IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

8 Pages: V  1 2 3 > »   
Reply to this topicStart new topic
> VềPHẬT (Của HOAHẠ)
hoaha
post Aug 13 2005, 09:58 AM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ PHỤ NỮ
Như Hạnh
Bình đẳng giới tính (sexual equality) và nữ quyền thuộc về những vấn đề quan trọng nhất của thời đại mớị Trong đa số các nền văn hóa (không cứ là văn hóa Đông phương) giới chịu các bất công trong những bất bình đẳng về giới tính thường là nữ giớị Do đó tranh đấu về bình đẳng giới tính thường là đồng nghĩa với tranh đấu cho nữ quyền.

Bình đẳng về giới tính một cách tổng quát xoay chung quanh các vấn đề chính mà tôn giáo cũng có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp như: khái niệm về đàn ông và đàn bà và khả năng tâm linh của họ; quyền được học hỏi và thực hành các giáo lý; cơ hội về các vai trò trong tổ chức; địa vị, sự kính trọng, và quyền hành trong gia đình; bình đẳng trong các vấn đề luật pháp như ly dị; quyền được hưởng những phương tiện giáo dục; quyền được theo đuổi nghề nghiệp; quyền lợi chính trị, vân vân.

Như đã đề cập khái niệm của tôn giáo về bản tính của người đàn ông và nhất là người đàn bà có rất nhiều ảnh hưởng đối với tình trạng hiện thực của người phụ nữ trong đời sống tôn giáo và xã hộị Ngày nay vì ưu thế của văn minh Tây phương, đa số mọi người (kể cả người Đông phương) nuôi dưỡng những thái độ rất nông cạn về văn hóa và tôn giáo Đông phương. Một trong những thái độ này là tôn giáo và văn hóa Đông phương "đè nén" phụ nữ. Văn hóa và tôn giáo Tây phương trái lại chấp nhận bình đẳng giới tính.

Thật ra thì "đè nén" phụ nữ hầu như là một đặc tính chung của văn hóa nhân loạị Cũng đúng thật rằng phong trào nữ quyền là một hiện tượng mới và bắt nguồn ở Tây phương. Điều này chứng tỏ rằng những hạt giống bình đẳng giới tính cũng có hiện diện trong văn hóa tôn giáo và trong tâm thức của người phụ nữ. Nhưng các điều kiện thuận tiện cho tranh đấu nữ quyền phát triển ở Tây phương nhờ ở các thay đổi về mặt trí thức, kinh tế, chính trị, xã hộị Những ai theo dõi vấn đề này đều nhận thấy rằng tranh đấu nữ quyền hiện nay không còn là một hiện tượng thuần túy Tây phương nữạ Những người phụ nữ tự giác (self-conscious) ở khắp các nền văn hóa đã bắt đầu đóng góp đáng kể cho việc xác nhận quyền lợi, phẩm tính, và vai trò tích cực/lãnh đạo của người phụ nữ trong đủ mọi phương diện của đời sống.

Bài viết ngắn này nhắm trình bày một cách tổng quan những thái độ căn bản của truyền thống Phật Giáo có liên quan đến các vấn đề then chốt về bình đẳng giới tính và nữ quyền như đã nêu ra ở trên. Phật Giáo có một lịch sử lâu dài hơn hai ngàn năm trăm năm và trải rộng ra trong nhiều nền văn hóa khác nhaụ Cho nên lập trường của Phật Giáo về bất cứ một vấn đề gì cũng hết sức là đa dạng. Nói cách khác, quan điểm và thái độ của người Phật tử còn chịu cả ảnh hưởng của các nền văn hóa/tôn giáo trong các quốc gia mà Phật Giáo có mặt như Ấn Giáo, Nho Giáo, Thiên Chúa Giáo, vân vân.

Đức Phật thuyết giảng suốt gần nửa thế kỷ. Giáo lý của ngài bao gồm các vấn đề từ triết lý, vũ trụ quan, tâm lý học, nhận thức luận, chính trị, xã hội, kinh tế, đạo đức, bình đẳng giới tính vô cùng sâu rộng, vượt qua trí tưởng tượng của một Phật tử Việt Nam bình thường. Để có thể đóng góp một cách thiết thực cho nhân loại, để biến cộng đồng Phật Giáo thành một cộng đồng khả kính, người Phật tử phải có nhiệm vụ tìm hiểu, suy niệm về các khía cạnh phong phú của Phật Pháp cũng như tạo điều kiện và phương tiện để thực hiện những lời dạy của Đức Phật trong đời sống. Phật Giáo không phải chỉ là cúng kiếng cầu phước lễ báị Thái độ ù lì, thụ động, và giáo điều là những gì hoàn toàn tương phản với Phật Giáọ

Xin trở lại với vấn đề phụ nữ. Sự hiện diện và đóng góp của giới phụ nữ trong cộng đồng Phật Giáo Việt Nam là điều rất hiển nhiên. Trong các sinh hoạt tôn giáo chúng ta thường thấy sự hiện diện của phụ nữ đông đảo hơn là nam giớị Rủi thay, đây lại là một lý do để một số người hạ thấp Phật Giáọ Rất nhiều người nói rằng "đến chùa chán lắm, toàn là đàn bà." Đây là một câu nói sặc mùi kỳ thị giới tính (sexist) cũng như hoàn toàn vô nghĩa lý. Thứ nhất, không bao giờ nghe ai nói "đến chùa chán lắm toàn là đàn ông." Thứ nhì, cái phẩm chất của một tôn giáo tùy thuộc khả năng và đức độ của giới lãnh đạo cùng với trình độ hiểu biết và cách hành sử của các tín đồ của tôn giáo ấỵ Phẩm chất của một tôn giáo tuyệt nhiên không phải chỉ được qui định bởi sự tham gia của giới tính. Cũng tựa như giá trị của một trường đại học là ở nơi tài nguyên, thư viện, trường sở, khả năng của ban giảng huấn, và trình độ của sinh viên. Không có bằng cớ khách quan nào chứng minh rằng một trường đại học có nhiều nữ sinh hơn nam sinh là một trường có phẩm chất kém và ngược lạị

Nói chung, hiện nay sự hiện diện của phụ nữ trong các cộng đồng Phật Giáo khắp thế giới rất là hiển nhiên. Những phụ nữ này không chỉ tham gia với tư cách là những tín đồ hay thí chủ mà còn là các tu sĩ và thầy dạỵ Nhưng kinh điển và truyền thống Phật Giáo mô tả người phụ nữ ra saỏ Trong lúc mà hầu hết các tôn giáo bị xem là có tính cách phụ hệ (patriarchal), lập trường của Phật Giáo như thế nàỏ Giáo lý Phật Giáo có thể đóng góp những gì cho sự bình đẳng giới tính, cho nữ quyền?

Phụ nữ trong Ấn Giáo cổ thời:
Phật Giáo khởi thủy trong bối cảnh văn hóa Ấn Giáọ Trên mặt tư tưởng Phật Giáo chia sẻ với Ấn Giáo một số khái niệm nền tảng tuy rằng Đức Phật đưa ra những lối giải thích khác. Điểm dị biệt chính là ở chỗ Đức Phật không chấp nhận những cơ chế nghi lễ căn bản của Ấn Giáo đặt trên nền tảng của hệ thống giai cấp. Điều này cũng đóng góp cho quan điểm của Đức Phật về nhân phẩm và vị trí của người phụ nữ. Do đó, muốn hiểu thái độ của Đức Phật về vai trò của người phụ nữ, chúng ta cần có một khái niệm căn bản về vai trò của người phụ nữ trong Ấn Giáọ

Ấn Giáo cổ thời dựa trên kinh Veda (khoảng 2000-1500 trước công nguyên) là một thế giới quan nhấn mạnh về nghi lễ tế tự. Theo tư liệu có được, chúng ta biết rằng trong các thần linh được thờ phượng có một số nữ thần; và trong số các tác giả của những thánh thi có một số là phụ nữ. Phụ nữ tương đối được kính trọng và được quyền tham dự vào đời sống tâm linh. Nhưng bởi vì Ấn Giáo cổ thời nhấn mạnh vào nghi lễ và tín niệm rằng nghi lễ là bí quyết kiểm soát vũ trụ, cho nên dần dà (vào khoảng từ 1000-700 trước Công nguyên) xuất hiện những kinh văn với những chỉ dẫn phức tạp về việc thực hành nghi lễ.

Sự đào luyện các chuyên viên về nghi lễ càng trở nên cần thiết. Chương trình đào luyện này đòi hỏi nhiều thời gian và ở những trung tâm xa nhà với các chuyên giạ Cho nên chỉ các đàn ông trong giai cấp tu sĩ mới được hưởng đặc quyền nàỵ Một trong các nghi lễ quan trọng nhất của Ấn Giáo là tang lễ. Con trai được xem là thiết yếu trong việc thi hành tang lễ để giúp vong linh người cha đạt được cõi trờị Chính vì thế mà nẩy sinh ra các nghi lễ để ngăn chặn việc sinh con gái, bởi vì con gái bị xem như gánh nặng cho gia đình cho đến khi đi lấy chồng --- nhiệm vụ chính yếu của người phụ nữ. Vai trò của người phụ nữ là làm vợ và sinh đẻ (làm mẹ). Người vợ phải hoàn toàn phục tùng chồng và cha mẹ chồng. Mặc dù trong các kinh Upanisads (khoảng 700-200 trước Công nguyên), các kinh thư nhấn mạnh kinh nghiệm huyền bí (mystical) và khổ hạnh, chúng ta thấy có đề cập đến một vài phụ nữ khổ tu, thế nhưng khổ tu vẫn được xem là đặc quyền của nam giớị Một tâm lý thường tình là các nhà khổ hạnh (hầu như của tất cả mọi tôn giáo) đều xem phụ nữ là những "cám dỗ" cần tránh xạ

Đến khi Phật Giáo và Kỳ-na Giáo (Jainism) xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, như một thành phần của nỗ lực củng cố cơ chế Ấn Giáo, các tu sĩ Ấn Giáo bắt đầu soạn thảo ra các kinh thư (được gọi chung là dharma-sastras, đại khái là các sách về qui luật tôn giáo) qui định đời sống xã hội dựa trên các phép tắc mà họ soạn rạ Do đó, địa vị của phụ nữ càng bị thấp đị Theo những kinh thư kia, nhất là các bộ có ảnh hưởng nhất xuất hiện vào khoảng 100 năm trước Công nguyên, phụ nữ không được phép đọc kinh Veda, không được thi hành nghi lễ hay tế tự ngoại trừ với tư cách phụ trợ cho đàn ông.

Nếu bảo rằng những kinh thư này (hay là Ấn Giáo nói chung) chỉ toàn đưa ra những quan điểm tiêu cực có tính cách kỳ thị phụ nữ thì cũng không công bình lắm. (Bởi vì suốt lịch sử Ấn Giáo, cho đến hiện nay, lúc nào cũng có sự hiện diện của các nữ thần và các thầy dạy đạo (guru) phái nữ được tôn sùng bởi các tín đồ thuộc cả nam lẫn nữ giới). Một cách hết sức vắn tắt, các kinh thư này hàm chứa những quan điểm đa dạng về phụ nữ. Chẳng hạn, cũng có nhiều đoạn nhấn mạnh về tầm quan trọng của người phụ nữ trong gia đình, khuyến khích chồng phải kính trọng vợ, các nghi lễ không thể được thi hành hoàn hảo nếu không có sự trợ giúp của người vợ, vân vân. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng theo quan điểm chung của các kinh thư này thì địa vị của người phụ nữ vẫn hoàn toàn dưới nam giớị Đại khái là người phụ nữ luôn luôn cần được "bảo vệ" bởi cha, chồng, hay con trưởng. Không bao giờ nên để cho người phụ nữ được độc lập. (Ở đây chúng ta không khỏi liên tưởng đến quan niệm "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" của nhà Nho). Nói tóm, các nhiệm vụ của người phụ nữ chỉ là phục dịch chồng và chăm sóc nhà cửạ Người phụ nữ phải luôn luôn vâng lời và kính trọng chồng dù là người chồng bê tha hoang đàng. Người đàn ông có quyền ly dị vợ, người phụ nữ lại không hề được phép ly dị chồng. (Đức Phật, trái lại, luôn luôn nhấn mạnh sự hỗ tương. Người vợ có bổn phận đối với chồng. Người chồng cũng có những bổn phận tương đương đối với vợ).

Thái độ của Phật Giáo

Lúc Phật Giáo xuất hiện thì khái niệm nghiệp (karma) đã mang những tầng lớp ý nghĩa đa dạng và sâu đậm hơn là ý nghĩa "hành động nghi lễ" trong Ấn Giáo cổ thờị Một trong ý nghĩa của khái niệm "nghiệp" mà Phật Giáo nhấn mạnh là trách nhiệm cá nhân của con người về hành động của mình. Nói tóm, theo quan điểm của Phật Giáo thì định mệnh của một người sau khi chết (hay trong kiếp sau) là do nơi "nghiệp" (có nghĩa là các hành động có ý chí và các hậu quả của các hành động này, tức là nghiệp riêng) của người ấy cùng với sự trợ lực của các "nghiệp" có tương quan với những người khác (tức là nghiệp chung), chứ không giản dị được qui định bởi sự thực hành tang lễ đặc biệt dựa trên vai trò của con trai trưởng như trong Ấn Giáo cổ thờị Có lẽ phần nào vì quan điểm này (biểu lộ đa dạng trong các nền văn hóa khác nhau) cùng với các dữ kiện kinh tế, xã hội, cho nên đến tận ngày hôm nay đa số người ta vẫn vui mừng khi sinh con trai hơn là con gái, hay là cảm thấy chưa trọn vẹn nếu chưa có con traị

Từ quan điểm của Phật Giáo cái nhu cầu phải có con trai ít ra không còn là một thiết yếu nghi lễ nữạ (Do đó, chúng ta nên lưu ý rằng trong các quốc gia mà phần đông dân số theo Phật Giáo, chẳng hạn như Việt Nam, cái tinh thần trọng con trai hơn con gái có thể được giải thích như sau: một là vì nhu yếu chung của các xã hội nông nghiệp, cần con trai để có nhiều bắp thịt cầy bừạ Hai là ảnh hưởng của Nho Giáo, một thế giới quan chúa trọng nam khinh nữ. Người đàn bà vì lý do gì không biết không sinh được con trai bị xem là một món hàng khiếm khuyết, cũng là cái cớ để ông chồng mừng rỡ đi lấy vợ khác "kiếm đứa con trai". Cái thái độ "phải có con trai" này tuyệt nhiên không quan hệ gì với thế giới quan Phật Giáo cả). Một ví dụ cụ thể trong kinh Phật là khi vua Pasenadi buồn vì vợ ông là hoàng hậu Mallika -- người sau này dẫn dắt chồng vào Phật Giáo -- sinh con gái, Đức Phật đã trách nhà vua rằng buồn phiền vì vợ sinh con gái là một thái độ hết sức sai lầm, bởi vì một người con gái có trí tuệ và đức hạnh không những không kém mà còn ưu việt hơn con traị

Nói tóm lại, với sự xuất hiện của Phật Giáo, người phụ nữ được nhiều kính trọng hơn và được xem là những cá nhân (chứ không phải chỉ là những món đồ sở thuộc đàn ông). Họ được nhiều độc lập hơn, tự do hơn để tự theo đuổi nếp sống mà họ lựa chọn. Phật Giáo Nguyên Thủy không xem người phụ nữ giản dị như một công cụ sinh đẻ, và mục tiêu duy nhất của người phụ nữ không phải chỉ là hôn nhân. Người phụ nữ có quyền chọn không lập gia đình (mà người khác không nên dè bỉu) và được quyền trở thành tu sĩ, nghĩa là theo đuổi đời sống tâm linh. Một tập tục của Ấn Giáo là sati, hiện vẫn còn lưu hành trong một số cộng đồng tín đồ, theo đó thì cách hành sử cao thượng nhất của người vợ khi chồng chết là chịu chết theo chồng trên giàn hỏạ Góa phụ không được phép tái giá và bị xem là "điềm gở." Phật Giáo trái lại cho phép góa phụ được tái giá.

Có một số tôn giáo xem hôn nhân như một nhiệm vụ tôn giáo, một thánh lễ (sacrament). Hôn nhân có nghĩa là người đàn ông và người đàn bà được Thượng Đế kết hợp, cho nên chết sống gì cũng cứ phải ở với nhaụ Ly dị là một tội lỗị Thái độ của Ấn Giáo cũng thế, hôn nhân là một nhiệm vụ tôn giáo, không phải là cơ hội để "lãng mạn." (Ví dụ như đi quân dịch là một nghĩa vụ trong một quốc gia có chiến tranh. Những người đi quân dịch đâu cần thiết phải thật sự yêu nghề lính. Người ta không có quyền viện cớ là không yêu nghề lính để không làm nghĩa vụ này hay là giải ngũ sớm hơn hạn định!) Chính vì thế mà trong xã hội Ấn Độ có cái tập tục hôn nhân được dàn xếp bởi gia đình chứ không phải do hai người liên hệ tự quyết định. (Nếu xem hôn nhân là một nhiệm vụ tôn giáo thì tập tục này chưa hẳn đã là chậm tiến!)

Phật Giáo xem hôn nhân như một khế ước (contract) giữa người đàn ông và người đàn bà. (Vì thế mà hôn lễ không phải là một nghi lễ tôn giáo trong truyền thống Phật Giáọ Gần đây có một số Phật tử làm hôn lễ trong chùạ Điều này cũng không có gì là sai quấy, nhưng chúng ta phải hiểu rõ lý lẽ đằng sau). Do đó, Phật Giáo tuy không khuyến khích (bởi vì Phật Giáo nhấn mạnh từ bi, tôn trọng sự hài hòa xã hội, hiểu rằng ly dị không phải là một biến cố vui mừng) nhưng cho phép ly dị . Hơn nữa, Phật Giáo còn cho quyền đàn bà ly dị đàn ông.

ỊB. Horner, một trong hai vị phụ nữ tiên phong trong việc truyền Phật Giáo qua Tây phương, một người có công lớn với Phật Giáo, tóm lược những điểm chính của quan điểm bình đẳng giới tính trong các kinh điển của Phật Giáo nguyên thủy như sau:

Đức Phật đạt giác ngộ là vì sự hữu ích cho các tăng, ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ; ngài đã dạy Pháp cho tất cả bốn nhóm này -- trong thuật ngữ Phật Giáo gọi là "tứ chúng". (Đó là nhìn từ khuôn khổ nội tại của lịch sử Phật Giáọ Từ một viễn cảnh rộng hơn, chúng ta có thể nói rằng Đức Phật đạt giác ngộ vì lợi ích cho chúng sinh thuộc tất cả mọi giới tính, cho cả người xuất gia lẫn người tại gia).

Đức hạnh hay thói xấu của "tứ chúng" có ảnh hưởng tương tự đối với sự tồn tại hay diệt vong của trí tuệ và tu tập Phật Giáọ Nói cách khác, một vị tăng, ni, nam cư sĩ, hay nữ cư sĩ, có trí tuệ, giới luật, tự tin, thực hành Pháp đều có thể làm rạng rỡ cho cộng đồng Phật Giáọ

Phụ nữ có cùng những giới hạn và khả năng tâm linh giống như đàn ông.

Ni có thể phát triển tâm linh giống như tăng.

Đức Phật nói rằng mục tiêu của ngài là làm sao cho tăng, ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ hiểu thấu, phân tích, và giải thích Pháp một cách rành mạch.

Đức Phật luôn luôn dạy những giáo lý tương tự cho cả đàn ông lẫn đàn bà, đôi khi ngài còn nỗ lực một cách đặc biệt để dạy giới phụ nữ.

Đức Phật công nhận rằng phụ nữ có thể đạt được các thành quả tâm linh caọ Bằng chứng là trong nhóm các tín đồ của Đức Phật có hàng trăm phụ nữ đạt được những thành quả tâm linh khác nhaụ

Đức Phật nói rằng đời sống tâm linh thiết lập bởi ngài sẽ không hoàn hảo nếu không có phụ nữ tu tập giáo pháp.

Phụ nữ và việc xuất gia

Phật Giáo là một trong những tôn giáo đầu tiên có giáo đoàn cho ni giới (đại khái là nữ tu sĩ). Giáo đoàn này được thành lập năm năm sau khi Đức Phật thành đạọ Hầu như người Phật tử nào cũng biết nguồn gốc của giáo đoàn ni giới này là từ bà Maha-prajapati Gotami, dì và cũng là kế mẫu của Đức Phật. Sau khi Đức Phật thành đạo, bà Gotami trở thành một trong những đệ tử đầu tiên của ngàị Bà đi theo Đức Phật khắp mọi nơi cần mẫn tu học, nổi tiếng là người có trí tuệ và đức hạnh rất caọ Có rất đông phụ nữ luôn luôn theo bên cạnh Gotami để học đạọ

Theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy thì bà Gotami đến gặp Đức Phật để xin được chấp nhận cho phụ nữ xuất giạ Bà xin ba lần, ba lần đều bị từ chốị Thế rồi Gotami và nhóm phụ nữ theo bà cạo đầu, đắp y vàng để tỏ ý thành khẩn và quyết tâm đến xin Đức Phật. Lần này họ gặp cả Ananda, thị giả của Đức Phật. Ananda nói hộ cho Gotami ba lần, lại cũng đều bị từ chốị Ananda thay đổi "chiến thuật" và hỏi Đức Phật rằng nếu phụ nữ xuất gia tu tập những lời của chính Đức Phật dạy, họ có khả năng thành tựu tâm linh hay không. Đức Phật trả lời có và cho phép Gotami và nhóm phụ nữ theo bà được xuất gia trở thành tu sĩ. Đối thoại giữa Ananda và Đức Phật khẳng định một điểm quan trọng là Đức Phật luôn luôn công nhận rằng phụ nữ cũng có khả năng tâm linh chẳng khác gì nam giớị

Việc Đức Phật thoạt đầu ngần ngại không chấp thuận lời yêu cầu của Gotami không thể được giải thích là ngài có thái độ kỳ thị giới tính. Những lý do mà Đức Phật từ chối lúc đầu hết sức là phức tạp. Chỉ xin đưa ra một lý do: Đó là 2500 năm trước đây, thuở sơ khởi Đức Phật và các đệ tử của ngài sống như những nhà tu khổ hạnh "không nhà". Lang thang trong rừng, đêm đến ngủ dưới gốc câỵ Rừng rú lại đầy dã thú và đạo tặc, không thuận lợi lắm cho giới phụ nữ. Kinh điển Phật Giáo còn ghi lại một số trường hợp các vị ni bị đạo tặc hãm hiếp. Một số kinh điển cũng ghi rằng sau khi chấp thuận cho Gotami xuất gia, Đức Phật đặt thêm tám giới luật đặc biệt cho ni giớị Những giới luật này đại khái đặt địa vị của họ dưới tăng giớị Cũng có kinh ghi lại lời "tiên tri" rằng vì có phụ nữ gia nhập giáo đoàn mà Phật Pháp sẽ bị "giảm thọ" mất 500 năm. Trong khuôn khổ của bài viết ngắn này, không tiện đi sâu vào chi tiết, tôi chỉ xin vạch ra rằng đó là những thêm thắt sau này của các tác gia Phật Giáo có đầu óc kỳ thị giới tính.

Tuy rằng Đức Phật không hẳn là nhà sáng lập tôn giáo duy nhất và đầu tiên chấp nhận cho phụ nữ xuất gia, nhưng đó là một hành động rất cách mạng vào thời đó. ỊB. Horner nhận định rằng những gì mà Đức Phật làm cho giới phụ nữ "rạng rỡ như một ngọn đèn sáng trong lịch sử của tự dọ" Điều mỉa mai là ỊB. Horner và giới phụ nữ có đầu óc tiến bộ hôm nay có thể cảm kích hành động của Đức Phật, nhưng truyền thống Ấn Giáo lại chỉ trích ngài là phá hoại trật tự xã hộị Bởi vì theo quan điểm này vai trò cao cả nhất của phụ nữ là làm vợ và làm mẹ. Cho phép phụ nữ độc lập theo đuổi đời sống tâm linh thì còn ai để phục dịch đàn ông, rửa chén, nấu bếp, sinh đẻ?

Trong kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy có bộ Therigatha, ghi lại một số bài thơ, kệ tụng về kinh nghiệm tâm linh của những người phụ nữ Phật Giáo ưu tú đầu tiên. Những bài kệ tụng này vẫn được tụng đọc, nghiên cứu như những gương sáng cho các thế hệ Phật tử đời saụ Những người phụ nữ Phật Giáo đầu tiên này thuộc đủ tầng lớp: Từ những người quí tộc có học, cho đến các nhà tu khổ hạnh, góa phụ, nội trợ, những người bị chồng hất hủi, cho đến cả các kỹ nữ. Mỗi người một kinh nghiệm riêng, mỗi người một hoàn cảnh riêng, một tâm tư riêng, nhưng họ đều chia sẻ một điểm chung: tin nơi Phật Pháp và khả năng tâm linh của chính mình như là người phụ nữ.

Vị trí của phụ nữ trong truyền thống Phật Giáo

Những thái độ tích cực căn bản của Phật Giáo về phụ nữ trên thực tế cũng được phản ánh trong các quốc gia Phật Giáọ Trong tất cả các quốc gia Phật Giáo không có sự cách biệt (segregation) giới tính. Trong nhiều tôn giáo lớn hiện nay phụ nữ vẫn không được phép gia nhập tăng lữ giới (priesthood). Trong một số xã hội, phụ nữ thậm chí còn bị cấm không cho vào các nơi thờ phượng. Trong các quốc gia Phật Giáo người phụ nữ có quyền công khai đi lại và tham gia vào mọi sinh hoạt tôn giáo và xã hội chứ không bị kiểm soát gò bó chẳng hạn như trong các quốc gia Hồi Giáọ Theo một số bộ luật truyền thống của Tích Lan (một quốc gia Phật Giáo) đàn bà được phép ly dị và lấy chồng sau khi ly dị. Góa phụ cũng được phép tái giá và không có sự kỳ thị đối với góa phụ.

Tuy thế chúng ta cũng không thể chối bỏ được sự hiện diện của các thành tố phụ hệ và thái độ kỳ thị giới tính trong các xã hội Phật Giáo ngày naỵ Điều này là bởi vì đặc tính phụ hệ của các xã hội mà Phật Giáo du nhập (không có nghĩa là các xã hội mà Phật Giáo không du nhập thì không như thế). Đức Phật nói rằng đàn ông và đàn bà bình đẳng. Thế nhưng đa số các xã hội Đông phương vốn phụ hệ cho nên các cộng đồng Phật Giáo của những xứ này cũng bị rập theo khuôn mẫu đó. Do đó, quan điểm triết lý chung của Phật Giáo là phụ nữ và nam giới là bình đẳng và họ đều có khả năng tâm linh như nhau, trên thực tế vẫn có những kỳ thị giới tính.

Điều này cho chúng ta thấy rằng lý tưởng và thực tại không phải bao giờ cũng đi đôi với nhaụ Đức Phật công nhận phụ nữ bình đẳng với nam giớị Thế nhưng trên thực tế, xã hội có cho người phụ nữ quyền bình đẳng hay có đủ điều kiện và phương tiện để người phụ nữ thực hiện lý tưởng này hay không lại là một chuyện khác. Quyền bình đẳng của phụ nữ không phải chỉ giản dị được thực hiện bằng một lập trường triết lý hay tâm linh mà còn tùy thuộc vào những điều kiện xã hội, chính trị, văn hóa, tập tục, và tâm lý con người nữa, và nhất là nỗ lực tích cực hữu thức của người Phật tử. Nói tóm lại, những lý tưởng Phật Giáo không phải tự nhiên được thành tựu (do quyền năng của chư Phật, Bồ-tát) mà phải do chính các Phật tử thực hiện những lý tưởng ấỵ Để có thể làm được như thế, người Phật tử phải nỗ lực tạo ra những điều kiện và phương tiện thuận lợị Cũng tựa như những phát minh khoa học, nếu như không hội đủ hoàn cảnh thuận tiện, thiếu những hỗ trợ tài chính, những phát minh ấy cũng chỉ mai một đi trong ngăn tủ của nhà khoa học mà thôị

Do đó, tuy rằng Đức Phật cho phụ nữ thụ giới xuất gia hoàn toàn (nghĩa là trở thành tu sĩ). Giáo đoàn ni giới được truyền từ Ấn Độ sang Tích Lan vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Truyền thống này kéo dài khoảng một ngàn năm và trong thời gian này truyền qua Trung Quốc. Nhưng vào khoảng thế kỷ thứ mười hay mười một sau Công nguyên, giáo đoàn ni giới Tích Lan, vì chiến tranh và các rối loạn chính trị, không còn khả năng truyền giới nữa vì không có đủ số ni để làm việc nàỵ Thế rồi cũng không có nỗ lực để tái thiết lập truyền thống này nữạ

Ngày nay truyền thống truyền giới toàn phần cho phụ nữ chỉ còn ở các xứ theo Phật Giáo Đại Thừa như Đài Loan, Đại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa, và Việt Nam chứ không còn ở các quốc gia theo truyền thống Nguyên Thủy (hay Theravada mà các Phật tử Việt Nam thường gọi một cách không chính xác là "Tiểu Thừa"). Ở các quốc gia này phụ nữ chỉ được thụ giới "bán phần" thôị Ngay cả ở Tây Tạng, phụ nữ không thể vượt qua được giai đoạn "tập sự" (thuật ngữ Phật Giáo gọi là sa-di ni).

Một số phụ nữ ở các quốc gia này thường lý luận rằng họ chỉ muốn trở thành Phật tử chứ không cần phải là phụ nữ Phật tử. Vấn đề bình đẳng hay giới tính hoàn toàn không liên hệ gì đến sự thành tựu tâm linh. Họ chỉ quan tâm đến tâm linh chứ không tranh giành "bình đẳng" hay địa vị gì cả. Lý luận này thoạt nghe có vẻ như bày tỏ một thái độ không chấp trước. Phân tích kỹ chúng ta sẽ thấy nó không không vững vì những lý do như sau:

Một là trên thực tế vẫn có rất nhiều phụ nữ muốn được thụ giới xuất gia làm nị Lối suy nghĩ của những phụ nữ này hết sức là chính xác, bởi vì một giáo đoàn Phật Giáo mà thiếu sự hiện diện của phụ nữ là một giáo đoàn không thể hiện được một xã hội bao gồm cả "tứ chúng" như lý tưởng mà Đức Phật đề rạ Hai là lý luận trên biểu lộ một thứ thái độ chịu đựng tiêu cực kết quả của một tâm thức bị đè nén. Phụ nữ trong một số cộng đồng Phật Giáo kể cả cộng đồng Phật Giáo Việt Nam thường được khuyến khích nuôi dưỡng những hình ảnh tiêu cực về chính mình. Đại khái như sinh ra là đàn bà là kết quả của những nghiệp xấụ Lối tu tập duy nhất dành cho đàn bà là tụng niệm, cầu xin, chịu đựng, phục dịch, để hi vọng kiếp sau được sinh làm đàn ông.

Nhưng như chúng ta đã thấy, người phụ nữ bị đè nén, kỳ thị, và luôn luôn phải chịu đựng những thiệt thòi là hậu quả của những khía cạnh chậm tiến bất công của một số xã hội Đông phương. Chúng ta không thể dùng triết lý Phật Giáo ra để biện bạch hay chấp nhận tệ trạng nàỵ Điều may mắn là đa số các phụ nữ hiện thời, nhất là các phụ nữ Tây phương theo Phật Giáo (đa số có giáo dục cao), hiển nhiên không chấp nhận nuôi dưỡng những hình ảnh tiêu cực về người phụ nữ. Trái lại, họ tiếp tục tìm hiểu, giải thích quan điểm Phật Giáo về phụ nữ và tạo điều kiện để thực hiện quan điểm này trong đời sống. Điều này chứng tỏ như Đức Phật đã nói những người Phật tử có trí tuệ, giới luật, tự tin làm rạng rỡ cho Phật Giáọ Chúng ta có thể nói thêm rằng, ngược lại những người Phật tử thụ động, thủ cựu, bạc nhược chỉ làm cho Phật Giáo chậm tiến thôị

Những nghiên cứu về Phật Giáo hiện đại cho thấy rằng trên toàn thế giới, giới phụ nữ trong Phật Giáo (cả tu sĩ lẫn cư sĩ) không còn cam tâm chấp nhận những bất công nữạ Họ tham gia tích cực vào nhiều phạm vi sinh hoạt. Sự đóng góp của họ nằm trên mọi lãnh vực từ học thuật, tu tập cho đến các họat động xã hộị Họ không ngừng khai phá lại xác định lại vai trò của người phụ nữ trong Phật Giáọ Họ không hài lòng chỉ làm những người đi theo mà còn đảm nhận cả vai trò lãnh đạọ Họ đã đem lại những thay đổi cho nhiều thái độ và lối suy nghĩ.

Kết Luận

Nếu như chúng ta có thể dùng một loại suy, như đã sử dụng ở trên, một cộng đồng tôn giáo cũng như một đại học. Người Phật tử Việt Nam thử đặt câu hỏi là chúng ta có thư viện phong phú không? ban giảng huấn có khả năng không? trình độ sinh viên có cao không? Quan sát những thực tại Phật Giáo Việt Nam khó lòng cho phép chúng ta trả lời là có.

Không thể nói là trong giới phụ nữ Phật Giáo Việt Nam không có người có học caọ Nhưng mà khi quay về Phật Giáo thì, cũng y như nam giới, đa số không có ý chí tìm hiểu để vượt qua một vài khái niệm lỗi thời giam nhốt Phật Giáo vào trong một mớ nghi lễ mòn mỏị Tệ hại nhất là ngay cả những phụ nữ có học và độc lập cũng chấp nhận những những hình ảnh rất tiêu cực về phụ nữ. Nhiều người thậm chí còn xem việc khinh thường vị trí và thân xác đàn bà là một đức hạnh.

Những thái độ trên chỉ là hậu quả của sự hiểu biết hạn hẹp, thiếu sót về Phật Giáo của chính những Phật tử. (Đề tài này sẽ được phân tích trong những bài viết khác). Cộng đồng Phật Giáo Việt Nam cần tạo điều kiện để huấn luyện cho người phụ nữ hiểu thêm về Phật Giáo cũng như vai trò và tiềm năng của họ như những người phụ nữ Phật Giáọ

Trong số những phụ nữ đang đóng góp rất tích cực trong các cộng đồng Phật Giáo thế giới hiện nay bao gồm các phụ nữ thuộc rất nhiều quốc gia từ Đông sang Tâỵ Có điều đáng tiếc là hình như chưa thấy có người nào thuộc cộng đồng phụ nữ Phật tử Việt Nam cả.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 20 2006, 04:37 AM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



SẮC ÐẸP VÀ KHÔN NGOAN
TT. Lokanatha - TT Thích Giải Thông dịch theo bản tiếng Anh The light of truth



Chủ nhật vừa qua tôi hết sức vui mừng vì đã thuyết bài Pháp đầu tiên tại Singapore. Ðương nhiên khi nhìn thấy số thính chúng nhiệt tình mộ đạo như vậy và khi trông thấy giảng đường chật kín, có số người còn đứng tràn ra ngoài, tôi vô cùng phấn khởi, sau đó tôi bắt đầu tìm hiểu nguyên nhân nào đưa đến một số thính chúng tham dự đông đảo nồng nhiệt như vậy.

Tôi tự nghĩ có lẽ một số đến để xem một nhân vật kỳ lạ nào chăng, giống như chúng ta đến sở thú để xem một con quái vật Bởi vì rõ không sai, tôi hẳn là một đối tượng hơi khác thường vì ngày xưa tôi vốn là một tín đồ Thiên chúa giáo La Mã. Nước Ý có gần 60 triệu dân và tôi lại là một Phật tử duy nhất trong số đó. Tôi còn nhớ rõ, có lần có một vị Giáo sĩ đến thăm tôi và nói: bạn là người Phật tử duy nhất trong số 60 triệu dân Ý, đỉều này chứng tỏ rằng tôn giáo của bạn không chân chính. Tôi ngạc nhiên hết sức với câu nói này! Chỉ vì tôi là Phật tử duy nhất trong số 60 triệu dân Ý mà ông ta nói Ðạo Phật tôi không chân chính. Ðó chẳng qua là logic biện chứng, lý luận kiểu này thì nếu Phật Giáo chân chính thì những người dân Ý đều trở thành Phật tử hết.
Lúc tôi đi xuất gia, mẹ tôi không biết tôi đi đâu, bởi vì tôi không bao giờ nói với bà rằng tôi trở thành một Phật tử. Tôi rời nước Pháp và qua Ấn Độ suốt năm không hề viết cho mẹ một lá thư! Tại sao tôi đi xuất gia quy Phật mà lại không xin phép? Bởi vì Thái tử Tất Ðạt Ða sau này thành Phật, Ngài cũng rời bỏ cha mẹ đi tu mà không xin phép. Chúng ta lẻ loi một mình trong biển trầm luân và mỗi người cũng hộ trì đạo lộ của chính mình, không cần tìm cầu sự giúp đỡ của người khác. Phật Giáo dạy lòng tự tin và độc hành. Chúng ta phải kiên trì dũng cảm bước đi trên đường Ðạo. Tôi có điều hối tiếc duy nhất là cha mẹ tôi đã qua đời mà không phải là Phật tử.

Nếu cha mẹ tôi qua đời là những người con Phật thì tôi rất hài lòng và sung sướng biết bao. Tôi tiếc rằng họ qua đời mà không tiếp nhận được của tôi một cơ hội bố thí Pháp?món quà cao quý nhất trong tất cả món quà. Ðó là món quà Chân lý, vì vậy tôi quyết định trở thành Sứ Giả Như Lai với ý hướng truyền Phật Pháp đến mọi người trên thế giới.

Mẹ tôi qua đời cách đây 22 năm và nếu bà tái sinh thì bà phải là 22 hay 21 tuổi. Cha tôi nếu tái sinh tuổi khoảng 16 tưổi, đủ để hiểu Phật Pháp, bởi vậy khi tôi thuyết giảng có lẽ cha mẹ tôi đã tái sinh có thể nghe lời tôi giảng và trở thành Phật tử và nhờ vậy có thể chuyển hóa được cha mẹ ngay từ hôm nay hay ở tương lai lâu xa.

Chúng ta không nên vui hưởng chân lý cho riêng mình mà nên tạo cho cha mẹ cơ hội chia sẻ được món quà Chân lý cao siêu, vì nó là món quà tối thắng trong tất cả các món quà.

Theo luật Phật thì chúng ta không được phép xuất gia nếu trước tiên không được sự đồng ý của cha mẹ, nhưng Thái Tử tất Ðạt Ða từ bỏ gia đình mà không xin phép. Ngài đã chỉ đường cho tôi, Ngài cho phép tôi. Tuy nhiên cũng cần nhớ rằng cha mẹ tôi chỉ cho tôi đời sống vật chất thôi, nhưng chúng ta nương nhờ Phật, người đã ban cho chúng ta đời sống tinh thần. Bởi vì người cha tinh thần là người cha cao thượng hơn tất cả. Sách Pháp của Ngài?quyển Kinh Pháp Cú đã hoàn toàn đưa đến sự thay đổi cuộc đời của tôi. Ðức Phật đã tịch diệt cách đây 2500 năm. Giáo Pháp của Ngài đã thấm nhuần trong tôi. Ðó là một sự cố ngẫu nhiên thanh tịnh . Nếu tôi không đọc quyển Kinh Pháp Cú đó, có thể tôi không mong gì trở thành đệ tử của Phật được. Vì vậy khi Ðức Phật hứa khả, tôi đã hân hoan vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai và ngồi tòa Như Lai.
Nếu tôi không được duyên phước thì giờ đây tôi đã bị kéo lôi vào cảnh đời bi thảm khổ đau. Vậy mà tự nhiên dù không xin phép cha mẹ tôi đã tự kéo mình ra khỏi trần gian đầy máu lửa. Mỗi người chúng ta đều phải tự cứu mình. Không ai có thể cứu được nghiệp báo của người khác. Vì thế điều khôn ngoan là nên tự cứu lấy mình. Có kinh nghiệm thực học, thực tu mới thực hiện được lý tưởng này. Không ai tự trì hoãn con đường giải thoát của mình để hy sinh cho người khác. Vì con đường tối diệu nhất để cứu khổ nhân gian là phải toàn hảo bản thân. Chừng nào ta chưa viên mãn tu tập thì không thể làm được điều thiện nào cho cõi đời. Một y sĩ trước nhất phải tự biết cứu chữa mình đã!

Lần trước tôi chưa giảng xong một điểm trung yếu trong giáo Pháp như vầy: Một hôm Ðức Phật đặt vài hạt cát trên đầu móng tay của Ngài và nói: ?Này các Sa Môn! Cát trên móng tay ta và cát trên địa cầu bao la này, cát nào nhiều hơn?? Các vị Sa môn trả lời: ?Bạch Ðức Thế Tôn số cát trên móng tay của Ngài không đáng gì so với số cát trên địa cầu bao la này!?. Ðức Phật liền dạy: ?Cũng vậy, này các Sa Môn, số chúng sanh đã qua đời và tái sanh vào cảnh giới người, cảnh giới trời đều không đáng gì so với số chúng sanh đã chết đi từ đời này và được tái sanh vào cảnh giới súc sanh hay ngạ quỷ?.

Như quý vị đã biết, trong Ðạo Phật không có địa ngục, không có sự trừng phạt đời đời. Trong Ðạo Phật luôn luôn có cơ hội và người ta không bao giờ đánh mất cơ duyên đó. Bởi vì trần gian này luôn luôn có sự công bằng và sự công bằng thì không bao giờ thua cuộc. Cho nên khi nghe rằng chúng sanh bất diệt, vì lòng từ bi cứu khổ họ có thể tái sinh trong cảnh giới ngạ quỷ, tôi quyết tâm trở thành Sứ Giả Như Lai. Ðiều này đã đến với tôi do sự tình cờ, tôi trở thành người con của Phật, tôi nghĩ tại sao mọi người lại không chia sẻ điều may mắn mà quý vị đang thọ hưởng vào thời điểm này. Ðó là điều vị kỷ, chỉ lo cho phận mình an hưởng chân lý tối hậu của chư Phật, không san sẻ cho số đông người khác chưa từng dược duyên may như vậy. Cũng vì lẽ đó mà nay chúng tôi mới vân du sang Mỹ để chuyển hóa đạo lý Phật Pháp cho toàn thế giới sớm giác ngộ.

Ðức Phật đã khai thị tứ Diệu Ðế còn gọi là Tứ Thánh Ðế là bốn trụ cột của Ðạo Phật. Giống như cái bàn cần có bốn chân. Nhờ vậy Phật Giáo đứng vững trên bốn chân lý cao quý đó. Chúng ta có 45 tập trong toàn bộ Kinh Phật. Phần thứ nhất đề cập về Giới Luật, phần thứ hai gồm các bài giảng và phần thứ ba thuộc Tâm lý học. Bốn Thánh Ðế là tinh hoa của Phật Giáo và riêng 45 tập này chỉ là những luận giải về Tứ Thánh Ðế. Vì vậy nếu quý vị hiểu rõ Bốn Thánh Ðế tức là quý vị đã hiểu toàn bộ Phật Giáo. Tôi đã giải thích Pháp Tứ thánh Ðế trong bài giảng đầu tiên, nay tôi sẽ tiếp tục thử nêu lên câu hỏi: Chánh kiến là gì?
Chánh kiến là hiểu biết Bốn Thánh Ðế. Chánh kiến là hiểu biết ba đặc tính của vũ trụ là vô thường, khổ và vô ngã. Vô ngã nghĩa là không có linh hồn. Trong Phật Giáo không có linh hồn. Cái để thay thế linh hồn ta gọi là ý thức (tâm thức). Tâm không bao giờ giống nhau trong hai niệm tưởng liên tục. Trên thực tế các nhà tâm lý hiện đạt đã tiến đến điểm chính xác mà Ðức Phật đã đạt được cách đây 2500 năm. Kiến giải cho thấy rằng không hề có cái Ngã nào bất diệt hay cái TA trường cửu, hay linh hồn bất biến, mà chỉ có ý thức hằng biến, không bao giở giống nhau trong hai niệm tưởng liên tục.

Vì các nhà tâm lý học hiện đại đã thừa nhận rằng không có một linh hồn bất diệt lại càng dễ hơn cho tôi khi qua đến các bang để thuyết giảng về Ðạo Phật, bởi vì đất canh tác đã chuẩn bị sẵn sàng. Họ đã nhất trí rằng không có linh hồn thường hằng. Vì thế họ sẽ hiểu được triết lý Vô Ngã của Ðức Phật. Tất cả các pháp đều vô thường (biến đổi). Tất cả các pháp đều đưa đến đau khổ. Tất cả các trạng thái ý thức (tâm linh) đều vô ngã (không có thực thể). Chánh kiến là hiểu biết nguồn gốc và sự hủy diệt của vạn pháp, tiến trình như sau:

1) Vô minh là nhân của Hành.
2) Hành là nhân của Thức.
3) Thức là nhân của Danh Sắc.
4) Danh sắc là nhân của Lục xứ.
5) Lục xứ là nhân của Xúc.
6) Xúc là nhân của Thọ.
7) Thọ là nhân của Ái.
8) Ái là nhân của Thủ.
9) Thủ là nhân của Hữu.
10) Hữu là nhân của Sanh.
11) Sanh là nhân của Lão.
12) Lão là nhân của bệnh, sầu, bi, khổ, ưu não.

Vô minh là nhân của sinh và khổ, vô minh là nguồn gốc của vạn pháp. Diệt trừ vô minh là tiêu trừ vạn pháp, diệt trừ vô minh đưa đến chấm dứt sinh và khổ.
Vô minh là kẻ tạo ra trần gian này. Mara hay Ma vương là kẻ sáng tạo thế gian. Mara có nghĩa là kẻ cám dỗ. Mara không phải là ma quỷ như Phật Giáo thường nói đến mà Mara là Trời khát ái. Vị đó là trời. Loại trời nào? Ðó là Trời khoái lạc, sáu giác quan. Thế giới là động chứ không phải tịnh. Ðây là bài học hóa lý và toán. Thế giới không bao giờ giống nhau trong hai niệm tưởng liên tục.

Mỗi người đang tạo ra thế giới cho riêng mình hàng triệu lần trong mỗi khoảnh khắc phút giây. Tất cả đang bừng cháy, tất cả đang bốc lửa. Cái gì đang cháy? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Chúng đang bừng cháy với ngọn lửa tham, sân, si, sinh tử và phiền não. Do vậy toàn thế giới này đang bốc cao ngọn lửa si mê. Tại sao? Vì sáu giác quan đang bừng cháy. Nếu ta có khả năng dập tắt được ngọn lửa của sáu giác quan hay làm cho chúng được thanh tịnh bằng cách tu tập điều phục bản ngã, không đổ thêm dầu mới vào ngọn lửa, tự nhiên nó sẽ tắt lịm. Vậy thì ta phải làm gì? Ta phải tưới nước (cam lồ) vào lửa, nó sẽ bị dập tắt Bấy giờ bạn sẽ tận hưởng niềm an lạc vô biên gọi là Niết Bàn tối thượng.

Có người nói rằng thế giới mà chúng ta đang ở hôm nay đã được tạo nên trong 6 ngày. Phật tử chúng ta cảm nhận rằng đời là đau khổ?Dukkha? nó không dành cho 6 ngày để tạo nên thế giới này. Chúng ta đang tạo ra thế giới trong từng mỗi phút giây. Như tôi đã từng nói trước đây, thế giới đang biến đổi. Và vì nó đang biến đổi nên ta nói nó đang được tạo nên và đang bị hủy diệt trong từng mỗi phút giây. Vì biến đổi có nghĩa là sinh diệt liên tục, chết rồi tái sinh như ngọn lửa. Chừng nào chất liệu tham ái còn hiện hữu thì ngọn lửa vẫn tiếp tục bừng cháy. Hãy nhớ rằng, thế giới chỉ là một tiến trình, một tiến trình đang hình thành, đang trở nên. Và tiến trình đó cứ tiếp tục cho đến khi nào nguyên nhân của nó còn đủ duyên hiện hữu. Khi nhân đã bị dập tắt thì thế giới không hình thành. Dập tắt trần gian (đau khổ) này quả là thiện pháp và tạo ra trần gian (khổ lụy) này là bất thiện pháp. Bởi vì một khi chúng ta tận diệt được sự đau khổ của hiện hữu thì chúng ta mới hưởng được sự an lạc Niết Bàn tối thượng.

Chúng ta càng thích thỏa mãn con mắt, chúng ta lại càng muốn nhìn nữa cho mãn nguyện. Chúng ta càng muốn thỏa mãn lỗ tai, chúng ta càng muốn nghe thêm nữa, càng thích thỏa mãn cái lỗ mũi, càng muốn ngửi hoài. Không bao giờ mãn nguyện. Chúng ta không bao giờ hài lòng khi thấy, nghe, ngửi...Khi ta vui hưởng nhiều chừng nào tốt chừng nấy thì sự hưởng thụ ấy lại càng trở nên một xiềng xích khổ đau.

Nếu bạn bắt đầu thọ thực, món ăn ngon nhất trên trần gian này, nhưng một khi no bụng rồi mà buộc ăn thêm lại là một thứ khổ đau nữa. Thái Tử Tất Ðạt Ða sống êm ấm trong hoàng cung, Ngài tận hưởng những lạc thú trong 29 năm đầu. Sau thời gian hưởng thụ đầy đủ các khoái lạc trong kiếp người, cuộc sống càng vui sướng càng làm cho Thái Tử chán nản và trầm tư về thân phận chúng sanh. Và vì vậy Thái Tử đã xuất gia, tìm thấy một nguồn khoái lạc khác của Niết Bàn tối hậu. Bởi vì đó là niềm an lạc hạnh phúc cao thượng nhất. Có điều là ta không bao giờ tạo ra được Niết Bàn. Những gì ta phải tìm là tận diệt tiến trình biến đổi bằng sự tu tập trui rèn trí tuệ, dập tắt tham ái. Trí tuệ loại trừ sự sinh và cống hiến Niết Bàn tối diệu.

Ta thường nêu câu hỏi: mục đích của cuộc đời là gì? Là thanh tịnh bản ngã, làm trong sạch tâm thức. Cuộc đời coi như thất bại nếu tâm thức không được tịnh hóa. Cuộc đời được gọi là thành công nếu tham ái được tận diệt. Họ nói: này các bạn thanh niên, điều gì đưa đến lợi lạc cho con người nếu người đó chiếm được toàn thế giới mà lại đánh mất phẩm chất của mình? Thành công hay thất bại, vinh quang hay ô nhục được đánh giá bằng sự được hay mất nhân cách của mình. Bởi vì đạo hạnh của con người khiến cho người đó có tất cả ngoài ra không có cách nào khác hơn được.

Người ta vẫn cho rằng người thành công trong đời là người tạo ra được một triệu đô la, nhưng trong Phật Giáo thì không phải vậy. Nến vị đó tạo được một triệu đô la mà đánh mất phẩm chất đạo hạnh của mình thì vị đó là người loạn trí nhất trên đời. Mặt khác, nếu một người không đạt đươc một triệu dô la mà đạt được phẩm chất đạo hạnh, vị đó mới được đánh giá là người đắc thắng trong đời. Thắng không phải là sự đo lường bằng của cải đã tích lũy mà là sự kết tập vun bồi đạo hạnh, nhân cách con người. Cho nên đừng bận tâm về tiền tài mà nên quan tâm về đạo hạnh. Chính nó là nguồn tâm thức an lạc trợ duyên cho giác linh trong lúc lâm chung tử biệt.

Bởi vậy trước khi muốn làm điều gì ta phải tự vấn mình: điều mà ta sắp thực hiện đây sẽ làm tăng hay giảm phẩm chất đạo hạnh? Nếu câu đáp là có tác hại, làm suy giảm, thì ta nên tránh. Nếu câu trả lời là làm tăng trưởng nhân cách đạo hạnh thì ta cứ dũng cảm tiến hành. Bạn không có gì phải lo sợ về những hành động làm tăng trưởng phẩm chất đạo hạnh của mình, mà chỉ sợ làm suy giảm phẩm hạnh cao quý vốn có của ta. Bởi vì như tôi đã nói khi trước, thành công hay thất bại chỉ được đánh giá bằng toàn bộ phẩm chất đạo hạnh của con người. Mục đích cuộc sống con người không có gì ngoài sự thăng hoa, phát huy nhân cách, đạo hạnh của mình. Ðừng nghĩ rằng mục đích của đời người là sống thỏa mãn sáu giác quan, mà chủ yếu là thành tựu tài sản tinh thần có nghĩa là sự phát huy phẩm hạnh cao cả nhất cho đến khi nó tràn dâng khắp nơi.
Ðức Thế Tôn đã là tấm gương mẫu mực về đạo hạnh siêu thế, phẩm hạnh vô song của Ngài đã tràn dâng tỏa khắp mọi nơi làm tịnh hóa thế giới 25 thế kỷ qua và vẫn tiếp tục tịnh hóa thế giới trong nhiều thế kỷ tiếp theo để đi đến đỉnh cao rạng rỡ nhất và hào quang chân lý soi sáng khắp nhân gian; con người được một cơ duyên hy hữu nỗ lực toàn hảo đời mình.

Ðức Thế Tôn quả là một bậc y sĩ vĩ đại nhất trần gian này, bởi vì Ngài đã khai thị sinh lộ (con đường), cứu nguy ba chứng bệnh nan giải của chúng sanh là Tham(Lodha), Sân(Dosa), và Si(Moha). Ngài cho ba loại thuốc:

1) Bố thí: diệt trừ tham.
2) Giới hạnh: diệt trừ sân.
3) Thiền định: diệt trừ si (vô minh).

Con đường đưa đến sự giàu có là gì? Diệt trừ lòng tham bằng cách bố thí. Hãy cho! Cho là nhận. Không cho là không nhận. Hành động và phản ứng đều bằng nhau và đối diện. Người sinh ra bị nghèo khổ là vì kiếp trước họ quá keo kiệt. Người sinh ra được giàu sang là vì trong kìếp trước họ vốn rộng lượng, ưa bố thí. Thế nên chớ có ganh tị với người giàu sang, bề thế sự nghiệp; khi vị đó đang lái một chiếc xe hơi lộng lẫy đắt giá. Hãy bố thí, vì khi làm như vậy bạn cũng sẽ trở thành giàu có trong tương lai. Mua một vé số sẽ không dễ gì làm cho bạn trở nên giàu có. Bố thí là con đường chắc chắn phú quý mai sau. Con người thông thường có tinh thần cờ bạc, tất cả đều thích tạo một cơ may bất ngờ. Họ tin rằng họ có thể trở nên giàu sang qua một đêm giản dị bằng cách mua một vé số 1 hay 2 đô la, nhưng rồi họ chỉ gặp toàn sự bực mình vì không bao giờ trúng số cả. Vì vậy ta không thể nào trở nên giàu có chỉ nhờ mua một vé số, nhưng đảm bao nhất vẫn là vé số do Ðức Phật ban cho, nghĩa là bố thí sẽ được đáp ơn. Cho là nhận. Nên nhớ rằng bố thí giống như trồng một hạt giống trên đất, nếu bạn gieo hạt giống tốt trên đất lành cây sẽ lên tươi tốt và trái quả sum xuê. Nếu hạt giống tốt gặp đất lại không tốt, quả trái sẽ ít hơn. Vì vậy nếu bạn bố thí cho người nào không xứng đáng nhận vật bố thí đó dĩ nhiên bạn không thể kỳ vọng một mùa gặt huy hoàng.

Nhưng nếu bạn thành tâm cúng dường Ðức Phật, Chư Bồ Tát Thánh Tăng, bạn chắc chắn sẽ nhận được phần thưởng cao quý nhất. Thế nên bố thí khéo thì đương nhiên sẽ gieo trồng được những hạt giống siêu xuất trên mảnh đất phì nhiêu thuận duyên nhất để thu hoạch vụ mùa công đức cao thượng. Ðức Phật là người bố thí trí tuệ, ban cho tri kiến, là người bố thí thật sự nhằm diệt trừ tham ái. Bởi vì dù bạn bố thí cho ai đi nữa, dù bạn gieo một hạt giống trên đất cát đá, ít nhất hành động bố thí này chính là sự xả bỏ và nhờ bố thí, ban cho như vậy bạn mới tiêu trừ được tham ái. Hãy nhớ rằng chiến tranh đặt biệt đều bắt nguồn từ lòng tham. Chính lòng tham vô tận này không thể nào dập tắt được. Càng thu hoạch ta càng muốn thu hoạch thêm. Càng kiếm được tiền ta càng muốn kiếm tiền thêm. Càng tước đoạt của ai ta càng muốn tước đoạt thêm. Ta không bao giờ thỏa mãn. Khi một người chinh phục toàn thế giới, sau đó ông ta lại muốn chinh phục mặt trăng, sau cùng lại muốn chiến thắng cả mặt trời. Chẳng bao giờ thỏa mãn lòng tham muốn ngự trị, nhưng có một điều mãn nguyện là hình thành được chứng nghiệm đối nghịch?là sự từ bỏ.

Khi ta từ bỏ các vật vô thường dễ tan vỡ trên trần gian này, ta sẽ được món quà Niết Bàn thường trụ bất diệt. Khi từ bỏ sự vật dễ hư hoại (pháp vô thường) trên trần thế này ta sẽ được món quà Niết Bàn bất diệt. Nếu tham ái được khắc phục, ta sẽ hưởng được tâm thức an lạc như Ðức Phật đã chứng đạt. Khi còn ở hoàng cung, Ngài không thể dập tắt được ngọn lửa tham ái của chính mình, Ngài cũng không thể diệt trừ được những khao khát lạc thú. Chính khi Ngài cương quyết viễn ly, đoạn tuyệt mọi cám dỗ, Ngài mới chấm dứt được tất cả mê vọng.

Trong Kinh phân biệt vật cúng dường có đoạn ghi: ?Ở đây này Anan phước quả đạt được do đem của thí cho một con vật gấp 100 lần công đức; đem cho một thường dân không có đạo hạnh được 1000 lần công đức; đem cúng dường một Thánh Tăng đang tu tập thánh Ðạo thì được vô lượng công đức không thể nghĩ bàn. Huống gì những cấp bậc tu tập cao hơn thì công đức không thể có lời nào diễn tả nổi. Huống gì là Thánh giả đã tìm ra chân lý như Ðức Phật?bậc Giác Ngộ tối thượng lại càng không thể kể hết công đức của người thí chủ cúng dường đó.?

Ðiều này ý muốn nói nếu bạn đem một ly nước bố thí cho một con chó, bạn sẽ nhận lại 100 ly nước về sau. Nếu bạn đem một ly nước bố thí cho một người dân thường, bạn sẽ nhận 1000 ly nước về sau. Nếu bạn đem một ly nước cúng dường cho một vị Thánh hay vị Alahán thì phần hồi hướng sẽ vô tận. Thế nên đây là một bảo hiểm về mặt tinh thần cao thượng nhất, bởi vì bố thí hay cúng dường một ly nước mà bạn có thể nhận lại rất nhiều ly nước. Vì lẽ đó ta nên đầu tư vào cuộc xổ số tinh thần hơn là cuộc xổ số thông thường không mấy hy vọng.

Làm thế nào để trở nên đẹp đẽ? Phương cách gì để có được sắc đẹp? Hãy diệt trừ sân hận bằng tình thương. Thực hành 5 học giới là đầy đủ tình thương.

1) Không sát hại và tàn bạo sinh vật (tránh ác) mà phóng sanh cứu mạng (làm lành).
2) Không lấy của không cho (tránh ác) mà cứu khổ (làm lành).
3) Không được có những thèm khát nhục dục hay tà dâm (tránh ác) mà khuyên giữ đạo lý thủy chung (làm lành).
4) Không nói láo, nói chuyện tầm phào, chia rẽ, ác khẩu (tránh ác) mà nói đúng thực tế, nói đoàn kết, ôn hòa, nhã nhặn, có văn hóa (làm lành).
5) Không uống ruợu và các chất say tương đương kể cả ma túy, cờ bạc, đàng điếm (tránh ác) mà thận trọng giữ gìn thân thể tráng kiện, tâm trí minh mẫn để khỏi mê mờ vi phạm các giới khác (làm lành).

Khi còn là một tín hữu của Thiên Chúa Giáo La Mã, tôi được dạy 10 điều răn và hiện nay khi tìm kiếm trong 10 điều răn tôi vẫn không thấy có điều răn nào dạy: ?các con không nên uống rượu?.
Vì vậy tôi hết sức vui mừng được trở thành một Phật tử mà chỉ thọ trì có 5 giới thay vì 10 điều răn. Xét ra 5 giới còn hoàn hảo và cô đọng hơn 10 điều răn: Trong Phật Giáo không có điều răn nào; bởi vì không có ai ra lệnh cho chúng ta cả. Ðức Phật chỉ khuyên bảo chúng ta thọ trì 5 học giới chứ không có lệnh nào hay khuyến cáo nào. Chúng ta hoàn toàn tự do. Chúng ta được đối xử như những triết gia chứ không phải con nít.

Giống như những triết gia, chúng ta hiểu biết điều gì đúng, điều gì sai. Một khi bạn được chỉ cho thấy con đường chân chính của mình, nếu bạn có kinh nghiệm, bạn sẽ giữ gìn chánh đạo mà không sợ bị cưỡng ép bằng bất cứ một đe dọa hình phạt nào. Vì vậy vốn có khuynh hướng khoa học và triết học, tôi đương nhiên trở thành người con Phật; bởi vì tôi không muốn bị xử lý như một đứa trẻ nít mà là một người lớn. Trong Phật Giáo chúng ta đứng vững trên đôi chân của chính mình, chúng ta thực hành lòng tự tin. Ðức Phật là bậc Ðạo Sư chỉ đường, còn chúng ta là những hành giả đi trên con đường đó.

Con đường nào đưa đến sắc đẹp? Hãy mở rộng lòng yêu thương, lòng yêu thương ban cho sắc đẹp. Lòng yêu thương là mỹ phẩm đắt giá nhất. Sự sân hận đưa đến xấu xí. Xấu xí là cơn giận dữ kinh niên. Một thử nghiệm thực tế để chứng minh điều này. Hãy chọn một người đẹp tlai, đánh bất ngờ đằng sau lưng anh ta một cú đấm thật mạnh. Hãy xem lập tức gương mặt anh ta trở nên giận dữ và xấu xí làm sao. Cùng lúc đó bạn thấy sự giận dữ làm anh ta xấu xí. Cơn giận làm thô kệch dị tướng con người.

Bạn thấy đó, lập tức giận dữ biến sắc đẹp thành xấu xí qua thử nghiệm này?có điều hơi nguy hiểm, bởi vì nếu bạn cố thử nghiệm đối với anh ta, thì anh ấy cũng có thể làm một cuộc thử nghiệm như vậy với chính bạn. Vì thế, thay vì tạo một thử nghiệm thực tế, bạn có thể áp dụng lời của tôi là thử nghiệm vào chính bản thân mình. Chúng ta hãy tràn ngập lòng yêu thương nếu bạn muốn được sắc đẹp, bởi vì lòng yêu thương là mỹ phẩm tuyệt hảo nhất.

Sau chiến tranh, hầu hết chúng ta đều bị suy liệt mọi mặt. Do sự kiện đó mà người ta tiêu phí quá nhiều, thay vì sử dụng tiền của để xây dựng trường đại học và những viện nghiên cứu trọng yếu, họ lại thích sử dụng đồng tiền để mua vũ khí. Thế nên những gì chúng ta phải làm là phải cố gắng thực hiện cuộc thử nghiệm đối diện. Nghĩa là cổ vũ lòng yêu thương, bởi vì nếu ta sinh ra bị xấu xí, cho dù gương mặt ta có khó nhìn thế nào đi nữa, nếu ta rèn luyện lòng yêu thương vô lượng thì lòng đại tứ bi này sẽ ban cho ta vẻ duyên dáng thầm kín phát lộ bên ngoài và tỏa ra toàn bộ chân tướng với vẻ duyên dáng nơi khuôn mặt. Chúng ta có thể gặp một người đẹp trai nhất, vậy mà nhiều khi ta không bị lôi cuốn, bởi vì vẻ đẹp của anh ta có thể bị méo mó, thô kệch do lòng tự phụ kiêu căng về vẻ đẹp cúa mình. Ta có thể thấy một người xấu xí mà tràn đầy lòng yêu thương vô tận, bạn thấy anh ta thật hấp dẫn làm sao, và lôi cuốn được mọi người.

Chúng ta có thể chọn những tấm gương sống động trong lịch sử. Nếu bạn nhìn về lịch sử Hy Lạp, hiền giả Socrate là người thông thái nhất Hy Lạp nhưng không minh triết nhất thế giới như Ðức Phật dù cả hai cùng thời đại. Thật là kinh khủng làm sao trước Thiên Chúa giáo 600 năm, chúng ta lại có những bộ óc siêu phàm như Ðức Phật ở Ấn Ðộ, Khổng Tử, Lão Tử ở Trung Quốc, Socrates, Platon và những vị khác ở Hy Lạp. Dù sao trí tuệ của Phật là trí tuệ tâm linh còn trí tuệ của Socrates có khuynh hướng vật chất. Tuy nhiên trí tuệ của Socrates tỏa ra lòng thương vô hạn nên nhờ vậy đã thu hút được nhiều người.

Hiện nay bạn cứ nhìn vào tấm gương của thánh Gandhi tại ấn Ðộ, tuy Ngài không đủ duyên để sinh ra có khuôn mặt đẹp như bạn biết rõ đó, nhưng với tinh thần Ahimsa bất bạo động của Ngài và bằng Giáo Pháp của Ðức Phật, Ngài đã đạt được vẻ duyên dáng kỳ lạ, vẻ đẹp đã làm cho Ngài lôi cuốn được dân Ấn Ðộ và những người khác trên thế giới.

Vì lẽ đó chúng ta chớ nên tin vào những mỹ phẩm hóa trang, chúng chỉ tạo nên những sắc đẹp giả dối, không phải là vẻ đẹp chân thật. Chúng ta chỉ có thể trau dồi sắc đẹp bằng mỹ phẩm do chính Ðức Phật ban tặng. Mỹ phẩm này vô giá nhưng đưa đến sắc đẹp chân thật mà người ta gọi là vẻ duyên dáng ở phương đông nhưng cũng gọi là vẻ quyến rũ ở phương tây.

Con đường đưa đến tuệ giác thì sao? Tu thiền định sẽ đoạn diệt vô minh. Cố gắng hiểu biết ba đặc tính của vạn pháp. Không có cái ngã nào biệt lập. Ðoạn diệt lòng vị kỷ sẽ trở nên vô ngã. Người ta sinh ra bị ngu dốt là do kiếp trước họ không bao giờ quan tâm đến tri kiến. Họ luôn luôn kết thân với bạn bè thiếu trí tuệ, kể cả ngay lúc bất chợt gặp một vị Thánh Tăng họ cũng không bao giờ băn khoăn đặt câu hỏi để nhờ quý Ngài khai thị các nghi vấn của mình.

Còn người sinh ra được khôn ngoan là nhờ kiếp trước họ luôn luôn tìm cầu tri kiến bằng cách tham học với các bậc Thánh Tăng. Cái gì đúng, cái gì sai, điều gì lầm lỗi, điều gì vô tội, điều gì nên tu tập và điều gì không nên; hành động nào đưa đến hạnh phúc an lạc; hành động nào đưa đến bất hạnh và đau khổ. Hãy tìm, bạn sẽ thấy rằng bằng cách kiên trì tìm cầu tri kiến bạn sẽ đạt được tuệ giác.

Khi tham, sân, si đã đoạn diệt thì pháp hạnh bố thí, trì giới, thiền định đưa đến kết quả vô tham, vô sân, vô si gọi là Niết Bàn tối thượng. Khi ta đến diện kiến một nhà Sư, ta không phải đến để nhìn mặt vị đó mà phải nhìn thấy được tâm thức của vị đó. Nhưag cách nhìn tâm người không phải chỉ giữ im lặng để chiêm ngưỡng mà phải hỏi Ðạo, vấn Pháp để tìm ra nguyên nhân của những sự việc nan giải và cần cầu Pháp học để có thể đoạn diệt điều ác.

Phải nhớ rằng Chân lý là tài sản cao quý nhất. Một người có thể giàu sang, nhiều tiền bạc nhưng nếu vị đó kém trí tuệ thì vẫn là kẻ bần cùng thua kém; ngược lại một người có thể nghèo kém tiền của nhưng lại là hàng trí giả, vị đó vẫn là bậc giàu sang được trọng nể.

Trong vài phút qua mà quý vị có thể học được làm thế nào để trở nên giàu có?bằng sự rộng lòng bố thí; trở nên sắc đẹp bằng tấm lòng chan hòa yêu thương và trở nên khôn khéo bằng sự tinh tấn tìm cầu Chân lý. Vì vậy tôi cứ tưởng tượng rằng sau khi học được cách trở nên giàu có, sắc đẹp và khôn khéo trong một thời gian ngắn, bạn sẽ hưởng được tiền của xứng đáng đó. Dù sao bạn cũng cần nhớ rằng điều đó không đủ để gọi là biêt cách làm giàu, làm đẹp, làm cho khôn ngoan hơn người nếu bạn không có toa thuốc và lại không uống theo toa đó. Ðương nhiên thuốc sẽ không có giá trị gì nếu bạn chỉ cầm thuốc và ngắm nghía mãi thay vì uống liền.

Trong Phật Giáo món ăn mà ta phải dùng là thực phẩm tâm linh và tinh thần, bởi vì toàn thế giới đang đau khổ vì thiếu thực phẩm tinh thần, đó là nguyên nhân của chiến tranh. Chúng ta phải thường dùng món ăn tinh thần hàng ngày. Thử nghĩ nếu chúng ta chỉ mất một bữa ăn thường thôi thì chắc chắn chúng ta sẽ la hét quạu quọ đủ thứ, còn khi mất một bữa ăn tinh thần thì chúng ta lại hoàn toàn hài lòng.

Một hôm khi đang thuyết giảng trong một trường học, một số nam sinh chợt nhớ có trận đấu bóng đá đang diễn ra. Chúng liền rời khỏi buổi giảng đang nửa chừng để tham dự trận đấu. Sau khi chúng đi khỏi tôi mới nói với số thính giả còn lại rằng trận đấu của chúng ta là trận đấu tâm linh và chúng ta phải học cách nào để đá tung quả bóng Vô Minh để tận hưởng niềm an vui toàn thắng Niết Bàn. Chúng ta dùng thức ăn vật chất trong sạch thì tại sao ta lại không dùng món ăn tinh thần tinh khiết. Nếu bạn ngỏ lời với hiệu sách và hỏi sách nào bán giá cao nhất, ông ta sẽ trả lời rằng loại sách càng bẩn thỉu thì giá bán càng cao nhất. Nói cách khác, người ta thích món ăn loại văn chương ghê tởm chớ không thích loại đúng đắn. Vì vậy chúng ta nên dùng món ăn tinh khiết cho tâm thức. Món đó là ?Kinh sách Phật?. Nếu bạn ham đọc sách Phật , tâm ý bạn sẽ được thuần hóa, minh triết. Nếu bạn đọc loại văn chương uế nhiễm thì tâm thức bạn sẽ trở nên hôi tanh như đống rác. Nhân nói chuyện về thức ăn khiến tôi nhớ đến mẩu chuyện như sau: xưa có hai vợ chồng và đứa con cùng vượt qua sa mạc, khi tất cả đến nửa đường sa mạc thì bỗng lương thực khô cạn, và trong lúc tuyệt vọng không biết giải quyết cách nào, người chồng liền đề nghị với vợ: ?Này hiền thê ! Trong tình thế nguy nan này, một người chết thì tốt hơn cả ba đều chết: Thế nên đây là cơ hội duy nhất chúng ta ăn thịt đứa con của chúng ta, có vậy chúng ta mới sống và vượt qua nửa đường sa mạc còn lại. Nếa không làm vậy thì cả ba đều chết?. Và rồi với nước mắt đầm đìa thương tiếc, họ giết và ăn thịt đứa con. Không phải họ ăn thịt con để được to mậ0 hay dễ nhìn hoặc để trở thành một võ sĩ hay nhà đô vật, mà chỉ vì muốn vượt qua sa mạc, duy trì mạng sống chứ không mong gì hơn.

Tương tự Ðức Phật đã dạy: này các Sa Môn, trong mỗi đĩa thức ăn ta dùng đều có cái chết. Tất cả đều là xương thịt của con cái mà chúng ta đành đắm lệ nhai nuốt để phương tiện vượt qua biển khổ luân hồi mong tới được bờ bên kia giải thoát. Thế nên chúng ta chỉ ăn để sống chứ không phải sống ăn.

Không phải ăn vì lòng tham dục mà chỉ ăn để có sức khỏe vững bước trên đường Chánh đạo. Tại La Mã có số người ăn nhậu từ sáng đến tối, họ luôn luôn có mặt trong các quán rượu và ăn uống bội thực đến nỗi phải ói mữa tại phòng tắm và rồi sau đó phải hối hả trở lại bàn nhậu và khởi sự trở lại một lần nữa. Thật bi thương khổ lụy.

Ðó là nguyên nhân đưa đất nước đến chỗ suy sụp. Thế nên nếu bạn không muốn đất nước mình đi xuống, bạn nên có ý thức ăn để sống chứ không phải sống để ăn, bởi vì thức ăn giống như món y dược có công năng làm tỉnh lặng chứng bệnh đói khát của chúng sanh.

Nhân đây tôi muốn nói qua về món ăn tinh thần đầu tư chất xám. Quý vị hãy dũng mãnh cố gắng thiết lập một trường Bồ Ðề ở Singapore. Chúng ta nên cổ vũ thực hiện cho được một cơ sở giáo dục Phật học (trường Bồ đề). Bởi vì nếu chúng ta gởi con em vào trường ngoại đạo là mở đường cho họ có dịp bắt cóc tâm thức các con em chúng ta. Họ rất muốn nắm giữ tâm hồn trẻ thơ nhỏ dại và dễ uốn nắn. Tôi dám chắc rằng nếu như người ta cố ăn trộm thân xác con em mình thì quý vị sẽ đau khổ rất nhiều, nhưng nếu họ ăn trộm tâm linh con em mình thì quý vị lại điềm nhiên, chớ không hề nhận ra đó là một đại họa của gia đình, cho họ hàng, xóm làng, đất nước, quê hương.

Nếu quý vị yêu thương con em và tín ngưỡng của mình thì quý vị phải làm sao thấy được con em của mình thông suốt nền giáo dục Phật học, có vậy tôn giáo của quý vị mới phát triển, con em của mình mới có một tương lai Phật học sáng chói, bởi vì trẻ em sẽ tránh sát hại súc vật và từ bỏ uống rượu.

Ở Tây phương người ta nói bắn giết thú vật là một hình thức thể thao và những ai giết giỏi nhiều con vật được gọi là nhà thể thao quán quân. Vì vậy quý vị nên cho con em mình theo học ở các trường Phật học. Ở Penang (Mã Lai) có nhiều trường Phật học nổi tiếng. Tôi vô cùng phấn khởi khi đề cập đến các học sinh ở trường đó. Vì thế hãy nhớ rằng chân lý chỉ thấm nhuần khi nào nó phát triển. Khi nó ngừng không phát triển, nó sẽ ứ đọng và suy tàn. Tín ngưỡng sẽ bế tắc và diệt vong nếu nó không phát huy. Phương pháp làm cho nó trưởng thành và sống mãi là thấy các con em của quý vị mãi mãi là Phật tử thuận thành. Tôi sắp sang hoằng Pháp bên Mỹ để nâng cao số Phật tử trên khắp thế giới, đáp lại với số nhà truyền giáo nước ngoài đã đến đây. Tôi còn nhớ ngày xưa Java là một nước Phật Giáo. Quý vị có thể đọc nhiều sách trong đó có đề cập nhiều ngôi chùa kỳ diệu lừng danh thế giới. Ðừng cho phép tín ngưỡng của quý vị bị suy tàn do đặt tâm hồn mềm yếu non trẻ của con em quý vị trong tay những người không phải là Phật tử. Họ giống như những nhà điêu khắc dùng đất sét uốn nắn theo mẫu hình của họ. Khi nào thấy rằng các con em của chúng ta được huấn luyện theo đường lối của Phật Giáo nghiêm túc thì Ðạo Phật của chúng ta mới hy vọng phát huy rộng khắp thế giới. Trong những năm Phật lịch 2500 trở đi, Phật Giáo như một cái dù che kín vũ trụ thoát khỏi ngọn lửa đau khổ. Khổ đau và khoái lạc chỉ là một; chúng không tách rời nhau, chính Phật Giáo đã khai thị con đường giải thoát như vậy.

TT Thích Giải Thông-Phỏng dịch theo bản tiếng Anh The light of truth của Giảng sư LOKANATHA Do The Singapore Maha Bodhi School xuất bản

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 20 2006, 10:49 PM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



LTS: Khi chọn đăng bài viết dưới đây, chúng tôi chỉ căn cứ trên công phu nghiên cứu và sự hiểu biết sâu rộng của tác giả về nhiều mặt. Chúng tôi không dám đồng ý hay phản bác các điều được phô diễn trong bài mà chỉ mong đưa lên trang báo một công trình suy tư về một đề tài rất mới và rất đa diện. Xin quý độc giả thưởng lãm và đóng góp ý kiến nếu cần.

Cả thế giới rúng động khi công ty nghiên cứu sinh học American Advanced Technology (AAT) loan tin là họ đã clone (tạo sinh) được một phôi bào (embryo) của người.

Không những chỉ có giới thẩm quyền thuộc các tôn giáo độc thần lớn tiếng kết tội các khoa học gia muốn cuớp quyền Thượng Đế, giới khoa học gia, các nhà lập pháp cũng như chánh quyền các nước Tây Phương vội vã lên tiếng chống đối. Thượng viện Anh đã triệu tập một phiên họp khẩn cấp để thông qua một dạo luật chống cloning, trong đó những người nào thi hành thí nghiệm cấy một phôi bào của người, khác hơn là phôi bào đã được kết hợp tự nhiên bởi một tinh trùng và một trứng, có thể bị kêu án 10 năm tù. Tổng Thống Bush tuyên bố là cloning phôi bào người là một việc làm trái đạo dức và thúc dục Thượng Viện thông qua dự luật cấm cloning người. Tuy nhiên Thuợng Viện nói là họ không vội vã trong việc cấm cloning và sẽ điều tra xem kỹ thuật này có giúp ích gì trong việc chữa các chứng bịnh hiểm nghèo cho dân chúng không. Các phản ứng tại Âu Châu cũng tương tự. Pháp, Đức, Gia Nã Đại và Ý đều lên tiếng chống đối việc tạo con người trong phòng thí nghiệm.

Tuy nhiên các nhà khoa học di truyền nói là quần chúng phải phân biệt giữa hai kỹ thuật cloning. Kỹ thuật Cloning thứ nhất là tái tạo một cá thể con người (productive cloning) và một kỹ thuật khác là tạo những tế bào để thay thế các tế bào bi hư hại (theurapetic cloning) trong cơ thể. Các nhà khoa học nói là các tế bào này chỉ là mầm sống sơ khởi, chưa phải là một cá thể người, do đó không liên hệ dến các vấn đề đạo đức về hủy diệt sự sống. Các phôi bào do AAT cấy được chỉ mới sinh ra chừng 6 tế bào khác, tuy nhiên chúng có đầy đủ các yếu tố di truyền của người cung cấp tế bào.

Vatican dĩ nhiên nghiêm khắc lên án thí nghiệm tái tạo người cũng như thí nghiệm tái tạo các tế bào phôi sinh (stem cell) để chữa bịnh. Các chánh phủ Tây Phương mặc dù lên án productive cloning nhưng vẫn cho phép theurapetic cloning các tế bào phôi sinh dể áp dụng vào việc chữa bịnh.

Phó giám đốc trung tâm nghiên cứu Advanced Cell Technology, Tiến sĩ Robert Lanza, nói là công trình này có những tiềm năng lớn lao trong việc chữa các chứng nan y và cấm đoán việc thử nghiệm này sẽ ngăn chặn những khám phá y học cần thiết để chữa trị những chứng bịnh hiểm nghèo, như ung thư, tiểu đường và các chứng run rẩy (Parkinson) ở các người già. Các khoa học gia ở trung tâm ACT tiếp 1 người hiến tế bào để thử nghiệm là Bác sĩ Judson Someville, hiện đang bị tê liệt và ngồi trên xe lăn vì một tai nạn xe đạp 11 năm trước đây. Bác Si Someville đã hiến tặng các tế bào ở bắp chân phải để các nhà khoa học cấy một phôi bào vào. Các tế bào này khi sinh truởng vẫn còn giữ toàn vẹn nhiễm thể của ông. Nếu các tế bào này sinh trưởng, chúng có thể được thay thế cho các tế bào hư hại và bác sĩ Someville có thể đi lại được bình thường. Bác sĩ Someville sắp sữa lập gia đình một lần nữa và có hai cô con gái. Ông nói nếu thí nghiệm thành công, ông hy vọng một ngày nào đó ông có thể đi dạo bình thường với 2 cô con gái. Bác sĩ Someville là một người sùng đạo Tin Lành và là một đảng viên đảng Cộng Hòa, một đảng trên nguyên tắc kịch liệt chống đối kỹ thuật cloning, cho dù chỉ là cloning chữa bịnh. Bác si Someville nói là ông không ngần ngại gì khi tham gia vào chương trình này và ông không thấy có một sự xung đột gì với niềm tin tôn giáo của mình.

So với các tôn giáo Độc thần Tây Phương, Phật Giáo với lý thuyết duyên khởi là một tôn giáo không bị những tiến bộ khoa học bỏ rơi và những khám phá mới càng chứng tỏ thị kiến của đức Phật về sự sống và về vũ trụ rất gần gũi với thị kiến khoa học.

Lập trường của Phật Giáo, hay ít nhất là của một số Phật Tử, về khoa di truyền học như thế nào? Sau đây là bài viết của Christina Desser.

Một học giả Phật Giáo nổi tiếng ở Mỹ nói đùa: "Nếu cloning được Đức Phật thế giới này sẽ bỗng chốc biến thành tịnh độ". Đây là một lời nói đùa, nhưng không phải là không phản ảnh lý tưởng của Phật Giáo; ai cũng có thể là Phật sẽ thành và giống như nhãn quan của Bồ Tát Thường Bất Khinh, ai cũng là một bồ tát hóa thân. Tuy nhiên lời nói bông đùa đó phản ảnh một chút lạc quan ngây thơ về những tiến bộ vuợt bực của khoa sinh học di truyền cũng như những ảnh hưởng không ai lường trước được về những khám phá của khoa này.

Chúng ta đang bị mê hoặc bởi những lợi ích có thực hay tưởng tượng: một thế giới không còn bịnh tật, những khám phá làm vơi khổ đau của con người, đúng như lý tưởng của đạo Phật. Thực phẩm tăng thêm nhiều chất lượng, được sản xuất dồi dào và không lo còn có ai bị đói. Y tế sẽ được cải thiện và nếu chúng ta lựa chọn những gene tốt, cũng như lựa toàn hạt lúa giống tốt, khả năng trí thức của con người sẽ tăng tiến không giới hạn. Không phải thế giới chỉ có một vài thiên tài làm đảo lộn lịch sử, hoặc chỉ có một thiên tài độc nhất kiểu Phạm Công Thiện, mà thiên tài mọc đầy rẫy như cúc vạn thọ. Những ai nghi mình là thiên tài sẽ lấy làm khó chịu vì trong tương lai không còn ai giữ độc quyền tri thức. Đó là chưa kể chúng ta có thể khuynh đảo các gene gây bịnh già và biến giấc mộng trường sanh bất tử của Lão Trang thành sự thật. Nghĩa là con người có khả năng chấm dứt dòng tiến hóa từ hàng triệu năm nay và kết thúc với một chủng loại siêu việt! Những mơ ước của chúng ta vô tận. Từ thập niên trước những điều mơ ước chỉ là những giấc mộng con, không ai ngờ chỉ có hơn 10 năm, những giấc mộng này bỗng chốc thành sự thật. Đó là một viễn tượng của một hình ảnh niết bàn hay thế giới tịnh độ của Phật Giáo Đại Thừa có thật ở đây, bây giờ.

Chúng ta chào mừng các tiến bộ này với cả hai tay và hy vọng như chúng ta đón mừng những phát minh khoa học khác. Tuy nhiên những áp dụng vào canh nông, y tế và sinh sản con người sẽ làm đảo lộn tất cả mọi trật tự và khoa sinh học di truyền sẽ ảnh huởng đến tất cả mọi khía cạnh của đời sống. Trong thời gian qua, việc cấy gene vào các chủng loại khác (transgenic) đã được áp dụng để biến đổi bắp, lúa mì, gạo và các mùa màng khác; việc chế tạo các vũ khí sinh học di truyền được tiến hành một cách thầm lặng nên không ai chú ý; chế biến năng lượng; sản xuất các dược liệu và các phương pháp điều trị y khoa. Khi phối hợp với kỹ thuật tái tạo (productive cloning) chúng ta có thể thay đổi các nhiễm thể di truyền của thế giới hữu tình. Mặc dù khoa sinh học di truyền bắt dầu viết lại pho lịch sử tiến hóa của nhân loại, phần lớn chúng ta cũng còn lờ mờ về các áp dụng này. Trong khi tôn giáo Tây Phương còn chăm chú vào những vấn đề như phá thai, các liên hệ sinh lý thái quá, các bạo hành cơ thể, chủng tộc và phái tính, khoa sinh học di truyền trẻ trung đã có những tiến bộ nhanh chóng về canh nông và y tế và hậu quả của các áp dụng này chưa được giới Phật Tử để ý tới một cách đúng mức.

Quan diểm Phật Giáo về các vấn đề này ra sao? Khoa học di truyền có phải một đáp ứng nhân đạo cho những đau khổ của con người? Hay đó chỉ là một hình thái vô minh nguy hiểm phát sinh từ tham, sân và si để kích thích hành dộng con người?

Các cơ quan nghiên cứu khổng lồ trên mặt trận canh nông như Monsanto, Novarris, DuPont và các nhà khoa học đang biến đổi gene của hạt giống - cổ vỏ cho khoa di truyền, dựa trên những lý do nhân đạo. Các người này nói là khoa di truyền cần thiết vì nông phẩm sẽ được sản xuất dồi dào hơn và không còn ai bị đói ăn nữa. Khoa di truyền sẽ giúp làm giảm lượng thuốc xịt sâu rầy. Khoa di truyền giúp việc bào chế các dược phẩm mới cũng như các thuốc chủng ngừa cho dân nghèo. Tuy nhiên những hành động của họ, của các công ty này chứng tỏ những lời tuyên bố đầy nhân đạo này không đúng sự thật. Việc cung cấp thức ăn cho người nghèo không thể nào đủ lời để cho các công ty lớn này theo đuổi công trình nghiên cứu về di truyền học. Hiện chỉ mới có một loại nông phẩm được chế biến để làm tăng dinh dưỡng có tên là Gạo Vàng (Golden Rice) do các nhà khoa học được tài trợ duy nhất bởi công ty này. Cho tới ngày hôm nay có người nghi ngờ về hiệu năng của vụ mùa có gene bị chế biến này.

Ngoài các vụ biến dổi gene của các nông phẩm, có những thú vật được chuyển gene (transgenic) như dê, bò, chuột và heo. Cơ quan kiểm soát thực phẩm và dược phẩm của Mỹ sắp sửa chấp thuận cho phép chương trình nuôi cá hồi (salmon) có gene được biến đổi để cá có khả năng lớn thật nhanh và do đó các công ty nuôi cá sản xuất được nhiều, và dĩ nhiên là có lời nhiều. Ở Trung Quốc một loại cá chép được đổi gene có lẽ đã được tung ra thị trường. Các nhà khoa học chuẩn bị thả vào thiên nhiên một loại bọ đã bị đổi gene. Loại bọ này khi làm tình với các con bọ cái khác sẽ sinh ra một loại trứng bị hư và do đó sẽ tiêu diệt các loại bọ trước đây đã tàn phá mùa màng bông vải. Tuy nhiên điều nguy hiểm là những con bọ đổi gene không thể nào thu hồi lại được. Trong khi những loại thảo mộc, bọ và cá có gene bị biến đổi sẽ thay đổi quá trình tiến hoá của môi sinh thiên nhiên, những con người được tạo sinh (cloned) và có gene biến đổi sẽ vĩnh viễn làm thay đổi quá trình tiến hóa của con người. Những điều mà mới đây mà chúng ta nghĩ chỉ là khoa học giả tưởng, bây giờ đã thành sự thực. Hơn 50 năm trước Hitler mơ ước tạo được một chủng loại Aryan toàn hảo và giấc mơ đó chỉ được điện ảnh hoá qua phim The Boys From Brazil do Gregory Peck đóng vai chánh, bây giờ có thể thực hiện một cách dễ dàng, nếu luật pháp cho phép! Trên thực tế giáo phái Raelians hy vọng có thể tạo sinh (cloning) một đứa con đã chết của hai tín đồ trong một phòng thí nghiệm bí mật.

Một thí nghiệm tạo sinh khác do tiến sĩ Panayiotis Zaros của viện nghiên cứu Mỹ Andrology và Trung Tâm Kentucky Centre for Reproductive Medicine đã thực hiện. Tiến sĩ Zaros đã có những nổ lực tạo sinh người cho các cặp vợ chồng không có con cái. Nhà khoa học này hy vọng rằng việc tạo sinh người sẽ thành công trong vòng một năm. Nhiều người muốn tạo sinh vì nhiều lý do khác nhau. Hoặc là họ muốn làm sống lại một người thân yêu đã chết. Hoặc là họ muốn mình trường sanh bất tử. Hoặc là họ không có con nối dõi.

Trên quan điểm đạo đức Phật Giáo, việc tạo sinh nẩy ra nhiều vấn đề rắc rối. Có phải chăng ý muốn cho người thân sống lại là một hình thái bám chặt vào cái thân như diện ảnh mà Đức Phật đã cảnh cáo? Có phải chăng việc tạo sinh chính mình là một hình thức chấp ngã đi ngược lại với nguyên tắc vô thường trong tất cả kinh điển Phật Giáo? Những cặp vợ chồng không có con cái muốn có người nối dõi qua hình thức tạo sinh cũng là một hình thức chấp ngã và kéo dài các vòng luân hồi vô tận!

Những cặp vợ chồng có khả năng có con cái muốn có con theo ý mình (design baby) sau khi đã gạn lọc những gene hạ đẳng và cấy vào những gene tốt và do đó sẽ tạo ra một chủng tộc thượng đẳng mà Hitler ngày xưa đã mong muốn? Những người chống đối việc chuyển gene để tạo ra design babies nói là trong tương lai gần, sẽ có hai "giống" người khác nhau. Một giống tự nhiên "trời sinh sao thì cứ để vậy" và một "giống" người đã được chuyển gene thượng đẳng. Nhà sinh vật tế bào Lee Silver cho rằng nếu cloning và kỹ thuật chuyển gene được luật pháp bật dèn xanh, xã hội Mỹ trong tương lai sẽ có hai "giống" người. Giống người được chuyển gene chiếm 10% trong xã hội Mỹ và họ sẽ nắm tất cả các địa vị đầu não trong các lĩnh vực truyền thông, kinh tế và kiến thức (đại học), trong khi 90% còn lại sẽ làm những nghề hạ tiện.

Tới một lúc nào đó hai giống người này không còn liên hệ với nhau nữa và những cuộc hôn nhân "dị giống" sẽ không bao giờ xảy ra nữa, tương tự như tình trạng giữa người và vuợn, hai bên sẽ không thể nào có những liên hệ sinh lý nữa. Lục đạo của Phật Giáo sẽ trở thành "thất đạo", bảy nẻo luân hồi! Và tình trạng này cũng không khác gì xã hội đẳng cấp của Ấn Độ là bao. Thay vì dùng thần quyền dể biện minh cho đẵng cấp như các giáo sĩ Bà La Môn, giống người thượng đẳng sẽ dùng gene toàn bích để biện minh tại sao họ là những người sinh ra để lãnh đạo, ăn trên ngồi trước. Khoa học giả tuởng? Viễn tượng một xã hội có hai "giống" người khác biệt, một có gene toàn bích, một giống người tự nhiên, gần hơn mọi người nghĩ nhiều!

Tất cả những thí nghiệm tạo sinh (cloning) thường được thi hành bí mật trong các phòng thí nghiệm và hiện nay không ai biết là khả năng tạo sinh của các nhà khoa học đến mức nào rồi. Sẽ có những hậu quả không thể nào lường được cho con người và các chủng loại khác.

Những công ty lớn đang nghiên cứu việc biến đổi gene không thèm dể ý đến những hậu quả đến môi sinh của chúng ta. Trên thực tế không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra khi việc chuyển đổi và hỗn hợp các gene giữa những chủng loại khác nhau được thực hiện. Về sự chuyển gene giữa các cây cỏ khác nhau, Steve Jones, giáo sư khoa di truyền ở đại học Luân Đôn tin rằng sự ô nhiễm gene sẽ không thể nào tránh được. Các gene đã được chuyển đổi trong thực vật sẽ lẫn lộn với các gene khác và có thể gây ra những hậu quả cực kỳ nguy hại. Nếu như côn trùng có gene làm tuyệt giống tràn lan, thình lình tất cả các côn trùng đều biến mất. Không có côn trùng thì môi sinh không thể tồn tại, không có thụ phấn, không kết hoa hay quả. Nếu môi sinh trong tình trạng mất thăng bằng thì thế giới và nhân loại sống còn nữa không? Cái này có thì cái kia có. Cái này không còn thì cái kia không còn, chưa bao giờ thuyết duyên khởi của Phật Giáo trở nên minh bạch và dễ hiểu như thế!

Khi nghiên cứu về những vấn đề này Phật Tử sẽ suy nghĩ như thế nào? Michel Houellebecq tác giả quyển tiểu thuyết giả tuởng Elementary Particles (Vi Trần?) cho rằng Phật Giáo có thể đồng ý với cloning, hay ít ra là cũng không phản đối. Một trong những nhân vật trong truyện phát biểu: Rồi đây con người như chúng ta biết hiện nay sẽ biến mất, nhường chỗ cho một cho một chủng loại mới trung lập về phái tính, không đàn ông mà cũng không phải là đàn bà, vượt lên trên cá nhân, phân biệt cá thể và tiến hoá. Không cần nói là những tôn giáo chủ trương mặc khải phản dối quyết liệt những kỹ thuật này. Chỉ có Phật Giáo là tuy có im lặng và nghi ngờ, tuy nhiên tất cả những lời dạy của Đức Phật dều dựa trên đệ nhất đế, khổ đế, và phần lớn đề cập đến sinh lão bịnh tử, và nếu Đức Phật quán niệm về những vấn đề này, Ngài không nhất thiết phản bác kỹ thuật cloning.

Tôi (tác giả) nghĩ là quan điểm của Houllebecq không đại diện cho chánh kiến, tuy nhiên có dịp nào những tu sĩ và học giả Phật Giáo có dịp thảo luận về vấn dề này, có nhiều ý kiến thích thú mới sẽ nẩy sinh và có thể đưa chúng ta sang một buớc ngoặc bất ngờ. Trong một thế giới mà con người có khả năng (hay nghĩ mình có khả năng) kiểm soát quá trình tiến hoá của chính chủng loại của mình và môi sinh quanh mình, quan niệm về nghiệp của Phật Giáo có thay đổi không? Chúng ta có quyền gì thay đổi quá trình tiến hoá của các thế hệ tương lai? Kỹ thuật tạo sinh - sinh sản mà không cần có liên hệ sinh lý - có giúp chúng ta tránh khỏi bị ràng buộc những ham muốn về sinh lý? Kỹ thuật tạo sinh có củng cố quan niệm chấp ngã và ái ngã nhiều hơn hay là phân hóa ngã của chúng ta thành những cái ngã con con (mini-me?s) và làm cho chúng ta mau giải thoát hơn? Hay là những kỹ thuật tân tiến này khiến chúng ta càng ôm chặt cái ngã "duy ngã độc tôn vô thượng" của mình và muốn kéo dài tuổi già đau khổ của mình mà Đức Phật đã tiên kiến? Quá trình thành trụ hoại diệt có còn đúng không và duyên khởi sẽ dóng vai trò nào?

Kỹ thuật thay đổi, biến hoá và đùa bỡn với đời sống hiện nay trong khoa học di truyền là những khám phá có ý nghĩa trọng đại trong lịch sử nhân loại, cũng giống như lúc con người khám phá ra lửa và tách nhỏ các hạt nhân nguyên tử. Phải có một nền đạo đức mới để hướng dẫn những quyết định về chánh trị và kinh tế để cùng đi tới với khoa học tạo sinh, bởi vì chúng ta không thể ngăn cản những tiến bộ của khoa học và kỹ thuật và thái dộ cấm đoán của Vatican chỉ phản ảnh cho một thái độ tiêu cực và vô bổ. Nghiên cứu những vấn đề này có thể làm sáng tỏ hơn về vai trò của đạo đức Phật Giáo cũng như có thể góp phần một phần nào vào việc thiết lập những nguyên tắc đạo đức mới cho toàn thể nhân loại.

Nếu Phật Tử, nhất là những người xuất gia, chỉ loay hoay với những mối lo âu hình thức lặt vặt như tạo phước điền, tụng kinh Pháp Hoa mấy thời, niệm Phật giải thoát, chỉ tự biến mình thành những ông thầy cúng, thầy tụng, hoàn toàn biệt lập với đời sống và biến đạo Phật thành những giáo phái kiểu Vô Thượng Sư chuyên đi lừa bịp các tín đồ nhẹ dạ. Có thể trích ra một thiền ngữ thích hợp cho hình thức tu này là, mái ngói nghìn kiếp, ngói vẫn còn là ngói, chẳng bao giờ ngói trở thành gương.

(Viết theo Christina Desser, Tricycle số Kỷ Niệm Mười Năm, Mùa Thu 2001.)


Ý kiến :

A DI ĐÀ PHẬT.
CHÚNG TA BIẾT RẰNG NHÂN QUẢ LUÔN ĐI ĐÔI VỚI NHAU, NHÂN THIỆN RA QUẢ THIỆN... THẬT RA NẾU CÁC NHÀ KHOA HỌC MÀ CÓ THỂ CLONE ĐƯỢC ĐỨC PHẬT THÌ NHỮNG LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT SẼ KHÔNG CÒN Ý NGHĨA, BỞI VÌ CHÚNG TA SẼ KHỎI MẤT CÔNG TU HÀNH LÀM CHI CHO MỆT ĐỂ THÀNH PHẬT, MÀ CỨ CLONE CHÍNH MÌNH LÀM PHẬT CHO LẸ, ĐỐT GIAI ĐOẠN, MÀ KHỎI SỢ TỘI LỖI ĐÃ LÀM TRONG QUÁ KHỨ VÌ MÌNH ĐÃ THÀNH PHẬT RỒI...VIỆC NÀY NẾU CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC THÌ ĐỨC PHẬT CŨNG ĐÃ NÓI CHO CHÚNG TA BIẾT TỪ KHUYA RỒI, MÀ TA ĐÃ NGHE QUA CHƯA ? HAY CÓ VỊ HÒA THƯỢNG NÀO LÀM ĐƯỢC CHƯA ? ĐỂ THÀNH PHẬT THÌ CHÚNG TA PHẢI BỎ CÔNG TU HÀNH DỮ DỘI CHỨ KHÔNG DỄ DÀNG NHƯ NHIỀU NGƯỜI TƯỞNG ĐÂU, CÒN NHỚ LÀ MÌNH ĐÃ SỐNG NHIỀU ĐỜI NHIỀU KIẾP MÀ VẪN CHƯA THÀNH PHẬT MÀ CÒN PHẢI TRẢI THÊM KHÔNG BIẾT BAO NHIÊU ĐỜI NỮA, CHẮC QUÝ VỊ CŨNG CÓ THẤY QUA NHỮNG QUYỂN SÁCH DẠY TA LÀM SAO TU TRONG ĐỜI NÀY SẼ THÀNH PHẬT HAY LƯU XÁ LỢI , CÓ THẬT DỄ VẬY KHÔNG ? CHỈ VIỆC NHỎ NHƯ BỎ THAM SÂN SI MÀ TA CŨNG CHƯA LÀM ĐƯỢC THÌ ĐỪNG NÓI CHI CHUYỆN LỚN LAO KHÁC NGHE MẮC CỞ QUÁ.
CON ĐƯỜNG ĐỂ THÀNH PHẬT ĐÃ ĐƯỢC ĐỨC PHẬT CHỈ DẠY VÀ ĐỨC PHẬT ĐÃ LÀM GƯƠNG CHO CHÚNG TA THẤY RỒI, NGOÀI RA KHÔNG CÓ CÁCH NÀO ĐỐT GIAI ĐOẠN CẢ, ĐỨC PHẬT CŨNG MUỐN TẤT CẢ CHÚNG MAU THÀNH PHẬT CHỨ CHẲNG LẺ ĐỨC PHẬT DẠY MÌNH LÀM CÁCH KHÓ KHĂN TRONG KHI CÓ CÁCH KHÁC CŨNG KẾT QUẢ MÀ LẠI NHANH GẤP TRĂM NGÀN LẦN MÀ ĐỨC PHẬT LẠI BIẾT MÀ DẤU MÌNH HAY SAO ?
MONG QUÝ ĐẠO HỮU CỨ LÀM THEO LỜI ĐỨC PHẬT DẠY MÀ PHẢI NỔ LỰC THỰC HÀNH HƠN NỮA MỚI MONG NHANH CHÓNG THÀNH PHẬT.
XIN CHÚC QÚY PHẬT TỬ THÂN TÂM THƯỜNG LẠC.
NAM MÔ ĐƯƠNG LAI HẠ SANH DI LẠC TÔN PHẬT

Lập trường của Phật Giáo, hay ít nhất là của một số Phật Tử, về khoa di truyền học như thế nào? Sau đây là bài viết của Christina Desser.

Một học giả Phật Giáo nổi tiếng ở Mỹ nói đùa: "Nếu cloning được Đức Phật thế giới này sẽ bỗng chốc biến thành tịnh độ".

Michel Houellebecq tác giả quyển tiểu thuyết giả tuởng Elementary Particles (Vi Trần?) cho rằng Phật Giáo có thể đồng ý với cloning, hay ít ra là cũng không phản đối.

Nếu Phật Tử, nhất là những người xuất gia, chỉ loay hoay với những mối lo âu hình thức lặt vặt như tạo phước điền, tụng kinh Pháp Hoa mấy thời, niệm Phật giải thoát, chỉ tự biến mình thành những ông thầy cúng, thầy tụng, hoàn toàn biệt lập với đời sống và biến đạo Phật thành những giáo phái kiểu Vô Thượng Sư chuyên đi lừa bịp các tín đồ nhẹ dạ. Có thể trích ra một thiền ngữ thích hợp cho hình thức tu này là, mái ngói nghìn kiếp, ngói vẫn còn là ngói, chẳng bao giờ ngói trở thành gương.

Cloning mà nói rằng tạo ra được đức Phật, thực là lầm lẫn giữa cái xác thân luân hồi với sự giải thoát. Phát biểu như vậy, liệu có thể cho là học giả về đạo Phật hay không? Hay học nhiều mà vẫn không hiểu bao nhiêu? Tác giả bài viết bàn về đạo Phật lại trích dẫn câu này, trích dẫn những "khoái lạc" của cuộc sống như là cứu cánh, vậy giá trị của bài viết có được là mấy?
Mục đích của bài viết là muốn kêu gọi Phật tử chống lại kỹ thuật cloning và di truyền. Nếu là Phật tử, không ai là không biết luật nhân quả. Cloning, biến đổi gene, vv... là gieo nhân. Quả của việc gieo nhân này là như thế nào, chúng ta không biết. Trong 12 nhân duyên, đây là bước khởi đầu: vô minh.
Chê trách Phật tử chỉ biết tụng kinh và làm điều thiện mà không có phản ứng với những chuyện cloning, di truyền vv... tác giả đi vào bước thứ hai: hành, mà không biết rằng, không "hành" mới đi ra khỏi cái chuỗi của 12 nhân duyên.

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Jun 20 2006, 10:51 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
bentre
post Jun 21 2006, 07:32 AM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 382
Tham gia: 25-January 05
Đến từ: Sydney, Australia.
Thành viên thứ: 3



QUOTE(hoaha @ Jun 21 2006, 01:19 AM)
Cloning mà nói rằng tạo ra được đức Phật, thực là lầm lẫn giữa cái xác thân luân hồi với sự giải thoát. Phát biểu như vậy, liệu có thể cho là học giả về đạo Phật hay không? Hay học nhiều mà vẫn không hiểu bao nhiêu? Tác giả bài viết bàn về đạo Phật lại trích dẫn câu này, trích dẫn những "khoái lạc" của cuộc sống như là cứu cánh, vậy giá trị của bài viết có được là mấy?
Mục đích của bài viết là muốn kêu gọi Phật tử chống lại kỹ thuật cloning và di truyền. Nếu là Phật tử, không ai là không biết luật nhân quả. Cloning, biến đổi gene, vv... là gieo nhân. Quả của việc gieo nhân này là như thế nào, chúng ta không biết. Trong 12 nhân duyên, đây là bước khởi đầu: vô minh.
Chê trách Phật tử chỉ biết tụng kinh và làm điều thiện mà không có phản ứng với những chuyện cloning, di truyền vv... tác giả đi vào bước thứ hai: hành, mà không biết rằng, không "hành" mới đi ra khỏi cái chuỗi của 12 nhân duyên.
*



Cloning mà nói rằng tạo ra được Đức Phật thì thật là ngu xuẩn (thế mà cũng tự xưng là học giả). Xin thưa rằng Cloning chỉ tạo một phiên bản Copy về vật chất, thể xác mà thôi, còn trí tuệ - thần thức - nghiệp báo thì làm sao Cloning được ???
Một sinh vật hay một chúng sinh, ngoài phần Xác còn phải có phần Tâm linh, phần này do một thần thức tự nguyện (vì Nghiệp báo dẫn đường) gia nhập vào phần Xác, nên mới tạo được một sinh vật (một chúng sinh) đầy đủ.
Kết luận: không thể Cloning Thần thức.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 4 2006, 12:50 PM
Gửi vào: #5


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




Cáo tật thị chúng (cáo bệnh để dạy chúng đệ tử )

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Bài Kệ nguyên gốc chữ Hán,đã được phiên âm Hán Việt như trên, bản dịch của Ông Ngô tất Tố là sớm nhất và được biết đến nhiều nhất :

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai .

Tôi vì yêu thích bài kệ này của Thiền sư Mãn Giác ,nên cũng vô phép mạo muội phỏng dịch như sau :

Xuân đi trăm hoa rãi
Xuân về trăm hoa khai
Việc đời trôi trước mắt
Trên đầu già tóc phai
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng cả
Tiền đình đêm trước một cành mai
Hoa Hạ .

Bài kệ của Thiền sư mãn giác còn được dịch ra tiếng Anh với tựa đề"REBIRTH" (tái sanh) .
Hoa Hạ
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 5 2006, 01:48 AM
Gửi vào: #6


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Cám ơn Ách Mìn,NhaQue,Bentre . tongue.gif biggrin.gif
Hoa Hạ
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
nguyễn thanh nhàn
post Jul 5 2006, 06:07 AM
Gửi vào: #7


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 42
Tham gia: 30-April 06
Thành viên thứ: 102




Tre và Măng
Kính bạn hoaha,

Cám ơn bạn đã gửi riêng cho tôi bài Cáo Tật Thị Chúng
Người xưa có câu:
Sĩ Dĩ Lễ
hoặc
Sĩ Vị Tri Kỹ Giả Tử
Nữ Vị Tri Kỷ Giả Dung
Tạm dịch nghĩa là Tráng sĩ vì người hiểu trọng mình mà ngạo nghễ sang Tần
Khách má hồng vì người hiểu mình mà chăm chút phấn son, nên tôi cố suy nghĩ về bài thơ của Thiền Sư Mẫn Giác mà đóng góp với bạn
Trước đây nữa tiếng đồng hồ tôi chưa biết bạn là nam hay nữ vì bút hiệu "hoa ha" dễ phân vân, tôi phải đọc lại những bài bạn viết thấy vài chuyện tiểu lâm như bài bà già rụng răng tôi mới hiểu hai chữ không dấu có nghĩa là hạ hoả .

Bài thơ của Thiền sư Thích Mẫn Giác quá cao thâm trác tuyệt.
Trác tuyệt từng câu từng chữ
Cao thâm vì ngắn gọn mà bao hàm tất cả triết lý ÁĐông.

Từ xưa đến nay bao nhiêu người dịch, trước khi cầm bút đã khớp (khiếp) vì không tin mình diễn tả nổi thành thử không dám thoát ý thoát lời, hoá ra đem cái khó chữ nho chuyển qua thành cái khó của chữ quốc ngữ. Tôi dám nghĩ giới trẻ dạo sau khi đọc bài này sau khi đã dịch thành chữ quốc ngữ cũng thấy trong cái hiểu của mình có một cái gì chưa suông sẽ. Ý của ngài cao thâm, ẩn dụ của ngài quá hàm xúc, đại bác bắn ở núi này tiếng nổ cách xa sau hai ngọn núi khác không thấy đã đành, tiếng vọng cũng không gợi ý đuợc phương huớng.
Đạo Phật truyền qua nhiều đời bằng những đại thiền sư uyên bác, đến đời Lục Tổ Huệ Năng lại là người dốt, tưởng đạo đã cùng đường nhưng ngài học đạo bằng cái tâm không bằng cái chữ. Đạo là đường, với tổ Huệ Năng cầu sập không có ý nghĩa là đuờng cùng.
Người tu thiền có câu phương châm : "Tòng Sư Sát Sư. Tòng Phật Sát Phật". Nghĩa thuần túy là phải dẹp tạp niệm mới đạt cảnh giới thiền. Nghĩa thường hiểu là muốn thoát khỏi giáo điều thì phải đừng nô lệ vào kinh điển.

Thí dụ hai câu thơ
Xuân tàm đáo tử ti phuơng tận
Bạch lạp thành hôi lệ thuỷ can
Có người dịch ngược thứ tự nên nghe suông sẽ
Ngọn nến hồ tàn còn ướt lệ
Con tằm đến thác vẫn vương tơ

Trong bài thư của thiền sư có chữ Lão Tùng, tùng là loại cây cao. Đức Khổng Tử dạy học trò đi ngang cây cao thì phải ngã nón chào. Cái cây thì kệ cái cây, bộ trên cây có ma sao mà sợ quá vậy? Không phải. Cây cao là người trưởng thượng. Lão Tùng là người cụp thùng thiếc. Mạc vị xuân tàn. Xuân tàn là hết xí quách. Câu chót Nhất Chi Mai trác tuyệt theo cái nghĩa và không ai dám thay đổi. giống như đi chụp hình studio, người mẫu không dám nhúc nhích. bởi vì nhúc nhích thì bóng và sắc sai lệch mất tính sắc xão của đường và nét. Bởi vậy câu kết của thiền sư qua bao nhiêu lời dịch làm giới trẻ không giãi thích được sự mâu thuẫn của lẽ trời đất. Tại sao xuân tàn mà đêm hôm trước lại có nở một cành mai. Mai này lặt lá muộn hay sao?.

Thành thử bài thơ này về tới ruộng tức là xứ Bê`1ntre của mình theo ý tôi phải đổi thứ tự hai câu đầu và dịch thoát ý bằng một hình ảnh khác như thế này mới được nhiều người hiểu:

Xuân đến trăm hoa khai
Xuân tàn trăm hoa rụng
Rõ ràng đời trôi mãi
Đầu bạc tuổi đã già.
Đừng sợ mình quá vãng
Măng mọc thế tre tàn.

Văn dĩ tái đạo, văn dùng để chuyên chở ý nghĩa, văn hay quá mà người đọc không hiểu cũng như không có văn.

Về triết lý thâm sâu, anh em nào có nghiên cứu tử vi hoặc phong thuỷ hoặc khoa học huyền bí đông phương sẽ nhớ đến vòng sao Trường Sinh diễn tả sự tuần hoàn trong đời người. Có tất cả 12 sao mỗi sao an một cung gồm: Trường Sinh, Mộc Dục , Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Tháng Giêng đóng tại cung Dần. Cung Dần Mão thuộc Mộc. Hoa lá cành bắt đầu xum xuê vào tháng giêng, nhưng Trường Sinh của Mộc an tại cung Hợi, cung Hợi thuộc tháng mười âm lịch, tức là mầm mống của mùa xuân bắt đầu từ giữa mùa đông.
Xuân tàn của đời người là một mùa đông. Khi một thế hệ già nua chưa đi vào dĩ vãng thì một tương lai khác đã bắt đầu.

Lại nữa có câu
Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt.
Hướng dương thảo mộc tảo phùng xuân
Nghĩa là:
Nhà cửa xây bên bờ sông bờ hồ bờ biển trước tiên người ở ngắm đuợc vầng trăng không bị che khuất.
Trên cùng một thân cây, sau mùa đông trơ lá nhánh nào gie về phía mặt trời mọc, nhánh đó phía đó sẽ đâm chồi trước. Sự thăng tiến phải tuỳ thuộc vào môi trường và cơ hội.

Cành Mai đã ra duy nhất một cái bông mà đại thiền sư Mẫn Giác báo cho mọi người biết chuyện xảy ra đêm qua là cành quay mặt về huớng đông

Nguyễn Thanh Nhàn
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 5 2006, 09:41 PM
Gửi vào: #8


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Kính huynh Thanh Nhàn,

Huynh cứ xem Hoahạ là hai vợ chồng, khi mà con gái đã lấy chồng rồi thì mang họ chồng, còn như đàn ông muốn mang họ vợ thì phải "nhập tụ" . Vậy huynh hiểu Hoa Hạ là gái là đúng 50% vì hiện Hoa Hạ mang họ chồng. Muội thấy tên Hạ Hỏa do huynh nghĩ dùm cho tiểu muội ,muội rất tâm đắc,có điều muội xin phép huynh cho phép muội đổi lại là Hoa Hè lữa! nghe cũng rất nóng hổi ! còn hạ hỏa thì muội đã tro tàn, củi lạnh từ lâu rồi, bi giờ vợ chồng muội sống với nhau như thế càng thấm thiết hơn và càng yêu quý nhau hơn, nếu lở mà ông xã muội hui nhị tỳ trước , chắc HH buồn rầu héo hon mà đi theo ổng không biết chừng, như vậy khi huynh đọc thơ của muội làm, mà huynh nghĩ là của mông sừ Hoa hạ thì cũng không sao cả , vì muội với ổng tuy hai mà một . Nhờ huynh hôm nay muội thỏa chí với tên Hoa Hè Lữa, để biết mình cũng còn có chút hơi ấm với cuộc đời nhộn nhịp này ! .

Còn bài kệ của Thiền sư Mãn Giác là bài Kệ tuyệt chúng, dạy cho chúng xuất gia và cả chúng tại gia . Nó cao thâm uyên bác, đối với kẽ trí ngu như muội thì cãm thấy hay một cách khác , cũng thấm vào lòng như được mưa rào , nhưng vì muội là cỏ lá nên thấm nhuần được chút xíu, tuy mưa rào thì cổ thụ hay cỏ lá gì cũng đều thắm như nhau, nhưng cổ thụ thì thấm theo cổ thụ , còn cỏ lá thì thấm theo cỏ lá không thể nào lấy trí phàm phu của HH mà dịch nổi Kệ của Thiền Sư MG cho thoát nghĩa được ! . Tiểu muội đọc bài kệ của TSMG thích quá, đâm ngông cuồng, nên phỏng dịch theo ý mình , như vậy xem như là bài kệ này là của mình, nghĩa là nói lên tính khí tầm thường của mình thôi . Bài Kệ của Đại Sư như Tùng bách ,còn sự phỏng dịch của Tiểu muội như cỏ lá núp dưới bóng mát của Tùng Bách mà được hưởng sự thanh thoát giữa buổi trưa hè rực lữa !
Nhờ sự giải thích của huynh Thanh Nhan muội đã sáng tỏ thêm, xin mạo muội sữa lại bài kê phỏng dịch của muội như sau :

Xuân đi trăm hoa rãi
Xuân đến trăm hoa khai
Cuộc đời trôi đi mãi
Đầu già tóc bạc phai
Đừng nghĩ xuân tàn hoa rụng thải
Tiền đình đêm trước điễm cành mai

Theo ngu ý của muội mùa xuân đến thì trăm hoa đua nở, Hết mùa xuân thì hoa mai hoa đào lần héo rụng, cũng như vậy cuộc đời cứ trôi, người thì theo năm tháng mà lão, bệnh, chết, nhưng mà đừng tưởng rằng xuân tàn thì hoa rụng hết, hãy xem kìa, đêm qua ở tiền đình còn có một cành mai, ngụ ý chưa chắc thời gian đi rồi sẽ mất hết như định luật thành, trụ, dị, diệt, mà hạ thủ công phu tu tập thì sẽ thấy hoa chân tâm nở vượt cả thời gian và không gian! Thời gian cứ trôi, đời người cứ theo định luật thành, trụ, hoại, không mà duyên hợp huyễn có, còn tâm đạo thì mãi tồn tại với hư không và năm tháng


Một lần nữa muội cám ơn huynh đã giải thích cho muội hiểu thêm sự thâm sâu truyệt tác của bài Kệ ! và muội cũng rất đồng ý với huynh là học đạo bằng tâm thành, chứ không bằng chử nghĩa đối đãi, nên muội cũng rất thích câu chuyện của Ngài Triệu Châu hỏi Ngài Nam Tuyền :

Hỏi:Thế nào là đạo?
Đáp:Tâm bình thường là đạo.

Khi Tổ Huệ năng được truyền y bát là vì Tổ chỉ có ĐẠO đi vào tâm, còn 498 vị kia và Ngài Thần Tú thì đã có Phật Pháp vào tâm , nên Tổ Huệ Năng mới được truyền Y Bát, và đó là đời cuối cùng Chư Tổ truyền y bát ! về sau thì hình như chỉ truyền tâm ấn không còn truyền Y Bát nữa . Đây là sơ lược sáu vị tổ của Thiền tông Trung hoa do Đại sư Hám Sơn Tán Thán:

TÔN GIẢ BỒ ÐỀ ÐẠT MA
(Bodhidharma)

Sư tâm thậm cấp
Kỳ lai thái Tảo
Nhất ngữ bất đầu
Thử tâm bất liễu
Lãnh tọa Thiếu Lâm
Hạnh đắc Thần Quang
nhất tí đọa lạc
Kỳ đạo đaị xương

Tâm sư thật gấp
Đến đây quá sớm
Một lời chẳng hợp
Tâm này chẳng xong (rõ)
Ngồi lạnh Thiếu Lâm
May được Thần Quang
Một tay rơi rụng
Ðạo này thịnh hưng.

ÐẠI SƯ HUỆ KHẢ

Hàng hải đặc lai
Ða thiểu khổ tâm
Chấn Ðán quốc lý
Kỳ đắc nhất nhân
Mích bất khả đắc
Như thủy nhậm khí
Dĩ thử truyền gia
Thị vi đệ nhị.

Vượt thuyền riêng đến
Biết bao khổ tâm
Trong nước Trung Hoa
Chỉ được một người
Tìm không thể được
Như nước tùy bình
Lấy đây trao truyền
Đấy là đện nhị

ÐẠI SƯ TĂNG XÁN

Thông thân thị bịnh
Bất tri lai xứ
Hốt phùng y vương
Mãnh tỉnh kỳ cố
Tâm không cốt cương
Thả tiện hành cước
Ngộ hữu lực giả
Nhất đảm phó thác.

Suốt thân là bệnh
Chẳng biết từ đâu
Chợt gặp y vương
Tỉnh hẳn duyên cớ
tâm rổng xương cứng
Lại đi hành cước
Gặp người có sức
Một gánh giao cho

ÐẠI SƯ ÐẠO TÍN

Thiếu niên xuất gia
Lợi căn tiệp tật
Lục thập dư niên
Hiếp bất chí tịch
Học lữ vân trăn
Hà đãi tiểu nhi
Dĩ hữu túc ước
Quán giả bất tri.

Tuổi trẻ xuất gia
Lợi căn nhâm lẹ
Hơn sáu mươi năm
hông không dính chiếu
Người học tu tập
Đâu tiếp trẻ con
Vì có hẹn xưa
Người xem chẳng biết

ÐẠI SƯ HOẰNG NHẪN

Lai lịch bất minh
Xuất thân kháp hảo
Nhất kiện vi hoàn
Lưỡng gia đô liễu
Phá đầu sơn trung
Hoàng Mai lộ thượng
Vãng lai tự do
Cụ đại nhân tướng.

Lai lịch chẳng tỏ
Xuất thân đúng lúc
Một việc chưa xong
Hai nhà đều rõ
Trong núi phá Đầu
Trên đường Hoàng Mai
Đủ tướng đại nhân
Qua lại tự do

ÐẠI SƯ HUỆ NĂNG

Tiều phủ tài phao
Dĩ thạch trụy yêu
Linh căn cửu thực
Tùng thử trừu điều
Nguyên xuất Tào Khê
Hoành lưu đại địa
Trực chí vu kim
Vô xứ bất thị.

Búa Tiều vừa ném
Lấy đá cột eo
Linh căn trồng lâu
Từ đây nảy nhánh
Nguồn từ Tào Khê
Trôi khắp đại địa
Thẳng đến bây giờ
Không đâu chẳng phải

Khi được huynh giải thích thì tư nhiên muội sáng tỏ thêm và mới hiểu thêm chí hướng của bậc Trí giác là như lời ngài Tuyên Hóa đã dạy :

"Dù lạnh rét, không phan duyên"
"Dù đói chết không xin xỏ"
"Dù nghèo kiệt không cầu cạnh"
"Tùy thuận ngoại duyên, song không thay đổi chí hạnh"
"Không đổi chí hướng, nhưng vẫn tùy thuận ngoại duyên"
"Thế mới giữ vững ba đại tông chỉ:"
"Xả mình vì Phật sự,"
"Cứu người là bổn phận,"
"Sửa mình làm việc Tăng."
"Hễ gặp việc gì thấy lý việc ấy."
"Hiểu Đạo Lý gì, thực hiện lý ấỵ"
"Vậy mới truyền thừa mạch huyết Tổ Sự"
Cố Đại Lão Hòa Thượng Thượng Tuyên Hạ Hóa .


Một lần nữa thật cám ơn huynh, kính chúc huynh và gia đình an lạc như ý !

Hoa Hè Lữa tiểu muội

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Jul 8 2006, 03:51 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
nhuoctran
post Aug 14 2006, 01:38 AM
Gửi vào: #9


Member
**

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 29
Tham gia: 6-April 06
Thành viên thứ: 93



[QUOTE][quote=hoaha,Jul 5 2006, 02:41 PM]
Kính huynh Thanh Nhàn,

Huynh cứ xem Hoahạ là hai vợ chồng, khi mà con gái đã lấy chồng rồi thì mang họ chồng, còn như đàn ông muốn mang họ vợ thì phải "nhập tụ" . Vậy huynh hiểu Hoa Hạ là gái là đúng 50% vì hiện Hoa Hạ mang họ chồng. Muội thấy tên Hạ Hỏa do huynh nghĩ dùm cho tiểu muội ,muội rất tâm đắc,có điều muội xin phép huynh cho phép muội đổi lại là Hoa Hè lữa! nghe cũng rất nóng hổi ! còn hạ hỏa thì muội đã tro tàn, củi lạnh từ lâu rồi, bi giờ vợ chồng muội sống với nhau như thế càng thấm thiết hơn và càng yêu quý nhau hơn, nếu lở mà ông xã muội hui nhị tỳ trước , chắc HH buồn rầu héo hon mà đi theo ổng không biết chừng, như vậy khi huynh đọc thơ của muội làm, mà huynh nghĩ là của mông sừ Hoa hạ thì cũng không sao cả , vì muội với ổng tuy hai mà một . Nhờ huynh hôm nay muội thỏa chí với tên Hoa Hè Lữa, để biết mình cũng còn có chút hơi ấm với cuộc đời nhộn nhịp này ! .

Còn bài kệ của Thiền sư Mãn Giác là bài Kệ tuyệt chúng, dạy cho chúng xuất gia và cả chúng tại gia . Nó cao thâm uyên bác, đối với kẽ trí ngu như muội thì cãm thấy hay một cách khác , cũng thấm vào lòng như được mưa rào , nhưng vì muội là cỏ lá nên thấm nhuần được chút xíu, tuy mưa rào thì cổ thụ hay cỏ lá gì cũng đều thắm như nhau, nhưng cổ thụ thì thấm theo cổ thụ , còn cỏ lá thì thấm theo cỏ lá không thể nào lấy trí phàm phu của HH mà dịch nổi Kệ của Thiền Sư MG cho thoát nghĩa được ! . Tiểu muội đọc bài kệ của TSMG thích quá, đâm ngông cuồng, nên phỏng dịch theo ý mình , như vậy xem như là bài kệ này là của mình, nghĩa là nói lên tính khí tầm thường của mình thôi . Bài Kệ của Đại Sư như Tùng bách ,còn sự phỏng dịch của Tiểu muội như cỏ lá núp dưới bóng mát của Tùng Bách mà được hưởng sự thanh thoát giữa buổi trưa hè rực lữa !
Nhờ sự giải thích của huynh Thanh Nhan muội đã sáng tỏ thêm, xin mạo muội sữa lại bài kê phỏng dịch của muội như sau :

Xuân đi trăm hoa rãi
Xuân đến trăm hoa khai
Cuộc đời trôi đi mãi
Đầu già tóc bạc phai
Đừng nghĩ xuân tàn hoa rụng thải
Tiền đình đêm trước điễm cành mai

Theo ngu ý của muội mùa xuân đến thì trăm hoa đua nở, Hết mùa xuân thì hoa mai hoa đào lần héo rụng, cũng như vậy cuộc đời cứ trôi, người thì theo năm tháng mà lão, bệnh, chết, nhưng mà đừng tưởng rằng xuân tàn thì hoa rụng hết, hãy xem kìa, đêm qua ở tiền đình còn có một cành mai, ngụ ý chưa chắc thời gian đi rồi sẽ mất hết như định luật thành, trụ, dị, diệt, mà hạ thủ công phu tu tập thì sẽ thấy hoa chân tâm nở vượt cả thời gian và không gian! Thời gian cứ trôi, đời người cứ theo định luật thành, trụ, hoại, không mà duyên hợp huyễn có, còn tâm đạo thì mãi tồn tại với hư không và năm tháng
Một lần nữa muội cám ơn huynh đã giải thích cho muội hiểu thêm sự thâm sâu truyệt tác của bài Kệ ! và muội cũng rất đồng ý với huynh là học đạo bằng tâm thành, chứ không bằng chử nghĩa đối đãi, nên muội cũng rất thích câu chuyện của Ngài Triệu Châu hỏi Ngài Nam Tuyền :

Hỏi:Thế nào là đạo?
Đáp:Tâm bình thường là đạo.

Khi Tổ Huệ năng được truyền y bát là vì Tổ chỉ có ĐẠO đi vào tâm, còn 498 vị kia và Ngài Thần Tú thì đã có Phật Pháp vào tâm , nên Tổ Huệ Năng mới được truyền Y Bát, và đó là đời cuối cùng Chư Tổ truyền y bát ! về sau thì hình như chỉ truyền tâm ấn không còn truyền Y Bát nữa . Đây là sơ lược sáu vị tổ của Thiền tông Trung hoa do Đại sư Hám Sơn Tán Thán:

TÔN GIẢ BỒ ÐỀ ÐẠT MA
(Bodhidharma)

Sư tâm thậm cấp
Kỳ lai thái Tảo
Nhất ngữ bất đầu
Thử tâm bất liễu
Lãnh tọa Thiếu Lâm
Hạnh đắc Thần Quang
nhất tí đọa lạc
Kỳ đạo đaị xương

Tâm sư thật gấp
Đến đây quá sớm
Một lời chẳng hợp
Tâm này chẳng xong (rõ)
Ngồi lạnh Thiếu Lâm
May được Thần Quang
Một tay rơi rụng
Ðạo này thịnh hưng.

ÐẠI SƯ HUỆ KHẢ

Hàng hải đặc lai
Ða thiểu khổ tâm
Chấn Ðán quốc lý
Kỳ đắc nhất nhân
Mích bất khả đắc
Như thủy nhậm khí
Dĩ thử truyền gia
Thị vi đệ nhị.

Vượt thuyền riêng đến
Biết bao khổ tâm
Trong nước Trung Hoa
Chỉ được một người
Tìm không thể được
Như nước tùy bình
Lấy đây trao truyền
Đấy là đện nhị

ÐẠI SƯ TĂNG XÁN

Thông thân thị bịnh
Bất tri lai xứ
Hốt phùng y vương
Mãnh tỉnh kỳ cố
Tâm không cốt cương
Thả tiện hành cước
Ngộ hữu lực giả
Nhất đảm phó thác.

Suốt thân là bệnh
Chẳng biết từ đâu
Chợt gặp y vương
Tỉnh hẳn duyên cớ
tâm rổng xương cứng
Lại đi hành cước
Gặp người có sức
Một gánh giao cho

ÐẠI SƯ ÐẠO TÍN

Thiếu niên xuất gia
Lợi căn tiệp tật
Lục thập dư niên
Hiếp bất chí tịch
Học lữ vân trăn
Hà đãi tiểu nhi
Dĩ hữu túc ước
Quán giả bất tri.

Tuổi trẻ xuất gia
Lợi căn nhâm lẹ
Hơn sáu mươi năm
hông không dính chiếu
Người học tu tập
Đâu tiếp trẻ con
Vì có hẹn xưa
Người xem chẳng biết

ÐẠI SƯ HOẰNG NHẪN

Lai lịch bất minh
Xuất thân kháp hảo
Nhất kiện vi hoàn
Lưỡng gia đô liễu
Phá đầu sơn trung
Hoàng Mai lộ thượng
Vãng lai tự do
Cụ đại nhân tướng.

Lai lịch chẳng tỏ
Xuất thân đúng lúc
Một việc chưa xong
Hai nhà đều rõ
Trong núi phá Đầu
Trên đường Hoàng Mai
Đủ tướng đại nhân
Qua lại tự do

ÐẠI SƯ HUỆ NĂNG

Tiều phủ tài phao
Dĩ thạch trụy yêu
Linh căn cửu thực
Tùng thử trừu điều
Nguyên xuất Tào Khê
Hoành lưu đại địa
Trực chí vu kim
Vô xứ bất thị.

Búa Tiều vừa ném
Lấy đá cột eo
Linh căn trồng lâu
Từ đây nảy nhánh
Nguồn từ Tào Khê
Trôi khắp đại địa
Thẳng đến bây giờ
Không đâu chẳng phải

Khi được huynh giải thích thì tư nhiên muội sáng tỏ thêm và mới hiểu thêm chí hướng của bậc Trí giác là như lời ngài Tuyên Hóa đã dạy :

"Dù lạnh rét, không phan duyên"
"Dù đói chết không xin xỏ"
"Dù nghèo kiệt không cầu cạnh"
"Tùy thuận ngoại duyên, song không thay đổi chí hạnh"
"Không đổi chí hướng, nhưng vẫn tùy thuận ngoại duyên"
"Thế mới giữ vững ba đại tông chỉ:"
"Xả mình vì Phật sự,"
"Cứu người là bổn phận,"
"Sửa mình làm việc Tăng."
"Hễ gặp việc gì thấy lý việc ấy."
"Hiểu Đạo Lý gì, thực hiện lý ấỵ"
"Vậy mới truyền thừa mạch huyết Tổ Sự"
Cố Đại Lão Hòa Thượng Thượng Tuyên Hạ Hóa .


Một lần nữa thật cám ơn huynh, kính chúc huynh và gia đình an lạc như ý !

Hoa Hè Lữa tiểu muội
*

[/quote]


Kính anh Nhàn và Hoa hạ,
Mãi đến hôm nay mới mở được Cáo Tật Thị Chúng, về ý và lời thì mình không còn có gì để nói vì đã quá xúc tích đầy đủ, nhưng mình cũng đưa ra những ý kiến ý mối cho vui, mong rằngkhông ai nghĩ mình vạch lá tìm sâu nha.
Anh Nhàn dùng thành ngữ" tòng sư sát sư, tòng Phật sát Phật" tôi nghĩ chữ "phùng" thì đúng hơn, phùng có nghĩa là gặp như "Tửu phùng tri kỹ thiên bôi thiểu" ( cái này hỏi mấy ông nhậu thì rõ).
Còn câu "Xuân tàm đáo tủ ti phương tận.
Bạch lạp thành hôi lệ thủy can".
nguyê văn hình như là "Lạp chúc thành hôi lệ thuỷ can"
" chúc" đây có nghĩa là đuốc như "hoa chúc" (đuốc hoa).
"Đừng tưỡng xuân tàn hoa rụng hết.
Đêm qua sân trước một cành mai."
Theo nhiều người giải thích cuối mùa xuân hoa đều rụng hết, nhưng đêm qua còn một cành mai mới nở, tôi không nghĩ là còn tới một cành hoa mới nở, vì một cành thì có nhiều bông không làm cho người ta ngạc nhiên bằng chỉ còn võn vẹn có một cái bông hay một cánh hoa, tất cả hoa rụng hết đêm qua chỉ còn mỗi một cái còn laị, có thể cánh hoa nầy không phải mới nở đêm qua ( mà trước đó) mà vì lý do gì đó nó còn sót lại trên cành mới là một cánh hoa đặc biệt khiến người ta chú ý.
Cuối mùa thì tất cả hoa đều đã mãn khai để sẳn sàng rơi xuống có lý đâu còn một cái nụ để đêm qua mới nở.
Vài ý kiến tào lao góp vui với qúy bạn. Chúc tất cả thân tâm thường lạc. Thân kính. Nhược Trần.


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Aug 14 2006, 02:37 PM
Gửi vào: #10


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 530
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Thưa Nhược Trần,

Xuân tàn thì hoa rụng, đó là lẽ tuần hoàn của trời đất, vậy mà Thiền Sư Mãn giác lại bảo :

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Cũng như mấy người vượt biên , khi gặp sóng to gió lớn tàu sắp chìm, thì nghĩ chắc là phải nạp thân mạng cho Hà Bá, nhưng trong phút tuyệt vọng này, mọi người đều đồng thanh niệm : "Nam Mô Quán Thế âm Bồ Tát" và ...?!

Cám ơn Nhược Trần đã góp ý, nhưng có những điều vượt khỏi tầm hiểu biết thường tình của chúng ta ! .Theo ngu ý của HM, có cãm đương nhiên có ứng ! còn giải thích tại sao lại có những hiện tượng khác thường, thì HM xin chịu phép, không thể nào giải thích được !

Chúc Nhược Trần thân tâm thường an lạc và nhớ gọi phone cho chị Hoa Hạ, khi rảnh rổi nhé ! biggrin.gif
Hương Mỹ




User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 1 2010, 08:20 PM
Gửi vào: #11


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



''Hãy Cố Yêu Người Mà Sống

Lâu Dần Đời Mình Cũng Qua ...''




Phim 2012 qua cái nhìn của người học Phật

Bộ phim 2012, hay có thể hiểu là Đại họa năm 2012, do Roland Emmerich đạo diễn, Công ty Sản xuất và Phát hành phim Columbia Pictures phát hành và bắt đầu trình chiếu ở nhiều nước trên thế giới từ ngày 11-11-2009. Đây là một bộ phim rất được nhiều người quan tâm với nhiều lời bình luận khác nhau, có cả tích cực lẫn tiêu cực. Mặc dù mới phát hành gần đây, nhưng bộ phim đã đem lại doanh thu rất lớn cho nhà sản xuất.

Phim diễn tả sự hủy diệt của trái đất do những thảm họa động đất và sóng thần gây nên. Bộ phim này lấy nguồn cảm hứng từ tác phẩm Những dấu vân tay của Thượng đế (Fingerprints of the Gods) của tác giả Graham Hancock. Và nó còn căn cứ vào lịch của người Mayan, theo lời dự đoán trong lịch này thì thế giới sẽ bị hủy diệt hoàn toàn vào ngày 21-12-2012.

Theo như những tình tiết trong phim 2012,nguyên nhân dẫn đến ngày tận thế của trái đất là sự tập hợp thành hàng của những thiên thể trong hệ mặt trời, điều này tạo nên những tia bức xạ ngắn trong ánh nắng của mặt trời và nó khiến cho trung tâm điểm của trái đất bị hỗn loạn, dẫn đến hàng loạt các trận động đất kinh hoàng diễn ra ở khắp nơi. Kéo theo đó là nhiệt độ của trái đất tăng lên đột ngột khiến băng ở hai cực tan nhanh, rồi sóng thần, lũ lụt diễn ra trên khắp địa cầu. Trước sức tàn phá kinh hoàng của những thiên tai, toàn bộ thế giới bị hủy diệt, những công trình đồ sộ, những tòa nhà kiên cố, ngay cả tượng Nữ thần Tự do, một biểu tượng của nước Mỹ cũng bị sụp đổ, và thậm chí ngay cả những đỉnh núi cao của dãy núi Hymalaya, mái nhà của thế giới, cũng bị nhận chìm trong dòng nước cuồn cuộn của những cơn sóng thần kinh hoàng. Qua đó, chúng ta có thể cảm nhận một cách sâu sắc về sự vô thường của cuộc sống. Tất cả mọi sự vật hiện tượng trong thế giới này có sinh ra thì sẽ có lúc bị mất đi, bị tàn hoại, dù cho những thứ đó có kiên cố đến mức nào, dù người ta có yêu quý và tự hào về nó đến đâu đi nữa cũng không thể nào nắm giữ, bảo tồn mãi mãi. Ngay cả mạng sống của mình còn chưa giữ được thì nói gì đến việc bảo vệ những vật bên ngoài thân. Vô thường là định luật chung của kiếp sống. Chính vô thường mà mọi sự vật hiện tượng hình thành và phát triển để rồi đi đến giai đoạn tàn hoại. Chúng ta không thể nào thay đổi được định luật này. Điều duy nhất chúng ta có thể làm là tìm cách kéo dài khoảng thời gian tồn tại và phát triển của các sự vật, hiện tượng.

Những tác nhân chính dẫn đến sự tàn hoại của môi trường tự nhiên và suy nhược sức khỏe ở con người là do sự khai thác, phá hủy thế giới tự nhiên của con người; do khí thải công nghiệp, chất thải y học của loài người vượt quá sức chịu đựng của trái đất; do sự giết hại các loài động vật dẫn đến sự mất cân bằng trong hệ sinh thái, khiến những trận thiên tai kinh hoàng xảy ra. Ở đây, bộ phim 2012 đã đóng vai trò như là một tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người trong vấn đề bảo vệ môi sinh, môi trường, bảo vệ thiên nhiên. Chúng ta cần phải dừng lại việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách vô tội vạ, chấm dứt nạn phá rừng, hạn chế việc giết hại sinh vật, xử lý các chất thải, khí thải một cách hợp lý để giữ cho hệ sinh thái ở mức cân bằng. Nếu không thì chính chúng ta rút ngắn vòng đời của chúng ta, chính chúng ta bức tử trái đất, khai tử thế giới loài người.

Khi được các nhà khoa học dự báo ngày đại họa sẽ xảy đến cho trái đất, những nhà cầm quyền đã bắt đầu một cuộc chay đua với thời gian. Họ đã lập kế hoạch kiến tạo những con tàu đặc biệt để làm phương tiện di tản cho nhiều người thoát qua nạn đại hồng thủy, họ gọi những chiếc tàu đặc biệt này là Ark. Từ “Ark” này được lấy từ sự tích ông Noah đã dùng chiếc thuyền Ark để gia đình ông và các loài vật khác đi tránh nạn đại hồng thủy trong kinh Cựu ước. Theo như trong phim, người ta tạo ra những con tàu đặc biệt này để những nhà lãnh đạo, những nhà khoa học hàng đầu và những người đặc biệt có thể lên những con tàu đặc biệt ấy để di tản. Vì sự kiện này mà nhiều nhà khoa học đã bị ám sát trước khi đại họa xảy ra vì họ tìm cách thông báo cho công chúng biết về đại họa và tiết lộ bí mật về kế hoạch kiến tạo và địa điểm của những con tàu. Ở đây, chúng ta nhận thấy một điều hết sức quan trọng, đó là trong nghịch cảnh, trong những lúc nguy kịch nhất mới thấy rõ lòng người. Những lúc nguy kịch ấy, những điều xấu xa nhất cũng như những điều tốt đẹp, cao cả nhất của con người mới thể hiện rõ, đó là thời điểm trọng đại để người ta thể hiện lòng vị tha quảng đại hay là sự ích kỷ to tướng của mình.

Chính trong thời điểm quyết định sự sống còn của bản thân, nhiều người đã bỏ mặc sự sống chết của người khác, giẫm lên trên sinh mạng của người khác để giành lấy cơ may sống sót cho riêng mình. Trong khi đó cũng có không ít người đã cứu giúp người khác với tất cả khả năng của mình cho đến giây phút cuối cùng, thậm chí họ đã không màng đến sự sống chết của bản thân. Điển hình cho lòng vị tha, hy sinh quảng đại này là Tổng thống Wilson, người đã quyết định ở Thủ đô Washington D.C. để thông báo cho mọi người biết những thiên tai kinh hoàng sắp xảy ra và cũng là để chia sẻ nỗi đau thương, mất mát với mọi người trong khi người con gái và những quan chức thân cận của ông nài nỉ ông lên đường đi đến những con tàu đặc biệt để di tản, và cuối cùng ông đã bị chết trong cơn sóng thần ghê rợn. Bên cạnh đó còn có Jackson Curtis, người đã bất chấp mọi nguy hiểm để đưa người vợ cũ và hai con của mình đi di tản. Và cũng chính Jackson đã bất chấp cả tính mạng, lặn xuống khoang tàu, gỡ những vật vướng kẹt ở các bánh răng để có thể đóng kín cửa con tàu lại, cứu mạng cho tất cả mọi người ở trên tàu. Vì nếu Jackson không làm điều đó thì con tàu không chạy được, nó sẽ bị chìm, tất cả mọi người và cả Jackson đều phải chết.

Chúng ta hãy nghĩ xem, vì mục đích gì mà chúng ta muốn tiếp tục duy trì sự sống của nhân loại? Và nếu chúng ta đánh mất nhân phẩm, đánh mất thiện tâm của mình, thờ ơ trước sự đau khổ, chết chóc của người khác thì chúng ta sống có ý nghĩa gì nữa không? Để làm một con người văn minh, để xứng đáng là một con người thì chúng ta phải có lòng nhân đạo, và đối xử với nhau một cách văn minh, đầy tình người. Điều này đã được Adrian Helmsley, một nhà địa chất học và là người quan trọng trong nội các của chính phủ Mỹ, nhấn mạnh rằng: “Ngay khi chúng ta không còn tranh đấu cho lợi ích của người khác, thì lúc đó chúng ta đã đánh mất đi nhân phẩm của mình”. Và ngay tại thời điểm quan trọng nhất, quyết định đến sự sống còn của số đông, đó là lúc đưa ra quyết định có nên mở cửa những con tàu Ark để cho rất nhiều người đang đứng trên bờ có thể lên tàu hay không, thì hầu hết mọi người nắm quyền lãnh đạo ở trên tàu đã tán đồng quyết định mở cửa tàu. Điều này muốn nói lên rằng, điều quý nhất ở con người đó là lòng nhân đạo, là tình người, chính điều này đã nâng con người lên một tầm cao mới, khác biệt với các loài động vật, nếu con người còn tồn tại mà mất hết nhân tính thì cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Sự xuất hiện hình bóng những vị Tăng sĩ người Tây Tạng ở trong phim cũng đã làm cho bộ phim thêm phần sâu sắc và giá trị. Trong đó, vị Rinpoche uyên bác đã nhắc lại lời dạy cốt tủy của bản kinh Kalamas với người đệ tử tên Nima khi vị đệ tử này nói lên sự hoài nghi về sự im lặng ghê rợm của núi rừng vào thời điểm đó: “Đừng tin vào bất cứ một điều gì, đơn giản chỉ vì con đã nghe người ta nói”. Và vị Rinpoche này đã lặp lại sự tích cổ trong nhà thiền, ngài đã rót cho Nima một ly trà cho đến khi nó tràn ra ngoài, và nói với Rima rằng: “Giống như ly trà này, tâm con đã đầy những định kiến, và phán xét. Muốn thấy được ánh sáng trí tuệ, thì trước tiên con phải làm cho ly nước của con trống rỗng đã”. Vâng, chúng ta không nên vội tin những lời đồn đại, bởi vì có nhiều thông tin bịa đặt, không xác thực, và bị phóng đại rất nhiều. Chúng ta nên học cách kiểm chứng các nguồn thông tin. Điều này sẽ giúp ta tránh được sự lo sợ, hoang mang không đáng có. Và chúng ta nên gạt bỏ những ý kiến chủ quan, những định kiến của mình, cởi mở lòng mình để học hỏi và tiếp thu ý kiến của người khác. Một điều đáng chú ý nữa là câu trả lời của Rima khi người gác cổng bến cảng yêu cầu anh ta không được dẫn theo những người khách lạ: “Tôi là đệ tử của một vị Rinpoche vĩ đại, tôi không thể làm điều đó. Tất cả chúng ta đều là con dân của bà mẹ trái đất”. Quả đúng như vậy, tất cả chúng ta là con dân của trái đất này, chúng ta phải biết bảo vệ và đùm bọc lẫn nhau, phải đối xử thân thiện với nhau. Chúng ta là anh em của nhau. Và biết đâu trong vòng luân hồi sanh tử, chúng ta đã từng là cha mẹ, anh em, bà con ruột thịt của nhau. Có ai nhẫn tâm bỏ mặc sự sống chết của người thân, của cha mẹ mình?

Hình ảnh một vị lão Tăng người Tây Tạng, ngài Rinpoche, sống trong một ngôi chùa hẻo lánh trên đỉnh Hymalaya ngồi tĩnh tại uống trà, trong khi mọi người đang chạy loạn, nước đang dâng lên cuồn cuộn, và khi nước ngập đến đỉnh Hymalaya, chuẩn bị nhận chìm ngôi chùa của mình, vị lão Tăng này đã đi đến bên Đại hồng chung, đánh lên những tiếng chuông hùng hồn và chốc lát sau thì tất cả đều chìm trong biển nước. Sức mạnh tâm linh, hay sự định tĩnh của những người tu hành đã thể hiện một cách ấn tượng. Dù phải đối diện với sự thật phũ phàng thế nào đi nữa, tâm họ vẫn luôn bình tĩnh, minh mẫn. Dù cái chết cận kề, họ vẫn không âu lo, vì họ hiểu sâu sắc định luật vô thường của kiếp sống. Và với họ, sự chết không có gì đáng sợ, bởi họ không luyến tiếc bất cứ thứ gì ở đời nữa. Chính vì thế mà trong những giây cuối cùng của sự sống, ngài Rinpoche đã đủ định tĩnh đánh lên những tiếng chuông Đại hùng, để cảnh tỉnh nhân sinh và đánh thức nhân tâm.

Và trong đoạn cuối của bộ phim, tác giả một lần nữa đề cao tính nhân văn, tình thương yêu của con người, mà cụ thể ở đây là tình cảm gia đình, tình thương yêu của cha mẹ và con cái, khi người con gái của Jackson hỏi lúc nào thì họ về nhà, Jackson đã đáp lại rằng: “Chúng ta sẽ tìm một nơi nào đó để sống, ở đâu mà các thành viên trong gia đình được sống bên nhau, thương yêu nhau thì đấy chính là quê nhà”. Tình thương yêu chính là mái ấm che chở và nuôi lớn con người. Thiếu tình thương yêu thì con người bị cô đơn, lạc lõng.

Một điểm không kém phần quan trọng trong phim 2012 là câu kết của nó trong video clip quảng cáo cho bộ phim: “Sự kết thúc là một sự khởi đầu” (The end is just the beginning). Quả vậy, tất cả mọi sự vật hiện tượng đều vận động và biến đổi, chúng không hoàn toàn triệt tiêu mà chỉ là sự chuyển biến. Sự kết thúc của cái này sẽ tạo nên sự khởi đầu cho một cái kia. Đây cũng chính là ý nghĩa về sự tái sinh mà đạo Phật thường nhắc đến. Tất cả mọi thứ, dù hữu hình hay vô hình, có tâm thức hay không có tâm thức đều luôn vận động và biến đổi. Điều này không có gì huyền bí, siêu hình cả. Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng cũng cho thấy: “Năng lượng không mất đi và cũng không tự sinh ra, nó chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác”. Trong phim 2012, khi những người di tản, thoát được nạn đại hồng hủy, họ đã bắt đầu một cuộc sống mới, và lịch sử lại bắt đầu tính từ năm thứ nhất.

Về ngày tận thế, trong Phật giáo không có những lời dự đoán nào, ngoài việc Đức Phật luôn nhấn mạnh rằng mọi vật đều vô thường, trái đất của chúng ta cũng không ngoại lệ; tuy vậy, chúng ta không nghĩ thế giới sẽ bị hủy diệt vào đúng ngày 21-12 -2012 như trong phim diễn tả.

Sự sống rất mong manh. Chúng ta có thể chết bất cứ lúc nào chứ không nhất thiết là đến năm 2012. Một khi chúng ta ý thức rõ sự vô thường của cuộc sống thì chúng ta sẽ biết quý trọng từng phút giây của sự sống và sử dụng chúng hữu hiệu hơn. Có lẽ đây cũng là thông điệp chính mà phim 2012 muốn gởi đến tất cả khán giả

Quảng Trí


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 1 2010, 08:26 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 11 2010, 03:02 AM
Gửi vào: #12


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chẳng có ai tin

Thị giả của Phật Tổ Thích Ca là Ngài A-Nan được lệnh xuống trần xem thời mạt pháp như thế nào . Chẳng bao lâu, Ngài đã trở về trình bạch:

- Bạch Đức Thế Tôn! Hình như sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, ở dưới trần còn có nhiều Phật khác xuất hiện.

- A-nan, sao con lại nói vậy ?

- Bạch Thế Tôn! Thứ nhất là có nhiều hình tượng Phật diện mạo khác nhau, dĩ nhiên là khác xa Thế Tôn, được thờ cúng khắp nơi . Hai là có nhiều kinh điển, pháp môn đều nhận là giáo lý của Thế Tôn nhưng khác xa giáo pháp mà con đã được nghe và thuộc nằm lòng do chính Thế Tôn thuyết giảng. Ba là có nhiều tông phái khác nhau tự xưng là truyền thừa chính thống từ Thế Tôn, nhưng hoàn toàn mâu thuẫn với nhau .... Chính vì vậy, con chắc rằng có nhiều Phật đã xuống trần sau khi Thế Tôn nhập diệt.

- A-nan, chớ có nói vậy . Sau Như Lai, chỉ có Phật Di-Lặc mà thôi .Nhưng Bồ Tát Di-Lặc chưa đến thời giáng thế . Vậy nếu có ai xưng Phật, chắc chắn là Phật giả . Con mau xuống trần đính chính kẻo chúng sinh lầm lạc.

- Bạch Thế Tôn! Con không thể đi được, vì từ lâu họ đã gán cho con là tiểu thừa rồi, chẳng còn ai tin con nữa!

- Thôi A-Nan, thời mạt pháp nghiệp dĩ như vậy thì cứ là như vậy .

LỜI GÓP Ý:

Giáo Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni được chính Ngài tiên tri là trải qua ba thời kỳ trước khi hoại diệt. Thời kỳ đầu là thời kỳ chánh pháp (Khoảng 500 năm), sau đó đến thời kỳ Tượng Pháp(khoảng 1,000 năm), và cuối cùng là thời Mạt pháp (cho đến khi hoại diệt).

Chánh pháp ví như thân gốc, Tưuợng pháp ví như những cành lớn và Mạt pháp ví như nhiều nhánh ngọn nhỏ của cây . Những cành lớn trông giống như thân gốc, nhưng không phải là thân gốc nên gọi là Tượng (tương tự). Nhánh ngọn chia phân sai biệt từ những cành lớn nên gọi là Mạt (ngọn).

Nhánh ngọn càng ngày càng chi ly làm cho cành lá xum xuê rồi đâm ra quên gốc, tưởng mình là quan trọng đệ nhất, nên không những khing chê nhánh ngọn khác mà còn khinh chê cả thân gốc vốn hằng ngày âm thâm cung cấp nhựa sống cho mình.

Những nghệ nhân chơi cây kiểng thường cắt bớt những nhánh ngọn dư thừa để bảo toàn gốc rễ . Nhà vườn cũng thường tỉa bớt những cành nho cành táo để nhựa tập trung đơm hoa kết trái .

Nhánh lá làm cho cây xum xuê, nhưng đồng thời cũng làm cho cây bị tổn hại . Vì vậy nếu nhánh lá biết rõ thân phận và sứ mạng của mình để bớt tự kiêu ngã mạn đi một tí thì tốt đẹp biết chừng nào .

Sư Viên Minh
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 15 2010, 09:49 PM
Gửi vào: #13


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Một vị sư - Một đóa sen


Mùa hè năm ấy có lẽ là một mùa hè nóng bức oi ả nhất của thập niên tám mươi tại miền Bắc. Trại giam Ba Sao, Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh như nằm yên dưới sức nóng như thiêu đốt, ngay cả về đêm cái nóng như vẫn còn âm ỉ, mọi thứ như tỏa ra hơi nóng – những bức tường, những sàn lót gạch hung hung đỏ, cái sân tráng xi măng trước mặt, ngay cả cái ván lót trên sàn nằm cũng toát ra hơi nóng. Những người tù nhân chính trị chế độ cũ như trong một lò ngục tối trên trần gian, ban ngày thì lao động khổ sai đổ mồ hôi không phải đổi lấy bát cơm mà đổi lấy ít thức ăn độn như khoai hay sắn hay bo bo mà vẫn không đủ no, ban đêm thì cố giỗ giấc ngủ trong cái nóng như nung như đốt ấy trong cái cả nh nằm xếp hai từng như cá đóng hộp trong buồng giam. Mồ hôi lại đổ ra cho đến khi mệt lả người đi thì giấc ngủ chập chờn mới đến.

Cái nóng kinh người đã kéo dài cả tháng nay và đồng ruộng đã nứt nẻ, các em bé chăn trâu mà Trung và các bạn gặp trên đường đi lao động cũng môi khô và chui vào các bụi cây trú nắng. Các giếng nước cũng từ từ khô cạn đưa đến nạn thiếu nước trầm trọng cho cả dân chúng những làng bên ngoài lẫn những người tù khốn khổ trong trại.

Buổi trưa hôm đó cũng như mọi ngày sau khi lao động về, ăn xong phần ăn trưa ít ỏi, các người tù cố nằm giỗ giấc ngủ ngắn để lấy sức lao động buổi chiều thì thấy một vị sư già đang ngồi ngoài sân nắng trong thế kiết già cả nửa tiếng đồng hồ và mặt ngước nhìn thẳng lên trời. Những khi hạn hán thì thầy vẫn cầu nguyện như thế và sau đó chiều tối hay trước nửa đêm thể nào mưa giông cũng kéo đến. Đêm nay cũng thế, Trung cố giỗ giấc ngủ để mà mai còn sức trả cái nợ lao động nhưng không làm sao nhắm mắt được, mồ hôi trên người cứ nhỏ từng giọt như làm cho sức khỏe của anh cạn dần đi theo đêm. Anh nhớ tới thằng bạn thân nằm bên cạnh nói với anh hồi chiều rằng chỉ ước ao ông Trời cho một trận mưa chứ đã tù cả chục năm rồi cũng chẳng mơ ước xa xôi gì ngày trở về nữa.

Thế rồi, như một phép lạ những làn gió mát từ đâu từ từ thổi đến, len lỏi vào những khung cửa sổ, luồng dưới những cánh cửa buồng giam và từ xa xa vài lằn chớp nhoáng lên bên trời. Chẳng bao lâu sau thì những giọt mưa, ôi những giọt mưa cam lồ của Trời ban xuống như thêm sức mạnh cho những người tù biệt xứ lưu đày. Các buồng giam không ai bảo ai đều thức dậy và tung mùng ra để được hít thở những giây phút mát rượi của làn gió lùa vào trại giam.

Vô tình Trung nhìn xuống nơi vị sư già giam cùng buồng với anh, thầy vẫn như còn đang ngồi thiền trong mùng, mặt quay vào tường trong thế kiết già. Trung chợt hiểu và các bạn anh cũng hiểu rằng chính nhờ thầy cầu nguyện mà đã có trận mưa đêm nay. Vị sư già đó chính là Trung Tá Quyền Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH – Thượng Tọa Thích Quang Long, một người tù xuất chúng đã làm cho kẻ thù phải cúi đầu kính nể. Giang sơn của thầy cũng là một tấm chiếu, hai bộ quần áo tù, và một cái chăn đỏ Trung Quốc như mọi người và nằm một dãy với các Đại Đức Tuyên Úy khác.

Anh nhớ đến thầy Khuê, một vị Tuyên Úy Phật Giáo và Tam Đẳng Huyền Đai Nhu Đạo võ đường Quang Trung, một vị Đại Đức mà anh rất mến thương và kính trọng, đã từng nói với anh rằng nếu nói về đạo Phật, về sự tu hành thì hãy lấy thầy Long mà làm gương; đừng vì một vài vị Tuyên Úy đã không nghiêm giữ được giới răn mà hiểu lầm về đạo Phật mà mất đi niềm tin.

Anh nhớ lại câu chuyện lúc mới bước chân vào trại giam Long Thành sau khi Sài Gòn sụp đổ và hầu như mọi người đều không biết bấu víu vào đâu, niềm tin vào các tôn giáo cũng bị lung lay thì một sự việc đã xảy ra làm mọi người đều kính trọng thầy, nhất là khi biết hai tòa đại sứ bạn đã đến đón thầy đi di tản trước đó nhưng thầy đã khẳng khái chối từ và thanh thản bước chân vào trại giam.

Trong thời gian mới bị giam giữ, một hôm thầy được gọi ra làm việc để gặp hai vị sư quốc doanh là Thượng Tọa Thích Minh Nguyệt và Thích Thiện Siêu. Hai vị này ra sức thuyết phục và chiêu dụ thầy để thầy ủng hộ phong trào “Phật giáo yêu nước”, và nói sẽ bảo lãnh cho thầy ra khỏi tù ngay để nhờ thầy góp công góp sức xây dựng phong trào Phật Giáo Yêu Nước này. Hai vị sư này chính là người mà Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã bắt giam trước năm 1975 vì hoạt động cho (Không dùng từ này). Thích Minh Nguyệt đã bị đày ra Côn Đảo, còn Thích Thiện Siêu thì thường được gọi là ông Từ Đàm vì tu ở chùa này ngoài Huế. Sau đó chính Thượng Tọa Thích Thanh Long là người đã đ� �ng ra bảo lãnh cho họ ra khỏi tù để ăn năn hối cải mà trở về lại con đường tu hành vì họ đã bị lộ hình tích. Không ngờ ông trời trớ trêu để có ngày họ lại đến trại Long Thành và đối đầu với thầy trong hoàn cảnh đặc biệt này của đất nước.

Thầy nhìn hai vị sư quốc doanh kia và từ tốn chậm rãi nhưng thật cương quyết thầy nói:
“Các ông đã dựng nên cái phong trào “Phật Giáo yêu nước” ấy thì các ông cứ tiếp tục công việc mà các ông đã làm, còn tôi là một Tuyên Úy trong quân đội và tôi sẽ theo chân các Phật tử trong các trại giam, họ đi đến đâu thì tôi cũng sẽ đi đến đấy với họ cho tới cùng. Thôi các ông về đi”.

Và sau đó thầy chấp nhận việc chuyển trại ra Bắc mở đầu cho một quãng đời biệt xứ lưu đày.

Những ai có may mắn gặp thầy trong trại giam thầy đều kính trọng vị sư già này, người mà lúc nào cũng như mỉm cười, hòa nhã, giản dị, khiêm tốn và giúp đỡ tất cả mọi tù nhân mỗi khi thầy có phương tiện.

Năm 1976, thầy cùng một số Tuyên Úy chuyển trại từ Nam ra Bắc và bị giam giữ tại trại 1 Sơn La hay còn gọi là trại Mường Thái là nơi mà trước kia Pháp đã từng giam giữ những tù nhân bị án lưu đày. Năm sau thì thầy có tên trong số những tù nhân di chuyển về trại Yên Hạ, trại giam này nằm dưới thung lũng và bao vây chung quanh bởi những dãy núi đá vôi, thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Trại Yên Hạ là nơi chuyên giam giữ những tử tội hình sự cướp của giết người mà đã được nhà nước “khoan hồng” tha cho tội chết.

Chỉ hơn một năm sau thì các tù nhân này dần dần kiệt sức vì lao động khổ sai, thiếu dinh dưỡng, thiếu ăn nhất là thiếu chất mỡ và đường, và vì khí độc từ dãy núi đá vôi phả vào từ chung quanh. Bởi thế chỉ sau một thời gian ngắn chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, ai nấy đều gầy như bộ xương còn biết đi. Khi đi lao động hay đi trở về trại, người ta chỉ thấy những bộ quần áo tù phấp phới bay mà chẳng thấy da thịt đâu. Thế rồi sau bốn năm trời giam cầm và lưu đày, một số những người tù lần đầu tiên được nhận một gói nhỏ tiếp tế cực kỳ quí giá từ gia đình trong Nam gửi ra, một số khác thì vẫn chưa nối lại được sợi dây với gia đình trong Nam. Trong gói nhỏ mà các Phật tử gởi cho thầy Long có 15 cục đường móng trâu, lúc đó ai mà c ó được 5 cục đường như thế thì đã là thần tiên rồi, nhưng thầy từ từ đem ra phân phát hết 15 cục đường quí giá đó cho những người cùng buồng. Ưu tiên những tù nhân nào mà đã kiệt lực thì được một cục, những người đau ốm khác thì mỗi người được nửa cục mà thôi, còn riêng thầy thì không có một miếng đường nào hết. Những người tù này khi nhận được cục đường từ tay thầy phân phát đã không cầm được nước mắt trước tấm lòng vị tha, quảng đại vô biên của một vị sư mà tâm đã định và huệ đã ngời sáng.

Thầy cũng không thoát được những vụ hỏi cung, một hình thức tra tấn tinh thần những người tù khốn khó này trong trại giam. Một tên cán bộ từ Hà Nội vào với mái tóc hoa râm có vẻ là một viên chức cao cấp thuộc Bộ Nội Vụ đã hỏi cung thầy trong ba ngày liên tiếp. Hắn vứt cho thầy tờ giấy để tối về khai báo những tội lỗi đã chống đảng, nhà nước và nhân dân trước kia khi hoạt động ở Sài Gòn cho Nha Tuyên Úy Phật Giáo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Sáng hôm sau, khi kêu ra làm việc tiếp tục, thầy đã nộp bản khai báo cho hắn, vừa xem xong thì hắn đùng đùng nổi giận ném tờ khai xuống bàn và quát tháo:

“Anh khai báo thế này hả? Tại sao anh lại chép Chú Đại Bi vào đây? anh muốn tù rục xương ra không?”.

Vẫn thái độ bình tĩnh và từ tốn của một vị cao tăng thầy chậm rãi trả lời:

“Thì đây chính là những gì mà tôi đã làm và đã tụng niệm khi xưa, có thể thôi!”.

Hắn với vẻ mặt hầm hầm liệng cho thầy một tờ giấy khác để khai báo lại một cách thành khẩn để được sớm khoan hồng. Sáng ngày hôm sau, thầy nộp cho hắn một tờ thứ hai và trên tờ đó thầy chép lại thật nắn nót bài Kinh Bát Nhã. Đến đây thì hắn nổi điên lên và mạt sát thầy thậm tệ và đe dọa rằng thầy sẽ tù mọt gông và đừng mong sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Thầy ung dung trả lời rằng:

“Các ông cứ việc giam giữ tôi bao lâu cũng được, tôi chỉ xin các ông hãy thả hết những người tù chính trị chế độ cũ mà các ông đang giam giữ mà thôi”.

Từ đó đến sau, chúng ít khi kêu thầy ra hỏi cung nữa cho đến mãi năm 87, trước khi có một đợt thả lớn tại trại Ba Sao Nam Hà thì trong các vị Tuyên Úy bị hỏi cung có tên thầy. Nhưng đặc biệt lần này chúng gọi thầy bằng thầy chứ không gọi là anh như trước nữa, tuy nhiên chúng vẫn dụ dỗ thầy nhận tội để được khoan hồng. Thầy trả lời rằng các ông cứ thả hết các ông đại đức tuyên úy ra đi vì họ chẳng có tội lỗi gì hết tất cả đều do tôi và họ đều làm theo chỉ thị của tôi hết, muốn gì thì cứ giữ tôi ở lại đến bao lâu cũng được. Chúng đành chào thua và chỉ vài tháng sau thì thầy có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại cùng với tất cả các đại đức và những vị mục sư linh mục khác trong các Nha Tuyên Úy quân đội.

Thầy ở tù mười hai năm, một năm trong Nam và mười một năm lưu đày trong những trại giam được dựng lên nơi rừng thiêng núi độc miền Bắc.

Về miền Nam, thầy trở lại chùa Giác Ngạn trên đường Trương Minh Ký cũ ở Sài Gòn để lại lo Phật sự, cúng kiến giúp đỡ các gia đình Phật tử. Khi đi đâu tụng kinh thầy vẫn đơn sơ trong chiếc áo nâu sòng và phe phẩy chiếc quạt đã sờn rách và môi luôn nở nụ cười hiền hậu giống như một ông già nhà quê chất phát hiền lành.

Chùa Vĩnh Nghiêm có vời thầy ra nhưng thầy vẫn ở lại Giác Ngạn – ngôi chùa mà thầy góp công xây dựng lên và trụ trì cho tới khi mất nước – cho tới khi thầy viên tịch vài năm sau đ

Ai là tác giả ?!
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 3 2010, 11:49 PM
Gửi vào: #14


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Xin Bồ-Tát Làm Tiêu Ðộc Cho Toàn Cầu

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/bdh75/XinBoTatLa...cChoToanCau.htm

Giảng Ngày 4 Tháng 9 Năm 1982, Nhân Dịp Địa Tạng Thất Tại Vạn Phật Thành

Dùng Cam Lồ Và Nước Pháp Tẩy Trừ Độc Khí Trên Thế Giới. Ðộc Tiêu Một Phần, Thế Giới Bình An Thêm Một phần.



Tại sao ta đả Ðịa Tạng Thất? Bởi vì hiện tại thế giới có quá nhiều tai nạn, nên chúng ta cần Ngài Ðịa Tạng Bồ-tát dùng sức bổn nguyện làm tiêu mọi tai nạn.


Ðịa Tạng Bồ-tát rất tôn trọng đạo hiếu, bởi vì Ngài đời đời kiếp kiếp luôn là người con hiếu thảo với cha mẹ. Ðây không phải là chuyện dễ dàng, bởi vì chính từ sự khốn khổ gian nan mà Ngài tu luyện thành đạo. Cha mẹ Ngài không tin Tam-bảo, nhưng Ngài phải thuận ý họ, dùng mọi thứ thiện xảo phương tiện để khuyến dụ các vị đó sinh lòng chính tín nơi Tam-bảo. Nơi nào Ngài tới, Ngài đều làm hạnh Bồ-tát, chẳng lộ hình tướng, không chấp trước. Không có hình tướng là bởi vì Ngài không kể công, không tự mình khen đức hạnh. Cũng giống như khi cứu độ chúng sinh, Ngài lại nói rằng là chúng sinh tự độ, không muốn chúng sinh cám ơn Ngài, đảnh lễ Ngài.
Khi Ngài ở địa vị Bồ-tát, Ngài không nghĩ rằng mình cao minh hơn các vị Bồ-tát khác; hoặc là mình có thệ nguyện vĩ đại, có lòng từ bi rộng lớn hay có thần thông quảng đại hơn hết. Ngài không có những tư tưởng đó. Mọi việc làm của Ngài, nhất cử nhất động, nhất ngôn nhất hạnh đều coi như vô sự: Việc mình đem hết sức hết lòng ra làm mà không thấy mình có làm, không sinh lòng kiêu hãnh, cũng không làm kẻ khác chú ý. Ngài chỉ nghĩ rằng đó là bổn phận của Ngài, Ngài không kể lể công trạng, vì thế Ngài cảm động được tất cả chúng sinh, khiến họ tán thán xưng dương ca ngợi Ngài, thậm chí cả Phật cũng khen ngợi Ngài nữa. Phật không tùy tiện khen ngợi kẻ khác, chỉ khi nào có kẻ xứng đáng thì Phật mới khen mà thôi. Bởi vì Ðịa Tạng Bồ-tát không kể công, Ngài cũng không tuyên truyền công đức của mình nên cảm ứng đạo giao. Cảm ứng đạo giao đó không phải do dùng thủ đoạn, hay mánh khóe mà được. Nó tới một cách tự nhiên. Người tu Ðạo chúng ta phải học tinh thần thệ nguyện vô biên của đức Ðịa Tạng:



Ðịa ngục vị không, thệ bất thành Phật.

Chúng sinh độ tận, phương chứng bồ-đề.


Nghĩa là:


Ðịa ngục chưa trống, thề chưa thành Phật.

Chúng sinh độ hết, mới chứng bồ-đề.

Hàng năm chúng ta đả thất, bởi vì muốn thế giới tiêu trừ độc khí. Hiện tại không khí rất ô nhiễm, vũ trụ đầy các thứ khí độc, mà tất cả những phương pháp đều không thể trừ được nó, chỉ có cách là chúng ta phải chí tâm thành khẩn, cầu chư Phật Bồ-tát phóng quang, tiêu trừ những thứ độc khí đó, làm khí độc vô hình vô ảnh đó tiêu tan đi. Nên ở Vạn Phật Thánh Thành, mọi việc làm, đều có quan hệ đến sự an nguy của toàn thế giới. Ở trong đạo tràng này, quý-vị còn không thành tâm, thì thế giới ắt tăng thêm nguy hiểm hơn!

Nhân loại tạo ra quá nhiều ác nghiệp và sức người khó tiêu trừ chúng được. Hôm nay nhân ngày vía Ngài Ðịa Tạng Bồ-tát, chúng ta đồng tâm, hết sức chí thành niệm "Ðịa Tạng Vương Bồ-tát"; kỳ vọng rằng có thể cảm động được lòng từ bi của Bồ-tát, khiến Ngài giúp thế giới được tới chỗ bình an vô sự. Có được cảm ứng nầy hay không, đều do sự thành tâm của quý-vị cả. Sức của một người thì không đủ, phải cần sức lực của đại chúng. Cho nên nói: Ðại chúng chí thành, hợp tâm hợp lực, cùng nhau cầu đảo cho thế giới hòa bình.

Bây giờ trong tâm quý-vị đã hiểu rằng, thế giới đầy tai ách này chẳng có hòa bình. Bởi vậy hiện tại các đạo tràng trên thế giới đều cầu đảo sự hòa bình. Ðầu tiên cả là do Phật-giáo Giảng Ðường, Kim Sơn Thánh Tự đề xướng, sau đó những nơi khác ở Hương Cảng, Ðài Loan đều làm theo; đó cũng chứng minh rằng thế giới đang lâm vào tình trạng rất khó khăn nguy hiểm. Tuy nhiên, chơn chính cầu đảo cho hòa bình thế giới thì có đạo tràng ở Vạn Phật Thánh Thành. Tại sao vậy? Bởi vì ở đây tổ chức pháp-hội gì, đều không hy vọng có đại thí chủ tới cúng dường tiền bạc, mỗi năm tổ chức một cách âm thầm; cứ tới ngày giờ là tổ chức. Chẳng cần biết là có trai chủ hay không; cứ theo thường lệ mà tiến hành, coi đó là bổn phận của mình, không tự hào, không mảy may tính toán chuyện lợi hại gì. Mình chỉ hy vọng rằng Phật sẽ phóng quang gia bị sớm tiêu trừ tất cả những độc khí trên thế giới. Quán Âm Bồ-tát dùng nước cam lồ, quán đỉnh khiến chúng sinh tai tiêu bệnh trừ, tội diệt phước sinh. Ðịa Tạng Bồ-tát dùng nguyện lực quảng đại của Ngài làm chúng sinh ly khổ đắc lạc, tiêu tan hết tai nạn ách chướng. Niệm Quán Âm Bồ-tát, niệm Ðịa Tạng Bồ-tát tức là giúp cho thế giới được tiêu độc, nhưng không cần dùng thuốc sát trùng, chỉ cần dùng nước cam lồ pháp thủy để tiêu trừ độc khí trên thế giới. Tiêu đi một phần thì thế giới có thêm một phần bình an. Khi độc khí không còn nữa, lúc đó chúng sinh sẽ được hưởng phước, nhân loại sẽ được an lành!
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 19 2010, 01:48 AM
Gửi vào: #15


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Thằng ăn cắp


Ở một làng nào đó bên xứ Ấn Độ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người lâu ngày, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đà xế bóng, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải giấu trong túi hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương.


Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nước mát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm.


Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngang qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian. Lễ xong, người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa.
Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghĩ thầm: “Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta.”


Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói:
- Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta.
Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con:
- Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nảy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!
Bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại.


Người thương gia rảo bước về gần đến làng, nhìn xa xa ráng chiều êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên rặng tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách.
Vừa đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu:
- Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp dành dụm từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa!
Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên.


Tới chùa thì cảnh vẫn vắng tanh, bên trong chỉ có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi:
- Túi đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu?
Cụ già ngạc nhiên:
- Túi đồ nào của bác? Vàng nào của bác?
- Thì cái túi hành lý tôi để quên hồi xế trưa trong chùa này!
Cụ già vẫn bình thản:
- Quả thật lão không thấy túi đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Túi đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao?


Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tối mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt.
Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp dành dụm trong mười năm của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi theo gió đưa, biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ may rủi. Khi tới cuối làng, giữa vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bảng đen, với hàng chữ trắng viết to: “Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại.”


Người thương gia mừng quýnh đập cửa, gặp anh nông dân ra mở hỏi:
- Bác là chủ túi đồ bỏ quên trong chùa?
- Vâng, chính tôi. Tôi đã để quên trong chùa hồi xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại.
- Nếu đó là của bác thì bác phải nói xem túi đồ của bác như thế nào? Trong đựng những gì?
Người thương gia trả lời:
- Ðó là túi vải, trong đựng một ít lương khô đi đường.
Người nông phu nói:
- Thế thì không phải túi đồ của bác.
- Thú thật với bác, cũng còn một số vàng trong một gói vải khác màu đỏ.
Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia:
- Quả thật đó là túi đồ của bác. Xin mời vào nhận.
Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác chia đôi số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói:
- Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn.
Người nông dân ngạc nhiên:
- Trả lại món vật không phải của mình chỉ là một việc bình thường, có ơn gì mà được đền?
- Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là đúng lẽ.
- Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Đạo lý xưa nay vẫn dạy như vậy. Đó không phải là cái cớ để đòi hay nhận tiền thưởng. Cũng như lòng yêu dân tộc, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đó mà chia phần? Thôi, xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp.


Người thương gia không còn lý lẽ gì để nói thêm bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất gói vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy. Ý định của ông ta là bắt buộc bác nông dân phải nhận sự đền ơn, nhưng bác vội nhặt gói vàng rồi đuổi theo, miệng hô hoán:
- Bớ người ta, thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp.
Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt bác nông dân, hỏi:
- Hắn đã ăn cắp vật gì của bác?


- Hắn định ăn cắp cái tâm công chính và chân thật mà tôi có được từ ngày tôi học Phật!


Những người làm việc công mà đòi trả ơn, làm việc thiện chỉ do tư lợi, làm việc nước cốt vì quyền hành địa vị... thảy đều không hiểu chuyện nầy!!
(Không biết tên người kể.)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 16 2010, 12:26 AM
Gửi vào: #16


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Cho và nhận

Một hôm, một sinh viên trẻ có dịp đi dạo với giáo sư của mình. Vị giáo sư này vẫn thường được các sinh viên gọi thân mật bằng tên "người bạn của sinh viên" vì sự thân thiện và tốt bụng của ông đối với học sinh.

Trên đường đi, hai người bắt gặp một đôi giày cũ nằm giữa đường. Họ cho rằng đó là đôi giày của một nông dân nghèo làm việc ở một cánh đồng gần bên, có lẽ ông ta đang chuẩn bị kết thúc ngày làm việc của mình.

Anh sinh viên quay sang nói với vị giáo sư: "Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu giày của ông ta rồi thầy và em cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta ra sao khi không tìm thấy đôi giày."

Vị giáo sư ngăn lại: "Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra để trêu chọc mua vui cho bản thân. Nhưng em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãy đặt một đồng tiền vào mỗi chiếc giày của ông ta và chờ xem phản ứng ông ta ra sao."

Người sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó.

Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Người nông dân vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày thì cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong, ông ta cúi xuống xem đó là vật gì và tìm thấy một đồng tiền. Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai. Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày còn lại. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quì xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một món quà đúng lúc, cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn, người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn.

Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: "Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?" Người thanh niên trả lời: "Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: "Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về".

Không biết tác giả
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 1 2010, 08:56 PM
Gửi vào: #17


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



CHIẾT TỰ

Toại Khanh

Một anh Phật tử sau một tai nạn dập nát thân thể đã được ghép lại chiếc chân mới lấy từ di hài của một người hiến xác.
Không bị tàn tật, anh mừng lắm, nhưng đêm đêm nhìn lại cái chân ngoại lai kia, anh cứ rùng mình và nghĩ đến người nằm dưới mộ.
Một ngày, nhắm chịu không thấu, anh chạy lên chùa thăm sư phụ là một thiền sư và kể lại nỗi sợ của mình.
Vị hoà thượng nhìn anh rồi mỉm cười:

- Con thấy sợ cái chân đó vì cho rằng nó không phải là của con, nhưng thử hỏi, cái-chân-xưa-giờ-theo-con-từ-bé có đúng là của con không ?

Truyện kể rằng anh Phật tử từ đó ngủ ngon, hết sợ.
Và tôi từ lúc biết được câu chuyện này cũng thấy mình ít nhiều an lạc hơn xưa.
Tôi đã hiểu chữ CỦA một cách chu đáo hơn, thấm thía hơn.
Rồi cũng từ đó, tôi nghiệm ra một điều rằng ở đời nhiều lúc chỉ một chữ thôi cũng là một trời suy tư.

Chiều nay, một người Phật tử gửi tôi cái link để đọc bài viết của một người trẻ chẳng biết trong hay ngoài nước.
Họ nói thích bài đó, khen hay và giới thiệu cho tôi. Tựa đề bài viết đó là Tình Lỡ. Thiệt lạ, đọc hết bài, nhưng tôi không hiểu gì hết. Lòng tôi đã bị cái tựa đề Tình Lỡ kia níu kéo ngay từ phút đầu. Nói chính xác, tôi đã bàng hoàng, ngẩn ngơ chỉ vì một chữ LỠ kia thôi. Nào phải chỉ có tình mới lỡ.
Có gì trên đời này lại không bị lỡ chứ.
Nhìn quanh ta, rồi thì cả thế giới, hình như chẳng gì là trọn vẹn hết.
Này nhé, có ai trên đời này dám nhận đời mình là viên mãn đâu.
Cả một quốc gia cũng thế.

Nhiều kẻ giàu mà không sang, bởi họ chỉ phú mà không quý.
Tiền bạc rủng rỉnh mà kiểu xài tiền thì ngửi không vô, đó là giàu mà không sang, phú nhưng chưa quý.
Nhìn xa một chút, nước Tàu bây giờ có biết bao tỷ phú, nhưng ở một xã hội nghèo nàn nhân văn sau mấy chục năm (Không dùng từ này) thì khó mà kiếm ra một người thật sự phú quý.
Dám bỏ cả triệu Mỹ kim mua một con chó ngao Tây Tạng về cung phụng như đấng sinh thành, nhưng đố họ dám bỏ ra một phần trăm số tiền đó để làm từ thiện.
Đáng ngại là ở Việt Nam bây giờ cũng có rất nhiều kẻ chỉ phú mà không quý như thế.
Tôi muốn gọi đó là một trường hợp Lỡ: Lỡ làng, dở dang…


Rồi đến chữ An Lạc.
Biết bao người trên đời này ngó ngon lành vậy, nhưng thiệt ra họ chỉ được An (yên) mà chắc gì được Lạc.
Nhà cửa ổn định, thu nhập ổn định, sức khỏe ổn định, kể cả gia đạo cũng ổn định, nhưng liệu lòng họ có được vui không.
Tôi từng nói rồi, nhiều khi có chuyện để lo toan còn dễ sống hơn là những ngày tháng nhàn cư vô vị, không đắng không ngọt.


Viết đến đây tôi chợt nhớ đến mấy bài báo online gần đây nói về làn sóng thực phẩm độc hại của Trung Quốc và Việt Nam đang được xuất khẩu tứ tung thì càng thấm thía chữ Lỡ này.
Nhiều món trong đó là thứ khoái khẩu của người mình, nhưng ngon mà chẳng lành.
Không phải món nào ngon thì cũng lành.
Cũng như nhiều người tuy dễ thương mà cũng đáng sợ vậy.
Hai chữ ngon lành từ đó không phải dễ dùng.

Ngay đến một chữ rất phổ biến như Phúc Đức cũng khó mà tìm được chỗ dùng.
Nhiều kẻ đời nay chỉ có phúc mà không có đức.
Người học A-Tỳ-Đàm thường thích nói chặt chẽ nên khó chấp nhận điều tôi đang viết.
Một cách nôm na, tôi hiểu Đức ở đây là những đức tánh hàm dưỡng nhân cách của mình.
Một người tiện tay làm một hai chuyện giúp đỡ kẻ khác không sánh được một người thường ngày làm gì cũng biết nghĩ về kẻ khác.
Phúc thì ai cũng làm được, nhưng Đức thì phải là kẻ có tâm cơ.

Tôi không nhớ là Lão Tử hay Trang Tử đã có câu nói này:
Người thời nay quyền cao tước trọng đến mấy cũng chỉ là hàng quý nhân chứ không phải bậc đại nhân như thời trước.

*
Cứ theo kiểu chẻ chữ (chiết tự) đó mà nói thì ta có bao điều thú vị để mà suy gẫm.
Như thánh nhân chỉ có Đau mà không Khổ, phàm phu nhiều khi Thông nhưng chưa chắc đã Minh, Giải nhưng chưa chắc đã Thoát, Tình không hẳn là đi với Yêu, tôi còn muốn nói là Sung chưa chắc đã Sướng, nhưng thôi !

Chẻ chừng đó cũng đủ mỏi tay mòn búa rồi, chỉ mong người đời nhớ được bài học Chính Danh của thầy Khổng để mà sống trọn vẹn ngoài đời, trong đạo. Thế còn gì hơn được nữa. Mong thay !


Toại Khanh (Assam, 4/20/10).


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 19 2010, 12:08 PM
Gửi vào: #18


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Từ bi với mình…
(BS Đỗ Hồng Ngoc )
Hình như ta chẳng bao giờ thực sống trong hiện tại cả! Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai.
Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có đựơc cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ
lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những phút giây hiện tại. Từ ngày “thế giới phẳng”, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với bạn nhưng trò chuyện với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện thì nhiều khi đã lỡ nhịp! Hiểu
ra những điều tầm thường đó, tôi biết qúy thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn.


Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ, vị lai. Dĩ nhiên, không phải là trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá. Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75! Vậy sao ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêuthích nó đi, sao cứ phải… nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!


Ta cũng có thể gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Cơ thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần biết có ta! Mà hình như, càngnguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ. Trái lại nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó mộtchút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn.

Anh chàng Alexis Zorba nói: “Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút. Cho nó ăn với. Cho nó nghỉ với. Đó là con lừa kéo xe của ta, nếu không cho nó ăn, nó nghỉ, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi” (Nikos Kazantzaki). Từ ngày biết thương “con lừa” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho con lừa của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá! Một người cô tôi “ăn không được”, ăn “không
biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương bà quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được? Giá nghèo một chút thì hay hơn! Cá kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn bà ăn thấy ngon, thấy sướng! Tôi cũng biết cho con lừa của mình ngủ hơn. Ngủ đẫy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được! Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: cơ tắc xan hề khốn tắc miên! Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền! trong bài Cư trần lạc đạo, ở đời mà vui đạo! Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nứơc ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp!


Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác!


Cũng nhớ rằng tới tuổi nào đó tai cũng sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe, không thì đóng lại; mắt kém
mà muốn thấy gì thì thấy, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!


Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành. Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.


Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả!

Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút vậy!





Được chỉnh sửa bởi hoaha on Jul 19 2010, 12:15 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 20 2010, 11:06 PM
Gửi vào: #19


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.

Đến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn trong một tinh thần.

Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với lòng kiêu ngạo chen chân trong một ngôi nhà bản ngã; đến một lúc, chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để ngắm nhìn toàn bộ sự mênh mông và bát ngát của đất trời.
Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của tĩnh tại tâm hồn.

Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

Đến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước cuốn trôi.



Đến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.

Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.

Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một tuồng ảo hóa.

Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn trong cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức tiếc thương một dĩ vãng xa rồi. Trong đời người ngắn ngủi chúng ta đã lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.



Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không phải có bất cứ thứ gì khác giúp con người thiết lập được trật tự mới và hòa bình cho nhân loại.

Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc.

Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của mình còn hơn mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.

Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt biển.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm vui cho sự sống hàng ngày chứ không phải là sự bắt buộc hay là một tập quán khô khan, máy móc của đời mình.

Hiểu ra rằng ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, xấu xa của người khác hơn là chính bản thân. Chúng ta thường che đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất độc và giết chết bản thân.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô giá và cầ thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ cạn.

Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không phải là những gì có thể nắm bên ngoài mà đó là tâm linh bất diệt bên trong.

Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc, không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.



Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn còn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định được giá trị chân thật của một kiếp người.

Chúng ta hiểu rằng cần thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm thiên đường ở chốn xa xăm. Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng giác ngộ của chính mình.

Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau thương vì lòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có thể đưa chúng ta bến bờ rạng rỡ của ngày mai..

Không rõ tác giả


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Aug 11 2010, 05:09 AM
Gửi vào: #20


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



chư tăng dùng thứ đó, không đòi hỏi chay mặn. Nhưng trong luật tạng có dạy nếu chúng sanh bị giết chết để lấy thịt cúng dường trai tăng thì không nên ăn.



Trên căn bản, thực phẩm chỉ là phương tiện nuôi sống con người không nhất thiết là vấn đề quan trọng. Kinh Lăng già (Lankavatara- sutra) thì tuyệt đối cấm tất cả mọi loài thịt thà cá mú, nhưng có những kinh khác lại không cấm cản gì cả.



Vùng miền núi phía đông Tây tạng, đất đai khô cằn không trồng trọt gì được, và lạnh lẽo tuyết giá, rất khó khăn, nên chư tăng phải ăn thịt. Đối với tôi, lúc 13, 14 tuổi vào những dịp lễ lạy của Tây tạng, quá nhiều thịt thà được trưng dụng, tôi bắt đầu chuyển và khuyến khích bớt dùng thịt súc vật từ đó. Khi trốn khỏi Tây tạng đến Ấn độ vào năm 1959, tôi ăn chay nhiều hơn. Và bắt đầu năm 1965, tôi tập ăn chay trường.



NDTV: Tại sao vậy ạ?



DL: Hay hơn, tốt hơn. Khoảng 20 tháng trời tôi ăn chay, tôi theo lời khuyên của những người bạn Ấn độ nên thay thế thịt bằng cách uống sữa, và dùng kem tươi… nhưng đến năm 1967, tôi bị chứng đau gan và túi mật.



Da trên người tôi đổi thành màu vàng nghệ - giống Phật (màu áo cà sa) - cả người màu vàng, móng tay cũng vàng, mắt cũng vàng, cũng cả 3 tuần lễ. Bác sĩ y học đông phương khuyên phải trở lại ăn thịt cá, thế là tôi phải nghe lời bác sĩ để khỏi bịnh.



Nhưng phần đông toàn thể các tu viện tại đây, cả tu viện Namying này đều chỉ có đồ chay. Phía miền Nam Ấn độ, ba bốn trăm tăng mỗi tu viện, chỉ có thể dùng rau cỏ mà thôi, không có thịt. Khi đi hoằng pháp ở nước ngoài, phần nhiều tôi đều ăn chay.

NDTV: Ngài có hối hận việc gì không ạ?



DL: Những điều nhỏ nhặt thì ngày nào lại chẳng có… Như hiện giờ nè, nóng quá, nếu bộ quần áo tôi vải mỏng hơn một tí đở khổ biết mấy… Nhưng lần khác tại Delhi, tôi tưởng trời Delhi nóng nên chỉ đem áo mỏng, lúc hội họp trong phòng có máy điều hòa không khí quá mạnh, lạnh run, cùng một câu hỏi “có hối hận gì không”, nhưng câu trả lời hoàn toàn trái ngược hôm nay.



Còn về hối hận lớn à – hình như khoảng thời gian tôi còn đi học, cả chục năm trời tôi rất là lười biếng, tôi thường nói với mọi người hồi đó tôi chỉ ngồi xuống học khi bị dọa đòn mà thôi… Ông thầy chịu trách nhiệm dạy tôi rất là khó và nghiêm nghị, không bao giờ cười, và có cái roi dài.



Có thời gian anh tôi cùng học chung, thế là 2 cái roi, một cái roi thường cho người thường, một cái roi màu vàng – roi thánh (holy whip) – cho người tu… nhưng roi thánh vẫn đem cái đau của chúng sanh (cười lớn)… tôi rất sợ cái roi.



Đó là một trong những hối tiếc lớn, hồi nhỏ không chịu siêng năng học hành… cho nên bây giờ 75 tuổi rồi, nhưng lúc nào rảnh rỗi có thì giờ thì tôi lại mang sách thánh ra học, học kinh, học chữ Tây tạng, những quyển kinh do chính tổ Long Thọ (skt: Nagarjuna) hay đệ tử của ngài soạn thảo.



Còn về vấn đề chính trị, và nhiều vấn đề khác nữa, từ khi tôi nhận lãnh trách nhiệm ở tuổi 16 đến giờ, rất nhiều quyết định quan trọng, nhưng không một hối hận nào.

NDTV: Như thế cũng rất là hi hữu rồi. Cuộc sống của Ngài thật là hi hữu.

DL: Tôi nghĩ có thể vì tôi là một người thích thảo luận, thích đặt nhiều câu hỏi, và biết tôn trọng quan điểm ý kiến của người khác, kể cả những bạn quét đường của tôi. Thí dụ như trong 50 vấn đề khó khăn phải cần giải quyết. Trước nhất tôi tham khảo ý kiến của những nhà chức trách có thẩm quyền, rồi tôi cũng thảo luận dò xét ý kiến của bạn bè thân thuộc, cả anh quét đường xem họ nghĩ sao.



Bất cứ đối với một quyết định quan trọng nào, trước nhất tôi cũng quan sát kỹ lưỡng bằng cái trí khôn của mình, nhìn tất cả mọi khía cạnh một cách bao quát, kế đến tôi đi thăm hỏi ý kiến người khác, từ nhà tiên tri, đến các cố vấn. Nếu chưa giải quyết được vấn đề, đôi khi tôi dùng tới biện pháp thiền tập để tìm hiểu, dĩ nhiên vì tôi là một tăng sĩ Phật giáo.



Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 cũng thường làm thế. Cứ như thế suốt quá trình từ năm 16 tuổi đến giờ, rất nhiều những quyết định tối quan trọng - nhiều khi tôi phải dùng đến cái tôi gọi là việc nghiên cứu huyền bí - đều được thông qua và giải quyết một cách đẹp đẽ - chưa có một sai lầm nào. Tôi cảm thấy hãnh diện.


NDTV: Chúng con kính tri ân Ngài, nguyện chúc an lành và sức khỏe.

Read more at: http://www.ndtv. com/article/ india/in- conversation- with-the- dalai-lama- 35955?cp








User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

8 Pages: V  1 2 3 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 18th September 2019 - 08:15 PM