hơn là để ăn. Hôm đó năm người, tôi phải thanh toán hết gần 2.000 đô...” - anh cười. Cung cách phục vụ như thế nào là tùy theo ý muốn của khách, nhưng theo giới thiệu của nhà hàng thì khi ngồi ở phòng vàng, thực khách được phục vụ như “hoàng đế”.

Bát phở giá bằng cả tạ thóc

Bát phở bò này có giá 650.000 đồng, bằng giá một tạ thóc nếu tính giá cao 6.500 đồng/kg. Nhưng “có người sáng nào cũng ăn, có người kéo cả gia đình ba bốn thế hệ đến thưởng thức, thanh toán tiền ăn sáng hết vài triệu đồng là chuyện bình thường” - ông Tô Lâm, tổng giám đốc khách sạn Vườn Thủ Đô kiêm ông chủ nhà hàng trong khuôn viên khách sạn, nơi duy nhất ở Hà Nội bán loại phở bò đắt khủng khiếp này, kể về khách hàng của mình. Bãi đỗ xe nhà hàng chật ních những loại xe sang trọng, đắt tiền như Porche, Lexus...

Có gì khác biệt giữa hai loại phở? Phở Sagagyu 650.000 đồng được đặt trong tô bằng sứ có mạ vàng với một cái muỗng cong, còn bát phở bò Mỹ 125.000 đồng đặt trong tô thường, muỗng thẳng. Cũng khác biệt so với phở thường nữa là ở chỗ nhân viên chỉ mang bát phở có nước dùng ra, phần thịt bò được thái mỏng bằng máy và bọc trong một đĩa riêng để khách hàng tự tay nhúng. Khi cho vào bát phở chỉ sau chốc lát thịt bò đã chuyển từ màu đỏ sang màu sẫm. Cho vào miệng nhai có cảm giác miếng thịt tan rất nhanh, mềm, đậm đà và thơm. Ngoài ra còn có loại phở Kobe giá 500.000 đồng chế biến từ thịt bò Kobe, hoặc “mềm” hơn là phở Wagyu với thịt bò Úc có giá 220.000 đồng.

Làm khách sạn hơn 20 năm, bán phở đã năm năm nhưng chỉ hơn một năm trở lại đây ông Lâm mới bán phở bò Kobe. Ban đầu ông chỉ có mong muốn đơn giản là mang đến cho khách hàng những món ăn truyền thống đậm đà hương vị xứ Bắc. Nhận thấy thị hiếu khách hàng đất Hà thành ngày càng cao, ông quyết làm một bước đột phá: bán loại phở bò thượng hạng. Không ngờ món phở bò “quý tộc” này lại thu hút nhiều khách hàng đến vậy.

Ông Tô Lâm cho biết mặc dù đắt đỏ là vậy, nhưng nhiều hôm cả ba nhà hàng của khách sạn phục vụ 150 suất ăn một lúc vẫn bị quá tải. Lượng khách thưởng thức món phở này khá phong phú nhưng theo lời ông Lâm, hầu hết là giới doanh nhân tiếp đối tác, bàn chuyện làm ăn. Khách cuối tuần thường là gia đình giàu có.

Đứng dậy cầm hóa đơn thanh toán, dù biết trước giá cả nhưng chúng tôi không khỏi “xót ruột” khi trả hơn 800.000 đồng cho hai bát phở bữa sáng. Chợt nghĩ tới hóa đơn thanh toán của những người kéo cả gia đình đến ăn sáng bằng phở bò Kobe. Giá tiền trả cho một bát phở Sagagyu có thể đủ cho một bữa tiệc 5-6 người với vịt om sấu và rượu vodka - món ăn thuộc loại thịnh hành nhất trên vỉa hè Hà Nội hiện nay.

Hà Nội còn rất nhiều thứ xa hoa khác đang phô diễn trên những “ngõ nhỏ, phố nhỏ”, từ những chiếc xe siêu sang cho đến những cửa hiệu thời trang dành cho người có thu nhập rất cao. Những thương hiệu thời trang danh tiếng nhất trên thế giới khi vào Việt Nam vẫn chọn Hà Nội là điểm đến đầu tiên. Chẳng hạn như nhãn hiệu Hermes tại Việt Nam hiện chỉ có ở Hà thành, trong một khách sạn nổi tiếng nhất tại trung tâm thành phố. Và bây giờ là khách sạn 6.200 USD/đêm, là bữa tiệc vàng...

Còn bò Kobe hay Sagagyu? Vấn đề khiến người ta ngỡ ngàng không phải ở chỗ nó là món thịt đắt nhất vì chúng vẫn được bán nhiều trong các nhà hàng khác ở Việt Nam đấy thôi, mà là chuyện nó nằm trong một tô phở - món ăn vẫn bán đầy vỉa hè ngoài kia. Chẳng đâu xa, chỉ cần bước ra khỏi Vườn Thủ Đô mấy trăm mét, ta gặp ngay một cái bàn ven đường dưới tấm vải bạt, nơi những sinh viên, công nhân đang xì xụp những tô phở 15.000-20.000 đồng nghi ngút khói.


__._,_.___
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 4 2011, 03:53 AM
Gửi vào: #26


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Lấy Mỹ
Tác giả: Lệ Hoa Wilson

Tác giả là một Phật tử, pháp danh Tâm Tinh Cần, nhũ danh Quách Thị Lệ Hoa, sinh năm 1940 tại Cần Thơ. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của bà là “Có Tội Hay Không Có Tội”, tự sự của một phụ nữ Việt thời chiến, kết hôn với một chàng hải quân Hoa Ky.ø “Hai đứa gặp nhau khi ông xã làm việc tại bệnh viện Hải Quân Hoa Kỳ, núi Non Nước Đà Nẵng. Cưới nhau: 1972, hiện có 5 con. Tới Mỹ năm 1975. Từ 1985, hai vợ chồng mở v/p Di Trú và Thuế Vụ tại Long Beach.” Sau đây là bài viết thứ hai của bà.

***

Bất cứ người con gái nào lớn lên, đến tuổi trưởng thành cũng đều mơ ước một ngày bước lên xe hoa để làm vợ.
Có những người đầy đủ phước đức, sanh ra, lớn lên, lấy chồng, làm vợ, làm mẹ, làm bà, sống trong danh dự, chết trong thương yêu. Có những người thiếu kém nghiệp lành, sanh ra, lớn lên, lấy chồng, làm vợ, làm mẹ, làm bà, sống trong đau khổ, chết trong cô đơn.
Dù kém nghiệp lành hay đầy đủ phước đức thì những người đàn bà nầy đã hạnh phúc với hay khổ đau do một ông chồng ViệtNam nên được xã hội ViệtNam trân trọng tặng cho cái danh dự “bà vợ”.
Tôi đã lấy chồng, làm vợ, làm mẹ, làm bà nhưng tôi đã hạnh phúc hay đau khổ với một ông chồng người Mỹ nên được xã hội Việt Nam khinh khi ban cho danh từ “Me Mỹ”!
Ở cùng một hoàn cảnh, ăn mặc cùng một kiểu, nói bá láp cùng một câu, phạm cùng một lầm lỗi nhưng “bà vợ” thì được cảm thông và tha thứ vì bà tuy nói ác mà tốt bụng, tuy ăn mặc hở hang mà tánh rất đàng hoàng, tuy có ra ngoài vòng lễ giáo một chút nhưng hoàn cảnh thật đáng thương v.v.., còn “me Mỹ” thì sẽ nhận đựợc một bản án nặng nề, không hồi tố, không biện minh, không chống đỡ.
Một người khách đến văn phòng tôi làm giấy tờ bảo lãnh thân nhân. Trong khi tôi điền đơn ông vui miệng hỏi chớ cô ở Mỹ bao lâu rồi mà giỏi vậy và có đứa con nào chưa? Tôi trả lời cháu ở Mỹ đã 19 năm (thời điểm 1994) và có được năm con. Chồng cháu người Mỹ. Ông khách nhìn tôi kinh ngạc và hạ một câu: “ Cô Lấy Mỹ mà cũng đẻ dữ vậy hả!”. Âm thanh khinh bạc trong câu Lấy Mỹ của người khách đáng tuổi cha chú làm tôi hơi khựng lại và trong một phút vô minh trong óc tôi cố nghỉ ra một câu gì tương xứng với hoàn cảnh của ông để nói lại cho trái tim mình đở rướm máu, nhưng đức Phật Quan Âm đã mau hơn cái phút vô minh đó nên tôi chỉ từ tốn trả lời: “Dạ vợ chồng cháu định có bảy đứa nhưng ở đây nuôi con cực quá nên dừng lại ở năm đứa.”. Chắc ông khách cảm nhận được sự lỡ lời của mình và thái độ từ hoà của tôi nên có vẻ bẽn lẽn. Ngày hôm đó tôi được mặc cái áo Lấy Mỹ mà đẻ nhiều con !.
Lại có một cô đáng tuổi em út nhờ tôi kêu điện thoại lên tòa án dàn xếp một vụ hiểu lầm rắc rối do cô gây ra. Mọi việc ổn thỏa rồi cô cám ơn tôi và nhận xét: “ chị lấy Mỹ mà cũng biết làm nghề nầy nữa há.”. Có nghiã là nghề văn phòng phải do mấy bà vợ đảm nhận mới phải. Mấy bà nầy ngày xưa bên ViêtNam là người có học, nay tiếp tục văn phòng là lý đương nhiên. Còn chị lấy Mỹ sao lại ngồi đây ?, sao dám chen chân trong vòng danh lợi nầy ? Sao lại ăn nói nhẹ nhàng giúp đở đồng hương ? Đáng lẻ chị phải tiếp tục bán bar, bồi phòng hay cái gì hạ tiện một chút, ăn nói có một chút chữi thề, thái độ có một chút sắc sảo thì mới hợp lý chớ . Tôi nhìn người đồng hương hiền lành ít học và nhẹ nhàng nói :” Nghề nào cũng vậy thôi em à. Nghề nào làm ra tiền để nuôi con thì bà mẹ nào cũng làm hết, bất kể sang hèn.”. Ngày hôm đó tôi được mặc chiếc áo Lấy Mỹ mà biết làm nghề văn phòng !.
Một hôm có một ông lạ hoắc ở tận Canada, do một người mách bảo, tới văn phòng tôi để xin băng giảng kinh Phật. Lúc đó chưa có CD, băng kinh còn rất hiếm. Sau khi chuyện vãn tôi tặng ông băng của thầy Thanh Từ, thầy Nhất Hạnh, thầy Thiện Huệ, sư cô Như Thủy v..v.., ông vui mừng cám ơn rối rít:
“Không ngờ cô lấy Mỹ mà cũng biết tu hành dữ vậy!”. Tôi mĩm cười chọc ông: “ Vậy là ông nói tôi đi sai đường phải không? Đáng lẻ tôi đi theo quỷ Sa Tăng mới đúng. Đáng lẽ tôi phải vào trà đình, tửu quán, tay cầm ly rượu, tay cầm điếu thuốâc thì mới đúng điệu me Mỹ chớ me Mỹ gì mà sờ mó kinh sách, thật là ốt dột ông há”. Ông khách biết mình nói quá lố vội xin lỗi, tôi lại mỉm cười. Vậy là tôi lại được mặc thêm một chiếc áo Lấy Mỹ mà cũng biết tu hành!.
Bạn tôi, sau khi cằn nhằn, phê phán, chê trách con dâu và bà xuôi gia đủ điều liền hạ một câu kết luận: “ thằng con tôi là thằng chúa ngục. Không biết sao mà nó mê con quỉ nầy dữ vậy? Má nó là cái thứ lấy Mỹ thì làm sao biết dạy con?!” Thêm một chiếc áo nữa Lấy Mỹ không biết dạy con!
Tôi thường hay thắc mắc tự hỏi không biết mình làm vợ Mỹ thì có khác biệt gì với mấy người làm vợ ViệtNam ? và người chồng Mỹ của mình có khác biệt gì với người chồng ViệtNam?
Khi vui tôi cười, khi buồn tôi khóc. Khi nấu ăn bị đứt tay, máu cũng đỏ thắm. Khi nhìn đồng bào lầm than trong đói nghèo, lụt lội thì ruột tôi cũng mềm. Khi chồng thất nghiệp hay gặp cảnh gian nan thì tôi cũng đở nâng, an ủi. Khi chồng vụng dại, lỡ lầm thì tôi cũng gây gổ, giận hờn.
Khi chồng tôi cầm bảng học bạ đầy chữ A của các con thì mặt mày cũng tươi vui hớn hở. Khi bị trường kêu lên mắng vốn thì cũng buồn bã lo âu. Khi con nhỏ ốm đau thì cũng thức trắng đêm lo thang thuốc. Khi con nên vợ nên chồng thì cũng hãnh diện, mừng vui. Buổi sáng hôn nhau từ giã hăng hái đi làm nuôi con. Buổi tối hôn nhau cám ơn một ngày bình an, hạnh phúc.
Chúng tôi cũng có những luật lệ riêng của gia đình. Khi các con còn nhỏ ngồi ăn cơm chung với cha mẹ, ăn xong trước rồi muốn ra khỏi bàn ăn phải xin phép. Khi cha nói NO rồi thì không được nhõng nhẻo qua hỏi mẹ. Khi cha mẹ đang coi TV thì không được tự động đổi đài khác.
Chồng tôi người Mỹ mà lại tin vào chánh sách ‘thương con cho roi cho vọt’ của VN, nhưng ảnh không đánh con trong sự giận dữ. Ảnh bắt chúng nằm sấp xuống ghế, nói cho chúng biết chúng đã phạm lỗi gì và hình phạt ra sao (một roi chổi lông gà hay không có TV một tuần hay 8 giờ tối phải vô phòng không được hội họp với gia đình v..v..). Tôi không bao giờ xen vào binh vực cải cọ lúc ảnh răn dạy các con dù đôi khi cây roi hạ xuống một tiếng chát, thằng nhỏ rú lên, lòng mẹ nghẹn ngào. Sau mỗi hình phạt, tôi dẫn các con đi rửa mặt, cho chúng ly cà rem, cái bánh ngọt rồi dẫn chúng vào phòng xin lỗi cha.
Các con ơi, dù cha không phải lúc nào cũng đúng khi răn dạy các con, nhưng hãy nhìn mỗi buổi sáng, dù nắng dù mưa, dù mạnh giỏi dù khó chịu, cha chúng con vẫn ra xe đi làm. Cái lap top, cái cell phone, cái phòng ngủ, cuốn sách, áo quần, sách vở,máy sưởi, nước nóng, sự hiểu biết, sự tiện nghi, sự trưởng thành…trăm ngàn thứ trong cuộc đời con đang hưởng thụ đều đổ lên hai vai của người cha đó thì đôi khi một vài hiểu lầm có đáng là bao. Vợ chồng tôi không hoàn toàn nhưng đã cố gắng dạy con the best we know.

Tôi được người đời tặng cho nhiều chiếc áo khác nhau nhưng ít có chiếc nào nhuộm lòng Từ Bi và Hiểu Biết. Tôi lẳng lặng nhận những chiếc áo khắc nghiệt đó, không oán trách cũng chẳng hạ mình. Tôi không có gì phải cúi mặt khi nói cho người đối diện biết chồng tôi người Mỹ. Trái lại những lời khinh bạc, những dè bỉu trước mặt hay sau lưng đó đã giúp tôi tăng thêm phần nhẫn nhịn, thứ tha và thông cảm hơn đối với những chúng sanh bạc phước khác. Và tôi tin rằng vì thế tôi hoá giải được một phần những oan khiên, nghiệp chướng của kiếp nầy cũng như của những kiếp trước. Quả nhiên phiền não là bồ đề và cuộc đời thì không có gì là tuyệt đối hết. Cũng có người thương tôi. Tôi xin gởi lời cám ơn với tất cả trái tim chân thành đến các đồng hương tại Long Beach đã từng dùng qua các dịch vụ của văn phòng tôi và đã thương mến tôi như một con người, đã đối xử với tôi như một “bà vợ”.

*
Tôi đóng cửa văn phòng lái xe thẳng ra nghĩa trang thăm mộ con. Chúng tôi mất một đứa con trai trong một tai nạn xe hơi lúc cháu vừa 16 tuổi. Từ xa tôi thấy một người ngồi bên cạnh mộ, hai đầu gối cong lên, hai tay ôm lấy đầu gục xuống chân. Tôi lại gần. Té ra là Ron, chồng tôi. Tôi quì xuống trước mặt anh, hai tay nâng đầu anh lên, để trán tôi cụng vào trán anh. Anh nhìn tôi thì thầm : “ Honey, help me, please help me. I can not go through our son’s loss without your love and your support.” ( em ơi, giúp anh, em hãy giúp anh. Anh không thể nào vượt qua cơn đau khổ mất con nầy mà không có tình yêu và sự chia xẻ của em ). Tôi ngồi xuống bên anh, bên cạnh mộ đứa con yêu dấu. Tôi để đầu anh dựa vào má tôi và dịu dàng nói : “ Em yêu anh. Chúng ta sẽ cùng nhau vượt qua nổi đau khổ nầy !”
Một giọt nước mắt của anh thấm vào miệng tôi.

Giọt nước mắt của người chồng Mỹ với người vợ Việt, của người cha Mỹ khóc thương cho đứa con trai vắn số cũng mặn như giọt nuớc mắt của bất cứ người chồng người cha nào khác.
Có khác gì đâu. Vô thường!

Lệ Hoa Wilson
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 7 2011, 12:26 AM
Gửi vào: #27


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Những chuyện kỳ quặc về Tổng thống Libya



Tổng thống Libya là một người lãnh đạo hết sức đặc biệt. Mỗi khi đi công tác nước ngoài, ông thường mang theo lều để ở thay vì sống trong các khách sạn 5 sao. Có nhiều lúc ông còn mang theo cả lạc đà. Tuy nhiên, chừng ấy chuyện kỳ quặc vẫn là chưa đủ.



Từ chối khách sạn 5 sao để ngủ trong lều


Trong các chuyến công du nước ngoài, nhà lãnh đạo quốc gia Bắc Phi luôn từ từ chối ở những phòng hạng sang trong khách sạn 5 sao hoặc nghỉ tại lâu đài mà nước chủ nhà dành cho ông. Ông thường sống trong một căn lều Bedouin thiết kế cho riêng mình.


Hồi tháng 4 năm 2004, trong chuyến đến thăm thủ đô Bruxells của Bỉ, ông cho dựng lều tại khu công viên bao quanh tòa lâu đài Val Duchec mà chính phủ Bỉ dành cho ông.
Tiếp đó, hồi tháng 12 năm 2007, trong chuyến đi thăm Pháp, ông Kaddafi cho dựng lều ngay cạnh lâu đài Marinie - một lâu đài xây dựng từ thế kỷ XIX nằm đối diện với Điện Elysée.
Trong chuyến thăm Nga vào cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 2008, chiếc lều của ông Kaddafi được dựng lên ngay trong khuôn viên Điện Kremli, cụ thể là trong khu vườn Taininski chạy thoai thoải xuống đường ven sông Moskva. Địa điểm dựng lều rất gần Lâu Đài Lớn Điện Kremli, nơi ông hội đàm với Tổng thống Medvedev.


Căn lều được dựng theo yêu cầu của TT Libya trong chuyến thăm nước Mỹ năm 2009 (Nguồn: islamizationwatch)



Tháng 8 năm 2009, ý định dựng lều tại ngoại ô thành phố New York để ở trong thời gian đến dự lễ khai mạc Đại hội đồng LHQ của Tổng thống Libya bị một số quan chức Mỹ phản đối, sau đó ông phải chuyển căn lều sang bang New Jersey.
Ông không chỉ lấy lều làm nơi ở trong thời gian công du nước ngoài mà còn lấy đó làm nơi tiếp khách. Ngày 1/11/2008, Tổng thống Kaddafi dùng lều làm nơi tiếp Thủ tướng Nga Putin và nữ ca sĩ Pháp Mireille Mathieu.


Khi màn đêm buông xuống, 40 nữ vệ sĩ vùng Amazone sẽ thay phiên nhau thức canh giấc ngủ của Tổng thống Libya . Đó là chưa kể sự hiện diện của 30 chú ngựa Berber bên cạnh chiếc lều bạt đặc biệt này.


Phiên dịch viên ngất xỉu vì Tổng thống nói dai



Năm 2009, tại một cuộc họp của Liên Hợp Quốc, Tổng thống Libya đã phát biểu gần 2 tiếng, dài gấp nhiều lần thời gian quy định là 15 phút. Ông đã khiến một phiên dịch viên ngất xỉu sau khi nói được khoảng 75 phút. Người phiên dịch đã thốt lên: "Tôi không thể nào dịch thêm được nữa", sau đó ngất luôn.



Ông Maummar Kaddafi đã từng khiến một phiên dịch viên ngất xỉu



Tuy nhiên, ông Maummar Kaddafi vẫn không nao núng. Ông tiếp tục phát biểu thêm 20 phút nữa và Liên Hợp Quốc đã phải cử nữ trưởng ban phiên dịch tiếng Ả Rập Rasha Ayalyakin dịch tiếp cho ông.
Theo thông lệ của Liên Hợp Quốc, bất kỳ người phát biểu nào cũng có 2 phiên dịch viên, cứ 20 phút lại thay đổi cho nhau do việc dịch tại đây cần tập trung cao độ nên rất mệt mỏi. Tại đây cũng có một đội ngũ phiên dịch chuyên nghiệp. Tuy nhiên, Tổng thống Libya lại đem theo các phiên dịch viên của riêng mình và nói rằng tiếng Libya có nhiều khác biệt so với tiếng Ả Rập. Về sau người ta mới biết rằng thực ra ông này cũng chỉ nói tiếng Ả Rập bình thường.


Đôi bảo vệ là 40 cô gái xinh đẹp


Tổng thống Libya có một đội ngũ nữ bảo vệ gồm 40 cô gái xinh đẹp mặc quân phục màu xanh, đội mũ nồi đỏ. Đi tới đâu, thăm nước nào ông Kaddafi cũng mang theo đội nữ binh này.



Tổng thống Libya luôn đuợc các người đẹp tháp tùng



Các cô gái này đều giỏi võ, tuyệt đối trung thành và được huấn luyện bởi chính phu nhân Tổng thống Libya. Nhiều người trong số các cô gái này còn có bằng Thạc sĩ. Các cô gái đến từ nhiều quốc gia Ả rập như Libăng, Syria... và tốt nghiệp Học viện quân sự Tripoli. Các nữ vệ sĩ xinh đẹp này ai cũng đeo một huy hiệu có hình Tổng thống Libya trước ngực và không kết hôn.



Đội nữ cận vệ này đã đi theo bảo vệ ông Kaddafi trong hơn chục năm. Đội có 40 cô gái nhưng luôn thay đổi người liên tục.


Theo một nguồn tin khác, phu nhân Thổng thống Libya chính là một nữ thích khách trước đây được giao ám sát ông Kaddafi. Tuy nhiên, khi nhìn thấy nhau, cả hai người đều bị trúng tiếng sét của tình yêu. Ông Kaddafi đã kết hôn với nữ thích khách và giao cho bà huấn luyện đội ngũ nữ bảo vệ của mình.


Bênh con, cắt đứt quan hệ với Thụy Sĩ


Hồi năm 2008, cậu con trai Hannibal của ông Kaddafi và vợ đã bị bắt ở Gevena, Thụy Sĩ vì tội đánh đập người hầu. Tuy nhiên, Tổng thống Libya lại quyết định trả đũa Thụy Sĩ bằng việc bao vây đại sứ quán Thụy Sĩ tại nước này và đòi Thụy Sĩ phải đưa những người đã bắt giữ con trai ông ra tòa. Sau đó, phía Libya cũng rút tiền khỏi ngân hàng của Thụy Sĩ và trục xuất mọi doanh nghiệp nước này đang làm ăn tại Libya.








Ông Kaddafi cũng tuyên bố rằng mình sẽ tổ chức một cuộc "thánh chiến" chống Thụy Sĩ sau khi lệnh cấm xây dựng nhà thờ Hồi giáo ở nước này được ban bố. Thậm chí, ông Kaddafi còn nói rằng: "Bất cứ người dân Libya nào có quan hệ với Thụy Sĩ đều là chống lại đạo Hồi, chống lại Mohammed, chống lại kinh Koran".
Trước đó, cậu con trai Hannibal của Tổng thống Libya cũng đã nổi tiếng ăn chơi phóng túng. Năm 2001, Hannibal từng đánh ba cảnh sát ở Ý, năm 2005 cậu đánh bạn gái đang mang bầu ở Paris và rất nhiều lần gây rối khác.


Phương Linh (Tổng hợp từ BBC, New York Post, ...)




User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 11 2011, 05:41 AM
Gửi vào: #28


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



extraterrestrialonearth says:
09/04/2011 at 20:48
“Cái tát” vào mặt đại sứ VC của dân biểu tiểu bang Washington
——————————————————————————

Trả Lời Nguyễn Tâm Chiến – Đại Sứ (Không dùng từ này) Tại Mỹ -
Về Việc Vinh Danh Lá Cờ Việt Nam Cộng Hòa
Và Dự Án Tượng Đài Chiến Sĩ Tự Do Tại TB. Washington
Nhân vụ Thượng Nghị sĩ Tiểu Bang là Pam Roach đưa ra hai nghị quyết tại Thượng viện Tiểu bang. Nghị quyết thứ nhất là công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ; nghị quyết thứ hai ủng hộ dự án xây tượng đài tại tiểu bang Washington kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho Tự Do.
Sau đó Nghị Sĩ Roach nhận một bức thư từ Đại sứ (Không dùng từ này) Việt Nam phản đối cả hai Nghị quyết trên. Ông Terrell A. Minarcin đã đánh máy lại thư Nguyễn Tâm Chiến và viết thư trả lời.
Đại sứ (Không dùng từ này) Việt Nam tại Washington D.C. đã phản ứng một cách điên cuồng, nên đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về ngoại giao và bang giao quốc tế, trong đó có việc xâm phạm vào công việc nội bộ của công dân và đất nước Hoa Kỳ.
Sau đây là thư phản đối của Nguyễn Tâm Chiến, Đại sứ (Không dùng từ này) Việt Nam gửi Thượng Nghị Sĩ Pam Roach, tiểu bang Washington.
Ngày 10-2-2004
Kính thưa Thượng Nghị Sĩ Roach:
Với sự quan tâm đặc biệt mà tôi viết thư này gửi ông liên quan đến một nỗ lực thứ hai nhằm thừa nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ được trình bày trong văn kiện SJM8045. Đây là để tái khẳng định rằng nhân dân và chính phủ Việt Nam không thể chấp thuận với dự án xây dựng Tượng Đài. Tôi xin chia sẻ với ông về ý nghĩ của tôi.
Thứ nhất, dự án Tượng Đài đi ngược lại những quy ước quốc tế và thực tiễn. Bây giờ, cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại, hơn ba mươi năm qua, lá cờ của nó đã không còn chỗ đứng hợp pháp tại Việt Nam. Giống như một số văn bản hoặc nghị quyết, ngôn ngữ của dự án Tượng Đài Kỷ Niệm rõ ràng đã phủ định sự hiện hữu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ vối Hoa Kỳ từ năm 1995.
Thứ hai, kể từ khi khởi đầu của giai đoạn mới của sự bình thường hóa và hòa giải với quý quốc vào năm 1995, Việt Nam đã làm hết sức mình để đẩy lùi quá khứ và nhìn về phía tương lai, phấn đấu để xây dựng một quan hệ mà đôi bên đều có lợi. Trong tiểu bang của ông, hãng Boeing đã bán máy bay cho Việt Nam và Cảng Seattle vẫn là một cảng chị em với cảng Hải Phòng của miền Bắc Việt Nam trong chương trình trao đổi. Theo ý tôi, dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, dấu hiệu làm sống lại quá khứ của hận thù và buồn đau, không phục vụ cho lợi ích của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hoặc tiểu bang Washington.
Thứ ba, với một chính sách kiên định, Việt Nam hoan nghênh sự tham gia năng động của Việt kiều trong việc mở rộng quan hệ có lợi cả hai bên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự hội nhập hữu hiệu của họ vào dòng sinh hoạt chính lưu của đời sống Mỹ.Việt Nam hy vọng mãnh liệt rằng cộng đồng của người Mỹ gốc Việt, khoảng gần năm mươi ngàn đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, sẽ cũng tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác.
Sau hết, ở cấp liên bang vị Ngoại Trưởng và các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đã luôn luôn tuyên bố rằng Hoa Kỳ không công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ. Trong cuộc họp với tôi vào mùa hè vừa qua, Thống Đốc Gary Locke đã nói ông ta và tiểu bang Washington ủng hộ sự gia tăng quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tiểu bang Washington và Việt Nam.
Như ông có thể nhớ lại, Nghị Quyết Thượng Viện loại này số 8659 đã bị rút lại sau cuộc duyệt xét vào mùa xuân vừa qua, khi những ý tưởng này được đưa ra bàn thảo.
Cuối cùng nhưng không kém quan trọng; tôi tin dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, một khi được cơ quan lập pháp của ông thông qua, sẽ đâm bổ vào chính Hiến Pháp Hoa kỳ là nền tảng trao quyền hành cho việc thi hành chính sách đối ngoại duy nhất trong hệ thống liên bang. Vả lại, bằng sự kêu gọi công nhận lá cờ cũ ấy “như là lá cờ chính thức duy nhất của nhân dân Việt Nam”, nó sẽ làm cho quyền tự do phát biểu bị nghi ngờ.
Dưới ánh sáng của những nhận xét này, tôi thành kính yêu cầu ông đừng hành động hỗ trợ cho dự án Tượng Đài Kỷ Niệm.
Tôi cảm ơn ông về sự quan tâm và hợp tác.
Với lòng kính trọng cao nhất của tôi
Ký tên : Nguyễn Tâm Chiến,
Đại sứ.
THƯ PHÚC ĐÁP TỪ WASHINGTON STATE.
Ngày 23-2-2004
Thưa Ông Đại sứ,
Tôi vừa nhận được một bản sao của thư ông gửi đến Nghị sĩ Pam Roach đề ngày 10-2-2004. Tôi xin trả lời thư đó.
Nếu bất cứ một nước nào khác viết bức thư này, thì sẽ đơn thuần một chuyện buồn cười. Nhưng đây lại là của nước ông, Ông Đại Sứ, nước (Không dùng từ này) Việt Nam. Nước ông chưa bao giờ tôn trọng hoặc thành thật tuân theo những thủ tục và quy định của bất cứ một thỏa hiệp quốc tế nào mà nước ông đã ký kết vào. Tuy nhiên, nước ông sẽ chỉ núp đằng sau các Thỏa hiệp ấy khi nào chúng thích hợp cho quyền lợi của nước ông. Khi có những cá nhân, chẳng hạn như bản thân tôi hoặc Ông M. Benge, hoặc các tổ chức như Ân Xá Quốc Tế, Ủy Ban Tự Do, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, cáo buộc quý quốc với vô số hành động vi phạm nhân quyền hoặc tổn hại, thì lập tức quý quốc đáp lại bằng cách nói rằng những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm tới là những vấn đề nội bộ và rằng chúng tôi đã can thiệp vào chính sách của quý quốc. Thế cũng được. Ở đây, với quá trình được sắp đặt, chính ông đang can thiệp vào Tiểu bang Washington về những vấn đề không liên quan gì đến ông cả. Sao mà chúng tôi vinh danh sự đóng góp của các cá nhân hoặc các cộng đồng dân tộc ở đây tại Washington lại là ăn nhập đến ông. Xin hãy từ bỏ hành động can thiệp vào những vấn đề nội bộ của chúng tôi.
Ông muốn chúng tôi công nhận và vinh danh lá cờ của ông. Lá cờ đại diện cho một quốc gia đã thực hiện những cuộc tàn sát diệt chủng, huynh đệ tương tàn và buôn bán nô lệ quốc tế. Tôi, với tư cách một cư dân của tiểu bang Washington, không thể nào tha thứ hành động ấy. Sao ông dám đòi hỏi tôi làm? Làm như thế sẽ đưa tôi đến sự đồng lõa với những tội ác lớn lao chống nhân loại của nước ông.
Ông nói rằng dự án Đài Tưởng Niệm phủ định sự tồn tại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nó chẳng làm được việc nào như thế đâu. Đối lại với các bảo tàng viện và đài tưởng niệm của nước ông, Đài Tưởng Niệm này bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những người đã trả cái giá cao nhất cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trong nước Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ngọn cờ của Việt Nam Cộng Hòa từ đó được công nhận như là ngọn cờ của tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Các màu sắc của nó thật là tiêu biểu. Ba sọc đỏ tượng trưng cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Trong lúc màu vàng nói lên sự quý giá biết bao của những lý tưởng ấy, màu đỏ tượng trưng cho sự đổ máu để bảo vệ những lý tưởng đó. Cả trong quá khứ và cả đối với những người sẽ bảo vệ những lý tưởng ấy cho đến chết. Tôi, trước hết, hân hạnh công nhận lá cờ Tự Do và tỏ lòng vinh danh nó. Tôi cũng sẽ hân hạnh công nhận lá cờ của ông khi ông công nhận lá cờ của chúng tôi. Trước khi ấy, đối với tôi, lá cờ của ông tượng trưng cho giết hại, khủng bố, ngược đãi, tráo trở, buôn bán nô lệ và vi phạm nhân quyền.
Ông tuyên bố rằng ông đang “cực kỳ” nỗ lực để đẩy lùi quá khứ. Vâng, với nước của ông, hồ sơ quá khứ là sự xâm phạm tất cả các tiêu chuẩn của hành động văn minh, nên tôi hoàn toàn hiểu được mong muốn đẩy lùi quá khứ của ông. Sau hết, mục đích về sự thừa nhận của ông chỉ bị tổn thương bởi những hành động quá khứ của nước ông.
Tất cả các cư dân của tiểu bang Washington sẽ cảm thấy sung sướng hơn để mở bàn tay thân hữu và hợp tác khi nước ông có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và mở rộng Nhân Quyền cho tất cả người dân Việt Nam. Trước khi đó, xin hãy tránh khỏi công việc nội bộ của chúng tôi.
Dự Án Đài Tưởng Niệm không phải là một lời tuyên bố của chính sách ngoại giao. Nơi mà ông lấy ra cái ý tưởng đó ngoài phạm vi của tôi. Một lần nữa, ông lại cố gắng làm mờ tối vấn đề. Những gì mà nhân dân Mỹ làm không mắc mớ gì tới ông. Đây là một vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington do những công dân bình thường vinh danh những người đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, là những lý tưởng đáng nguyền rủa đối với chính phủ chuyên chính bạo ngược của ông. Đó là những lý tưởng mà lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ đã tượng trưng.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ vào những gì mà nước ông đã làm và đang tiếp tục làm.
(Không dùng từ này) Việt Nam đã tham gia vào hành động diệt chủng. Nó đã chính thức bắt đầu suốt trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai. Chính nước ông đã tuyên chiến Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai. Theo định nghĩa lúc bấy giờ, đó là một cuộc chiến tranh. Như vậy, nước ông bị ràng buộc bởi những Quy Ước Genève về cách đối xử với Tù binh chiến tranh. Thế nhưng, như tôi đã nói trước đây, nước ông chưa đủ thành thật và tôn trọng đối với những nguyên tắc căn bản của bất cứ một hiệp định quốc tế nào mà nước ông đã ký vào.
Sự đối xử với tù binh chiến tranh của các ông đã chứng minh cho điều đó. Ngoài ra, các ông đã hành quyết ít nhất là 11 tù binh Hoa Kỳ đang bị các ông giam giữ. Đó là một tội phạm chiến tranh và diệt chủng. Cho đến ngày nay, các ông vẫn cố tình phạm tội diệt chủng. Hãy lấy trường hợp của Lý Tống, một người Mỹ gốc Việt. Các ông đã tìm cách can thiệp vào tòa án và luật pháp của Thái-Lan và yêu cầu Thái-Lan hãy hành quyết Lý Tống. Tội danh của ông ta là gì? Nói cho dân Việt Nam về Tự Do là một trường hợp mà các ông không thể nào tha thứ được.
(Không dùng từ này) Việt Nam đã tham gia và tiếp tục tham gia vào cuộc huynh đệ tương tàn. Việc này đã khởi đầu vào năm 1956 khi chế độ (Không dùng từ này) tại Hà Nội phát động chương trình Cải Cách Ruộng Đất. Trong lúc có thể dễ dàng trút trách nhiệm lên kẻ khích động của (Không dùng từ này) Quốc tế là Hồ Chí Minh, thì kiến trúc sư thực sự là Trường Chinh. Đã có bao nhiêu người Việt Nam chết dưới cuộc tàn sát này? 10,000? – 50,000? – 100,000? Nhiều hơn? Ngay cả chỉ có một nạn nhân của cuộc tàn sát này, cũng đã tạo nên cảnh tương tàn huynh đệ rồi. Cuộc tàn sát nhắm vào người thiểu số Việt Nam tại miền Tây Bắc Việt Nam cũng cùng một loại (với cải cách ruộng đất). Mục đích của cuộc tàn sát này là “xóa sạch chủng tộc” số người Việt Nam thiểu số đã giúp cho người Pháp. Tôi nhắc đến điều này là để chứng minh rằng các ông đã tiếp tục chính sách này sau khi kết thúc Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai với sự bắt đầu chính sách cưỡng bách tái định cư những người Việt Nam đã cộng tác với Việt Nam Cộng Hòa cũ tại những vùng mà các ông thản nhiên gọi là Vùng Kinh Tế Mới. Các ông tiếp tục chính sách diệt chủng hiện nay dưới dạng ngược đãi và khủng bố tôn giáo, nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên về vi phạm nhân quyền. Bất cứ một người nào bị giết hại trong cuộc tàn sát này cũng là nạn nhân của chính sách diệt chủng và tương tàn của nước ông.
Hãy nhìn vào sự gắn bó của nước ông trong hành động buôn bán nô lệ. Nhiều lần trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai và cả sau đó, nước ông bán người Mỹ, bán đồng minh và tù binh Việt Nam qua nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô-Viết. Một bằng chứng, năm 1983, nước ông bán 275 người Mỹ và 27,000 tù binh Việt Nam qua Liên-xô để trừ nợ đã vay trong chiến tranh. Đây là một vi phạm quá trọng đại đối với nhân quyền và là một tội ác chống nhân loại. Đã có nhiều lần nước ông bán người Mỹ, đồng minh và tù binh Việt Nam qua Liên-Xô, nhưng mỗi một lần số lượng không nhiều lắm.
Nước ông có thể giải quyết nhiều trường hợp Tù Binh/Người Mất Tích Trong khi làm nhiệm vụ một cách dễ dàng bằng cách mở các hồ sơ quân đội và Công an của nước ông. Nhưng nước ông đã không làm chỉ vì không có lợi lộc gì trong việc giải quyết nhân đạo vấn đề tình cảm này. Nước ông tống tiền nước Mỹ cho lợi nhuận riêng và hưởng thụ. Tại sao? Bởi vì nước ông nhận thấy rằng Tổng Thống Nixon đã hứa viện trợ tái thiết cho nước ông khoảng 4 tỷ 3 đô-la. Điều này có thể xảy ra, nước ông có thể nhận được số tiền này một cách dễ dàng, nếu chịu công bố hồ sơ và danh sách tù binh của nước ông cho các gia đình và cho thế giới. Ít ra việc này cũng có thể làm giảm nhẹ một phần nào trong số tội ác của nước ông.
Rồi thì ông dám trơ tráo đòi hỏi rằng người Mỹ đừng can thiệp vào công việc nội bộ của ông và đòi vinh danh lá cờ của nước ông. Với hồ sơ của nước ông, lẽ ra ông nên vui mừng là đã không bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Quốc Tế về những tội ác chống nhân loại mà nước ông đã phạm.
Vậy thì, xin đừng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của chúng tôi trong việc vinh danh những người đã chết vì Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Xin đừng xen vào để xem làm sao chúng tôi vinh danh những công dân đã đóng góp vào sự an sinh và no ấm của Tiểu bang chúng tôi.
Terrell A. Minarcin
Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam.
Bản dịch của Nguyễn-Châu (San Jose)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 28 2011, 01:02 PM
Gửi vào: #29


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Mất gốc

Tháng 4 năm nay kỷ niệm đúng 36 năm ngày tôi rời SàiGòn. Ngày 29-4-1975 gia đình tôi bứng gốc, bứng rễ bỏ hết tất cả để thoát khỏi Việt Nam trong sự hãi hùng. Khủng hoảng lo sợ đến nỗi nếu cái toilette không có ốc vặn chặt xuống đất thì chắc nó cũng đứng dậy chạy theo. Giây phút đặt chân lên chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ, tôi vui mừng đã đến một bến bờ tự do mới, không quan tâm đến gốc rễ của tôi nữa. Định cư ở quê hương thứ hai, thỉnh thoảng có dịp nói chuyện với bạn bè hay người quen, vài người hay khuyên nhủ tôi đừng nên mất gốc, hoặc khi đề cập đến vấn đề con cái, khuyến khích chúng tôi dậy con cái tiếng Việt để chúng nó đừng mất gốc. Cho đến bây giờ tôi không bàn cãi để yên cửa yên nhà, thế nhưng mấy tuần nay vợ tôi than phiền tôi viết lách làm quái gì vì chả mang thêm một đồng xu phụ trội cho ngân quỹ gia đình làm tôi hơi quê xệ. Chỉ còn một cách để bảo tồn danh dự của tôi là tự sát, viết bài này để trình bày quan điểm của tôi. Viết xong tôi bảo đảm thành phần người Việt quá khích sẽ xin tôi tí huyết. Tôi chết đi vợ tôi sẽ lãnh bảo hiểm nhân thọ một triệu đô-la, chứng tỏ cho nàng là lời tiên tri của tôi từ xưa đến nay là đúng: rồi sẽ có một ngày nghiệp viết lách của tôi sẽ làm cho nàng giầu.

Mất gốc là gì? Tự điển Tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Trung Tâm Từ Điển Học ấn bản năm 1994, (xuất bản ở Hà Nội) và Từ Điển Tiếng Việt, Vietlex, 2009 của một nhóm biên soạn, nhà xuất bản Đà Nẵng (cũng xuất bản ở Hà Nội), cả hai cùng định nghĩa:

Mất gốc: Không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình do nguồn gốc dân tộc, giai cấp.

Theo tự điển tiếng Việt 1997-2004 The Free Vietnamese Dictionary Project, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ , và http://vdict.com/ , cả hai in cùng một giải thích:

Mất gốc: Cắt đứt quan hệ với tổ tiên, nòi giống, cơ sở. Thí dụ: Mấy tên mất gốc sống nhờ vào đế quốc Mỹ.

Cùng một chữ “mất gốc” mà tự điển xuất bản ở Hà Nội định nghĩa khác hẳn với tự điển trên Internet ở hải ngoại. Tôi bảo đảm nếu trưng cầu dân ý hay đến những ông bợm nhậu hỏi “mất gốc” là gì thì sẽ có thêm nhiều định nghĩa khác nhau. Nếu tôi nói định nghĩa này đúng, định nghĩa kia sai thì thể nào tôi cũng chết, không vì đạn bên này thì cũng vì lưỡi dao bên kia nên tôi để cho tùy mọi người xét xử “mất gốc” có nghĩa là gì.

Để xem tôi có mất gốc hay không, trước nhất tôi phải tìm hiểu tôi là người gốc gì trước đã. Tôi đang sống ở California, Hoa Kỳ, thế nhưng tôi người da vàng mũi tẹt. 100% tôi không phải là người cùng một gốc với John Wayne, Clint Eastwood hay Brad Pitt. Tôi là An Nam Mít, không cãi vào đâu được. Rất nhiều dữ kiện chứng tỏ tôi là người Việt Nam:

-Tôi sinh ở nhà thương Đức Chính, trên đường Cao Thắng. Lần cuối cùng tôi xem trên bản đồ, đường Cao Thắng chưa bị động đất chạy sang Mỹ mà vẫn còn cắt ngang con đường Nguyễn Đình Chiểu và Điện Biên Phủ (Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản cũ).

-Tên trong căn cước, giấy hôn thú bên Mỹ của tôi vẫn là tên Việt Nam Nguyễn Tài Ngọc (Ngay cả con của tôi, dù rằng sinh ở Mỹ, tôi vẫn đặt chúng nó tên Việt Nam). Đáng lẽ ra chính tôi là người nên đổi sang tên Mỹ, không phải vì tôi muốn người khác tưởng tôi là George Clooney, nhưng vì tên tôi người Mỹ khó đọc. Họ gọi “Ngọc” là “Gờ-Nóp”, “Nóc”. Bao nhiêu tài tử, ca sĩ Mỹ muốn nổi tiếng phải đổi tên của mình như Charles Bronson người gốc Lithuania, tên mẹ đẻ là Karolis Dionyzas Bučinskis. Kirk Douglas, người gốc Nga-Sô, tên mẹ đẻ là Issur Danielovitch. Demi Moore, người Mỹ, tên cúng cơm là Demetria Guynes.

- Nhiều người Hoa ở SàiGòn nói tiếng Việt có sõi đến đâu nhưng khi mình nghe biết ngay họ không phải là người Việt vì họ nói tiếng Việt lơ lớ. Ngày xưa khi vừa mới qua Mỹ, tôi nhủ thầm trong mười năm tôi sẽ nói tiếng Anh như gió. Ấy thế mà 36 năm sau, tôi nói tiếng Anh với giọng… Việt Nam, phát âm đã dở mà viết lách hay đàm thoại cũng chẳng xong, không thua gì một chị ngày xưa trong xóm tôi lấy một anh chàng Mỹ đen. Tôi vẫn còn nhớ khi về nhà nếu cửa bị đóng, chị gõ cửa, miệng nói lớn cho anh ấy nghe: “Hó-nì, ốp bần đo!” (Honey, open door!). Giọng Mỹ siêu việt của tôi hiện thời cũng không hơn chị ấy là bao nhiêu.

Qua ba lý do trình bày trên, cho dù tôi sống ở Mỹ đến hơn trăm tuổi, gốc nòi giống của tôi là Việt Nam không chạy vào đâu được. Có giải tôi vào Khám Chí Hòa hay nhà tù Hỏa Lò Hà Nội nếu tôi nhận tôi là người Việt Nam thì tôi sẽ chẳng mướn luật sư biện hộ. Trước vành móng ngựa, tôi long trọng tuyên bố: gốc của tôi là Việt Nam.

Tôi không chối cãi gốc của tôi, thế nhưng tôi sống ở Mỹ 36 năm, hơn gấp đôi thời gian sống ở SàiGòn. Như thế thì tôi có mất gốc hay không?

Trước khi nói đến tôi, tôi muốn nói về con cái của tôi trước. Bạn bè khuyên tôi nên dậy chúng nó tiếng Việt để khỏi bị mất gốc. Lời khuyên dậy chúng nó tiếng Việt thì tôi đồng ý, nhưng lý do thì tôi không đồng ý. Lý do để mai sau nó về Việt Nam tìm vợ thì hữu lý hơn là khỏi mất gốc. Chúng nó sinh ở Mỹ, giữ cái gốc Việt Nam có lợi gì cho chúng nó? Để mai sau nếu nó xin làm công dân nước Việt Nam? Giữ phong tục tập quán Việt Nam làm gì? Dùng nước mắm thay vì muối, ăn hột vịt lộn thay vì hột gà luộc? Tụi nó nói tiếng Anh như người Mỹ, nói tiếng Việt như người Mỹ nói tiếng Việt Nam (cậu con trai tôi chỉ biết có vài chữ tiếng Việt: “chết meẹ rooi”). Tuy rằng một phần gốc của nó là da vàng mũi tẹt, nhưng một phần gốc khác của nó là người Mỹ vì chúng nó sinh ra và lớn lên trong tập quán nước Mỹ. Mất cái gốc nòi giống Việt Nam không quan trọng bằng mất cái gốc sinh ra ở Mỹ vì ưu tiên của chúng nó sẽ dành cho quốc gia nó mở mắt chào đời, quốc gia bảo đảm an ninh và nhân quyền, quốc gia cho chúng nó tất cả mọi cơ hội sinh sống từ bé đến lớn. Quốc gia đó không phải là Việt Nam.

Giờ thì đến phiên tôi. Tôi có mất gốc hay không? Nếu theo định nghĩa mất gốc là cắt đứt quan hệ với cơ sở, tôi đã mất gốc. Cơ sở, nhà cửa của tôi bây giờ là ở Mỹ. Căn nhà số 16/38/25 Nguyễn Thiện Thuật vĩnh viễn không còn là của gia đình tôi nữa. Nó đã có chủ mới. Gia đình tôi không bao giờ lấy nó lại được vì không ai điên dại nhận thức mình phạm lỗi tước đoạt tài sản người khác rồi trả lại cho chúng tôi. Lần đầu tiên trở lại SàiGòn vào xem nhà, tôi công nhận có bùi ngùi và có cảm tưởng mình đã trở về nhà cũ. Nhưng rồi lần thứ hai, thứ ba, thứ tư, càng ngày tôi càng cảm thấy xa lạ, nhất là lần cuối cùng người chủ hiện thời đã phá xập hoàn toàn, xây lại một căn nhà mới. Đứng nhìn căn nhà hình dạng không còn như xưa, ngay cả bảng số nhà cũng thay đổi, tôi không còn cảm thấy liên hệ với nơi tôi khôn lớn nữa. Ngược lại khi trở về Mỹ, máy bay đáp xuống phi trường LAX, lái xe về nhà thấy bóng dáng căn nhà ở Simi Valley, tôi mừng rỡ đã về nhà. Nhà của tôi là ở Mỹ, cơ sở của tôi là ở Mỹ. Tôi đã mất gốc cơ sở ở Việt Nam.

Nếu nói mất gốc là cắt không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình thì tôi xin phân tích bản chất tốt đẹp hay không của người Việt Nam mà tôi đã chứng kiến, có kinh nghiệm tiếp xúc, trong ba giai đọan:

1. Thời gian tôi ở SàiGòn từ lúc sinh đẻ cho đến ngày 30-4-1975.

2. Thời gian tôi sống và sinh hoạt chung với người Việt tỵ nạn từ ngày 30-4-1075 đến ngày 11-7-1975, khi tôi rời trại tỵ nạn ra sống trong xã hội Mỹ.

3. 36 năm tôi sống ở Hoa Kỳ , từ ngày 11-7-1975 cho đến ngày hôm nay.



1.Thời gian tôi ở SàiGòn từ lúc sinh đẻ cho đến ngày 30-4-1975: Tôi rời SàiGòn năm lên 17 tuổi. Ở Mỹ, 17 tuổi vẫn còn là con nít, vẫn còn dưới tuổi trưởng thành. Hai người 18 tuổi trở lên liên hệ tình dục không luật pháp nào ngăn cấm, nhưng nếu người trên 18 tuổi liên hệ tình dục với người dưới 18 tuổi thì sẽ bị ghép vào tội dụ dỗ trai/gái dưới tuổi vị thành niên, dù rằng người dưới 18 tuổi thỏa thuận. Dưới 18 tuổi chưa được đi bầu. Dưới 18 tuổi chưa được phép uống bia rượu. Tóm lại, dưới 18 tuổi đầu óc vẫn còn non nớt. Ấy thế mà tôi đã mục kích bao nhiêu sự xấu xa ở quê hương tôi:

- Một anh lính tài xế trong xóm tôi mang xe Jeep về nhà hút xăng trong xe ra rồi bán lại cho người trong xóm với giá rẻ.

- Gia đình nào có con cái đến tuổi quân dịch chạy tiền thì sẽ được miễn dịch. Trong khi người Mỹ đổ máu cho tự do của miền Nam, tướng Mỹ có con đi lính chết ở Việt Nam thì một số tướng lãnh và người giầu có cho cho con cái ra nước ngoài. Chỉ có lính nghèo là đổ máu.

- Tôi đi gác nhân dân tự vệ phải gác thế cho người đóng tiền trong khi các cấp chỉ huy hệ thống Nhân Dân Tự Vệ lấy tiền thu.

- Tổng Thống và Phó Tổng Thống VNCH đều là những bậc tướng lãnh. Khi trận chiến (Không dùng từ này) thôn tính miền Nam đến mức quyết liệt, Tổng Thống lên trước quốc dân tuyên bố sẽ chiến đấu sát cánh bên dân, Phó Tổng Thống lên tuyên bố trước quân đội VNCH và cả thế giới là “Tôi thích ăn nước mắm, tôi quyết sẽ ở lại với quê hương tôi tử thủ đến mức cuối cùng”. Ấy thế mà trước khi xe tăng (Không dùng từ này) phá vỡ cửa sắt Dinh Độc Lập, Tổng Thống và đại gia đình đã yên lặng đi ngoại quốc mang theo cả một máy bay đầy của cải, Phó Tổng Thống cũng rời khỏi SàiGòn bay đến một chiến hạm Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ. Một quốc gia với dân tình tham nhũng là một lối sống. Một quân đội cá tính từ Binh Nhì đến Trung Tướng chỉ lo cho cá nhân của mình thì cái tốt đẹp vốn có của mình do nguồn gốc dân tộc không còn hiện hữu.

- Miền Bắc dùng võ lực thôn tính miền Nam gây ra bao nhiêu tử vong.

2. Thời gian tôi di tản từ 30-4-1075 đến ngày 11-7-1975: Bài “Chí Nam nhi” của Nguyễn Công Trứ có bốn câu thơ như thế này:

Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Đã chắc rằng ai nhục ai vinh,

Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ.

(Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh có nghĩa là Từ xưa đến nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh. Hai câu thơ tiếng Hán này là của Văn Thiên Tường, một tướng lãnh của Trung Hoa). Hai câu thơ sau, ý của tác giả là người ta chỉ biết anh hùng sau khi thời thế xẩy ra. Tôi kém may mắn tìm hiểu được bản chất của người đồng hương trong cơn ly loạn:

-Hỗn loạn dành đường sống cho riêng mình.

-Ăn cắp chai tương ớt, xì dầu ở nhà ăn trong trại tỵ nạn đem về phòng ngủ barrack của mình dù rằng người Mỹ nói như van lậy thức ăn không thiếu thốn.

-Lấy hết chăn trên máy bay, khi vào trại mang chăn ra cắt may thành áo lạnh, đến nỗi người Mỹ không mang chăn trên những chuyến máy bay sau nữa.


-Những người muốn trở lại Việt Nam (dùng con tầu Trường Xuân) đã nổi loạn, đốt cháy cơ sở vì người Mỹ quá chậm trong việc cung cấp lương thực và sửa sang máy móc cho con tầu.

-Orote Point: dân tỵ nạn ở trong lều quân đội, đôi lúc phải giặt quần áo rồi phơi ở bên ngoài lều. Phơi mà không có người nhà canh chừng thì bao nhiêu quần áo cũng bị mất cắp.

-Cũng ở Orote Point, người Mỹ họ cắt nửa thùng phi làm thùng giữ phân và nước tiểu ở những toilette gỗ, xây dã chiến. Lính G.I. là người đi đổ và lau rửa toilette. Không hiểu tại sao mà người Việt tỵ nạn không đi tiêu vào thùng phi mà tiêu tiện đầy lên chỗ phản ngồi bằng gỗ. Cuối cùng, họ bắt người tỵ nạn chia phiên nhau lau rửa và đổ thùng phân vì họ nói mãi nhưng chẳng ai nghe.


-Người gạt người, thân hay lạ, trong việc đóng tiền vượt biên.

-Và sau cùng, một cảnh gia đình tôi mãi không bao giờ quên. Bên cạnh chỗ ngồi của gia đình tôi trên chiếc tầu chiến Mỹ đi từ Vũng Tầu đến Subic Bay là một gia đình khá giả. Họ đã chuẩn bị sẵn nên mang theo lương thực, nước uống, sữa Guigoz…đầy đủ cho người lớn và trẻ em trong gia đình. Một chị trên tầu có con nhỏ, không có sữa cho con mình bú nên đến xin một người đàn bà trong gia đình này cho chị ta một chút ít sữa cho con. Người đàn bà nhìn chị ta, nói rằng không cho sữa không, nhưng sẽ bán nếu chị ấy trả tiền bằng sợi dây chuyền vàng đeo trên cổ. Chị kia tháo sợi dây chuyền để đổi sửa cho con!

3. 36 năm tôi sống ở Hoa Kỳ, từ ngày 11-7-1975 cho đến ngày hôm nay:

Vào năm 1994, khi trận động đất ở Northridge gây thiệt hại trầm trọng cho nhiều thành phố, kể cả Simi Valley, FEMA (Federal Emergency Management Agency- Cơ Quan Quản Lý Khẩn Cấp Liên Bang) đến Simi Valley thiết lập trụ sở cứu giúp. Vợ tôi làm cho County, tình nguyện làm giúp FEMA. Một trong những sự trợ giúp khẩn cấp là thức ăn. Động đất gây ra cúp điện, thức ăn trong tủ lạnh do đó sẽ bị hư. Nhà ai thức ăn bị hư thối đến điền giấy tờ (chỉ có một vài chi tiết: tên tuổi và địa chỉ) thì FEMA sẽ phát cho một thẻ phiếu trị giá $120 dollars. Cầm thẻ phiếu này đến bất cứ siêu thị nào mua sắm thức ăn dùng nó để trả tiền, siêu thị sẽ lấy vì họ sẽ tính tiền lại với chính phủ. Vợ tôi thấy một người đàn bà Việt Nam đến xin hai lần. Lần thứ nhất một mình nhưng lần thứ hai mang theo một lô người Việt Nam nữa. Vì không biết vợ tôi là người Việt Nam, bà ta vừa cầm giấy ghi tên phân phát cho những người đó vừa nói: “Tụi bay cứ đề tên vô, địa chỉ thì ghi đại số nào cũng được, không ai xét hết. Tủ lạnh nhà mình không bị cúp điện, thức ăn không hư, họ cũng cho mình $120 vì không cách nào mà họ xét được”.


Ai có đọc báo Mỹ thỉnh thoảng sẽ thấy người Việt Nam bị bắt vì tội gian lận. Nhân viên an sinh xã hội khai gian chính phủ bỏ tiền giúp người nghèo vào quỹ riêng của mình, hơn một triệu đô-la. Một bà khai sổ sách cho một hãng xe ở Van Nuys biển thủ bạc triệu. Người làm giấy tờ cho mượn tiền mua nhà khai gian với nhà băng mấy triệu. Văn phòng y khoa khai gian Medical cả trăm nghìn. Một số người có cơ sở thương mại trốn thuế. Không lúc nào mà không có tin xấu. Người Mỹ đã làm ơn, cho người Việt chúng ta một cơ hội sống trong tự do. Thay vì trau giồi nhân bản đạo đức của mình để họ hãnh diện đã không lầm khi cho phép người mình sang đây, chúng ta làm ngược lại. Tôi biết một ông Việt Nam lớn tuổi, lúc nào cũng cay cú người Mỹ là nguyên nhân làm cho Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ (hoàn toàn không phải lỗi vì người Việt tham nhũng hay không có tinh thần chiến đấu!) , một lần nói với tôi là: “Tổ cha mấy thằng Mỹ! Tụi nó điếm lắm!”. Đây là một cá tính tôi thấy của người Việt: không bàn cãi một vấn đề với lý luận, tri thức nhưng với bướng bỉnh. Khi sai không nhận là mình sai, chụp mũ người khác, dùng từ ngữ hạ cấp chửi đối phương, và đôi lúc còn dọa đánh người ta nữa. Đây là gốc Việt Nam, tôi không nên mất gốc?


Cách đây vài tháng, tôi có viết một bài phê bình “Xem Paris By Night 99 : Tôi là người Việt Nam” , đăng trong Saigonocean.com http://www.saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm .Paris By Night hay ASIA là những chương trình nhạc được người Việt hải ngoại ưa chuộng, và như thế ít ra cũng phản ảnh một phần nào dư luận của người Việt. Chủ đề của DVD này là hãnh diện vì tôi là người Việt Nam. Tôi tóm tắt ba nhận xét chính sau đây:


1. Hầu hết những người Việt Nam được vinh danh trong DVD này cảm ơn bố mẹ họ, gia đình họ… làm việc siêng năng cần cù để bây giờ họ được thành công. Không một ai cám ơn chính phủ Mỹ, dân tộc Mỹ đã cho họ có một cơ hội sang đây. Bố mẹ hay chính bản thân họ có cần cù đến đâu mà nếu họ vẫn còn ở Việt Nam, không ở Mỹ thì họ có thành công như bây giờ không? Bài học “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” quá đơn giản nhưng rất ít người nhớ.


2. Ông “vua nail” Quý Tôn tuyên bố là ông ta ước ao những người làm nail đoàn kết để nâng cao giá cả. Tôi ngồi nghe há hốc miệng kinh hoàng trong khi cả hí viện vỗ tay ầm ầm, kể cả người hướng dẫn chương trình. Chỉ có chính thể (Không dùng từ này) xưa cũ mới ấn định giá cả hàng hóa. Giá cả do nhà nước ấn định như trong các nước (Không dùng từ này) ngày xưa (và cả Việt Nam trước khi Đổi mới vào năm 1986) đưa tới kinh tế sụp đổ, dân tình đói kém. Từ khi khối (Không dùng từ này) Nga-Sô sụp đổ, Nga không còn ấn định giá cả. Đặng Tiểu Bình sau khi sang Mỹ viếng thăm Tổng Thống Jimmy Carter vào năm 1979, kinh hoàng trước sự giầu có của nước Mỹ, về Trung Hoa áp dụng chính sách free market, thị trường cạnh tranh ấn định giá tiền. Kết quả: không ai có thể phủ nhận Trung Hoa tiến vượt bực chỉ trong vòng 30 năm nay. Việt Nam bắt chước Trung Hoa, áp dụng chính sách Đổi Mới vào năm 1986, nhà nước không còn áp dụng giá cả. Chỉ cần hỏi một người sống ở Việt Nam so sánh sự khác biệt trước Đổi Mới và bây giờ để xem chính sách nhà nước ấn định giá cả có hữu hiệu hay không. Thế mà khi nghe ông “vua nail” Quý Tôn nói, không một ai chửi bới mà vỗ tay ầm ầm! Đây là một “tốt đẹp” trong giòng máu Việt của tôi mà tôi không nên mất gốc?

3. Paris By Night là một cơ cấu thương mại, tổ chức ca nhạc thu tiền bán vé, bán DVD để lấy lời. PBN tạo ra một chủ đề kích thích dân tộc tính để thu hút khán giả, bán DVD. Khi bắt đầu DVD phần 2, Nguyễn Ngọc Ngạn còn nhân cơ hội để quảng cáo bán sách viết mới nhất của mình. Dùng một niềm tự hào chung -hãnh diện tôi là người Việt Nam- để làm tiền gây lợi riêng mà không một ai thấy ngứa tai gai mắt?

Theo tự điển Tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, “mất gốc” là không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình. Nếu những kinh nghiệm với người Việt Nam trên đây tôi đã chứng kiến trong cuộc đời được gọi là tốt đẹp, thì vâng, xin cho tôi mất gốc.

Nguyễn Tài Ngọc

April 2011
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 28 2011, 09:32 PM
Gửi vào: #30


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



GIỎI LẮM, LÀO ƠI





Cả tháng nay, báo chí Việt Nam lùm sùm về đập thủy điện Xayaburi ở hạ lưu sông Mê Công mà nước Lào đang rục rịch xây dựng . Chính phủ Lào phản ứng trước mọi nghi vấn và chỉ trích về con đập . Nước Lào trong mấy năm nay sống chủ yếu bằng “tiền bán điện” do các Nhà máy thủy điện sản xuất. Hiện nay Lào có tổng cộng 70 dự án thủy điện, trong đó 10 dự án đã khởi công. Như vậy , nước Lào không coi “Tình hữu nghị đặt biệt Việt –Lào” là cái cớ bắt buộc để dừng dự án. Cũng như Trung Quốc đã không coi “16 chữ vàng”, “môi hở răng lạnh” là sự ràng buộc để thu lại cái “lưỡi bò” vô cùng tham lam trên bên Đông của mình. Từ lâu người Lào đã làm theo cách của mình, còn người Việt thì vẫn ngây thơ tin về về tình hữu nghị, tin vào cũng chung hệ tư tưởng, cùng là nước Xã hội chủ nghĩa, tin vào “16 chữ vàng”…
Thời bao cấp ở xứ ta đi ra nước ngoài khó lắm. Nên mới có bài thơ dân gian nói chuyện “thụt vào thụt ra”rất phổ biến thời ấy:
Trăm năm trong cõi người ta
Ai ai cũng muốn thụt ra thụt vào
Lạc hậu như cái nước Lào
Người ta cũng cứ thụt vào thụt ra
Lạ thay cái nước Nam ta
Dân không hề được thụt ra thụt vào
Quả thực, người Việt mỗi khi nghĩ đến nước Lào cũng đều cho là lạc hậu, là nước kém phát triển so với nước mình. Thế mà “Lạc hậu như cái như cái nước Lào/ Người ta vẫn cứ thụt vào thụt ra”, nghĩa là trong việc xuất ngoại từ lâu Lào đã tự do hơn Việt Nam. Trong một tuần đi thăm và ăn Tết Bunpimay tháng 4/2011 tại Viên Chăn và các tỉnh ở Lào, tôi đã mục sở thị nhiều sự việc người Lào, nước Lào rất văn minh.
Điều dễ nhận thấy nhất là xe chở đoàn nhà văn Huế đi từ Cửa khẩu Lao Bảo đến Viên Chăn xa 700 cây số mà tuyệt nhiên tôi không thấy bỗng dáng một anh cảnh sát giao thông Lào nào. Ở Thủ đô Viên Chăn mấy ngày tôi cũng không thấy cảnh sát đứng đường như ở Việt Nam. Tại cuộc gặp gỡ giữa Hội Nhà văn Lào và Đoàn nhà văn Huế, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đã phát biểu chân thực: “Đây là lần đầu tiên tôi đến đất nước Lào của các bạn. Ấn tượng đầu tiên của tôi là suốt hai ngày nay tôi không gặp anh công an nào trên đường. Chứng tỏ đất nước các bạn rất bình yên và văn minh”. Không có công an trên đường chứng tỏ xã hội rất trật tự. Không có công an nên không hề có “bắn tốc độ” hay “làm tiền” xe ca, xe tải một cách trắng trợn như ở khắp các con đường Việt Nam. Nhờ vậy mà chúng tôi làm xong thủ tục ở Lao Bảo lúc 10 giờ sáng, xe chạy 750 cây số đến Viên Chăn 6 giờ chiều, chỉ 8 giờ đồng hồ.
Ở Cửa Khẩu Lao Bảo tôi đổi tiền KIP Lào để sang Viên Chăn tiêu. 1.000.000 (một triệu) đồng Việt Nam ngày 12/4/2011 đổi được 350.000 kíp. Như vậy một đồng tiền Việt giá trị chỉ bằng một phần ba đồng Kip. Năm 2004, tôi làm báo Thương mại sang Kron, Lào đổi một Kip được 1,4 đồng Việt. Thế mà chỉ 7 năm sau, đồng tiền Việt đã mất giá gần 100 % so với tiền Kíp. Có đi mới biết đồng tiền của mình nó èo uột như thế nào. Tháng 3-2004, trong lúc cả thế giới đồng tiền nào cũng lên giá so với đô-la Mỹ, còn đồng Việt trong Ngân hàng lại quyết định xuống giá từ hơn 19.000 ngàn ăn một SD xuống hơn 21 ngàn / 1USD .Đồng tiền mất giá, điện, xăng dầu tăng giá, nghĩa là con ngựa bất kham là lạm phát đã thoát ra khỏi chuồng. Mần răng mà chống lạm phát ? Lào ơi, giỏi thiệt.
Ngày Tết Bunpimay ở Lào, tất cả người Lào đều phải đến viếng 9 cái chùa mới “đủ tiêu chuẩn” để cầu may mắn. Nhà văn Trần Công Tấn người Triệu Phong, Quảng Trị hiện ở TP Hồ Chí Minh là người có thẻ bài thành viên trong Hoàng Gia Lào. Cứ đến lễ lạc Hoàng Gia là anh được mời sang. Vì anh là con nuôi của Hoàng thân Xuphanuvong. Anh Tấn quen rất nhiều lãnh đạo nước Lào, cả thủ tướng Lào. Anh Tấn kể : Khi vào chùa ông Tổng bí thư , Thủ tướng Chính phủ , giàu hay nghèo đều là quỳ trước Phật. Trước Phật tất cả đều bình đằng. Tổng Bí thư tự lái xe riêng mà đi chùa. Thủ tướng tự lái xe riêng mà đi chùa. Không biết lái ô tô thì nhờ con cháu lái. Chứ không có chuyện lái xe nhà nước trực cả ngày Tết để lái xe chở quan lớn đi làm việc riêng . Càng không có chuyện quan lớn về tỉnh lễ chùa cũng cả đoàn xe công an còi hụ đẹp đường. Chuyện đó ở ta e khó ! Giỏi lắm, Lào ơi !
Ấn tượng nhất là người dân Lào chấp hành luật giao thông rất nghiêm. 5 giờ kém 15 sáng, tôi đi bộ từ khách sạn Mina trên đường Lanexang đến Khải Hoàn môn hơn cây số, đèn đỏ đèn xanh ở các ngã tư vẫn hoạt động. Có chiếc ô tô đi làm sớm, đến gặp đèn đỏ, dù bốn phía trước sau chẳng có xe nào, người lại xe vẫn cho xe đỗ , chờ đèn xanh mới vượt ngã tư. Chứ như ở Việt Nam đang đỏ vẫn vượt, đèn còn vàng, chưa xanh vẫn vượt. Nước Lào không bắt buộc đội mũ bảo hiểm, vì đa phần xe cộ lưu thông trên đường là ô tô (Thành phố Viên Chăn có 400.000 dân, đã có 60.000 chiếc ô tô). Thế nhưng vẫn có rất nhiều người đi xe máy trên đường phố đội mũ bảo hiểm. Đó là ý thức tham gia giao thông từ trong máu thịt. Nước Lào họ giáo dục công dân răng mà giỏi rứa hè ?
Ở Lào có tới hàng trăm ngàn người gốc Việt Nam,chủ yếu ở các thành thị, họ đến Lào nhiều nhất là vào năm Thân , năm Dậu (đầu những năm 1940). Họ phải chạy khỏi quê hương để tránh nạn đói dang hoành hành. Họ là bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Lào, rồi lấy vợ Lào, thành người Lào.v.v… Người Lào Lùm (người Lào sống ở thành phố Viên Chăn và các tỉnh đồng bằng phía nam) rất giống người Việt . Rất khó phân biệt. Một người Việt làm ăn ở Lào đã 20 năm tên là Trà này bày cho chúng tôi cách phân biệt người Việt với người Lào như sau : Vào siêu thị hay chợ thấy người nào bán mà nói thách giá trên trời thì đó là người gốc Việt; người nào mua hàng mà trả giá một cách kiên nhẫn hàng giờ đích thị là người Việt. Người Lào chân thực, thật thà mua bán ít nói thách, ít trả giá. Ở phố quán nào bán hàng khuya tới 10, 11 giờ đêm đích thị là quán người Việt. Vì người Lào chỉ bán hàng đến 8 giờ tối là nghỉ đi nhảy lăm vông. Ở quán nhậu nào mà có người hô “zô..zô…zô…” đích thị là người Việt, 10 người ăn cắp trên phố có 7 người Việt.v.v..
Về tổ chức nhân sự bộ máy đảng, nhà nước, nước Lào cũng văn minh hơn Việt Nam từ mấy chục năm trước. Ở Việt Nam Tổng Bí thư đảng riêng, Chủ tịch nước riêng. Còn ở Lào từ những năm 80 của thế kỷ trước, ông Cay Xon Phômvihản vừa Chủ tịch Đảng, vừa Thủ tưởng Chính phủ. Ở nước Lào ở Trung ương hiện nay, Tổng bí thư Đảng là Chủ tịch nước, ở các tỉnh Bí thư tỉnh ủy là chủ tịch tỉnh, bí thư huyện ủy là chủ tịch huyện. Nên mỗi lần cán bộ Lào sang thăm Việt Nam, một ông làm việc với hai ba ông Việt Nam, nghĩa là một ông Lào “buộc “ hai (có khi ba bốn) ông Việt phải tiếp tử tế. Sang trọng lắm chứ. Oai phong lắm chứ. Nước Lào có có 18 tỉnh và thành phố(cả Viên Chăn), mỗi tỉnh có nhiều huyện. Cơ cấu nhân sự Đảng, nhà nước như thế giảm được biên chế, công việc chạy hơn, tính chủ động cao hơn và nhât là tiết kiệm được rất nhiều ngân sách , vì lương và lộc của mộ máy lãnh đạo Trung ương, tỉnh, huyện là rất cao . Nếu nước ta mà học tập Lào về việc này thì hàng năm tiết kiệm được ba bốn trăm tỷ đồng tiền thuế của dân vì nước ta có tới 64 tỉnh, 500 huyện.
Mấy chuyện sơ sịa như thế cũng đủ thấy nước Lào giỏi như thế nào. Họ tiếp nhận tất cả sự hỗ trợ của các nước, nhưng không theo nước nào cả !


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 30 2011, 09:59 PM
Gửi vào: #31


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Kính thưa quý vị,

Cũng khá lâu, vì bận rộn Hương Saigon không có giờ đọc những emails của Lữ Giang. Hôm nay vào để delete bớt email, tình cờ thấy bài "Tương Lai Cuộc Chiến ?" Qua đoạn thứ nhất của bài, Lữ Giang viết:

"Chiến đấu với Mỹ 20 năm, ở trên đất Mỹ 35 năm, đã từng được đọc hàng chục ngàn trang tài liệu do Mỹ giải mã, nhưng một số người Việt đấu tranh vẫn không hiểu gì về Mỹ, vẫn suy nghĩ và hành động theo cảm tính. Đến nay, một số “chính khứa ta” vẫn tiếp tục lên các đài truyền thanh hay truyền hình, tuyên bố cuộc “cách mạng hoa lài” đang đem lại “dân chủ” cho các nước Trung Đông và Bắc Phi, và sau đó sẽ đến Việt Nam! " [LG]

Qua đoạn trên, HSG nhận thấy Lữ Giang có chút tiến bộ vì đã tránh tổng quát hoá dựa trên đặc thù. Thay vì viết "người Việt chống cộng ở hải ngoại" như ông thường viết, Lữ Giang viết "một số người Việt đấu tranh'. Đây là một tiến bộ đáng kể . Tuy nhiên, HSG vẫn còn cảm thấy bị "annoyed" bởi bài viết của Lữ Giang.

Thật vậy, chỉ cần đọc đoạn trên, HSG không thể tiếp tục đọc thêm. Lý do là Lữ Giang vẫn là Lữ Giang, một người "làm báo" thiếu chuyên môn và kém suy luận. Thật vậy, mượn ngôn từ của Lữ Giang, HSG xin viết về Lữ Giang như sau:

"Biết Mỹ 20 năm qua cuộc chiến, ở trên đất Mỹ 35 năm, đã từng được đọc hàng chục ngàn trang tài liệu do Mỹ giải mã, nhưng Lữ Giang vẫn không hiểu gì về Mỹ và mặt trận ngoại giao cũng như chiến tranh chánh trị, vẫn suy nghĩ và viết bài theo cảm tính. Đến nay, Lữ Giang vẫn tiếp tục không hiểu và không phân biệt được giữa kiến thức và chiến thuật đấu tranh."

Thật vậy, "lên các đài truyền thanh hay truyền hình, tuyên bố cuộc “cách mạng hoa lài” đang đem lại “dân chủ” cho các nước Trung Đông và Bắc Phi, và sau đó sẽ đến Việt Nam! " là một tác động tâm lý chiến nhằm cổ võ tinh thần chiến đấu của người Việt Nam chống lại bạo quyền (Không dùng từ này).

Dùng tác động tâm lý chiến để suy diễn về kiến thức của người Việt đấu tranh là một lối suy nghĩ nông cạn. Với lối suy nghĩ nầy, đọc giả hiểu biết không cần tiếp tục đọc những gì Lữ Giang viết.

Kính

Hương Saigon.

T.B. Có người thắc mắc không biết HSG có ân oán gì với Lữ Giang mà cứ tiếp tục "làm khó" ông ta. Xin trả lời là HSG chưa từng gặp mặt Lữ Giang và cũng chẳng có ân oán gì. HSG phản bác Lữ Giang là vì:

(1) Lữ Giang có một lối viết trịch thượng và nhất là khinh thường người Việt Quốc Gia chống cộng,

(2) Lữ Giang thường bẻ cong ngòi viết và coi thường sự thông minh của đọc giả ,

(3) Hầu hết các bài viết của Lữ Giang chỉ có một chiều, thiếu khách quan và nông cạn.





2011/4/28 Lu Giang < lugiang2003@yahoo.comĐịa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. >



Tương lai cuộc chiến?
Lữ Giang

Chiến đấu với Mỹ 20 năm, ở trên đất Mỹ 35 năm, đã từng được đọc hàng chục ngàn trang tài liệu do Mỹ giải mã, nhưng một số người Việt đấu tranh vẫn không hiểu gì về Mỹ, vẫn suy nghĩ và hành động theo cảm tính. Đến nay, một số “chính khứa ta” vẫn tiếp tục lên các đài truyền thanh hay truyền hình, tuyên bố cuộc “cách mạng hoa lài” đang đem lại “dân chủ” cho các nước Trung Đông và Bắc Phi, và sau đó sẽ đến Việt Nam!
Trong khi đó, các nhà phân tích và bình luận của Mỹ và thế giới đã nêu ra nhiều câu hỏi lớn: Tại sao Hoa Kỳ và các cuờng quốc Tây phương chỉ tấn công Libya mà không tấn công Yemen, Bahrain, Syria... là những nước cũng đã sử dụng bạo lực để đè bẹp các cuộc biểu tình đòi dân chủ? Các biến động nói trên đang gây ra những hậu qủa như thế nào? Tương lai của vùng Trung Đông và Bắc Phi, đặc biệt là Libya, rồi sẽ đi về đâu?
VẪN CHƯA CÓ CÂU TRẢ LỜI CHÍNH XÁC
Hôm 15.4.2011, một bản văn mang chữ ký của ba vị lãnh đạo quốc gia là Tổng Thống Mỹ Barack Obama, Tổng Thống Pháp Nicholas Sarkozy và Thủ Tướng Anh David Camaron, tuyên bố rằng thế giới không bao giờ chấp nhận để một người đã ra lệnh bắn giết dân được quyền quyết định tương lai cho đất nước.
Hình như ít ai chấp nhận lý do mà ba nhà lãnh đạo cường quốc này đã đưa ra để biện minh cho quyết định tấn công Libya. Trong bài “Why is US backing force in Libya but not Bahrain, Yemen?”, ký giả Andrew North của BBC News, đã đặt câu hỏi: Sự khác nhau giữa Libya và Yemen hoặc Bahrain là gì? Sau đó, ông đã trả lời: “Bahrain và Yemen là đồng minh của Mỹ - đặc biệt là Bahrain, nơi Mỹ có căn cứ hải quân lớn. Libya thì không”. Nếu lý luận này là đúng thì “đồng minh” của Mỹ được miễn trừ trách nhiệm khi bắn giết dân hay sao?
Trường hợp của Syria đang được tranh luận gay cấn. Syria chẳng những không phải đồng minh của Mỹ và đang đi với Iran để chống lại Mỹ, tại sao Mỹ và một số cường quốc Âu Châu không tấn công Syria ngay như đã tấn công Libya?
Trong cuộc họp báo chung tại Washington hôm 26.4.2011 vừa qua, Bộ Trưởng Quốc Phòng Anh Liam Fox giải thích rằng sự đáp ứng của thế giới đối với các cuộc nổi dậy của quần chúng ở Trung Đông và Bắc Phi phải thích ứng và phản ánh hoàn cảnh ở mỗi nước. Còn Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates nói rằng dù Hoa Kỳ áp dụng tiêu chuẩn về giá trị với tất cả quốc gia trong vùng nhưng hành động không phải luôn luôn giống nhau ở mọi nơi.
Nếu lý luận theo kiểu này thì LHQ và các cường quốc chỉ chọn những nơi nào có thể tấn công được mới tấn công, còn những nơi khó thì bỏ mặc?
Nói trằng ra, Hoa Kỳ và các cuờng quốc Tây phương chỉ can thiệp vào một biến cố khi biến cố đó có ảnh hưởng đến quyền lợi riêng của họ, còn “bảo vệ dân chúng” chỉ là chiêu bài. Các cuộc nổi dậy tại Congo, Sudan và Somalia đã giết hại không phải hàng ngàn mà hàng trăm ngàn và hàng triệu người, nhưng Hoa Kỳ và LHQ chỉ can thiệp lấy lệ rồi để “sống chết mặc bây”. Họ có quan tâm gì đến “dân chúng” tại các nước đó đâu?
Trong bài “As France takes the reins on Libya, Sarkozy triumphs” đăng trên tờ Los Angeles Times ngày 20.3.2011, bình luận gia Kim Willsher cho rằng Tổng Thống Sarkosy của Pháp chỉ muốn dùng chiến tranh Libya để tạo uy thế cho mình trong cuộc bầu cử sắp tới.
Rất nhiều bình luận gia cho rằng sở dĩ Mỹ và các cường quốc Tây phương đã tấn công Libya vì dầu lửa. Tổng Thống Gaddafi nói trắng ra rằng Mỹ và Tây phương muốn cướp các mỏ dầu của Libya. Các báo thuộc các nước Hồi Giáo Bắc Phi cũng đã quả quyết như vậy, chẳng hạn như tờ El Khabar, một tờ báo bán chạy hàng đầu của Algeria, đã đăng bài bình luận trang nhất với tiêu đề “Khi dầu trộn lẫn với máu người Libya”, khẳng định: "Cuộc chiến thực sự là về dầu mỏ, chứ họ không có gì để làm với người Libya”.
Năm 2003, khi Tổng Thống Bush mở cuộc tấn công Iraq bằng mọi giá, bất chấp luật pháp quốc tế, nhiều nhà phân tích cho rằng mục tiêu của ông Bush chỉ là để cho các công ty tư bản đứng sau ông khai thác các mỏ dầu của Iraq. Trong khi đó một số nhà phân tích khác đã nhấn mạnh đến việc ông Bush muốn tạo cơ hội cho các nhà tư bản Mỹ thực hiện các cuộc đấu thầu quốc phòng. Tổng Thống Obama cho biết cuộc chiến Iraq đã “làm hại tới hàng ngàn, hàng vạn lính Mỹ cũng như người dân Iraq và tốn kém gần 1000 tỷ USD”.
Một số nhà phân tích cho rằng cuộc chiến Libya được Pháp và Anh quyết tâm thực hiện với sự đồng ý của Hoa Kỳ là để ngăn chận Gaddafi biến Libya thành một tiền đồn của Hồi Giáo có thể đối kháng với Israel. Năm 2010, Libya đã đặt mua của Nga đến 10 tỷ USD vũ khí, trong đó có các máy bay chiến đấu, các hoả tiển đối địa và đối không (như S-300 and TOR-1M). Nếu Libya chỉ muốn bảo vệ chế độ thì không cần đến các loại vũ khí đó. Lý luận này xem ra có vẽ vừng vàng hơn.
Hiện nay, ba nhà lãnh đạo Mỹ, Anh và Pháp đã khẳng định không chấp nhận và sẽ không có sự hiện diện của Gadaffi ở chính trường Libya trong tương lai. Họ đang tăng cường các biện pháp để lật đổ Gaddafi. Nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Gerard Longuet nói rằng mục tiêu của NATO lật đổ Gaddafi không phải dễ thực hiện. Thứ nhất là mục tiêu này có được nghị quyết 1973 cho phép hay không? Khó khăn thứ hai là làm cách nào để buộc Gaddafi từ chức? Theo ông, Liên quân “chắc chắn” đang vượt khỏi khuôn khổ nghị quyết 1973, vì nghị quyết của Hội Đồng Bảo An không đề cập đến “tương lai của Gaddafi”.
Thật ra, LHQ cũng chỉ là cái bình phong, khi cần vượt thì cứ vượt, nhưng như Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Gerard Longuet đã nói, vấn đề là “làm cách nào để buộc Gaddafi từ chức?”
NHỮNG CHUYỆN GÌ SẼ XẨY RA?
Tờ Los Angeles Times ngày 18.4.2011 đã đăng bài “The future of Libya” (Tương lai của Libya) của Rajan Menon. Ông là một giáo sư khoa học chính trị tại City College of New York, và là tác giả của cuốn "The End of Alliances” (Sự chấm dứt của Liên Minh). Mở đầu, ông nói rằng cuộc giao tranh ở Libya đã đạt đến một sự bế tắc: Moammar Gaddafi đã chứng minh linh hoạt hơn rất nhiều so với đối thủ của ông tiên đoán. Nếu NATO quyết định chấm dứt bế tắc bằng cách dùng lực lượng của mình tấn công dữ dội hơn, chỉ có một quốc gia (ám chỉ Hoa Kỳ) có đủ sức mạnh cần thiết.
Sau đó ông đưa ra ba hoạt cảnh (scenario) có thể xẩy ra.
Hoạt cảnh thứ nhất là lực lượng của Gaddafi bị NATO tấn công không ngừng một cách thảm hại nên đã co lại. Một số viên chức cao cấp và binh sĩ đào ngũ, chính phủ bị nổ tung, mở đường cho một chính phủ chuyển tiếp hình thành. Đây là điều mà London, Paris, Washington và Brussels hy vọng.
Theo tác giả, kịch bản này rất khó xảy ra và nếu nó có xẩy ra đi nữa, cuộc chiến sẽ gây cho cả hai phe và dân chúng cảnh chết chóc tồi tệ, các cơ sở hạ tầng bị phá hỏng, lượng dầu xuất khẩu bị giảm xuống, và số lượng người tị nạn tăng lên. Những tổ chức từ bên ngoài sẽ được kêu gọi đến cung cấp các dịch vụ cứu trợ và xây dụng trong một thời gian dài trong một môi trường nguy hiểm, nếu không sự hỗn loạn sẽ xẩy ra.
Hoạt cảnh thứ hai là các viên chức quân sự và dân sự đứng lên lật đổ Gaddafi và chia xẻ nhau quyền lực.
Theo tác giả, điều này sẽ không xảy ra dễ dàng. vì phe nổi dậy phải có trong tay một lực lượng khá mạnh mới lật đổ được Gaddafi và sau khi cuộc lật đổ thành công, rất khó liên kết giữa phe đối lập với phe cướp chính quyền để hình thành một chính phủ tạm thời và dù có liên kết được rồi cũng sẽ đi đến chia rẻ.
Hoạt cảnh thứ ba là chia đôi Libya. Phe đối lập chiếm phần phía đông, trong và xung quanh Cyrenaica, rồi lập một chính phủ đối lập như chính quyền Gaddafi ở phía tây hiện nay. Lúc đó, Gaddafi sẽ kiểm soát ít lãnh thổ hơn và có ít dầu hơn.
Nhưng giải pháp này khó tồn tại được lâu. Hai bên sẽ không thể cùng tồn tại trong hoà bình, vì bên nào cũng sẽ củng cố lực lượng để chiếm phần lãnh thổ của phía bên kia.
Các ghi chép lịch sử cho thấy rằng phân vùng là một quá trình đẫm máu (bloody business), đặc biệt khi các bên đều được vũ trang và không thích nhau. Đừng hy vọng rằng sẽ có một cuộc ly dị nhung (a velvet divorce) ở Libya giống như những gì mà người Czechs và người Slovaks đã thực hiện.
Giả thiết sự chia đôi này được áp đặt từ bên ngoài, những bộ lạc theo Gaddafi sẽ không dễ dàng chấp nhận sự phân chia đó, sớm hay muộn họ cũng sẽ tìm cách thống nhất đất nước.
Chúng tôi xin lưu ý: Trong cuộc chiến tại Libya hiện nay, cả lực lượng của Gaddafi lẫn phe đối lập đều dựa trên bộ lạc. Libya hiện nay có 140 bộ lạc với 3 bộ lạc lớn là Warfallah, Kadhafa và Makarha. Tổng Thống Gaddafi đã khôn khéo dung hòa quyền lợi giữa các bộ lạc để lấy được sự ủng hộ của họ và tồn tại cho đến nay.
Các cuộc đấu tranh tại Libya hiện nay đã phát xuất từ bộ lạc Warfallah, một bộ lạc lớn nhất có hơn một triệu dân, đang cai quản khu vực phía đông (Cyrenaica). Tại đây có nhiều mỏ dầu và xuất cảng dầu nhiều nhất. Bộ lạc Warfallah thường than phiền họ không được tài trợ tương xứng với tài nguyên có trong khu vực. Hoa Kỳ và một số cường quốc Tây phương đã dựa trên sự bất mãn này, kích động một sự nổi dậy của bộ lạc này chống Gaddafi.
Bộ lạc Kadhafa phụ trách khu vực trung tâm (Tripolitania), tuy chỉ có khoảng 120.000 dân, nhưng được trang bị hùng hậu và trung thành với Gaddafi.
Cuộc chiến tranh tại các nước châu Phi trong những năm gần đây gây ra những vụ thảm sát đẩm máu như ở Congo, Sudan hay Somalia, đều là chiến tranh giữa các bộ lạc. Một bộ lạc dù nhỏ, vẫn quyết tâm chiến đấu để sinh tồn. Với tình trạng như trên, Libya khó tránh khỏi một cuộc chiến tranh bộ lạc khi Gaddafi không còn. Đó là một thảm họa.
Rajan Menon kết luận: “Người ta có thể tưởng tượng tương lai khác cho Libya. Nhưng điều chắc chắn: Mỗi bên, theo cách riêng của mình, sẽ liên quan đến một số sự thay đổi chế độ, biến động và xây dựng đất nước dưới sự giám hộ của phương Tây. Cát bụi bẩn mà không giải quyết sớm, sẽ tràn đầy.”
NHỮNG HẬU QUẢ TRƯỚC MẮT
Điều mà ai cũng nhận thấy là cuộc biến động hiện nay tại Trung Đông và Bắc Phi đã khiến các công ty dầu lửa lợi dụng tăng giá dầu lên, khiến giá các nhu yếu phẩm tăng theo.
Hôm 16.4.2011, khi kết thúc cuộc họp của Ủy ban Tiền Tệ và Tài chính Quốc tế tại Washington, Ngân Hàng Thế Giới (WB) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) đã cảnh báo: Nếu khu vực Trung Đông và Bắc Phi bị lún sâu thêm vào khủng hoảng, điều đó sẽ đe dọa tiềm năng phát triển kinh tế chung của thế giới.
Đặc biệt nơi nào cuộc “cách mạng hoa lài” bén mảng đến, ở đó dân chủ và nhân quyền bị đe doạ trầm trọng hơn.
Tại Tunisia, nơi phát xuất cuộc “cách mạng hoa lài”, Linh mục Marek Rybinski, 34 tuổi, tu sĩ dòng Salesien, Don Bosco, đã bị cắt cổ và thi hài của ngài được phát giác trong một trường tư do các tu sĩ điều khiển tại Mahouba. Theo cách thế vị linh mục bị sát hại, chính quyền Tunisia quả quyết rằng thủ phạm của vụ sát nhân chính là những người Hồi Giáo quá khích.
Tại Ai Cập, nơi vừa xẩy ra cuộc “cách mạng hoa lài”, sáng ngày 5.3.2011, một nhóm người Hồi giáo đã nổi lửa đốt phá nhà thờ hai thánh Minas và George của các tín hữu Kitô tại làng Soul ở phía nam thủ đô Cairo. Các cuộc đụng độ giữa các tín hữu Kitô và người Hồi giáo đã làm cho 2 tín hữu Kitô bị thiệt mạng và gần 50 người khác bị thương.
Tại Libya, nơi trước đây có khoảng 80.000 tín hữu Kitô Giáo, nhưng kể từ khi cuộc “cách mạng hoa lài” được đưa đến, đa số đành phải bỏ nước ra đi, chỉ còn lại khoảng 5.000 với 15 linh mục và khoảng 60 nữ tu. Các hoạt động từ thiện bị thu hẹp trong khuôn viên nhỏ của các cơ sở Giáo Hội, mọi hoạt động bên ngoài nhà thờ đều bị cấm. Chỉ có các nữ tu là được phép làm việc tại các bệnh viện. Những giáo dân còn kẹt lại, phần lớn là những người lao động nhập cư Châu Phi, đã sử dụng nhà thờ St Francis làm nơi tạm cư, họ sợ đi sâu vào các đường phố, vì thường xuyên bị quấy nhiễu bởi các lực lượng an ninh.
Ngỏ lời với lối 50 ngàn tín hữu trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật 20.3.2011 tại Quảng trường Thánh Phêrô, ĐGH Benedict XVI đã nói:
"Trong những ngày qua, những tin tức đầy lo âu đến từ Libya đã gợi lên trong tôi sự hồi hộp mạnh mẽ và lo sợ. Tôi đã biến điều đó thành kinh nguyện đặc biệt trong tuần Tĩnh Tâm. Giờ đây tôi rất kinh hoàng theo dõi các biến cố mới đây, tôi cầu nguyện cho những người bị liên lụy trong tình trạng bi thảm của đất nước ấy và tha thiết kêu gọi những người có trách nhiệm chính trị và quân sự, hãy quan tâm trước tiên đến sự an toàn và an ninh của các công dân và bảo đảm cho việc cứu trợ nhân đạo được tiến hành.”
Tại thủ đô Tripoli của Libya, ĐGM Giovanni Innocenzo Martinelli cho biết dân chúng trốn chạy khỏi thủ đô vì các cuộc dội bom. Ngài nói: "Chiến tranh không giải quyết gì cả. Tôi không biết cuộc xung đột mới này sẽ kết thúc ra sao, nhưng nó khơi dậy nơi người dân Libya những ký ức đau buồn về quá khứ gần đây của họ".
Năm 2003, khi mở cuộc tấn công vào Iraq, Tổng Thống Bush hứa sẽ đem dân chủ đến cho đất nước này và sau đó sẽ cho lan dần ra các nước chung quanh, nhưng tình trạng về dân chủ và nhân quyền tại Iraq ngày nay còn tệ hơn dưới thời Saddam Hussein nhiều.
Theo thông tấn xã Công Giáo Hoa Kỳ CNS, số thống kê đầu năm 1991 cho biết số giáo dân Cộng Giáo tại Iraq lúc đó là khoảng 500.000 người. Sau khi Hoa Kỳ mở cuộc tấn công, chỉ còn lại khoảng 175.000 người, tức là mất đi khoảng 2/3.
Hôm 31.10.2010, các phần tử al-Qaida có vũ trang đã tấn công nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Baghdad và bắt hơn 100 tín đồ làm con tin. Các lực lượng Iraq đã tràn vào nhà thờ và chấm dứt vụ bắt cóc. Giới chức nói có 46 tín đồ nằm trong số những người thiệt mạng trong vụ này.
Hôm 17.12.2010, bà Melissa Fleming, phát ngôn viên của cơ quan tị nạn Liên Hiệp Quốc cho biết các tín đồ Công giáo Iraq đã “ồ ạt” rời khỏi Baghdad và Mosul kể từ vụ tấn này. Khoảng 1.000 gia đình từ hai thành phố đó đã tới khu vực Kurdistan và Nineveh.
Với những lời đe dọa của al-Qaida, các nhà lãnh đạo Thiên chúa giáo trong ba khu vực bất ổn trong nước đã hủy bỏ những lễ lạc mừng Giáng sinh. Một linh mục ở Baghdad nói: "Như cơm bữa. Người ta không còn ngạc nhiên trước những hành vi bạo lực xảy ra hàng ngày.”
ĐHY Jean-Louis Tauran cho biết dưới thời nhà cựu độc tài Saddam Hussein, các Kitô hữu Iraq được an toàn hơn và được che chở nhiều hơn. Với tình trạng ngày nay, ngài nói: “Quyền lực hiện nằm trong tay kẻ mạnh nhất – đó là nhóm Shiites – và cả nước chìm trong cuộc nội chiến phe phái (giữa các tín đồ Hồi giáo Sunni và Shiite) và ngay cả người Kitô hữu họ cũng chẳng tha.”
Al-Qaeda đã trở lại hoạt động mạnh mẽ tại Iraq. Trong những tháng gần đây, al-Qaeda và nhóm Sunni đã thực hiện nhiều cuộc tấn công vào cả như nơi thờ phụng của các tín đồ thuộc hệ phái Shiite. Hàng động này đã bị khối Hồi Giáo lên án. Vì thế, hai nhóm này đã thay đổi chiến thuật, củng cố hàng ngũ và đợi khi Mỹ rút khỏi Iraq sẽ mở các cuộc tấn công cướp chính quyền.
Nhiều người tin rằng sau khi Gaddafi bị lật đổ tình trạng ở Libya sẽ cũng gióng như ở Iraq.
Như chúng tôi đã nói, trong một hai thế kỷ nữa dân chủ cũng chưa có thể đến được với các nước theo Hồi Giáo ở Trung Đông và Phi Châu. Ở đó, hoặc thiết lập một chế độ độc tài quân phiệt để khống chế các nhóm Hồi Giáo quá khích, hoặc một chế độ Hồi Giáo man rợ được triển khai để chống lại Mỹ và các quốc gia Tây phương.
Ngày 26.4.2011
Lữ Giang



Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 30 2011, 10:03 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 9 2011, 05:30 AM
Gửi vào: #32


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35





Ngày 30 Tháng Tư đọc lại Boris Pasternak



Đã hơn 40 năm từ ngày tôi cầm đọc cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Bác sĩ Zhivago”, bản dịch của Nguyễn Hữu Hiệu, ở phòng nội trú Bệnh viện Bình Dân Sàigòn cho đến hôm nay đọc lại “Dr Zhivago” của Boris Pasternak bản dịch tiếng Anh mới của Richard Purvear và Larissa Volokhowsky, ấn bản tháng 10 năm 2010, cảm tưởng của tôi vẫn sâu đậm như ngày đầu.

Ấn tượng mạnh mẽ của tôi về một nước Nga vĩ đại, bao la, băng giá trong thời kỳ chiến tranh Âu Châu, cách mạng (Không dùng từ này) qua đến nội chiến với bạo động, bạo lực cách mạng, hình ảnh các chuyến tầu hỏa xuyên qua những cánh rừng tuyết phủ, làng mạc bị đốt cháy, thị trấn bỏ hoang, những người nằm chết đói trong các thành phố lớn, Moscow, St Petersburg.



Trong khi cầm đọc cuốn sách đầu tiên viết về Cách mạng Sô Viết, về những bộ mặt trái và những sự thật trong khung cảnh miền Nam VN đang chống Cộng vào thời kỳ đầu thập niên 1970 giới trẻ chúng tôi đang âu lo về một nước Việt Nam có thể sẽ đi vào vết xe đổ của “Cách mạng và Giải phóng”. Một nước Nga có nền văn hóa cao với các văn hào vĩ đại như Pushkin, Chekhov, Gogol, Tolstoy, Dostoevsky đã bị đập vỡ. Tôi làm quen với những tên Nga lạ lùng như Zhivago, Larissa, Antipov, Komarovsky, Strelnikov ngoài tên Stalin quen thuộc.

Cuốn sách được dịch lại trong thời điểm người Nga đã đối diện với sự thật lịch sử nhờ cách mạng Đông Âu năm 1989 đưa đến sụp đổ đế quốc Sô Viết năm 1991 khác hẳn với Bắc Kinh vừa khánh thành Bảo tàng viện lịch sử trong đó xóa bỏ hình ảnh cách mạng ruộng đất và cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông. Các thành tích giết người của Stalin và hình ảnh các trại giam Gulag, quần đảo ngục tù được phô bầy sau khi tượng Stalin bị hạ bệ, không như các tượng Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh vẫn còn được thờ ở Trung Hoa và Việt Nam.

Nhà độc tài Stalin giết hơn chục triệu người trong thời kỳ Cách mạng Sô viết và qua các quần đảo ngục tù Gulag. Stalin với câu nói “một mạng người chết là một thảm trạng còn triệu người chết chỉ là con số vô nghĩa” chỉ thua Mao Trạch Đông với hơn 30 triệu người chết qua “Bước nhẩy vọt” và trong các nông trường tập thể.

Người Nga có thể tha thứ nhưng không quên những nạn nhân của Stalin, đối với những người có thân nhân bị giết thảm khốc, họ khó có thể quên hận thù, nói như các sử gia sự khác biệt của lòng thù hận không tha thứ “giữa con số không và số một là con số vô định”.

Con số người bị giết tập thể vì sắc dân hay vì tinh thần quốc gia của CS Sô Viết gần với Đức Quốc Xã. Từ năm 1933 đến 1945, con số người chết trong các trại Gulag là một triệu người. Qua cuộc “Đại khủng bố”, Stalin giết hơn một triệu người. Từ 1930 đến 1933 có hơn năm triệu người chết trong đó nạn nhân người Ukraine lên đến 3.3 triệu. Năm 1937, “Đại khủng bố” có hơn 386,798 người bị bắn, tháng 8 năm 1937 có 111,091 người Nga bị giết vì nghi ngờ làm gián điệp cho Ba Lan. Trước thế chiến thứ hai, Stalin giết người nhiều hơn Đức Quốc Xã. Đến thời kỳ cách mạng, 30 triệu công dân Sô Viết bị chết đói và 10 triệu người bị bắn trong các trại tập trung.

Hai lầm lỗi lớn nhất trong thế kỷ 20 là Holocaust và Gulag. Danh từ Gulag đồng âm với Archipelago (Arkhipelag Gulag) đến từ chủ trại tù Solovki, Gulag đầu tiên trên đảo Kolovetsky, tên Degtyarev, ông này chuyên bắn và giết tù nhân được tặng biệt danh “nhà giải phẫu trại tù”.

Nhà văn Solzhenitsyn nghe danh từ Gulag từ tù nhân khoa học gia Dimitry Likhachev ở nhà tù Silovki. Nhờ nhà văn Solzhenitsyn, thế giới biết đến quần đảo ngục tù nhưng năm 2003 bà Anne Apple baum viết rõ: “Gulag là hệ thống lao động, nô lệ, trại lao động, trại trừng phạt, trại giam phụ nữ, trại tù chính trị, tội phạm. Gulag từ chữ G viết hoa, đổi thành danh từ gulag (chữ g viết thường) đồng nghĩa với hệ thống áp bức Sô Viết, một nhà tù nhỏ trong nhà tù vĩ đại là Sô Viết nhà tù không hàng rào kẽm gai. Tù nhân vào Gulag như vào máy xay thịt “bị bắt, phỏng vấn, tù nhân bị chở trong những xe chở trâu bò không máy sưởi, lao động cưỡng bách, gia đình tan vỡ, vì bị lưu vong, lưu đầy, chết sớm, những cái chết không cần thiết”.

Doctor Zhivago

Cuốn truyện Dr Zhivago được Hollywood biến thành cuốn phim nổi tiếng năm 1965 với Julie Christie trong vai Larissa (Lara, có nghĩa hớn hở) và Omar Sharif trong vai Dr Zhivago (Zhiv, sự sống) đã làm sai lạc nội dung cuốn truyện, biến câu chuyện Dr Zhivago thành chuyện tình với bài hát tuyệt vời “Somewhere my love” và chân dung chàng thi sĩ.

Đạo diễn David Lean nổi tiếng với phim “Cầu sông Kwai” đã làm thất vọng nhà văn Vladimir Nobokov (tác giả truyện Lolita) người đã gọi sách Dr Zhivago là “một trong những sự kiện vĩ đại trong lịch sử văn học và đạo đức của thế giới”.

Câu chuyện xoay quanh hai nhân vật chánh Yuri Zhivago và Lara. Zhivago có máu thi sĩ, thích triết lý và huyền bí, thi sĩ tính của người Nga vớI thơ là: “ánh sáng, không khí, tiếng động của cuộc đời, mùi hoa từ ngoài vào căn phòng qua cánh cửa sổ”. Zhivago không đẹp trai như tài tử Omar Sharif, Lara ngày đầu gặp Zhivago đã bâng khuâng tự hỏi “Yuri có đẹp trai không vì ngoài bộ râu mép, chàng có cái mũi tẹt và hếch (snub-nosed)” Zhivago từ triết lý đi qua tôn giáo. Lara sống thực tế, không tôn giáo trừ khi bị bắt buộc đi nhà thờ thì cũng ngồi “khóc sụt sùi” nhưng sau đó về nhà quên cả thượng đế.

Ý niệm về “con người tự do” của Zhivago từ thi sĩ Boris Pasternak là “sống trên đời phải biết hy sinh”. Cậu bé Yuri Zhivago, ngay trong phần đầu câu chuyện và phần đầu cuốn phim, sau đám tang mẹ, ban đêm thức đứng ở cửa sổ nhìn ra ngoài trời đầy tuyết, cậu bé đã nghĩ về cuộc đời “thế giới bên ngoài chung quanh như cánh rừng vì vậy khi mẹ mất cậu đã rúng động vì cậu đã đi lạc vào cánh rừng với mẹ, nay mẹ mất cậu bơ vơ cô đơn trong cánh rừng, cánh rừng ấy bao gồm tất cả mọi điều trên đời...” Cánh rừng từ đó có ý nghĩa lớn và dính liền với đời của Bs Zhivago. Cánh rừng phủ tuyết trắng mênh mông bên ngoài chuyến xe lửa khi cha của Zhivago nhẩy xuống tự vẫn. Cánh rừng khi Zhivago bị quân cách mạng bắt cóc. Cánh rừng và tuyết ở Moscow khi chàng Yuri trẻ tuổi đi trên xe trượt tuyết băng ngang cùng một tâm cảnh với Lara ngay cả khi Zhivago chưa hề gặp nàng.

Cậu bé Zhivago lớn lên, hay trầm tưởng, thích viết văn, làm luận xuất sắc trong trường, mơ viết sách, thành thi sĩ nhưng sau lại mê vật lý, hóa học, cảm thấy “nghệ thuật đôi khi không hợp vì máu thi sĩ có khi vui buồn quá độ không thể là một nghề để sinh nhai nên cậu chọn y khoa một nghề có thể giúp ích cho xã hội.

Bác sĩ Zhivago sống trong thời cách mạng, không bị dao động vì những xáo trộn gây ra khi cách mạng đã làm “sụp đổ mái nhà của nước Nga, cả dân Nga một ngày thưc dậy thấy mình sống trong căn nhà không mái”. Mái nhà nước Nga đã bị cách mạng Bolsheviks những kẻ sanh ra với máu chiến tranh, không phải vì ý thức hệ cách mạng của giới trí thức Nga năm 1905, Bolsheviks với máu phá hoại phá vỡ tất cả nền tảng tốt đẹp của nước Nga”.

Bác sĩ Zhivago bất đồng với cách mạng xây dựng “con người mới xã hội chủ nghĩa” đi ngược với tự nhiên. Thuyết sống hiện hữu của Zhivago là “con người sinh ra để sống, không sửa soạn trước cho cuộc đời”, con người không sửa soạn ấy thờ ơ với cách mạng vì “cách mạng là căn bịnh của thời đại chúng ta”.

Cách mạng và chiến tranh đem đến quyền lực cho thiểu số lãnh đạo còn đối với những người dân vô tội họ là nạn nhân. Bs Zhivago sống một cuộc đời trôi nổi, không tự mình làm chủ cuộc đời, làm bác sĩ đúng với lương tâm, làm việc tốt, tham dự vào chiến tranh vì bị cưỡng bức nhưng hoàn toàn không dính dáng với bất cứ những xáo trộn của xã hội và con người, ngay cả Lara cũng bị ngọn sóng định mệnh đẩy đi ra khỏi cuộc đời của Yuri Zhivago.

Gia đình Zhivago giầu có nổi tiếng nhưng bị phá sản trước cách mạng. Sau khi mẹ mất Yuri Zhivago về sống với gia đình Gromeko. Hôn nhân đầu tiên với Tonya Gromeko đến từ tình bạn. Trước khi mất, bà Anna mẹ của Tonya cầm tay Yuri và Tonya bắt hai cô cậu hứa sẽ gắn liền hai cuộc đời của họ. Cảm thấy trung thành với vợ nhưng Zhivago không tìm thấy tình yêu như đối với Lara. Có máu nghệ sĩ, ông bác sĩ Zhivago không tự chủ, cuộc đời tình ái nghiêng về thơ hơn là về khoa học. Cuối cùng Zhivago có năm con, ngoài Tonya, Lara, Zhivago còn một bà vợ thứ ba với một đứa con, chàng sống lơ mơ không để ý đến bất cứ đứa con nào.

Lara, sống trong gia đình tiểu tư sản, hứa hôn với Pasha Antipov, dạy học ba năm trong nhà gia đình Kologrivovs, đủ tiền để trả nợ cờ bạc 700 “Rup” cho ông anh. Luật sư chủ nợ Komarovsky lợi dụng sự ngây thơ của Lara, dùng Lara như nô lệ tình dục. Tiền, Tình, Dục vọng, Viktor Komarovsky điển hình một luật sư lạnh lùng, quyến rũ, dụ dỗ Lara cũng là người đã đẩy cha của Yuri Zhivago vào con đường tự vẫn trên chuyến xe lửa. Con quỷ Komarovsky và định mệnh đã đưa đẩy Lara và Bs Zhivago đến với nhau. Tiếng súng của Lara bắn vào Komarovsky ở đêm dạ tiệc giáng sinh nhà Sventisky cũng là tiếng súng Lara tự bắn vào mình và bắn vào định mệnh. Định mệnh của Lara và cũng là định mệnh của nước Nga. Tiếng súng bắn hụt vào Komarovsky đã làm Zhivago nhớ đến một Lara bị Komarovsky khống chế trong căn phòng cạnh bà mẹ của Lara khi Bs Zhivago đến cứu khi bà uống thuốc độc quyên sinh.

Lara bỏ nghề cô giáo, trở thành y tá trong khi đi tìm người chồng mất tích Pasha Antipov. Pasha không mất tích nhưng theo cách mạng bỏ hai mẹ con Lara sau khi biết chuyện cũ giữa Lara và Komarovsky. Lara và Zhivago cùng làm việc ở bệnh viện dã chiến (trong biệt thự bị cách mạng tịch thu) bắt đầu yêu nhau nhưng khác với cuốn phim của David Lean bắt đầu chuyện tình của Zhivago với cái hôn nồng cháy khi Lara ủi quần áo ở bệnh viện, lỡ làm cháy áo trên bàn ủi.

Trong truyện, Bs Zhivago nói rất nhiều, thích biện luận, tranh cãi. Hai người yêu nhau nhưng không “sấm sét” như phim Hollywood. Họ sống theo cuộc đời trôi cuốn nhưng nói nhiều về định mệnh nước Nga, về triết lý cách mạng. Zhivago biện luận giữa Marx và khoa học “Chủ nghĩa Marx không phải là khoa học tích cực, không phải là khoa học vì khoa học quân bình hơn lý luận Marx. Con người khi nắm quyền luôn luôn vì quyền lợi của họ quay mặt đi với sự thật, tôi không thích những kẻ thờ ơ với sự thật”. Còn Lara nhận thấy “Dối trá đã đến trên đất nước Nga, dân bắt đầu hát một bài hát giống nhau, không biết lúc nào sự thật sẽ đến hay lúc nào sự thật được chấp nhận ở nước Xã hội Chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới”.

Zhivago và Lara chỉ sống chung khi về tỉnh Yuriatin (một thành phố tưởng tượng ở Urals). Zhivago tình cờ gặp lại Lara trong thư viện, đi theo về nhà gia đình Lara bị Hội đồng Cách mạng chiếm, những gia đình chia nhau chen chúc sống trong thời “cách mạng”. Ông Bs Zhivago từ khi dọn về Urals từ Moscow không về nhà với vợ, ở với Lara trong hai tháng trước khi bị quân Bolsheviks bắt cóc. Ba lần tìm cách trốn nhưng bị bắt lại ông không còn tìm cách trốn nữa. Quân cách mạng di chuyển liên tục, Bs Zhivago trở thành tù nhân “trong một nhà tù không hàng rào kẽm gai, không có lính canh, không có tháp canh, người bị tù và cai tù sống chung” Boris Pasternak tả cảnh tù giống như dân Nga hay dân Việt sống trong xã hội chủ nghĩa, một nhà tù lớn.

Những kẻ giải phóng Bs Zhivago “chìm đắm trong sự ngu dốt và nghèo đói. Họ lúc nào cũng nghĩ sẽ giải phóng dân, sẽ làm dân sung sướng hạnh phúc mặc dù dân chúng không yêu cầu họ. Họ nghĩ rằng không nơi nào trên thế giới có hạnh phúc hơn trại giam của họ.”

Cuộc cách mạng được Bs Zhivago chứng kiến đầy đủ với những thảm cảnh như tháng 2, 1917, ở mặt trận miền Tây, người chỉ huy quân Cách mạng Nga bắn giết không mục đích, vài năm sau cũng chính kẻ ấy ở Urals trong trận nội chiến đã trở nên điên khùng vì những ký ức cũ đã làm hắn mất trí, giết người không lý do, nhiều khi giết chỉ vì kẻ đối diện cười dễ ghét. Cuối cùng viên chỉ huy Bolsheviks tự bắn vào đầu để tránh cơn khủng hoảng thần kinh.

Định mệnh tách Lara ra khỏi cuộc đời Zhivago. Lara đi khỏi Yuriatin với Ls Komarovsky, Bs Zhivago về lại Moscow, viết văn, dửng dưng với cuộc đời và với chính mình, yêu Moscow thành phố tan nát sau cách mạng “nàng đã giúp tôi trưởng thành”, nàng là Moscow chứ không phải là Lara.

Cuối cùng thì Lara sống một cuộc đời cô độc. Ông chồng Pasha bí danh Strelnikov (kẻ bắn sẻ) tự sát. Dr Zhivago chết vì chấn động cơ tim. Kẻ đáng lẽ bị bắn chết, Ls Komarovsky, lại được Boris Paternak cho sống.

Lara trở về thăm Bs Zhivago ngày tang lễ, thầm thì khóc cạnh quan tài “họ yêu nhau vì mọi sự chung quanh muốn họ yêu nhau: đất dưới chân, bầu trời ở trên cao, mây, cây cối, rừng và hầu như mọi sự chung quanh vui với tình yêu của họ hơn là chính họ”.

Cuốn truyện Dr Zhivago xuất bản đầu tiên ở Ý năm 1957, năm sau có bản tiếng Anh, mãi đến 30 năm sau nhờ “Đổi Mới” sách mới được xuất bản ở Nga. Boris Pasternak mất 10 năm mới viết xong truyện, nhờ TBT Nikita Krushchev qua bài “diễn văn bí mật” vạch trần tội ác Stalin năm 1956. Tác giả bị quản thúc tại gia. Tờ báo Pravda (Sự Thật) tấn công Pasternak nhưng con của Pasternak thay bố đi lãnh giải Nobel Văn chương ở Thụy Điển khác với trường hợp của Lưu Hiểu Ba ở Trung Cộng 51 năm sau.

Cách mạng xẩy ra ở Trung Hoa, và ở Việt Nam giống y như ở Nga qua truyện Bs Zhivago.

Khi Mao Trạch Đông được các nhà báo Tây phương hỏi: “Theo ông hậu quả của cuộc cách mạng Pháp năm 1789 như thế nào?” Mao Trạch Đông trả lời “Chưa ai rõ!”

Hậu quả của cuộc cách mạng 1789 đối với Mao chưa rõ nhưng hậu quả của những cuộc cách mạng (Không dùng từ này) đã rõ: phải mất nhiều thế hệ, Trung Hoa và Việt Nam mới xây dựng lại được căn nhà đổ nát từ trong ra ngoài.

Việt Nguyên

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 10 2011, 12:16 PM
Gửi vào: #33


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Cuộc chiến cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS

và con rồng kỳ diệu Đặng Mỹ Dung



Sau 22 năm dài nghiên cứu qua nhiều tài liệu của CIA, FBI và sách báo ngoại quốc và VN kể cả CS, đầu năm 2010, Tiến sĩ Roger Canfield xuất bản quyển “Comrades In Arms: How the Ameri-cong won the Vietnam war against the common enemy-America” (Bạn Đồng đội: Làm thế nào bọn Mỹ-Cộng đã chiến thắng trong cuộc chiến VN chống lại kẻ thù chung của Mỹ). Tác giả nhận định “kết quả cuộc chiến là người Mỹ đã thua mặt trận chính trị ngay tại Quốc hội Hoa Kỳ năm 1975 và ảnh hưởng của truyền thông và các phong trào hoà bình-phản chiến, chớ quân Mỹ không thua trận do bị cộng quân đánh”. Điểm khác biệt giữa sách này với hàng ngàn cuốn sách viết về chiến tranh VN là ở chỗ chưa có một cuốn sách nào nghiên cứu chi tiết các cuộc tiếp xúc và thăm viếng qua lại giữa chánh quyền Hà Nội và phe phản chiến tại Mỹ lúc bấy giờ

Nhân dịp này, Đài VOA đã phỏng vấn Giáo sư Carlyle A. Thayer -một chuyên viên hàng đầu về VN tại Học Viện Quốc Phòng Úc Đại Lợi, Trường Đại học NSW, về nhận định của Ts Canfield. G/sư Thayer trả lời: “Cuộc chiến VN là cuộc chiến cách mạng kéo dài. Và hiểu theo cách CS đó là cuộc chiến kết họp giữa quân sự và chính trị. Đó là cuộc đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao. Tôi không đồng ý với ý kiến cho rằng HK thua tại mặt trận ở quê nhà. Có rất nhiều cuộc nghiên cứu sâu rộng về vai trò của truyền thông trong cuộc chiến này, nhưng không có kết quả nào ủng hộ ý kiến cho rằng phong trào phản chiến tại Mỹ đã thành công trong việc dẫn tới việc Mỹ rút quân ra khỏi VN. Tôi cũng không đồng ý với quan điểm cho rằng HK thua trận. Cuộc chiến mà HK đương đầu là một cuộc chiến cách mạng kéo dài và vì thế nói thắng hay thua là không họp lý, vì theo thời gian mục tiêu của nước Mỹ thay đổi. Mỹ đã không thành công trong việc duy trì độc lập cho phe Cộng Hòa ở VN. Đây không phải là cuộc chiến tranh hiểu theo nghĩa thông thường là một quốc gia xâm lược một nước khác, mà đây là cuộc cách mạng đổi mới, một cuộc chiến cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS”. (Trà Mi, VOA, 23-03-2010)



Người viết bài này luôn cho rằng chính giới Mỹ đã lợi dụng phong trào hòa bình-phản chiến để thực hiện mục tiêu chiến lược của họ. Trong những năm đầu, truyền thông báo chí ủng hộ chính quyền Johnson can thiệp vào VN. Đến khi việc áp lực Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán sắp đạt được kết quả, -tháng Hai 1967, Chủ tịch HCM chấp nhận đề nghị đàm phán của TT Johnson- từ cuối năm 1967 các phong trào hòa bình phản chiến bắt đầu bùng phát đòi chính phủ rút quân khỏi VN. Họ đã thể hiện “đệ tứ quyền” để bày tỏ nguyện vọng. Sau khi HĐ Paris ra đời, Quốc hội HK thể theo lòng dân, giảm dần viện trợ quân sự cho VNCH để áp lực TT Thiệu thi hành hiệp định hòa bình. Thời gian HK dùng sức mạnh quân sự để áp lực Hà Nội phải đàm phán là hai năm, tương đương với thời gian Quốc hội Mỹ giảm dần quân viện để áp lực TT Thiệu thi hành hiệp định hòa bình.



Tôi có chung ý nghĩ với G/sư Thayer là HK không thua trận ở VN. Tôi còn nhận thấy LX đã lợi dụng việc HK tuân thủ HĐ Paris: tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân MN và không can dự vào công việc nội bộ MN, để ủng hộ Hà Nội thôn tính MN, sau khi HK rút lui. Từ đó HK đã đưa LX và các nước Đông Âu bước dần đến chỗ cáo chung vào cuối thập niên 1980. Dựa vào đâu để khẳng định điều đó? Là vì, ba tháng sau biến cố 30/4/1975, HK, Gia Nã Đại cùng LX và toàn thể 33 nước Âu Châu ký bản Định ước cuối cùng Helsinski ngày 1/8/1975. Tất cả đồng cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Âu Châu và không can thiệp vào công việc của các nước này. HK đã đáp ứng đòi hỏi này của LX và từ đó Brezhnev vững tin HK không thể ủng hộ Tây Đức thống nhất nước Đức. Nhưng 6 năm sau, từ 1981 Công đoàn Đoàn kết nổi lên ở Ba Lan, đe dọa sự sống của Nhà nước CS Ba Lan. LX liền điều động chiến xa chuẩn bị đàn áp như họ đã từng làm ở Hung năm 1956 và Tiệp năm 1968. Song lần này họ không dám liều lĩnh vì bản Định ước cuối cùng Helsinski. HK tuyên bố nếu LX dùng bạo lực can thiệp vào Ba Lan, HK cũng sẽ can thiệp bằng bom nguyên tử.

Sự quyết liệt của HK khiến LX phải chùng bước. Trong vòng 26 tháng sau đó, ba lãnh tụ tối cao LX có lẽ vì quá quẩn trí trước tình thế, đã lần lượt qua đời: Breznhev (10/11/1982), Andropov (9/2/1984) và Chernenko (10/3/1985). Tân lãnh tụ Gorbachev chấp nhận sự tan rã của khối CS Đông Âu qua lời tuyên bố “bất cứ quốc gia nào cũng có quyền quyết định vận mạng riêng của họ”. Ông đề ra các biện pháp cải cách chính trị một cách sâu rộng như chế độ tổng thống được thành lập, vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng CS bị hủy bỏ, hệ thống đa đảng được chấp nhận. Kế hoạch cải cách của Gorbachev gặp sự chống đối của những thành viên bảo thủ trong Bộ Chính trị. Dựa vào quân đội, công an và mật vụ là ba công cụ của nền chuyên chính vô sản, nhóm bảo thủ tổ chức đảo chính lật đổ Gorbachev, nhưng bất thành vì quân đội, công an, mật vụ không nổ súng vào nhân dân. Cuộc đảo chính của phe cực đoan thất bại, quyết định đầu tiên của Gorbachev khi trở lại chính quyền là đặt Đảng CS LX ra ngoài vòng pháp luật, giải tán Ban chấp hành Trung ương và từ chức Tổng bí thư đảng.



Từ 1991 LX và khối CS Đông Âu sụp đổ. HK ủng hộ tối đa TT Boris Yelsin trong vai trò lãnh đạo nước Nga trong thời “hậu (Không dùng từ này)”. Chiến tranh lạnh chấm dứt, song mối thân tình giữa lãnh tụ hai siêu cường thù địch vẫn duy trì. Khi cựu TT Reagan qua đời, ông Gorbachev -cựu Tổng Bí thư Đảng CSLX và là cựu tổng thống LX đã đích thân đến HK tiển đưa ông đến nơi an nghĩ cuối cùng. Đó là sự suy nghĩ của tôi về “thời kỳ hậu VN”, tôi chưa hề có ý nghĩ sâu xa, rất hữu lý như Giáo sư Thayer về “cuộc chiến cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS”. Nay nghĩ lại, nếu VNCH giành được thắng lợi trong cuộc tuyển cử dân chủ tự do theo tinh thần HĐ Paris 1973, thì sự tồn tại của MN tự do cũng không thể lâu dài. Một khi CS còn thống trị ở miền Bắc, họ sẽ tìm mọi cách để thôn tính miền Nam bằng mọi giá. Người ta kỳ vọng với sự sụp đổ của LX, VN sẽ theo gương các nước Đông Âu từ bỏ chủ nghĩa CS. Một chủ nghĩa bị Cộng đồng các nước Âu Châu lên án là phi nhân tính, là thảm họa cho các dân tộc và tội ác chống nhân loại.

Đối với VN, chủ nghĩa CS còn làm mất nước khi Hà Nội chủ trương “hợp tác toàn diện” với Bắc Kinh. Hậu quả là ngày nay Ảỉ Nam Quan, Thác Bản Giốc trở thành một phần lãnh thổ của TQ. Hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc huyện Tam Sa của TQ. Toàn bộ biển Đông thuộc TQ. Sự “hợp tác toàn diện” dẫn đến sự lệ thuộc toàn diện, cuối cùng VN có nguy cơ trở thành một quận huyện của TQ như thời Bắc thuộc, vì hai lý do: một là tham vọng cố hữu của “thiên triều” TQ, hai là sự trả thù của CSTQ đối với (Không dùng từ này) mà Đặng Tiểu Bình gọi thằng là “phường vong ân bội nghĩa”.



Trong tình thế như kể trên, từ hai năm trước HK tuyên bố trở lại Biển Đông sau khi TT George W. Bush tuyên bố với TT Nguyễn Tấn Dũng là HK “ủng hộ VN bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ” (6/2008). Ngày 28/4 vừa qua, trong lời phát biểu tại Arlington, Virgina, bà Michèle Flournoy, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng HK, phụ trách các chính sách khu vực Á châu, cho rằng “cần xây dựng quan hệ đối tác với Việt Nam. Đây là một trọng tâm trong việc xây dựng mối quan hệ chiến lược tại khu vực Châu Á”.. Theo bà, một số thế lực ở đây đang củng cố và kiểm soát khu vực, điều này làm suy yếu hình ảnh về khu vực Đông Á hòa bình và thịnh vượng. Do đó HK cần tăng cường sự hiện diện lâu dài tại Châu Á, xây dựng các liên minh không truyền thống để răn đe và đối phó hiệu quả với các mối đe dọa”. Đây là cơ hội, giới lãnh đạo VN phải có quyết định dứt khoát giữa hai lựa chọn đã dấy lên từ bấy lâu nay: theo Tàu mất nước, theo Mỹ mất đảng. Vấn đề không chỉ thuần túy như vậy mà là Nghĩa vụ Yêu Nước và Trách nhiệm đối với Đất Nước. Không phải theo Mỹ mà hợp tác với Mỹ để bảo vệ toàn vẹn toàn thể lãnh thổ, để VN trở thành một nước Dân chủ Tự do, Độc lập tự chủ, không còn lệ thuộc bất cứ cường quốc nào, cả kể cả Nga, Tàu hay Mỹ. Đó là mục tiêu của HK khi can dự vào cuộc chiến VN trước đây. Còn ngày nay khu vực biển Đông đang bị đe dọa, thì mối quan hệ chiến lược với các nước trong khu vực và HK là điều cần thiết, không phải để đương đầu với một thế lực nào mà là để duy trì sự ổn định giúp khu vực phát triển phồn vinh. Đó là chủ trương mới của HK tại Đông Á trong thế kỷ 21, bao gồm các cường quốc lớn như Ấn, Nga, Tàu, Nhật…



Giờ đây, sự tồn vong của đất nước là mối quan tâm hàng đầu của đồng bào ta ở trong nước và hải ngoại. Tôi mong mõi đồng hương ở Sydney đến tham dự đông đảo buổi phát hành Tập san 5 Nghiên cứu Văn Hóa Đồng Nai Cửu Long để nghe Giáo sư Carlyle A. Thayer thuyết trình đề tài “Những biến chuyển chánh trị gần đây ở VN và vấn đề Biển Đông” tại Nhà hàng Quốc tế ở Canley Vale vào ngày Chúa Nhựt 22/5/2011. Chúng ta sẽ yêu cầu Giáo sư Thayer nói rõ hơn nhận định của ông hồi tháng Ba năm ngoái về “Cuộc chiến cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS”của HK trong đó Úc Đại Lợi là đồng minh chung thủy. Đề tài thuyết trình của ông có liên quan gì đến nhận định trên của ông và thời điểm đã chín muồi chưa?

Nhân đây, tôi cũng mong mõi đồng hương tham dự đông đảo ba buổi nói chuyện tại Melbourne, Sydney và Adelaide của con rồng kỳ diệu Đặng Mỹ Dung đến từ HK. Qua tác phẩm Ngàn Giọt Lệ Rơi, cho thấy chị đã đóng góp ít nhiều vào cuộc chiến cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS. Chị chống Cộng có ý thức ngay từ buổi thiếu thời, khi chị sống với cha là một đảng viên CS nhiệt thành trong các bưng biền kháng chiến. Tôi xin trích dẫn một số ý thức của chị trong tác phẩm NGLR.



“Tôi nhớ hoài ngôi nhà ở gần ngã tư Ong Vèo. Ngôi nhà ngói đỏ,trước hiên có bốn cây cột gỗ mun to tướng. Nhà này không phải là nhà riêng, mà là cơ quan hoạt động chánh trị của ba tôi. Má tôi biết Việt Minh lấy nhà của những điền chủ giàu có để làm trụ sở, các cơ quan và nhà ở cho gia đình cán bộ. Má tôi không thích chủ trương cướp nhà kiểu này, mà phải âm thầm sống trong hoàn cảnh trái với lương tâm mình. Rồi má tôi xin tiền của ông bà ngoại để lén trả tiền mướn nhà và đất cho chủ điền. Và mỗi lần di chuyển đến địa phương khác, VM vẫn mượn nhà, mượn đất như vậy. Má tôi phải trả tiền để không bị lương tâm cắn rứt. Đó là một phim tài liệu trắng đen chiếu đi chiếu lại trong tâm khảm tôi mà má tôi là người kể chuyện”. Lúc đó MD 5 tuổi.



Sau đó, gia đình MD theo cha tới “Kim Qui. Là một rừng tràm sát bên bờ rừng U Minh, có con kinh chảy ra biển, gần Đá Bạc. Thế là có sự hiện hiện của nhiều khuôn mặt “đưa đám” trong nhà… Đó là các cán bộ từ phương xa đến, có người nói giọng Nam, có người nói giọng Huế, giọng Trung; và có cả người nói giọng Bắc… Đối với ba tôi thì người miền nào đến đây cũng là đồng chí của ông”. NGLR nhắc đến địa điểm Kim Qui Đá Bạc, khiến người đọc “rùng mình rởn tóc” về tội ác của CS. Nơi đây VM đã giết hại rất nhiều người yêu nước, điển hình là ông Hồ Văn Ngà, thủ lãnh Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng.

Giữa tháng 8/1945, được tin Nhựt đầu hàng, ông Hồ Văn Ngà đứng ra kêu gọi các đảng phái chính trị và tôn giáo hãy đoàn kết lại, thành lập Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất “”đấu tranh chống thực dân Pháp sắp trở lại Nam Kỳ, để bảo vệ nền độc lập tự do”. Khi Việt Minh rút lui khỏi Sàigòn trong đêm 23/9/1945, ông cùng Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân, Kha Vạng Cân thành lập Ủy ban Phong tỏa Đô thành Sàigòn-Chợlớn để chống Pháp. Nửa đêm hôm đó, VM tới bắt ông dẫn đi biệt tích. Về sau người ta được biết năm 1946, ông Hồ Văn Ngà bị đập chết bằng củi đòn, thi hài bị thả trôi sông ở vùng Kim Qui Đá Bạc (Nguyễn Long Thành Nam, Phật Giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Nxb Đuốc Từ Bi, California, 1991, Tr.366) Trong sách Hơn Nữa Đời Hư, ông Vương Hồng Sển đã kể lại khi bị VM quy tội Việt gian, ông Hồ Văn Ngà đã trả lời như sau: “Các anh muốn giết tôi thì giết mà đừng gán cho tôi tội Việt gian” (Nxb Văn Nghệ, California, 1995, tr.162)



Tác giả ghi lại ký ức ngày Tết đầu năm 1955 tại nhà ông bà ngoại, năm ĐMD 9 tuổi, trước khi thân sinh cô và các cậu lên đường tập kết ra Bắc. “Bữa cơm cuối cùng trong gia đình bị gián đoạn bởi một chuyện bất thường xảy ra. Trong khi chúng tôi đang ăn, một người có trách nhiệm giữ an ninh cho ba và mấy cậu bước vô, xin nói chuyện với cậu Chin Thùy…Một lát sau ba tôi trở lại bàn ăn, nói cho gia đình biết là có một người đàn ông muốn băng qua lộ để về Cái Thanh, một làng nhỏ bên kia quốc lộ số 4. Ông ta nói rằng má của ông đau nặng, ông muốn về thăm má. Không một ai trong nhóm giữ an ninh biết ông là ai, nên họ quyết định giữ người này lại. Ông ngoại ngồi nhâm nhi cốc rượu, chờ ba tôi dứt lời mới lên tiếng: “Thà bắt lầm hơn thả lầm, phải không con?” Ông cho rằng ba tôi không có quyền quyết định khi chuyện có liên quan đến gia đình người khác. Ông nói “Nếu má thằng Khôi đau nặng, cậu muốn thằng Khôi về thăm má nó, con tính làm sao?”

Sau bữa ăn, cậu Chín dẫn người đàn ông vô nhà. Ông ta là một nông dân. Chân ông còn dính xình khô, quần xắn lên khỏi đầu gối và ướt nhẹp. Ông khép nép ngồi bên mép chiếc ghế đẩu, mặt đầy lo sợ. Ông cúi đầu chào gia đình tôi, nhưng không dám nhìn thẳng mặt ai. Người đàn ông lập đi lập lại lý do cần phải băng qua lộ đêm đó “Má tui đau nặng, tui phải gặp bả trước khi bả nhắm mắt ông à”. Tôi thấy bác nông dân ôm mặt khóc. Tim tôi đau nhói khi tôi nghe tiếng nức nở của bác. Tôi nhìn người đàn ông trạc tuổi ba tôi, ngồi trước mặt ba tôi và các cậu Tư cậu Chín. Những người đàn ông này đều có mẹ già, ai cũng biết thương yêu, và ai cũng được yêu thương. Rồi tôi tự hỏi cái gì đã tạo nên sự khác biệt giữa người đàn ông này và những người đàn ông trong gia đình tôi? Người nông dân nầy đã vô tình đem tôi ra khỏi cái nôi của “cách mạng”. Lần đầu tiên trong tuổi thơ, tôi dám nghĩ thầm rằng hành động đêm đó của ba tôi vừa tàn nhẫn, vừa sai bét. Tôi nói thẳng với ông là ba không công bằng với người nông dân nên tôi ngủ không được.



Hai mươi năm sau (1975) tác giả đến thăm cha ở Tokyo, là kẻ vừa chiến thắng…. “Khi bước vào phòng ông, tôi thấy ông đang ngồi cạnh một xấp giấy, trông giống thẻ căn cước, nhưng lớn hơn. Tôi tò mò cầm một thẻ lên coi thì biết đó là giấy gọi nhập ngũ của Mỹ. Giấy này được gởi đi vào tháng 7/1969 cho một thanh niên 19 tuổi. Lúc đầu tôi nghĩ đây là thẻ động viên của một người lính Mỹ tử trận. Một niềm thương cảm tràn ngập trong lòng. Chết cho tổ quốc là một vinh dự. Nhưng tình thương bị dập tắt ngay khi ba tôi cho biết những thẻ động viên đang để trên bàn là những thẻ của những tên phản chiến. Khi nhận được lệnh nhập ngũ thì chúng bỏ trốn, rồi gởi những thẻ này đến Tòa Đại sứ của MTGPMN. Tôi giận tím người khi biết chúng là những tên phản quốc. Như đổ dầu vào lữa, ba tôi vui vẻ nói; “Điều đó chứng tỏ rằng Mỹ đã sai lầm khi tham chiến ở VN”.

Tôi chưa cần phân tích xem Mỹ sai lầm ở chỗ nào, nhưng đã nhận ra một sự thật làm tan nát tim tôi. Đó là sự ngăn cách giữa hai cha con tôi quá lớn; chúng tôi gặp nhau chỉ để xa nhau thêm mà thôi. Lẽ thuờng ở đời, ai không muốn ngả theo phe thắng, để mưu cầu danh lợi cho riêng mình. Nhưng tôi thì không, tôi không bao giờ phản lại Quốc Gia, phản lại lý tưởng mà gia đình tôi đã đi theo. Vì lý tưởng đó mà em trai tôi đã chết khi mới chập chững bước vào binh nghiệp. Tôi nghiêm giọng nói với ba tôi: “Hạng người phản chiến nầy chỉ là những tên phản quốc, hèn nhát, nên mới gởi những thẻ nầy cho kẻ thù”. Ba tôi lắc đầu: “Mỹ nhẩy vào VN là một sai lầm to lớn. Những người Mỹ trẻ này đã sáng suốt nhận ra như vậy”. Tôi cãi: “Họ ngay thẳng, thật thà, làm sao hiểu nổi cái lưu manh của (Không dùng từ này). Vậy khi Liên Xô và Tàu Cộng viện trợ khí giới cho các du kích của MTGP giết đồng bào, thì có chính nghĩa không? Cuộc chiến này sai bét vì người Việt lại giết người Việt”.

Ông dịu dàng nói: “Ba không muốn tranh luận với con gái cưng của ba. Vì ba không bao giờ muốn thay đổi cách suy nghĩ của con. Nếu con hài lòng với niềm tin của con, tức là con đang có hạnh phúc. Đối với ba, gia đình rất đáng quý”. Tôi trả lời “Nhưng đảng của ba còn đáng quý hơn tụi con”. Ba tôi chậm rãi: “Đất nước trên hết đối với ba. Con can đảm, con đã tự lập, con lo cho con được. Con OK”. Tôi lấn tới: “Tất cả người dân miền Nam cũng đã OK. Vợ của ba, con cái của ba đều là hình ảnh của người dân miền Nam sống đơn sơ và hạnh phúc. Chúng con không có gì khác biệt với mọi người. Những nhu cầu, những mơ ước của chúng con đều là nhu cầu và mơ ước của hàng triệu dân miền Nam. Và mọi người đã OK, cho đến ngày Hà Nội đem quân xâm chiếm miền Nam”. Ba tôi gật đầu: Ba biết rõ những nhu cầu của người miền Nam. Ba hứa sẽ cố gắng hết sức mình để đáp ứng những nhu cầu đó”. Tôi chưa kịp nói gì thêm, ông đã đề nghị:”Mình nói chuyện khác đi con”.



ĐMD từng tâm sự “Tôi yêu ba tôi vì tôi yêu người đã xả thân cho đất nước. Tôi có làm phiền lòng ông, chỉ vì tôi dám nói lên là ông đã bước quá sâu vào cậm bẫy của một lũ người phản quốc”. Để kéo ông ra khỏi cậm bẩy CS ở tuổi cuối đời, trong các cuộc gặp gỡ sau đó ở Paris (1976) và London (1977), ĐMD gợi ý ông về hưu, đoàn tụ với gia đình với lý lẽ: Ba đã cống hiến gần hết cuộc đời cho dân tộc. Nay đất nước đã hòa bình, ba 68 tuổi rồi, chúng con muốn ba về sống với má và chúng con. Ba chọn một nước trung lập nào ba thích, dành quảng đời ngắn ngủi còn lại để má và chúng con được cận kề bên ba. Đó là lẽ công bằng. Ông dứt khoát: ba là người VN, sanh ra ở VN và sẽ chết ở VN. Trong khi đó, đại diện MTGPMN tại Paris là Phan Thanh Nam và các đồng chí của ông ta ra sức “động viên” ĐMD thuyết phục bà mẹ trở về nước. Y tuyên dương hành động trở về của bà là một chiến thắng lớn của VN, là cái tát vào mặt TT Gerald Ford và Chính phủ Mỹ đã cho CIA bắt cóc bà đem về Mỹ.

ĐMD không có ý định “tát vào mặt” chính quyền Hà Nội khi thuyết phục người cha rời bỏ VN. Hành động này chỉ muốn nói lên sự thức tỉnh của một người CS sau khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Nhưng ông phản đối ý kiến của con, cho đó là thái độ vô cùng ích kỷ. Ông phải trở về nước, hoàn thành nhiệm vụ giúp MN tái thiết, để phát triển vững mạnh trong một thời gian năm bảy năm, trước khi thống nhất với MB. Trong khi ông lạc quan ở Paris, thì số cán bộ MTGPMN sau chiến thắng 30/4/1975 đã thấy rõ thân phận của mình, như câu nói của người xưa “Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh” (Thỏ chết thì chó săn bị làm thịt) Kỹ sư Trương Như Tảng, Ủy viên Trung ương MTGPMN và là Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa MN đã bày tỏ sự bất mãn khi CS chiến thắng MN, “một quyền lực sắt thép bao trùm khắp nước VN. Lúc thắng trận cũng là lúc CS bắt đầu loại bỏ MTGPMN. Trong buổi tiệc đơn sơ được tổ chức vào năm 1977 để chính thức giải thể MTGPMN, Đảng CS và chính quyền Hà Nội không thèm cử đại diện đến dự”.



Ý định thuyết phục thân phụ lìa bỏ CS bất thành, ĐMD dấn thân vào nghiệp vụ điệp viên chống CS. Nhờ Phan Thanh Nam đón tiếp một cách nồng hậu ở Paris, cô có dịp đặt chân vào trụ sở MTGPMN và văn phòng bà Nguyễn Thị Bình trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán Paris. ĐMD đã tiếp xúc với Đại sứ Hà Nội Võ Văn Sung và phát hiện một số cán bộ CS nằm vùng ở Paris. Những ghi nhận về nhân sự và hoạt động của (Không dùng từ này) tại Paris đều được MD báo cáo cho CIA. Cô giữ mối liên lạc với những người CS bạn của ba cô ở Paris, ông có uy tín lớn đối với họ. Những người CS tin tưởng ĐMD với tình thương cha sâu đậm, cô sẽ giúp họ thu thập những tin tức kỹ thuật và tình báo từ chồng cô. Lần hồi qua sự giao tiếp, cô được Đại sứ Võ Văn Sung giới thiệu với Chủ tịch hội Việt Kiều yêu nước ở Mỹ và Đinh Bá Thi, đại sứ (Không dùng từ này) ở LHQ. Qua Phan Thanh Nam cô gặp Trương Đình Hùng và một số cơ sở CS hoạt động ở Hoa Thạnh Đốn. Hùng nhờ cô chuyển một số tài liệu mật do Ronald Humphrey (một viên chức cao cấp của bộ Ngoại giao HK được phép đọc tài liệu mật) lấy trộm từ bộ Ngoại giao. MD trao những tài liệu mật này cho CIA để tráo thành tài liệu giả chuyển đến Tòa Đại sứ Hà Nội ở Paris. Humphrey có vợ là cháu của một nữ cán bộ CS, ông liều lĩnh hành động để CS sớm cấp giấy xuất cảnh cho vợ.



Bọn phản chiến và các hội Việt kiều yêu nước đã tiếp tay giúp CS chiến thắng ở MN. Sau đó chúng ra sức tuyên truyền, phá hoại và tranh thủ đồng bào tị nạn vừa mới đặt chân đến Pháp và Mỹ. Việc ĐMD phát hiện các ổ CS nằm vùng, các tổ chức Việt Kiều yêu nước và ra toà làm nhân chứng để phá vỡ mạng lưới gián điệp của Hà Nội ở Mỹ là một đóng góp lớn giúp củng cố và phát triển Cộng đồng Người Việt Tự do ở HK trong bước đầu hình thành khi làn sóng thuyền nhân ồ ạt đến Mỹ hồi cuối thập niên 1970.

Trong lời nói đầu quyền A Thousand Tears Falling, ông Griffin Boyette Bell, cựu Bộ trưởng Tư pháp HK, đề cao “Yung Krall đúng là một công dân Mỹ vĩ đại. Tình yêu nước Mỹ đã dẫn dắt cô trở thành nhân chứng then chốt trong vụ án gián điệp mang tên Con Rồng Kỳ Diệu. Tôi nhiệt liệt tán thưởng sự nghiệp của cô đối với nước ta (HK), và tôi vui mừng thấy câu chuyện của ngưòi phụ nữ xuất sắc nầy cuối cùng đã được để cho mọi người cùng đọc và biết đến…”

Riêng cá nhân tôi, ĐMD còn là một người VN yêu nước trong sáng, chống CS có ý thức. Chị đã góp phần giúp HK tiến hành cuộc chiến “cách tân VN khỏi chủ nghĩa CS”. Một nước VN dân chủ tự do, không CS, là nguyện vọng tha thiết của mọi người VN yêu nước. Quyển NGLR là cuộc đấu lý có tính ý thức hệ, bày tỏ thái độ chính trị giữa người con Quốc Gia và người cha yêu nước theo chủ nghĩa CS. Ông bị tuyên truyền bởi những người CS “làm cách mạng chuyên nghiệp”, đệ tử của ông Hồ Chí Minh như các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt…về thiên đàng CS, thiên đàng xã hội chủ nghĩa LX. Trong hồi ký, ông HCM thú nhận chính chủ nghĩa yêu nước đã lôi kéo ông vào chủ nghĩa CS. Trong bài viết “Bước đường đưa tôi tới chủ nghĩa Mác Lê” đăng trong tạp chí Echo du Vietnam ở Paris số tháng 7/1960, HCM viết rằng: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chớ chưa phải chủ nghĩa CS đã đưa tôi tin theo Lenin, theo Quốc tế thứ ba…” (Bernard B. Fall, Ho Chi Minh on Revolution: Selected Writing 1920-1966, NY, Praeger, 1967, PP 5/6)

Vì chủ nghĩa CS, vì tin Lenin và Quốc tế Thứ ba mới có phong trào Sô Viết Nghệ Tĩnh 1930-31 khiến đồng bào cảnh gíác về hiểm họa CS qua khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào. Cào tận gốc, trốc tận rễ”. Rồi 30 năm chiến tranh tàn khốc 1946-1975. Sau đó hòa bình được tái lập, đất nước thống nhất, đồng bào lại lâm vào cảnh đói khổ, hàng triệu người bỏ nước ra đi vì chế độ độc tài CS. Chiến tranh lại tái diễn giữa ba nước CS anh em Việt, Miên, Tàu. (Không dùng từ này) phải đổi mới, mở cửa giao thương với bên ngoài. Đất nước trên đường hồi sinh lại có nguy cơ bị đồng hóa vì tham vọng bành trướng của kẻ thù truyền kiếp ở phương Bắc. Đồng bào thức tỉnh, lên tiếng cảnh giác lại bị đàn áp bởi chính quyền chuyên chính vô sản.

Tại sao thảm họa kéo dài suốt 80 năm kể từ khi Đảng (Không dùng từ này) ra đời năm 1930? Vì nhân dân bị CS lừa dối, vì bộ máy chuyên chính vô sản Trong buổi thuyết trình về đề tài “Nga Xô: hiện tại và tương lai” (Russia: Today and the Future) do tổ chức Harriman Institute bảo trợ, diễn ra tại trường Columbia University vào ngày thứ ba mùng 2 tháng giêng 2007. Trước hàng ngàn cử tọa, thuộc nhiều thành phần và chủng tộc, ông Mikhail Gorbachev cựu TT Liên Xô kiêm Tổng bí thư Đảng CSLX đã nói “Chế độ CS mà tôi đã mang cả đời ra phục vụ, chỉ toàn là sự tuyên truyền và các cán bộ đảng (trong đó có tôi) chỉ điều hành quốc gia bằng sự gian dối”. (VL January 16, 2007)

Khi chế độ CS ở LX vừa sụp đổ (tháng 8/1991) trong cuộc phỏng vấn truyền hình của đài ABC ở HK, ông Borsi Yelsin nói rằng “Chủ nghĩa CS là một thảm kịch cho dân tộc chúng tôi. Kinh nghiệm lịch sử cho phép chúng tôi kết luận một cách quả quyết rằng mô thức xã hội chủ nghĩa đã thất bại. Tôi tin rằng đây không chỉ là một bài học đối với riêng chúng tôi mà còn cho cả các dân tộc khác nữa”. Chính chủ nghĩa yêu nước đã lôi kéo ông HCM vào chủ nghĩa CS. Thì ngày nay, hậu duệ của ông, cũng vì chủ nghĩa yêu nước, sẽ đẩy CNCS ra khỏi VN. Tôi xin giới thiệu đến đồng hương tác phẩm Ngàn Giọt Lệ Rơi của chị Đặng Mỹ Dung khi cuộc chiến cách tân đất nước khỏi chủ nghĩa CS đang bước vào giai đoạn kết thúc.

Lê Quế Lâm
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 31 2011, 08:20 AM
Gửi vào: #34


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt Nam và người Nhật Bản?

Hai người Nhật chào nhau
Trước đây do công việc tôi có dịp đi Nhật nhiều lần cũng như đi nhiều nước khác trên thế giới. Nước Nhật không phải là nước mà tôi thích đến nhất (có thể vì đắt đỏ quá) nhưng đó là đất nước mà tôi nể phục nhất – không chỉ phục ở những thành tựu của sự văn minh, những công trình kiến trúc tuyệt mỹ mà còn ở yếu tố con người.

Kể từ đó tôi luôn tò mò tìm hiểu thêm về lịch sử và văn hóa của các con cháu Thái Dương Thần Nữ.

Càng biết thêm về họ tôi càng phục họ hơn. Đó là một dân tộc có nhiều điểm rất đặc biệt. Một dân tộc luôn tự hào về những giá trị truyền thống nhưng khi cần cũng sẵn sàng dứt bỏ những gì đã lỗi thời. Một dân tộc mang niềm kiêu hãnh lớn lao nhưng đồng thời cũng luôn biết học hỏi cái hay của người khác. Một dân tộc đã từng đánh bại các đế quốc Mông Cổ, Trung Hoa và Nga Sô nhưng cũng biết nuốt cái nhục bại trận để vươn lên thành một cường quốc kinh tế. Một dân tộc ít khi ồn ào lớn tiếng, và luôn xem trọng sự ngăn nắp sạch sẽ. Nhưng đặc biệt hơn cả – đó là một dân tộc chưa bao giờ biết đầu hàng trước nghịch cảnh.

Tôi nhớ trước đây có đọc một bài viết của một người Việt sống lâu năm tại Nhật, quên mất tên tác giả, trong đó ông có nêu ra một chi tiết để phân biệt giữa người Nhật bản địa và người ngoại quốc sống ở Nhật – đó là nhìn qua cách phơi quần áo. Người ngoại quốc phơi lung tung, còn người Nhật phơi theo thứ tự, quần theo quần, áo theo áo….

Đúng như nhà văn Haruki Murakami đã nhận định: “Người Nhật là kho tàng của nước Nhật”. Tôi rất cám ơn đất nước này vì chính người Nhật đã cho tôi một niềm tin rằng bất cứ một đất nước nào, dù nhỏ, dù bị bất lợi về địa lý, tài nguyên… nhưng nếu dân tộc đó có một nhân sinh quan đúng đắn thì vẫn có thể trở thành một dân tộc giàu mạnh.

***

Thiên tai động đất và sóng thần xảy ra ở Nhật cách đây 2 tháng, mặc dầu những tin tức liên quan đến biến cố này không còn được nhắc đến nữa, nhưng đối với những người Việt Nam còn quan tâm đến đất nước thì những dư âm của nó vẫn còn để lại nhiều vương vấn suy tư. Cùng là hai nước nhỏ ở Á Châu nhưng định mệnh nào đã đưa đẩy hai dân tộc khác biệt nhau quá xa. Một dân tộc mà mỗi khi nhắc tới, từ Đông sang Tây, đều phải ngã mũ bái phục, còn dân tộc kia thì ít khi được nhắc đến, hay nếu có thì thường là những điều không lấy gì làm vinh dự cho lắm.

Sau biến cố này đã có hàng ngàn ý kiến xuất hiện trên các diễn đàn Internet đặt câu hỏi: “Tại sao lại có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt và người Nhật”, phần lớn những ý kiến này xuất phát từ những người trẻ đang sống ở Việt Nam. Đó là một tín hiệu đáng mừng cho thấy có nhiều người Việt Nam đang thao thức muốn thay đổi số phận của đất nước mình.

Đây là một đề tài rất lớn và đòi hỏi sự suy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc của nhiều người nhất là những nhà trí thức. Bài viết này để chia sẻ câu hỏi đó và chỉ nên xem như những lời góp ý rất khiêm tốn.

Sự chênh lệch giữa Việt Nam và Nhật Bản không phải chỉ xảy ra bây giờ, từ đầu thế kỷ 20 Nhật đã vượt ta rất xa. Trong cuốn “Niên Biểu” cụ Phan bội Châu đã kể lại kinh nghiệm của mình sau hai lần đến nước Nhật để tìm đường cứu nước (lần đầu tiên vào năm 1905). Những điều tai nghe mắt thấy tại đây khiến cụ rất phục tinh thần của dân tộc Nhật Bản. Người phu xe, thuộc giai cấp lao động bình dân, chở cụ đi tìm một sinh viên người Trung Hoa, mất nhiều thời gian công sức mà cuối cùng vẫn nhận đúng 52 xu: “Than ôi! trình độ trí thức dân nước ta xem với tên phu xe Nhật Bản chẳng dám chết thẹn lắm sao!”.

Nước Nhật nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió, chịu liên tục những thiên tai trong suốt chiều dài lịch sử và họ chấp nhận định mệnh đó với lòng can đảm. Thiên tai vừa rồi rất nhỏ so với trận động đất tại Tokyo vào năm 1923 và hai quả bom nguyên tử vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến. Nhờ phương tiện truyền thông quá văn minh cho nên cả thế giới vừa rồi có cơ hội nhìn thấy rõ hơn “tinh thần Nhật Bản” trong cơn nguy biến.

Trận động đất xảy ra tại Tokyo ngày 1/9/1923 đã làm cho 130,000 người thiệt mạng, Yokohama bị tàn phá hoàn toàn, phân nửa của Tokyo bị tiêu hủy. Trong quyển “Thảm nạn Nhật Bản” (Le désastre Japonais) của đại sứ Pháp tại Nhật thời đó thuật lại: ”Từng cá nhân kẻ góp chút gạo, kẻ đem chiếc xuồng để giúp đỡ nhau như một đại gia đình”chứng tỏ là họ có một truyền thống tương thân tương ái lâu đời.

Vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến hai quả bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki, ngay lập tức làm thiệt mạng khoảng 150,000 người. Những thành phố kỹ nghệ của Nhật cũng bị tàn phá nặng nề vì những trận mưa bom của phi cơ Đồng Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử người Nhật phải chấp nhận đầu hàng và là nỗi nhục quá lớn đối với họ như lời của Nhật Hoàng Hirorito: “Chúng ta phải chịu đựng những điều không thể chịu đựng nỗi”.

Không có hình ảnh nào thê thảm như nước Nhật lúc đó, kinh tế gần như bị kiệt quệ hoàn toàn. Tuy nhiên Đồng Minh có thể tiêu diệt nước Nhật nhưng không thể tiêu diệt được tinh thần của người Nhật, họ đã biến cái nhục thua trận thành sức mạnh để vươn lên từ đống tro tàn.

Đến năm 1970, chỉ có 25 năm, một nước bại trận hoang tàn đổ nát trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ thua có Hoa Kỳ. Danh từ “Phép lạ kinh tế” phát xuất từ hiện tượng này.

Trong 7 năm từ 1945 cho đến 1952, tướng MacArthur, thay mặt Hoa Kỳ quản trị nước Nhật với tư cách là Chỉ Huy Tối Cao của Lực Lượng Đồng Minh (Supreme Commander of the Allied Powers) – vì nể phục và quý mến người Nhật cho nên vị tướng này muốn biến nước Nhật trở thành một “Nước Mỹ lý tưởng” hay nước Thụy Sĩ ở Á Châu. Tuy cuối cùng kết quả không được trọn vẹn như ý muốn của ông vì người Nhật không thể để mất hồn tính dân tộc. Nhưng nước Nhật được như ngày nay có công đóng góp rất lớn của tướng MacArthur.

Trở lại chuyện thiên tai vừa rồi, ngay sau đó có cả ngàn bài viết ca ngợi tinh thần của người Nhật. Nhiều tờ báo lớn của Tây Phương đi tít trang mặt: “Người Nhật: Một Dân Tộc Vĩ Đại”. Nhật báo lớn nhất của Mỹ, New York Times, số ra ngày 20 tháng 3 đăng bài “Những điều người Nhật có thể dạy chúng ta” của ký giả Nicholas Kriftoff.

Đúng như lời của nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết: “Một dân tộc, và mỗi con người, khi bị thử thách trong cơn hoạn nạn, là lúc chứng tỏ mình lớn hay nhỏ, có đáng kính trọng hay không”.

Dùng từ vĩ đại đối với nước Nhật không cường điệu chút nào, họ vĩ đại thật. Giữa cảnh chết chóc, nhà cửa tan nát, đói lạnh, tuyệt vọng… vậy mà họ vẫn không để mất nhân cách, mọi người nối đuôi nhau chờ đợi hàng giờ để lãnh thức ăn, tuyệt đối không oán trách trời, không trách chính quyền, không lớn tiếng, không ồn ào, kiên nhẫn chờ đợi đến phiên mình.

Một đất nước mà trong cơn khốn khó, không đổ lỗi cho nhau, từ quan đến dân, trăm người như một, trên dưới một lòng lo tìm cách đối phó, thì đất nước đó xứng đáng là một đất nước vĩ đại.

Toàn bộ nội các Nhật làm việc gần như 24/24. Các hiệu trưởng ngủ lại trường cho đến khi học sinh cuối cùng được di chuyển đi. Các siêu thị hoàn toàn không lợi dụng tình cảnh này để tăng giá. Tiền rơi ngoài đường từ những căn nhà đổ nát không ai màng tới thì đừng nói chi đến chuyện hôi của. Ông Gregory Pflugfelder, giáo sư chuyên nghiên cứu văn hóa Nhật Bản tại Đại Học Columbia (Mỹ) đã nhận xét về người Nhật sau thiên tai này như sau: “Hôi của đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn không chắn rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ ngữ này.”

Người Nhật là một dân tộc có tinh thần độc lập, tự trọng và lòng yêu nước rất cao, không chờ đợi ai mở lòng thương hại, sau những hoang tàn đổ nát, mọi người cùng nhau bắt tay xây dựng lại.

Mặc dầu chính phủ Hoa Kỳ đề nghị đến giúp dập tắt lò nguyên tử Fukushima nhưng họ từ chối.

Xa lộ tại thành phố Naka, thuộc tỉnh Ibaraki bị hư hại nặng do động đất. Chỉ một tuần sau, ngày 17/3 các công nhân cầu đường Nhật bắt đầu sửa chữa, chỉ 6 ngày sau xa lộ này đã hoàn tất, ngay cả Hoa Kỳ có lẽ cũng không thể đạt được kỷ lục này.

Từ Nhật Hoàng Akihito, Thủ Tướng Naoto, cho đến các thường dân đều tự tin rằng: “Chúng tôi sẽ phục hồi” như họ đã từng làm trong quá khứ. Cho đến hôm nay (18/5) theo những tin mà chúng ta đọc được trên Internet thì những nơi bị tàn phá đang được phục hồi nhanh chóng. Có thể chỉ 2, 3 năm sau nếu có dịp đến đây chúng ta sẽ thấy cảnh vật hoàn toàn thay đổi.

Điều đáng chú ý nhất trong thiên tai này đối với người viết – chính là thái độ của trẻ em. Đến xứ nào, chỉ cần nhìn qua tuổi trẻ là có thể đoán được tương lai của xứ đó, bởi vì tuổi trẻ là hy vọng, là tương lai của đất nước. Không phải chỉ có em học sinh 9 tuổi mất cha mất mẹ, đang đói khát nhưng vẫn từ chối sự ưu tiên hơn người khác được cả thế giới biết đến, mà còn có cả ngàn em học sinh Nhật khác trong hoàn cảnh tương tự vẫn luôn luôn giữ tinh thần kỹ luật và lễ phép.

Những em nhỏ, có em còn được bồng trên tay, có em ngồi bên cạnh mẹ trong các nơi tạm cư, mặc dầu đói khát từ mấy ngày qua nhưng nét mặt của các em vẫm bình thản chờ đợi thức ăn mang đến. Những em bé này được dạy dỗ từ nhỏ tinh thần kỷ luật, tự trọng, danh dự và khắc kỷ… không phải chỉ học ở trường hay qua sách vở mà còn qua những tấm gương của người lớn trong những hoàn cảnh thực tế và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Mai đây nếu có một cuốn sách giới thiệu những nét đẹp nhất, cao thượng nhất của con người sống trên hành tinh này thì cuốn sách đó không thể thiếu được những hình ảnh của người Nhật trong thiên tai vừa qua.

Trông người lại nghĩ đến ta!

Trong bài “Góc ảnh chiếu từ nước Nhật”, nhạc sĩ Tuấn Khanh (ở VN) đã viết một câu thật thấm thía:

“Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước Nhật, người ta bừng sáng hy vọng và đôi khi sống giữa những điều được gọi tên là bình yên của đất nước mình, một người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những ảnh chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn”.

Một số người đặt câu hỏi: Nếu tai họa như nước Nhật xảy ra tại VN thì chuyện gì sẽ xảy ra? Bà Mạc Việt Hồng đã diễn tả bức tranh đó như thế này:

- Động đất có khi chết 200 nhưng giẫm đạp lên nhau mà chạy, chết thêm nghìn nữa.

- Các ban ngành sẽ họp bàn cách cứu hộ từ ngày này qua ngày kia.

- Cướp giật hôi của sẽ phổ biến, hoa người ta còn cướp giật nói chi tới đồ ăn hay tiền bạc vào lúc hỗn quan hỗn quân như vậy. Người đi hôi của sẽ nhiều hơn người đi cứu trợ.

- Nếu có phát khẩu phần ăn sẽ chẳng có hàng lối gì, bà già trẻ nhỏ sẽ bị chen cho bẹp ruột, ai thắc mắc hay nhìn đểu mấy kẻ chen lấn, thì “bố cho mày mấy chưởng”.

- Sẽ xuất hiện đủ loại cò: Cò mua, cò bán, cò di tản, cò cứu trợ, cò bệnh viện… tha hồ chặt chém đồng bào.

- Tiền và hàng cứu trợ sẽ vào tay dân thì ít, cửa quan thì nhiều.

- Ai muốn người nhà mình đang kẹt trong đống đổ nát được đào bới, tìm kiếm trước thì hãy chi đẹp cho đội cứu hộ.

- Khu nào có quan chức ở thì được ưu tiên cứu hộ trước, khu nào dân đen sinh sống thì cứu sau.

- Cửa hàng sẽ thi nhau tăng giá, bắt chẹt những người khốn khổ.

- Tổ chức nào, tôn giáo nào muốn cứu trợ thì phải được sự đồng ý của Mặt trận Tổ quốc và các cấp chính quyền kẻo các “thế lực thù địch” lợi dụng.

…v.v….

Tôi không nghĩ là bà Mạc Việt Hồng nói quá đáng. Chúng ta cũng không cần phải có kinh nghiệm thực tế, chỉ cần đọc qua báo trong nước sau mỗi lần có thiên tai cũng đủ biết là những ghi nhận trên của tác giả không sai chút nào. Nói chung nạn nhân nếu muốn sống sót phải làm theo bản năng “mạnh được yếu thua” hay “khôn nhờ dại chịu”, còn quan chức chính quyền thì coi đó như thời cơ để kiếm tiền.

Ngay tại hải ngoại, nếu thiên tai xảy ra tại những nơi tập trung đông đúc người Việt, phản ứng của người dân có thể không tệ như trong nước nhưng chắc chắn bức tranh đó cũng sẽ không được đẹp đẽ cho lắm.

Có thể có những quý vị nghĩ rằng: không nên quá đề cao người khác và rẻ rúng thân phận của mình – vì phải giữ lại niềm tự hào dân tộc. Riêng tôi thì không đồng ý với những quan điểm như thế.

Có hãnh diện gì khi nói ra những điều không hay về chính dân tộc mình, người viết cũng là người Việt, cũng có tất cả những thói hư tật xấu của người VN. Nhưng thiết nghĩ, muốn thoát khỏi sự thua kém, trước hết phải dám can đảm biết nhìn lại chính mình, phải biết mình tốt chỗ nào, xấu chỗ nào, đang đứng tại đâu và cần phải làm những gì. Cũng giống như một người sinh ra trong một gia đình nghèo khó bất hạnh, phải biết chấp nhận số phận đó, nhưng chấp nhận để tìm cách vươn lên chớ không phải chấp nhận để đầu hàng hoàn cảnh. Gần một trăm năm nước đây, Lỗ Tấn từ bỏ nghề y chuyển sang viết văn để mong đánh thức được dân tộc Trung Hoa ra khỏi căn bệnh bạc nhược bằng những toa thuốc cực đắng như “AQ chính truyện”, gần đây nhà văn Bá Dương tiếp nối tinh thần đó với “Người Trung Quốc xấu xí” cũng được nhiều đồng bào của ông cho đó là một đóng góp đáng kể. Cuộc cách mạnh Duy Tân của Minh Trị Thiên Hoàng vào giữa thế kỷ 19 chắc chắn sẽ không thành công được như vậy nếu những nhà tư tưởng của Nhật lúc đó không vạch ra cho đồng bào của họ thấy được những những cái yếu kém trong văn hóa truyền thống cần phải bỏ đi để học hỏi những cái hay của Tây Phương, nhà văn Miyake Setsurei, dành riêng một cuốn sách công phu “Người Nhật xấu xa” xuất bản năm 1891 để đánh thức người Nhật ra khỏi căn bệnh lạc hậu.

Chúng ta chỉ có thể yêu nước nếu chúng ta có niềm tự hào dân tộc. Nhưng tự hào vào những điều không có căn cứ hay không có thật sẽ có tác dụng ngược như những liều thuốc an thần.

Những tự hào giả tạo này có khi vì thiếu hiểu biết, có khi vì mưu đồ chính trị của kẻ cầm quyền như những gì mà người CS đã làm đối với dân VN trong hơn nửa thế kỷ qua, và tác hại của nó thì ngày nay chúng ta đã thấy rõ.

Người Việt có những mâu thuẫn kỳ lạ. Chúng ta mang tự ái dân tộc rất cao nhưng đồng thời chúng ta cũng mang một tinh thần vọng ngoại mù quáng. Chúng ta thù ghét sự hiện diện của ngoại bang trên đất nước chúng ta bất kể sự hiện diện đó có chính đáng đến đâu, nhưng đồng thời giữa chúng ta cũng không tin lẫn nhau, xưa nay mọi giải pháp quan trọng của đất nước chúng ta đều trông chờ vào người ngoại quốc, chớ không tự quyết định số phận của mình.

Mỗi khi nói về những tệ hại của đất nước VN hiện nay đa số chúng ta thường hay đổ hết trách nhiệm cho người (Không dùng từ này). Thật sự CS không phải là thành phần duy nhất chịu trách nhiệm cho những bi kịch của đất nước hôm nay, họ chỉ là sản phẩm đương nhiên của một nền văn hóa thiếu lành mạnh. Nếu CS là nguyên nhân của mọi sự xấu xa thì thành phần người Việt đang sống tại những quốc gia văn minh và giàu có nhất thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Úc… phải là những người thể hiện nếp sống văn hóa cao xứng đáng với xã hội văn minh mà họ thừa hưởng. Nhưng không, những người Việt đó, tuy khá hơn người trong nước nhưng vẫn thua kém nhiều sắc dân khác, vẫn mang tất cả những khuyết tật mà cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã nêu ra gần một trăm năm trước. Vẫn chia rẽ, vẫn tỵ hiềm nhau, vẫn xâu xé lẫn nhau, có khi chỉ vì bất đồng quan điểm, có khi chỉ vì một quyền lợi thật nhỏ, thậm chí có khi chỉ vì một hư danh.

Không phải là một tình cờ của lịch sử mà chủ nghĩa CS đã dành được những thắng lợi trong cuộc cách mạng mùa thu năm 1945, và luôn luôn giữ thế thượng phong trên đất nước VN từ đó đến nay. Dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh thay vì Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim… hoàn toàn không phải vì Hồ Chí Minh giỏi hơn, yêu nước hơn, nhiệt tình hơn những người kia, nhưng chỉ vì Hồ Chí Minh đáp ứng đúng tâm lý của người Việt – đó là tâm lý tôn thờ bạo lực. Chắc chắn không có nước nào trên thế giới này mà bài Quốc Ca có câu sắt máu như thế này: “Thề phanh thây uống máu quân thù”, mà “quân thù” đó bất cần là ngoại bang hay đồng bào ruột thịt, nghe mà rợn người. Khẩu hiệu của phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh vào những năm 1930, 31 do đảng CS lãnh đạo là: Trí, phú, địa, hào – Đào tận gốc trốc tận rễ.

Đối với người VN bạo lực có sức quyến rũ hơn là nhu cầu khai sáng trí tuệ để giải quyết vấn đề một cách ôn hòa. Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa CS dựa trên bạo lực cách mạng và đấu tranh giai cấp. Giải pháp bạo lực này đòi hỏi phải luôn tồn tại một kẻ thù làm đối tượng. Hết kẻ thù thực dân phải tìm ra một kẻ thù khác để có lý do hành động, chính vì thế cho nên máu và nước mắt vẫn tiếp tục rơi trên đất nước VN trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Hoàn toàn trái ngược với Hồ Chí Minh, Phan Chu Trinh chọn giải pháp Khai Dân trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân sinh. Theo ông, muốn thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang và sự nghèo khổ lạc hậu, trước hết phải nâng cao dân trí, mở mang trí tuệ. Dân trí cao người dân sẽ ý thức được quyền làm người, quyền dân tộc, rồi từ đó sẽ tranh đấu bằng giải pháp chính trị để giành độc lập. Dân trí thấp kém cho dù có dành được độc lập thì vẫn tiếp tục là một dân tộc nô lệ ở một hình thức khác.

Có thể nói trong lịch sử hiện đại của VN, ông là một trong những người Việt hiếm hoi nhìn ra nguyên nhân mất nước, nguy cơ dân tộc, không phải ở đâu khác mà là trong văn hóa, từ văn hóa mà ra.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến có gần 30 nước dành được độc lập, phần lớn không đổ một giọt máu, chỉ có vài nước chọn chủ nghĩa CS trong đó có VN, phải trả bằng máu và nước mắt của hàng triệu sinh mạng để cuối cùng trở thành một trong những nước nghèo khổ và lạc hậu nhất thế giới. Chọn lựa này là chọn lựa của dân tộc, của VN chớ không phải do sức ép của ngoại bang hay một lý do gì khác. Người (Không dùng từ này) biến dân tộc VN trở thành một lực lượng tiên phong trong cuộc tranh chấp giữa hai khối CS và Tự Do và luôn luôn hãnh diện với thế giới về một dân tộc “bước ra khỏi cửa là thấy anh hùng”.

Hà Sĩ Phu đã có nhận xét rất đúng là giữa Hồ Chí Minh và Phan Chu Trinh, dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh và những bi kịch của đất nước hôm nay là cái giá phải trả cho sự chọn lựa đó.

Thật cay đắng cho những người hết lòng vì nước vì dân như Phan Chu Trinh, mặc dầu nhìn xa thấy rộng, tư tưởng nhân bản, kiến thức uyên bác, lòng yêu nước và nhiệt tình có thừa, nhưng cuối cùng Phong Trào Duy Tân của cụ đã thất bại chỉ vì không được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, ngay cả cụ Phan Bội Châu – một đồng chí thân thiết với cụ trong nhiều năm cũng không ủng hộ quan điểm của cụ.

Là một người yêu nước chân thật ông không tự lừa dối mình và lừa dối dân tộc của mình bằng những chiêu bài mị dân, những điều tự hào không có thật. Ông là người nhìn thấy được vấn đề, và cố gắng đi tìm một phương thuốc cứu chữa.

Nhưng tại những nơi mà lưỡi gươm có tác dụng mạnh hơn ngòi bút thì những tiếng nói nhân bản như ông trở thành những tiếng kêu giữa sa mạc hoang vắng và ông trở nên lạc lõng trong một xã hội mà nếp suy nghĩ hủ lậu đã bám rễ quá lâu và quá chặt, trở thành một căn bệnh trầm kha hủy hoại đất nước và làm cho dân tộc sa vào vòng nô lệ.

Nhìn qua đất nước Nhật Bản, một dân tộc có chiều dài lịch sử gần giống như chúng ta, có diện tích gần bằng, dân số không chênh lệnh mấy (127 triệu so với 87 triệu), cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Khổng Giáo, không khỏi làm cho chúng ta đau lòng khi thấy được sự khác biệt quá lớn giữa hai đất nước. Sự khác biệt về kinh tế, sự giàu có tiện nghi không phải là điều quan trọng, chủ yếu là sự khác biệt về cách suy nghĩ (mentality) giữa hai dân tộc. Vào thời điểm 1858, khi người Pháp bắt đầu xăm lăng VN thì dân ta vẫn còn u mê bám vào những giá trị đã lỗi thời, người Nhật tức thời bỏ những truyền thống hủ lậu, học hỏi những cái hay của Tây Phương để bắt kịp họ. Đến thời điểm sau Đệ Nhị Thế Chiến, VN muốn trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng, người Nhật biết nuốt nhục của kẻ thua trận chịu sự đô hộ của Mỹ, tận dụng lòng mã thượng của kẻ chiến thắng, dồn mọi sinh lực dân tộc để vươn lên thành một cường quốc kinh tế.

Tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Những nghiên cứu công phu và nghiêm chỉnh của các cơ quan quốc tế gần đây như Cơ quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Program – UNDP) đã chứng minh một cách thuyết phục rằng sự chênh lệnh giàu nghèo giữa các quốc gia chủ yếu không phải do yếu tố địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tôn giáo, chủng tộc… mà chủ yếu là do yếu tố văn hóa. Văn hóa quyết định tất cả. Văn hóa tạo ra nếp suy nghĩ (mentality) của mỗi dân tộc, và chính nếp suy nghĩ này làm cho mỗi dân tộc có ứng xử khác nhau khi đương đầu với cùng một thử thách. Tại sao có những dân tộc mà quan chức chính phủ tham nhũng cả hàng triệu đô la như ở các nước Phi Châu hay VN ngày nay mà mọi người vẫn xem đó là chuyện bình thường, trong lúc đó tại một nước khác – một bộ trưởng chỉ vì nhầm lẫn nhận 600 đô cho quỹ tranh cử đã phải xin lỗi quốc dân rồi từ chức (1)? tại sao một quốc gia nhỏ bé như Do Thái chưa tới 3 triệu dân (2) có thể chiến thắng cả khối Á Rập trong cuộc chiến năm 1967 và tồn tại vững mạnh cho đến ngày hôm nay? Trong lúc đó có những nền văn minh đã từng một thời ngự trị thế giới mà ngày nay biến mất … và còn cả ngàn thí dụ khác để chứng minh rằng chính yếu tố văn hóa quyết định sự tồn vong và sự lớn bé của mỗi dân tộc.

Những dân tộc như Đức, Nhật, Do Thái, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Hoa Kỳ… cho dù bị thiên tai tàn phá đến đâu, cho dù sống ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn có thể vươn trở thành những nước giàu mạnh, trái lại những xứ như Iraq, Nigeria, Venezuela, Angola, Libya… mặc dầu tràn ngập dầu hỏa nhưng vẫn là những nước nghèo.

Bước ngoặt quan trọng nhất đã làm thay đổi khoảng cách giữa ta và Nhật chính là cuộc cách mạng Duy Tân tại Nhật bắt đầu từ năm 1868. Trong lúc người Nhật tức thời thay đổi thì các vua chúa VN vẫn còn ngủ mê bên trong các bức tường cung điện ở Huế. Họ không thấy được thế giới đã thay đổi, vẫn tiếp tục tôn sùng và thần tượng Trung Quốc trong lúc nước này đã bị thua thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương.

Vào tháng 7 năm 1853 khi triều đình Tokugawa từ chối không cho Thuyền trưởng người Mỹ Mathew Perry lên bờ để trao bức thư của Tổng Thống Fillmore, ông ra lệnh bắn vào thành phố Edo (Tokyo ngày nay). Những quả đại bác này đã làm cho người Nhật thức tỉnh ngay. Lòng ái quốc và niềm tự hào dân tộc đã làm cho họ đoàn kết lại để tìm cách giúp đất nước thoát khỏi nguy cơ nô lệ. Chính sự thức tỉnh này đã mở đầu cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân kéo dài 44 năm. Đó là một cuộc cách mạnh đúng nghĩa, một cuộc cách mạng triệt để, họ làm đến nơi đến chốn, kẻ đi Mỹ, người đi Âu Châu, kẻ đi chính thức người đi lậu bằng cách trốn xuống tàu buôn Tây Phương như trường hợp của thần đồng Yoshida Shôin, tất cả đều cùng một mục đích là tìm đến tận nguồn cội của nền văn minh để học hỏi những cái tinh túy mang về thay đổi đất nước. Họ từ bỏ một cách dứt khoát tất cả những cái cũ không còn hợp nhưng không để mất tinh thần độc lập. Họ không phải chỉ có một ông vua Minh Trị hết lòng yêu nước mà cả trăm ngàn những tấm lòng như thế quyết tâm đưa nước Nhật lên vị trí ngang hàng với các nước Tây Phương.

Khi nói đến cuộc Duy Tân Minh Trị nhiều người vẫn lầm tưởng đó là cuộc cách mạng kỹ nghệ, mở cửa để giao thương và học hỏi kỹ thuật của Phương Tây. Thật sự không phải như thế, học hỏi kỹ thuật chỉ là mặt nổi, chủ yếu là người Nhật học hỏi những tinh túy về tư tưởng của người Tây Phương để khai sáng trí tuệ cho dân tộc của họ.

Chỉ có vài quả bom của Thuyền Trưởng Mathew Perry đã làm cho người Nhật thức tỉnh, trong lúc đó nhìn lại đất nước chúng ta, kể từ thời điểm 1853 cho đến hôm nay đã có hàng trăm ngàn quả bom đã rơi xuống đất nước Việt Nam, không những chỉ tàn phá hình hài đất nước mà còn làm tan nát tâm hồn dân tộc với bao sự ngậm ngùi, nhục nhã đắng cay của một dân tộc nhược tiểu. Nhưng tất cả những nỗi đau đó vẫn chưa đủ để làm cho người Việt thức tỉnh, để thấy cần phải có một nhu cầu thay đổi cần thiết như người Nhật đã làm từ giữa thế kỷ thứ kỷ 19.

Vào tháng 8 năm 1858 người Pháp bắt đầu cuộc chiến xăm lăng đất nước VN, trước đó vào mùa thu năm 1847 để phản đối chính sách cấm đạo của vua Thiệu Trị, Trung tướng Rigault de Genouilly đã bắn chìm 5 chiếc thuyền của Việt Nam, năm 1842 Trung Quốc đã bại trận thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương trong cuộc chiến Nha Phiến. Nhưng tiếc thay tất cả những dấu hiệu cảnh cáo đó vẫn chưa đủ để làm cho triều đình nhà Nguyễn thức tỉnh. Đến lúc đó họ vẫn không nhận ra rằng đất nước đang đứng trước khúc quanh của lịch sử. Từ thời điểm năm 1842 hay 1847 cho đến 1858, đó là một khoảng thời gian rất dài (14 năm), nếu các vua nhà Nguyễn thức thời, khôn khéo như các vua chúa Nhật Bản thì đất nước chúng ta đâu phải chịu 80 năm đô hộ của người Pháp và đâu phải chịu tai họa (Không dùng từ này) kéo dài đến hôm nay.

© Phạm Hoài Nam

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 1 2011, 07:07 AM
Gửi vào: #35


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Nếu nói như Phạm Hoài Nam thì đất nước VN sẽ là như sau :

Trước khi Mỹ đem quân vào Miền Nam, đời sống miền Nam thật thanh bình, người dân miền Nam đối đãi với nhau đầy tình nghĩa, trộm cướp cũng ít xãy ra, luân thường, đạo lý vẫn còn có kỷ cương giềng mối . Từ khi Mỹ đem quân vào miền Nam VN , thì mọi chuyện đều thay đổi, cái gì cũng xấu hơn lúc chưa có Mỹ vào, đạo đức suy đồi, lòng người nham hiễm... và có câu ca dao thời đại "Nhất đĩ, nhì Sư, tam xi, tứ tướng" và sau khi đất nước thống nhất không còn chiến tranh Quốc Cộng thì lại càng tệ hai hơn, lại có ca dao thời đại "đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai bèo che khuất ánh tương lai" và cho đến khi Liên sô sụp đổ, chủ nghĩa CS không còn hệ thống quốc tế thì VN đúng là "hết thuốc chửa" vì cái quái thai "Kinh tế thị trường định hướg xã hội chủ nghĩa" sản sinh ra một giai cấp mới đó là tư bản đỏ, một loại Mafia siêu đẳng, làm "banh xà rông" cả đất nước VN và nếu cứ cái đà này phát triển, thì đạo đức và lý tưởng sống sẽ là lừa đảo, tham quan, đỉ điếm, ma cô ... đầy khắp ba miền nước Việt, làm cho nhân dân VN càng ngày càng thống khổ và sẽ đi đến chổ diệt vong !!!

Nhưng theo Hoa Hạ thì người Việt Nam, nhất là người miền Nam, sống có tình có nghĩa, hiếu khách , biết giúp đở cho nhau khi hữu sự, chín bỏ làm mười,lá lành đùm lá rách, biết nhiễu điều phủ lấy giá gương ...chẳng qua tại nước VN xuôi xẻo có một cấp lãnh đạo đất nước có học vị tiến sĩ giấy, có đạo đức thổ phỉ và tấm lòng tham quan ô lại, vì thế cho nên khiến toàn dân đói khổ, phải tranh đấu mới có miếng ăn để sống, do đó mà lòng người trở nên ...thay đổi cho kịp thời đại của thế kỷ 21 hiện đại ...mà sinh ra hại điện
H.H

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Jun 1 2011, 07:38 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 7 2011, 03:18 AM
Gửi vào: #36


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35





.Nhà Sư Trẻ Gốc Việt Thọ Giới Tỳ Kheo Tây Tạng.




Xuân Đinh Hợi này, đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ làm lễ thọ giới Tỳ Kheo cho một vị sư rất trẻ. Trước đó, cũng Ngài đã đích thân làm lễ thọ giới Sa Di và Cụ Túc cho nhà sư. Đây là điều đặc biệt vì nhà sư là người đầu tiên rời Hoa Kỳ qua Ấn Độ xuống tóc trong một tu viện Tây Tạng vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, khi mới 12 tuổi. Đặc biệt hơn nữa, đây là người Việt Nam đầu tiên được truyền thừa trong lịch sử hơn ngàn năm của Phật giáo Tây Tạng.

Sinh tại Quận Cam, ở miền Nam California trong một gia đình khá giả, lên tám tuổi, cậu bé họ Phạm đã muốn trở thành một Geshe Tây Tạng.

Mà Geshe là gì?

Geshe là học vị trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, tương đương với bằng Tiến sĩ về Phật học của Tây phương. Bình thường ra thì phải mất hai chục năm mới xong và nhiều người không xong nổi. Thế giới hiện chỉ có chừng 200 vị Geshe thôi.

Muốn được thành một Geshe thì phải thấm nhuần năm ngành học là Bát nhã ba la mật (Prajnaparamita), Trung quán luận (Madhyamika), Giới luật (Vinaya), A tỳ đạt ma luận (Abidharma) và Lý luận căn bản (Pramana Vidya). Thấm nhuần ở đây là phải nhập tâm, bằng Tạng ngữ, trong vài chục năm tu tập gian nan, hầu có thể ứng đối tranh luận trong mọi tình huống về mọi chủ đề trong các cuộc khảo hạch thường xuyên và từ đó đi hoằng pháp cho nhân thế. Đã vậy, từ thấp lên cao, học vị Geshe còn có bốn cấp là Dorampa, Lingtse, Tsorampa và cao nhất là Lharampa và trung bình thì phải sáu năm mới lên tới cấp tối ưu.

Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, Kyabje Lati Rinpoche, được Đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu hướng dẫn chú bé gốc Việt họ Phạm

Vị cao tăng Tây Tạng đã hướng dẫn chú bé họ Phạm là một Lharampa Geshe, một hóa thân của danh tăng Gongkar Rinpoche.

Ngài được tôn là châu báu trong hàng Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, pháp danh là Kyabje Lati Rinpoche, hiện là cố vấn về Lý luận (Tsen-shabs) của đức Đạt Lai Lạt Ma. Môn sinh của Tulku Lati Rinpoche thường chỉ là những nhà sư được xác nhận là báo thân của một cao tăng, một vị đạo sư, một guru từ kiếp trước nguyện tái sinh để tiếp tục hạnh nguyện.

Và đức Đạt Lai Lạt Ma là người trực tiếp yêu cầu Tulku Lati Rinpoche dìu dắt chú bé.

Vì sao một chú bé sinh trong một gia đình Việt Nam tại Hoa Kỳ lại được nhận vào tu viện Tây Tạng, rồi được chính đức Đạt Lai Lạt Ma trao phó cho một vị cao tăng hàng đầu của Ngài việc hướng dẫn tu học đó?

Có lẽ phải đi từng bước để nhìn ra con đường học đạo của vị tăng người Việt này.

Với người Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Đại từ Đại bi Bồ tát Quán Thế Âm. Việt Nam ta quen gọi vị Bồ tát ấy là Phật Quan Âm, vì vậy, nhiều người cũng gọi Ngài là Phật Sống Tây Tạng. Người Tây Tạng tôn Ngài là "Kundun" với ý nghĩa ấy.

Trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, một Lạt Ma được coi là hiện thân của Phật, và Bồ tát nguyện tái sinh để cứu độ chúng sinh. Bậc hóa thân ấy được tôn là Tulku ("Chu cô" theo cách phiên âm Hán-Việt). Danh hiệu Lạt Ma chỉ được dành cho những người giảng dạy giáo pháp và có thẩm quyền thực hành nghi lễ của Phật giáo. Trong số những người được chứng nhận là Lạt Ma, những vị uyên thâm và cao quý nhất thì được tôn là Rinpoche (nghĩa là "vô cùng quý báu"). Trong hàng giáo phẩm và triều đình Tây Tạng, người ta thấy nhiều cao tăng được tôn vinh là Rinpoche.

Bây giờ, chúng ta có đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 - một vị Phật Sống - ủy thác cho một Tulku Rinpoche việc dẫn đạo cho một nhà sư trẻ của Việt Nam...

Nhà sư này phải có gì đặc biệt mà có lẽ người thường như chúng ta chưa thấy hết được.

Cách đây bốn năm, nhật báo Orange County Register đã gửi một phái đoàn gồm hai nhà báo Anh Đỗ và Teri Sforza cùng đoàn nhiếp ảnh và truyền hình qua tận Ấn Độ để làm loạt phóng sự bốn kỳ về chú tiểu họ Phạm này. Người ta có thể tham khảo loạt bài được biên tập và trình bày công phu dưới tựa đề "The Boy Monk" tại trang nhà của tờ báo trong bốn số ra ngày 19 đến 22 tháng Giêng 2003.

Từ ngày đó đến nay, việc tu học của nhà sư này đã có sự tăng tiến.

Một người Mỹ xuất gia sang Ấn Độ tu Phật giáo đã là hiếm, nhưng vẫn có. Một người sinh tại Mỹ - thuộc thế hệ thứ nhì vì cha mẹ là người Việt tỵ nạn - thì lại hiếm hơn. Đây lại là người Mỹ đầu tiên được nhận vào tu viện Tây Tạng Gaden Shartse, trong tỉnh Mundgod của tiểu bang Karnataka ở miền Nam Ấn Độ để được tu học thành Sa di. Tên Mỹ-Việt Donald Phạm đổi thành Konchog Osel. Người thân thì gọi là Kusho. Konchog có nghĩa là hiếm quý, Osel là tịnh quang, ánh sáng trong lành, và Kusho là một cao tăng.

Thế rồi, sau khi khảo hạch thì chính Tulku Lati Rinpoche đã thỉnh đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới Cụ túc cho chú tiểu sa môn. Có mặt trong buổi lễ cử hành vào đúng ngày Phật Đản còn có bốn vị Rinpoche khác. Chú được ban pháp danh là Tenzin Drodon, nghĩa là "Người nắm giữ Phật pháp" (Tenzin) "cứu độ chúng sinh" (Drodon). Drodon là một pháp danh ít có trong hệ thống Tăng già Tây Tạng.

Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng có một nhà sư dung mạo sáng rỡ, nói sành sõi tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Tây Tạng với phương ngữ quý phái của Kinh đô Lhasa, ở bên kia đỉnh núi tuyết ngàn trùng. Vào mùa Xuân Đinh Hợi 2007, ở tuổi 21, Kusho sẽ thọ giới Tỳ kheo với đức Đạt Lai Lạt Ma, một điều kỳ lạ nữa. Trong lịch sử Tây Tạng, đây là người Việt đầu tiên được chính đức Đạt Lai Lạt Ma truyền thừa và truyền giới.

Có thể là sau này người ta mới được biết thêm rằng nhà sư trẻ cũng là hóa thân của một hành giả, nguyện tái sinh trong một gia đình Việt Nam tại Mỹ và tu học trong tu viện Tây Tạng tại Ấn vì lợi ích của chúng sinh. Ba vị cao tăng đã lần lượt hướng dẫn nhà sư là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen tại tu viện ở Long Beach, là Lharampa Geshe Lati Rinpoche, một vụ Tulku tại tu viện Gaden Shartse ở Ấn Độ và đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14.

Bây giờ, chúng ta mới tìm hiểu về nhân vật này.

Vừa ra đời, Donald Phạm đã chững chạc như người lớn. Chú bé là học sinh ưu tú, thích âm nhạc, viết văn, trượt nước và chơi Nitendo! Là học trò giỏi tại trường Aliso Viejo Middle School, chú bé đủ thứ game trong nhà và thừa điều kiện thành công trong một môi trường đầy cơ hội là Hoa Kỳ. Ước nguyện ban đầu của chú là thành nhà văn hay bác sĩ. Nhưng, khác mọi đứa trẻ cùng tuổi, chú ít nói, kín đáo nhìn mọi sự chung quanh và đặc biệt quan tâm đến người khác.

Cha mẹ chú là những người khá giả và chăm sóc kỹ lưỡng tâm hồn các con. Mẹ chú sùng đạo từ khi còn ở Việt Nam. Tại Hoa Kỳ thì cả gia đình thường đến ngôi chùa Tây Tạng ở Long Beach, do đức Đạt Lai Lạt Ma đặt tên là Thubten Dhargye Ling, để tu học Phật pháp. Đây là một việc không dễ vì từ nhà đến chùa là 90 cây số và một tuần, gia đình lên chùa ba lần.

Donald vào chùa là có phản ứng khác lạ. Tưởng đứa con lơ đãng nhìn quanh, bà mẹ ngạc nhiên vì chú nghe được hết và nói lại rành mạch những khái niệm rất lạ. Thí dụ như hiện tượng "tâm viên ý mã" trong lúc thiền định! Người lớn nghe đã thấy khó lãnh hội, huống hồ một đứa trẻ ở tuổi mẫu giáo!

Năm chú lên bốn, bà mẹ đọc báo thấy có tin là vị Đạo sư Lati Rinpoche sẽ đến thuyết pháp ở Los Angeles. Quá mừng khi được cơ hội gặp vị cao tăng mà mình đã đọc lời giảng trong sách từ khi còn mang thai chú bé, bà dẫn chú đi nghe và năm đó Donald đã quy y với Tulku Lati Rinpoche!

Khi chú lên năm, cô em kém chú hơn một tuổi bỗng khóc òa vì làm vỡ cái đĩa. Chú bé đứng cao hơn quầy bếp đã lên giọng trấn an: "Đừng lo, đó chỉ là đồ vật thôi. Nếu chấp vào vật nhỏ như vậy thì khi chết, làm sao cái tâm bỏ được cái thân này?"

Rồi sau đó, thay vì là nhà văn hay bác sĩ, năm lên tám, chú muốn thành một Geshe!

Thấy con mình có ý đi tu để thành Geshe, bà mẹ trình bày với vị Hoà thượng trụ trì tu viện Phật giáo Tây Tạng tại Long Beach là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen, thường được Phật tử quý mến gọi là Geshe La.

Hoà thượng Geshe La khuyên là hãy kiên nhẫn tìm hiểu tâm tư chú bé đã. Cho con vào chùa là chuyện thường tình ở Á châu và Tây Tạng, nhưng chúng ta đang ở tại Hoa Kỳ, trong một khu vực trù phú lịch sự. Con đường tới chùa là một chặng đường khá xa cần phải tìm hiểu. Mà cách tìm hiểu hay nhất là chính họ phải qua tận Ấn Độ thăm viếng một ngôi chùa Tây Tạng đủ lâu để thấy hết tận mắt. Thày dạy, tu viện là một đại dương, có rất nhiều ngọc nga châu báu vật đấy nhưng cũng có cá mập.

Hãy tìm hiểu rồi mới quyết định cho chú bé.

Khi Donald Phạm lên chín, năm 1995, cha mẹ chú quyết định sang thăm tu viện, cách đó đúng là vạn dậm. Bước đầu là từ California bay qua Ấn Độ, rồi đi xe buýt leo đèo băng suối tới một tu viện trong khu định cư của người Tây Tạng tại Mundgod, thuộc tiểu bang Karnatala ở miền Nam Ấn Độ. Đó là tu viện Gaden Sharte của dòng Gelugpa Phật giáo Tây Tạng.

Khu vực định cư cho dân tỵ nạn thường không là một vùng đất trù phú thịnh vượng. Sự nghèo khổ và thiếu thốn là quy luật chung. Huống hồ là nơi tu hành. Người viện trưởng của Tu viện chính là ngài Tulku Lati Rinpoche mà gia đình họ Phạm đã đọc rồi đã gặp tại Los Angeles.

Phép sinh hoạt nơi đây là sự khắc khổ nghiêm ngặt. Mọi người thức giấc từ năm giờ sáng, chư tăng áo đỏ tụng kinh đến bảy giờ rồi ăn sáng. Thực đơn khác hẳn bữa điểm tâm trong một ngôi nhà khang trang ở Laguna Niguel tại California. Bánh mì chấm trà có pha đường, bơ tẩm muối. Sau đó là học ngôn ngữ và tranh luận đến trưa. Quá ngọ là buổi học với các đạo sư cho đến chiều. Cơm tối là cháo. Xong cơm là học tiếp về Phật pháp qua tranh luận, có khi đến nửa đêm...

Giáo trình đào tạo còn nặng hơn mọi trường tư thục ưu tú nhất của Mỹ! Và không có các màn giải trí qua truyền hình, chơi game, nghe nhạc từ DVD... Cũng không có quà vặt, máy giặt máy xấy, nước nóng phòng riêng...

Làm sao cho con mình vào sống nơi đó?

Gia đình ở lại sáu tuần và chú Donald Phạm cho biết là muốn học đạo ở nơi đây.

Trường hợp của chú hiển nhiên đã được Geshe La và Tulku Rinpoche chú ý. Phải tìm lời giải trong phép khảo chứng bí truyền của Tây Tạng. Vị cao tăng thực hiện buổi lễ linh thiêng ấy chính là Tuku Rinpoche. Lời giải là chú bé này là một đứa trẻ đặc biệt, sẽ vào chùa thành một vị sư Tây Tạng. Donald Phạm cũng cảm thấy như vậy.

Việc cháu Donald muốn đi tu đã gây nhiều phản ứng và tranh luận trong đại gia đình. Đầu tiên thì chị và em không muốn xa Donald. Còn ông ngoại thì hoàn toàn không vui! Điều ấy cũng thật dễ hiểu. Nhưng ý của chú đã quyết và cha mẹ cũng thông cảm và hỗ trợ nên mọi người quen dần với quyết định này.

Gần bốn năm trôi qua, rồi vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, cả gia đình Donald Phạm đã theo Hoà thượng Geshe La qua Ấn Độ. Chú sẽ ở lại nơi đây. Tết Nguyên đán Kỷ Mão thì xuống tóc, trở thành Sa di Kusho Konchog Osel. Tu viện có 1.500 người cùng học nhưng chú được chính đức Đạt Lai Lạt Ma ân cần phó thác cho vị Viện trưởng Tulku Lati Rinpoche trực tiếp hướng dẫn. Mọi người ân cần gọi chú là Kusho-la.

Hai năm sau, Kusho được đưa lên Dharamsala, miền cực Bắc Ấn Độ, vào học viện Lý luận Phật giáo, Institute of Buddhist Dialectics. Có 300 sinh viên, học viện này nằm gần thị trấn McLeod Ganj của Ấn. Thị trấn được gọi là "Little Lhasa", trụ sở của Chính quyền Lưu vong Tây Tạng, và học viện IBD là nơi đức Đạt Lai Lạt Ma thường giảng pháp.

Trong học viện, tiểu Sa di Kusho là người trẻ nhất và được chú ý vì khả năng lãnh hội lẫn tranh luận. Chú còn được khen là từ tốn khiêm nhường và thường trầm lặng trước mối quan tâm của truyền thông báo chí. Nhiều người đã luận rằng Kusho có thiện nghiệp để trở thành sư, và có phúc duyên được hướng dẫn bởi những vị cao tăng để theo đuổi Phật học đến chỗ thâm sâu.

Ngày nay, Kusho đã thành một vị sư 21 tuổi, và Xuân này sẽ thọ giới Tỳ kheo với chính đức Đạt Lai Lạt Ma, thành Shakya Bikshu Tenzin Drodon.

Trong khi ấy, gia đình ở nhà cũng thay đổi.

Càng luống tuổi, ông ngoại của Kusho càng thấy ra hai lẽ. Phần mình, thì đời người quả là hữu hạn. Phần cháu ngoại Donald, thì việc cháu trở thành sư là một điều lành.

Đầu năm 2007, ông cụ lâm trọng bệnh và từ Ấn Độ, Kusho trở về thăm ông, có thể là lần cuối. Hai ông cháu gặp nhau trong một cảnh ngộ cảm động.

Được hỏi về chuyến thăm viếng, nhà sư trẻ giải thích là vì muốn cầu nguyện cho tâm của ông ngoại được thảnh thơi, vững mạnh, và buông xả hết mọi ưu phiền.

Kusho không tin là mình có "thần lực" hay khả năng hộ niệm để ông "siêu sinh tịnh độ" như ta thường nói. Cháu chỉ muốn gặp ông, hàn huyên để ông vui với tuổi già, có cái nhìn lạc quan tích cực về mọi chuyện. Riêng mình, thì đứa cháu rất cảm động nghe ông nói, rằng mình mừng cho cháu đã đi tìm hạnh phúc trong sự tu tập, vì hạnh phúc thật là khi mưu cầu cho hạnh phúc của người khác. Hai ông cháu đã hoàn toàn cảm thông và cùng nhìn vào một hướng.

Nói đến chuyện "thần lực" hay "hóa thân", đề tài kỳ diệu khi ta nghĩ đến Phật giáo Tây Tạng, Kusho cười hiền hoà và giải thích bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh: Không, chú không là hoá thân hay đang tu tập để có thần lực thi hành được những việc siêu nhiên. Việc tu tập để tìm thần lực hay khả năng siêu nhiên là điều sai.

Nhưng, khi tu tập, Kusho thấy hay nghĩ "mình là ai?" Là một chú bé Việt Nam, một thiếu niên Mỹ hay một Sa di Tây Tạng - Là tất cả!

Ban đầu, khi ở trong Tu viện Gaden thì còn mơ hồ vì có lúc thấy mình là một thiếu niên Mỹ, một đứa trẻ Việt Nam, và nhất là khác lạ với chúng bạn người Tây Tạng chung quanh. Thế rồi một cách tiệm tiến và nhẹ nhàng tự nhiên, chú thấy mình tách rời với tất cả những "hành trang" ấy của quá khứ mà cảm nhận ra một sự thể gì bao nhiếp tất cả. Một sự an nhiên kỳ lạ khiến mình thấy thư thái và tự do hơn.

Cảm giác gọi là "giải thoát" ấy xuất phát từ sự tu tập hay từ ý chí của mình? - Có lẽ, phép tu tập giúp cho ý chí ấy thành vững mạnh hơn và quan trọng nhất, giúp cho mình thấy được cách suy nghĩ tích cực và nuôi dưỡng nghị lực tích cực.

Kusho suy nghĩ rồi nói bằng tiếng Anh: "Positive Energy"

Nhưng, trong tu viện Gaden hay trong học viện ở Dharamsala, Sa môn Kusho có biết hay được biết gì về thế giới bên ngoài không, về "đời sống thật" không?

Ban đầu, trong tu viện thì chỉ học về kinh điển và phép luận giải, chứ qua học viện tại Dharamsala thì các học viên đều có thể xem truyền hình và đọc báo để biết về những gì đang xảy ra trên thế giới. Chính đức Đạt Lai Lạt Ma đã muốn các học viên chứng đắc Phật pháp bằng cách hiểu được cộng đồng và thế giới. Ngoài ra, giáo trình của học viện chẳng khác gì nhiều nếu so với một Đại học tân tiến, học viên được giáo dục để biết về thế giới cũng như Phật pháp.

Sau khi hoàn tất khóa học rất dài tại Dharamsala, Kusho sẽ trở lại tu viện Gaden và lúc ấy mới lại sống như một vị tăng trong chùa.

Nhưng, khi biết rằng thế giới này "khổ" - vì nạn đói ở Phi châu hay khủng bố tại Trung Đông chẳng hạn - học viên nghĩ sao? Và muốn làm gì để giải trừ cái khổ ấy?

Nhà sư trẻ suy nghĩ giây lát mới giải thích. Trước hết, những tin tức ấy có giá trị "khích lệ", là yếu tố càng thúc đẩy học viên phải tu tập để góp phần giải trừ cái khổ.

Nhưng, nhìn từ các tu viện, cái khổ ấy có là một ý niệm trừu tượng xa vời của "chúng sinh" hay của người khác không? Thí dụ như một bác sĩ vẫn có thể chữa chạy cho bệnh nhân sau khi học về những triệu chứng hay hậu quả của bệnh. Một nhà xã hội cũng có thể học về khủng hoảng để góp phần giải quyết dù mình chẳng là nạn nhân... Liệu cảm nhận về cái khổ này có là một khái niệm tách bạch xa vời vì không trực tiếp liên hệ đến mình ở trong chùa hay trong học viện?

Kusho tìm chữ diễn tả, cả Việt lẫn Anh, rằng sự hiểu biết về cái khổ ấy tác động rất mạnh vào tâm trí, nhưng theo hướng khác. Ý thức về những vấn đề ấy khiến mình càng thêm tin tưởng vào Phật pháp và càng thôi thúc mình làm một cái gì đó để cứu giúp người khác. Đây cũng là bước cần thiết để chứng nghiệm đức tin của mình.

Nếu tu học để thành sư mà không nghĩ đến việc giúp đỡ người khác thì là một sự lãng phí! Phật giáo Tây Tạng rất chú ý đến việc tu dưỡng Bồ đề tâm, đến Bồ tát hạnh và coi việc giúp đỡ người khác là một bổn phận trọng yếu, một phần không thể tách rời trong đức từ bi của người Phật tử.

Nói đến người khác, Kusho có nghĩ đến người Việt và Phật giáo Việt Nam không?

Vị Sa môn trẻ này cám ơn mẹ cha là những Phật tử đã khuyến khích và giúp đỡ mình trên con đường học đạo. Chính là tấm lòng yêu thương của bà mẹ đã khiến chú cố gắng tu tập để có thể làm tròn bổn phận với Việt Nam.

Vì vậy, sau giai đoạn tu chứng, nhà sư trẻ còn phải đi một bước rất xa là học hỏi thêm về Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.

Phật giáo Tây Tạng theo Kim cang thừa (Varayana) của Đại thừa Mahayana, nhưng cũng áp dụng phép tu có đặc tính Mật tông và cả Bồ tát hạnh trong những giáo lý nền tảng của Phật giáo Nguyên thủy Theravada. Vì vậy, trong giáo trình đào tạo và tu học, các học viên đều phải thấm nhuần những lý giải Tiểu thừa hay Nguyên thủy. Sau này, Kusho sẽ học thêm về những đặc tính đa diện của Phật giáo Việt Nam và phải thông thạo tiếng Việt để tiếp xúc với Phật tử người Việt.

Một con đường rất dài... Khi viết, Kusho sử dụng cả hai tay, trái và phải, để viết chữ Tây Tạng hay tiếng Anh. Khi học, có lẽ cũng phải nhớ đến tương lai là tìm đến Phật giáo Việt Nam. Vả lại, chính đức Đạt Lai Lạt Ma đã căn giặn như vậy.

Hôm đó, sau khi được Ngài truyền giới, vị tiểu sa môn được đức Đạt Lai Lạt Ma gọi riêng ra chụp chung tấm hình. "Con giữ tấm hình này cho quê hương con. Cho nước Việt Nam". Kusho treo tấm hình trong trai phòng tại học viện, như một nhắc nhở hàng ngày.

Việc nhà sư Tenzin Drodon này sẽ chứng đắc học vị Geshe có thể chỉ là thời gian vì tâm nguyện như vậy. Nhưng, việc một người có tâm hồn và giáo dục Việt Nam được tu học thành nhà sư Tây Tạng mới là một hạnh ngộ hiếm hoi.

Lời khuyên của Tulku Lati Rinpoche là Kusho hãy cố gắng tinh tấn tu học để trở thành một sa môn đầy đủ Bồ tát hạnh là Bi, Trí, Dũng để hoằng pháp lợi sanh cho nhân thế. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rõ hơn trong từng buổi gặp gỡ: "Đừng quên Việt Nam. Lòng từ bi và trí tuệ của con sẽ giúp ích rất nhiều cho quê hương con."

Pháp danh Drodon quý hiếm này, có lẽ Ngài chọn cho Kusho để hướng tới trách nhiệm với Việt Nam.

Sông Mekong xuất phát từ vùng đất Kham đã tái sinh của hai vị cao tăng Tây Tạng là Gehse La và Tulku Rinpoche. Nơi con sông này đổ ra biển chính là Việt Nam.

Phải chăng, đức Đạt Lai Lạt Ma đã thấy vạn sự từ đầu nguồn tiền kiếp, mà chưa đến lúc nói ra?
Copyright © 2009 Cộng Đồng Phật Giáo New England| All Rights Reserved
Webmaster & Designer: Thích Nguyên Dũng





Luật Luân hồi với những người nổi tiếng
Trên thế giới có nhiều người tin vào sự Luân hồi. Một số chỉ tin một cách hời hợt mơ hồ, nhưng cũng không ít người hiểu Luân hồi là một quy luật của sự sống, và quy luật ấy có ý nghĩa rất sâu xa.
Henry Ford

Henry Ford (30/7/1863 – 7/4/1947) là người sáng lập Công ty Ford Motor, là một trong những người giàu nhất thế giới
“Tôi biết thuyết Luân hồi từ khi tôi 26 tuổi. Thiên tài chính là kinh nghiệm. Một số người nghĩ rằng nó là một món quà hay là tài năng, nhưng thực ra là kết quả
của kinh nghiệm lâu dài trong nhiều kiếp sống”.
Benjamin Franklin

Benjamin Franklin (17/01/1706 – 17/ 4/1790) là một trong những nhà lập quốc của Hoa Kỳ. Ông là một chính trị gia, một nhà khoa học, một tác giả, một thợ in,
một triết gia, một nhà phát minh, nhà hoạt động xã hội, một nhà ngoại giao hàng đầu
“Tôi nhìn nhận cái chết cũng cần thiết đối với chúng ta như giấc ngủ vậy. Chúng ta sẽ sống dậy khỏe khoắn vào buổi sáng…”
“Tôi tin rằng tôi sẽ luôn luôn tồn tại, ở dạng này hay dạng khác”.
Jack London


Jack London (12/1/1876 – 22/11/1916) là nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội Hoa Kỳ nổi tiếng thế giới
“Tôi không bắt đầu khi tôi được sinh ra, cũng không phải khi được thụ thai. Tôi lớn lên, phát triển, qua hàng vạn thiên niên kỷ không thể tính đếm. Tất cả bản ngã trước đây của tôi đều có tiếng nói, tiếng vọng của họ, đang thúc giục trong tôi. Ồ, tôi sẽ lại được sinh ra vô số lần nữa”.
Napoleon

Hoàng đế Napoleon (15/8/1769 – 5/5/1821) của nước Pháp
Napoleon thích nói với các tướng lĩnh của mình rằng ông tin vào Luật Luân hồi và thậm chí còn kể họ nghe ông tin mình đã từng là những ai trong các
tiền kiếp của mình.
Mark Twain

Samuel Langhorne Clemens (được biết đến với bút hiệu Mark Twain; 30/11/1835 – 21/4/1910) là một nhà văn, nhà diễn thuyết nổi tiếng Hoa Kỳ
“Tôi đã được sinh ra nhiều lần hơn bất kỳ ai, ngoại trừ Krishna”
Leo Tolstoy, tác giả bộ “Chiến tranh và hòa bình”

Nhà văn Nga vĩ đại Leo Tolstoy (9/9/1828 – 20/11/1910) còn là nhà viết kịch và nhà cải cách giáo dục có ảnh hưởng rất lớn
“Cũng như chúng ta trải qua hàng ngàn giấc mơ trong cuộc đời hiện tại của mình, cuộc đời hiện tại của chúng ta chỉ là một trong hàng ngàn cuộc đời mà chúng ta tiến nhập vào, từ cuộc đời khác thực hơn rồi quay trở về sau khi chết. Cuộc đời của chúng ta chỉ là một trong những giấc mơ của cuộc đời thực hơn ấy, và do đó nó là vô tận, cho đến tận cuộc đời cuối cùng, cuộc đời rất thực của Thần”.
Johann Wolfgang von Goethe

Johann Wolfgang von Goethe (28/8/1749 – 22/3/1832) là nhà văn và học giả Đức hết sức nổi tiếng. Ông được xem là một thiên tài kiệt xuất của văn học Đức. Ông làm việc trong lãnh vực thơ ca, kịch nghệ, văn học, triết học và khoa học
“Chừng nào bạn chưa biết định luật liên miên của Sự chết và Tái sinh, bạn chỉ là một vị khách mơ màng trên Trái đất tối tăm”.
Mahatma Ghandi

Mahatma Ghandi (2/10/1869 – 30/1/1948) là nhà lãnh đạo kiệt xuất, anh hùng của dân tộc Ấn Độ
“Tôi chẳng thể nghĩ về sự thù địch lâu dài giữa người với người, và tôi tin ở thuyết luân hồi, tôi sống trong hy vọng rằng nếu không phải trong kiếp này, thì trong kiếp nào đó khác tôi sẽ có thể ôm tất cả nhân loại trong vòng tay thân ái”.

Đại tướng George S. Patton

George Smith Patton Jr. (11 tháng 11, 1885 – 21 tháng 12, 1945), còn được gọi là George Patton III, là một tướng lĩnh, nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng của Lục quân Hoa Kỳ
“Như khi tôi nhìn xuyên qua một tấm gương, tôi thấy mờ mịt cuộc xung đột trường kỳ, khi tôi chiến đấu trong nhiều cái vỏ, nhiều cái tên, nhưng luôn luôn là tôi”.

Ralph Waldo Emerson

Ralph Waldo Emerson (25/5/1803 –27/4/1882) là một giảng viên, nhà văn, nhà thơ lớn của Hoa Kỳ thế kỷ 19
“Linh hồn từ bên ngoài đi vào trong thân thể, như là vào trong một nơi trú ngụ tạm thời, và nó đi ra khỏi đó, nó lại chuyển vào những nơi cư trú khác, bởi vì linh hồn là bất tử”.
“Đó là bí mật của thế giới, rằng mọi thứ tồn tại và không chết đi, mà chỉ ra khỏi tầm nhìn đôi chút và sau đó quay trở lại. Không gì chết cả; người ta tưởng mình chết, và bắt chước nhau chịu đựng những đám ma…”

Walt Whitman

Walt Whitman (31/5/1819 – 26/3/1892) – nhà thơ, nhà báo, nhà nhân văn lớn của Hoa Kỳ và thế giới
“Tôi biết mình bất tử. Tôi không hề nghi ngờ rằng mình đã chết cả chục ngàn lần trước đây. Tôi cười vào cái mà bạn gọi là cái chết…”

Jalalu Rumi

Jalalu Rumi (30 /12/1207 – 17/12/1273) là nhà thơ Ba Tư nổi tiếng thế kỷ 13
“Tôi đã chết khi là một khoáng vật và trở thành cây, tôi đã chết khi là một cái cây và trỗi dậy thành động vật, tôi đã chết khi là động vật và tôi thành người”.

Carl Jung


Tiến Sĩ Carl Gustav Jung là một nhà khoa học rất có tên tuổi, là cha đẻ của khoa Phân tâm học, là một nhà tư tưởng tiên phong, và còn giỏi về nhiều ngành khoa học khác nữa. Ông tin tưởng sâu sắc vào sự Luân hồi.
“Cuộc đời tôi đối với tôi thường giống như một câu chuyện mà không có khởi đầu và không có kết thúc. Tôi có cảm giác rằng mình là một mảnh lịch sử, là một đoạn trích mà phần văn bản phía trước và phía sau đang thiếu vắng. Tôi có thể đoán được một cách hợp lý rằng mình đã từng sống trong những thế kỷ trước đây và ở đó tôi đã gặp phải những câu hỏi mà tôi chưa thể trả lời được; rằng tôi đã được sinh ra lần nữa bởi vì tôi chưa hoàn thành sứ mệnh được trao”.

Socrates

Socrates (469 TCN –399 TCN) là triết gia vĩ đại của Hy Lạp và thế giới
“Tôi tin chắc chắn rằng thực sự có một điều như là sống lại lần nữa, rằng cái sống xuất hiện từ cái chết, và rằng linh hồn của người chết đang tồn tại”.

Voltaire


François-Marie Arouet (21/11/1694 – 30/5/1778), nổi tiếng dưới bút danh Voltaire là một nhà văn, nhà sử học và triết gia lừng danh người Pháp,
và cũng là một nhà ủng hộ tích cực cho tự do và dân chủ“Được sinh ra 2 lần chẳng có gì đáng ngạc nhiên hơn 1 lần; mọi thứ trong tự nhiên đều phục sinh”.
Honore Balzac
Honoré de Balzac (1799–1850) là nhà văn hiện thực Pháp lớn nhất nửa đầu thế kỷ 19, bậc thầy của tiểu thuyết văn học hiện thực. Ông là tác giả của bộ tiểu thuyết đồ sộ “Tấn trò đời”
“Tất cả loài người đều phải trải qua tiền kiếp… Ai biết được bao nhiêu thể xác thịt mà người kế thừa thiên đường chiếm giữ trước khi ông ta có thể hiểu được giá trị của sự im lặng tĩnh mịch của các thế giới thần thánh?”

Paul Gauguin
“Khi cơ thể vật lý vỡ tan, linh hồn vẫn sống sót.Nó sẽ chiếm lấy một thân thể khác”.

George Harrison
“Bạn bè tất cả đều là những linh hồn mà chúng ta đã biết ở các kiếp khác. Chúng ta đã được kéo lại gần nhau.Thậm chí nếu tôi chỉ biết họ một ngày, cũng không sao cả. Tôi sẽ không chờ cho đến khi tôi biết họ được 2 năm, bởi vì dù sao đi nữa, chúng ta phải đã gặp nhau đâu đó trước kia rồi, bạn biết đấy”.

Pythagoras

Pythagoras (Khoảng 570 TCN – 495 TCN) là nhà toán học và triết gia lỗi lạc của nhân loại
Ở Hy Lạp cổ đại, luân hồi là một học thuyết liên hệ gần gũi với các môn đệ của nhà toán học – triết gia Pythagoras. Theo Pythagoras, linh hồn sống sót sau cái chết vật lý và luân hồi có hạn.
Có lẽ câu hỏi “Luân hồi có thật hay không?” đã lỗi thời, và câu hỏi “Trước khi rơi vào vòng xoáy luân hồi, chúng ta là ai? Sau khi ra khỏi vòng xoáy ấy, chúng ta về đâu?” quan trọng và thực tế hơn. Đối với nhân loại đó là một cánh cửa bí ẩn mà chỉ khi chịu khó đi tìm người ta mới có thể mở ra được.

Minh Trí
(tổng hợp)




















Giáo sư Nguyễn Văn Phú nguyên hiệu trưởng trường Trung Học Tư Thục Hưng Đạo Sài Gòn, Giáo sư Toán và là tác giả nhiều sách Toán bậc Tú Tài trước năm 1975.
Tác giả định cư tại Montreal, Canada. Tác giả đã thuyết trình tại các chùa và các cộng đồng Phật Tử tại Canada về Phật học.
Ninh-Hòa được phép tác giả đăng lên mạng điện tử www.ninh-hoa.com để các độc giả tham khảo.
Ninh-Hòa xin thành thật tri ân giáo sư đã cho phép www.ninh-hoa.com phổ biến.


TÁC PHẨM:
QUYỂN 1 - BƯỚC VÀO CỬA PHẬT

"Bước Vào Cửa PHẬT" được tác giả nhìn một cách khái quát và đơn giản trong 69 bài như đã ghi trong Mục Lục bên dưới...


Xem Bài 65 >>
XƯNG DANH HIỆU PHẬT


Hoằng Hữu
NGUYỄN VĂN PHÚ




BƯỚC VÀO
CỬA PHẬT


Quyển 1




HƯNG ĐẠO XUẤT BẢN
Montréal 2010


MỤC LỤC
QUYỂN 1

01. Lược sử đức Phật Thích-Ca 03. Đức Phật xuất gia
05. Bài pháp đầu tiên
07. Lễ Vu-Lan 09. Ngày vía đức Di-Lặc 11. Ngày vía đức Quán Thế Âm 13. Quy y Tam Bảo 15. Vô thường 17. Nghiệp báo
19. Sáu nẻo luân hồi
21. Tam độc
23. Dứt phiền não 25. Ngũ uẩn
27. Tác ý và nghiệp 29. Tâm thức 31. Chân tâm
33.Thực tướng ấn
35. Vô ngã
37. Chữ Không 39. Niết-bàn
41. Vào chùa 43. Giới Định Huệ 45. Giác ngộ
47. Tam quán
49. Từ bi
51. Tâm Bi 53. Hỷ Xả 55. Thân tâm an lạc 57. Cận tử nghiệp 59. Cầu siêu
61. Ngũ thừa 63. Pháp môn niệm Phật 65. Xưng danh hiệu chư Phật 67. Ba tư lương 69. Chết là hết …

02. Kính mừng Phật Đản 04. Đức Phật thành đạo
06. Đức Phật nhập Niết-bàn
08. Tuổi trẻ và Phật Đản
10. Bồ tát Quán Thế Âm
12. An cư Kết hạ
14. Cốt tủy đạo Phật
16. Nhân quả
18. Luân hồi
20. Mười hai nhân duyên
22. Phiền não
24. Nhất đại sự
26. Lục căn
28. Tám thức
30. Phật tánh
32. Tam pháp ấn
34. Ngã mạn
36. Bàn về vô ngã
38. Pháp là gì?
40. Tăng-già
42. Tu thế nào?
44. Phước và Huệ
46. Tứ niệm xứ
48. Trí huệ
50. Lòng Từ
52. Hạnh xả
54. Tuổi già
56. Lẽ sống chết
58. Thân trung ấm
60. Đại thừa và Tiểu thừa
62. Tịnh độ tông
64. Niệm Phật
66. Khuyên niệm Phật
68. Thiền tông




Xem Bài "Thư Gửi Con Cháu" >>



GS NGUYỄN VĂN PHÚ
nguyên Hiệu trưởng
trường Trung học Tư thục Hưng Đạo Sài Gòn

www.ninh-hoa.com



Trọn bộ tác phẩm BƯỚC VÀO CỬA PHẬT..

http://www.ninh-hoa.com/Ninh-HoaDOTcom-GSN...anPhu-Index.htm
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 7 2011, 02:11 AM
Gửi vào: #37


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Miền Nam và miền Bắc – Nguyễn Hưng Quốc

Mới đây, đọc trên blog của nhà phê bình Vương Trí Nhàn ở trong nước, tôi bắt gặp một đoạn nhan đề “Gợi ý từ một nhà kinh tế” với một số nhận xét bất ngờ và thú vị. Đoạn viết khá ngắn, tôi xin phép được chép nguyên văn:
“Ông Đặng Phong, một nhà lịch sử kinh tế qua đời. Tôi biết ông nhân một lần đọc cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 do ông chủ biên, thấy có nhắc thoáng qua một điều gần như ai cũng nghĩ nhưng ít ai viết: trước 1975, kinh tế miền Nam đã ở trình độ cao hơn kinh tế miền Bắc.
Tự ngẫm nghĩ, thì thấy đúng thế, không thể khác được, không thể nói ngược như chúng tôi vẫn nói, hoặc lảng tránh cho là cấm kỵ, và lấy những chuyện khác nói át đi.
Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.
Như vậy dễ dàng công nhận là trình độ sống của bà con trong ấy cao, nhất là dân thành phố. Dấn thêm một bước, trong đầu tôi thấy vụt lên cái ý, liệu có thể nói rằng, xét trên phương diện hiện đại hóa, là con đường tất yếu mà xã hội phải trải qua, nhân dân miền Nam đã đi xa hơn, đạt tới tầm mức văn hóa cao hơn? Như vậy bản thân khái niệm văn hóa mà lâu nay tôi vẫn hiểu cũng phải được xem xét lại chăng?
Tôi sẽ tự phản bác lại nhiều lần trước khi đi đến kết luận …
Nhưng càng đọc Đặng Phong ý tưởng trên càng không rời khỏi tôi.”
Đúng như Vương Trí Nhàn nói, điều Đặng Phong và ông nhận xét “gần như ai cũng nghĩ nhưng ít ai viết”. Bản thân tôi đã nghe một nhận xét như thế từ một bậc tài hoa nhưng nổi tiếng bảo thủ ở miền Bắc: nhà phê bình Hoài Thanh. Sau năm 1975, Hoài Thanh và bà vợ dọn vào Sài Gòn ở. Có hai hay ba lần gì đó, đâu khoảng 1980, một người thầy cũ thường rủ tôi đến thăm ông. Câu chuyện thường lan man từ văn học đến xã hội. Một lần, Hoài Thanh chép miệng nói, đại khái: “Bản chất của chế độ nguỵ là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào.”
Đặng Phong so sánh về kinh tế, Hoài Thanh nói về văn hóa ứng xử, còn Vương Trí Nhàn bàn về văn hóa nói chung. Người ta có thể thắc mắc: Vậy, ở những lãnh vực khác thì sao? Như văn học, mỹ thuật hay âm nhạc, chẳng hạn? Có gì khác giữa miền Nam và miền Bắc cũng như giữa miền Nam trước đây và cả nước bây giờ?
Trong một bài phỏng vấn do Thụy Khuê thực hiện, in trên tạp chí Hợp Lưu số 103 ra vào tháng 1 và 2, 2009, sau, đăng lại trên trang Viet-studies của Trần Hữu Dũng, cũng chính Vương Trí Nhàn đã nêu lên một nhận xét sơ khởi. Theo ông, so với văn học miền Bắc, văn học miền Nam thể hiện “rõ hơn” và “đầy đủ hơn” những “đau khổ của con người” và những “tình thế bi thương, đau đớn, cả sự bơ vơ, bất lực, trong đời sống”. Khác với văn học miền Bắc, văn học miền Nam, một mặt, tiếp nối được truyền thống cách tân trong văn học tiền chiến; mặt khác, tiếp cận được với văn học thế giới, “sử dụng các quan niệm các phương thức của văn hóa phương Tây để diễn tả đời sống con người hiện đại”. Văn học miền Nam cũng có những yếu tố hiện thực và nhân đạo mà văn học miền Bắc không có.
Tất cả những nhận xét nêu trên, về kinh tế, văn hóa hay văn học đều khá sơ lược. Một sự so sánh công bằng và chính xác cần nhiều nỗ lực hơn nữa. Vần cần xuất phát từ một tầm nhìn cao hơn nữa. Tiếc, những nỗ lực và tầm nhìn ấy, cho đến nay, vẫn còn tiềm ẩn đâu đó. Trên sách vở cũng như trong học đường, văn học và văn hóa miền Nam vẫn còn để trống, không ai nhắc đến, hoặc nếu nhắc, cũng nhắc với sự xuyên tạc và mạ lị như trong thời kỳ còn chiến tranh. Cách đây mười mấy năm, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên ở Hà Nội dự định nghiên cứu về Thanh Tâm Tuyền và nhóm Sáng Tạo ở SàiGòn vào nửa sau thập niên 1950, tuy nhiên, ông đã bị đả kích kịch liệt, cuối cùng, đành bỏ cuộc. Hiện nay, theo chỗ tôi biết, cũng chưa có ai tiếp tục.
Cũng xin nói luôn, trích lại đoạn văn của Vương Trí Nhàn cũng như kể lại lời nhận xét của Hoài Thanh, tôi không hề muốn khoét sâu vào óc kỳ thị địa phương vốn đầu độc mối quan hệ giữa những người cùng một nước. Thứ nhất, sự kỳ thị và chia rẽ vùng miền ở Việt Nam đã quá trầm trọng; chúng ta không cần và cũng không nên làm trầm trọng thêm nữa. Nó không có ích gì cả. Ở một thời đại toàn cầu hoá như hiện nay, khi mọi người đang tìm cách xoá mờ dần ranh giới và những khoảng cách giữa các quốc gia cũng như giữa các nền văn hoá, luôn luôn đề cao sự khoan dung và cởi mở, cổ xuý cho cách nhìn liên văn hoá (intercultural) và xuyên văn hoá (cross-cultural) mà người Việt mình cứ lại nhấp nhổm với chuyện Nam/Trung/Bắc thì không những vô duyên mà còn nguy hiểm, không những lạc hậu mà còn phản tiến hoá. Thứ hai, không nên quên, liên quan đến con người, bất cứ sự khái quát hoá vội vã nào cũng đều bất cập và rất dễ sai lầm: ở miền Nam, không hiếm người thô bạo, thậm chí, thô bỉ, ngược lại, ở miền Bắc, không hiếm người cực kỳ nhã nhặn và lịch sự, rất “hiện đại” và ở tầm văn hoá cao. Thứ ba, cũng không nên quên, trước đây, ít nhất là trước năm 1954, ở miền Bắc, đặc biệt, ở Hà Nội, người dân nổi tiếng là thanh lịch. Sau này, gặp lại một số người Hà Nội thuộc thế hệ cũ, tôi vẫn bắt gặp cái dáng vẻ thanh lịch truyền thống ấy. Ngôn ngữ họ thanh lịch. Tác phong họ thanh lịch. Cách hành xử của họ cũng thanh lịch. Nét thanh lịch ấy không còn thấy ở các thế hệ trẻ hơn.
Cho nên, những khác biệt giữa hai miền, Nam và Bắc, không nằm ở con người. Cũng không nằm ở truyền thống, nơi ưu thế rõ ràng là nghiêng hẳn về phía miền Bắc. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở chế độ. Liên quan đến chế độ, ở khía cạnh chúng ta đang bàn, yếu tố quan trọng nhất là văn hoá, trong đó nổi bật nhất là văn hóa chính trị, tức những cách diễn dịch cũng như những quy phạm và quy ước mà mọi người cùng chia sẻ về quyền lực và trách nhiệm. Những quy ước và những quy phạm ấy không phải tự nhiên mà có. Chúng là những gì người ta thụ đắc trong môi trường giáo dục, từ gia đình đến học đường và xã hội. Trong việc thụ đắc ấy, vai trò của chế độ đóng vai chủ đạo: Chính chế độ, cụ thể là nhà nước, quyết định về chương trình giáo dục cũng như nội dung của truyền thông đại chúng, qua đó, hình thành những mẫu người mà họ cần và muốn. Trong suốt hơn nửa thế kỷ, lúc nào nhà cầm quyền cũng tuyên dương hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhìn lại, chúng ta chỉ thấy có một điểm trong mẫu hình con người mới ấy thành hiện thực và được phổ biến: tính thiếu thật thà.
Nghiên cứu về văn học cũng như văn hóa miền Nam trong tương quan so sánh với miền Bắc hay cả nước hiện nay không phải nhằm phục hồi chế độ miền Nam vốn đã thuộc về quá khứ xa lắc và cũng không nhằm gây chia rẽ vùng miền. Mà, theo tôi, chỉ nhằm hai mục đích chính: thứ nhất, công bằng với lịch sử; và thứ hai, để nhận diện đầy đủ hơn những thất bại trong chính sách văn học và văn hóa hiện nay, từ đó, tìm cách khắc phục.
Cứ quay lưng lại với thực tế và cứ ra rả với những khẩu hiệu láo khoét rỗng tuếch về những thành tựu đầy ảo tưởng, chúng ta chỉ kéo dài sự thất bại mà thôi.
Chả hay ho gì.


Theo H.H văn hóa miền Nam VN trước 75 mang tính nhân bản , còn vănhóa miền Bắc mang tính chủ nghĩa,
một đằng cơ chế phục vu con người, một đằng con người phục vụ cơ chế !

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Jul 9 2011, 05:51 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 9 2011, 06:20 AM
Gửi vào: #38


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Nụ Cười

Giá một nụ cười rẻ hơn giá tiền điện, thế nhưng nụ cười lại tỏa sáng nhiều hơn hàng trǎm bóng đèn điện. Không ai nghèo đến nỗi không thể mỉm một nụ cười, cũng không ai đủ giàu để sống mà không cần đến nụ cười của người khác. Một nụ cười - vốn liếng tuy nhỏ bé nhưng lại sinh hoa lợi nhiều, nó làm giàu cho kẻ đón nhận nó mà không hề làm kẻ trao tặng nó phải nghèo đi. Ngược lại, có khi người ta sẽ còn mãi mãi ghi nhớ.


Không ai đủ giàu mà bỏ qua không nhận lấy một nụ cười. Nụ cười tạo được hạnh phúc trong gia đình. Nụ cười là dấu hiệu của nhân ái. Nụ cười làm cho kẻ nhọc nhằn tìm được sự thoải mái dễ chịu. Nụ cười đem lại sự can đảm cho người nản chí, hoang mang.

Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người đó. Bởi vì không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết cười.

Có một câu chuyện kể rằng: Saint Exupery từng là phi công tham gia chống phát xít trong Đệ nhị Thế chiến. Chính từ những nǎm tháng này ông đã viết ra tác phẩm "Nụ cười". Không biết đây là một tự truyện hay một truyện hư cấu, nhưng tôi tin rằng nó có thật. Trong truyện, Saint Exupery là một tù binh bị đối xử khắc nghiệt và ông biết nay mai có thể bị xử bắn như nhiều người khác. Ông viết: "Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một người cai tù. Tôi gọi: "Xin lỗi, anh có lửa không?"... Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu tại vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là viên cai ngục phát xít mà chỉ là một con người. Anh ta hỏi tôi: "Anh có con chứ?". Tôi đáp: "Có" và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình. Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhoà lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại được người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khoá và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười".


Từ khi đọc được câu chuyện này tquý giá mà tôi gọi là tâm hồn. Tôi tin rằng: nếu tâm hồn bạn và tâm hồn tôi nhận ra nhau thì chúng taôi nghiệm ra được nhiều điều. Tôi biết rằng bên dưới mọi thứ vỏ bọc chúng ta dùng để thủ thế, để bảo vệ phẩm giá và địa vị, vẫn còn đó một điều thật chẳng còn gì phải sợ hãi hay cǎm thù oán ghét nhau. Nếu bạn từng có một khoảnh khắc gắn bó với đồng loại qua sức mạnh của nụ cười, thì tôi tin rằng bạn cũng đồng ý với tôi, đó là một phép lạ nho nhỏ, một món quà tuyệt vời mà chúng ta có thể dành cho nhau. Một nữ tu ở Calcutta đã cảm nhận được điều này trong cuộc sống, và bà đưa ra lời khuyên chân thành: "Hãy mỉm cười với nhau, mỉm cười với vợ, với chồng, với con cái bạn và với mọi người dù đó là ai đi nữa, vì điều này sẽ giúp bạn lớn lên trong tình yêu của nhau..."

suu tam
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 9 2011, 07:04 AM
Gửi vào: #39


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ba Mươi Hai Tướng Tốt & Tám Mươi Vẻ Đẹp

Thích Thiện Thông dịch



Ba mươi hai tướng:

1.Dưới lòng bàn chân bằng phẳng.

2.Dưới bàn chân có hình bánh xe ngàn cọng.

3.Các ngón tay búp măng dài đẹp.

4.Gót chân no tròn.

5.Ngón tay ngón chân có màng da liền lạc.

6.Tay chân mềm mại.

7.Bắp chân như chân nai chúa.

8.Xương mắt cá chẳng lộ bày.

9.Đứng thẳng tay dài quá đầu gối.

10.Ngọc hành ẩn kín như mã vương.

11.Thân hình đầy đặn như cây Ni-Câu-Loại.

12.Lông trên mình mướt đẹp.

13.Mỗi mỗi sợi lông đều xoay về phía mặt.

14.Thân mình màu vàng rực.

15.Thân thường có ánh sáng chiếu xa một tầm.

16.Da thứa mịn màng, bụi đất không dính.

17.Bảy chỗ hõm như: hai lòng bàn lòng tay, hai lòng bàn chân,

hai vai, sau ót đều đầy đặn.

18.Phần trên của thân như thân sư tử chúa.

19.Cánh tay, khỉu tay, bả vai tròn trịa.

20.Các khớp xương đầy đặn, bằng phẳng.

21.Thân thể cân đối.

22.Bốn mươi cái răng.

23.Răng khít khao chẳng thưa hở.

24.Răng sắc trắng tinh.

25.Cằm vuông vức như cằm sư tử chúa.

26.Nước miếng ngon ngọt.

27.Tướng nhục kế trên đảnh đầu.

28.Lưỡi dài và rộng, có thể che đến chân tóc.

29.Tiếng nói trong trẻo thanh tao.

30.Mắt sắc xanh biếc.

31.Mắt tựa như mắt ngưu vương.

32.Tướng lông trắng giữa chặn mày (bạch hào).



Tám mươi vẻ đẹp:

1.Tướng Vô kiến đảnh.

2.Mũi cao nhưng chẳng lộ hai lỗ mũi.

3.Lông mày đẹp như trăng đầu tháng.

4.Vành tai dài rũ xuống.

5.Thân vững chắc như Trời Na-La-Diên.

6.Các đốt xương giao nhau như móc câu.

7.Trông lại được phía sau.

8.Khi đi chân cách đất 4 tấc mà vẫn hiện dấu.

9.Móng tay, móng chân như sắc đồng đỏ.

10.Đầu gối vững chắc tròn đẹp.

11.Thân trong sạch.

12.Thân dịu dàng mềm mại.

13.Thân không cong vẹo.

14.Ngón tay, ngón chân tròn có màng da liền lạc.

15.Lằn chỉ trên ngón tay được che khuất.

16.Các gân mạch ẩn sâu không hiện.

17.Mắt cá không lộ bày.

18.Thân thể tươi nhuận.

19.Thân tự giữ ngang.

20.Thân đầy đặn.

21.Uy nghi toàn vẹn nghiêm túc.

22.Dáng dấp đầy đặn.

23.Khi đi đứng an ổn, không lay động.

24.Uy đức lừng lẫy.

25.Chúng sanh được gặp rất sanh ưa thích.

26.Gương mặt không dài lớn.

27.Dung mạo đoan chánh, sắc mặt chẳng nhăn.

28.Mặt đầy đặn.

29.Môi đỏ tươi, đẹp như trái tần bà.

30.Tiếng nói sâu xa.

31.Rún tròn đẹp và lún sâu vào.

32.Lông trên mình xoay về phía phải.

33.Tay chân đầy đặn.

34.Tay chân như ý.

35.Lằn chỉ trên tay sáng thẳng.

36.Lằn chỉ tay dài.

37.Lằn chỉ tay chẳng đứt quãng.

38.Những người ác tâm được gặp đều vui mừng.

39.Mặt vuông đẹp.

40.Mặt trong sáng như trăng rằm.

41.Chiều ý chúng sanh mà nói lời hoà vui.

42.Từ lỗ chân lông phát ra mùi thơm.

43.Trong miệng phát ra mùi thơm.

44.Dáng dấp oai hùng như sư tử chúa.

45.Tới lui như voi chúa.

46.Tướng đi như Nga vương.

47.Đầu tròn đẹp như quả Ma-Dà-Na.

48.Diễn nói một thứ tiếng mà đầy đủ cho tất cả.

49.Bốn cái răng cấm trắng và bén.

50.Lưỡi sắc đỏ tươi.

51.Lưỡi mỏng.

52.Lông màu hồng.

53.Lông mềm mại sạch sẽ.

54.Con mắt dài rộng.

55.Hậu môn có đủ tướng.

56.Tay chân trắng đỏ như màu hoa sen.

57.Rún chẳng lộ bày.

58.Bụng thon thon.

59.Bụng chẳng lộ.

60.Thân vững vàng không nghiêng ngả.

61.Thân giữ sức nặng.

62.Thân lớn hơn người thường.

63.Thân cao hơn người thường.

64.Tay chân mềm mại, láng sạch.

65.Ánh sáng nơi thân chiếu ra bốn bên cách khoảng một tầm.

66.Đi có hào quang chiếu sáng.

67.Bình đẳng xem khắp chúng sanh.

68.Không khinh khi chúng sanh.

69.Tiếng nói tùy tâm chúng sanh, không thêm không bớt.

70.Nói pháp không vướng mắc.

71.Theo lời lẽ của chúng sanh mà thuyết pháp.

72.Phát âm đúng với các giọng, các tiếng.

73.Theo thứ tự nói pháp cho người có nhân duyên.

74.Chúng sanh xem tướng Phật không thể xiết.

75.Xem tướng Phật không nhàm chán.

76.Tóc dài đẹp đẽ.

77.Tóc không rối.

78.Tóc xoắn đẹp.

79.Tóc màu như thanh châu.

80.Tay chân biểu lộ tướng phước đức.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jul 9 2011, 09:06 PM
Gửi vào: #40


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,103
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622







Nơi đăng các bài sưu tầm đó đây mang tính thanh nhã giúp nâng cao phẩm chất, vượt lên đời thường của con người. Do Hoa Hạ tìm tòi được và các Reply từ người đọc.


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

13 Pages: V < 1 2 3 4 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 20th July 2019 - 05:51 AM