IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

9 Pages: V « < 7 8 9  
Reply to this topicStart new topic
> NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI, (TÔN GIÁO)
BenTreHome
post Oct 26 2014, 12:00 AM
Gửi vào: #161


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



Nghiệp báo nhân quả

(Tiếp theo)
Toàn Không


3). Thuyết có một Thượng Đế:

Nhiều người tin có một vị Chúa tể của loài người, có uy quyền rộng lớn, có phép thần thông biến hóa bao trùm hết vạn vật con người. Họ quy trách nhiệm cho vị Thượng Đế tối cao làm mọi việc mà họ không thể giải thích được. Họ chỉ cần nói: “Thượng Đế muốn như vậy, mọi người phải tuân theo như vậy, không có thắc mắc, không được oán trách quyết định của Thượng Đế tối cao. Họ yên tâm lễ bái cầu xin vị ấy tha tội và ban ơn cho họ được thế này hay thế khác, chấp thuận hay không là quyền của Thượng Đế. Quan điểm này họ truyền lại cho thế hệ sau”. Có người nói: “Con người trở thành nô lệ cho một vị Thần linh tưởng tượng đã được dựng lên”. Họ còn nói: “Con người tạo ra Thượng Đế theo ý của con người và theo hình ảnh của con người, chứ sự thực, không một vị Chúa tể nào lại có thể đủ thời giờ nhòm ngó vô lượng chúng sanh về mọi vấn đề trong cùng một lúc ở khắp mọi nơi. Vả lại, đã là Thượng Đế, tức là bậc toàn giác, toàn trí, toàn năng, toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ, sao lại bất công giữa người này và người kia, tại sao có người sinh vào nơi giàu sang quyền qúy sung sướng, có người sinh vào chỗ nghèo hèn khổ sở; tại sao có người sinh ra đẹp đẽ thông minh, có người sinh ra xấu xí ngu đần tật nguyền mù điếc ngọng câm dị hình dị thể, tại sao có người mạnh khoẻ, sống lâu, có người ốm đau chết yểu, tại sao Thượng Đế không công bằng như thế?
Rev. W Kirkus viết trong Orthodoxy Scripture and Reason nơi trang 34: “Rõ ràng không thể chứng minh một cách chính xác sự hiện hữu của Thượng Đế. Cho đến nay, hầu hết đều nêu lên ở tiền đề như dẫn chứng, những gì phải được chứng minh ở phần kết luận…..Ta đi đến chỗ phải nhìn nhận rằng có những tội lỗi xấu xa nằm trong vũ trụ và điều ấy là trách nhiệm của Thượng Đế, chúng ta không thể phủ nhận khuyết điểm của Thượng Đế đã cho phép tội lỗi và đau khổ tồn tại”.

4). Thuyết của Khoa học:

Các nhà Khoa học dựa vào sư quan sát của năm giác quan để giải thích về sự chênh lệch giữa người này và người kia. Họ cho rằng sự chênh lệch là do nguyên nhân vật lý, hóa học, tổng hợp, truyền thống, xã hội.
Nhà sinh lý học Julien Huxley nêu ra những đơn vị sinh lý gọi là “Gene”, tế bào cực nhỏ có ảnh hưởng đến cấu trúc của cơ thể con người mà họ tìm thấy trong tinh trùng của người cha truyền cho con. Tế bào cực nhỏ này có ảnh hưởng đến tuổi thọ, sức khỏe, thông minh con người; tuy nhiên về tinh thần phức tạp, không thể chứng minh cụ thể, và không thể xác nhận rõ ràng như về thể chất.
Thành ra, giải thích về hiện tượng lý hóa chỉ đúng một phần về thể chất chứ không đúng hẳn, còn về tinh thần lại càng mù mịt không rõ rang, vì sao? Vì nhà Khoa học không thể giải thích được trường hợp hai trẻ sinh đôi có cùng một thứ gene của cha mẹ, cùng một môi trường như nhau, dù giống nhau nhưng vẫn có điểm khác nhau; nhất là tính nết mỗi đứa trẻ một khác nhau, tại sao thế? Ngay cả: khi cha hoặc mẹ có một bệnh kinh niên nào đó, khi sinh con hoàn toàn khỏe mạnh không có bệnh ấy, Khoa học không giải thích được.
Về truyền thống gia đình không thể giải thích được sự khác biệt tính nết giữa các người trong gia đình nhiều khi trái ngược nhau, cũng không giải thích được do đâu có những thần đồng, vĩ nhân, mà người trong gia đình của thần đồng vĩ nhân không có, kể cả các thế hệ trước hay thế hệ sau cũng không có đặc tính thần đồng vĩ nhân ấy; vì vậy thuyết truyền thống cũng không đứng vững.

5). Thuyết Nghiệp báo của Phật giáo

Rất may có thuyết “nghiệp báo nhân quả” của Phật giáo giải thích từng chi tiết tỷ mỉ qua qúa trình nhiều kiếp liên tiếp. Luật nghiệp báo nhân quả là một chân lý của sự thật, nó tương đương với chân lý về khổ, chân lý về vô thường; tuy nhiên nó thuộc lãnh vực cao hơn, phức tạp hơn, mà ai hiểu được, thấy được, người này có đủ chính kiến để sống an vui.
Đức Phật không công nhận thuyết cho rằng có một vị Chủ tể duy nhất toàn trí toàn năng tối thượng, Phật giáo bác bỏ quan điểm cho rằng có một linh hồn trường cửu được tạo nên bởi sự ngẫu nhiên và độc đoán. Phật giáo nêu lên định luật chân lý thiên nhiên, không phải là một đấng Thượng Đế toàn năng hay một đức Phật toàn năng tạo nên; theo định luật chân lý thiên nhiên thì mỗi hành động đều gây nên một phản ứng tương xứng, mà người đời lầm tưởng là một sự ban ơn hay trừng phạt.
Phật giáo bác bỏ thuyết ngẫu nhiên may rủi, và chỉ công nhận một phần thuyết về truyền thống và giới thân cận giáo hóa của khoa học mà thôi; Phật giáo bổ khuyết cho sự thiếu sót bằng luật nghiệp báo nhân quả, tức là tổng hợp hết các hành động của một người trong qúa khứ và hiện tại. Chính ta phải chịu trách nhiệm về những hành động của ta mà được an vui hay đau khổ. Chính ta tạo thiên đường hay địa ngục cho ta, chính ta tạo tương lai cho ta. Không ai có thể quyết định được tương lai của ta qua các hành vi tạo tác.
Thời Phật còn tại thế, một hôm có một thanh niên đến hỏi Ngài về sự khác biệt giữa người nọ và người kia, đức Phật trả lời: “Tất cả mọi người đều mang theo cái nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa. Chính vì cái nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác, nên mới có sự khác biệt giữa người nọ và người kia”.
Do sự khác biệt giữa các nghiệp của mỗi chúng sinh, nên người sống thọ kẻ chết yểu, người giàu sang kẻ nghèo khổ, người đẹp đẽ thông minh kẻ xấu xí đần độn, người được tôn trọng kẻ bị khinh khi, người có quyền cao sai bảo kẻ phải hầu hạ vâng làm v.v…
Chính do nghiệp chuyển mà chúng sanh luân chuyển tồn tại không ngừng trong sáu cõi. Do nghiệp chuyển mà chúng sinh được tôn vinh sung sướng hay bị chê bai khổ sở. Do nghiệp chuyển chúng sinh vướng mắc cấu hợp với nhau, xoay vần như bánh xe quay mãi mãi.

VII). Nghiệp chuyển nên tái sinh.

Theo khoa học, con người do cha mẹ sinh ra, nên trước đời sống có đời sống, nhưng khoa học không thể giải thích người đầu tiên ở đâu ra; đối với Phật giáo chủ trương thời gian “vô thủy vô chung” (không có khởi đầu, cũng không có sau cùng), về không gian “vô biên” (không gian vô tận, không có biên giới). Chúng sinh như những dây chuỗi vô tận, chính do hành động tạo nghiệp của ta trong quá khứ tạo điều kiện tái sinh; chính thần thức mang theo nghiệp gá vào tinh cha huyết (trứng) mẹ, nên có nguồn sống cho bào thai. Chính nghiệp lực vô hình từ quá khứ là hiện tượng tâm linh tạo cơ hội cho “tế bào mầm” nẩy nở phát triển khi đủ nhân duyên; nó là chủng tử là mầm sống, đừng hiểu lầm đây là linh hồn bất tử, tại sao? Vì nếu là linh hồn bất tử, nó có quyền lựa chọn chỗ tốt mà đến, không thèm lựa chỗ nghèo nàn khổ sở; còn thần thức do nghiệp đưa đẩy không có quyền lựa chọn, mà tùy nghiệp thiện ác đã làm mà phải đến nơi tương ưng lành dữ.
Sự sinh tử luân hồi giống như quả đất quay quanh mặt trời, lúc mặt trời lặn ở phiá Tây châu Mỹ, là lúc mặt trời mọc ở phiá Đông châu Á. Nghĩa là một người vừa tắt thở, sẽ có một chúng sinh khác ra đời; nó cũng giống như làn sóng nhấp nhô trên biển cả, khi chết mất sóng, khi sinh sóng nhô lên. Vô số chúng sinh chết đi sinh ra nhấp nhô như sóng biển, sinh tử, tử sinh của kiếp sống luân hồi mãi mãi như thế; chỉ khi nào ái dục bị cắt đứt hoàn toàn, vô minh sạch hết mới không còn tái sinh nữa mà vào Niết Bàn an vui đời đời; tái sinh ở đây bao gồm cả sáu cõi chứ không chỉ một cõi Người mà thôi.

1). Do đâu tin có tái sinh?

Nghiệp: tác động tạo điều kiện để tái sinh, nghiệp qúa khứ tạo điều kiện tái sinh kiếp này, nghiệp qúa khứ và nghiệp kiếp này tạo điều kiện tái sinh kiếp sau; khi đang thọ quả ta lại tạo nhân, do đó nhân quả còn mãi mãi.
Trong các Kinh đức Phật nói rất nhiều về các kiếp của chính Ngài và nhiều người khác, nếu chúng ta đọc Kinh sách của Phật giáo sẽ thấy chuyện tái sinh đầy rẫy rất nhiều; theo dõi báo chí thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy nêu lên chuyện có người nhớ được tiền kiếp của mình. Thiết tưởng chuyện tái sinh hầu như trên thế giới ngày nay coi như chuyện bình thường, không còn mấy người ngạc nhiên hay thắc mắc nữa.
Bác Sĩ Edgar Casey tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ thứ 20 mà nhiều người đã biết, Ông chuyên bắt mạch định bệnh bằng thiền định và dùng mắt thần để nhìn các kiếp trước của bệnh nhân, mà người ta gọi là dùng “thôi miên” để nhìn xem người bệnh đã trải qua các kiếp trước như thế nào để định bệnh cho bệnh nhân và chữa trị trong mấy chục nghìn trường hợp, mà hiện hồ sơ còn được lưu giữ.
Bác sĩ Edgar Casey có dùng thuốc chữa trị cho bệnh nhân, nhưng rất ít. Ông thường bảo bệnh nhân tu sửa lối sống, tu sửa nội tâm, và làm việc thiện để tự chữa bệnh. Những bệnh nhân tin tưởng làm theo đều có kết quả cụ thể. Nhưng có những trường hợp ông cho biết bệnh không thể hết vì nghiệp qúa nặng, không thể cứu vãn dù có gia tăng phúc đức hiện tại cũng chỉ được hưởng ở kiếp sau, chứ kiếp này không thể làm gì hơn được nữa. Cũng như quả ác đã chín mùi rồi phải lĩnh thụ đền trả nghiệp xưa.
Không thể giải thích hiện tượng thần đồng, nếu ta không giải thích bằng nghiệp báo tái sinh luân hồi của một em bé mới hai ba tuổi đã nói được nhiều thứ tiếng ngoại quốc. Chỉ có thể giải thích rằng em bé kiếp trước đã là người được học nói nhiều thứ tiếng ngoại quốc mà thôi.

2). Những trường hợp gây nghiệp xấu:


(Còn Tiêp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Nov 1 2014, 04:06 AM
Gửi vào: #162


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



Nghiệp báo nhân quả

(Tiếp theo)
Toàn Không


2). Những trường hợp gây nghiệp xấu:

Như đã nói ở trên về các nghiệp ác, chúng ta xét thêm vài trường hợp đặc biệt gây nghiệp xấu như:

1- Hứa hẹn: Hứa hẹn mà không giữ lời hứa, kiếp sau sẽ bị người hứa hão lại, buôn bán gì cũng thất bại; vậy kiếp này chúng ta hãy tập giữ lời hứa, cố ghi nhớ lời hứa. Vì hứa là làm cho người hy vọng vào ta, rồi không làm theo lời hứa, tức là làm cho người thất vọng buồn rầu; hơn nữa, ta nên làm gấp hai gấp ba lời hứa, thì nghiệp báo đời sau sẽ gấp lên hai ba chục lần, vô cùng tốt đẹp.

2- Phỉ báng: Phỉ báng, nói xấu, hay nhục mạ người khác đưa đến kiếp sau làm người thấp hèn, mắc bệnh lở lói hôi hám xấu xa. Nếu phỉ báng bậc Thánh tội đọa Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh; khi được trở lại làm người là người bị một trong bệnh tật: méo miệng, sứt môi, câm, ngọng, cùi hủi. Muốn tránh những quả báo ấy, chúng ta nên hướng tâm về Chư Phật và Chư Bồ Tát khởi lên niềm tôn kính vô biên, chúng ta cũng nên có tâm thương yêu kính trọng mọi người; ngoài ra đối với mọi loài, chúng ta cũng trải lòng thương vô bờ bến, phúc đức dần dần sẽ tới với chúng ta vô lượng vậy.

3)- Nhiệp quả tái sinh có thể giải thích:
Thuyết nhân qủa nghiệp báo và tái sinh có thể giải thích:
- Sự khác biệt giữa người nọ và người kia.
- Sự xuất hiện của thần đồng và vĩ nhân.
- Hai trẻ sinh đôi có cá tính khác biệt.
- Trẻ con tự nhiên có tật xấu như tham, sân, si v.v…
- Tại sao mỗi người đều có tính xấu và tính tốt.
- Tại sao có người sung sướng, có người đau khổ …

VIII). Hóa giải nghiệp xấu:

Một số người lầm tưởng chỉ cần tu thiền định hay niệm Phật, không cần để ý đến mười điều lành (là ba điều về thân, bốn đều về miệng, và ba điều về ý) phải thực hành, hay giữ năm giới. Nếu không giữ gìn sẽ không dễ dàng yên ổn để tu Thiền hay Tịnh, mà bị các nghiệp quấy phá như nghèo túng phải làm việc cực nhọc, bệnh hoạn, ngứa ngáy, buồn ngủ, tê chân ngồi thiền không được v.v… và bị sống trong không tiện lợi cho việc tu hành. Ngoài việc giữ giới, hóa giải nghiệp xấu còn có:

1). Làm các việc phúc đức: Như:

1- Bố thí với tâm trong sạch, không ganh tị, không khoe khoang hẹp hòi; bố thí thể hiện chân thật của tình thương, không ở miệng lưỡi, mà ở cử chỉ và hành động.
2- Phóng sinh chim, cá, ốc, cua, tôm, sò, hến, v.v… hóa giải ngục tù, hóa giải mạng sống đang bị đe dọa bởi bệnh nan y. Người không nghiệp sát sinh, mà phóng sinh được hưởng sự bình an lại sống thọ, không bị bức bách bởi bệnh khổ.
3- In Kinh sách Phật hoặc góp phần in Kinh sách Phật sẽ tạo công đức rất lớn lao.
4- Đã có vị Thầy chữa bệnh nan y bằng cách yêu cầu bệnh nhân viết mười điều lành trên mười tờ giấy, rồi bệnh nhân đưa cho mười người thân hữu, mỗi người cũng làm tương tự như thế để có 100 người thực hành mười điều lành để hồi hướng công đức làm lành ấy cho người bệnh. Người bệnh đã giải trừ được bệnh nan y do nghiệp ác gây ra, và còn có lợi về lâu về dài của 100 người ấy nữa.

2)- Duyên hỗ trợ và duyên cản trở nghiệp:

1- Duyên hỗ trợ: Làm cho nghiệp qủa dễ sinh, thuận lợi cho quả trổ. Như sinh vào gia đình giàu có tiền của làm cho quả lành dễ phát sinh, vì được ăn học nên đỗ đạt hiển vinh v v…
2- Duyên cản trở: Làm cho nghiệp báo không phát ra được. Như sinh vào gia đình nghèo quả lành không phát sinh được, vì không tiền ăn học, nên không đỗ đạt hiển vinh, khó giàu có được v.v…
Dung mạo cũng là yếu tố quan trọng làm cho một người thành công hay thất bại, một người đẹp đẽ tuy nghèo nhưng vẫn được cảm tình của những người khác; ngược lại một người xấu dễ gây ác cảm với người đối diện.
Dù không hoàn toàn lệ thuộc nghiệp, nhưng ta cũng không hoàn toàn làm chủ được mình; những yếu tố trợ duyên hay phản duyên sẽ ảnh hưởng đến nghiệp do sự tái sinh. Do nghiệp hỗ trợ hay nghiệp cản trở, mà có thể một người làm ác khi chết sinh vào chỗ tốt lành, một người làm thiện khi chết sinh vào chỗ dữ. Khi gặp sự gì xảy đến, chúng ta phải nhận định rằng mình đang gặt quả mà mình đã gieo, đang hưởng hay trả nợ trong qúa khứ; nhưng chúng ta không nên hưởng hết phúc cũ mà phải tạo thêm phúc mới; chúng ta cũng phải cố gắng diệt trừ nợ xấu bằng cách gieo giống tốt để có tương lai tốt đẹp.

IX). Nghiệp không giống định mệnh:

Nguyên nhân sự chênh lệch khác biệt giữa người này và người kia là do nghiệp, nhưng không phải hoàn toàn như vậy. Nếu tạo nghiệp gì phải chịu quả ấy cũng giống như thuyết “định mệnh an bài”, mọi sự đã được định sẵn, có sẵn số phận, không thể thay đổi được. Tất cả phải tuân theo, tất cả phải gánh chịu theo “số mệnh”, không một ai được tự mình cải thiện đời sống hiện tại và tương lai của mình.
Nếu tin vào một vị Chủ tể có toàn quyền định đoạt số phận của ta, và ta phải tuân theo, cũng giống như tin rằng Nghiệp tạo ra số phận của ta, ta phải tuân theo không thể chống cãi lại được; tuy nhiên thuyết nghiệp báo nhân quả của Phật giáo không phải với ý nghiã cứng ngắc như thế. Tại sao? Vì tùy vào nhân duyên liên quan để phát triển nhân quả như sau:
1- Môi trường: Nhân duyên liên quan đến môi trường như thời tiết nóng lạnh, nắng mưa, bão tuyết v.v…
2- Vật thể: Nhân duyên liên quan đến vật thể là giống nào có dòng ấy như hột lúa sinh cây lúa, hột cam sinh cây cam v.v…, việc này liên quan tới tế bào cực nhỏ (gene) mà các nhà khoa học đã khám phá ra.
3- Hành động: Nhân duyên liên quan đến hành động thiện hoặc ác đưa đến quả báo lành hoặc dữ. Đây là luật tự nhiên, chứ không phải là thưởng hay phạt, mà nhiều người lầm tưởng có bàn tay của một vị Tối cao.
4- Hấp lực: Nhân duyên liên quan đến hấp lực trong vũ trụ, sức hút của mặt trời, trái đất, mặt trăng v.v… hấp lực trong vũ trụ ảnh hưởng đến mọi vật mọi hiện tượng.
5- Tâm thức: Nhân duyên liên quan đến tâm thức như thần giao cách cảm, tâm lực, huệ nhãn, huệ nhĩ, tha tâm thông v.v… mà khoa học chưa giải thích được.
Do năm nguyên tắc trên, Phật giáo có thể giải thích tất cả các hiện tượng vật lý, sinh lý, và tâm lý trong vũ trụ. Năm nguyên tắc trên không do một oai lực thiêng liêng nào tạo nên cả.
Đúng là làm thiện hưởng quả lành, làm ác hưởng quả dữ, nhưng không hẳn đúng là như vậy; nếu ta biết rằng ta đã làm ác, và ta cố ý tạo việc thiện khác để hóa giải làm dịu nghiệp lực ác; chúng ta có đủ năng lực để chuyển cái nghiệp ác thành vô hiệu, nhiều hay ít là tùy ta làm được nhiều hay ít việc thiện. Nó tùy thuộc ở ta và hành động thiện của ta, do đó ta sẽ không bị nghiệp trói buộc như “định mệnh, số phận an bài”, hay “tiền định” do một oai lực huyền bí định đoạt mà ta không thể sửa đổi được
Ta phải đặt tất cả lòng tin nơi ta, tạo an vui cho ta và cho tất cả. Tin tưởng sự tinh tấn nơi ta, không đặt lòng tin nơi nào khác, vì chỉ có ta mới mang lại hạnh phúc cho ta mà thôi. Chính ta là người xây dựng hay phá đổ tương lai của ta, chính ta tạo thiên đường cho ta, và cũng chính ta tạo địa ngục cho ta, hoàn toàn tùy thuộc nơi ta; chính những ý nghĩ, lời nói, việc làm của ta đưa đến nghiệp quả tốt xấu cho tương lai của ta.
Bởi vậy sự cố gắng làm lành tránh làm ác của mỗi người là quan trọng hơn cả, vì ta có thể tạo nghiệp tốt để chuyển đổi nghiệp cũ xấu, tạo hoàn cảnh mới thuận tiện; khi có hoàn cảnh để trợ duyên mà không cố gắng, tức bỏ lỡ cơ hội, lúc quả dữ tới dịp phát tác là ta mất cơ hội tốt rồi.

X). Kết luận về nghiệp quả.

Nghiệp báo nhân quả là con đường vô hình, không thấy, nên nhiều người không tin. Đúng, vì chúng ta không mắt thấy tai nghe, và chỉ khi nào mắt thấy tai nghe chúng ta mới tin. Nhưng, qua lịch sử đã chứng minh, có những sự mắt thấy rõ ràng mà lại sai lầm. Như hồi thế kỷ thứ mười sáu tại Âu châu, người ta thấy rõ ràng mặt trời và tất cả tinh tú quay quanh trái đất. Mặt đất trông như một mặt phẳng, nên mọi người bảo là chỗ chúng ta ở là trung tâm vũ trụ, tất cả mặt trời, mặt trăng, và các tinh tú có nhiệm vụ xoay vòng chung quanh nó v.v…Vì vấn đề này, nên đã làm khổ một số người, trong đó có các nhà khoa học vì đã nói rằng: “Không phải như thế, mà quả đất quay quanh mặt trời”. Nhưng họ cho rằng đó là lời của “tà giáo dị giáo”, vì không đúng với mắt họ thấy và nhất là đi ngược lại Kinh sách của họ; phải đợi mãi vài trăm năm về sau mọi người mới tin các nhà khoa học đúng, thì đã lỡ muộn mất rồi!
Đây là vật chất, vật thể, nhìn thấy được, mà còn nhìn sai, huống là vô hình không thấy như nghiệp báo nhân quả; nhưng chúng ta yên tâm tin tưởng vì đã nói ra bởi đức Phật, một bậc toàn giác, biết tất cả sự thật trong vũ trụ; lại nữa biết bao nhiêu trường hợp của những người nhớ được kiếp trước nên đã chứng minh nghiệp báo nhân quả tái sinh là có thật.
Một vấn đề được đặt ra, đó là có người cả đời hiền lành lại hay bị tai ương, đời sống ngắn ngủi, như bị tai nạn, nước, lửa, thiên tai, hay bệnh rồi phải qua đời, tại sao? Vì nghiệp qúa khứ thường do từ sát sinh, qúa nặng. Đáng lẽ phải trả trong ác đạo, nhưng vì một nghiệp thiện nào đó người này đã không bị đọa vào cõi dữ, và đời này ăn ở đạo đức nhưng vẫn bị tai ương chết yểu. Đó là do nghiệp nặng cũ hoành hành, nếu người ấy không ăn hiền ở lành, còn bị nặng hơn nữa. Nhờ có đạo đức nên đã vơi đi phần nào, và kiếp sau sẽ được giàu sang tốt đẹp hơn; còn kẻ làm ác lại nhởn nhơ khỏe mạnh giàu có, vì họ hưởng phúc từ đời trước; đã hưởng hết phúc lại tạo ác, đời sau chắc chắn họ sẽ phải sống đời tương ưng trong khổ sở; vì vấn đề phức tạp này của nghiệp báo nhân quả, mà nhiều không hiểu, không tin.
Trong một nước, người đứng đầu rất quan trọng, cũng như một đàn trâu rừng, con đầu đàn hướng dẫn đàn trâu lội qua một khúc sông khúc suối. Nếu nó biết lựa chọn, nó quan sát kỹ càng lựa chỗ tốt để dẫn cả đàn trâu qua một cách êm xuôi dễ dàng. Nếu nó không biết quan sát lựa chọn, nó sẽ dẫn đàn trâu vào nguy hiểm như bị nước cuốn, ghềnh đá mấp mô, hoặc gặp đàn cá sấu giết hại ăn thịt. Người đứng đầu một nước, một vùng, một khu cũng vậy, phải đủ đức tính của một người lãnh đạo như thông minh, biết nhiều, khỏe mạnh, đạo đức; lại biết thương dân, vì dân, công bằng, liêm chính, biết dùng người tài giỏi trong mỗi ngành chuyên môn v.v….Người lãnh đạo còn phải sống gương mẫu cho người dân bắt chước sống theo, từ thái độ sống của người dân sẽ ảnh hưởng đến đời sống vui khổ của họ.
Tóm lại, đức Phật dạy:
“Nếu nói: “Người nào làm nghiệp gì phải chịu quả báo cố định như thế”, nếu sự kiện đúng như vậy thì không có sự tu hành, không có cơ hội để đoạn diệt đau khổ.
Nếu “Người gây nghiệp thế nào tức là có tội thế ấy”, nếu như vậy thì có sự tu hành, có cơ hội để diệt đau khổ; ở đây, có người không tu tập về thân, về giới, về tâm, vị kỷ (vì mình), nhỏ nhen; người như vậy, dù có làm nghiệp ác nhỏ cũng đủ đưa vào Địa ngục.
Còn người có tu tập về thân, về giới, về tuệ, không vị kỷ, không nhỏ nhen; người như vậy dù có làm việc ác nhỏ tương tự, ngay trong hiện tại, một chút khổ báo cũng không có, huống là nói nhiều ư?
Ví như bỏ một nắm muối vào một bát nước nhỏ, nước đó sẽ mặn, còn bỏ nắm muối vào một dòng sông, nước sông không thể mặn được; sự kiện là như vậy, có tu hành là có cơ hội diệt khổ”.
Nhân quả nghiệp báo là có, nhưng nếu tu hành giữ giới làm lành tránh ác, nghiệp ác sẽ rửa được; cho tới khi tu hành đắc đạo, nghiệp báo sẽ hết luôn; mọi người từ vô thủy tới giờ đã tạo biết bao nhiêu tội lỗi, gây biết bao nhiêu nghiệp chồng chất. Vì thế cho nên, kể từ ngày hôm nay ta bắt đầu làm nhiều việc thiện, giữ giới trong sạch từ thân miệng ý đều phải kiểm soát trong mỗi ngôn ngữ cử chỉ hành động; đó là ta bắt đầu tích chứa đầy nước công đức trong một dòng sông, dù nghiệp ác cũ có nhiều nặng như cả tấn muối cũng không thể làm mặn một dòng sông đầy nước công đức.
Nghiệp báo nhân quả là căn bản cho đời sống con người. Nếu mọi xã hội đều được giảng dạy môn “Nghiệp báo nhân quả”, nó bao gồm cả “Đạo đức học” và “Xã hội học”. Chúng ta: không còn phải giáo huấn các tù nhân, chỉ còn ít người phạm pháp, không cần nhiều nhà tù, không cần nhiều người trông coi gìn giữ trật tự nữa v.v…, vì các thế hệ trẻ hiểu được luật nghiệp báo nhân quả rồi sẽ cố gắng làm lành tránh ác. Dần dần tới khi mọi người đều hiểu được sự lợi ích của làm thiện, và sự tai hại của việc làm ác, sẽ đều làm mười điều lành một cách tự nguyện tự giác; lúc bấy giờ thế giới này sẽ là thế giới an lạc vậy.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Nov 8 2014, 02:46 AM
Gửi vào: #163


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĂN CHAY

Toàn Không


Ăn chay là ăn các loại hạt như gạo, mì, mạch, ngô, các loại hoa lá cây, các loại rau đậu, các loại củ qủa. Ăn chay là không ăn những món ăn thuộc các loài động vật, từ to lớn tới các loài nhỏ bé, như trâu bò lợn gà cá tôm cua sò ốc v.v… Vì tất cả các loài đều là hữu tình, biết thích sống sợ chết cũng như con người, như khi ta bắt bất cứ một con vật nào chúng đều tìm cách chạy trốn, khi ta giết bất cứ con vật nào chúng đều sợ hãi, kêu la, dẫy dụa v.v…
Ăn chay không phải là đổi món ăn cho ngon miệng, cũng không phải là cách ăn kiêng cữ do Bác sĩ, thầy thuốc dặn bảo, mà là một cách tu hành.
Đức Phật có lần nói: “Sự sống sống bằng sự chết” nghĩa là ta giết chết các chúng sanh khác để ăn cho ta được sống khỏe, vì sự sống của ta mà có sự chết của các loài khác.
Hãy suy nghĩ thử xem, từ khi sinh ra, lớn lên đến giờ, để được sống mỗi người đã làm chết biết bao nhiêu sinh vật? Lúc còn bé tuy chưa biết ăn, nhưng ta bú sữa mẹ, mà sữa mẹ là do đã ăn các sinh vật cùng cơm gạo tạo thành, rồi ta ăn cơm gạo cùng thịt cá từ bé đến bây giờ đã gây tang tóc cho biết bao sinh vật. Đó là chưa nói tới những kẻ không có lương tâm giết để thích thú như đi săn đi câu, giết để được tiền tài, danh vọng v.v…
Tại sao ta phải giết chết chúng sanh khác để ăn trong khi ta không cần giết các sinh vật vẫn có cái cho ta ăn, đầy rẫy thảo mộc cho ta ăn, lại giữ được sức khỏe cho ta? Có phải “vì ta” một cách bất công qúa đáng, nên ta mới thờ ơ không cần biết tới sự khổ chết của các sinh vật?
Nếu sự sống của con người không làm chết các sinh vật khác, mà ta vẫn sống, cuộc đời đẹp đẽ biết bao.

1). Lý do nào con người giết sinh vật để ăn?

Từ thuở tái lập địa, loài người được sinh ra đầu tiên, rồi các thứ nấm xuất hiện, sau đó các loại cây có hạt, tới cỏ cây, và sau tới các sinh vật hiện diện trên thế gian này (xin xem quyển Nguồn Gốc Loài Người cùng tên tác giả). Lúc đầu, loài người chỉ ăn các loại nấm, hạt, hoa, lá, củ, quả, cây, nghĩa là chỉ ăn thức ăn bằng thực vật mà thôi, nhưng dần dần con người ăn thịt cá là do:

1- Bắt chước các loài dã thú ăn thịt:
Khi súc sinh xuất hiện, có những loài ăn thịt, con người thấy các loài ấy ăn thịt, cá, nên bắt chước ăn.
2- Các thức ăn bằng thực vật khan hiếm:
Khi các thức ăn bằng thực vật khan hiếm, không đủ cho con người ăn, nên đã ăn các loài động vật.
3- Có cảm tưởng khỏe mạnh khi ăn thịt:
Khi con người ăn thịt các loài động vật, họ cảm thấy khỏe mạnh, mặc dù họ chưa ý thức được sự sai trái trong vấn đề gây nghiệp, và chưa biết những tai hại lâu dài của nó cho sức khỏe như các nhà Khoa học đã khám phá ra.
Bởi vậy, ngày nay với đà văn minh của con người, chúng ta đã hiểu mọi vấn đề, với kỹ thuật trồng trọt tân tiến, có đủ các loại hạt và thảo mộc cho chúng ta ăn. Lại được đức Phật khai thị cho ta đường ngay lẽ phải, được các nhà Khoa học thí nghiệm, phân tích tỉ mỉ lợi của ăn chay và hại của ăn thịt như thế, thiết tưởng chúng ta không nên giữ tà kiến ăn thịt ấy nữa.

2). Ăn chay thể hiện lòng từ bi bình đẳng:

1- Ăn chay thể hiện lòng từ bi:
Nếu người Phật tử không có lòng thương xót trước cảnh giết chóc, hạt giống từ bi mỗi ngày cạn dần. Ngày xưa, đức Phật đã nói: “Nếu còn ăn chúng sanh thì còn phạm giới sát sinh, dù trực tiếp hay gián tiếp cũng làm ung thối hạt giống từ bi bình đẳng, không thể tu hành thành Phật được”.
Người Phật tử không vì lý do gì mà không thực hành công đức từ bi trong đời sống của mình từ ý nghĩ đến ăn uống. Nếu vì muốn sướng miệng mà nhẫn tâm nhìn cảnh chặt đầu moi ruột, đập chết lột da những con vật hiền lành vô tội; nhẫn tâm bịt mắt làm ngơ, giả điếc không nghe tiếng những con vật kêu la thảm thiết, giãy chết trước những bàn tay tử thần của con người, sao gọi được là người Phật tử?
2 - Ăn chay thể hiện lòng bình đẳng:
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh như nhau, ta không nên phân biệt người và vật khác nhau, các loài vật đều có tri giác, cũng có sự thông minh về một phương diện nào đó, chỉ là mang thân hình súc vật mà phải như thế. Con người khi đầu thai làm các loài ấy cũng như vậy không hơn không kém, khi súc vật sinh trở thành người cũng là người như mọi người. Có người chủ trương rằng: “Trời sinh ra sinh vật là để phục vụ con người, con người có toàn quyền hành hạ giết bỏ hay làm món ăn v.v…” Chủ trương hành động này là không có lòng từ bi bình đẳng, người có ý nghĩ hành động ác sẽ tạo nghiệp xấu. Quan niệm “Vật dưỡng nhân”, vật nuôi người, rất sai lầm vì bảo thủ cái “ta”, ích kỉ ngạo mạn, gây bất bình đẳng, không có lòng nhân từ giữa người và vật, là vô minh

3). Ăn chay tránh nghiệp báo bệnh tật:

1- Ăn chay tránh nghiệp báo:
Ăn thịt nợ thịt, giết mạng đền mạng không thể tránh được ở kiếp sau, Đức Phật dạy trong Kinh Lăng Nghiêm: “Hễ giết mạng phải trả mạng, tâm giết hại chẳng dứt trừ không thể nào ra khỏi khổ não được”.
Có người nói: “Cỏ cây cũng có đời sống, tại sao ta không nên giết hại các sinh vật mà lại giết hại cây cối được?”. Đúng, cây cỏ cũng có đời sống, nhưng cây cỏ không có cảm giác, không có ý thức muốn sống, sợ chết, đau khổ, sợ hãi, vui buồn như các sinh vật. Con người là một sinh vật có tri thức cao, được đánh giá cao hơn các loài sinh vật. Vì vậy việc gây nghiệp sát sinh con người nặng hơn đối với nghiệp sát sinh súc vật là vậy. Vì cỏ cây không có cảm giác tri giác, nên việc cắt cây cỏ không gây sợ hãi đau khổ cho cây cỏ, do đó Phật nói ăn hoa, lá, củ, quả của cây không gây nghiệp báo.
Một câu hỏi đặt ra: “Khi một người bị bệnh do vi trùng gây ra, nếu dùng thuốc diệt trừ vi trùng, Bác Sĩ cho toa trị bệnh và người uống thuốc có gây nghiệp giết sinh vật hay không? Trước hết, giết sinh vật lớn gây nghiệp lớn, giết sinh vật nhỏ gây nghiệp nhỏ, nhưng Bác sĩ có bao nhiêu phước đức cứu người. Cái phúc đúc cứu người có dư thừa để trả cho nghiệp giết hại vi trùng nhỏ bé. Bệnh nhân nghe lời Bác sĩ uống thuốc để giết vi trùng, đây chỉ là tòng phạm không phải chính phạm nên tội rất nhẹ. Do đó cả Bác sĩ và bệnh nhân đều không mang nghiệp đúng với ý nghiã của nó.

2 - Ăn chay tránh bệnh tật:
Các nhà khoa học nghiên cứu chất dinh dưỡng đều đồng ý: Không chỉ trong thịt cá mới có chất dinh dưỡng, mà trong các loại rau đậu củ qủa cũng có đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người, và đều đồng ý rằng trong các chất thịt tôm cua v.v… là nguồn gốc gây ra bệnh như bệnh cao mỡ, bệnh áp huyết cao, bệnh dị ứng, bệnh tim mạch, bệnh ung thư v.v… Vì vấn đề ăn mà con người tự tạo bệnh cho mình mà chẳng hay biết, một bằng chứng là rau đậu và các loại thực vật để lâu thì héo úa, ung thiu ít mùi hôi. Còn thịt cá để lâu thành bầm thối sinh ròi bọ, mùi hôi tanh thối tha nồng nặc chịu không nổi. Ăn rau đậu hoa qủa, trong người cảm thấy nhẹ nhàng thơm tho, còn ăn thịt cá thấy hôi tanh và cơ thể nặng nề. Cũng vì thế mà khi nấu nướng người ta thường cho gia vị để làm át mùi tanh hôi của thịt cá đi mà ai cũng nhận biết sự thật là như thế.
Khi các con vật có bệnh nọ bệnh kia mà ta không biết, rủi ăn thịt các con vật ấy, sẽ mang bệnh vào người. Ngoài ra, lúc các con vật bị giết thường rất tức giận kêu la phản đối, nhất là các con vật to lớn, trong khi tức giận, nó tiết ra một chất độc, chất độc này ở trong máu và các thớ thịt của nó. Ăn thịt ấy sẽ bị nhiễm độc, nếu chất độc hay bệnh của con vật chưa đủ sức phát tác trong cơ thể ta, chất độc hay bệnh ấy sẽ tồn đọng lại đó chờ khi đầy đủ nhân duyên sẽ phát sinh tấn công một bộ phận nào yếu nhất trong người, lúc ấy khó mà cứu chữa!. Các Bác sĩ Soteyko và Varia Kiplami nói: “Trong các thứ thịt có nhiều chất độc có hại cho sức khỏe con người”.
Người có thành kiến sai lầm tưởng rằng chỉ có thịt cá mới đủ chất đạm cho sức khỏe con người, thật ra người ăn thịt cá không có sức chịu đựng dẻo dai bằng người ăn chay. Irwin Fisher, Giáo sư đại học Yale Hoa Kỳ sau nhiều năm nghiên cứu thí nghiệm đã tuyên bố: “Ăn thịt hay ăn những sinh vật có nhiều chất đạm, sẽ làm cho con người không đủ sức chịu nhọc, không khác nào như người uống rượu tưởng là mạnh, nhưng thực ra rất yếu”. Một Khoa học gia tên White tuyên bố: “Các thứ bột, trái cây, đậu, rau cải là những thức ăn đầy rẫy mà thiên nhiên dành để nuôi sống chúng ta, các thứ ấy nấu nướng giản dị, rất hợp vệ sinh, lại bổ dưỡng. Nó làm cho thân thể chúng ta tráng kiện, tinh thần minh mẫn, lại tránh được bao nhiêu thứ bệnh tật”.
Một bằng chứng cho thấy một số động vật chỉ ăn cỏ hoặc lá cây, có thân hình thật to lớn lại khoẻ như voi, trâu, bò, ngựa, dê, v.v…, chúng chẳng bao giờ ăn thịt cá cả, tại sao chúng lại to lớn khoẻ mạnh như thế ?

4).Ăn chay hợp với cấu tạo con người

Con người cũng như muôn loài khi được sinh ra đều có những đặc thù riêng biệt cho mỗi loài. Cách cấu trúc để sinh tồn và hoạt động của mỗi loài cũng khác nhau, nhưng cũng có một số điểm cấu trúc trùng hợp tương đồng giữa loài này và loài kia. Chúng ta thử phân tích những điểm tương đồng và dị biệt giữa những loài ăn thịt và loài ăn cỏ, lá, hoa qủa và so sánh với loài người xem chúng giống và khác con người ở chỗ nào?
1 - Về cấu trúc của răng và móng:
Loài ăn thịt như sư tử, hổ (cọp), báo (beo), gấu, v.v…, các loài này có răng nanh rất dài, nhọn, và sắc. Tất cả các loại trên đều có móng chân rất cứng, cong, dài, nhọn, sắc. Khi dùng miệng cắn, móng vuốt chụp bắt trúng con mồi, con mồi khó mà thoát khỏi. Chúng dùng răng nanh cắn vào há ra, dùng móng vuốt để giữ, răng nanh cắn vào để lôi xé, và nuốt luôn không cần nhai vì chúng không có răng hàm bằng phẳng để nhai.
Còn loài ăn cỏ, lá như voi, bò, ngựa, dê, nai v.v… không có răng nanh và móng vuốt ghê gớm dữ tợn, chúng chỉ có răng hàm để nhai cỏ, lá, trước khi nuốt.
Đối với con người, ai cũng tự biết, răng móng của mình chẳng thể sánh được với loài hổ beo hùm sói kia, con người lại có hàm răng với ba mươi hai chiếc răng bằng phẳng trắng nõn đẹp đẽ như thế, chỉ có thể so sánh giống như các loài ăn cỏ lá, hoa qủa mà thôi.

2 - Về cấu trúc bộ phận tiêu hóa:
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Nov 14 2014, 03:16 AM
Gửi vào: #164


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĂN CHAY

(Tiếp theo)

Toàn Không


2 - Về cấu trúc bộ phận tiêu hóa:
Các nhà khoa học cho biết đường ruột của các loài sư tử, hổ, gấu, v.v. có đường ruột rất ngắn so với thân hình của chúng, đường ruột chỉ dài gấp ba thân hình, trong khi các loài ăn lá, cỏ, qủa có đường ruột dài gấp năm sáu lần.
Đường ruột của loài người cũng tương tự như các loài ăn lá, cỏ, có đường ruột rất dài . Vì sao có sự khác biệt về đường ruột dài ngắn này?
Các nhà khoa học giải thích rằng: “Ở các loài động vật cấu xé cắn nuốt thịt cá tức thời như thế, trong dạ dày bao tử của nó tiết ra rất nhiều chất acid để tiêu hóa, mà chất acid nằm lâu trong ruột sẽ hủy hoại ruột nên ruột của các loài ấy cần phải ngắn”
3- Tại sao con người có ruột dư? Về cấu trúc của con người còn có một điểm đặc biệt nữa là cái ruột dư, nó mọc ra nằm giữa ruột non và ruột già. Tại sao lại có khúc ruột thừa? Các nhà sinh vật học tin rằng ruột dư là vết tích từ tổ tiên thời tiền sử ăn h ạt, lá, qủa mà có.
Như thế, chúng ta thấy hàm răng và móng tay chân của chúng ta không giống các loài thú sài lang ăn thịt, trong khi cấu trúc đường ruột của chúng ta lại dài như thế, và chúng ta lại có cái ruột thừa nữa. Khi ăn thịt, chắc chắn khó tiêu vì trong dạ dày chúng ta không đủ chất acid để tiêu hóa, nếu có đủ chất acid, lại hại cho ruột vì chất acid nằm tại ruột qúa lâu, sẽ gây bệnh ở ruột. Lại nữa, trong thịt có chất độc mà ở phần trên đã nói, chất độc nằm qúa lâu ở ruột sẽ gây bệnh. Có lẽ những người bị bệnh ung thư đường tiêu hóa là do những nguyên nhân này chăng? Cũng có thể, một số người bị những chất độc do ăn thịt đã ngấm thâm nhập vào ruột dư, lâu ngày làm cho ung thối vỡ ra mà chết nếu không kịp thời mổ cắt bỏ đi. Chúng ta đã thấy rõ ràng cấu trúc cơ thể của con người là để ăn hoa, lá, hạt, củ, qủa, ăn chay, và biết rõ ràng sự tai hại của việc ăn thịt, chúng ta còn ngần ngại gì mà chưa chịu ăn chay?

5). Danh nhân Tây phương ăn chay:

Một số danh nhân thế giới đã kêu gọi mọi người ăn chay như sau:
01- Pythagorus: Hơn năm trăm năm trước Dương lịch, Pythagorus nhà triết học kiêm toán học người Hy Lạp, tác giả định luật về hình học. Ông là người kêu gọi ăn chay, đặc biệt chỉ thích ăn rau cải trắng. Người ta kể rằng, nhiều lần ông cho tiền ngư phủ với điều kiện thả cá xuống biển.
02- Platon (427- 347 BC): Giống như triết gia Socrate (470- 399 BC) tại thủ đô Hy Lạp ăn chay, triết gia Platon cùng là người ăn chay, đặc biệt không bao giờ mang giầy da, hoặc thắt lưng da. Ông cho rằng con người ham ăn thịt sẽ sinh thói bạo hành.
03- Jean jack Rousseau (1812-1887) nhà đại văn hào Pháp nhận xét: “Loài động vật ăn thịt hụng bạo hơn nhiều so với loài vật ăn cỏ”. Ông khuyên bậc cha mẹ phải hết sức tránh ”biến trẻ nhỏ thành những kẻ ăn thịt hung tàn”. Nhà tư tưởng này còn từng nhắc tới người Anh (Anglo Saxon) có thể được gọi là “tộc người ăn thịt”, vì họ rất khoái “kế thừa thói dã man còn rơi rớt lại của thời hồng hoang”.
04- Richard Wagner (1813-1883) đại nhạc gia người Đức tìm thấy ăn chay làm cho tinh thần con người ít tàn bạo nhất, để dễ dàng quay trở lại với thiên đường đã mất.
05- Leo Tol-Stoy (1828-1910) nhà đại văn hào người Nga viết cuốn “Chiến Tranh và Hòa Bình” nổi tiếng, có đóng thành phim, ông kêu gọi ăn chay và chủ nghĩa hòa bình, phản đối hành vi sát sinh, cho dù với con vật nhỏ bé như con ong, con kiến. Ông nói: “Hễ có lò sát sinh là có bãi chiến trường”.
06- George Bernard Shaw (1856- 1950) nhà viết kịch và phê bình người Anh, ăn chay từ năm 25 tuổi. Được hỏi tại sao ông trẻ mãi không già, ông trả lời bởi ông cảm thấy ghê sợ chán ghét cái cảm giác “thích thú tận hưởng sự sống bị sát hại của các loài vật”.
07- Gandhi (1869-1948) nhà lãnh đạo bất bạo lực Ấn Độ từ năm 19 tuổi đã ăn chay. Ông viết năm tác phẩm bàn về vấn đề này, ông viết: “Tôi ủng hộ quan điểm: ăn thịt không thích hợp với con người”. Ông cho rằng con người xuất phát từ suy xét luân lý cần phải ăn chay, ông viết: “Tôi tin rằng để nâng tinh thần con người tới tầng cao, nhất định chúng ta không thể tiếp tục tàn sát động vật anh em mình để thỏa mãn xác thịt của bản thân”
08- Albert Einstein (1879-1955) nhà Bác học vật lý người Đức lừng danh của thế kỷ thứ hai mươi cho rằng: “Không có cái gì có thể so sánh với chủ nghĩa ăn chay về mặt sức khỏe đối với con người, còn làm tăng thêm cơ hội sinh tồn cho các loài động vật trên qủa đất”
09- Leonardo Da Vinci (1452- 1519) Nhà Thơ kiêm Danh Họa người Ý viết bút ký: “Tôi từ lâu đã bỏ thói ăn thịt, vả lại tới một ngày nào đó người ta sẽ cấm chỉ sát sinh súc vật, cũng giống như hiện nay giết người là tội ác, pháp luật không dung tha”.
10- Triết gia Snéèque nói: “Mỗi bữa ăn, người ta dùng thịt là tự đầu độc, thành thử con người tự sát ngấm ngầm mà không hay biết, do đó con người bị mạng yểu”.

6). Chương trình ăn chay ra sao?

Ăn chay là điều cần thiết cho người Phật tử, nhưng không phải người nào cũng có thể bỏ ngay thói quen tập quán ăn thịt cá của mình để ăn chay. Vì thế có nhiều loại ăn chay, từ ít ngày dần dần tới nhiều ngày, sau cùng là ăn chay luôn, chia ra:
1- Ăn chay 1 hay 2 ngày mồng một và ngày rằm âm lịch mỗi tháng,
2- Ăn chay 4 ngày mồng một, mồng tám, ngày rằm và ngày hai mươi ba,
3- Ăn chay 6 ngày mồng một, mồng tám, mười bốn, rằm, hăm ba và ba mươi,
4- Ăn chay 10 ngày mồng một, mồng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi,
5- Ăn chay một tháng vào tháng giêng hay tháng bảy,
6- Ăn chay hai tháng vào tháng giêng và tháng bảy,
7- Ăn chay ba tháng vào tháng giêng, tháng bảy và tháng chín, hoặc ba tháng liền,
8- Ăn chay trường: Ăn chay mỗi ngày cho tới hết đời.

7). Cách ăn như thế nào?

1- Thay đổi thức ăn: Nên thay đổi thức ăn cho đỡ ngán, chọn thức ăn có nhiều chất bổ dưỡng như cà chua, các loại đậu, các loại nấm, các loại rau cải, các loại khoai củ, các loại bầu bí, các loại qủa trái, sữa v.v…tất cả có thể cùng ăn với cơm, bánh mì, bún; nếu thích gia vị cho thêm vào cho được đậm đà hơn.
2- Cách nấu thức ăn: Nếu không biết nấu sẽ mất chất bổ, làm hại bộ máy tiêu hóa, lại không ngon miệng. Không nên chiên xào nhiều qúa, dầu sôi tiêu diệt sinh tố B và C, chất dầu nhiều làm cho khó tiêu, chất dầu đun nóng qúa sẽ phân hóa là một trong những nguyên nhân của bệnh ung thư. Nên ăn đồ ăn nướng không thoa dầu, và đừng ăn đồ ăn nướng cháy (nhất là thịt các loài động vật), cũng là một trong những nguyên nhân của bệnh ung thư; khi nấu, luộc nên đậy nắp, không cho nước nhiều qúa, không nấu luộc rừ qúa, chỉ cần sôi lên là được đối với đa số loại rau như rau cải để tránh mất chất bổ dưỡng.
Trong những ngày còn ăn mặn, nên giảm dần số lượng thịt cá, tăng dần rau qủa, cũng không nên ăn các loại trứng đã có con như hột vịt hột gà lộn (có con).

Trước mỗi khi ăn nên niệm:
Tất cả đều ăn để sống còn,
Cám ơn tôi có bữa ăn ngon,
Do công khó nhọc làm ra đó,
Nguyện mọi chúng sinh được đủ no.

8). Khi ăn chay cần tránh điều gì?

1)- Không kiêu mạn vì sự ăn chay của mình, không háo danh vì được người khen ngợi.
2)- Không ăn đạm bạc sẽ làm cho hao mòn sức khỏe.
3)- Không làm thức ăn chay giả mặn, vô tình xúi dục nhắc nhở người ăn nhớ đến các món ăn mặn, làm trò cười cho thế gian, như bắp chuối luộc trộn muối vừng đậu phụng xay rau răm dầu giấm, không gọi là “nộm, gỏi” mà gọi là “gà xé phay”…
4)- Không nên dùng “ngũ vị tân” là năm thứ khi ăn vào sẽ kích thích dục vọng là hành, hẹ, tỏi, nén, cừ; không nên ăn trứng có trống.
5)- Không nên quên ngày ăn chay, nếu đã phát nguyện rồi nên ghi nhớ chuẩn bị sẵn sàng trong mọi trường hợp bất thường xảy ra.

9). Lợi ích của việc ăn chay:

Hiện tại, các thứ rau rẻ hơn thịt cá, nấu nướng mau chóng không cầu kỳ, trong nhà không có mùi hôi tanh của thịt cá, ăn chay hợp với cấu trúc con người, thể hiện lòng từ bi bình đẳng. Ăn chay làm cho thân thể thơm tho nhẹ nhàng, lại khỏe mạnh sáng suốt, ít bệnh tật, dễ tu thiền quán, đời sau không bị nghiệp qủa báo.
Kinh nghiệm nhiều người cho biết, sau khi ăn chay quen rồi, không thể nào ăn mặn được nữa vì mùi của thịt cá, cho dù có dùng gia vị khử mùi hôi tanh cũng vậy.
Các món ăn có đặc tính "Ðộng" như thịt, cá thường đem lại các kích thích hăng hái nhất thời, xác chết thú vật gồm nhiều nguyên tử nặng nề bởi các thú tính thấp hèn không thích hợp cho việc tu hành, thanh lọc. Chỉ có các món ăn "Ðiều Hòa" như các thứ có khả năng tăng trưởng, chứa nhiều sự sống như ngũ cốc, củ vì nó sắp đâm mầm, nẩy lộc, các loại trái cây vốn tràn đầy nhựa sống, các loại rau cỏ lá vốn hấp thụ khí thái dương cần thiết cho một thể xác cường tráng, khỏe mạnh.
Các vị xuất gia tu hành khi đi khất thực được bố thí gì ăn thứ ấy, ngoài ra, không phân biệt tôn phái, tất cả nên ăn chay. Vì nếu ở tại am, thất, tịnh xá, chùa, được bố thí, cúng, tặng tiền, vật thực, không thể đến chợ mua thịt, cá, tôm, cua, ốc, sò v.v…về nấu ăn như người không tu ở tại gia; nếu làm như thế là người không hiểu biết mà còn là người phỉ báng Phật pháp.
Hiện nay, trên thế giới, đã có rất nhiều người ăn chay khắp nơi, có những người ăn chay riêng rẽ, có những nhóm, những hội ăn chay ở nhiều nước từ Á, sang Âu. Đặc biệt, những người theo Ấn Độ giáo phần lớn đều ăn chay. Họ đã học được cách ăn chay bắt đầu từ ngày đức Phật giảng dạy về ăn chay và nghiệp báo sát sinh.
Đối với xã hội, người ăn chay có tâm từ bi đối với các loài rồi, đối với con người không bao giờ còn lòng nào hành hạ, giết hại người khác. Như thế người ăn chay là chiến sĩ hòa bình, và nếu ai cũng ăn chay cả, thế giới này là thế giới an lạc vậy.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Nov 21 2014, 12:59 PM
Gửi vào: #165


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



SINH TỬ LUÂN HỒI

Toàn Không


Luân Hồi dịch từ chữ Samera của chữ Phạn. Chữ Hán, Luân là bánh xe, Hồi là xoay lại, trở về, trở lại; Sinh Tử Luân Hồi là sinh ra già bệnh chết rồi lại sinh ra già bệnh chết, tái diễn nhiều lần. Theo Phật giáo, con người sinh ra từ vô thủy (thỉ) đến giờ đã trải qua vô lượng đời, và sẽ còn tiếp nối vô số đời nữa ở tương lai cho đến vô chung. Con người sinh ra chết đi cứ triền miên như thế, nhưng không phải chỉ sinh trong loài người mà tùy nghiệp đã tạo ra trong suốt thời gian sống theo đó mà sinh vào một trong sáu cảnh giới, gọi là sáu cõi.

I). Các quan điểm về sinh tử:

Có bốn quan điểm:

1). Quan điểm chấp đoạn:
Người có quan điểm này cho rằng con người sinh ra là ngẫu nhiên, tự nhiên như thế, có hợp có sinh, mọi việc ở đời chỉ là may rủi, gặp may có vui, gặp rủi phải buồn. Khi già bệnh phải chết là lẽ tự nhiên, khi chết là hết chẳng còn gì nữa, sự may rủi cũng theo cái chết mà không còn gì nữa; thân xác thành cát bụi, hư vô, không còn một tí gì cả.
Theo quan điểm “chấp đoạn”, con người sống chỉ nghĩ đến hưởng thụ cho mau, nên đưa đến tình trạng dành giật, không cần biết tới bình đẳng, đạo đức, tôn ty; đây là quan điểm có tính cách buông xuôi, không phải quan điểm của những người trí tuệ, mà giống như cách đối xử hạ đẳng của các loài vật. Bởi vì con người ngoài phần thể xác, còn có phần tinh thần, nên bảo rằng chết là hết thì không đúng, tại sao? Vì phần tinh thần nó vô hình vô tướng, mắt người thường không thể thấy được, nên tưởng rằng không có gì cả, nhưng đối với các bậc Giác ngộ, các vị biết thấy rõ phần tinh thần này.

2). Quan điểm chấp thường:
Người có quan điểm này cho rằng khi con người chết rồi, phần thể xác tan rã, còn có phần tinh thần bất hoại, tinh thần này là vĩnh cửu trường tồn không bao giờ mất được. Họ quan niệm phần tinh thần này là một “linh hồn” bất diệt trường tồn vĩnh viễn, và có một trong hai nơi họ được đến hay phải đến; đó là lên Thiên đàng hưởng thọ khoái lạc vĩnh viễn, hay xuống Hỏa ngục chịu thiêu đốt đời đời không có ngày ra.
Theo quan điểm “chấp thường”, có người nói: “Quan điểm này quá thô sơ, qúa đơn giản, không ăn khớp với những gì diễn biến trong vũ trụ; vì hết thảy vũ trụ vạn vật không có cái gì là vĩnh cửu trường tồn được, không có một nơi nào trong vũ trụ không thay đổi, mọi sự đều đổi thay, kể cả cái chúng ta tạm gọi là linh hồn. Hơn nữa, con người chỉ sống một thời gian ngắn ngủi dù là 100 năm, khi chết đi lại được ở trên Thiên đường hưởng lạc thú đời đời, hoặc xuống hỏa ngục chịu cực hình khổ não vĩnh viễn không có ngày ra; thật là bất công phi lý giữa hai sự sống ấy, chỉ bởi một điều nhỏ là tin hay không tin mà như vậy!” Nên họ còn nói: “Đây là sự đặt ra một phần thưởng quá to lớn và một hình phạt khủng khiếp để con người ham khoái hưởng lạc và sợ hãi khổ sở mà phả
i tin theo vì tưởng rằng có lợi, chứ sự thực không đúng như thế”.

3). Quan điểm có tính cách khoa học:
a). Về vật chất:
Theo quan điểm này có nhiều sự việc khoa học đã nhìn thấy tính cách luân hồi của nó, sau đây là một vài thí dụ:
1- Nước luân hồi:
Nước luân hồi rất dễ nhận ra, đó là nước sông, hồ, biển dưới sức nóng của mặt trời làm nước bốc hơi bay lên thành mây, mây có nhiều hơi nước gặp lạnh tụ lại thành nước, nước nặng rơi xuống thành mưa. Nếu khí hậu lạnh dưới 0 độ bách phân (Centigrade) hay dưới 32 độ Farenheit, nước mưa đông thành cục gọi là mưa nước đá. Ở vùng Bắc cực hoặc Nam cực, mặt trời ít chiếu tới nên nước thường đông thành băng; còn những vùng khác, khi mưa nước từ đồi núi chảy xuống suối, rạch, hồ, sông rồi ra biển, từ các chỗ này nước lại bốc hơi thành mây, mây thành mưa, cứ thế nước luân hồi mãi.
2- Khí hậu luân hồi:
Qủa đất mỗi ngày tự quay như con quay một vòng, nên chúng ta có ban ngày khi chúng ta hướng về phiá mặt trời, và có ban đêm khi trái đất quay phiá bên kia của quả đất hướng về phiá mặt trời, như vùng Đông Á châu ban ngày thì vùng châu Mỹ ban đêm và ngược lại vùng châu Mỹ buổi trưa thì vùng Đông Á châu nửa đêm. Qủa đất còn chạy chung quanh mặt trời trong 365 ngày hết một vòng, đó là một năm. Sự quay chạy của trái đất theo qũy đạo của nó, làm thành bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông ở vùng xa Xích đạo, và hai mùa Nắng Mưa ở nơi gần Xích đạo, xoay vần không dứt, luân hồi mỗi năm một lần. Tất cả muôn vật trên qủa đại cầu này đều bị ảnh hưởng bởi khí hậu bốn mùa hay hai mùa thay đổi, đây là luân hồi của khí hậu.

3- Luân hồi của hệ thống tuần hoàn:
Trong cơ thể con người, qủa tim ví như đầu tầu xe lửa kéo cả đoàn tầu, trái tim cũng vậy, nếu tim ngừng đập bóp, con người sẽ chết. Qủa tim có bốn ngăn, hai ngăn trên gọi là tâm nhĩ (atrium), hai ngăn dưới gọi là tâm thất (ventricle). Do sức bóp của tim, máu trong tâm thất bên trái (left ventricle) bơm vào động mạch (aorta) dẫn đi khắp toàn thân vào các mạch máu nhỏ đến các bộ phận, cơ quan của thân thể để nuôi các tế bào. Rồi máu từ đó theo hệ thống tĩnh mạch (veins) trở về tim vào tâm nhĩ bên phải (right atrium). Máu từ tâm nhĩ bên phải đi qua một cái van (valve) xuống tâm thất bên phải (right ventricle), rồi ra động mạch phổi (pulmonary artery) vào phổi để lấy dưỡng khí (oxygen). Máu từ phổi trở lại tim bằng tĩnh mạch phổi (pulmonary vein) vào tâm nhĩ bên trái (left atrium), xong máu từ đây qua một cái van xuống tâm thất bên trái (left ventricle), và từ đây, tâm thất bóp để đấy máu đi nuôi cơ thể; máu đi đi, về về liên tục không ngưng nghỉ như thế, đây gọi là luân hồi của máu.

cool.gif. Về tinh thần:
Như trên, khoa học đã nhìn thấy nhiều sự vật có tính cách luân hồi, chứng minh một cách cụ thể hiển nhiên, nhưng về vấn đề tinh thần , khoa học còn đang trên đường tìm kiếm. Thường mỗi khi có người nhớ được tiền kiếp, các nhà khoa học lại có dịp truy cứu; đây cũng chỉ là những góp nhặt vụn vặt, nên các nhà khoa học chưa dám khẳng định một cách tích cực toàn diện, vì về tâm linh vô hình vô tướng nên không thấy cụ thể bằng con mắt phàm phu được. Tuy nhiên, chúng ta có thể nêu ra một số phát biểu nổi tiếng của một số danh nhân Tây phương về vấn này như sau:

1- Pythagore (hơn 550 năm trước Dương lịch):
Nhà toán học kiêm triết học người Hy Lạp (Greece) nói rằng: “Tất cả mọi người đều có linh hồn, quanh quẩn trong thế gian hữu cơ và diễn biến theo định luật trường cửu”.

2- Platon (427 – 347 BC):
Nhà triết học Hy Lạp nói: “Linh hồn thọ hơn thể xác, linh hồn liên tục sinh ra rồi tái sinh trở lại thế gian”.

3- Ovid (43 BC – 17 AD):
Nhà thơ người tại thành Rome (Ý) nói: “Cái gọi là chết, chỉ gọi là vật chất cũ, còn linh hồn bị đẩy đưa từ nơi này đến nơi khác, linh hồn chỉ là một, chỉ có hình thể mới, như ta thay áo mới. Cũng như loại sáp mềm người ta đổ vào khuôn, mặt sáp sẽ ghi nhận cái khuôn, lúc ấy hình ảnh cũ bị xóa bỏ, chỉ có hình thức bị biến đổi, sáp vẫn là sáp; như vậy, được sinh ra là bắt đầu trở thành một cái gì mới, khác cái trước, và những hình thức mới ấy cũng biến đổi nữa, không có cái gì giữ nguyên vẹn hình thể mà không thay đổi hình dạng”.

4- Wordsworth (William) (1770 – 1850):
Nhà thơ người Anh quốc nói: “Cái sinh của chúng ta chỉ là một giấc chiêm bao và một sự lãng quên. Linh hồn, vì tinh tú của đời sống, xuất hiện với ta hôm nay, đã có cơ sở ở một nơi nào và đến từ phương xa: Không phải trọn vẹn trong sự lãng quên, cũng không phải trơ trọi”.

5- Disraeli (Benjamin) (1804 – 1881):
Thủ tướng Anh Quốc nổi tiếng một thời nói: “Không có hệ thống nào vừa giản dị, vừa ít va chạm sự hiểu biết của ta bằng thuyết luân hồi. Thuyết ấy xem những đau khổ và khoái lạc trong kiếp sống này như sự thưởng hay phạt các hành động của ta trong một trạng thái khác”.

6- Emerson (Ralph Waldo) (1803 – 1882):

(Còn tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Dec 5 2014, 10:32 AM
Gửi vào: #166


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



SINH TỬ LUÂN HỒI

(Tiếp theo)
Toàn Không


6- Emerson (Ralph Waldo) (1803 – 1882):

Triết gia kiêm nhà thơ người Hoa Kỳ nói: “Cái định mạng mà chúng ta phải lãnh là do chính ta đã chuẩn bị một cách hồn nhiên, vô ý thức, trong rất nhiều kinh nghiệm mà ta không thấy nổi giá trị; có lẽ chúng ta còn tiếp tục nhận lãnh định mạng ấy trong nhiều kiếp nữa, trước khi hoàn tất công việc trả qủa”.

7- Huxley (Thomas Henry) (1825 – 1895):

Nhà sinh vật học (Biology) kiêm nhà văn người Anh Quốc nói: “. . . Bên trong đứa trẻ sơ sinh đã có ngủ ngầm đặc điểm truyền thống, và cái “ta” chỉ là một khối năng lực tiềm tàng, thêm vào chút gì khác; những tiềm năng ấy rất sớm nổi lên mặt và trở thành sức mạnh thật sự, một thực lực, từ tuổi trẻ trở lên, biểu hiện lúc lu mờ lúc sáng tỏ, lúc yếu lúc mạnh, lúc đúng đắn lúc sai lầm. Và mỗi lần đổi sang từ thể xác này đến một xác thân khác, thì tâm tánh riêng biệt ấy lại bị một tâm tính khác biến đổi.
Những triết học gia Ấn Độ gọi cái “Tánh” đồng nghĩa với nghiệp (Karma), chính cái nghiệp chuyển từ đời này đến đời khác và nối liền các kiếp sống trong một chuỗi dài những kiếp chuyển sinh; các triết gia ấy chủ trương trong mỗi kiếp sống, cái nghiệp bị biến đổi, không những do truyền thống mà còn do chính hành động của mình”.

4)- Quan điểm của Phật giáo:

Đúng lý ra, sinh tử luân hồi gắn liền với nghiệp báo nhân qủa, vì con người từ khi sinh ra đến lúc chết đều có tạo nghiệp, do đó mỗi người đều mang theo cái nghiệp của mình. Để hiểu rõ vấn đề, chúng ta lần lượt phân tích:
Con người gồm hai phần thể chất và tinh thần, từ khi bắt đầu có sự phối hợp giữa tinh cha trứng mẹ hợp lại về phần vật chất, cộng với phần tinh thần gọi là thần thức hay nghiệp thức. Bào thai phải có đủ phần vật chất (sắc) và tinh thần (thức) mới đủ điều kiện để thành hình và lớn mạnh được. Ở trong bào thai lớn dần phát triển đủ các bộ phận, trong đó có các bộ phận: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, gọi là sáu căn. Khi đủ ngày tháng được “sinh” ra, lớn dần lên, sáu căn tiếp “xúc” sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; khi tiếp xúc với ngoại cảnh nếu yêu thích sinh thọ vui, nếu không thích sinh thọ buồn, hoặc tiếp xúc với cái không yêu không ghét có thọ không vui không buồn. Sự yêu ghét gọi là “ái ố”, vì có ái ố nên cố giữ cái yêu thích, tìm cách để có cái yêu thích, quyết dẹp bỏ tránh né cái không ưa, đó gọi là “thủ, bỏ”. Vì hành động cố giữ và cố dẹp bỏ ấy mà tạo nghiệp, khi chết thần thức phải mang theo để thọ sinh một đời sống khác kế tiếp. Cứ thế sinh ra sống tạo nghiệp già bệnh chết, rồi lại như thế mãi mãi, không có ngày chấm dứt; ngoại trừ người có tu hành đắc đạo mới thoát ra ngoài vòng sinh tử luân hồi, vì nghiệp thức dẫn đi đầu thai, nên tùy nghiệp lành hay nghiệp dữ mà phải vào một trong sáu cõi. Do đó, chúng ta cũng nên tìm hiểu sơ qua để biết thêm tạo nghiệp gì sinh vào cõi nào như sau:

1- Sinh cõi Trời:
Người nào làm mười điều thiện gồm ba điều về thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm; bốn điều về miệng: Không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói đâm thọc, không nói ác; và ba điều về ý: Không tham lam, không sân giận, không si mê tà kiến. Sinh lên ở cõi Trời có đời sống vô cùng sung sướng, không phải làm việc, lại có đời sống rất lâu dài.
2- Sinh lại cõi Người:
Người nào làm được năm giới (Ngũ giới) không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu. Muốn sinh lại cõi Người, ráng thực hành như thế. Khi tái sinh lại làm người được ở chỗ giàu sang quyền qúy sung sướng, manh khỏe, sống lâu.
3- Sinh cõi Thần (A Tu La):
Người có lòng tốt, có thực thi mười điều thiện, tạo nhiều phúc đức, nhưng tính sân hận giận thù chưa bỏ được, nên khi chết đi vào cõi Thần, có đời sống dài, khá sung sướng, nhưng có sự tranh cãi, gây bất hòa, đấu tranh nên cũng có phiền toái.
4- Sinh cõi Ngạ qủy:
Người bỏn sẻn, đố kỵ, ghen tỵ, mưu mô cướp đoạt của người, trộm cắp v.v… Khi chết sinh vào Ngạ qủy, có nhiều loại Ma qủy khác nhau, có loại phụ với các vị Thần để làm việc cho chư Thiên, có loại phải canh cổng thành cõi Trời v.v..., loài Ngạ qủy thường bị đói và sống luẩn quẩn cùng với loài người và súc sinh, nhưng vô hình nên ta không thấy.
5- Sinh Súc sanh:
Người dâm dục ngang trái, người quỵt nợ, giật hụi, lừa đảo, biển thủ tiền của, người đánh đập hành hạ giết hại súc vật, người sớm tối say sưa rượu hoặc ma túy, người tăng thượng mạn v.v.. Khi chết sinh vào loài Súc sinh bị khổ sở trăm bề mà ai cũng thấy.
6- Sinh Địa ngục:
Người giết cha giết mẹ, người làm mười điều ác chắc chắn đọa điạ ngục nhanh như liệng mũi kiếm thẳng xuống nước ngay sau khi chết, ở địa ngục thời gian lâu dài chịu cực hình khốn khổ trăm bề; khi ra khỏi địa ngục, lại phải vào Ngạ qủy hoặc Súc sinh, khi trở lại làm người có đời sống nghèo hèn khổ sở.

II)- Kết luận về sinh tử luân hồi.

Trong các Kinh đức Phật nói rất nhiều về các kiếp của Ngài và nhiều người khác, nếu chúng ta đọc Kinh sách của Phật giáo sẽ thấy chuyện tái sinh rất nhiều; Bác Sĩ Edgar Casey tại Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ thứ 20 mà nhiều người đã biết. Ông chuyên bắt mạch định bệnh bằng thiền định và dùng mắt thần để nhìn các kiếp trước của bệnh nhân, mà người ta gọi là dùng “thôi miên” để nhìn xem người bệnh đã trải qua các kiếp trước như thế nào để định bệnh cho bệnh nhân và chữa trị trong mấy chục nghìn trường hợp, mà hiện hồ sơ còn được lưu giữ.
Theo dõi báo chí thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy nêu lên chuyện có người nhớ được tiền kiếp của mình, chuyện các vị Lạt Ma Tây Tạng tái sinh nhớ được đời trước cả đến các vật dụng của mình; thiết tưởng chuyện tái sinh hầu như trên thế giới ngày nay coi như chuyện bình thường, không còn mấy người thắc mắc nữa.
Schopenhauer (Arthur) (1788–1860): Nhà toán học kiêm triết học người Đức nói về luân hồi như sau: “Ta thấy rằng lý thuyết luân hồi khởi xuất từ thuở sơ khai, trong thời kỳ vàng son của nhân loại, luôn luôn lan rộng trong nhân gian, được coi là tín ngưỡng của phần lớn mà cũng là giáo lý của tất cả tôn giáo; ngoại trừ tín ngưỡng của người Do Thái và hai tôn giáo xuất xứ từ hình thức thật tế nhị của tín ngưỡng ấy ( Hồi giáo và Cơ Đốc giáo). Các thuyết luân hồi đã biến chuyển đến rất gần chân lý mà Phật giáo đề cập, như vậy, trong lúc Cơ Đốc giáo tự an ủi với ý tưởng sẽ tự gặp trở lại trong một thế gian khác, trong thế gian ấy sẽ tìm lại trọn vẹn nhân cách của mình, và cũng sẽ tự nhận ra tức khắc, thì theo các tôn giáo khác, sự gặp gỡ trở lại đã diễn tiến nhiều lần, nhưng ta không nhận thức được. Trong những kiếp tái sinh liên tục tái diễn, những người đã có liên quan mật thiết hoặc có tiếp xúc ngay với nhau sẽ gặp lại trong một kiếp sống vị lai, cũng lại có sự liên hệ với nhau hoặc y hệt, hoặc tương tự, và những tình cảm, thiện hay ác, đối với nhau như trong kiếp sống này. . .
Cũng như đã ghi chú trong Kinh Phệ Đà (Ấn Độ giáo) và tất cả các kinh sách khác ở Ấn Độ, thuyết luân hồi được xem là nền tảng Bà La Môn giáo và Phật giáo; cho đến nay, phần lớn các dân tộc Á Đông không phải Hồi giáo, hơn phân nửa nhân loại, vẫn tin tưởng chắc chắn thuyết luân hồi và đời sống thực tế hàng ngày vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của thuyết này. Đó cũng là tín ngưỡng của người Ai Cập và từ Ai Cập, Orphée, Pythgore và Platon đã nhiệt liệt nhận lãnh.Theo như trên, sự tin tưởng nơi thuyết luân hồi tự nó là niềm tin qủa quyết tự nhiên của con người mỗi khi nghĩ đến vấn đề này mà không bị ám ảnh trước . .”. (Trích trong “The World As Will And Idea”)

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Dec 6 2014, 05:12 AM
Gửi vào: #167


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



LÒNG TỪ BI

Toàn Không


Quán Từ Bi để trừ lòng sân giận hận thù

Từ là cho vui, Bi là cứu khổ diệt khổ, Từ Bi là cho vui diệt khổ cho tất cả mọi loài chúng sanh, đó là hành động lợi tha cứu đời.
Từ Bi không phải là thụ động yếm thế nhu nhược mà nhiều người lầm tưởng rằng hễ có lòng từ bi, ai muốn làm gì dù phải trái cũng im lặng nghe theo. Thực ra lòng từ bi khiến người ta vận dụng tâm tư khả năng phương tiện để làm cho mọi người mọi loài thoát khổ được vui, Từ Bi bao hàm ý nghĩa rộng lớn vô bờ bến, vì cho vui diệt khổ không những về vật chất mà cả tinh thần, không những với loài người mà còn bao gồm tất cả chúng sinh.

I). Tại sao phải có lòng Từ Bi?

Tính sân giận oán hờn của con người là một nguyên nhân tai hại lớn gây ra khổ đau cho người và muôn vật. Từ việc nhỏ bé gây đổ vỡ mất hạnh phúc giữa những người thân như vợ chồng anh em, họ hàng bạn bè, cho đến việc lớn như chém giết khủng bố chiến tranh giữa các phe phái, các nước, màu da, tôn giáo, v.v… Tất cả đều do sân hận mà ra, nó nằm sẵn ở trong mỗi con người, có dịp là nó bùng nổ. Vì thế từ thời tiền cổ đến bây giờ, giết chóc chiến tranh luôn luôn xảy ra không ở nơi này thì ở nơi khác, không sao dứt được cảnh khổ; Phật giáo có phương cách dùng lòng Từ Bi để xóa đi, diệt đi lòng sân hận oán hờn, đó là phương thuốc diệt khổ cho vui, vì thế chúng ta cần “quán Từ Bi” là vậy.

II). Từ Bi cho vui cứu khổ ra sao?

Người có lòng từ bi không bao giờ sát sinh người và vật, người Phật tử chân chính không giết súc vật để ăn, không giết súc vật để vui như đi săn bắn câu cá; chính nhờ lòng từ bi mà cuộc đời thêm vui bớt khổ, sự chém giết giảm đi bớt tàn khốc, người và muôn vật coi nhau như anh em họ hàng.
Nhưng chỉ cho vui và diệt khổ trong hiện tại, chưa đúng với ý nghĩa của nó, người Phật tử còn phải nghĩ đến cho vui và diệt khổ tương lai nữa, tức là phải gây nhân vui cho tương lai và diệt nhân khổ cho tương lai, làm sao thực hành từ bi ở diểm này? Mọi người đều biết tâm ý là nguồn gốc của mọi hành động thiện ác trong ý khẩu thân, ý điều khiển khẩu nói năng thân hành đông thiện ác. Do đó, muốn gây nhân vui cho tương lai và diệt nhân khổ cho tương lai chúng ta phải tu tâm ý trước nhất. Tâm ý tu rồi thì khẩu thân theo ý mà nói làm những việc tốt, bỏ nói làm các việc ác, vì thế phải chú trọng tu tâm dưỡng tánh là vậy.

III). Từ Bi và Bác Ái khác nhau chỗ nào?

Có người cho rằng Bác Ái rộng hơn Từ Bi, có người cho rằng Bác Ái cũng giống như Từ Bi; để hiểu rõ vấn đề này, chúng ta lần lượt phân tích ý nghĩa của hai danh từ này:

Bác Ái: Bác nghĩa là rộng, lớn, Ái là yêu thương, Bác Ái là lòng thương mọi người; người có lòng Bác Ái thương yêu mọi người, thường cứu giúp người hoạn nạn, ốm đau, khuyết tật, bất bình thường, nghèo khổ từ vật chất đến tinh thần.

Từ Bi, như trên đã giải thích, Từ Bi là cho vui diệt khổ cho mọi loài chúng sanh, nó bao gồm sáu cõi Trời, Người, A Tu La (Thần), Súc Sinh, Ngạ Qủy, Địa Ngục. Nó rộng lớn bao la như thế chứ không chỉ một loài người, nhưng chúng ta thường sống chung và đụng chạm với loài Súc Sinh vì chúng ta chỉ có mắt thịt không trông thấy bốn loài kia. Từ Bi còn có ý nghĩa cho vui diệt khổ tất cả nguồn gốc ngọn ngành, chứ không phải chỉ xoa dịu cái hiện tại mà thôi, như người làm vườn không phải chỉ cắt các cây cỏ dại mọc hoang, mà phải nhổ tận gốc rễ của cây cỏ dại không cho mọc lại nữa.
Như thế Từ Bi về không gian bao gồm tất cả mọi loài trong sáu cõi, về thời gian bao gồm cả hiện tại và tương lai; còn Bác Ái về không gian chỉ chú trọng một loài người, về thời gian chỉ chú trọng trong hiện tại mà thôi. Nói một cách khác, Từ Bi bao gồm hết nghĩa của Bác Ái, còn Bác Ái không trùm được nghĩa lý Từ Bi rộng lớn.
Cũng cần phân biệt lòng từ bi và lòng yêu thương quyến luyến khác nhau mà đức Đạt Lai Lat Ma thứ 14 đã nói: “Tình yêu thương khắn khít giữa vợ chồng, cha mẹ, anh chị em, họ hàng, bạn bè thân thiết v.v…thường phát xuất từ lòng quyến luyến; khi lòng quyến luyến thay đổi, lòng yêu thương cũng thay đổi hay biến mất luôn, đây không phải là tình yêu thương chân thực.
Tình yêu thương chân thật không phát xuất từ sự quyến luyến, mà phát xuất từ lòng vị tha, như khi thương xót hay động lòng trắc ẩn đối với người nghèo khổ bệnh tật; trong trường hợp này, lòng từ bi của bạn sẽ tồn tại như một sự đáp ứng cho con người bị đau khổ”.

IV). Làm sao để có lòng từ bi?

Muốn huân tập được lòng từ bi, chúng ta phải dùng phương pháp quán tưởng, có ba cách sau đây:
1)- Quán chúng sinh duyên từ (quán sát cảnh đau khổ của chúng sanh để phát sinh ra lòng từ bi):
Đây là phương pháp dễ thực hành nhất, khi quán thấy chúng sinh đau khổ mà thành cảm lòng thương xót đưa đến lòng từ bi sinh khởi; chúng sanh ở trong sáu cõi còn đang chìm đắm trong sinh tử phiền não nhiễm ô, chỉ có loài Trời là tốt đẹp hơn cả, nhưng vẫn còn ngũ suy trước khi lâm chung là: Tràng hoa đội trên đầu héo đi, áo choàng dính dơ bẩn, thân mất mùi thơm lại có mùi hôi, thể nữ bỏ đi, không muốn ngồi tòa nữa. Loài A Tu La (Thần) có phiền não cãi cọ, đấu tranh, xung đột, giết chóc, sợ hãi; loài Ngạ Qủy (Ma Qủy) bị đói khát bức khổ; loài đọa Địa Ngục bị giam cầm hành hạ vô cùng đau khổ liên tục lâu dài, như phải nằm trên giường chông, giường sắt nóng đỏ, bị lửa đốt, bị lột da chặt chân tay v.v…thật là khổ cùng cực. Tất cả những loài trên đây, chúng ta không thể trông thấy mà chỉ được biết qua Kinh Phật nói; còn loài Súc Sinh có nạn khổ là ăn nuốt nhau, bị loài người giết để ăn, giết hại cho vui, giết hại vì vô ý, coi sinh mạng loài vật từ lớn đến nhỏ như cỏ rác, nên loài vật khổ biết chừng nào; loài người cũng chịu khổ não từ vật chất đến tinh thần trong mưu sinh hàng ngày, cho đến già bệnh chết, có trăm nghìn nỗi khổ kể sao cho hết được.
Quán như thế nào để phát khởi lòng từ bi?
Đức Phật dạy: “Quán sát tất cả chúng sanh trong sáu cõi đều là bà con thân thuộc với mình”. Chúng ta có thói quen những gì ngoài ta đều không để ý đến, giờ đây chúng ta bỏ cái vỏ hẹp hòi mà nhận ra rằng:
1- Loài người chúng ta sống trên trái đất này như sống trong một cái nhà lớn, một đại gia đình, không phân biệt màu da chủng tộc, không phân biệt nước này nước kia, không phân biệt tôn giáo này tôn giáo nọ v.v…. Những sự khác biệt ấy chỉ là bề ngoài, vì ai cũng có xương thịt và các cơ quan bộ phận như nhau, cũng đồng sợ khổ thích vui như nhau v.v…
2- Rộng lớn hơn nữa, đối với năm loại chúng sinh khác, chúng ta coi như thành phần trong đại gia đình trong thái dương hệ này; mặc dù khác nhau về hình thức vì khác loài, nhưng cũng là chúng sanh có chung một mặt trời là nguồn sống chung; tất cả đều tham sống sợ chết như nhau, đều biết cảm nhận nỗi vui sướng và đau khổ như nhau. Gần gũi chúng ta nhất là loài vật, tuy chúng không thông minh biết nói như chúng ta, nhưng chúng có những điểm riêng đặc biệt của chúng mà có khi ta không có. Chúng cũng biết thông cảm với chúng ta và giúp chúng ta nhiều việc lợi ích, biết đâu rằng đời trước hay đời sau này chúng chẳng phải là anh em bà con chúng ta?
Phương pháp quán này giúp chúng ta mở rộng được cái nhìn hẹp hòi của cái ngã nhỏ bé để thể nhập vào cái ngã to lớn là đại gia đình của toàn thể chúng sinh.

2)- Quán Pháp duyên từ (quán mình và chúng sinh cùng một thể tánh do đó từ bi phát khởi):
Chúng sanh đau khổ là chính ta đau khổ, phép quán này cao siêu hơn phép quán ở trên; ở đây dùng lý trí để quán sát. Lòng từ bi do duyên “pháp tánh”(bản tính chung) mà phát khởi. Hành giả quán sát thấy tất cả chúng sanh cùng mình đều đồng một “pháp giới tánh”(bản tính của chúng sinh), cho nên chúng sinh đau khổ là mình đau khổ, do đó hành giả khởi lòng từ bi cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sinh. Đến địa vị này, hành giả không còn phân biệt mình với người, không còn phân biệt thân thích hay người ngoài, và chỉ thấy mình và người có cùng bản tánh (cùng pháp giới tánh) mà thôi; các vị Bồ Tát nhận thấy mình và chúng sinh cùng đồng một bản thể, nên khi cứu khổ không còn phân biệt người đó là ai, và khi làm cũng không chấp mình đã làm. Chúng sanh có khổ thì Bồ Tát có bi, Bồ Tát đã chứng “Pháp duyên từ” chỉ có mục đích làm sao cho chúng sinh hết khổ được vui thôi.

3)- Quán Vô duyên từ (không cần duyên vẫn có từ):
Loại quán này rất cao siêu rất khó thực hành, Vô duyên từ là lòng từ bi không có tâm năng (làm) duyên và cảnh bị (được) duyên, không dụng công đối đãi giữa mình và người; lòng từ bi đã sẵn sàng trong thể tánh (Phật tính), nó sẵn sàng lan tràn bao la trùm khắp, không chọn lựa phân biệt. Hễ chúng sinh có nhu cầu là có đáp ứng ngay như tình thiêng liêng giữa mẹ và con, cũng như mặt trời mặt trăng chiếu soi cùng khắp không chừa chỗ nào, sự chiếu soi vô tư, không thiên lệch chọn lựa, không phân biệt chỗ dơ sạch, nơi cao thấp. Tâm từ bi luôn luôn sẵn sàng, chúng sanh hễ có cảm cầu là có linh ứng đáp lại.

V). Lợi ích của quán Từ Bi:

Người quán Từ Bi sẽ trừ được lòng sân hận giận hờn, bỏ được lòng tật đố ganh tị, dẹp được ngã chấp hẹp hòi, và đoàn kết được với mọi người; mọi người nếu đều có lòng từ bi, nhân loại sẽ không còn giận hờn giữa người và người, không còn ghét hại giữa chủng tộc này và chủng tộc kia, không còn chiến tranh giữa quốc gia này với quốc gia kia v.v…. Mối liên hệ giữa mọi người, mọi chủng tộc, mọi nước, mọi tôn giáo sẽ được gắn bó cùng nhau xây dựng hạnh phúc; lúc ấy con người vô cùng sung sướng khi thấy quanh mình toàn là bà con quyến thuộc như anh em trong một nhà cùng nhau an hòa.
Từ xưa tới nay, con người trong nhân loại bị đau khổ là do lòng sân hận giận thù gây ra, nếu mọi người biết áp dụng lòng từ bi, sự thù hằn độc ác phải giảm đi, đâu còn việc đầu độc oán hờn vương khắp nơi nơi, mưu lừa dối trá rắc reo nghi ngờ sợ hãi nữa. Nếu mọi người đều có lòng từ bi, đâu còn cảnh tạo bất an chèn ép bức đọa con người, gây khủng bố chiến tranh chết bao sinh mạng; nếu mọi người đều thực thi lòng từ bi, thế giới này là thiên đường vậy.
Trong Tăng Nhất A Hàm, quyển 3, trang 475 đức Phật dạy: “Nếu có chúng sanh tu hành tâm từ, lưu truyền rộng nghĩa của tâm từ, vì người diễn nói, sẽ được qủa báo tốt đẹp là: Ngủ yên ổn không chiêm bao dữ, sống yên ổn không bị ác hại, được Trời Người thương mến, không bị binh đao đạo tặc xâm tổn, không bị lửa nước nguy khốn, được sinh lên cõi trời Phạm Thiên”. Cũng quyển 3 trang 176, đức Phật khuyên khi bị giam cầm chớ khởi tâm ác mà phải khởi tâm từ rải khắp
Trong Tạp A Hàm, quyển 4 Kinh 1253, 1255, 1256, đức Phật dạy: “Số người tu tập lòng từ bi ít như hòn đất trong tay so với số người không tu lòng từ bi nhiều như đất của đại địa này. Có người mang 300 chảo cơm bố thí ba lần sáng, trưa, chiều, công đức bố thí này không bằng một phần muôn ức của người rải lòng từ bi đến khắp cả chúng sinh dù chỉ trong khoảng thời gian ngắn như người vắt sữa bò. Nếu có qủy thần ác muốn đến dò xét tìm chỗ sơ hở của người tu tập tâm từ bi này thì không thể được, mà ngược lại ngay lúc ấy qủy thần kia tự bị thương tổn.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Dec 11 2014, 01:51 AM
Gửi vào: #168


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



BÁT QUAN TRAI GIỚI

Toàn Không


1). Thế nào là Bát Quan Trai Giới?

Là phép tu hành ngắn hạn cho Phật tử tại gia, thực hành trong vòng một ngày một đêm, chữ Quan là cửa, chữ trai là cấm ăn sau giờ ngọ; Bát Quan Trai Giới là tám cửa ngăn cấm làm tám điều để thân tâm được yên ổn thanh tịnh. Tám điều ấy là: 1-Không sát sinh; 2- Không trộm cướp; 3- Không dâm dục; 4- Không nói dối; 5- Không uống rượu; 6- Không trang điểm hội họp coi hát xem truyền hình v.v…; 7-Không nằm ngồi giường ghế cao sang; 8- Ăn chay không qúa giờ ngọ.

2). Giải thích ý nghĩa tám giới cấm:

1- Ý nghĩa không sát sinh:
Tất cả các loài kể cả loài người đều tham sống sợ chết, biết vui mừng đau khổ, khi có bạn vui mừng chơi rỡn, khi thấy loài khác mạnh hơn thì sợ hãi chạy trốn; như loài cá thấy người liền bơi chạy xa, loài chim thấy người liền bay cao trốn xa, người thấy sư tử, hổ, báo, tìm cách tránh né; tất cả những hành động ấy đều vì sợ lâm nguy đến tính mạng. Khi bị bắt, dù cá, chim hay người, đều vùng vẫy tìm cách trốn thoát; khi được thả, cá, chim, người đều vui mừng sung sướng không thể tả xiết. Vậy mà có người thấy con vật giẫy chết, tiếng kêu la thảm thiết trước bàn tay tử thần của con người, vẫn không xiêu lòng; có người giết để thỏa thích như săn bắn, bẫy, câu, nhìn cảnh tượng con vật dẫy dụa đau đớn mà cười sung sướng. Thật là nhẫn tâm tàn ác vô cùng!
Chúng ta là Phật tử, cần phải cố gắng không sát hại sinh vật. Đa số Phật tử còn ăn mặn, nên chưa giữ giới sát sinh gián tiếp được. Vậy cũng nên ăn chay một vài ngày trong một tháng, và ít ra trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới hãy tuyệt đối giữ giới này. Được như vậy là đã giữ được trọn vẹn giới không sát sinh, dù chỉ một ngày một đêm, nhưng lợi ích lớn lao.

2- Ý nghĩa không trộm cướp:
Trộm cướp: là lấy của người, bao gồm rộng lớn như những vật thuộc quyền sở hữu của người khác, từ của cải tiền bạc, ruộng vườn nhà cửa, đồ đạc to nhỏ, không cho mà lấy đều là trộm cướp. Đưa thiếu, lấy thừa, quỵt nợ, giật hụi, đi trễ về sớm, bóc lột người làm, ăn hối lộ, lấy của công, trốn thuế, nhặt được của không trả lại v.v… đều là trộm cướp cả.
Trong đời sống hàng ngày, nhiều khi không giữ được tuyệt đối giới cấm này, chẳng hạn như bán của xấu lấy giá cao, mưu chước để được lợi một cách không ngay thẳng v.v…, có khi nhận thấy đó là bất chính, nhưng lại tự bào chữa là vì sự sống của gia đình mà làm như thế; nhưng ngày thụ Bát Quan Trai Giới, chúng ta hãy triệt để giữ giới này, ngay cả với ý nghĩ sinh khởi tham lợi trong đầu óc cũng không cho khởi lên, và còn tìm cách bố thí giúp đỡ cho người thiếu thốn.
Giữ được giới này: không những về hành động mà ngay cả trong tâm một cách tuyệt đối, dù chỉ 24 giờ, chúng ta đã gieo được nhân lành tốt đẹp.

3- Ý nghĩa không dâm dục:
Trong “Ngũ Giới” của người Phật tử, đức Phật chỉ cấm “Tà dâm”, nghĩa là không được lang chạ với người không phải là vợ chồng của mình, hoặc cưỡng hiếp đàn bà con gái. Còn không “Dâm dục” là ngay cả với vợ chồng mình cũng không được gần gũi, vì dâm dục là cái nhân sinh tử luân hồi, nên người xuất gia phải dứt hẳn, dù trong ý nghĩ cũng phải diệt tuyệt mới được đức Phật dạy: “Người muốn đoạn sinh tử đạt Niết Bàn mà không trừ hẳn dâm dục, giống người nấu cát muốn thành cơm, dù trải qua muôn kiếp cũng không thành được”. Bởi vậy, những người tu muốn thành Phật qủa phải doạn trừ dâm dục.
Người Phật tử tại gia chưa thể đoạn trừ dâm dục được, nhưng giữa vợ chồng cũng phải điều độ, tiết chế dục; nhất là đối với người lớn tuổi càng phải hạn chế dục để cho thân được khỏe, tâm được trong sạch nhẹ nhàng; còn trong ngày thụ Bát Quan Trai Giới, phải tuyệt đối tôn trọng, dù ý nghĩ trong đầu cũng không cho sinh khởi; nếu triệt để giữ giới không dâm dục này, chúng ta đã gieo được nhân thanh tịnh.

4- Ý nghĩa không nói dối:
Sự nói không đúng sự thật, nói thêu dệt thêm bớt, nói hai chiều khác nhau, nói lời độc ác, trong đời sống hàng ngày đã gây tai hại làm cho mất sự tin tưởng lẫn nhau, từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Biết bao nhiêu những chuyện lộn xộn trong gia đình, bà con, bạn bè đã phát sinh từ cửa miệng mà ra; biết bao nhiêu sự chém giết thù hằn trong nhân loại cũng từ cửa miệng mà ra.
Nếu trong đời sống hàng ngày chưa thể hoàn toàn giữ giới này, thì trong ngày thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta phải triệt để giữ giới này, ngay cả trong ý nghĩ cũng không để cho sinh khởi sự dối trá trong tâm; trong chỉ một ngày một đêm, mà chúng ta không thể giữ được giới này, sao gọi là thọ Bát Quan Trai Giới được? Vì đây là: thể hiện lòng chân thật, tính thật thà.

5- Ý nghĩa không uống rượu:
Không uống rượu còn bao gồm cả không dùng các chất ma túy, kích thích, vì chất rượu, ma túy, và chất kích thích làm cho đầu óc không còn minh mẫn, bị tối tăm, cuồng tâm; gia đình nào có người uống rượu, có chồng say sưa, nghiện ngập, thật là khổ cho những người xung quanh. Nào là mửa tháo dơ bẩn, công việc không cần biết tới, lại còn hay gây sự này sự nọ, đánh đập vợ con, gây gỗ chửi bới đánh lộn bạn bè hàng xóm. Nào mượn tiền người không trả, gây phiền hà cho cha mẹ vợ con, ăn trộm ăn cướp phải chịu tù đày. Uống rượu và dùng ma túy, nó còn nguy hiểm hơn là uống thuốc độc, vì thuốc độc chỉ chết một đời, chứ rượu và ma túy làm tâm điên đảo cuồng si mất trí, gây tội lỗi sẽ chịu tội nhiều kiếp; bởi vậy, ngày thọ Bát Quan Trai Giới, chúng ta phải tuyệt đối giữ giới không uống rựợu, không dùng ma túy, dù chỉ nghĩ trong đầu cũng không cho sinh khởi, như thế mới đúng với ý nghĩa của việc thụ trì Bát Quan Trai Giới.

6- Ý nghĩa không trang điểm, xem hát:
Giới cấm này để tập cho người Phật tử thọ Bát Quan Trai Giới không theo thói buông thả để năm giác quan là “mắt, tai, mũi, lưỡi, thân” đắm nhiễm năm trần là “sắc, thanh, hương, vị, xúc”. Khi năm giác quan bị năm trần cảnh lôi cuốn, người Phật tử sẽ bị dắt vào con đường luyến ái, dục lạc, làm tâm thần mê mờ; tâm mê mờ càng vô minh, càng vô minh càng ngụp lặn chìm đắm trong sinh tử luân hồi không có ngày ra khỏi.
Nhưng trong đời sống hàng ngày, người Phật tử tại gia còn phải tiếp xúc với đời sống xã hội, nên đôi khi vẫn có các thứ ấy; nhưng dù có như vậy, người Phật tử tại gia chỉ nên tham dự những gì có tích cách xây dựng, trong sạch và hướng thượng.
Ngày thụ Bát Quan Trai Giới, chúng ta phải giữ đúng giới này, không xức bôi nước hoa dầu thơm hoặc trang điểm, không hội họp, không nghe hát v.v…để tâm chúng ta được thanh tịnh; được như vậy, ảnh hưởng của nó vô cùng lợi ích và qúy báu.

7- Ý nghĩa không nằm ngồi giường ghế sang:
Giường ghế cao sang, nệm êm đẹp đẽ, chướng rủ màn the sẽ kích thích lòng ham muốn của xác thân, tạo điều kiện cho thân tâm buông lung theo cảm giác khoái lạc. Lại nữa, khi nằm giường êm, thường ngủ lâu, ngủ quên cả giờ giấc, bỏ bê chểnh mảng việc tu tập
Vì hiểu rõ lời dạy của Phật nên Ngài Hiếp Tôn giả từ khi xuất gia không nằm, Thiền Sư Cao Phong khi chưa đắc đạo trong ba năm không nằm giường, chỉ nằm đất.
Bởi vậy, người tu hành chỉ nên nằm giường nhỏ vừa đủ để nằm, không mong cầu giường ghế cao sang; người Phật tử tại gia nên tập dần đức tính đạm bạc giản dị này.

8- Ý nghĩa ăn chay không qúa giờ ngọ:
Giờ ngọ là giờ trưa từ 11 giờ sáng tới 1 giờ chiều, ăn phải xong trước 1 giờ chiều.
Đức Phật dạy: “Chư vị Trời ăn sáng sớm, Phật ăn giữa trưa, Súc sinh ăn không có giờ giấc tùy loài, Ngạ qủy ăn đêm tối, Người tu theo Phật phải ăn chay đúng trưa”, tại sao? Vì ăn vào giờ đó có năm lợi ích như sau: 1- Ít sinh buồn ngủ, 2- Ít sinh ngứa ngáy, 3- Ít khởi tâm sai quấy, 4- Ít sinh bệnh, 5- Tu hành dễ nhất tâm.
Dù vậy, người Phật tử tại gia có thể sáng ăn một chút điểm tâm chay nhẹ, buổi trưa ăn bữa chay chính, và buổi chiều dùng chút nước cháo hoặc sữa. Vì hàng ngày các Phật tử tại gia ăn hai hoặc ba bữa mà đột nhiên ăn một bữa, có thể bị cồn cào ruột, nên châm chế chút đỉnh.
Trước khi ăn niệm:
Tất cả đều ăn để sống còn,
Cảm ơn tôi có bữa ăn ngon,
Do công khó nhọc làm ra đó,
Nguyện mọi chúng sinh được đủ no.

(Còn tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Dec 19 2014, 12:57 AM
Gửi vào: #169


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



BÁT QUAN TRAI GIỚI

(Tiếp theo)
Toàn Không


3) - Phát nguyện thụ Bát Quan Trai Giới:

Đức Phật dạy cách phát thề nguyện trong bộ Tăng Nhất A Hàm, quyển 1, trang 507 như sau:
- “Nay con là ……….vâng giữ Bát Quan Trai Giới của Như Lai trong một ngày một đêm, tu giới thanh tịnh, trừ bỏ pháp ác. Nếu thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ điều ác, hoặc vì tham sân si đã tạo, đang tạo, sẽ tạo, hoặc do ác tri thức mà tạo, hoặc chẳng biết Phật, Pháp, Tăng, hoặc làm tổn thương cha mẹ và các bậc tôn trưởng. Nay con tự sám hối, nương theo pháp Phật, nương theo giới cấm để thành tựu Bát Quan Trai của Như Lai”
- “Nay con là ……….trì trai trong một ngày một đêm, thề chẳng giết, chẳng có tâm ác hại, nguyện có tâm từ đối với tất cả chúng sanh; thề không trộm cướp xâm phạm của cải của người, giữ tâm trong sạch, thề không xúc phạm chẳng nhớ nghĩ điều dâm với người khác phái”.
- “Nay con là ……….trì trai trong một ngày một đêm, thề không dối gạt người, chẳng nói vọng ngữ, chẳng nói thêu dệt, chẳng nói lời ác. Thề không uống rượu hay dùng ma túy, giữ gìn cấm giới, giữ tâm ý chẳng loạn. Thề giữ trai giới, ăn đúng giờ, biết đủ, không say đắm mùi vị”
- “Nay con là ……….trì trai giới trong một ngày một đêm, thề không có tâm ý muốn được nằm ngồi chỗ cao sang. Thề không trang điểm kiêu sang, thề không bàn luận hội họp thế gian, chẳng dự ca kịch nhạc hội, (chẳng coi nghe truyền thanh truyền hình)”.
- “Nay con là ………. Đã thề làm tám việc lành trong một ngày một đêm, vâng giữ tu Bát Quan Trai Giới, sẽ không đọa tám nạn là “chẳng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cõi trường thọ, nơi biên giới không người, không đủ giác quan, tà kiến, thời không có Phật hay không có Phật pháp”. Không gặp ác tri thức, chẳng làm nô tỳ; thường gặp thiện tri thức, được sinh vào nhà cha mẹ lành, được sinh cùng thời có Phật, được thấy Phật, được tự nghe Pháp Phật, khiến tâm ý chẳng loạn, mau thành đạo quả”.
Nên nhớ: phát thề nguyện, vì phúc của phát thề nguyện không thể xưng tán hết, được cam lộ, đến chỗ tối thượng.

4 )- Chương trình trong một ngày tròn:

Buổi sáng: 6 giờ Lễ thọ giới
7 giờ Ăn điểm tâm
8 giờ Sám hối
9 giờ Xem Kinh
12 giờ Thụ trai
12 giờ 40 Đi kinh hành
Buổi chiều: 1 giờ 30 Nghỉ trưa
3 giờ Tụng Kinh
4 giờ Xem Kinh
6 giờ Dùng nước(sữa hoặc nước cháo)
Buổi tối: 7 giờ Niệm Phật
8 giờ Học giáo lý
10 giờ 15 Quán Sổ tức
10 giờ 45 Nghỉ
Hôm sau: 4 giờ 30 Công phu thiền
6 giờ Làm lễ xả giới
Hành giả nên thọ Bát Quan Trai Giới tại chùa, ít nhất là lần đầu tiên để biết nghi thức; khi đã biết nghi thức rồi có thể tự thọ lấy tại nhà, mỗi tháng nên thọ một lần; nếu thọ được nhiều chừng nào tốt chừng ấy vào các ngày mồng tám, mười bốn, rằm; tuy chỉ có 24 giờ, nhưng rất qúy báu, hơn cả một đời của người không tu hành gì cả.

5) - Trì Bát Quan Trai và năm niệm tưởng:

Trong Trung A Hàm quyển 4 từ trang 477 đến 494, Kinh Trì Trai, đức Phật dạy Lộc tử Mẫu Tỳ xá khư về ba loại Trì Trai: Trì trai của Mục đồng không có đại công đức, trì trai của Ni kiền không có đại công đức, và trì Tám chi Thánh trai (Trì Bát Quan Trai Giới) có đại công đức. Sau khi đức Phật giải thích tám trai giới, Ngài lưu ý nên hành trì năm pháp niệm tưởng, đó là:
1- Niệm tưởng Phật và mười danh hiệu Phật, Như Lai, Thế Tôn, Vô Sở Trước Chính Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, Vô Thượng Sĩ. Sau khi niệm tưởng nhớ nghĩ như thế, sẽ trừ được tham ác ô nhiễm bất thiện, niệm tưởng nhiều sẽ được tâm định.
2- Niệm tưởng Pháp do Phật giảng dạy toàn thiện, thường hằng, cứu cánh, được biết thấy bởi chính trí; sau khi niệm tưởng nhớ nghĩ như thế, sẽ trừ được tham ác ô nhiễm bất thiện, niệm nhiều sẽ được tâm tĩnh.
3- Niệm tưởng Thánh Tăng là người đã thành tựu Giới Định Huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, xứng đáng kính trọng, là ruộng phúc của Trời Người; sau khi niệm nhớ nghĩ như thế, tham ác ô nhiễm bất thiện sẽ tiêu diệt, nên được tịch tĩnh.
4- Niệm Giới, duy trì giới đang thụ trì không thiếu sót, khéo thọ trì như thế, liền trừ tham ác, ô nhiễm bất thiện cũng được diệt luôn.
5- Niệm Thiên, niệm tưởng thật sự có Tứ Thiên Vương, nếu thành tựu Tín, khi qua đời sẽ sinh nơi ấy; tôi cũng có Tín này, nhớ nghĩ mãi như thế sẽ sinh vào cõi Tứ Thiên Vương. Niệm tưởng thật sự có cõi Trời Đạo Lợi, Diệm Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa Lạc. Người thành tựu tín, giới, thí, tuệ khi qua đời sinh đến các cõi Trời ấy. Tôi cũng có tín, giới, bố thí, trí tuệ, nên sau khi chết sẽ được sinh đến nơi ấy.
Người thụ trì Bát Quan Trai Giới và năm niệm tưởng kể trên so với người làm Vua được quyền sử dụng hết thảy của cải trân bảo tài sản của 16 nước trong toàn cõi Ấn Độ, Vua ấy được phước không bằng một phần mười sáu của người ấy. Lạc thú của Vua ở nhân gian kém xa lạc thú của Chư vị Trời, tuổi thọ ở nhân gian qúa ngắn ngủi so với tuổi thọ của cõi Trời, một ngày một đêm ở cõi Tứ Thiên Vương bằng năm mươi năm cõi trần, một ngày một đêm của cõi Đạo Lợi bằng một trăm năm ở cõi trần. Cứ thế tính tăng lên gấp đôi đối với Diệm Ma, Đâu Suất v.v…Tính ba mươi ngày một tháng, mười hai tháng một năm, cõi Tứ Thiên Vương thọ 500 năm tuổi trời, cõi Đạo Lợi thọ 1000 tuổi trời, cõi Diệm Ma thọ 2000 tuổi trời, cứ thế gấp đôi đối với các tầng trời cao hơn.

6)- Sự cần thiết thụ trì tám trai giới

Trong Tạp A Hàm, quyển 4, Kinh số 1121, trang 116 ghi: Một thời đức Phật ngự tại vườn Ni Câu Luật nước Ca Tỳ La Vệ, khi ấy dân chúng dòng họ Thích đi đến chỗ Phật bấy giờ đức Phật hỏi:
- Quý vị dòng họ Cù Đàm, trong các ngày trai giới có thọ trì và tu tập gì không?
Trưởng giả họ Thích thưa:
- Bạch Thế Tôn: Chúng con vào những ngày trai giới có khi giữ được, có khi không; tu tập công đức cũng khi có khi không.
Đức Phật dạy:
- Như vậy là qúy vị không gặt hái được những lợi ích tốt đẹp, qúy vị là những người kiêu mạn sẽ đem lại sự buồn rầu khổ não, tại sao lại khi giữ được khi không?
Ví dụ như người mưu cầu tài lợi, hàng ngày lợi vào gấp đôi, một ngày hai tiền, hai ngày bốn tiền, ba ngày sáu tiền, bốn ngày tám tiền, năm ngày mười tiền v.v… Như thế tiền bạc tài sản tăng lên giàu có. Nếu cứ tăng giàu mãi như thế, lại muốn tâm vui vẻ an lạc, trụ vào Thiền định khoảng mười năm, liệu có được không?
Mọi người đều đáp:
- Bạch Thế Tôn! Không.
Đức Phật bảo:
- Hoặc chín năm, tám năm, . . . cho đến một năm; thôi không tính năm, hoặc mười tháng, chín tháng, tám tháng, bảy tháng v.v…cho đến một tháng; thôi không tính tháng, liệu có được hai mươi ngày, mười ngày, chín ngày, tám ngày, v.v… cho đến một ngày đêm tâm an lạc vui vẻ trụ vào Thiền định có được không?
- Bạch Thế Tôn! Không
Đức Phật dạy:
- Quý vị nên biết, trong hàng Thanh Văn, có người được Ta giáo hóa, sáng sớm giáo hóa, chiều tối có thể tăng tiến vượt bội. Do nhân duyên này, nên trong trăm nghìn vạn năm tâm an lạc vui vẻ trụ vào Thiền định, thành tựu qủa vị Thánh.
Bấy giờ những người họ Thích thưa:
- Bạch Thế Tôn! Từ hôm nay, những ngày trai giới, chúng con sẽ thọ trì Tám trai giới, tùy sức bố thí tu tập công đức không quên . . .

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Dec 28 2014, 10:41 AM
Gửi vào: #170


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

Toàn Không



Nam mô A Di Đà Phật

1 )- Đức A Di Đà là Phật nào?

Đức Phật A Di Đà, âm dịch từ chữ Amita, viết tắt của chữ Phạn (Sanskrit) là Amitabha (Vô lượng Quang), và Amitayus (Vô lượng Thọ). Phật A Di Đà hiện đang là giáo chủ cõi Phật ở Tây phương cực lạc. Trước khi thành Phật, Ngài đã có 48 nguyện rộng lớn, trong đó điều thứ 19 nguyện rằng: “Khi tôi thành Phật, mười phương chúng sinh phát Bồ Đề tâm tu các công đức, nguyện sinh đến cõi nước tôi khi lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước ngươi đó, thì tôi không ở ngôi Chính giác” . Hiện tại, cõi của Ngài có vô số Bồ Tát chia ra làm ba phẩm: Thượng, Trung, Hạ, mỗi phẩm lại chia ra ba bậc nữa, vị chi có chín bậc.

2 )- Đặc điểm của Phật A Di Đà:

Đặc điểm để nhận ra Phật A Di Đà là hình hoặc tượng Ngài theo các nước Ấn Độ, Tây Tạng, v.v…, hình tượng ngồi trên bệ hoa sen, phiá trước bệ có hai con công ngoảnh ra hai bên. Thân Phật sơn màu đỏ
tượng trưng cho mặt trời lặn về phương Tây, hai tay bắt ấn thiền định, giữ bình bát dấu hiệu giáo chủ; những trái cây trong bình bát tượng trưng cho trí huệ phong phú, tòa sen tượng trưng cho thanh tịnh, hai con công biểu hiện sự giải thoát khỏi khổ. Nhưng ở các nước Á Đông lại thờ hình, tượng đứng trên tòa hoa sen, tay trái bắt ấn “giáo hóa”, lòng bàn tay quay ra ngoài trước ngực, đầu ngón cái và ngón áp út bắt ấn làm thành vòng tròn, các ngón khác thẳng lên. Tay phải duỗi thẳng theo vai xuống, các ngón tay song song, lòng bàn tay quay ra ngoài.
Bàn tay phải để như vậy là ở thế tiếp dẫn Thần thức chúng sinh theo tay Ngài mà đi khi lâm chung, Ngài thường cùng Chư Bồ Tát và Thánh chúng đến mười phương thế giới tiếp dẫn các chúng sanh muốn về cõi nước Ngài để tu hành.

3 )- Sự tích đức Phật A Di Đà:

Trong Kinh Bi Hoa nói rằng: “Vô lượng kiếp về trước, có đại kiếp gọi là “Thiện Trì”, khi ấy tại Tản Đề Lam thế giới, có vua Chuyển Luân Thánh Vương tên Vô tránh Niệm thống lãnh cả bốn phương thiên hạ rất nhân từ đức độ. Vua có nhiều con, và có một Đại thần trông coi việc trị dân tên Bảo Hải. Vị Bảo Hải có một người con có 32 tướng tốt đẹp lạ thường tên Bảo Tạng, khi Bảo Tạng lớn lên thấy đời vô thường nên xuất gia tu đạo, chẳng bao lâu thành Phật hiệu Bảo Tạng Như Lai có đủ thần thông biến hóa, đạo pháp nhiệm mầu, và hóa độ chúng sanh vô số.
Một hôm, vua Vô tránh Niệm nghe đức Phật Bảo Tạng cùng đại chúng Tăng đến vườn Diêm Phù gần chân thành, thì nghĩ: “Ta muốn đến chỗ Phật Bảo Tạng xem giảng giáo lý gì mà nhiều người ca ngợi, theo như thế!”. Nghĩ rồi Vua truuyền lệnh cùng các Vương tử, Đại thần đến chỗ Phật, Vua thấy Phật Bảo Tạng ngồi khoanh chân nghiêm trang có hào quang phát ra, đang thuyết nói giữa đại chúng đông đảo, Vua và mọi người lặng lẽ ngồi xuống một bên nghe pháp, Vua thấy mọi người từ người xuất gia cho đến già cả trai gái đều im lặng chăm chú nghe; Vua nghe Phật Bảo Tạng nói một lúc thì lòng mở rộng, liền qùy xuống thưa: “Nay tôi muốn bố thí cúng dàng Ngài và đại chúng Tăng thức ăn và các thứ cần thiết trong ba tháng, xin Ngài từ bi nhận cho”. Vua thấy đức Phật im lặng nhận lời, liền vái lễ rồi trở về cung truyền lệnh sắm sửa các thứ để cúng dường; Vua lại bảo các Vương tử nên bắt chước mà cũng mở lòng bố thí, các Vương tử đều vâng làm cả.
Một hôm đại thần Bảo Hải mơ thấy Vua bố thí lớn chỉ cầu phúc chứ không cầu qủa Bồ Đề, nên đến thưa với Vua rằng: “Bố thí lớn mà chỉ cầu phước không bằng cầu qủa Bồ Đề vì cầu phước chỉ được hưởng phước tái sinh cõi Trời hoặc cõi Người, hết phước rồi lại bị đọa”. Vua nghe hiểu thì tâm tự nhiên mở rộng mà đáp rằng: “Trẫm chẳng cầu phúc mà Khanh nói đâu, Trẫm làm sự bố thí hầu nghe pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát cứu vớt chúng sinh, do nhân duyên ấy mà phát tâm Bồ Đề vô thượng”. Đại thần Bảo Hải thưa: “Bồ Đề là đạo rộng lớn cao sâu, là bố thí, trì giới sẽ được yên ổn thanh tịnh, là hạnh nhẫn nhục sẽ được vô ngã, là hạnh tinh tấn sẽ được bất thoái, là hạnh thiền định sẽ được vắng lặng, là hạnh bát nhã rộng lớn sẽ được trí huệ sáng suốt”. Vua đáp: “Mỗi người sống lâu nhiều nhất cũng chỉ tám vạn tuổi mà thôi. Còn như đức Bảo Tạng Như Lai ra đời giáo hóa cho chúng sinh, có người được định, có người được bậc Bồ Tát, có người được thụ ký thành Phật. Nhưng dù Ngài là phúc điền của chúng sinh, song người không có căn lành, Ngài cũng không thể làm cho họ dứt được khổ não. Nay Trẫm phát tâm Bồ Đề, tu hạnh Bồ Tát, chuyên làm Phật sự mà giáo hóa chúng sinh; Trẫm muốn cầu khi thành đạo Bồ Tát tại thế giới trang nghiêm thanh tịnh, chúng sinh không có một tí khổ não; nếu được như vậy, Trẫm sẽ chứng đạo Vô Thượng”.
Vua nói xong liền cùng đại thần Bảo Hải đến chỗ Phật Bảo Tạng, lúc ấy đức Phật đang nhập Đại định, phóng hào quang, hiện mười phương các cõi Phật cho đại chúng thấy. Đại thần Bảo Hải thấy thế liền nói với Vua: “Đại Vương đã thấy các thế giới, vậy Đại Vương phát Bồ Đề tâm, muốn cầu thế giới nào?”
Vua liền chắp tay thưa với Phật Bảo Tạng: “Thưa đức Thế Tôn, chẳng biết các vị Bồ Tát tu hạnh gì mà người được cõi tốt, người được cõi xấu? Xin ngài chỉ dạy cho tôi biết để tu học”, Đức Phật bảo Vua: “Vì các Bồ Tát có sức thệ nguyện muốn ở cõi tốt hay cõi xấu, nên được toại nguyện, sẽ thành đạo ở cõi ấy”.

(Còn Tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jan 5 2015, 03:15 AM
Gửi vào: #171


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

(Tiếp theo)

Toàn Không




Vua Vô tránh Niệm nghe Phật nói vậy, cảm tạ lễ Phật, rồi trở về cung suy nghĩ; suy nghĩ xong, Vua bèn trở lại lễ Phật mà thưa rằng: “Thưa đức Thế Tôn, vì tôi muốn chứng đạo Bồ Đề, nên cúng dàng Ngài và đại chúng Tăng trong ba tháng để cầu được cõi trang nghiêm”.
Thưa đức Thế Tôn, tôi nguyện được cõi nước như thế, từ nay về sau, đời đời kiếp kiếp tu hạnh Bồ Tát, làm mọi sự tốt lành, tạo thành cõi tịnh độ mà thành Chính Đẳng Chính Giác.
Tôi nguyện: khi tôi thành Phật, được thân Kim cương bất hoại, mệnh sống vô lượng, phóng hào quang soi khắp mười phương cõi Phật đều thấy và khen ngợi tôi.
Tôi nguyện: được cõi nước thanh tịnh trang nghiêm, toàn bằng vàng ròng, xích châu, mã não. Đồ dùng cũng vậy toàn bằng vàng ròng, nhiều không thể đếm tính hết được.Cảnh vật xinh đẹp, không có một tí nhiễm trược ô uế, hằng có hoa tốt hương thơm.
Tôi nguyện: chúng sinh mười phương muốn sinh về cõi nước ấy, nếu được nhất tâm khi niệm danh hiệu tôi từ một đến mười liền được sinh ra từ trong hoa sen, đều cùng một loại giống nhau, không có tên đàn bà.
Tôi nguyện: người dân trong cõi nước ấy cùng có màu da vàng óng ánh đẹp đẽ, không có người xấu, không có tên bất thiện, không có ba dường ác Ngạ qủy, Súc sinh, Địa ngục.
Tôi nguyện: chúng sinh trong cõi nước ấy có đủ sáu phép thần thông, căn thân tốt đẹp, chỉ trong khoảng một bữa ăn dạo chơi mười phương để cúng dàng chư Phật.
Tôi nguyện: người dân trong cõi nước ấy đều được mọi sự tự dụng tự nhiên, muốn ăn thứ gì đều có ngay các thứ ngon vật lạ, muốn mặc thứ gì liền có thứ đó, được hưởng mọi sự vui vẻ.
Tôi nguyên: khi thành Phật rồi, chúng sinh trong mười phương thế giới tu thiện căn nghe danh tôi niệm hiệu tôi đến nhất tâm bất loạn, muốn sinh về cõi nước ấy đều được toại nguyện, khi lâm chung được tôi cùng Thánh chúng đến đón về.
Tôi nguyện: khi tôi thành Phật, các người tu Bồ Tát nguyện đến cõi nước tôi đều được ngôi Bổ Xứ, có Nhất Thiết Trí, đủ 32 tướng tốt, được biện tài, thấy mười phương cõi Phật.
Thưa đức Thế Tôn, tôi nguyện được cõi nước như thế, tôi nguyện được như thế, chúng sinh như thế, Bồ Tát như thế, thì tôi mới chịu thành Phật.
Đức Phật Bảo Tạng nghe vua Vô tránh Niệm nguyện những lời ấy rồi khen rằng:
“Hay thay! Hay thay! Đại Vương phát nguyện rộng lớn muốn cõi thanh tịnh như vậy, Đại Vương hãy nhìn về phương Tây cách đây trăm nghìn muôn ức cõi Phật (Một cõi Phật là một giải Ngân hà) có một thế giới tên là Tôn Thiện Vô Cấu, giáo chủ cõi ấy hiệu Tôn Âm Vương Như Lai, hiện nay đương giáo hóa các bậc Bồ Tát; cõi ấy rất xứng hợp với sự thệ nguyện của Đại Vương, nên nay Ta đổi hiệu Đại Vương là Vô Lượng Thanh Tịnh.
Sau một trung kiếp nữa (1 trung kiếp = 20 kiếp = 16 triệu năm X 20 = 320 triệu năm), đức Phật Tôn Âm Vương sẽ nhập Niết Bàn, chính pháp được truyền thêm 10 kiếp. Khi diệt rồi, trải qua 60 trung kiếp (4 trung kiếp = 1 đại kiếp), thì cõi Tôn Thiện đổi tên thành cõi Di Lâu Quang Minh có đức Phật hiệu Bất Khả Tư Nghì Đức Vương ra đời giáo hóa cõi ấy; sau khi Phật ấy nhập diệt, thì cõi ấy đổi thành An Lạc.
Đến thời này, Vô Lượng Thanh Tịnh, tức là Đại Vương đến đó chứng qủa thành Phật hiệu A Di Đà, tiếp dẫn vô lượng chúng sanh trong các thế giới đến đó, rồi giáo hóa cho thành Phật đạo cả .
Vua Vô tránh Niệm nghe Bảo Tạng Như Lai thụ ký rồi, liền thưa:
“Bạch đức Thế Tôn, Nếu sự thệ nguyện của tôi được như lời thọ ký của Ngài thì tôi xin kính lễ nhờ Ngài dùng phép thần thông làm cho Chư Phật mười phương cũng thọ ký cho tôi như Ngài”. Nói rồi cúi đầu thi lễ, đang lúc ấy mười phương thế giới đều vang động, đức Phật bảo: “Chư Phật mười phương đã thọ ký cho Đại Vương rồi”, Vua rất đỗi vui mừng, liền cúi đầu lễ Phật.
Khi ấy Đại Thần Bảo Hải cũng lễ Phật phát nguyện tu hạnh Bồ Tát ba đại A tăng kỳ kiếp không ngưng nghỉ để đạt đạo qủa Bồ Đề tại cõi uế trược hầu giáo hóa cứu vớt chúng sinh ra khỏi khổ não….sau này là Phật Thích Ca.
Từ đó về sau, vua Vô tránh Niệm mạng chung, chuyển qua vô lượng các đời khác, kiếp nào cũng giữ bản nguyện cứu giúp chúng sinh tu hạnh Bồ Tát.

Tới một kiếp về sau, có đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai lúc còn ở ngôi Quốc Vương tại một cõi nước kia, Vua có 16 người con, rồi bỏ ngai vàng xuất gia tu đạo thành Phật. Sau mười sáu Vương tử đều theo xuất gia làm Sa môn, Sa di học đạo, các vị Vương tử đều tinh tấn tu hành, nên đều đạt qủa hoặc sơ hoặc trung Bồ Tát. Vị Sa di thứ chín bấy giờ về sau là Phật A Di Đà, vị Sa Di thứ mười sáu, bấy giờ về sau là Phật Thích Ca.

Về sau vô lượng kiếp, có Thái tử tên Bất tư nghì Thắng công đức, năm 16 tuổi, Thái tử nghe Kinh “Bản pháp Đà la ni” nơi đức Phật Bảo Công Đức Tinh Tú Kiếp Vương. Nghe xong, Thái tử tinh tấn tu hành trong bảy mươi nghìn năm không ngưng nghỉ. Nhờ sức dũng mãnh ấy, Thái tử được gặp vô số chư Phật, bao nhiêu sự truyền dạy của chư Phật, Thái tử đều thụ trì tu tập cả. Thái tử cũng giáo hóa cho vô lượng chúng sinh trong khi tu Bồ Tát đạo, Thái tử đây là tiền thân của Phật A Di Đà bây giờ.

Rồi tới một kiếp về sau, vào lúc có Phật Tự Tại Vương ra đời giáo hóa chúng sanh, có một vị Vua được nghe đức Phật thuyết pháp, lòng rất vui thích, liền phát tâm Bồ Đề rời bỏ ngôi Vua, xuất gia làm Sa Môn hiệu là Pháp Tạng. Đảnh lễ đức Thế Tự Tại Vương, Sa môn Pháp Tạng ca ngợi công đức của Phật và cầu Phật truyền công hạnh tu tập cùng giáo hóa chúng sinh.
Sau khi quán sát, biết Sa môn Pháp Tạng đã từng tu vô số kiếp, có chí nguyện sâu dầy, đức Phật Thế Tự Tại Vương giảng nói về vô lượng thế giới, và hiện cho thấy từ cõi nghiêm trang cho tới cõi uế tạp đủ cả.
Khi thấy các thế giới xong, Sa môn Pháp Tạng suy gẫm, chọn lấy cõi trang nghiêm thanh tịnh, rồi lễ Phật mà cầu chứng cho phát 48 lời nguyện thù thắng vô thượng. Lúc Bồ Tát Pháp Tạng thệ 48 đại nguyện xong, khắp cõi đất nước đều rúng động rung chuyển, hoa báu rải rơi xuống như mưa, tiếng nhạc vang lừng trong hư không. (Xin xem 48 đại nguyện của đức Phật A Di Đà)

Trải qua bao nhiêu kiếp: Bồ Tát tu hành làm Phật sự, thực hiện hoàn toàn các điều thệ nguyện, công viên qủa mãn, thành Chính Giác. Từ khi thành Phật đến nay đã mười kiếp rồi.
Ngài ở cõi Cực Lạc đang giảng dạy cho các vị Bồ Tát Bất thoái chuyển, và thường đến mười phương đón chúng sinh muốn sinh về cõi ấy để tiếp tục tu hành.
Vậy những ai muốn được sinh về Tây phương cực lạc, hãy kiên trì ngày đêm niệm “Nam mô Tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật”, hoặc “Nam mô A Di Đà Phật”. Miệng niệm, tâm muốn thấy Phật A Di Đà, nguyện sinh về Tây phương cực lạc. Ngày đêm siêng năng tu hành, không lười mỏi, khi niệm như thế sẽ sạch ba nghiệp, vì khi niệm thân không làm hạnh tà ác, dứt thân nghiệp; khi miệng niệm Phật chẳng nói lời tà ác, dứt khẩu nghiệp; khi niệm Phật, ý nghĩ cố gắng trong sạch, không nghĩ tà vạy, dứt ý nghiệp. Người niệm Phật A Di Đà lấy niệm làm nấc thang, lấy tinh tấn chuyên cần làm cây thang, nguyện sinh về cõi Phật. Siêng năng không ngưng nghỉ, tâm tính thuần thục duyên lành. Niệm cho tới nhất tâm bất loạn, khi nhắm mắt qua đời, đã có chỗ quy hướng là cõi Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà. Sinh về đó rồi tiếp tục tu hành, không mất hột giống lành, chờ ngày tu hành thành Phật.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

9 Pages: V « < 7 8 9
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 18th September 2019 - 12:09 AM