IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

6 Pages: V « < 4 5 6  
Reply to this topicStart new topic
> Vệt nắng cuối chiều
hoaha
post Nov 9 2017, 02:28 AM
Gửi vào: #101


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,461
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Đá Nát Vàng Phai

Thưa quư vị, quư bạn,
Cuối tuần, xin gửi lại một bài đă cũ cho những bạn mới và những bạn thân quen (xin đừng vội xóa), kể về cơn bĩ cực, sau biến cố 30 tháng 4, 1975, của một chiến binh Miền Nam tên Nguyễn. Trong bài, mỗi đồng đội bại trận của tác giả sẽ thấy ít nhiều h́nh ảnh của chính ḿnh cách đây 42 năm, tại những trại tù cải tạo khủng khiếp, mà họ bị VC lừa đi vào. Ở đó, một số đông đă mất tuổi trẻ, hy vọng và tương lai, kể cả mạng sống. Ở đó, một số nhỏ hơn đă mất vợ hay người yêu. Ở đó, tất cả đă mất quê hương. Chỉ c̣n quyết tâm làm lại cuộc đời, mong hồi thái lai, một mai, ở những phương trời khác, tốt đẹp hơn. Nhờ mối hận thù đằng đằng...
Bài viết đă cũ, nhưng vết thương vẫn c̣n mới, và hận thù đối với VC c̣n nguyên, không bao giờ nguôi, dù phải mang theo qua bên kia đời. Chỉ những kẻ mất trí nhớ mới kêu gọi ḥa hợp, ḥa giải với VC. Chỉ những kẻ ngu muội mới cho chiến tranh Việt Nam là huynh đệ tương tàn, v́ VC không có gia đ́nh, cha mẹ, anh em. Chiến tranh Việt Nam là do Hồ Chí Minh gây ra, theo chỉ thị của Liên Xô và Tàu Cộng, để du nhập vào VN chủ thuyết (Không dùng từ này) ngoại lai, phi nhân, quái đản, độc hại -vẫn c̣n gieo tai họa cho đến hôm nay trên quê hương nghèo nàn, khốn khổ.
Tác giả không đề cao, cổ vơ thù hận, nhưng cũng không dễ ch́a má kia cho kẻ thù, như lời Chúa dạy. Và trong trường hợp VC mà Chúa biết c̣n tàn ác hơn cả Satan, Chúa cũng sẽ hiểu và thông cảm cho tác giả. KT

Thẹn ḿnh đá nát vàng phai
(Kiều)

1. Đầu năm 1976, từ trại Long Giao, Nguyễn bị đưa ra Bắc, cùng với các thành phần “ác ôn, có nợ máu” gồm An Ninh, T́nh Báo, Chiến Tranh Chính Trị (CTCT), Cảnh Sát, Tuyên Úy, có cả Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận –toàn là hàng độc, dữ dằn dưới mắt ######. Gần ba ngàn người bị xếp như cá hộp dưới hai khoang hầm tàu chở than, nguyên là của Việt Nam Thương Tín được cải danh Sông Hương. Ai ở đâu là chết dí chỗ đấy, tiểu tiện phải bước qua những thân người nằm rũ liệt, nghe chửi thề inh ỏi khi lỡ đạp lên bụng một ông khó tính, mới đến được cái thùng gỗ nhỏ đặt ở cầu thang. Nước uống và lương khô được tḥng dây xuống, y như cảnh trong một phim buôn bán nô lệ đă xem đâu rồi. Hai ngày sau cập bến Hải Pḥng, ở đó một đêm. Sáng sớm hôm sau, xe lửa và molotova bít bùng dàn chào sẵn để rước về các vùng biên giới, như Yên Bái, Lao Kay, Quảng Ninh... Bạn bè lạc nhau từ đây. Nguyễn đi Hoàng Liên Sơn. Cửa toa đóng kín, khiến hai ông trung tá chết ngộp, xác vứt xuống bên đường. Ngồi xe hơi th́ bị trẻ con ném đá, và bị những bà già Bắc kỳ răng đen mă tấu tốc váy, xỉa xói, chửi rủa tục tằn, với sự làm ngơ đồng lơa của lũ cán bộ: “Giết hết bọn ngụy chúng mày! Chúng mày hiếp dâm, cắt cổ người, cướp của, ăn thịt trẻ con. Đồ ngụy chuyên ăn cứt Mỹ…”
Hoàng Liên Sơn với rặng Fansipan trùng điệp. Những ngày vào rừng hoặc lên núi đốn tre, chặt gỗ, giơ tay vóc từng nắm sương la đà dày đục, nếm thử thấy tê buốt –như môi hôn phút chia ĺa vội vă. Những đêm lạnh cóng phải đứng ngủ cho bớt run rẩy trong chiếc chăn đơn cũ mục. Trên đường lao động, Nguyễn gặp lại bằng hữu thất tán từ các chiến trường xưa, không hẹn mà được “gom bi” đầy đủ. Nh́n nhau cười như mếu, thấm thía lời huênh hoang của một tên cán bộ: “Các anh có mà chạy đằng giời!” Thỉnh thoảng lên núi, Nguyễn và đồng tổ đội gặp một nhóm Biệt Kích, bị bắt từ thời Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, đang lao động tự giác, không có vệ binh canh giữ. Họ nh́n đám tân tù binh, vẻ thương hại, lắc đầu thông cảm, nhưng cũng có anh không dằn được bực tức, lớn giọng: “ĐM, các anh làm ăn, đánh đấm thế nào mà bây giờ kéo nhau ra đây cả lũ?” Cả lũ xấu hổ, im lặng, không biết trả lời sao, chỉ nghe ḷng xót xa bởi câu trách móc không sai chút nào. Nói thế, nhưng khi thấy bọn Nguyễn lóng cóng không buộc chặt nổi bó nứa, họ ùa đến ân cần phụ giúp, hướng dẫn tận t́nh, hoặc chia cho sắn luộc và bánh in khô Trung Cộng.
Sức khỏe suy sụp dần. Sau một lần khiêng gỗ té xỉu giữa đường, Nguyễn được chuyển vào đội Rau Xanh, gồm toàn bô lăo –c̣n gọi là đội “sứt cán găy gọng.” V́ c̣n trẻ và tạm lành lặn, chàng bị nhường ngay chức trưởng tổ phân, ngày ngày phải hốt đủ mười chuyến phân bắc, tức phân người, “có chất lượng” giao cho tổ khác đem ủ thẳng dưới các luống khoai, hoặc chế biến thành nước tưới rau. Lúc đầu thấy hăi hùng, muốn nôn oẹ, rồi ráng nhập thiền mất đi cảm giác, ư niệm, nh́n nhưng chẳng biết đó là ǵ nữa. Hết phân bắc đến phân chuồng (trâu ḅ), cũng tởm không kém, rồi phân xanh (lá ngâm mục).

Mới đầu, đa số c̣n phát biểu linh tinh lắm. Hệ thống ăng ten chưa được thiết lập qui mô. Trong đội Rau Xanh có ông Đại úy Cảnh sát già gân Hoàng Bá Linh. Ông Linh là người Quảng B́nh, hay Quảng Trị, trực tánh, ưa kể chuyện tiếu lâm và chuyện chế độ cũ, nói năng rất “phản động”, thuộc loại điếc không sợ súng. Trong một buổi học tập của đội, ông đă phát biểu, lên án “bọn CTCT ngụy” như sau: “Bọn ngụy tuyên truyền rất bố láo bố lếu về Bác Hồ vĩ đại, vô vàn kính yêu của ta, ví dụ họ nói nguyên văn như ri, tổ cha thằng già Hồ Chí Minh là tên giết người bán nước, làm tay sai cho thằng Xịt Ta Lin và thằng Mao Xếnh Xáng... Họ xuyên tạc bộ đội anh hùng của ta nguyên văn như ri, là chúng nó ốm đói quá, bảy thằng ###### đu một cọng đu đủ mà không găy... Thật là mất dạy hết sức!” v.v... Và cứ thế ông nói dai, nói dài, nói lớn “nguyên văn như ri, như ri”, với giọng nặng trịch, nhừa nhựa thuốc lào. Tất cả sĩ quan cải tạo xanh mặt, cản không được, ngồi im, lo lắng cho ông. Phải hơn hai phút sau thằng cán bộ quản giáo mới hiểu ra, lên tiếng cắt ngang, hầm hầm quát bảo ông im ngay. Nó ức lắm, nhưng lúc ấy v́ quá bất ngờ chưa biết kết ông vào tội ǵ. Hôm sau, ông bị dẫn đi “làm việc” khá lâu, rồi bị biệt giam một tháng. Ra khỏi pḥng biệt giam, ông tiếp tục mở máy, như cũ, cười hề hề: “Tui đâu ngán thằng mô”.

Sau tám tháng, cả trại bị “biên chế” đi Sơn La, ở chung với tù h́nh sự, loại “đầu gấu” chuyên giết người, hiếp dâm, trộm cướp. Một vùng đèo heo hút gió, nước độc rừng thiêng, gần Điện Biên Phủ, qua hết dăy núi cao là sang đất Lào. Quanh năm chỉ thấy mây trời lơ lửng và đám người Mán, người Mèo tiếng nói líu lo, mỗi lần xuống núi mặc áo quần sặc sỡ, đàn ông thổi kèn mở đường, đàn bà gồng gánh theo sau. Cùng trại có các linh mục, cảnh sát, sĩ quan đủ binh chủng, vài nhà văn quân đội như, Nguyễn c̣n nhớ, Thảo Trường, Văn Quang và Phan Lạc Phúc. Có nhị vị cựu và đương kim Đại tá Linh mục Tuyên úy Lê Trung Thịnh và Đinh Cao Thuấn. Nguyễn nằm kế bên Trung tá Đặng B́nh Minh, phi đoàn trưởng phi đoàn trực thăng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, mùa đông được anh cho một áo jacket nhà binh rằn ri cũ. Cách Nguyễn hai người là Trung tá Vũ Hoài Đức, chỉ huy phó trường ĐH/CTCT, người hiền lành, đạo đức y như Đại tá Chỉ huy trưởng Nguyễn Quốc Quỳnh. Ở một đội khác có một cựu tùy viên của cố Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, h́nh như là Lê Tử Hùng (?). Ai nấy thiếu ăn, xác xơ, bắt đầu thấm đ̣n độc của ######: chủ trương cải tạo bao tử, nghĩa là bắt đói triền miên, để chế ngự ư chí, và cả tư cách nữa! Lao động vinh quang là trồng lúa, sắn, ngô, khoai trên những thửa đất hoang, khô cằn sỏi đá.

2. Hơn hai năm sau, Trung Cộng uy hiếp biên giới, ###### lo sợ, vội vàng chuyển tất cả về Vĩnh Phú mà chúng gọi là miền trung du, đất tổ Hùng Vương. Hùng Vương ở đâu chả biết, chỉ thấy toàn núi rừng thâm u và bộ mặt kinh niên hắc ám của các cai tù, và những tên Ăng Ten, Trật Tự, Thi Đua ngu ngốc làm khổ đồng đội c̣n hơn chính kẻ thù. Trại rộng thênh thang chia làm bảy khu, gọi là K, cách nhau trung b́nh năm, sáu cây số, nằm tít phía sau thung lũng sông Hồng. Từ Sài G̣n ra Vĩnh Phú thăm chồng, các bà “vợ ngụy” xem như chặng đường thánh giá mới, phải vượt rừng băng sông, đi đủ các loại xe, kể cả xe trâu và xe đạp ôm. K7 gần nhất, giam riêng các biệt kích. Ở giữa, một K dành cho các thiếu niên phạm pháp, đa số về tội ăn cắp –có đứa chỉ mới tám tuổi. Nguyễn ở K1, xa nhất, tuốt sâu trong núi.

Tại Vĩnh Phú, có anh bạn cùng trường Đại Học CTCT Đà Lạt, Nguyễn Ngọc Nhung, Đại úy pḥng Khảo Hạch, kiếm đâu ra được chức thủ kho dụng cụ lao động, cũng nhàn. Một hôm, Nhung kể, một tên công an vẻ phách lối đến mượn cái xẻng. Theo thủ tục phải ghi tên vào sổ. Thủ kho, người Bắc, lịch sự hỏi:
- Xin cán bộ cho biết quư danh.
Thằng nọ không hiểu “quư danh”, há mồm, ngơ ngác, suy nghĩ một hồi, rồi đột nhiên sừng sộ:
- Anh vi phạm lội qui. Ai cho anh lói tiếng lước ngoài hử?
Nhung sửng sốt, á khẩu. May phước, nhờ các bạn tù xúm vào thông dịch giùm, anh mới thoát nạn, sau khi bị xỉ vả tận t́nh:
- Giờ lày mà c̣n ôm chân đế quốc, lói tiếng nóng...

Nhung không phải là trường hợp duy nhất. Bọn cai tù ###### là chúa nghi ngờ, nhạy cảm và mặc cảm. Một câu nói vô t́nh, vô tội, đùa vui cũng bị “nâng cao quan điểm” và những phát biểu viên linh tinh đều bị gọi đi “làm việc” tận t́nh. Một thiếu úy trẻ, một bữa trưa Chúa Nhật nghỉ lao động, vừa phơi chiếu bắt rệp vừa cao hứng hát bài “Giết người trong mộng” và gào lên thống thiết, giết người đi, giết người đi, bị ăng ten báo cáo và tên quản giáo xuống điều tra, qui tội phản động, âm mưu sát hại Cách mạng, và xách đi biệt giam một tuần lễ. Hay một anh khác, không hiểu sao, một hôm lớn tiếng chửi đổng: “ĐM thằng Mỹ-Thiệu”, cũng bị buộc là “tư tưởng c̣n lấn cấn, anh tức giận bọn Mỹ-Thiệu là v́ chúng nó bỏ rơi anh, chứ ǵ, đúng không?” Hay các linh mục tuyên úy trồng cây cột, đóng với một thanh gỗ ngang, để căng dây phơi quần áo, cũng bị kết tội cố t́nh dựng cây thánh giá, và bắt tháo xuống và viết tờ kiểm điểm.

Ở trại mới, Nguyễn “được” chỉ định về đội Nông Nghiệp. Phải lội vào một thửa ruộng bỏ hoang từ bao đời để luân phiên kéo cày thay cho trâu ḅ. Nước bùn đen đặc quánh, đỉa bơi lổn ngổn, tḥ chân xuống thấy ghê rợn –làm chàng nhớ những đầm lầy cũng kinh khiếp dưới địa ngục mà thi hào Ư Dante Alighieri phải vượt qua với Virgile, trong Inferno. Ba hôm sau, một số đội viên –có Đại úy Cảnh sát Phạm Bá Điềm, bạn thân từ Sơn La– lên cơn sốt cấp tính, chỉ hai ngày là hôn mê, rồi chết. Người sống sót rụng dần lông chân, không bao giờ mọc lại được nữa. Phải mất thêm vài mạng, đội mới có lệnh “giải thể.”

Thửa ruộng lại bị bỏ hoang, Nguyễn trở về đội Rau Xanh, như hồi ở Hoàng Liên Sơn, lại vào tổ phân, lần này giao cho thợ bón kiêm tưới viên là phi công Air Vietnam Trí (Nguyễn Hữu?), trung tá biệt phái. Nói chuyện mới biết Trí bay đường Hồng Kông và Tokyo, có chuyến với Bội Trân, em gái Nguyễn, mà anh tả đúng h́nh dáng, nên chàng tin lắm. Chim bằng găy cánh, Trí tiếc nhớ trời xanh, giờ giải lao ngước nh́n lên cao, uất ức, thở dài.
Tết đầu tiên tại Vĩnh Phú, trại được nghỉ lao động ba ngày, và tự do đi lại các khu vực. Nguyễn t́m đến dăy nhà giam riêng “ḅ lục” (tiếng lóng chỉ đại tá) để thăm Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, vị chỉ huy trưởng kính thương của trường Đại Học CTCT Đà Lạt –nơi mà chàng được phục vụ gần ba năm trong chức vụ Trưởng khoa Nhân Văn Xă Hội và Sĩ quan Phụ khảo cho đến ngày tan hàng. Nguyễn thấy ông cũng vừa bước ra sân, nơi đang diễn nhiều tṛ vui do tù sáng chế để giết thời gian và nỗi nhớ nhà. Ông nhận ra chàng ngay. Chung quanh rất đông người, và dĩ nhiên ăng-ten được rải đầy. Gặp ông, chàng mừng quá, nói lớn:
- Chào bác, bác vẫn khỏe chứ ạ?
Ông nắm tay chàng một lúc lâu, và chậm răi nói, giọng xúc động:
- Cám ơn anh, tôi vẫn khỏe. C̣n anh thế nào, có bệnh hoạn ǵ không? Tôi biết anh ở đây lâu rồi, mà không gặp được.
Nguyễn cố nuốt những giọt lệ làm nghẹn cổ họng, xót thương cho phận vàng phai và đá nát. Cho đất nước bất hạnh. Cho cả chính ḿnh. Hồn bỗng rưng rưng, thầm gọi tên một thời yêu thương và thù hận tưởng đă chết theo cùng với mùa xuân tang tóc và những giấc mơ phai. Một thời v́ ông chợt hiện về nguyên vẹn. Như mới hôm qua...
Sài G̣n, đầu tháng 5, 1975. Hai ngày sau khi đứng nh́n từ một góc đường Lê Văn Duyệt, uất hận và nước mắt lưng tṛng, những chiếc xe tăng chở đầy Cộng quân vào thủ đô, nghe tên nằm vùng Trịnh Công Sơn hớn hở ca mừng chiến thắng, kêu gọi nối ṿng tay lớn tay nhỏ, và chạy tới chạy lui ḍ la tin tức người thân, bạn bè ai c̣n ai thoát, tôi t́m được địa chỉ của ông và đạp xe đến thăm cùng với hai cựu SVSQ khóa 4, Nguyễn Gia Hưng và Nguyễn Dự, bất ngờ gặp lại trên đường. Phu nhân và cô con gái, v́ quen mặt hồi ở Đà Lạt, tiếp tôi không e dè. Đại tá Quỳnh ra pḥng khách, áo sơ mi bỏ trong quần tây, chân đi săng đan. Trông ông mệt mỏi, có vẻ chán nản, dù bề ngoài vẫn giữ phong cách nho nhă, lịch sự cố hữu. Chúng tôi không nói ǵ nhiều. Có lẽ trước thảm họa chung ai cũng có nỗi ưu tư riêng, cùng nặng nề như nhau. Suốt ba hôm liền, tôi bị hối hận dày ṿ, tự trách đă vụng suy, khí khái hăo, không nghe lời cô em tiếp viên đưa gia đ́nh lên chuyến Air Vietnam cuối cùng, và sau đó, chuyến Galaxy của một viên phi công Mỹ bất ngờ gặp em tại phi trường, và có cảm t́nh với em. Khiến tất cả đành phải ở lại, dắt díu nhau trở về Nha Trang để thấy cửa nhà, tài sản rơi vào tay bọn cách mạng 30 –hạng khố rách áo ôm trước kia đă chịu ơn ba mẹ tôi, nay trở mặt, gán lên đầu ông bà đủ thứ tội. C̣n Đại tá Quỳnh, tôi không biết ông đang tiếc ǵ, nghĩ ǵ, v́ suốt buổi chỉ nghe ông lặp đi lặp lại:
- Không thể ngờ nhanh như thế!

Đâu phải ḿnh ông. Không ai ngờ, kể cả Dương Văn Minh, viên tướng thiếu tài, khờ dại, được sinh ra chỉ để phản bội và bọn “hàng thần lơ láo” tại dinh Độc Lập trưa ngày 30/4. Kể cả lũ vượn người khoác lác ở Bắc bộ phủ. Kể cả tên đồng minh Kissinger xảo quyệt, tác giả của cái gọi là hiệp định Paris quái gở bán đứng miền Nam, người được báo chí Mỹ bơm lên như nhà ngoại giao vĩ đại, nhưng thực chất chỉ là một anh trí thức cơ hội chủ nghĩa và đầy ảo tưởng, chưa tiêu hóa kịp những bài học bang giao quốc tế ở trường Harvard. Kể cả anh tướng hai sao và ba hoa nọ đă thề thốt ở lại để ăn mắm tôm cà pháo với đồng bào (di cư Tân Sa Châu), vậy mà vào phút chót nhờ có trực thăng riêng mới vọt ra được hạm đội Mỹ. Không thể ngờ nhanh như thế! Tôi chỉ biết gật đầu, đồng ư với ông. Cuối cùng, tôi cất tiếng hỏi:
- Đại tá có ư định sẽ làm ǵ ?

Ông lưỡng lự vài giây, rồi trả lời:
- Tôi chưa biết sẽ phải làm ǵ. Nhưng ở hoàn cảnh nào tôi cũng chấp nhận những ǵ tệ hại nhất sẽ xảy đến cho tôi.
Như là mặt trái của bổn phận và vinh quang, tôi hiểu như thế qua những lời chậm răi, đắn đo của ông. Những lời tôi nghe quen từ đâu rồi bỗng mang một ư nghĩa cao đẹp, phi thường trong bối cảnh bấy giờ. Những lời đă theo tôi suốt tám năm đày ải, và cùng với h́nh ảnh của Guillaumet, viên phi công lâm nạn lầm lũi bước lê trên cát sa mạc, không chịu ngồi chờ chết, trong Terre des hommes của Saint-Exupéry học lúc trẻ, đă khích lệ, vực tôi đứng dậy để tiếp tục sống c̣n. Tôi cảm động, và khi từ biệt, siết chặt tay ông, khẽ nói:
- Có một điều Đại tá nên chắc chắn là dù ngày mai ra sao tôi sẽ không bao giờ quên Đại tá và những ǵ Đại tá đă làm cho tất cả chúng tôi.
Và cho riêng tôi. Ông là một chỉ huy trưởng nhân hậu, có đức có tài, hơn ai hết, đă làm tôi thấy yêu thích và kiêu hănh với đời quân ngũ không chọn lựa. Một chỉ huy trưởng quả cảm và xứng đáng, có tinh thần trách nhiệm cao độ –quyết ở lại với thuộc cấp cho đến phút cuối, mặc dù nghe nói ông có một người con rể là đại tá không quân Mỹ và đủ phương tiện để tẩu thoát một ḿnh như đám tướng tá tham sinh úy tử kia đă tranh nhau đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Quả vậy, chín giờ sáng 30/4, tại Tiểu đoàn 50 CTCT, đường Phan Đ́nh Phùng, bấy giờ là bộ chỉ huy tiền phương của trường Đại Học CTCT, ông vẫn chỉ thị các sĩ quan hiện diện và sinh viên sĩ quan các khóa tiếp tục chiến đấu và pḥng thủ, để rồi, cuối cùng, phải buông súng, bất lực trước mệnh nước. Tôi không bao giờ quên được khẩu lệnh cuối cùng, ngắn ngủi, thật buồn bă của ông cho ban tham mưu, sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng:
- Phát hết lương khô và cho anh em tan hàng!

Hơn hai năm phục vụ trường Đại học CTCT, không biết bởi chủ quan chăng mà tôi có cảm tưởng được ông biệt đăi. Cả Alain Bichet, giáo sư Lycée Yersin, mà tôi giới thiệu như một người bạn quư, cũng được ông dành cho cảm t́nh nồng hậu, và ngược lại. Ngoài ra, ông chẳng những chấp thuận mà c̣n khuyến khích tôi dạy vài lớp Pháp văn tại Viện Đại học Đà Lạt do lời mời của Phó Khoa trưởng Văn Khoa, Tiến sĩ Sử Nguyễn Hồng Giáp –một bạn học cũ– mới từ Paris về, và sau này, qua trung gian tôi, nhận dạy một lớp cho trường CTCT. Rồi đến mùa văn hóa tôi được ông mời dự tiệc với các giáo sư tại tư gia và thỉnh thoảng nhờ đưa đón họ bằng chíếc Peugeot 203 bụi đời của tôi. Khi giáo sư Xă hội học Phạm Thị Tự nghỉ dạy, ông bổ nhiệm tôi thay bà, bắt đầu năm cuối của khóa 4. Những sự việc trên, tôi xem như vinh dự, nếu không nói đặc ân, nhận được từ Đại tá Quỳnh, dù tôi biết ông đối xử công bằng, tử tế, dễ thương với tất cả mọi người, không riêng ai... Và một chuyện, rất cá nhân, tôi c̣n nhớ măi.
Hè 1974, trường mở cuộc thi tuyển khóa 6. Tôi được cử làm trưởng trung tâm Nha Trang. Các bài thi được mang từ các trung tâm về trường để các sĩ quan Văn Hóa Vụ chấm. Mẹ tôi gửi gấm con bà xui gia, tức em chồng của một cô em tôi, Thể Trân, kèm theo nửa mảnh giấy nháp do anh ta viết để tôi thuộc ḷng nét chữ. Tôi “dạ” cho qua chuyện, v́ biết trước sẽ chẳng làm ǵ cả. Xưa nay tôi vốn ghét việc ăn gian với chữ nghĩa, nhất là “quay phim” trong trường thi, hoặc cuỗm bài người khác, xào nấu lại thành của ḿnh, để in báo hay đọc trên đài phát thanh, như một số “văn sĩ” hải ngoại đang làm. Kết quả, con bà xui gia rớt, tôi đoán thế, v́ không thấy tên trên bảng. Mẹ và em gái tôi lúc đó có mặt tại Đà Lạt, ở nhà tôi, chắc cũng biết, nhưng không nói năng ǵ. Hôm sau, Đại tá Quỳnh cho gọi tôi lên. Ông đưa tôi xem ba bài Pháp văn rọc phách, không đề tên, đều bị hai con số không to tướng. Và nhỏ nhẹ bảo:
- Mẹ và em của Đại úy sáng nay có đến gặp tôi, xin vớt một người bà con được đỗ kỳ này. Tôi xem lại điểm th́ thấy anh ấy và hai người nữa bị loại v́ bài Pháp văn. Đại úy chấm rất đúng, v́ họ trả lời kém thật. Tuy nhiên, Đại úy xem có thể nâng điểm lên cho thân nhân của Đại úy, và v́ anh này, cho hai người kia nữa được đỗ không?

Sự việc quá bất ngờ, tôi chưa biết trả lời sao, th́ ông vội tiếp, vẫn nhỏ nhẹ:
- Nhưng điều ấy cũng tùy Đại úy thôi. Tôi không có quyền ǵ.
Suy nghĩ giây lâu, tôi mới lên tiếng hỏi:
- Đại tá thấy họ cần bao nhiêu điểm nữa?
Ông nói từ 3 đến 4. Tôi bèn sửa, và kư tên trước mặt ông. Sự tế nhị và ḷng độ lượng của Đại tá Quỳnh làm mẹ và em tôi cảm phục, hân hoan. Riêng tôi thầm cám ơn ông đă khéo léo giải quyết mọi chuyện êm đẹp, nếu không chắc phen này tôi “khó sống” với mẹ, bà xui gia, em gái. Tại bến xe đi Nha Trang, khi hôn từ giă tôi, Thể Trân nói nhỏ vào tai:
- May phước c̣n có ông Đại tá chỉ huy trưởng của anh... Anh lư tưởng vừa chứ. Mẹ giận anh lắm đó, nói sẽ cúp viện trợ cho anh... Anh liệu lời xin lỗi mẹ đi!

... Thế rồi, mỗi người chia một nẻo. Ông cũng đi tŕnh diện “cải tạo” ở một nơi nào đó. Tôi bị tống vào Long Giao để gặp lại gần toàn bộ sĩ quan Đại Học CTCT, trong số có người bạn thân, Đại úy Đỗ Huy Hoàng, chủ bút tờ Ức Trai của trường. Những chiều lao động về rảnh rỗi, tôi ṃ sang đội của Hoàng, hoặc Hoàng sang tôi, để tâm sự vụn cho bớt nhớ nhà. Nhất là bớt tức. Có cái ǵ uẩn ức, hằn học nằm trong tiềm thức của mỗi tên tù. Đau xót và căm giận c̣n hơn bị t́nh phụ. Nhưng không biết tức ai. Lănh đạo hèn nhát đă cao bay xa chạy. Thù hận (Không dùng từ này) th́ chẳng ai dám hé môi nói với ai. Cuối cùng, chỉ có Thượng Đế nghe đủ những lời ta thán, chửi thề vu vơ. Trong câu chuyện, chúng tôi điểm mặt từng người quen, và khi biết toàn trường vào tù, cả hai cùng thở dài, ngán ngẩm. Tôi c̣n gượng chọc Hoàng:
- Ức Trai hay Ức Gái ǵ rồi cũng chui vô rọ hết!

Tại Long Giao, tôi ở cùng đội, cùng tổ với Đặng Phùng Hậu, bác sĩ trưởng bệnh xá trường Đại Học CTCT, và một nhóm quân y. Cả tổ, v́ tự ái, tự trọng, không ai than văn về chuyện ăn uống, đói khát trong tù, kể cả sau này khi viết hồi kư. Hậu vui tính, kể đủ chuyện, nhờ vậy những ngày ảm đạm, bực bội qua khá nhanh. Mỗi tối, Hậu th́ thầm nói chuyện với tôi về thời cuộc, và lần nào anh cũng lẩm bẩm kết thúc bằng câu:
- Địt cụ, đau như hoạn, tức như ḅ đá!

Bên dăy cấp tá có Lê Ân, thiếu tá Văn Hóa Vụ trưởng của trường. Những lần thấy nhau qua hàng rào kẽm gai, ông lộ vẻ mừng rỡ, rồi lắc đầu nói, giọng Quảng lai Huế rất “trademark” của ông:
- Cháng gướm (chán gớm)!

Trong câu chuyện, anh em thường hỏi nhau về Đại tá Chỉ huy trưởng. Không ai biết chính xác ông ở đâu. Có tin ông đă chết. Hoặc đang ở ngoại quốc. Hoặc trốn trong một khu rừng. Nhiều đêm trằn trọc, tôi khổ tâm v́ dĩ văng, cứ ám ảnh măi, như cuốn phim quay lại, tự động, chậm chạp, lê thê. Nhớ không sót từng khuôn mặt, từng buổi giảng dạy, từng dịp lễ. Nhớ từng đêm Giáng sinh giá buốt và tiếng chuông nhà thờ ngân nga, từng buổi dạ vũ tưng bừng, mệt nhoài, từng con phố ch́m trong sương mờ che khuất đường về...

Bây giờ Đại tá Quỳnh đứng đó, bên Nguyễn, giữa một ngày xuân héo hon. Người gầy nhom, gương mặt hốc hác, má trũng sâu. Nh́n lại h́nh hài ḿnh, chàng thấy đâu hơn ǵ. Chỉ một thoáng mơ, bỗng hiện về trong đáy hồn rời ră cả khung trời yêu thương Đà Lạt và kỷ niệm rực rỡ của tháng ngày cũ có hạnh phúc c̣n thơm hương mimosa, có t́nh yêu chưa biết nói lời phản trắc, có một Đại tá Quỳnh uy nghi trong quân phục đại lễ gắn cấp hiệu cho sinh viên các khóa, nay c̣n đâu! Mới có bốn năm vật đổi sao dời mà cả hai đă trở thành thảm hại đến thế ư? Ông mặc bộ treillis bạc màu, chân đi dép râu, sau lưng viết chữ Quỳnh thật to bằng mực tím. Thấy không ai để ư, Nguyễn bèn hỏi rất khẽ:
- Đại tá nghĩ sẽ có ngày về không?
Ông lấy tay che một bên tai, có vẻ chú ư lắm mới nghe lọt hết. Và trả lời nhanh, chắc ngại bọn ăng-ten cứ lượn qua lượn lại trước mặt:
- Tôi nghĩ là rất khó ḷng, mặc dù vẫn cố hy vọng. Điều quan trọng là anh gắng giữ ǵn sức khỏe tốt để có sức chịu đựng. Gặp anh em khác cho tôi gửi lời thăm!
Một thằng sà tới. Nguyễn vội nói lớn:
- Bác được thư gia đ́nh thường chứ ạ?
Đại tá Quỳnh chưa kịp đáp th́ hắn đă gay gắt bảo Nguyễn, giọng trọ trẹ:
- Tôi lưu ư anh, không được quan hệ với các anh đại tá.
Chàng phản pháo liền:
- Nhưng anh là ai? Hôm nay ngày Tết được miễn!
Thằng nọ mặt hầm hầm, lớn tiếng:
- Tôi ở trong ban Trật Tự. Đề nghị (tiếng ###### có nghĩa "yêu cầu") anh chấm dứt quan hệ linh tinh.
Chàng quay sang Đại tá Quỳnh :
- Thôi xin từ giă bác, chúc bác mạnh khỏe, b́nh an trong năm mới.
Rồi nh́n thẳng mặt thằng Trật Tự, giận dữ bỏ đi. Nguyễn gặp Đại tá Quỳnh được một tháng th́ hai đội ḅ lục –đội trưởng là Lê Đ́nh Luân và Dương Hiếu Nghĩa– chuyển xuống K5, cách đó độ sáu cây số, cùng với các linh mục tuyên úy mà bọn Công an đặc biệt căm thù.

Rồi một hôm, mẹ tôi lặn lội đến thăm, có Bội Trân hộ tống. Lần đầu được phép, sau năm năm chờ đợi. Mất ba ngày đường trên hai chuyến xe lửa từ Nha Trang ra Hà Nội, từ Hà Nội lên Ấm Thượng. Qua sông Hồng bằng phà máy, tới K1 bằng xe trâu. Tại nhà tiếp tân, lúc đó khá đông người, ba mẹ con ôm nhau khóc, rồi nói cười, mừng mừng tủi tủi, trước những cặp mắt cú vọ của lũ vệ binh và quản giáo. Mẹ thút thít, xoa nắn hai cánh tay và ngực tôi, như lúc nhỏ tôi từ Sài G̣n về quê Nha Trang nghỉ hè, chê con gầy quá, tội con quá! Mẹ bạc gần nửa mái đầu, da sạm nắng, tay nổi gân xanh. Suốt năm, Bội Trân nói, mẹ đi thăm nuôi “mệt nghỉ” rồi lo t́m đường cho con vượt biên, làm sao mà không già yếu cho được. Ba ông con trai lớn và một chàng rể tương lai đi cải tạo bốn nơi khác nhau, cô con gái út bị bắt ngay trên ghe nhỏ, giam tại A30. Chưa đứa nào thoát được, mẹ tiếp lời, trừ Thể Trân ra riêng, v́ cả nhà bị chúng nó theo dơi sát nút.

Bội Trân đẹp như trước kia, nổi bật giữa pḥng tiếp, dù thôi trang điểm. Nhưng tóc cài hờ hững, mắt buồn vời vợi, mất hết vẻ hồn nhiên, tinh nghịch cố hữu, khiến tôi ngậm ngùi tưởng đến những mỹ nhân tự thuở xưa hương sắc không phai giữa gió đời vùi dập, kiêu sa trước nghịch cảnh, như các nhân vật nữ trong những vở kịch Hy Lạp cổ. Em kể, và mẹ lắng nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu, phụ họa:
- Nhà ḿnh bị tịch thu được chúng nó trả một nửa, nửa kia làm trụ sở thanh niên phường. Ba làm rẫy, mẹ lén nấu rượu chuối cho ba uống thay Martel. Em phụ bán nước mía với em Huyền Trân. Chị Thể Trân đến được Mă Lai với chồng con. Chị vẫn nhắc chuyện anh cho cậu em chồng hai quả trứng vịt lộn trong kỳ thi ở trường Chiến Tranh Chính Trị và ông Đại tá chỉ huy trưởng hiền từ của anh. Chị nói anh ngang tàng, đôi lúc chị tức anh lắm, nhưng vẫn thương anh, hơn bất cứ ai, bởi anh là mẫu người của đàn ông, có chết cũng không than van, cầu khẩn, lúc nào cũng hào hùng, kiêu hănh, giống như con chó sói bị thương trong bài “La mort du loup” của Vigny ḿnh học năm nào đó... Anh nhớ không, hồi nhỏ, một lần anh đánh lộn với mấy thằng lối xóm chuyên chận đường chọc ghẹo tụi em, bị chảy máu mũi, mắt sưng vù, mà anh vẫn cắn răng chịu đau, không khóc, lại c̣n bị ba mắng cho nữa...
Tôi lắc đầu, cười buồn. Ôi, xa rồi kỷ niệm, nhắc làm chi hỡi em? Và đổi đề tài:
- Em đă đi thăm Kha chưa? Anh không biết Kha hiện ở trại nào.

Kha là hôn phu của Bội Trân, phi công A37, dưới tôi hai lớp ở Jean-Jacques Rousseau. Sắp cưới th́ mất nước. V́ Bội Trân ở lại, Kha cũng không đi.
Nghe tôi hỏi, Bội Trân chớp mắt, buồn rầu nh́n ra sân. Bầu trời thấp, đục, giăng mây xám, như sắp đổ mưa. Gió rừng tuôn qua vách nứa ngập gian nhà trống trải, không cửa, lạnh từng cơn. Em th́ thầm:
- Mẹ và em đă ghé thăm Kha ở Hà Nam Ninh trên đường lên anh đây. Cũng tàn úa, như anh, như mọi người, sức khỏe giảm sút nhiều... Em sẽ chờ anh ấy, bao lâu cũng được.
Tôi quay sang mẹ, bùi ngùi nói:
-Tất cả đều do lỗi của con. Phải chi ngày đó con biết nghe lời em đưa gia đ́nh...
Mẹ ngắt lời:
- Cả nước đều lầm, đâu phải riêng con. Chuyện cũ, thôi đừng nghĩ đến nữa.
Bội Trân tiếp:
- Nhưng có thế này em mới được về vườn, ở hẳn với ba mẹ chứ! Em vẫn thương anh và hănh diện v́ anh.
Mẹ và em nói đủ thứ chuyện, nhưng không đề cập đến một tin tôi chờ mà ngại không dám hỏi. Dường như hiểu ư, lúc mẹ quay qua tiếp một bà đồng hành ngồi cùng bàn, Bội Trân nắm bàn tay tôi, siết chặt, và khẽ nói:
- Lệ Ngà đă lấy chồng. Hai năm sau khi anh ra đi. Em đâu ngờ!
Tự dưng tôi buột miệng, không chút mỉa mai:
- Hai năm là c̣n khá thủy chung đấy chứ em!

Tôi tưởng sẽ phải đứng tim, ngất xỉu. Nhưng lạ quá, chỉ thấy buốt nhói một chút như kim châm. Có lẽ v́ đă chuẩn bị đón nhận sự thật quá lâu, từ năm năm rồi. Một thiên thu. Chợt nhớ một anh bạn Thiết giáp vừa vào Long Giao mấy tháng đă nhận được thư vợ xin anh cho phép “bước thêm một bước nữa” và kư vào tờ đơn ly dị và giấy nhường tài sản kèm theo, và cả đời tôi không quên được giọng cười khinh bạc của anh sau khi viết trả lời: “Nhất trí. Cho cô hết. Nhưng khuyên cô không nên bước, mà nên chạy cho nó nhanh.” Tôi không được như anh ta. Bởi vô vàn kỷ niệm ngát hương ngày mới yêu ùa về, thay nhau vỡ như bong bóng. Lệ Ngà. Bạn học thân thiết của Bội Trân. Tà áo thiên thanh và ḍng tóc buông lơi trong nắng sớm phi trường Liên Khương, những lần em bay lên gặp anh. Lệ Ngà. Những chiều đi dưới mưa lất phất qua những đồi thông, em hát nho nhỏ bài “Le jour où la pluie viendra... Ngày mà mưa đến, sẽ có bao nhiêu là giọt kim cương cho t́nh ta...” Những ly rượu Bordeaux sóng sánh ngọt lịm môi em trong quán L’eau Vive và bản sonate 23 của Beethoven, “Appassionata”, trên phím dương cầm thánh thót như từng giọt lệ rơi, thiết tha như lời tuyệt vọng gọi người t́nh về. Những ṿng tay cuống quưt t́m nhau trong hoàng hôn tím trên đồi Cù. Những chân bước tung tăng qua những đồi thông dưới mưa, từng hạt long lanh như kim cương. Những lời thề nguyền yêu đương cho đến lúc đầu bạc răng long. Lệ Ngà. Hạnh phúc dối gian và ảo vọng phù du. Tôi nhắm mắt giây lâu, nghe vị đắng và cơn giận thấm dần xương tủy. Và thở dài nhè nhẹ, nh́n Bội Trân không nói. Đâu phải t́nh cờ em nhắc đến con chó sói bị thương, cùng đường, của Vigny.
Em tiếp, giọng trầm buồn:
- Không hiểu sao Ngà biết em sắp đi thăm anh. Đến gặp em, lần đầu tiên sau mấy năm biệt tích. Em không nỡ đuổi.
Khóc suốt buổi, nhưng không nói một lời ǵ về anh. Khi chia tay, chị ta nhờ em trao anh những phong chocolat Meunier mà chị ta nói ngày xưa anh rất thích, và cho em một số tiền làm lộ phí, nhưng dĩ nhiên em không nhận ǵ hết... Em biết tính anh quá mà!
Tôi nói cám ơn em. Rồi cả hai im lặng, đuổi theo ư nghĩ riêng...

Hai giờ trôi qua mau. Tên cán bộ vén tay áo xem đồng hồ, bảo tất cả chuẩn bị ra về, vác quà vào trại. Khi ôm hôn tôi từ biệt, lợi dụng tiếng ồn ào, Bội Trân nói nhỏ, một hơi, thật nhanh, qua màn lệ, bằng tiếng Pháp:
- Ba dặn anh đừng tin bọn (Không dùng từ này), đừng khai thật, khai sao lặp lại y như vậy, đừng tin các phong trào phục quốc, tất cả đều là cạm bẫy của ######. Em nghe đài VOA và BBC nói các nghị sĩ, dân biểu Mỹ, và cả thế giới đang quan tâm đến số phận của các anh. Đừng tuyệt vọng nghe anh. Nhớ đọc kinh, cầu nguyện nhiều xin Chúa và Đức Mẹ che chở. Cả nhà chờ anh đó. Em thương anh. Em thương anh.

3. Mẹ và em về hơn hai tháng, Nguyễn được chỉ định vào đội Xây Dựng, có nhiệm vụ cất nhà ở cho tù, heo, và cán bộ, và bắc cầu qua suối cho dân. Lúc đầu chàng phụ tá cho Lưu Ninh, Thiếu tá, trong tổ vữa (trộn hồ), và sau khi Ninh qua “khâu” lợp chàng được thăng chức tổ trưởng, và tổ phó là Đào Văn Bảnh, Trung tá Bộ Tổng Tham Mưu. Bảnh tính t́nh điềm đạm, cởi mở, sau trở thành một trong những bạn tù thân thiết nhất. Không có tổ viên. Suốt ngày hai tên h́ hục trộn hàng đống vữa lớn, nhỏ, để sẵn, chờ một toán đem xe cải tiến, do ông nhà báo Việt Tấn Xă Đinh Phụng Tiến chỉ huy, đến xúc giao cho các thợ xây. Trong đội, nằm cạnh chàng, có Đại đức Nguyễn Long, quê Quảng Ngăi, lo nấu nước, làm tạp dịch. Ông hiền lành, thật thà, ưa giúp đỡ mọi người. Nhiều đêm, vài anh nổi hứng, oang oang kể chuyện đàn bà con gái, chơi bời trước kia. Ông cũng bị nghe, và lần nào cũng lầm rầm bên tai Nguyễn:
- Mô Phật! Chơi chi mà chơi dữ rứa hè!

Bữa nọ, một bà già khu gia binh cho đội một con chó con vừa chết. Một anh gốc Hố Nai xung phong trổ tài nấu rựa mận với muối, rau muống, và củ riềng –mọc đầy bên vệ đường. Mỗi người được chia hai miếng bằng ngón chân cái. Ai cũng “hồ hởi” ăn, trừ Đại đức Long. Ông đi t́m Nguyễn, cho phần của ông, mặc dù quanh năm ai cũng thiếu chất thịt và ông chưa được thăm nuôi. Ông nói:
- Tôi c̣n tu. Anh ăn giùm cho!
Đổi lại, Nguyễn tặng ông phần sắn, nhưng ông nhất quyết không nhận.

Một hôm, đội được điều động làm công tác "đột xuất" (bất ngờ) là ra "nghĩa địa", tức một băi đất trống sát chân núi, làm cỏ và cắm mộ bia cho các anh em đă nằm xuống. Nguyễn đếm gần hai trăm mộ –kỳ thực chỉ là những nấm đất vùi sơ với mảnh gỗ nhỏ ghi vội tên người chết. Trong số có vài ông tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng. Có Trung tá Nguyễn Văn Năm, thuộc trường Đại học CTCT, người hiền như Bụt, nổi tiếng về khoa bói toán, bấm độn, và một người quen biết từ trại Sơn La, Trung tá Đặng B́nh Minh –cả hai trúng nắng cùng một lúc ngoài hiện trường lao động, được chở về trại cùng trong một chiếc xe trâu, hôn mê và qua đời cùng một giờ. Anh em kể, vợ phi công Minh, một dược sĩ trẻ đẹp, từ Hà Nội trở lại thăm khi anh vừa mất, được dẫn ra nghĩa địa, khóc như mưa, rồi cắt tóc để lại trên mộ cùng với một bài thơ. Nguyễn vừa giẫy cỏ vừa thầm khấn các anh phù hộ cho tất cả tai qua nạn khỏi và mau về sum họp với gia đ́nh. Và thắc mắc không hiểu sao bữa nay bọn cai tù lại tử tế như vậy. Th́ ra, về sau mới biết, có một phái đoàn cao cấp đến thăm trại.

Cuối năm 1980, cả đội của Nguyễn được điều động đến K5 xây hội trường và khu gia binh cho công an. Tại đây, Nguyễn rất mừng được thấy lại Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, mỗi buổi sáng tập họp. Kỳ này, trông ông đỡ tiều tụy. Tết 1981, mẹ chàng và Bội Trân ra Vĩnh Phú lần thứ hai, với Huyền Trân, cô em út xinh đẹp vừa tṛn mười tám. Chàng soạn một ít bánh ḿ khô, đường và ḿ gói, mấy viên thuốc cảm, bỏ vào một bọc ni-lông, chờ buổi chiều các đội đi tắm suối chung lẻn đến phía các ḅ lục, gặp Đại tá Quỳnh trao cho ông, nói:
- Tôi mới được thăm, xin biếu Đại tá.

Hai tháng sau, đến lượt ông được thăm, và một buổi sáng Nguyễn đang đánh vữa th́ đội của ông đi ngang. Ông gật đầu ra dấu cho chàng đến sát hàng rào kẽm gai và dúi vào tay một gói lương thực khô đủ loại. Thằng vệ binh thấy được, chạy tới khám. Không có thư từ, mật hiệu, nó trả lại, mồm càu nhàu:
- Quà với cáp linh tinh!
Lúc này, tổ vữa làm việc gần bếp và giếng nước cơ quan. Một hôm, một trung sĩ công an c̣n trẻ, lạ hoắc, lén vệ binh, đến gần, run run hỏi nhỏ:
- Các anh có B6, cho tôi xin một ít. Nhà tôi mới sinh bị phù (thủng) nặng.
Việc xảy ra đột ngột, Nguyễn và Bảnh đưa mắt nh́n nhau, không đáp, sợ bị gài bẫy. Anh ta vội tiếp:
- Nói thật đấy mà! Không tin, các anh cứ vào đây xem.
Suy nghĩ một hồi, Nguyễn đánh liều đi theo anh ta, c̣n Bảnh ở lại canh chừng đống vữa và tên vệ binh. Vào nhà, thấy chị vợ da mét xanh, mặt mày, tay chân sưng húp, nằm bên đứa con đỏ hỏn, bé như con chuột. Chị ta nói thuốc bệnh xá cấp thiếu, và không có thức ăn bổ dưỡng.

Hai đứa phân vân măi. Đối tượng giúp đỡ phải là bạn tù chứ, của đâu mà lo cho Công an! Nhưng hầu hết anh em đều đă được thăm nuôi, hoặc nếu chưa, đă được Bảnh, Nguyễn và bạn bè chia sẻ phần nào rồi. Cuối cùng, động ḷng trắc ẩn, cả hai góp lại được chừng bốn mươi viên B6 để dành từ các lần tiếp tế, đă quá hạn, nhưng không c̣n ǵ hơn, và một chén sữa bột cho đứa bé, đem giấu dưới một gốc cây, làm hiệu cho anh ta đến lấy. Hai tuần sau, một buổi trưa, chị vợ đang nấu bếp cơ quan thấy hai chàng thợ vữa đến, vội tiến ra, nh́n trước nh́n sau, bảo:
- Cảm ơn hai anh, hôm nay em đă đỡ nhiều. Có xuất cơm trắng và miếng thịt trâu bồi dưỡng em mang cho hai anh ở gốc cây kia. Nhớ xem chừng cán bộ bảo vệ, kẻo em bị kiểm điểm...

4. Rồi từ đội Xây Dựng, Nguyễn được Linh mục Trần Thanh Cao, giỏi nhạc, đẹp trai, vui tính, có quen biết ngoài đời, bốc về đội văn nghệ mới thành lập do ông làm đội trưởng, để tỵ nạn lao động vài tháng, mặc dù chàng dốt đặc về ca nhạc kịch. Nhân tài, cũng cỡ chàng, biệt phái từ các đội. Có ba anh giả ba sơn nữ Phà Ca mang gùi, đeo ṿng, lắc lư múa theo bài Tiếng chày trên sóc Bom Bo, trông xa, và v́ vắng đàn bà lâu ngày, thấy cũng hấp dẫn không thua Thanh Nga. Có tổ cải lương với đầy đủ vai hề, đào thương, kép độc. Đội được lệnh tŕnh diễn giúp vui một phái đoàn thanh tra trung ương. Cha Cao cho Nguyễn vào ban hợp xướng, bè alto ngang phè phè. Ông khuyến khích các ca viên:
- Ăn sắn và hút thuốc lào mà hát như vậy là được rồi!
Một hôm, trại phó đến thăm. Ban hát đang tập một bài có nhắc tên Hồ Chí Minh và hang Pắc Pó, hay ao sen, ao cá ǵ đó, do cha Cao đặt ḥa âm thành bốn bè, mỗi bè tập riêng. Hắn chăm chú nghe, vui vẻ, rồi bỗng nhăn mặt, gọi cha Cao lại, giận dữ quát:
- Anh bôi bác Cách mạng đấy phỏng? Tên Bác kính yêu như thế mà... mà anh dám đổi nà Hô, Hố, Hộ, Hổ như thế th́... th́ nà anh nếu náo thật!
Cha phân trần, nhưng hắn gạt đi:
- Bỏ, bỏ tất! Bè với không bè!

Lần khác, hắn đến xem tập kịch. Hắn lại nhăn mặt, lại gọi cha Cao, chỉ tay về phía một ông trung tá kư giả trọng tuổi, bút danh Kư giả Lô Răng, đóng vai một cán bộ huyện. Nguyễn đứng gần cha Cao, nghe hắn bảo:
- Thay anh kia cho tôi! Cán bộ cách mạng chúng tôi không bao giờ đi chân thọt! Anh có ư đồ phải không?
Cha Cao ngẩn người ra, cứng họng. Bấy giờ, Nguyễn mới nh́n kỹ ông diễn viên xui xẻo. Quả thật, chân bước của ông hơi khập khiễng.
Văn nghệ xong, đội giải tán trong sự tiếc nuối của các nghệ sĩ bất đắc dĩ. Cha Cao đi trồng mía. Nguyễn bị hoàn trả về đội xây, đánh vữa trở lại với Đào văn Bảnh.

Bất ngờ, lại bị “biên chế” nữa. Các sĩ quan cấp tá và tuyên úy một sáng sớm phải lên đường di chuyển về một nơi nào không rơ. Nguyễn ngồi trong hàng nh́n theo bóng Đại tá Quỳnh và bạn bè, có cả Đại đức Long và cha Cao, lầm lũi bước lên xe, mang theo những túi tư trang gọn nhẹ, như chính cuộc đời trống vắng, buồn tênh của đám tù nhân. Lần đó, chàng nghĩ khó c̣n gặp lại nhau, và tự dưng ḷng nao nao như mất người thân thuộc.

(c̣n tiếp)


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 9 2017, 02:36 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 9 2017, 02:34 AM
Gửi vào: #102


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,461
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



(tiếp theo)

Năm sau, đội Xây Dựng được trở về K1. Mỗi tối, khi cửa buồng giam đóng lại, từng nhóm tụm năm tụm ba nhỏ to nói chuyện, đánh cờ, uống nước trà, hoặc bàn luận thời cuộc từ những tin tức hiếm hoi, thường phóng đại, do các bà thăm nuôi cung cấp. Thời gian này, Nguyễn được nhóm thân hữu đặt biệt danh “b́nh luận gia tin tức quốc tế”. Một cách thành thật, tự tin, chàng phân tích theo chiều hướng có lợi, hợp với ước vọng của mọi người, trong khi thực tế có lẽ khác xa. Bọn cán bộ h́nh như về sau cũng muốn thả lỏng, miễn đừng ai phá phách, trốn trại, trốn lao động, hoặc công khai "phản động". Những giàn ăng-ten bị bứng hết, và anh em có thể phát biểu vung vít, thoải mái, trong nội bộ từng nhóm. Bảy năm rồi c̣n ǵ! Đau khổ đă thành thói quen. Nhớ vợ thương con cũng đă ch́m sâu vào tận cuối hồn. Không c̣n những anh đêm khuya khóc rưng rức trong chăn của thời gian đầu xa gia đ́nh êm ấm. Trái tim hóa thành đá hết rồi. Giờ đây, phản kháng, dưới h́nh thức nào đó, bùng lên từ sự chịu đựng câm nín dồn ép qua nhiều năm. Có người khai bệnh nghỉ lao động dài dài. Hoặc giả khùng chửi xéo chế độ. Hoặc c̣n đập cả vệ binh hỗn láo để rồi, dĩ nhiên, bị biệt giam và hành hạ dă man. Nguyễn bắt đầu để râu, làm tên quản giáo Vinh –nói ngọng, chữ tr thành t, l thành n– rất ngứa mắt, bắt kiểm điểm, nên thấy hắn từ xa chàng lánh mặt.

Trong buồng giam, có một anh, tên Nguyễn Xuân Trung (mà sau này, qua Mỹ, Nguyễn mới biết là cựu SVSQ khoá 1 trường Đại Học CTCT, ra trường khá lâu trước khi chàng được thuyên chuyển về Đà Lạt), chuyên chiếu phim, tức kể chuyện, thật hay và duyên dáng. Tối đến, tù nhân bu quanh, thay nhau rót trà, mời kẹo, đấm lưng cho anh ta, để được nghe kể đủ thứ chuyện, từ Cô gái Đồ Long đến La valse dans l’ombre qua Thần điêu đại hiệp. Một anh nữa, Trung úy Phạm Hữu Lư, khóa 2, cũng trường CTCT, bạn đồng tù rất tư cách và tự trọng của Nguyễn, hát nhạc vàng rất mùi. Suốt một đêm giao thừa, Lư ca một hơi hơn một chục bản t́nh lâm ly, như Chiều mưa biên giới anh đi về đâu hoặc Xuân này nếu con không về, chắc mẹ buồn lắm, làm ai nấy mắt cay sè, muốn khóc. Bọn vệ binh gác cửa, đa số là thanh niên mới lớn, nghệt cổ ra nghe, thậm chí c̣n bảo “anh lào đó hát nại” vài câu.

Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh và hầu hết các nhân vật trong “truyện” này kẻ trước người sau đă đến bến bờ tự do. Từ Portland, thỉnh thoảng tôi gọi ông hay viết thư thăm hỏi. Tôi được tin Đại úy Hoàng Bá Linh, Đại úy Nguyễn Ngọc Nhung, Thiếu tá Lê Ân, Trung tá Đào Văn Bảnh đă tạ thế, trong những hoàn cảnh khác nhau. Cha Trần Thanh Cao, nghe nói, đang là cha xứ, quốc doanh, của một họ đạo Sài G̣n. Bác sĩ Đặng Phùng Hậu và nhà báo Đỗ Huy Hoàng định cư tại Texas. C̣n phi công Nguyễn Hữu Trí không rơ trôi dạt phương nào, cũng như thầy Nguyễn Long.
Mẹ tôi, đă ngoài tám mươi, vẫn c̣n nơi quê nhà, ở với Huyền Trân và chồng con. Ba tôi mất, không được gặp mặt. Những người em “cải tạo” lần lượt định cư tại các nước, trừ Kha chết trong tù. Bội Trân ở vậy, không yêu ai nữa, đúng theo lời thề hứa, trước khi trở thành một nữ tu ḍng kín Carmel, giữa tuổi thanh xuân, làm nhiều con tim tan nát. Lệ Ngà yên ngủ giấc ngàn thu, sau một cơn bạo bệnh, trả hết cho dương gian những si mê và t́nh yêu mật đắng. C̣n tôi, sau bao năm vật vă để vá lại mảnh đời rách nát, đă bắt tay được với hạnh phúc –nhỏ nhoi so với nỗi đau ngút ngàn phải trải qua. Nhưng hồn vẫn chơi vơi theo kỷ niệm chỉ chực ̣a vỡ mỗi năm vào cuối tháng 4, hay mỗi lần nhớ đến mẹ và em từ bên trời cũ, hoặc mỗi lần ở đầu dây tiếng Đại tá Quỳnh, từ Florida, vang lên trong điện thoại.

Nữ tu Marie-Amélie Bội Trân nhắc Nguyễn hăy quên, hăy tha thứ, tha thứ, tha thứ và nói tất cả chỉ là thử thách Chúa gửi đến. Nhưng đối với bạo quyền ######, chàng nói, làm sao tha thứ cho được? Đó là một bọn người gian manh, độc tài, chuyên chế, đă d́m cả đất nước vào cảnh lầm than, đói khổ, qua ba mươi năm, và bây giờ lại c̣n đốn mạt dâng đất, dâng biển cho quan thầy Trung Cộng, mối họa muôn đời của dân tộc. Hận thù, Nguyễn sẽ không bao giờ quên, mặc ai phỉnh gạt, kêu gào ḥa giải ḥa hợp. V́ chàng vẫn tin –theo lời viên tổng tài (consul) La Mă, Quintus Arrius, nói với Juda Ben Hur lúc c̣n là một tù nhân chèo thuyền (galérien) trong phim cùng tên, Ben Hur– rằng hận thù cho sức mạnh, làm ta tỉnh táo, đề pḥng ■

Kim Thanh__._,_.___
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 13 2017, 03:46 AM
Gửi vào: #103


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,461
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tôi, ̣Đứa Con Người Tù “Học Tập Cải Tạo” - Lê Xuân Mỹ

Những ngày cuối tháng Tư 1975, Sài G̣n đắm ch́m trong cơn hỗn loạn. Tin tức về một cuộc chiến kết thúc bi thảm được truyền đi kéo theo một ḍng người t́m mọi cách vượt thoát khỏi Quê hương. Không nhận được tin người đến đưa toàn bộ gia đ́nh ra đi như đă hứa, tôi cùng ba và gia đ́nh người em gái trên chiếc xe Jeep hối hả đi về Bến Bạch Đằng nơi con tàu VNTT đang ngập tràn những ḍng người từ khắp nơi đổ về... Hai vợ chồng em gái lên tàu trước. Tôi và ba chần chờ sửa soạn lên sau.

Trong cái ḍng người hoảng loạn, trong cái âm thanh cuồng nộ những ngày cuối cùng của tháng Tư, hai cha con vẫn c̣n nh́n về hướng Lăng Ông Bà Chiểu, nơi nhà tôi ở đó. Vẫn c̣n hy vọng mẹ và các em đến kịp để cùng đi. Phép lạ đă không xảy ra. Tàu sắp nhổ neo, mẹ và các em tôi vẫn biệt tăm. Ba bảo thôi con lên trước đi, ba đợi thêm một tí nữa, ḿnh gặp nhau trên tàu. Trong mắt ba vẫn c̣n ánh lên một tia hy vọng. Nhưng tôi biết là đă hết. Thời gian không c̣n kịp nữa. Ba hối thúc tôi lên tàu, riêng ba không đành bỏ vợ và 8 đứa con con nhỏ dại, quyết định quay lại. Với tôi, ra đi hay ở phải là một quyết định trong chớp mắt. Nhưng sao đành bỏ lại ba một ḿnh với khuôn mặt và cặp mắt thất thần như vậy. Tôi lắc đầu. Thế là tôi và ba quay ngược lại ḍng người vẫn cuống cuồng chạy về phía bờ sông, dù con tàu đă từ từ rời bến. Cùng với hàng triệu người miền Nam Việt Nam, tôi và gia đ́nh bắt đầu sống những tháng ngày đen tối nhất.

Đêm đầu tiên, khi nghe tin ĐT Dương Văn Minh đầu hàng trên đài phát thanh, ngoài đường những nhóm người đội mũ cối cầm súng đi qua đi lại, cả gia đ́nh tôi chui dưới chân cầu thang, tắt đèn tối thui, ẩn trốn, và ba đă khóc. Thế là chấm dứt một quảng đời, lịch sử đă sang trang và chúng tôi đă cảm thấy một tương lai mịt mù sắp tới.

Trong những ngày sau đó, ba tôi sống trong hoang mang, lo sợ, không dám bước ra khỏi nhà. Mặt ba lúc nào cũng căng thẳng. Riêng tôi mỗi ngày vẫn lên tŕnh diện cơ quan rồi về. Lên để biết th́ ra có những bạn bè cùng sở làm ngày xưa, từng cùng vui chơi sinh hoạt với ḿnh bây giờ đội mũ cối, cầm súng lầm ĺ đi ra đi vào. Có người c̣n chào hỏi tử tế nhưng có đứa mặt mày vênh váo, kênh kiệu, những nhân viên c̣n lại, không phải dân (Không dùng từ này) nằm vùng tụm lại một pḥng trên lầu, co cụm đến tội nghiệp.

Trong những ngày đầu mất nước tháng 5 năm 1975, tôi biết ba vẫn c̣n hy vọng về một người, người em út đi “tập kết” từ những năm 1954, nghe đâu đang làm lớn và h́nh như đang có mặt tại Sài G̣n. Chính ủy chính iết ǵ đó. Ba kể hồi nhỏ ba và chú rất thương yêu nhau, ngày chú đi vào rừng theo kháng chiến, ba là người cuối cùng gặp và đưa chú vào chiến khu. Ba vẫn nghĩ nếu có chú chắc ba sẽ không sao.

Như một người sắp sửa bị ch́m tàu, cố bám víu một chút hy vọng nào đó để sống, dù rất mỏng manh. Với riêng tôi, h́nh ảnh về chú không hiền lành như ba tưởng tượng mà là những con người tôi đă từng xem qua cuốn phim “Chúng tôi muốn sống”, lạnh lùng và tàn ác. Tôi nghĩ ba quá ngây thơ, nhưng biết làm sao được, một người lính thất trận, một vợ và 9 đứa con nheo nhóc trong một Thành phố đă không c̣n thuộc về ḿnh, chung quanh đầy rẫy những bóng đen ŕnh rập. Có thể ba đang cố quên nhưng với tôi, kư ức về một Mậu Thân khủng khiếp ở Huế vẫn c̣n đó, không thể nào không nhớ. Những cuộc trả thù tàn khốc chắc chắn sẽ xảy ra. Không ảo tưởng như ba, tôi chờ đợi và biết rằng ngày đó sẽ đến, không xa.

Một ngày đầu tháng Sáu, giống như ba đang mong đợi, chú tôi đi cùng một vài Bộ đội cầm súng ghé nhà thăm gia đ́nh chúng tôi. Một Trung tá Chính ủy thuộc đơn vị Pḥng không Không quân CS Hà Nội, ghé thăm cựu Trung tá Cảnh sát chế độ cũ. Hai anh em thuộc hai chiến tuyến gặp nhau tại Sài G̣n sau 20 năm xa cách. Hai người đi hai con đường khác nhau, cuối cùng hội tụ tại một điểm. Cũng chào hỏi, cũng mừng mừng tủi tủi, cũng nhắc lại chuyện xưa, nhưng tôi biết quan hệ đă không c̣n như trước nữa, ngượng ngùng, khách sáo. Nói thật ḷng, chú tôi nh́n bề ngoài gầy g̣ khắc khổ, ít nói và trông có vẻ hiền lành chứ không đến nỗi dữ dằn như trong tưởng tượng của tôi. Nhưng tôi vẫn không thể chuyện tṛ thân mật với chú được. Một bức tường vô h́nh đă chắn ngang trong quan hệ của chúng tôi.

Sau ngày đó thỉnh thoảng chú đến thăm ba tôi, và cũng kể từ ngày đó những đồ đạc quí giá c̣n sót lại trong gia đ́nh cũng dần dần ra đi. Khi th́ cái tủ lạnh, khi th́ cái truyền h́nh trắng đen hiệu Denon 4 cửa xếp. Mẹ nói riêng với tôi:

- Cho chú, thôi kệ của đi thay người, hy vọng sau này có ǵ nhờ chú giúp ba con cũng đỡ khổ phần nào.

Mẹ nghĩ vậy th́ hay vậy, chứ trong thâm tâm tôi mẹ đă không biết ǵ về (Không dùng từ này) rồi. Xin tiền th́ có thể chú sẽ cho nhưng để bảo lănh cho một Sĩ quan Cảnh sát như ba tôi chắc chắn là không. Biết vậy, nhưng thôi cứ để mẹ bám víu một chút hy vọng dù rất mong manh. Nói một cách trung thực, từ ngày có chú đến thăm gia đ́nh, thái độ của các Công an CS, Cán bộ Phường đối với gia đ́nh tôi cũng có chút thay đổi, không giống như những ngày đầu mất nước.

Nhớ lại ngay ngày mồng 2 tháng Năm, vừa mới sáng sớm một đoàn người đông đảo, “Cán bộ” có Công an có ghé vào nhà, kêu ba tôi ra tŕnh diện, ra lệnh ba tôi trong thời gian này phải ở nhà, không được đi đâu cả cho đến khi có lệnh mới. Sau đó đi một ṿng quanh nhà tôi, ngang pḥng khách, giật đứt chiếc điện thoại để bàn, xem giấy tờ từng người và trước khi ra về, lấy luôn chiếc đồng hồ đeo tay của ba trên đầu tủ thờ. Chiếc đồng hồ kỷ niệm của ông nội mà ba rất quư. Mẹ chắc lưỡi - thôi kệ, của đi thay người.

Một ngày cuối tháng Sáu, cái ngày tôi biết chắc chắn phải đến, cuối cùng đă đến. Ba tôi nhận giấy đi “tŕnh diện học tập cải tạo” dành cho đối tượng Sĩ quan “Nguỵ quân, Nguỵ quyển”. Địa điểm tập trung: trường Trung Học Chu Văn An. Trong giấy ghi rơ “đem theo dồ dùng cá nhân để sử dụng trong 30 ngày”. Nhận được giấy báo, ba mừng như thoát được gánh nặng canh cánh bao lâu nay. Ba bảo:

- Tôi nói có sai đâu bà, bây giờ hoà b́nh rồi họ không trả thù như hồi Mậu Thân đâu. Kỳ này tôi chỉ đi học có 30 ngày mà ngay tại Sài G̣n này thôi. Xong kỳ học tập này rồi ḿnh sẽ được đối xử như những người dân b́nh thường. Tôi tính gia đ́nh ḿnh sẽ về lại Đà Nẵng sinh sống. Có mắm ăn mắm có rau ăn rau. Khoẻ rồi, hoà b́nh rồi, hết chiến tranh rồi bà ơi.

Mẹ tôi, với linh cảm và yếu đuối của đàn bà, lên tận sân bay Tân Sơn Nhất xin gặp chú nhờ chú giúp đỡ. Liếc sơ qua giấy báo “tŕnh diện học tập” chú nói:

- Chị đừng lo, Cách mạng khoan hồng, anh cứ đi, học tập khoảng một tháng là xong. Cứ học tập thật tốt, về sớm đúng ngày, không sao đâu.

Mẹ tôi an ḷng chuẩn bị mền, mùng, thức ăn khô cho ba. Riêng tôi, qua trực giác và qua sách báo đă đọc, tôi nghi ngờ về chữ “học tập tốt” mà chú đă nhấn mạnh. Tôi biết là mọi chuyện chỉ mới bắt đầu. Để xóa đi kư ức của một Sĩ quan Cảnh sát 51 tuổi đời, 25 năm quân ngũ, và để đào tạo thành một người “công dân chế độ Xă hội Chủ nghĩa”, chắc chắn không thể là 30 ngày ngắn ngủi như thế. Tôi biết là chú đă không nói thật, và ba th́ ảo tưởng hoặc có thể đă biết nhưng muốn che giấu mẹ, cố gượng vui chờ ngày lên đường tŕnh diện. Có những đêm thức giấc giữa đêm khuya tôi thấy ba ngồi lặng lẽ và hút thuốc liên tục ngoài hiên. Đôi vai như quằn xuống, tôi chua xót nhận ra chỉ trong một thời gian quá ngắn ba đă già đi rất nhiều. Trong cái bóng tối mênh mông, tôi cảm thấy ḿnh nhỏ bé và vô dụng vô cùng.

Một ngày trước khi đi, ba dặn riêng tôi không cho mẹ biết, hai cha con ra chợ Bến Thành. Ba nói ba c̣n để dành 2 lượng vàng, bán xong con nhớ đem về cất riêng, khi nào mẹ và các em cần tiền th́ con đưa cho mẹ. Ba không biết khi nào về, con nhớ phụ mẹ lo cho các em. Th́ ra ba không ngây thơ như tôi tưởng, tất cả nụ cười trên khuôn mặt ba thường ngày chỉ là giả tạo. Không có mẹ bên cạnh, ánh mắt ba bây giờ mới là thực. Nh́n khuôn mặt hoang mang đến tội nghiệp của ba, tôi thấy mắt ḿnh cay cay. Thương ba vô cùng.

Cuộc mua bán 2 lượng vàng diễn ra nhanh chóng và lén lút. Tôi ngồi canh chừng Công an, ba đưa vàng, người bán đếm tiền gói lại đưa cho ba, ba đưa tôi. Liếc ngang liếc dọc, bỏ vô túi xách, ôm kè kè bên ḿnh, về nhà cất kỹ trong két khoá lại, pḥng khi bất trắc.

Sáng sớm hôm sau, không nhớ ngày, tháng 8 năm 1975, Ba từ giă gia đ́nh đi “tŕnh diện”. Ba ôm mẹ, hôn các em. Mẹ, các em đều khóc. Bé út khóc to nhất. Tôi ráng cắn chặt răng, mắt cay xè, hối hả đạp xe chở ba đến trường Chu Văn An. Không ai nghĩ rằng, đó là lần cuối cùng mẹ và các em gặp ba. Trước cổng trường, đông nghẹt những người đi tŕnh diện và những thân nhân lóng ngóng bên ngoài. Tay xách ba lô, ba lủi thủi đi vào, trước khi bước qua cánh cửa sắt có mấy tên Công an đứng gác, ba quay lại nh́n tôi như nhắc nhở con nhớ thay ba lo cho mẹ và các em. Khi bóng ba mờ khuất sau dăy lớp, nỗi đớn đau kềm hăm bấy lâu vỡ oà, tôi khóc ngon lành như một đúa trẻ. Tôi biết rằng ngày ba trở về c̣n xa lắc xa lơ.

Từ khi ba đi, căn nhà trở nên vắng vẻ vô cùng. Mẹ phần lo chạy gạo hằng ngày, phần lo lắng nhớ ba, gầy đi trông thấy. Tuy nhiên mẹ vẫn hy vọng 1 tháng sẽ trôi qua nhanh chóng, ba trở về và mọi chuyện sẽ trở lại như xưa. 30 ngày rồi 45 ngày trôi qua, tôi và mẹ bắt đầu sốt ruột lo lắng. Mẹ cứ mỗi ngày hết đi ra lại đi vào, hết lên Phường hỏi thăm rồi lại lên Tân Sơn Nhất t́m gặp chú. Vẫn là 1 câu trả lời:

- Chắc sắp được về thôi. Anh học tập tốt th́ cách mạng sẽ cho về, chị đừng lo.

Câu chị đừng lo càng lúc càng trở thành vô dụng khi bao tháng trôi qua, vẫn không một tin tức ǵ về ba. Vừa phải lo cuộc sống vừa phải chạy đôn chạy đáo hỏi thăm đầu này đầu nọ, mẹ già hẳn đi. Cuộc sống càng ngày càng khó khăn cho một gia đ́nh 11 miệng ăn. Đồng lương ít ỏi của tôi không đủ nuôi sống cả gia đ́nh, mẹ bắt đầu đem đồ đạc trong nhà ra chợ bán. Chú th́ thỉnh thoảng vẫn ghé thăm nhưng thưa thớt hơn nhiều. Có lẽ v́ bận rộn nhưng cũng có lẽ sợ không biết phải trả lời sao với mẹ. Không lẽ đợi anh “học tập tốt, Cách mạng khoan hồng”, hay là chắc mai về khi mà ngày mai của chú có thể là một ngày không bao giờ đến.

Thấm thoát rồi cũng qua một năm. Mẹ vẫn mỏi ṃn chờ đợi trong vô vọng, ba vẫn biền biệt phương nào. Không một tin tức, không một dấu vết, dù nhỏ nhoi. Những đồ vật có giá cuối cùng trong nhà cũng đă bán hết. Hai mẹ con ôm nhau khóc. Bỗng nhiên tôi chợt nhớ đến số tiền bán 2 cây vàng giấu trên gác. Một số tiền khá lớn thời bấy giờ. Ai ngờ khi mở gói tiền tôi sững sờ nh́n thấy nguyên bó tiền chỉ có hai tờ đầu là tiền thật, ở giữa toàn là giấy báo. Th́ ra lợi dụng việc mua bán chui lén lút, vừa bán vừa canh chừng công an, khi đưa tiền, người bán đă tráo đổi gói tiền đang đếm bằng gói tiền gói sẵn. Cho đến khi chết chắc ba cũng không thể ngờ những đồng tiền cuối cùng ba để dành cho mẹ là con số không to tướng.

Trong những tháng năm sau đó, cuộc sống càng ngày càng khó khăn. Không c̣n cách nào khác, mẹ vẫn mỗi ngày tiếp tục ra bán chui trước chợ Tân Định. Sạp hàng là một tấm vải ni lông, cột dây bốn góc để dễ túm lại khi có công an đến. Thời đó buôn bán trên vĩa hè là phạm pháp. Vừa mua bán vừa láo liên canh chừng công an. Nếu công an tới th́ túm tấm nilông bỏ chạy vào nhà lồng chợ. Công an đi khỏi, đem hàng ra bày bán tiếp. Đồ bán khi th́ một đôi giày, một chiếc áo cũ hay có khi chỉ là lớp vải lông thú tách ra từ những chiếc áo lính ngày xưa.

Có ǵ bán nấy. Khởi đầu là đồ đạc trong nhà, sau đó là đồ mua lại từ những người có cùng hoàn cảnh đem bán. Cũng có khi là đồ chôm đồ chỉa, cũng lây lất qua ngày. Các em c̣n quá nhỏ, chỉ ḿnh tôi với mẹ, sĩ diện, ḷng tự trọng của một kỹ sư cũng đem chôn chặt trong ḷng. Tôi mỗi ngày, sau giờ làm việc cũng ra phụ mẹ, cũng chạy ra chạy vào, cũng cặp mắt nh́n trước, ngó sau, vừa bán vừa mua, vừa canh chừng Công an. Trong những ngày vô cùng khốn khó đó, thỉnh thoảng chợt nhớ về thời thơ ấu cũ ḷng thật buồn. Những ngày tươi đẹp ấy đă quá xa. Những lo lắng về cuộc sống và một tương lai mù mịt, làm tôi trở nên lạnh lùng chai đá. Dù rằng cũng có đôi khi, tôi một ḿnh khóc thầm trong đêm.

Như một định mệnh, trong những ngày cùng cực khốn khó đó tôi gặp C. vợ tôi bây giờ. Người ta hay nói vợ chồng là duyên là nợ. Điều này rất đúng với chúng tôi. Trước 1975 tôi và C. cùng làm chung tại Trung Tâm Bưu Chính Viễn Thông thuộc Bưu Điện thành phố Sài G̣n. Gặp nhau thường xuyên nhưng ít khi nói chuyện.

Nàng làm thư kư cho Desai, giám đốc chương tŕnh đào tạo của Liên Hiệp Quốc. Hồi đó C. là một người đẹp, nhiều người theo đuổi.

Tôi là Kỹ sư mới ra trường. Tốt nghiệp Bách Khoa Phú Thọ, tôi chọn vào Trung Tâm v́ tại đó có học bổng đi học cao học về Viễn thông. Tôi ghét cái kênh kiệu và lạnh lùng của nàng. Nàng th́ ghét cái giọng Huế nặng trịch của tôi. Tôi càng ghét nàng khi bài thi xếp hạng để đi du học của tôi bị cộng sai điểm. Tôi khiếu nại không được. Và v́ vậy tôi bị sắp đi đợt 2 vào tháng 12 thay v́ đợt đầu vào tháng giêng năm 1975.

Chuyến đi du học tháng 12 bị băi bỏ do biến cố 1975. Tự an ủi xem như chưa có số xuất ngoại dù trong ḷng tôi buồn và tưng tức. Có lẽ, do nợ tôi một món ân t́nh quá lớn nên sau này nàng đă phải trả lại tôi gấp nhiều lần hơn. Cùng hoàn cảnh, cùng thuộc gia đ́nh “ngụy quân ngụy quyền”, cùng ghét ###### như nhau, chúng tôi gặp nhau thường xuyên trong những lần đi nghe các buổi nói chuyện về chính trị, về “chủ nghĩa Mac Lenin”..... Chúng tôi thường chọn ngồi dưới hàng ghế cuối cùng. Để ngáp, và để ngủ không bị để ư. Những hàng ghế cuối cùng trở thành nơi chúng tôi chia sẻ những đắng cay, những mất mát và những yêu thương. Cuối cùng chúng tôi quyết định nên vợ nên chồng. Dám yêu đứa con Cảnh sát chế độ cũ, tương lai mờ mờ mịt mịt, chắc chắn chỉ có thể nàng đă quá yêu tôi.

Đám cưới được tổ chức đơn giản. Không rễ phụ không dâu phụ, không rước dâu. Lạy cha mẹ, lạy bàn thờ gia tộc hai bên, đơn giản chỉ như vậy. Chỉ một số ít bạn bè thân thiết và bà con gần. Không có ǵ phải phô trương khi ba tôi vẫn mịt mù đâu đó trong “trại cải tạo”, không biết sống chết ra sao. Em yêu tôi và tôi cũng rất yêu em. Thế là đủ.

Một ngày trước đám cưới chúng tôi nhận được giấy báo từ Phường, yêu cầu gia đ́nh ra khỏi nhà trong ṿng 48 giờ. Lư do gia đ́nh thuộc diện 28, Sĩ quan Cảnh sát làm việc cho “chế độ Mỹ Ngụỵ”. Giấy báo c̣n cho biết Phường sẳn sàng “giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để gia đ́nh có thể lập nghiệp trên vùng kinh tế mới”.

Kết thúc vội vàng buổi tiệc mừng đám cưới, hai vợ chồng đạp xe lên sân bay Tân Sơn Nhất xin chú can thiệp giúp đỡ. Chú nói:

- Theo chú thấy đi Kinh tế mới dầu sao cũng tốt cho mẹ và các cháu. Cực khổ lúc ban đầu nhưng sau này sẽ khá hơn. Hồi chú ở ngoài Bắc cực khổ hơn gấp trăm lần, có sao đâu. Sau này ba con về c̣n có chỗ sinh sống.

Trả lời như chú vậy th́ chẳng thà nói với đầu gối sướng hơn. Hai đứa chỉ biết nh́n nhau, thầm nghĩ với t́nh thế này chắc cũng phải lên đường đi lập nghiệp trên vùng đất mới mà thôi. Trong lúc cùng đường, vợ tôi chợt nhớ đến ông xếp cũ từ thời trước 1975, một kỹ sư tốt nghiệp từ Pháp, cựu Giám đốc Bưu điện nay là Cán bộ cao cấp làm việc trong “Thành ủy”. Nghe tŕnh bày hoàn cảnh, nghĩ đến mối giao t́nh thầy tṛ ngày xưa, ông nói để ông xuống phường xem thử. Không hiểu ông can thiệp như thế nào, hai ngày sau Phường gửi giấy quyết định cho gia đ́nh tạm thời ở lại cho đến khi chồng đi “cải tạo” trở về. Nói theo ngôn ngữ bóng đá bây giờ, vợ tôi đă cứu gia đ́nh tôi một bàn thua trông thấy vào phút 90.

Từ khi lập gia đ́nh, tuy có thêm đồng lương của vợ tôi, nhưng vẫn không thể nào đủ cho một gia đ́nh 11 miệng ăn. Bán chợ chạy của mẹ th́ vất vả mà thu nhập quá kém cỏi. Hai đứa bắt đầu làm thêm đủ thứ ngành nghề.

Khởi đầu là nuôi heo. Nhờ giấy giới thiệu của cơ quan, mỗi tháng vợ tôi được mua một cặp heo con với giá rẻ. Chiếc cầu tiêu duy nhất tuy nhỏ cũng được ngăn ra dành chỗ để nuôi 2 con heo mọi mới đẻ. Mỗi ngày đi tiêu đi tiểu trong tiếng kêu ủn ỉn của chúng, mới đầu rất khó chịu, nhưng rồi nghe riết cũng quen, cũng ghiền. Nuôi 1, 2 tháng, đem ra chợ bán. Lại lên trại mua 2 con khác nuôi tiếp.

Chỉ nuôi heo không cũng chưa ăn thua. Bắt đầu nuôi thêm gà công nghiệp. Cũng xin giấy giới thiệu lên trại gà mua vài chục gà con, nuôi vài tháng hơi lớn lớn rồi đem bán. Được vài tháng xuông sẻ, gặp mùa toi dịch, gà heo chết hàng loạt, cụt vốn, hai vợ chồng nhảy qua làm bánh đậu xanh, khô, ướt. Mẹ ngâm, đăi đậu, tôi cắt giấy, vợ tôi gói. Mỗi chiều đi làm về, hai vợ chồng đèo nhau trên chiếc xe đạp cũ kỷ đi giao bánh cho mấy tiệm ăn quanh xóm. Không phải bán đứt, kư gửi th́ đúng hơn. Giao bánh, vài ngày sau quay lại. Bán hết th́ lấy tiền, giao bánh mới. Gặp lúc bán không hết, bị mốc, đem về không biết làm ǵ cho hết, trộn vô cám cho heo gà ăn.

Cứ vậy, những tháng ngày tiếp tục trôi. Vợ chồng ốm tong ốm teo như ma đói, nhưng cũng phải ráng chịu cực mong đợi ngày ba về.

Đến một ngày đầu tháng 2 năm 1978, bỗng nhiên chúng tôi nhận được thư ba, lần đầu tiên. Góc thư tôi c̣n nhớ rơ địa chỉ Trại K2 Tân Lập, Vĩnh Phú. Trong thơ ba hỏi thăm mẹ và các em. Ba kể ba đang học tập cải tạo tốt. Thư ngắn chưa đầy một trang giấy. Ba nhắc tôi ráng chăm sóc mẹ và các em. Đợi ngày ba về. Miền bắc lúc đó đối với tôi vô cùng xa lạ..... Nếu có biết cũng chỉ biết qua sách vở. Vĩnh Phú ở đâu, ra sao, xa xôi như thế nào, không quan trọng, ít nhất là ba vẫn c̣n sống.

Thế là đủ. Quá mừng rỡ mẹ biểu tôi viết thư thăm ba và mỗi đứa em viết một câu cho ba. Mẹ nói tôi kể cho ba về cuộc sống ngoài này. Tôi ầm ừ cho qua chuyện, trong thư chỉ viết là nhớ ba, mong ba học tập tiến bộ để sớm về với gia đ́nh. Tôi không kể về cuộc sống gia đ́nh từ ngày ba đi. Không lẽ cho ba hay rằng căn nhà đă bị tịch thu, gia đ́nh suưt nữa bị đi “kinh tế mới”, hay lại kể với ba rằng mẹ mỗi ngày đang bán từng chiếc áo cũ của ba ngoài lề đường. Hoặc kể cho ba chuyện 2 cây vàng. Thôi th́ cứ để ba vui khi nghĩ rằng vợ và các con của ba dù là con của Sĩ quan “chế độ Mỹ ngụỵ, vẫn được Cách mạng CS đùm bọc thương yêu”..... Thôi th́ cứ như vậy cho ba yên ḷng và ít nhất thư cũng đến được với ba. Kể từ hôm đó khoảng hơn mỗi tháng một lần gia đ́nh tiếp tục nhận được thư ba. Mỗi lần chỉ hơn một trang giấy, nhưng cũng mang đến cho chúng tôi một niềm vui và hy vọng. Sẽ có ngày ba trở về.

Cho đến một ngày, Cũng từ K2 trại cải tạo Tân Lập Vĩnh Phú. Cũng nội dung “ba đang học tập tốt, Cán bộ đố xử với ba rất tốt”, cũng khuyên “các con cố gắng học tập trở thành cháu ngoan của “Bác”, nhưng nét chữ run run, nguệch ngoạc, khó đọc và ngắn hơn rất nhiều so với các thư trước. Mẹ và các em vẫn mừng rỡ như mọi lần, nhưng riêng tôi linh cảm một điều ǵ đó không hay đang xảy ra. Hai vợ chồng đem thư ba lên pḥng đọc đi đọc lại nhiều lần. H́nh như chữ “tốt” (Học tập tốt, sức khoẻ ba vẫn rất tốt được viết đậm hơn, to hơn các chữ khác). Chữ ba viết quá xấu so với b́nh thường. Rất bất thường. Không tốt nghĩa là xấu. Không khoẻ nghĩa là bịnh.

Quá lo lắng, tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện đi thăm ba. Lên Phường xin giấy phép đi ra Bắc, bị từ chối. Phải có giấy phép thăm nuôi từ trại gửi về. Hồi đó muốn đi Hà Nội và các tỉnh miền Bắc, người dân b́nh thường như tôi phải làm đơn xin phép, phải có lư do chính đáng và phải có người bảo lănh. Thời gian được cấp giấy phép thường rất lâu nhất là đối với những gia đ́nh thuộc diện Nguỵ quân Nguỵ quyền như chúng tôi. Lên gặp chú nhờ chú can thiệp giúp đỡ, chú nói cũng y hệt như mấy “ông cán bộ” Phường:

- Khi nào họ cho phép thăm nuôi th́ ba con sẽ gửi giấy tờ về.

Chú trả lời như vậy th́ kể như không nói. Thật lo lắng cho ba, nhưng không biết làm sao, đêm đêm tôi chỉ biết cầu nguyện cho ba sức khoẻ, và mong chờ một phép lạ. Và phép lạ cuối cùng cũng đă xảy ra.....

Ở hiền gặp lành. Tháng 8 Hiệu trưởng loan báo có đợt cho “Nhân viên và giáo viên trường Bưu Điện đi tham quan miền Bắc, Xă hội chủ nghĩa và du ngoạn tại băi biển Đồ Sơn 1 tuần”. Tôi và vợ tôi có tên trong danh sách được đi. Lúc đó vợ tôi đang mang thai đứa con đầu được 5 tháng. Phần làm việc vất vả, phần thể trạng yếu đuối, khộng dám đi xa, vợ tôi đành ở nhà. Tôi đi ra miền Bắc một ḿnh. Không phải v́ yêu “Hà Nội, Xă hội chủ nghĩa” cũng không phải để tắm biển Đồ Sơn, mà trong ḷng tôi đang h́nh thành một kế hoạch đi t́m ba.

Cả đoàn đi ra Hà Nội bằng xe lửa. Chuyến đi gồm hai phần. Phần đầu là phần nghe giảng về “Chính trị, về Chủ nghĩa Mac Lenin, về miền Bắc, Xă hội chủ nghĩa” 4 ngày tại Hà Nội. (Phần này bắt buộc không ai được vắng mặt). Phần sau 3 ngày là về nghỉ ngơi vui chơi tại băi biển Đồ Sơn. Phần này kỹ luật tương đối lỏng lẻo hơn. Đa số các “cán bộ” quê miền Bắc nhân thời gian này “tranh thủ” về thăm gia đ́nh, chỉ có những người miền Nam lần đầu tiên ra Bắc là theo đoàn về Đồ Sơn. Tôi th́ đă có kế hoạch từ trước xin trưởng đoàn ở lại Hà Nội với lư do thăm gia đ́nh ông chú ruột là “Trung tá Chính ủy” đơn vị Pḥng không Không quân (Không dùng từ này). Cũng phải viện một lư do ǵ đó để đơn xin có “trọng lượng”. Cũng phải cho trưởng đoàn biết là “con nguỵ nhưng cũng có bà con là cán bộ (Không dùng từ này)” dù trong thâm tâm tôi biết ông chú đi “cách mạng” có cũng như không, khó nhờ vả sơ múi ǵ đuợc. Hồn ai người nấy giữ.

Thế là những ngày đầu tháng 9 năm 1978, tôi bắt đầu chuyến hành tŕnh t́m cha. Chưa một lần ra miền Bắc. Với tôi tất cả điều xa lạ. Manh mối duy nhất là địa chỉ trên thư: K2 Trại cải tạo Tân Lập Vĩnh Phú. Phương tiện di chuyển: chiếc xe đạp Phượng Hoàng mượn của ông chú.

Sáng mồng 3 tôi bắt đầu ra đi từ nhà chú: khu Tập thể Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội. Trạm đầu tiên: Ga xe lửa Hàng Cỏ. Hỏi thăm các người bán hàng rong ở ga. Vĩnh Phú th́ nhiều người biết nhưng trại Tân Lập ở đâu th́ không ai hay. Thôi th́ cứ lên tàu đi về hướng Vĩnh Phú trước đă.

Đúng là tàu chợ, xe lửa th́ củ kỹ, hôi hám, trên các toa đông nghịt người, đa số là người lao động và người bán hàng rong. V́ vướng chiếc xe đạp, chật vật lắm tôi mới leo được lên toa cuối cùng khi tàu bắt đầu chuyển bánh. V́ lên sau cùng, tàu đông kịt người, chỗ đứng chổ ngồi hầu như không c̣n, tôi ngồi xuống một khoảng trống sát vách cầu tiêu. Lần đầu tiên tôi cảm thấy nỗi cô đơn giữa một rừng người cùng tiếng nói, cùng một màu da.

Mỗi một trạm tàu dừng, tôi đều hỏi thăm những người khách và những em bé bán chè xanh nhảy lên từ mỗi trạm. Cuối cùng cũng có được một tin tức mơ hồ từ một em bé:

- Có lần đi bán nước chè, em có gặp một đoàn người h́nh như ở trong Nam ra v́ không giống người ngoài này, đi lao động, h́nh như ở gần ga Ấm Thượng, Vĩnh Phú. Em bé nói thêm h́nh như có trại giam giữ những người miền Nam gần đó.....

Tôi bám tàu đi tiếp. Tàu lắc lư đi về hướng Cao Bằng, Lạng Sơn. Mùi hôi thúi bốc lên từ cái cầu tiêu công cộng cộng hoà quyện vào cái mùi mô hôi của hàng trăm người đứng ngồi lóc nhóc không làm tôi bận tâm. Tôi măi suy nghĩ khi nào th́ đến ga Ấm Thượng? V́ không nh́n được qua cửa sổ, tôi đành nhờ một bà lăo ngồi sát cửa sổ nhắc giùm khi đến ga.

Xuống được ga Ấm Thượng th́ cũng đă giữa trưa. Phải nói là trạm th́ đúng hơn. Nhà ga là một căn nhà nhỏ, vách lá, trống huơ trống hoác. Vùng đất thật hoang vu, dân di lại thưa thớt. Ra khỏi ga là một con đường đất đỏ duy nhất về một làng nào đó ở xa xa. Tôi vừa đi, vừa hỏi đường. Hỏi xem có ai biết về trại Tân Lập không? Không ai biết. Phải đến lần thứ 9 hay thứ 10 ǵ đó, khi tôi đă vào sâu khoảng 5, 7 cây số, mới có được câu trả lời tương đối rơ ràng:

- Phải đi thêm 20 đến 25 Km về phía dăy núi, bên này là Trại Tân lập, bên kia là biên giới Trung Quốc.

Đoạn đường đi xa diệu vợi, chân tay ră rời, đôi khi tôi kiệt sức muốn bỏ cuộc quay về. Nhưng nghĩ đến ba, tôi gắng gượng tiếp tục lên đường. Con đường càng vào sâu càng lúc càng khó đi. Khi th́ ngoằn ngoèo, khi th́ lồi lơm. Có những đoạn không đạp xe được v́ mưa trơn trợt, tôi xuống xe dắt bộ. Nhà cửa càng lúc càng thưa thớt, càng ít người qua lại. Tôi vừa mệt, vừa sợ, vừa đi vừa nh́n chung quanh, dáo da, dáo dác. Nói thật lúc đó có ai nhảy ra, phang cho ḿnh một gậy, cướp xe đạp, vất xác xuống ven đường, chắc cũng không ai hay.

Từ cha sinh mẹ đẻ đến nay có bao giờ tôi đi đâu một ḿnh như thế này đâu. Hồi nhỏ th́ có cha có mẹ, vào trường th́ có bạn có bè. Đi đâu cũng đi với người này hay người khác. Ngay cả khi đi trồng cây si, cũng rủ thêm Trường Thọ hay Quốc Chính (đă mất) cùng đi. Đi đâu cũng xe đạp hay xe Jeep của Ba. Đi bộ th́ nhiều nhất là một cây số. Chạy th́ nhiều nhất một ṿng sân trường là thở dốc. Vừa mệt vừa sợ cướp, vừa sợ ma, tôi vừa đạp xe vừa lẩm bẩm cầu nguyện, nhiều lúc nản quá muốn quay về. Rồi lại nhớ đến ba, nhớ đến khuôn mặt buồn thê thảm của ba trước cổng trường Chu Văn An ngày nào, tôi lại lê lết lên đường đi tiếp.

Đúng là lê là lết. Đường càng lúc càng khó đi. Mưa phùn, đường hẹp, đất bùn quyện nước mưa nhăo nhoẹt bám vào bánh xe càng làm nặng nề. Tôi bắt đầu cảm thấy lạnh. Một cái lạnh cắt da cắt thịt. Nhưng nỗi khổ chưa dừng ở đó. Trên con đường độc đạo duy nhất về trại “Cải tạo” Tân Lập, tôi phải vượt qua hai con sông.

Quen với cái hiền ḥa của gịng sông Hương thuở nhỏ, chưa bao giờ tôi thấy con sông nước chảy dữ dằn như vậy. Ḍng nước đục ngầu và đỏ như máu chảy cuồn cuộn. Đứng bên này nh́n thấy bờ bên kia nhưng không biết cách nào qua. Không cầu không cống. Không một bóng người. Men theo bờ sông, tôi đi về hướng ánh đèn leo lét xa xa. Hỏi thăm, th́ ra muốn qua sông th́ đi một đoạn nơi có bờ đá dô ra ở mé sông, chụm hai tay gọi lớn sang bên bờ bên kia “ Đ̣ ơi… ơi” Thế là từ bên kia bờ, chênh chếch phía trên có một thuyền nhỏ một người chèo qua. Nói th́ rất dễ dàng nhưng để băng qua được bên này không dễ chút nào. Khoảng cách hai bên bờ không lớn lắm, nhưng do nước chảy xiết, từ bên kia muốn qua bên này, người lái đ̣ phải khéo léo dựa theo ḍng nước chảy, từ trên xa trôi xuống, tắp đúng vào kè đá nơi tôi đứng. Điều khiển không khéo th́ thuyền lật như chơi, c̣n nếu không th́ thuyền tắp xuống quá kè đá, không đúng chỗ đón khách.

Bác lái đ̣ giúp tôi đưa xe đạp và tôi xuống thuyền. Nh́n người lái đ̣, nh́n ḍng nước sông đục ngầu cuồn cuộn chảy, tôi nhớ các đoạn văn của Nhất Linh, của Khái Hưng thời Tự Lực Văn Đoàn kể về các tỉnh miền Bắc xa xôi này. H́nh như nơi đây, bánh xe thời gian đă ngừng lại. Giống y chang như trong các bài văn ngày nào. Vẫn như xưa, nếu không nói là cũ kỹ hơn, nghèo khổ hơn. Và có lẽ v́ vậy người dân ở miền đất sát biên giới Việt Trung này hiền lành và chơn chất gấp vạn lần những con người tôi gặp ở Hà Nội. V́ vậy, may mắn tôi vẫn c̣n cái mạng quay về.

Đi thêm một đoạn dài, vượt qua thêm một nhánh sông tương tự th́ trời đă tối đen. Lúc này tôi không c̣n đạp xe được nữa..... Tôi dắt xe, vừa đi vừa run cầm cập. Dân thành thị như tôi, lần đầu tiên mới cảm thấy nỗi sợ hăi cùng cực khi một ḿnh giữa đồng không mông quạnh, âm thanh là tiếng côn trùng ếch nhái, thỉnh thoảng là những ánh đom đóm lập loè. Lại thêm cái lạnh cắt da của ban đêm và mưa phùn miền Bắc. Khổ không thể cực khổ hơn. Sợ không thể nào sợ hơn. Nếu không v́ ba tôi đă bỏ cuộc từ lâu. Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng gặp được một căn cḥi trống ven đường. Đây có thể là nơi tạm trú của những nông dân hay của những em bé chăn trâu nào đó.

Căn nhà (cái cḥi th́ đúng hơn) nhỏ xíu, trống không, có một cửa bằng tre nhỏ xíu. Đặt chiếc xe đạp sát vách, tôi ngồi xuống tựa lưng nghỉ mệt. Có thể nói trong đời đây là căn nhà ấm áp nhất mà tôi từng ở dù rằng những giọt mưa vẫn từ các khe hở nhỏ xuống lạnh buốt. Bây giờ mới cảm thấy đói. Bữa ăn tối đầu tiên trên miền đất tận cùng biên giới của người con đi t́m cha đang “học tập cải tạo” là một cái bánh bao không nhân mua vội trên tàu. Cái gọi là bánh bao thật ra chỉ là một cục bột hôi mốc nhờ mưa ẩm ướt làm mềm đi nếu không chắc sẽ cứng như đá. Nhưng không sao, khi đói th́ đất cát vẫn thấy ngon như thường. Vừa ăn tôi vừa cố nuốt đi những giọt nước mắt. Cùng với cơn lạnh ban đêm, dù trải qua một ngày không ngủ, mệt lă, tôi vẫn không tài nào chợp mắt được. Tôi ngồi bó gối co ro ở một góc nhà. Lần đầu tiên tôi thấy cái vô tận của đêm dài.

Trời vừa hơi sáng là tôi lên đường ngay. Đi thêm một chặng đường đất khá dài, khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ, cuối cùng tôi cũng đến được trại Tân Lập. Thật ra cái tôi gặp đầu tiên ở giữa cái đồng không cô quạnh này là một ngôi nhà tranh, tương đối lớn, phía trước có treo một tấm bảng nhỏ “K10 Tân Lập”. Bên trong là một cái bàn dài có hai dăy ghế bằng tre. Không thấy có ai canh gác. Tôi nghĩ đây là nhà khách. Đợi một lúc quả nhiên tôi thấy một công an đi ra. Tôi tŕnh giấy tờ, ghi rơ là “cán bộ Bưu Điện” ra Hà Nội công tác luôn tiện thăm cha đang học tập tại K2 Tân Lập.

Mừng hụt. Trại “cải tạo” Tân Lập th́ đúng rồi nhưng đây là nhà khách thuộc K10. Toàn trại gồm có 10 khu vực. Nếu tính từ ngoài vào trong th́ bắt đầu từ khu K10, K9… cuối cùng sát biên giới là khu K1. K10 là khu vực đầu tiên của trại Tân Lập. Từ đây sẽ không có nhà dân mà chỉ có những trại giam, “cán bộ” và tù nhân. Sau này tôi mới biết khu trại Tân Lập không chỉ giam giữ các tù nhân từ trong Nam mà c̣n là nơi giam giử các thành phần bất hảo ăn cắp ăn trộm ngoài Bắc. Thành phần này được giam ở các khu K10, K9 gần phía nhà dân.


Các tù nhân Sĩ quan từ miền Nam được phân loại và giam giử theo thứ tự, chức vụ càng cao, càng "ác ôn" th́ được đưa về các khu số nhỏ K1, K2 sát núi gần biên giới, khí hậu khắc nghiệt và rất khó trốn thoát. Nếu có vượt thoát được Công an ở các khu vực K1, K2, K3… th́ chắc không qua được các thành phần bất hảo của K9, K10. Ai nói ###### ngu. Có đào thoát khỏi trại, mặc áo tù đi lang thang 30 km, ra khỏi đây không bị bắt trở lại mới lạ.

Lại tiếp tục lên đường. Hai bên đường là nhũng cánh đồng khoai ḿ, những cánh đồng trà cằn cỗi. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp từng toán người mặc áo tù đang cuốc đất. Từng nhóm làm việc lặng lẽ. Lúc này đường đất tương đối dễ đi hơn. Tôi cúi thấp người cố gắng đạp thật nhanh. Đi riết rồi cũng đi qua hết khu K3 và bắt đầu vào địa phận K2. Có lẽ khoảng 10 giờ sáng, mưa phùn vẫn c̣n rơi. Tính ra từ sáng tới giờ tôi đă đi một lèo gần 4 tiếng đồng hồ. Không ăn uống ǵ nhưng tôi vẫn không cảm thấy đói. Tôi đang náo nức với cái cảm giác sắp được gặp lại ba. Vừa đi tôi vừa suy nghĩ những chuyện sẽ hỏi ba, chuyện ǵ sẽ kể cho ba. Tự nhủ phải thật b́nh tĩnh, phải không được xúc động, phải không được khóc. Nghĩ tới lúc sắp gặp ba, quên cả mệt nhọc, tôi ráng sức đạp thật nhanh.

Qua khỏi khúc quanh cuối K3 để vào K2, tôi thấy cách đường đất đỏ khoảng 5 đến 10 mét một nhóm khoảng mươi người áo quần lam lũ, người đang cuốc đất, người đang vác những bó củi khô, cạnh đó mấy tay mặc áo vàng đội mũ cối, cầm súng đi qua đi lại. Tôi biết chắc chắn đó là những tù nhân đang lao động cải tạo. Như một phản xạ tự nhiên, tôi đạp xe chậm lại, đưa mắt nh́n quanh. Cùng lúc một tù nhân đang đội nón lá lui cui gần vệ đường ngước mắt nh́n về phía tôi. Dù đă bao năm qua không gặp, dù bây giờ đă quá khác xưa, gầy g̣, mặt mày đen thui, râu tóc dài bạc phơ, nhưng tôi vẫn nhận ra đó là Ba. Nhảy ra khỏi xe, tôi thảng thốt kêu lên một tiếng Ba thật to. Tiếng kêu làm nhiều người quay lại hướng về phía tôi trong đó có mấy tên công an cầm súng đứng ven đường. Trong khoảnh khắc, tôi bắt gặp đôi mắt hoảng hốt của ba, cặp mắt ngây dại và đầy vẻ lo sợ, ba vừa chớp mắt vừa lấy tay xua lia lịa như muốn tôi đứng lại và chỉ về phía căn nhà xa xa. Tôi khựng lại, tôi biết tôi không được quyền đứng lại hay tṛ chuyện với ba. Nuốt giọt nước mắt đang chực chờ chảy, tôi lên xe phóng nhanh về căn nhà khách, không quên nh́n lại ba. Vẫn kịp thấy ba đang cúi xuống, tấm lưng gầy g̣ yếu đuối run run ngă quị bên đường!

Tiếp tôi trong căn nhà khách K2 là một công an mặt áo vàng, gương mặt gầy nhọn, non choẹt và giọng nói rặt Bắc Nghệ An. Tôi đưa giấy tờ chứng nhận là “cán bộ giáo viên trong nam ra công tác Hà Nội tranh thủ thăm cha đang học tập cải tạo” ngoài này. Sau khi xem giấy tờ, tên cán bộ hỏi tại sao tôi biết nơi này. Không lẽ nói do tự t́m kiếm, tôi nói do chú là Trung tá chính ủy chỉ đường. Thái độ có vẻ nhă nhặn hơn nhưng gă ta cho biết là tôi không thể thăm được ba tôi lần này được với lư do: “Ông nhà đang trong thời kỳ bị kỷ luật do vi phạm nội quy của trại, đang bị biệt giam”.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 13 2017, 03:49 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 13 2017, 03:47 AM
Gửi vào: #104


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,461
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Thú thật nếu không gặp mặt ba ngoài kia, chắc chắn tôi đă phải tin lời quay về. Tôi biết hắn đang làm khó dễ. Tôi nắm chặt bàn tay dằn cơn giận dữ. Xuống nước:

- Nhưng thưa Cán bộ tôi mới gặp ba tôi ở ngoài kia.

Tên cán bộ gằn giọng:

- Anh có chắc không? Ông đang bị biệt giam, ai cho ra ngoài, chắc anh nh́n lầm.

Sao có thể lầm ba với ai được..... Dù có bị đày đọa cỡ nào, dù ba có thay đổi bao nhiêu, th́ tôi vẫn không bao giờ lầm ba với ai khác. Cặp mắt ấy, con người ấy với tôi là duy nhất. Đuối lư nhưng tay công an vẫn khăng giữ vững ư định không cho tôi gặp ba. Nhiều lư do được đưa ra: Thứ nhất đây không phải là mùa thăm nuôi, thứ hai tôi cũng không có giấy phép (Hèn chi các nhà khách tôi đi qua vắng như chùa bà đanh).

Tôi cố gắng tŕnh bày là đi công tác đột xuất, hơn nữa đường đi xa xôi, đă lỡ đến đây rồi, xin Cán bộ thông cảm. Làm ra vẻ tử tế, lăo cán bộ chép miệng:

- Thật ra tôi cũng muốn thông cảm cho anh, không phải tôi làm khó dễ nhưng thú thật không thể cho anh gặp được.

Tôi càng năn nỉ, tên cán bộ càng cứng rắn. Lăo nỗi nóng:

- Nhưng tôi nói không gặp được là không gặp được, anh về khi nào có giấy tờ thăm nuôi th́ chúng tôi sẽ giải quyết.

Nh́n khuôn mặt tên “Cán bộ” mặt mày lấc cấc, máu tôi sôi lên, tôi muốn đấm cho nó một cái, ra sao th́ ra. Nhớ đến ánh mắt của ba ngoài kia, cặp mắt ngây dại của ba đang co cụm dẫy chết. Nhớ đến đôi vai gầy g̣ run rẫy trong gió lạnh ngoài kia, ḷng tôi dịu lại, tự nhiên tôi bật khóc, khóc ngon khóc lành. Vừa khóc tôi vừa năn nỉ tên cán bộ đáng tuổi em ḿnh. Tiếng khóc động đến ḷng trời, đúng lúc một tay cán bộ nữ bước vào. Có lẽ khuôn mặt một người đàn ông đang khóc nh́n thê thảm, xấu xí và cảm động quá, sau khi bàn bạc, cán bộ nữ đồng ư cho tôi được gặp ba nhưng chỉ được gặp đúng 15 phút mà thôi. Dù sao đàn bà vẫn là đàn bà, vẫn t́nh cảm hơn.

Chờ khoảng một tiếng, một tên Công an đi vào, theo sau là ba tôi. Lúc này tôi mới có cơ hội nh́n rơ ba. So với hồi ở nhà, hoàn toàn khác hẳn. Khuôn mặt đen sạm, tóc tai bạc trắng, râu dài tới ngực, mặc bộ đồ tù cũ kỹ, tay cầm chiếc nón lá rách tả tơi. Không kềm được tôi phóng người về phía ba, hai tay dang rộng. Ba giật ḿnh bước tránh qua một bên miệng lắp bắp “Dạ thưa Cán bộ, tại con tôi không biết”. Nói xong ba lầm lủi theo tên Công an đến chiếc bàn tre chính giữa pḥng. Đợi tên công an ngồi xuống chiếc ghế ở giữa hất đầu ra lệnh, ba ngồi xuống ở chiếc ghế đầu kia đối diện với tôi. Tên CA hất hàm:

- Anh có 15 phút để nói chuyện với ông.

Dù tự nhủ phải cố gắng b́nh tĩnh nhưng vẫn không thể được, tôi oà khóc như một đứa bé..... Trong khi đó ngoài trừ cặp mắt ánh lên một nỗi niềm khổ đau vô hạn, ba b́nh tĩnh hơn tôi nhiều. Ba nói trước, ba hỏi thăm về mẹ, về các em. Cũng vẫn là lời lẽ như trong các thư ba gửi về. Thỉnh thoảng dù rất cố gắng ḱm lại nhưng ba vẫn húng hắng ho. Tiếng ho vẫn đục như có đàm chận trong cổ. Vừa khóc, vừa trả lời tôi măi nh́n ba, muốn nhảy đến ôm ba vào ḷng. Nhưng khoảng cách hai đầu chiếc bàn quá xa và tên công an ngồi chính giữa như một bức tượng lạnh lùng, đe doạ. Tôi để cho ba hỏi ba nói và tôi trả lời. Có nhiều điều muốn hỏi, muốn kể với ba nhưng nỗi xúc động làm tôi không nói được nên lời.

Thật ra nếu nhớ ra, có hỏi, chắc chắn cũng là câu “Cách mạng khoan hồng, ba học tập tốt sẽ được cho về”. Nh́n ánh mắt ba, tôi biết sẽ không bao giờ ba “học tập tố” được, ngày về sẽ c̣n xa lắc xa lơ. Tôi lấy từ trong túi xách, mấy gói thực phẩm khô, chuối khô do mẹ làm, một ít bánh đậu xanh, mấy hộp diêm một tút thuốc lá đen đẩy về giữa bàn về phía Ba. Ba đẩy tất cả về phía tên CA, miệng nói: “nhờ cán bộ giữ giùm”. Cặp mắt sáng lên, mặt bớt lạnh lùng, tên CA đem các món đồ vào chiếc tủ nhỏ ở góc pḥng. Không biết ba sẽ nhận được lại các món này hay không, tôi không có tâm trí để nghĩ đến.

Tôi cứ măi nh́n người đàn ông gầy g̣ tội nghiệp và yếu ớt đang ngồi trước mặt ḿnh không nói được lời nào. Nước mắt cứ không ngừng tuôn. Nói chuyện được khoảng 15 phút tên công an lạnh lùng đứng dậy tuyên bố hết giờ. Ba chậm chạp đứng lên, cặp mắt nửa như ngây dại, nửa thảng thốt, nửa tiếc nuối nh́n tôi, bước theo tên công an ra khỏi nhà khách. Không ḱm được, tôi vùng chạy tới, ôm choàng lấy ba khóc như mưa. Lần đầu tiên tôi thấy mặt gă công an như dịu lại, quay mặt ra nơi khác. Bây giờ th́ ba cũng khóc. Không biết chúng tôi đứng bên nhau được bao lâu cho đến khi tên CA kéo tay Ba tôi đi. Ba lủi thủi đi không quay lại. Cái dáng đi kḥm kḥm, nhẫn nhục đến tội nghiệp. Và đó là lần cuối cùng tôi gặp ba. C̣n sống.

Sau chuyến đi gặp ba trở về, biết được địa điểm, lo lắng về t́nh trạng sức khoẻ của ba, mẹ suốt ngày hối thúc tôi đưa mẹ đi thăm ba. Thời đó người dân b́nh thường nếu muốn ra Bắc phải làm đơn ra phường xin phép. Với gia đ́nh “nguỵ quân nguỵ quyền” như gia đ́nh tôi, xin giấy phép càng khó khăn hơn, thời gian chờ đợi lâu hơn. Phường th́ bảo phải có giấy phép thăm nuôi từ trại gửi về mới cấp. Đợi giấy phép th́ không biết đến khi nào. Lên gặp chú th́ chú chỉ ngược về phường. Cũng như không. Mẹ th́ cứ sốt ruột, đi ra đi vào. Suốt ngày mẹ như lửa đốt, bỏ ăn bỏ làm. Các em th́ c̣n nhỏ dại, cũng chỉ hai vợ chồng chúng tôi trăm phương ngh́n kế,tính đủ mọi cách cũng chưa biết phải làm thế nào.

T́nh cờ (đến lúc này th́ tôi tin có những sự t́nh cờ do ơn trên sắp đặt), tôi được “lệnh ra Hà Nội tham gia lớp tập huấn dành cho Giáo viên môn mạch điện tử”. Lấy lư do là lần trước vợ tôi chưa đi Hà nội, tôi xin phép Hiệu trưởng cho vợ tôi được nghỉ phép cùng đi. Do “quan hệ tốt” và có lư do chính đáng, hiệu trưởng đồng ư kư giấy phép dù bây giờ vợ tôi mới sinh con đầu ḷng, sức khoẻ c̣n yếu lắm. Thật ra chúng tôi đă có kế hoạch từ trước. Giấy phép đi Hà Nội có ghi rơ tên tôi và vợ tôi NGUYEN THI CUC, “cán bộ Trường Bưu Điện Thành phố ra Hà Nội công tác”. Chữ trên giấy phép do chúng tôi điền và đưa Hiệu trưởng kư. Chữ CUC sau này được sửa thành chữ LOC, tên của mẹ tôi..... Thế là tôi và mẹ có giấy phép ra Hà Nội “công tác”, dĩ nhiên chính là để thăm cha.

Lần trước khi thăm ba, do không biết đường đi cũng như không hy vọng gặp được ba tôi chỉ đem một ít đồ dùng. Kỳ này mẹ chuẩn bị chu đáo hơn. Bao nhiêu tiền dành dụm, mẹ đem ra mua hết. Sửa đặc, cơm khô, thịt chấy, bánh đậu xanh, áo quần, thuốc lá (nên nhớ hồi đó mọi nhu yếu phẩm, gạo cơm, thức ăn đồ dùng đều được cung cấp theo chế độ tem phiếu, có tiền cũng rất khó mua). Chúng tôi phải dùng mọi cách, từ vay mượn đến năn nỉ xin xỏ gom góp cũng được khoảng hai bao tải gần 60 kg.

Hai mẹ con ra Hà Nội bằng xe lửa. Sau khi xong công việc thanh thủ cuối tuần hai mẹ con cùng người gánh hàng thuê lên tàu chợ hướng Cao Bằng Lạng Sơn về ga Ấm Thượng. Do đă biết trước địa điểm, lại háo hức mong gặp ba, chuyến đi này diễn ra suông sẻ nhanh chóng hơn lần trước. Vượt 30 km đường bộ, cuối cùng chúng tôi cũng đến được nhà khách K2 vào lúc nửa đêm. Mẹ chịu đựng gian khổ và khoẻ hơn tôi tưởng tượng rất nhiều. Nghĩ đến lúc gặp lại ba vào ngày mai, hai mẹ con suốt đêm thao thức không ngủ được.

Tiếp chúng tôi là một tay Công an khá lớn tuổi với khuôn mặt rất h́nh sự. Tôi tŕnh bày lư do, giấy tờ và xin phép được gặp ba. Gă cầm giấy tờ đi vào bên trong. Độ khoảng 15 phút, gă đi ra vẫn với khuôn mặt khó đăm đăm. Gă nói: “Rất tiếc không thể để hai người gặp tù nhân này được. Ông nhà đang bị kỷ luật v́ vi phạm nội quy trại. Hai người có thể để thức ăn và đồ dùng lại chúng tôi sẽ chuyển cho ông”. Mẹ tôi bắt đầu khóc lóc và năn nỉ. Gă một mực cương quyết lắc đầu. Mẹ tôi càng lúc càng khóc to hơn.

Càng bị từ chối, nỗi uất ức càng lớn, bà càng lớn tiếng. Không có nỗi đau nào bằng nỗi thất vọng lúc này của chúng tôi. Khóc hết nước mắt vẫn không lay chuyển, mẹ tôi càng la càng hét. Gă công an lúng túng không biết xử như thế nào với t́nh thế phát sinh lúc này. Mẹ tôi lúc này như một người mất trí, khuôn mặt nhuể nhoại mồ hôi. Cặp mắt đỏ ngầu. Những người đến thăm nuôi và cả những “Cán bộ” của các bàn bên cạnh đều hướng về phía bàn chúng tôi. T́nh h́nh căng thẳng đến nỗi đến tai cấp chỉ huy trại. Một Sĩ quan Công an bước vào. Hai người thầm th́ nhỏ to ǵ đó. Cuối cùng viên Sĩ quan đến gặp chúng tôi, dịu giọng:

- “Thật ra chúng tôi rất muốn giúp bà nhưng quả thật hiện nay ông nhà đang bị kỷ luật bị giam ở ngoài trại cách đây rất xa. Thôi bà về đi. Tuần sau bà quay lại. Tôi sẽ cho bà gặp ưu tiên với thời gian gấp đôi b́nh thường. C̣n bây giờ bà cứ để thức ăn và đồ dùng chúng tôi hứa sẽ đưa tận tay ông nhà, không thiếu một thứ ǵ”.

Năn nỉ ỉ ôi cách mấy cùng không lay chuyển tên “cán bộ quản giáo”, tôi nghĩ chắc là hết cách..... Chắc phải ở lại Hà Nội thêm một tuần. Nh́n khuôn mặt hiền lành của viên Sĩ quan Công an, tôi nghĩ gă đă rất thiệt t́nh. Tôi nói nhỏ với mẹ, ḿnh về thôi. Tuần sau lên lại hy vọng họ giữ lời hứa cho gặp được Ba lâu hơn.

Trong khi quay lại bàn tiếp tân để làm thủ tục đưa thức ăn và đồ dùng cho ba bỗng dưng tôi thấy một ánh mắt hơi khác lạ của một tù nhân làm nhiệm vụ đem nước chè xanh cho những người đến thăm nuôi. Để ấm nước xuống bàn, người này đi chầm chậm về phía cḥi vệ sinh sau khi ngoái lại nh́n tôi, đôi mắt nhấp nháy kỳ lạ. Tôi xin phép gă Cán bộ Công an đi vệ sinh.

Bước vội nhanh vào phía trong vừa kịp thấy dáng kḥm kḥm của người tù nhân bước ra. Tôi bước vào, nh́n quanh cḥi vệ sinh được xây tạm bợ bằng lá tranh với cánh cửa nửa kín nửa hở. Tôi ngồi xuống và nh́n quanh vách tre lá. Tôi có linh cảm h́nh như người tù nhân muốn cho tôi biết một điều ǵ đó. Tôi nh́n quanh, quả đúng như linh cảm, trên góc đ̣n tre phía trái, tôi thấy một mảnh giấy nhỏ, trên đó viết nguệch ngoạc một ḍng chữ: “Ông D. bệnh nặng”.

Hoảng hốt tôi vội chạy ngược vào pḥng tiếp tân. Dù rất xúc động nhưng tôi vẫn c̣n giữ chút b́nh tĩnh kéo mẹ ra góc pḥng báo tin. Mẹ vững vàng và khôn ngoan hơn tôi tưởng rất nhiều. Bà quay trở lại bàn tiếp tân và nói:

- Xin Cán bộ cho tôi ở lại đây đợi chồng tôi về chứ bây giờ vừa đi vừa về Hà Nội cũng mất hai ngày. Gă Cán bộ nói láo trơn tru:

- Ông bị biệt giam, không được phải cả tuần chúng tôi mới đưa ông nhà ra gặp bà được.

Đến lúc này nỗi uất ức trong ḷng mẹ tôi bùng nổ, bà khóc và la hét to hơn:

- Mấy ông nói láo, tôi biết chồng tôi đau nặng, đồ sát nhân, sao không cho chúng tôi gặp. Các ông có c̣n là con người không?

Đến lúc này th́ mẹ tôi không c̣n biết sợ là ǵ nữa, tất cả những oán hận chất chứa trong ḷng bao lâu này được dịp thoát ra, không ai có thể ngăn được. Cả pḥng khách của K2 bắt đầu nhốn nháo, ồn ào. Nhiều người bu quanh mẹ tôi lúc này đang nằm lăn lộn dưới sàn đất cứng ngắc. Gă Cán bộ chạy vào trong và đi ra cùng với viên Sĩ quan lúc năy. Gă dịu giọng nói với chúng tôi:

- Xin bà b́nh tĩnh, mời bà và anh vào trong, chúng tôi sẽ giải quyết.

Nói xong gă ra lệnh cho hai Công an d́u mẹ tôi vào căn pḥng phía trong. Có lẽ không muốn những người thăm nuôi khác biết chuyện. Căn pḥng sạch sẽ hơn pḥng bên ngoài nhiều. Viên Sĩ quan Công an nói:

- Bây giờ tôi xin nói thật về t́nh trạng của ông nhà. Thật ra ông đang bệnh và chúng tôi đang tích cực chữa chạy cho ông. Nay bà đă biết, tôi sẽ thu xếp cho bà vào gặp ông. Ông nhà đang nằm ở Bệnh xá, tôi sẽ cho người dẫn ông bà đi. Xin ông bà đợi một lát.

Nói xong gă bước ra, nói nhỏ ǵ đó với tay Công an trực. Tay Công an bước đi thật nhanh. Khoảng 40 hay 50 phút ǵ đó gă trở về, bước đi gấp gáp, hấp tấp. Lại th́ thầm to nhỏ với viên chỉ huy.

Linh cảm không hay đến với tôi. Lần này viên Sĩ quan trầm giọng:

“Thưa bà, chúng tôi vừa mới nhận được tin, mặc dù chúng tôi đă tận t́nh chữa trị, nhưng v́ sức yếu, ông nhà vừa mất cách đây 5 phút. Chúng tôi xin chia buồn với bà. Chúng tôi sẽ lo chôn cất ông nhà đàng hoàng tử tế”.

Nghe tin dữ, mẹ tôi như điên cuồng. Bà nằm lăn ra đất. Vừa khóc vừa la. Không từ nào mà bà không đem ra. Không nhân vật nào bà không đem ra chửi. Vừa chửi vừa khóc, khóc đến khan cả giọng. Mồ hôi quyện với đất đỏ dính đầy áo quần, mặt mũi. Hết khóc rồi bắt đầu cười ngây dại. Tôi ôm mẹ không nói được nên lời. Nỗi đau quá lớn làm thần kinh tôi như tê liệt. Ôm mẹ với trái tim nhói đau như kim châm và mẹ ngất đi!

Chúng tôi được dẫn đi gặp ba lần cuối. Nơi ba nằm là một căn nhà nhỏ đơn sơ gọi là Bệnh xá nằm sâu trong K2 cách nhà khách khoảng 30 phút đi bộ. Ba nằm trên một giường tre, thân h́nh gầy guộc, khuôn mặt ốm nhom như bộ xương khô. Hàm râu lổm chổm có lẽ được cắt ngắn một cách vội vàng không dài tḥn như lần đầu tôi gặp. H́nh như đă hết nước mắt, mẹ không khóc yên lặng ngồi xuống đất vói tay ôm lấy ba. Tôi ngồi xuống phiá bên kia. Hai mẹ con ôm chầm lấy ba.

Vẫn c̣n hơi ấm của một cơ thể vừa mới qua đời. Mẹ vuốt mắt ba. Mắt trừng trừng nh́n ba. H́nh như tôi thấy trong mắt mẹ màu đỏ của máu. Sẽ không bao giờ tôi quên được cái h́nh ảnh của ba mẹ tôi trong bệnh xá trại K2 Tân Lập hôm đó. Mẹ không khóc nhưng lại ngất thêm một lần nữa khi tôi kéo mẹ đứng lên.

Sau này qua một người bạn tù của ba, lúc mẹ con tôi đến thăm trại, đang hấp hối nhưng ba tôi biết. Lúc đó ba rất yếu. Ba nói ba sẽ cố gắng sống để găp mẹ một lần và ba cố gắng húp được một muỗng cháo trắng. Muỗng cháo trắng cuối cùng trước khi ra đi măi măi. Giá mà tay Cán bộ có một chút t́nh người th́ có lẽ mẹ cũng được gặp ba một lần sau chót. Chỉ cần một lần mà thôi, của một cuộc t́nh ba mươi mấy năm. Tôi biết ba đă không đành ḷng ra đi. Đành ḷng sao được hả ba, khi vượt hàng ngàn cây số từ Nam ra Bắc, chỉ c̣n cách một bước chân thôi mà mẹ không thể nói với ba những lời yêu thương sau chót, để được nghe một lời trăn trối sau cùng..... Tức tưởi và uất hận lắm ba. Mà thôi ba ơi. Cứ yên ḷng ra đi rồi có ngày mẹ ba và chúng con sẽ lại gặp nhau một nơi nào đó, trên Thiên Đàng. Chúng ta sẽ lại có những ngày tháng hạnh phúc bên nhau như thuở nào.

Để xoa dịu mẹ con chúng tôi, lần đầu tiên K2 có tổ chức một đám ma tù nhân tương đối đàng hoàng. Có rất nhiều tù nhân chết ở đây. Toàn bộ được bó vào các manh chiếu mây tre rách rưới và được vùi sơ sài trong các khuôn đất trống bên trong trại. Ba có lẽ là người đầu tiên đưọc ưu tiên có ḥm làm bằng gỗ ván thông mỏng dính. Chôn theo với ba là mấy bộ đồ rách bươm. Cũng có 4 người tù khiêng quan tài. Phía trước và phía sau có 4 Công an đi cùng. Cũng có ly hương là cái chén ăn cơm cũ kỹ. Tôi cầm bài vị là một bức ảnh căn cước nhỏ xíu của ba c̣n sót lại trong trại. Mẹ đi sau quan tài. Đoàn đưa tang gồm 10 người lặng lẽ đi về phía 1 đồi trọc xa xa, phiá ngoài hàng rào trại K2. Trên đường đi, tôi để ư thấy có những g̣ đất với rất nhiều ngôi mộ vô danh. Nơi chôn ba là một ngọn đồi, chỉ có một cây đa thật to. Những người tù đào vội 1 lớp đất không sâu lắm, ḥm được đặt xuống và lấp lại. Thế là xong. Ba tôi, một Sĩ quan Cảnh sát miền Nam: Việt Nam Cộng Ḥa “thua cuộc”, cuối đời nằm ở đây, một vùng đất gần tận cùng biên giới Việt Trung. Một ḿnh, lạnh lẽo. Mẹ không c̣n nước mắt để khóc. Suốt buổi nh́n trừng trừng. Một khuôn mặt tưởng như vô hồn, nhưng tràn đầy oán hận. Một nỗi hận đến vô cùng. Tôi cắn chặt môi đến tươm máu. Thôi ba ơi, hăy yên nghỉ tạm nơi đây, con sẽ quay trở lại một ngày không xa.

Trước khi trở về, tôi cẩn thận ghi dấu vị trí ngôi mộ với một chữ thập ghép bằng hai nhánh tre và khắc tên ba trên gốc cây to trước mộ.

Tin “chồng bà bún ḅ Huế chết trong trại học tập cải tạo” lan truyền một cách nhanh chóng khu Hồ Tắm Chi Lăng và cả khu chợ Cây Quéo, Phú Nhuận. Có thể có những người chết trước ba nhưng có lẽ ở khu phố Lam Sơn Phú Nhuận ba tôi là Sĩ quan đầu tiên chết trong trại cải tạo được gia đ́nh chôn cất đàng hoàng. Từ lúc trở về mẹ tôi ngày nào cũng đi khắp xóm. Gặp ai cũng khóc cũng kể về cái chết của ba, về nỗi uất ức của một người đàn bà đi cả ngàn cây số để cuối cùng không gặp mặt chồng trước khi ĺa đời. Xa ngàn dặm và chỉ gần một bước chân mà vợ chồng không thể gặp nhau lần cuối. Đớn đau và tàn nhẫn quá. Mẹ khóc, mẹ kể với sự đồng cảm của bạn bè, của thân nhân và của cả những người không quen biết. Công an phường và Cảnh sát Khu vực nhiều lần gặp mẹ, an ủi xoa dịu và cả đe dọa nhưng mẹ không từ bỏ.

Con người khi đă mất đi phần đời yêu quư nhất của ḿnh th́ c̣n nỗi sợ nào hơn. Tôi th́ rất lo dù sao tôi vẫn đang làm việc. Các em đang c̣n nhỏ dại. Nếu bị trả thù hay mẹ bị bắt v́ “tội phản động” th́ gia đ́nh sẽ ra sao? Nhưng khuyên cách mấy cũng không làm mẹ thay đổi. Tính mẹ tôi thuở nào cũng như vậy. Khi bà muốn làm điều ǵ th́ làm cho bằng được. Đă nhiều lần bị đưa ra “kiểm điểm” trong các buổi “họp tổ Dân phố” nhưng mẹ vẫn như cũ. Gặp ai cũng kể gặp ai cũng khóc cho đến ngày chúng tôi nhận được giấy triệu tập lên Phường.

Lo sợ có chuyện không lành xảy ra cho gia đ́nh, tôi báo tin và xin chú cùng chúng tôi lên Phường. Không biết có phải v́ muốn xoa dịu chúng tôi hay không, hôm đó Phường mời chúng tôi lên chỉ để đọc “quyết định trả quyền công dân” cho ba. Công an phường sau khi thuyết giảng tràng giang đại hải về “ḷng khoan dung của đảng và nhà nước đă trao cho mẹ giấy trả quyền công dân v́ thành tích học tập tốt của ba trong thời gian trong trại cải tạo”. Sau này tôi mới biết qua người bạn tù của ba, ba là người thường xuyên bị “kỷ luật và biệt giam”. Thường xuyên không tuân thủ “nội quy trại”. Trả quyền công dân cho một người đă chết, thật quá tức cười và quá nỗi đắng cay.

Cuối cùng với những vất vả lo toan cho cuộc sống, qua thời gian, mẹ và chúng tôi cũng phải làm quen những ngày tháng không có ba. Các em vẫn hằng ngày cắp sách đến trường. Vợ chồng chúng tôi đă có đứa con đầu tiên. Đứa cháu ra đời chưa bao giờ thấy được ông nội bằng xương bằng thịt. Mỗi khi nh́n con tôi lại nhớ đến ba. Cháu bao nhiêu tuổi, bấy nhiêu năm ba rời xa chúng tôi. Cho đến bây giờ sau bao nhiêu năm tháng tôi vẫn không quên khuôn mặt ốm nhom ốm nhách của ba trong trại K2 năm nào.

Những năm sau đó, dù vất vả, cuộc sống khó khăn, chúng tôi cùng mẹ cũng kiên cuờng sống tiếp nuôi các em ăn học. Có những ngày ăn bo bo thay cơm. Có những ngày liên tiếp không có gạo chỉ có bột ḿ. (Thời đó tại Sài G̣n chúng tôi phải làm quen với chế độ tem phiếu như ngoài bắc). Tùy theo lúc, có khi được cấp gạo, có khi nhận toàn bột ḿ, có khi cả tuần nhận toàn bo bo. Số luợng nhận tùy theo nhân khẩu của mỗi hộ gia đ́nh. Mẹ xoay xở chế biến thành đủ thứ món ăn bằng bột ḿ cho đỡ ngán. Dù sao th́ cũng không thể gian khổ bằng ba trong những ngày trong tù miền Bắc. Tôi tự an ủi như vậy để sống. Mẹ bề ngoài rất can trường nhưng trong ḷng lúc nào cũng canh cánh nỗi lo về ba. Mẹ ray rứt nghĩ về nơi lạnh lẽo ba nằm, về nắm mộ hoang phế nơi tận cùng biên giới.Mẹ thường nói không biết ba mày nằm ngoài đó như thế nào. Đêm nào mẹ cũng khóc một ḿnh. Càng ngày càng héo hon. Mẹ lúc nào cũng ao ước đem được ba về. Hết than ngắn lại thở dài.

Ba chết chưa đầy 3 năm, quá sốt ruột, thương mẹ và thương ba nằm lạnh lẽo hiu quạnh, tôi xin nghỉ phép cùng mẹ ra Hà Nội một lần nữa. Lần này với ư định đem ba về chôn cất tại Huế bên cạnh ông bà ngoại. Nhờ người giới thiệu, tại Hà Nội chúng thuê được 1 người chuyên về đào mộ cùng đi. Từ sáng sớm 3 người chúng tôi lên ga Hàng Cỏ và đến tối th́ chúng tôi đến trại K2. Sáng hôm sau chúng tôi gặp cán bộ trại xin đào lấy xác ba đem về chôn tại quê nhà và bị từ chối. Lư do phải có giấy cho phép của cấp trên. Thời gian chờ đợi ít nhất cũng phài trên 3 tháng. Không c̣n cách nào khác, không lẽ về tay không, chúng tôi quyết định đào trộm.

Đến lúc này mỗi khi nhớ lại tối hôm đó tôi vẫn c̣n rùng ḿnh. Tôi vẫn không hiểu tại sao ḿnh lại quyết định liều lĩnh như vậy. Đào mộ chui, chết hoặc ở tù như chơi. Có lẽ phần v́ c̣n trẻ liều lĩnh, phần thương ba và một phần do sự khuyến khích của tay đào mộ thuê. Cũng may là ngôi mộ của ba nằm ngoài ṿng đai trại, nếu không ai biết trước việc ǵ sẽ xảy ra cho chúng tôi.

Đêm đó đợi lúc trời chạng vạng tối, trời mưa lất phất, 3 người chúng tôi đi đến khu mộ ba. Tôi vẫn nhớ rất rơ đường đi. Vẫn không thay đổi ǵ nhiều, chỉ khác là cỏ mọc um tùm hơn. Cây thành giá trước mộ vẫn c̣n đó, xiêu vẹo. Dấu khắc trên cây vẫn c̣n dù có mờ đi. Và cũng chỉ một ḿnh ngôi mộ của ba nằm ở đó, lạnh lẽo, hiu quạnh. Chung quanh không có ngôi mộ nào khác. Có lẽ chỉ một ḿnh ba tôi là có thân nhân đến tiễn đưa khi chết.

Chúng tôi bắt đầu công việc bốc mộ trong cái ánh đèn cầy leo lét. Người đào mộ làm việc chuyên nghiệp và nhanh chóng chạm đến nắp ḥm. Nén xúc động, tôi mở nắp quan tài. Ba nằm đó bộ xương c̣n nguyên vẹn với da thịt và tóc chưa phân hủy hết. Chúng tôi đem bộ xương ba lên theo thứ tự đầu, chân,tay, bên phải bên trái. Mẹ nức nở vừa khóc vừa rửa xương ba bằng nước cánh hồi, sau đó bỏ vào hai bao lác mang theo. Một bao tôi xách gồm phần đầu và phần tay chân bên trái. Bao lác của mẹ gồm xương sống và phần tay chân bên phải. Người đào mộ dặn phải làm như thề để khi về đem chôn trở lại với h́nh hài c̣n nguyên vẹn.

Chúng tôi lặng lẽ vượt 30km lên đường trở ra ga Ấm Thượng trong đêm. Về đến ga Hàng Cỏ Hà Nội th́ cũng đă xế chiều hôm sau. Mệt lă người v́ thiếu ăn và thiếu ngủ nhưng chúng tôi rất vui v́ đă đem ba về an toàn. Bây giờ tôi mới cảm thấy đói. Hai mẹ con ngồi tựa cột đèn trước ga, mỗi người ôm chặc một bị lác chứa xương người. Chúng tôi ăn những ổ bánh ḿ dai nhách, uống những ly chè xanh đắng chát, nhưng thật ngon lành.

Đang nằm thiu thiu ngủ bỗng dưng tôi thấy tay ḿnh nhẹ tưng, bừng tỉnh cũng là lúc tôi thấy một bóng người phóng qua ḿnh tôi về phía trái. Ôi cái bị lác của tôi. Tôi phóng người đuổi theo, vừa chạy vừa la: xương người, xương người. Đứa bé ăn trộm bị tôi đuổi kịp quăng bị lác xuống đất chạy vào bóng đêm mất dạng. Tôi lượm bị lác lên và ôm chặt vào ḷng. Đêm đó hai mẹ con ngồi tựa cột đèn, thức trắng. Lại một đêm thật dài, dài vô tận.

Trời mới tờ mờ sáng, chúng tôi đáp chuyến tàu đầu tiên xuôi nam và đến ga Huế vào nửa đêm. Nhà ông bà ngoại tôi nằm dưới chân núi Ngự B́nh, cách lăng Thành Thái không bao xa. Ngôi nhà cổ với sân vườn sau là các ngôi mộ của gia tộc bên ngoại. Về nhà nửa đêm nhưng đă có rất đông họ hàng, các em cùng vợ con tôi về Huế từ ngày hôm trước. Và có cả ông Cặn hàng xóm, người chuyên môn lo về đám ma với ḥm rương nhang đèn đầy đủ.

Đám ma của ba tôi được tổ chức đơn giản nhưng với đầy đủ thủ tục lễ nghĩa như với một người vừa mới qua đời. Xương của ba được sắp xếp lại theo thứ tự tay chân trái phải và đưọc đặt vào quan tài cùng với các đồ dùng c̣n sót lại của ba. Bà con hàng xóm láng giềng khu vực An lăng có mặt thật đông. Hôm đó mẹ đă khóc ngất đi nhiều lần dù ba qua đời gần 3 năm. Dù sao mẹ cũng đă măn nguyện thực hiện được ước muốn từ bao năm qua: đưa được ba về, nằm ấm cúng trong mảnh vườn nhỏ gia tộc bên cạnh ôn mệ. Hôm đó tôi đă khấn trước mộ ba: Ba ơi, hăy yên nghỉ, chúng con thương ba vô cùng. Ba có linh thiêng xin phù hộ cho mẹ và các em được b́nh an.

Tôi tin là có một thế giới, nơi ba đang sống, thật gần với chúng tôi, luôn theo dơi phù hộ chúng tôi. Độ 3 tháng sau ngày đem ba về Huế, gia đ́nh tôi bỗng nhận được tin về đưá em gái kế. Người duy nhất trong các anh em tôi ra đi tại bến bạch Đằng 6 năm về trước..... Chúng tôi nhận được thư của em gái kèm tờ giấy bạc 50 dollars. Không thể nào kể hết được nỗi xúc động và sung sướng của gia đ́nh chúng tôi lúc đó. Đă sáu năm trôi qua, tưởng chừng như đă mất em vĩnh viễn. Hạnh phúc lớn nhất kể từ ngày ba mất đi.

Ngoài niềm vui về đứa em gái, số tiền 50 dollar đối với gia đ́nh tôi hồi đó là một tài sản đáng kể. Kể từ ngày liên lạc được với gia đ́nh, thỉnh thoảng, em tôi gửi về lúc th́ tiền lúc th́ xà pḥng, kẹo bánh, đồ dùng điện tử. Quà nhận được, hầu như tất cả đều được đem bán thành tiền để chi dùng trong gia đ́nh. Họa hoằn lắm th́ chúng tôi mới giữ lại một vài gói kẹo M. M. Chia cho các em th́ mỗi đứa cũng được độ 5-10 viên nhỏ xíu. Hồi đó cái ǵ từ Mỹ cũng quư vô cùng.

Dù không biết về thế giới bên kia, nhưng tôi vẫn luôn tin rằng có ba luôn ở quanh quẩn đâu đây, cùng với gia đ́nh và luôn phù hộ cho mẹ con chúng tôi. Cuộc sống gia đ́nh chúng tôi từ cuối năm 1981 trở đi bớt cơ cực hơn. Tôi ngoài giờ đi dạy học ở trường Bưu Điện, c̣n đi dạy luyện thi vào Đại học tại nhà học sinh trong xóm. Vợ tôi nhờ “quan hệ tốt” với các Cán bộ trong trường, khi th́ mua thêm được gạo, khi th́ mua thêm được thịt, các bữa ăn trong gia đ́nh cũng được khá hơn lên.

Các em, kể từ ngày ba “được trả quyền công dân”, sự phân biệt đối xử tuy vẫn c̣n nhưng không quá nhiều như ngày đầu sau 1975. Mẹ tôi mở gánh bán bún ḅ tại nhà. Gia đ́nh không dư giả giàu có ǵ nhưng cũng sống được qua ngày một cách hiền lành, lương thiện. Sau ngày ba mất, chú tôi thi thoảng có ghé thăm nhưng tôi vẫn cảm thấy một nỗi ngượng ngùng nào đó trong quan hệ của chú cháu chúng tôi. Mỗi lần nh́n h́nh ba trên bàn thờ tôi lại nhớ đến khuôn mặt gầy g̣, râu tóc bạc phơ ngày nào trong trại K2 Vĩnh phú. Đôi mắt trừng trừng tức tưởi của ba cứ ám ảnh trong tôi hằng đêm. C̣n lâu tôi mới có thể tha thứ cho chú được. Giá mà ngày đó chú thu xếp để mẹ tôi ra thăm ba sớm hơn th́ có lẽ ba sẽ không ra đi như thế. Nghĩ như vậy nhưng tôi biết, dù có thương ba bao nhiêu, chú cũng không thể làm ǵ khác được.

Trong những đứa em của tôi, đứa thứ ba là đứa ít nói nhưng ghét chú và căm thù chế độ CS nhiều nhất. Thái độ bất măn trong học hành và trong sinh hoạt hàng ngày nhất là với các “cán bộ” miền Bắc khiến tôi vô cùng lo lắng, bất an. Em thường có những lời nói và biểu hiện mà các “cán bộ” cho là phản động. Có khuyên mấy cũng không được. Lo sợ em gặp sự không may, tôi bàn với mẹ đưa em ra Đà Nẵng sống với gia đ́nh người chị con bà d́ ruột. Và từ Đà Nẵng em là người đầu tiên trong gia đ́nh tôi vượt biên sang Mỹ sau 1975.

Năm 1982, chúng tôi nhận giấy tờ bảo lănh đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đ́nh ODP. Chúng tôi nộp đơn xin đi Mỹ và ngay năm đó cả hai vợ chồng cùng nhận giấy tờ cho thôi việc. Lư do: “anh chị đă nộp đơn đi nước ngoài, không c̣n đủ tư cách làm việc tại cơ quan Bưu Điện được nữa”. Đây là điều chúng tôi đă luờng trước nhưng không ngờ đến quá nhanh như vậy. Vào những năm 81-82, gia đ́nh có thân nhân ở nước ngoài được xem là “phản quốc”. Nhất là với những người có tư tưởng ra sống ở nước ngoài như chúng tôi. Chấp nhận bị đuổi việc môt cách b́nh thản, vợ chồng chúng tôi bắt đầu khoảng thời gian lăn lóc với đủ thứ nghề để kiếm sống và tồn tại.

Thời đó nhờ những lần đi chầu chực lănh quà từ nước ngoài tại phi trường Tân Sơn Nhất rồi đem bán tại chợ đồ ngoại cuối đường Nguyễn Thông, tôi làm quen với nhiều bạn hàng và cả những người đi lănh quà như tôi. Mới đầu bán đồ của ḿnh, sau đó mua lại của những người khác, tôi bắt đầu gia nhập hàng ngũ những người mua đi bán lại. Có mặt từ sáng sớm tại phi trường, theo chân những người lănh hàng về tận nhà, mua rồi đem ra chợ bán kiếm chênh lệch. Hàng hoá từ kẹo, bánh đến nước hoa, đồ điện tử. Thượng vàng hạ cám, bất kỳ thứ ǵ miễn là của Mỹ là mua, là bán. Làm cái công việc không dính dáng ǵ đến cái bằng cấp tốt nghiệp của ḿnh.Chỉ cần cái miệng thật dẽo, thật trơn tru. Một đôi khi nhớ lại những ngày tháng trước Năm 1975, thấy ḿnh thật nhiều thay đổi. Cái hiền lành chơn chất thuở nào như không c̣n nữa. Thật buồn, thật tiếc nuối.

Cũng may, tôi vẫn c̣n duy tŕ lớp dạy sửa chữa Radio TV tại nhà vào buổi tối. Đó là thời khắc vui nhất trong ngày của tôi. Ít nhất là lúc đó tôi c̣n thấy ḿnh c̣n có ích, c̣n giống đứa con của ba mẹ thuở nào. Lớp ít học sinh nhưng tôi đă giảng dạy một cách say sưa…

Trong những năm giữa thập niên 80, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện hàng điện tử second hand. Đây là những mặt hàng điện tử như Tivi, tủ lạnh, Radio cassette hư cũ đă qua xử dụng được các thủy thủ tàu Viễn dương đem về bán lại. Các tàu chở hàng đậu ngoài cảng xa. Mỗi khi có hàng về, chúng tôi đi từng nhóm dùng thuyền nhỏ cặp ra tàu lớn mua lúc từ 5 đến10 cái. Dĩ nhiên đây là buôn bán “trái pháp luật nhà nước”. Bị bắt th́ hàng bị tịch thu, phạt tiền và ở tù. Nhưng nếu thoát được th́ kiếm tiền nhiều. Đem về sửa lại rồi đem ra chợ bán.Thời đó có ăn nhất là chuyển hệ TV để xem h́nh có màu trên TV. Dĩ nhiên không đẹp và rơ như bây giờ nhưng thời đó là cái mốt của các “cán bộ” miền Bắc có tiền. Chợ trời điện tử Huỳnh Thúc Kháng h́nh thành và lớn mạnh trong khoảng thời gian đó. Sau đó là một loạt các chợ trời Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Chợ Lớn được thành h́nh giúp những người có một chút tay nghề về điện tử như tôi sống sót và tồn tại.

Nhưng cũng chỉ một thời gian. Lúc đầu, buôn bán rất khá, lợi nhuận cao, sau đó càng ngày càng khó khăn khi mà có nhiều tay trùm có quá nhiều tiền nhảy vào. Họ không mua từng 5-10 cái như chúng tôi mà họ mua nguyên cả tàu khi vừa cập cảng. Những tay trùm cán bộ có thế lực và có rất nhiều tiền. Họ có quan hệ và quyền lực mà những người ít tiền như chúng tôi không cạnh tranh nổi. Phải là con ông cháu cha. Phải đợi chia lại hàng từ những trùm lớn hơn. Đôi khi phải qua trung gian 2,3 cấp. “Chất lượng” hàng cũng kém đi rất nhiều.

Bỏ nghề điện tử, nhảy qua buôn trầm từ Đà Nẵng về Saigon. Nói là buôn trầm cho oai chứ ḿnh làm ǵ có tiền nhiều như thế. Thường chỉ ra Đà Nẵng nhận trầm từ ngươi quen, đem vào Sài G̣n giao cho mối, ăn tiền chênh lệch. Đi đuợc chục chuyến có lời dù cũng rất vất vả. Lúc th́ lăng lóc trên xe đ̣ khi th́ la lết trên tàu chợ nam bắc. Tôi càng ngày càng ốm nhom ốm nhách. Mặt mũi đen thui. Chỉ lạ một điều là thời đó dù đi nhiều, tôi lại rất ít gặp người quen, bạn bè. Nếu có gặp, bạn bè chắc cũng không nhận ra chàng Kỹ sư hiền lành chơn chất trắng trẽo thư sinh thuở nào.

Đi thoát được khoảng chục lần, đến lần thứ 11 th́ tôi bị “Quản lư Thị trường” bắt. Trầm bị tịch thu, riêng tôi bị giam tại Công an Quảng Ngăi. 2 ngày trong trại tạm giam tôi đă suy nghĩ thật nhiều về những ngày tháng đă qua trong cuộc đời. H́nh như tôi đă thay đổi quá nhiều, không c̣n là tôi của năm xưa. Cái được th́ quá ít, cái mất đi th́ quá nhiều..... Tôi cay đắng nhận ra rằng nếu tôi không dừng lại, tôi cũng sẽ mất tôi vĩnh viễn trong một thế giới không thuộc về tôi. Một thế giới bụi bặm, luờng gạt và xảo trá khác xa với thế giới ngày tôi sinh ra, lớn lên. Tôi biết, ba ở một nơi nào đó đă rất buồn.

Bỏ nghề buôn bán, bỏ qua ư tưởng làm giàu nhanh chóng, tôi quay lại nghề dạy điện tử của ḿnh. Vẫn là nghề phù hợp vói ḿnh nhất. Dù không có nhiều tiền nhưng 1+1 là 2 th́ vẫn dễ hơn là 1+1=3. Vẫn là vợ tôi bên cạnh trong những thời khắc khó khăn với những an ủi và chia sẻ. Nàng luôn ủng hộ tôi trong những quyết định quan trọng và chúng tôi có đứa con thứ nh́. Con gái. Tôi thầm nghĩ, ba đă cầm tay, dẫn dắt tôi bắt đầu làm lại.

Năm 1988, gia đ́nh được gọi đi phỏng vấn ở Ṭa lănh sự Hoa Kỳ tại Sài g̣n. Với giấy tờ đầy đủ, hợp lệ cuộc phỏng vấn đáng lẽ đuợc diễn ra một cách nhanh chóng đột nhiên bị dừng lại khi có phái đoàn cấp cao từ Thái Lan ghé thăm, lúc đó trong pḥng, mẹ đang chuẩn bị trả lời. Vị trưởng đoàn có vẻ ngạc nhiên khi đọc hồ sơ của gia đ́nh, nhất là chuyện liên quan đến ba tôi, người Sĩ quan Cảnh sát chết trong trại cải tạo sau 2 năm 6 tháng học tập. Ông ta có vẻ ngạc nhiên về tờ “giấy trả quyền công dân của ba tôi”. Có lẽ là lần đầu tiên ông thấy được một loại giấy tờ như vậy. Giấy trả quyền công dân cho một người đă chết.

Mẹ tôi vừa khóc vừa kể chuyện của ba. Câu chuyện về một cái chết và một chuyến đi thăm nuôi tức tưởi đă làm ngướ lănh đạo đoàn thanh tra ODP cảm động. Chỉ một thời gian ngắn mẹ và các em tôi được giấy chấp thuận đi Mỹ theo diện HO thay v́ theo diện đoàn tụ gia đ́nh dù rằng ba tôi ở tù chưa đến 3 năm. Tôi biết có sự can thiệp đặc biệt của phái đoàn từ Thailand và tôi thầm tin có sự phù hộ của ba. Riêng vợ chồng chúng tôi tôi ở lại v́ lúc đó có gia đ́nh và sổ “hộ khẩu” riêng.

Vài tháng sau Mẹ và các em tôi đi Mỹ. Vợ chồng chúng tôi ở lại với 2 con nhỏ và bà cô em ông nội không chồng. Cũng may nếu tôi cùng đi th́ không biết bà cô sẽ ra sao. Cuộc sống sau những năm 1990 của chúng tôi ngày càng ổn định. Lúc này, ngành điện tử và vi tính bắt đầu phát triễn. Các công ty nước ngoài bắt đầu thiết lập các văn pḥng đại diện và quan hệ buôn bán tại Việt nam. Tôi được tuyển vào làm việc lần lượt tại các Văn pḥng đại diện của Hewlett Packard, Brother, AT&T và cuối cùng là AMP tại Việt nam.

Đó là khoảng thời gian tôi sống sung túc nhất kể từ ngày mất nước 1975. Thời kỳ này, tôi sống và làm việc đúng với khả năng, với kiến thức từ khoa điện trường đại học Phú Thọ. Nếu không có thời kỳ này, nếu không có những công ty nước ngoài, có lẽ suốt đời, tôi đứa con một Sĩ quan Cảnh sát chế độ cũ, đă sống một cách tối tăm và mất hút đâu đó trên chính quê hương đen tối của ḿnh. Vào những năm 90, tiền lương 700 usd của là một con số không nhỏ nêu không muốn nói là lớn. Quan trọng hơn, đó là khoảng thời gian tôi được tiếp xúc với thế giới bên ngoài qua những chuyến đi học tập ngắn ngày tại Singapore, Thailand, Malayia, Indonesia, và Philipine.

Đi học và về, tôi liên tục tổ chức các buổi hội thảo giới thiệu các sản phẩm và công nghệ mới của HP. Brother, AT&T và AMP tại Sài G̣n, Hà Nội, Đà Nẵng... Tên, h́nh ảnh tôi được đăng trên báo. Ra đường tôi đă có quyền ngẫng cao đầu. Ba tôi chắc chắn đă rất sung sướng, tự hào về tôi. Một khoảng thời gian hạnh phúc và có ích. Tôi đă t́m lại chính con người thật của ḿnh.

Năm 1998, tôi được chấp thuận đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đ́nh. Bấy giờ tôi đă có 3 đứa con với cuộc sống rất ổn định, sung túc. Những chuyến đi nước ngoài thường xuyên. Có nhà riêng. Con đầu đang học Đại học. Mọi chuyện suông sẻ, thuận lợi. Tôi đă suy nghĩ rất nhiều. Đi hay ở. Một quyết định không dễ dàng. Với tuổi gần 50 làm ǵ nơi đất khách quê người. Đă quá già để làm lại từ đầu... Xin hoăn ngày đi 3 tháng rồi cũng đến lúc phải quyết định, nếu không hồ sơ sẽ được xếp lại. Cơ hội đi đoàn tụ sẽ không c̣n. Phải từ bỏ tất cả thật sự là một quyết định quá khó khăn. Và c̣n mộ ba ở đây nữa, ai lo? Phải, có rất nhiều lư do để ở lại, không đi. Đă nhiều lần đứng trước bàn thờ ba, mong ba một lời khuyên. Đi hay ở. Quá khó.

Cuối cùng tôi chọn giải pháp ra đi. Không phải v́ vợ chồng riêng tôi mà v́ gia đ́nh, v́ mẹ, v́ các em, v́ tương lai các con của tôi và v́ lời hứa với ba, “Măi măi thay ba v́ cái gia đ́nh này”. Tôi biết những ngày sắp đến tôi sẽ phải bắt đầu trở lại một cuộc phiêu lưu mới. Sẽ không dễ dàng với một người quá tuổi như tôi trên một đất nước hoàn toàn lạ lẫm và quá xa xôi. Nhưng tôi sẽ không bao giờ hối hận về quyết định của ḿnh. Cũng c̣n một lư do thật sâu kín không ai biết ngoại trừ vợ tôi: Vết thương mất cha ngày nào trong “trại học tập cải tạo”măi măi không lành.

Mỗi lần nh́n những tay Công an, những “Cán bộ” (Không dùng từ này), tôi lại nhớ đến khuôn mặt gầy g̣, cặp mắt đau thương tuyệt vọng của ba lần gặp mặt trên đường đến trại K2 mười mấy năm về trước. Muốn quên nhưng khó thể quên được. Muốn tha thứ nhưng không thể nào tha thứ được. Vẫn măi măi một mối căm thù. Vợ tôi hiểu điều đó, chấp nhận cùng chồng đối diện một cuộc thử thách mới trên đất khách quê người, bỏ lại bên kia bờ đại dương một mẹ già và một người em gái yêu quư. Tôi biết tôi đă nợ em, một mối ân t́nh thật sâu đậm.

Những ngày cuối năm 1998, máy bay chở gia đ́nh chúng tôi đáp xuống phi trường Los Angeles, California Hoa Kỳ. Kết thúc quảng đời 23 năm sống dưới chế độ (Không dùng từ này) và để bắt đầu một cuộc hành tŕnh không biết sẽ ra sao nhưng tôi tin, chắc chắn sẽ tốt đẹp và b́nh an hơn. Và, dù ở cách xa ngàn dặm, ba vẫn sẽ luôn theo dơi, phù hộ mẹ và 9 anh em chúng tôi. Ba ơi, nếu có một kiếp sau, chúng con vẫn sẽ là những đứa con ngoan của ba: Người tù “học tập cải tạo” chết ở miền đất tận cùng biên giới Việt Trung năm 1978. Hưởng dương 54 tuổi!

Lê Xuân Mỹ
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

6 Pages: V « < 4 5 6
Reply to this topicStart new topic
3 Người đang đọc chủ đề này (3 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 16th December 2017 - 10:31 AM