IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> Suy Ngẫm Về ..., (Ngụ Ngôn Qua Bài Viết)
NhaQue
post Oct 10 2010, 10:19 PM
Gửi vào: #1


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,620
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8



Sưu Tầm


Cau hoi doc ac tu nhung dua tre

Tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi câu chuyện mà nhà văn Mỹ Toni Morison đã kể trong bài diễn văn nhận giải Nobel văn học của bà năm 1993. Trong diễn văn quan trọng này, bà kể về một nhà tiên tri mù. Một hôm, có những đứa trẻ cầm một con chim đến trước bà. Chúng nhìn bà với một đôi mắt vô cảm và đầy thách thức rồi cất tiếng: "Này bà tiên tri, bà là một mụ già mù nhưng lại nhìn được tương lai. Vậy bà hãy nói cho chúng ta biết: con chim chúng ta đang cầm trong tay sống hay chết".

Bà tiên tri mù đã không trả lời câu hỏi của bọn trẻ. Bà ngước đôi mắt mù nhìn về phía xa. Bà nhìn thấy tương lai của những đứa trẻ và nhìn thấy một phần tương lai của thế giới thông qua những đứa trẻ đó, một tương lai của nỗi sợ hãi và sự đe dọa. Lòng bà đau đớn vô cùng. Bà biết rõ rằng: nếu bà nói con chim trong tay những đứa trẻ còn sống thì ngay lập tức chúng sẽ bóp chết con chim có trái tim bé bỏng đang đập những nhịp đập sợ hãi trong tay chúng. Số phận con chim kia phụ thuộc vào tình yêu thương của đứa trẻ. Cũng như số phận thế gian này phụ thuộc vào chính lòng yêu thương của con người. Câu hỏi của những đứa trẻ đã sinh ra từ sự vô cảm và đầy thú tính.

Câu hỏi xấc xược và độc ác ấy của những đứa trẻ đã minh chứng một cách hãi hùng về một thế giới mà con người bắt đầu không dùng tình yêu thương để xây dựng nó mà dùng bạo lực để thống trị nó. Sức mạnh để điều hành thế giới này đã và đang không còn là chủ nghĩa nhân văn nữa mà là bạo lực. Bạo lực của một kẻ mạnh (những đứa trẻ) đối với một kẻ yếu (con chim) cũng giống như bạo lực của một quốc gia này với một quốc gia khác. Những đứa trẻ hiện diện trước bà tiên tri mù chính là sự hiện diện của độc ác trước một giá trị tinh thần của thế giới. Bà tiên tri mù ấy, trong cách nhìn và suy ngẫm của tôi, chính là khát vọng, là trí tưởng tượng kỳ diệu và ngập tràn tính nhân văn và đó cũng là vẻ đẹp huyền ảo của đời sống thế gian. Và tất cả những điều tốt đẹp này đang càng ngày càng bị đe dọa, thách thức và nhạo báng một cách công khai.

Sự xuất hiện của những đứa trẻ với một câu hỏi xấc xược và độc ác đã gửi cho chúng ta một thông điệp cấp bách: thời đại của bạo lực đã công khai hóa và đang trở thành chiếc gậy điều khiển xã hội loài người. Bạo lực ấy cho đến ngày nay, chúng ta có thể hiểu rộng hơn các phía của nó. Một phía của nó được thể hiện bằng vũ khí và phía khác thể hiện bằng sự áp đặt xã hội con người và đe dọa xã hội con người phải tuân theo những luật lệ có lợi cho một nhóm người hay một quốc gia nào đó.

Bây giờ, nếu chúng ta khoanh sự lý giải của chúng ta vào những đứa trẻ đã cất lên câu hỏi xấc xược và độc ác kia, chúng ta nhận thấy, nền giáo dục của xã hội loài người chúng ta đã và đang đổ vỡ thảm hại. Có một đặc điểm khác biệt giữa những đứa trẻ trong thế kỷ 21 này và những đứa trẻ của mấy chục năm trước. Đó là sự rời bỏ tuổi thơ của những đứa trẻ bây giờ quá nhanh. Chúng đã không sống đủ và sống hết tuổi thơ của chúng. Đấy chính là điều nguy hiểm nhất khi mà những đứa trẻ kia lớn lên thành những chủ nhân của thế giới.

Thế giới đang từng ngày ăn cướp một cách trắng trợn tuổi thơ của những đứa trẻ. Trẻ em đang trở thành mục đích thương mại hóa của người lớn. Người lớn bóc lột sức lao động trẻ em trong các hầm mỏ, các công xưởng... và bóc lột sức lao động chúng ngay trong ngôi nhà của mình. Người lớn đang kinh doanh tình dục trẻ em. Người lớn dùng chiêu bài trẻ em để kinh doanh tiền bạc và chính trị. Chúng ta áp đặt những phương pháp giáo dục trẻ em từ gia đình đến nhà trường một cách quá nguyên tắc. Chúng ta quên lãng tuổi thơ của chính con cái mình. Chúng ta sống với một cuộc sống đầy tham vọng và mưu mô, chúng ta thực sự đang trẻ em hóa những dục vọng của chúng ta.

Một đứa trẻ hiện nay trong một ngày được tiếp cận bao nhiêu phần trăm những điều tốt đẹp so với những gì thuộc về một đời sống bạo lực? Thực tế cho thấy rất ít. Các thông tin về bạo lực và xung đột trên các phương tiện thông tin đại chúng của thế giới đã lấn át những thông tin văn hóa và nhân văn. Cùng lúc đó, một khoảng trống quá lớn đã bày ra trước những đứa trẻ mà chúng phải tự quyết định lấy những vấn đề vô cùng quan trọng để hình thành nhân tính. Đó là khoảng trống tạo nên bởi sự vô trách nhiệm và bỏ mặc của người lớn.

Tất cả những gì chúng ta đã và đang làm đã trực tiếp và gián tiếp cướp đi những tơ non, những trong sáng, những tưởng tượng... của trẻ em. Chính những điều ấy đã làm cho những đứa trẻ phải rời bỏ tuổi thơ của mình. Những đứa trẻ ấy bước vào cuộc sống tự lập quá sớm và phải chống chọi lại tất cả những điều tệ hại, xấu xa nhất đang hiển hiện trong xã hội. Những đứa trẻ vô tình trở thành những con ngựa đua vô ý thức cho những cuộc cá cược tài chính và cả chính trị của người lớn.

Thay vào sự chiêm ngưỡng đầy run rẩy và đầy tưởng tượng những tổ chim hay những con chim là một thách thức giá lạnh đến hãi hùng. Trong khi chờ câu trả lời của bà tiên tri mù, những ngón tay bé bỏng nhưng vô cảm như những gọng kìm sắt của những đứa trẻ đang từ từ xiết chặt. Và chỉ cần câu trả lời của bà tiên tri mù cất lên chạm vào sự thách thức độc ác của chúng, những đứa trẻ sẽ xiết chặt những ngón tay ấy để bóp nát trái tim bé bỏng như một hạt đỗ đang đập run rẩy và hoảng sợ của con chim một cách không thương tiếc. Nhưng sự thật thì những bàn tay độc ác trong tâm hồn đã giết chết con chim nhỏ bé kia một cách dửng dưng ngay từ khi chúng có ý định đến trước nhà tiên tri mù để thách thức bà. Đó chính là sự kiêu khích và đe dọa của một xã hội bạo lực. Nó kiêu khích và đe dọa chủ nghĩa nhân văn của xã hội loài người.

Hình ảnh những đứa trẻ kia không còn là một hình ảnh của sự sáng tạo mang tính cảnh báo của một nhà văn và cũng không phải là một hình ảnh đơn biệt trong xã hội nữa. Nó là một hiện thực có ở quanh đời sống chúng ta. Hiện thực đó đã và đang công khai cưỡng dâm một đứa bé, công khai chém xối xả một bà già để cướp của, công khai xả súng như một trò chơi vào một đám đông, công khai xúm vào đánh đập cho đến chết một sinh viên ngoại quốc, công khai túm tóc một người mẹ sinh ra chúng, công khai vừa đua xe vừa trêu chọc cảnh sát giao thông, công khai đánh hội đồng một bạn học rồi quay clip đưa lên mạng như một trò tiêu khiển...

Tất cả những hành động đó cũng chính là hình ảnh những đứa trẻ, hiện thân của cái ác đang thách thức chủ nghĩa nhân văn của toàn nhân loại, mà nhà văn Toni Morison nói đến. Nó cho thấy một xã hội đang quá sợ hãi cái ác và nhiều dấu hiệu của sự nhụt trí trong cuộc đấu tranh chống lại cái ác. Nếu không muốn nói ở đâu đó và một lúc nào đó đã vô tình sống chung với cái ác. Nó cho thấy những gía trị nhân văn đang bị lấn át và đang bị dồn vào những phần đất hẹp. Nó cho thấy chúng ta đã mắc quá nhiều sai lầm trong việc nhận thức những giá trị đích thực của đời sống và trong việc làm cho cái đẹp lan tỏa vào đời sống.

Nếu chúng ta lùi sâu hơn nữa vào đời sống ngay sau bậc cửa ngôi nhà của mình, chúng ta sẽ nghe được những câu nói của con cái chúng ta. Những câu nói tưởng giản đơn nhưng là những dấu hiệu đầu tiên cho thấy những đứa trẻ đó đang lớn lên trong một đời sống hưởng lạc và vô trách nhiệm.

- Mẹ phải trả cho con 100.000 đ thì con mới quét nhà.
- Con trông bà nội cả sáng nay trong bệnh viện, bố phải trả công con đấy.
- Bố phải chi tiền cho con hàng ngày con mới đi học.
- Không có Vespa là con ngày nào cũng đi học muộn đấy.
- Nếu bố mẹ còn tiếp tục nói con, con sẽ không về nhà nữa.

Và không ít những bậc cha mẹ đã vui vẻ chấp hành những đòi hỏi vô lý ấy của con cái. Họ đã và đang đầu hàng trước những đòi hỏi hay có thể nói đó là những thách thức đầu tiên của những đứa trẻ này. Rồi đến một ngày nào đó, những đứa trẻ này có thể đến trước mặt cha mẹ hay những người khác trong xã hội và đưa ra những yêu cầu vô lý, láo xược và bắt mọi người phải phục tùng chúng. Nếu không chúng sẽ có những hành động trừng phạt như chúng từng trừng phạt cha mẹ chúng bằng cách bỏ ăn, bỏ học, bỏ nhà và làm những điều mà cha mẹ chúng sợ hãi. Rồi đến một ngày, chúng sẽ đứng trước xã hội một cách ngạo mạn, hống hách và ác độc cất tiếng đòi hỏi và đe dọa xã hội bằng bạo lực. Và nếu không được xã hội thỏa mãn những dục vọng của mình, chúng sẽ tàn phá xã hội một cách không thương tiếc như những đứa trẻ cầm trên tay con chim đang sống kia.

VƯƠNG THẢO



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Nov 28 2010, 01:28 AM
Gửi vào: #2


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,620
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Sưu Tầm Nguồn : http://newvietart.com ----->Vũ Anh Tuấn




Vũ Anh Tuấn


Sinh ngày 24-3-l937
Tại Hải Phòng, Bắc Việt.
Cựu học sinh trường Thầy Dòng Hải Phòng.
Cựu giáo sư Anh Văn
Cựu đại diện thương mại cho Công ty Công Nghiệp nặng Ishi-Kawajima-Harima Nhật Bản
Từ 1975 đến nay, hành nghề Dịch Giả, chuyên dịch các sách Văn Học từ Việt sang Anh văn, Pháp văn.

Các Bút hiệu khác : Vũ Thư Hữu , Vũ Thiên Kim, Huỳnh Nguyệt Anh, Trần Thúy Nga,
Đặng Minh Quyên, Huỳnh Song Anh, Huỳnh Lệ Anh , Đỗ Thiên Thư .

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

VIỆT NAM, VĂN MINH VÀ VĂN HÓA (VIETNAM CIVILIZATION AND CULTURE)- 1992
TẾT CẢ VIỆT NAM VÀ BÁO XUÂN NAM KỲ - 2000
HỒN QUÊ HƯƠNG QUA TRANH LỤA CỦA HOẠ SĨ NGUYỄN THỊ TÂM (SOUL OF THE HOMELAND THROUGH ARTIST NGUYEN THI TAM' S SILK PAINTINGS)- 2005
THỜI GIAN VÀ BIỂN KHƠI (TIME AND THE SEA)- Tập thơ của Việt Nguyễn - 2006.
NGOẠ VÂN YÊN TỬ (YEN TU. THE CRADLE OF CLOUDS)- thơ Hoàng Quang Thuận - 2005.
BẢN TÓM LƯỢC VỀ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ Ở CÔN ĐẢO (EXPOSE SOMMAIRE SUR LA ZONE DES VESTIGES HISTORIQUES A CON DAO) - 2005
THI VÂN YÊN TỬ (THE POETIC CLOUDS OF YEN TU) - Thơ Hoàng Quang Thuận- 2006
SẮC HƯƠNG CHO ĐỜI (SCENT AND BEAUTY FOR PEOPLE AND LIFE) - Thơ Vũ Mão - 2008
BỐN MÙA (FOUR SEASONS)- Thơ Trần Nhuận Minh- 2008
HỘI THẢO THI VÂN YÊN TỬ CỦA HOÀNG QUANG THUẬN (WORKSHOP ON THE THI VAN YEN TU BY HOANG QUANG THUAN) - 2008
NGUYỄN GIA TRÍ NÓI VỀ SÁNG TẠO (PAINTER NGUYEN GIA TRI'S WORDS ON CREATION)- 2010


0-0-0-0-0-0-0-0-0-0-0

VỀ MỘT CUỐN SÁCH RẤT HAY
MÀ TÔI MỚI CÓ CƠ DUYÊN TÌM LẠI ĐƯỢC



VŨ ANH TUẤN




C ách đây mấy ngày tôi có ghé một tiệm sách cũ ở trên đường Trần Hưng Đạo, và bắt gặp một lô sách vừa mới đóng bìa lại độ gần 200 cuốn. Tôi có linh tính là trong số những cuốn sách này rất có thể có thứ mình thích, và nghĩ là làm ngay, tôi đã lật từng cuốn một để xem có gì mình thích không, và tôi đã may mắn gặp lại cuốn Sách Hồng số 1 của nhà xuất bản Đời Nay in xong ngày 30 tháng 6, 1939, tức là 68 năm về trước. Cầm cuốn sách trên tay tôi hồi tưởng lại lần đọc đầu tiên vào năm 1945 năm tôi lên 10. Đó là cuốn "ÔNG ĐỒ BỂ" của Khái Hưng. Đọc lần thứ nhất tôi thích cốt truyện lắm, và tôi đặc biệt ưa thích một số đoạn trong truyện mà tôi cho rằng có tính giáo dục thanh thiếu niên rất cao. Tuy nhiên sau đó tôi cũng không nhớ mấy tới cuốn sách đó nữa vì tôi bận đọc hàng ngàn cuốn sách khác đủ loại. Cho tới năm 1974, tôi nhớ là hồi tháng 12 năm 1974, một vị đầu nậu sách của thời đó đã ngỏ ý nhờ tôi dịch sang tiếng Anh cuốn truyện đó , và ông ta đã đưa tôi đọc lại. Cuốn sách không dày, chỉ có 28 trang, nên tôi đã nhận dịch, và đã đọc lại kỹ càng. Lần đọc thứ nhì này tôi thấy "thấm" hơn và thấy sách thật là hay. Tiếc rằng tôi chưa bắt tay vào việc thì người đầu nậu đó có việc xuất ngoại, và không trở lại sau ngày 30/4/1975.
Lần này, cầm cuốn sách trên tay, nhớ lại những ngày thơ ấu, tôi đã dành ra một tiếng đồng hồ để đọc lần thứ ba, và lạ thay, tôi lại thấy nó còn hay hơn lần tôi định dịch cách đây trên 30 năm; phải chăng vì ở tuổi trẻ lần thứ ba, tức là 24 tuổi lần thứ ba, những kinh nghiệm già dặn về cuộc sống mà tôi trải qua đã cho tôi thấy rằng những đoạn mà tôi đã ưa thích khi còn trẻ, tới nay mới khiến tôi cảm thấy rằng chúng rất cấn thiết cho một thiếu niên mới vào đời, cũng như cho một con người trưởng thành muốn sống một cuộc sống hùng mạnh, hiên ngang, ngay thẳng, như thế nào!
Nay vì có cuốn sách trên tay tôi xin chép ra dưới đây một vài trích đoạn mà tôi đặc biệt ưa thích để chia sẻ với các bạn.
"Năm 24 tuổi ông Đồ Bể mới khăn gói lều chõng ra Thăng Long thi Hương. Trên đường đi ông vào nghỉ chân uống nước ở một cái quán cạnh một tòa miếu cổ. Bà hàng nước dặn ông khi đi qua miếu phải bỏ nón, cúi đầu vì đức Thánh ngài thiêng lắm. Ông mỉm cười đáp:
- Trời nắng chang chang thế này mà bỏ nón ra nhỡ bị cảm thì khốn!
Bà hàng mắt lấm lét nhìn ông:
- Chả khốn bằng bị ngài vật chết.
Ông đồ thản nhiên hỏi lại:
- Vậy ngài đã vật ai chưa?
Bà hàng hạ giọng thì thầm, kể cho ông đồ nghe những phép thiêng của ông thần. Rồi nói tiếp:
- Chừng thầy khóa mang lều chiếu đi thi. Vậy thầy nên mua vàng hương vào miếu lạy thánh mà cầu phúc, thì thế nào cũng được tên chiếm bảng vàng.
Ông Đồ Bể nghiêm sắc mặt, khẳng khái đáp:
- Học thành tài rồi, tất thi đậu, mà chưa thành tài thì đợi đến khóa sau thi lại. NGƯỜI QUÂN TỬ KHÔNG BAO GIỜ CHỊU ĐI CẦU KHẨN, LẠY LỤC AI ĐỂ ĐƯỢC ĐỖ. (Đoạn này nếu mà mọi người áp dụng thì đất nước ta nhất định sẽ tránh xa được vấn nạn TIẾN SĨ DZỔM, BẰNG MUA BẰNG VÉ - Lời bàn của người viết).
Dứt lời, trả tiền nước, đứng dậy đi liền.
Tới miếu, ông đồ dừng lại ngắm nghía cây đa cỗi, cành lá rườm rà che gần kín cái mái rêu phong. Hai bên cửa miếu, hai pho tượng đắp bằng đất, mặt đỏ, mắt trợn tròn như nhìn tròng trọc khách qua đường, và tay cầm thanh gươm giơ lên như lăm le muốn chém ai. Bên đường một cái mốc đá với hai chữ "HẠ MÃ" nét khắc đã mờ.
Ông đồ nghĩ thầm:
"Biển đề hạ mã, nhưng ta có cưỡi ngựa đâu mà bảo xuống ngựa. Còn như ngả nón cúi đầu thì không thấy có yết thị. Vậy ta cứ đường hoàng dõng dạc mà đi. NGƯỜI QUÂN TỬ ĐẦU ĐỘI TRỜI CHÂN ĐẠP ĐẤT, KHÔNG KIÊU NGẠO VỚI AI NHƯNG KHÔNG KHÚM NÚM SỢ AI."
Và ông đồ ung dung tiến qua miếu.
Vừa đi khỏi mươi bước, nghe có tiếng động sau lưng ông quay lại. Một người y phục từa tựa như ông, và cũng vai mang lều chiếu tay xách khăn gói. Ông ngạc nhiên hỏi:
- Tiên sinh ra kinh kỳ ứng thí?
Người kia đáp:
- Thưa vâng.
- Tiên sinh đi đường nào mà vừa giờ tôi không gặp tiên sinh ở quán.
- Tôi ở miếu ra.
Người ấy nói thực. Vì đó chính là một ông thần biến thành hình một thầy khóa đi thi. Ông đồ hỏi:
- Tiên sinh vào miếu làm gì thế?
- Tôi vào lễ đức thánh để cầu khấn ngài cho được đỗ… cao. Vì ngài thiêng lắm ai cầu gì được nấy, mà ai vô lễ với ngài cũng sẽ bị ngài vật chết.
Đó là lời đe doạ của ông thần, nhưng ông đồ ngay thẳng vô tình không lưu ý tới. Ông còn thật thà hỏi một câu mà thần cho là có ý nghĩa khiêu khích:
- Âm dương cách biệt, ngài làm thế nào mà quật chết được người trần?
- Ngài đã có phép chứ.
Rồi ông thần ngập ngừng, nói tiếp:
- Ban nãy tôi đứng trong miếu nhìn ra thấy tiên sinh đi qua miếu hình như không bỏ nón cúi đầu.
- Vâng, chính thế. Tôi tưởng thế cũng không phải là khiếm lễ với thần. Trời nắng thì phải đội nón. CÒN NHƯ CÁI ĐẦU NÓ ĐƯƠNG THẲNG THẮN Ở TRÊN CÁI CỔ CAN CHI LẠI NGHIÊNG NÓ ĐI, LẠI CÚI NÓ XUỐNG. CHỈ CÓ NHỮNG KẺ HÈN HẠ, KHÔNG BIẾT TỰ TRỌNG HAY KHÔNG CHÍNH TRỰC, QUANG MINH MỚI KHÚM NÚM SỢ HÃI MÀ THÔI. Ông thần mỉm cười, mỉa mai:
- Vậy hẳn là ngài chính trực, quang minh?
Nhưng ông đồ đã không tức giận và thản nhiên đáp:
- Tôi chỉ biết bình sinh không nói dối một câu, chưa bao giờ định làm một việc phi pháp, còn như có chính trực, quang minh hay không, thì quả tôi không dám khoe khoang rằng tôi chính trực, quang minh.
Ông thần thầm nhủ: " Được rồi! Mi bảo mi không từng nói dối, không bao giờ làm việc phi pháp. Vậy ta sẽ theo mi để chờ mi nói dối một câu, hay làm một việc phi pháp, bấy giờ ta sẽ trị tội mi, ta sẽ quật mi chết tươi, cho hồn mi không còn oán hận ta được nữa, không còn đến kiện ta ở trước cửa toà Diêm Vương được nữa."…
Và từ đó ông thần đi theo sát bên cạnh ông Đồ Bể. Ông đã dùng phép thần thông để tạo ra rất nhiều tình huống nhằm gài bẫy để ông Đồ Bể mắc phải và để lộ chân tướng. (Phạm vi bài viết không cho phép người viết kể ra hết những tình huống rất ly kỳ hấp dẫn, đồng thời người viết cũng muốn để dành những chi tiết hấp dẫn đó cho các bạn đọc khi gặp được cuốn sách này). Tuy nhiên trong tất cả mọi tình huống, ông Đồ Bể đã giải quyết một cách thật quang minh chính trực, và thật thông minh nên cuối cùng ông thần đành phải chịu thua, và rồi… kể từ đó sự ghét bỏ bỗng trở thành lòng yêu thích, kính phục và ông thần tiếp tục đi theo ông Đồ Bể, không phải để thù ghét, gài bẫy, mà để bảo vệ, giúp đỡ. Tới Thăng Long, trong khi chờ đợi nhập trường thi, hai người được nghe thấy các thí sinh khác đồn rằng quan chánh chủ khảo không được liêm khiết cho lắm và nếu ai không chịu khó đút lót thì khó mà đậu được. Nghe vậy, ông Đồ Bể nhất định không chịu tin, nhưng rồi chuyện chánh chủ khảo tham nhũng đã thật sự xảy ra. Viên chánh chủ khảo thấy bài vở của ông Đồ Bể quá tuyệt vời nhưng lại tức vì tên cứng đầu này lại không thèm biết tới mình là ai nên thẳng tay phê chữ "Liệt" trên tất cả các "quyển" của ông Đồ Bể. Đây là lúc ông thần ra tay, và ông đã dùng thần thông để biến tất cả những chữ "Liệt" thành những chữ "Ưu", khiến ông Đồ Bể đậu thủ khoa sau 4 kỳ thi, thành thử kẻ mà viên chánh chủ khảo tham nhũng định để đỗ đầu phải tụt xuống hàng hai, khiến viên chánh chủ khảo cũng chả hiểu tại sao sự việc lại xảy ra như vậy, nên đành phải trả lại 20 nén bạc trong số 50 nén mà ông ta đã nhận ăn của đút.
Hôm xướng danh, thiên hạ nô nức đi xem. Các người đẹp Thăng Long chen vai thích cánh để được nhìn thấy mặt ông thủ khoa. Nhưng ông này không để ý tới một cô nào, tiến thẳng lại chỗ các quan, nhận lãnh áo mũ vua ban rồi vội ra đi. Sợ số tiền lộ phí thiếu hụt, ngay ngày hôm đó ông tân khoa trở về làng.
Khi qua miếu cổ, ông thần ra đón tiếp:
- Chào ông Cống mới.
Ông thủ khoa đoán chừng người bạn cùng đường đã lạc đệ (đã hỏng thi) nên lủi mất ngay từ hôm nghe tin mình trúng cử. Liền an ủi mấy câu:
- Thi cử chẳng qua ăn nhau về số mệnh. Thôi thì khoa này chẳng đậu bác chờ khoa sau… Có tài như bác, lo gì!
Ông thần cười đáp:
- Lần đầu tiên bác nói dối đấy nhé. Bác thừa biết rằng phải có tài lỗi lạc như bác mới đáng đỗ sao bác còn đem câu khách sáo về số mệnh ra an ủi tôi?
Ông thủ khoa cũng cười. Ông thần lại nói:
- Nhưng nay dù bác có nói dối một câu vô tội với người hỏng thi để người ấy khỏi mủi lòng, thì tôi cũng không tìm cách trị tội bác đâu. Vì nay bác đã trở nên một bạn chí thân của tôi rồi.
Ông thủ khoa ngơ ngác không hiểu, ông thần liền đem hết câu chuyện thật ra kể, từ hôm ông đồ qua miếu không ngả nón cúi đầu cho tới hôm ông trúng cử. Nói xong, ông thần biến mất.
Ông thủ khoa buồn rầu thầm nghĩ: "Thì ra nhờ có thần, mình mới đỗ. Như thế, cái thủ khoa của mình phỏng còn giá trị gì?"
Ý nghĩ ấy vẫn luẩn quẩn trong óc ông khi ông lủi thủi về tới đầu làng. Vì thế, khi thấy dân làng tấp nập mang cờ, mang lọng ra đón rước, ông xua tay nói:
- Xin mời các ông về cho. Tôi chẳng đỗ đạt gì cả mà rước xách. Tôi vẫn là ông Đồ Bể như xưa thôi, các ông ạ…"
Câu chuyện tiếp diễn khi ông Đồ Bể gửi trả lại áo mũ cho nhà vua, nên bị triệu vào Kinh để nhà vua tìm hiểu ngọn ngành và từ thời điểm này truyện còn ly kỳ hấp dẫn hơn và chỉ kết thúc sau khi ông Đồ Bể đậu luôn cả các kỳ thi hội và thi đình, trở thành trạng nguyên và thành phò mã.
Qua có 28 trang giấy, tác giả đã đưa người đọc trải qua trên 30 tình huống rất ly kỳ hấp dẫn, trong đó mọi vấn nạn đều được giải quyết một cách thông minh, quang minh, chính trực, như ngầm khuyến cáo người đọc rằng mình cần phải sống cho thật đường hoàng, ngay thẳng, hiên ngang, nếu muốn có một cuộc sống thật tốt đẹp.
Nếu cuốn sách đã được tái bản, người viết thành tâm đề nghị các bạn nên mua cho con cháu mình đọc, nhất là cho lứa tuổi từ 10 tới 16. Trường hợp nó chưa được tái bản, người viết rất mong có ai đó muốn tái bản nó. Nếu muốn vậy chỉ cần liên lạc với người viết để làm việc đó, người viết không cần bất cứ một quyền lợi nào, miễn sao cuốn sách hay và ích lợi này tới được tay con em chúng ta.



_________________________________________

Trích Hồi ký 60 năm chơi sách, Chương VI


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
HoaChanh
post Feb 25 2014, 04:56 PM
Gửi vào: #3


HoaChanh
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 1,071
Tham gia: 6-June 07
Thành viên thứ: 418







Lời hay Ý đẹp

- Đừng...




> Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.

> Đừng đánh mất niềm tin vào bản thân mình. Chỉ cần tin là mình có thể làm được và bạn lại có lý do để cố

gắng thực hiện điều đó.

> Đừng lấy của cải vật chất đo lường thành công hay thất bại. Chính tâm hồn của mỗi con người mới xác

dịnh được mức độ “giàu có” trong cuộc sống của mình.

> Đừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.

> Đừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ, ở bất kỳ khoảng thời gian nào trong cuộc đời.

> Đừng chạy chốn mà hãy tìm đến tình yêu, đó là niềm hạnh phúc nhất của bạn.

> Đừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.

> Đừng bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn đã sụp đổ, vì biết được thêm

một điều mới mẻ thì đó là lúc bạn tiến bộ rồi.

> Đừng quên mỉm cười trong cuộc sống. Nụ cười của bạn mang lại hạnh phúc cho người xung quanh và do

đó cũng mang lại hạnh phúc cho chính bạn.

> Đừng quên tìm cho mình một người bạn thật sự, bởi bạn bè chính là điều cần thiết trong suốt cuộc đời.

> Và cuối cùng đừng quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn cần.


( Trong mục: Văn Hoá , Đời Sống )

Hoa Chanh
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jan 6 2016, 05:13 PM
Gửi vào: #4


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,620
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8



Bài hay do Hoa Hạ sưu tầm (Trích trong BTH):



.

Ký ức về những bài học thuộc lòng
thời tiểu học

Dân miền Nam, những ai bây giờ chừng 55 tuổi trở lên, chắc đều nhớ rõ cách tổ chức độc đáo ở các lớp bậc tiểu học cách đây hơn bốn thập niên. Hồi đó, cách gọi tên các lớp học ngược lại với bây giờ, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Lớp Năm là lớp Một ngày nay, rồi đến lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, trên cùng là lớp Nhứt.

Lớp Năm, tức là lớp thấp nhất, thường do các thầy cô giỏi nhất hoặc cao niên, dồi dào kinh nghiệm nhất phụ trách. Sở dĩ như vậy là vì bậc học này được xem là vô cùng quan trọng, dạy học trò từ chỗ chưa biết gì đến chỗ biết đọc, biết viết, biết những kiến thức cơ bản đầu tiên, nghĩa là biến từ chỗ không có gì đến chỗ bắt đầu có.
Cô giáo dạy tiếng Việt

Học trò, không phân biệt giàu nghèo, khi đến lớp chỉ được dùng một thứ bút duy nhất, là bút ngòi lá tre. Gọi là lá tre bởi vì bút có cái ngòi có thể tháo rời ra được, giống hình lá tre nho nhỏ, khi viết thì chấm vào bình mực. Bình mực, thường là mực tím, có một cái khoen nơi nắp để móc vào ngón tay cho tiện. Thân bình bên trong gắn liền với một ống nhựa hình phểu dưới nhỏ trên to để mực khỏi sánh ra theo nhịp bước của học trò. Khi vào lớp thì học trò đặt bình mực vào một cái lổ tròn vừa vặn khoét sãn trên bàn học cho khỏi ngã đổ. Bút bi thời đó đã có, gọi là bút nguyên tử, là thứ đầy ma lực hấp dẩn đối với học trò ngày ấy, nhưng bị triệt để cấm dùng. Các thầy cô quan niệm rằng rèn chữ là rèn người, nên nếu cho phép học trò lớp nhỏ sử dụng bút bi sớm, thì sợ khi lớn lên, chúng sẽ dễ sinh ra lười biếng và cẩu thả trong tính cách chăng.

Mỗi lớp học chỉ có một thầy hoặc một cô duy nhất phụ trách tất cả các môn. Thầy gọi trò bằng con, và trò cũng xưng con chứ không xưng em với thầy. Về việc dạy dỗ, không thầy nào dạy giống thầy nào, nhưng mục tiêu kiến thức sau khi học xong các cấp lớp phải bảo đảm như nhau. Thí dụ như học xong lớp Năm thì phải đọc thông viết thạo, nắm vững hai phép toán cộng, trừ, lớp Tư thì bắt đầu tập làm văn, thuộc bảng cửu chương để làm các bài toán nhân, chia… Sách giáo khoa cũng không nhất thiết phải thống nhất, nên không có lớp học giống lớp nào về nội dung cụ thể từng bài giảng.

Cứ mỗi năm lại có các ban tu thư, có thể là do tư nhân tổ chức, soạn ra những sách giáo khoa mới giấy trắng tinh, rồi đem phân phối khắp các nhà sách lớn nhỏ từ thành thị cho chí nông thôn. Các thầy cô được trọn quyền lựa chọn các sách giáo khoa ấy để làm tài liệu giảng dạy, miễn sao hợp với nội dung chung của Bộ Giáo dục là được. Tuyệt nhiên không thấy có chuyện dạy thêm, học thêm ở bậc học này nên khi mùa hè đến, học trò cứ vui chơi thoải mái suốt cả mấy tháng dài.

Các môn học ngày trước đại khái cũng giống như bây giờ, chỉ có các bài học thuộc lòng trong sách Việt Văn, theo tôi, là ấn tượng hơn nhiều. Đó là những bài thơ, những bài văn vần dễ nhớ nhưng rất sâu sắc về tình cảm gia đình, tình yêu thương loài vật, tình cảm bạn bè, tình nhân loại, đặc biệt là lòng tự tôn dân tộc Việt. Tôi còn nhớ rõ trong sách Tân Việt Văn lớp Năm có bài học thuộc lòng thật hay về bóng đá mà hồi đó gọi bằng một từ rất hoa mỹ, là túc cầu:

TRẬN CẦU QUỐC TẾ

Chiều chưa ngã, nắng còn gay gắt lắm
Hai đội cầu hăng hái tiến ra sân
Tiếng hoan hô thêm dũng mãnh bội phần
Để cổ võ cho trận cầu quốc tế.
Đoàn tuyển thủ nước nhà hơi nhỏ bé
Nếu so cùng cầu tướng ở phương xa
Còi xuất quân vừa lanh lảnh ban ra
Thì trận đấu đã vô cùng sôi nổi.
Tiền đạo ta như sóng cồn tiến tới
Khi tạt ngang, khi nhồi bóng, làm bàn
Khiến đối phương thành rối loạn, hoang mang
Hậu vệ yếu phải lui về thế thủ
Thiếu bình tỉnh, một vài người chơi dữ
Nên trọng tài cảnh cáo đuổi ra sân
Quả bóng da lăn lộn biết bao lần
Hết hai hiệp và…đội nhà đã thắng
Ta tuy bé nhưng đồng lòng cố gắng
Biết nêu cao gương đoàn kết đấu tranh
Khi giao banh, khi phá lưới, hãm thành
Nên đoạt giải dù địch to gấp bội…

Bài học thuộc lòng này, về sau tôi được biết, lấy cảm hứng từ chiếc cúp vô địch đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của Việt Nam tại Đông Á Vận Hội trên sân Merdeka của Malaysia vào cuối thập niên 50, với những tên tuổi vang bóng một thời như Tam Lang, Ngôn, Cù Sinh, Vinh “đầu sói”, Cù Hè, Rạng “tay nhựa”… Tuy không biết chơi bóng đá, nhưng thằng bé là tôi lúc đó rất thích bài học thuộc lòng này nên tự nhiên…thuộc lòng luôn. Càng đọc càng ngẫm nghĩ, đây đâu phải là bài thơ chỉ nói về bóng đá mà thôi. Nó là bài học đoàn kết của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng gan lỳ, bất khuất khiến cho cả thế giới phải ngước nhìn bằng đôi mắt khâm phục. Bạn thấy lạ lùng chưa, chỉ một bài thơ ngắn nói về một thứ trò chơi thôi, mà lại chứa đựng biết bao nhiêu điều vĩ đại mà những lời đao to búa lớn ồn ào chắc chi đã làm được.

Nói về môn Lịch sử, hồi đó gọi là Quốc sử, đã có sẵn một bài học thuộc lòng khác:

GIỜ QUỐC SỬ

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng khắp trong giờ Quốc sử.
Thầy tôi bảo: “Các con nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thưở trước của giang san,
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
Các con nên đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này mong nối chí tiền nhân.
Ta tin rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân tộc Việt vẫn là dân hùng liệt.
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam.
Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm,
Đầy chiến thắng, vinh quang và hạnh phúc”

Hình ảnh ông thầy dạy Sử trong bài học thuộc lòng hiện lên, nghiêm nghị nhưng lại thân thương quá chừng, và bài Sử của thầy, tuy không nói về một trận đánh, một chiến công hay một sự kiện quá khứ hào hùng nào, nhưng lại có sức lay động mãnh liệt với đám học trò chúng tôi ngày ấy, đến nỗi mấy chục năm sau chúng tôi vẫn nhớ như in.

Lại có bài song thất lục bát về ông thầy dạy Địa lý, không nhớ tác giả là ai, nhưng chắc chắn tựa đề là “Tập vẽ bản đồ”, phía lề trái còn in cả hình vẽ minh họa của Quần đảo Trường Sa và Hoàng sa:

Hôm qua tập vẽ bản đồ,
Thầy em lên bảng kẻ ô rõ ràng.
Ranh giới vẽ phấn vàng dễ kiếm,
Từ Nam Quan cho đến Cà Mau.
Từng nơi, thầy thuộc làu làu,
Đây sen Đồng Tháp, đây cầu Hiền Lương.
Biển Đông Hải, trùng dương xanh thẳm,
Núi cheo leo thầy chấm màu nâu.
Tay đưa mềm mại đến đâu,
Sông xanh uốn khúc, rừng sâu chập chùng…
Rồi với giọng trầm hùng, thầy giảng:
“ Giống Rồng Tiên chói rạng núi rừng,
Trải bao thăng giáng, phế hưng,
Đem giòng máu thắm, bón từng gốc cây.
Làn không khí giờ đây ta thở,
Đường ta đi, nhà ở nơi này,
Tổ tiên từng chịu đắng cay,
Mới lưu truyền lại đêm ngày cho ta.
Là con cháu muôn nhà gìn giữ,
Đùm bọc nhau, sinh tử cùng nhau.
Tóc thầy hai thứ từ lâu,
Mà tài chưa đủ làm giàu núi sông !
Nay chỉ biết ra công dạy dỗ,
Đàn trẻ thơ mong ở ngày mai.
Bao nhiêu hy vọng lâu dài,
Dồn vào tất cả trí tài các con …”

Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, tóc trên đầu tôi cũng bắt đầu hai thứ như ông thầy già dạy Địa trong bài học thuộc lòng ngày ấy, nhưng có một điều mà tôi nghĩ mãi vẫn chưa ra. Ông thầy đang dạy Địa, hay ông thầy đang âm thầm truyền thụ lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc cho đàn trẻ thơ qua mấy nét vẽ bản đồ? Lời của thầy that nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng cũng that tha thiết, chạm vào được chỗ thiêng liêng nhất trong tâm hồn những đứa trẻ ngây thơ vào những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, nơi chúng được dạy rằng ngoài ngôi nhà nhỏ bé của mình với ông bà, cha mẹ, anh em ruột thịt, chúng còn có một ngôi nhà nữa, rộng lớn hơn nhiều, nguy nga tráng lệ, thiêng liêng vĩ đại hơn nhiều, một ngôi nhà mà chúng phải thương yêu và có bổn phận phải vun đắp: Tổ quốc Việt Nam.
(st)



.


BÀI NGỤ NGÔN Ý NHỊ:
.
Trên FB của Phuong Huong LE
20 hrs ·

CỔ THỤ VÀ CỎ CÚ:

Cổ thụ nhìn xuống đất : "Cỏ cú thật đáng thương, suốt đời sống là là trên mặt đất, không thấy được mặt trời, mặt trăng..."Cỏ cú đáp: "Cây càng cao,càng cô đơn, càng thấp, càng nhiều bạn. Nếu có trận siêu bão thổi qua, cổ thụ các bác sẽ trốc gốc,gãy cành, chứ cỏ vẫn bình yên,vô sự . Bây giờ đang là mùa bão, sắp có trận siêu siêu bão , gió cấp 30 đấy" .Cổ thụ nghe vậy, cả kinh!



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
HoaChanh
post Jan 15 2016, 10:10 PM
Gửi vào: #5


HoaChanh
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 1,071
Tham gia: 6-June 07
Thành viên thứ: 418





CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2016



Mừng Năm Mới và mong muốn mọi người có sức khỏe, bình an, hạnh phúc ....

Xin gởi đến quý vị và các bạn một đề tài để suy gẫm do Đức Đạt-Lai Lạt-ma (Dalai Lama) của Tây Tạng hướng dẫn như sau đây:


CHỈ CÓ 2 THỨ THÔI

+ Có 2 thứ bạn nên tiết kiệm, đó là sức khỏe và lời hứa.

+ Có 2 thứ bạn phải cho đi, đó là tri thức và lòng tốt.

+ Có 2 thứ bạn phải thay đổi, đó là bản thân và nhận thức.

+ Có 2 thứ bạn phải giữ gìn, đó là niềm tin và nhân cách.

+ Có 2 thứ bạn phải trân trọng, đó là gia đình và hiện tại.

+ Có 2 thứ bạn phải tự mình thực hiện, đó là lao động và chịu trách nhiệm với việc mình làm.

+ Có 2 thứ bạn phải lãng quên, đó là đau thương và hận thù.

+ Có 2 thứ bạn phải khắc ghi, là công ơn Mẹ Cha và sự giúp đỡ của người khác.

+ Có 2 thứ bạn buộc phải có để là người thành công, đó là đam mê và lòng kiên trì.

+ Có 2 thứ bạn không được làm, đó là hãm hại người khác và phản bội lòng tin.

+ Có 2 thứ bạn phải bảo vệ, đó là danh tín và lẽ phải.

+ Có 2 thứ bạn phải chấp nhận, là cái chết và sự khác biệt.

+ Có 2 thứ bạn phải kiểm soát, đó là bản năng và cảm xúc.

+ Có 2 thứ bạn phải tránh xa, đó là cám dỗ và sự ích kỷ.

+ Có 2 thứ bạn luôn phải xử dụng mà đừng hà tiện, là tiền bạc và kinh nghiệm.

+ Có 2 thứ bạn không được sợ sệt, là cái ác và sống thật.

+ Có 2 thứ bạn phải nuôi dưỡng, là tình yêu và sự bao dung.

+ Có 2 thứ mà bạn cần phải đạt được trong cuộc sống, đó là thành đạt và hạnh phúc.

+ Có 2 thứ bạn phải luôn sẵn sàng, đó là khó khăn và ngày mai.

+ Có 2 thứ bạn phải luôn ghi nhớ, đó là thực hiện những điều trên và làm thật tốt chúng trong cuộc sống hàng ngày.

Dalai Lama

Hạnh Dương



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
HoaChanh
post Feb 5 2016, 01:06 AM
Gửi vào: #6


HoaChanh
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 1,071
Tham gia: 6-June 07
Thành viên thứ: 418





Bài học tuổi thơ


Thằng con tôi 11 tuổi, học lớp sáu.
Qua mùa thi chuyển cấp, nhân một buổi chiều cho con đi chơi mát, nó kể... đang hỏi nó về chuyện thi cử, nó chợt hỏi lại tôi :
- Ba! Có bao giờ ba thấy có một bài luận văn nào không điểm không ba? Con số không cô cho bự bằng quả trứng gà. Không phải cho bên lề, mà một vòng tròn giữa trang giấy. Thiệt đó ba. Chuyện ngay trong lớp của con, chứ không phải con nghe kể đâu.
Tôi chưa kịp hỏi, nó tiếp :
- Còn thua ba nữa đó, ba. Ít nhứt ba cũng được nửa điểm. Còn thằng bạn con, con số không bự như quả trứng.
Thằng con tôi ngửa mặt cười, có lẽ nó thấy thú vị vì thời học trò của ba nó ít nhứt cũng hơn được một đứa.

Số là cách đây vài năm, có một nhà xuất bản gởi đến các nhà văn nhà thơ quen biết trong cả nước một câu hỏi, tôi còn nhớ đại ý, nhà văn nhà thơ thời thơ ấu học văn như thế nào, nhà xuất bản in thành sách "Nhà văn học văn". �

Đọc qua, nghe các nhà văn nhà thơ kể, tất nhiên là mỗi người có mỗi cuộc đời, mỗi người mỗi giọng văn, nhìn chung thì người nào, lúc còn đi học, cũng có khiếu văn, giỏi văn. Nếu không thì lấy gì làm cơ sở để sau này trở thành nhà văn?

Rất lô-gích và rất tự nhiên. Duy chỉ có bài của tôi là hơi khác, có gì như ngược lại. Tôi kể, hồi tôi học ở trường Trung học Nguyễn Văn Tố (1948 - 1950) tôi là một học sinh trung bình, về môn văn không đến nỗi liệt vào loại kém, nhưng không có gì tỏ ra là người có khiếu văn chương. Và có một lần, bài luận văn của tôi chỉ được có một điểm trên hai mươi (1/20).
Đó là kỷ niệm không quên trong đời học sinh của tôi, môn văn.

Khi con tôi đọc bài văn đó, con tôi hỏi :
- Sao bây giờ ba là nhà văn?
Và bạn bè tôi cũng hỏi như vậy. Tôi cũng đã tự lý giải về mình, và lời giải cũng đã in vào sách rồi, xin không nhắc lại.
Tôi hỏi con tôi :
- Luận văn cô cho khó lắm hay sao mà bạn con bị không điểm.
- Luận văn cô cho "Trò hãy tả buổi làm việc ban đêm của bố".
- Con được mấy điểm?
- Con được sáu điểm.
- Con tả ba như thế nào?
- Thì ba làm việc làm sao thì con tả vậy.
- Mấy đứa khác, bạn của con?
Thằng con tôi như chợt nhớ, nó liến thoắng :
- A! Có một thằng ba nó không hề làm việc ban đêm mà nó cũng được sáu điểm đó ba.
- Đêm ba nó làm gì? Nó tả ba nó đi nhậu à?
- Dạ không phải. Ba nó làm việc ban ngày nhưng khi nó tả thì nó tả ba nó làm việc ban đêm, ba hiểu chưa?
- Còn thằng bạn bị không điểm, nó tả như thế nào?
- Nó không tả gì hết, nó nộp giấy trắng cho cô.
- Sao vậy?
- Hôm trả bài lại cho lớp, cô gọi nó lên, cô giận lắm, ba. Cô hét : "Sao trò không làm bài". Nó cúi đầu làm thinh. Tụi con ngồi dưới, đứa nào cũng run cho nó.
- Nó là học trò loại "cá biệt" à?
- Không phải đâu ba, học trò tiên tiến đó ba.
- Sao nữa? Nó trả lời cô giáo như thế nào?
- Nó cứ làm thinh. Tức quá, cô mới quất cây thước xuống bàn cái chát : "Sao trò không làm bài?" Tới lúc đó nó mới nói : "Thưa cô, con không có ba". Nghe nó nói, hai con mắt của cô con mở tròn như hai cái tô. Cô đứng sững như trời trồng vậy ba!

Tôi bỗng nhập vai cô giáo. Tôi thấy mình ngã qụy xuống trước đứa học trò không có ba.
Sau đó cô và cả lớp mới biết được, em mồ côi cha vừa lọt lòng mẹ. Ba em hy sinh trên chiến trường biên giới. Từ ấy, má em ở vậy, tần tảo nuôi con...
Có người hỏi em : "Sao mày không tả ba của đứa khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má.

Chuyện của đứa học trò bị bài văn không điểm đã để lại trong tôi một nỗi đau. Em bị không điểm, nhưng với tôi, người viết văn là một bài học, bài học trung thực. Sáng tạo không đồng nghĩa với bịa đặt.

Giữa những dòng chữ bịa đặt và trang giấy trắng, tôi xin để trang giấy trắng trung thực trên bài viết.

Hoa Chanh sưu tầm trên net
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
HoaChanh
post Mar 4 2016, 12:58 AM
Gửi vào: #7


HoaChanh
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 1,071
Tham gia: 6-June 07
Thành viên thứ: 418





Người chuyển bài: Phan Văn Phước

Ký ức về những bài học thuộc lòng thời Tiểu Học





Dân miền Nam, những ai bây giờ chừng 55 tuổi trở lên, chắc đều nhớ rõ cách tổ chức độc đáo ở các lớp bậc Tiểu Học cách đây hơn bốn thập niên. Hồi đó, cách gọi tên các lớp học ngược lại với bây giờ, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Lớp Năm là lớp Một ngày nay, rồi đến lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, trên cùng là lớp Nhứt. Lớp Năm, tức là lớp thấp nhất, thường do các Thầy Cô giỏi nhất hoặc cao niên, dồi dào kinh nghiệm nhất phụ trách.

Sở dĩ như vậy là vì bậc học này được xem là vô cùng quan trọng, dạy học trò từ chỗ chưa biết gì đến chỗ biết đọc, biết viết, biết những kiến thức cơ bản đầu tiên, nghĩa là biến từ chỗ không có gì đến chỗ bắt đầu có.



Học trò, không phân biệt giàu nghèo, khi đến lớp, chỉ được dùng một thứ bút duy nhất là bút ngòi lá tre. Gọi là lá tre bởi vì bút có cái ngòi có thể tháo rời ra được, giống hình lá tre nho nhỏ, khi viết thì chấm vào bình mực. Bình mực thường là mực tím, có một cái khoen nơi nắp để móc vào ngón tay cho tiện. Thân bình bên trong gắn liền với một ống nhựa hình phểu, dưới nhỏ, trên to để mực khỏi sánh ra theo nhịp bước của học trò.

Khi vào lớp thì học trò đặt bình mực vào một cái lỗ tròn vừa vặn, khoét sẵn trên bàn học cho bình mực khỏi ngã, đổ. Bút bi thời đó đã có, gọi là bút nguyên tử, là thứ đầy hấp dẫn đối với học trò ngày ấy, nhưng bị triệt để cấm dùng.

Các Thầy Cô quan niệm rằng rèn chữ là rèn người, nên nếu cho phép học trò lớp nhỏ sử dụng bút bi sớm thì sợ khi học trò lớn lên, chúng sẽ dễ sinh ra lười biếng và cẩu thả trong tính cách chăng. Mỗi lớp học chỉ có một Thầy hoặc một Cô duy nhất phụ trách tất cả các môn.

Thầy gọi trò bằng con, và trò cũng xưng con, chứ không xưng em với Thầy. Về việc dạy dỗ, không Thầy nào dạy giống Thầy nào, nhưng mục tiêu kiến thức sau khi học xong các cấp lớp phải bảo đảm như nhau. Thí dụ như học xong lớp Năm thì phải đọc thông, viết thạo, nắm vững hai phép toán cộng, trừ; lớp Tư thì bắt đầu tập làm văn, thuộc bảng cửu chương để làm các bài toán nhân, chia… Sách giáo khoa cũng không nhất thiết phải thống nhất, nên không có lớp học nào giống lớp nào về nội dung cụ thể từng bài giảng.





Cứ mỗi năm lại có các Ban Tu Thư, có thể là do tư nhân tổ chức, soạn ra những sách giáo khoa mới, giấy trắng tinh, rồi đem phân phối khắp các nhà sách lớn nhỏ từ thành thị cho chí nông thôn. Các Thầy Cô được trọn quyền lựa chọn các sách giáo khoa ấy để làm tài liệu giảng dạy, miễn sao hợp với nội dung chung của Bộ Giáo Dục là được.

Tuyệt nhiên không thấy có chuyện dạy thêm, học thêm ở bậc học này nên, khi mùa hè đến, học trò cứ vui chơi thoải mái suốt cả mấy tháng dài. Các môn học ngày trước đại khái cũng giống như bây giờ, chỉ có các bài học thuộc lòng trong sách Việt Văn, theo tôi, là gây ấn tượng hơn nhiều.

Đó là những bài thơ, những bài văn vần dễ nhớ, rất sâu sắc về tình cảm gia đình, tình yêu thương loài vật, tình cảm bạn bè, tình nhân loại, đặc biệt là lòng tự tôn Dân Tộc Việt.

Tôi còn nhớ rõ trong sách Tân Việt Văn lớp Năm có bài học thuộc lòng thật hay về bóng đá mà hồi đó gọi bằng từ rất hoa mỹ là túc cầu:




TRẬN CẦU QUỐC TẾ

Chiều chưa ngã, nắng còn gay gắt lắm
Hai đội cầu hăng hái tiến ra sân
Tiếng hoan hô thêm dũng mãnh bội phần
Để cổ võ cho trận cầu quốc tế.
Đoàn tuyển thủ nước nhà hơi nhỏ bé
Nếu so cùng cầu tướng ở phương xa
Còi xuất quân vừa lanh lảnh ban ra
Thì trận đấu đã vô cùng sôi nổi.
Tiền đạo ta như sóng cồn tiến tới
Khi tạt ngang, khi nhồi bóng, làm bàn
Khiến đối phương thành rối loạn, hoang mang
Hậu vệ yếu phải lui về thế thủ
Thiếu bình tỉnh, một vài người chơi dữ
Nên trọng tài cảnh cáo đuổi ra sân
Quả bóng da lăn lộn biết bao lần
Hết hai hiệp và…đội nhà đã thắng
Ta tuy bé, nhưng đồng lòng cố gắng
Biết nêu cao gương đoàn kết đấu tranh
Khi giao banh, khi phá lưới, hãm thành
Nên đoạt giải dù địch to gấp bội…

Bài học thuộc lòng này, về sau tôi được biết là lấy cảm hứng từ chiếc cúp vô địch đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của Việt Nam tại Đông Á Vận Hội trên sân Merdeka của Malaysia vào cuối thập niên 50, với những tên tuổi vang bóng một thời như Tam Lang, Ngôn, Cù Sinh, Vinh “đầu sói”, Cù Hè, Rạng “tay nhựa”…

Tuy không biết chơi bóng đá, nhưng thằng bé là tôi lúc đó rất thích bài học thuộc lòng này nên tự nhiên…thuộc lòng luôn.

Càng đọc, càng ngẫm nghĩ đó đâu phải là bài thơ chỉ nói về bóng đá mà thôi. Nó là bài học đoàn kết của một Dân Tộc tuy nhỏ bé, nhưng gan lỳ, bất khuất khiến cho cả thế giới phải ngước nhìn bằng đôi mắt khâm phục!

Bạn thấy lạ lùng chưa, chỉ một bài thơ ngắn nói về một thứ trò chơi thôi, mà lại chứa đựng biết bao nhiêu điều vĩ đại, còn những lời ''đao to, búa lớn ồn ào'' chắc chi đã làm được việc.

Nói về môn Lịch Sử, hồi đó gọi là Quốc Sử, đã có sẵn bài học thuộc lòng như sau:



GIỜ QUỐC SỬ

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng khắp trong giờ Quốc Sử.

Thầy tôi bảo:

“Các con nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thưở trước của Giang San,
Đã đổ máu vì lợi quyền Dân tộc.
Các con nên đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này mong nối chí Tiền Nhân.
Ta tin rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân Tộc Việt vẫn là dân hùng liệt.
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam.
Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm,
Đầy chiến thắng, vinh quang và hạnh phúc!”

Hình ảnh ông Thầy dạy Sử trong bài học thuộc lòng hiện lên, nghiêm nghị nhưng lại thân thương quá chừng, và bài Sử của Thầy, tuy không nói về một trận đánh, một chiến công hay một sự kiện quá khứ hào hùng nào, nhưng lại có sức lay động mãnh liệt với đám học trò chúng tôi ngày ấy, đến nỗi mấy chục năm sau, chúng tôi vẫn nhớ như in.

Lại có bài song thất lục bát về ông Thầy dạy Địa lý, không nhớ tác giả là ai, nhưng chắc chắn tựa đề là “Tập vẽ bản đồ”, phía lề trái còn in cả hình minh họa Quần Đảo Trường Sa và Hoàng Sa:


Hôm qua tập vẽ bản đồ,
Thầy em lên bảng kẻ ô rõ ràng.
Ranh giới vẽ phấn vàng dễ kiếm,
Từ Nam Quan cho đến Cà Mau.
Từng nơi, Thầy thuộc làu làu,
Đây sen Đồng Tháp,
đây cầu Hiền Lương, Biển Đông,
trùng dương xanh thẳm,
Núi cheo leo Thầy chấm màu nâu.
Tay đưa mềm mại đến đâu,
Sông xanh uốn khúc, rừng sâu chập chùng…
Rồi với giọng trầm hùng, Thầy giảng:
“Giống Rồng Tiên chói rạng núi rừng,
Trải bao thăng giáng, phế hưng,
Đem giòng máu thắm, bón từng gốc cây.
Làn không khí giờ đây ta thở,
Đường ta đi, nhà ở nơi này,
Tổ tiên từng chịu đắng cay,
Mới lưu truyền lại đêm ngày cho ta.
Là con cháu muôn nhà gìn giữ,
Đùm bọc nhau, sinh tử cùng nhau.
Tóc Thầy hai thứ từ lâu,
Mà tài chưa đủ làm giàu núi sông!
Nay chỉ biết ra công dạy dỗ,
Đàn trẻ thơ mong ở ngày mai.
Bao nhiêu hy vọng lâu dài,
Dồn vào tất cả trí tài các con …”

Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, tóc trên đầu tôi cũng bắt đầu hai thứ như ông thầy già dạy Địa trong bài học thuộc lòng ngày ấy, nhưng có một điều mà tôi nghĩ mãi vẫn chưa ra. Ông thầy đang dạy Địa, hay ông thầy đang âm thầm truyền thụ lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc cho đàn trẻ thơ qua mấy nét vẽ bản đồ?

Lời của Thầy thật là nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng cũng thật là tha thiết, chạm vào được chỗ thiêng liêng nhất trong tâm hồn những đứa trẻ ngây thơ vào những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, nơi chúng được dạy rằng ngoài ngôi nhà nhỏ bé của mình với ông bà, cha mẹ, anh em ruột thịt, chúng còn có một ngôi nhà nữa, rộng lớn hơn nhiều, nguy nga tráng lệ, thiêng liêng, vĩ đại hơn nhiều, một ngôi nhà mà chúng phải thương yêu và có bổn phận phải vun đắp.

Nguyễn Cao Trường (Nguồn: Hữu Nguyên blog)

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
HoaChanh
post May 28 2016, 10:18 PM
Gửi vào: #8


HoaChanh
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 1,071
Tham gia: 6-June 07
Thành viên thứ: 418




Những bài hát sinh hoạt đoàn thể ngày xưa...

NHÀ CỦA TA

Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà

Xóm làng là làng của ta
Xương máu ông cha làm ra
Chúng ta phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà

Cánh đồng đơm đầy hương hoa
Công khó dân ta làm ra
Quyết tâm ta gìn giữ lấy
Nuôi nhau chung sống một nhà

Xóm giềng là tình quê hương
Chung sống vui bên ruộng nương
Có nhau để cùng chung sức
Vươn lên non nước hùng cường

Cõi đời là đời của ta
Nuôi dưỡng công lao mẹ cha
Lớn khôn để gìn giữ nước
Thay nhau xây đắp sơn hà

Đây là một trong rất nhiều ca khúc phổ biến của sinh hoạt học đường và hướng đạo trước 1975, có lẽ các thế hệ cha anh mình không ai là không thuộc. Ca khúc với giai điệu mộc mạc, được hát một cách tự nhiên, sảng khoái trong tâm thế tự tin là những người làm chủ đất nước. Không khó để tìm ra tác giả là linh mục Giuse Maria Nguyễn Văn Thích. Ông được biết đến với bút hiệu Sảng Đình (1891 – 1978). Lm. Nguyễn Văn Thích còn là nhà giáo, nhà báo và nhà thơ; người sáng lập ra báo Vì Chúa và từng cộng tác với báo Nguồn Sống, tạp chí Đại học Huế, Cổ học Quí san…

(St)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 17th September 2019 - 11:39 PM