IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

9 Pages: V  1 2 3 > »   
Reply to this topicStart new topic
> NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI, (TÔN GIÁO)
BenTreHome
post May 29 2011, 11:07 PM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





Bentrehome chân thành cám ơn anh Toàn Không Đỗ Đăng Tiến đã đồng ý cho đăng những bài viết về Phật Pháp của anh.

Dưới đây là những bài trong cuốn Nguồn gốc loài người xuất bản năm 2010.

KN


NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI


**************************


VỊ TRỜI HỌC ĐẠO

Toàn Không


Một vị Trời có dung mạo tuyệt diệu, từ thân tỏa ra ánh sáng rực rỡ, chiếu soi khắp rừng cây công-tử Kỳ-Đà tại thành Xá-Vệ. Vào lúc cuối đêm gần về sáng, vị Trời ấy đến chỗ đức Thích-Ca Mâu-Ni tại Tịnh-xá Kỳ-Hoàn, trong vườn Cấp-Cô-Độc. Vị Thiên cúi đầu lễ Phật, rồi cất tiếng nói kệ hỏi:
Cái gì nặng hơn đất?
Cái gì cao hơn không?
Cái gì nhanh hơn gió?
Cái gì nhiều hơn cỏ?
Phật nói kệ đáp:
Giới đức nặng hơn đất,
Ngạo mạn cao hơn không,
Nhớ nghĩ nhanh hơn gió,
Tư tưởng nhiều hơn cỏ.
Sau khi nghe lời dạy xong, vị Trời ấy phấn khởi vui mừng, cúi đầu lễ Phật, rồi biến mất trong nháy mắt.

LỜI BÀN:

Cái gì nặng hơn đẩt? Chúng ta tự hỏi xem trái đất chứa đủ thứ sắt thép, sỏi đá, núi rừng, đất nước v.v… nặng như thế còn có gì nặng hơn được; thế mà Đức Phật bảo còn có thứ nặng hơn nữa, đó là Giới đức. Giới là giới hạn, răn dạy ngay thẳng, Đức là đạo lý làm người, điều thiện, Giới đức là làm thiện tránh ác. Đức Phật dạy:” làm thiện tránh ác còn nặng hơn cả sức nặng của trái đất, thật là lời vàng.
Cái gì cao hơn không? Thử nghĩ xem đâu còn cái gì cao hơn được không gian mênh mông, Đức Phật bảo: Ngạo mạn còn cao hơn cả không nữa, vì sự ngạo mạn của con người vô giới hạn. Thế giới điên đảo vì sự ngạo mạn của con người, thật là ý ngọc.
Cái gì nhanh hơn gió? Gió thoảng qua, gió bão rất nhanh, cũng có thứ nhanh hơn gió như ánh chớp, tốc độ của ánh sáng. Nhưng Đức Phật dạy: Nhớ nghĩ nhanh hơn gió, vì chợt nhớ, chợt nghĩ nhanh như chớp mắt, nên nhớ nghĩ là nhanh nhất, thật là tuyệt diệu.
Cái gì nhiều hơn cỏ? Trái đất này cỏ mọc biết bao nhiêu như thế, làm sao mà tính cho hết; thế mà Đức Phật bảo: Tư tưởng nhiều hơn cỏ, tư tưởng là suy nghĩ hết việc này qua chuyện khác, suốt ngày (nhớ, nghĩ) suốt đêm (nằm mơ), từ đời này qua đời khác không ngưng nghỉ; bởi vậy, tư tưởng còn nhiều hơn cỏ, sao mà đúng thế.
Những lời Phật dạy đều nằm ngoài sự suy tưởng của con người. vì vậy, vị Trời được Phật chỉ dạy, nghe xong suy nghĩ thấy chí lý quá, hay quá nên ghi nhớ, vui vẻ phấn khởi, rồi lễ Phật mà đi.
Đối với Phật tử chúng ta, đọc được những lời dạy qúy báu này, nên cố gắng ghi nhớ để thực hành, thực hành cái gì?, thực hành giữ Giới đức, thực hành bỏ kiêu căng ngã mạn, bỏ suy nghĩ tưởng nhớ những chuyện không đâu. Như vậy là chúng ta Tu vậy....,.



*****************************


CẦU XIN

CÓ HIỆU QỦA KHÔNG?


Toàn Không


Thời đức Phật du hoá tại vườn A-nan-Đà trong rừng Tương-thôn-Mại, có một vị Trời Ca-Di-Ni (Vị này từ cung Phạm Thiên đến) với sắc tướng uy nghi, chiếu sáng rực rỡ, lúc đêm gần về sáng đến nơi đức Phật cúi đầu lễ rồi thưa:
- Thưa đức Thế-Tôn, các người cao ngạo nói rằng: “Nếu có người nào chết đi, họ có thể làm cho tự do sinh lên cõi Trời”. Đức Thế-Tôn là đấng Pháp-chủ của Trời và Người, con mong muốn đức Thế-Tôn làm cho người chết được sinh lên cõi Trời.
Đức Phật hỏi:
- Này Ca-Di-Ni, Ta hỏi ông tùy theo sự hiểu biết mà trả lời, nếu trong thôn-ấp có người làm ác về thân khẩu ý. Thân làm ác như sát sanh, trộm cướp, tà dâm; miệng nói ác như nói dối, nói lời thêu dệt, nói giọng hai lưỡi, nói lời độc ác; ý nghĩ ác như tham lam không cho mà lấy muốn cướp đoạt cho mình, sân hận thù hằn, nghĩ và hành động tà vạy ngu si; người ấy khi chết, nếu có một người hay một số người van xin, kêu gọi, cầu xin để người ấy được sinh lên cõi Trời, liệu có được không?
Trời Ca-Di-Ni đáp:
- Không thể được, thưa đức Thế-Tôn.
Đức Phật khen:
- Đúng thế, nếu người chết ấy khi còn sống đã làm mười điều ác, mà khi chết lại được sinh lên cõi Trời, việc đó không thể có, hoàn toàn không thể xảy ra; cũng như có người ôm tảng đá lớn ném vào trong hồ nước, nếu có một người hay một số người chắp tay cầu nguyện, van xin, khẩn khoản nài xin v.v... mong cho tảng đá nổi lên mặt nước, như vậy tảng đá có nổi lên không?
Trời Ca-Di-Ni trả lời:
- Không thể được, thưa Thế-Tôn.
Ngài hỏi tiếp:
- Nếu như có người tinh tấn siêng tu, làm mười điều lành, thành tựu diệu pháp, nghĩa là không giết người hại vật mà chỉ làm lợi cho người và vật. Không lấy của người không cho, không dâm đãng; không nói dối mà chỉ nói thật, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác mà chỉ nói lời hiền hòa và đúng sự thật; không tham lam, không giận dữ thù hằn, không tà kiến ngu si mà chỉ suy nghĩ hành động chân chính. Khi người ấy chết đi, có một số người nguyền rủa, cầu xin mong cho người ấy sa vào Địa-ngục, liệu có được không?
Trời Ca-Di-Ni đáp:
- Thưa đức Thế-Tôn, không thể được.
Ngài khen:
- Đúng thế, nếu một người đã đoạn trừ làm mười điều ác, chỉ làm điều lành, siêng tu diệu pháp; khi người ấy qua đời, nếu có một số người nguyền rủa, cầu xin cho người ấy đọa vào địa ngục thì điều này không thể xảy ra. Ngược lại: người ấy sẽ được sinh đến cõi tốt; cũng như có người đổ dầu mỡ xuống nước, dầu mỡ tự nhiên nổi lên, không thể cầu nguyện, van xin mà dầu mỡ chìm xuống được.
Sau khi nghe giảng, vị Trời phấn khởi, vui vẻ, cúi đầu lễ Phật, rồi trong khoảnh khắc biến mất.


LỜI BÀN:

Cầu xin mà có hiệu qủa, chẳng có ai không cầu, cứ ngồi đó mà cầu nguyện là tự có tất cả, chẳng phải làm việc vất vả, cần gì phải học hành cực nhọc; ta cứ thủng thẳng làm việc, cứ từ từ mà học hành, đâu cần chạy đua với cái đồng hồ cho khổ trí, đâu cần thức khuya dậy sớm cho mệt thân, vì sao? Vì cứ tin tưởng tuyệt đối vào sự cầu nguyện là có, là được tất cả những gì ta mong muốn, một số người nghĩ như vậy; nhưng thử hỏi cứ ngồi đấy mà cầu nguyện, không chịu làm việc, không chịu học hành, không chịu làm các việc thiện, liệu có được kết qủa mà ta mong cầu không?, hay như người ngủ mơ, tưởng có thật, nhưng khi thức dậy chẳng có gì; đó là mong cầu hão huyền, không tưởng, thật là mất thời giờ vô ích.
Nói rằng Đạo Phật cũng có cầu nguyện, cầu vãng sinh chẳng hạn, như vậy cũng vô ích sao? Không phải thế, sự cầu này nếu ai hiểu đúng ý nghĩa, trước nhất phải làm các điều lành, tránh làm các điều ác, thứ đến là trong khi cầu tâm phải trong sạch, thanh tịnh, nhất tâm không loạn tưởng thì mới ứng nghiệm, còn không được như vậy sẽ chỉ như vẹt kêu suốt ngày chẳng ích gì.
Một số người tới chùa lễ Phật để xin phù hộ buôn may bán đắt, xin cho con cháu đỗ đạt v.v..., đây là sự cầu xin không đúng, chúng ta cần sửa lại bằng cách chỉnh đốn việc buôn bán sao cho khách hàng đến tiệm của mình nhiều hơn trước tự nhiên phát triển lên. Bằng cách khuyến khích, hay nhờ người dạy dỗ con cháu chăm học sẽ đỗ đạt, Phật không bao giờ phù trợ cho những kẻ làm ác, lười biếng mà mong cầu được cái nọ cái kia.
Chúng ta không nên tin tưởng một cách mù quáng, như mới nghe người này hay người kia nói chỗ này linh, chỗ kia thiêng là tin liền, mà phải xem xét kỹ lưỡng hư thực ra sao? Như có người nói: “Trong cục đá kia có vàng”, nếu không có gì chứng minh được trong cục đá có vàng, ta không nên tin. Những loại tin như thế là tin mù quáng, có biết bao nhiêu người tin người mất hết gia tài sự nghiệp v.v...
Đến chùa lễ Phật là để tỏ lòng tôn kính Phật là bậc hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp giáo hóa chúng-sanh, chúng ta tôn kính Ngài là bậc giác ngộ, trí tuệ tối thắng nhất, hiểu biết cùng tận tất cả mọi vấn đề trong vũ trụ; chúng ta kính lễ Phật để tỏ lòng biết ơn Ngài đã mở mang sự hiểu biết, phá màn mây đen tối bao phủ lên sự hiểu biết của con người. Chúng ta chỉ xin Ngài phù trợ cho chúng ta sự sáng suốt, tính chịu đựng, lòng khoan dung độ lượng và tâm an bình mà thôi....,.


Toàn Không


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jun 3 2011, 11:38 AM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21




LỄ VẬT CÚNG TẾ

Toàn Không


Bấy giờ, tại thành Xá-Vệ, có Bà-la-môn Trường-Thân tổ chức đại hội cúng tế rất lớn, các lễ vật gồm bảy trăm con vật và các thức ăn thức uống cũng được chuẩn bị một cách đầy đủ. Thành phần tham dự gồm có dân chúng trong vùng, các viên chức sắc trong cả nước Xá-Vệ đến, đặc biệt hơn nữa là nhiều người từ các nước khác cũng sẽ đến dự kỳ đại hội cúng tế lớn lao này.

Bà-la-môn Trường-Thân nghe nói: “Có Sa-môn họ Cù-Đàm, là dòng dõi quí tộc, con Vua Tịnh-Phạn, bỏ địa vị quyền uy, xa lìa gia đình giàu sang phú quí, để đi học đạo và đã đắc bậc Chánh-Đẳng Chánh-Giác”.

Ông cũng nghe nói: “Sa-môn Cù-Đàm đang du hành trong nhân gian, vừa mới đến nước Xá-Vệ, hiện đang cư ngụ tại tịnh-xá Cấp-Cô-Độc, thuộc rừng Kỳ-Đà”.

Bà-la-môn Trường-Thân liền nghĩ: “Nay sẽ tổ chức đại hội cúng tế, ta nên đến hỏi nơi Sa-môn Cù-Đàm để cho sự tổ chức không bị thiếu sót”.

Suy nghĩ xong, ông liền ra lệnh chuẩn bị, rồi ông đi xe ngựa trắng, có các thanh niên trai tráng, kẻ trước người sau, cầm dù lọng cán vàng, rầm rộ ra khỏi thành Xá-Vệ, tiến đến rừng Kỳ-Đà với lòng ngưỡng mộ. Khi phái đoàn tới trước cổng Tịnh-xá, họ xuống xe đi bộ đến trước đức Phật, cung kính vái chào, Bà-la-môn Trường-Thân nói:

- Thưa ngài Cù-Đàm, tôi muốn tổ chức đại hội cúng tế với bảy trăm con vật gồm có trâu đực, trâu cái, trâu con, dê đực, dê cái, dê tơ, và các con vật nhỏ bé khác. Đủ bảy trăm con vật, hiện đang nhốt, trói, hoặc cột ở nơi các cây cột. Cũng xin thưa, đây là đại hội tế lễ lớn nên có đủ các thành phần trong nước và ngoài nước đến tham dự, tôi lại được nghe đức Cù-Đàm là người thấu suốt đạo lý về tế tự; bởi vậy nên tôi đến đây thưa hỏi Ngài về cách tổ chức đại hội cúng tế, những gì cần phải làm, các loại súc vật nào cần phải có, và số lượng súc vật cần thiết là bao nhiêu? Thưa đức Cù-Đàm: xin Ngài chỉ bảo, để cho buổi tổ chức của tôi không bị thiếu sót.

Sau khi nghe trình bầy, đức Phật bảo Bà-La-môn Trường-Thân:
- Vì có đại hội cúng tế, người chủ muốn thực hành tế lễ, bố thí, làm phước, mà lại sinh tội, bị đâm cắt bởi ba thứ đao kiếm, chuốc lấy qủa báo dữ; ba thứ đao kiếm là gì? Là: ý đao kiếm, miệng đao kiếm, và thân đao kiếm.

Thế nào là ý đao kiếm sinh ra qủa báo khổ?

Người chủ tổ chức tế lễ suy nghĩ rằng: “Cúng-tế cần phải giết nhiều trâu, nhiều dê, và nhiều các con vật nhỏ bé khác, đó gọi là ý nghĩ đao kiếm sinh qủa báo khổ”; người chủ đại hội làm các việc tế-lễ, bố thí, cúng dường là những việc hợp đạo lý, nhưng thực ra lại sinh tội lỗi vì người ấy có ý nghĩ muốn giết các con vật.

Thế nào là miệng đao kiếm sinh ra khổ?

Người chủ tổ chức đại hội bảo: “Hôm nay ta tổ chức tế lễ, các ông hãy giết bấy nhiêu trâu, bấy nhiêu dê, và bấy nhiêu súc vật nhỏ, các ông không được làm sai khác”, đó gọi là từ miệng mà sinh ra đao kiếm, và sinh ra quả báo khổ; người chủ đại hội mặc dù làm các việc cúng tế, bố thí, cúng dường là những việc tốt, nhưng thật ra lại sinh thêm tội lỗi vì đã sai bảo người khác giết hại các con vật.

Thế nào là thân đao kiếm sinh ra khổ?

Người tổ chức đại hội, tự tay mình sát hại sanh mạng các con vật, đó gọi là thân đao kiếm sinh ra quả báo khổ. Người chủ đại hội mặc dù làm các việc cúng tế, bố thí, cúng dường là những việc tốt, nhưng thật ra lại sinh thêm tội lỗi vì đã tự tay mình giết hại súc vật.

Ngài giảng tiếp:
- Những người nào tùy thời cúng lễ, bố thí, cúng dường, phụng sự ba thứ lửa, sẽ đem lại sự an lạc, ba thứ lửa ấy là gì? Một là lửa căn bản, hai là lửa gia cư, ba là lửa phước điền.

Thế nào là lửa căn bản?

Người nào có được tiền của do việc làm cần khổ và chính đáng, rồi đem một phần biếu cha mẹ, làm cho cha mẹ được an vui; đó là lửa căn bản.

Thế nào là lửa gia cư?

Người nào có tiền của do sự làm việc thu hoạch hợp pháp, rồi đem cung cấp cho vợ con, anh em, quyến thuộc, người giúp việc, kẻ hầu hạ. Người ấy tùy lúc tùy thời mà chu cấp cho họ, và đem lại sự an vui cho người thân thuộc họ hàng; vì người ấy sống trong gia đình, cùng thân bằng quyến thuộc, nên vui cùng vui khổ cùng khổ chia ngọt sẻ (san sẻ) bùi; đó là lửa cư gia.

Thế nào là lửa phúc-điền?

Người làm việc siêng năng kiếm được tiền của do sự làm việc lao nhọc, và thu hoạch hợp pháp; người ấy tùy thời cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn biết khéo điều phục tham sân si, cũng tùy thời bố thí cho kẻ nghèo cùng, đói khát, bệnh khổ. Cúng dường bố thí như thế là kiến lập ruộng phước, hiện tại an vui, vị lai được qủa báo tốt sinh lên cõi Trời, đó gọi là lửa phúc-điền.

Nhưng người thiện nam trước khi tế lễ, cúng dàng, bố thí ba thứ lửa nêu trên, hãy nên dập tắt ba thứ lửa khác; đó là lửa tham lam, lửa sân hận, và lửa tà kiến ngu si, vì sao? Nếu lửa tham lam không dứt, thì sẽ tự hại mình, hại người, cả hai đều bị hại; hiện tại đắc tội, đời sau đắc tội, do lòng tham lam sinh ra đủ thứ ưu phiền khổ não. Lửa sân hận, lửa tà kiến ngu si cũng giống như thế.

Tóm lại, khi tổ chức đại hội tế lễ hay cúng giỗ không nên giết hại súc vật; cúng giỗ, tế lễ chỉ dùng các thứ như: “Hương nhang đèn, bông hoa, trái cây, bánh kẹo, và những thức ăn không phải là súc vật, không phải là chúng-sanh”. Như vậy là làm đúng theo đạo lý cúng lễ, và đem lại sự an vui cho mình, cho người và cho tất cả chúng-sanh (chúng-sanh trong 6 cõi gồm loài Trời, Thần Tiên Thánh, Người, Qủy Ma, Địa Ngục, và tất cả loài vật).

Sau khi nghe những lời giảng giải, Bà-la-môn Trường-Thân suy nghĩ trong giây phút, rồi quay qua bảo người con trai lớn:

- Uất-đa-La, con hãy đến chỗ các con vật, tất cả đều buông thả hết, và con nói với chúng rằng: “Bà-la-môn Trường-Thân cho phép các ngươi, sắp bị hy sinh tính mạng được tùy ý tự tại thênh thang ở núi ở đầm, ở rừng ở đồng hoang, hay bất cứ nơi đâu để tự kiếm thức ăn lấy, cỏ tươi tốt, nước suối trong, bốn bề gió mát, hưởng lạc thú an vui thoải mái”.

Rồi ông quay lại chắp tay nói :

- Thưa đức Cù-Đàm, con định lập đại hội tế lễ với đầy đủ bảy trăm con vật, nhưng nay con cho thả hết tất cả, để chúng được sống yên ổn, tự do đi lại. Thưa đức Cù-Đàm, con đã được Ngài cứu khỏi u mê tăm tối. Từ hôm nay cho đến hết đời, con xin quy y Ngài, quy y Pháp (lời dạy), quy y Tăng đoàn, và được làm Cư-sĩ trong Chính-Pháp của Ngài. Con sẽ tổ chức đại hội tế-lễ đúng theo như lời Ngài đã chỉ dạy, và cung thỉnh mời Ngài và Tăng-đoàn đến dùng cơm chay vào trưa ngày mai tại tư thất của con trong thành Xá-Vệ.

Bà-la-môn Trường-Thân thấy đức Phật im lặng nhận lời, bèn lễ chào rồi cùng đoàn tuỳ tùng ra về chuẩn bị lại cho buổi tế lễ.

LỜI BÀN:

Hầu hết chúng ta không biết những tai hại xẩy ra giống như Bà-La-Môn Trường thân, nên khi tế lễ, cúng giỗ hay tết nhất thường lại giết súc vật nhiều hơn là lúc bình thường. Đọc xong bài “Lễ Vật Cúng Tế” này, người viết mong mỏi người đọc hãy suy nghĩ và áp dụng thì lợi lạc phúc đức không thể đo lường được. Nếu chúng ta không thể ăn chay được thì ít nhất mỗi khi tế lễ, giỗ tết, chúng ta không nên cúng bằng cách giết sinh vật để cúng. Chúng ta chỉ nên cúng bằng hương, hoa, quả, và thức ăn chay, việc này sẽ dẫn người hưởng sự cúng giỗ tế lễ theo đường lành.

Nên biết, sau khi chết, con người sẽ bắt buộc phải thọ sinh trong vòng 49 ngày, ngoại trừ người tu hành đạt đạo sẽ nhập Niết-Bàn an vui vĩnh cửu. Còn tất cả đều phải tuân theo luật luân hồi nhân qủa, dù muốn hay không muốn cũng phải thụ sinh vào một trong sáu cõi.

Nếu trong cuộc sống không tạo tội và làm các việc lành, sẽ được sinh lên cõi Trời; cõi Trời sung sướng mải hưởng thụ, đâu còn nhớ tới cõi trần hôi hám này nữa, nên có cúng các vị Trời cũng chẳng bao giờ màng tới, cúng cũng như không, ích gì?, nếu cúng bằng cách giết sinh vật chỉ hại cho người cúng mà thôi.

Khi sinh vào cõi Thần, những vị này cũng có đời sống đầy đủ khá sung sướng, tuy phải làm việc cho các vị Thiên vương, nhưng không vất vả như con người. Các vị Thần có thể giúp chút ít, nhưng các vị ấy không giúp cho người làm ác, và không hưởng được nếu ta cúng tế bằng xác các con vật. Nếu ta cúng tế bằng hương, hoa, quả, và thức ăn chay, các vị ấy sẽ thọ hưởng được và sẽ hộ trì phần nào cho ta.

Nếu một người chết đi tái sinh trở lại cõi Người rồi, thử hỏi con cháu cúng có hưởng được gì không, chắc chắn là không hưởng được, phải không?; do đó nếu giết sinh vật để cúng giỗ, thì chính chúng ta mang tội giết sinh vật.

Khi một người chết đi sinh vào cõi Ma-Qủy, thường bị đói khát, vì cổ qúa nhỏ, ăn nuốt khó khăn. Đây chỉ là ăn tưởng tượng mà thôi, tức là chỉ tiếp xúc với vật thực. Nói là ăn, nhưng đâu có ăn như loài người bằng cắn, nhai, nuốt từng miếng, mà chỉ tiếp xúc vật thực, lưỡi, miệng, liếm, ngoạm nuốt tưởng tượng vật thực vào bụng, nhưng thực ra vật thực vẫn còn nguyên vẹn, mà Ma Qủy vẫn tưởng như có ăn, có hưởng vậy.

Nếu ta giết súc vật để cúng tế họ, ta mang tội, và tâm họ sẽ nhiễm cấu uế mà phải chìm xuống hơn ở kiếp sau hoặc vào Súc-sinh, hoặc vào Địa-ngục; còn nếu ta cúng bằng hương, hoa, quả và thức ăn chay, tâm họ sẽ nhẹ nhàng, sẽ được sinh làm Người, Thần, hoặc Trời.

Khi một người chết đi sinh vào cõi Súc-sanh cũng chẳng thể hưởng được gì khi ta cúng kiếng, vì đang là một con vật nào đó mà ta không biết. Nếu ta giết súc vật để cúng, biết đâu rằng con vật bị hy sinh tính mạng đó chẳng phải là người mà ta cúng?! Thật là oan gia nếu đúng là như vậy! Tốt hơn hết là tránh giết súc vật để cúng tế giỗ tết.

Khi một người chết đi bị đọa vào cõi Địa ngục rồi, cũng như bị cầm tù và bị hành hạ vô cùng khổ sở, làm sao có thể ra được mà về hưởng sự cúng kiếng; nếu giết súc vật để cúng người đó, tức là tạo nghiệp nặng thêm, chìm thêm và người đó sẽ phải ở Địa-nguc lâu dài hơn, mà ta cũng mang tội.

Tóm lại, nếu ta không ăn chay, đó là quyền tự do của ta, chứ không cúng giỗ tế lễ đồ mặn; vì nếu cúng đồ mặn xong ta ăn, sự làm ấy là vô minh, có hại cho các bậc tiền nhân mà ta cung kính lễ bái.

Một điểm nữa liên quan đến: sự đốt tiền giấy, vàng mã, chúng ta bị một số người mê tín, dị đoan lôi kéo dẫn dắt; vấn đề này cần đòi hỏi trí tuệ, có tâm bình tĩnh không sợ hãi mới dứt trừ bỏ được những điều vô lý. Đốt vàng mã, hình con này con kia, quần áo giấy, thậm chí cả đến đồ chơi bằng giấy; làm như vậy để làm gì? Những người làm các việc này nói rằng: “Để cho người chết dùng”. Nếu chúng ta tin ở Phật pháp thì không có chuyện linh hồn vưởng vất đâu đó, mà chỉ có cõi Ma-Qủy rõ ràng như vậy, Ma Qủy không dùng được các thứ ấy. Đây chỉ là sự tưởng tượng của một số người có tâm sợ hãi, tin bói toán mà ra, ta có làm cũng chỉ bằng thừa, phí tiền vô ích, và người trí tuệ nhìn vào sẽ chê cười là ta mê tín dị đoan nhảm nhí..,.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jun 4 2011, 12:46 AM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





Bentrehome chân thành cám ơn anh Toàn Không Đỗ Đăng Tiến đã đồng ý cho đăng những bài viết về Phật Pháp của anh.

Dưới đây là những bài trong cuốn Nguồn gốc loài người xuất bản năm 2010.

KN


NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI


**************************


VỊ TRỜI HỌC ĐẠO

Toàn Không


Một vị Trời có dung mạo tuyệt diệu, từ thân tỏa ra ánh sáng rực rỡ, chiếu soi khắp rừng cây công-tử Kỳ-Đà tại thành Xá-Vệ. Vào lúc cuối đêm gần về sáng, vị Trời ấy đến chỗ đức Thích-Ca Mâu-Ni tại Tịnh-xá Kỳ-Hoàn, trong vườn Cấp-Cô-Độc. Vị Thiên cúi đầu lễ Phật, rồi cất tiếng nói kệ hỏi:
Cái gì nặng hơn đất?
Cái gì cao hơn không?
Cái gì nhanh hơn gió?
Cái gì nhiều hơn cỏ?
Phật nói kệ đáp:
Giới đức nặng hơn đất,
Ngạo mạn cao hơn không,
Nhớ nghĩ nhanh hơn gió,
Tư tưởng nhiều hơn cỏ.
Sau khi nghe lời dạy xong, vị Trời ấy phấn khởi vui mừng, cúi đầu lễ Phật, rồi biến mất trong nháy mắt.

LỜI BÀN:

Cái gì nặng hơn đẩt? Chúng ta tự hỏi xem trái đất chứa đủ thứ sắt thép, sỏi đá, núi rừng, đất nước v.v… nặng như thế còn có gì nặng hơn được; thế mà Đức Phật bảo còn có thứ nặng hơn nữa, đó là Giới đức. Giới là giới hạn, răn dạy ngay thẳng, Đức là đạo lý làm người, điều thiện, Giới đức là làm thiện tránh ác. Đức Phật dạy:” làm thiện tránh ác còn nặng hơn cả sức nặng của trái đất, thật là lời vàng.
Cái gì cao hơn không? Thử nghĩ xem đâu còn cái gì cao hơn được không gian mênh mông, Đức Phật bảo: Ngạo mạn còn cao hơn cả không nữa, vì sự ngạo mạn của con người vô giới hạn. Thế giới điên đảo vì sự ngạo mạn của con người, thật là ý ngọc.
Cái gì nhanh hơn gió? Gió thoảng qua, gió bão rất nhanh, cũng có thứ nhanh hơn gió như ánh chớp, tốc độ của ánh sáng. Nhưng Đức Phật dạy: Nhớ nghĩ nhanh hơn gió, vì chợt nhớ, chợt nghĩ nhanh như chớp mắt, nên nhớ nghĩ là nhanh nhất, thật là tuyệt diệu.
Cái gì nhiều hơn cỏ? Trái đất này cỏ mọc biết bao nhiêu như thế, làm sao mà tính cho hết; thế mà Đức Phật bảo: Tư tưởng nhiều hơn cỏ, tư tưởng là suy nghĩ hết việc này qua chuyện khác, suốt ngày (nhớ, nghĩ) suốt đêm (nằm mơ), từ đời này qua đời khác không ngưng nghỉ; bởi vậy, tư tưởng còn nhiều hơn cỏ, sao mà đúng thế.
Những lời Phật dạy đều nằm ngoài sự suy tưởng của con người. vì vậy, vị Trời được Phật chỉ dạy, nghe xong suy nghĩ thấy chí lý quá, hay quá nên ghi nhớ, vui vẻ phấn khởi, rồi lễ Phật mà đi.
Đối với Phật tử chúng ta, đọc được những lời dạy qúy báu này, nên cố gắng ghi nhớ để thực hành, thực hành cái gì?, thực hành giữ Giới đức, thực hành bỏ kiêu căng ngã mạn, bỏ suy nghĩ tưởng nhớ những chuyện không đâu. Như vậy là chúng ta Tu vậy....,.



*****************************


CẦU XIN

CÓ HIỆU QỦA KHÔNG?


Toàn Không


Thời đức Phật du hoá tại vườn A-nan-Đà trong rừng Tương-thôn-Mại, có một vị Trời Ca-Di-Ni (Vị này từ cung Phạm Thiên đến) với sắc tướng uy nghi, chiếu sáng rực rỡ, lúc đêm gần về sáng đến nơi đức Phật cúi đầu lễ rồi thưa:
- Thưa đức Thế-Tôn, các người cao ngạo nói rằng: “Nếu có người nào chết đi, họ có thể làm cho tự do sinh lên cõi Trời”. Đức Thế-Tôn là đấng Pháp-chủ của Trời và Người, con mong muốn đức Thế-Tôn làm cho người chết được sinh lên cõi Trời.
Đức Phật hỏi:
- Này Ca-Di-Ni, Ta hỏi ông tùy theo sự hiểu biết mà trả lời, nếu trong thôn-ấp có người làm ác về thân khẩu ý. Thân làm ác như sát sanh, trộm cướp, tà dâm; miệng nói ác như nói dối, nói lời thêu dệt, nói giọng hai lưỡi, nói lời độc ác; ý nghĩ ác như tham lam không cho mà lấy muốn cướp đoạt cho mình, sân hận thù hằn, nghĩ và hành động tà vạy ngu si; người ấy khi chết, nếu có một người hay một số người van xin, kêu gọi, cầu xin để người ấy được sinh lên cõi Trời, liệu có được không?
Trời Ca-Di-Ni đáp:
- Không thể được, thưa đức Thế-Tôn.
Đức Phật khen:
- Đúng thế, nếu người chết ấy khi còn sống đã làm mười điều ác, mà khi chết lại được sinh lên cõi Trời, việc đó không thể có, hoàn toàn không thể xảy ra; cũng như có người ôm tảng đá lớn ném vào trong hồ nước, nếu có một người hay một số người chắp tay cầu nguyện, van xin, khẩn khoản nài xin v.v... mong cho tảng đá nổi lên mặt nước, như vậy tảng đá có nổi lên không?
Trời Ca-Di-Ni trả lời:
- Không thể được, thưa Thế-Tôn.
Ngài hỏi tiếp:
- Nếu như có người tinh tấn siêng tu, làm mười điều lành, thành tựu diệu pháp, nghĩa là không giết người hại vật mà chỉ làm lợi cho người và vật. Không lấy của người không cho, không dâm đãng; không nói dối mà chỉ nói thật, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói lời độc ác mà chỉ nói lời hiền hòa và đúng sự thật; không tham lam, không giận dữ thù hằn, không tà kiến ngu si mà chỉ suy nghĩ hành động chân chính. Khi người ấy chết đi, có một số người nguyền rủa, cầu xin mong cho người ấy sa vào Địa-ngục, liệu có được không?
Trời Ca-Di-Ni đáp:
- Thưa đức Thế-Tôn, không thể được.
Ngài khen:
- Đúng thế, nếu một người đã đoạn trừ làm mười điều ác, chỉ làm điều lành, siêng tu diệu pháp; khi người ấy qua đời, nếu có một số người nguyền rủa, cầu xin cho người ấy đọa vào địa ngục thì điều này không thể xảy ra. Ngược lại: người ấy sẽ được sinh đến cõi tốt; cũng như có người đổ dầu mỡ xuống nước, dầu mỡ tự nhiên nổi lên, không thể cầu nguyện, van xin mà dầu mỡ chìm xuống được.
Sau khi nghe giảng, vị Trời phấn khởi, vui vẻ, cúi đầu lễ Phật, rồi trong khoảnh khắc biến mất.


LỜI BÀN:

Cầu xin mà có hiệu qủa, chẳng có ai không cầu, cứ ngồi đó mà cầu nguyện là tự có tất cả, chẳng phải làm việc vất vả, cần gì phải học hành cực nhọc; ta cứ thủng thẳng làm việc, cứ từ từ mà học hành, đâu cần chạy đua với cái đồng hồ cho khổ trí, đâu cần thức khuya dậy sớm cho mệt thân, vì sao? Vì cứ tin tưởng tuyệt đối vào sự cầu nguyện là có, là được tất cả những gì ta mong muốn, một số người nghĩ như vậy; nhưng thử hỏi cứ ngồi đấy mà cầu nguyện, không chịu làm việc, không chịu học hành, không chịu làm các việc thiện, liệu có được kết qủa mà ta mong cầu không?, hay như người ngủ mơ, tưởng có thật, nhưng khi thức dậy chẳng có gì; đó là mong cầu hão huyền, không tưởng, thật là mất thời giờ vô ích.
Nói rằng Đạo Phật cũng có cầu nguyện, cầu vãng sinh chẳng hạn, như vậy cũng vô ích sao? Không phải thế, sự cầu này nếu ai hiểu đúng ý nghĩa, trước nhất phải làm các điều lành, tránh làm các điều ác, thứ đến là trong khi cầu tâm phải trong sạch, thanh tịnh, nhất tâm không loạn tưởng thì mới ứng nghiệm, còn không được như vậy sẽ chỉ như vẹt kêu suốt ngày chẳng ích gì.
Một số người tới chùa lễ Phật để xin phù hộ buôn may bán đắt, xin cho con cháu đỗ đạt v.v..., đây là sự cầu xin không đúng, chúng ta cần sửa lại bằng cách chỉnh đốn việc buôn bán sao cho khách hàng đến tiệm của mình nhiều hơn trước tự nhiên phát triển lên. Bằng cách khuyến khích, hay nhờ người dạy dỗ con cháu chăm học sẽ đỗ đạt, Phật không bao giờ phù trợ cho những kẻ làm ác, lười biếng mà mong cầu được cái nọ cái kia.
Chúng ta không nên tin tưởng một cách mù quáng, như mới nghe người này hay người kia nói chỗ này linh, chỗ kia thiêng là tin liền, mà phải xem xét kỹ lưỡng hư thực ra sao? Như có người nói: “Trong cục đá kia có vàng”, nếu không có gì chứng minh được trong cục đá có vàng, ta không nên tin. Những loại tin như thế là tin mù quáng, có biết bao nhiêu người tin người mất hết gia tài sự nghiệp v.v...
Đến chùa lễ Phật là để tỏ lòng tôn kính Phật là bậc hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp giáo hóa chúng-sanh, chúng ta tôn kính Ngài là bậc giác ngộ, trí tuệ tối thắng nhất, hiểu biết cùng tận tất cả mọi vấn đề trong vũ trụ; chúng ta kính lễ Phật để tỏ lòng biết ơn Ngài đã mở mang sự hiểu biết, phá màn mây đen tối bao phủ lên sự hiểu biết của con người. Chúng ta chỉ xin Ngài phù trợ cho chúng ta sự sáng suốt, tính chịu đựng, lòng khoan dung độ lượng và tâm an bình mà thôi....,.


Toàn Không



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jun 4 2011, 12:48 AM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



LỄ VẬT CÚNG TẾ

Toàn Không


Bấy giờ, tại thành Xá-Vệ, có Bà-la-môn Trường-Thân tổ chức đại hội cúng tế rất lớn, các lễ vật gồm bảy trăm con vật và các thức ăn thức uống cũng được chuẩn bị một cách đầy đủ. Thành phần tham dự gồm có dân chúng trong vùng, các viên chức sắc trong cả nước Xá-Vệ đến, đặc biệt hơn nữa là nhiều người từ các nước khác cũng sẽ đến dự kỳ đại hội cúng tế lớn lao này.

Bà-la-môn Trường-Thân nghe nói: “Có Sa-môn họ Cù-Đàm, là dòng dõi quí tộc, con Vua Tịnh-Phạn, bỏ địa vị quyền uy, xa lìa gia đình giàu sang phú quí, để đi học đạo và đã đắc bậc Chánh-Đẳng Chánh-Giác”.

Ông cũng nghe nói: “Sa-môn Cù-Đàm đang du hành trong nhân gian, vừa mới đến nước Xá-Vệ, hiện đang cư ngụ tại tịnh-xá Cấp-Cô-Độc, thuộc rừng Kỳ-Đà”.

Bà-la-môn Trường-Thân liền nghĩ: “Nay sẽ tổ chức đại hội cúng tế, ta nên đến hỏi nơi Sa-môn Cù-Đàm để cho sự tổ chức không bị thiếu sót”.

Suy nghĩ xong, ông liền ra lệnh chuẩn bị, rồi ông đi xe ngựa trắng, có các thanh niên trai tráng, kẻ trước người sau, cầm dù lọng cán vàng, rầm rộ ra khỏi thành Xá-Vệ, tiến đến rừng Kỳ-Đà với lòng ngưỡng mộ. Khi phái đoàn tới trước cổng Tịnh-xá, họ xuống xe đi bộ đến trước đức Phật, cung kính vái chào, Bà-la-môn Trường-Thân nói:

- Thưa ngài Cù-Đàm, tôi muốn tổ chức đại hội cúng tế với bảy trăm con vật gồm có trâu đực, trâu cái, trâu con, dê đực, dê cái, dê tơ, và các con vật nhỏ bé khác. Đủ bảy trăm con vật, hiện đang nhốt, trói, hoặc cột ở nơi các cây cột. Cũng xin thưa, đây là đại hội tế lễ lớn nên có đủ các thành phần trong nước và ngoài nước đến tham dự, tôi lại được nghe đức Cù-Đàm là người thấu suốt đạo lý về tế tự; bởi vậy nên tôi đến đây thưa hỏi Ngài về cách tổ chức đại hội cúng tế, những gì cần phải làm, các loại súc vật nào cần phải có, và số lượng súc vật cần thiết là bao nhiêu? Thưa đức Cù-Đàm: xin Ngài chỉ bảo, để cho buổi tổ chức của tôi không bị thiếu sót.

Sau khi nghe trình bầy, đức Phật bảo Bà-La-môn Trường-Thân:
- Vì có đại hội cúng tế, người chủ muốn thực hành tế lễ, bố thí, làm phước, mà lại sinh tội, bị đâm cắt bởi ba thứ đao kiếm, chuốc lấy qủa báo dữ; ba thứ đao kiếm là gì? Là: ý đao kiếm, miệng đao kiếm, và thân đao kiếm.

Thế nào là ý đao kiếm sinh ra qủa báo khổ?

Người chủ tổ chức tế lễ suy nghĩ rằng: “Cúng-tế cần phải giết nhiều trâu, nhiều dê, và nhiều các con vật nhỏ bé khác, đó gọi là ý nghĩ đao kiếm sinh qủa báo khổ”; người chủ đại hội làm các việc tế-lễ, bố thí, cúng dường là những việc hợp đạo lý, nhưng thực ra lại sinh tội lỗi vì người ấy có ý nghĩ muốn giết các con vật.

Thế nào là miệng đao kiếm sinh ra khổ?

Người chủ tổ chức đại hội bảo: “Hôm nay ta tổ chức tế lễ, các ông hãy giết bấy nhiêu trâu, bấy nhiêu dê, và bấy nhiêu súc vật nhỏ, các ông không được làm sai khác”, đó gọi là từ miệng mà sinh ra đao kiếm, và sinh ra quả báo khổ; người chủ đại hội mặc dù làm các việc cúng tế, bố thí, cúng dường là những việc tốt, nhưng thật ra lại sinh thêm tội lỗi vì đã sai bảo người khác giết hại các con vật.

Thế nào là thân đao kiếm sinh ra khổ?

Người tổ chức đại hội, tự tay mình sát hại sanh mạng các con vật, đó gọi là thân đao kiếm sinh ra quả báo khổ. Người chủ đại hội mặc dù làm các việc cúng tế, bố thí, cúng dường là những việc tốt, nhưng thật ra lại sinh thêm tội lỗi vì đã tự tay mình giết hại súc vật.

Ngài giảng tiếp:
- Những người nào tùy thời cúng lễ, bố thí, cúng dường, phụng sự ba thứ lửa, sẽ đem lại sự an lạc, ba thứ lửa ấy là gì? Một là lửa căn bản, hai là lửa gia cư, ba là lửa phước điền.

Thế nào là lửa căn bản?

Người nào có được tiền của do việc làm cần khổ và chính đáng, rồi đem một phần biếu cha mẹ, làm cho cha mẹ được an vui; đó là lửa căn bản.

Thế nào là lửa gia cư?

Người nào có tiền của do sự làm việc thu hoạch hợp pháp, rồi đem cung cấp cho vợ con, anh em, quyến thuộc, người giúp việc, kẻ hầu hạ. Người ấy tùy lúc tùy thời mà chu cấp cho họ, và đem lại sự an vui cho người thân thuộc họ hàng; vì người ấy sống trong gia đình, cùng thân bằng quyến thuộc, nên vui cùng vui khổ cùng khổ chia ngọt sẻ (san sẻ) bùi; đó là lửa cư gia.

Thế nào là lửa phúc-điền?

Người làm việc siêng năng kiếm được tiền của do sự làm việc lao nhọc, và thu hoạch hợp pháp; người ấy tùy thời cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn biết khéo điều phục tham sân si, cũng tùy thời bố thí cho kẻ nghèo cùng, đói khát, bệnh khổ. Cúng dường bố thí như thế là kiến lập ruộng phước, hiện tại an vui, vị lai được qủa báo tốt sinh lên cõi Trời, đó gọi là lửa phúc-điền.

Nhưng người thiện nam trước khi tế lễ, cúng dàng, bố thí ba thứ lửa nêu trên, hãy nên dập tắt ba thứ lửa khác; đó là lửa tham lam, lửa sân hận, và lửa tà kiến ngu si, vì sao? Nếu lửa tham lam không dứt, thì sẽ tự hại mình, hại người, cả hai đều bị hại; hiện tại đắc tội, đời sau đắc tội, do lòng tham lam sinh ra đủ thứ ưu phiền khổ não. Lửa sân hận, lửa tà kiến ngu si cũng giống như thế.

Tóm lại, khi tổ chức đại hội tế lễ hay cúng giỗ không nên giết hại súc vật; cúng giỗ, tế lễ chỉ dùng các thứ như: “Hương nhang đèn, bông hoa, trái cây, bánh kẹo, và những thức ăn không phải là súc vật, không phải là chúng-sanh”. Như vậy là làm đúng theo đạo lý cúng lễ, và đem lại sự an vui cho mình, cho người và cho tất cả chúng-sanh (chúng-sanh trong 6 cõi gồm loài Trời, Thần Tiên Thánh, Người, Qủy Ma, Địa Ngục, và tất cả loài vật).

Sau khi nghe những lời giảng giải, Bà-la-môn Trường-Thân suy nghĩ trong giây phút, rồi quay qua bảo người con trai lớn:

- Uất-đa-La, con hãy đến chỗ các con vật, tất cả đều buông thả hết, và con nói với chúng rằng: “Bà-la-môn Trường-Thân cho phép các ngươi, sắp bị hy sinh tính mạng được tùy ý tự tại thênh thang ở núi ở đầm, ở rừng ở đồng hoang, hay bất cứ nơi đâu để tự kiếm thức ăn lấy, cỏ tươi tốt, nước suối trong, bốn bề gió mát, hưởng lạc thú an vui thoải mái”.

Rồi ông quay lại chắp tay nói :

- Thưa đức Cù-Đàm, con định lập đại hội tế lễ với đầy đủ bảy trăm con vật, nhưng nay con cho thả hết tất cả, để chúng được sống yên ổn, tự do đi lại. Thưa đức Cù-Đàm, con đã được Ngài cứu khỏi u mê tăm tối. Từ hôm nay cho đến hết đời, con xin quy y Ngài, quy y Pháp (lời dạy), quy y Tăng đoàn, và được làm Cư-sĩ trong Chính-Pháp của Ngài. Con sẽ tổ chức đại hội tế-lễ đúng theo như lời Ngài đã chỉ dạy, và cung thỉnh mời Ngài và Tăng-đoàn đến dùng cơm chay vào trưa ngày mai tại tư thất của con trong thành Xá-Vệ.

Bà-la-môn Trường-Thân thấy đức Phật im lặng nhận lời, bèn lễ chào rồi cùng đoàn tuỳ tùng ra về chuẩn bị lại cho buổi tế lễ.

LỜI BÀN:

Hầu hết chúng ta không biết những tai hại xẩy ra giống như Bà-La-Môn Trường thân, nên khi tế lễ, cúng giỗ hay tết nhất thường lại giết súc vật nhiều hơn là lúc bình thường. Đọc xong bài “Lễ Vật Cúng Tế” này, người viết mong mỏi người đọc hãy suy nghĩ và áp dụng thì lợi lạc phúc đức không thể đo lường được. Nếu chúng ta không thể ăn chay được thì ít nhất mỗi khi tế lễ, giỗ tết, chúng ta không nên cúng bằng cách giết sinh vật để cúng. Chúng ta chỉ nên cúng bằng hương, hoa, quả, và thức ăn chay, việc này sẽ dẫn người hưởng sự cúng giỗ tế lễ theo đường lành.

Nên biết, sau khi chết, con người sẽ bắt buộc phải thọ sinh trong vòng 49 ngày, ngoại trừ người tu hành đạt đạo sẽ nhập Niết-Bàn an vui vĩnh cửu. Còn tất cả đều phải tuân theo luật luân hồi nhân qủa, dù muốn hay không muốn cũng phải thụ sinh vào một trong sáu cõi.

Nếu trong cuộc sống không tạo tội và làm các việc lành, sẽ được sinh lên cõi Trời; cõi Trời sung sướng mải hưởng thụ, đâu còn nhớ tới cõi trần hôi hám này nữa, nên có cúng các vị Trời cũng chẳng bao giờ màng tới, cúng cũng như không, ích gì?, nếu cúng bằng cách giết sinh vật chỉ hại cho người cúng mà thôi.

Khi sinh vào cõi Thần, những vị này cũng có đời sống đầy đủ khá sung sướng, tuy phải làm việc cho các vị Thiên vương, nhưng không vất vả như con người. Các vị Thần có thể giúp chút ít, nhưng các vị ấy không giúp cho người làm ác, và không hưởng được nếu ta cúng tế bằng xác các con vật. Nếu ta cúng tế bằng hương, hoa, quả, và thức ăn chay, các vị ấy sẽ thọ hưởng được và sẽ hộ trì phần nào cho ta.

Nếu một người chết đi tái sinh trở lại cõi Người rồi, thử hỏi con cháu cúng có hưởng được gì không, chắc chắn là không hưởng được, phải không?; do đó nếu giết sinh vật để cúng giỗ, thì chính chúng ta mang tội giết sinh vật.

Khi một người chết đi sinh vào cõi Ma-Qủy, thường bị đói khát, vì cổ qúa nhỏ, ăn nuốt khó khăn. Đây chỉ là ăn tưởng tượng mà thôi, tức là chỉ tiếp xúc với vật thực. Nói là ăn, nhưng đâu có ăn như loài người bằng cắn, nhai, nuốt từng miếng, mà chỉ tiếp xúc vật thực, lưỡi, miệng, liếm, ngoạm nuốt tưởng tượng vật thực vào bụng, nhưng thực ra vật thực vẫn còn nguyên vẹn, mà Ma Qủy vẫn tưởng như có ăn, có hưởng vậy.

Nếu ta giết súc vật để cúng tế họ, ta mang tội, và tâm họ sẽ nhiễm cấu uế mà phải chìm xuống hơn ở kiếp sau hoặc vào Súc-sinh, hoặc vào Địa-ngục; còn nếu ta cúng bằng hương, hoa, quả và thức ăn chay, tâm họ sẽ nhẹ nhàng, sẽ được sinh làm Người, Thần, hoặc Trời.

Khi một người chết đi sinh vào cõi Súc-sanh cũng chẳng thể hưởng được gì khi ta cúng kiếng, vì đang là một con vật nào đó mà ta không biết. Nếu ta giết súc vật để cúng, biết đâu rằng con vật bị hy sinh tính mạng đó chẳng phải là người mà ta cúng?! Thật là oan gia nếu đúng là như vậy! Tốt hơn hết là tránh giết súc vật để cúng tế giỗ tết.

Khi một người chết đi bị đọa vào cõi Địa ngục rồi, cũng như bị cầm tù và bị hành hạ vô cùng khổ sở, làm sao có thể ra được mà về hưởng sự cúng kiếng; nếu giết súc vật để cúng người đó, tức là tạo nghiệp nặng thêm, chìm thêm và người đó sẽ phải ở Địa-nguc lâu dài hơn, mà ta cũng mang tội.

Tóm lại, nếu ta không ăn chay, đó là quyền tự do của ta, chứ không cúng giỗ tế lễ đồ mặn; vì nếu cúng đồ mặn xong ta ăn, sự làm ấy là vô minh, có hại cho các bậc tiền nhân mà ta cung kính lễ bái.

Một điểm nữa liên quan đến: sự đốt tiền giấy, vàng mã, chúng ta bị một số người mê tín, dị đoan lôi kéo dẫn dắt; vấn đề này cần đòi hỏi trí tuệ, có tâm bình tĩnh không sợ hãi mới dứt trừ bỏ được những điều vô lý. Đốt vàng mã, hình con này con kia, quần áo giấy, thậm chí cả đến đồ chơi bằng giấy; làm như vậy để làm gì? Những người làm các việc này nói rằng: “Để cho người chết dùng”. Nếu chúng ta tin ở Phật pháp thì không có chuyện linh hồn vưởng vất đâu đó, mà chỉ có cõi Ma-Qủy rõ ràng như vậy, Ma Qủy không dùng được các thứ ấy. Đây chỉ là sự tưởng tượng của một số người có tâm sợ hãi, tin bói toán mà ra, ta có làm cũng chỉ bằng thừa, phí tiền vô ích, và người trí tuệ nhìn vào sẽ chê cười là ta mê tín dị đoan nhảm nhí..,.



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jun 16 2011, 11:15 PM
Gửi vào: #5


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN GIẢ MỤC-KIỀN-LIÊN HỌC THIỀN

Toàn Không


Tôn-giả Mục-Kiền-Liên nói với các vị Tỳ-Kheo rằng:

Có một lần Thế-Tôn ở tại vườn trúc Ca-lan-Đà thuộc thành Vương-Xá, trong lúc đó tôi ở tại núi Kỳ-xà-Quật cách chỗ Thế-Tôn khá xa, một mình tôi ở chỗ vắng vẻ, khởi nghĩ rằng: “Thế nào là sự im lặng của bậc Thánh?”, và nghĩ tiếp: “Nếu ai dứt bặt có giác (biết) có quán (thấy), nội (bên trong) tĩnh (yên lặng) nhất tâm, không giác không quán, chính định sinh ra hỷ lạc (vui sướng), an trụ (trạng thái yên tĩnh của tâm thức) trọn vẹn ở thiền thứ hai, đó là sự im lặng như bậc Thánh”. Nay ta cũng nên im lặng như bậc Thánh, rồi tôi bắt đầu bặt dứt có giác có quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, chính định sinh hỷ lạc, an trụ đầy đủ. An trụ một lúc như thế rồi tâm tôi lại khởi có giác có quán, mất chính định!

Ngay lúc ấy, tôi thấy đức Thế-Tôn đứng trước mặt và bảo tôi rằng: “Này Mục-Kiền-Liên! hãy cố gắng lên, thầy nên im lặng như bậc Thánh, chớ sinh buông lung”.

Tôi nghe Thế-Tôn nói xong, tức thì tôi liền xa lià có giác có quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, chính định sinh thoải mái, an trụ đầy đủ thiền thứ hai. Khi biết tôi đã an trụ đầy đủ nhị thiền một lúc lâu rồi, Ngài liền biến mất khỏi chỗ tôi. Thế-Tôn đã biết ý nghĩ trong tâm tôi, nên khi thấy tâm tôi sinh buông lung, Ngài liền biến khỏi tịnh-xá Trúc-Lâm, hiện ra trưóc mặt tôi tại núi Kỳ-xà-Quật để khuyên bảo tôi; và khi thấy tâm tôi đã an trụ thiền thứ hai đầy đủ lâu dài rồi, Ngài mới biến mất khỏi chỗ tôi để trở về tịnh-xá Trúc-Lâm.

Một lần khác, tôi khởi nghĩ: “Tại sao gọi là Thánh trụ?”, và nghĩ tiếp: “Nếu ai không nghĩ tất cả tướng (muôn hình muôn vật), tức vô tướng, tâm chính thụ, thân tác chứng đầy đủ thì đó là Thánh trụ”; rồi tôi lại nghĩ: “Nay ta phải ở ngôi Thánh trụ này”. Tôi bắt đầu không nghĩ tới tất cả các tướng, vô tướng, tâm chánh thọ, thân tác chứng đầy đủ, an trụ. An trụ không bao lâu, tâm chấp tướng (suy nghĩ việc này việc kia) lại sinh ra.

Bấy giờ Thế-Tôn biết những gì đã xảy ra trong tâm tôi, nên trong khoảnh khắc Ngài hiện ra trước mặt tôi và nói: “Này Mục-Kiền-Liên, thầy nên trụ vào chỗ trụ của bậc Thánh, chớ sinh buông lung như vậy”.

Tôi nghe Thế-Tôn dạy xong, liền vội vàng lià tất cả tướng, vô tướng, tâm chính thụ, thân tác chứng đầy đủ, an trụ lâu dài. Khi biết tôi đã an trụ vững chắc rồi, Thế-Tôn liền biến mất khỏi chỗ tôi; ba lần như thế, Ngài cũng ba lần thị hiện để dạy bảo tôi như thế.

Chư Đại-đức, nếu nói đúng, người Phật-tử từ miệng Phật sinh, từ Pháp hoá sinh, được phần Phật-Pháp, người ấy chính là tôi. Vì không cần phương tiện tôi được thiền giải-thoát, được tam-muội chính thọ, và chỉ trong một ngày mà Thế-Tôn dùng thần lực đến chỗ tôi ba lần, dạy bảo tôi, và đem chỗ của bậc đại-nhân kiến lập cho tôi.

Một lần khác, đức Phật trú ngụ tại vườn Cấp-Cô-Độc thuộc nước Xá-Vệ (phiá Bắc Ấn-Độ), trong khi đó ba Tôn-giả Xá-Lợi-Phất, Mục-Kiền-Liên, và A-Nan-Đà cùng ở chung tại vườn trúc Ca-lan-Đà thuộc thành Vương-Xá (phiá Nam Ấn-Độ). Khi gần về sáng, Tôn-giả Xá-Lợi-Phất nói:

- Lạ thay! Tôn-giả Mục-Kiền-Liên! Suốt đêm: Tôn-giả trụ vào chính-định vắng lặng, tôi không nghe tiếng thở cuả Tôn-giả.

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên trả lời:

- Đó không phải là “chính-định tịch-tịnh”, mà chỉ là “thô (sơ) chính-định”, thưa Tôn-giả Xá-Lợi-Phất, đêm nay tôi đã hầu chuyện với đức Thế-Tôn.

- Thế-Tôn đang ở nước Xá-Vệ rất xa nơi đây, làm sao Tôn-giả hầu chuyện được? Tôn-giả đã dùng sức thần-thông đến nước Xá-Vệ hay là Thế-Tôn đã dùng sức thần-thông tới đây?

- Tôi không dùng sức thần-thông để đến nước Xá-Vệ, Thế-Tôn cũng không dùng sức thần-thông để tới đây, nhưng tôi vẫn nghe lời của Thế-Tôn ở tận nước Xá-Vệ. Thế-Tôn và tôi đều dùng thiên-nhãn để thấy và dùng thiên-nhĩ để nghe, nên tôi có thể hỏi Ngài về những điều chưa thông suốt. Chẳng hạn như tôi hỏi “Thế nào là sự ân cần tinh tấn?”, thì Ngài cho biết như sau: “Này Mục-Kiền-Liên! nếu ban ngày đi kinh hành hay ngồi thiền, do không bị bất cứ cái gì làm chướng ngại nên tự tịnh tâm mình. Đầu đêm ngồi thiền hay đi kinh hành, cũng do không bị bất cứ cái gì làm chướng ngại nên tự tịnh tâm mình, đó gọi là ân cần tinh tấn”.

Tôn-giả Xá-Lợi-Phất nói:

- Tôn-giả Mục-Kiền-Liên thật là: có sức thần-thông lớn, có sức công-đức lớn; ví như một núi lớn, có người cầm một hòn đá ném vào núi, đá cũng có cùng màu sắc với núi. Tôi cũng như thế, được cùng với Tôn-giả có sức lớn, đức lớn, ngồi cùng toà; thững người phạm-hạnh (khuôn mẫu-đức hạnh) đều phải cung kính cúng dường, những người ấy được lợi ích lớn, nay tôi cũng được lợi ích tốt đẹp.

Khi ấy Tôn-giả Mục-Kiền-Liên cũng nói:

- Nay tôi được cùng với bậc đại-trí Xá-Lợi-Phất làm bạn, cũng giống như có người cầm một hòn đá ném vào núi lớn, đá được màu sắc cùng với núi. Tôi cũng như thế, được vinh dự ngồi cùng toà với bậc đại-trí Xá-Lợi-Phất, nay tôi được lợi ích lớn..,.


********************************

NGƯỜI KHỔNG LỒ
TRONG HƯ KHÔNG


Một hôm, Tôn-giả Lặc-Xoa-Na sáng sớm đến mời Tôn-giả Mục-Kiền-Liên vào thành Vương-Xá cùng đi khất thực. Trong khi đi đường, Tôn-giả Mục-Kiền-Liên miệng mỉm cười, Tôn-giả Lặc-Xoa-Na trông thấy thế liền hỏi:

- Mỗi khi Thế-Tôn và các đại đệ-tử của Ngài mỉm cười, thì thường có duyên cớ, vừa rồi tôi thấy thầy mỉm cười, vậy thầy mỉm cười là do nhân duyên gì?

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên đáp:

- Câu hỏi chưa đúng lúc, chờ khất thực xong trở về chỗ Thế-Tôn, thầy hãy hỏi tôi sẽ trả lời.

Hai Tôn-giả vào thành khất thực, họ ăn xong, rồi cùng đến chỗ Phật, vái lễ, và ngồi vào chỗ, Tôn-giả Lặc-Xoa-Na trước Phật nói:

- Sáng nay, con cùng Tôn-giả Mục-Kiền-Liên ra khỏi núi Kỳ-xà- quật để đến thành Vương-Xá khất thực. Đang đi đến chỗ nọ, Tôn-giả lại mỉm cười, con biết Thế-Tôn và các đại đệ-tử không bao giờ mỉm cười vô duyên cớ nên con hỏi Tôn-giả: “Thầy mỉm cười là do nhân duyên gì?”. Khi đó Tôn-giả bảo con: “Thầy hỏi chưa đúng lúc, chờ khất thực xong trở về chỗ Thế-Tôn, thầy hãy hỏi tôi sẽ trả lời”, bây giờ trước mặt đức Thế-Tôn con xin hỏi lại Tôn-giả:

- Vì nhân duyên gì lúc đó thầy lại mỉm cười?

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên đáp:

- Giữa đường tôi thấy một chúng-sanh, thân to như cái nhà lầu đi trên hư không khóc lóc, đau đớn, kêu gào, buồn khổ; tôi đã khởi nghĩ là chúng sanh này mang cái thân to lớn như thế mà còn khóc than buồn khổ thì thật là kỳ lạ, nên tôi mỉm cười.

Bấy giờ đức Phật bảo các Tỳ-Kheo:

- Lành thay! Lành thay! Trong chúng Thanh-văn của Ta, người có thực nhãn, thực trí, thực nghĩa, thực pháp, quyết định thông suốt, thấy chúng sanh này; Ta thấy chúng sanh này mà không muốn nói ra, e người hoang mang không tin, vì sao? Như-Lai đã nói: “Những kẻ không tin lời Như-Lai nói là những kẻ ngu si, mãi mãi thọ khổ”.

Rồi Ngài nói tiếp:

- Thời quá khứ, chúng sanh to lớn kia làm người đồ tể giết trâu bò. Do tội giết trâu bò, nên sau khi chết đi, người ấy liền bị đọa vào Địa-ngục, và chịu cực hình hàng trăm nghìn năm; khi ra khỏi Địa-ngục, tội báo còn dư, nên phải chịu cái thân to lớn như thế, và phải thọ sự đau đớn buồn khổ như vậy.

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên nói:

- Thưa Thế-Tôn, có lần con thấy một chúng sanh cũng to lớn, và toàn thân không có da bao bọc. Chúng sanh ấy đi trong hư không, và bị các loài chim, chó đuổi theo cắn xé để ăn; chúng sanh ấy vừa trốn chạy vừa kêu la rất là thảm thiết.

Đức Phật bảo:

- Chúng sanh ấy, vào thời quá khứ đã làm nghề giết và lột da dê, do tội ấy nên trải qua hàng trăm nghìn năm chúng sanh ấy bị đọa vào Địa-ngục chịu vô lượng khổ. Hết ở Địa-ngục rồi sau lại phải mang cái thân ấy là do tội báo kia còn sót lại mà phải tiếp tục chịu khổ.

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên lại nói tiếp:

- Thưa Thế-Tôn, có một lần khác, con thấy một chúng sanh cũng to lớn khắp mình có lông nhọn tua tủa như gươm đao; các lông ấy tự nhiên phát cháy đốt thân thể, nên chúng sanh ấy đau đớn vừa chạy vừa kêu la thảm thiết, thật là tội nghiệp.

Đức Phật bảo:

- Chúng sanh ấy, thời quá khứ làm nghề đồ tể giết lợn (heo), do tội ấy nên trăm nghìn năm đọa Địa-ngục chịu vô lượng khổ; tội báo còn sót lại, nên người ấy phải mang cái thân như thế và tiếp tục chịu khổ.

Đức Phật nói tiếp:

- Tội về giết hại chúng sanh thì vô kể, nói sao cho hết. Các tội khác cũng thế, nhiều vô kể, và bị qủa báo vô cùng khổ sở, nói sao cho hết được!

LỜi BÀN:

Sở dĩ Tôn giả Mục Kiền Liên thấy được người khổng lồ trong hư không vì Ngài có thần thông, Ngài có Thiên Nhãn nên thấy rõ ràng; vậy những người khổng lồ ấy ở đâu ra? Nếu chúng ta học Phật rồi phải hiểu rằng đây là cõi “Ngạ Quỷ”, thế giới Ma Quỷ, có vô số loại Ma Quỷ khác nhau. Cũng như cõi Súc Sanh, cõi Ngạ Qủy có vô số loài Ma Qủy to nhỏ khác nhau, có loại hiền lành, nhưng cũng có loại hung dữ. Ngạ Quỷ sống quanh quẩn chung với loài người nhưng có thần thông, vô hình đối với mắt loài người. Ngạ Quỷ ăn bằng tiếp xúc (xúc thực), có dục và cũng có sinh hoạt, nói năng với nhau trong cùng loại v.v…

Có những người: vì một trường hợp đặc biệt nào đó, họ có thể tiếp xúc được với Ma Quỷ để biết tin tức về việc này việc nọ v.v..., tại sao? Vì Ma Quỷ là vô hình, có thần thông, nên có thể biết và làm được một số việc; tuy nhiên, vấn đề này không giúp gì cho việc giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, nên Đức Phật đã không cho phép đệ tử của Ngài đi vào lãnh vực này và Ngài thường ngăn cấm Phật tử làm nghề bùa ngải, đồng cốt, thờ Ma xó, v.v….,.


Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jun 18 2011, 09:42 PM
Gửi vào: #6


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN GIẢ MỤC-KIỀN-LIÊN HỌC THIỀN

Toàn Không


Tôn-giả Mục-Kiền-Liên nói với các vị Tỳ-Kheo rằng:

Có một lần Thế-Tôn ở tại vườn trúc Ca-lan-Đà thuộc thành Vương-Xá, trong lúc đó tôi ở tại núi Kỳ-xà-Quật cách chỗ Thế-Tôn khá xa, một mình tôi ở chỗ vắng vẻ, khởi nghĩ rằng: “Thế nào là sự im lặng của bậc Thánh?”, và nghĩ tiếp: “Nếu ai dứt bặt có giác (biết) có quán (thấy), nội (bên trong) tĩnh (yên lặng) nhất tâm, không giác không quán, chính định sinh ra hỷ lạc (vui sướng), an trụ (trạng thái yên tĩnh của tâm thức) trọn vẹn ở thiền thứ hai, đó là sự im lặng như bậc Thánh”. Nay ta cũng nên im lặng như bậc Thánh, rồi tôi bắt đầu bặt dứt có giác có quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, chính định sinh hỷ lạc, an trụ đầy đủ. An trụ một lúc như thế rồi tâm tôi lại khởi có giác có quán, mất chính định!

Ngay lúc ấy, tôi thấy đức Thế-Tôn đứng trước mặt và bảo tôi rằng: “Này Mục-Kiền-Liên! hãy cố gắng lên, thầy nên im lặng như bậc Thánh, chớ sinh buông lung”.

Tôi nghe Thế-Tôn nói xong, tức thì tôi liền xa lià có giác có quán, nội tĩnh nhất tâm, không giác không quán, chính định sinh thoải mái, an trụ đầy đủ thiền thứ hai. Khi biết tôi đã an trụ đầy đủ nhị thiền một lúc lâu rồi, Ngài liền biến mất khỏi chỗ tôi. Thế-Tôn đã biết ý nghĩ trong tâm tôi, nên khi thấy tâm tôi sinh buông lung, Ngài liền biến khỏi tịnh-xá Trúc-Lâm, hiện ra trưóc mặt tôi tại núi Kỳ-xà-Quật để khuyên bảo tôi; và khi thấy tâm tôi đã an trụ thiền thứ hai đầy đủ lâu dài rồi, Ngài mới biến mất khỏi chỗ tôi để trở về tịnh-xá Trúc-Lâm.

Một lần khác, tôi khởi nghĩ: “Tại sao gọi là Thánh trụ?”, và nghĩ tiếp: “Nếu ai không nghĩ tất cả tướng (muôn hình muôn vật), tức vô tướng, tâm chính thụ, thân tác chứng đầy đủ thì đó là Thánh trụ”; rồi tôi lại nghĩ: “Nay ta phải ở ngôi Thánh trụ này”. Tôi bắt đầu không nghĩ tới tất cả các tướng, vô tướng, tâm chánh thọ, thân tác chứng đầy đủ, an trụ. An trụ không bao lâu, tâm chấp tướng (suy nghĩ việc này việc kia) lại sinh ra.

Bấy giờ Thế-Tôn biết những gì đã xảy ra trong tâm tôi, nên trong khoảnh khắc Ngài hiện ra trước mặt tôi và nói: “Này Mục-Kiền-Liên, thầy nên trụ vào chỗ trụ của bậc Thánh, chớ sinh buông lung như vậy”.

Tôi nghe Thế-Tôn dạy xong, liền vội vàng lià tất cả tướng, vô tướng, tâm chính thụ, thân tác chứng đầy đủ, an trụ lâu dài. Khi biết tôi đã an trụ vững chắc rồi, Thế-Tôn liền biến mất khỏi chỗ tôi; ba lần như thế, Ngài cũng ba lần thị hiện để dạy bảo tôi như thế.

Chư Đại-đức, nếu nói đúng, người Phật-tử từ miệng Phật sinh, từ Pháp hoá sinh, được phần Phật-Pháp, người ấy chính là tôi. Vì không cần phương tiện tôi được thiền giải-thoát, được tam-muội chính thọ, và chỉ trong một ngày mà Thế-Tôn dùng thần lực đến chỗ tôi ba lần, dạy bảo tôi, và đem chỗ của bậc đại-nhân kiến lập cho tôi.

Một lần khác, đức Phật trú ngụ tại vườn Cấp-Cô-Độc thuộc nước Xá-Vệ (phiá Bắc Ấn-Độ), trong khi đó ba Tôn-giả Xá-Lợi-Phất, Mục-Kiền-Liên, và A-Nan-Đà cùng ở chung tại vườn trúc Ca-lan-Đà thuộc thành Vương-Xá (phiá Nam Ấn-Độ). Khi gần về sáng, Tôn-giả Xá-Lợi-Phất nói:

- Lạ thay! Tôn-giả Mục-Kiền-Liên! Suốt đêm: Tôn-giả trụ vào chính-định vắng lặng, tôi không nghe tiếng thở cuả Tôn-giả.

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên trả lời:

- Đó không phải là “chính-định tịch-tịnh”, mà chỉ là “thô (sơ) chính-định”, thưa Tôn-giả Xá-Lợi-Phất, đêm nay tôi đã hầu chuyện với đức Thế-Tôn.

- Thế-Tôn đang ở nước Xá-Vệ rất xa nơi đây, làm sao Tôn-giả hầu chuyện được? Tôn-giả đã dùng sức thần-thông đến nước Xá-Vệ hay là Thế-Tôn đã dùng sức thần-thông tới đây?

- Tôi không dùng sức thần-thông để đến nước Xá-Vệ, Thế-Tôn cũng không dùng sức thần-thông để tới đây, nhưng tôi vẫn nghe lời của Thế-Tôn ở tận nước Xá-Vệ. Thế-Tôn và tôi đều dùng thiên-nhãn để thấy và dùng thiên-nhĩ để nghe, nên tôi có thể hỏi Ngài về những điều chưa thông suốt. Chẳng hạn như tôi hỏi “Thế nào là sự ân cần tinh tấn?”, thì Ngài cho biết như sau: “Này Mục-Kiền-Liên! nếu ban ngày đi kinh hành hay ngồi thiền, do không bị bất cứ cái gì làm chướng ngại nên tự tịnh tâm mình. Đầu đêm ngồi thiền hay đi kinh hành, cũng do không bị bất cứ cái gì làm chướng ngại nên tự tịnh tâm mình, đó gọi là ân cần tinh tấn”.

Tôn-giả Xá-Lợi-Phất nói:

- Tôn-giả Mục-Kiền-Liên thật là: có sức thần-thông lớn, có sức công-đức lớn; ví như một núi lớn, có người cầm một hòn đá ném vào núi, đá cũng có cùng màu sắc với núi. Tôi cũng như thế, được cùng với Tôn-giả có sức lớn, đức lớn, ngồi cùng toà; thững người phạm-hạnh (khuôn mẫu-đức hạnh) đều phải cung kính cúng dường, những người ấy được lợi ích lớn, nay tôi cũng được lợi ích tốt đẹp.

Khi ấy Tôn-giả Mục-Kiền-Liên cũng nói:

- Nay tôi được cùng với bậc đại-trí Xá-Lợi-Phất làm bạn, cũng giống như có người cầm một hòn đá ném vào núi lớn, đá được màu sắc cùng với núi. Tôi cũng như thế, được vinh dự ngồi cùng toà với bậc đại-trí Xá-Lợi-Phất, nay tôi được lợi ích lớn..,.


********************************

NGƯỜI KHỔNG LỒ
TRONG HƯ KHÔNG


Một hôm, Tôn-giả Lặc-Xoa-Na sáng sớm đến mời Tôn-giả Mục-Kiền-Liên vào thành Vương-Xá cùng đi khất thực. Trong khi đi đường, Tôn-giả Mục-Kiền-Liên miệng mỉm cười, Tôn-giả Lặc-Xoa-Na trông thấy thế liền hỏi:

- Mỗi khi Thế-Tôn và các đại đệ-tử của Ngài mỉm cười, thì thường có duyên cớ, vừa rồi tôi thấy thầy mỉm cười, vậy thầy mỉm cười là do nhân duyên gì?

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên đáp:

- Câu hỏi chưa đúng lúc, chờ khất thực xong trở về chỗ Thế-Tôn, thầy hãy hỏi tôi sẽ trả lời.

Hai Tôn-giả vào thành khất thực, họ ăn xong, rồi cùng đến chỗ Phật, vái lễ, và ngồi vào chỗ, Tôn-giả Lặc-Xoa-Na trước Phật nói:

- Sáng nay, con cùng Tôn-giả Mục-Kiền-Liên ra khỏi núi Kỳ-xà- quật để đến thành Vương-Xá khất thực. Đang đi đến chỗ nọ, Tôn-giả lại mỉm cười, con biết Thế-Tôn và các đại đệ-tử không bao giờ mỉm cười vô duyên cớ nên con hỏi Tôn-giả: “Thầy mỉm cười là do nhân duyên gì?”. Khi đó Tôn-giả bảo con: “Thầy hỏi chưa đúng lúc, chờ khất thực xong trở về chỗ Thế-Tôn, thầy hãy hỏi tôi sẽ trả lời”, bây giờ trước mặt đức Thế-Tôn con xin hỏi lại Tôn-giả:

- Vì nhân duyên gì lúc đó thầy lại mỉm cười?

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên đáp:

- Giữa đường tôi thấy một chúng-sanh, thân to như cái nhà lầu đi trên hư không khóc lóc, đau đớn, kêu gào, buồn khổ; tôi đã khởi nghĩ là chúng sanh này mang cái thân to lớn như thế mà còn khóc than buồn khổ thì thật là kỳ lạ, nên tôi mỉm cười.

Bấy giờ đức Phật bảo các Tỳ-Kheo:

- Lành thay! Lành thay! Trong chúng Thanh-văn của Ta, người có thực nhãn, thực trí, thực nghĩa, thực pháp, quyết định thông suốt, thấy chúng sanh này; Ta thấy chúng sanh này mà không muốn nói ra, e người hoang mang không tin, vì sao? Như-Lai đã nói: “Những kẻ không tin lời Như-Lai nói là những kẻ ngu si, mãi mãi thọ khổ”.

Rồi Ngài nói tiếp:

- Thời quá khứ, chúng sanh to lớn kia làm người đồ tể giết trâu bò. Do tội giết trâu bò, nên sau khi chết đi, người ấy liền bị đọa vào Địa-ngục, và chịu cực hình hàng trăm nghìn năm; khi ra khỏi Địa-ngục, tội báo còn dư, nên phải chịu cái thân to lớn như thế, và phải thọ sự đau đớn buồn khổ như vậy.

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên nói:

- Thưa Thế-Tôn, có lần con thấy một chúng sanh cũng to lớn, và toàn thân không có da bao bọc. Chúng sanh ấy đi trong hư không, và bị các loài chim, chó đuổi theo cắn xé để ăn; chúng sanh ấy vừa trốn chạy vừa kêu la rất là thảm thiết.

Đức Phật bảo:

- Chúng sanh ấy, vào thời quá khứ đã làm nghề giết và lột da dê, do tội ấy nên trải qua hàng trăm nghìn năm chúng sanh ấy bị đọa vào Địa-ngục chịu vô lượng khổ. Hết ở Địa-ngục rồi sau lại phải mang cái thân ấy là do tội báo kia còn sót lại mà phải tiếp tục chịu khổ.

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên lại nói tiếp:

- Thưa Thế-Tôn, có một lần khác, con thấy một chúng sanh cũng to lớn khắp mình có lông nhọn tua tủa như gươm đao; các lông ấy tự nhiên phát cháy đốt thân thể, nên chúng sanh ấy đau đớn vừa chạy vừa kêu la thảm thiết, thật là tội nghiệp.

Đức Phật bảo:

- Chúng sanh ấy, thời quá khứ làm nghề đồ tể giết lợn (heo), do tội ấy nên trăm nghìn năm đọa Địa-ngục chịu vô lượng khổ; tội báo còn sót lại, nên người ấy phải mang cái thân như thế và tiếp tục chịu khổ.

Đức Phật nói tiếp:

- Tội về giết hại chúng sanh thì vô kể, nói sao cho hết. Các tội khác cũng thế, nhiều vô kể, và bị qủa báo vô cùng khổ sở, nói sao cho hết được!

LỜi BÀN:

Sở dĩ Tôn giả Mục Kiền Liên thấy được người khổng lồ trong hư không vì Ngài có thần thông, Ngài có Thiên Nhãn nên thấy rõ ràng; vậy những người khổng lồ ấy ở đâu ra? Nếu chúng ta học Phật rồi phải hiểu rằng đây là cõi “Ngạ Quỷ”, thế giới Ma Quỷ, có vô số loại Ma Quỷ khác nhau. Cũng như cõi Súc Sanh, cõi Ngạ Qủy có vô số loài Ma Qủy to nhỏ khác nhau, có loại hiền lành, nhưng cũng có loại hung dữ. Ngạ Quỷ sống quanh quẩn chung với loài người nhưng có thần thông, vô hình đối với mắt loài người. Ngạ Quỷ ăn bằng tiếp xúc (xúc thực), có dục và cũng có sinh hoạt, nói năng với nhau trong cùng loại v.v…

Có những người: vì một trường hợp đặc biệt nào đó, họ có thể tiếp xúc được với Ma Quỷ để biết tin tức về việc này việc nọ v.v..., tại sao? Vì Ma Quỷ là vô hình, có thần thông, nên có thể biết và làm được một số việc; tuy nhiên, vấn đề này không giúp gì cho việc giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, nên Đức Phật đã không cho phép đệ tử của Ngài đi vào lãnh vực này và Ngài thường ngăn cấm Phật tử làm nghề bùa ngải, đồng cốt, thờ Ma xó, v.v….,.


Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jun 19 2011, 11:58 AM
Gửi vào: #7


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



CÕI TRỜI ĐẠO-LỢI


Toàn Không


1)- Thành trì và các cung điện:

Trên đỉnh núi Chúa Tu-Di có thành Tam Thập Tam Thiên của cung Trời Đạo-Lợi vô cùng rộng lớn, mỗi bề khoảng tám vạn do tuần (Theo quyển Tự Điển Phật Học của Chân-Nguyên và Nguyễn-Tường-Bách thì 1 do tuần = từ 15 đến 20 cây số) (Tạm lấy 1 do tuần =18 cây số, ta có: 80,000 x 18 = 1,440,000 cây số), thành cao một trăm do tuần (100 x 18 = 1,800 cây số), thành này có bảy lớp, trên bảy lớp thành là các lâu đài. Bên trong lại có thành khác bảy lớp nhỏ hơn, mỗi chiều rộng khoảng sáu vạn do tuần (60,000 x 18 = 1,080,000 cây số). Thành bên trong cũng cao một trăm do tuần, và trên bảy lớp thành cũng có vô số lâu đài.

Các lớp thành ngoài và thành trong cứ cách khoảng năm trăm do tuần (500 x 18 = 9,000 cây số) lại có một cửa có chiều cao khoảng sáu mươi do tuần (60 x 18 = 1,080 cây số), và chiều rộng khoảng ba mươi do tuần (30 x 18 = 540 cây số). Giữa hai lớp thành trong và ngoài vừa nói là Long cung ngang dọc sáu nghìn do tuần (6,000 x 18 = 108,000 cây số)(Ghi chú: các con số chỉ là ước khoảng).

Tại trung tâm vòng thành trong là cung Thiện-Kiến rất lớn, trong đó có một đại phòng có tên là Thiện Pháp-Đường mỗi bề rộng khoảng một trăm do tuần (100 x 18 = 1,800 cây số). Thiện Pháp-Đường tạo nên bởi vàng ròng, trên phủ lưu ly, dưới mỗi gốc cột trong sảnh đường có Pháp-Toà cho Thiên-Đế ngự rộng một do tuần (1 x 18 = 18 cây số) do bảy báu tạo thành. Hai bên Pháp-Tòa có: mười sáu Pháp-tòa khác, Chư Thiên thường vào phòng này để suy tư về diệu pháp và cảm thọ niềm vui thanh tịnh, nên được gọi là Thiện Pháp-Đường.

Phía Bắc cung Thiện-Kiến có cung điện Đế-Thích, ngang dọc một nghìn do tuần (1,000 x 18= 18,000 cây số =18000/1.6 = 11,250 dặm (mile)).

Phía Đông cung Thiện-Kiến có vườn Thô-Sáp lớn, trong vườn có hai tảng đá to, xốp, mềm có tên là Hiền và Thiện, mỗi tảng lớn mỗi bề khoảng năm mươi do tuần (50 x 18 =900 cây số). Trong vườn còn có: ao Nan-Đà nước luôn luôn trong xanh, bốn phiá đều có bậc thang đi xuống ao, khi vào vườn này thì thân thể trở nên thô cứng.

Phía Nam cung Thiện-Kiến là vườn Họa-Lạc lớn (Có sách ghi là vườn Trú-Dạ), trong vườn cũng có hai tảng đá tên là Họa và Lạc, cũng có ao Nan-Đà; trong vườn còn có cung điện nghỉ mát rộng mỗi chiều khoảng năm trăm do tuần (500 x 18 = 9,000 cây số), khi vào vườn này, tự nhiên có những nét vân màu sắc sặc sỡ trên thân thể, lúc ấy lấy đó làm vui thích.


Phiá Tây cung Thiện-Kiến là khu vườn tên Tạp, cũng có hai tảng đá tên Thiện-Kiến và Thuận Thiện-Kiến; đặc biệt, trong vườn này có cây Trú-Độ cao lớn, thân cây to bảy do tuần (7 x 18 = 126 cây số), cao 100 do tuần. Cây đại thụ này luôn luôn có hoa lá sum sê như vầng mây báu lớn, cành lá xòe ra rộng năm mươi do tuần; tại cây này có vị Thần tên Mạn-Đà trú tại đây, thường trỗi nhạc mà tự vui, nên mới có cái tên là cây Trú-Độ. Kế bên cây Trú-Độ, có cung điện nghỉ mát. Đế-Thích cho phép các Thiên nữ cùng các Thiên tử dạo chơi tập thể trong vườn, nên được gọi là vườn Tạp; vườn này các vị Trời đều được vào hết, ví dụ như vị Trời bậc cao, vị bậc trung, vị bậc thấp đều có thể vào, nhưng ba vườn kia vị Trời bậc thấp không được vào.

Phía Bắc cung Thiện-Kiến và cung Đế-Thích có vườn Đại-Hỷ (Có sách ghi là vườn Nan-Đà), trong vườn cũng có hai tảng đá tên Hỷ và tên Đại-Hỷ; trong vườn cũng có cây Trú-Độ và cung điện nghỉ mát, khi vào vườn này thì vô cùng vui vẻ nên gọi là vườn Đại-Hỷ.

Ngoài ra còn có các cung điện của các chư Thiên Đạo-Lợi ngang dọc, xen kẽ rất nhiều. Có cái mỗi chiều một nghìn do tuần (1,000 x 18 = 18,000 cây số), có cái chín trăm, có cái tám trăm v.v..., cho tới cung điện nhỏ nhất mỗi chiều một trăm do tuần (100 x 18 = 1,800 cây số). Lại còn có các cung điện của các Tiểu Thiên ngang dọc mỗi chiều một trăm do tuần, có cái chín mươi, tám mươi, bảy mươi v.v..., cho đến cái nhỏ nhất mỗi bề mười hai do tuần (12 x 18 = 216 cây số=135 dặm Anh).

Nên biết rằng, bảy lớp thành ngoài và bảy lớp thành trong đều tạo bởi bảy báu là vàng, bạc, xích châu, mã não, lưu ly, pha lê và xà cừ (những thứ này và tất cả những gì thuộc về các cõi Trời, mắt người thường không thể nhìn thấy). Mỗi cửa của thành đều có năm trăm Quỷ-Thần canh giữ, phòng thủ, bảo vệ. Tất cả các lâu đài, cung điện, đều có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp màng lưới, bảy lớp hàng cây giáp vòng, và các thứ này đều trang trí bằng bảy báu.

Ngoài ra, tám tảng đá trong bốn vườn đều lớn cỡ mỗi chiều năm mươi do tuần, cấu tạo cũng bởi bảy báu, nhưng xốp lại mềm mại như áo trời. Trong các ao, có các thứ hoa đủ các màu sắc đẹp đẽ chen (chúc) nhau, mỗi hoa to như bánh xe, cọng (cuống) hoa như trục xe. Các hoa tiết ra nước trong trắng ngọt, và có mùi thơm kỳ thú phảng phất. Chung quanh lâu đài, cung điện, trên ao, trong vườn đều có các loài chim kỳ lạ như chim Cưu, chim Nhạn, chim Uyên-Ương v.v... cùng ríu rít hót vang, hòa ca vui vẻ, đúng là cảnh Thiên thai Tiên-Trời vậy.

Từ cung Thiện-Kiến, có những con đường dẫn đến cung Đế-Thích, những con đường đến vườn Thô-Sáp, đến vườn Họa-Lạc, đến vườn Tạp, vườn Đại-Hỷ. Cũng từ cung Thiện-Kiến có những con đường dẫn đến các ao, dẫn đến các tảng đá, đến các cây Trú-Độ, đến các cung điện nghỉ mát. Cũng có những con đường dẫn đến các lâu đài, các cung điện chư Thiên, Tiểu Thiên, cung Long Vương v.v...

2)- Vua Đế-Thích hưởng lạc:

Khi Đế-Thích muốn đến vườn Thô-Sáp chẳng hạn, thì liền nghĩ đến các đại Thiên của Tam thập Tam Thiên, liền lúc ấy, các đại Thiên biết được, họ liền trang sức, rồi ngồi xe báu có vô số Thiên chúng vây quanh đến trước Đế-Thích. Đồng thời Đế-Thích cũng nghĩ tới các Thiên-Vương khác, và nghĩ đến Long-Vương. Ngay lúc ấy các Thiên-Vương biết ý muốn của Đế-Thích, liền trang sức, rồi ngồi xe báu có vô số Thiên chúng vây quanh đến trước Đế-Thích.

Cùng lúc, Long-Vương cũng biết ngay Đế-Thích đang chờ mình, Long-Vương liền biến hoá ra ba mươi hai cái đầu; mỗi cái đầu có bảy cái răng ở hàm dưới, mỗi cái răng có nhiều ao tắm, mỗi ao tắm có bảy đóa hoa sen lớn, mỗi hoa sen có nhiều cánh xoè ra. Trên mỗi cánh hoa có bảy Ngọc-Nữ đánh trống, thổi kèn, thổi sáo, đánh đàn, v.v... trỗi nhạc ca múa; sau khi biến hóa xong, Long-Vương liền đến trước Đế-Thích.

Bấy giờ, Thích Đề Hoàn Nhân (Đế-Thích) trang sức các thứ báu như Anh-Lạc, rồi ngồi trên đầu Long-Vương chỗ bậc nhất; tiếp theo mười sáu vị Thiên-Vương theo thứ tự mà ngồi trên đầu Long-Vương ấy, lúc bắt đầu đi, các Thiên-Nữ cùng chơi nhạc Trời ca múa trên cánh hoa sen.

Khi Đế-Thích cùng các Thiên-Vương, Thiên chúng đến vườn Thô-Sáp, thì có cơn gió thổi làm cho cánh cửa vườn tự nhiên mở ra. Đồng thời cũng có cơn gió thổi, làm cho sạch sẽ vườn, và các loại hoa rải khắp. Vào vườn đi thẳng đến chỗ tảng đá, Đế-Thích xuống ngự trên một chỗ, chư Thiên cũng theo thứ tự mà ngồi.

Như đã nói ở trên, vườn Thô-Sáp, vườn Họa-Lạc và vườn Đại-Hỷ, một số chư Thiên tuy thấy vườn, nhưng không được vào. Một số chư Thiên được thấy vườn, được vào, nhưng không được hưởng ngũ dục. Một số khác được thấy, được vào, và được hược hưởng ngũ dục, tại sao có sự khác biệt như thế? Vì phúc đức và hạnh nghiệp tạo ra trước kia không đồng nhau mà thành ra như vậy.

Đế-Thích và Thiên chúng dạo vườn và hưởng ngũ dục từ 1 tới 7 ngày rồi trở về cung.

Nên biết, Đế-Thích có mười sáu vị đại Thiên-Tử (giống như các quan Đại-thần của Vua ở trần gian ngày xưa) theo kề cận.

3)- Đặc điểm của Chư Thiên:

Chư Thiên Đạo-Lợi nói chung có các nét đặc điểm sau đây:

01- Bay đi lại không trở ngại gần xa.
02- Thân không có da, thịt, xương, máu.
03- Không có tiểu tiện đại tiện.
04- Không bao giờ mỏi mệt.
05- Thiên-Nữ không sinh đẻ con cái.
06- Thiên nhãn, thiên nhĩ, nhìn xa, nghe xa không bị trở ngại.
07- Thân thể phát ra ánh sáng.
08- Thân thể có màu sắc tuỳ ý muốn (7 màu: Vàng, lửa, xanh, đỏ, lục, đen, trắng).
09- Thân cao một do tuần (1 x 18 = 18 Kilomet). (Có sách ghi thân hình cao hơn nửa dặm)
10- Sống rất lâu, thọ một nghìn tuổi trời (bằng 365,000 năm ở trần gian).
11- Có hôn nhân giữa các Thiên-Tử và Thiên-Nữ. (Có ly thân, ly dị như ở trần gian không?)
12- Quần áo, thức ăn, thức uống v.v... khi nghĩ đến liền có ngay.
13- Không phải làm việc cực khổ như ở trần gian.
14- Không biết sợ nóng lạnh.
15- Thiên-tử khi mạng sống sắp hết có 5 điềm ứng trước (Tăng-Nhất A-Hàm, quyển 3, trang 530), đó là
- Tràng hoa đội trên đầu héo đi.
- Áo choàng dính bụi dơ bẩn
- Thân mất mùi thơm, lại có mùi hôi.
- Các Thể-nữ không vây quanh nữa mà bỏ đi. (đa thê?)
- Không còn thích thú tòa ngồi nữa.

Theo Trường A-Hàm, quyển 2, trang 404 đến 407 ghi: Khi một chúng-sanh hành thiện về thân khẩu ý, sau khi chết đi được sinh đến cõi trời Đạo-Lợi bằng hóa sinh. Vị Thiên sơ sinh ấy cũng như đứa bé hai ba tuổi ở cõi trần gian, nhưng vị ấy tự nhiên hóa sinh ra và hiện ngồi trên đầu gối của một vị Thiên. Vị này thấy Thiên nhi ngồi trên đầu gối mình thì nói: “Đây là con trai ta, (hoặc) đây là con gái ta”. Thiên nhi này do hạnh nghiệp và phúc báo, trí huệ tự nhiên phát sinh ngay sau khi sinh ra không lâu, nên liền nghĩ: “Ta do đã làm gì mà được sinh đến cõi này?” Rồi lại nhớ và nghĩ tiếp: “À phải rồi, xưa kia ta ở nhân gian đã làm điều lành về thân khẩu ý, nay ta được sinh đến cõi này”. (Còn tiếp)

Toàn Không




--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 21 2011, 11:05 PM
Gửi vào: #8


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



CONG DUC SAM HOI

Chúng sanh khi xả báo thân này thì thọ báo thân khác Nếu trong khi tìm thọ thân khác mà chưa đủ nhân duyên thì thân nầy chưa xả. Ví như con sâu đo , trong khi đàng đuôi bám chặt một nơi thì đàng đầu ngóc lên tìm kiếm. Hễ đàng đầu tìm được chỗ mà bám xuống thì đàng đuôi mới nhả ra. – Con người trong lúc nằm thiêm thiếp chờ chết, chính là lúc nghiệp thức tìm kiếm nơi thác sanh. Nếu được nơi rồi thì liền chết, bỏ xác thân nầy mà thọ thân khác.
Thuở xưa, đời nhà Lương, vua Võ Ðế, có quen với một vị Hòa thượng, hiệu là Chí Công, hằng ngày trò chuyện với nhau rất thân thiết. Hoàng hậu tên là Hy Thị, thấy vậy, bèn can gián vua đừng chơi với người ngu tăng ấy, nhưng vua Võ Ðế chẳng hề nghe, cứ giao du như thường. Hoàng hậu giận lắm, toan lập mưu hại ngài Chí Công, bèn lén dùng thịt chó làm nhân bánh, rồi sai người đem bánh ấy đến chùa mà trai tăng. Ai ngờ Hòa thượng Chí Công đã biết trước, nên dự sắm áo tràng rộng tay, làm bánh chay bỏ vào, rồi khi trai Tăng lén bỏ bánh mặn trong tay áo, lấy bánh chay ra ăn.
Bà Hi Thị đợi tin Hòa thượng ăn rồi, tức thì tâu với vua rằng: “Bánh ấy thiếp dùng thịt chó làm nhân, ông Chí Công ăn mà không biết, thiệt là người phàm ngu muội, không có đạo đức trí tuệ gì cả, nay bệ hạ còn làm bạn nữa chăng?”.
Vua nghe nói nổi giận, liền mang gươm đến chùa mà giết Hòa thượng. Khi ấy, ngài Chí Công cũng đã biết trước, nên ra ngoài cửa chùa đứng đợi. Lúc vua ngự đến trông thấy Hòa thượng thì hỏi rằng: “Ông ra đứng đây mà làm chi?”.
Ngài Chí Công đáp rằng: “Bần tăng biết bệ hạ đến giết bần tăng, nên bần tăng ra đây đứng đợi. Nếu Bệ hạ mà vào chùa mà giết hại, thì ô uế chốn Già lam càng tội nghiệp lắm!”.
Vua nghe nói kinh hồn chấp tay niệm Phật và sám hối, rồi liền mời Hòa thượng vào chùa mà hỏi rằng: “Ngài đã tiên tri được như vậy, vì sao còn ăn lầm bánh thịt chó mà không biết?”..
Ngài Chí Công bèn đáp rằng: “Muôn tâu Bệ hạ! Bần tăng có ăn đâu!”
Tâu rồi Ngài liền thỉnh vua ra sau vườn, dạy người đào lấy bánh thịt chó lên, thấy vẫn còn đủ 120 cái. Hòa thượng bèn lấy nước Tịnh thuỷ phun vào, tức thì mỗi mười bánh hiệp lại thành một con chó, hình thể vận động như thường. Vua thấy vậy thất kinh, mới biết pháp lực thần thông của Ngài Chí Công thiệt là cao cường quảng đại, liền trở vào chùa hết lòng lễ sám hối những sự lỗi lầm.
Từ ấy Võ Ðế càng yêu mến Hòa thượng Chí Công hơn ngày trước nữa; trái lại bà Hy Thị thấy thế lại càng giận thêm, nên khiến kẻ hầu hạ đến chùa lấy kinh sách đem ra đốt hết.
Ðến niên hiệu Thiên Giám, bà mang bệnh nặng rồi phải từ trần, rồi bào thai làm con rắn mãng xà ở sau hậu cung ẩn mình không cho ai thấy, thừa khi ban đêm, bà lại mách điềm chiêm bao cho vua Võ Ðế hay rằng: “Khi thiếp còn sống ăn ở bất nhân, tổn vật hại người, làm điều tham độc. Vì cớ ấy nên nay thiếp phải làm thân mãng xà, thân đã dài, vóc lại lớn, bò lết không nổi, đói không có chi ăn, khát chẳng có chi uống, cực khổ nhiều bề, còn mỗi trong chân vảy lại có thứ độc trùng đeo vào cắn rứt da thịt, đau thắt ruột gan thật là khó chịu! Thiếp nghĩ vì thiếp cùng Bệ hạ vẫn là tơ duyên chỉ nợ, tình vợ nghĩa chồng, mà nay thiếp bị đọa ra thân súc sanh thế này, Bệ hạ nỡ nào hưởng thọ phú quý một mình mà không tìm phương chi cứu thiếp, nên xin Bệ hạ từ bi thỉnh thầy làm chay độ giải cho thiếp, may nhờ Phật pháp hộ trì, thoát ra khỏi vòng ác báo, thì thiếp cảm ơn đời đời”.
Vua Võ Ðế nghe rồi, bèn thức dậy rầu rĩ khóc lóc một hồi; sáng ra liền truyền lệnh rước các thầy Sa môn nhóm tại điện mà hỏi rằng: “Vậy trong hàng chư tăng, ai có phép chi cứu giải Hoàng hậu khỏi điều tội khổ chăng?”.
Hòa thượng Chí Công tâu rằng: “Muôn tâu Bệ hạ! Tội của Hoàng hậu rất nặng, xin Bệ hạ hãy thiết lập đàn tràng lễ bái sám hối, thì mới cứu được”.
Vua Võ Ðế bằng lòng, liền cầu Hòa thượng Chí Công soạn ra mười quyển sám văn, rồi thiết đàn trong cung là chay ba tháng, cầu sám cho Hoàng hậu.
Có một hôm kia, khi trai đàn gần mãn có mùi hương nồng nã bay khắp trong cung điện.. Vua Võ Ðế ngước mắt ngó lên trời, thấy có một nàng con gái, nhan sắc tuyệt trần, đứng giữa hư không mà chấp tay tâu cùng vua rằng: “Thiếp nhờ công đức của Bệ hạ cầu sám hối đã thoát được thân mãn xà mà sanh về cõi trời Ðao Lợi. Nên thiếp phải hiện thân ra cho Bệ hạ thấy để làm chứng nghiệm vậy – Thôi, mấy lời cảm tạ, kính chúc Bệ hạ ở lại bình an”.
Bà nói rồi liền ẩn mình không thấy nữa. Khi ấy vua Võ Ðế nửa mừng nửa khóc, khôn xiếc sự tình bèn lui vào cung mời Hòa thượng Chí Công mà hỏi rằng: “Hoàng hậu của Trẫm buổi còn sống, hết sức thù ghét Hòa thượng là túc duyên làm sao mà gây ra cừu oán như vậy?”
Ngài Chí Công tâu rằng: “Muôn tâu Bệ hạ! Sự cừu oán duyên do kiếp trước có một vị Trú trì và một vị Giám tự ở chung một chùa. Trong chùa ấy có cái đôn để nước, dưới chân cái đôn có con thiện trùng thường thường kêu trong khi ban đêm; tiếng kêu của nó inh ỏi như thể tiếng con dế hay con vạt sành vậy. Thường khi ông Trú trì tới đó lấy nước súc miệng, rửa mặt thì cũng chú nguyện cho con ấy mau mau thoát đặng cái thân súc vật, mà sanh về đường nhân luân. Một bữa kia ông Trú trì đi khỏi, ông Giám tự ghét con thiện trùng đêm nào cũng kêu, và làm cho lòng ông không được thanh tịnh và chẳng cho ông ngủ thẳng giấc, nên ông bèn bắt con ấy, lấy dao cắt ngang giữa lưng làm hai, rồi cũng bỏ lại dưới chân đôn như cũ. Qua bữa sau ông Trú trì về, trót đêm không nghe tiếng con thiện trùng kêu nữa, bèn kiếm dưới chân đôn, thì thấy nó đã chết rồi. – Ông thương khóc, niệm Phật chú guyện cho nó và lấy một miếng vải đỏ buộc vào chỗ lưng bị cắt, rồi đem chôn sau vườn chùa. Muôn tâu Bệ hạ! Con thiện trùng ấy tức là kiếp này làm thân Hoàng hậu; còn vị Giám tự là kiếp này làm thân của Bần Tăng đây. – Vì vậy oan gia gặp nhau toan đòi nợ trước, nếu tôi kiếp này tu hành lơ láo, thì có thể nào thoát ra khỏi tay của Hoàng hậu!”.
Vua Võ Ðế nghe nói liều gật đầu mà đáp rằng: “Hèn gì Hoàng hậu của Trẫm thường thường buộc sợi dây đỏ ngang lưng, không khi nào rời bỏ, mà Trẫm không biết cớ làm sao. – Có một đêm Hoàng hậu ngũ mê, Trẫm lén mở sợi dây ấy ra, thì Hoàng hậu nói rằng đau lưng, rồi lấy dây ấy buộc lại vào, tức thì không đau nữa. Nay Hòa thượng bày tỏ sự túc trái như vậy, thì biết Phật nói “NHÂN QUẢ” thiệt là không sai”.
Từ ấy, vua Võ Ðế lại càng tin tưởng Phật pháp, trọng đãi Chúng Tăng và nguyện một lòng phụng sự Tam Bảo…
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jun 22 2011, 12:43 AM
Gửi vào: #9


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



CÕI TRỜI ĐẠO-LỢI

(Tiếp theo)
Toàn Không



Sau khi chào đời không lâu, thì Thiên nhi cảm thấy đói muốn ăn, tự nhiên trước mặt liền có thức ăn đựng trong báu vật. Thiên nhi dùng tay lấy thức ăn bỏ vào miệng ăn, khi ăn hết rồi, tiêu hết cũng như bỏ thức ăn vào lửa, cháy tiêu ngay. Ăn xong, lại có cảm giác khát, tự nhiên có nước cam lộ đựng trong báu vật ở ngay trước mặt. Thiên nhi cầm lấy mà uống, uống xong, cũng như bỏ bơ vào lửa, tiêu mất.

Ăn uống xong, không còn đói khát nữa, thân thể tự nhiên trở thành cao lớn, vị ấy trở thành Thiên thiếu niên (Tiểu Thiên). Vị ấy cùng với các Thiên thiếu khác đi đến ao, xuống tắm rửa, và tự thấy thoải mái vui thích; tắm xong, vị Thiên thiếu lên bờ, đến cây Hương, lấy hương xoa vào thân thể, đến cây Kiếp-Bối, lấy y phục mặc vào; xong, vị ấy đến cây Trang-Sức, cây Tràng-Hoa, lấy đồ trang sức cho thân thể, lấy tràng hoa đội lên đầu tóc. Vị Thiên thiếu lại đến cây Khí-Cụ lấy báu vật đeo vào thân thể, rồi đến vườn cây hoa qủa hái lấy qủa trái ưa thích để ăn cho tới khi chán mới thôi; sau chót, vị Thiên thiếu đến chỗ Nhạc-Khí lấy nhạc cụ mà vị ấy ưa thích để chơi hòa tấu và ca hát vui vẻ.

Đàn ca chán rồi, vị Thiên thiếu ấy đến khu vườn khác trông thấy vô số Thiên-Nữ, Thiên thiếu nữ đang ca hát, nhảy múa, cười nói, đùa giỡn vui vẻ; lúc đó vị Thiên thiếu ấy thấy thế sinh tâm thích thú, đắm nhiễm, quên hết phương hướng. Khi mới hóa sinh ra, vị ấy thường nghĩ: “Ta làm điều gì mà được sinh đến cõi này?” Sau khi du ngoạn các vườn, vị ấy quên hết tâm niệm ấy, do đó có việc Thể-Nữ theo hầu Thiên-Tử nơi cõi trời Đạo-Lợi.

4)- Vua Rồng nổi giận:

(Tăng-Nhất A-Hàm, quyển 2, từ trang 389 đến trang 420)
Khi đức Phật đang ở đạo tràng Kỳ-Hoàn thuộc nước Xá-Vệ, đêm ấy vua Trời Đế-Thích đến chỗ Thế-Tôn cúi lạy rồi ngồi qua một bên thưa:

- Như-Lai nói: “Phàm Phật ra đời vì năm việc là chuyển pháp-luân, độ cha mẹ, người không tin khiến lập lòng tin, người chưa phát tâm bồ-đề khiến phát tâm bồ-đề, ở trong ấy sẽ truyền trao Phật quyết”, nay Phật mẫu từ cõi Trời Đâu-Xuất đến cõi Đạo-Lợi muốn được nghe pháp, Thế-Tôn thầy của Trời Người nên đến cõi Trời Đạo-Lợi thuyết pháp.

Khi ấy: vua Trời Đế-Thích thấy Phật lặng yên nhận lời thỉnh cầu thì vui mừng cúi lạy rồi biến mất.

Hôm sau, khi Phật đang thuyết pháp cho năm trăm đệ tử trong đại giảng đường, thì tại cung Long-Vương có hai Long-Vương Nan-Đà và Ưu-Bàn nghĩ: “Các Sa-Môn hay bay trên ta, ta phải làm cho họ không bay được, không di chuyển được”. Rồi hai Long-Vương to lớn ấy phát dữ, nổi giận phóng gió lớn khiến giông tố nổi lên, đất tung đá bay, trời đất mịt mù, sấm chớp giăng đầy khắp chốn. Tôn-giả A-Nan thấy thế bạch Phật:

- Thưa Thế-Tôn, không hiểu sao hôm nay trời đất sấm chớp gió cuốn mịt mù khác hẳn mọi khi?

Phật bảo:
- Đây là hai Long-Vương Nan-Đà và Ưu-Bàn nghĩ rằng các Sa-Môn khống chế hư không vì thường bay trên đầu họ nên họ nổi giận phá không cho Sa-Môn làm điều đó nữa.

Khi đó Tôn-giả Đại Ca-Diếp đứng dậy cúi đầu vái Phật và thưa:
- Con xin được đi đánh nhau với họ.

Phật bảo:
- Hai Long-Vương này rất là hung ác, khó thể chịu giáo hóa, thầy ngồi xuống đi.

Tiếp theo là các Tôn-giả A-La-Luật, Ly-Việt, Ca-Chiên-Diên, Tu-Bồ-Đề, Ưu-Đà-Di, Ba-Kiệt v.v..., mỗi người lần lượt đứng dậy xin đi hàng phục hai Rồng dữ, đều bị Phật từ khước không cho.

Bấy giờ Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên đứng dậy vái Phật và thưa:
- Con muốn đi hàng phục hai Rồng dữ, xin Thế-Tôn cho phép con đi.

Phật bảo:
- Thầy đủ sức hàng phục Rồng dữ, nhưng thầy phải giữ tâm ý chớ khởi loạn tưởng, vì hai Rồng kia hung dữ đủ sức xúc nhiễu thầy.

Khi được Phật chấp thuận, Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên cúi đầu lễ Phật rồi ngồi xuống nhập định, chỉ trong khoảnh khắc liền biến mất khỏi đạo-tràng; lúc ấy hai Rồng lớn có bảy đầu đang bay hung bạo quanh núi Tu-Di khiến cho trời đất mịt mù như thế. Tôn-giả Muc-Kiền-Liên hóa làm đại Long-Vương có mười bốn đầu, to gấp hai lần hai Long-Vương kia, lượn quanh núi Tu-Di nhanh bằng hai lần và phun khói ầm ầm ngay phiá trên hai Rồng kia. Thấy thế, hai Rồng sinh lòng sợ hãi, nhưng chưa chịu khuất phục mà muốn thử tài xem thế nà; hai Rồng bèn lấy đuôi quậy trong biển lớn, lấy nước rảy lên khắp cõi Đạo-Lợi, nhưng không trúng đại Rồng. Khi ấy đại Rồng cũng lấy đuôi quẫy trong biển lớn, lấy nước rảy khắp và trúng vào hai Rồng. Khi đó hai Rồng bực tức giận dữ tột cùng, nổi sấm sét vang rền, phun khói vũ bão, giông tố rung chuyển trời đất. Tôn-giả nghĩ: “Nếu ta dùng sấm chớp giông tố chiến đấu với họ chỉ hại cho cõi Trời và Người, nay ta hóa hình cực nhỏ để chiến đấu”. Nghĩ vậy, Tôn-giả liền hóa hình cực nhỏ chui vào miệng Rồng rồi chui ra một lỗ mũi, rồi lại chui vào lỗ mũi kia ra lỗ tai, chui trở lại lỗ tai ra lỗ mắt, chui trở lại lỗ mắt ấy rồi ra lỗ mắt kia. Đã ra khỏi lỗ mắt kia rồi đi trên lông mi của Rồng.

Khi ấy hai Long-Vương hết sức sợ hãi và nghĩ: “Trước đây đại Long-Vương này to lớn gấp mấy chúng ta, có số đầu gấp hai chúng ta, bay nhanh cũng gấp hai, lại rảy nước trúng thân chúng ta. Nay lại biến còn nhỏ tí chui vào miệng ra mũi, vào mũi ra tai, vào tai ra mắt, vào mắt này ra mắt kia, rồi lại đi trên lông mi ta; đại Long-Vương này có đại oai lực, chúng ta chẳng thể bằng được. Loài Rồng chúng ta bốn loại: Noãn sinh, thai sinh, thấp sinh và hóa sinh, nhưng không Rồng nào vượt được chúng ta; nay chúng ta chắc chết mất, không biết đại Long-Vương này ở đâu mà có uy lực như thế?”

Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên biết hai Long-Vương suy nghĩ và sợ hãi, liền trở lại hình bình thường đi trên mi mắt Rồng. Hai Rồng trông thấy Tôn-giả, tự nói với nhau: “Đây là Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên, chẳng phải đại Long-Vương. Thật là kỳ lạ, vị này có thể thi tài với chúng ta!” Long-Vương Nan-Đà nói:
- Tôn-giả, sao lại xúc nhiễu chúng tôi như thế? Muốn răn dạy chúng tôi điều gì?

Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên bảo:
- Các ông nghĩ rằng: “Làm sao mà Sa-Môn trọc đầu lại bay trên đầu ta, chế ngự hư không của chúng ta, nay ta chế ngự Sa-Môn”, có phải thế không?

Long-Vương trả lời:
- Đúng thế, Tôn-giả.
- Các ông nên biết núi Tu-Di này là đường đi của Chư Thiên chẳng phải chỗ riêng của các ông.
- Cúi mong Tôn-giả tha thứ, từ nay về sau, chúng con sẽ không dám xúc nhiễu, không dám nổi loạn nghĩ ác nữa. Cúi mong Tôn-giả nhận chúng con làm đệ tử.
- Các ông chớ có quy y ta, các ông quy y nơi ta đã quy y.
- Chúng con hôm nay xin quy y Như-Lai.
- Các ông không thể quy y ở đây, các ông nên cùng ta đến thành Xá-Vệ, chỗ Thế-Tôn để quy y.

Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên dẫn hai Long-Vương nhanh như co tay từ núi Tu-Di đến Tịnh-Xá Kỳ-Hoàn, bấy giờ Thế-Tôn đang thuyết pháp cho vô số chúng nghe. Tôn-giả bảo hai Long-Vương:
- Các ông nên biết, các ông không thể để thân hình này mà đến chỗ Phật.
Long-Vương nói:
- Đúng thế Tôn-giả.
Hai Long-Vương liền hóa hình người dung mạo đẹp đẽ. Tôn-giả Đại Mục-Kiên-Liên đến chỗ Phật cúi đầu lễ Phật rồi bảo hai Long-Vương:
- Nay đúng lúc, các ông tiến lên.

Hai Long-Vương liền tiến lên, chắp tay thưa:
- Chúng con tên Long-Vương Nan-Đà và Ưu-Bàn xin Thế-Tôn chấp thuận cho chúng con được quy y, thọ trì năm giới trong giáo pháp của Như-Lai.
Thế-Tôn búng ngón tay chấp thuận. Hai Long-Vương bèn vái lễ rồi ngồi xuống nghe pháp...

5)- Đức Phật lên Trời Đạo-Lợi:

Thời ấy có một dạo, đức Phật thấy rằng: “Bốn chúng có nhiều giãi đãi, chẳng thích nghe pháp, cũng chẳng cầu điều chưa được khiến được, điều chưa đắc khiến đắc, Ta nên làm cho bốn chúng khát ngưỡng pháp”. Do đó đức Phật chẳng báo cho ai biết, như khoảng thời gian duỗi cánh tay Ngài biến mất khỏi Tịnh-Xá Kỳ-Hoàn đến cõi Trời Đạo-Lợi. Khi ấy Vua Trời Đế-Thích xa thấy Thế-Tôn đến liền dẫn Thiên chúng đến rước cúi lạy, thỉnh đến tòa ngồi và nói rằng:
- Kính chào Thế-Tôn viếng cõi Trời ba mươi ba, xin mời Ngài ngồi lên pháp tòa.

Khi ấy đức Phật tự nghĩ: “Ta sẽ dùng sức thần túc ẩn hình, không cho mọi người thấy Ta và hóa thân to lớn”. Do đó Ngài ngồi kiết già có thân hình kín khắp tảng đá pháp tòa mỗi chiều một do tuần (18 cây số) trong Thiện Pháp-Đường.

Ngay khi ấy, mẫu thân Phật, bà Ma-Gia dẫn các Thiên nữ đến, cúi đầu chào, ngồi qua một bên và nói:
- Mong mỏi nhớ nghĩ Phật, hôm nay Phật mới đến, thật là đại hạnh.

Đế-Thiên Đế-Thích, chư Thiên đều vái và an vị hai bên Phật. Bấy giờ Thế-Tôn thăm hỏi Phật mẫu rồi thuyết diệu pháp cho Phật mẫu và chúng Thiên nghe.

Khi đó bốn chúng ở thế gian không thấy Phật bèn đến hỏi Tôn-giả A-Nan là Thị-giả của Phật, nhưng Tôn-giả A-Nan cũng không biết Phật ở đâu . Hai Vua Ba-Tư-Nặc và Ưu-Điền cũng đến chỗ Tôn-giả A-Nan hỏi nhưng đều được trả lời không biết như thế, Vua Ưu-Điền sinh sầu lo và phát bệnh, quần thần hỏi:
- Đại-Vương bệnh gì vậy?

Vua trả lời:
- Ta sầu lo vì không thấy Như-Lai nên thành bệnh, chắc là ta chết mất thôi.
Quần thần bàn với nhau: “Nếu chúng ta làm tượng của đức Phật thì chắc là vua sẽ hết buồn và khỏi bệnh”. Bàn như vậy xong, họ bèn tâu vua:
- Chúng hạ thần có thể làm tượng Phật, và có thể cung kính lễ bái tượng Phật cũng như lễ bái Phật vậy, xin Ngài chấp thuận cho thực hiện.(Còn tiếp)

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 23 2011, 09:02 AM
Gửi vào: #10


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




Chí tâm đãnh lễ Kim Ngân, xin cho đăng các bài Pháp tiếp tục
Nam Mô A Di Đà Phật .
lay.gif
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jun 24 2011, 10:25 PM
Gửi vào: #11


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



CÕI TRỜI ĐẠO-LỢI

(Tiếp theo)


Toàn Không


Vua nghe nói vui mừng bảo quần thần:

- Ta đồng ý làm tượng Phật bằng gỗ thơm, gỗ Ngưu-đầu Chiên-đàn, cao năm thước, và phải có thợ khéo làm thật giống đức Phật mới được.

Các quan đại-thần liền cho tuyển người giỏi nghề điêu khắc, cho người đi kiếm gỗ quý, và chỉ trong ít ngày là hoàn tất tượng giống Phật như hệt; Vua Ba-Tư-Nặc nghe nói: “Vua Ưu-Điền cho làm tượng Phật bằng gỗ thơm Chiên-đàn”, bèn ra lệnh các quan cho đúc ngay một tượng cũng lớn cùng cỡ, nhưng lại bằng vàng ròng. Ông nghĩ rằng: “Thân Như-Lai quý hơn Thiên kim, nên phải làm bằng vàng ròng mới xứng”; bởi vậy, thời Phật còn tại thế đã có hai tượng Phật quý giá như thế.

Rồi một hôm khác, bốn chúng lại đến gặp Tôn-giả A-Nan và nói:
- Chúng tôi khát ngưỡng nhớ mong đức Thế-Tôn, muốn được thấy mặt Thế-Tôn, và muốn được nghe pháp của Thế-Tôn, xin Tôn-giả làm cách nào tìm kiếm đức Thế-Tôn cho chúng con.

Tôn-giả A-Nan nói:
- Chính tôi cũng mong thấy Ngài như quý vị, chẳng biết Thế-Tôn đang ở đâu nữa; nhưng nay chúng ta hãy cùng nhau đến chỗ Tôn-giả A-Na-Luật để hỏi, vì Tôn-giả có Thiên nhãn bậc nhất có thể tìm kiếm thấy Thế-Tôn đang ở đâu.

Tôn-giả A-Nan và bốn chúng (Tăng, Ni, Cư-sĩ nam, Cư-sĩ nữ) đến gặp Tôn-giả A-Na-Luật và thưa:
- Nay bốn chúng đến chỗ tôi hỏi: “Hiện nay đức Thế-Tôn ở đâu?”, xin Tôn-giả dùng Thiên nhãn xem Phật ở chỗ nào cho mọi người được biết?

Tôn-giả A-Na-Luật bảo mọi người:
- Các vị hãy chờ một chút, tôi sẽ quán sát Như-Lai.

Tôn-giả A-Na-Luật liền nhập định, coi hết cõi Ta-Bà không thấy, Tôn-giả lại coi khắp các tầng Trời cũng chẳng thấy; cuối cùng coi hết tam Thiên đại Thiên thế giới cũng vô tăm tích của Phật. Thất vọng, Tôn-giả xuất định và nói:
- Tôi xem từ Địa-ngục tới hai mươi tám tầng Trời (6 Dục giới, 18 Sắc giới, và 4 Vô Sắc giới), cho đến tam Thiên đại Thiên thế giới (Giải Ngân hà của chúng ta: Milky Way) cũng chẳng thấy Phật đâu cả!

Mọi người thất vọng trở về với niềm thắc mắc: “Phật ở đâu, hay Ngài đã nhập Niết-Bàn rồi?”

Bấy giờ thời gian trải qua đã gần ba tháng, đức Phật nghĩ: “Bốn chúng ở trần gian không thấy Ta đã lâu, có lòng mong mỏi, Ta nên bỏ thần túc khiến đệ tử có thể thấy Ta ở đây”, nghĩ rồi, Ngài liền xả thần túc. Ngay đêm đó có một vị Trời đến mách với Tôn-giả A-Na-Luật rằng: “Thế-Tôn đang ở cõi Trời Đạo-Lợi”. Tôn-giả liền dùng Thiên nhãn nhìn, qủa thật Thế-Tôn đang ở trong Thiện Pháp-Đường của cõi Trời Đạo-Lợi thuyết pháp, bèn thông báo cho Tôn-giả A-Nan để thông báo lại cho tứ chúng biết. Tôn-giả A-Nan hỏi Tôn-giả A-Na-Luật:
- Ai là người có thể đến cõi Trời Đạo-Lợi để thăm hỏi Thế-Tôn?

Tôn-giả A-Na-Luât đáp:
- Thần túc đệ nhất là Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên có thể đi thăm Thế-Tôn.

Khi ấy Tôn-giả A-Nan cùng bốn chúng đến gặp Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên và nói:
- Thưa Tôn-giả, chúng tôi không thấy Thế-Tôn đã lâu và Tôn-giả A-Na-Luật nói Thế-Tôn đang ở cõi Trời Đạo-Lợi thuyết pháp. Nếu không mệt mỏi, xin Tôn-giả hãy vì chúng tôi lên cõi Trời thứ Ba-Mươi-Ba thay cho chúng tôi để thăm hỏi đức Thế-Tôn, cũng xin Tôn-giả thưa rằng: “Chúng tôi không đủ thần-lực bay lên cõi Trời để kính lễ đức Thế-Tôn, nhưng trong lòng chúng tôi rất mong mỏi được gặp Ngài; còn các vị Trời có đủ thần-lực bay xuống nhân gian, cúi mong đức Thế-Tôn rủ lòng thương xót trở lại cõi trần gian”.

Khi ấy Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên im lặng, bốn chúng biết Tôn-Giả nhận lời rồi, liền vui vẻ làm lễ ra về chờ đợi; khi mọi người đi khỏi, Tôn-Giả liền nhập định; nhập định rồi, chỉ trong khoảnh khắc như người lực-sĩ duỗi cánh tay, Tôn-Giả biến mất khỏi chỗ ngồi tại Đạo-tràng Cấp-Cô-Độc thuộc nước Xá-Vệ và hiện ra chỗ gần tảng đá pháp tòa trong Thiện Pháp Đường ở cõi Trời thứ ba mươi ba.

Bấy giờ, đức Thế-Tôn đang thuyết pháp cho vô số chư Thiên và quyến thuộc vây quanh nghe. Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên trông thấy Thế-Tôn liền hân hoan vui mừng và nghĩ rằng: “Hiện nay đức Thế-Tôn đang thuyết pháp cho đại chúng Chư Thiên vây quanh không khác gì chúng hội ở Diêm-phù-đề thuộc cõi trần”. Khi ấy, đức Phật liền biết được ý nghĩ cuả Tôn-giả, bèn nói:
- Này Mục-Kiền-Liên: khi Ta muốn thuyết pháp cho Chư Thiên nghe, Ta không phải dùng thần-lực để khiến họ đến hay khiến họ trở về, mà là tuỳ tâm họ muốn đến nghe hay muốn trở về.

Lúc ấy Tôn-giả đến vái lễ đức Phật và nói:
- Thưa Thế-Tôn, trong hàng các vị Trời ở đây, có vị đã từng theo Thế-Tôn nghe thuyết pháp tại Diêm-phù-đề trước kia . Các vị ấy đối với Phật Pháp có lòng tin thanh tịnh, nên sau khi mạng chung được sinh đến cõi này.

Đức Phật bảo:
- Đúng thế: đúng như lời thầy nói.

Khi ấy Vua Trời Đế-Thích ở trong hội, thấy Thế-Tôn và Tôn-Giả khen ngợi Chư Thiên, liền thưa:
- Đúng vậy, đúng vậy! Thưa Tôn-Giả, trong chư Thiên ở đây, một số là những vị từ đời trước đã từng nghe Chánh pháp. Đối với Phật, Pháp, Tăng thành tựu lòng tin thanh tịnh, không biến hoại, thành tựu Thánh-giới, nên khi thân hoại mạng chung (chết) ở cõi Trần, được sinh đến cõi nàỵ.

Lúc đó có một vị Trời từ toà đứng dậy chắp tay thưa:
- Thưa đức Thế-Tôn, con được thành tựu lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Thế-Tôn nên được sinh đến đây.
Rồi có vị nói:
- Con có lòng tin thanh tịnh không lay chuyển đối với Pháp của đức Thế-Tôn nên được sinh tới đây.
Có vị nói:
- Con được lòng tin thanh tịnh kiên cố đối với Thánh Tăng nên được sinh tới đây.
Có vị nói:
- Con được thành tựu Thánh-giới nên được sinh đến cõi này.

Như thế, chục vị Trời, trăm vị Trời, vô số vị Trời đến trước Thế-Tôn, mỗi vị tự thuật trường hợp của mình, rồi đều biến mất trong khoảnh khắc.

Lúc đó Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên biết chư Thiên đã đi khỏi, liền thưa với đức Phật những điều mà bốn chúng tại Diêm phù-đề thỉnh cầu. Sau khi nghe Tôn-Giả trình bày, đức Phật bảo Tôn-Giả:
- Thầy hãy trở về nói với đại chúng rằng: “Bảy ngày nữa Ta sẽ trở lại thành Tăng ca-Xá, nơi cây Ưu đàm-bát, phía bên ngoài cửa ngoài” (Có sách ghi: Sau bảy ngày nữa, Như-Lai đến nước Tăng-Ca-Thi bên ngoài ao nước lớn).

Vâng lời Phật, Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên sau khi vái lễ Phật, liền trở về; chỉ trong khoảnh khắc, Tôn-giả biến mất khỏi cõi Trời Đạo-Lợi, hiện về tịnh-xá Cấp-Cô-Độc, và thông báo với đại chúng như lời đức Phật đã nói.

Bốn chúng nghe Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên nói đều vui mừng vô kể, và việc này nhanh chóng truyền đến các nước; các vua Ba-Tư-Nặc nước Xá-Vệ, vua Ưu-Điền nước Bạt-Kỳ, vua Ngũ-Đô nước Ác-Sinh, vua Ưu-Đà-Diên nước Nam-Hải, và vua Tần-Bà Sa-La nước Ma-Kiệt, cùng các quan đại thần và vô số dân chúng đều đến trước hẹn để đón rước Thế-Tôn.

Đúng hẹn bảy ngày, sau khi đức Phật thuyết pháp ba tháng, độ cho Phật mẫu và vô số Chư Thiên sạch hết cấu uế, vô số Thiên nữ được pháp nhãn thanh tịnh. Ngài liền từ tòa đứng dậy đến đỉnh núi Tu-Di đi trên đường vàng, bên phải có Phạm-Thiên-Vương đi trên đường bạc, bên trái có Đế-Thiên Đế-Thích đi trên đường lưu ly, và vô số chư Thiên, Long, Thần theo sau có nhạc, ca và rải muôn hoa rực rỡ...

Năm vua, các quan đại thần, tứ chúng, và muôn ức dân chúng nghênh đón đều quỳ lạy đức Thế-Tôn từ trên không từ từ đặt hai bàn chân xuống đất, lúc ấy tam Thiên đại Thiên thế giới sáu lần chấn động (Động đất); chính vào lúc này, gọi hội này là Thiên Hạ Xứ Hội (Tạp A-Hàm, quyển 2, từ trang 293 đến trang 299).

LỜI BÀN VỀ CÕI TRỜI ĐẠO-LỢI:

- Do tuần: Theo Tự Điển Phật Học của Chân-Nguyên và Nguyễn-Tường-Bách thì đó là khoảng cách binh sĩ (ngày xưa) đi một ngày đường khoảng 15-20 km. Còn theo cuốn Đạo Phật và Khoa Học của Minh-Giác xuất bản năm 2005, trang 181, lại ghi: “1 do tuần = 9,216 mét”. Tức là 1 do tuần = 9 cây số 2, ở đây chúng ta thấy có một sự khác biệt.

- Chiều cao của chư Thiên. Trong quyển 2 Trường A-Hàm, trang 399 ghi: “Đạo-Lợi Thiên có thân cao 1 do tuần (18 cây số)”. Trong quyển Nhị Khóa Hiệp Giải của Ngài Quán Nguyệt viết năm 1921, Hòa-Thượng Khánh-Anh dịch năm 1958, tái bản năm 1971, trang 205, ghi: “Chư Thiên Đạo-Lợi có thân hình cao hơn nửa dặm”; như vậy chỉ cao chưa tới một cây số, một sự khác biệt qúa xa.

- Vị trí Cõi Đạo-Lợi. Trong quyển 2 Trường A-Hàm, trang 385 ghi: “Trên đỉnh núi chúa Tu-Di có thành Tam thập tam Thiên (Trời 33). Núi Tu-Di cao 168,000 do tuần, rộng 84,000 do tuần”. Trong Nhị Khóa Hiệp Giải, trang 202 ghi: “Đỉnh núi Tu-Di cao tổng cộng 84,000 do tuần, là chỗ của ba mươi ba nước Trời ở, vị Thiên chủ tức là Thích-Đề Hoàn-Nhân, lại gọi là Đế-Thích, người đời gọi là Ngọc-Hoàng Thượng-Đế”; cũng lại có sự khác biệt, về con số chiều cao của núi Tu-di, sách nào đúng?

Ghi chú: Một điểm mà chúng ta cần để ý là: Ngày xưa ở Ấn-Độ khi nói đến các con số lớn của hàng nghìn, người ta hay nói 8,400 (tám nghìn bốn trăm), con số lớn của hàng vạn người ta hay nói 84,000 (tám vạn bốn nghìn)..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 26 2011, 09:51 PM
Gửi vào: #12


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Xin KN tiếp tục dăng bài pháp về cõi trời Quang Âm Thiên là nguồn gốc của loài người . Không biết TOÀN KHÔNG có ghi về bài Pháp này không . Xin KN truy tìm tài liệu nói về cỏi trời Quang Âm Thiên .
Nam Mô A Di Đà Phật
H.H

Bất cứ rơi vào hoàn cảnh nào, bất cứ ở nơi chốn nào, bất cứ trong trạng thái nào, bất cứ mang tâm niệm nào, cũng cứ Nam Mô A Di Đà Phật, đó là cách trì danh niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc Quốc của người Tín Nguyện kiến cố .
H.H

Được chỉnh sửa bởi hoaha on Jun 27 2011, 01:31 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jun 27 2011, 12:49 PM
Gửi vào: #13


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



QUOTE(hoaha @ Jun 26 2011, 02:51 PM) *

Xin KN tiếp tục dăng bài pháp về cõi trời Quang Âm Thiên là nguồn gốc của loài người . Không biết TOÀN KHÔNG có ghi về bài Pháp này không . Xin KN truy tìm tài liệu nói về cỏi trời Quang Âm Thiên .
Nam Mô A Di Đà Phật
H.H

Bất cứ rơi vào hoàn cảnh nào, bất cứ ở nơi chốn nào, bất cứ trong trạng thái nào, bất cứ mang tâm niệm nào, cũng cứ Nam Mô A Di Đà Phật, đó là cách trì danh niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc Quốc của người Tín Nguyện kiến cố .
H.H


Kính anh Hoa Hạ,

KN có giử 3 quyển sách của anh Tòan Không là:

- Phật Giáo Căn Bản
- Nguồn Gốc Lòai Người
- Đức Phật và Cõi Vô Hình

Hẹn có dịp sẽ gởi biếu anh,

Cám ơn anh về câu chú Nam Mô A Di Đà Phật

kn


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 28 2011, 12:15 PM
Gửi vào: #14


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



QUOTE(kimngan @ Jun 26 2011, 10:49 PM) *

Kính anh Hoa Hạ,

KN có giử 3 quyển sách của anh Tòan Không là:

- Phật Giáo Căn Bản
- Nguồn Gốc Lòai Người
- Đức Phật và Cõi Vô Hình

Hẹn có dịp sẽ gởi biếu anh,

Cám ơn anh về câu chú Nam Mô A Di Đà Phật

kn


Rất hoan hỉ và xin đa tạ KN
Nam Mô A Di Đà Phật
H.H
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jun 29 2011, 11:00 AM
Gửi vào: #15


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



CUỘC LUẬN BÀN LY KỲ


Toàn Không


Tại Na-lan-Đà có một phái tu khổ hạnh, vị đứng đầu là Ni-kiền Thân-Tử, ông có cả nghìn đệ-tử, và có người tôn xưng ông là bậc Thánh; bấy giờ đức Phật du hóa đến Na-lan-Đà, và trú ngụ trong vườn xoài Ba-bà-Ly.

Một hôm, có một đại đệ-tử của Ni-kiền Thân-Tử là Ni-kiền Trường, sau giờ ăn trưa, ung dung đi đến chỗ đức Phật, chào hỏi xong, đức Phật hỏi:

- Nhà khổ hạnh Ni-kiền Thân-Tử, thầy của ông chủ trương có nhiều hành vi để không hành ác nghiệp không?
- Tôn-sư của tôi không giảng dạy về những hành vi để không gây ác nghiệp, nhưng Người giảng dạy về sự trừng phạt để không làm việc ác.

Đức Phật hỏi:

- Thầy của ông chủ trương có bao nhiêu sự trừng phạt để ngăn chặn làm việc ác?
- Tôn-sư của tôi giảng dạy về ba sự trừng phạt do thân, do miệng, và do ý để không làm việc ác.
- Thân phạt, khẩu phạt, và ý phạt có khác nhau không?
- Đối với chúng tôi thì: do thân làm bị phạt, khẩu nói bị phạt và ý nghĩ bị phạt đều khác nhau.
- Thầy ông chủ trương trừng phạt nào nặng hơn hết, trừng phạt nào nhẹ hơn hết?
- Tôn-Sư tôi chủ trương thân phạt nặng hơn hết để không làm việc ác, khẩu phạt nhẹ hơn, ý phạt nhẹ nhất, không bằng thân phạt rất là nặng nề lớn lao, vì sao? Vì nếu một người lấy trộm của cải tiền bạc của người khác, mà bị bắt gặp sẽ có tội nặng, nếu người ấy chỉ nói lấy trộm nhưng chưa lấy trộm tội nhẹ hơn; còn nếu người ấy không lấy trộm, không nói lấy trộm, chỉ nghĩ đến việc lấy trộm mà thôi, tội qúa nhẹ, hầu như không có tội vậy.
- Ông nói thân phạt nặng nhất phải không?
- Vâng, thân phạt nặng nhất.

Đức Phật: hỏi đi hỏi lại ba lần như trên, Ni-kiền Trường đáp đi đáp lại ba lần xác nhận cũng như thế, Đức Phật bèn ngồi yên lặng.

Bấy giờ Ni-kiền Trường cũng theo những câu hỏi trên mà hỏi lại chủ trương của đức Phật, thì được Ngài trả lời:
- Ta không giảng về những trừng phạt để không hành (thân làm, miệng nói, ý nghĩ) ác nghiệp, mà chỉ giảng thuyết về nghiệp để không hành ác nghiệp. Ta giảng về ba nghiệp, đó là thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp, và chủ trương rằng ý nghiệp là nặng nhất. Ta chủ trương và giảng thuyết khác với Ni-kiền Thân-Tử, Tôn-sư cuả ông.

Ni-kiền Trường: cũng hỏi ba lần về chủ trương của đức Phật là ý nghiệp nặng nhất, đều được Ngài trả lời ý nghiệp là nặng nhất; thẩm định xong, Ni-kiền Trường đứng dậy vái chào rồi ra về.

Khi về tới nơi, Ni-kiền Thân-Tử trông thấy Ni-kiền Trường, bèn hỏi:

- Ông từ đâu về vậy?
- Con từ vườn xoài Ba-bà-Ly, chỗ trú ngụ của Sa-môn Cù-Đàm về đây.
- Ông có cùng Sa-môn Cù-Đàm bàn luận gì không?
- Thưa có bàn luận với nhau.
- Này, nếu ông đã cùng Sa-môn bàn luận, hãy nói hết cho ta nghe, để ta biết được luận thuyết của vị ấy.

Khi ấy Ni-kiền Trường đem hết sự việc kể lại cho Tôn-sư của ông nghe, nghe xong ông khen rằng:

- Hay thay! Ông đối với Tôn-sư đã làm đúng pháp của một đệ-tử, và là người thành biện bằng trí tuệ với quyết định thông minh, trầm tĩnh, không sợ hãi, tự tin; Ông đã đạt đến tài hùng biện, đã bắt được ngọn gió cam lộ, và ở trong cảnh giới cam lộ, tự thân chứng ngộ, thành tựu an trụ, vì sao vậy? Vì vừa rồi ông đối trước Sa-môn Cù-Đàm nói thuyết thân phạt nặng nhất để không làm ác, khẩu phạt không nặng như vậy, ý phạt càng kém hơn, không bằng thân phạt lớn lao, trầm trọng nhất.

Lúc ấy Cư-sĩ Ưu-ba-Ly cùng năm trăm Cư-sĩ ngồi nghe sự việc như thế, bèn đứng dậy chắp tay hướng về Ni-kiền Thân-tử, rồi hướng qua nói với Ni-kiền Trường rằng:

- Ngài đã ba lần thẩm định Sa-môn Cù-Đàm, việc thực sự như vậy sao?

Ni-Kiền Trường đáp:
- Cư-sĩ Ưu-ba-Ly, tôi đã đích thân ba lần thẩm định Sa-môn Cù-Đàm, việc đúng như thế.

Cư-sĩ Ưu-ba-Ly nói:
- Tôi cũng có thể đến đó thẩm định Sa-môn Cù-Đàm, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Tôi như người lực-sĩ nắm cái bờm dài của con dê, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Tôi cũng như người cầm áo lông giũ bụi, có thể đến thẩm định Sa-môn Cù-Đàm ba lần, rồi lôi kéo đi đâu tùy ý. Cũng như một con voi chúa kiêu ngạo, đủ ngà, đủ vóc, gân cốt mạnh mẽ, một lực-sĩ dẫn đi, lấy nước rửa khắp, và giỡn chơi trong nước, xong muốn dẫn đi đâu thì đi; tôi đến chỗ Sa-môn Cù-Đàm và cùng ông ta bàn luận, hàng phục xong rồi, tôi sẽ trở về ngay không lâu đâu.

Ni-kiền Thân-Tử nói:
- Ta có thể hàng phục Sa-môn Cù-Đàm, Ni-kiền Trường có thể hàng phục Sa-môn Cù-Đàm, Cư-sĩ Ưu-ba-Ly cũng có thể hàng phục Sa-môn Cù-Đàm.

Khi ấy Ni-kiền Trường vội nói:
- Con không muốn để Cư-sĩ Ưu-ba-Ly đi vì Sa-môn Cù-Đàm có thể dùng huyển thuật biến hóa Cư-Sĩ thành đệ-tử của ông ta.

Ni-kiền Thân-Tử nói:
- Cư-sĩ Ưu-ba-Ly bị biến hóa thành đệ-tử của Sa-môn Cù-Đàm, điều đó hoàn toàn không thể xẩy ra; Sa-môn Cù-Đàm bị biến hóa làm đệ-tử của Cư-sĩ Ưu-ba-Ly, điều này chắc chắn có.

Cư-sĩ Ưu-ba-Ly ba lần nói muốn đến chỗ Phật để hàng phục xong sẽ trở về, Ni-kiền Trường ba lần ngăn cản không muốn để Cư-Sĩ đi, Ni-kiền Thân-Tử trái lại ba lần đồng ý để Cư-sĩ Ưu-ba-Ly đi. Ni-kiền Thân-Tử xác quyết rằng: “Không có trường hợp Cư-sĩ Ưu-ba-Ly bị biến hóa thành đệ-tử Cù-Đàm, mà chỉ có trường hợp Cù-Đàm bị biến hóa thành đệ-tử của Cư-sĩ mà thôi”, và Ni-kiền Thân-Tử bảo Cư-sĩ Ưu-ba-Ly:
- Ông nên đi ngay kẻo trễ mất cơ hội tốt.

Lúc ấy Cư-sĩ Ưu-ba-Ly chắp tay cúi đầu trước Ni-kiền Thân-Tử vái ba lần, rồi đi đến chỗ Phật, chào hỏi xong ngồi sang một bên và nói:
- Thưa Cù-Đàm, ngày hôm nay có Ni-kiền Trường đến đây không?
- Cư-Sĩ, Ni-kiền Trường là đệ-tử của Ni-kiền Thân-Tử có đến đây.
- Cù-Đàm có cùng ông ta đàm luận không?
- Có cùng đàm luận.
- Nếu có cùng đàm luận, thì xin Cù-Đàm thuật lại cho tôi nghe, để tôi biết được việc đó mà học hỏi.

Đức Phật kể hết những lời đã bàn luận, giống như lời của Ni-kiền Trường đã thuật, cho Cư-sĩ Ưu-ba-Ly nghe, Cư-sĩ nghe rồi bèn khen và nói y như những lời Ni-kiền Thân-Tử đã khen Ni-kiền-Trường rằng:

“Ni-kiền Trường đã làm đúng pháp của một đệ-tử đối với Tôn-sư chúng tôi, Ni-kiền Trường là người thành biện bằng trí tuệ với quyết định thông minh, trầm tĩnh, không sợ hãi, tự tin; Ông ta đã đạt đến tài hùng biện, đã bắt được ngọn gió cam lộ, ông ta ở trong cảnh giới cam lộ, tự thân chứng ngộ, và thành tựu an trụ, vì sao vậy? Vì Ni-kiền Trường đối trước Sa-môn Cù-Đàm đã nói thuyết thân phạt nặng nhất để không làm ác, khẩu phạt không nặng như vậy, ý phạt càng kém hơn, không bằng thân phạt rất lớn lao, rất trầm trọng; thật hay thay, thật hay thay”.

Khi đó đức Phật bảo:

- Cư-sĩ, Ta muốn cùng ông bàn luận về việc này, nếu như an trú (căn cứ) trong sự thật, thì bằng sự thật mà đáp.
- Được, tôi an trú trong sự thật, Cù-Đàm cũng an trú trong sự thật, bằng sự thật mà đáp; Cù-Đàm hãy cùng tôi mà bàn luận việc này.
- Cư-sĩ, ông nghĩ sao? Nếu có vị Ni-Kiền ưa bố thí, không ưa hý luận (không ưa bàn bạc cho vui), rất thanh tịnh, chuyên hành chú (rèn luyện tu hành); nếu người ấy đến đây đạp chết nhiều côn trùng lớn nhỏ, thì Ni-kiền Thân-Tử, Sư-phụ của Cư-Sĩ, đối với việc sát sanh này chủ trương có qủa báo ra sao?
- Nếu người ấy cố ý thì có tội lớn, nếu không cố ý thì có tội nhẹ.
- Cư-sĩ, ông nói cố ý là thế nào?
- Đó là ý nghiệp vậy.
- Cư-Sĩ, ông nên suy nghĩ kỹ rồi hãy trả lời, những điều nói trước trái với điều nói sau, sau trái với trước, không phù hợp nhau. Cư-Sĩ, ông nghĩ thế nào, nếu có Ni-Kiền thệ nguyện chỉ uống nước nóng dứt hẳn nước lạnh, khi không có nước nóng người ấy bèn uống nước lạnh, khi uống nước lạnh người ấy liền chết; Ni-kiền Thân-Tử, Sư-phụ của ông có thể nói thế nào về chỗ thác sinh của Ni-Kiền ấy?
- Có loại Trời gọi là Ý-Trước, vị Ni-Kiền ấy mạng hết là do ý có chấp trước mà sinh đến cõi Trời Ý-Trước.
- Cư-sĩ, ông nên suy nghĩ kỹ rồi hãy trả lời, những điều ông vừa nói trái với những điều ông nói trước đây, trước trái với sau không phù hợp nhau. Cư-Sĩ nghĩ sao, giả sử có người dũng-sĩ cầm kiếm sắc bén, người ấy nói rằng: “Chỉ trong một ngày, tôi chém đầu, lột da, chặt chân tay tất cả mọi người trong xứ Na-nan-Đà này chất thành một đống cao như núi”, Ông nghĩ người ấy trong một ngày có thể làm xong việc ấy không?
- Không thể được, vì xứ này quá đông người, cho nên người ấy không thể trong một ngày mà có thể chém đầu, lột da, chặt chân tay mọi người trong xứ Na-lan-Đà này, rồi chất thành một đống cao như núi.
- Cư-Sĩ, ông nghĩ sao, nếu có Sa-Môn hoặc Phạm-Chí có đại như-ý-túc, có đại oai-đức, có đại phúc-hậu, có đại oai-thần, tâm được tự tại, người ấy nói: “Ta chỉ khởi một niệm sân (ý giận) làm cho cả xứ Na-lan-Đà này cháy rụi thành tro”, Ông nghĩ Sa-Môn hoặc Phạm-Chí ấy có thể làm được việc ấy không?
- Đâu phải chỉ một xứ Na -Lan-Đà này, đâu phải hai hay ba hay bốn xứ Na-lan-Đà này; người có những tuyệt đỉnh thù thắng như thế, nếu người ấy khởi một niệm giận có thể làm cho nhân dân trong cả nước thiêu rụi thành tro, huống gi` một Na-lan-Đà này.
- Cư-Sĩ, ông hãy suy nghĩ cho kỹ rồi hãy trả lời, những gì ông nói trước đều trái với điều ông nói sau, sau trái với trước, không phù hợp với nhau, không đi đôi với nhau. Cư-Sĩ, ông có từng nghe rừng Đại-Trạch, rừng Kỳ-Lân, rừng Mê-Lộc, rừng Tịch-Tịnh, rừng Không-Dã, tại sao những khu rừng ấy là những khu rừng?
- Thưa, tôi có nghe người ta nói.
- Cư-Sĩ, tại sao những khu ấy trở thành những khu rừng, vì ai mà có những khu rừng ấy?

Khi ấy Cư-sĩ Ưu-ba-Ly im lặng không đáp, một lúc, đức Phật bảo:
- Cư-Sĩ hãy trả lời đi, bây giờ không phải là lúc im lặng, vì chính ông đã tự nói: “Tôi an trú trong sự thật, Cù-Đàm cũng an trú trong sự thật, bằng sự thật mà đáp, Cù-Đàm hãy cùng tôi mà bàn luận việc này”.

Cư-sĩ Ưu-ba-Ly im lặng trong chốc lát rồi mới nói: (Còn tiếp)

Toàn Không




User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 1 2011, 12:50 PM
Gửi vào: #16


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



CUỘC LUẬN BÀN LY KỲ

(Tiếp theo)


Cư-sĩ Ưu-ba-Ly im lặng trong chốc lát rồi mới nói:

- Thưa Cù-Đàm, tôi không im lặng mà chỉ suy nghĩ trong chốc lát về ý nghĩa này vậy. Thưa Cù-Đàm, những

Ni-Kiền ngu si không hiểu rõ ràng, không thể giải, không thể biết; họ không biết khoảnh ruộng tốt mà không tự xem xét, họ cứ mãi lừa dối tôi, tôi mê lầm vì họ. Nay do lời dạy của Cù-Đàm mà tôi hiểu nghĩa, bởi vì tiền nhân khởi một niệm sân mà có thể làm cho những khu ấy trở thành những khu rừng.

Rồi Cư-Sĩ nói tiếp:
- Thưa Thế-Tôn, nhờ sự chỉ dạy của Ngài mà con đã biết đã hiểu. Hôm nay con xin được quy-y Phật, Pháp và chúng Tỳ-Kheo. Cúi xin Thế-Tôn chấp nhận cho con làm Ưu-bà Tắc (Cư-sĩ) từ nay cho đến khi chết .

Đức Phật bảo:
- Cư-Sĩ, ông hãy im lặng mà làm, không nên tuyên bố, sự im lặng của người thù thắng như vậy là tốt đẹp.
- Thưa Thế-Tôn, với sự kiện này, con lại bội phần vui mừng, vì Thế-Tôn đã chấp thuận và nói: “Cư-sĩ, ông hãy im lặng mà làm, không nên tuyên bố, sự im lặng của người thù thắng như vậy là tốt đẹp”. Thưa Thế-Tôn, nếu con là đệ-tử của Sa-Môn hoặc Phạm-Chí khác, thì họ đã tổ chức rầm rộ, cầm cờ phướn, dù lọng đi tuyên bố khắp xứ Na-lan-Đà, họ nói như thế này: “Cư-sĩ Ưu-ba-Ly là đệ-tử của ta ! Cư-sĩ Ưu-ba-Ly là đệ-tử của ta!”, nhưng Thế-Tôn lại khác họ, khác xa họ như trời với đất. Từ nay trở đi, con sẽ không cho các Ni-Kiền vào nhà con nữa, con sẽ không cho Ni-kiền Thân-Tử và đệ-tử của ông ta vào nhà con nữa; chỉ có Thế-Tôn và bốn chúng đệ-tử (Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, Ưu-bà Tắc, Ưu-bà Di) của Thế-Tôn vào nhà con mà thôi.

- Này Cư-Sĩ, các Ni-Kiền kia và gia-đình ông đã tương kính lẫn nhau trong thời gian lâu dài, nếu họ có đến ông nên tùy theo khả năng của mình mà cúng dường họ.
- Thưa Thế-Tôn, với lời nói này, với sự kiện này, đối với Thế-Tôn, con lại bội phần tôn kính, bội phần vui mừng. Thưa Thế-Tôn, ngày trước con nghe người ta nói Thế-Tôn giảng rằng: “Nên cho ta, đừng cho người khác, nên cho đệ-tử của ta, đừng cho đệ-tử của người khác; nếu cho ta và cho đệ-tử của ta sẽ được phúc lớn, cho người khác và cho đệ-tử người khác sẽ không được phúc lớn”. Thưa Thế-Tôn, có phải đúng như vậy không?

- Cư-Sĩ, Ta không nói như thế, mà nói như thế này: “Cho tất cả tùy tâm hoan-hỷ, nhưng cho người không tinh tấn, không phạm-hạnh thì không được phúc lớn, cho người tinh tấn, phạm-hạnh (chân tu hành) sẽ được phúc lớn”.
- Thưa Thế-Tôn, con xin nguyện sẽ không làm gì cả đối với họ, con tự biết nên cho hay không nên cho đối với Ni-Kiền. Thưa Thế-Tôn, một lần nữa, con xin được quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo, cúi xin Thế-Tôn nhận con làm Ưu-bà Tắc (Cư-sĩ) cho đến trọn đời.

Nói xong, Cư-sĩ Ưu-ba-Ly cúi đầu lễ Phật, đi quanh ba vòng, rồi trở về nhà, khi trông thấy các người giữ cửa Cư-sĩ bảo:
- Các ông nên biết, bắt đầu từ hôm nay, ta là đệ-tử của Phật, cũng gọi là Thế-Tôn, tức Sa-môn Cù-Đàm. Kể từ giờ phút này về sau, các ông chớ cho các Ni-Kiền vào cửa, chỉ cho bốn chúng đệ-tử của Thế-Tôn là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni, Ưu- bà Tắc và Ưu-bà Di vào mà thôi. Nếu có Ni-Kiền tới cửa xin vào, các ông nói: “Tôn-giả, Cư-sĩ Ưu-ba-Ly đã nhận sự giáo hoá của Phật, đã làm đệ-tử của Sa-môn Cù-Đàm, nên không cho các Ni-Kiền vào cửa nữa”; nếu Ni-Kiền cầu xin ăn, bảo họ đứng chờ, rồi báo người đem cơm ra cho họ.

Hôm sau Ni-kiền Trường nghe tin: “Cư-sĩ Ưu-ba-Ly đã nhận sự giáo hoá của Sa-môn Cù-Đàm rồi. Cư-Sĩ đã ra lệnh không cho các Ni-Kiền vào cửa, mà chỉ cho các đệ-tử của Sa-môn Cù-Đàm vào mà thôi”, ông liền đến nói với Ni-kiền Thân-Tử:

- Thưa Tôn-sư, đây là điều mà con đã nói trước rằng không nên để Cư-sĩ Ưu-ba-Ly đến chỗ Sa-môn Cù-Đàm, vì sợ Cư-sĩ bị biến hoá thành đệ-tử của Sa-môn. Bây giờ thì đúng như vậỵ, Cư-sĩ Ưu-ba-Ly đã bị biến hoá thành đệ-tử của Sa-môn Cù-Đàm rồi; hiện tại Cư-sĩ cấm không cho các Ni-Kiền vào cửa, mà chỉ cho các đệ-tử của Sa-môn Cù-Đàm vào mà thôi.

Nghe đệ tử nói, Ni-kiền Thân-Tử không tin, ông vẫn nói quả quyết rằng: “Không có trường hợp cư-sĩ Ưu-ba-Ly bị biến hoá thành đệ-tử cuả Sa-môn Cù-Đàm, mà chỉ có ngược lại thôi”.

Ni-kiền-Trường thưa:
- Nếu Tôn-sư không tin, Ngài có thể đến xem xét, hoặc sai người tới đó sẽ biết sự thực.

Ni-Kiền Thân-Tử bảo:
- Ông tới đó coi xét, xong về báo cáo cho ta biết hư thực thế nào?

Vâng lời Tôn-sư, Ni-kiền Trường liền đi ngay; khi đến nhà Cư-sĩ Ưu-ba-Ly, người giữ cửa vừa trông thấy Ni-kiên Trường, liền nói y như những lời mà người chủ đã bảo phải nói khi có các Ni-Kiền tới cửa. Nghe đúng những lời như thế rồi, Ni-kiền Trường không nói lời nào, bỏ về, thưa lại với Ni-kiền Thân-tử:
- Thưa Tôn-sư, chính tai con nghe người giữ cửa nói những điều mà con đã thưa với Tôn-sư, sự việc xẩy ra đúng như thế, Ưu-ba-Ly đã bị biến hoá thành đệ-tử của Sa-môn Cù-Đàm rồi; nếu Tôn-sư không tin nữa, nên đích thân đến đó hỏi cho rõ sự việc.

Hôm sau, Ni-kiền Thân-Tử tập họp đại chúng gồm Cư-Sĩ, Ni-Kiền đông đảo cùng đến nhà Ưu ba-Ly, người giữ cửa nói:
- Thưa Tôn-giả, Cư-sĩ Ưu-ba-Ly đã nhận sự giáo hóa của Phật, tức Sa-môn Cù-Đàm và trở thành đệ-tử của ngài Cù-Đàm rồi, nên không cho các Ni-Kiền vào cửa nữa; chỉ cho bốn chúng đệ-tử Phật vào cửa mà thôi. Nếu Tôn-giả và các Ni-Kiền muốn xin ăn nên đứng ở đây, tôi sẽ thông báo và sẽ có người đem cơm ra cho.

Ni-kiền Thân-Tử nói:
- Ta không dùng cơm, ta chỉ muốn gặp Cư-sĩ Ưu-ba-Ly mà thôi.
Người giữ cửa thưa:
- Xin Ngài đợi một chút, tôi sẽ vào thưa với Cư-Sĩ.

Sau khi được báo cáo rằng Ni-kiền Thân-Tử có đông đảo đệ-tử cùng đến muốn vào gặp, Cư-sĩ Ưu-ba-Ly bảo người hầu đến phòng lớn sửa soạn chỗ ngồi, xong Cư-Sĩ lên toà ngồi (chỗ mà trước kia đã có lần Cư-Sĩ dìu Ni-kiền Thân-tử ngồi lên đó), Cư-Sĩ bảo người giữ cửa:
- Ngươi ra cửa nói với Ni-kiền Thân-Tử như thế này: Tôn nhân, Cư-sĩ Ưu-ba-Ly nói: “Tôn nhân muốn vào thì xin tùy ý”.

Người giữ cửa trở ra nói y như lời chủ dặn bảo, Ni-kiền Thân-Tử nghe xong cùng đại chúng đông đảo vào chật cả đại sảnh đường, Cư-Sĩ vừa trông thấy bèn nói:
- Tôn nhân, ở đây có chỗ ngồi, ông muốn ngồi xin tùy ý.

Ni-kiền Thân-Tử nói:
- Cư-Sĩ, ông nên làm như thế sao? Tự mình: lên toà cao ngồi kiết già, cùng nói chuyện với người khác y như người xuất gia học đạo không khác.
- Tôn nhân, tôi có đồ vật, chỗ ngồi này tôi có, cho nên tôi nói: “Có chỗ ngồi, muốn ngồi xin tùy ý”.

Ni-kiền Thân-Tử tự trải chỗ ngồi mà ngồi rồi nói:
- Cư-Sĩ, vì sao như vậy? Muốn hàng phục Sa-môn Cù-Đàm, lúc trở về lại bị hàng phục, như người vào rừng tìm con mắt, nhưng khi trở về lại bị mất thêm con mắt thứ hai. Cũng như: người khát nước đi vào hồ nước, khi trở ra vẫn khát nước; Cư-Sĩ cũng vậy, muốn hàng phục Sa-môn Cù-Đàm, nhưng khi trở về lại bị hàng phục ngược lại; này Cư-Sĩ, tại sao thế?

Cư-sĩ Ưu-ba-Ly nói:
- Ví như một người cầm đồ chơi con khỉ nhỏ đến thợ nhuộm và nói: “Hãy nhuộm đồ chơi con khỉ nhỏ này thành màu vàng và nhồi cho nó phát ra ánh sáng cho tôi”. Người thợ nhuộm trả lời: “Đồ chơi này nhuộm thành màu vàng làm cho dễ thương, việc này làm được, nhưng không thể nhồi đập cho nó phát ra ánh sáng”. Thưa Tôn nhân, những điều Ni-Kiền nói cũng giống như thế, không thể chịu đựng nổi những câu hỏi khó của người khác, cũng không thể suy nghĩ quán sát, mà chỉ nhiễm ngu si; giống như đồ chơi con khỉ không thể phát ra ánh sáng.

Lại nữa, một người cầm chiếc áo Ba-la-nại đến thợ nhuộm nói: “Nhuộm giùm chiếc áo này thành cực đẹp, và nhồi đập cho nó phát ra ánh sáng”. Thợ nhuộm nói: “Áo này có thể nhuộm thành màu rất đẹp, cũng có thể đập nhồi cho phát ra ánh sáng”. Thưa Tôn nhân, những điều mà Sa-môn Cù-Đàm, tức đấng Như-Lai Vô-Sở-Trước Chánh-Đẳng Chánh-Giác dạy cũng như vậy, rất đủ khả năng chịu được những câu hỏi khó của người khác; cũng có thể suy nghĩ, quán sát một cách thoả đáng, không ngu si.

Ni-kiền Thân-Tử nói:
- Cư-Sĩ, ông đã bị Cù-Đàm biến hoá bằng ảo thuật rồi.
- Thưa Tôn nhân, đó là loại chú huyển thuật tốt đẹp, loại chú huyển thuật làm cho cha-mẹ tôi sung sướng, ích lợi an ổn, khoái lạc lâu dài. Là chú huyển thuật làm cho vợ-con, nô-tỳ, Quốc-Vương, tất cả thế-gian, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm-chí, tất cả được lợi ích an ổn, khoái lạc lâu dài.
- Này Cư-Sĩ, cả xứ Na-lan-Đà này đều biết Cư-Sĩ là đệ-tử của Ni-Kiền, nay đây cuối cùng, Cư-Sĩ là đệ-tử của ai?

Khi ấy Cư-Sĩ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi qùy gối phải xuống đất, nhắm hướng Phật đang ở, chắp hai tay và nói:
- Tôn nhân hãy nghe những điều tôi nói.

Rồi Cư-Sĩ nói kệ rằng: “Đức Phật là đại-hùng, là bậc Thánh, là vô địch, là bất động, là đại-sĩ, là không nhiễm trần”. Cư-sĩ tán thán: “Đức Phật là bao dung, là đấng tịch mặc, là dũng mãnh, là trụ pháp, là điều-ngự, là đại-long vượt tục”. Sau chót Cư-sĩ ca tụng: “Đức Phật là siêu thế, là thanh-tịnh, là bậc vô-đẳng, là tịch-tịnh tịch-huệ, là vô thượng đáng thờ, là Thiện-thệ v. v...”, trong đó, mười lần tự xác nhận mình (Cư-sĩ) là đệ-tử Phật.

Nghe một hồi lâu, rồi Ni-kiền Thân-Tử nói:
- Cư-Sĩ, ông ca ngợi Sa-môn Cù-Đàm với ý nghĩa gì?
- Thưa Tôn-nhân, Sa-môn Cù-Đàm, Như-Lai, Thế-Tôn, bậc Vô-Sở-Trước Chính-Đẳng, Chính-Giác được vô lượng Người và Trời ca tụng, Ngài là bậc mà tôi tôn kính bậc nhất, nên tôi ca tụng sự thật.

Khi nói Pháp này: Cư-sĩ Ưu-Ba-Ly xa lià trần cấu (những ô nhiễm xấu xa của cuộc đời), phát sinh Pháp nhãn đối với các pháp.

Ngay khi ấy, Ni-kiền Thân-Tử vì sự tức giận mà ói máu ra, các đệ-tử vội vã cùng nhau dìu về; hôm sau, Ni-kiền Thân-Tử nghĩ đến sự mất thể diện nhục nhã ấy liền bỏ đi đến nước Bà-Hòa, và vì tai họa này mà chết ở nước đó..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 6 2011, 12:17 AM
Gửi vào: #17


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ
LẠI-TRA HÒA-LA


Toàn Không


Khi đức Phật du hoá tại phiá bắc thôn Thâu-lô-Tra, thuộc nước Câu-Lâu-Sấu, bấy giờ các người trong thôn nghe tin: “Sa-môn Cù-Đàm, con Vua dòng họ Thích, lià bỏ tông-tộc, xuất gia học đạo, đang trú ngụ trong vườn Nhiếp-hoà; vị Sa-môn ấy có tiếng tăm lớn đồn khắp mọi nơi là bậc đắc đạo, là thầy của Trời và Người, thuyết pháp vi diệu chưa từng có”, nên họ rủ nhau cùng đến gặp Ngài để lễ bái cúng dường.

1)- Lại-Tra Hòa-La học đạo:

Khi họ đến chào hỏi lễ bái, rồi được Phật thuyết pháp cho nghe những điều lợi ích, sau đó mọi người đứng dậy chào lễ, rồi ra về; duy chỉ có một thanh niên vẫn còn ngồi tại đó không đứng dậy ra về cùng mọi người, và lúc mọi người đi khỏi rồi, thanh niên ấy đứng lên chắp tay hướng về đức Phật và nói:
- Thưa Thế-Tôn, con tên là Lại-Tra Hoà-La. Như con biết, đối với giáo pháp mà Ngài dạy, nếu con sống tại gia, bị tù hãm trong sự phiền toả, không thể trọn đời tu hành được. Vì vậy, thưa Thế-Tôn, con xin được phép theo Ngài xuất gia học đạo.

Đức Phật hỏi:
- Này Nam-tử con của Cư-sĩ, cha mẹ có cho phép lià bỏ gia-đình để theo chính pháp học đạo không?
- Thưa chưa.
- Nếu cha mẹ chưa cho phép, thì Ta không thể nhận được.
- Con sẽ về xin phép cha-mẹ cho phép con xuất gia học đạo.
- Khi nào cha mẹ cho phép, Hoà-La hãy trở lại đây, Ta sẽ thu nhận.

Lại-Tra Hòa-La bèn vái lễ đức Phật rồi ra về, tới nhà Hoà-La liền thưa với cha mẹ về ý nguyện của mình muốn được phép xuất gia học đạo với đức Phật, nhưng cha mẹ không đồng ý và nói:
- Cha-mẹ chỉ có một mình con, rất mực thương yêu con, lòng đầy quyến luyến không kể xiết. Giả sử con có chết đi, cha-mẹ còn không muốn rời bỏ, huống gì còn sống nỡ xa lià, không nhìn thấy mặt được sao?

Lại-Tra Hoà-La lại xin lần thứ hai, rồi lần thứ ba, nhưng vẫn bị cha mẹ từ chối và trả lời như thế; khi ấy Hòa-La liền vật mình xuống đất, vừa thổn thức vừa nói:
- Từ giờ phút này, con sẽ không ăn không uống, không đứng dậy, cho đến khi nào được cha-mẹ cho phép con.
Rồi một ngày Hòa-La không ăn uống, hai ngày không ăn uống, cho đến ba ngày cũng vậy. Thấy thế, mẹ Hòa-La đến bảo:
- Người con thường khoẻ mạnh đẹp đẽ, nay con tiều tụy quá, con không biết khổ sở sao? Con hãy ăn uống chút ít, sống đời sung sướng mà bố thí để tu phúc nghiệp, vì sao? Vì tu theo cảnh giới của Phật thật là khó, rất là khó khăn.

Hòa-La vẫn im lặng không đáp, rồi cha Hòa-La đến các bà con quyến thuộc và các người có chức tước địa vị trong thôn, nhờ họ đến khuyên can giùm để Hòa-La bỏ ý định xuất gia học đạo, nhưng khi những người ấy đến khuyên can, Hòa-La chỉ nằm yên không trả lời.

Tiếp theo mẹ Hòa-La đến các bạn đồng lứa tuổi của Hòa-La để nhờ họ đến khuyên bảo Hòa-La giùm, nhưng cũng vô hiệu qủa.

Sau đó có vài bạn của Hòa-La đến nói với cha-mẹ Hòa-La rằng:
- Hai bác nên cho anh Hòa-La được phép xuất gia tu học, nếu anh ấy thích sống như vậy thì sau này còn có cơ hội gặp nhau; nếu chán sống cảnh ấy, thì anh ấy tự nhiên sẽ trở về với hai Bác. Nay nếu hai bác không chấp thuận cho anh ấy xuất gia, anh ấy sẽ chết mất không nghi ngờ gì nữa, và không ích lợi chi cả!

Cha-mẹ Hòa-La nghe xong thấy có lý, liền đồng ý và nói:
- Chúng tôi đồng ý để Hòa-La xuất gia mà sau này vẫn trở về cho chúng tôi gặp mặt.

Các bạn ấy đến gặp Hòa-La để báo tin và nói:
- Này bạn, chúng tôi vì bạn nên đã thưa chuyện với hai bác, bây giờ hai bác đã chấp thuận cho bạn được xuất gia tu đạo, nhưng bạn phải hứa khi học đạo rồi phải về thăm cha mẹ.

Lại-Tra Hòa-La nghe các bạn nói như vậy, lòng rất đỗi vui mừng hân hoan, bèn ngồi dậy, cám ơn bạn bè đã khéo giúp đỡ; rồi Hòa-La cố gượng đi đến chỗ cha mẹ để ngỏ lời cảm tạ sự chấp thuận, và hứa khi học đạo rồi sẽ về thăm. Hòa-La ăn uống trở lại, dần dần bồi dưỡng thân thể, chỉ vài ngày sau, sức khoẻ bình phục mau chóng. Hòa-La từ biệt cha mẹ, và người thân, rời khỏi gia đình đến chỗ Phật trú, cúi đầu vái lễ và nói:
- Thưa đức Thế-Tôn, con là Lại-Tra Hòa-La đã được cha mẹ con cho phép xuất gia, ngưỡng mong đức Thế-Tôn cho phép con được theo Ngài tu đạo.

Khi ấy đức Phật độ cho Lại-Tra Hòa-La làm Tỳ-Kheo, và được truyền giới Cụ-túc.

Từ lúc đó Lại-Tra Hòa-La theo đức Phật du hành trong nhân gian. Khi du hành đến nước Xá-Vệ, Lại-Tra Hòa-La sống cuộc sống cô độc ở nơi xa vắng, tâm không phóng túng tu hành tinh tấn; Tôn-giả Lại-Tra Hòa-La đạt đến vô thượng phạm hạnh, tự tri, tự giác, tự chứng ngộ, thành tựu an trụ. Tôn-giả đã biết pháp như pháp, và chứng đắc quả A-La-Hán, lúc đó mười năm đã trôi qua; Tôn-giả nghĩ: “Ngày xưa ta đã hứa học đạo rồi sẽ trở về thăm cha mẹ, nay đã đúng lúc ta nên trở về để trọn lời hứa đó”, nghĩ rồi Tôn-giả liền đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ và nói:
- Thưa Thế-Tôn, ngày trước con đã hứa xuất gia học đạo rồi sẽ trở về thăm cha-mẹ, hôm nay con xin phép Thế-Tôn được từ giã để về thăm cha mẹ con cho trọn lời hứa trước kia.

Bấy giờ đức Phật nghĩ: “Lại-Tra Hòa-La chắc chắn không xả giới bỏ đạo, dù gặp khó khăn đến đâu cũng không lay chuyển nổi Tỳ-Kheo này”, đức Phật biết như vậy liền bảo:
- Thầy ra đi, nếu gặp người chưa được độ hãy độ, người chưa giải thoát hãy khiến cho giải thoát, người chưa tịch tịnh hãy khiến cho tịch tịnh; Lại-Tra Hòa-La, nay tùy ý thầy.

2)-Tôn-giả Hòa-La về thăm cha mẹ:

Tôn-giả Lại-Tra Hòa-La sau khi nghe đức Phật chấp thuận và dặn bảo, cúi đầu đảnh lễ, rồi từ biệt; Tôn-giả lần lượt du hành về đến thôn Thâu-lô-Tra, nghỉ tại vườn Thi-nhiếp-Hòa là chỗ ngày trước đức Phật đã ngụ trong khi du hoá. Khi đêm đã qua, rồi mặt trời lên cao; Tôn-giả ôm bình bát vào thôn Thâu-lô-Tra khất thực (xin cúng dàng thức ăn) và nghĩ: “Thế-Tôn khen ngợi việc có thứ lớp khất thực, ta nay nên theo như thế”; Tôn-giả đi khất thực từ đầu thôn lần lượt về đến nhà cha mẹ. Lúc đó cha của Tôn-giả đứng trong cửa đang chải tóc, cạo râu, ông thoáng thấy có Sa-môn khất thực, liền nói:
- Sa-môn trọc đầu này bị màu đen tối trói chặt, không con cái tuyệt chủng, phá hoại gia đình ta. Ta có một đứa con, hết sức thương yêu chiều chuộng, lòng đầy quyến luyến tiếc thương không kể xiết. Thế mà nó dẫn con ta đi mất không thấy tăm hơi cả mười năm nay, không cho Sa-môn trọc đầu này ăn.

Tôn-giả về nhà cha đã không được bố-thí, còn bị xua rủa như thế bèn bỏ đi; lúc đó người giúp việc của cha mẹ Tôn-giả xách một giỏ đồ ăn hư định đổ bỏ vào đống rác, Tôn-giả trông thấy thế, liền nói rằng:
- Nếu như món ăn đó bỏ đi thì nên bỏ vào bình bát của tôi, tôi sẽ ăn.
Đứa giúp việc ấy nói:
- Không ngon đâu, không nên ăn thức ăn hư này.
Tôn-giả nói:
- Không sao, không sao, tôi sẽ ăn, tôi sẽ ăn.

Đứa giúp việc đổ thức ăn hư ấy vào bình bát của Tôn-giả, và nó phát giác ra hai dấu hiệu mà nó nhận ra Lại-Tra Hòa-La, đó là tiếng nói và tay chân. Nhận ra được hai dấu hiệu này, nó trở vào nhà và nói với cha Tôn-giả:
- Thưa ông, cậu Hòa-La đã về đến thôn này rồi, ông nên đến gặp, cậu Hòa-La đang ngồi ăn thức ăn thiu thối ở ngoài kia kià.

Cha Tôn-giả nghe xong rất đỗi ngạc nhiên, rất đỗi vui mừng phấn khởi; ông bước đi vội vàng, tay trái vuốt tóc tay phải vén áo, đến chỗ Tôn-giả. Trong khi đó, Tôn-giả ngồi xoay mặt vào vách tường nhà hàng xóm và đang ăn thức ăn thiu thối ấy, cha Tôn-giả rảo bước tới nơi thấy thế liền nói:
- Hòa-La con, con thường ăn thức ăn thơm ngon, tại sao bây giờ con lại ăn thức ăn hư thối như thế? Vì lẽ gì con đã về đến thôn này mà không về nhà?
Tôn-giả nói:
- Tôi đã về nhà cha, nhưng đã không được bố thí mà còn bị xua đuổi, rủa mắng rằng: “Sa-môn trọc đầu này bị màu đen tối trói chặt, không con cái tuyệt chủng, phá hoại gia-đình ta. Ta có một đứa con, hết sức thương yêu chiều chuộng, lòng đầy quyến luyến tiếc thương không kể xiết, thế mà nó dẫn con ta đi mất không thấy tăm hơi cả mười năm nay”. Cha còn nói: “Không cho Sa-môn trọc đầu này ăn”, tôi nghe như vậy, làm sao mà không bỏ đi cho được?

Cha Tôn-giả nói lời nhận lỗi:
- Hòa-La, nên bỏ qua cho cha, rất tiếc, cha thật sự không biết con trở về. Cha thật tình đã không nhận ra con, và cha rất tiếc đã nói những lời bất nhã.

Cha Tôn-giả diù dẫn Tôn-giả về nhà và mời ngồi; khi thấy Tôn-giả ngồi rồi , người cha bèn bảo người giúp việc đi mời mẹ Tôn-giả, và sửa soạn cơm nước. Mẹ Tôn-giả được tin con về, vô cùng sung sướng vui mừng. Bà đến ôm Tôn-giả mà khóc sướt mướt, và nói những điều nhớ thương của một người mẹ đối với người con duy nhất xa cách cả mười năm trời, trong khi ấy Tôn-giả ngồi yên để cho người mẹ khóc lóc thổ lộ tâm tư.

Sau những phút xúc cảm đầu tiên ấy xong, mẹ Tôn-giả trở vào trong phòng mang tiền, vàng bạc, châu báu ra giữa nhà một đống và nói với Tôn-giả:
- Đây là phần của cải tiền bạc của mẹ, còn của cha thì nhiều vô kể, nay mẹ giao hết cho con, tùy con sử dụng; vậy con nên xả giới bỏ đạo, ở nhà sống cuộc sống sung sướng mà bố thí tu phúc nghiệp, có hơn là học đạo khó khăn mà vất vả khổ sở không?

Tôn-giả thưa:
- Tôi có điều muốn nói, mẹ có cho phép không?
- Có điều gì cần nói con cứ nói, mẹ sẵn sàng nghe.
- Mẹ nên bỏ hết số tiền-của này vào một bao vải, dùng xe chở đến sông Hằng, đổ xuống chỗ thật sâu, vì sao? Vì do tiền của này làm cho con người đau khổ sầu thảm, không được an vui.

Mẹ Tôn-giả nói:
- Biết bao nhiêu khổ sở vất vả mệt nhọc mới tạo được số của cải này, làm sao mà bỏ đi được.
Dùng cách ấy không được, mẹ Tôn-giả bèn cất tiền bạc của cải rồi bỏ đi, tức tốc tìm đến chỗ mấy cô bạn gái cũ của Tôn-giả để nhờ họ lôi kéo Tôn-giả xả giới bỏ đạo. Chỉ trong thời gian ngắn, mấy người nữ này tới, mỗi người một bên, kẻ nắm tay, người ôm chân Tôn-giả mà nói:
- Này anh ơi, người yêu qúy của em ơi, tại sao anh lại bỏ em đi biền biệt cả mười năm trời như thế?
- Này người tình bạc bẽo ơi, có người Thiên-nữ nào đẹp hơn em mà khiến anh bỏ nhà đi tu vì nàng?

Tôn-giả co tay rút chân ra khỏi những bàn tay của họ và nói: (Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 8 2011, 11:12 PM
Gửi vào: #18


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ
LẠI-TRA HÒA-LA



(Tiếp theo)


Tôn-giả co tay, rút chân ra khỏi những bàn tay của họ và nói:

- Này các cô em, các cô nên biết, tôi không vì Thiên-nữ mà đi tu phạm-hạnh, sở dĩ tôi tu là theo mục đích mà đức Phật đã dạy là giải thoát, và những điều cần làm, tôi đã làm xong.

Những người nữ ấy còn nhõng nhẽo nói:
- Em không phải là em gái của anh, em là người yêu của anh, tại sao anh lại gọi em bằng cô em, anh đã quên em thật rồi sao? v.v...

Bấy giờ Tôn-giả nhìn về phiá cha-mẹ mà nói:
- Nếu cha mẹ có thí cơm, đúng giờ thì thí, tại sao lại bày ra nhiều phiền phức thế này?

Cha Tôn-giả biết ý con, liền bảo các cô gái tạm đi về và sẽ gặp lại sau. Rồi ông sai người lấy nước cho Tôn-giả rửa tay, và đích thân tự tay đưa các món ăn cho Tôn-giả ăn. Khi ăn no đủ rồi, người làm bưng nước cho Tôn-giả rửa tay, và cất dọn chén bát xong. Tôn-giả thuyết pháp cho cha mẹ nghe, và nói bài tụng với ý nghĩa tất cả ở đời là không thật, giả dối, nó trói buộc kẻ u mê, nhưng nó không thể lừa được người đã sang bờ giải thoát; nói bài tụng xong, Tôn-giả từ giã cha mẹ, rồi dùng như-ý-túc (thần-túc) nương hư không mà đi đến ngồi kiết già dưới gốc cây Bệ-hê-Lặc trong rừng Thâu-lô-Tra.

3)- Tôn-giả Hòa-La hành đạo:

Từ đó, tiếng đồn từ thôn Thâu-lô-Tra rằng: “Tôn-giả Lại-Tra Hòa-La đã đắc đạo, có thần-thông” được lan truyền, khắp nơi dân chúng đến lễ bái, cúng dàng; Tôn-giả thường thuyết pháp cho họ nghe, và làm cho họ được lợi ích bằng đủ phương tiện.

Bấy giờ Vua Cao-Lao-Bà nước Câu-Lâu-Sấu, với quân-thần vây quanh, bàn tán khen ngợi Tôn-giả, Vua nói:
- Nếu quả thật thiện nam-tử Lại-Tra Hòa-La về thôn Thâu-lô-Tra thuộc nước ta, thì chúng ta quyết đến thăm hỏi.

Vua sai tùy tùng đến rừng thuộc thôn Thâu-lô-Tra xem xét hư thực, Vua được người ấy về báo:
- Trình Đại-Vương, thuộc hạ đã đến rừng Thâu-lô-Tra, chính mắt thuộc hạ thấy Tôn-giả Lại-Tra Hòa-La ngồi kiết già dưới cây Bệ-hê-Lặc to lớn.

Vua lập tức ra lệnh cho người đánh xe sửa soạn xa-giá. Khi xa-giá sẵn sàng rồi, Vua lên xe ngồi rồi đi đến rừng Thâu-lô-Tra. Từ xa trông thấy Tôn-giả, nhà Vua xuống xe đi bộ. Tôn-giả trông thấy Vua Câu-Lao-Bà và đoàn tùy tùng đến bèn nói:
- Đại-Vương, nay đến đây muốn nói chuyện với tôi chăng, xin mời Đại-Vương ngồi.

Lúc ấy Vua Câu-Lao-Bà và Tôn-giả cùng chào hỏi nhau, quân hầu trải chỗ cho Vua ngồi, Vua ngồi xong đâu đấy rồi nói với Tôn-giả:
- Lại-Tra Hòa-La, có phải vì gia đình suy sụp mà xuất gia học đạo? Hay vì không có tiền của nên sống đời hưu quạnh chăng? Câu-Lao-Bà này tại Vương-gia có nhiều của cải, tôi sẽ xuất tài vật cho, ông tha hồ sống đời sống dục lạc sung sướng mà bố-thí, tùy ý mà tu phúc nghiệp; vậy ông hãy xả giới bỏ đạo và đến cung-điện của tôi mà ở, vì giáo-pháp của Tôn-sư ông rất khó, xuất gia tu đạo lại càng khó hơn.

Tôn-giả nghe xong nói:
- Đại-Vương dùng lời bất tịnh mà mời tôi, đó không phải lời thanh-tịnh mà mời, Đại-Vương nên nói: “Nước tôi nhân dân an ổn, sung sướng, và có lúa gạo đầy đủ. Trong nước không có việc binh đao và đấu tranh, cũng không có việc kinh sợ do nạn hà khắc hoặc khổ nô dịch; nếu Lại-Tra Hòa-La ở trong nước tôi, tôi sẽ ủng hộ như pháp”, Đại-Vương nói như vậy gọi là dùng lời thanh-tịnh mời tôi.

Vua nghe xong, liền nói:
- Nay tôi dùng lời thanh-tịnh mà mời như thế, chứ không dùng lời bất tịnh mà mời. Tiện đây, tôi có ý nghĩ như thế này: “Thường thì nguyên nhân xuất gia đi tu của một người là do một trong bốn thứ suy vi, đó là:

1- Bệnh suy:
Hoặc có người luôn luôn bị bệnh tật nặng quá đau đớn, không thể làm ăn gây dựng gia đình được, nên cạo đầu đi tu.

2- Lão suy:
Hoặc có người già, ngũ quan yếu kém, tuổi thọ gần hết, gân cốt suy đồi không thể thực hiện dục vọng được nữa, nên rời nhà đi học đạo.

3- Tài suy:
Hoặc có người nghèo khổ, không có tiền của để sống, nên nương nhờ nơi tu học cho qua ngày tháng.

4- Thân thế suy:
Hoặc có người không còn cha-mẹ anh-em, vợ chồng con cái không có, bà con chết hết không còn một ai là người thân thuộc; người ấy sống cuộc đời quạnh quẽ cô đơn, tứ cố vô thân, không còn cảm thấy thích thú gì nữa, nên xuất gia học đạo”.

Đối với Lại-Tra Hòa-La khi xưa không bệnh hoạn, an ổn trọn vẹn; lúc đó vào tuổi thanh xuân, tóc đen óng mượt, thân thể cường tráng, cha-mẹ bà con quyến luyến, không ai muốn rời xa. Gia đình khá giả bậc nhất, tiền của chẳng thiếu chi. Tôi thấy không có một suy vi nào có thể khiến cho Lại-Tra Hòa-La lià bỏ gia-đình đi tu. Vậy thì Lại-Tra Hòa-La lúc ấy hiểu biết như thế nào, được nghe những gì mà nhất quyết rời bỏ gia-đình để xuất gia học đạo?.

Tôn-giả đáp:
- Đại-Vương, đức Phật là bậc Tri-Kiến, Vô-Sở-Trước Chính-Đẳng, Chính-Giác; Ngài dạy bốn điều mà tôi nhận biết như thật, đó là:

Thứ nhất: Trong thế-gian này không có ai hộ trì, không nơi nương tựa.
Thứ nhì: Trong thế-gian này, vạn vật đều phải đi đến chỗ già nua.
Thứ ba: Thế-gian này là vô thường, cần phải bỏ đi.
Thứ tư: Thế-gian này không có sự thoả mãn, không có sự biết đủ, bị ái dục lôi kéo đi không ngừng.

Vua Câu-Lao-Bà hỏi:
- Lại-Tra Hòa-La, như ông vừa nói: “Thế-gian này không ai hộ trì, không nơi nương tựa”, nhưng tôi có con cháu anh em, tướng quân các binh chủng nghiêm nghị dũng mãnh; tôi lại có các lực sĩ hộ vệ, có người xem tướng, và có kẻ bày mưu tính toán, tôi cũng lại có người thông hiểu điển sách, và có kẻ giỏi đàm luận giúp tôi.
Tóm lại, tôi có đủ loại người, khi tôi cần đến họ đều sẵn sàng, bất cứ phương nào có khủng bố hoặc biến động đều được chế phục ngay tức khắc; như vậy nói rằng thế gian này không người hộ trì, không nơi nương tựa có nghĩa thế nào?
- Đại-Vương, bây giờ tôi hỏi nhà Vua, xin tùy theo sự hiểu biết mà trả lời; Đại-Vương, thân Ngài có bệnh chăng?
- Hiện nay thân tôi thường có bệnh Phong, uống thuốc cũng chẳng hết.
- Nếu bệnh Phong bộc phát trầm trọng, rất đau đớn, thì lúc đó Đại-Vương có thể bảo con cháu họ hàng, và tất cả những người mà Ngài vừa kể, họ tạm thời thay thế sự đau đớn cho Ngài được an ổn không?
- Không được, không ai có thể tạm thời thay thế sự đau đớn của tôi được, tôi phải tự chịu lấy mà thôi.
- Như vậy thì lời dạy: “Thế-gian này không ai hộ trì, không nơi nương tựa” là đúng sự thật.

Vua Câu-Lao-Bà nói:
- Bây giờ tôi đã hiểu và biết trong thế-gian này không có ai hộ trì, và không có nơi nương tựa là đúng sự thật. Tôi cũng hiểu và biết trong thế-gian này tất cả vạn vật đều già nua đi là sự thật, vì tôi thấy như thân tôi đây, khi mới có hai ba mươi tuổi thì thân thể cường tráng mạnh khoẻ đẹp đẽ, bây giờ bẩy tám mươi tuổi, gân cốt yếu mềm thấy rõ ràng, như vậy là già nua đi. Nhưng câu: “Thế-gian này là vô thường cần phải bỏ đi, như vậy có ý nghĩa gì?”
- Tôi xin hỏi Đại-Vương, bây giờ Ngài có nước Câu-Lâu-Sấu kho tàng đầy đủ, quân lực hùng cường, lương thực dồi dào v.v... Nếu thời gian đã đến, chịu sự phá hoại, không thể nương tựa được nữa, tất cả các thứ này đi đến chỗ diệt vong; lúc đó các thứ đầy đủ, hùng cường, dồi dào có thể mang từ đời này qua đời khác được không?
- Không thể được.
- Thế cho nên lời dạy: “Thế gian này là vô thường, cần phải bỏ đi” là đúng sự thật.
- Nay tôi nghe và hiểu điều đó là đúng sự thật, nhưng câu: “Thế gian này không có sự toàn mãn, không có sự biết đủ, bị ái dục lôi cuốn đi không ngừng, nói như vậy có nghiã gì?”, xin Ngài giải thích giùm.
- Đại-Vương có nước Câu-Lâu Sấu dồi dào, có cung-điện nguy nga lộng lẫy, có kho tàng đầy đủ, có đủ thứ; nhưng nếu có người từ phương Đông, hoặc từ phương Tây, phương Nam, phương Bắc tới đây. Người ấy không nói dối, và đáng tín nhiệm, người ấy nói với Ngài rằng: “Tôi từ phương ấy, nước ấy tới đây, tận mắt tôi thấy nước ấy vô cùng giàu có, mà quân mã chẳng có bao nhiêu, binh khí rất thô sơ, lại chẳng đề phòng chi cả; Đại-Vương nên chiếm nước ấy mà lấy tài vật của cải và bành trướng thế lực”. Vậy Ngài có muốn chiếm một nước rất dễ dàng để cai trị không? Và khi: đã chiếm được một nước rồi, các nước khác cũng giống như vậy, thì Ngài có muốn chiếm luôn không?
- Nếu tôi biết có nước giàu có, không nhiều quân mã, khí giới thô sơ, lại không đề phòng, và chiếm dễ dàng, thì tôi quyết tiến chiếm nước ấy mà cai trị; nếu các phương khác, nước khác cũng giống như thế, thì chắc chắn tôi sẽ đánh chiếm hết để làm bá chủ các nước.
- Thế cho nên lời dạy: “Thế gian này không có sự toàn mãn, không có sự biết đủ, bị ái dục lôi cuốn đi không ngừng” là đúng sự thật.

Vua Cao-Lâu-Bà nói:
- Qủa thật, thế gian này không có sự toàn mãn, không có sự biết đủ, bị ái dục lôi đi không ngừng; nay tôi đã nghe, và hiểu biết như thật.
Vua nói tiếp:
- Tôi còn nhiều điều cần học hỏi, nhưng thời giờ ngắn ngủi, thỉnh Ngài cùng tôi về Kinh-đô để được dịp cúng dường cùng học đạo; vả lại, tại kinh-đô còn có rất nhiều người muốn học đạo, mong Ngài nhận cho.

Tôn-giả im lặng nhận lời, rồi cùng ngồi xe với Vua đến Kinh-đô. Tôn-giả Hòa-La đã độ cho rất nhiều người tại kinh thành, cũng như trong nước Câu-Lâu-Sấu..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 14 2011, 10:26 PM
Gửi vào: #19


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TỲ-KHEO THIỆN-TÚC
PHÁ GIỚI


Toàn Không



Một hôm đức Phật vào thành A-Nậu-Di khất thực, nhưng vì còn sớm, nên Ngài ghé vào vườn chỗ cư ngụ của Phạm-chí Phòng-già-Bà, để đợi đến giờ rồi mới đi khất thực; lúc đó, Phạm-Chí từ xa trông thấy đức Phật đi đến liền ra nghênh đón và nói:
- Chào Cù-Đàm, qúy hóa thay đức Cù-Đàm; từ lâu không đến, nay Ngài chiếu cố chắc là có chuyện gì, kính mời Ngài ngồi chỗ này.

Khi đức Phật tiến đến chỗ ngồi và an tọa tại đấy rồi, Phạm-chí Phòng-già-Bà ngồi xuống một bên và nói:
- Chiều hôm qua có Ly-xa-Tử (là Tỳ-Kheo Thiện-Túc) đến chỗ tôi và nói như sau: “Này Đại-sư, tôi không còn theo Cù-Đàm để tu phạm hạnh nữa, vì Ngài đã bỏ rơi tôi”. Ông ta nói lỗi của Ngài, dù nói như thế nhưng tôi không tin.

Đức Phật nói với Phạm-Chí:
- Tôi biết những lời nói của Thiện-Túc và ông không bao giờ tin. Hồi tôi du hóa ở thành Tỳ-xá-Ly, Thiện-Túc đến nói với tôi: “Như-Lai bỏ rơi con, con không theo Như-Lai tu phạm hạnh nữa, vì Như-Lai không vì con mà thị hiện thần thông biến hóa”.

Lúc ấy tôi nói: “Trước đây Ta có yêu cầu ông ở trong giáo pháp của Ta tu phạm-hạnh, rồi Ta sẽ hiện thần thông biến hóa không?” Hoặc ông có nói với Ta rằng: “Như-Lai phải vì ông thị hiện thần thông biến hóa rồi sau đó ông mới tu phạm-hạnh không?”. Bấy giờ Thiện-Túc nói: “Thưa Thế-Tôn, không có”.

Tôi bảo Thiện-Túc: “Theo ý ông có cho rằng Như-Lai có thể hiện thần thông hay không? và pháp của Ta nói ra có thể làm cho ông vĩnh viễn xa lià các khổ và được giải-thoát không?”

Thiện-Túc trả lời: “Đúng như vậy, Như-Lai có thể hiện thần thông chứ chẳng phải không, và giáo pháp của Thế-Tôn có thể làm cho người được giải-thoát, xa lià vĩnh viễn các khổ chứ chẳng phải không”.

Tôi lại hỏi Thiện-Túc: “Này Thiện-Túc, nếu giáo pháp của Ta có thể làm cho người tu phạm-hạnh được giải-thoát, có thể hiện thần thông chứ chẳng phải không; vậy ông ở trong giáo pháp này còn mong nuốn điều gì nữa?”

Thiện-Túc đáp: “Thưa, Thế-Tôn không thể tùy thời dạy con, Thế-Tôn biết hết bí thuật nhưng lại tiếc không dạy hết cho con”.

Tôi bảo Thiện-Túc: “Ta có từng bảo ông ở trong pháp Ta, rồi sau đó Ta sẽ dạy các bí thuật không? Hoặc ông có từng yêu cầu Ta dạy bí thuật, rồi sau đó ông mới ở chỗ Ta tịnh tu phạm-hạnh không?”

Thiện-Túc trả lời: “Thưa không”.

Tôi còn bảo Thiện-Túc: {{Trước kia ở lãnh thổ Bạt-Xà, ông dùng vô số phương tiện để khen ngợi Như-Lai, khen ngợi chính-pháp, khen ngợi chúng Tỳ-Kheo khiến cho mọi người ưa thích. Nay ông thối chí, người đời sẽ nói: “Tỳ-Kheo Thiện-Túc là đệ-tử gần gũi Như-Lai, mà không thể trọn đời tu phạm-hạnh, lại xả giới hoàn tục ở vào địa vị thấp kém, hành động xấu xa”}}; hôm ấy tôi đã giảng giải đủ điều, nhưng Thiện-Túc vẫn không chịu nghe cứ xả giới hoàn tục.

Hồi tôi ở trên nhà giảng Pháp bên ao Nhĩ-bầu, bấy giờ có Ni-kiền tên là Già-la-Lâu đang cư ngụ gần đó, được mọi người trong vùng tôn kính là người trí thức, có danh tiếng đồn xa. Một hôm, Thiện-Túc vào thành Tỳ-xá-Ly khất thực, lần hồi đi đến chỗ Ni-kiền Già-la-Lâu; Thiện-Túc đem ý nghiã sâu xa để hỏi, ông ta không đáp được bèn sinh tâm tức giận, thế rồi Thiện-Túc tự nghĩ: “Ta khuấy rối người này, sẽ không có qủa báo về khổ não”.

Sau khi khất thực xong, Thiện-Túc đi đến chỗ tôi, nhưng không mang sự kiện trên thuật lại, tôi nói: “Ông là kẻ vô trí, ông đâu có thể tự xưng là Sa-môn Thích-tử được”.
Thiện-Túc hỏi lại: “Thưa Thế-Tôn, vì lý do gì Thế-Tôn lại nói con là đồ ngu, và con không nên xưng là Thích-tử?”

Tôi trả lời: {{Vì ông đã làm cho Ni-Kiền tức giận, và khi ấy ông còn tự nghĩ: “Nay Ta khuấy rối Ni-Kiền này sẽ mãi mãi không có qủa báo về khổ não”, ông có nghĩ như vậy không?}}.
Thiện-Túc nói: “Ông ta là La-Hán thì vì lý do gì lại có tâm sân hận và ganh tị?”

Tôi bảo Thiện-Túc: “Đã là La-Hán không vì lý do gì lại có tâm sân hận và ganh tị, vả lại, ông tự cho người ấy là La-Hán, nhưng thực tế ông ta chỉ có bảy pháp khổ hạnh. Đó là trọn đời không mặc quần áo, không uống rượu, không ăn thịt, không ăn cơm, không ăn mì khô, không phạm phạm-hạnh, và không ra khỏi bốn tháp đá của thành Tỳ-xá-Ly, nhưng ông ta đã phạm cả bẩy điều trên. Vì đã làm trái với bảy điều thề nguyện trên, ông ta ví như con dã-can, mắc bệnh ốm yếu, lở lói và thác ở ngoài gò mả”. Rồi tôi bảo Thiện-Túc: “Nếu không tin lời Ta, ông nên đến đó xem là tự nhiên biết”.

Hai ngày sau, Thiện-Túc vào thành khất thực, khi xong ra khỏi thành, đến nơi gò mả, thấy Ni-kiền Già-la-Lâu đã chết tại đó, thấy xong, Thiện-Túc đến nơi tôi, nhưng không đem sự kiện trên nói lại với tôi, bấy giờ tôi hỏi Thiện-Túc: “Thế nào, Ta đã dự ký về Ni-kiền Già-la-Lâu, sự việc có như lời Ta nói không?”
Thiện-Túc đáp: “Đúng như vậy, đúng như lời Thế-Tôn đã nói”.
Tôi thường vì Thiện-Túc mà hiện Thần thông như thế, nhưng ông ta vẫn nói rằng: “Thế-Tôn không vì con mà hiện thần thông”.

Lại nữa, có một lần tôi du hóa ở ấp Bạch-thổ thuộc nước Minh-Ninh, ỏ đó có một vị Ni-Kiền tên Cứu-la-Đế được mọi người tôn kính, danh tiếng đồn xa; một hôm, Thiện-Túc đi khất thực theo sau tôi, vừa trông thấy Ni-kiền Cứu-la-Đế ở trên đống phân, đang ăn bã rượu, Thiện-Túc liền có ý nghĩ: “Các hàng La-Hán trong thế-gian đều không bằng được vị Ni-Kiền này, vì đạo vị của vị này thật là thù thắng, bởi tu khổ hạnh như thế mới trừ được tâm ngã mạn”.
Ông biết không? lúc đó tôi quay lại bảo Thiện-Túc: “Ông là kẻ vô trí, đâu có thể tự xưng là Thích-tử được”.
Thiện-Túc nói: “Vì lý do gì Thế-Tôn nói con như vậy?”

Lúc ấy tôi bảo Thiện-Túc: {{Vì khi ông vừa trông thấy Ni-Kiền kia ngồi trên đống phân, đang ăn bã rượu, ông liền nghĩ rằng: “Các hàng La-Hán trong thế-gian đều không bằng được vị Ni-Kiền này, vì đạo vị của vị này thật là thù thắng, bởi tu khổ hạnh như thế mới trừ được tâm ngã mạn”; Ông có nghĩ như vậy không?}}.
Thiện-Túc thưa: “Thật con có nghĩ như vậy, nhưng tại sao Thế-Tôn đối với vị La-Hán mà còn sinh tâm ghen tị?”
Tôi bảo Thiện-Túc: “Ta không bao giờ sinh tâm ghen tị đối với một vị La-Hán. Ông là kẻ vô trí, nên cho rằng Ni-kiền Cứu-la-Đế là La-Hán. Người này sau bảy ngày sẽ mắc chứng bệnh bụng to mà qua đời, và sẽ sinh vào loài Ngạ-qủy Khả-thi thường khổ sở vì đói khát. Hơn nữa, sau khi ông ta chết, người ta dùng dây tơ bó lại rồi bỏ ngoài gò mả, nếu ông không tin thì cứ đến báo trước cho ông ta”.

Bấy giờ Thiện-Túc liền đi đến chỗ Ni-Kiền và nói những lời y như tôi đã nói về cái chết của Cứu-la-Đế. Thiện-Túc còn căn dặn Ni-Kiền: “Ông nên bớt ăn và phải cẩn thận, chớ để lời nói của Cù-Đàm trở thành sự thật”.

Thiện-Túc co lóng tay đếm từng ngày, khi hết bảy ngày, Thiện-Túc liền đi đến chỗ của người lõa thể ấy; không thấy Cứu-la-Đế, Thiện-Túc hỏi thăm những người trong xóm, được biết ông ta đã mắc phải bệnh bụng to mà chết rồi, và xác đã đem bỏ ngoài gò mả. Thiện-Túc liền đi đến gò mả, trông thấy tử thi Cứu-la-Đế bị bó bằng dây tơ, Thiện-Túc nói với ý hỏi tử thi: “Này Cứu-la-Đế, ông đã chết thật rồi ư, do bệnh gì, ông sinh về đâu?”

Bỗng nhiên tử thi cử động và nói yếu ớt: “Ta đã chết rồi vì bụng xưng to và sinh vào loài Ngạ-qủy Khả-thi. Ông tuy xuất gia, nhưng không lợi ích gì, vì Sa-môn Cù-Dàm đã nói việc này như thế mà ông không tin”, khi nói xong lời này, tử thi nằm yên không còn cử động nữa.

Khi Thiện-Túc đi đến chỗ tôi, không đem việc ấy kể lại, tôi bèn hỏi Thiện-Túc: “Thế nào, Như Ta dự ký về Cứu-la-Đế, có thật như vậy không?”
Thiện-Túc trả lời: “Thật vậy, đúng như lời Thế-Tôn đã nói”.

Một lần khác, lúc đó có Phạm-chí tên Ba-lê-Tử đang sống gần khu tôi trú ngụ, Phạm-chí này được nhiều người cung kính, danh tiếng đồn xa, có nhiều lợi dưỡng. Một hôm, ông ta đứng giữa đại-chúng trong thành Tỳ-xá-Ly nói như sau: “Sa-môn Cù-Đàm tự xưng có đại trí-tuệ, ta cũng có đại trí-tuệ; Sa-Môn Cù-Đàm tự xưng có thần-túc, ta cũng có thần-túc; Sa-môn Cù-Đàm tự xưng được đạo siêu-việt, ta cũng được đạo siêu-việt. Ta sẽ cùng Sa-môn Cù-Đàm hiện thần-túc, Sa-môn hiện một, ta sẽ hiện hai, Sa-môn hiện hai ta sẽ hiện bốn, Sa-môn hiện bốn ta sẽ hiện tám; tùy theo Sa-môn hiện nhiều hay ít, ta sẽ hiện gấp đôi”; lúc ấy Tỳ-kheo Thiện-Túc đi khất thực, nghe thấy phạm-chí Ba-lê-Tử ở giữa đại-chúng nói những điều như thế.

Sau khi khất thực xong, Thiện-Túc đi đến chỗ tôi, và nói lại những điều mà Ba-lê-Tử đã nói giữa đại-chúng; tôi nói với Thiện-Túc: “Nếu Phạm-chí Ba-lê-Tử ở giữa đại-chúng không bỏ lời nói ấy, không bỏ kiến giải ấy, không bỏ sự kiêu mạn ấy, mà đi đến chỗ Ta, thì hoàn toàn không có sự kiện ấy”.
Bấy giờ Thiện-Túc nói: “Thế-Tôn nên giữ lời, Như-Lai nên giữ lời, vì ông Ba-lê-Tử có đại oai-thần-lực, có đại công-đức, thoát khỏi đời sau; ông ta sẽ không trông thấy sự hư dối của Thế-Tôn ư?”
Tôi bảo Thiện-Túc: “Như-Lai có bao giờ nói hai lời không, và vì cớ gì ông lại nói Như-Lai nên giữ lời?”
Thiện-Túc đáp: “Thưa, Như-Lai không bao giờ nói hai lời, nhưng Thế-Tôn tự biết ông Ba-lê-Tử hay vì chư Thiên đến nói chuyện chứ?”

Lúc ấy tôi bảo Thiện-Túc: {{Ta tự biết, chư Thiên cũng đến nói cho Ta biết. Về trường hợp Đại-tướng A-do-Đà trong thành Tỳ-xá-Ly này, sau khi chết sinh lên cõi trời Đạo-Lợi, tướng A-do-Đà đến nói với Ta như sau: “Ông Phạm-chí Ba-lê-Tử chẳng biết hổ thẹn, phạm giới vọng ngữ, ông Ba-lê-Tử ở giữa đại-chúng trong thành Tỳ-xá-Ly, nói lời chê bai như thế này: Đại-tướng A-do-Đà chết rồi sẽ sinh vào loài Qủy Khởi-thi, nhưng thực ra sau khi qua đời ở cõi trần tôi được sinh lên cõi trời Đạo-Lợi”, về việc ông Ba-lê-Tử thì Ta đã biết trước, và các vị Trời cũng đến nói với Ta. Này Thiện-Túc, kẻ vô trí, ông không tin lời Ta nói, thì vào thành Tỳ-xá-Ly, tùy ông muốn nói gì thì nói; ngày mai, sau khi khất thực, thụ trai xong, Ta sẽ y như lời mà đến chỗ ở của ông Ba-lê-Tử}}.

Hôm sau Thiện-Túc vào thành khất thực, và hướng về những chúng Bà-la-Môn, Sa-Môn, Phạm-Chí, nói đầy đủ những lời như sau: {{Hôm qua, ông Phạm-chí Ba-lê-Tử ở trong đại-chúng đã nói những lời như sau: “Sa-môn Cù-Đàm tự xưng có đại trí-tuệ ta cũng có đại trí-tuệ, Sa-môn Cù-Đàm tự xưng có thần túc ta cũng có thần túc, Sa-môn Cù-Đàm được đạo siêu-việt ta cũng được đạo siêu-việt. Ta sẽ cùng Sa-môn Cù-Đàm hiện thần-túc, Sa-môn hiện một ta sẽ hiện haị, Sa-môn hiện hai ta sẽ hiện bốn, Sa-môn hiện bốn ta sẽ hiện tám; tùy theo Sa-môn Cù-Đàm hiện nhiều hay ít, thì ta đều hiện gấp đôi”; bởi thế cho nên Sa-môn Cù-Đàm sẽ đến chỗ ở của ông Ba-lê-Tử sau khi khất thực xong trưa nay, vậy mọi người có thể đến đó sau buổi trưa này}}.

Bấy giờ Phạm-chí Ba-lê-Tử đang đi trên đường, Thiện-Túc trông thấy ông ta vội đến gặp và nói: “Ngày hôm qua, ở giữa đại-chúng, ông đã nói những lời khiêu khích, thách đố đối với Sa-môn Cù-Đàm; Sa-môn Cù-Đàm đã nghe những lời ấy rồi, nay sẽ đến chỗ ở của ông vào sau buổi trưa hôm nay, vậy ông nên mau trở về ngay đi”.
Phạm-chí Ba-lê-Tử trả lời Thiện-Túc: “Ta sẽ về, ta sẽ về”, nói xong lại tự hoảng sợ, chẳng dám về chỗ ở của mình, mà đến rừng của Phạm-chí Đao-đầu-Ba.

Sau khi thụ trai xong, tôi cùng nhiều chúng Lệ-xa, Sa-môn, Bà-la-Môn, Phạm-chí, v.v.., đến chỗ ở của ông Ba-lê-Tử. Mọi người chờ đợi không thấy ông Ba-lê-Tử về, tôi bảo: “Hiện tại ông ta đang ngồi trên giường dây (giống như võng) trong rừng của ông Đao-đầu-Ba”.

Bấy giờ mọi người đều bảo ông Phạm-chí Giá-La là bạn của Ba-lê-Tử: “Ông Giá-La nên đi đến rừng của ông Đạo-đầu-Ba, và ông vui lòng nói với ông Ba-lê-Tử rằng: chúng tôi gồm Lệ-xa, Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm-chí, Cư-sĩ; mọi người đều tập hợp nơi rừng của ông Ba-lê-Tử, và bàn luận về việc ông Ba-lê-Tử đã nói những lời thách thức đối với Sa-môn Cù-Đàm, vậy ông Ba-lê-Tử nên trở về ngay kẻo mọi người mong đợi”.
Ông Giá-La liền đi đến rừng Đạo-đầu-Ba gặp Ba-lê-Tử, và nói những lời đại chúng đã dặn bảo, Ba-lê-Tử trả lời rằng: “Tôi sẽ về, tôi sẽ về”.

Khi nói xong lời này, ở trên giường dây xoay trở không yên, dường như giường dây dính chặt vào chân, khiến ông ta không thể rời khỏi giường, huống chi là về; khi ấy ông Giá-La nói với Ba-lê-Tử: “Chính ông là kẻ vô trí, chỉ có lời nói suông là sẽ về sẽ về, tự mình còn không thể rời khỏi giường, làm sao có thể đi về gặp đại chúng?”
Quở trách Ba-lê-Tử xong, ông Giá-La liền trở về nói với đại-chúng những sự việc xẩy ra như thế; bấy giờ ông Lệ-xa Nhất-đầu-Ma đang ngồi trong đại-chúng liền đứng dậy, trịch áo (trệ) bầy vai phải, qùy gối chắp tay mà thưa với đại-chúng: “Xin qúy vị hãy đợi một lúc, tôi xin đi đến đó, đem ông Ba-lê-Tử về đây”.

Khi đó tôi bảo Lệ-xa Nhất-đầu-Ma rằng: “Ông ta nói những lời như thế, kiến chấp như thế, kiêu mạn như thế, mà muốn ông ta về đây, thì không có sự kiện này. Dù ông lấy dây buộc nhiều vòng, cho bầy trâu kéo, chỉ làm cho thân ông ta tan nát, chứ ông ta cũng nhất định không thể về. Nếu ông không tin, cứ đến đó sẽ tự biết”.
Ông Lệ-xa Nhất-đầu-Ma đi đến chỗ Ba-lê-Tử và nói: “Đại-chúng đang nóng lòng chờ đợi ông về vì việc ông đã nói có liên quan đến Sa-môn Cù-Đàm. Vậy ông phải trở về ngay lập tức, không thể vì lý do gì mà trì hoãn được nữa”.
Ba-lê-Tử cũng đáp: “Tôi sẽ về, sẽ về”.
Nhưng ông ta ở trên giường dây, toàn thân rúng động, mặt mũi nhăn nhó, thân dính chặt vào giường, khiến ông ta không thể rời khỏi giường (rõ ràng bị Phật hành vì kiêu mạn nói bậy).

Bấy giờ Lệ-xa Nhất-đầu-Ma nói với Ba-lê-Tử rằng: “Chính ông là kẻ vô trí, chỉ có lời nói suông là sẽ về sẽ về, mà chính mình không thể rời khỏi giường dây, làm sao mà có thể đi về chỗ đại-chúng được?”
Lệ-xa nói tiếp: {{Những người có trí nhờ thí dụ mà hiểu. Về qúa khứ thật lâu xa, có một con Sư-tử là vua của các loài thú sống trong rừng sâu; con Sư-tử này, vào mỗi buổi sáng sớm, vừa ra khỏi hang, vươn vai ngó quanh bốn phiá, kêu to ba tiếng, rồi mới dạo đi lựa thịt mà ăn. Vua Sư-tử của các loài thú ấy khi ăn xong bỏ đi chỗ khác, thường có một con Dã-can theo sau tự đằng xa nhìn trộm. Khi vua Sư-tử ăn xong bỏ đi liền đến ăn thứ dư thừa còn sót lại, nhờ thế mà khí lực Dã-can được đầy đủ, Dã-can tự nói: “Sư-tử kia là thứ gì mà có thể hơn ta được, nay ta có thể đi săn mồi riêng tại một khu rừng”. Sau đó Dã-can tìm đến một khu rừng, và ở riêng tại đó; vào sáng sớm, ra khỏi hang, kêu to ba tiếng, dù muốn bắt chước tiếng kêu của Sư-tử, nhưng vẫn là tiếng của Dã-can}}.
Ông Lệ-sa Nhất-đầu- Ma nói tiếp: “Này Ba-lê-Tử, ông cũng giống như thế, nhờ ân đức của đức Cù-Đàm, nên được sống còn ở thế gian, được người cung kính cúng dường, có nhiều lợi dưỡng, thế mà nay lại muốn cạnh tranh cùng đức Cù-Đàm”.

Nói xong, Lệ-xa Đầu-Ma dùng kệ để trách cứ Ba-lê-Tử như sau:
Dã-can xưng Sư-tử,
Tự cho là vua thú,
Muốn rống tiếng Sư-tử,
Lại ra tiếng Dã-can.
Ở rừng vắng một mình,
Tự cho là vua thú,
Muốn rống tiếng Sư-tử,
Lại ra tiếng Dã-can.
Qùy đất tìm hang chuột,
Moi mồ kiếm tử-thi,
Muốn rống tiếng Sư-tử,
Lại ra tiếng Dã-can.

Lệ-xa Đầu-Ma quở trách Ba-lê-Tử xong, trở về thưa với đại-chúng sự việc xẩy ra như trên, và xác nhận những lời tôi đã nói; bấy giờ tôi cùng với đại chúng nói các thứ pháp, chỉ bảo những điều lợi ích an vui. Hôm ấy, trong đại-chúng ấy, tôi đã rống tiếng rống Sư-tử, rồi thân bay lên hư không, lại trở về chỗ cũ nhẹ nhàng; tôi đã hiện thần thông như thế, Thiện-Túc cũng thấy như thế, do đó ông biết Thiện-Túc là người như thế nào rồi..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 18 2011, 10:30 PM
Gửi vào: #20


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐỀ-BÀ ĐẠT-ĐA
TẠO TỘI



Toàn Không


Khi đức Phật ngụ trong vườn Ni-câu-lưu Ca-tỳ La-Việt, vương-tử Đề-Bà Đạt-Đa là em con ông chú của Phật, đến chỗ Phật cúi đầu vái Phật rồi thưa:
- Cúi xin Thế-Tôn cho con được làm Sa-môn.

Phật bảo:
- Ông nên ở tại gia làm việc bố thí, làm Sa-môn thật chẳng dễ đâu.

Đề-Bà Đạt-Đa ba lần thưa như thế, Phật cũng ba lần trả lời như thế, Đề-Bà Đạt-Đa liền nghĩ: “Sa-môn này có lòng tật đố, ta có thể tự cạo tóc, tu phạm hạnh, ta đâu cần”; Đề-Bà Đạt-Đa bèn bỏ đi về, tự cạo râu tóc, mặc áo cà-sa, tự xưng “Ta là Thích tử”.

Lúc ấy có một Tỳ-kheo tên Tu-La-Đa tu hạnh đầu-đà, thông suốt ngũ thong; Đề-Bà Đạt-Đa đến chỗ Tỳ-kheo ấy, cúi đầu lễ dưới chân, rồi thưa:
- Cúi xin Tôn-giả nói pháp cho tôi khiến tôi được yên ổn lâu dài.

Tỳ-kheo ấy liền nói pháp cho nghe, Đề-Bà y lời dạy không sai sót. Đề-Bà lại tới thưa:
- Cúi xin Tôn-giả chỉ dạy cho tôi pháp về thần túc, để tôi tu hành.

Bấy giờ Tỳ-kheo Tu-Đà-La lại chỉ cách thực hành pháp thần túc, Đề-Bà Đạt-Đa tu hành không sai sót, sau một thời gian đạt ngũ-thông thần túc biến hóa vô kể, nên tiếng đồn được truyền lan nhanh chóng. Đề-Bà Đạt-Đa dùng sức thần túc bay lên Trời Đạo-Lợi hái các thứ hoa đem về dâng thái-tử A-Xà-Thế và nói:
- Đây là hoa Trời mà tôi đã lấy về tặng thái-tử.

Rồi Đề-Ba Đạt-Đa hóa hiện ra đứa bé ngồi trên đầu gối thái-tử, thái-tử và cung nữ hỏi: “Đứa bé này ở đâu đến mà ngồi trên đầu gối thế này?” Vừa bàn tán xong, Đề-Bà lại hiện hóa thân trở lại như cũ, mọi người khen: “Đây là Đề-Ba Đạt-Đa”. Thái-tử và cung nữ khen ngợi và truyền tụng: “Đề-Ba Đạt-Đa có thần túc và danh đức khó ai sánh bằng”. Từ đó thái-tử thường cung cấp đủ thứ vật dụng thức ăn cho Đề-Bà. Có Tỳ-kheo đem việc này bạch Phật:
- Đề-Bà Đạt-Đa có thần túc lớn, thường nhận cúng dường đủ thứ của thái-tử A-Xà-Thế.

Phật bảo:
- Các thầy chớ có khởi niệm tham đắm lợi dưỡng của Đề-Bà Đạt-Đa, cũng đừng khen ngợi sức thần thông của ông ấy; vì những vấn đề đó, ông ấy sẽ rơi vào ba đường ác, và thần túc của ông ấy sẽ chấm dứt, tại sao? Tại vì Đề-Bà sẽ tự tạo nghiệp thân khẩu ý.

Khi đó Đề-Bà Đạt-Đa tự nghĩ: “Sa-môn Cù-Đàm có thần túc, có trí thức, ta cũng có thần túc, có trí thức; Sa-môn Cù-Đàm là dòng họ cao qúy, ta cũng là dòng họ cao qúy. Nếu Sa-môn Cù-Đàm hiện thần túc một ta sẽ hiện hai, nếu Sa-môn Cù-Đàm hiện bốn ta sẽ hiện tám; tùy theo sức hóa hiện của Sa-môn Cù-Đàm ta sẽ hiện gấp đôi”.
Vì thái-tử A-Xà-Thế cung cấp vật thực cho Đề-Bà Đạt-Đa, khiến có tới năm trăm Tỳ-kheo đi theo.

Một hôm, Đề-Bà Đạt-Đa dẫn nhóm Tỳ-kheo ấy đến chỗ Phật, ngang nhiên đòi đức Phật nhường quyền lãnh đạo Tăng đoàn cho ông, Đức Phật không nói một câu, Đề-Bà liền la lối om sòm, rồi kêu gọi các Tỳ-kheo đi theo ông sẽ được hưởng nhiều lợi lộc do A-Xà-Thế cúng dàng cho ông. Lúc đó, Tôn-giả A-Nan, là em của Đề-Bà, cố gắng giảng giải, ngăn cản, nhưng Đề-Ba vẫn ngang tàng uy hiếp. Một số Tỳ-kheo tín tâm chưa vững do sự cúng dường của A-Xà-Thế đối với Đề-Bà, nên đã đi theo.

Bấy giờ, có Tỳ-kheo thưa Phật:
- Đề-Bà Đạt-Đa có thần túc lớn mới có thể phá hoại Tăng đoàn.
Phật bảo:
- Không phải hôm nay Đề-Bà Đạt-Đa mới phá hoại Tăng đoàn, đời qúa khứ, ông ta đã từng phá hoại Tăng đoàn.

Ta chẳng thấy Đề-Bà có pháp lành nào cả, ngược lại Đề-Bà ngày càng tạo ác sâu nặng, sẽ chịu tội nhiều kiếp, chẳng thể chữa trị, ví như có kẻ rớt xuống hầm cầu tiêu, thân chìm lỉm, không còn một chỗ sạch; có người muốn cứu vớt lên, họ nhìn kỹ không có một chỗ sạch để nắm kéo lên, liền bỏ đi. Ta xem Đề-Bà ngu si, ham lợi dưỡng, tạo tội, không chịu sửa đổi, khi chết sinh trong đường ác (Tăng-Nhất A-Hàm, quyển 1, trang 126).

Mấy hôm sau, Tôn-giả Xá-Lợi-Phất biết được Đề-Bà đến gây rối Tăng đoàn, Tôn-giả bèn đến chỗ ở của họ, lúc ấy chỉ có một số Tỳ-kheo ở đó, Tôn-giả hỏi họ:
- Này qúy vị, tôi hỏi một câu: “Qúy vị xuất gia tu đạo là vì sự cúng dường hay vì sự tu đạo?”
Mọi người đều đáp:
- Chúng tôi xuất gia vì mục đích tu đạo để giải thoát sinh tử.

Tôn-giả dõng dạc nói lớn:
- Nếu vậy, các ông không theo chính đạo của đức Thế-Tôn, lại để cho lòng tin của mình bị lay động bởi một chút vật chất, các ông phải mau tỉnh ngộ.
Nghe vậy, một số Tỳ-kheo đi theo Tôn-giả về lại Tăng đoàn.

Một hôm, Thế-Tôn vào thành La-Duyệt đi khất thực, xa xa trông thấy Đề-Bà Đạt-Đa, Ngài liền đi ngả khác; Tôn-giả A-Nan đi theo phiá sau thấy tự nhiên Phật quẹo ngả khác, bèn hỏi:
- Sao Thế-Tôn đang đi lại rẽ ngả khác?
- Ta không muốn gặp Đề-Bà Đạt-Đa.
- Thế-Tôn sợ Đề-Bà Đạt-Đa sao?
- Ta không sợ, nhưng Ta không muốn gặp kẻ ác.
- Thế-Tôn có thể khiến Đề-Bà đi nơi khác.
- Ta không muốn làm như vậy.
- Nhưng Đề-Bà có lỗi với Thế-Tôn.
- Chẳng nên gặp người ngu si (Tăng-Nhất A-Hàm, quyển 1, trang 432).

Một ngày nọ, hai Tôn-giả Xá-Lợi-Phất và Mục-Kiền-Liên sau khi khất thực xong, bàn với nhau: “Chúng ta đến chỗ Đề-Bà Đạt-Đa nghe ông ấy nói pháp, xem là luận thuyết gì”, liền cùng đi đến chỗ ấy. Đề-Bà Đạt-Đa xa thấy hai người đi tới, liền bảo các Tỳ-kheo:
- Hai người kia là đệ tử của Tất-Đạt (tên của Phật trước khi xuất gia), rất được khen ngợi.

Hai Tôn-giả đến rồi, cùng hỏi thăm, ngồi một bên; thấy thế, các Tỳ-kheo đều nghĩ: “Đệ-tử của Sa-môn Cù-Đàm, nay hướng hết về Đề-Bà”. Đề-Bà Đạt-Đa bảo Tôn-giả Xá-Lợi-Phất:
- Nay thầy có thể thuyết pháp cho các Tỳ-kheo chăng? Tôi đau lưng muốn nghỉ một chút.

Đề-Bà bèn nằm nghiêng ngay đó, do lòng vui mừng nên ngủ luôn; hai Tôn-giả thấy thế, liền dùng thần túc đem các Tỳ-kheo lên không trung đi mất; khi Đề-Bà thức dậy, không thấy các Tỳ-kheo, rất giận dữ nói: “Ta phải trả thù này, nếu không thì không gọi là Đề-Bà Đạt-Đa”, vì khởi ý ác ấy, nên liền mất thần túc.

Đề-Bà Đạt-Đa đến nói với thái-tử A-Xà-Thế:
- Người xưa thọ mang rất dài, ngày nay qúa ngắn ngủi, nếu Thái-tử chết chắc lại sinh trong nhân gian, sao không giết phụ vương rồi lên ngôi vua, tôi sẽ giết Sa-môn Cù-Đàm và sẽ làm Phật; Vua mới, Phật mới thì có vui thích không?

Bởi vậy A-Xà-Thế nghe lời xúi ấy, bèn cấu kết với quân thị vệ bắt vua cha giam vào ngục, cấm cho mang thức ăn vào ngục cho tới chết đói!

Đề-Bà thấy A-Xà-Thế đã hại vua cha xong, bèn khởi nghĩ: “Ta sẽ giết Sa-môn Cù-Đàm để làm Phật trong ba cõi”.

Một hôm, Thế-Tôn đang đi cạnh núi Kỳ-xà-quật, Đề-Bà leo lên núi, vác một tảng đá lớn ném vào Thế-Tôn. Sơn thần Kim-Tỳ-La tại núi ấy liền lấy tay đỡ, tảng đá bị vỡ bể một mảnh đá nhỏ văng trúng chân Phật làm chảy máu. Đức Phật nói:
- Ông muốn hại Như-Lai, đây là tội ngũ nghịch.

Đề-Bà nghĩ: “Nay ta không giết được Sa-môn Cù-Đàm”, liền bỏ đi đến chỗ A-Xà-Thế, nói chuyện về việc ném đá bị thất bại và bàn kế:
- Nên cho voi uống rượu say, rồi thả nó ra khi Sa-môn Cù-Đàm vào thành khất thực ngày mai. Con voi dữ chắc sẽ hại được Sa-môn Cù-Đàm. Nếu có tha tâm thông, ngày mai Sa-môn sẽ không vào thành; nếu không có tha tâm thông, ngày mai vào thành khất thực ắt bị voi hung dữ làm hại.

Vua A-Xà-Thế nghe theo, bèn sai người quản voi làm theo kế hoạch, lại ra lệnh cho dân không nên đi lại trong khoảng giờ ấy.

Hôm sau, đức Phật đúng thời đi khất thực như hằng ngày, một số người biết được sự việc như thế, bèn đón Phật và nói những điều như thế và khuyên Phật chớ nên vào thành. Nhưng Phật bảo họ đừng lo vì: “Phàm đã là bậc chính-giác, người khác không thể hại được”.

Khi Thế-Tôn vào thành, voi dữ từ xa hý vang, vòi vung qua quật lại, rầm rập chạy như vũ bão, xồng xộc tới; Phật thấy voi giận dữ chạy tới liền nói kệ:
Voi chớ hại đến Rồng,
Voi, Rồng khó xuất hiện,
Do không hại đến Rồng,
Được sinh vào cõi lành.

Voi nghe nói kệ, liền đến gần qùy mọp, liếm chân Phật, Voi vì hối qúa không an, liền chết, sinh lên cõi Trời Đạo-Lợi; Phật tiếp tục đi khất thực, Vua A-Xà-Thế và Đề-Bà Đạt-Đa từ xa thấy voi đã chết buồn rầu không vui, Đề-Bà nói với vua:
- Sa-môn Cù-Đàm đã giết chết voi.
Vua đáp:
- Sa-môn Cù-Đàm có sức oai thần lớn nên mới hại được voi, Sa-môn này có oai đức lớn mới không bị voi dữ hại.
Đề-Bà nói:
- Sa-môn Cù-Đàm có chú thuật khiến ngoại đạo dị học thảy đều hàng phục, huống chi loài vật.

Lúc ấy Đề-Bà nghĩ: “Vua A-Xà-Thế này ý muốn như thay đổi”, nên buồn, bỏ đi ra ngoài thành. Tỳ-kheo Ni Pháp-Thí gặp Đề-Bà Đạt-Đa, liền nói:
- Điều ông làm rất sai quấy, bây giờ hối lỗi còn dễ, sau này sẽ khó.
Đề-Bà nghe nói, thì bực bội quát:
- Đồ ngu! Ta có lỗi gì mà nay dễ sau khó?
Tỳ-kheo Ni đáp:

(Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

9 Pages: V  1 2 3 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 18th September 2019 - 12:19 AM