IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> Truyện Minh Đạo-Nguyễn Thạch Hãn, Balai-Ngày Cũ
NhaQue
post Nov 21 2011, 12:38 AM
Gửi vào: #1


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Người Còn Nhớ Hay Người Đã Quên



Thỉnh thoảng đám bạn già lại tụ họp nhau ôn lại chuyện xưa, vỗ về an ủi nhau, ai còn ai mất. Ai hiểu được lòng thổn thức nỗi niềm mất nước nhà tan, lưu vong nơi xứ người?

Thày Năng Tĩnh ở một mình trong ngôi Chùa nhỏ vùng ngoại ô, rất xa thành phố. Ngôi Chùa chỉ là chiếc “mobile home” trên vài mẫu đất, trước kia là một nông trại bé tí teo, có hàng rào kẽm gai chung quanh để trại chủ nuôi bò. Từ ngày lập Chùa, Thày chỉ nuôi mấy con gà trống, thả chạy tự do đặng nghe tiếng gáy cho vui và một con chó nhỏ để làm bạn. Sát hàng rào Thày trồng mấy dây mùng tơi, khổ qua, dàn bàu và mướp trái xum xuê, bên cạnh đó là mấy luống cải xanh, rau thơm. Sân trước, Thày đào chiếc hồ xinh xinh, có hòn non bộ, đầy đủ cảnh “Sơn Thủy Tùng Đình” với “Ngư Tiều Canh Mục”, trông cũng vui mắt. Trong hồ có cá vàng bơi lội tung tăng, vài con rùa thỉnh thoảng lại trồi lên mặt nước ngoe ngoảy.

Những lúc rảnh rỗi Thày ra ngồi trên chiếc ghế đá đặt cạnh hồ đọc sách hoặc uống trà, có khi ngồi thiền nữa. Đúng là khung cảnh nhà quê Việt Nam của kẻ nhàn hạ ẩn dật. Kể ra cuộc sống cũng tạm đầy đủ, thỉnh thoảng có khách lại thăm, mang cúng dường vài bao gạo, mấy chai tương đủ cho Thày dùng cả năm. Phật tử theo Thày đa số là bạn bè cũ, hoặc mấy người theo học khóa tu thiền. Thày cất mấy cốc nhỏ sau chánh điện làm phòng ngủ cho chính Thày và cho khách phương xa cần ở lại.
Thỉnh thoảng Chùa vẫn mở khóa tu thiền, thường kéo dài từ 4 ngày đến 1 tuần. Phật Tử đến tu tập xúm nhau nấu ăn tập thể, nghe Thày thuyết pháp và tập thiền; Đa số là những ngươì lớn tuổi, thời giờ rảnh rỗi, muốn tìm về nơi yên tĩnh để được hit thở không khí trong lành, như một cuộc nghỉ mát hằng năm cho tâm hồn thư dãn. Chùa ở xa thành phố nên cũng it khách thập phương vãng lai.

Thày là người điềm đạm, thông thái và vui tính. Ai có điều khó giải quyết trong gia đình cũng lại Chùa để trút bầu tâm sự và nghe lời Thày khuyên răn. Thày đã lăn lóc hơn nửa đời người ngoài đời nên cũng có chút kinh nghiệm về đời sống gia đình. Dạo gần tết, có người biếu Thày một chậu mai vàng, Thày vẫn chưng trong phòng khách cùng với mấy chậu kiểng bonsai. Bên Mỹ, loại mai rừng năm cánh dài và nhỏ xíu thì rất nhiều, nhưng Mai Việt Nam thì hiếm, quý lắm, thế mà có người trồng được, hay họ nhập cảng từ VN không chừng. Phòng khách, phía sau chánh điện, trên tường có treo bức tranh thật đẹp, có lẽ Phật Tử vẽ tặng Thày; Hình một tháp chuông của ngôi Chùa nào đó, ở góc tháp, chỉ thấy chiếc áo nâu của vị Sư đang nhìn về phía núi rừng trước mặt, trong buổi chiều tà. Phía dưới hình tháp chuông là bài kệ “Cáo Tật Thị Chúng” của Thiền Sư Mãn Giác:

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Bài kệ này đã được cụ Ngô Tất Tố dịch ra như sau:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai

Bài kệ đã được sáng tác hàng ngàn năm trước, có lẽ sẽ còn truyền tụng nhiều ngàn năm sau và mãi mãi. Thiền Sư Mãn Giác đã khéo léo dùng hình ảnh hoa rụng rồi hoa nở để nói lên kiếp luân hồi của chúng sanh, như thiên nhiên có đi rồi có về, dòng đời vẫn trôi vô tình.
Một buổi chiều cuối tuần có người khách từ phương xa đến trao cho Thày tấm thiệp. Thày Năng Tĩnh cầm tấm thiệp, lật qua lật lại xem tỉ mỉ. Tấm thiệp cũ kỹ, bạc màu, đã sờn rách mấy góc cạnh, không có địa chỉ người gởi nhưng địa chỉ người nhận đã bị sửa đổi nhiều lần, chứng tỏ nó đã chuyền qua nhiều người trước khi tới tay Thày. Thày lẩm nhẩm đọc tấm thiệp từ Việt Nam gởi tới: “Nội của cháu nhắc đến Ông luôn, Nội đã mất rồi. Cháu tình cờ đọc được bài viết về Ông trên mạng. Cháu cám ơn Ông và bạn của Ông đã cứu gia đình cháu, Huế, Mậu Thân.” Thày nhìn mãi tấm thiệp như đang nhìn hình ảnh đời thày trong dĩ vãng.

*
Thày Năng Tĩnh sinh ra và lớn lên ở Huế. Những gì còn lại trong Thày chỉ là mấy bài thơ nhớ Huế, và vài kỷ niệm của cậu “Bé Tư” hoang đàng chơi nhiều hơn học.
Mỗi khi trời se lạnh, rong chơi trên những con đường Thành Nội, lại được ngắm những tà áo trắng học trò khoác hờ một chiếc áo len đủ màu, ôi dễ thương làm sao! Những buổi trưa hè cùng đám bạn “Trời đánh” đạp xe ra hồ Tịnh Tâm hay lên đồi Vọng Cảnh hoặc nằm dưới gốc mấy cây Phượng Vĩ hoa đỏ rực gần cầu Trường Tiền. Huế chỉ còn lờ mờ trong ký ức đâu đây. Chùa Linh Mụ trang nghiêm soi mình trên giòng sông Hương thơ mộng, núi Ngự Bình hiền hòa như vòng tay Mẹ giang ra ôm những người con xứ Huế vào lòng. Còn gì nữa nhỉ, phải rồi, những buổi hẹn hò đi ăn chè Cồn, ăn cơm Âm Phủ, bún bò Huế ở caí quán sập xệ bên đường quốc lộ 1, dưới gốc tre già, ngon tuyệt vời và cay xé họng, hay những ngày còn bé bỏng lẽo đẽo theo Mạ trong chợ Đông Ba. Vâng, chỉ có thế thôi, còn lại là máu và nước mắt. Máu của đồng đội và nước mắt của những bà mẹ mất con, người vợ mất chồng. Huế là những tang tóc điêu tàn của Tết Mậu Thân, là ngơ ngác lo âu hoảng loạn của nhũng ngày cuối cùng thời VNCH.
Đời người thật ngắn ngủi, mới hôm nào đây, Thày còn là một chàng trai trẻ “Cậu Tư” vẫn cắp sách đến trường, rồi bị gọi động viên vào quân ngũ. Cậu mê màu xanh rằn ri và cuộc sống hào hùng của những “Thủy Thần Mũ Xanh”, thế là tình nguyện gia nhập TQLC. Trải qua bao nhiêu gian khổ, sống chết trong gang tấc. Những đứa con yêu xứ Huế đã mấy lần cứu đất Mẹ, để trả một chút ân tình cưu mang. Tết Mậu Thân, hối hả theo đơn vị từ Saigon về Phú Bài, suốt gần một tháng hành quân giải tỏa, đổ bao nhiêu xương máu của anh em, bạn bè, đồng đội để giành lại từng căn nhà, từng con đường, cuối cùng cũng treo được lá cờ vàng trên Kỳ Đài Huế, lính tráng vỗ vai nhau cười mừng rỡ. Cha Mẹ ở đó, bà con anh em ở đó, thày cô ở đó, ngôi trường thân thương thời niên thiếu ở đó, bây giờ đã chiếm lại được! Cái giá phải trả quá cao nhưng vẫn là đáng giá. Đã là trả chữ hiếu thì nghĩ gì đến giá cả! Đơn vị lúc ra đi đầy đủ quân số, giải tỏa xong chỉ còn lại một phần ba.

“Mùa Hè Đỏ Lửa” Cậu Tư theo đoàn quân cấp tốc từ Ái Tử kéo về dàn hàng ngang bờ nam sông Mỹ Chánh. Bắc quân, với quân số cao gấp mấy lần, đang hùng hổ vượt sông Bến Hải kéo nhanh về phương nam, Hy vọng sẽ chiếm Huế một lần nữa trong thời gian rất ngắn, nhưng bị khựng lại ngay bờ sông Mỹ Chánh.

Những đứa con yêu đất Thần Kinh đã dựng một bức tường lửa ngay ở đó đốt rụi đám quân “Sinh Bắc Tử Nam” điên cuồng, rồi đẩy bật “những con thiêu thân” đó ra khỏi Cổ thành Quảng Trị. Máu đổ thịt rơi, trên 3000 chiến hữu đã bỏ mình để đổi lấy sự tự do cho miền địa đầu giới tuyến. Quảng Trị ơi, quê hương ta đấy!. Quê hương đầy máu lửa và hận thù, do giặc phương Bắc mang đến. Thời trai tráng đã đi qua mau chóng sau những chiến trận đẫm máu, Cậu Tư đã trở thành Ông Tư lúc nào không biết.

Tháng 3/75 đám bạn bè của Ông muốn cứu đất Mẹ lần thứ ba, nhưng không còn cơ hội nữa, thế là “Gãy Súng”, thế là “Tan Hàng”, nhưng không ai còn nhớ những đứa con thân yêu bị bỏ rơi ở cửa biển Thuận An, ở Non Nước Đà Nẵng. Đồng đội của Ông đã hy sinh trên những “Pháp Trường Cát” đó. Người ta đã quên đi, nhưng Ông thì không, bạn bè, anh em còn nằm lại đó, làm sao quên được.

Ông Tư bị đi tù cải tạo tận miền Bắc, ngày được tha về, vợ Ông đã qua đời. Gia đình cha mẹ chẳng còn ai. Nhà cửa bị tịch thu, đứa con gái nhỏ vượt biên chẳng ai biết tin tức ra sao. Nghĩ đến gia đình tan nát Ông lại ứa nước mắt. Ông tự hỏi từ ngày ra đi, vợ con Ông làm sao để sống? Bao nhiêu cay đắng nhọc nhằn nay mới được dịp tuôn trào như nước vỡ bờ. Ông theo người bạn, sắm một thùng đồ nghề nho nhỏ để sửa xe đạp, “bản doanh” đặt ở gốc cây gần ngã tư. Thời điểm đó chương trình đoàn tụ gia đình (ODP) đang lên cao. Nhờ chút vốn liếng Anh Văn trong những lần Quân Đội cho tu nghiệp bên Mỹ trước kia, Ông đổi nghề làm thày dạy Tiếng Anh tại tư gia cho những gia đình sắp đi đoàn tụ, học trò của Ông nhiều quá phải chia bớt cho đám bạn tù khác. May mắn gặp người bạn giới thiệu dạy mấy lớp tiếng Anh trong một trường tư thục, cũng tạm đủ sống.

Lúc nạp đơn theo diện HO đi Mỹ, Ông vẫn còn lưỡng lự giữa đi và ở lại, cuối cùng Ông quyết chí ra đi để tìm đứa con thất lạc.

Qua Mỹ, nhờ bạn bè cũ, ra đi từ trước, ông được giúp đỡ kiếm việc và hướng dẫn hội nhập vào đời sống mới. Việc làm lao động cực nhọc, dù cực mấy cũng không bằng những năm tù cải tạo. Ông làm việc không nghỉ, những ngày cuối tuần lại đi làm công quả ở Chùa, để khỏi phải nhớ về dĩ vãng. Ông muốn quên đi, nhưng không làm sao quên được. Có những đêm mệt mỏi đặt lưng xuống giường nhưng mắt vẫn mở thao láo, dĩ vãng lại ùn ùn kéo về như mây mùa thu. Đôi khi chợt thấy mình còn đang nhọc nhằn trong trại tù cải tạo, giật mình thức giấc nửa đêm, mồ hôi ướt đẫm áo ngủ, sờ xoạng trên tấm nệm một lúc mới tin rằng mình đang ở bên Mỹ. Có những lúc thương nhớ người vợ đã ốm đau trong lúc nước mất nhà tan, chồng tù tội, không thuốc thang, rồi đột ngột bỏ đi về bên kia thế giới không lời từ giã với Ông, để lại đứa con gái trẻ dại, không biết nương tựa vào đâu, Ông ngồi khóc một mình trong nỗi cô đơn nơi xứ lạ quê người. Đứa con vẫn chẳng có tin tức gì.

Thỉnh thoảng đám bạn già lại tụ họp nhau ôn lại chuyện xưa, vỗ về an ủi nhau, ai còn ai mất. Ai hiểu được lòng thổn thức nỗi niềm mất nước nhà tan, lưu vong nơi xứ người?. Những vết thương xưa trong lòng hầu như khó lành, thỉnh thoảng lại vỡ ra. Hãy quên đi! Hãy quên đi! Hãy quên đi! Giọt nước mắt lưng tròng không gọt rửa được tủi nhục và lòng thương nhớ anh em bạn bè, những kẻ kề vai sát cánh, sống chết với mình đã vĩnh viễn nằm lại.

Mỗi lần nghe bản nhạc: ”Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…” Đám bạn bè của Ông cúi đầu mắt đỏ hoe. Ai hiểu được nỗi niềm của kẻ tha hương muốn đem nắm xương tàn về với quê hương bên đồng đội của mình:

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh
Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
Ôi ! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Ben-Hét, Đắc-Tô
Nơi bạn bè tôi, xây mộng sông hồ
Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quý.
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu Đ
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi
Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời
Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.
Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
Gói thân tôi ba sọc đỏ màu vàng
Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.
(Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển. Thơ Nguyễn Văn Phán)

Một ngày giúp Sư Cụ dọn dẹp kệ sách trong Chùa, bất ngờ ông đọc được bài kệ của Thiền Sư Mãn Giác. Tục truyền rằng bài kệ đó, Thiền Sư đã ban cho các đệ tử trước khi Ngài viên tịch, để an ủi những người còn thương tiếc Ngài. Ông Tư ngộ ra rằng kiếp nhân sinh là vô thường nên quyết tâm cạo đầu xin quy y làm đệ tử Phật Môn. Sư Cụ cũng hoan hỷ chấp thuận. Ông Tư nay đã trở thành Thày Năng Tĩnh, sớm hôm theo Sư Cụ học đạo và tụng kinh.

*
Thày Năng Tĩnh chợt nhớ ra, tuần lễ đầu tiên về giải tỏa Huế trong trận đánh Mậu Thân, đơn vị của Thày đã mất một phần ba quân số chỉ để băng qua một con đường, tiến vào khu trường học. Hóa ra ngôi trường là khu giam giữ những người dân chẳng may lọt vào tay lũ ###### nằm vùng. Hằng đêm chúng mở ra phiên tòa, buộc những tội vu vơ hay chỉ là tư thù cho người bị bắt rồi mang đi thủ tiêu. Một số người may mắn được đơn vị Ông cứu kịp, thoát chết, mặt mày ngơ ngáo, đói khát, trong đó có gia đình người thày giáo biệt phái bạn học cùng trường với Ông. Người bạn đã ôm chặt lấy Ông và khóc ròng. Nhiều người đã quỳ xuống đất lạy tứ phương như cám ơn những người lính VNCH và Trời Phật đã cứu họ vừa đúng lúc. Lính tráng chẳng có nhiều đồ ăn nhưng cũng chia cho đám “tù nhân” thê thảm đó ít cơm sấy ăn đỡ lòng. Đứa bé viết lời cám ơn gửi tới Ông chắc là cháu của Ông thày giáo hay là của một người nào đó trong đám tù nhân được Ông và đồng đội giải thoát.

Đôi tay run run, Thày lau nhẹ hai giọt lệ lăn trên gò má rồi tất tả đi vào chánh điện lạy Phật, tụng một hồi kinh sám hối. Thày bước qua góc phải đến trước bàn thờ Hương Linh,

Trên bàn thờ có hình ảnh 5 vị Tướng VNCH tuẫn tiết và thấp thoáng rất nhiều hình ảnh các cựu chiến binh. Thày thắp nhang, vái lạy và ngồi tụng một hồi kinh. Tiếng thày sang sảng nhịp đều theo tiếng mõ. Thỉnh thoảng âm vang tiếng chuông giải thoát trong không gian tĩnh mịch như muốn thức tỉnh những ai còn đang u mê trong cõi trầm luân.
Nửa đêm, Thày chợt tỉnh giấc, trong tay vẫn cầm tấm thiệp, nước mắt còn hoen ố trên mi. Thày thì thầm đọc bài kệ của Thiền Sư Mãn Giác:

“Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai”

Đúng vậy, Chết không phải là hết, Miền Vĩnh Cửu vẫn là điều mong ước như cành mai còn nở vào độ xuân tàn. “Nhất Chi Mai” tượng trưng cho niềm hy vọng, chân thiện mỹ. Những sự hy sinh bản thân mình của các vị anh hùng cho tha nhân giống như những giá trị siêu việt, vẫn trường tồn bất diệt. Thày mỉm cười, khoác thêm tấm áo lạnh, đầu chùm chiếc mũ len, lặng lẽ đi ra phía bờ hồ, con chó con lẽo đẽo theo sau. Thày châm lửa đốt tấm thiệp, rồi ngồi tọa thiền đến lúc nghe tiếng gà gáy, con chó vẫn nằm yên dưới chân chủ nó. Thày thủng thẳng đứng dậy, đi về hướng chánh điện. Sau một đêm tọa thiền, ánh sáng ban mai đã xua đuổi hẳn màn đêm tăm tối ra khỏi bàu trời mênh mông và ra khỏi tâm trí Thày Năng Tĩnh.

Thày là người tu hành, những tưởng rằng nương tựa cửa Phật thì sẽ quên mọi sự nhưng dù sao Thày cũng chỉ là con người như trăm ngàn con người khác với đủ cả “hỉ nộ ái ố” … Thầy sửa soạn để tụng hồi kinh sớm với tấm lòng từ bi, một trái tim biết sót thương đồng loại!

Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
Balai-Ngày Cũ
post Mar 1 2012, 04:53 AM
Gửi vào: #2


Member
**

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 13
Tham gia: 14-February 12
Thành viên thứ: 17,664



Tác giả: Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Tôi và Dũng giận nhau đã hơn tuần lễ sau một trận cãi vã dữ dội, chúng tôi quyết định xa nhau. Khuôn mặt cương nghị tuấn tú của chàng với nụ cười ngạo nghễ luôn luôn ám ảnh tôi. Đã bao lần cầm điện thoại định gọi chàng làm hoà nhưng lại thôi. Tính tự ái của đứa con gái tự lập vẫn to lớn hơn tình yêu của chúng tôi. Những câu hỏi vẩn vơ cứ luẩn quẩn mãi trong đầu: Chàng có nhớ tôi không" Tại sao chàng không đến thăm tôi" Tại sao chàng không gọi điện thoại cho tôi" Hay chàng có người nào khác" Tôi tự an ủi mình thế nào chàng cũng xin lỗi tôi, rồi mọi chuyện đâu sẽ vào đó.
Cả tuần nay, ngồi trong sở tôi không thể tập trung làm việc được. Đầu óc đi chơi đâu mất, tôi thơ thẩn như người mất trí. Buổi chiều đi làm về, tôi bày biện ra nấu nướng để cố quên đi một ngày trống rỗng nữa. Nhưng chẳng bao lâu, theo thói quen tôi nhấc điện thoại lên định gọi chàng như những ngày chưa giận nhau, rồi sực nhớ ra tôi đã thề không bao giờ liên lạc với chàng nữa, tôi lại gác điện thoại xuống. Tôi chạy vào phòng ngủ úp mặt vào gối khóc nức nở như một đứa con nít bị mẹ ngăn cấm không được làm điều gì đó. Tôi muốn trốn chạy chàng, xua đuổi hình ảnh chàng, tôi bịt chặt lỗ tai để không nghe tiếng nài nỉ của chàng. Nhưng tôi không thể trốn đâu được bởi vì chàng ở ngay trong trái tim tôi, trong máu huyết tôi. Có lần hai đứa ôm nhau ngây ngất, chúng tôi đã chết trong nhau, chàng thì thầm bên tai tôi:
- Anh ở trong em, hai đứa mình là một, chúng mình không thể xa cách được.
Tôi cắn nhẹ tai chàng:
- Đúng vậy, chúng ta mãi mãi bên nhau, dù anh có đi đến góc biển chân trời chúng ta vẫn có nhau.
Tôi vặn nhạc thật to cho bể lỗ tai luôn. Nhưng tiếng thì thầm của chàng vẫn văng vẳng bên tai:
- Em yêu, anh ở trong em, em không thể nào trốn chạy anh được!
Tim tôi rạo rực, lòng bồn chồn. Nếu không có lời thề nguyền hôm nào chắc tôi đã leo lên xe chạy bay đến bên chàng. Chúng tôi sẽ quấn quít lấy nhau trong cơn bão lửa. Tôi sẽ ăn từng mảnh da thịt của chàng để bù lại những ngày xa cách. Chúng tôi sẽ quằn quại bên nhau cả ngày lẫn đêm và quên hết mọi chuyện hôm qua, hôm kia, tuần trước và cả ngày mai. Không còn chờ đợi được nữa, tôi phải gọi chàng ngay. Tôi đứng phắt dậy, tắt nhạc và nhấc ống nghe lên. Tôi phải làm thật nhanh kẻo cái tính bướng bỉnh, tự aí sẽ nổi dậy phản đối. Tôi lính quýnh bấm số điện thoại của chàng, tim đập hối hả. Tiếng reng đầu tiên vừa dứt, một giọng đàn bà lớn tuổi khô khan trả lời:
- Lộn số rồi.
Tôi chưa kịp có phản ứng gì thì đã bị cúp máy cái cụp. Đầu tôi điên cuồng đầy nghi vấn. Tôi gọi lại lần nữa, cẩn thận hơn cho khỏi lộn số. Tiếng reng đầu tiên vừa chấm dứt thì vẫn giọng nói khô khan ban nãy:
- Đã bảo lộn số rồi mà.
Tôi chưa kịp nói câu nào, đầu dây bên kia đã cúp máy. Tôi thật hoang mang chẳng lẽ tôi bấm lộn số hai lần. Tôi lấy cuốn sổ điện thoại ra dò lại cho chắc ăn rồi từ từ bấm từng số một cho khỏi sai. Vẫn giọng nói lúc trước nhưng có vẻ khó chịu:
- Đã bảo lộn số rồi sao còn gọi mãi thế.
Tôi chắc chắn không thể lộn số được, hay là Dũng biết tôi gọi nên nhờ ai trả lời dùm. Không phải, từ nãy đến giờ tôi đâu có nói được tiếng nào đâu làm sao chàng biết tôi gọi chứ. Tôi gọi lại lần nữa và lên tiếng trước:
- Hello !
Ngừời đàn bà không trả lời mà chỉ gác máy một cách giận dữ. Tôi đâu chịu thua, quyết tâm gọi mãi cho đến khi nào Bà chịu nói chuyện với tôi mới thôi. Tôi vừa bấm số xong, liền lên tiếng ngay:
- Bà cho cháu hỏi thăm một chút.
- Cô lộn số rồi.
- Sao Bà biết cháu lộn số.
- Cái đó tự cô phải đoán ra chứ.
Tôi chưa nói thêm được lời nào bà đã lại cúp máy. tôi tự nhủ thầm:
- Ít ra bà ta cũng đã chịu mở miệng, đúng là số điện thoại của Dũng rồi nhưng sao chàng không trả lời" người đàn bà này là ai"
Tôi không còn cách nào khác hơn là năn nỉ Bà may ra tìm được vài tia hy vọng. Đầu óc quay cuồng, tôi uống một ly nước đầy để lấy lại bình tĩnh và sắp đặt câu đối đáp với bà ta. Tôi bấm số điện thoại và lên tiếng ngay để bà không có dịp cúp máy:
- Dạ thưa Bà cho cháu hỏi thăm Bà một chút
- Lại cô nữa phải không" Tôi đã nói bao nhiêu lần rằng cô lộn số rồi mà.
- Thưa cháu không có lộn số đâu, cháu muốn hỏi thăm bà một chút chuyện.
- Tôi đâu có quen cô.
- Dạ, cháu biết vậy, nhưng chẳng biết cách nào hơn, nhưng Bà chưa nói gì, sao Bà biết cháu quay lộn số chứ.
Một vai giây yên lặng trôi qua, lòng tôi như lửa đốt, chỉ sợ Bà lại gác điện thoại lần nữa, nhưng may qúa Bà đã lên tiếng:
- Bởi vì tôi mới dọn lại căn chung cư này hôm qua và không cho ai số điện thoại này cả. Tôi có hứa với người chủ cũ là để cho tôi dùng số điện thoại này cho đến cuối tháng, tôi sẽ trả cái bill tháng này cho cậu ta.
Tôi nghẹn ngào trong lòng, bụng thót lên đau đớn. Thế là chàng đã nhất định xa tôi, tôi đã mất chàng thật rồi. Cũng lỗi tại tôi, nếu tôi đừng hồ đồ trút lên đầu chàng cơn thịnh nộ vô căn cứ của tôi. Cũng chỉ vì tôi ghen qúa đáng mà thôi, tôi sợ mất chàng. Nếu tôi đừng tự ái thề là sẽ không bao giờ liên lạc với chàng, nếu tôi gọi lại xin lỗi chàng sớm hơn, nếu... và trăm chữ nếu, dù sao bây giờ cũng đã trễ rồi. Tôi muốn thét lên thật to. Tôi nghẹn ngào hỏi lại bà:
- Thưa bà, bà có biết anh ấy dọn đi đâu không"
- Cậu ấy không cho tôi địa chỉ, cô có phải là cô Duyên không"
Tôi như người chết đuối vớ được phao:
- Dạ, đúng vậy, sao Bà biết"
- À, cậu Dũng có dặn báo cho cô biết là cậu ấy chết rồi.
- Trời đất Thế Bà có biết anh ấy dọn đi đâu không"
- Đã bảo không biết mà sao cô hỏi hoài vậy "
Có lẽ cảm thấy gắt gỏng một cách vô lý với tôi, Bà nói tiếp:
- Cậu ấy chẳng cho tôi biết gì hơn. Thôi cô đừng buồn nữa. Thời gian sẽ làm lành tất cả các vết thương lòng, dù đau đớn đến đâu đi nữa.
Tôi nghe có tiếng thở dài bên kia đầu dây. Tôi có cảm tưởng bà nói cho chính bà vậy. Tôi thấy vị mặn đắng trong lưỡi, cổ họng khô quạnh. Cả hai chúng tôi cùng yên lặng một lúc khá lâu. Cuối cùng tôi phá vỡ bầu không khí nặng nề:
- Xin Bà cho cháu được làm quen với Bà trên điện thoại này, khi nào đổi số điện thoại xin Bà cho cháu hay.
Một thoáng ngập ngừng:
- Nói thật với cô tôi chẳng có thêm tin tức gì của cậu Dũng cả.
- Thưa Bà, cháu hiểu nhưng cháu chẳng còn ai quen thuộc ở thành phố này. Xin Bà cho cháu được làm quen với Bà
- Thôi được, cứ gọi tôi ở số này, tôi ở đây một mình.
Tôi cám ơn Bà và hẹn sẽ gọi hỏi thăm Bà thường xuyên. Từ đó mỗi tuần đôi ba lần gọi điện thoại hàn huyên với Bà. Lâu rồi trở thành thói quen như xưa tôi hay gọi Dũng mỗi tối sau khi cơm nước xong. Những khi có điều buồn phiền tôi hay tâm sự với Bà. Cũng có khi xin Bà ý kiến về những điều khó giải quyết. Dần dần chúng tôi trở nên thân thiết qua đường dây điện thoại. Có lẽ Bà cũng thích nói chuyện với tôi. Có lần phải đi công tác cho sở đến hơn tuần lễ, Bà trách sao không báo trước để Bà khỏi trông điện thoại. Lúc này Bà hay than phiền về tình trạng sức khoẻ yếu kém, tôi ngỏ lời xin đến thăm và săn sóc nhưng Bà một mực từ chối viện lẽ người già thường hay bệnh vẩn vơ vài bữa rồi sẽ khỏi lại ngay. Tôi không bao giờ nghe Bà nhắc đến con cái hay bạn bè, có lần hỏi Bà:
- Thưa Bà, Bà có thân nhân nào ở đây không "
- Ông nhà tôi bị mất trên đảo, khi con thuyền vượt biên vừa đến được bến bờ tự do. Tôi và đứa con gái được nhận vào Mỹ qua sự bảo trợ của một người bạn đồng nghiệp khi xưa của ông nhà tôi. Chẳng bao lâu, Người bạn xin cưới con gái tôi cho con trai lớn của họ.
- Sao Bà không ở với anh chị ấy.
- Chẳng nói dấu gì cô, ban đầu gia đình rất hoà thuận vui vẻ. Tôi ở chung với anh chị ấy, giúp đỡ chăm sóc các cháu. Tôi cũng thông cảm bên này ai cũng phải làm việc nên tôi chẳng nề hà gì chuyện đó. Anh ấy là con nhà danh gía, nhưng tính tình không được rộng raĩ, lại hay kiểm soát vợ từng ly từng tý một. Cái kiểu chồng chúa vợ tôi như ở bên nhà ấy mà chắc cô cũng biết.
Tôi chẳng biết nói gì hơn là ậm ừ cho qua chuyện. Bà lại tiếp:
- Tôi thấy bất nhẫn, đôi khi có khuyên giải anh ấy nhưng chỉ nhận thấy thái độ hỗn hào. Tôi nghĩ đã đến lúc phải tự mình lo lấy thân, không muốn nhờ vả vào ai. Tôi không muốn vì tôi mà hạnh phúc gia đình anh chị ấy gặp khó khăn. Vả lại sống một mình tự do hơn, tôi muốn bày biện gì tuỳ ý. Tôi cũng chẳng còn ai, nên thỉnh thoảng qua bên đảo thăm ông nhà tôi.
- Dạ, Bà nói cũng phải, Thưa Bà, Bà còn thân nhân bên Việt Nam không"
- Chỉ còn bạn bè cũ và vài người bà con xa, thỉnh thoảng tôi cũng về thăm và giúp đỡ họ. Đó là niềm vui duy nhất của tôi bây giờ. Tiền già và trợ cấp xã hội cũng tạm sống đủ chẳng phải lo lắng gì cả. Còn cô, vẫn còn sống với gia đình phải không"
Tôi hơi ngại ngùng nhưng cũng trả lời Bà:
- Bố cháu bị đi tù cải tạo, lúc đó chị em cháu còn nhỏ lắm. Mấy năm sau Mẹ lập gia đình và giao chị em cháu cho Bà Nội.
- Thế Bố dẫn cô qua Mỹ hả"
- Không, Bố cháu bị bênh nặng nên người ta thả ra, chẳng bao lâu thì qua đời. Trước khi nhắm mắt Bố xin với Nội lo cho hai chị em cháu vượt biên.
- Vậy là cô qua đây với Ông Bà Nội"
- Không, với gia đình của người bạn Bố cháu.
- Cô vẫn còn liên lạc với Mẹ thường xuyên phải không"
- Mẹ đã có gia đình riêng nên cháu cũng không muốn làm phiền Mẹ, vả lại cháu không có địa chỉ Mẹ.
- Cô cũng đừng trách Mẹ, dù sao cũng chỉ vì hoàn cảnh thôi, nếu không có biến cố 30 tháng 4, chắc gia đình cô đâu bị tan nát như vậy.
Một phút yên lặng trôi qua, tôi nghe có tiếng thở dài của Bà. Thực sự, nếu cố tình tìm kiếm tôi cũng có địa chỉ của Mẹ. Nhưng tôi không có nhiều kỷ niệm với Mẹ, ngoại trừ những giọt nước mắt khóc cho thân phận cô đơn của mình. Mỗi khi thấy tôi đứng tựa cửa mắt đỏ hoe, Bố lại dỗ dành an ủi:
- Con nhớ Mẹ phải không" Đừng trách Mẹ, ở vào hoàn cảnh Mẹ, tứ cố vô thân, không nghề nghiệp trong tay chẳng biết làm gì để sinh sống, lại mang tiếng là vợ Ngụy Quân, nhiều người cũng phải làm vậy thôi. Bố chỉ tiếc là không còn đủ thì giờ để làm tròn trách nhiệm của mình đối với gia đình và đất nước.
Lúc đó tôi còn qúa nhỏ để hiểu được thế nào là hoàn cảnh, trách nhiệm, chỉ biết khóc mà thôi. Bây giờ sống trên đất lạ quê người, tứ cố vô thân tôi phải tự xoay sở một mình, tôi cũng lơ mơ hiểu được thế nào là hoàn cảnh. Nước mắt lưng tròng, không biết tôi khóc cho chính tôi, cho người đàn bà mới quen, cho Bố, cho Mẹ hay cho hoàn cảnh của tất cả những người Việt Nam xa quê hương. Vâng, tất cả cũng chỉ vì hoàn cảnh. Ai đã gây ra hoàn cảnh " Chỉ có Trời mới biết. Tôi muốn xin với Bà, cho tôi được làm con của bà nhưng lại ngại ngùng rồi thôi. Tôi đang cần một tình thương, chắc Bà cũng vậy.
Thời gian thấm thoát trôi qua, đã hơn một năm từ ngày tôi mất liên lạc với Dũng. Tôi phải đi công tác cho sở ba tháng. Tuần lễ cuối cùng, lợi dụng những ngày rảnh rỗi tôi đi lùng kiếm mua vài thứ trái cây Việt Nam đặc biệt như nhãn, mít, xoài tượng mang về làm quà. Tôi nhất quyết phải đến thăm Bà. Biết đâu sự gần gũi sẽ giúp chúng tôi thân thiện hơn là sự quen biết bình thường.
Về đến nhà, nghỉ ngơi một chút cho khỏe rồi chạy ngay lại khu chung cư Dũng ở khi xưa. Tôi muốn dành cho Bà một sự ngạc nhiên nên cố ý không gọi điện thoại trước. Tôi bước những bước hồi hộp, lòng tôi lại nhói lên những kỷ niệm với Dũng ngày nào. Thời gian đã làm giảm đi nỗi đau nhưng vết thương vẫn chưa lành hẳn. Tôi đến bên cửa phòng gõ nhẹ mấy tiếng nhưng không có tiếng trả lời. Tôi gõ mạnh hơn. Ông cụ ở phòng đối diện thò đầu ra hỏi tôi:
- Cô kiếm ai "
- Cháu thăm Bà Lê.
- Cô là thân nhân của bà ấy hả "
- Dạ không, quen biết thôi.
- Bà Lê bị bênh và đã qua đời hơn một tuần rồi, có phải cô tên Duyên không"
Toiâ sững sờ, đánh rơi cả giỏ trái câỵ Trời đất như quay cuồng trong đầu. Tôi luôn luôn đi trễ một bước.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại cụ:
- Dạ, sao cụ biết tên cháu"
- Bà Lê có nhờ tôi giao bức thư này cho cô.
Tôi vội mở ngay ra đọc:

Cháu Duyên thương mến,
Bà biết ngày giờ của Bà đã gần đến nên có đôi lời từ biệt cháu. Bà vẫn ước ao có một đứa con ngoan ngoãn và lễ phép như cháu. Rất tiếc là chúng ta gần gũi nhau không được bao lâu. Bà đã biết căn bệnh hiểm nghèo này từ lâu và chẳng còn thuốc chữa. Chính vì vậy, Bà không muốn tình cảm của chúng ta đi xa hơn sự quen biết thường tình. Bà cũng biết Dũng đã không thương cháu thật tình nên chẳng biết cách nào hơn là muốn cháu có một thời gian suy nghĩ để thực sự hiểu lòng mình. Bà thành khẩn xin lỗi cháu. Đến nay, Bà nghĩ thời gian cũng đủ lâu để cháu quyết định. Kèm theo đây là địa chỉ và số điện thoại của cậu Dũng. Dũng là em chồng của con gái Bà nên cũng chẳng xa lạ gì.
Chúc cháu may mắn.
Bà Lê.
T.B. Cháu hãy liên lạc với Mẹ, Bà chắc là Mẹ đang trông đợi cháu.

Tôi hỏi thăm Ông cụ nơi an nghỉ cuối cùng của Bà, rồi lái xe ngay lại thăm. Ngôi mộ còn phủ đất mới với vài vòng hoa trên mặt. Tôi đặt giỏ trái cây tặng Bà và thầm cám ơn Bà những ngày được trò truyện tâm sự với Bà. Tôi vẫn còn nghe văng vẳng tiếng Bà an uỉ và chỉ bảo tôi để vượt qua được những ngày khó khăn nhất trong cuộc đời. Tôi không thể ngăn kịp hai dòng lệ. Thực sự tôi đã khóc cho chính tôi: Một đứa con gái côi cút cô đơn, mất tất cả những gì trong tầm tay. Tôi chợt nhớ hôm nay là ngày lễ Vu Lan, tôi biết tôi phải làm gì để đẹp lòng Bố tôi. Tôi sẽ tìm Mẹ để được úp mặt trong lòng người mà khóc cho đã, để gột rửa tất cả những đắng cay, đau đớn, buồn phiền.
Tôi sẽ xin Mẹ tha lỗi cho tôi.

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
Balai-Ngày Cũ
post Mar 15 2012, 03:44 AM
Gửi vào: #3


Member
**

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 13
Tham gia: 14-February 12
Thành viên thứ: 17,664



CÂY CẦU BIÊN GIỚI
Tác giả: Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Tôi đứng ngay tại Ngã Ba Hàm Rồng. Buổi trưa nắng chang chang. Thỉnh thoảng một cơn gío nổi lên cuốn theo những đám bụi đỏ mù trời. Ngừơi tài xế của hãng du lịch chạy đến bên tôi thắc mắc:
- Anh kiếm cái gì thế ? con đường trước mặt đi về hướng Phú Nhơn mãi đến Banmêthuột, bên trái là ngõ về quận lỵ Phú Thiện và tỉnh Phú Bổn, còn đằng sau là con đường mình mới từ Pleiku ra đây. Anh muốn đi đâu thì cứ cho tôi biết, tôi sẽ đưa anh đến nơi đến chốn.
Tôi thầm nghĩ:
- Dù đã lâu lắm rồi nhưng làm sao quên được. Mình đã chôn vùi một đoạn đời hoa bướm nơi rừng núi này. Quang cảnh vẫn vậy, chỉ có tiêu điều hơn mà thôi. Con đường trải nhựa có nhiều ổ gà hơn xưa, vắng vẻ hơn xưa, hàng quán xơ xác hơn.
Tôi trả lời bâng quơ:
- Tôi đang chụp hình.
- Tôi đâu thấy anh mang máy hình ?
- Ồ, chụp hình trong đầu ấy mà.
Nguời tài xế há hốc mồm ra ngạc nhiên, anh ta nói lẩm bẩm trong miệng nhưng đủ cho tôi nghe rõ:
- Mấy ông nội Việt kiều thật là lẩm cẩm.
Tôi leo lên xe và hối người tài xế chạy về phía quận Phú Nhơn. Chiếc Xe mướn của hãng du lịch tương đối còn mới, lồng lộn lao về phía trước, lúc nghiêng qua trái, lúc lách qua phải để tránh những khúc đường bể chưa được sưả chữa. Mà có lẽ sẽ chẳng bao giờ được sửa chữa nữa. Hàng trăm thứ chuyện quan trọng hơn người ta chẳng thèm để ý tới xá gì một con đường xa xôi hẻo lánh này. Để mặc tài xế đánh vật với chiếc xe và con đường, tôi thả hồn chìm về dĩ vãng ...

&

Ngày ấy đã xa lắm rồi.
Tôi mới đến vùng này,là một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập. Tiểu Đoàn mới, từ sĩ quan đến binh lính, hầu hết là những thành phần khó sài từ các đơn vị khác gởi về. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong thành phần bất hảo đó. Từ miền biển bị đưa lên miền núi và chỉ huy một đám quân gồm đủ mọi thành phần. Tôi còn đang buớc những bước đi chập chững của nghề chỉ huy thì phải tung ra chiến trường. Ngày ấy, cũng trên con lộ này, tôi dẫn hai con Gà Cồ Đại Pháo 105 ly để yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận tái chiếm quận lỵ Phú Nhơn mà Bắc Quân vừa mới tràn ngập đêm hôm trước.
Ngã ba này bình thường chỉ có vài quán cóc lèo tèo để bán đồ ăn thức uống cho xe đò chạy đường Pleiku - Phú Bổn hay Pleiku - Banmêthuot. Hôm đó dân chạy loạn từ Phú Nhơn ra rất đông, từ những làng Thượng, hoặc mấy khu dinh điền và dân làm ăn buôn bán chung quanh quận lỵ. Dân chúng thấy lính đi tái chiếm quận, họ rất mừng rỡ, người hỏi thăm, người cho quà bánh. Đổi lại đám lính tặng lại dân chúng thuốc lá và những đồ hộp Quân Tiếp Vụ. Dân ở quận nhỏ xa xôi cũng nghèo khổ như lính vậy thôi.
Từ sáng sớm, lo đốc thúc tải đạn, sửa soạn xe cộ, đại bác, hàng trăm thứ phải làm cho một cuộc trực thăng vận, cho nên bao tử còn trống rỗng. Phi cơ câu súng đại bác phải xin từ căn cứ Mỹ Ớ Quy Nhơn lên, nên chờ cũng còn lâu. Tôi rủ anh chàng Chuẩn Uý Trung Đội Phó kiêm Đề Lô vào quán bên đường kiếm cái gì lót bụng. Dân quận lỵ bu lại hỏi thăm tình hình, chừng nào có thể về quận được ? Đánh nhau có lâu không ? Toàn những câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được.
- Mấy anh ấy đi giải toả quận Phú Nhơn phải không ông chủ.
- Tôi đoán vậy, cô thử hỏi mấy ổng coi.
Tôi quay lại, người vừa hỏi là một thiếu nữ độ đôi mươi, nàng mặc chiếc áo dài trắng học trò đang hỏi thăm người chủ quán, tôi hỏi lại cô gái:
- Sao cô đoán tụi này đi giải toả Phú Nhơn ?
- Em mới từ Tuy Hòa lên Pleiku hôm qua. Sáng nay đáp xe đò vô quận, không ngờ kẹt từ sáng đến giờ.
- Cô cũng ở quận Phú Nhơn sao ?
- Em dạy Ớ trường tiểu học Phú Nhơn, còn nhà em ở Tuy Hòa.
- Cô nên về Pleiku kiếm chỗ ngủ đỡ qua đêm nay.
- Em không có ai quen Ớ Pleiku cả, vả lại em nóng lòng không biết nhà cửa, trường ốc ra sao ?
- Cô có lo lắng thì cũng chẳng làm gì được, tốt hơn hết là kiếm chỗ nào nghỉ đỡ qua đêm nay, chờ giải toả xong mới về được.
- Đám học trò của em chạy ra đây cũng đông lắm, em không thể bỏ chúng được. À này các anh đừng pháo vào trường học nghe.
Tôi vỗ vai Châu Đề Lô vừa cười vừa nói:
- Cái đó cô phải nhờ ông Châu mới được, ổng chỉ đâu là nơi đó thành bình địa.
Châu vội lên tiếng:
- Trường của cô giáo tụi này không dám đụng tới.
Tôi chế diễu Châu:
- Bạn hứa một mình chứ không có tôi can dự trong đó đâu nghe. À nãy giờ mình nói chuyện mà quên giới thiệu. Tôi tên Lập, anh bạn này tên Châu. Thưa qúy danh cô là ...
- Em tên là Quỳnh Hoa, các anh hứa là phải giữ lời đó à nghe !
Tôi chọc ghẹo Quỳnh Hoa:
- Nếu tụi này giữ lời hứa thì Quỳnh Hoa phải đền cái gì mới được chứ ?
Tôi nhìn người con gái nước da trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc, đôi môi đỏ như cánh bích đào, cặp mắt to đen láy trông thật thông minh lanh lẹ, mái tóc thề phủ xoã ngang lưng, nụ cười tươi như hoa với hàm răng đều đặn như những hạt bắp vừa đủ lớn. Nhìn Quỳnh Hoa đứng giữa đám học trò nhà quê lem luốc bẩn thỉu, tôi có cảm tưởng nàng là bà tiên giáng trần, đang cầm cây đũa thần gõ trên đầu đám chúng sinh đầy đau khổ. Nàng rất bạo dạn tuy hơi lo lắng, nhưng không có cái e lệ như những cô gái xứ kinh kỳ. Tôi tự nhủ:
- Bông hoa vương giả này sao lại mọc ở chốn rừng hoang mông quạnh này nhỉ ?
Quỳnh Hoa thấy tôi nhìn cô chăm chú, có vẻ mắc cỡ đôi má càng hồng hào thêm, còn đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Châu vội đề nghị:
- Thôi bữa nào giải toả xong, đãi tụi này một bữa cơm nhà quê được không Qùynh Hoa ?
- Em nấu ăn dở lắm, nhưng em sẽ đãi các anh một chầu bún bò Huế, được không ?
Tôi làm bộ nuốt nước miếng:
- Ôi chao, chưa đánh mùi mà đã thèm nhỏ dãi rồi.

Có tiếng trực thăng từ xa vọng lại. Tôi từ giã Quỳnh Hoa rồi vội vã đốc thúc anh em binh lính để cuộc di chuyển được mau chóng. Bình, anh chàng tài xế xe jeep của tôi chạy lại hỏi:
- Mình cần về hậu cứ lấy thêm gì nữa không Ông Thầy ?
- Chắc đủ rồi, vả lại cũng không còn kịp nữa.
Tôi móc túi đưa cho Bình một ít tiền lẻ và nói:
- Em vào trong quán mua vài gói mì và một hộp trà, tối nay mình ăn mừng chiến thắng.
- Bình cầm tiền, nheo mắt chọc tôi:
- Cái cô hồi nãy coi bộ chịu đèn Ông Thày lắm rồi đó nghe.
Tôi thấy thích thú trong lòng nhưng cũng làm bộ chống chế:
- Con gái đời nay đẩy đưa lắm khó mà lường được.
Trời bắt đầu đổ mưa lâm râm khi trực thăng vừa bốc hai khẩu đại bác. Tôi nhìn bầu trời đen nghịt mà aí ngại cho những giờ phút nguy hiểm gian lao sắp tới bởi vì tôi vừa phải chiến đấu với địch quân vừa phải yểm trợ cho quân bạn ngay từ phút đầu trong thời tiết mưa gío bão bùng này. Những cơn mưa trên miền núi thường dai dẳng và mang theo gío lạnh thấm đến tận xương tủy của những người lính Pháo Thủ, vừa thiếu ăn vừa phải làm việc cực nhọc. Tôi thầm hỏi liệu đêm nay trực thăng có kịp đổ quân để bảo vệ hai con gà cồ của mình không ?
Hai khẩu đại bác cùng với 4 túi đạn 105 li và chiếc xe Jeep được thả xuống một ngọn đồi trọc. Dưới cơn mưa tầm tã, đất đỏ lầy lội, đám pháo thủ thoăn thoắt làm việc: Hì hục đẩy hai khẩu pháo lại gần nhau, khuân vác đạn dược, dựng cây truyền tin, nhắm hướng súng. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, Những trái đạn đầu tiên đã được gởi đi liên tục để dọn bãi đáp cho hai tiểu đoàn Bộ Binh đổ bộ xuống mục tiêu.
Trận tái chiếm quận Phú Nhơn hôm đó đã thành công hoàn toàn nhưng Châu Đề Lô đã bị thương nặng, một mảnh đạn B40 của địch quân đã chọc một lỗ lủng lớn ở bụng của hắn. Tóan Pháo Binh được di chuyển về phía sau quận hành chánh để sãn sàng yểm trợ cho lực lượng bảo vệ quận.
Một buổi sáng, sau khi sửa sang tuyến phòng thủ tạm ổn định, tôi ghé thăm Quỳnh Hoa. Ngôi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Anh em quân nhân trong quận đang gíup tay sửa sang những chỗ bị tàn phá. Tôi đến bên lớp học của Qùynh Hoa, nàng đang say sưa tập hát cho các em nhỏ. Có tiếng một em bé báo động:
- Thưa cô có Ông Lính tới kiếm.
Nàng quay lại, gật đầu chào. Tôi ướm thử xem nàng còn nhận ra tôi không:
- Ông Lính kính chào Cô Giáo, Cô Gíao còn nhớ Ông Lính này không ?
Nàng không thể nhịn cười được lối diễu cợt của tôi, nhưng cũng không chịu thua:
- Ông Lính đi đâu mà lạc vô đây ?
- Ông Lính đi lạc vào Thiên Thai đó ạ, không biết Tiên Nữ có cho Ông Lính xem rừng Đào Tiên không.
- Ông Lính tỉnh lại đi, đây là chốn phàm tục, đâu có nàng Tiên nào đâu.
- Chứ Quỳnh Hoa không phải là Tiên sao?
Nàng nghe tôi khen không khỏi e thẹn:
- Anh Lập làm Qùynh Hoa mắc cỡ quá hà! Người ta xấu như ma mà so sánh với Tiên, anh có mơ ngủ không đấy? Anh Châu có khỏe không anh Lập?
- Châu bị thương nặng đang nằm Ớ quân Y viện Pleiku.
- Trời ơi, có nguy hiểm lắm không anh?
Thấy mặt Qùynh Hoa biến sắc, tôi thấy hơi ganh với bạn mình, nhưng vội trấn an:
- Chắc không đến nỗi nào, nhưng phải nằm nhà thương một thời gian.
- Hôm nào anh có đi thăm anh Châu cho em đi theo với nghe.
Tôi tự nhủ thầm sao nàng dễ xúc cảm như vậy nên hứa đại cho xong chuyện:
- Cuối tuần tôi phải về hậu cứ nhân tiện ghé đón Quỳnh Hoa đi thăm Ông Châu luôn thể, cô có chịu không ?
- Gia đình ảnh đã biết chưa vậy anh Lập ?
- Gia đình ảnh Ớ Pleiku đã được thông báo rồi.
Tôi hỏi thăm qua loa về trường ốc và gia cảnh của nàng rồi vội vã cáo lui, hẹn gặp lại sáng thứ Bảy. Qùynh Hoa hiện Ớ trọ tại nhà bà Hiệu Trưởng, một người bạn cũ của gia đình nàng. Chồng Bà cũng là một cựu quân nhân giải ngũ, có tiệm tạp hóa ngoài chợ.
Sáng thứ Bảy, Tôi cho tập họp Trung Đội, giao doanh trại cho Ông Thượng Sĩ Thường Vụ rồi hối đám quân xa chuẩn bị xe cộ về hậu cứ lãnh lương thực và đạn được. Tôi gọi Bình vào văn phòng rồi dặn:
- Bình à, coi lại xe cộ, xăng dầu đầy đủ, bữa nay mình về hậu cứ đồng thời ghé thăm ông Châu luôn thể. À hôm nay có một người bạn xin qúa giang nữa nghe.
- Ai vậy Ông Thầy ?
- Cô giáo bữa mình gặp ngoài Ngã BA Hàm Rồng đó nhớ không em.
- Ồ, vậy em phải rửa xe cho thật sạch mới được.
- Lính tác chiến mà chú mày làm như lính thành phố không bằng, không sợ tụi hậu cứ nó cười sao ?
- Sức mấy mà tụi nó dám cười Thầy Trò mình.
Tôi ghé lại nhà Quỳnh Hoa, nàng đã chờ sẵn, vẫn chiếc áo dài trắng hôm nào. Nét mặt vui vẻ, nụ cười tươi như hoa trông mới duyên dáng làm sao chứ ! Nàng bước ra cửa đón tôi:
- Chào anh, mời anh vào trong nhà uống miếng nước đã.
- Chào cô Qùynh Hoa, cám ơn cô để khi khác, thôi chúng ta lên đường kẻo trễ.
Đến hậu cứ, tôi nhận tiếp liệu rồi hẹn tất cả tập trung lúc 2 gìơ chiều để trở ra Phú Nhơn. Tôi chở Quỳnh Hoa vào bệnh viện. Châu vẫn còn thiếp trong giấc ngủ mê, khuôn mặt trắng bệch, hơi thở yếu ớt. Tôi có cảm tưởng thần chết đang lảng vảng đâu đây. Bà mẹ của Châu nhìn thấy chúng tôi thì không cầm nổi nước mắt. Bà bắt đầu thút thít khóc. Tôi tự hỏi trong những ngày qua người mẹ đau khổ này đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đứa con yêu dấu của mình. Chiến tranh thật tàn nhẫn ! Nó như một con qủy luôn luôn cười cợt trên sự đau khổ của con người. Nó lấy xác chết làm chiến lợi phẩm. Qùynh Hoa nhìn thấy Châu, bỗng hai hàng lệ tuôn trào. Tôi đưa chiếc khăn tay, nàng cầm lấy, che lên mắt và đi vội ra ngoài. Tôi không ngờ nàng qúa thương tâm như vậy đối với một người bạn mới quen. Tôi an uỉ Bà Mẹ của Châu mấy câu rồi vội vã đi tìm Qùynh Hoa. Nhìn nàng đứng dựa chiếc cột ngoài hành lang bệnh viện, đôi vai rung lên từng hồi, có lẽ nàng đã qúa xúc cảm. Tôi chẳng biết làm sao để an ủi nàng. Miệng lưỡi cứng đơ, chân tay thừa thãi, tôi lặng lẽ đến bên nàng, mắt tôi cũng bắt đầu nhòe lệ, tôi ôm lấy đôi vai bé bỏng của nàng. Qùynh Hoa quay mặt lại và úp mặt vào vai tôi khóc nức nở như một đứa con nít. Có lẽ những đau khổ thầm kín lâu nay được dịp tuôn ra đi theo dòng nước mắt. Tôi để mặc nàng khóc cho đã đời. Một vài người đi ngang dòm chúng tôi với đôi mắt dò hỏi rồi bỏ đi. Chuyện khóc lóc có lẽ qúa bình thường ở đây. Nàng khóc một lúc rồi bắt đầu im lặng, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi an uỉ nàng:
- Em đừng khóc nữa, anh Châu chắc không đến nỗi nào đâu, Mẹ ảnh nói Bác Sĩ cho hay ảnh đã qua cơn hiểm nghèo rồi chỉ chờ bình phục thôi.
Nàng thì thầm bên tai tôi:
- Em nhớ Ba em hồi đó, cũng nằm ở Bệnh Viện này, trong cơn hấp hối, nên không cầm nổi nước mắt, xin anh tha lỗi cho em.
- Anh xin lỗi em, không ngờ cuộc thăm viếng này đã gợi cho em những đau đớn như vậy.
- Anh đừng nói vậy, anh không có lỗi gì cả, chỉ vì em tủi thân đó thôi.
Khi đã tỉnh trí, nhìn thấy một bên vai áo tôi ướt đẫm nước mắt, có lẽ thấy hơi ngượng ngùng nên đẩy nhẹ tôi ra và lí nhí mấy lời xin lỗi. Tôi vội dìu nàng ra xe và rủ ra ngoài phố kiếm ăn. Tôi dẫn Quỳnh Hoa vào quán như một đôi tình nhân gắn bó bên nhau. Những cặp mắt nhìn soi bói của đám thực khách mà qúa nửa là lính tráng khiến nàng hơi bối rối. Tôi nhìn nàng với đôi mắt nồng nàn, thầm cám ơn Thượng Đế đã cho tôi có dịp làm quen với người con gái dễ thương và thùy mỵ như vậy. Sự hiện diện của nàng trong đời sống khiến tôi thấy những gánh nặng trên vai nhẹ nhàng hơn. Qùynh Hoa là một dòng suối ngọt, một bóng mát, một hy vọng, một nơi yên nghỉ êm đềm cho linh hồn thể xác mệt mỏi của tôi trong cuộc chiến tàn nhẫn đầy máu và nước mắt này. Tôi vẫn cảm thấy rằng sau nét mặt vô tư ngây thơ, Quỳnh Hoa có một sức thu hút kỳ lạ, giống như một vùng đất mới chứa đầy những bí mật quyến rũ đối với những nhà thám hiểm. Đúng vậy, nàng chính là sự thiêng liêng kỳ bí, một vườn Địa Đàng cho riêng tôi. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao nàng qúa thương tâm khi thăm Châu trong bệnh viện nên muốn tìm hiểu thêm:
- Qùynh Hoa ở Phú Nhơn lâu chưa ?
- Độ gần một năm thôi, em ra trường sư phạm cấp tốc rồi xin đổi về đấy ngay.
- Sao em không xin dạy ở gần nhà có phải tiện hơn không ?
- Ngày xưa, Ba em làm Quận Trưởng Phú Nhơn. Người đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng cái quận đèo heo hút gío này. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dân chúng từ miền ven biển và từ ngòai Bắc di cư lên đây lập nghiệp, đã được chính quyền tận tình giúp đỡ. Nhưng rồi trong một cuộc đi thăm đồn điền của một xã phía Tây Quận Lỵ, Ba em đã lọt vào ổ phục kích và bị sát hại. Em lớn lên, muốn tiếp nối cái hoài bão của Ba em là nâng cao dân trí để họ có thể hiểu được ý nghĩa của sự tự do, dân chủ, công bình và lẽ phải.
Tôi thầm nghĩ những danh từ tự do, dân chủ thật qúa mơ hồ đối với những người lính tác chiến, với đám dân quê nghèo thất học ở đây. Gia đình, vợ con, miếng cơm manh áo, mạng sống có lẽ gần gũi hơn. Tôi thấy vừa kính nể vừa thương hại người con gái mới lớn mang trong lòng một hoài bão qúa lý tưởng, qúa to lớn. Nàng đúng là một Tiên Nữ mà Thượng Đế đã gởi xuống cõi trần đầy khổ đau này.
Sau nhều lần đi thăm Châu, chúng tôi thấy gần gũi nhau hơn. Tôi tìm thấy ở nàng một niềm vui, một ước mơ, một mái ấm gia đình cho tương lai. Vùng đất hoang vu này trở nên tươi mát đáng yêu bởi vì chỗ nào cũng thấy đoá Hoa Quỳnh nở rộn ràng.
Chúng tôi đã yêu nhau, có núi rừng và con sông nhỏ chảy qua quận lỵ làm chứng. Con sông thật hiền hoà và dễ thương như người tôi yêu. Bên bờ sông những hàng cây Phượng Vĩ nở đỏ rực mỗi mùa hè. Mùa mưa nước phù xa đỏ ửng từ trên ngàn chảy cuồn cuộn xuống ngập gần hết cây cầu sắt nhỏ bắc qua sông. Cây cầu nhỏ sơ sài có vài nhịp, bề ngang chỉ đủ cho một chiếc xe đò qua lại. Mùa nắng, nước cạn trơ những bãi cát trắng tinh. Người ta đào cát thành những vũng nước trong, gánh về để uống. Giữa lòng sông nước trong vắt nhìn thấy cát và sỏi tận dưới đáy, nước chảy lững lờ. Mấy chàng Pháo Thủ thường ra tắm sông để được chiêm ngưỡng những nàng thôn nữ cao nguyên ngực no tròn và rất tự nhiên. Tôi yêu núi rừng Cao Nguyên, mỗi buổi sáng thức dậy đứng trên đồi nhìn chung quanh chỉ thấy một màu xanh rì, mênh mông như biển cả. Tôi yêu con sông bé nhỏ, tôi yêu cây cầu sắt cũ kỹ đưa người qua sông, tôi yêu hàng cây Phượng Vĩ học trò, tôi yêu sân trường tiểu học Phú Nhơn, tôi yêu con đường nhựa bé bỏng chạy qua quận lỵ và băng qua núi rừng Cao Nguyên. Tôi yêu và yêu rất nhiều, bởi vì ở đâu cũng thấy hình bóng của nàng. Tôi yêu lắm những buổi chiều hai đứa dẫn nhau ra bờ sông, lang thang dưới những hàng cây xanh um, hoặc ngồi trên thành cầu nhìn dòng nước hững hờ trôi. Nàng ngồi bên tôi, đong đưa hai hàng chân trắng muốt, cười nói vô tư như một Thiên Thần. Trời Đất, Vũ Trụ, Thời Gian như ngừng hẳn, ôi đẹp đẽ và thanh bình đất nước tôi!
Ở đó, bấy giờ, không nghe tiếng súng nổ, không nghe tiếng gầm gừ của máy bay phản lực, không gian hoàn toàn yên tĩnh.
Chúng tôi đã dệt những giấc mộng tương lai đơn sơ và êm đềm.
- Qùynh Hoa ơi, mai này chiến tranh chấm dứt, anh sẽ cất một căn nhà bên bờ sông này, em sẽ tiếp tục dạy học, còn anh sẽ biến vùng đất màu mỡ này thành một đồn điền trù phú, em có chịu không ?
- Anh trồng cho em một vườn trái cây mít , ổi, xoài, đu đủ, mảng cầu nghe anh.
- Ừ, anh sẽ trồng bất cứ cây gì em muốn.
- Anh hứa thương em và chiều chuộng em như ngày xưa Ba yêu thương và chiều chuộng em nghe.
- Anh hứa.
- Anh đừng bỏ em, như Ba đã bỏ em một mình, em sợ lắm.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình.
- Nghe anh nói thơ mộng và sung sướng qúa, cám ơn Trời Phật đã cho em gặp anh. Có lẽ Ba đã run rủi em gặp anh đó. Lập ơi em thương anh lắm, anh biết không?
- Sao em thương anh nhiều dữ vậy ?
- Không biết nữa, có lẽ em thấy anh giống Ba em. Anh chiều chuộng em, anh là người lớn, bao dung, đại lượng, biết nhiều, hiểu nhiều. Anh biết không, hôm em gặp anh đi hành quân, em thấy anh oai hùng qúa, giống như Ba em ngày xưa. Mấy Ông Lính thương anh lắm phải không ?
- Không mấy ông ấy ghét anh lắm.
- Cái mặt xạo, ai mà ghét anh. Anh nhiều đào lắm phải không ? nói cho em nghe đi.
- Có mình em thương anh thôi, thiệt đó.
Tôi ngồi bên nàng, uống từng giọt tình yêu ngọt ngào, nghe trái tìm mình đập từng điệu nhạc run rảy trên lối vào Thiên Đường chỉ có hai đứa chúng tôi. Nàng đã dạy cho tôi biết mơ mộng, thấy đời đáng yêu hơn, những thứ đó tôi đã đánh mất từ khi mới lớn, từ khi bước chân vào quân ngũ, tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ của tôi đang đi vào ngõ cụt và chỉ còn những giấc mơ hãi hùng. Đời tôi thật trống rỗng nếu không có nàng. Tôi thấy yêu thương nàng qúa đỗi. Qùynh Hoa vẫn còn vẽ những giấc mơ của nàng nhưng tôi không còn nghe gì cả, chỉ thấy cánh môi hồng mấp máy, hơi thở thơm tho mùi mía lùi phà trên mặt tôi. Bất chợt, tôi ôm và hôn nàng say đắm, người nóng bừng như có dòng điện chạy ào ạt từ tim lên đầu. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:
- Coi kìa, người ta cười mình đó.
- Ai mà dám cười mình.
Nàng đánh trống lảng, bâng quơ hỏi tôi:
- Anh ơi, cây cầu này có tên không anh.
- Anh cũng chẳng biết nữa, hay là mình đặt cho nó một cái tên làm kỷ niệm nghe.
- Em cho anh đặt đó.
- Ừ, hay là mình gọi là Cây Cầu Biên Giới nghe em.
- Cái tên nghe cũng hay đấy, nhưng mà nghe có vẻ chia ly qúa. Giống như trong bài “Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu” của Nguyễn Văn Đông vậy.
Tôi phì cười:
- Mới thương nhau mà em đã nghĩ đến chuyện chia ly rồi.
- Nhưng mà em sợ lắm, thời buổi chiến tranh... Lỡ mai này, anh bỏ em ở đây một mình, em buồn lắm đó.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ xin với Mẹ để cưới em, chúng ta mãi mãi bên nhau.
Nàng reo lên sung sướng như một đứa con nít, mắt sáng ngời những tia hy vọng, rồi ôm lấy tôi. Ôi mùi thơm ngọt ngào, tôi làm bộ đẩy nhẹ nàng ra:
- Coi chừng người ta thấy, họ cười mình đó.
- Ai cười hở mười hàm răng !
Thật không ngờ, nơi rừng rú hoang vu nguy hiểm này ai nghe đến cũng rợn tóc gáy. Bạn bè, người thân, lâu không gặp nhau, hỏi tôi bây giờ Ớ đâu, tôi trả lời ở quận Phú Nhơn tỉnh Cheo Reo, ai cũng lè lưỡi chọc tôi bộ hết đất rồi sao lên miền Thượng ở vậy, tôi chỉ cười khì. Bây giờ tôi đã có lý do để trả lời họ ... Bởi vì tôi mê hoa Qùynh, thế thôi.
- Anh làm gì ngồi thừ ra thế, hãy nói nữa về tương lai của chúng ta cho em nghe đi.
- Anh đang sung sướng qúa nên làm một bài thơ kỷ niệm.
- Ồ, anh biết làm thơ nữa sao? Hãy đọc em nghe đi, em sẽ thưởng cho anh.
- Ừ, anh đọc thơ con cóc, em đừng cười nghe. Em biết thơ con cóc không ? Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.
Nàng đọc tiếp:
- Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi... với anh !!! Em thích thơ con cóc lắm. Em sẽ làm con cóc như trong chuyện cổ tích gì đó, anh học trò có người vợ cóc xấu xí, đêm đêm hiện nguyên hình là một nàng Tiên săn sóc cho chồng. Ban ngày là một con cóc lẽo đẽo theo chồng.
- Nếu em là một nàng Tiên cóc, anh sẽ bỏ em vào ba lô mang theo khi đi hành quân, anh sẽ tâm sự với em.
- Anh phải đọc thơ cóc cho em nghe. Ơ, nếu vậy mấy Ông Lính sẽ gọi anh là người điên đó.
- Anh điên vì em, thì anh cũng chịu.
Nàng bá cổ tôi nũng nịu:
- Thôi đừng đánh trống lảng, đọc thơ con cóc cho em nghe đi anh.
- Ừ, anh đọc nghe, cấm cười đó, đứa nào cười anh khóa miệng lại cho mà coi.

Chiều về thấp thóang bên sông,
Thấy Qùynh thơm ngát thấy lòng xôn xao.

Nàng cười rũ rượi, hai tay đánh liên hồi vào vai tôi. Một ngày như mọi ngày trôi qua, trong thung lũng tình yêu, bên cây câu biên giới, nỗi chết đã tạm chịu rút lui, để nhường chỗ cho tình yêu hoa bướm ngọt ngào. Tôi lấy con dao găm đeo bên mình khắc câu thơ trên thành cầu sắt để đánh dấu một chặng đường yêu đương…

&

- Anh muốn vào chợ hay đến nhà ai ở quận Phú Nhơn ?
Tiếng người tài xế kéo tôi về thực tại. Giấc mơ thật ngắn ngủi, như cuộc tình của chúng tôi.
- Anh cho tôi lại trường tiểu học.
Quang cảnh vẫn không thay đổi mấy, ngôi trường tiểu học vẫn như xưa. thời gian như ngừng trôi Ớ quận lỵ nhỏ bé này. Phố chợ đìu hiu vẫn còn kia, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn còn đó, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa Qùynh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Tôi hối người tài xế chạy ra phía cây cầu. Chiếc cầu sắt nhỏ bé đầy dấu kỷ niệm, tôi như trong giấc mơ, Chàng Tú Uyên ngày xưa khi tỉnh giấc không thấy người đẹp trong tranh đâu nữa, chắc cũng ngỡ ngàng như tôi hôm nay thôi. Tôi bước lên cầu, ngồi đúng vào chỗ ngày xưa chúng tôi đã từng có một thời mơ mộng. Tôi ngồi bệt xuống, hai chân đong đưa, mắt nhìn xa xăm trên những ngọn phượng vĩ bên sông, cố tìm chút nắng vàng ngày xưa của một buổi chiều tà. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu, không thấy một dấu tích gì của nàng. Nơi thành cầu này tôi đã hôn những nụ hôn đầu tiên trong đời, vẽ những giấc mơ dầu tiên trong đời và những bài thơ con cóc đầu tiên trong đời tôi. Đúng là cây câu chia ly như nàng đã nói. Bây giờ nàng ở đâu, hay đã bỏ xác trên tỉnh lộ Số Bảy trên đường di tản về Tuy Hoà. Ồ phải rôì, tôi phải tìm lại bài thơ con cóc có lẽ đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi với nàng. Tôi dò từng tấc sắt trên thành cầu, bài thơ còn đó nhưng đã dài hơn hai câu:

Chiều về chiều vẫn một mình,
Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ.

Tôi bay về Hoa Kỳ lòng buồn miên man, bao nhiêu háo hức của ngày trở lại Việt Nam đã tiêu tan đâu mất chỉ còn lại sự mệt mỏi và chán chường. Tôi đã đi mọi nơi, để tìm tung tích của Quỳnh Hoa nhưng cũng không có tin tức gì. Ngày ấy nếu tôi không bị kẹt ngoài Huế, chắc chúng tôi đã chết bên nhau hay cùng nhau lênh trên con tàu vượt biên. Thời gian thấm thoát trôi đi, tóc tôi đã bắt đầu điểm bạc. Mỗi lần đi dâu, thấy bóng giáng mái tóc thề và chiếc áo dài trắng lòng tôi lại xôn xao như ngày nào bên chiếc Cầu Biên Giới.


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
Balai-Ngày Cũ
post Mar 15 2012, 03:46 AM
Gửi vào: #4


Member
**

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 13
Tham gia: 14-February 12
Thành viên thứ: 17,664



Bông Hồng Cho Mẹ

Tác giả: Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn


Một lần nữa, Cô bé đã thoát được ra khỏi căn nhà tù túng mà Bố Mẹ cô đã nhốt cô trong đó suốt tuần lễ qua. Cô bé trèo qua cửa sổ lầu hai, dùng tấm khăn trải giường thay cho sợi dây thừng mà tuột xuống đất. Cô bé trốn ra sau nhà, trèo qua hàng rào rồi lần theo con rạch để ra ngoài lộ. Trời đã về chiều, mấy chiếc xe buýt màu vàng đưa rước đám học trò cùng trường chạy ngang, Cô bé vội quay mặt đi và núp mình sau cột đèn điện. Một nỗi buồn man mác dâng lên, từ nay Cô sẽ không còn bước lên những chuyến xe đó nữa, sẽ không còn nghe tiếng cười ồn ào trong sân trường, mà sách vở chỉ là những tảng đá nặng trên tay Cô. Những buổi học trong lớp như những giờ trong nhà tù. Cô thấy ghét những bài toán vô nghĩa chẳng giúp gì được cho Cô. Bọn thằng Tiến, thằng Bob, con Lan thường rủ Cô trốn học đi chơi, “ừ đi coi movie vẫn thích hơn là ngồi trong lớp học”. Nhà thằng Tiến thật là vui, Bố Mẹ nó chẳng bao giờ ở nhà, hai ông bà thật bận bịu với cửa tiệm đến tối mịt mới về, họ ăn uống qua loa rồi lăn đùng ra ngủ. Buổi sáng, lại lo đi rất sớm. Thằng Tiến ở một mình trong căn nhà rộng thênh thang, lại có xe hơi mới và tiền đầy túi. Bố Mẹ thằng Tiến thương nó lắm, muốn gì được nấy. Cô ước ao Bố Mẹ Cô cũng mua xe mới và cho cô tiền tiêu như thằng Tiến. Nó có nhiều bạn trai và bạn gái lắm từ 13 đến 17 tuổi. Ngày nào cũng tụ tập ở nhà, ăn uống, ca hát, hút sách chẳng ai rầy la hay than phiền gì cả. Từ ngày lên lớp 9 học chung với thằng Tiến và con Lan, Cô bé mới khám phá ra những thú vui thần tiên và cảm thấy ở nhà Bố Mẹ thật là mất tự do. Bố Mẹ cô không còn chiều Cô như hồi xưa còn bé, mà chỉ dục dã chuyện học hành. “Học hành sách vở thì ích gì cơ chứ” Cô thầm nghĩ như vậy. Cô cần tiền để mua quần áo giày dép cho hợp thời trang. Bọn thằng Tiến và con Lan chả chê Cô là quê một cục đó sao. Cô cần phaỉ cho chúng nó biết Cô đẹp hơn con Lan, cho thằng Tiến và thằng Bob phải săn đón, chiều chuộng Cô.

Cô bé không biết đi về đâu chiều nay.
Chờ cho đám xe chạy qua, cô bé băng qua đường và đi về phía trạm xe buýt công cộng.
Trạm xe thật vắng vẻ, chỉ mình Cô và một bà già đứng đợi. Người đàn bà ăn mặc lịch sự tay cầm bó hoa hồng còn tươi. Những nụ hồng nhung khoe màu đỏ thắm, ồ mới đẹp làm sao chứ. Cô bé chợt nhớ, những ngày sinh nhật của Cô, Bố cũng mua cho Cô một bó hồng đẹp như vậy. Cô đã trang trọng cắm vào bình pha lê và đặt trên chiếc dương cầm, để mổi lần tập nhạc, Cô được ngắm những nụ hoa mới nở đó, “đẹp và dễ thương như tuổi mới lớn của Cô” Bố thường bảo vậy. Rồi Cô biểu diễn chơi dương cầm cho cả nhà, ông bà Nội, Ngoaị, các Chú, các Cô nghe. Mọi người vỗ tay và chúc Cô thêm một tuổi. Bố cười hãnh diện và ôm hôn Cô. Hình ảnh đó làm sao quên được !

Bà cụ nhìn cô bé và thầm nghĩ “Con bé con nhà ai mà đi đâu một mình, sao vẻ mặt đăm chiêu lo lắng, thấy thương thương! Cặp mắt đen láy, nứơc da trắng hồng, hai má lúm đồng tiền trông mới xinh làm sao chứ.”

Cô bé ngồi nhìn ra cửa kiếng xe, nhà cửa hai bên đường như chạy vụt về phía sau lưng, bỏ Cô một mình với bà cụ. Thỉnh thoảng Cô lại nhìn bó hoa hồng rồi nhìn bà cụ. Cô bé có cảm tưởng bà cụ cũng cô đơn như Cô. Hai khuôn mặt một già một trẻ đối diện nhau, hai cặp mắt một tỏ một mờ nhìn nhau trìu mến không nói một câu! Môi cô bé mấp máy như muốn hỏi gì bà cụ nhưng lại thôi.

Chiếc xe búyt ngừng laị cho người lên xuống. Bà cụ đứng dậy nhìn cô bé và nói:
-Cháu thích bó hồng này lắm phaỉ không? Bà cho cháu đó. Bà sẽ nói với con của bà, chắc nó sẽ vui lắm.

Cô bé ngạc nhiên, mắt sáng lên, lí nhí trong miệng:
-Cám ơn bà, cháu thích lắm, bông hồng thật là đẹp.

Cô bé đỡ bó hồng từ tay bà cụ, ôm vào ngực và cúi xuống hôn trên cánh hoa rồi ngước mắt nhìn bà cụ. Người đàn bà rớm nứơc mắt, nói không ra tiếng:
-Con bà đã bỏ bà ra đi hơn 30 năm qua, lúc ấy cũng bằng tuổi cháu và xinh đẹp như cháu. Nhìn cháu, bà càng thương nó hơn. Hôm nay là ngày sinh nhật của nó nên bà đi thăm.

Bà cụ lau vội nứơc mắt và bước xuống xe. Cô bé nhìn theo dáng bà cụ xiêu vẹo đi về phía cổng nghĩa trang bên đường . Bà cụ chợt quay lại, mỉm cười, nhìn cô bé và đưa tay vẫy chào. Cô bé chợt rùng mình, nhớ lại mẹ Cô vẫn vẫy tay như vậy mỗi buổi sáng tiễn Cô ra xe buýt đi học. Ánh nắng chiều còn thoi thóp trên những ngọn cây trong nghĩa trang, trời bắt đấu lạnh, cái lạnh se sắt bất thường của một ngày mùa đông còn sót lại. Chiếc xe búyt từ từ lăn bánh, Cô bé vội vàng đứng dậy, la lớn:
-Cho tôi xuống đây.
Người tài xế lầm bầm trong miệng điều gì đó, nhưng cũng ngừng laị. Cô bé vội vàng bước xuống xe, băng ngang qua đường và hướng về trạm xe buýt. Con dê con tưởng tìm thấy những thảm cỏ xanh bên sườn núi và không khí tự do sau khi thóat ra khỏi khu vưòn, nhưng nó vẫn thấy lưu luyến khoảnh vườn nhỏ bé vơí bao kỷ niệm êm đềm. Cô bé chợt nhớ chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày Mother Day, cả nhà sẽ quây quần trong một tiệm ăn sang trọng gần nhà. Bố sẽ tặng Mẹ bó hồng nhung thật đẹp. Mẹ sẽ mở tấm card và đọc những lời chúc tụng của mọi người rồi trìu mến ôm hôn Cô và các em. Cô bé cảm thấy cô đơn vô cùng. Cô tự hỏi “Không biết Bố cô đã mua bông cho mẹ chưa nhỉ?”. Cô bé mỉm cười nhìn bó hồng trên tay và chạy tung tăng vào tiệm bách hóa bên đường rồi trở ra với một tấm card. Cô biết cô phaỉ đi về đâu đêm nay.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
Balai-Ngày Cũ
post Mar 21 2012, 04:11 AM
Gửi vào: #5


Member
**

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 13
Tham gia: 14-February 12
Thành viên thứ: 17,664



Trở về từ cõi chết

Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Hùng vừa nhận được thư của Bích-Đào từ VN gửi qua. Chàng nhảy lên như điên cuồng. Chuyện năm đó vẫn còn sống rõ ràng trong trí óc chàng.

Giải tỏa Quảng Trị:

Buổi tối hôm đó, cách nay đã lâu lắm rồi, Chàng và Hải đang dự sinh nhật Bích-Đào, người yêu của Hải, một nữ tiếp-viên hàng-không duyên dáng của đường bay Saigon - Đà-Nẵng. Đang dở dang buổi tiệc, thì được tin Bắc-quân tràn qua sông Thạch-Hãn và uy hiếp tỉnh địa đầu Quảng-Trị. Lệnh giới nghiêm cấm trại 100% vừa được ban hành. Hùng vội vã đưa Hải vào phi-trường còn chàng và Huy trở về căn cứ ở ngoại ô thành phố Đà-Nẵng để nhận lệnh hành quân khẩn cấp.
Hai pháo-đội đại-bác 175 li được di-chuyển bằng tàu Hải-Quân ra cửa bể Thuận-An ngoài Huế, còn Hùng dẫn một đoàn xe tiếp tế đạn dược bằng đường bộ.
Dân Huế, đã một lần kinh nghiệm vào dịp tết Mậu-Thân, nên ùn ùn bỏ Huế vượt đèo Hải-Vân vào Đà-Nẵng tạm trú. Hai dòng xe cộ gặp nhau trên đèo; Quân-đội hướng về phiá Bắc và dân chúng hướng về phía Nam. Tuy nhiên nhờ sự khéo léo nhường nhịn lẫn nhau nên không đến nỗi sẩy ra hỗn độn. Người dân chạy loạn tuy vất vả nhưng rất thương các anh lính chiến, Hùng đã cảm động chẩy nước mắt khi nghe lời chúc tụng từ miệng các bà mẹ Trị Thiên hay nhận lãnh bánh trái từ các em gái hậu phương mang tặng. Tình quân dân thắm thiết. Dân Trị Thiên đã nhận rõ những hậu quả của tết Mậu Thân !!!
Các căn cứ quân-sự tai Đà-Nẵng bắt buộc phải mở cửa để đón tiếp dân chúng hai tỉnh Quảng-Tri và Thừa-Thiên vào lánh nạn. Thành phố Huế im lặng và vắng vẻ như vừa trải qua một cơn dịch hạch, sự im lặng đến rợn người. Vài nhóm Thuỷ Quân Lục Chiến đứng canh gác một cách nghiêm chỉnh tại các ngả đường. Hùng đón đoàn cơ giới từ cửa Thuận-An và sắp xếp thành một hàng dài trên quốc-lộ 1 ,ngoại ô thành phố, để hướng về căn cứ “Cây số 17”, nơi đặt bộ chỉ huy tiền phương của Sư-Đoàn Dù.
Hùng được biệt phái làm trong “Trung-tâm phối-hợp Hỏa-lực” của Sư-đoàn Dù. Nhiệm vụ của chàng là theo dõi chiến trường và phối hợp tác-xạ giữa pháo binh và không quân trên mục tiêu.
Buổi sáng, trung tâm hành quân, báo thời tiết tốt, bầu trời trong vắt không một đám mây. Bộ Tư-Lệnh xin 2 phi-vụ đánh những mục tiêu bên kia bờ sông Thạch-Hãn.
Hùng lắng nghe trên hệ thống chỉ-huy có tiếng gọi của phi tuần A37:
-Hoàng-Đế, Hoàng-Đế, đây Thần-Phong, nghe rõ trả lời.
-Thần-Phong, đây Hoàng-Đế, tôi nghe bạn 5/5.
Hùng nghe giọng nói của Hải trên máy vô-tuyến nên rất mừng rỡ, lòng nhủ thầm : “Có hắn, thế nào Bắc-Quân cũng được nếm mùi đau khổ. Mục tiêu sẽ được thanh toán kỹ càng”. Hải là phi công có biệt danh là Hải-Lì, vì hắn rất lì lợm, bao giờ nhìn thấy rõ mục tiêu mới đánh chứ không ẩn núp trên tận mây xanh rồi đánh bừa cho xong chuyện. Hải tiếp tục:
-Tôi sắp sửa vào vùng làm ăn, yêu cầu bạn “Clear” với mấy đứa con của bạn.
Hùng trả lời:
-Tôi nhận bạn 5/5.
Hùng vội thông báo với tất cả các toán gà-cồ, tên biệt danh của Pháo Binh, ngừng tác xạ để phi cơ vào vùng mục tiêu cho đến khi có lệnh mới.
Hải báo cho từng mục tiêu đã đánh xong, những ngọn khói cao ngút trời chứng tỏ không ảnh và tài ném bom của không quân rất chính xác. Những tên lửa phòng không từ dưới đất bắn lên như pháo bông. Hải vẫn say sưa dội những cú sấm sét trên đầu địch. Tiếng Hải lại vang lên trong hệ thống vô-tuyến:
-Hoàng-đế, Hoàng-Đế, đây Thần-Phong.
-Thần-phong, đây Hoàng-Đế.
-Tôi kiểm soát các mục tiêu lần chót trước khi rời vùng.
-Bạn hãy cẩn thận, hôm nào gặp lại tôi sẽ thưởng bạn hai “con tàu biển” ở Đường-Sơn-Quán.
-Cám ơn bạn trước, tôi chờ ngày đó.
“Hai con tàu biển” đó là tiếng lóng của đám bợm nhậu đồ biển ở chiếc quán cóc không tên bên đường QL1 ngoài thị-xã Đà-Nẵng. Đám bợm nhậu đặt tên cho quán đó là Đường-Sơn-Quán và con tàu là chai rượu Whisky ông già chống gậy uống vô 1 chai là “lắc lư con tàu đi”.
Ngày đó đã chẳng bao giớ tới, lời hứa với Hải, Hùng chẳng bao giờ có dịp thực hiện bởi vì đó là chuyến bay cuối cùng của Hải. Chàng đã bị bắn rơi trên không phận Quảng-Trị hôm đó, lúc vòng lại quan sát mục tiêu lần cuối cùng.
Bắc quân tràn ngập thị-trấn Quảng-Trị và cố thủ trong “Cổ Thành” một thời gian dài. Hằng đêm, khoảng 3 giờ sáng, 8 khẩu đại-pháo 175 li được di chuyển trên quốc-lộ 1, về phía Quảng-Trị để bắn vào Cổ Thành đến trưa lại rút về. Những cuộc di chuyển trong đêm tối, không đèn đuốc và phải giữ yên lặng tối đa, thật là vất vả, nhất là những đêm trời mưa rả rích. Hai bên Quốc-lộ vẫn còn xông lên mùi hôi thối của những xác chết chưa dọn hết, đa số nạn nhân là đám dân chạy loạn trong ngày đầu tiên mất Quảng-Trị. Bắc quân đã không nương tay, bắn bừa bãi vào đám dân hốt hoảng đó. Đoạn đường ngắn ngủi này được báo chí mệnh danh là “Đại-Lộ Kinh-Hoàng”

Những trưa hè nắng cháy da, đóng quân trên bãi cát hực lửa. Thỉnh thoảng 1 cơn gío hắt vào mặt một nắm cát nóng bỏng. Người lính pháo thủ với áo giáp, nón sắt luôn luôn bận rộn với những trái đạn nặng nề và những tiếng nổ ầm ỹ của cả mình lẫn địch quân, lại còn lo cho cái bao-tử lép kẹp nữa. Sự sống chết chỉ cách nhau trong gang tấc. bận rộn và nhọc nhằn làm họ tạm quên cái chết cứ luôn luôn đeo đuổi bên mình. Khuân vác, ăn uống, đào hầm hố, tác xạ, nắng khô cổ, còn 2 lỗ tai phải chừa để nghe tiếng đạn pháo kích của Bắc-quân.

-PHÁO KICH ! PHÁO KICH !

Những tiếng nổ long trời của hoả-tiễn 122 li hay đại bác 130 li mà Bắc-quân đã bắn tới từ bên kia sườn núi. Pháo đội pháo-binh-dù liền trả đũa khiến Bắc-quân phải câm họng.

Cho mãi đến khi tái chiếm cổ thành xong, mẹ Hải mới nhận được chiếc quan tài đựng những gì còn lại của đứa con đầu lòng thân yêu. Hùng xin phép đơn-vị đưa xác Hải về Saigon. Bich-Đào nhận được tin như sét đánh ngang tai, nàng buồn bã khóc lóc và xin được đi theo quan tài về Saigon đưa đám. Hùng còn nhớ rõ ngày bi thảm đó, chàng dìu Bich-Đào đi theo quan tài như một cái xác không hồn và nghe nàng kể lể:
-Hải! sao anh bỏ em đi một mình, hãy chờ em . . ., em sẽ đến với anh để an ủi anh, cho anh khỏi cô-đơn lạnh lẽo.
Sau khi tình hình tương đối lắng dịu. Hùng được cử đi tu nghiệp bên Mỹ. Nhân dịp về Saigon, chàng ghé thăm gia-đình Hải vào sau dịp tết Nguyên-đán. Bà cụ nhìn thấy chàng chợt nhớ tới đứa con yêu dấu thì không cầm được nước mắt. Hùng cũng không quên ghé thăm mộ, thắp một nén nhang cho ngưới bạn thân. Sau khi cúng vái trước mộ, chàng bỗng thấy một phong thư đè dưới bình nhang. Tò mò Hùng mở ra coi: đó là bức thư của bà cụ thân sinh ra Hải viết cho đứa con đã qua đời.
Saigon ngày. . .

Hải yêu dấu của Mẹ!
Lại một mùa xuân nữa sắp đến, Mẹ không thể nào bỏ được thói quen viết thư hỏi thăm nhau giữa hai mẹ con mình mỗi lần năm hết tết đến. Mặc dù xuân này Mẹ không còn hy-vọng Con trở về như những mùa xuân xa xưa, nhưng Mẹ vẫn thương nhớ Con vô chừng, bởi vì Con là một phần máu mủ của Mẹ.

Từ ngày Bố con đền nợ nước, các con là niềm hy-vọng, là lẽ sống và là cái phao để mẹ bám víu và nương tựa. Con đã làm cho mẹ hãnh diện và nhìn thẳng vào mắt mọi người như ngày xưa lúc còn bố con.

Mẹ rất háo-hức mỗi khi tết đến, nhưng cũng là lúc Mẹ nhớ Con nhiều nhất và sụt sùi nhiều nhất. Mẹ đã lang thang cả ngày ngoài chợ để cố quên đi những hình ảnh của Con. Con còn quá sống động trong lòng Mẹ. Những hình ảnh đó chất chứa trong tiềm-thức của Mẹ và luôn đánh thức tâm tư Mẹ mỗi khi nhớ đến Con.

Tết là những ngày thiêng liêng với đầy cảm xúc, vui mừng, hân hoan của mọi người chung quanh. Còn riêng Mẹ, ngày Tết chính là ngày làm Mẹ rơi nhiều nước mắt nhất, làm trái tim mẹ tan nát nhất. Mẹ đang nghe những tiếng cười vui của trẻ thơ, những bài ca hát chào đón Chúa Xuân trở về trên vạn vật, những tiếng pháo vỡ tim mừng xuân mới, và hình ảnh của một cậu bé với đôi mắt mở to đen láy, khuôn mặt khôi ngô tuấn tú mang hình ảnh của Mẹ và Bố Con; cậu bé nũng nịu chạy xà vào lòng Mẹ, rúc vào ngực Mẹ để tìm sự che chở. Cánh tay Mẹ đã không còn bồng bế được Cậu như ngày xưa. Mẹ không còn chỗ nào để trốn chạy những kỷ niệm đó. Con ơi! Bởi vì những kỷ niệm đó ở ngay trong tim Mẹ.

Mẹ còn nhớ, lần đầu tiên Con xa mẹ, đó là ngày con mới cắp sách đi học.. Con xúng xính trong bộ quần áo mới, hãnh diện với chiếc cặp da mới trên vai, khép nép bên tà áo của Mẹ. Nhìn nét mặt đăm chiêu. Mẹ cũng biết lòng Con vừa háo hức vừa bồn chồn. Mẹ thấy thương con vô cùng, Mẹ không nỡ rời Con, cái ngày đầu tiên ấy, thế là hai mẹ con mình cùng ngồi trong lớp học. Hôm sau, con đã ôm lấy Mẹ, hôn từ giã và tung tăng đi đến trường.

Con còn nhớ không, lúc 9 tuổi Con đã làm cho mẹ tưởng rằng Con vẫn còn tin : “nếu Con ngoan ngoãn, Tết đến Bà Tiên sẽ ban cho Con nhiều quà bánh” (Sau này, lớn lên Con mới nói là Con biết chẳng Bà Tiên nào cho Con quà cả nhưng Con muốn được Mẹ vui trong ngày Tết, Con muốn được nhìn thấy nét mặt Mẹ hân-hoan trìu mến mỗi lần mua sắm quần áo mới cho Con, nên Con vẫn giả bộ tin như vậy). Đúng vậy, Con ơi! đó là món quà đặc biệt nhất, Mẹ thích nhất mà Con đã tặng cho Mẹ, bởi vì nhìn nét mặt ngây thơ tin tưởng Trời Phật của Con, làm Mẹ sung sướng đổ lệ.

Một trong những hình ảnh Mẹ nhớ nhiều nhất là Con rất thích ăn bánh bông lan có kem vanille, Một buổi tối trước khi đi ngủ, Mẹ làm đĩa bánh bông lan để trong tủ bếp. Sáng thức dậy, Mẹ thấy lớp kem trên mặt đã bị hớt sạch. Mẹ biết ngay Hải là thủ-phạm, nhưng Mẹ gỉa bộ nói với Con, là chú bé ty-hon (trong chuyện cổ-tich Mẹ đọc cho Con nghe hôm trước) đã chui vào nhà mình trong lúc đói bụng đã ăn hết lớp kem trên mặt bánh. Ừ, làm sao Mẹ có thể giận Con cho được, khi Con ngẩng lên nhìn mẹ với cặp mắt ngây thơ và biết ơn mẹ đã bao dung, 2 mẹ con mình đã cười to đồng lõa, Con đã bá cổ vòi vĩnh Mẹ để mẹ hôn lên chiếc má bầu bĩnh “dễ ghét” đó mà tha lỗi cho Con.

Hải ơi! Mẹ có thể ngồi cả ngày bên bàn viết và sụt sùi với những hình ảnh của Con, nhưng Mẹ không muốn các em Con thấy Mẹ khóc sưng mắt. Vả lại Con cũng đâu muốn như vậy phải không Hải?.

Con ơi! Ngày Tết đã kề cận, Mẹ lại một lần nữa cám ơn Trời Phật đã cho Mẹ một món quà đẹp đẽ nhất trong đời đó là đứa con trai đầu lòng của Mẹ, ngoan ngoãn, đẹp trai và hiếu thảo. Mẹ đã được hưởng trọn vẹn trong 25 năm có Con.

Mẹ của Con

Từ ngày tỵ nạn qua Hoa-Kỳ, Hùng đã nhiều lần viết thư cho Bích-Đào nhưng không bao giờ nhận được thư trả lời. Cách nay hơn một tháng nhân dịp có người bạn về thăm VN, gia-đình cũng ở Đà-Nẵng, Hùng căn dặn kỹ lưỡng cố tìm cho được Bích-Đào. Cuối cùng người bạn cũng tìm được. Bích-Đào đã dọn về một căn nhà nhỏ ở ngoại ô. Người bạn vì bận rộn nhiều nên chỉ kịp trao thư của Hùng, chứ không có thì giờ nói chuyện lâu. Cho nên Hùng cũng không có thêm tin tức nào khác. Chàng chẳng biết làm gì hơn là mong ngóng thư hồi âm.

Hôm nay thư vừa đến. Hùng cầm thư trên tay đã lâu, hồi hộp mà chưa dám mở ra coi. Chàng nhắm mắt hồi tưởng lại những ngày cũ, lòng thầm nhủ: “Còn bất hạnh gì nữa sẩy ra cho nàng?”

Thật lạ lùng, khi chưa nhận được thư thì mong mỏi, đến khi nhận được lại ngại ngùng. Hùng có cảm tưởng như hồi còn đi học, mỗi lần thi xong chỉ mong có kết quả, đến lúc bạn bè rủ đi xem bảng thì lại ngại ngùng. Kết quả thi tú-tài I và II đều do bạn bè báo cho biết. Lũ bạn ai cũng nói “Thằng Hùng nó chắc đậu rồi nên chẳng thèm đi coi!”.
Hùng mở thư ra, để trên bàn, liếc qua đầu thư “đúng là nét chữ của Bích-Đào rồi”, chàng nhủ thầm như vậy, rồi ra tủ lạnh uống một ly nước đầy. Chàng quơ vội bức thư và chạy vào phòng Học.

“Đà-Nẵng ngày…

Anh Hùng thân mến,

Nhân được thư Anh, em rất mừng.
Đã lâu nay em cố gắng tìm kiếm anh, mà không biết sao liên lạc được. Hôm nay được tin anh đã định cư ở Hoa-Kỳ em rất mừng đến chẩy nước mắt, cứ tưởng anh bỏ thân trong trại học tập nào rồi! Xin Trời Phật phù hộ cho anh.

Gia-đình em vừa được nhận cho đi định cư theo diện H.O. nhưng còn một vài thứ giấy tờ lỉnh kỉnh nữa, ảnh phải lo cho xong nên chưa kịp viết thư cho anh. Ảnh cũng nhớ anh lắm. . . .”
Hùng vừa đọc đến đó bổng ngạc nhiên tự hỏi “Ai kìa? Chẳng lẽ chồng Bích-Đào cũng quen với mình?” Chàng vội liếc nhanh xuống cuối thư.

“ . . . Chúng em được 2 trai, 1 gái, các cháu cũng ngoan ngoãn và giống bố cháu y hệt chỉ hơi “lì” một chút thôi.

À quên, nẫy giờ chỉ viết chuyện nhà lòng vòng quên mất. Anh em mình đã xa nhau lâu lắm rồi, anh đâu có biết chuyện gì đã sẩy ra nhỉ !
Ngày ấy, Đà-Nẵng bị mất, em cũng chẳng biết chạy đi đâu và cũng chẳng biết làm gì để sống nên Ba Má em phải bán căn nhà ngoài phố để tìm cách đi vượt biên, mấy lần đều thất bại. Gia-đình em phải dời ra ngoại ô để tìm kế sinh nhai. Bỗng một hôm, có một người đàn ông đen đúa ốm yếu đến tìm em, tại căn nhà này, nơi em đang ở. Anh không thể tưởng tượng được đâu, em đã ngất xỉu, không biết mình đang sống hay đã chết rồi. Em đã khóc hết nước mắt, vì mừng, vì sợ, vì không tin rằng chuyện sẩy ra là có thật trên cõi đời này. Bây giờ em ngồi đây viết thư cho anh mà em vẫn còn run và nước mắt cứ đổ ra lã chã, em phải ngừng lại đi rửa mặt mấy lần cho tỉnh để viết xong lá thư cho anh. Người đàn ông thân tàn ma dại đó chẳng nói được gì chỉ ôm em mà khóc. Trời Phật ơi, anh biết ai đó không? Hải của em đó anh ơi! Em tưởng là hồn ma hiện về, em nhéo vào tay xem có phải em đang ngủ mơ không? Rồi lại nhéo vào tay của ảnh nữa. Trời Phật ơi!, ảnh kêu đau em mới tin là Hải thật của em rồi. Chúng em ôm nhau khóc vang cả nhà, làm hàng xóm không biết chuyện gì, họ bu lại đầy nhà, cả công-an, khóm-trưởng cũng chạy tới nữa.

Ảnh kể lại chuyến bay cuối cùng của ảnh bị bắn rơi, ảnh nhẩy dù ra được, nhưng cánh dù rơi xuống phía Bắc sông Thạch-Hãn còn chiếc máy bay rớt xuống bờ sông phía Nam. Có lẽ khi đám “Chung-sự” nghĩ rằng cái mộ gần máy bay chắc là phi-công nên mới giao về cha mẹ ảnh. Thực sự ảnh bị giải về Bắc và giam chung với anh em “Biệt-kích nhẩy ra Bắc” bị bắt từ trước. Nhà em sẽ viết thư cho anh sau.

Vài hàng thăm anh, khi nào qua đến bên đó anh em mình sẽ có nhiều thì giờ tâm sự.

Thương anh nhiều
Bích-Đào
TB. Mẹ của Hải, hiện đang ở bên Mỹ với người em của Hải, anh hãy liên lạc về địa chỉ sau đây:
. . . . . .
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
Balai-Ngày Cũ
post Mar 23 2012, 10:31 PM
Gửi vào: #6


Member
**

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 13
Tham gia: 14-February 12
Thành viên thứ: 17,664



GIỌT BUỒN
Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn


If we want a love message to be heard, it has got to be sent out.
To keep a lamp burning we have to keep putting oil in it.
Mother Teresa

Tôi như cái bánh xe, cứ tiếp tục lăn theo ngày tháng, chuyện gì rồi cũng quên. Vậy mà không thể quên được hắn.

Biến cố năm 75, đưa tôi sang đất Hoa Kỳ. Những năm dài lao-động vinh-quang đôi khi cũng làm tôi tủi thân, nhưng nghĩ đến bạn chắc giờ này đang miệt mài trong trại học tập, cải tạo, tôi cũng có phần an ủi, dù sao tôi cũng còn được thở không khí tự-do. Bạn tôi, một người chưa hề bị ai khuất phục, chắc là khó sống được với những người bên kia chiến tuyến. Bao nhiêu năm sống trên đất người, tôi vẫn nghĩ tới bạn và tìm mọi cách để liên lạc nhưng đều thất bại, cho đến một hôm, có người bạn rủ đi coi một ông thầy bói người Miên. Tính hiếu kỳ dẫn tôi lại gặp ông Thầy, tôi cũng thưa thật hoàn cảnh, muốn tìm lại người bạn nối-khố khi xưa nhưng không biết cách nào. Ông Thầy biểu viết tên tuổi vào một mảnh giấy, rồi ông tới bàn thờ khấn một hồi và cho tôi hay:
-Khoảng hai, ba tháng sẽ gặp lại bạn
Nghe thì biết vậy nhưng tôi không tin cho lắm, nên hỏi thêm:
-Bạn tôi có sao không?
Ông thầy không lưỡng-lự, đáp ngay:
-Ạnh ta nghèo lắm, chân bên phải bị cái gì đó đi cà-nhắc. Tôi cảm ơn ông Thầy và tặng ông một chút tiền còm rồi ra về, trong thâm tâm tôi nghĩ: “Chắc là Bà Cụ thân sinh bạn tôi đã được như ý nguyện: Từ nay sẽ nuôi thằng con tật nguyền suốt đời”. Tôi buồn bã hết mấy ngày vì chuyện không căn cứ, tự nhủ “Đã bao nhiêu ông thầy bói nói trúng chuyện dương gian?”. Vậy mà vẫn bần thần nhớ lại đủ chuyện, một thời...

*

Hồi xưa trường trung học Chu-Văn-An Saigon thường tuyển học sinh mới vào lớp đệ Tam, chúng tôi bốn đứa từ bốn miền khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, được trúng tuyển vào học cùng lớp và trở nên “bốn chàng Ngự-Lâm Pháo-Thủ”. Lễ, người miền Trung, Kính, một loại “Bắc-Kỳ Cũ” gia đình đã từ Bắc di cư vào Nam trước năm 1954, tôi được gọi là “Bắc-Kỳ Rốn” hay Bắc-Kỳ có cọng rau muống ở sau .... , Thanh, Nam-Kỳ chánh hiệu con nai vàng. Năm đầu tiên Chu-Văn-An còn phải học ké mấy dẫy nhà sau của trường trung học Pétrus Ký, Chúng tôi là thứ công dân hạng nhì con nhà nghèo phải ăn nhờ ở đậu, so với đám hoc sinh Pétrus Ký.

Thời đó, Công Sản tìm đủ cách để chia rẽ Bắc, Nam cho nên những trận ẩu-đả sẩy ra thường xuyên giữa 2 đám học sinh học cùng trường nhưng khác tên: Pétrus Ký và Chu-Văn-An hay học-sinh Nam Kỳ và học sinh Bắc Kỳ. Đám Pétrus Ký mỗi lần thấy đám Chu-Văn-An là bắt đầu la to: “Băc Kỳ ăn cá rô cây”. Anh bạn Nam Kỳ của tôi lại chính là người hăng-hái nhất đứng ra bảo vệ danh dự cho Chu-Văn-An. Chúng tôi bốn đứa đồng lượt la to: “Chu-Văn-An Tiến”, thế là hai bên sáp lá cà ẩu đả. Qua năm đệ nhị, Chu-Văn-An được về khu nhà mới xây gần Nhà Thờ Ngã Sáu, từ đó những trận nội chiến mới chấm dứt. Trong bốn đứa chúng tôi, Thanh và Kính là con nhà khá giả, Tôi và Lễ là hai đứa khố rách áo ôm, cho nên mỗi lần trốn học đi đánh Pingpong hay Billard, hai tên nhà giàu tranh nhau chi tiền. Tôi không mặn mấy món giải trí đó cho lắm, đánh cho vui vậy thôi cho nên ngón nghề chẳng tiến thêm được chút nào, mặc dầu các bạn tôi tốn rất nhiều tiền cho chủ bàn. Ngược lại Thanh càng ngày càng xuất sắc, hắn bắt chước lối “Cầm Thìa” của cây vợt bóng nhựa vô-địch Nhật Bản TANAKA. Lối cầm vợt chủ về thế công mà bỏ trống hẳn thế thủ. Tanaka quan niệm rằng: Giống như đánh võ đài, nếu cứ tấn công tới tấp, đối phương chỉ lo chống đỡ mà không có dịp phản-công, phần thắng bao giờ cũng về mình. Đó là lối đánh mới lạ và vũ-bão khác hẩn lối “công, thủ đề huề” của nhà vô địch Mai-Văn-Hoà. Thanh đã trở nên một tay vợt xuất sắc, vô địch toàn trường rồi đại diện đi đấu với 6 tỉnh miền Tây.

Tôi và Thanh càng ngày càng thân thiết hơn, những kỳ nghỉ hè tôi đến nhà Ba, Má Thanh chơi ăn vạ hết cả ba tháng hè. Báo hại bà chủ trọ không biết tôi đi đâu, sống chết ra sao, nhưng điều bà lo lắng nhất vẫn là không đòi được tiền thuê nhà tháng đó. Thanh trọ học nhà ông Dượng, cũng gần chỗ tôi ở cho nên những ngày không đi học tôi đều qua đó chơi và kiếm ăn. Ông Dượng có bày con rất dễ thương và ngoan ngoãn, đám trẻ đang đổi từ chương trình Pháp qua chương trình Việt, nên tôi lại được làm chân cậu giáo.
Năm thi tú-tài I, bốn đứa chúng tôi đều đậu cả. Tuổi mới lớn, bắt đầu suy tư. Tôi và Lễ biết thân phận nghèo cho nên vấn đề học tập không dám lơ là. Năm đệ nhất, biến cố đảo chánh 63 sảy ra, đám học trò cũng làm cách mạng! Nhiều giáo-sư trung-học bị chụp mũ là mật-vụ, trong đó có một giáo-sư dạy triết nổi tiếng của đệ-nhất C. Thế là đám “bảo-vệ-thầy” và đám “Cách-Mạng” đánh nhau một trận rất hăng mà chiếc cầu thang lầu 3 và lầu 4 là bãi chiến trường. Bạn tôi, một tên Nam-Kỳ chánh hiệu, bao giờ cũng có máu giang hồ “Anh hùng thấy chuyện bất bình chẳng tha” thế là hắn nhẩy vào phe phòng thủ và đánh bại phe “Cách-mạng” để cứu bồ. Dĩ nhiên là những cái mũ vì tư thù cá nhân chụp lên vài ngày rồi cũng rớt xuống đất chẳng ai thèm để ý. Năm đó chúng tôi chơi nhiều hơn học, cho nên kỳ thi tú-tài II, hai thằng nhà nghèo đậu. còn hai thằng nhà giàu rớt. Tỷ-số 50% đó quá thấp so với tỷ số đậu toàn trường của Chu-Văn-An thường là trên 80%.

Sau biến-cố 63, cường độ Chiến tranh đã tăng lên khá cao. Bạn tôi thi rớt năm đó không phải vì ăn chơi mà vì một yếu tố khác mà chỉ mình tôi biết. Hắn đã biết yêu! Mối tình lãng mạn thầm kín của tuổi học trò với cô bé hàng xóm đã khiến hắn được nếm mùi trái đắng lần đầu tiên trong đời. Tôi chỉ là một tên khờ biết lắng nghe những tâm sự u-uẩn của bạn, cho nên chúng tôi càng ngày càng thân thiết nhau hơn. Nhũng cặp tình-nhân trẻ dĩ nhiên là giận hờn như cơm bữa, những lúc đó bạn hỏi ý kiến, tôi làm ra vẻ một tay sành đời chỉ dẫn cho bạn làm sao để đối phó với người đẹp. Tôi là một tên khôn vặt nhờ đọc tiểu thuyết của Tự-lực Văn-đoàn, những cuốn như Hồn Bướm Mơ Tiên, Gánh Hàng Hoa, Đoạn Tuyệt tôi thuộc nằm lòng, chỉ việc trích ra vaì đoạn là bạn tôi phục sát đất.

Mối tình học trò của Thanh chẳng kéo dài bao lâu, bạn tôi đau khổ lắm. Thanh thường chọc tôi “Nhìn cái bản mặt khờ câm của mày, tao mắc cười!”. Tôi cũng công nhận là tôi thật khờ câm! quê một cục, thấy con gái thì mặt mày đỏ ké, ăn nói lúng ta lúng túng. Thanh có mấy cô em họ cũng dễ thương, muốn giới thiệu cho tôi nhưng xét lại thấy tôi “khờ” quá nên hắn bỏ hẳn ý định đó. Thất tình, hắn nhất định đi Thủ-Đức, nói là để quên chuyện buồn phiền. Tội nghiệp bà cụ, có một thằng con độc nhất, nghe hắn đòi đầu quân bèn thủ thỉ với tôi: “Bác đã nhờ Dượng Ba, lo cho nó về văn-phòng, nhưng nó nhất định đòi đi tác chiến. Bác chỉ mong nó cụt một chân, đừng có chết, về đây bác sẽ nuôi nó suốt đời”. Tôi nghe câu đó đã mủi lòng hết mấy ngày, vì thương bạn, thương bà cụ và cũng tủi thân vì một đời xa gia đình cô độc. Tôi bèn đề nghị với cụ:
-Hay bác cưới vợ cho nó, có gia đình sẽ rằng buộc được chân nó chăng?
Bà cụ rướm nước mắt:
-Bác đã chấm được một cô ở dưới quê, rất dễ thương, chỉ chờ nó gật đầu là Bác sẽ cưới ngay.

Thanh ra trường Thủ-Đức, xin về một đơn vị nổi tiếng miền Tây. Mỗi lần xuất trận hắn đều áp dụng lối “đánh cầm thià”, dốc toàn lực mấy phút ban đầu để áp đảo tinh thần đối phương. Hắn nổi tiếng như cồn trong giới đánh đấm ở Vùng IV thời đó la` một “Kiê.n Tướng Chọc Trời Khấy Nước”, cho nên dù với bao nhiêu công trạng, nhưng đường công danh vẫn còn lận đận.
Mỗi lần về phép Saigon Thanh lại rủ tôi đi nhậu. Tôi cũng tiếp hắn thôi chứ nhậu nhẹt chẳng được mấy chai. Có lần nhậu tới hai, ba giờ sáng. Nhà chủ phải mời khéo mới đuổi được hai ông khách quý ra về. Khi đi ngang nhà người tình cũ, Thanh rất cao hứng, hắn tâm sự với tôi:
-Có khi nào bạn đi qua nhà người tình cũ, dù đã 10 năm, 20 năm nhưng tim vẫn thấy xao-xuyến như thuở ban đầu không?
-Tôi đoán vậy “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,
Ngàn năm chưa dễ đã ai quên”
-Mày coi, để tao trèo tường vào nhà em chơi.
Tôi nghe hoảng hồn phải can lắm, hắn mới bỏ cái ý-định điên-khùng đó, rồi hắn tiếp:
-Mày không cho tao trèo tường thì 2 đứa mình phải lội qua vũng bùn này.
Tôi đành phải hy-sinh đôi giày da duy nhất và hăng hái lội qua vũng xình với bạn.

Biến-cố Mậu-thân đã đưa tôi đến thời điểm mà tôi vẫn lo âu chờ đợi. Tôi được lệnh gọi nhập ngũ nhưng vì quân trường không đủ chỗ chứa nên lại được thả về để đi mấy khoá sau. Lợi dụng những ngày còn tự-do, tôi đến đơn vị của Thanh để thăm bạn. Thanh kéo tôi vào một quán ăn và dẫn tôi tới giới thiệu với cô thu ngân xinh đẹp, nhưng có vẻ mặt rất buồn và quyến rũ.
-Đây là anh Hùng, bạn học của anh, còn đây là cô Ánh-Mai con bà chủ quán.
-Chào cô Ánh-Mai.
-Chào anh, anh mới từ xa tới chơi?
-Dạ, tôi vừa từ saigon xuống thì anh Thanh dẫn lại đây ngay.
Ánh-Mai đưa hai đứa tôi lại bàn rồi tự tay mang hai chai bia, đồng thời gọi hầu bàn để tiếp chúng tôi.
Thanh mời Ánh-Mai:
-Em ngồi đây tiếp anh Hùng giúp anh, để anh ra xe lấy bao thuốc lá.
-Mau lên nhé, em không muốn phá lệ là ngồi bàn chung với khách.
-Mình người nhà chứ đâu phải khách.
Thanh nói rồi, đi thẳng ra xe, tôi có dịp tiếp chuyện với Ánh-Mai.
-Anh Thanh có thường ra đây không Ánh-Mai?
-Ngày nào ảnh cũng ở đây, chỉ trừ những ngày đi hành quân. Cái bàn này ảnh đã mua luôn rồi đó.
Tôi chọc Ánh-Mai:
-Ánh-Mai có đếm được bao nhiêu “cây si” trồng trước cửa không?
Nàng cười ngặt nghẽo để tránh câu trả lời:
-Cây si là cây gì anh?
-Loại cây biết nói hay mọc trước cửa nhà có con gái đẹp ấy mà.
-Ô, cây gì ngộ quá hé, vậy mà Ánh-Mai hổng biết.
-Người ta đánh giá người đẹp bằng cách đếm xem có bao nhiêu “cây si” mọc trước nhà.
-Ánh-Mai đâu có thấy “cây si” nào đâu?
-Chắc là bạn tôi dùng thiết vận xa M.113 ủi sạch rồi.
Vừa lúc đó Thanh đi vào, thấy chúng tôi nói cười vui vẻ, bạn tôi ngạc nhiên hỏi :
-Mấy người nói xấu gì tôi đó?
Tôi bèn lên tiếng:
-Ánh-Mai nói trước kia, ngay cửa quán này, có rừng cây si rậm rạp lắm, nhờ bạn ủi đi trống trơn, thành ra còn mỗi cây cổ thụ này thôi.
-Anh Hùng nói đó, chứ hổng phải em đâu.
Có tiếng gọi từ trong nhà:
-Ánh-Mai đâu rồi, vô tính tiền đi con.
Nàng vội vã xin cáo lui và đi thẳng vào nhà trong.
Thanh giải thích:
-Đó là “ông Bô” của người đẹp, cụ hơi khó tính, mày phải cẩn thận nếu chẳng may phải đối đầu với cụ.
-Lẽ tự nhiên, có con gái đẹp thì phải giữ chứ!
Hắn đặt tên cho người đẹp là “Giọt Buồn”. Tôi chữa lại là “Giọt rượu buồn”. Tôi đã cảm thấy được chuyện gì đã sẩy ra. Chắc là bạn đã trồng cây-si cổ-thụ ở đây lâu rồi. đến khuya, chúng tôi là hai người cuối cùng ra khỏi quán. Thanh nói với tôi:
-Mày còn nhớ lúc ở Saigon, mày cản không cho tao leo tường thăm em không?
-Tao nhớ.
-Nhưng hôm nay mày không được cản tao nữa nghe.
Tôi còn đang bỡ-ngỡ, Thanh đã nhẩy vọt lên cây cột trước hàng hiên và trèo lên balcon lầu hai của quán ăn, nhanh-nhẹn và thành-thạo như một con khỉ, “Hắn đúng là con khỉ, tuổi khỉ mà lại”, tôi nhủ thầm. Có tiếng rì rầm trên đó, tôi đoán là cô chủ quán năn nỉ hắn về ngủ. Quả nhiên, hắn hiền từ leo xuống, lái xe về tỉnh bơ, không có chút gì say sưa cả.
đêm hôm ắy, Thanh tâm sự với tôi rằng: hắn và Ánh-Mai thương nhau. Có lần Thanh ngỏ lời cầu hôn nhưng ông cụ Ánh-Mai từ chối viện lẽ “Em nó còn nhỏ”. Nhưng nguyên nhân chính là cụ muốn gả nàng cho tên Mạnh, Trưởng-Ty Y-Tế của tỉnh, vả lại, bạn tôi đã có thành tích phá phách hơi nhiều. Ở cái tỉnh lỵ bé nhỏ này chuyện gì dù bé nhỏ tới đâu, ai cũng biết. Có lần người đẹp đã đồng ý theo chàng đi xây tổ uyên-ương, mưu kế không thành nên nàng càng bị canh giữ cẩn-thận hơn. Ông cụ cũng quen lớn cho nên đã nhờ đơn-Vị-Trưởng của Thanh chuyển lời cảnh cáo hắn. Tôi ngạc nhiên hỏi bạn:
-Mày cũng biết sợ cấp trên sao?
-Tao chẳng sợ một thằng nào hết, đạn còn chưa sợ, sao lại sợ người?
-Sao bạn chịu thua người ta.
-Chỉ vì thương nàng thôi, tao không muốn nàng gánh thêm phiền luỵ và khó sử với “Ông Bô” của nàng. Lúc này rất khó mà gặp nàng. Mỗi lần thấy tao lại quán nhậu thì ông cụ lại gọi nàng vô nhà sau để “tính tiền”.
-Sao mày không xin hai bác giúp cho một tiếng?
Hắn không trả lời, chỉ kéo một hơi thuốc dài, Thanh như muốn kìm hãm tất cả những đau đớn trong lòng. Nhìn những vòng khói xô đẩy nhau bay lên trần nhà, hắn như muốn chạy trốn một thực tại phũ-phàng:
-Nhiều khi tao nghĩ xin đổi đi đơn vị khác rồi dẫn nàng đi theo.
-Kế đó hay đấy.
-Nàng là người con rất có hiếu, tao không muốn đẩy nàng vào một sự chọn lựa không hoàn toàn.
-Trên đời này có gì là hoàn toàn đâu bạn.
-Đồng ý như vậy - nhưng tao yêu và thương nàng. Nhiều khi thương nhớ phát điên nên tao chỉ muốn đi hành-quân. Đối với tao, đánh giặc chẳng cần suy nghĩ nhiều. Gặp là ủi thẳng tay không ngừng. Sống chết đã có trời quyết định, chỉ tội cho mấy thằng em, theo tao thật là khổ-sở.
-Mày cũng nên nghĩ cho người khác nhờ một chút.
-Ừ , đôi lúc nhìn thấy chúng nó, vợ con nheo nhóc, tao cầm lòng không đậu, có bao nhiêu trong túi tao móc sạch cho chúng nó.

Sáng hôm sau, tôi trở về Saigon, ngồi trên xe ngủ gà ngủ gật, nghĩ đến bạn vừa thương vừa sợ. Sợ những rủi ro bất trắc, nếu hắn cứ tiếp tục lao đầu tìm lãng quên bằng cách đó.
Những tháng dài trong quân-trường, được khoá-đàn-anh tận tình dạy dỗ như mẹ chồng răn nàng dâu, cho nên tôi chẳng có thì giờ để nhớ đến bạn bè. Sau khi mãn khóa, tôi được ba tuần phép trước khi ra đơn vị. Tôi rủ Thanh về quê nhân tiện tôi từ giã ông bà cụ thân-sinh ra hắn; Bởi vì chắc còn lâu lắm tôi mới lại được nghỉ phép. Chúng tôi về nhà khi thành phố đang chuẩn bị để ăn tết, quang cảnh thật là vui. đi thăm bà con ai nấy đều mừng, nhưng bạn tôi vẫn không dấu được nét phiền muộn. Bà Cụ có hỏi hắn: tại sao không được vui. Thanh chỉ thở dài, thưa là có nhiều chuyện còn phải lo ở đơn vị. Bà Cụ lại dò ý, muốn hắn lập gia đình để hai Cụ có cháu vui với tuổi già. Hắn lừng khừng trả lời:
-Tùy Má muốn cưới ai con cũng chịu.
Bà Cụ làm thật, Cụ đã chấm được một cô ở miệt vườn từ lâu. Ngày lành tháng tốt đã định, đám hỏi được cử hành rất mau chóng và tôi được hân hạnh đội mâm quả đi theo sau chú rể. Hai họ ăn uống linh đình vui-vẻ, còn Thanh chẳng vui mà cũng chẳng buồn, hắn cư tỉnh bơ như chuyện đi hỏi vợ là chuyện của thiên-hạ. Những ngày sau đó, tôi ôn lại từng cử chỉ và hành động của bạn, rồi đi đến kết luận: “Bạn tôi đã “thất tình” một lần nữa. Tôi hỏi Thanh về sự quyết định vội vã như vậy. Thanh không trả lời, chỉ móc trong túi đưa tôi xem bức thư của “Giọt Buồn” gửi cho hắn:

Anh yêu dấu ngàn đời của em!
Hôm qua đến trại tìm anh, người lính gác cổng nói là Chi-đoàn đi hành-quân đã hơn tuần nay rồi, thế mà anh chẳng đến từ giã em. Hay anh đến mà không gặp em hả anh? Hãy cứ nói như vậy đi, em tin anh mà.
Ba Má đã nhận lời gả em cho tên Mạnh. Ba biểu Ba cũng không còn sống được bao lâu nên muốn em có nơi nương tựa. Thời buổi chiến tranh, Ba không muốn em trở thành goá-phụ! Em đã khóc cả ngày hôm qua, mà không biết làm sao liên-lạc được với anh. Em như con nai bị dồn vào ngõ bí.
Ba Má đưa em ra Vũng-Tàu để nghỉ mát cho khuây khoả. Buổi chiều lang thang ngoài bãi biển như người không hồn, nhìn sóng biển đánh mạnh lên mấy kè đá, em ước ao được là những bọt biển trắng xoá dưới kia, hay được như cánh buồm tít mù xa ngoài khơi, ra đi và đi mãi. Em phải làm gì bây giờ hả anh? Em không muốn bỏ anh một mình cô-đơn, em cũng không muốn bỏ Ba Má suốt đời yêu thương và lo lắng cho em.
Em tặng cho anh bài thơ em mới làm chiều nay, anh hãy giữ để làm kỷ niệm. Người ta có thể chiếm đoạt được thân xác em, nhưng tâm hồn em mãi mãi sẽ ở bên anh, anh yêu dấu của em, không ai có thể chia cách chúng ta được. Nếu anh còn nghĩ tới em, hãy bảo-trọng sức-khoẻ và tính mệnh, đừng liều lĩnh như người điên nữa, em thương. Hãy giữ cho em một nơi để tâm hồn em nương tựa.

Xa Anh
Ngày vui nào cũng ngắn,
Trên bãi biển chiều nay,
Ghế không, ngồi đơn chiếc,
Buồm ai? Trôi hững hờ!

Sóng vờn trên mặt đá,
Giễu cợt tâm hồn ta.
Hải-âu buồn viễn xứ,
Hay tình mình bay xa?

Hôn anh ngàn lần.
Ánh-Mai

Ngày chia tay với bạn thật buồn, bởi vì tôi biết từ nay cuộc đời mình sẽ rẽ sang một khúc quẹo. Trước khi đi trình diện đơn vị, tôi viết thư cho Bà Cụ bạn nói rõ những gì tai nghe, mắt thấy trong những ngày gần gũi với Thanh, còn kết luận và quyết định vẫn là giữa hắn và Hai đấng sinh thành. Tôi cũng kèm theo bức thư “Giọt Buồn” viết cho Thanh mà hắn cho tôi xem hôm trước.

Lần đầu tiên về đơn-vị, tôi gặp ông đơn-vị-trưởng nổi tiếng là người nghiêm khắc. Có lẽ tôi với ông không hợp tuổi cho lắm, nên mỗi khi ngài thấy mặt là lại tống đi hành quân ngay. Hết biệt phái cho “Trinh-sát” Sư-đoàn đến trung-đội viễn-thám, rồi liên đoàn đặc nhiệm. Tôi sẵn sàng chấp nhận thân phận một tên “Đề-Lô” mới ra lò. Hành quân liên miên. Bỗng một hôm nhận được thư của Thanh báo cho biết hắn đã cưới vợ: “Mày có biết tao cưới ai không? -Giọt Buồn!”. Tôi rất bâng-khuâng, có phải vì lá thư của tôi mà hắn đã thay đổi như vậy? Còn người con gái ở ruộng thì sao? Tôi thật sự cũng chẳng có nhiều thì giờ để suy nghĩ.

*

Tôi như cái bánh xe, lăn theo ngày tháng, chuyện gì rồi cũng quên đi cho đến một ngày. Vâng, một hôm có người bên VN đề nghị hợp tác làm ăn. Ạnh ta gửi cho tôi một bản hợp đồng để duyệt xét, tôi bỗng để ý tới địa chỉ của công ty trong hợp đồng, ở ngay quê hương ông bạn Thân của tôi. Tôi bèn nhấc điện thoaị gọi ngay.
-A lô, xin cho được tiếp chuyện với ông Tôn-Thất-Nghiệp, Giám đốc công ty xuất-nhập-cảng CON RÙA.
Một giọng con gái Bắc rặt, bên kia đầu giây trả lời:
-Thưa, ông Giám-đốc tôi đi vắng, ông cần gì và cho tôi biết quý danh để tôi thưa lại với ông Giám-Đốc.
-Cũng không có gì quan-trọng cả, cô có thể giúp tôi cũng được.
-Xin ông cứ nói.
-Tôi đang ở bên Hoa-Kỳ, nhờ cô giúp tôi một việc, nếu thành công tôi xin hậu tạ.
Cô gái nghe chữ “Hậu tạ” có vẻ vồn vã hơn.
-Vâng ông cứ nói, em sẽ cố gắng hết sức.
-Thế thì tốt, tôi có người bạn thân đã xa nhau lâu rồi, bây giờ tôi muốn tìm lại, cô có biết nhà ông Hoài-Vũ không? Hoài-Vũ là tên của ông cụ thân sinh của bạn tôi.
-Không. Em không biết, ông ấy ở đâu.
-Cô về tỉnh này bao lâu rồi?
-Thưa ông được hơn một năm.
-À, thể nào cô không biết. Chiều nay khi hết giờ làm việc, cô hãy ra chợ hỏi mấy người buôn bán ở đấy có biết tin tức của ông Hoài-Vũ, hồi xưa có rạp hát bóng Đại-Nam bên hông chợ Cồn, chủ nhà hàng Tân-Tiến, chủ hãng xe đò Long-Phi, chủ cây xăng An-Hoà không? Chắc cô có câu trả lời.
-Vâng em sẽ báo cho ông hay.
-Cô hãy ghi số điện thoaị của tôi, cô sẵn bút chưa? À này quý danh cô là gì nhỉ?
-Em tên . . . . Hà, còn anh tên chi?
Tôi thầm nghĩ “Gớm thật, cô ấy cho mình xuống chức mau thế, mới một giây thôi mà đã từ Ông xuống Anh rồi.”
Tôi đọc tên và số điện-thoại cho Hà. Tối hôm sau Hà gọi lại:
-Anh Hùng, em đã tìm được tin của ông Hoài-Vũ. Hiện giờ gia-đình ở bên Mỹ. Em có nói chuyện với người bà con của ông và xin được số điện thoaị, để em đọc số điện thoại cho anh.
Tôi ghi số điện thoại và cảm ơn cô Hà, cũng không quên hứa sẽ gửi một món quà đền ơn cô.

Tối hôm đó tôi gọi số điện thoại cô Hà vừa cho:
-A lô, xin lỗi có phải nhà anh Thanh không ạ?
-Ba cháu đi làm chưa về.
-Mấy giờ Ba cháu mới về?
-Ba cháu làm ca đêm, khuya mới về, chú có thể để lại messages cháu sẽ thưa lại Ba cháu.
-Thôi được, sáng mai chú sẽ gọi lại.
Đêm đó tôi trằn trọc mãi không ngủ được, chỉ mong cho trời mau sáng. 8 giờ sáng tôi gọi lại cho Thanh:
-A lô, xin lỗi cho tôi được tiếp chuyện với ông Thanh.
-Để cháu vào đánh thức Ba cháu.
-Ừ mau lên, cám ơn cháu.
Tôi nghe có giọng ngái ngủ trả lời:
-Thanh đây, xin lỗi ai đó?
-Ông thử đoán xem tôi là ai.
-Hảo phải không?
-Không phải, chắc ông có đoán 1000 lần cũng chẳng đúng đâu.
-Kỳ hả?
Tôi thấy có cái gì nghèn nghẹn trong cổ không thể nào cầm lòng lâu hơn nữa:
-Hùng đây, Hùng khờ Chu-Văn-An đó nhớ không?
Tôi nghe có tiếng hét vọng vào điện thoaị: “Ba ơi, Má ơi thằng Hùng chùn nè, nó còn sống nè Ba”.
-Ai nói với bạn là tôi chết chứ, thằng này khó chết lắm đó. Chạy từ Bắc vô Nam, từ Nam qua Mỹ mà chẳng có hề hấn gì.
-Tại hồi đó, có lần đi phép ghé nhà bạn, mấy đứa em nói bạn đang đánh nhau ngoài Quảng-Trị.
-Bộ cứ đánh nhau là chết sao? À này, cái chân bên phải bạn . . . có đau lắm không?
-Không sao cả.
-Bạn vẫn đi bình thường, chạy nhẩy bình thường?
-Vẫn đi bình thường, nhưng mà không nhẩy bình thường!!!
-Sao vậy?
-Thì già rồi còn nhẩy gì nữa, có mà nhẩy cò cò. Mà sao bạn chú ý cái chân tôi quá vậy?
Tôi thở ra nhẹ nhõm:
-À, tôi nhớ hồi xưa bạn hay đi bậy bạ nên sợ “Họ” chặt mất cái chân của bạn.
Hắn nhái giọng Bắc:
-Đứa nào dám chặt chân ông, ông bắn bỏ mẹ.
Sao bạn có số điện-thoại của tôi?
-Thôi được rồi, chuyện dài dòng lắm. Khi nào gặp sẽ kể. Bây giờ cho tôi hỏi thăm Hai bác một chút.
Thanh trao máy cho ông Cụ, tôi nghe tiếng cụ không khác khi xưa:
-Thằng Hùng Chùn đó hả?
-Dạ chính con đây, Hai bác mạnh khoẻ cả chứ?
Sơ dĩ tôi có biệt danh “Hùng Chùn” bởi vì cụ hay chọc cái giọng Bắc-Kỳ của tôi, mỗi khi cả nhà xúm lại chơi “Xì Jack”.
“Cây bài chuồn mà mày kêu là cây bài chùn hả? -Mấy thằng Bắc-Kỳ ăn nói kỳ cục, cái dù lại kêu là cái Ô. -Bộ lính nhẩy dù là lính nhẩy ô hả mạy!”
Tôi chỉ cười trừ.
Ông Cụ cho biết mới qua Mỹ được hơn hai năm. Khí hậu lạnh quá lúc đầu chịu không nổi, nhưng bây giờ đã quen rồi. Tôi hỏi thăm qua loa rồi hứa sẽ lên thăm hai Cụ. Vài hôm sau tôi bay sang thăm người bạn xưa đã cách xa hơn 30 năm. Bước vào Terminal tôi nhận ra bạn ngay. Có già hơn hồi xưa, nhưng vẫn còn phong-độ như ngày nào.
-Chị và các cháu khoẻ cả chứ?
-Tôi và Bả không còn sống chung với nhau nhưng thỉnh thoảng cũng qua lại thăm.
Tôi nghe có cái gì không ổn nhưng không dám hỏi tiếp, đường từ phi trường về nhà cũng khá xa, nên chúng tôi có dịp hàn huyên hỏi thăm bạn bè kẻ còn người mất. Sau biến cố 75, bạn tôi bị đi học tập một thời gian dài. Ông Cụ cũng bị tù sau đợt đánh tư-sản. Bà Cụ đã phải vừa nuôi chồng, vừa nuôi con. Mẹ chồng và nàng dâu không được thuận cho lắm nhưng họ vẫn sống với nhau chung một mái nhà vì 3 đứa con của Thanh, vì phải nương tựa lẫn nhau, vì hàng xóm láng giềng và bà con cô bác. Qua Mỹ, 2 vợ chồng đều phải đi làm, riêng Thanh phải đi làm 2 Jobs mới đủ trang trải nợ nần, vì 3 đứa con đang học đại học. Khoảng cách giữa Mẹ Chồng, Nàng Dâu càng xa cách hơn. Tất cả những rằng buộc ngày xưa không còn nữa, sự đổ vỡ đã không thể nào tránh được. Ánh-Mai đã ra ở riêng với gia-đình người em gái.
Về đến nhà, Thanh dẫn 3 đứa con ra giới thiệu, hai trai, một gái. Chúng rất ngạc nhiên, sao Ba của chúng có một người bạn thân như thế mà chúng không hề biết. Bà Cụ phải giải thích:
-Nhờ có Bác mới có chúng bay đó. -Hãy lại vòng tay cảm ơn bác đi!
Tôi thật sự cảm động và mừng cho bạn vì có những đứa con ngoan, lễ-phép và hiếu thảo với Ông, Bà, Cha, Mẹ.
Buổi tối, cả nhà quây quần ăn uống vui vẻ, mấy đứa con của Thanh có dịp hỏi thăm về những ngày xa xưa của chúng tôi. Những ngày xa xưa, buồn vui lẫn lộn đó vẫn còn đầy ắp trong trí nhớ như mới xẩy ra ngày hôm qua. Nhìn gia đình ấm cúng vui nhộn nhưng vẫn thấy thiếu thiếu một cái gì đó giống như một bức tranh đẹp của một họa sĩ tài-ba đang vẽ dở dang, họa-sĩ chưa nói được gì trong nét vẽ, tranh chưa có hồn; Hay giống như tượng thần Venus thiếu hai cánh tay. Tôi thở dài, tiếc cho một cái gì rất đẹp đã mất không còn tìm lại được.

Bà Cụ đi vào trong phòng ngủ rồi đem ra chiếc hộp gỗ nhỏ đưa cho tôi:
-Bác có món quà này rất qúy tặng cho cháu.
Nhìn mắt Cụ đỏ hoe, tôi rất đỗi ngạc nhiên, nhưng cũng cảm ơn và mở chiếc hộp ra coi. Trong đó có một bì thư đã ngả màu vàng, tôi nhận ra ngay nét chữ của chính mình. Vâng, bức thư ngày đó tôi viết cho Cụ vẫn còn đây, và cả bức thư của “Giọt Buồn” viết cho Thanh mà tôi đã đánh cắp để gửi cho cụ.
Buổi tối, Thanh mang ra chai Remy Martin. Chúng tôi nhâm nhi cả đêm, ôn lại những kỷ-niệm ngày xưa, những long-đong và hào-hùng một thời chiến trận. Những chuyện cười ra nước mắt khi hắn ở trong trại học-tập cải-tạo. Nhìn Thanh uống rượu, tôi cao hứng đọc cho hắn nghe mấy câu thơ của Nguyên-Sa tặng Mai-Thảo:

Ông ngồi với hai ông Tây
Ông kia tên Mạc, ông này tên Cô,
Buổi sáng ông chỉ say vừa
Nửa khuya mới tới đúng mùa nho ngon
Tết này ông sáu tư tròn,
Nhìn ông tôi thấy vẫn còn tháng Giêng.

Hắn rất đắc ý và nói:
-Chúng mình chưa đến 64 nên còn rất nhiều thì giờ để say. Chỉ tiếc là không có bạn ở đây với tôi.
-Tôi nghĩ, nếu có người đẹp làm đồ nhậu và tiếp rượu cho bạn chắc là bạn có hứng hơn.
Thanh không trả lời, mặt chùng xuống, mắt nhìn mông-lung ra ngoài của sổ hình như trông chờ một cái gì, một phép lạ, hay một kỷ-niệm nào đó đang hiện về trước mặt. Chắc là kỷ niêm một chiều phai nắng . . . , chàng chiến-binh mệt mỏi trở về, bên căn nhà ấm cúng, có ngọn đèn dầu, có bình rượu hâm nóng, có mâm cơm đầy và người vợ trẻ chờ mong!
Hôm từ giã Thanh, tôi trả lại hắn bức thư tôi đã đánh cắp năm xưa và nói:
-Khi nào bạn gặp lại người xưa, nói dùm tôi gửi lời hỏi thăm. Bạn cố giữ gìn sức khỏe để chúng mình còn có nhiều dịp gặp lại nhau. Tôi tặng lại bức thư đó cho chị ấy.
Tôi chia tay bạn lòng bùi ngùi vì ngày vui qua mau, nhưng phần chính vẫn là thương hoàn cảnh lẻ loi của bạn. Thời gian không thể kéo lại những ngày xưa để tôi có dịp gần gũi và an ủi bạn, để cùng lội qua vũng bùn.

Những tháng ngày nối tiếp trôi qua như những đám mây mùa hạ. Một ngày cuối tuần, tôi đang theo dõi trận Super Bowl đến hồi gây cấn, bỗng có chuông điện thoại, tôi nhấc máy chưa kịp thưa thì đã nghe:
-Hùng hả, Thanh đây, tôi mới đưa Ba, Má ra phi-trường, hai cụ về VN ăn tết vài tháng. À, có người muốn nói chuyện với bạn.
Tôi chưa kịp trả lời thì có tiếng bên kia đầu dây:
-Anh Hùng ơi, Ánh-Mai đây! Cám ơn món quà tặng của anh. Tụi này sẽ đến thăm anh một ngày gần đây.
Tôi thật sững-sờ, nghẹn ngào lâu lắm mới lên tiếng:
-Nhớ gởi cho tôi bức hình chụp cả gia-đình nghe!

Đang nhìn trên màn ảnh TV, bất thình lình tôi la lớn lên một tiếng:
“Yes!”
Đội banh nhà vừa làm một cái “Touch Down” tuyệt cú mèo vào phút chót, chuyển bại thành thắng. Bầu trời mùa đông bỗng thấy ấm áp hơn. Nắng Sàigòn chan hoà trên mảnh đất tạm dung, nơi thành phố tôi đang ở.
Tôi thấy thèm 1 tô phở béo ngậy, ly ca-phê sữa đặc, điếu thuốc lá “Quân tiếp vụ” vào một buổi sáng cuối tuần lười biếng trong thành phố Saigon thân yêu, ồn ào và bụi bậm. Những hạnh phúc bé bỏng đó tôi đã đành mất từ lâu rồi bạn ơi!

Kỷ-niệm “Tháng Tư đen” 4/98
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
Balai-Ngày Cũ
post Sep 7 2013, 02:03 AM
Gửi vào: #7


Member
**

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 13
Tham gia: 14-February 12
Thành viên thứ: 17,664



DÒNG SÔNG ÊM ĐỀM

Lê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch-Hãn

Tuy Hòa, nơi tôi ở cách nay gần sáu chục năm, là một thành phố nhỏ hiền hòa nằm sát bờ biển, giống như nàng “Mỹ Nhân Ngư” phơi tấm thân kiều diễm trên bãi cát trắng tinh. Nàng dựa đầu trên núi Chóp Chài, đôi mắt mơ màng nhìn ra biển Đông, nghe gió thổi vi vu qua những bãi thùy dương dày đặc trên bãi biển Đại Lãnh, đầu đội vương miện hình Tháp.

Ai từng đi qua Tuy Hòa, nhìn lên Tháp Nhạn đứng hiên ngang trên đỉnh núi, soi mình bên dòng Đà Giang lững lờ trôi, đều ngậm ngùi cho nền văn minh một thời rất huy hoàng của nước Chiêm Thành. Cả một vương quốc đã mất hẳn dấu tích, chỉ còn lại vài cái tháp đứng trơ gan cùng tuế nguyệt!

Xa kia về phía nam là ngọn Thạch Bi Sơn (Núi Đá Bia) cao ngất quanh năm mây phủ, đánh dấu chiến công hiển hách của vua Lê Thánh Tôn một thời đại phá quân Chiêm Thành. Đó cũng là biên giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành thời Hậu Lê.

Tôi là một trong nhóm người Bắc di cư nhỏ nhoi, được may mắn định cư và lớn lên trên vùng đất tự do, ấm cúng Tuy Hòa nơi mà người dân có tiếng là chất phác, đôn hậu và nhiệt tình.

Thời 54, chính quyền cho cất một xóm độ vài chục căn nhà tranh vách đất vây quanh cái giếng nước trên một mảnh đất khá rộng, để đón dân Bắc Kỳ di cư. Tất cả sinh hoạt của trại đều xảy ra ở đó. Từ tắm rửa, giặt quần áo, xách nước về nhà để nấu ăn, chuyện gẫu, trai gái gặp gỡ làm quen. Đó đúng là một tụ điểm hội họp, giống như sân đập lúa ở một làng quê, bởi vì chẳng có một thứ giải trí nào khác.

Trại di cư được tổ chức theo kiểu làng xã thời xưa: có một trưởng trại, vài vị trong ban hội đồng, họp nhau thường xuyên để cải thiện đời sống cư dân. Ngoài ra hội đồng trại còn lo việc phân phối thực phẩm và làm cái gạch nối giữa dân di cư và chính quyền thành phố. Hồi xưa chưa có điện thoại, nên tôi được chỉ định làm “thằng mõ” để thông báo tới từng gia đình những tin tức từ ban hội đồng trại đưa ra. Mỗi nhà đều có “Sổ Gia Đình”. Chính quyền tùy theo nhân khẩu mà cấp phát nhu yếu phẩm như dầu hôi để nấu ăn và thắp đèn, gạo, đường, đồ hộp, sữa bột, bột mì, bột bắp. Sữa thì pha với nước sôi để uống, ai không quen, Tào Tháo đuổi là chuyện thường. Bột mì và bột bắp chẳng biết làm gì, nấu chè mãi ăn cũng ngán bèn nhồi thành những con thú như bò, gà, heo, rồi chiên lên ăn, cũng ngon ra phết!

Có cả quần áo nữa, những bộ quần áo rộng thùng thình tuy cũ nhưng còn rất tốt. Bà con tháo ra và sửa lại cho đúng khổ người mình. Sau này còn cấp heo con để nuôi làm giống. Những con heo Mỹ trắng bóc mắt xanh lè trông rất lạ mắt, mau lớn như thổi, to như một con bê, khác hẳn với mấy con heo đen thui, nhỏ xíu của xứ mình.

Hầu như xóm Bắc Kỳ di cư nhà nào cũng nuôi một vài con heo, heo nái cơ. Thỉnh thoảng có anh chàng nhà quê, dắt theo chú heo nọc nhỏ xíu, đi lang thang ngoài đường, tay cầm chiếc roi thật dài, để điều khiển heo như người ta chăn vịt vậy. Khi heo nái bắt đầu kêu la om xòm và phá phách trong chuồng, cứ gọi anh ta vào là vài tháng sau, chủ trại sẽ có một bầy heo con đẹp đẽ. Anh ta chẳng làm gì đâu, con heo của anh làm thôi. Thấy chú heo nọc nhỏ xíu đứng gần nàng heo nái to kềnh mà tội nghiệp. Tôi cũng tò mò đứng xem chú làm gì, mỗi lần như vậy, Nội lại đuổi đi chỗ khác chơi. Khi chàng heo nọc làm xong phận sự, được chủ nhân cho ăn một nồi cám to nấu với đậu xanh bảo là “để lấy lại sức”. À, thì ra chú làm việc cũng vất vả lắm đấy.

Vài năm sau, khi những người di cư đã có thể tự lập, chế độ cấp phát thực phẩm cũng chấm dứt theo.

Đời sống trong trại di cư khác thật xa với các trại của vùng kinh tế mới sau này. Đó là một đời sống tạm đầy đủ, êm đềm, tự do và tự tin cho tương lai của gia đình và đất nước. Trẻ con đều được đi học mà không phải trả bất cứ một khoản học phí nào. Tôi có những bạn cùng lớp đạp xe đi học từ những vùng thôn quê xa xôi. Bệnh viện đều miễn phí, rộng rãi và hợp vệ sinh. Xã hội có tôn ti trật tự và lễ nghĩa: kính trên nhường dưới. Tình nghĩa thày trò thắm thiết như cha mẹ và con cái. Cửa nhà không cần khóa hai ba lớp. Chẳng phải thời Nghiêu Thuấn, nhưng tương đối hạnh phúc yên bình cho tới khi những tai họa từ trên núi đổ xuống: Ám sát, chặn đường, đặt mìn xe đò, xe lửa, pháo kích, súng nổ khắp nơi.

Ba tôi dạy học mãi ngoài Hội An, nên tôi ở lại Tuy Hoà với Ông Nội và bà cô để tiện bề học hành và hầu hạ Ông. Tôi coi Ông giống như Cha, nhưng đôi khi cũng rất buồn, cô đơn và tủi thân. Bởi vì Ông già hơn Cha nhiều và khó gần gũi. Những lúc như vậy, hầu như tôi chỉ có bé Uyên là người thân thích nhất.

Uyên là “cô bé lọ lem” nhà hàng xóm, nhỏ hơn tôi sáu, bảy tuổi gì đó. Ba Uyên là quân nhân, luôn vắng nhà. Mẹ Uyên thương tôi như con bà vậy. Tôi không biết tên bà chỉ biết ai cũng gọi bà là “Cô Ba Nam kỳ”. Lúc rảnh rỗi tôi hay lại nhà em chơi.

Bé Uyên thường theo tôi đi nhà thờ. Đó là ngôi thánh đường nhỏ xíu, gần một dòng sông, có những hàng cây keo cao ngất mọc bên bờ, đầy gai và hoa trắng nõn, dày cơm, ngọt lịm. Chúng tôi hái hoa keo ăn chán chê, rồi ngồi trên bờ cát nhìn xuống dòng sông nhỏ bé lững lờ trôi, ngắm bày chim chiền chiện đuổi nhau trên đám cỏ lau kêu ríu rít, quên cả vô nhà thờ cầu nguyện.

Hai đứa chúng tôi sống bên nhau như hai trẻ mồ côi lạc loài. Tất cả tình thương tôi đều dành cho Uyên, chiều chuộng em như chính em ruột của mình. Uyên cũng cảm nhận được điều đó nên luôn mè nheo tôi. Em hay hỏi tôi những câu rất ngây thơ như:

- Anh Hai, mấy con chim đó tên là gì dzậy?

- Người ta gọi là chim chiền chiện.

- Ai đặt tên cho nó dzậy?

- Anh hổng biết.

- Chắc má nó đặt tên cho nó phải hông?

- Chắc Ba nó đặt đó, giống như Ba đặt tên cho em dzậy.

- Ừ há.

- Bắt nó cho em đi, anh Hai.

- Nó chạy nhanh lắm, làm sao anh bắt được.

- Cẳng anh dài hơn cẳng nó mà.

- Nhưng nó có cánh.

- Thôi em hổng chơi dzới anh nữa đâu, anh lớn như dzầy mà hổng bắt được con chim nhỏ xíu đó.

- Để nó sống với ba má, bắt nó làm chi tội nghiệp, lỡ nó nhớ ba, buồn rồi bịnh chết mất sao.

- Anh Hai ơi, em nhớ Ba quá hà, bữa nào Ba dzìa, em nói Ba dẫn anh em mình đi ăn cơm gà xiu xiu nghe.

- Ừ phải đấy.

Tôi thấy mắt em đỏ hoe và quên mất chuyện đòi bắt chim chiền chiện. Tôi ôm em thật chặt, và hôn lên tóc em. Tôi thương em và thương tôi quá đỗi.

- Ngoan đi, anh còn một đồng đây, anh mua bánh tiêu cho em ăn nghe?

- Hổng chịu đâu.

- Chè đậu dzán dzậy?

- Hổng chịu.

- Kẹo kéo nhá, quay số trúng, chịu hông?

Nghe quay số mắt em sáng lên nhưng phụng phịu:

- Em chỉ muốn ăn kẹo bột thôi.

- Kẹo bột là kẹo gì dzậy trời?

- Kẹo đường đen rắc bột trắng đó.

- Trời đất, kẹo đường cứt trâu đó hả?

Em mở to mắt tròn xoe như hai viên bi thủy tinh và gật đầu lia lịa. Tôi làm bộ dọa cho em sợ:

- Mở miệng ra coi, còn mấy cái răng mà đòi ăn kẹo bột. Em có biết là ăn nhiều đường sẽ bị sún răng không? Con gái mà sún răng trông xấu lắm mà còn bị bạn “lêu lêu” nữa đó.

- Thiệt hông? Anh xạo, em mét má cho coi.

- Sao hổng thiệt, em sờ dzô thì biết, coi chừng răng sún cắt đứt tay đó nghen.

Con bé có vẻ sợ thiệt, rơm rớm nước mắt. Tôi phải ôm Uyên dỗ dành. Có lẽ tôi thương em nhất trên đời. Em ở ngay bên tôi, an ủi tôi, cần tôi che chở, dẫn dắt, tất cả mọi thứ khác đều quá xa vời.

- Em thấy anh Hai khóc nè!

- Đâu có, cát bay dzô mắt anh đó.

- Anh Hai xạo quá, rõ ràng em thấy tóc em ướt mà.

- Chắc con chim chiền chiện bay ngang, nó tè trên đầu em, vì em đòi bắt nó đó.

Em cười rũ rợi, và đấm trên ngực tôi liên hồi. Chúng tôi quên hết muộn phiền.

Muốn đến nhà thờ phải lội bộ ngang ga xe lửa rồi băng qua nhiều đồi cát, tôi vừa đi vừa kể chuyện cho Uyên nghe, đó là những chuyện tôi đọc được trong các trang báo thiếu nhi, hay những truyện nhi đồng như Bạch Tuyết Và Bẩy Chú Lùn, Cô Bé Lọ Lem, Cô Bé Quàng Khăn Đỏ, Thằng Người Gỗ... Nhiều khi vừa cõng em vừa kể chuyện, tới lúc cô bé đã ngủ gục trên vai tôi lúc nào không biết. Mỗi lần đi ngang ga xe lửa, mùi cơm gà xiu xiu từ gánh hàng rong của chú Ba lại làm bụng hai đứa tôi cồn cào, nước miếng thi nhau chảy ra như mưa rào. Ôi những miếng thịt gà vàng ngậy, bóng lưỡng nằm trên đĩa cơm nấu bằng nước gà luộc rồi chiên với mỡ gà. Lần nào đi ngang qua hàng cơm gà, Uyên cũng dán mắt vào đó, chân bước đi không nổi. Tôi chỉ có mỗi ước mơ nhỏ bé, một ngày nào đó sẽ mua cho Uyên một dĩa cơm gà xiu xiu!

Có lần cô Ba mắc đi sanh em bé, Cô xin phép Nội cho tôi qua ngủ trông nhà và Uyên cho Cô. Cô phải vào nhà hộ sanh sớm kẻo tối có chuyện gì đi không kịp. Tỉnh nhỏ làm gì có phương tiện chuyên chở như bây giờ, đêm hôm chỉ có nước lội bộ thôi.

Tôi dắt Uyên về Nội ăn cơm rồi hai đứa về nhà em ngủ. Dạo đó, tôi đang học đệ lục (ngang lớp 7 bây giờ), kể cũng đã lớn rồi. Uyên còn nhỏ lắm. Buổi tối em nhất định đòi tôi ngủ chung giường, Uyên nói:

- Em ngủ một mình sợ lắm, em vẫn ngủ chung với Má.

- Nhưng anh là con trai, em là con gái không ngủ chung được.

- Thế Ba với Má vẫn ngủ chung đó sao.

- Ba với Má thì khác, lớn lên em sẽ hiểu.

- Em thấy khác gì đâu, em hổng chịu đâu.

Giọng Nam Kỳ nhõng nhẽo, mếu máo, khiến tôi không thể làm phật ý em được. Đợi khi em ngủ say, tôi gỡ tay ra, trải chiếu, ngủ trên thềm nhà. Buổi sáng khi vừa mở mắt ra, đã thấy em nằm ngủ say sưa bên cạnh. Uyên ngây thơ và vô tư như thiên thần.

Từ ngày có em bé, Uyên không còn được Mẹ chăm sóc như xưa, em quanh quẩn bên tôi nhiều hơn, buổi tối thường ăn cơm chung với tôi và đòi chỉ em làm bài tập.

Cô tôi buôn bán cam. Một bà cô khác ở Saigon, cứ cách một ngày lại gởi hàng ra bằng xe lửa. Tôi chỉ việc ra lãnh mang về, Cô lo phân phối cho bạn hàng ngoài chợ.

Đường xe lửa xuyên Việt chạy ngang thành phố. Mỗi khi về tới, tiếng còi tàu “ò e…, ò e…” đánh thức cả thành phố đang ngái ngủ. Tôi vội mướn xe xích lô chạy ra nhà ga để lãnh nhận những cần xé cam nặng trĩu… Bao giờ tôi cũng dấu một hai trái để cho Uyên, em thích lắm. Đó là thứ quà rất xa xỉ thời đó.

Năm cuối cùng trung học đệ nhất cấp, tôi chuẩn bị đi Saigon học tiếp. Sẵn có tiền Nội cho, tôi dẫn Uyên đi ăn cơm gà xiu xiu, đó là bữa ăn ngon nhất trên đời tôi và em được ăn. Dù sau này đi khắp năm châu bốn bể, tôi cũng không thấy bữa ăn nào ngon như thế.

Lúc tôi lên đại học thì Uyên vừa vào trung học. Mỗi năm cứ vào dịp hè tôi lại đáp xe lửa về Tuy Hòa thăm Nội và Uyên. Tôi hay dẫn em leo núi Nhạn hái trái sim màu tím thẫm ngọt lịm hay trái dú dẻ màu vàng tươi, thơm ngát. Đó là những ngày hè vui nhất trong đời. Uyên càng lớn càng xinh đẹp hơn, không còn là cô bé lọ lem ngày nào. Chúng tôi vẫn leo lên mấy đồi cát đi về phía nhà thờ bên dòng sông thời thơ ấu, nhưng em không còn bắt tôi cõng và cũng không còn đòi ăn kẹo bột nữa.

Đôi khi chúng tôi ra ngồi ngoài bãi biển yên lặng nhìn mông lung về phía chân trời, mắt dõi theo những chiếc thuyền lững lờ trôi về nơi xa xăm. Sự tin yêu và thông cảm đã khiến chúng tôi hiểu lòng nhau mà không cần phải nói thành lời.

Chiến cuộc ngày càng khốc liệt hơn, đời tôi rồi cũng sẽ như những chiếc thuyền vô định trên biển cả mênh mông kia.

Những năm “học đại” thật vất vả, tôi vừa phải lo kiếm sống vừa phải vùi đầu vào đống sách vở cao ngất ngưởng, chẳng nên cơm cháo gì, được vài cái chứng chỉ vớ vẩn, vứt ra đường không ai thèm lượm.

Rồi vụ thảm sát Tết Mậu Thân xảy ra, thời hạn hoãn dịch vì học vấn không còn hiệu lực nữa. Tôi cầm Lệnh Gọi Nhập Ngũ mà lòng bâng khuâng khôn tả. Những ngày tháng mơ mộng của tuổi cắp sách đến trường đã chấm dứt. Cuộc đời tôi đi vào một ngõ rẽ, đầy chông gai, và tương lai thì rất mập mờ.

Tôi đã 23 tuổi và có đúng một tháng để gói ghém tuổi học trò cất vào ngăn tủ khóa lại kỹ càng trước khi bước vào quân ngũ.

Tôi trở lại Tuy Hòa thăm Nội và từ giã Uyên. Em vừa xong trung học đệ nhất cấp, chuẩn bị lên đệ tam (lớp 10). Uyên đã biết e lệ khi đi bên tôi, con mắt to đen láy có dáng tôi trong đó. Con đường đi lên đồi cát dẫn đến dòng sông tuổi nhỏ, chúng tôi đã đi qua biết bao nhiêu lần, nhưng lần này thật mới, xa lạ, ngập ngừng, e thẹn. Nắng sớm mai trải dài trên những đồi cát, chỗ sáng chỗ mờ, tạo thành những đợt sóng cát vô tận, như những đợt sóng ngầm trong lòng hai đứa.

Chúng tôi ngồi bên nhau, bên bờ sông dưới hàng keo rậm rạp, nhìn cặp kỳ nhông đầy màu sắc rượt đuổi nhau trên bãi cát. Đôi khi đang mơ màng nhìn em mà đầu óc loanh quanh với những âu lo cho tương lai, em vội đánh thức tôi:

- Anh Hai kỳ ghê hà, sao nhìn em hoài dzậy?

- Anh muốn mang bé đi mãi mãi trong tim anh, dù có phiêu bạt tận chân trời góc bể nào đi nữa.

- Thôi hổng chịu đâu, anh Hai ở lại đây dzới em.

- Hổng được đâu, người ta nhốt anh trong tù thì sao?

- Em sẽ biến thành con muỗi, chui vô thăm anh mỗi ngày, chịu hông?

- Hổng chịu, muỗi chích đau lắm.

- Em thương anh hổng chích anh đâu mờ.

- Ý trời! Mấy con muỗi cái chích đau dữ lắm đó.

- Thôi làm con kiến dzậy, hổng được, con bươm bướm chịu hông?

- Chịu, người ta đưa anh lên rừng thì sao bướm bay cho nổi?

- Em sẽ hóa thành con chim bay theo anh.

- Người ta thảy anh xuống biển thì sao?

- Em sẽ hóa thành con cá lội theo anh. Thôi em hổng chơi dzới anh nữa đâu, tối ngày đòi đi này nọ, hổng chịu ở đây dzới em.

Em thật ngây thơ, chuyện đời đâu phải cứ muốn là được. Tôi cũng như chiếc lá lênh đênh trên dòng sông dưới kia, trôi hoài trôi mãi, cố vẫy vùng cũng không thoát khỏi số phận, cho đến ngày chịu nằm yên ngoài biển khơi.

Rồi cũng đến lúc tôi phải ra đi. Bước lên con tàu, nhìn Uyên ở lại sân ga, trong bộ quần jean áo trắng tôi mới cho em, hai vạt áo chemise cột chéo vào nhau, trẻ trung nhí nhảnh hết sức, đang sụt sùi lau mắt. Tiếng còi tàu thét lên, tim tôi như vỡ ra từng mảnh, con tàu từ từ lăn bánh.

Em ở lại ôm ấp mối tình ngây thơ, còn tôi ra đi mang theo hình bóng em trên con đường vô định.

Từ khi vào quân ngũ, miệt mài với chiến trận, tôi theo đoàn quân mũ nâu, lội khắp các tỉnh miền Trung, tham chiến nhũng trận đánh lớn Bồng Sơn, Tam Quan, Thường Đức, rồi lên cao nguyên Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Phú Bổn, Phú Túc, Đức lập, Dakto, Ben Het, Quốc lộ 14, nhiều lắm kể sao cho hết. Tôi đi đến đâu cũng mang theo bé Uyên trong tim. Em như thiên thần hộ mệnh, giúp tôi vượt qua bao gian nan, nguy hiểm, cho đến ngày Ban Mê Thuột thất thủ, tôi trở thành tù binh.

Những năm tháng tù đầy hình ảnh em luôn ở bên cạnh tôi, có lúc là con muỗi, đậu ngoan ngoãn trên cánh tay tôi, có lúc là con chim hót líu lo trên cành cây giúp tôi quên đi những bó cây rừng nặng nề trên vai. Có lúc tôi thẫn thờ thấy em là con bướm đang chập chờn trước mặt, cười cợt, khiến lòng tôi quên đi bao nhiêu phiền não. Vâng, em đã giữ đúng lời hứa theo tôi từng bước chân lưu lạc tù đầy. Tôi gọi tên em khe khẽ trong cơn sốt rét rừng lạnh run người, rồi nóng bỏng. Tôi lờ mờ thấy em mặc áo trắng toát, đuôi áo xòe ra tận chân trời. Tôi cầm tay em đi bên dòng sông tuổi nhỏ, những con kỳ nhông sặc sỡ bu đến bên em, rồi tất cả bay lên khỏi từng mây trong bầu trời nắng chan hòa, có những đàn chim chiền chiện nâng áo em như thể đang trong ngày cưới, ở một vùng trời thênh thang, xa hẳn cõi trần thế khổ đau.

Tôi được thả ra khỏi trại tù (Không dùng từ này), nhưng khi trở lại Tuy Hòa, thành phố đã xa lạ, tan tác.

Chú Ba với gánh cơm gà xiu xiu đã phiêu bạt nơi nào. Bạn bè chẳng còn ai. Nội tôi đã qua đời, cô tôi đã có chồng vẫn còn trong trại tù nào đó tận đâu ngoài Bắc. Căn nhà Uyên ở nay đã thuộc về người khác, có lẽ là cán bộ từ miền Bắc vào. Em ở đâu, gia đình tôi lưu lạc phương nào tôi chẳng biết. Đúng là cảnh nước mất nhà tan. Thành phố nay đã thay đổi, chẳng nhìn thấy một nụ cười, phố xá xơ xác điêu tàn, cơm không đủ ăn.

Tìm về dòng sông tuổi nhỏ, nơi tôi và em đã từng đến để sưởi ấm tâm hồn. Những con chim chiền chiện vẫn còn đó, những hàng cây keo cao ngất vẫn còn đây, những con kỳ nhông vẫn vô tư đuổi nhau trên bãi cát. Tôi tự hỏi đã có bao nhiêu thế hệ chiền chiện bay ở đây? Bao nhiêu lần lá keo thay đổi, nhưng dòng sông thời thơ ấu vẫn còn y nguyên, như tấm lòng của tôi đối với Uyên. Nước vẫn lững lờ trôi êm đềm, mang theo cả tuổi thơ của hai đứa tôi đi mất. Tôi muốn khóc, cho em, cho tôi, cho tất cả những người Việt Nam điêu linh, khốn khổ vì chiến tranh, vì hận thù. Nước mắt tôi đã cạn khô từ những ngày trong lao tù tủi nhục. Linh hồn tôi đã bay khỏi địa ngục trần gian, để lại một thân xác bơ vơ, rã rời.

Tôi thấy mình cô đơn hơn bao giờ hết, hơn cả những ngày còn rất bé bỏng, trong một làng quê hẻo lánh bên bờ sông quê nội, thuộc “Vùng Tề.”

&&&

Thời chiến tranh Việt - Pháp trước 1954, “vùng tề” là cách gọi vùng đất bị người Pháp kiểm soát để phân biệt với “Vùng Tự Do” mà Việt Minh đã đặt được cơ sở. Ban đêm lính trong đồn có thể pháo bừa vào đó, ban ngày Việt Minh cũng làm như thế. Ngoài Bắc có câu “Ấm ớ hội tề”, chỉ mấy ông hội đồng làng tề ba hồi ngả bên này ba hồi ngả bên kia, tùy theo hoàn cảnh. Thật ra đây là những vùng “xôi đậu” giống như ở một số nơi mất an ninh tại Miền Nam sau này.

Tôi đã chứng kiến những ngày điêu linh tan tác ở đó.

Đó là một làng nhỏ, thuộc tỉnh Thái Bình, chỉ cần đi bộ vài cây số đến bến đò Tân Đệ, theo chuyến đò ngang, bên kia sông đã là thành phố Nam Định. Có lần tôi theo Nội qua Nam Định thăm người bà con, cả thành phố đóng cửa kín mít, vì đám Tây Lê Dương vừa đi hành quân về, nhiều đứa say rượu đập phá ngoài đường.

Nội có 5 người con, 3 trai hai gái. Bác Cả hoạt động cho Quốc Dân Đảng tận ngoài miền Trung đã đổi tên đổi họ biệt tích giang hồ. Chú tôi theo Việt Minh, thỉnh thoảng về thăm nhà ban đêm, chốc lát rồi đi. Có lần Chú về và xin với Mẹ cho tôi theo Chú qua bên “Vùng Tự Do”.

Chú cõng tôi trên lưng, đi hằng chục cây số trong đêm tối, giữa những bờ ruộng, tiếng ễnh ương kêu vang bên tai. Tôi ngủ trên lưng Chú lúc nào không biết.

Sáng thức dậy, thấy mình nằm trên chiếc chõng tre trong căn nhà lá xa lạ. Tôi học những lớp vỡ lòng ở đó, trong một đình làng, trẻ con chơi nhiều học ít. Học nửa buổi, còn nửa buổi ra cánh đồng bắt sâu trên những ruộng lúa mới trổ bông hay hái rau muống mang ra chợ bán gây quỹ cho đội (thiếu nhi). Đêm đêm, xách “đèn chai” đi họp đội hay tập nhảy “son đố mì”.

Tôi còn nhớ được vài bài hát đại khái như “Bác Hồ Chí Minh là mặt trời” hoặc “Đảng lao động Việt Nam, đảng của chúng ta, vì cơm áo tự do, ăn no nằm chết giữa đường…”. Tại sao lại ăn no nằm chết giữa đường? Dĩ nhiên do dân chúng đổi lời, nhưng bạn nghĩ xem có lý do chứ. Vâng, dân miền Bắc đói lắm! Có cả những bài ca tụng Liên Sô như “Dân Liên Sô, vui hát trên đồng xanh, đây bao la ánh nắng xuân chan hòa…”, đó là một cái bánh vẽ rõ to, bây giờ nhớ lại thấy vô duyên và kỳ cục. Mấy nhạc sĩ tác giả của những đứa con tật nguyền đó, chắc có lúc đã hối hận muốn vứt bỏ chúng nó đi, nhưng không có cách nào làm được. Như ông Tố Hữu có muốn vứt bỏ đứa con cùi lở què quặt cũng không làm được, nó theo ông đến muôn đời:

“Ông Sịt Ta Lin ơi, ông Sịt Ta Lin,
Hỡi ơi ông mất! đất trời có không?
Thương cha thương một, thương ông thương mười”

Ở với Chú một thời gian, một hôm Mẹ sang đón tôi về. Chỉ vài ngày sau, Pháp đi càn (hành quân) qua bên đó, chúng đốt nhà, Chú bị chết ngạt dưới hầm bí mật. Nếu Mẹ qua trễ chắc tôi đã đi theo chú mất rồi.

Ba tôi ở Hà Nội nhưng hay về thăm quê nội, đôi khi đi thăm Chú hoặc lang thang qua những làng lân cận thăm bạn bè. Một hôm, tay đồn trưởng đám dân quân tự vệ sai lính bắt Ba đánh cho một trận rất nặng, lớn lên tôi vẫn còn thấy những vết sẹo trên người ông, lúc thả ra ông về ở hẳn Hà Nội, không dám bén mảng về quê nữa, vì cả hai bên đều nghi ngờ. Một thời gian sau, Việt Minh phục kích giết chết tay đồn trưởng trên đường ra bến đò Tân Đệ.

Trước hiệp định đình chiến năm 54, gia đình Nội lần lượt từng người bỏ trốn qua Nam Định. Tờ mờ sáng, Mẹ đội thúng như mang trầu ra chợ bán, dắt tay tôi đi nhanh trên con đường làng dẫn ra bến đò. Có vài người chào hỏi nhưng Mẹ chỉ ậm ừ vài câu và vẫn rảo bước không ngừng.

Khoảng gần trưa, chúng tôi đến Nam Định, chiều hôm ấy, tất cả gia đình gặp nhau đầy đủ ở nhà một người bà con. Ban đêm, cả thành phố hoạt động rầm rộ trong bóng tối để chuẩn bị ra đi. Vài ngày sau chúng tôi theo họ lên mấy chiếc xe vận tải chờ sẵn trên con đường phía Bắc hướng đi Hà Nội.

Hà Nội những ngày chuẩn bị di cư, thật nhộn nhịp hối hả nhưng vẫn không mất đi vẻ đẹp đài các quyến rũ. Đồ đạc, bàn ghế, quần áo cũ bày bán đầy đường. Ban đêm trai gái Hà Thành thanh lịch vẫn dẫn nhau đi dạo bờ hồ, ăn kem, tình tứ trò chuyện, có lẽ như những tử tù cố gắng thưởng thức bữa ăn sang trọng cuối cùng.

Thủ Đô trong mắt chú bé nhà quê, thật là đẹp, không thể tưởng tượng nổi, cái gì cũng mới lạ hơn hẳn Nam Định như chú từng thấy. Tôi còn nhớ lần đầu tiên Ba mua cho cây kem, tôi vừa cắn một miếng đã phun ra và quăng ngay xuống đất. Chú bé nhà quê, chưa từng được ăn cái gì lạnh như thế, giống như có con dao nhỏ dấu trong cây kem vừa đâm vào miệng, cũng có thể vì mấy cái răng sún nó nhát chú.

Tôi vẫn thích nhìn về phía bên kia bờ hồ, có những đèn xe ô tô ẩn hiện trong các lùm cây. Một món quà Ba cho tôi, quý lắm, tôi còn giữ rất lâu khi đã vào miền Nam, đó là cây viết cán bằng nhựa, trên cán có chỗ nhô hẳn ra, lộng vào đó là hình chiếc cầu rất nổi tiếng, cầu Long Biên. Nếu để đúng tầm nhìn, cây cầu sẽ hiện ra rõ ràng, như thật. Đó là tất cả những gì tôi còn nhớ được về Hà Nội.

Ở Hà nội một thời gian ngắn, Ba tôi đưa cả đại gia đình đi Hải Phòng rồi lên “tàu há mồm” cập bến Nha Trang. Ba mẹ tôi đi Hội An còn tôi theo Nội và Bà Cô vào định cư ở Tuy Hòa từ đấy.

Tôi còn quá nhỏ để hiểu được những mất mát khi phải bỏ quê hương ra đi, hay những sợ hãi trốn tránh cả hai bên Việt Minh và Tây, nhưng quá quen thuộc với những chuyến đi bất chợt, vỗi vã trong đêm tối. Tôi đã có thể đi một mình trong đêm hằng vài cây số trên những con đường quê hẻo lánh không hề sợ hãi.

&&&

Trong biến cố di tản miền Trung thời 75, Ba Mẹ tôi may mắn thoát được về Saigon yên ổn, ở chung nhà Bà Cô. Sau khi ra tù, tôi trở về Tuy Hòa một thời gian ngắn, rồi đoàn tụ với gia đình ở Saigon.

Đời sống lúc đó thật ngột ngạt, phập phồng, vất vả. Từng bước chân, từng cánh tay cử động cũng có những con mắt theo dõi. Trong nhà phải nói chuyện thì thầm với nhau tưởng như trong vách kia có cả trăm lỗ tai đang nghe ngóng. Những bữa ăn vội vã, một mắt nhìn vào bàn ăn còn mắt kia phải canh chừng ngoài cửa, công an khu vực có thể vào nhà bất cứ lúc nào để dòm ngó kiểm soát, hạch sách. Họ đi từ trước ra sau nhà không cần hỏi han một tiếng. Ba Mẹ tôi luôn luôn lo sợ không biết họ sẽ bắt tôi lúc nào và đẩy cả gia đình đi kinh tế mới. Tôi chưa từng tưởng tượng ra được có một ngày mình phải ở trong một hoàn cảnh như thế và cũng chưa từng đọc được trong sách vở có một thiên đường hạnh phúc như thế trên thế gian này. Người miền Nam đã được “giải phóng” và sống một cuộc đời hết sức “tự do, hạnh phúc” như thế, cho nên cũng dễ hiểu, nếu cái cột đèn có chân cũng muốn bỏ nước ra đi bất chấp hiểm nguy.

Tôi không thể sống trên quê hương giữa những người cùng máu mủ đồng bào mà lòng đầy hận thù chia rẽ. Cuộc sống thật sự không có ngày mai cho những người bị gọi là “Ngụy”.

Sau hai lần vượt biên thất bại, cuối cùng tôi cũng đến được Pulau Bidong Mã Lai trên con thuyền bé tí teo, cùng với mấy chục mạng “cái bang”, thân tàn ma dại, quần áo rách bươm, bẩn thỉu, không còn đủ sức lết ra khỏi thuyền.

Thuyền nhân trên đảo tương đối được tự do sắp sếp đời sống của mình với những phương tiện tự túc, có nghĩa là vào rừng đốn cây để dựng chòi, nhặt nhạnh cái gì còn sài được của những người vừa rời trại.
Mình “được” làm chủ chính bản thân không còn sợ ai dòm ngó kềm kẹp nữa. Cuộc sống thường nhật là những khắc khoải chờ đợi để được phỏng vấn và đi định cư ở nước thứ ba và mong ngóng tin tức gia đình, người quen. Có những đêm cả trại chạy ồ ra cầu Jetty đón nhận thuyền nhân mới đến, xem có thân nhân bạn bè của mình không. Chẳng ai muốn hỏi hành trình của họ ra sao, có bị cướp biển hay không, dù có khốn khổ, nguy hiểm, tủi nhục ra sao thì đó cũng chỉ là sự lập lại của chính mình. Hàng ngàn con mắt nhìn đám tân thuyền nhân như nhìn chính mình cách đây chẳng bao lâu, đẫm lệ, thầm thì an ủi “Cám ơn Trời Phật, tất cả những khổ đau chẳng là chi nữa, hãy làm lại từ đầu, miễn sống sót và xa chốn địa ngục trần gian là tốt rồi!”

Có những đêm không ngủ được, Nhớ Uyên, nhớ Nội, nhớ gia đình Ba Mẹ, bạn bè, chiến hữu đã từng cùng vào sanh ra tử, tôi lần lên đồi tôn giáo, cầu nguyện. Nhìn xuống đám nhà thuyền nhân dưới kia, những cái được gọi là nhà đó chỉ là mấy nhánh cây rừng làm cột, nhặt nhạnh bất cứ thứ gì có thể che được làm mái. Hàng chục ngàn con tim đang thổn thức trong đó, có những người cố dỗ giấc ngủ như tôi, có những người đang khóc thầm vì mất vợ, mất chồng, mất con, mất cha mẹ, anh em. Có những người đang tự trách mình vì đã bỏ rơi bạn bè, chiến hữu trong lúc thập tử nhất sinh. Họ đang cố gắng quên đi những tủi nhục một đời, tù đày, ức hiếp, hăm dọa, đánh đập, chiếm đoạt tài sản, rồi bị săn đuổi như một loài thú hoang, còn chịu nạn hải tặc, cưỡng hiếp... Ngoài biển mênh mông kia, biết bao nhiêu oan hồn còn vất vưởng vì nỗi oan khiên chưa được giải, chưa biết tỏ cùng ai, không nỡ mang xuống tuyền đài. Biết đâu có Uyên trong đó.

Tim tôi quặn đau, nghẹt thở. Tôi cầu xin Trời Phật dù thế nào cũng dẫn em qua cầu khổ đau, tôi khấn nguyện ơn trên hãy mở tay cứu giúp các linh hồn còn vất vưởng ngoài biển khơi được về cõi vĩnh hằng. Tôi miên man nghĩ từng giả thiết về em, đã chết trên đường vượt biên ư? Không, không thể được, em là thiên thần có Chư Thiên phò hộ, không thể chết được. Cũng có thể em còn ở Việt Nam hay đã đến một trong những trại tỵ nạn nào đó, hoặc biết đâu, đã đến được bến bờ tự do. Tôi an ủi mình, có thể lắm chứ, em là Thiên Thần mà! Tôi điên rồi.

Cơn điên cứ miên man như thế trong nhiều giấc mơ, theo tôi vượt biển Đông, về tận Tuy Hòa, leo qua những đồi cát bên dòng sông tuổi nhỏ. Tôi thấy Uyên và tôi đang đùa giỡn bên nhau, rượt đuổi mấy con kỳ nhông, hay công kênh em trên vai để hái hoa keo hoặc vờ làm bẫy để bắt mấy con chim chiền chiện cho em. Tôi nghe tiếng em cười, tiếng em nhõng nhẽo đòi ăn kẹo bột. Tôi còn nước mắt để khóc không? Nhưng nghe nghèn nghẹn trong tim rồi rơi vào giấc ngủ mê. Tôi thấy em đang chơi vơi giữa đại dương, hai tay dơ lên giữa những cơn sóng phủ đầu. Tiếng kêu cứu của em bị át bởi tiếng gầm gừ của đại dương; “Anh Hai, cứu em, cứu em, cứu em…” Tôi giật mình tỉnh dậy, mồ hôi vã ra như tắm, đầu hâm hấp nóng. Trời đã khuya, tôi đọc kinh và thầm cầu nguyện cho em. Bầu trời trong vắt đầy sao, có lẽ em đã là một vì sao lấp lánh trên kia. Tôi lặng lẽ trở về căn chòi lá mà lòng đầy nghi hoặc. Em đang ở đâu?

“Pulau Bidong có list thì dông” Tôi học được trên đảo như vậy và dông lẹ, bỏ lại bao nhiêu hệ lụy buồn vui, khắc khoải đời thuyền nhân. Từ giã những cặp tình nhân bất đắc dĩ với những mối tình vá víu tạm bợ.

Đầu thập niên 80, tôi đặt chân lên đất Mỹ, làm lại cuộc đời từ con số không. Kể như vẫn còn may mắn. Đời tôi luôn luôn gặp may mắn, tôi tin như vậy, cho nên tôi vẫn để ý tìm Uyên khắp nơi. Đi dự họp mặt của các hội đoàn đồng hương, cựu quân nhân, các hội cựu học sinh, sinh viên …

Tôi định cư tại thành phố Austin, thủ phủ của Texas. Ban đầu được một nhà thờ Công Giáo đỡ đầu do hội thiện nguyện USCC giới thiệu. Một người trong nhà thờ giúp tôi kiếm được việc làm trong kho hàng của siêu thị, việc làm bán thời gian ban đêm. Công việc tuy cực nhọc nhưng cũng chẳng thấm thía gì so với những tháng ngày còn lêu bêu bên Việt Nam. Austin có một trường đại học rất nổi tiếng, đó là trường UT to lớn vĩ đại.

Sau khi thi lấy bằng tương đương trung học, mấy người nhà thờ giúp tôi điền đơn xin học bổng và ghi danh học ở đó, có cả một ông counselor của trường cũng trong hội nhà thờ giúp tôi từng bước. Thật là mủi lòng, những người không cùng máu mủ với mình thì hết lòng giúp đỡ, còn đồng bào ruột thịt của mình thì xua đuổi mình như con chó dại. Vui mừng hết sức, thế là bao nhiêu năm bỏ quên sách vở lại được sờ mó, ôm ấp, hít thở mùi giấy mực. Thong dong một mình, không còn lo chiến tranh, trốn tránh, bắt bớ, tù đày nữa. Tôi lại sách, đèn như xưa, lòng đầy hân hoan của một cậu bé mới lớn.

Nhiều năm qua đi. Ra trường rồi đi làm. Một hôm, theo người bạn cùng sở bay về Cali tham dự buổi họp mặt của một Hội Đồng Hương, tôi đã gặp lại Uyên!

Chúng tôi ôm nhau giữa đám đông khóc mùi mẫn, khóc thoải mái, khóc tự nhiên, khóc thật to cho mọi người cùng khóc. Trong đám đông đồng hương này có biết bao nhiêu người cũng đã từng khóc như chúng tôi. Khóc để trôi đi bao điều còn giữ kỹ trong lòng, không nói ra được. Khóc để nói với mọi người rằng chúng tôi đã tìm thấy báu vật đánh mất bao nhiêu năm trời.

Khóc đã đời, chúng tôi buông nhau ra. Nhìn mặt Uyên son phấn tèm lem như thời bé bỏng nghịch đất cát, tôi bật cười. Em hỏi sao tôi cười. Tôi nói tôi đã tìm lại được tuổi thơ của chúng ta, tôi vui lắm. Em muốn kể cho tôi nghe những gian truân, gia đình tan nát, đổ vỡ, chết chóc, nhưng tôi không muốn nghe. Tôi tìm thấy em là đủ rồi, những cái khác hãy quên đi, quên đi, quên đi…

Cám ơn các hội đoàn người Việt tại hải ngoại bao năm qua vẫn không ngừng sinh hoạt, tạo ra biết bao họp mặt đầy ý nghĩa, cho những đồng hương lưu lạc có cơ hội gặp gỡ tìm lại được nhau.

Lê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch-Hãn
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
Balai-Ngày Cũ
post Sep 7 2013, 02:07 AM
Gửi vào: #8


Member
**

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 13
Tham gia: 14-February 12
Thành viên thứ: 17,664



“Anh Ba ơi…ông xã em bị…thu mất bằng lái xe rồi!”. Chị Mẫn gọi tôi sáng thứ bảy lúc tôi còn đang ngái ngủ, giọng ngập ngừng và hoảng hốt, có lẽ chị đang cố gắng kìm hãm những tiếng khóc đầy nhóc trong lòng. Tôi biết nói gì đây để an ủi chị? Chuyện đó cứ canh cánh trong lòng mãi không thôi. Vợ chồng chị sống bên California từ những ngày đầu vượt biên, còn tôi ở mãi Texas nên ít có dịp gặp nhau.

Nhân tiện cô em gái vừa thoát khỏi cơn bạo bệnh, tôi muốn thăm em một chuyến nên rủ thêm mấy người bạn của em và của tôi cùng họp mặt ở Los Angeles cho vui. Lớp tuổi mùa thu như chúng tôi, không gặp nhau trong đám cưới thì cũng trong đám ma để đóng hụi chết hay hụi sống thôi,cho nên, những buổi họp mặt bất thường thật là quý giá. Có đôi khi chẳng biết lấy lý do gì để gặp nhau, bọn tôi lại tổ chức đi du lịch chung, cho qua ngày tháng hay cố níu thời gian để sống lại những kỷ niệm xa xưa. Kỷ niệm xa xưa thì bao giờ cũng đẹp như thời son trẻ đã qua. Chúng tôi gồm một nhóm nhỏ chơi rất thân với nhau, giúp đỡ và thăm hỏi nhau thường xuyên, chia sẻ những buồn vui trong cuộc đời. Mỗi người đều có những thử thách về công ăn việc làm hay hoàn cảnh gia đình, nhưng đều gác qua một bên để họp mặt vui vẻ.

“Bạn bè đối đãi nhau bằng trái tim bao giờ cũng bền vững, thắm thiết hơn là bằng cái đầu”, chúng tôi đồng ý như vậy.

Sáng sớm Thứ Bảy vừa mới xuống phi trường, cô em đã réo gọi buộc phải tới nhà để dự party mừng sinh nhật buổi chiều lúc 4 giờ. “Không đến em giận đó”, tôi vội vàng “Ừ, ừ anh sẽ đến, đàng nào anh cũng muốn nhìn dung nhan mùa hạ của em ra sao”. Giọng cô vẫn sang sảng, chẳng có tí gì là bệnh tật cả. Sau mấy tháng chiến đấu dũng cảm có lẽ cô đã đuồi được thần chết chạy có cờ. Tôi mừng lắm. Vợ chồng anh Mẫn cũng mới đáp xuống từ San Jose, cùng phi trường LAX. Trời California thật đẹp, mát mẻ, trong vắt không một cụm mây, gió thổi hiu hiu, cây cỏ xinh tươi, hoa nở rộn ràng khắp nơi, lòng tôi thật khoan khoái, chả trách dân Việt mình đổ xô về đây ở, mặc dầu giá sinh hoạt đắt đỏ hơn các nơi khác.

Lấy xe thuê xong, tôi và vợ chồng anh bạn cùng về khách sạn. Mẫn kém tôi vài tuổi cho nên mặc dầu là bạn, hai vợ chồng luôn coi tôi như người anh kết nghĩa. Anh tướng tá cao ráo đẹp trai, mặt mày hồng hào, đúng là người mẫu lý tưởng của những chàng phi công VNCH. Thời còn chiến tranh, một lần anh đã phải nhảy dù ra khỏi máy bay vì bị trúng hỏa tiễn “địa không”. Chị Mẫn xưa kia là người đẹp của Hàng Không Việt Nam. Thật là một cặp xứng đôi vừa lứa.

Chúng tôi vừa nhận phòng khách sạn, chưa kịp thở thì một đống bạn bè gọi lại, các bạn khác cũng đã đến đầy đủ, không có gì trở ngại. Chương trình chật cứng ngày giờ từ sáng sớm đến tối mịt liên tục 4 ngày lưu lại Los Angeles. Chắc tôi sẽ phải “chạy show” như mấy ca sĩ phòng trà mới hy vọng họp mặt với tất cả bạn bè và bà con.

Anh Mẫn đã bị bác sĩ thu mất bằng lái xe cách nay mấy tháng, sau khi xác định anh bị bệnh Alzheimer (Mất trí nhớ), cho nên đi đâu cũng phải nhờ bà xã. Tôi muốn thử trí nhớ anh, bèn dấu GPS vào hộc xe và nhờ anh chỉ đường để đi đó đi đây. Anh không ở thành phố này nhưng đến chơi thường xuyên nên chẳng khác nào thổ địa. Anh dẫn tôi đi còn chính xác hơn cả GPS, nào thấy lãng trí gì đâu. Tôi chọc anh: “Tôi cũng muốn bị Alzheimer như anh, khi nào muốn chối điều gì cứ nói: Tôi có nói vậy sao? Đâu có nào! là huề cả làng, tôi bị Alzheimer mà!”. Trước kia Bà xã anh hay cằn nhằn về vụ “nói trước chối sau”, bây giờ mới biết anh không chối mà quên mất mình nói gì đấy thôi, cho nên tha thứ cho anh tất cả và còn yêu thương anh hơn nữa, ngày tháng trở nên báu vật hiếm quý.

Nhìn anh Mẫn, tôi chợt nhớ đến một chuyện tình của một cặp vợ chồng già, tôi quen cách nay đã lâu.

***

Khoảng năm 2004, văn phòng nơi tôi làm việc cho một công ty Energy được dời từ vùng Southwest về trung tâm thành phố Houston. Phía sau văn phòng chừng 3 blocks phố là khu chung cư của mấy người già, nằm ngay trên đường Allen Parkway, các Cụ Việt Nam ở đó cũng nhiều. Con đường này rất đẹp đẽ và lịch sự lại có xe bus Metro chạy qua thường xuyên. Mỗi buổi trưa, tôi thường ra ngồi ở một công viên nhỏ gần đó để ăn trưa và ngắm mấy chú chim bồ câu giành ăn. Tôi để sẵn một túi gạo trong văn phòng, buổi trưa đi ăn, đem theo một túi nhỏ. Tôi vừa ngồi ăn vừa quăng gạo ra, thế là chim bồ câu ở đâu bay lại rất đông, có cả mấy con Se Sẻ, Blue Jay và Chào Mào nữa, chúng rất dạn dĩ, nhiều khi tôi chỉ đưa tay không ra, mấy chú cũng đậu lên tay rồi mổ vào nắm tay tôi để tìm gạo. Đến một lúc quen thuộc, mỗi khi tôi ngồi xuồng ghế đá là chúng tự động bay lại, chẳng cần phải có gạo để nhử. Có những hôm quên đem gạo, tôi lại phải chia bớt phần ăn trưa của tôi cho chúng, nếu không chúng mè nheo mãi không chịu bay đi.

Từ công viên đó đi chừng vài blocks đường là đến một nhà thờ Công Giáo, trưa nào cũng có cha Việt Nam làm lễ, tiếng chuông đồng hồ ngân nga từ trên tháp cao nghe rõ hay. Tôi có cảm tưởng mình đang đi hành hương bên Vatican. Đi xa hơn là hội người già của các cụ Việt Nam. Thỉnh thoảng thấy vài cụ đi bộ đến nhà thờ hay đi xe bus đến hội người già để ăn cơm trưa và sinh hoạt với nhau như đánh cờ tướng, ping pong, tập thể dục v… v…Kể ra tuổi già được xã hội chu cấp như vậy cũng thoải mái lắm. Ở nhà Housing (Nhà của thành phố cấp cho người lợi tức thấp) khang trang chỉ trả từ $150 đến $190 một tháng, thành phố tài trợ thêm tiền điện, nước, đi xe công cộng khỏi tốn tiền, mỗi tháng lại được lãnh 1 thùng đồ ăn “bồi dưỡng” như bơ, sữa và nhiều thứ khác, ăn trưa ở hội người già miễn phí, lấy thêm phần ăn tối nữa thế là cuộc sống thoải mái, chẳng cần nhờ vả ai. Tiền già dư giả gởi về Việt Nam cho bà con hay các hội từ thiện, chùa chiền, nhà thờ…Bên Việt Nam cứ tưởng các cụ giầu có lắm, chẳng qua là không có nhu cầu đòi hỏi, nên chắt bóp từng Đô Mỹ để gởi về. Giữ tiền cũng chẳng làm gì thôi thì cho người bên Việt Nam cần hơn. Hậu sự đã có con cháu lo rồi. Đối với các cụ, sống ở Mỹ chả cần giàu có mới sinh lễ nghĩa! Thiện Tâm luôn luôn nảy nở tự do trong lòng mọi người.

Một hôm đang ăn trưa, có cặp vợ chồng già, xuống xe bus rồi tới ngồi sát bên tôi. Cụ bà lên tiếng hỏi tôi có phải là người Việt Nam không? Tôi nhìn cụ hơi ngạc nhiên:

- Vâng, cháu là người Việt.
- Ông nhà tôi mấy hôm nay đi xe bus xuống hội người già để ăn trưa, đi ngang đây thấy cậu cho chim ăn vui quá, cứ nằng nặc đòi xuống đây không chịu đi nữa.
- Vâng, hai bác cứ ngồi đây chơi, đây là nơi công cộng ngồi chơi lúc nào mà chả được, góc đàng kia có nhà vệ sinh, nếu cần có thể xử dụng được.
- Ông nhà tôi chỉ muốn coi chim ăn thôi, ông ấy bây giờ như trẻ con, đòi cái gì cũng phải chiều.

Cụ bà vừa nói vừa nhìn cụ ông một cách trìu mến như thể mẹ già nhìn con thơ. Cụ ông chẳng nói câu nào chỉ nhìn tôi cười. Nét mặt vui tươi, hớn hở. Tôi hỏi cụ muốn cho chim ăn không? tôi còn một ít gạo trong túi đồ ăn đây. Cụ ông chỉ cười không lên tiếng. Cụ bà bảo tôi, ông ấy điếc lắm không nghe tôi nói đâu. Cụ bà lại cất to tiếng hỏi cụ ông:
- Ông ơi, cậu ấy bảo ông muốn cho chim ăn không? Cậu ấy còn gạo đấy!
- “Không, tôi no lắm rồi, chả ăn gì đâu”, cụ ông trả lời.
- Cụ bà lại hét lên, không phải ông, mấy con chim kìa, vừa nói vừa chỉ mấy chú chim bồ câu còn đang chờ đợi gần đó.

Cụ ông có vẻ hiểu ra, gật đầu lia lịa, tôi vội đưa túi gạo cho cụ, thế là cụ cứ quăng gạo ra luôn tay, mấy chú chim bồ câu tranh nhau ăn tíu tít. Để mặc cho cụ ông vui với đàn chim, tôi bắt chuyện với cụ bà.
- Hai bác ở gần đây không?
- Chúng tôi ở khu Allen Parkway, gần đây, trưa nào cũng xuống hội người già ăn cơm và đi nhà thờ. Hôm nay, đi ngang đây thì ông ấy không chịu đi nữa, tôi phải chiều vậy. Ông nhà tôi bị bịnh mất trí nhớ (Alzheimer) từ lâu lắmrồi, lúc ông ấy còn chưa đến 70 tuổi, càng ngày thì càng tệ hơn, bây giờ lại thêm bị điếc nặng.
- Thế bác có dẫn bác trai đi bác sĩ không?
- Chả ăn thua gì cậu ơi, thuốc thì vẫn uống đấy nhưng bệnh thì mỗi ngày mỗi tăng, được cái ông ấy cũng dễ chịu, chẳng đòi hỏi gì, có khi rất tỉnh táo, có khi quên mất chẳng biết mình là ai! Như đứa con nit ấy, ngơ ngơ, ngáo ngáo, thấy thương lắm cơ.

Cố Tổng Thống Reagan cũng bi bịnh Alzheimer, nghe nói từ khi ngài còn trong Tòa Bạch Ốc, lúc về già bịnh càng nặng thêm, có khi ra công viên ngồi chơi với mấy trẻ nhỏ, chẳng biết mình là ai nữa, cận vệ của ông thì đứng xa xa dòm chừng. Nhà báo chụp được tấm hình đó, trông rất dễ thương! Vậy mà ông cũng sống đến 93 tuổi chẳng sao cả.

Đến giờ trở về văn phòng, tôi chào hai cụ và hẹn trưa nào rảnh rỗi lại ra đây trò chuyện. Thế là hầu như trưa nào hai cụ cũng ghé lại công viên xem tôi cho chim bồ câu ăn. Được làm quen với hai cụ, tôi cũng mừng, có nhiều trưa cụ bà nấu vài món Bắc mời tôi lại ăn. Riết rồi tôi trở nên thân thiện với hai cụ như người trong nhà, tôi hay ghé lại thăm hai cụ ở chung cư những khi rảnh rỗi, có khi theo các cụ đến hội người già mỗi dịp lễ lạc, hay xin chích ngừa cảm cúm miễn phí. Thỉnh thoảng được dự đám cưới trong hội người già của các cụ “rổ rá cạp lại” cũng vui. Các cụ cũng yêu đương, tình tiếc ra gì, ghen tương cũng sôi nổi lắm. Tôi được nghe kể có một cuộc “Tình Già” sảy ra ở đó, kiểu tình già của cụ Phan Khôi rất cảm động:

Hai mươi bốn năm xưa,
Một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ,
Trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
-" Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng”,
………
………
Hai mươi bốn năm sau,
Tình cờ đất khách gặp nhau,
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi,
Liếc đưa nhau đi rồi!
Con mắt còn có đuôi

Đó là thơ của Cụ Phan Khôi. Cháu cám ơn Cụ.

Vợ chồng người con lớn cũng ghé thăm hai Cụ thường xuyên, chúng tôi coi nhau như anh em một nhà, trao đổi địa chỉ và điện thoại để liên lạc với nhau, cha mẹ anh cũng như cha mẹ tôi. Tôi hứa sẽ chạy qua thăm hỏi hai Cụ thường xuyên.

Trở lại câu chuyện của ông cụ “Lãng Tai”, thời còn trẻ cậu Khải (tên của Ông) là học trò nghèo, từ quê lên tỉnh trọ học nhà cô Xuân (tên của Bà), làm chân cậu giáo, vừa đi học vừa dạy kèm cho Cô và hai cậu em nhỏ. Mỗi ngày cô Xuân đi học về đều phụ với chị bếp lo cơm nước cho cậu. Cha Mẹ cô đều ở ngoài cửa hàng bách hóa đến tối mịt mới về. Có câu “lửa gần rơm thế nào cũng cháy”. Vâng cháy mạnh đi ấy chứ. Cô Cậu yêu nhau, nhưng các cụ hai bên chả ai đồng ý cả, bên nào cũng hứa hôn đâu đấy cả rồi, kết quả là Cậu thì bị đuổi ra khỏi nhà còn Cô bị giam lỏng không đi đâu được. Cậu học trò, dở khóc dở cười, không nơi nương tựa, học hành dở dang, sắp đến kỳ thi BAC I, về quê thì thế nào cũng bị đánh đòn, ở lại tỉnh thì biết lấy gì để sống, thế là cậu đăng lính, vào học trường Võ Bị. Trước khi lên đường Cậu nhắn với Cô qua hai chú em rằng cậu sẽ về đón cô khi có dịp. Cậu đã giữ đúng lời hứa, Cô thoát ly gia đình và theo chàng Thiếu Úy mới ra trường. Đó là chuyện ngày xưa, thời còn xuân trẻ, thời gian cũng đã phai mờ.

Cuộc đời Bà gian nan trôi nổi từ đó, theo bước chân của chồng qua bao vùng đất lạ, gia đình ruồng bỏ, nhưng Bà vẫn thấy hân hoan hạnh phúc. Đã bao lần đợi chờ hồi hộp, hồn Bà đi theo Ông từng bước chân quân hành. Những hôm đứng dựa cửa dõi theo bóng ông xa dần với trái tim thổn thức. Nhưng tình yêu của Ông là nguồn năng lực giúp bà sống vững mạnh. Bà luôn nghĩ rằng vì yêu Bà mà Ông phải đăng lính, phải chịu bao nhiêu cực khổ, gian nan cho nên Bà trao cả hồn và xác cho Ông, chăm lo con cái cho Ông và bao giờ cũng sẵn sàng đón Ông trở về. Sau khi nền đệ nhất Cộng Hòa sụp đổ, rồi những cuộc đảo chánh, chỉnh lý sảy ra liên miên. Ông chán đời lính, xin giải ngũ và tìm được một chân “Giám Đốc Ngoại Vụ” trong Ngân Hàng của người bạn. Ngoài giờ làm việc, Ông ra ngồi ngoài đường đánh cờ thế (cờ tướng thu gọn) với mấy bác xích lô, tiêu khiển qua ngày! Tưởng đâu, từ nay Bà sẽ luôn có Ông, nào ngờ nước mất nhà tan, Ông lại khăn gói lên đường đi tù cải tạo. Bà ở nhà tảo tần nuôi con, nuôi cháu, thỉnh thoảng khăn gói lặn lội thăm nuôi Ông. Ngày Ông được thả về với gia đình, thân tàn ma dại, nhưng Bà rất vui mừng. Chẳng bao lâu, lại dắt díu nhau qua Mỹ theo diện H.O.

Một trang ký ức đã lật qua, cuộc đời Bà từ nay nhàn hạ, bù cho bao nhiêu tháng ngày gian nan lúc còn bên Việt Nam. Mỗi tháng lại có rủng rỉnh tiền già, bảo hiểm sức khỏe đầy đủ. “Mọi thứ đã có nhà nước và Chúa lo liệu hết” bà hay nói vậy. Con cái mỗi người một nơi, ai cũng có việc làm hoặc đi học, Bà chẳng phải bận tâm. Hai Ông Bà chỉ đi du lịch hay thăm bà con, gần thì ở ngay Houston, xa hơn thì Los Angeles, hay Washington D.C. hoặc Florida.

Tuổi hạc cứ thong thả trôi qua, thỉnh thoảng Ông cũng nói trước quên sau, Bà bảo Ông lẩm cẩm, chẳng nỡ cằn nhằn. Có đôi khi Ông quên mất tên những người bạn rất thân ngày xưa, hoặc quên cả tên thằng con yêu dấu của mình nữa, thỉnh thoảng mở nước tưới cây quên tắt cả mấy tiếng đồng hồ, biêu bọng gởi về Ông vất cả vào thùng rác, tệ hơn nữa, Ông giúp bà rửa chén đũa rồi cất tất cả vào tủ lạnh, báo hại Bà phải thu dọn lai. Có khi Bà nhờ Ông mang thùng rác ra để lề đường cho xe hốt rác đến lấy, Ông kéo đi quanh quẩn rồi lại bỏ ra sau vườn. Bà tự nhủ già rồi ai mà chả lẫn như vậy cho đến một ngày, Bà nhờ Ông chạy ra chợ gần nhà mua cho Bà ít đồ gia vị, Ông trở về tay không, chẳng biết ra chợ làm gì, Bà bắt đầu nghi ngờ Ông có “vấn đề”! Rồi một lần khác Ông đi bộ một mình ra công viên gần nhà, nơi mà Ông và Bà thường đi bộ mỗi sáng, lúc trở về Ông quên mất nhà mình, đi qua đi lại mãi mà không biết căn nhà nào của mình, chờ mãi chẳng thấy Ông đâu, Bà quýnh quáng gọi cho mấy đứa con về nhà cùng với bạn bè lối xóm chia nhau đi tìm, cuối cùng thấy Ông lang thang cách nhà gần một cây số. Người Con lớn đưa Ông đi khám bịnh, hóa ra Ông đã bị Alzheimer từ lâu rồi. Người ta cho Ông một cái “Health Monitor” bằng nửa bàn tay đeo vào cổ, và một cái vòng đeo ở tay để đo nhịp tim, nó sẽ báo động về phòng cấp cứu, nếu có trường hợp khẩn cấp xảy ra. Hàng tháng, Ông chỉ phải trả một lệ phí nhỏ tượng trưng. Mỗi khi có chuyện khẩn cấp, Ông chỉ nhấn vào cái nút đỏ là xe cứu thương sẽ chạy đến ngay, bất cứ ông ở nơi đâu. Ồng sẽ chẳng bao giờ sợ đi lạc nữa, lỡ có bị bệnh bất thình lình may ra còn cứu được. Ông bị tịch thu bằng lái xe, từ đó Bà phải lái xe cho Ông khi cần phải đi đâu xa, những nơi gần Bà dẫn Ông đi xe buýt công cộng.

Ông Bà vẫn từ chối ở chung với con cái. Ở với con trai sợ phiền con dâu, ở với con gái sợ phiền con rể, thế là hai Ông Bà vẫn gần gũi bên nhau, sớm tối có nhau. Đến một ngày, Ông quên hẳn không biết Bà là ai, Ông là ai nữa, bà đã sụt sùicả ngày. Ông hỏi tại sao Bà khóc, Bà chẳng biết phải trả lời sao, Bà bây giờ như người bạn xa lạ đi bên cuộc đời Ông. Những chuyện xưa không còn nhớ nữa, hận thù, ân oán cũng phai mờ, có nhắc lại Ông cũng chẳng hiểu, chỉ cười, nụ cười trẻ thơ mà đầu óc phiêu diêu tận chân trời xa vắng. Bà nhìn Ông mà lòng thương yêu dào dạt. Ông bao giờ cũng là người của gia đình. Thương vợ con hơn cả chính bản thân Ông. Ngày xưa, mỗi lần đi xa trở về nhà, Ông không quên mua đủ quà cáp cho Bà và tất cả các con, dẫn cả gia đình đi ăn ngoài, rồi đi coi hát bóng. Những đứa con luôn mè nheo Ông vì biết Ông luôn chiều chuộng chúng, không phải Bà. Vì Bà mà Ông phải bương trải một đời xông pha trận mạc, tranh đấu ngoài trường đời cho vợ con có cơm no áo ấm, bây giờ ngây ngây dại dại như thằng khờ. Nước mắt chảy ướt vạt áo lúc nào không biết. Khóc một lúc, Bà lại nghĩ đến thân phận mình, nhìn Ông vô tư như một tiên ông đạo cốt, còn Bà biết bao cay đắng trong lòng. Có những đêm Ông nằm ngủ êm đềm còn Bà trằn trọc với trái tim thổn thức. Từ nay Bà sẽ phải đi nốt đoạn đường trần một mình, nỗi niềm than thở cùng ai! Ông hóa ra là người sung sướng hơn Bà, từ nay Ông chẳng phải lo nghĩ gì cả. Mọi việc sẽ do Bà cáng đáng hết.

Một lần đi “soi ruột”, bác sĩ cho thuốc mê, Bà ngủ lúc nào có biết đâu, khi tỉnh dậy cứ tưởng BS chưa làm gì hết,” mới nói chuyện với bác sĩ cách đây một giây thôi mà đã xong hết rồi à?” Bà cố nhớ lại xem Bà ngủ lúc nào, thế mà chẳng bao giờ nhớ được. Có lẽ bệnh Alzheimer cũng vậy, nó đến lúc nào Ổng đâu biết, rồi nó sẽ mang Ông đi êm đềm như một thằng ăn trộm. Trong đầu Ông có một con chuột, như con chuột trong hũ gạo, mỗi ngày ăn mất một ít gạo dĩ vãng của Ông cho đến một ngày đầu óc Ông trống rỗng. Ông chẳng còn nhớ cô Xuân là ai, cậu Khải là ai, quên luôn những ngày lăn lộn chiến trường, cả những tháng năm tù tội hay những ngày mặc đồ trận dơ bẩn ôm đứa con đầu lòng hôn hít như một báu vật. Bà phải ôm tất cả dĩ vãng đó, kỷ niệm đó một mình, biết chia sẻ cùng ai. Bà lại sụt sùi không biết thương Ông hay thương chính mình, có lẽ cả hai. Có câu “người đi cũng đã đi rồi, chỉ buồn người ở lại”, Ông chưa đi nhưng cũng như đã đi rồi! Nhớ lại lúc xưa, khi Ông còn tỉnh, Ông vẫn hứa sẽ săn sóc bà cho đến cuối đời, Ông sẽ đi sau Bà, Ông sẽ lo hậu sự cho Bà mà, vậy mà Ông nỡ bỏ Bà ở lại một mình, làm sao đây? Từ bao lâu, Ông vẫn là điểm tựa duy nhất, là lẽ sống duy nhất. Có Ông, Bà rất vững tâm vì được nâng niu, che chở để mạnh dạn vượt qua tất cả phong ba bão táp, Ông là tất cả của đời Bà. Mọi sự bắt đầu từ một tình thương yêu vô bờ bến của Ông, sự hy sinh không đắn đo của Bà, nói chung, hai người đã sống trọn vẹn với trái tim của họ.

Bà cầm tay Ông, bàn tay năm ngón xương xẩu, xưa kia đã từng nâng niu vuốt ve trên thân thể bà, biết bao nhiêu cảm xúc như một luồng điện từ bàn tay ấy truyền vào người Bà, vậy mà bây giờ trơ như khúc gỗ, vô tri.

“Tôi là ai? Ông có biết không? Xuân đây, Xuân ở phố Hàng Đào Hà Nội đấy”, Ông vẫn ngớ ngẩn cười vu vơ, chắc là không biết rồi. Bà cầm tay Ông lắc mạnh: “Ông không nhớ ư? Xuân đã bỏ nhà theo Ông suốt cuộc đời, Ông có biết không?” Mắt Ông chợt lóe lên như ngọn đèn dầu chợt sáng rồi tắt hẳn. Hai giọt nước mắt nhẹ lăn trên đôi má nhăn nheo của Bà. Bà cảm thấy cô đơn ghê gớm, trái tim thắt lại, ngực đau quặn, hơi thở như đứt quãng, đầu nặng trĩu, quay cuồng. Bà muốn nắm chặt bàn tay Ông nhưng không kịp nữa rồi, đôi mắt nhìn Ông mờ dần, khuôn mặt Ông chỉ còn lại một nét nhạt nhòa, Bà té xuống và không biết gì nữa. Bà nhất định ra đi trước Ông và đã được toại nguyên. Ông hốt hoảng chạy ra cửa định qua bên hàng xóm kêu giúp đỡ, chiếc “Health Monitor” đập mạnh trên ngực Ông, chợt nhớ ra, vội vã bấm vào nút báo động đỏ, có tiếng chuông điện thoại reo, có lẽ từ văn phòng cấp cứu, nhưng ông chẳng trả lời. Chỉ vài phút sau đã nghe tiếng xe ambulance kêu ầm ĩ trước cửa nhà. Cậu cả con Ông và tôi cũng được văn phòng cấp cứu báo cho biết tai nạn khẩn cấp và được tường trình chi tiết diễn biến tai nạn sảy ra.

Buổi sáng hôm sau, tôi ghé nhà thương thăm Bà, thấy Ông đợi một mình ngoài cửa phòng bệnh nhân, tay run run cầm bình bông nhỏ xíu có một nụ hồng đỏ duy nhất trong đó. Ông đứng cô đơn, yên lặng, bất động như thằng bù nhìn ngòai cánh đồng đứng dọa nạt mấy con chim, đôi mắt xa xăm vô hồn, như đang tìm kiếm trong đống tro tàn dĩ vãng một hình bóng nào đó. Một ngày nào rồi tôi cũng sẽ như Ông. Nhìn Ông tôi muốn khóc. Nếu có máy chụp hình, tôi sẽ chụp cảnh đó, gởi dự thi nhiếp ảnh thế giới, bảo đảm sẽ được giải nhất. Bức hình đó tôi chụp riêng trong bộ nhớ của tôi, và cất giữ rất kỹ, chả có con chuột nào gặm được. Người con lớn đứng nói chuyện với cô Y tá đàng xa. Bác sĩ còn đang xem xét tình trạng sức khỏe của Bà, một lúc sau cô Y tá ra dấu cho chúng tôi vào, Ông con trai tiếp bác sĩ, còn tôi dìu tay Ông. Ông lại gần trao cho Bà nụ Hồng và cúi xuống hôn lên trán Bà, rồi ngồi trong chiếc ghế bành đặt bên cạnh giường. Bà nhìn Ông âu yếm:
“Tôi không sao đâu, Ông đừng lo lắng quá.”
Ông nắm tay Bà xiết nhẹ, Bà hôn lên nụ hồng rồi hỏi Ông:
“ Có phải bông hồng này Ông cắt ở trước nhà mình không?”
Ông mỉm cười. Vẫn là nụ cười ngây thơ. Bà lại phần trần với tôi:
”Ông nhà tôi biết tôi mê bông hồng nên ở đâu Ông cũng trồng cho tôi một Bụi hồng trước cửa nhà. Ngày ngày chăm sóc rất cẩn thận, cây nở bông xum xuê lắm cơ, mỗi sáng Ông đều cắt cho tôi một nụ, chưng trong cái bình nhỏ ấy đấy”.
Tôi ngộ ra một điều, con chuột có thể ăn hết những hạt gạo dĩ vãng trong óc Ông, nhưng không ăn được những hạt gạo tình yêu của Ông, bởi vì tình yêu nằm trong trái tim, không nằm trong óc. Mỗi ngày Bà là người tình mới của Ông. Ông nâng niu chiều chuộng như thời mới lớn. Người tình hôm qua, hôm kia, Ông chẳng còn nhớ nữa.

“Tình chưa cũ vì tình chưa mới” ... Thi sĩ Nguyên Sa bảo thế và tôi tin như thế.

Bà lại lên tiếng gọi Ông:
“Này anh Khải ơi, em Xuân cám ơn anh đã cứu mạng em nhé, em thương anh suốt đời”.

Chẳng biết Ông có nghe Bà nói không, tôi chỉ thấy Ông mỉm cười, nụ cười tinh quái. Tôi phân vân, có thực là Ông điếc không? Có thực là Ông bị bệnh mất trí nhớ không? hay Ông chỉ muốn làm “Người lãng quên đời!”

***

Anh Mẫn khẽ đập lên vai tôi: “Anh Ba, món cá nướng da dòn này ngon lắm, ăn đi, giống như cá thiệt vậy”. Tôi tìm thấy mình đang ngồi trong quán cơm chay do cô em khoản đãi.

Tôi đang muốn đóng vai “Người lãng quên đời” đây. Cặp mắt Mẫn tò mò nhìn tôi, nụ cười hồn nhiên. Tôi yêu đời quá đi mất thôi, yêu em tôi, yêu vợ chồng Mẫn, yêu tất cả bạn bè của tôi ngồi chung quanh đây, yêu hết những người trong quán này, tôi yêu tất cả mọi người; Ngày mai, có thể tôi không còn biết tôi là ai, họ là ai. Hãy yêu nhau ngay ngày hôm nay, ngày mai chắc gì đã đến, hôm qua chưa chắc gì còn nhớ!

Cuộc vui nào rồi cũng tàn, bạn bè chúng tôi chia tay nhau chiều thứ ba, quyến luyến, ngậm ngùi, hẹn tái ngộ vào cuối tháng 10 tại New York để đi ngắm “mùa thu lá bay” tận biên giới Canada. Tôi và anh chị Mẫn cùng lên xe buýt vào phi trường LAX, ảnh chị xuống trước tại terminal 3, nhìn chị Mẫn đứng bên đường, một tay xách vali, một tay chùi nước mắt, tôi cũng không cầm lòng được. Thương yêu còn đấy, đó là hình ảnh cuối cùng của cuộc họp mặt tôi mang theo về tận Houston. Hình ảnh đó, hình như tôi đã thấy ở đâu rồi, nghĩ mãi mới ra, có lẽ cũng sắp bị “lãng quên đời rồi chăng?” Này, bạn cũng đã thấy rồi đó, cố nhớ xem ở đâu?
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 21st November 2019 - 02:33 AM