IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

2 Pages: V  1 2 >  
Reply to this topicStart new topic
> DI TÍCH & DANH NHÂN
kimngan
post Jul 5 2007, 11:56 PM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





Trang hình ảnh nầy xin dành cho Di tích và Danh nhân của Bến Tre.


Cụ PHAN THANH GIẢN


user posted image

Hình chụp tại Paris năm 1863, hiện lưu trử ở Viện Bảo Tàng Nhân Chủng Paris

user posted image

user posted image

Mộ Cụ PHAN THANH GIẢN (Xả Bão Thạnh, Ba Tri, Bến Tre)

Phan Thanh Giản
(1796-1867)


Danh sĩ, đại thần triều Nguyễn, tự Tĩnh Bá, Đạm Như, hiệu Lương Khê, Ước Phu, biệt hiệu Mai Xuyên, sinh năm 1796 tại Bảo Thạnh, huyện Bảo An, Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, Bến Tre), tự tử ngày 04-08-1867 tại Vĩnh Long, sau khi Pháp chiếm thành do ông trấn giữ.
Năm 1825, đỗ cử nhân, năm 1826 đỗ tiến sĩ, ông là vị Tiến sĩ đầu tiên ở miền Nam, làm quan trải qua ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị,Tự Đức, nhiều lần thăng giáng, Hiệp biện đại học sĩ, Thượng thư bộ Hình và bộ Hộ.Từng đi sứ Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Xing-ga-po, Pháp, Tây Ban Nha. Năm 1862, ông cùng Lâm Duy Hiệp đại diện cho triều đình Tự Đức ký kết Hòa ước Nhâm Tuất (ngày 05-06-1862) giao trọn ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Năm 1863, ông được cử làm Chánh sứ (Phó sứ Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản) sang Pháp thương nghị chuộc ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, nhưng không có kết quả. Trở về Long (1867), ông thụ động để mất thành, từ đó ba tỉnh miền Tây Nam kỳ rơi tiếp vào tay giặc chỉ trong mấy ngày (24-06-1867). Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử.
Ông tính cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm, không ai không kính phục, nhưng trong cơn nước biến, thái độ chủ hòa của ông đã làm giảm giá trị của ông, lại còn bị Tự Đức cho đục bỏ tên ở bia Tiến sĩ. Tuy nhiên, vẫn có một số trí thức tỏ lòng thương tiếc tài năng và nhân cách của ông. Khi sắp mất, ông dặn con cháu, không được cộng tác với giặc Pháp và tự tay viết mấy dòng chữ trao cho người nhà: "Minh sinh thỉnh tỉnh, nhược vô, ưng thư: Hải nhai lão thư thư sinh tính Phan chi cửu" (Tấm triệu hãy bỏ đi không cần có, nếu không bỏ thì chỉ nên để lòng triệu (tấm minh sinh: linh cửu người học trò già ở góc biển họ Phan).
Trong các thơ văn truy niệm, bài thơ của Nguyễn Đình Chiểu gây cảm xúc mạnh hơn cả. Phan Thanh Giản là một nhà văn lớn, ông có nhiều tác phẩm có giá trị:" Lương khê thi thảo, Lương khê văn thảo, Sứ thanh thi tập, Tây phù nhật ký, Ước phu thi tập, Tích ung canh ca hội tập, Sứ trình thi tập, Việt sử thông giám cương mục, Minh Mạng chính yếu.

Phan Thanh Giản con người, sự nghiệp và bi kịch lịch sử
(Tác Giả: Phan Huy Lê)


1. Trước hết chúng ta cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng và tính phức tạp trong việc đánh giá nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản (PTG).
Đánh giá về một nhân vật lịch sử, một con người, nói chung đã là một vấn đề phức tạp và tinh tế, đòi hỏi các nhà khoa học phải đặt nhân vật đó vào bối cảnh lịch sử cụ thể với tất cả mối quan hệ phức hợp của hoàn cảnh gia đình, văn hoá, xã hội, điều kiện hoạt động và nhất là yêu cầu phát triển của đất nước trong xu thế chung của thời đại và của khu vực, để phân tích và nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện và thoả đáng về mặt công lao, cống hiến, mặt tích cực cũng như mặt hạn chế và tiêu cực. Tuy nhiên đối với những nhân vật mà công lao và cống hiến đã quá rõ ràng như các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hoá... hay trái lại, những nhân vật mang tội với lịch sử, với dân tộc và nhân loại thì sự đánh giá tương đối dễ dàng hơn và dễ đi đến sự nhất trí hơn. Nhưng trong lịch sử còn có những nhân vật, những con người sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp, đầy biến động và thử thách của lịch sử và trong cuộc sống cũng như hoạt động bản thân của họ cũng chứa đựng và phản ánh những mâu thuẫn đó, vừa có nhân cách cao đẹp, có công lao đối với dân với nước, vừa có những mặt hạn chế nặng nề, những ứng xử mang tính nghịch lý, thậm chí có khi đi đến bế tắc, tự kết thúc cuộc sống bằng những bi kịch. Đối với những nhân vật loại này, việc nghiên cứu và đánh giá dĩ nhiên gặp nhiều khó khăn và thường tồn tại những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau là hiện tượng dễ hiểu.
PTG là trường hợp khá điển hình thuộc loại hình nhân vật này.
Ngay từ 1867, khi PTG tự kết thúc cuộc đời bằng chén thuốc độc, thì từ trong triều cho đến trong dân gian, đã có những thái độ nhìn nhận và sự đánh giá rất khác nhau về ông.
Vua Tự Đức và triều đình đổ hết tội lỗi cho ông về việc để mất Nam Kỳ lục tỉnh, kết tội ông "xét phải tội chết, chưa đủ che được tội" và nghị án "truy đoạt lại chức hàm và đẽo bỏ tên ở bia tiến sĩ, để mãi cái án trạm giam hậu" (1). Nhưng đến năm 1886, vua Đồng Khánh lại "khai phục nguyên hàm" và khắc lại tên ông ở bia Tiến sĩ (2).
Trong lúc đó, những nhà yêu nước đồng thời với ông như nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu tỏ thái độ thương tiếc và trân trọng đối với PTG qua bài thơ điếu (cũng có người giải thích cách khác):
Minh tinh chín chữ lòng son tạc Trời đất từ rày mặc gió thu.
Và trong bài "Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong", nhà thơ Đồ Chiểu một lần nữa nêu cao Trương Định và PTG:
"Phải trời cho mượn cán quyền phá lỗ, Trương tướng quân còn cuộc nghĩa binh Ý người đặng xem tấm bản phong trần, Phan học sĩ hết lòng cứu nước".
Nhưng lại có nguồn tin tương truyền rằng, Trương Định lên án PTG bán nước khi đề cờ khởi nghĩa "Phan, Lâm mãi quốc; triều đình khí dân".
Ở đây chưa bàn về nguồn gốc và tính xác thực của câu nói trên, nhưng sự tồn tại và lưu truyền dù trong giới hạn nào, ít nhiều cũng phản ánh một thái độ lên án PTG.
Rồi trong thơ văn, trong các công trình nghiên cứu, chúng ta luôn luôn bắt gặp những nhận xét và đánh giá rất khác nhau, khác nhau đến mâu thuẫn, trái ngược nhau về nhân vật PTG.
Năm 1962 - 1963, trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử bùng lên cuộc tranh luận về PTG. Tháng 10/1963, tạp chí đã công bố bài kết luận của GS Trần Huy Liệu dưới tiêu đề "Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản". Quan điểm chung của bài kết luận là lên án PTG "Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân", là phạm tội "dâng thành hiến đất cho giặc" và từ đó phủ nhận tất cả "tư đức" của ông như "đức tính liêm khiết", "lòng yêu nước", "thương dân"... vì "công đức đã bại hoại thì tư đức còn có gì đáng kể" (3).
Bài kết luận này cũng như những tham luận đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử lúc bấy giờ cho thấy, bên cạnh thái độ lên án PTG, cũng có những ý kiến muốn nhìn nhận ông một cách toàn diện hơn và phải ghi nhận những phẩm giá, nhân cách của ông một cách khách quan và thoả đáng hơn. Và ngay sau khi cuộc thảo luận kết thúc với kết luận lên án và phê phán nặng nề như vậy thì GS Ca Văn Thỉnh với tư cách là một người con của Bến Tre, của Nam Kỳ lục tỉnh tỏ thái độ băn khoăn và không đồng tình. Như vậy là cuộc thảo luận năm 1962 - 1963 tuy kết thúc, nhưng trong tranh luận và sau khi kết luận, vẫn tồn tại những quan niệm và ý kiến khác nhau. Hơn thế nữa, cuộc tranh luận lúc bấy giờ diễn ra trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh dân tộc đang phát triển gay gắt mà mục tiêu cao nhất của nhân dân cả nước là chống xâm lược, độc lập và thống nhất Tổ quốc. Không khí của cuộc đấu tranh dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của nhà sử học đối với đất nước không thể không ảnh hưởng đến xu hướng chung của cuộc tranh luận. Chúng ta nên ghi nhận kết quả của cuộc thảo luận năm 1962 - 1963 như một mốc đánh dấu nhận thức và thái độ của sử học đối với PTG trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc đó.
Sau năm 1975, nhất là trong công cuộc đổi mới gần đây, nhiều nhà khoa học thấy cần phải đánh giá lại PTG một cách khách quan và đầy đủ hơn. Nhân dân và cán bộ tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long quê hương của PTG càng mong mỏi và đòi hỏi các nhà khoa học và công luận làm sáng tỏ hơn thân thế và sự nghiệp của ông với tất cả những gì ông đã để lại cho lịch sử và trong lòng dân, những thành công và thất bại, mặt tích cực và hạn chế, những trăn trở và uẩn khúc của đời ông.
Đó chính là lý do sâu xa và gần gụi đưa đến cuộc hội thảo khoa học do Tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre phối hợp với Trung tâm KHXH & NVQG và Hội KHLSVN tổ chức. Sự có mặt và tham gia tích cực của nhiều nhà khoa học ở địa phương và Trung ương, nhiều cán bộ lãnh đạo của hai tỉnh và sự theo dõi, chờ đợi của nhân dân quê hương PTG đủ cho thấy sự cần thiết và ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của cuộc hội thảo.

2. Tư liệu là cơ sở khoa học cần thiết để phục dựng lại một cách đáng tin cậy thân thế và sự nghiệp của PTG cùng những mối quan hệ phức tạp giữa ông với thời cuộc, với triều đình và quân Pháp lúc bấy giờ. Chỉ trên cơ sở những sự thật lịch sử được xác minh bằng tư liệu cụ thể, chúng ta mới có thể phân tích và nhận định một cách khoa học.
So với cuộc hội thảo năm 1962 - 1963 và những công trình nghiên cứu trước đây, chúng ta ý thức sâu hơn vai trò của tư liệu và đã cố mở rộng thêm các nguồn tư liệu. Ngoài chính sử của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện..., những thư tịch Hán Nôm, nhiều tác giả đã cố gắng khai thác thêm những sử liệu trong các tác phẩm của PTG, trong các di tích lịch sử và văn học dân gian của quê hương ông, trong các tài liệu lưu trữ của triều đình Nguyễn (Châu bản triều Nguyễn), của quân đội Pháp... Tôi đặc biệt quan tâm những tư liệu của quê hương Bến Tre như tấm bia mộ đơn sơ "Lương Khê Phan lão nông chi mộ", tấm minh sinh ghi lời Phan "Đại Nam hải nhai lão thư sinh tánh Phan chi cửu", những chuyện kể, những truyền thuyết dân gian nói lên chí hiếu học, cuộc sống thanh bạch, lòng liêm khiết, tinh thần yêu nước, thương dân của PTG (4) và qua đó, giúp chúng ta hiểu tấm lòng tôn kính, ngưỡng mộ của nhân dân đối với ông.
Rõ ràng chúng ta còn phải dày công mở rộng và khai thác sâu hơn nữa các nguồn tư liệu về PTG. Cho đến nay, ngay những tác phẩm của PTG được con ông thu thập lại trong hai bộ sách "Lương Khê thi thảo" in năm 1876, có 454 bài thơ) và "Lương Khê văn thảo" (in năm 1876, có 39 bài văn) (5) vẫn chưa được khai thác nhiều. Những tư liệu lưu trữ của triều Nguyễn và của Pháp cũng chỉ mới được tìm tòi, khai thác một phần.
Nhưng cùng với việc mở rộng nguồn tư liệu, chúng ta phải quan tâm đến việc giám định và xử lý tư liệu. Đây là một vấn đề cực kỳ quan trọng về phương pháp luận sử học mà trong hội thảo khoa học của chúng ta, một số tác giả đã nêu lên với sức thuyết phục cao.
Ngay câu nói "Phan, Lâm mãi quốc; triều đình khí dân" mà bao nhiêu tác giả đã sử dụng và dẫn ra như một minh chứng hùng hồn về thái độ lên án của nhân dân đối với PTG và triều đình Nguyễn, thì cho đến nay, nguồn gốc và xuất xứ vẫn chưa rõ. Phải chăng đó là câu đề cờ của Trương Định khi dựng cờ khởi nghĩa vừa chống Pháp xâm lược vừa chống triều đình đầu hàng, nhưng như vậy tại sao không thấy ghi chép lại trong những tác phẩm viết về
Trương Định của những tác giả đương thời như Nguyễn Thông? Phải chăng do nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục đưa ra năm 1907, chỉ là một giả thiết hay suy đoán chưa có căn cứ? Dĩ nhiên sự ra đời và lưu truyền câu nói đó dù trong phạm vi nào, đã phản ánh một thái độ phê phán PTG của một số người nhất định. Nhưng nếu là câu nói của Trương Định thì rõ ràng ý nghĩa của tư liệu khác hẳn. Vì thế, tìm hiểu nguồn gốc và xuất xứ của câu nói vẫn cần đặt ra.
Sử dụng tư liệu của chính sử triều Nguyễn viết về PTG, nhất là quan hệ giữa ông với vua Tự Đức và triều Nguyễn trong trách nhiệm để mất 6 tỉnh Nam Kỳ cũng cần phân tích, giám định. Đại Nam thực lục ghi chép việc ký hoà ước Nhâm Tuất 1862 như là trái ý Tự Đức và bị nhà vua lên án: "Thương thay con đỏ của lịch triều, nào có tội gì? Rất là đau lòng. Hai viên này (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp) không những là người có tội của bản triều mà là người có tội của muôn nghìn đời vậy" (6), "Nghị hoà là thất cơ, lỗi ấy do hai viên kia (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp)" (7). Nhưng cũng chính bộ sử này cho biết rõ, lúc đó Tự Đức đã xác lập đường lối "chủ hoà" và khi cử PTG làm Chánh sứ toàn quyền đại thần "nghị về việc hoà" thì vua tôi đã bàn định kỹ các khả năng kể cả việc cắt đất và bồi tiền. Nếu
PTG tự tiện ký hoà ước trái ý vua thì sao Tự Đức không bắt tội, mà lại cử ông làm Tổng đốc Vĩnh Long và tiếp tục giao phó cho ông nhiều trọng trách giao thiệp với Pháp và năm 1863 chính Tự Đức đã phê chuẩn hoà ước, làm lễ đại triều ở điện Thái Hoà tiếp sứ thần hai nước Pháp, Y Pha Nho để trao đổi văn bản hoà ước. Đó là những lắt léo trong chính sử triều Nguyễn nhằm biện hộ cho Tự Đức và đổi tội cho PTG mà khi sử dụng chúng ta cần giám định cẩn thận
Sử dụng tư liệu của Pháp, nhất là những tư liệu do những chỉ huy quân viễn chinh Pháp và những viên quan cai trị Pháp viết, chúng ta càng phân tích, đối chiếu và giám định kỹ, không những vì lối trình bày khuếch đại "chiến công" của họ, mà có khi còn vì những mưu đồ chính trị thâm hiểm. PTG là một người có uy tín và ảnh hưởng lớn trong nhân dân thì càng dễ trở thành đối tượng lợi dụng của họ và vì mục đích đó, họ không ngần ngại gì bóp méo sự thật hay bịa đặt ra các văn bản giả.
Trong cuộc hội thảo khoa học của chúng ta, có tác giả nêu lên một cách có căn cứ, nghi vấn về bài hịch kêu gọi đầu hàng của PTG với lời "ta đã biên thư cho tất cả các quan và tất cả các vị chỉ huy quân sự là phải bẻ gãy giáo mác và trao lại thành luỹ mà không giao chiến" (7), và thư của PTG gửi cho La Grandière trước lúc tự tử (8). Đó là những tư liệu mà nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng, nhưng chưa ai đặt vấn đề thẩm định tính xác thực và độ tin cậy của nó.
Việc quân Pháp hạ thành Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên tháng 6/1867 cũng như có chỗ khác nhau giữa một số tư liệu của Pháp và của ta. Quan chức Pháp như La Grandière, Paulin, ẸLuro... miêu tả như PTG đã đầu hàng, trao thành Vĩnh Long cho Pháp, rồi viết thư bắt các thành An Giang, Hà Tiên cũng phải nộp thành cho Pháp (9). Nhưng tư liệu của ta như Đại Nam thực lục và nhất là Châu bản triều Nguyễn (10) lại cho thấy một thủ đoạn của quân Pháp, lợi dụng thái độ chủ hoà của PTG và những sơ hở của quân ta, để bất ngờ chiếm thành. Chúng đem chiến thuyền đến áp sát thành Vĩnh Long, đưa thư bắt nhường ba tỉnh miền Tây, buộc PTG xuống tàu thương nghị rồi khi Phan trở lại, chúng kéo theo và bất ngờ đột nhập chiếm thành Vĩnh Long.
Việc chiếm thành An Giang và Hà Tiên cũng diễn ra gần như thế. Đó là lý do chúng chiếm được ba thành quá dễ dàng và không tốn một viên đạn. Tất nhiên để mất ba thành là trách nhiệm không thể thoái thác của Kinh lược sứ đại thần PTG và các tướng giữ thành, nhưng dâng thành đầu hàng giặc hay bị lợi dụng và lừa dối để mất thành lại là hai việc khác nhau liên quan đến phẩm giá con người. Những tư liệu khác nhau như vậy đòi hỏi phải có sự phân tích, đối chiếu và giám định rõ ràng trước khi sử dụng.
Giám định tư liệu là yêu cầu mặc nhiên của công tác sử liệu học, nhưng hội thảo khoa học của chúng ta lần đầu tiên đưa ra yêu cầu đó với những nghi vấn và đề xuất cụ thể về một số tư liệu liên quan đến nghiên cứu con người và sự nghiệp PTG vào những năm tháng thử thách nặng nề nhất trong cuộc đời ông.

3. Đánh giá PTG trước đây người ta thường tập trung vào 5 năm cuối đời ông từ khi ký hoà ước 1862 nhượng ba tỉnh miền Đông đến khi để mất tiếp 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1867. Đó là giai đoạn cuối đời mà ông phải gánh vác những trọng trách nặng nề trong những mâu thuẫn của đất nước và của bản thân phát triển đến cực điểm mà ông không vượt qua được và tự kết thúc bằng cái chết. Trong giai đoạn này tập trung nhiều vấn đề phức tạp cần làm sáng rõ nhất. Nhưng khi xem xét và đánh giá một con người, chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện về toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của con người đó.
Kể từ khi sinh ra năm 1796 đến khi từ trần năm 1867, cuộc đời và sự nghiệp của PTG nên phân định làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn thiếu thời lo ăn học từ 1796 đến khi thi đỗ Tiến sĩ năm 1826.
- Giai đoạn làm quan phụng sự ba triều vua Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, từ năm 1826 đến năm 1862.
- Giai đoạn cuối đời đầy thách thức và bế tắc từ 1862 đến 1867.
Hội thảo của chúng ta nhất trí cho rằng, trước khi tập trung làm sáng rõ những vấn đề giai đoạn cuối đời, cần xem xét và đánh giá con người và sự nghiệp của PTG trong hai giai đoạn đầu trước năm 1862.
Trong buổi thiếu thời, nét nổi bật của con người PTG là hiếu thảo, chăm học, sống thanh bạch cần kiệm. Xuất thân trong một gia đình nghèo khổ, tiên tổ từ Bình Định di cư vào đồng bằng sông Cửu Long và trên quê hương mới cũng qua ba lần thay đổi mới định cư ở thôn Tân Thạnh, huyện Tân An, dinh Long Hồ (sau là huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Cha làm Thủ hạp là một viên chức nhỏ, bị tội oan phải tù 3 năm ở Vĩnh Long, PTG mồ côi mẹ từ lúc lên 7 tuổi, được mẹ kế và nhiều người giúp đỡ cho ăn học thành tài. Năm Ất Dậu 1825, ông thi Hương trường Gia Định, đỗ Cử nhân lúc 30 tuổi (31 tuổi ta). Năm sau - năm Bính Tuất 1826 - ông thi hội, đỗ Tiến sĩ (Đệ tam Giáp đồng Tiến sĩ xuất thân) năm 31 tuổi (32 tuổi ta). Đó là thành đạt lớn mở ra trong bước ngoặt cuộc đời của PTG. Ông trở thành vị Tiến sĩ đầu tiên, vị Tiến sĩ khai khoa của Nam Kỳ lục tỉnh.
Quốc triều hương khoa lục chép: "Ông là người đỗ đại khoa đầu tiên của Nam Kỳ. ông là người có học vấn và đức hạnh đứng đầu đất Nam Trung" (11).
Quốc triều đăng khoa lục nhận xét: "Ông là người đỗ đại khoa trước nhất của Nam Kỳ. Lực học tinh thuần, tính hạnh chính trực" (12).
Với lòng hiếu thảo, hiếu học, tinh thần siêng năng, cần mẫn và trí thông minh, PTG đã vượt qua những khó khăn của cuộc sống, vươn lên vị trí Tiến sĩ khai khoa của đất Đồng Nai - Gia Định, của Nam Kỳ lục tỉnh. Những phẩm giá con người và vị trí thành đạt đó đã làm cho nhân dân Nam Kỳ quý mến và ngưỡng mộ, tự hào về người con của quê hương, biểu thị tinh thần hiếu học của nhân dân ta. Đó cũng là những phẩm chất tốt đẹp thời tuổi trẻ của PTG mà chúng ta cần trân trọng và còn nguyên giá trị giáo dục đối với thế hệ trẻ hôm nay cũng như ngày mai.
Với học vị Tiến sĩ, PTG đi vào con đường hoạn lộ, làm quan trải qua ba triều vua từ Minh Mạng qua Thiệu Trị đến Tự Đức. Từ chức Hàn lâm viện Biên tu thăng Lang trung Bộ Hình năm 1826, ông tiếp tục giữ nhiều chức vụ ở trong triều và nhiều địa phương.
Dưới triều Minh Mạng (1820 - 1840), ông giữ chức Quyền nhiếp trấn Nghệ An (1828), Thự phủ doãn phủ Thừa Thiên (1829), thăng Thị lang bộ Lễ (1829), thăng Hiệp trấn Ninh Bình (1829), đổi về Quảng Nam (1831) dẹp cuộc nổi dậy ở Chiên Đàn bị thua và bị cách chức, rồi được khởi phục làm Hành tẩu Nội các, thăng Thị lang bộ Hộ, Thự phủ doãn Thừa Thiên, thăng Hồng lô tự khanh, sung Phó sứ sang Thanh rồi thăng Đại lý tự khanh, kiêm công việc bộ Hình, sung Cơ mật viện đại thần (1832), Khâm phái đi Trấn Tây, đổi làm Bố chính Quảng Nam (1835), vì can ngăn vua, bị xúc xiểm và bị giáng là thuộc viên lục phẩm (1836), rồi được làm Thừa chỉ Nội các, sung Lang trung bộ Hộ, rồi Thự thị lang sung Cơ mật viện (1836), được cử đi duyệt binh ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, lúc về chuyên biện việc Bộ Hộ vì quên không đóng dấu vào chương sớ bị giáng làm Lang trung, biện lý việc Bộ, phái đi khai mỏ Chiên Đàn, mỏ bạc Thái Nguyên (1838), được triệu về Kinh làm
Thông chính sứ phó ty, rồi Thị lang bộ Hộ, vì can ngăn vua bị giáng làm Thông chính phó sứ (1840), sung làm Phó chủ khảo trường thi Thừa Thiên vì sơ suất bị giáng một cấp (1840).
Dưới triều vua Thiệu Trị (1841 - 1847), ông được thăng Tham tri (1841), rồi thăng Thượng thư bộ Hình sung Cơ mật viện đại thần (1847).
Dưới triều vua Tự Đức (1848 - 1883), cho đến trước năm 1862, ông được đổi sang Thượng thư bộ Lại (1848), sung làm Giảng quan toà Kinh diên, cử làm Kinh lược đại sứ ở Tả Kỳ, lĩnh Tổng đốc Bình Phú, kiêm coi đạo Thuận Thành (1849), làm Kinh lược phó sứ Nam Kỳ lĩnh Tuần phủ Gia Định, kiêm coi tỉnh Biên Hoà và các đạo Long Tường, An Hà (1851), được triệu về kinh thăng Thự hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Thượng thư bộ Hình, sung Cơ mật, Kinh diên (1853), làm Chánh tổng tài Quốc sử quán (1856) (13).
Qua hành trạng tóm lược trên, cuộc đời làm quan của PTG có những bước thăng trầm, có lúc bị cách chức, bị cách chức, nhưng trong bất cứ cương vị nào ông cũng luôn luôn trung thành, mẫn cán, lo làm tròn sứ mạng phò vua, giúp nước, an dân theo quan niệm của Nho giáo. Ngoài tài năng, phẩm giá đáng quý ở PTG là tấm lòng yêu nước thương dân, tính ngay thẳng cương trực và cuộc sống cần kiệm thanh bạch. Làm quan có lúc đến nhất phẩm triều đình, nhưng quyền lực và danh vọng không làm ông bị tha hoá như nhiều quan chức khác, trước sau ông vẫn giữ nhân cách cao đẹp của mình.
Với tính cương trực và ý thức trách nhiệm trước nước, trước dân, PTG đã dám can ngăn vua dù bị mang hoạ vào thân. Năm 1836, ông đã can ngăn vua Minh Mạng đi tuần du Quảng Nam vì năm đó mất mùa lại đang lúc cày cấy, "hãy xin tạm đình cho dân được chuyên việc đồng ruộng" (14). Năm 1840, Vương Hữu Quang có tội, đình thần dựa theo ý vua, có người xin xử tội chém, có người xin xử tội lưu, ông dám xin nhà vua chỉ xử giáng 2 cấp lưu (15).
Những năm 1843, 1849, 1852, 1853, 1859, PTG dâng sớ lên vua, nói lên thực trạng của đất nước về kinh tế, xã hội và đề xuất những chính sách nhằm "dựa vào pháp luật mà cai trị", "quan tốt mà dân yên", "chỉnh đốn thói quen của sĩ phu", ""chữa hồi bệnh đau khổ của nhân dân", "nuôi dân chăm cày cấy", "nuôi quân trù phương lược", "binh giỏi lương đủ như nguồn nước chảy mãi không hết"... (16). Năm 1838, được cử đi khai mỏ vàng Chiên Đàn ở Quảng Nam rồi mỏ bạ Tống Tinh ở Thái Nguyên, PTG đem thực trạng thua lỗ tâu trình lên để nhà vua bãi bỏ việc khai mỏ vàng Chiên Đàn và chuyển mỏ bạc Tống Tinh cho thương nhân lĩnh trưng (17).
Tự Đức đã khen PTG là người "liêm bình chính cán" (1852), là "thanh liêm, cẩn thận" (1856).
Ngoài các hoạt động chính trị, PTG còn có những cống hiến về mặt văn hoá.
Năm 1856, PTG được cử làm Tổng tài phụ trách công việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Trong 3 năm (1856 - 1859), ông cùng nhóm biên soạn đã hoàn thành công việc biên tập, nhưng sau đó còn phải "duyệt nghĩ" (1871), "duyệt kiểm" (1872), "phúc kiểm" (1876), "duyệt đính" (1878), "kiểm duyệt" (1884), đến năm 1884 mới được khắc in và ban hành. Đó là bộ quốc sử đồ sộ, viết theo lối "cương mục", chép lịch sử dân tộc từ đời Hùng Vương cho đến năm Chiêu Thống 3 (1789), gồm cả thảy 52 quyển. Bộ sử biên soạn trên quan điểm Nho giáo kết hợp với tinh thần dân tộc, với những "lời chua" nhằm chú giải tên đất, tên người và giám định một số sự kiện, niên đại trên cơ sở khảo chứng công phu, và những "Lời phê" của Tự Đức. Khâm định Việt sử thông giám cương mục cùng với Đại Việt sử ký toàn thư (chép sử từ nguồn gốc đến năm 1675) là hai bộ quốc sử lớn nhất được khắc in toàn bộ trong thời đại phong kiến Việt Nam. Về phương diện này, chúng ta cần ghi nhận cống hiến to lớn của PTG và với bộ quốc sử này, ông là một nhà sử học lớn (18).
PTG còn là nhà thơ, nhà văn mà những tác phẩm còn lại đã được các con ông thu thập và khắc in thành hai bộ "Lương Khê thi thảo" và "Lương Khê văn thảo". Tuy chưa được dịch và nghiên cứu đầy đủ, nhưng một vài tham luận trong hội thảo khoa học của chúng ta cũng đã cho thấy rõ thêm tâm hồn và tài năng cũng như tư tưởng và tình cảm thắm thiết của ông đối với quê hương xứ sở, đối với dân với nước được gởi gắm trong thơ văn của ông.
Ông cùng Nguyễn Thông có công xây Văn Thánh Miếu và lập Văn Xương Các ở Vĩnh Long sau khi mất 3 tỉnh miền Đông để qui tụ các sĩ phu về đây. PTG là một trong những nhà thơ, nhà văn lớn của Nam Kỳ. Như vậy là cho đến trước năm 1862, PTG đã có nhiều hoạt động chính trị và văn hoá. Tất cả các tham luận và thảo luận trong hội thảo đều gần như nhất trí biểu thị sự trân trọng và đánh giá cao những cống hiến tích cực của ông trong thời gian này, nhất là nhân cách và phẩm giá cao quý của ông.
4. Năm năm cuối đời (1862 - 1867) là giai đoạn gian truân, đầy uẩn khúc của PTG và cũng là giai đoạn tập trung nhiều vấn đề tranh luận nhất của cuộc hội thảo.
Những vấn đề chính được đặt ra là trách nhiệm của PTG trong việc ký hoà ước 1862 nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, trong việc để mất 3 tỉnh miền Tây năm 1867 và cái chết của ông, mối quan hệ trách nhiệm giữa PTG với vua Tự Đức và triều Nguyễn.
Về tư liệu và một số sự kiện liên quan cũng được nêu lên để cố gắng tìm ra sự thật lịch sử bấy lâu nay bị che phủ trong màn sương mù của những tài liệu ghi chép lắt léo một cách dụng ý, thậm chí cả sự bịa đặt và bóp méo mà chưa hề được thẩm định một cách khoa học (đã trình bày trong phần 2). Hội thảo lưu ý các nhà khoa học nên tiếp tục dày công tra cứu, giám định tư liệu để sớm đưa ra ánh sáng những sự việc bị che đậy nhằm trả lại cho lịch sử những sự thật lịch sử và có đủ cơ sở khách quan hơn trong việc nhìn nhận và đánh giá PTG một cách công minh.
Cho đến lúc này, trong chúng ta vẫn còn những khía cạnh bất đồng hay khác biệt, và ai cũng mong muốn được tiếp tục nghiên cứu và trao đổi. Tuy nhiên, chúng ta cũng rất vui mừng nhận thấy qua hai ngày hội thảo, chúng ta đã làm sáng tỏ được những vấn đề đặt ra và đi đến sự nhất trí về cơ bản trong nhận thức và đánh giá PTG vào 5 năm cuối đời ông.
Hoà ước năm Nhâm Tuất 1862 gồm 12 điều khoản, trong đó điều cơ bản là triều Nguyễn nhượng hẳn cho Pháp 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường cùng đảo Poulo Condor (Côn Đảo) và chịu bồi thường chiến phí 4 triệu đồng bạc trả trong 10 năm, người Pháp và Y Pha Nho được quyền tự do truyền đạo và buôn bán. Rõ ràng đây là một hiệp ước xâm phạm nặng nề đến lãnh thổ của đất nước và chủ quyền quốc gia, đi ngược lại quyền lợi dân tộc và truyền thống dân tộc. Ngay lúc bấy giờ, nhân dân Nam Kỳ và nhân dân cả nước đã tỏ sự bất bình, chống đối lại hoà ước đó và ngày nay cũng không một ai có thể biện hộ được. Nhưng vấn đề là phải chăng PTG và Lâm Duy Thiếp, những người ký hiệp ước, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc nhượng đất đó?
Tự Đức muốn đổ hết trách nhiệm và tội lỗi cho PTG, nhưng tư liệu lấy ngay trong chính sử triều Nguyễn cũng đủ cho chúng ta khẳng định rằng PTG là người thừa hành và thực hiện một chủ trương đã được hoạch định của Tự Đức và triều đình, đồng thời PTG cũng là người đồng tình với chủ trương đó.
Trách nhiệm của PTG ở đây là trách nhiệm của người thừa hành và tất nhiên với cương vị Chánh sứ toàn quyền đại thần, ông cũng có phần trách nhiệm trong việc thương thuyết và thực thi một chủ trương sai lầm của triều đình.
Sau khi hoà ước được ký kết, đình thần cũng chỉ có thể nhận xét và tâu lên vua :"về khoản cắt đất bồi ngân, hai viên ấy đã làm, phần nhiều chưa hợp. Nhưng điều ước mới định, nếu vội sửa đổi ngay, sợ họ còn tức khí", và đề nghị "công việc Nam Kỳ nên chuyển uỷ cho Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp đứng làm" (19).
Trong việc để mất 3 tỉnh miền Tây năm 1867, trách nhiệm của PTG về nguyên tắc có phần nặng nề hơn vì với cương vị Vĩnh Long - An Giang - Hà Tiên kinh lược sứ, ông có trách nhiệm giữ đất và là người được toàn quyền thay mặt nhà vua xử lý mọi việc trong vùng. Nhưng trên thực tế, chủ trương "cầu hoà" và Hoà ước 1862 mà Tự Đức đã phê chuẩn năm 1863, đã đặt PTG và nhiệm vụ giữ đất 3 tỉnh miền Tây vào tình thế cực kỳ khó khăn đến bế tắc.
Về vị trí địa lý, 3 tỉnh hoàn toàn bị cô lập, bị tách ra khỏi địa bàn cả nước bởi 3 tỉnh miền Đông đã ở trong tay quân Pháp.
Hơn thế nữa, trung thành theo Hoà ước 1862 và nhất là sợ người Pháp "nghi ngại", Tự Đức "đem sao lục 12 điều ước cũ, đưa đi treo dán để hiểu bảo cho sĩ dân đều biết, khiến đều yên ở làm ăn", rồi còn "xuống dụ cho cho tỉnh thần ba tỉnh sức khắp các hạt biết, mà các quan phủ huyện một khi trông thấy, tức thì bắt ngay đem giải, nhà dân có ai chứa chấp cũng bắt tội như kẻ phạm tội" (20). Tự Đức nhiều lần ra lệnh "hưu binh", "giải giáp", sai PTG dụ Trương Định, giải tán lực lượng nghĩa binh chống Pháp.
Như vậy là Tự Đức và triều đình đã tự mình tước bỏ mọi khả năng giữ đất 3 tỉnh miền Tây cũng như giành lại 3 tỉnh miền Đông.
Năm 1866, quân Pháp đe doạ chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây, Tự Đức và triều đình một mặt "khiến 3 tỉnh ấy một lòng chống giữ", mặt khác lái thấy "thế đất cheo leo, muốn giữ cho không lấn cũng khó" và "xin tư cho quan Kinh lược không đánh nhau với quân Pháp, tự phải rút lui" (21). Những chủ trương và giải pháp của triều đình như vậy ắt dẫn đến hậu quả tất nhiên là không thể nào giữ được 3 tỉnh miền Tây.
Tư liệu lịch sử của ta cho thấy PTG không phải đầu hàng, nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu Pháp, nhưng việc mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả tai hại của những chủ trương sai lầm của Tự Đức và triều Nguyễn, trong đó dĩ nhiên có trách nhiệm bản thân PTG.
Cuối cùng cái chết của PTG có thể coi là sự kết thúc những năm cuối đời đầy bi kịch của ông trong bi kịch chung của đất nước dưới triều Nguyễn.
PTG là người yêu nước, thương dân, nhưng cũng là một tín đồ của Nho giáo với lòng trung quân sâu nặng. Vào thế kỷ XIX, Nho giáo vẫn còn giữ một số ảnh hưởng tích cực trên một số phương diện nào đó về mặt đạo đức và cách xử thế, nhưng hệ tư tưởng Nho giáo thì tỏ ra quá bảo thủ và lỗi thời, không còn khả năng giúp con người nhận thức, lý giải và giải quyết những vấn đề mới của đất nước, của dân tộc trong bối cảnh phát triển mới của thời đại.
Trước hoạ xâm lược của thực dân Pháp đến từ một nước tư bản phương Tây, từ một nền văn minh công nghiệp với nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân, với lối đánh chưa từng có trong binh thư phương Đông, vua tôi triều Nguyễn tỏ ra rất bị động, lúng túng. Trong triều thì người "chủ chiến", người thì "chủ hoà", người thì "lo chống giữ lâu dài", người thì "chẳng chiến cũng chẳng hoà" và không ít người chẳng đưa ra được chính kiến gì. Vua Tự Đức đi từ chống đỡ yếu ớt và đến thất bại, đến "chủ hoà" thương lượng và nhượng bộ dần đất đai và chủ quyền cho giặc.
Đây là lần đầu tiên dân tộc ta phải đương đầu với một đối tượng xâm lược mới, trong một bối cảnh lịch sử mới mà những kinh nghiệm cổ truyền cần được vận dụng trong một phương thức đấu tranh mới.
"Chủ chiến" nhưng nếu chỉ biết đánh, không biết dựa vào dân để đánh lâu dài và kết hợp lo canh tân để tăng cường tiềm lực đất nước thì cũng khó giữ được nước.
"Chủ hoà" mà chỉ lo thương thuyết, cầu xin giặc, không dám dựa vào dân, không lo canh tân đất nước thì chỉ dẫn đến thất bại và đầu hàng. Con đường "chủ hoà" theo cách của Tự Đức và triều Nguyễn là con đường thất bại chủ nghĩa, đã dẫn đến hậu quả nhượng ba tỉnh miền Đông rồi để mất 3 tỉnh miền Tây của Nam Kỳ lục tỉnh, và sau đó tiếp tục đưa đất nước đến bại vong.
Với hệ tư tưởng Nho giáo bảo thủ, triều Nguyễn tự giam mình trong những giáo lý đã chết cứng của Thánh hiền, quay lưng lại mọi trào lưu tiến hoá trên thế giới, khước từ mọi đề nghị canh tân đất nước của những trí thức yêu nước cấp tiến.
Nỗi đau lòng và tính bi kịch của PTG là một mặt ông cùng "chủ hoà" với triều đình, rất mực trung thành với nhà vua, mặt khác ông lại nặng lòng yêu nước thương dân. Mâu thuẫn đó đã đẩy ông đến chỗ bế tắc và chỉ còn biết lấy cái chết để kết thúc cuộc đời và bày tỏ nỗi lòng của mình. Có lẽ tác giả Đại Nam chính biên liệt truyện phần nào đã thấu hiểu lòng ông khi nhận xét :" Thanh Giản là người ngay thực, giữ lòng liêm khiết, làm quan cần mẫn, thận trọng, gặp việc dám nói. Trải thờ 3 triều, vẫn được yêu quý. Đến khi mang cờ tiết đi Nam, thế không làm sao được, biết tội tự uống thuốc độc chết. Thực là ở vào chỗ người ta khó xử. Xem tờ sớ để lại thì lòng trung ái chứa chan ở ngoài lời nói" (22). Đúng như nhiều tác giả đã nhìn nhận, cái chết của PTG là một bi kịch.

Trong hội thảo, chúng ta đã chỉ ra trách nhiệm của PTG trong trách nhiệm chủ yếu thuộc về Tự Đức và triều Nguyễn, nhưng tất cả chúng ta đều nhất trí không nên và không thể gán cho ông cái tội "bán nước" hay "phản bội tổ quốc". Đó là sự qui kết khá nặng nề, không có căn cứ, vừa không đúng với hành động và động cơ của ông, vừa trái với tấm lòng ngưỡng mộ và kính mến mà xưa nay nhân dân quê hương vẫn giành cho ông. Với những kết quả như trên, chúng ta có thể kết luận cuộc hội thảo khoa học của chúng ta đã thành công tốt đẹp. Thành công tốt đẹp không có nghĩa là chúng ta đã giải quyết xong mọi vấn đề liên quan đến PTG và nhất trí với nhau về mọi khía cạnh trong nhìn nhận và đánh giá PTG. Sử học là một khoa học mà nhận thức về đối tượng của nó là một quá trình tiến dần đến chân lý, nhưng không thể một lúc nắm bắt toàn bộ chân lý. Cuộc hội thảo của chúng ta đánh dấu một bước mới trong nhận thức và đánh giá về PTG, nhưng đồng thời cũng mở ra nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứu và thảo luận.
Qua cuộc hội thảo này, chúng ta thấy rõ những mặt hạn chế và bế tắc của PTG, nhưng đồng thời chúng ta cũng trân trọng ghi nhận những cống hiến tích cực của ông trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp, đánh giá cao nhân cách và phẩm chất cao quý của ông.
Chúng tôi hy vọng kết quả của cuộc hội thảo sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn cuộc đời và sự nghiệp một con người mà từ khi nhắm mắt cho đến nay luôn luôn đứng trước những sự đánh giá mâu thuẫn gay gắt trong khen và chê, trong bình luận công và tội. Chúng ta còn tiếp tục nghiên cứu và thảo luận, nhưng những gì đạt được trong hội thảo nói lên lòng mong mỏi của chúng ta muốn trả về cho PTG những giá trị và những hạn chế đích thực của ông, muốn có sự nhìn nhận khách quan, công minh và thoả đáng. Những kết quả và thái độ của hội thảo chắc sẽ giải toả phần nào những mặc cảm bấy lâu đè nặng lên tâm tư của nhiều người, kể cả con cháu PTG và con cháu Trương Định, những người "chủ chiến" đã kiên quyết chiến đấu chống Pháp xâm lược và đã hy sinh vì tổ quốc, vì nhân dân.

Kết quả cuộc hội th&


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 6 2007, 03:47 AM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





Cụ VÕ TRƯỜNG TOẢN


user posted image


user posted image


15 tháng 12 năm 1865 ,Một số sĩ phu yêu nước trong đó có Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông tổ chức di dời hài cốt của Sùng Ðức Võ Trường Toản từ Hòa Hưng, huyện Bình Dương (lúc bấy giờ đã bị giặc Pháp chiếm) về táng ở làng Bảo Thạnh, huyện Ba Tri (Bến Tre lúc này còn là vùng đất tự do). Phan Thanh Giản làm bài văn bia, Nguyễn Thông viết bài văn thuật lại buổi lễ cải táng.

user posted image

Khu Di Tích và Mộ Cụ VÕ TRƯỜNG TOẢN (xả Bảo Thạnh, Ba Tri, Bến Tre )



Tiểu sử cụ Võ Trường Toản - Nhà văn hóa bậc thầy của Sài Gòn xưa

Tiểu sử cụ được Phan Thanh Giản tóm tắt như sau: "Tiên sinh tính Võ, húy Trường Toản; đời trước hoặc nói là người Thanh Kệ (Thừa Thiên), hoặc nói là người Bình Dương (Gia Định), trước học ai hiện chưa rõ. Chỉ biết sở học của tiên sinh đã tới bậc dày dặn, đầy đủ, chất thật, có thuật nghiệp uyên thâm, thông đạt. Xảy hồi biến động Tây Sơn, tiên sinh ở ẩn, mở trường dạy học, học trò kể có mấy trăm. Ngô Tùng Châu là môn sinh cao đệ nhất. Bậc thượng hạng là các ông Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhơn Tĩnh. Bậc danh sĩ là ông Chiêu, ông Trúc, ở ẩn dật, ngoài ra không kể hết được. Các ông ấy đều gặp hồi phong vân, thời trung hưng..., thảy đều nên công nghiệp lớn trong đời.

"Lúc vào Gia Định, Nguyễn Ánh thường triệu tiên sinh tới đàm đạo. Lại nghe tiên sinh học rộng khắp các kinh, và sở trường nhất là bộ Tứ Thư. Ông Chiêu là nhà túc nho ẩn dật học theo tiên sinh, học thấu nghĩa tri ngôn dưỡng khí... Sở học của tiên sinh thật là rộng lớn và tinh vi vậy, dẫu đọc bất cứ ngàn muôn kinh sách nào cũng rõ được nghĩa lý.

"Tiên sinh không hứng ra làm quan, nên đại khái không thấy được sự nghiệp. Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều nhân tài mà còn truyền thuật, giảng luận trao dồi về sau, tới nay dân gian trong 6 tỉnh Nam Kỳ vẫn tỏ lòng trung nghĩa, cảm phát dám hy sinh tới tính mạng. Xét ra tuy nhờ đức thân nhân của quân vương nhuần gội, cố kết nhân tâm, nhưng nếu không có đức công mở mang huấn dục của tiên sinh từ thuở trước thì làm sao có được nhân tâm như thế.

Đúng vậy, Võ tiên sinh là người ẩn dật, không làm quan với cả Tây Sơn lẫn chúa Nguyễn. Ẩn dật với chính quyền - bất kể chính quyền nào cả Tây Sơn lẫn chúa Nguyễn- mà không ẩn dật với xã hội: tiên sinh đã mở trường dạy bảo hàng trăm học sinh, nhiều người đỗ đạt làm quan lớn, nhiều người chỉ học để sống có đạo lý. Song tất cả đều là hào khí Đồng Nai. Hào khí ấy, được tiên sinh hun đúc cho người đương thời và còn tồn tại mãi về sau.

Gia Định tam gia là 3 nhà văn thơ rất nổi tiếng ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đều là học trò của Võ tiên sinh, gồm có: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh. Thơ văn của 3 nhà thơ này đã in thành sách Gia Định tam gia thi tập còn truyền đến nay. Nhóm thi văn tao đàn Hội Sơn xưa ở Sài Gòn cũng từng theo học Võ tiên sinh, họ là: Chỉ Sơn Trịnh Hoài Đức, Hối Sơn Hoàng Ngọc Uẩn, Nhữ Sơn Ngôn Nhơn Tĩnh, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng...

Nếu Trịnh Hoài Đức làm "chủ soái" Gia Định tam gia và Hội Sơn thì Ngô Nhơn Tĩnh lại đứng đầu Bình Dương thi xã nổi danh phong nhã. Tĩnh là người "viết đẹp, vẽ tài" nhất đương thời. Học trò của Võ Trường Toản không phân biệt người Việt hay Minh Hương, trong số này nổi danh hơn cả là Trịnh Hoài Đức gốc Phước Kiến và Ngô Nhơn Tĩnh gốc Quảng Đông.

Họ là bọn xuất sĩ, không chỉ làm thơ văn yêu nước, mến cảnh Sài Gòn, mà còn đem tài năng ra thi thố lập được nhiều công danh, như Ngô Tùng Châu từng làm sư phó dạy Hoàng tử Cảnh, Trịnh Hoài Đức làm thượng thư bộ Lại kiêm bộ Binh, Lê Quang Định làm thượng thư bộ Hộ kiêm quản Khâm thiên giám, Ngô Nhơn Tĩnh làm thượng thư bộ Công lãnh chức Hiệp trấn thành Gia Định... Họ cũng cầm đầu ngành ngoại giao: Năm 1801, chánh sứ Trịnh Hoài Đức cùng hai phó sứ Ngô Nhơn Tĩnh và Hoàng Ngọc Ẩn đi sứ Trung Quốc để báo tin thắng thế; năm 1802, chánh sứ Lê Quang Định cũng đi Trung Quốc để cầu phong và xin đổi quốc hiệu (bỏ tên An Nam, lấy tên Nam Việt, nhưng vua Thanh chỉ nhận đổi là Việt Nam); năm 1807, chánh sứ Ngô Nhơn Tĩnh đi La Bích để phong vương cho vua Chân Lạp. Ngoài ra, họ còn trước tác các công trình "khoa học sử địa": Trịnh Hoài Đức với Gia Định thành thông chí, Lê Quang Định với Đại Việt thống nhất dư địa chí, Ngô Nhơn Tĩnh (và chủ biên Bùi Dương Lịch) với Nghệ An phong thổ ký. Ở thời điểm này, phi những học trò của Võ Trường Toản đã thấm nhuần nền giáo dục "thật chất, có thuật nghiệp uyên thâm, thông đạt", khó ai thực hiện được những công trình khoa học và bác học ấy.

Thế nên, "từ những học trò đỗ cao, quan sang (ấy) cho đến những người như Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị (có thể kể thêm Hồ Huấn Nghiệp, Bùi Hữu Nghĩa, Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Học Lạc...) sở dĩ đã giữ tròn tiết tháo khi nước nhà bị xâm lăng, đều là người có chịu ảnh hưởng của cụ". Lúc 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ mất vào tay Pháp, nhóm sĩ phu Phan Thanh Giản (cũng gốc Minh Hương), Nguyễn Thông, Phạm Hữu Chánh, Võ Gia Hội, Trương Ngọc Lang liền lo việc dựng mộ bia và di chuyển hài cốt Võ tiên sinh từ làng Hòa Hưng (Chí Hòa nay) về làng Bảo Thạnh (tỉnh Bến Tre) nơi quê hương Phan Thanh Giản. Nhưng lúc bia đang dựng thì thực dân Pháp đã chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Trên mộ bia ở Hòa Hưng cũng như ở Bảo Thạnh, vẫn luôn có huy hiệu khắc trên đá Gia Định xử sĩ Sùng đức Võ tiên sinh do chúa Nguyễn Ánh truy tặng. Đây là xử sĩ có công đầu trong sự nghiệp kiến tạo hào khí Đồng Nai, nơi có "nhiều người trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dù hàng phụ nữ cũng thế".




Võ Trường Toản
(?-1792)

Đền thờ Võ Trường Toản Võ Trường Toản người huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (không rõ năm sinh, cũng như không rõ gốc gác, chỉ biết ông là người học rộng, tài cao, thông đạt kim cổ...).
Trong thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê, mở trường dạy học, từ chối mọi điều ban phát, không tham gia vào chính sự. Trong hàng trăm học trò do ông đào tạo, có những người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Lê Bá Phẩm... Những nho sĩ tiết tháo thuộc thế hệ sau như Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị cũng chịu ảnh hưởng về đạo đức, học phong, sĩ khí của nhà giáo họ Võ.

Võ Trường Toản mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý, tức 27-7- 1792. Để tưởng nhớ công đức của thầy, học trò cũ mà ông đã tặng đôi liễn:

"Sinh tiên giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử
Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong"

(Dịch nghĩa: Lúc sống dạy dỗ được người, không con cũng như có. Chết, tiếng tăm còn để, mất mà chẳng mất).

Khi ba tỉnh miền Đông rơi vào tay giặc Pháp, một số sĩ phu ở Gia Định (trong đó có Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Phạm Hữu Chánh, Trương Gia Hội) không muốn cụ Võ Trường Toản nằm lại trong vùng bị tạm chiếm, đã chủ trương dời phần mộ về làng Bảo Thạnh (nay thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri) ngày 15-12-1965 (1). Văn bia dựng tại ngôi mộ do Phan Thanh Giản soạn. Sau đó, Nguyễn Thông, lúc bấy giờ là Đốc học tỉnh Vĩnh Long, đã viết lời tường thuật cuộc cải táng được khắc ở mặt sau bia.

Những trước tác của cụ Võ Trường Toản hầu như bị thất lạc... đến nay chỉ còn lưu truyền một bài phú duy nhất, bài Hoài cổ dài 24 câu. Với bút pháp cổ điển - những điển tích, hình ảnh đều lấy từ sử sách của Trung Hoa – tác giả bài phú muốn ký thác vào đó tâm sự cùng quan niệm về đời, về người cùng những gì mà ông đã chứng kiến trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.

Chú thích:

(1) Lúc này, 3 tỉnh miền Tây còn là vùng đất tự do, Ba Tri lúc ấy thuộc tỉnh Vĩnh Long.





--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 6 2007, 04:34 AM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





Cụ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU


Cám ơn hình ảnh của Trúc Giang về lăng cụ Nguyễn đình Chiểu

Một vài hình ảnh lăng cụ Nguyễn Đình chiểu

1/- Hình họa

user posted image

3/-Khung viên phía trước lăng

user posted image

5/- Cổng lăng

user posted image

6/-Tóm lược tiểu sử :

user posted image





--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 6 2007, 04:58 AM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21






Cụ Pétrus TRƯƠNG VĨNH KÝ







Trương Vĩnh Ký
(Đinh Dậu 1837 - Mậu Tuất 1898)


Học giả, tự là Sĩ Tải, trước tên là Chánh Ký, sau đổi là Vĩnh Ký. Ông vốn theo đạo Thiên Chúa, có tên thánh là Jean Baptiste, hay Pétrus Ký. Quê ở thôn Cái Mơn, xã Vĩnh Thanh, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre).

Ông hiếu học có tiếng, ngay từ bé đã thông chữ Hán, Quốc ngữ, được một linh mục đưa đến Cái Nhum học tiếng La tinh. ít lâu qua học trường đạo Pinhalu ở Campuchia. Khoảng năm 1851 – 1858 được cấp học bổng học ở trường đạo Pénang ở Inđônêxia. Ông thông thạo 15 thứ sinh ngữ, từ ngữ phương Tây và 11 thứ ngôn ngữ phương Đông. Ông cũng là Hội viên Hội nhân chủng và khoa học miền Tây nước Pháp, Hội chuyên học, nói tiếng phương Đông, Hội chuyên khảo văn hóa á châu ... Vì thế, đương thời liệt ông vào hàng 18 nhà bác học trên thế giới.

Năm 1863, ông cùng Tôn Thọ Tường làm thông dịch viên cho phái đoàn Phan Thanh Giảng sang Pháp điều đình chuộc ba tỉnh miền Đông. Sau khi về nước, ông làm chủ bút tờ Gia Định báo (1868). Năm 1886 ông cộng tác với Paul Bert và có lúc dạy tiếng Pháp cho vua Đồng Khánh. ít lâu, ông chán nản rút lui khỏi chính trường (vì cả Pháp lẫn Việt đều nghi kỵ ông) sống cuộc đời đạm bạc chuyên tâm nghiên cứu các môn khoa học nhân văn và ngôn ngữ học. Ông trước tác nhiều thể loại và có một công trình nghiên cứu đồ sộ về học thuật. Năm 1898, ông mất, thọ 61 tuổi, còn để lại đời hơn 100 bộ sách giá trị (vừa bản thảo, vừa sách).

Những tác phẩm chính: "Chuyến đi Bắc Kỳ năm ất Hợi 1875, Chuyên đời xưa, Sử ký An Nam, Sử ký Trung Quốc, Giáo trình địa lý Nam Kỳ, Pháp-Việt tự điển, Việt-Pháp tự điển... Đặc biệt, ông biên soạn bộ Tự điển danh nhân An Nam và các tự điển khác, đồng thời phiên âm rất nhiều sách Nôm giá trị. Bộ Thông loại khóa trình (Miscellannées) do ông chủ biên về văn học cổ Việt Nam Tâm sự, nhân phẩm ông được gởi trọn qua bài Tuyệt bút lúc sắp chết, được nhiều người, nhiều giới cảm phục con người "Thường bả nhất tâm hành chánh đạo": Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai, Xô đẩy người vô giữa cuộc đời. Học thức gởi tên con mọt sách, Công danh rốt cuộc cái quan tài. Dạo hòn lũ kiến men chân bước, Bò xối con sùng chắt lưỡi hoài. Cuốn sổ bình sinh công với tội, Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.


Nhà Bác Học Petrus Trương Vĩnh Ký

Hằng năm cứ vào độ từ tháng 4 đến tháng 9 . Dọc theo bờ sông Hàm Luông đổ về Thị Xã Bến Tre . Hàng loạt ghe bầu , đò , thuyền chở đầy trái cây ngon ngọt : Xoài , Cam , Quít , Lôm Chôm , Bòn Bon , Sầu Riêng , Mít , Mận , Ổi . Nhưng nỗi tiếng và ngon nhất , là phải nói đến các loại trái cây được trồng ở Cái Mơn . Quê hương nhà Bác Học Nỗi Tiếng Việt Nam - Ông Petrus Ký . Vì các giống trái cây nầy đã được ông mang từ các xứ phía Nam của Việt Nam [ Indonesia - Malesia ] về trồng nơi ông sinh trưởng . Năm nào cũng vậy . Ông Petrus Ký đã đem lại nụ cười hạnh phúc cho người dân Bến Tre . Đội ơn ông đã phát triển nền kinh tế nông nghiệp trong vùng , người dân Cái Mơn lập đền thờ ông quanh năm khói hương nghi ngút .

Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt.
Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm .


Đây là hai câu đối chữ Nho đã được trang trọng khắc ở cổng trường Trung Học Petrus Ký . Ngôi trường nổi tiếng ở Sài Gòn - Hòn Ngọc Viễn Đông , một ngôi trường đã đào tạo biết bao thế hệ thanh niên ưu tú cho nước nhà trong các thập niên trước năm 1975 .

Ông Petrus Ký là người đầu tiên đã khởi xướng nền học thuật mới , tổng hợp hai nền Văn Minh Âu Tây với Văn Hoá Á Đông . Tinh thần Petrus Ký là sự phối hợp tài tình nghệ thuật làm người Đông Phương và Văn Minh Khoa Học Tây Phương .
Ông mất ngày 1 tháng 9 năm 1898 tại một căn nhà nhỏ quạnh hiu vùng Chợ Quán . Để lại muôn vàn thương tiếc và cảm phục của muôn vạn người bạn cũng như thù . Để tỏ lòng tri ân ông , các Nhân Sĩ Miền Nam đã quyên góp tiền bạc đúc tượng ông bằng đồng . Một tượng toàn thân của ông với áo dài khăn đóng , ngực đầy huy chương được đặt trang trọng ở công viên bên cạnh Dinh Độc Lập , và một tượng bán thân của ông được đặt ở trường Petrus Ký - ngôi trường nổi tiếng Việt Nam được hãnh diện mang tên ông . Mộ của ông ở trong khuôn viên nghĩa trang gia đình ông tại số 520 đường Trần Hưng Đạo . Sài Gòn .

Trương Vĩnh Ký ( 1837- 1898) , người xã Cái Mơn , quận Đôn Nhơn , tỉnh Bến Tre . Con thứ ba của ông Trương Chánh Thi và bà Nguyễn thị Châu . Là một học giả nổi tiếng trong khoảng hậu bán thế kỷ thứ 19 . Ông mồ côi cha từ thuở ấu niên . Khi cha mất đi ông được mẹ hết lòng nuôi dạy . Lúc 6 tuổi theo học chữ Nho , rồi học chữ Quốc ngữ . Với tư chất thông minh , ông biết rất nhiều ngoại ngữ như : Pháp , Hán , Xiêm , Lào , Miên , Hy Lạp , La Tinh , Anh , Nhật , Ấn Độ . Ông giảng dạy và là giám đốc trường Thông Ngôn trong khoảng 1864-1868 . Tháng 8 năm 1869 , ông trông coi bài vở cho tờ " Gia Định Báo " ra đời năm 1865 , tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở nước ta , với dụng ý truyền bá Quốc ngữ , trau dồi văn chương nước nhà . Từ năm 1873 , ông dạy chữ Hán và Quốc ngữ tại trường Tham Biện , hai năm sau ông được cử làm chánh đốc học của trường .

Sự nghiệp văn học của ông gồm có :

Phiên âm văn Nôm , khảo cứu về khoa học , Văn Hoá , và chế độ nước nhà , sưu tầm ca dao , tục ngữ , cổ tích của ta , dịch thuật ngoại văn ra Quốc ngữ ... Các tác phẩm của ông có thể chia làm hai loại , phần lớn là sách Giáo Khoa :

Loại sáng tác , khảo cứu , sưu tập chú giải gồm có Bài hịch con quạ , Bất cượng chớ cượng làm chi , Phép lịch sự Annam , Kiếp phong trần , Lục súc , Ước lược truyện tích nước Annam , Chuyện đời xưa , Chuyện khôi hài , Phong hoá điều hành ( gồm 75 truyện ) , Cờ bạc nha phiến , Thạnh Suy bỉ thới , Học trò khó phú , Dư đồ thuyết lược , Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1875) Sách dạy chữ Quốc ngữ , Sách dạy chữ Nho , Mẹo luật dạy tiếng Pha-lang-sa , và rất nhiều sách viết bằng Pháp ngữ ..

Loại phiên dịch chú giải văn Hán Nôm ra chữ Quốc ngữ gồm có Kim Vân Kiều , Đại Nam Cuốc sử Kí Diễn Ca , Gia huấn ca của Trần Hy Tăng , Lục súc tranh công , Nữ Tắc , Thơ dạy làm dâu , Huấn nữ ca của Đặng Huỳnh Trung , Phan Trần truyện , Lục Vân Tiên truyện , Trương Lưu Hầu phú , Tam tự kinh , Minh tâm bửu giám , Tứ thư, Đại học , Trung , Luận ngữ và Mạnh Tử .

Tài liệu tham khảo : Đặc San PETRUS KÝ năm 2000

Kính xin quí Thầy Cô và thân hữu bổ túc thêm . Vì Sự nghiệp và giai thoại về nhà Bác Học Trương Vĩnh Ký thật là vĩ đại và bao la .

Thân kính .

BàGiàNhàQuê CôEm66 Sưu Tầm


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 6 2007, 07:21 AM
Gửi vào: #5


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





Cụ TRƯƠNG TẤN BỬU

Trương Tấn Bửu
(1752-1827)

Quan nhà Nguyễn, còn có tên khác là Long, sinh năm 1752 tại làng Hưng Lễ, tỉnh Vĩnh Long ( nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre), mất năm 1827.

Năm 1787, ông theo Nguyễn Phúc ánh làm cai cơ. Năm 1790, ông đổi qua tiền quân, tước Long Vân hầu, tiền quân Phó tướng. Năm 1802, khi Nguyễn ánh lên ngôi, ông làm hưởng Dinh đóng quân ở Bắc Thành.

Năm 1806, ông có công trong việc dẹp bọn cướp biển, được làm Trung quân kiêm tả quân Phó tướng, quyền lãnh chức Tổng trấn Bắc Thành, thay Lê Chất. Năm 1810, ông được bổ vào Gia Định ,quyền lãnh chức Tổng Trấn. Năm 1812, ông làm Phó Tổng Trấn Gia Định.

Năm 1816, được điều về đốc xuất đắp thành Châu Đốc. Năm 1821, ông làm Phó Tổng trấn Gia Định lần thứ hai. Năm 1822, được thăng Chánh Nhất phẩm.

Năm 1923, ông trông nom việc vét kinh Vĩnh Tế cùng với Nguyễn Thoại. Tại Phú Nhuận hiện nay còn miếu mộ của ông.





--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 6 2007, 07:26 AM
Gửi vào: #6


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





Cụ PHAN VĂN TRỊ


Phan Văn Trị
(1830 - 1910)

Nhà thơ Việt nam, thường gọi là Cử Trị. Sinh năm 1830. Quê qúan ở làng Hưng thạnh, huyện Bảo an, tỉnh Bến tre; sau về cư ngụ ở làng Bình cách, huyện Phong điền, tỉnh Cần thơ.

Năm 1849 đỗ cử nhân. Cảm thời cuộc rối ren, ông không ra làm quan, sống đạm bạc ở quê.

Khi giặc Pháp xâm lược Nam kỳ, ông cùng các sĩ phu yêu nước khởi xướng phong trào "tỵ địa", tích cực cổ động nhân dân chủ trương kháng chiến, cảm hóa những kẻ lầm đường lạc lối (như Lê Quang Chiểu). Ông có những người bạn tâm giao như: Nguyễn đình Chiểu, Hùynh Mẫn Ðạt; Bùi Hữu Nghĩa; Nguyễn Thông; Hồ Huân Nghiệp....

Sau này, ông về ở ẩn, dạy học; dùng ngòi bút làm vũ khí chống Pháp. Ông có công đầu và nổi tiếng trong cuộc bút chiến chống Tôn Thọ Tường- người bạn thơ nay cam tâm làm tay sai cho giặc. Ông mất năm 1910.

Phan văn Trị sáng tác nhiều nhưng chưa sưu tầm được hết. Thơ văn ông đầy tính chiến đấu, thanh cao, có khí tiết.



Chống Tôn Thọ Tường

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ.
Người trí mang lo danh chẳng chói,
Ðứa ngu luống sợ tuổi không chờ.
Bài hòa đã sẵn in tay thợ,
Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ.
Chưa trả thù nhà,đền nợ nước,
Dám đâu mắt lấp với tai ngơ

Tai ngơ sao đặng lúc tan tành,
Luống biết trách người,chẳng trách mình.
Ðến thế còn khoe đàng đạo nghĩa,
Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh.
Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có,ắt danh tua phải có,
Khuyên người ái trọng cái thân danh.

Thân danh chẳng kể,thật thằng hoang,
Ðốt sáp nên tro lụy chẳng màng.
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa,
Một nhà danh giá xóa tan hoang.
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc,
Người khó xăng xăng mới gặp vàng.
Thương kẻ đòng văn nên phải nhắc.
Dễ đâu ta dám tiếng khoe khoang.

Phan Văn Trị
( 1830-1910)




--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 6 2007, 07:54 AM
Gửi vào: #7


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21




SƯƠNG NGUYỆT ANH

user posted image

Sương Nguyệt Anh

Sương Nguyệt Anh, tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Khuê (cũng có tài liệu viết là Nguyễn Thị Xuân Khuê), sinh ngày 1 tháng 2 năm Giáp Tí (1864) tại An Bình Đông (nay là xã An Đức, huyện Ba Tri), là con thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Kế thừa tiết tháo của người cha, Ngọc Khuê đã sớm bộc lộ cả tài năng lẫn nhân cách.

Năm 1888, Nguyễn Đình Chiểu từ trần, lúc ấy Ngọc Khuê 25 tuổi, đang ở với người anh thứ ba là Nguyễn Đình Chúc, tham gia dạy học trò cùng anh. Có một viên tri phủ cậy mối hỏi, nhưng Ngọc Khuê không ưng. Về sau cùng gia đình anh, chuyển sang Cái Nứa (Mỹ Tho), rồi dời về Rạch Miễu ở nhờ nhà ông nghè Trương Văn Mân. Ở đây, Ngọc Khuê kết duyên cùng với một phó tổng sở tại góa vợ tên là Nguyễn Công Tính và sinh được một người con gái đặt tên là Vinh (cô này về sau lấy ông Mai Lương Ngọc sinh ra bà Mai Huỳnh Hoa). Khi con được hai tuổi, thì ông Tính mất. Bà ở vậy nuôi con và mở trường dạy chữ Nho cho học trò trong vùng để sinh sống. Ít lâu sau, bà lên Sài Gòn, làm thơ, viết báo đăng trên tờ Nữ giới chung (Tiếng chuông của nữ giới do ông Trần Văn Chim làm chủ bút. Một thời gian sau, bà thay ông Chim làm chủ bút một tờ báo tại thành phố lớn. Do đó, ở Bến Tre có câu ca:

Đem chuông lên đánh Sài Gòn


Để cho nữ giới biết con ông Đồ.

Trong khi đang làm báo ở Sài Gòn, bà bị đau mắt, phải về nhà của người em thứ bảy là Nguyễn Đình Chiêm ở Mỹ Chánh Hòa (Ba Tri) để chạy chữa, nhưng bệnh tình không giảm. Bà mất tại đây ngày 20-1-1921. Mộ bà lúc đầu chôn ở Mỹ Nhơn, về sau được đồng bào dời về bên cạnh mộ của hai cụ thân sinh bà tại làng An Đức, Ba Tri, nằm trong khu mộ Nguyễn Đình Chiểu ngày nay.

Sinh ra giữa lúc tiếng súng xâm lăng của Pháp bắt đầu nổ trên quê hương, Nguyễn Thị Ngọc Khuê từng chứng kiến những nỗi thống khổ của nhân dân và bộ mặt thật của kẻ thù dân tộc. Bản thân gia đình Nguyễn Đình Chiểu cũng cùng chung số phận ấy. Do đó, thơ của Sương Nguyệt Anh, bên cạnh tính chất trang nghiêm, nho nhã vẫn hàm chứa nỗi niềm thiết tha, ưu tư sâu lắng đối với dân với nước. Ba câu cuối bài thơ tám câu Hội Minh Lang nói lên phần nào niềm thao thức đó của bà:

"Xét phận thần dân chốn lửa than


Nước mắt cô cùng trời đất biết


Biển dâu một cuộc nghĩ mà thương"

Bên cạnh sự đoan trang, nền nếp, bà vẫn có một tác phong giao du phóng khoáng, có quan hệ rộng rãi với nhiều tầng lớp xã hội. Thời con gái cũng như khi đã có chồng con, hay lúc góa bụa, bà vẫn giữ cung cách giao tiếp tự nhiên, cùng đàm luận, họa thơ với những người bạn nam giới như các ông Trần Khải Sơ, Hồ Bá Nguyên, Phủ Học, thầy Bảy Nguyện, và khi cần vẫn biết chối từ lời cầu hôn của kẻ quyền quý để giữ trọn ý nguyện của mình.

Là một người thông Nho, giỏi thơ văn, bà đã làm nhiêu bài bát cú để vịnh cảnh và những bài thơ họa vận với bạn bè, trong đó có những bài vịnh như: Vịnh bạch mai, Tặng sư cô, Hội Minh Lang, Thay lời vợ thầy thuốc, Đoan ngọ nhật điếu Khuyất Nguyên, Tức sự, Tặng biệt ông Trần Khải Sơ, Họa bài ông Hồ Bá Xuyên hay chánh bái Liễu, Họa bài ông Phủ Học, Họa bài thầy Bảy Nguyên. Các cụ già ở Ba Tri còn kể rằng bà có dịch quyển tiểu thuyết Trung Hoa Yên Sơn ngoại sử sang thể lục bát, nhưng nay đã tuyệt bản.

Kế thừa truyền thống gia đình, bà thích làm thơ chữ Nôm hơn là làm thơ chữ Hán. Thơ Sương Nguyệt Anh không đặc sắc, nhưng lời lẽ thanh thoát, dung dị. Tên tuổi của bà được nhắc nhiêu trên văn đàn công khai ở Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ XX. Tên bà được đặt cho một con đường ở quận 1, rợp mát bóng cây dầu và một ngôi trường ở quận 10 (Sài Gòn)



SƯƠNG NGUYỆT ANH
Tên thật của bà là Nguyễn thị Ngọc Khuê, còn gọi là Xuân Khê, tục danh Năm Hạnh, biệt hiệu là Nguyệt Anh. Sau khi chồng chết, bà ghép thêm chữ Sương ở đầu với ngụ ý cương quyết thủ tiết. Từ đó tên và bút hiệu của bà vĩnh viễn là Sương Nguyệt Anh.

Bà sinh năm 1864 tại quê ngoại ở làng An Ðức, quận Ba Trì, tỉnh Bến Tre . Quê quán bên nội thì ở làng Bồ Ðiền, quận Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Nội tổ của bà là ông Nguyễn Ðình Huy vào miền Nam làm Thơ-Lại trong dinh trấn của Tả Quân Lê văn Duyệt. Sau cụ Huy lấy người vợ thứ, quê ở Cầu Kho, thành Gia Định, sinh ra Nguyễn Đình Chiểu, tác giả của tác phẩm: Lục Vân Tiên. Cụ Ðồ Chiểu có vợ là Lê thị Diên, người Cần Giuộc, tỉnh Tân An, hạ sinh được tất cả bảy người con. Bà Nguyệt Anh là người con gái thứ tư của cụ Ðồ Chiểu, nhưng theo cách gọi trong Nam nên người ta gọi bà là cô Năm Hạnh.

Nguyệt Anh sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho giáo thanh bần giữa thời buổi loạn ly, vận nước suy vi, dân tình điêu đứng. Mang trong huyết quản dòng máu bất khuất yêu nước, Nguyệt Anh đã sáng tác nhiều vần thơ có gía trị trong kho tàng văn chương Việt Nam. Số tác phẩm của bà không nhiều, nhưng cũng đủ tiêu biểu ý chí kiên cường của người phụ nữ Việt Nam trước nghịch cảnh gia đình, cũng như nói lên tinh thần yêu nước của người phụ nữ VN tiên phong ở đầu thế kỷ 20 tại miền Nam. Tên tuổi và thơ văn của Sương Nguyệt Anh đã được ghi vào sử xanh.




--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 6 2007, 08:03 AM
Gửi vào: #8


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





Cụ Lãnh Binh NGUYỄN NGỌC THĂNG

user posted image

Di tích lịch sử Đền thờ và mộ thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng



Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc ThăngNguyễn Ngọc Thăng quê làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, năm 1848 giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ. Ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27-6-1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Thi hài ông được đưa về quê bằng ghe, quàn tại một con giồng nhỏ cách chợ Mỹ Lồng gần 1.000m.

Sau khi ông chết, vua Tự Đức có phong sắc, áo mũ và một thanh gươm, nhưng vì chiến tranh nên những di vật này đặt ở đền thờ ông ở ấp Giồng Keo bị hư hỏng, thất lạc.Từ năm 1984, nhân dân địa phương đã đem bài vị của ông vào thờ ở đình Mỹ Thạnh như một vị thần đã có công trong sư nghiệp chống ngoại xâm, tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, nằm bên cạnh đường tỉnh 885, cách thị xã Bến Tre 6,5 km.

Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.




--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 6 2007, 08:19 PM
Gửi vào: #9


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





ÔNG GIÀ BA TRI

user posted image



Ông già Ba Tri


Ông già Ba Tri – thành ngữ ấy từ lâu đi vào trong ký ức dân gian, trong sử sách và đã vượt khỏi địa giới của Bến Tre, trở thành một giai thoại sống động ngợi ca về tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải của các cụ già trong thời kỳ khai hoang, lập ấp, lập làng, ổn định đời sống của cư dân vùng đất ven biển bên cửa Hàm Luông. Câu chuyện gắn liền với việc đắp đập, ngăn sông liên quan đến sự phát triển kinh tế giữa hai làng ở gần nhau trên cùng con rạch Ba Tri. Cũng như những chuyện tranh chấp khác về lãnh thổ, thủy lợi, về bến sông, chợ búa vốn xảy ra thường xuyên dưới chế độ phong kiến, mâu thuẫn của hai dân làng ở nơi đây không giải quyết được, phải kiện lên quan tỉnh Vĩnh Long. Kết quả phân xử của quan tỉnh không làm họ hài lòng, nên dân làng góp tiền gạo, cử ba bô lão mang đơn ra triều đình Huế thưa kiện.

Đường từ Ba Tri đến kinh đô Huế dài cả ngàn cây số và lúc bấy giờ chỉ có hai cách đi: một là đi bằng thuyền, phải chờ mùa gió thuận, chưa nói đến bão tố nguy hiểm xảy ra thường xuyên; hai là bằng đường bộ thì lại lắm đèo, nhiều dốc hiểm trở, đầy cọp, beo và giặc cướp ở dọc đường. Thế nhưng những trở ngại to lớn ấy đã không ngăn được ý chí và quyết tâm của các vị bô lão, đại biểu của dân làng Ba Tri. Các cụ già đã ra tận kinh đô bằng sức của đôi chân, đã tiếp kiến được nhà vua để trình bày mọi lẽ, và cuối cùng các cụ đã thắng cuộc, trở về. Lẽ phải ở về phía dân làng đi thưa kiện.

Câu chuyện trên đây đã lưu truyền trong dân gian và cũng đã được ghi lại trong một số sách như: Monographie de la province de Bến Tre (Chuyên khảo tỉnh Bến Tre) do một người Pháp soạn năm 1929, Kiến Hòa xưa và nay của Huỳnh Minh (1965), Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954) của Nguyễn Duy Oanh (1971). Cũng như các truyện kể lưu truyền trong dân gian, hoặc được người sau ghi lại trên giấy trắng mực đen, thường có nhiều dị bản khác nhau. Truyện kể về Ông già Ba Tri cũng không ra ngoài thông lệ đó. Nếu ở quyển Monographie de la province de Bến Tre và Kiến Hòa xưa và nay chỉ nói đến một ông lão phiếm định, thì ở quyển Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954), tác giả lại đưa ra một ông già cụ thể có tên, họ hẳn hoi, gắn liền với dòng dõi họ Thái Hữu, con cháu hiện nay vẫn còn sống ở xã An Đức, huyện Ba Tri. Tuy nhiên, về tình tiết, diễn biến và kết cục của chuyện thì lại rất giống nhau. Cốt lõi của câu chuyện là sự đề cao tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, kiên trì bảo vệ lẽ phải đến cùng, bất chấp mọi trở lực, hiểm nguy qua hình tượng của các bô lão địa phương - người đại diện cho nguyện vọng, phẩm cách và ý chí của dân làng. Có lẽ đó là điều mà mọi người quan tâm nhiều nhất.

Vượt qua thời gian và không gian, câu chuyện Ông già Ba Tri được người sau thêm thắt một số chi tiết, làm cho giai thoại trở nên sinh động hơn, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những dị bản. Ngày nay, danh từ "Ông già Ba Tri" đã trở thành sự tượng trưng cho đức tính cao đẹp, một biểu tượng về đạo lý sống của nhân dân ở một vùng đất vốn có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất.





--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 11 2007, 08:22 AM
Gửi vào: #10


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21






Tán Kế - Lê Quang Quan

user posted image


Đền thờ Tán Kế tại Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri.



Lê Quang Quan, tự Kế (nên cũng thường gọi là Tán Kế) sinh tại làng Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ông nội ông quê quán ở Bình Định vào đất Ba Tri lập nghiệp. Kế thừa tinh thần thượng võ của ông cha từ nơi quê cũ, ông luyện tập võ nghệ khá tinh thông và khi lớn lên ông đăng lính triều đình.

Sau khi triều đình Huế ký hòa ước 1862, nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, ông cùng với một số binh sĩ khác bất mãn, bỏ ngũ trốn về quê. Trở về Mỹ Chánh, ông đi vận động nhân dân trong vùng, tập hợp trai tráng, rèn vũ khí, luyện tập võ nghệ, chuẩn bị lực lượng chống Pháp ngay trên đất quê nhà. Tháng 6-1867, giặc Pháp chiếm đánh 3 tỉnh miền Tây, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ông đứng ra mộ binh, phát động khởi nghĩa chống Pháp tại vùng Ba Châu (gồm Châu Phú, Châu Thới và Châu Bình), được nhân dân hưởng ứng khá đông. Nghĩa quân do ông lãnh đạo dựa vào địa thế hiểm trở (lúc bấy giờ phần lớn diện tích đất đai là rừng, cây cối rậm rạp) đã gây cho đối phương nhiều tổn thất. Nhưng do sự chênh lệch về trang bị kỹ thuật, lại thiếu kinh nghiệm chiến đấu, lực lượng khởi nghĩa sau nhiều lần đụng độ bị thiệt hại nặng nề. Trước tình thế bị địch bao vây ngày một khó khăn, ông ra lệnh giải tán lực lượng, chỉ chọn một số người thân cận rút vào vùng rừng lau sậy, chà là hoang vu, tạm tránh những mũi tấn công của địch để chờ cơ hội tìm phương sách đối phó. Một tên đào ngũ đã lén báo cho quân Pháp đồn trú gần đó biết nơi ông ẩn náu, và chúng đã bao vây bắt được ông. Sau đó, chúng đưa ông ra hành quyết và đem đầu ông bêu ở chợ Châu Thới, nhằm đe dọa tinh thần dân chúng, vào ngày 11-1-1869. Trong dân gian ở vùng này còn lưu hành giai thoại về cái thủ cấp (của Tán Kế) đựng trong giỏ tre, đôi mắt vẫn biết giận, mở trừng trừng không chịu nhắm.

Cảm phục cái chết của người anh hùng đất Ba Châu, nhân dân nhiều nơi trong tỉnh đã lập miếu thờ ông. Mộ ông xây dựng tại làng Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri. Hiện nay, đền thờ ông được xây dựng khá khang trang tại xã Mỹ Chánh.






--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 11 2007, 04:53 PM
Gửi vào: #11


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





Phan Ngọc Tòng
(1818 - 1868)



Cho đến nay, gia phả về họ Phan vẫn chưa tìm được. Nhưng căn cứ vào các nguồn tư liệu lịch sử thành văn và tư liệu điều tra điền dã ở Ba Tri, ta có thể xác định được như sau: Phan Ngọc Tòng quê ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An, huyện Ba Tri, sau đó là xã An Đức, nay thuộc thị trấn Ba Tri. Phan sinh năm nào, chưa có tài liệu nào ghi rõ, nhưng căn cứ vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc binh Phan Công trận vong của Nguyễn Đình Chiểu, thì ta có thể đoán được ông sinh năm 1818 và hy sinh đêm 6 rạng 7 tháng giêng, Mậu Thìn, tức ngày 30 tháng 1 năm 1868 (Sinh năm mươi tuổi ăn chơi mấy, Quan bảy, tám ngày sướng ích chi).

Năm 1867, quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Vốn là một ông giáo làng, Phan Tòng đứng ra tập hợp dân chúng, tổ chức chống Pháp và được cử làm Đốc binh. Vừa mới nhận chức có 7, 8 ngày (Son đóng chưa khô ấn đốc binh) thì giặc Pháp mở cuộc hành quân về Ba Tri. Đêm đến, chúng cụm lại, đóng quân trên một gò cát có tên là Giồng Gạch (còn gọi là Gò Trụi).

Phan Ngọc Tòng đã chỉ huy nghĩa quân tấn công vào cứ điểm của giặc, với khẩu lệnh khi xung phong thì hô tiếng "Hè" để uy hiếp tinh thần địch. Vì vậy, nhân dân địa phương còn gọi trận đánh này là "trận giặc Hè" . Trong trận đánh giáp lá cà này, Phan Ngọc Tòng đã hy sinh cùng với một số nghĩa quân. Về sau, hàng năm vào ngày này, dân làng An Bình Đông vẫn tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh.

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, xúc động trước tấm gương anh dũng bất khuất, đã viết một mạch 10 bài thơ điếu người chỉ huy nghĩa quân đầu tiên của Bến Tre, đồng thời cũng là người bạn tâm giao, đã ngã xuống một cách oanh liệt, vì sự nghiệp chống xâm lược, trong đó có câu:

Tinh thần hai chữ phau sương tuyết
Khí phách ngàn thu rỡ núi non.


Phần mộ của Phan Ngọc Tòng hiện nằm ở sau đình làng An Bình Đông, huyện Ba Tri.






--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Aug 1 2007, 01:33 AM
Gửi vào: #12


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,612
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8



QUOTE



Nhóm sưu tầm chúng tôi biết rằng

còn nhiều danh nhân đã làm rạng danh Bến Tre,

mà tài liệu thất tán hoặc nhuốm màu sắc, quan điểm ...

nên chúng tôi chờ nghe ý kiến chung ... từ Quý Liệt Vị

(Tài liệu chúng tôi đưa vào từ nhiều nguồn, có khi khác ngược nhau để rộng đường ....)

Kính xin Quý Vị đóng góp thêm, hoặc chỉ dẫn các sai sót

Xin email về:

hochungthuy@gmail.com

Hoặc

trongbtran@yahoo.com


Cám ơn Quý Vị quan tâm



www.bentrehome.net





--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 1 2007, 03:30 AM
Gửi vào: #13


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



Dự Trử1


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 1 2007, 03:31 AM
Gửi vào: #14


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21




Dự Trử2


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 1 2007, 03:32 AM
Gửi vào: #15


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21




Dự Trử3


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 1 2007, 03:33 AM
Gửi vào: #16


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21





Cụ Nguyễn Quyền

(1869 - 1941)

user posted image

Nguyễn Quyền (1869-1941)



Sinh năm 1869 tại làng Thượng Trì, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình nhà nho, Nguyễn Quyền đỗ tú tài Hán học và được bổ nhiệm làm Huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, do đó người ta thường gọi ông là Huấn Quyền. Năm 1907, ông xin từ chức huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, về Hà Nội cùng với một số bạn bè như Lương Văn Can, Ngô Đức Kế, Dương Bá Trạc, Đào Nguyên Phổ, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học… lập Trường Đông Kinh nghĩa thục nhằm truyền bá tinh thần yêu nước, đào tạo học sinh với kỳ vọng dùng con đường văn hóa để đấu tranh với bọn thực dân, khôi phục lại nền độc lập của dân tộc, trong khi các phong trào võ trang lần lượt bị thất bại. Nguyễn Quyền được cử làm giám học trường. Cũng trong thời gian này, ông có sáng tác nhiều bài thơ yêu nước, vận động cổ vũ cho cuộc Duy tân như Cắt tóc, Chiêu hồn nước…

Chín tháng sau ngày khai giảng trường, chính quyền thực dân đánh hơi thấy những hoạt động của nhóm Đông kinh nghĩa thục có ảnh hưởng lớn đến tình hình xã hội bên ngoài và gây nguy hiểm cho chúng, nên tìm mọi cách để ngăn cản. Viên Thống sứ Bắc Kỳ buộc Nguyễn Quyền phải trở về với chức giáo thọ, nhưng không được trở lại Lạng Sơn, mà đổi về huyện Phù Ninh thuộc tỉnh Phú Thọ. Một tháng sau khi từ chức, thì ông bị mật thám Pháp bắt, đưa về Hà Nội. Chúng giam ông tại nhà lao Hỏa Lò. Hội đồng đề hình (Commission criminelle) ghép tội ông vào án "trảm giam hậu", rồi đổi thành án khổ sai chung thân, đày đi Côn Đảo (1909). Cảm động trước bản án của 5 chí sĩ yêu nước (gồm Nguyễn Quyền, Lê Đại, Võ Hoành, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí) một tác giả vô danh đã làm bài thơ đăng trên báo Mai (số 9, ngày 25-4-1936) nhan đề là Nam thiên phong vân, trong đó có đoạn ca ngợi hành động yêu nước của Nguyễn Quyền:

"Người tỉnh Bắc, Nguyễn Quyền là một
Cơn nhiệt thành lửa đốt buồng gan
Đùng đùng gió cuốn mây tan
Lạng thành giáo chức từ quan cáo về.
Mở tân giới, xoay nghề tân học
Đón tân trào, dựng cuộc duy tân
Tân thư, tân báo, tân văn
Chân đi miệng nói xa gần thiếu đâu
Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ
Khắp ba mươi sáu phố Hà thành…"


Đến năm 1910, Nguyễn Quyền được chính quyền thực dân ân xá, nhưng không được trở về quê nhà, kể cả Hà Nội, nơi ông đã từng hoạt động. Chúng đưa ông về “an trí” ở tỉnh Bến Tre, cùng lúc đó Dương Bá Trạc bị đưa về Long Xuyên, Võ Hoành về Sa Đéc, Hoàng Tăng Bí về Huế, Phan Châu Trinh về Mỹ Tho. Thực ra đây là một cách giam lỏng các nhà trí thức yêu nước, cách ly họ khỏi môi trường cũ. Mỗi tháng, chính quyền thực dân "chu cấp" cho mỗi người 8 đồng bạc Đông Dương để chi tiêu sinh sống. Nguyễn Quyền, lúc ban đầu có nhận, nhưng một thời gian sau, nhờ sự giúp đỡ của đồng chí, đồng bào hảo tâm, ông từ chối không nhận trợ cấp này nữa.

Tuy bị giam lỏng và bị theo dõi, nhưng Nguyễn Quyền vẫn bí mật liên lạc với những nhà yêu nước trong vùng Lục tỉnh, mở tiệm may tại thị xã Bến Tre** để làm nơi liên lạc, giao thiệp hợp pháp với bên ngoài, vận động quần chúng góp tiền bạc, gởi sang Nhật giúp Phan Bội Châu và phong trào Đông Du.

Năm 1916, do sự khai báo của cơ sở, ông bị Sở mật thám Sài Gòn gọi lên truy hỏi, nhưng vì không đủ chứng cứ buộc tội, chúng đành phải thả ông về lại Bến Tre.

Năm 1924, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhân chuyến vào Nam, có ghé lại Bến Tre thăm ông và có làm thơ tặng, trong đó có câu "Kim mã tê thanh hồng nhựt ánh, Kê mi án kiếm quá trùng quan" hàm ý khơi dậy lòng yêu nước của người chiến sĩ năm xưa.

Vào giai đoạn cuối đời, Nguyễn Quyền do tuổi tác và bệnh tật, bạn bè đồng chí ngày một thưa dần, hơn nữa ông không đủ sức và điều kiện nắm bắt được nhịp sống sôi động của cao trào dân chủ diễn ra trên đất nước ta trong những năm của thập kỷ 30, ông nghiêng về cảnh vui thú điền viên, cố giữ lòng trong sạch của một nhà nho hơn là hành động của người chiến sĩ. Khi thì ông lui về sống ở quê vợ thứ tại Thạnh Phú, lúc ở Cồn Ngao (Trà Vinh), cuối cùng ông chuyển về sống ở Sa Đéc, dựa vào nguồn lợi của mấy mẫu vườn cây ăn trái của con và mất tại đây ngày 18-7-1941, hưởng thọ 72 tuổi. Trước khi mất, ông có đọc cho một đồng chí ở Cao Lãnh ghi lại lời chúc ngôn bằng chữ Hán, đại ý là muốn giải bày tấm lòng yêu nước, yêu dân của một trí thức Nho học được thể hiện trong gần 40 năm hoạt động, nhưng “lực bất tòng tâm", việc lớn không thành… rất mong đồng bào thông cảm cho ông, như thế là ông mãn nguyện lắm rồi.


** Tiệm may Đại Đồng, đường Lê Lợi (Đường Giữa)





--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 1 2007, 03:34 AM
Gửi vào: #17


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21






Sự Tích Tên Xả ĐA PHƯỚC HỘI (Mõ Cày)

user posted image


Lê Thị Mẫn

(1786 - 1866)



Bà Lê Thị Mẫn quê làng Thuộc Nhiêu, tỉnh Định Tường, nay thuộc tỉnh Tiền Giang, là vợ của ông Bùi Văn Liệu ở làng Đa Hoà, nay là Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, vốn là một môn sinh của nhà giáo nổi tiếng đất Gia Định Võ Trường Toản. Goá chồng từ lúc 33 tuổi, bà ở vậy nuôi con, cho con ăn học đến nơi đến chốn, nhằm kế tục nền nếp, gia phong. Cả 3 người con đều đỗ cử nhân: người em út là Bùi Minh Thành thông minh nhất nhà, đỗ cử nhân năm 22 tuổi, trước 2 anh, được bổ Tri huyện Phước Tuy, rồi Đốc học Biên Hoà, cuối cùng làm tri huyện Long Thành.Người anh cả Bùi Quang Huy, sau khi đỗ cử nhân không chịu ra làm quan, lấy cớ ở nhà phụng dưỡng mẹ già, lo việc nông trang, khai phá đất đai, trở nên giàu có. Người em kế Bùi Văn Phong, đỗ cử nhân, được bổ làm Án sát Nam Định, về sau làm Quyền án sát Thương biện tỉnh Vĩnh Long.Vào đầu thế kỷ XIX, ở đất Nam Kỳ, nhất là ở xứ cù lao cách bức như Bến Tre, mà có ba người trong một gia đình đỗ cử nhân là chuyện rầt hiếm. Đó cũng là lý do để các chức việc làng Đa Hoà xin đổi tên thành Đa Phước (nghĩa là nhiều phước đức). Về sau khá lâu, làng này nhập với Hội Yên và Tân Phước, mang tên mới là Đa Phước Hội.Bà Lê Thị Mẫn nổi tiếng là người dạy con rất nghiêm. Chuyện kể rằng, một lần ông Bùi Văn Phong đang làm Án sát Nam Định, nhân dịp Tết Nguyên đán, nhờ người mang về biếu mẹ vài hộp trà ướp sen và mấy vóc lụa Hà Đông. Bà Mẫn nhận quà của con, mở ra thấy vậy, bèn đem đốt lụa thành tro, rồi gói lại, trao cho người đưa quà cùng với phong thư trong đó đại ý cho rằng, làm quan mà nhận quà biếu, lâu ngày sẽ thành thói quen khơi dậy lòng tham, khó mà giữ được thanh liêm. Hành động của bà chẳng có ý gì khác ngoài việc nhắc con giữ tròn sự liêm khiết, để rạng mặt tổ tiên, không uổng công nuôi dưỡng của bà.Được thư hồi âm, Án sát Bùi Văn Phong không khỏi ngỡ ngàng, tư lự. Ông đựng tro vào một chiếc lọ thuỷ tinh, để ngay trước mặt nơi bàn làm việc hằng ngày ở nơi công đường.Một lần khác, khi ông Phong về trấn nhậm ở Vĩnh Long (lúc ấy Bến Tre thuộc tỉnh Vĩnh Long) có ghé thăm quê. Ông được Tri huyện Mỏ Cày tiếp đón rất linh đình, cờ xí, chiêng trống rộn rịp. Bà con rất không bằng lòng về việc này. Khi ông Phong về nhà, chào mẹ, bà từ tốn bảo con: "Mẹ nay đã có tuổi, mà tuổi già thường sợ những gì ồn ào, gây kinh động"… (là người mẹ đang đối diện với một quan Án sát, đường đường là một "phụ mẫu chi dân", bà không thể nói toạt hết ý bất bình của mình).Bà Lê Thị Mẫn còn là một phụ nữ giàu lòng nhân ái và đức độ. Gia phả họ Bùi có ghi: “Một năm trời làm nắng hạn, mất mùa, nhiều người bị đói. Bà đã xuất lúa trong kho và cúng cho chính quyền sở tại cả ngàn quan tiền để cứu trợ dân gặp khó khăn”.Năm Tự Đức thứ 13 (1860) nhân lễ “Ngũ từ của thái hậu Từ Dũ” bà Mẫn được vua phong bức biển có 4 chữ vàng: "HẢO NGHĨA KHẢ PHONG", trong bản sắc phong của vua Tự Đức có đoạn “Ta nghĩ rằng người đã có danh tiếng tốt như vậy, không lẽ nào ta không ban ơn biểu dương đức tính của người. Vậy nay, ta ban ơn riêng cho người "Chánh lục phẩm An nhơn" chiếu theo tờ cáo mạng này".Bà mất vào năm 1866, thọ 80 tuổi. Được tin này, cụ Phan Thanh Giản đang làm Kinh lược sứ 3 tỉnh miền Tây, đóng ở Vĩnh Long, có sai con là Phan Liêm đến tận Mỏ Cày phúng điếu để tỏ lòng thành kính một bức hiền phụ.




--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 1 2007, 03:41 AM
Gửi vào: #18


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21






Họa Sĩ Lê Văn Đệ

user posted image

Lê Văn Đệ

(1906 - 1966)



Trong lịch sữ mỹ thuật Việt Nam, Lê Văn Đệ được nhắc đến như một nghệ sĩ bậc thầy, tiêu biểu cho xu hướng cổ điển và tân cổ điển Việt Nam. Sinh trong một gia đình nhà nho ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, thân sinh là Lê Quang Hòe, cai tổng Minh Đạt, hàm Tri huyện. Ông là con thứ 10 trong số 13 anh chị em. Lúc nhỏ, học ở trường tiểu học ở quê nhà, sau lên học ở Trường Tabert, Sài Gòn. Ngay từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường trung học, ông đã được bạn bè ngợi ca về tài vẽ nhanh và đẹp. Năm 1925, sau khi tốt nghiệp trung học, ông thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Hà Nội. Cùng với Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Tam, Lê An Phan… ông trúng tuyển trong số 10 người, trong tổng số 400 thí sinh dự thi. Trong những năm theo học ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật, ông luôn được xếp vào hạng sinh viên xuất sắc của trường và đỗ đầu trong kỳ thi tốt nghiệp.

Năm 1931, ông được một học bổng sang Pháp học tại Trường Mỹ thuật Paris, dưới sự hướng dẫn của giáo sư J.Pierre Laurence vẽ tranh sơn dầu. Trong những năm học tại Paris, nhiều tác phẩm của ông đã gây được sự chú ý trong giới nghệ thuật tại thủ đô ánh sáng này và ông đã đoạt giải thưởng hội họa do Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp tổ chức. Với thành tích rực rỡ này, ông được nhận tiếp một học bổng đi tu nghiệp thêm về hội họa tại Ý và Hy Lạp.

Năm 1933, tranh ông được chọn triển lãm tại phòng số 1 - một gian phòng dành cho những tài năng xuất sắc chọn từ 5.000 họa sĩ các nước. Có hơn 40 tờ báo Pháp lúc bấy giờ đã đề cập đến tác phẩm của ông (theo Đông Dương tuần báo). Trong cuộc triển lãm Nghệ sĩ quốc gia Pháp năm 1934, Bộ Văn hóa Pháp đã chọn mua ngay một bức tranh Trong gia đình của ông để treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg.

Năm 1936, tại một cuộc triển lãm tranh do tổ chức báo chí Công giáo bảo trợ tại Roma, có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của 30 quốc gia trên thế giới, trong số đó có nhà danh họa Bouleau (Pháp), tác phẩm của Lê Văn Đệ được tặng giải nhất. Do đó, ông được mời phụ trách một nhóm 11 kỹ sư và 20 họa sĩ làm nhiệm vụ vẽ, chạm trổ, trang hoàng trong điện Vatican. Công trình do ông chỉ đạo thực hiện đã được báo chí Ý và nhiều nước đánh giá cao.

Năm 1938, ông trở về nước, vừa sáng tác vừa tiếp tục nghiên cứu hội họa dân tộc và các nền hội họa phương Đông. Bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày của ông là một tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ. Công lao lớn nhất của Lê Văn Đệ là đã sáng lập ra Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, làm cho việc giảng dạy và đào tạo cán bộ mỹ thuật ở miền Nam được nâng cao và phong phú hơn. Năm 1954, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định thành lập, ông được cử làm Giám đốc đầu tiên của trường. Tác phẩm của ông thiên về khuynh hướng cổ điển và tân cổ điển, mặc dù ông nắm khá chắc kỹ thuật và có kiến thức uyên bác về khuynh hướng mỹ thuật hiện đại của châu Âu.

Ông say mê nghiên cứu thủ ấn họa của Nhật Bản và các trường phái hội họa nguyên thủy châu Âu, nhưng sở trường nhất của ông vẫn là tranh lụa, tranh sơn dầu và bích họa. Trong kỹ thuật tranh lụa, ông đã có những tìm tòi độc đáo như dùng màu sắc thiên nhiên thay thế cho màu hóa học, để làm tăng thêm chất hiện thực và vẻ mềm mại của loại tranh này.

Đánh giá về ông, giới họa sĩ cho rằng hai cố họa sĩ đàn anh xuất thân từ Trường Mỹ thuật Đông Dương đã đem lại vinh dự cho Việt Nam là hai ông Lê Văn Đệ và Nguyễn Gia Trí.

Nhiều tác phẩm của ông hiện được lưu giữ tại các bảo tàng một số nước châu Âu như: bức Trong gia đình (sơn dầu), 1934 - Viện Bảo tàng Luxemburg ở Paris, bức Đức Mẹ và bức Bà Thánh Madeleine dưới chân thập giá - Viện Bảo tàng Mỹ thuật giáo sĩ thừa sai Vatican, bức Mẹ và con - Viện Bảo tàng Mỹ thuật Aix La Chapelle…

Là một người bình dị, thích cái đẹp thôn dã, giàu lòng vị tha, ngoài chức vụ Giám đốc Trường Mỹ thuật, ông Đệ lúc sinh thời còn là Phó hội trưởng Hội hoa kiểng Việt Nam - một ngành có liên quan nhiều đến mỹ thuật như kiểng bonsai, hòn non bộ và vườn cảnh. Ông từ trần ngày 16-3-1966 tại Sài Gòn.



><><><><><><


Nhạc Sĩ LÊ THƯƠNG

(1914-1996)


Chi tiết về cuộc đời của nhạc sĩ Lê Thương ít thấy được nhắc đến, ít người biết rõ. Có thể ông có bản tính ít phô trương và sống cuộc đời giản dị. Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh năm 1914 tại Nam Định. Cũng có một bài viết cho nơi sinh của ông là Hà Nộị . Theo tập sách Hồi Ký Phạm Duy, Lê Thương là một thầy tu nhà dòng hoàn tục.

Lê Thương tuy là nhạc sĩ có hạng, nhưng nghề nghiệp chính lại là nghề dậy học. Ông là giáo sư Sử Địa, có một thời gian giảng dạy cho học sinh tại một số trường trung học tư ở Sài Gòn. Ông cũng có lúc làm công chức ở Trung Tâm Học Liệu, bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Nhạc sĩ Lê Thương mất năm 1996 tại Việt Nam.
Lê Thương là một trong những người tiên phong viết tân nhạc Việt Nam.

Tân nhạc Việt Nam bắt đầu khoảng năm 1938. Lúc đó, những bản tân nhạc Việt Nam đầu tiên có lẽ là những bản như Tâm Hồn Anh Tìm Em của Dương Thiệu Tước, Bông Cúc Vàng và Kiếp Hoa thơ Nguyễn Văn Cổn và nhạc Nguyễn Văn Tuyên, Bình Minh thơ Thế Lữ và nhạc Nguyễn Xuân Khoát, Khúc Yêu Đương của Thẩm Oánh, Đám Mây Hàng của Phạm Đăng Hinh, Đường Trường của Trần Quang Ngọc, Bản Đàn Xuân của Lê Thương...

Ngoài Bản Đàn Xuân, thời đó nhạc sĩ Lê Thương còn ở miền Bắc Việt, sau đã có phổ biến thêm những tác phẩm khác như Tiếng Đàn Đêm Khuya, Một Ngày Xanh, Trên Sông Dương Tử, Thu Trên Đảo Kinh Châụ..

Nhạc sĩ Lê Thương viết nhiều loại nhạc khác nhaụ
Năm 1941, Lê Thương vào miền Nam định cư . Thời điểm đó, ông có sáng tác những bản nhạc phổ thơ như Lời Kỹ Nữ (thơ Xuân Diệu), Lời Vũ Nữ (thơ Nguyễn Hoàng Tư), Bông Hoa Rừng (thơ Thế Lữ), Tiếng Thùy Dương (tức Ngậm Ngùi thơ Huy Cận) và Tiếng Thu (thơ Lưu Trọng Lư). Hai bài Ngậm Ngùi và Tiếng Thu cũng được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc sau này .

Lê Thương là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết nhạc hài hước với những bản Hoà Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn... Những bản này do nghệ sĩ Trần Văn Trạch trình diễn nhiều lần vào những của thập niên 1940.

Một bản nhạc ông sáng tác được hát nhiều trong thời kháng chiến chống Pháp là Bà Mẹ Việt Nam, chuyện một bà mẹ có bốn đứa con trai trong thời kháng chiến.

Nhạc sĩ Lê Thương có tiếng về viết nhạc chuyện ca như Nàng Hà Tiên, Lịch Sử Loài Người, Hoa Thủy Tiên... và còn thêm một số bài ca nhạc cho vài ban kịch và hãng phim.

Về sau, mỗi cách tuần Lê Thương và nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban nhạc Măng Non cho trẻ em, phát thanh qua làn sóng điện các chuyện cổ tích, khúc dân ca, bài ca nhi đồng...

Ngoài ra Lê Thương còn có đặt lời cho những bản nhạc ngoại quốc ngắn như Nhớ Lào (nhạc Lào), Bông Hoa Đại tức Ô Đuồng Chăm Pá (nhạc Lào), Lòng Trẻ Trai (nhạc Hoa Kỳ), Hoa Anh Đào tức Sakura (cổ nhạc Nhật Bản), Màn Brúc Đánh Giặc (dân ca Pháp)...

Một trong những loại nhạc được ông chú ý đến và sáng tác là nhạc Nhi Đồng và Thiếu Niên gồm những bản như Cô Bán Bánh, Con Mèo Trèo Cây Cau, Thằng Bé Tí Non, Ông Nhang Bà Nhang, Đây-Nhi Đồng Ca, Truyền Kỳ Việt Sư,Ư Thiếu Sinh Cạ..
Có lẽ hầu như tất cả mọi người đều đã có nghe, biết bài hát Thằng Cuội:

Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ
Lặng yên ta nói Cuội nghe
"Ở cung trăng mãi làm chỉ"
Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mợ


Một bản nhạc rất phổ thông ở các trường trung tiểu học là bài Học Sinh Hành Khúc:

Học sinh là người Tổ Quốc mong cho mai sau
Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công laọ..

Rồi đến bản nhạc ngộ nghĩnh Ông Ninh Ông Nang:
Ông Nỉnh ông Ninh, ông ra đầu đình
Ông gặp ông Nảng ông Nang
Ông Nảng ông Nang, ông ra đầu làng
Ông gặp ông Nỉnh ông Ninh
Nang Ninh đầu đình
Và Ninh Nang đầu làng...

Và đến bài hát Tuổi Thơ thật dễ thương:
Trời xanh xanh mát
Hương thơm thơm ngát
Cùng nhau ta múa điệu ca
Cùng nhau ta hát đời ta

Nhụy hoa thanh khiết
Men hoa ngây ngất
Hát cho tâm hồn được khuây
Cũng như cánh đẹp được bay

Sớm bắt bướm hái hoa kêu la nô đùa
Chiều lại ra dạo chơi vườn hoa
Tôi quyến luyến má ba vui ca bên đèn
Bẩy giờ đêm nằm ngủ mơ thấy tiên.


Về nhạc Lê Thương, đáng bàn đến nhất là ba bản nhạc trong Trường Ca Hòn Vọng Phu Bằng âm điệu gần gũi âm giai Ngũ Cung của Dân Ca Việt Nam, với ảnh hưởng từ Chinh Phụ Ngâm Khúc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm và Đặng Trần Côn, Hòn Vọng Phu 1 được ông viết tại Bến Tre, khoảng năm 1943.

Mở đầu bài hát, người chồng theo lệnh vua, ra mặt trận với tiếng trống thúc dục:
Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường
Đoàn ngựa xe cuối cùng
Vừa đuổi theo lối sông
Phía cách quan xa trường
Quan với quân lên đường
Hàng cờ theo trống dồn
Ngoài sườn non cuối thôn
Phất phơ ngậm ngùi bay ...
Từ đó, xa cách muôn trùng:
...Người đi ngoài vạn lý quan sơn
Người mong chờ trong bóng cô đơn...

Cứ như vậy, người vợ ở lại ngày ngày ôm con, đứng đợi ngóng chồng trở về và cuối cùng cả hai mẹ con vì mòn mỏi chờ mãi đã hóa ra đá:
...Người không rời khỏi kiếp gian nan
Người biến thành tượng đá ôm con.


Sau đó, ông đã sáng tác thêm Hòn Vọng Phu 2 tức Ai Xuôi Vạn Lý khoảng năm 1946. Mẹ con người đàn bà hóa đá vẫn chờ mong. Giai điệu nhạc thật buồn:
Người vọng phu trong lúc gió mưa
Bế con đã hoài công để đứng chờ
Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về
Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mợ..
...Mà chờ người đi mất từ ngàn xưa
Nàng đứng ôm con xem chàng về hay chưả
Về hay chưa ?
Có ai xuôi vạn lý, nhắn đôi câu giúp nàng
Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng...
Người đi chắc chả bao giờ quay lại:
...Thôi đứng đợi làm chi
Thời gian có hứa mấy khi
Sẽ đem đến trả đúng kỳ
Những người mang mệnh biệt ly


Hòn Vọng Phu 3 tức Người Chinh Phu Về viết xong năm 1947. Mở đầu, vẫn còn hình ảnh não nề của tượng đá chờ trông:
Nơi phía Nam giữa núi mờ
Ai bế con mãi đứng chờ
Như nước non xưa đến giờ...


Và cuối cùng người chinh phu cưỡi ngựa trở về, âm điệu dòng nhạc như tiếng ngựa phi:
Đường chiều mịt mù, cát bay tỏa bước ngựa phi đường trường
Nếp tàn y hùng cường, vẫn còn bay trong gió bóng từ xa, sắp dần qua
Bóng chàng chập chùng, vượt núi non cũ, với hành lương độ đường
Chiếc hùng gươm danh tướng dưới tà uy đếm nhịp đi, vó ngựa phị..
Nhưng cuộc trở về đã quá muộn màng, ai oán:
...Nhớ cố hương lưu luyến tấc lòng mau dồn chân
Vết bước đi trên phiến đá mòn còn in dấu
Từ bóng cây ngôi mộ bên đường
Từ mái tranh bên đình trong làng
Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thương vang động trong lòng.


Tác phẩm tuyệt diệu, lớn lao và bất diệt Trường Ca Hòn Vọng Phu, đã làm nổi bật tên tuổi của nhạc sĩ Lê Thương trong lịch sử Âm Nhạc Việt Nam...



(Bài viết: Bác Sĩ PHẠM ANH DŨNG, Nhạc Sĩ)








--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
bentre
post Aug 1 2007, 06:37 PM
Gửi vào: #19


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 382
Tham gia: 25-January 05
Đến từ: Sydney, Australia.
Thành viên thứ: 3



Kính gởi Admin và hai vị Mods (NhaQue va KimNgan).
Xin ông NhaQue hay cô KimNgân vui lòng liên lạc ông Nguyễn Võ Văn, cựu giáo sư Trung học Bến Tre để thêm tài liệu về cụ Nguyễn Quyền. Nếu tôi không lầm thì giáo sư Văn là trưởng nam của cụ. Giáo sư Văn cũng là một " nhân sĩ " của Bến tre. Chức vụ sau cùng của ông là Chánh án (hay Chánh thẩm) toà án Quân sự (sĩ quan cấp Tá).

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
Admin
post Aug 3 2007, 09:14 PM
Gửi vào: #20


Administrator
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 253
Tham gia: 21-January 05
Thành viên thứ: 1



QUOTE(bentre @ Aug 1 2007, 11:37 AM)
Kính gởi Admin và hai vị Mods (NhaQue va KimNgan).
Xin ông NhaQue hay cô KimNgân vui lòng liên lạc ông Nguyễn Võ Văn, cựu giáo sư Trung học Bến Tre để thêm tài liệu về cụ Nguyễn Quyền. Nếu tôi không lầm thì giáo sư Văn là trưởng nam của cụ. Giáo sư Văn cũng là một " nhân sĩ " của Bến tre. Chức vụ sau cùng của ông là Chánh án (hay Chánh thẩm) toà án Quân sự (sĩ quan cấp Tá).

*

Con của cụ Nguyễn Quyền là ông Nguyễn Văn Hồng, chủ tiệm may hiệu Đại Đồng toạ lạc tại đường Clémenceaux (đường giữa, nay gọi là đường Lê Lợi - Cùng 1 đường với tiệm hình Viễn Lai). Ông Nguyễn Văn Hồng có 2 người con: thầy Văn là con cả, và 1 cô con gái em thầy văn là cô Thu hiện hình như đang sống ở Mõ Cày.
Như vậy, thầy văn gọi cụ Nguyễn Quyền là ông nội.
Admin,


--------------------
user posted image
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

2 Pages: V  1 2 >
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 24th June 2019 - 10:25 PM