IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

9 Pages: V < 1 2 3 4 > »   
Reply to this topicStart new topic
> NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI, (TÔN GIÁO)
kimngan
post Jul 23 2011, 10:45 PM
Gửi vào: #21


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐỀ-BÀ ĐẠT-ĐA
TẠO TỘI


(Tiếp theo)
Toàn Không


Tỳ-kheo Ni đáp:
- Nay ông đi chung với kẻ ác và tạo các điều không tốt.

Bấy giờ, Đề-Bà nổi giận như điên như khùng, đánh tới tấp vào Tỳ-kheo Ni cho đến chết mới thôi!
Hại chết bậc A-La-Hán Ni, Đề-Bà Đạt-Đa bỏ về chỗ ở, tuyên bố với các đệ tử:
“Chỗ nào có ác, ác từ đâu sinh? Ai làm việc ác này phải chịu qủa báo đó, ta cũng chẳng làm việc ác này mà phải chịu qủa báo”. (Tăng-Nhất A-Hàm, quyển 1, trang 148).

Có Tỳ-Kheo nghe được những lời ấy, đến thưa với Phật, Ngài bảo:
- Có ác thì có tội, thiện ác đều có báo ứng. Nếu Đề-Bà kia biết có qủa báo liền sẽ khô héo, sầu lo chẳng vui, máu sẽ phun lên đầy mặt; vì ông ta chẳng biết qủa báo nên mới nói như vậy.

Một hôm, Đề-Bà Đạt-Đa nói với các đệ tử:
- Ta khởi ý ác với Sa-môn Cù-Đàm, xong việc ấy không nên; vì A-La-Hán lại khởi ý ác đối với A-La-Hán, nay ta có thể hướng về Cù-Đàm sám hối.

Đề-Bà lo buồn sinh bệnh trầm trọng, ông nói với các đệ tử của mình:
- Ta không đủ sức đến chỗ Cù-Đàm để sám hối.

Nói rồi lại lén đi lấy thuốc độc bôi vào mười đầu ngón tay, xong bảo các đệ tử khiêng đến chỗ Sa-môn Cù-Đàm.
Khi ấy Tôn-giả A-Nan xa xa thấy liền thưa Phật:
- Đề-Bà Đạt-Đa đến chắc có tâm hối hận muốn hướng về Thế-Tôn cầu xin hối cải.

Phật bảo A-Nan:
- Người ác ấy không thể đến chỗ Như-Lai.
Tôn-giả A-Nan ba lần thưa như thế, Phật trả lời cũng ba lần như thế.

Bấy giờ đến gần chỗ Thế-Tôn, Đề-Bà Đạt-Đa bảo các đệ tử:
- Ta muốn xuống võng, ta không muốn nằm ra mắt Thế-Tôn.

Các đệ tử liền dừng chân, Đề-Bà Đạt-Đa vừa bước chân xuống đất, tự nhiên có lửa gió đốt cháy chân, thân; Đề-Bà bị lửa đốt liền khởi tâm hối hận, muốn niệm “Nam Mô Phật”, nhưng chưa kịp mà chỉ nói được “Nam Mô” liền ngã lăn ra chết. Sau khi thấy Đề-Bà chết, Tôn-giả A-Nan hỏi Phật:
- Đề-Bà Đạt-Đa có đọa Địa-ngục không, nếu có thì tại Địa-ngục nào?

Phật bảo Tôn-giả:
- Ông ấy có ác tâm đối với Như-Lai, khi chết đọa Địa-ngục A-Tỳ vì phạm tội ngũ nghịch, và phải chịu khổ hết đại kiếp trong hiền kiếp này.

A-Nan nghe Phật nói, buồn khóc mà hỏi Phật:
- Đề-Bà Đạt-Đa từ Địa-ngục ra sẽ sinh về đâu? Và về lâu xa về sau Đề-Bà có tạo được công đức gì đáng kể không?

Phật bảo:
- Đề-Bà Đạt-Đa mạng chung ở Địa ngục sinh lên các cõi Trời, trải qua 60 kiếp không rơi vào ba đường ác, qua lại cõi Trời, Người; thân sau chót, ông ta sẽ cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo, thành vị Bích-Chi Phật hiệu là Nam-Mô. Vì ông ta có ý lành trong giây lát lúc cuối khi mạng chung, khởi tâm hòa vui nói: “Nam mô”, nên sau làm Bích-Chi Phật hiệu Nam-Mô; nghe Phật nói thế, Tôn-giả A-Nan cảm thấy phấn khởi, không còn buồn rầu nữa.

Mấy ngày sau, Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên, trong đại chúng, đứng lên vái Phật và thưa:
- Nay con muốn xuống Địa-ngục A-Tỳ nói về yếu hạnh nhẫn nhục, hoan hỷ cho Đề-Bà Đạt-Đa, vì con hiểu được 64 âm thanh thông suốt ngôn ngữ, con sẽ dùng âm thanh ấy nói với Đề-Bà Đạt-Đa.

Phật bảo:
- Thầy nên biết, chớ vội vàng hung bạo, chuyên tâm chính ý chớ khởi loạn tưởng; vì hạng chúng-sanh đọa Địa-ngục khó điều phục, thầy nên biết đúng lúc.

Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên vái Phật, rồi liền ở trước Phật vào Địa-ngục trong chớp mắt; khi Tôn-giả đang ở trong Địa-ngục A-Tỳ, đứng trên hư không kêu gọi : “Đề-Bà Đạt-Đa, Đề-Bà Đạt-Đa”.
Không thấy gì, cũng không nghe tiếng trả lời, nhưng sau đó có tiếng hỏi:
- Ông là ai, muốn kêu Đề-Bà Đạt-Đa nào?, tại đây có nhiều Đề-Bà Đạt-Đa.
- Ta là Đại Mục-Kiền-Liên, đại đệ tử của Thế-Tôn, nay ta muốn tìm gặp Đề-Ba Đạt-Đa là em con nhà chú cuả Phật Thích-Ca.

Ngục tốt nói:
- Xin Tôn-giả chờ một chút.
Qủy ngục ấy đốt lửa vào thân Đề-Bà Đạt-Đa cho tỉnh rồi nói:
- Kẻ ngu si này, ngủ gì mà mê mệt như thế.

Đề-Bà bị khổ bức bách, tỉnh dậy nói:
- Các ông dạy bảo tôi điều gì, tôi xin vâng hết.
Ngục tốt bảo:
- Ngươi hãy nhìn lên trên kia coi.
Vừa nói ngục tốt vừa chỉ Tôn-giả, Đề-Bà nhìn lên thấy người ngồi kiết già trên hoa sen, rực rỡ sáng ngời như mặt trời vàng chói, bèn nói:
- Vị nào đấy? Có điều chi dạy bảo tôi xin vâng hết.

Tôn-giả nói kệ:
Ta đệ tử Thích-Ca,
Thuộc dòng dõi Cù-Đàm,
Đại Thanh-Văn trong ấy,
Tên Đại Mục-Kiền-Liên.

Rồi Tôn-giả bảo:
- Tôi do Phật sai đến, muốn thương xót nhổ gốc khổ cho ông, Đề-Bà Đạt-Đa chớ lo sợ, Địa-ngục khổ nhất không hơn chỗ này; Đức Phật Thích-Ca chí chân thương xót tất cả chúng-sanh các loài cho đến côn trùng nhỏ tí như mẹ thương con.

Rồi Tôn-giả kể hết những việc Phật đã thọ ký cho Đề-Bà Đạt-Đa nghe, nghe rồi Đề-Bà vui mừng hớn hở, tâm lành phát sinh, thưa với Tôn-giả:
- Lời nói của Như-Lai tôi hoàn toàn tin, Như-Lai đại từ đại bi hóa độ kẻ ngu, dù tôi nằm ở Địa ngục A-Tỳ này trải qua một đại kiếp, tâm ý vẫn chuyên nhất không mệt mỏi.

Tôn-giả hỏi Đề-Bà Đạt-Đa:
- Thế nào, sự đau đớn ra sao, nó như thế nào?
Đề-Bà đáp:
- Sự đau đớn của tôi vô cùng tận! Bánh xe nóng đỏ nghiến nát thân tôi, lại có chày sắt đập nát thân ra, voi đen dữ dằn đạp thân tôi nát tan; lại có núi lửa đè trên đầu mặt làm cho xẹp lép. Áo mặc hóa thành lá đồng nóng đỏ cuốn lấy thân thiêu đốt hết cả da thịt, đau khổ cùng cực như thế, chịu sao thấu!
Tôn-giả nói kệ bảo:
- Đó là do tội báo ông đã gây ra, do ông bực tức nổi giận đối với bậc Thánh nên bị chày sắt đập nát thân hình. Do ông gây rối, chia rẽ Tăng đoàn nên bị xe nóng nghiền nát thân ra. Do ông vác đá lớn ném mưu hại thân Phật nên bị qủa báo núi lửa đè đầu mặt làm cho xẹp lép. Do ông bảo vua cho voi uống rượu say ý mong hại thân Như-Lai, nên bị voi đen giày đạp trên mình. Do ông nổi hung ác trước người khuyên bảo rồi đánh chết Tỳ-kheo Ni, nên bị lá đồng đốt cuốn quanh khắp thân không gỡ ra được; tội gốc chính là vậy, nay ông phải tự nhất tâm hướng về Phật sẽ được phúc.

Đề-Bà Đạt-Đa nói:
- Tôi nay cúi đầu lễ chân Phật, xin Tôn-giả cho tôi gửi lời thăm hỏi Thế-Tôn, và thăm hỏi A-Nan.

Bấy giờ, Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên phóng thần lực khiến các khổ não trong Địa-ngục tạm dừng lại, rồi nói kệ:
Hãy niệm Nam-mô Phật,
Bậc Chính-Đẳng tối thắng,
Ngài sẽ ban yên ổn,
Dẹp trừ các khổ não.

Bấy giờ, có sáu vạn người được dứt qủa báo khổ, liền mạng chung nơi ấy, tái sinh đến các cõi lành. Tôn-giả liền trở về, vái Phật rồi thưa:
- Đề-Bà Đạt-Đa cung kính vô lượng lễ chân Phật và thăm hỏi Thế-Tôn, ông ta cũng thăm hỏi Tôn-giả A-Nan, ông ta nói: “Được Như-Lai thọ ký sẽ thành Bícb-Chi Phật hiệu Nam-Mô, dù cho tôi ở trong Địa-ngục một đại kiếp cũng không mệt mỏi”.

Phật nói:
- Lành thay, Mục-Kiền-Liên, thầy làm được nhiều lợi ích, thương tưởng loài ngu tối, trời, người được nhiều an lạc.

LỜI BÀN:

Đọc qua bài Đề-Bà Đạt-Đa tạo tội, chúng ta thấy khởi đầu, Đề-Bà Đạt-Đa đến chỗ Phật xin theo Phật tu hành. Lúc ấy Phật khuyên Đề-Bà nên ở tại gia tu phước và từ chối không chấp thuận cho làm Tỳ-kheo, chúng ta nghĩ: “Đề-Bà Đạt-Đa là bà con anh em cùng dòng Hoàng gia, tại sao Phật lại từ chối như thế ?”. Chúng ta có biết đâu rằng Phật có Phật nhãn, Ngài thấy trước những gì có thể xảy ra nếu nhận con người ấy vào tu trong Tăng đoàn; do đó Phật đã từ chối để ngăn ngừa trước, nhưng Ngài đã không ngăn ngừa được khi Đề-Bà cố ý làm.

Đến khi Đề-Bà học được ngũ-thông, chưa phải là bậc A-La-Hán (có lục-thông), nhưng vì tính hiếu thắng, trí kiêu căng, lòng tham lợi lộc, nên đã khoe tài thần thông của mìmh; đồng thời lòng kiêu căng nổi dậy, tính phàm phu vị kỷ che khuất tất cả, nên đã khởi ra những ý nghĩ kiêu ngạo như: “Sa-môn Cù-Đàm hiện thần túc một, ta sẽ hiện hai, Sa-môn hiện bốn ta sẽ hiện tám v.v...”; đây chính là những kẻ vô minh không biết mình, không biết người nên mới nghĩ như thế.

Tới khi ném đá mưu giết Phật không thành, Phật chỉ bị mảnh đá văng làm chảy máu chân chút đỉnh; nếu là người trí phải tự hỏi: “Tại sao ném như thế mà tảng đá lại văng ra chỗ khác, không trúng?” Nếu Đề-Bà chịu suy xét, phải nghĩ rằng: “Phải có việc gì bí ẩn, nên mới có hiện tượng ném thẳng mà sao tảng đá bật qua một bên như có người hay vật gì đỡ lại vậy”; nếu Đề-Bà suy xét và biết như vậy, có lẽ ông ta đã qùy mọp trước Phật để xin tha thứ, hoặc không còn dám nghĩ tới các hành động ác khác nữa.

Nhưng vì ngu dốt nên mới tiếp tục đi sâu vào tội ác, ông ta bèn đến chỗ vua ác A-Xà-Thế bày mưu độc dùng voi say giết Phật. Nhưng rồi, kế hoạch ác ấy cũng bị thất bại.
Khi voi đang khẻo mạnh cường tráng như thế mà tự nhiên lăn đùng ra chết không giãy giụa, phải tự hỏi là tại sao như thế? Mặc dù ông ta nói được câu: “Sa-môn Cù-Đàm có chú thuật khiến các ngoại đạo dị học đều thảy hàng phục...” khi nói với vua A-Xà-Thế. Nhưng sự vô minh chưa dễ gì tỉnh được, kẻ ác ngu si tăm tối càng lún sâu trong tội ác.

Trên đường đi, Đề-Bà gặp Tỳ-kheo Ni Pháp-Thí khuyên bảo lẽ phải như thế, không những không hồi tỉnh, lại còn nổi cơn thịnh nộ đánh chết người không gớm tay.

Khi bệnh đến thân, mặc dù nói được những lời hối lỗi, nhưng lại là những lời giả dối: Miệng nói hối lỗi, nhưng tâm nghĩ và việc làm lại khác, miệng nói với các đệ tử rằng “Ta muốn tới chỗ Sa-môn Cù-Đàm để sám hối”, nhưng lại ngầm lấy thuốc độc bôi vào mười đầu ngón tay. Để làm gì? Kẻ ngu đã lún sâu vào tội ác, lại càng mưu độc lún sâu hơn vào tội đại ác.

Đề-Bà Đạt-Đa quyết giết Phật để làm Phật ba cõi! Thật là mơ ước của kẻ khùng điên, vì lúc này ông ta đã mất hết thần thông rồi, đâu có khác gì kẻ phàm phu bình thường; vậy mà vẫn chưa tỉnh ngộ, để đến nỗi phải mạng vong, sa địa-ngục!.,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jul 27 2011, 05:14 AM
Gửi vào: #22


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



NHỮNG LỜI KIÊU MẠN

Toàn Không


Khi đức Phật du hóa đến núi Tỳ-ha-La, thuộc thành La-duyệt-Kỳ, Ngài trú ngụ trong động cây Thất-diệp (Sau này tập kết Kinh Luật ở đây); có một vị Cư-sĩ tên là Tán-đà-Na thuộc thành La-duyệt-Kỳ, cứ mỗi ngày thường đến chỗ Phật ngụ. Một hôm trên đường đi, Cư-sĩ Tán-đà-Na nhìn bóng mặt trời thấy còn sớm, vì Cư-sĩ nghĩ rằng đức Phật còn đang nhập định, và các vị Tỳ-kheo cũng còn đang thiền-định; nghĩ như vậy, nên Cư-sĩ Tán-đà-Na tạm thời tạt vào nghỉ chân tại rừng Ô-tạm Bà-Lợi.

Lúc đó trong rừng Ô-tạm Bà-Lợi có Phạm-chí tên là Ni-câu-Đà cùng năm trăm đệ-tử ở đó, họ đang lớn tiếng bàn luận chính trị. Khi Phạm-chí Ni-câu-Đà vừa trông thấy bóng dáng Cư-sĩ Tán-đà-Na từ xa đi tới, ông liền ra lệnh:
- Mọi người hãy giữ im lặng, vì có người lạ đang đi tới.

Từ xa, Cư-sĩ đã nghe tiếng nói chuyện ồn ào, nên sau khi gặp, chào hỏi xã giao xong, ông nói với Phạm-chí Ni-câu-Đà:
- Thầy tôi là Sa-môn Cù-Đàm thường ưa yên tịnh không chịu ồn ào, không giống như các ông thường hay bàn luận ồn ào.

Phạm-chí Ni-câu-Đà đáp lời:
- Sa-môn Cù-Đàm có lần nào cùng ông đàm luận không? Ông làm sao biết được Sa-môn Cù-Đàm có đại trí-tuệ? Ông ở nơi biên địa khác nào như trâu đui ăn cỏ, sự thấy biết của ông thiên lệch; Sa-môn Cù-Đàm thầy của ông cũng vậy, ưa bảo thủ những quan niệm thiên lệch, và thích ở chỗ không người, nếu thầy ông tới đây, chúng tôi sẽ gọi là “con trâu đui”. Còn việc Sa-môn Cù-Đàm thường tự xưng là đại trí-tuệ, nhưng chúng tôi chỉ cần dùng một câu là làm cho ông ta bí lối, mà phải làm thinh; ông ta cũng ví như “con rùa thun rụt hết đầu đuôi bốn chân vào vỏ”, và cho như thế là yên, nhưng chúng tôi chỉ cần một mũi tên bắn ra là không còn chỗ trốn.

Bấy giờ đức Thế-Tôn đang ở trong tịnh-thất nghe (Ngài dùng Thiên nhĩ) Phạm-chí nói những lời như thế, Ngài liền rời động cây Thất-diệp, đi đến chỗ Phạm-chí Ni-câu-Đà. Phạm chí Ni-câu-Đà trông thấy đức Phật từ đằng xa đi tới, vội bảo các đệ-tử rằng: - Sa-môn Cù-Đàm đang đến đây, vậy các ngươi chớ đón tiếp, không cung kính, cũng không mời ngồi; trái lại chỉ một chỗ riêng cho ông ta ngồi mà thôi, rồi hỏi: “Sa-môn Cù-Đàm từ đâu tới? Ông dùng pháp gi để dạy đệ-tử khiến họ được tịch tĩnh ?”.

Phạm-chí vừa nói xong thì đức Thế-Tôn cũng vừa tới nơi, các đệ-tử Phạm-chí bất giác tự nhiên đứng dậy nghênh tiếp và nói:
- Qúy hóa thay đức Cù-Đàm đến đây, vinh hạnh thay đức Sa-môn đến đây, xin mời Ngài ngồi tạm chỗ phiá trước đây; từ lâu không được gặp Ngài, nay có việc gì Ngài lại đến đây?

Tại sao họ lại thay đổi thái độ một cách mau chóng như vậy? Đó là do oai nghi thần-lực của Phật khiến ác tâm của họ bị tiêu tan. Sau khi đức Phật an tọa rồi, cư-sĩ Tán-đà-Na cúi đầu đảnh lễ Phật, rồi ngồi qua một bên, lúc ấy Phạm-chí Ni-câu-Đà nói: - Sa-môn Cù-Đàm: từ đâu đến đây, Ông dùng pháp gì để dạy đệ-tử khiến họ được tịch tĩnh?

Đức Phật liền nói:
- Thôi đi Phạm-chí: pháp của Ta dạy bảo đệ-tử từ trước đến nay thì không thể nào ông so sánh được, ngay cả thầy ông và đệ-tử tu hành tịnh hay bất tịnh Ta đều có thể nói được.

Lúc đó các đệ-tử của Phạm-chí bàn tán với nhau: ”Sa-môn Cù-Đàm có thần-lực lớn, có trí-tuệ lớn, người ta hỏi nghĩa lý của mình, mà mình lại nói nghĩa lý của người ta”. Khi ấy Phạm-chi Ni-câu-Đà nói:
- Tốt lắm, xin ông hãy phân biệt rõ ràng, chúng tôi đang muốn nghe.

Đức Phật nói:
- Những việc làm của các ông đều thấp kém như lõa thể rồi lấy tay che, hoặc không nhận thức ăn đựng trong bát. Không nhận đồ ăn khi người ta đang ăn, hoặc khi nhà người ta có người đang có thai. Không nhận thức ăn khi nhà có chó đưng trước cửa, hoặc nhà có nhiều ruồi. Không nhận thức ăn khi người tu hành mời, hoặc một ngày hai ngày cho đến bảy ngày chỉ ăn một bữa. Hoặc chỉ ăn rau, chỉ ăn cỏ, chỉ uống nước cháo, chỉ ăn mè (vừng), chỉ ăn gạo sống. Hoặc ăn phân bò, phân nai; hoặc ăn rễ, búp, lá, hạt; hoặc ăn qủa (trái cây) rụng. Hoặc choàng áo trên vai, mặc áo cỏ, áo vỏ cây, áo da nai. Hoặc cuốn cỏ quanh mình, mang tấm lông, mặc áo bỏ ngoài gò mả. Hoặc không ngồi giường, cạo tóc chừa râu, nằm trên chông gai. Hoặc nằm trên trái cây vỏ cứng, lõa thể nằm trên đống phân bò. Hoặc một ngày tắm ba lần, hoặc một đêm tắm ba lần.

Tóm lại: các ông dùng vô số khổ hạnh để hành hạ xác thân như thế, ông nghĩ sao, tu khổ hạnh như vậy đáng gọi là thanh tịnh chăng? Nếu ông cho là thanh tịnh, Ta sẽ từ trong cái tịnh ấy mà chỉ ra những điều bất tịnh cho ông xem.

Phạm-chí đáp:
- Đó là những pháp thanh tịnh chứ chẳng phải là bất tịnh, ông cứ nói những điều bất tịnh, tôi đang muốn nghe.

Đức Phật bảo:
Người tu khổ hạnh, trong tâm vẫn tự nghĩ: “Nay ta tu như thế này, sẽ được mọi người nể vì, cung kính, lễ bái, cúng dường”, đó không phải là thanh tịnh, mà là cấu uế (dơ bẩn, xấu xa, đê hèn, tồi tệ); người tu khổ hạnh khi được cung kính, lễ bái, cúng dường liền say đắm không muốn từ bỏ, luyến ái không muốn thoát ly, đó là luyến ái xấu xa cấu uế.

Khi vừa trông thấy bóng dáng người lạ đến, vội vàng cùng bảo nhau ngồi thiền, nhưng khi không có người lạ lại tự ý đi đứng, ngồi nằm, chuyện trò thỏa thích, đó là không chân chính, cấu uế; khi nghe chính nghĩa của người khác không chịu nhìn nhận, đó là kiến giải sai lầm cấu uế; nếu ai hỏi đúng mà tiếc rẻ không chịu đáp, đó là tư tưởng xấu xa cấu uế.

Thấy người cúng dàng Sa-môn, Bà-la-Môn, sinh lòng chê bai, cản trở gièm pha, đó là cấu uế hèn hạ; nếu có thức ăn, tham lam giữ ăn một mình, đó là ích kỷ dơ bẩn cấu uế; người tu khổ hạnh mà sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời ly gián, nói lời độc ác, nói lời thêm bớt, tham lam, sân hận, tà kiến, đó là cấu uế.

Tu khổ hạnh mà lười biếng, ham vui mê mờ, không tu thiền định, đó là buông lung phóng đãng cấu uế; người tu khổ hạnh không có tín nghĩa, không giữ tịnh giới, không siêng năng học hỏi, kết bạn cùng người ác để làm việc ác, đó là cấu uế; nếu tu khổ hạnh mà thích làm những điều xảo trá, tìm tòi những chỗ sơ hở của người khác, đó là thấp hèn cấu uế.

Thế nào Ni-câu-Đà, lối tu khổ hạnh như vậy đáng gọi là thanh tịnh chăng? Ta sẽ từ trong pháp cấu uế của các ông mà chỉ ra pháp thanh tịnh không cấu uế.
Phạm-chí Ni-câu-Đà đáp:
- Đó là bất tịnh chứ không phải là thanh tịnh, xin Ngài cứ nói những pháp thanh tịnh không cấu uế.

Đức Phật giảng:
Người tu khổ hạnh không tự nghĩ rằng: “Ta tu như thế sẽ được cung kính, lễ bái, cúng dường”, đó là pháp khổ hạnh dứt trừ cấu uế; người tu khổ hạnh khi được cúng dường, nhưng tâm không tham đắm, biết cách thoát ly, xa lià, đó là tốt đẹp không cấu uế; tu khổ hạnh thường tu tọa thiền theo thường lệ, chứ không vì có người hay không có người đến mà thay đổi, đó là chân chính xa lià cấu uế.
Khi nghe đến chính nghĩa của người khác liền vui vẻ tin nhận, đó là đúng đắn không cấu uế; nếu có ai hỏi han liền vui vẻ giải đáp, đó là đàng hoàng xa lià cấu uế; khi thấy người cúng dường Sa-môn, Bà-la-Môn, thì vui mừng thế cho họ không gièm pha cản trở, đó là có tâm hoan hỉ không cấu uế.
Lúc nhận được thức ăn, không luyến tiếc tham đắm, không dành ăn một mình, mà chia cho kẻ khác, đó là vị tha hòa đồng xa lià cấu uế; không tự khen mình chê người, đó là chân chính không cấu uế; không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời ly gián, không nói lời thêm bớt, không nói lời độc ác, không tham lam, không giận hờn thù hận, không tật đố tà kiến, đó là đoạn diệt cấu uế.
Chẳng tự cao tự đại, chẳng kiêu căng ngã mạn, đó là xa lià cấu uế; giữ lòng tín nghĩa, thực hành hạnh báo đáp, giữ gìn tịnh giới, siêng năng học hỏi, làm bạn với người lành, lo tích chứa điều lành, đó là phạm hạnh không cấu uế; không xảo quyệt, không ỷ mình hiểu biết, không tìm khuyết điểm của người, đó là cao cả xa lià cấu uế.
Này Ni-câu-Đà nghĩ thế nào, pháp khổ hạnh như vậy có phải là pháp thanh tịnh xa lià cấu uế không?
Phạm-chí đáp:
- Đúng vậy, qủa thật đó là những pháp thanh tịnh xa lià cấu uế.

Rồi Phạm-chí hỏi Phật:
- Chẳng hay pháp khổ hạnh đến mức độ này có được gọi là kiên cố đệ nhất hay chưa? Xin Ngài cho biết.
- Chưa, đó mới chỉ là vỏ cây thôi, chưa được gọi là kiên cố. Này Ni-câu-Đà, người tu khổ hạnh tự mình không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lời đối chọi nhau, không nói lời ly gián, không nói lời thêm bớt, không nói lời độc ác, không tham lam, không giận hờn thù hằn, không tật đố tà kiến. Người tu khổ hạnh cũng không bảo người khác làm các việc ác ấy, người này đem tâm Từ trải khắp một phương, đến các phương khác cũng vậy, với tâm Từ quảng-đại, bình đẳng khắp cả thế-gian, không oán giận; với tâm Bi, tâm Hỷ, tâm Xả cũng như thế, người tu khổ hạnh này mới được gọi là lõi cây.
- Xin Ngài nói về nghĩa khổ hạnh kiên cố.
- Hãy lắng nghe, Ta sẽ nói cho.
- Vâng.
- Người tu khổ hạnh đã như lõi cây ở trên rồi, còn phải biết việc xảy ra trong vô số kiếp về trước, hoặc một đời, hoặc hai đời cho đến vô số đời, quốc độ thành hoại hay kiếp số trước sau đều biết hết. Đồng thời còn phải biết rõ mình từng sinh vào chủng tộc đó, tên tuổi như thế, từ đó sinh về đây, từ đây chết đi rồi sinh về kia; tất cả những việc từ vô số kiếp như thế đều nhớ cả, đó là người tu khổ hạnh kiên cố không hoại.
- Xin Ngài giảng thế nào là pháp khổ hạnh bậc nhất?
- Hãy lắng nghe, Ta sẽ nói cho.
- Vâng, thưa đức Thế-Tôn, con đang muốn nghe.
- Này Ni-câu-Đà, những người tu khổ hạnh đã không làm mười điều ác, cũng không bảo người khác làm mười điều ác; vị ấy đem trải tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả rải khắp thế-gian. Vị ấy tự biết việc xảy ra cho chính mình trong vô số kiếp, và vị ấy có thể dùng thiên-nhãn thanh tịnh quán sát các loại chúng-sanh thấy họ chết đây sinh kia, sinh ở cõi tốt, cõi xấu đều thấy biết hết. Lại còn thấy rõ có chúng-sanh thân làm điều ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ việc ác, hủy báng thánh-hiền, tin theo tà đạo dị kiến, sau khi chết bị đọa vào ba cõi dữ là Địa-ngục, Súc-sinh và Ngạ-qủy. Vị ấy còn thấy biết có chúng-sanh làm các điều lành, miệng nói các lời chân thật, ý nghĩ các việc tốt lành, ca ngợi thánh-hiền, tu hành chính tín, và sau khi qua đời được sinh vào cõi tốt là cõi Trời hoặc cõi Người có địa vị giàu sang. Vị ấy với thiên-nhãn thanh-tịnh thấy chúng-sanh theo hành-nghiệp (việc làm, lời nói, ý nghĩ) mà chết đi ở cõi này và sinh đến cõi kia, không có gì mà không thấy không biết, đó là khổ hạnh thù thắng bậc nhất.

Đức Phật giảng tiếp:
- Còn có pháp thù thắng hơn nữa mà Ta thường đem giảng dạy cho hàng Thanh-văn, và họ nhờ pháp ấy mà tu được phạm-hạnh, trở thành bậc Thánh.

Bấy giờ các đệ-tử Phạm-chí đồng nghĩ và bảo nhau: “Nay chúng ta mới thấy được đức Cù-Đàm là tối thượng, Thầy ta không thể so sánh được”.

Khi ấy Cư-sĩ Tán-đà-Na nói với Phạm-chí Ni-câu-Đà:
- Trước đây ông đã nói như thế này: “Hễ thấy Sa-môn Cù-Đàm đến đây, chúng tôi sẽ gọi là “con trâu đui”. Chúng tôi chỉ một câu là đủ làm cho Sa-môn Cù-Đàm bí lối mà phải làm thinh như con rùa thun cả đầu, đuôi, bốn chân vào trong vỏ và cho thế là yên; nhưng chúng tôi chỉ cần một mũi tên bắn ra là Sa-môn Cù-Đàm không còn chỗ trốn”, sao ông không đem những lời này ra làm bí lối đức Thế-Tôn?

Phạm-chi cúi mặt lặng thinh không nói năng chi cả, đức Phật hỏi Phạm-chí:
- Trước đây ông có nói như vậy không?
- Thưa có, qủa thật tôi có nói, nếu tôi biết như vầy, tôi đã chẳng dám nói như thế đối với đức Cù-Đàm.
- Ông khá không nghe các bậc tiền bối thường nói: “Chư Phật, Như-Lai thường ưa ở núi rừng thanh vắng”, như Ta ngày nay ưa ở chỗ vắng, chứ không như các ông chỉ thích ở chỗ ồn ào, nói chuyện vô ích suốt ngày.
Phạm-chí nói:
- Tôi có nghe nói chư Phật trong quá khứ ưa chỗ vắng, độc cư trong rừng như Thế-Tôn ngày nay, chẳng như chúng tôi ưa chỗ ồn ào, nói điều vô ích suốt ngày.

Đức Phật bảo:
- Ông há không biết Sa-môn Cù-Đàm hay thuyết pháp về đạo Bồ-đề rằng: “Không những tự điều phục mình mà còn điều phục cho kẻ khác, không những dứt phiền não cho mình mà còn dứt phiền não cho kẻ khác. Không những tự mình qua đến bờ giác giải thoát, mà còn độ cho người khác đến bờ giác giải thoát”.

Khi ấy Phạm-chí Ni-câu-Đà, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước đức Phật, đầu mặt đảnh lễ, tay sờ chân Phật, tự xưng tên mình và nói:
- Con là Ni-Câu-Đà, nay xin quy y Phật, và con xin đảnh lễ dưới chân Ngài.
Đức Phật dạy:
- Thôi đi Ni-câu-Đà, hãy đứng dậy, chỉ cần tâm ông hiểu lời Ta nói, là đã đảnh lễ Ta rồi.
Lúc đó Phạm-chí Ni-câu-Đà lại đảnh lễ một lần nữa dưới chân Phật, rồi ngồi xuống một bên, Đức Phật đạy tiếp:
- Này Ni-Câu-Đà,
Chớ nghĩ rằng: “Như-Lai vì lợi dưỡng (lợi lộc về cơm áo v.v..) mà thuyết pháp, vì nếu có lợi dưỡng thì Ta bố thí hết cho ông. Ta thuyết Pháp vi diệu bậc nhất với mục đích diệt trừ làm việc ác, và tăng trưởng làm việc thiện của chúng-sanh mà thôi”.
Ông không nên nghĩ: “Như-Lai vì muốn được sự tôn trọng, vì muốn được tiếng khen, vì muốn là người dẫn đầu nên nói pháp. Nay quyến thuộc của ông Ta trả hết cho ông, Ta thuyết pháp với mục đích diệt trừ điều ác, tăng trưởng điều thiện của chúng-sanh mà thôi”.
Cũng chớ nghĩ rằng: “Như-Lai sẽ đặt ông ở nơi thiện pháp thanh bạch, mà chính ông phải tự mình ở nơi thiện pháp và siêng năng tu hành. Có như vậy, Như-Lai sẽ nói thiện pháp thanh bạch cho ông để diệt trừ điều ác tăng trưởng điều thiện”.
Lại nữa, ông đừng nghĩ: “Như-Lai vì muốn làm thầy cho nên thuyết pháp. Ta trả ông lại cho thầy ông, Ta chỉ nói pháp cho ông nghe mà thôi”.
Sau cùng, nếu ông cho rằng: “Ta có thiện pháp tương ưng thiện, giải-thoát tương ưng giải-thoát, nhưng Sa-môn Cù-Đàm đoạt của ta”, Ông chớ nghĩ như vậy, Ta trả lại pháp của ông cho ông, Ta chỉ giảng pháp cho ông nghe thôi.

Lúc bấy giờ cả hội chúng đều yên lặng, không có một ý niệm nào, không có một ai lên tiếng gì cả, vì do ma ngu si ám. Đức Phật thấy vậy, liền bảo Cư-sĩ Tán-đà-Na:
- Ta muốn trở về Tịnh-thất, ông hãy đi với Ta.

Đức Phật đứng dậy, nắm tay Cư-sĩ Tán-đà-Na, rồi Ngài vận dụng Thần-túc nương hư không mà đi trước sự ngơ ngác của mọi người..,.


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 3 2011, 12:15 PM
Gửi vào: #23


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



THIẾU PHỤ
CUỒNG ĐIÊN


Toàn Không


Khi đức Phật du hóa tại nước Di-hy-La, Ngài ngụ trong vườn Am-La. Bấy giờ có thiếu phụ tên là Bà-tứ-Tra có năm người con chết liên tiếp trong mấy năm. Vì qúa nhớ thương buồn rầu, nên khi đứa con thứ năm vừa chết xong, bà phát điên, xõa tóc, xé rách hết quần áo, chạy rong cùng đường kêu la, khi cười khi khóc, lúc nói lảm nhảm một mình.

Một hôm, bà chạy vào vườn Am-La trong lúc đức Phật đang thuyết pháp cho đại-chúng nghe, thiếu phụ điên cuồng chạy vào, vừa trông thấy đức Phật tự nhiên tỉnh lại, bà xấu hổ, khép nép ngồi xuống. Khi ấy đức Phật bảo Thị-giả A-Nan-Đà lấy áo Uất-đa-La của Phật đem cho bà và khiến bà khoác vào, Tôn-giả A-Nan-Đà vâng lời Phật lấy áo đưa cho bà, bà được áo, mặc xong, liền đến trước đức Phật cúi đầu lễ, rồi lui ra ngồi một bên.

Bấy giờ, đức Phật thuyết pháp cho bà nghe, khai thị, chỉ giáo, soi sáng và làm cho vui vẻ. Như thường lệ, đức Phật thuyết pháp theo thứ lớp cho đến khi tín tâm thanh tịnh, thọ tam quy, bà làm lễ xong vui vẻ tỉnh táo ra về.

Một năm sau, đứa con thứ sáu của bà bị bệnh và lăn ra chết! Nhưng lần này bà không ưu sầu phiền não, không còn kêu la khóc lóc, người chồng thấy thế ngạc nhiên hỏi bà:
- Những đứa con chết trước, bà thương nhớ các con nên kêu khóc, than Trời trách Đất ngày đêm, bà bỏ ăn bỏ ngủ, cho đến đứa thứ năm sau khi chết, bà phát cuồng điên, xé rách quần áo, chạy rông kêu la ngoài đường. Nay đứa con thứ sáu chết, bà không kêu la khóc than, không tỏ ra buồn khổ, tại sao vậy?

Bà vợ trả lời:
- Nếu kể từ vô thủy đến giờ, nghĩa là trăm nghìn vạn đời từ trước đến ngày nay, thì tôi có vô số con cháu, không sao tính hết được; nay tôi đã ra khỏi sự sống chết mất còn con cháu, nên không còn sầu khổ nữa.

Chồng bà khen:
- Bà đã được nghe ai nói Pháp ấy ở đâu? tôi chưa từng được nghe nói như thế bao giờ.
- Trong vườn Am-La có đấng Chính-Giác, Ngài là Phật tại thế; Ngài diễn nói tất cả khổ, nguyên nhân đưa đến khổ, làm thế nào diệt trừ khổ, và con đường dẫn đến đạo. Ngài dạy Bát Chính Đạo (Chính Kiến, Chính Tư duy, Chánh Ngữ, Chính Nghiệp, Chính Niệm, và Chính Định), tức là tám con đường Hiền-thánh diệt tất cả khổ, an ổn đến Niết-Bàn. Ngài là vị cứu tinh của tôi, là thầy tôi, tôi rất ưa thích giáo-pháp của Ngài, do đó tôi đã buông bỏ ý nghĩ nhớ con sầu khổ vô ích.
- Tôi cũng sẽ đến đó để được Ngài dạy tôi bỏ ưu phiền khổ não.

Bấy giờ chồng bà Bà-tứ-Tra tên Túc-xá-Đế, liền vội vã lên xe ngựa đến vườn Am-La. Ông vừa thấy Phật, lòng tin vui tăng lên, đi đến trước Phật cúi đầu đảnh lễ. Khi ấy đức Phật nói kệ khai mở pháp-nhãn cho ông, rồi nói Tứ Diệu-Đế về khổ, khổ tập, diệt khổ, và con đường tiến đến đạo; nghe rồi, ông Túc-xá-Đế liền thấy pháp, và thành tựu quán sát pháp.

Sau khi hiểu pháp, ông xin xuất gia, được đức Phật chấp nhận xuất gia rồi, một mình ông ở chỗ yên tĩnh tư duy thiền định; Đức Phật đã nói trước, thọ ký cho ông là đêm thứ ba ông sẽ đắc Tam-Minh [gồm: Túc-Mạng-Minh (Biết các tiền kiếp của mình và của các chúng-sanh), Sinh-Tử-Minh (Biết rõ chúng-sanh chết nghiệp gì, sinh quả nào), Lậu-Tận-Minh (Biết rõ ô nhiễm của mình chấm dứt như thế nào)], thì đúng đêm thứ ba ông đắc Tam-Minh. Sau khi đắc Tam-Minh rồi, đức Phật bảo người đánh xe đem xe về nhà, và báo cho vợ ông hay. Người đánh xe vâng lời Phật dong xe về, bà vợ thấy người đánh xe, liền hỏi:
- Ông chủ có được gặp đức Phật không, Đức Phật có vì ông chủ thuyết pháp khai thị không, và ông chủ hiện giờ ở đâu?
- Dạ, ông chủ đã được gặp Phật, và đã có lòng tin thanh tịnh; Ông chủ đã tôn kính Phật làm thầy, và được Phật khai mở Pháp-Nhãn. Ông chủ còn được Phật dạy bốn Diệu-Đế, và thành tựu quán sát pháp. Sau khi biết pháp, ông chủ liền xuất gia, và chuyên cần tinh tấn tư duy thiền định; hiện nay, ông chủ đã đắc Tam-Minh, và đức Phật sai con về đây nói với Bà như thế.

Bà vợ nghe xong, trong lòng vô cùng phấn khởi, vui vẻ nói với người đánh xe:
- Cho ngươi ngựa, xe với một trăm nghìn tiền bạc để làm vốn mà sinh sống, rồi ngươi hãy đi truyền tin tức này, nói rằng: “Bà-la-Môn Túc-xá-Đế đã theo Phật tu hành và chỉ sau ba ngày đã chứng Tam-Minh, khiến lòng bà vợ là Bà-tứ-Tra vô cùng sung sướng”.

Người đánh xe đáp:
- Con bây giờ đâu cần xe ngựa tiền bạc làm gì? Xin trả lại cho bà, vì con sẽ xin đi theo ông chủ, xin Phật cho xuất gia tu đạo.
- Hay thay! Ý Ngươi như thế rất đúng, hãy mau trở lại chỗ Phật để theo ông chủ xuất gia; không bao lâu nữa, chắc cũng đầy đủ Tam-Minh như ông chủ.
- Đúng thế, ông chủ xuất gia, con cũng muốn xuất gia như thế.
- Ông chủ xuất gia, ngươi cũng xuất gia theo, chắc chẳng bao lâu nữa, ta cũng xuất gia theo. Giống như con rồng lớn nương hư không mà bay đi, những con rồng khác, rồng nam, rồng nữ thảy đều bay theo. Ta cũng như thế, sẽ mang bình bát, mặc áo Cà-Sa, sống đời giản dị.
- Ý bà như vậy, ắt sẽ thành tựu, không bao lâu nữa sẽ thấy bà ít muốn, biết đủ, cạo tóc, mặc áo Cà-Sa, mang bình bát đi đến từng nhà khất thực mà ăn. Đối với năm ấm (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, hoặc có thể là tham, sân, hôn trầm, phóng dật, nghi ngờ), sáu giới (Bố thí, nhân nhục, trì giới, tinh tấn, thiền định, trí huệ, hoặc có thể là đất, nước, gió, lửa, hư không, và thức) đoạn trừ ái dục, xa lià sự trói buộc của tham, và dứt hết phiền não. Đó là những lời Phật giảng cho ông chủ mà con được nghe.

Chẳng bao lâu sau, ông Túc-xá-Đế, người đánh xe, bà Bà-tứ-Tra, và cô con gái Bà-lê-Tôn-Đà, bốn người nối tiếp xuất gia theo Phật tu hành, và giải thoát hết khổ. Về sau tất cả đều đắc qủa Thánh..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 7 2011, 07:19 AM
Gửi vào: #24


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TU-MA-ĐỀ LẤY CHỒNG

Toàn Không


Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc có con gái tên Tu-Ma-Đề, nhan sắc đẹp đẽ, đoan chính, thùy mị, lễ phép, hiếm có trên đời; bấy giờ có Trưởng-giả Mãn-Tài tại thành Mãn-Phú là bạn với Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc, có chút việc đến thăm Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc. Sau khi trông thấy Tu-Ma-Đề, ông hỏi Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc:
- Có phải cô gái vừa rồi là con gái ông không?

Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc trả lời:
- Phải, đó là con gái tôi đấy.
- Cháu đã có nơi nào hỏi chưa? Tôi có con trai tới tuổi trưởng thành chưa có vợ, tôi có thể làm thông gia với ông được không?
- Việc này không nên, mặc dù dòng họ và tài sản hai bên tương xứng, nhưng việc ông thờ thần và cúng tế thì khác với tôi.
- Mỗi bên chúng ta sẽ thờ phụng riêng, con ông sẽ phụng sự riêng, tự do, tôi không thấy có gì trở ngại.
- Nếu con gái tôi làm dâu nhà ông thì ông tốn tài sản rất nhiều, có thể nói là tới sáu vạn lạng vàng.

Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc nói vậy với mục đích từ chối, không ngờ Trưởng-giả Mãn-Tài trả lời ngay không cần suy nghĩ:
- Được, tôi hoàn toàn đồng ý như ông đã nói.
- Tôi còn một điều nữa là cần đến hỏi đức Thế-Tôn hiện ở không xa đây, nếu Ngài có dạy điều gì tôi phải vâng làm và sẽ trả lời ông lần chót; vậy ông hãy chờ ở đây, không lâu tôi sẽ trở lại ngay.

Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc sắp xếp mau chóng, đến chỗ Thế-Tôn cúi lạy rồi đứng qua một bên thưa:
- Con gái Tu-Ma-Đề của con được Trưởng-giả Mãn-Tài bên thành Mãn-Phú cầu hôn cho con trai, xin Thế-Tôn chỉ dạy, con nên gả hay không?
Phật bảo:
- Nếu gả Tu-Ma-Đề sang nước đó sẽ có nhiêu lợi ích không thể đo lường.
Nghe Phật nói thế, Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc vui mừng cúi lạy, nhiễu Phật ba vòng rồi trở về bảo Trưởng-giả Mãn-Tài:
- Việc gả con gái tôi cho con trai ông đúng như những gì mà chúng ta đã nói. Vậy đúng 15 ngày ông đưa con trai với đầy đủ lễ vật để đón con gái tôi tại biên giới giữa hai nước.

1)- Tu-Ma-Đề về nhà chồng:
Hai Trưởng-giả đều vui mừng phấn khởi rồi chia tay. Đúng 15 ngày, mọi việc sửa soạn xong, Trưởng-giả Mãn-Tài với con trai cùng sính lễ trên đoàn xe từ Mãn-Phú đi qua. Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc cũng đã chuẩn bị cho con gái quần áo, trang điểm diễm lệ cùng hành trang trên đoàn xe từ Xá-Vệ đi tới, hai bên gặp nhau ở biên giới hai nước. Họ gặp nhau làm thủ tục nghi thức cưới, rồi hai bên chia tay, bên đàng trai rước cô Dâu về thành Mãn-Phú.
Bấy giờ tại thành Mãn-Phú có lệ là gả con gái hay cưới cho con trai người nước khác thì sẽ bị phạt bằng cách phải mời tất cả Phạm-chí ăn một bữa cơm với thịt lợn (heo), canh thịt lợn, và rượu.

Trưởng-giả Mãn-Tài biết luật lệ này nên cho sửa soạn cơm thịt rượu, rồi mời hết thảy 6,000 (sáu nghìn) Phạm-chí trong nước đến; khi các Phạm-chí đến, họ mặc hoặc áo da trắng hoặc có lông thú, nhưng khi vào nhà họ đều vắt lệch lên vai phải để lộ nửa người.

Trưởng-giả Mãn-Tài qùy gối trước cửa nhà đón tiếp cung kính làm lễ, khi mọi người đã ngồi xong đâu đó, thì Trưởng-giả vào trong bảo Tu-Ma-Đề ra làm lễ các thầy, Tu-Ma-Đề từ chối nói:
- Thôi, thôi, thưa cha, con không thể ngó thấy và làm lễ mấy người khỏa thân được.

Trưởng-giả bảo:
- Đây không phải người khỏa thân, không có gì phải hổ thẹn cả, đó là lối pháp phục của họ từ xưa đến nay là như thế đấy.
Tu-Ma-Đề thưa:
- Đây là những người không biết hổ thẹn nên mới bày thân thể ra ngoài, có dùng pháp phục gì đâu; xin cha nghe con, Thế-Tôn thường nói: “Có hai nhân duyên mà người đời qúy đó là hổ và thẹn. Nếu không có thì cha mẹ, anh em, dòng họ, thân tộc tôn ti cao thấp không thể phân biệt giống như loài vật như gà, chó, lợn, dê, lừa, ngựa”. Thật con không thể lễ bái họ được.
Anh chồng cũng đến bảo:
- Nay cô nên ra làm lễ các thầy, vì các Ngài đều là Trời mà gia đình tôi phụng sự.
Tu-Ma-Đề đáp:
- Tôi không thể lễ những người khỏa thân không biết hổ thẹn giống như loài vật, tôi không thể lễ chó heo lừa được.
Anh chồng quát lên:
- Ngậm miệng lại, không được nói bậy; đây chẳng phải dối gạt, cách mặc như thế chỉ là pháp phục.
Bấy giờ Tu-Ma-Đề khóc òa lên, kể lể:
- Thà cha mẹ, bà con tôi mất mạng, thân chặt ra năm mảnh, tôi trọn không nghe theo điều tà kiến.
Các Phạm-chí đều nghe thấy những lời tranh cãi như thế, bèn lớn tiếng nói:
- Thôi thôi, Trưởng-giả, vì sao để đứa tiện tỳ này chửi mắng như thế? Nếu thỉnh mời thì dọn thức ăn mau đi.
Trưởng-giả, chồng Tu-Ma-Đề và các người phục dịch vội mang đầy đủ cơm rượu thịt tiếp đãi cung kính các Phạm-chí; họ ăn uống no say, bàn luận chút đỉnh, rồi đứng lên đi về.

Chiều hôm ấy, có một Phạm-chí bạn thân trước kia với Trưởng-giả tên Tu-Bạt từ xa đến thăm. Khi gặp mặt thấy Trưởng-giả buồn rầu, Phạm-Chí hỏi:
- Sao mà sầu lo đến thế, chẳng lẽ bị quan hạch tội, hay bị trộm cướp bệnh hoạn?
- Chẳng có những việc ấy, nhưng trong nhà có việc không vừa lòng, đó là tôi cưới con gái Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc bên thành Xá-Vệ cho con trai tôi nên phạm luật nước, phải mời các thầy đến đông đủ dùng cơm; rồi tôi bảo con dâu tôi ra làm lễ các thầy, nhưng nó không vâng lời còn nói lời vô lễ đối với các thầy, nên tôi buồn khổ; rồi ông kể hết sự việc đã xảy ra cho Phạm-chí nghe.

Phạm-chí Tu-Đạt nghe xong nói:
- Trưởng-giả, thật lạ lùng, cô gái này còn có thể sống mà không cắn lưỡi tự sát hay nhảy từ lầu xuống tự tử thì thật là may mắn lắm đó, vì các Thầy mà cô gái này phụng sự đều là những người phạm hạnh chưa từng có.
Trưởng-giả nói:
- Nghe ông nói tức cười, ông là Phạm-chí dị học, sao lại khen ngợi Sa-môn; họ có oai đức thần biến gì hơn ông và 6,000 Phạm-chí ở thành này?
Phạm-chí nói:
- Trưởng-giả, muốn nghe thần đức của các Sa-môn, thầy của con dâu ông, tôi kể sơ để ông rõ. Có một lần tôi đến phía Bắc núi tuyết sơn đi khất thực trong nhân gian xong, bay đến suối A-Nậu-Đạt. - đó, Trời, Qủy, Thần từ xa thấy tôi đến, đều cầm khí giới đến bảo tôi: “Ông Tiên Tu-Đạt, chớ đến suối này, đừng làm dơ bẩn suối; nếu không nghe lời thì tính mạng ông sẽ bị cắt đứt”; tôi nghe họ nói thế, bèn bỏ đi khỏi suối đó đến chỗ không xa mà ngồi ăn. Khi tôi còn đang ăn, có một Sa-môn bay đến suối A-Nậu-Đạt tay cầm bát, tay cầm áo dơ bẩn. Khi ấy tôi thấy Trời, Qủy, Thần cho đến đại Thần suối A-Nậu-Đạt đều cung kính nghênh đón và nói: “Kính chào thầy của loài người, xin mời ngài đến đây ngồi”. Bấy giờ Sa-di ấy đem cái áo ngâm trong nước, rửa tay, sau đó mới ngồi ăn ngay giữa suối nước trên cái bàn bằng vàng. Sau khi ăn xong Sa-di rửa bát rồi ngồi kiết già trên bàn ấy mà nhập định. Sau khi xuất định, Sa-di ấy giặt áo dơ, tôi thấy Trời, Qủy, Thần hoặc kỳ cọ chỗ bẩn, hoặc lấy nước giội vào áo cho sạch; giặt xong, vị ấy phơi áo trên hư không và lại ngồi thiền định. Một giờ sau, vị ấy lấy áo, rồi đi ngang qua chỗ tôi ngồi thiền, tôi bèn chào hỏi mới biết là Sa-Di Quân-Đầu, là đệ tử nhỏ nhất. Trưởng-giả nên biết, thầy của con dâu ông, vị nhỏ nhất cũng có thần lực như thế, huống nữa là các đệ tử lớn hơn, có ai bì kịp; huống chi là vị thầy của tất cả, đó là Sa-nôn Cù-Đàm, đức Như-Lai.

2)- Đức Phật thị hiện thần lực:
Nghe câu chuyện trên, Trưởng-giả hỏi Phạm-chí:
- Chúng ta có thể thấy thầy của con dâu tôi không?
Phạm-chí đáp:
- Hãy hỏi con dâu ông.
Trưởng-giả bèn cho gọi con dâu đến và nói:
- Nay cha muốn được gặp thầy của con, con có thể thỉnh mời được không?
Tu-Ma-Đề nghe nói, vui mừng nói:
- Xin cha cho sửa soạn cơm chay cho đủ 1250 vị, ngày mai Như-Lai sẽ đến đây, có các đệ tử Tỳ-kheo đi theo Ngài. Con trách nhiệm trong việc mời thỉnh.

Tu-Ma-Đề tay bưng lò hương lên lầu, chắp tay hướng về phiá Tịnh-xá Kỳ-Hoàn nước Xá-Vệ, nơi có Phật mà khấn nói:
- Cúi mong Thế-Tôn khéo quán sát, không việc gì chẳng biết, không việc gì chẳng xét. Nay con là Tu-Ma-Đề, con gái Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc, lấy chồng về nước Mãn-Phú. Nay con đang ở chỗ nguy khốn, cúi mong Thế-tôn đoái tưởng mà đến đây vào sáng ngày mai. Rồi Tu-Ma-Đề nói kệ tán thán Phật đã từng hàng phục Qủy Thần, hàng phục kẻ sát nhân, hàng phục voi dữ, v.v... và xin Như-Lai đoái tưởng.
Bấy giờ Tôn-giả A-Nan thấy hương khói bay trong Tịnh-xá , liền bạch Phật:
- Hương khói ở đâu mà lan đến Tịnh-xá này? xin Thế-Tôn chỉ dạy.

Phật bảo:
- Khói hương này là do Tu-Ma-Đề, con gái Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc thỉnh Ta từ thành Mãn-Phú; Thầy hãy tập trung các Tỳ-kheo lại, phát thẻ cho các Tỳ-kheo A-La-Hán để ngày mai đến thành Mãn-Phú thọ thỉnh của Tu-Ma-Đề.
Khi các đệ tử tề tựu đông đủ, Tôn-giả A-Nan phát thẻ rồi Thế-Tôn bảo một số Thánh Tăng ngày hôm sau đi trước rồi Ngài sẽ đến sau.

Sáng sớm hôm sau, người cận sự của chúng Tăng tên Càn-Trà vác một cái chảo to lớn, bay lên hư không đến thành kia, đi ba vòng, rồi xuống nhà trưởng-giả, nhiều người trong thành trông thấy, Trưởng-giả hỏi Tu-Ma-Đề:
- Đây có phải là thầy con không?
Tu-Ma-Đề đáp:
- Đây là Cư-sĩ giúp chúng Tăng trong việc cơm nước, vị này có đủ ngũ thông.

Sau đó lại có Sa-di Quân đầu Tu-Bạt là đệ tử của Tôn-giả Xá-Lợi-Phất, hóa hiện ra rất nhiều loại cây bông hoa, bay trên không, tới thành Mãn-Phú bay ba vòng quanh thành, rồi hạ xuống nhà Trưởng-giả, Trưởng-giả thấy thế hỏi:
- Đây có phải là thầy con không?
- Không phải, người đó là đệ tử của đệ tử của Phật.

Rồi Tôn-giả Bàn-Đặc mặc áo xanh, hóa hiện ra năm trăm Trâu xanh, ngồi kiết già trên mình trâu đi trên hư không đến nhà thì đàn trâu biến mất, Trưởng-giả liền hỏi:
- Đây có phải thầy con không?
Con dâu trả lời:
(Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 31 2011, 11:43 AM
Gửi vào: #25


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TU-MA-ĐỀ LẤY CHỒNG

(Tiếp theo)


Con dâu trả lời:
- Không phải, đây là đệ tử Phật.

Tiếp đến, Tôn-giả La-Vân hóa hiện ra năm trăm chim Khổng-tước, đủ màu sắc sặc sỡ đẹp đẽ, ngồi kiết già trên lưng chim bay đến nhà, Trưởng-giả trông thấy hỏi:
- Đây chắc là thầy con?
Con dâu thưa:
- Không phải, đây chính là con ruột của Phật.

Tiếp đến, Tôn-giả Ca-Thất-Na hóa hiện năm trăm chim Cánh vàng dũng mãnh, ngồi kiết già trên mình chim bay rợp trời đến nhà. Từ xa thấy, Trưởng giả hỏi:
- Đây có phải là thầy con không?
- Không phải, đây là đệ tử của Phật.

Sau nữa, Tôn-giả Ưu-tỳ Ca-Diếp hóa hiện 500 Rồng đều có bảy đầu, ngồi kiết già trên mình Rồng cuốn vút như gió đến nhà. Trưởng-giả lại hỏi:
- Đây hẳn là thầy con?
Tu-Ma-Đề thưa:
- Chẳng phải, Tôn-giả này cũng là đệ tử của Phật và có hàng nghìn đệ tử.

Tiếp theo là Tôn-giả Tu-Bồ-Đề, hóa hiện núi Tu-Di Lưu ly trong vắt, ngồi kiết già trong hang, núi bay lơ lửng đến trên thành. Trưởng giả thấy thế hỏi:
- Đây phải thầy con không?
Con dâu đáp:
- Không phải, đây là Tôn-giả Tu-Bồ-Đề, đệ tử Phật.

Lại đến Tôn-giả Ca-Chiên-Diên hóa hiện năm trăm Ngỗng trắng, ngồi kiết già trên lưng ngỗng bay rợp trời đến. Trưởng giả thấy hỏi:
- Đây là thầy con chăng?
Con dâu đáp:
- Chẳng phải thầy con, đó là Tôn-giả Đại-Ca Chiên-Diên.

Rồi Tôn-giả Việt-Ly hóa hiện ra năm trăm con mãnh Hổ (Cọp), cưỡi trên lưng hổ trên hư không chạy đến, Trưởng-giả trông thấy lại hỏi:
- Đây có phải là thầy con không?
Tu-Ma-Đề đáp:
- Không phải, đấy là Tôn-giả Việt-Ly, là đệ tử Phật.

Kế đến Tôn-giả A-Na-Luật hóa hiện năm trăm Sư-tử rống vang, cưỡi trên mình Sư-tử chạy như bay trên không đến. Trưởng-giả hỏi:
- Đây chẳng phải thầy con sao?
Tu-Ma-Đề đáp:
- Đó là Tôn-giả A-Na-Luật là đệ tử Phật, vị này không thấy đường mà có Thiên nhãn.

Tiếp đến Tôn-giả Đại-Ca-Diếp hóa hiện ra năm trăm con Ngựa vàng, cổ đeo nhạc, hý vang, có lông đuôi đỏ chói, ngồi trên mình ngựa, chạy trên không như bay, có hoa trời rải khắp mà đến. Trưởng-giả thấy thế hỏi:
- Chắc đây là thầy con?
Tu-Ma-Đề thưa:
- Cũng không phải, đây là Tôn-giả Đại-Ca-Diếp, đệ tử nối pháp của Phật.

Rồi đến Tôn-giả Đại Mục-Kiền-Liên hóa hiện ra năm trăm Voi trắng lớn có sáu ngà trang sức vàng bạc, ngồi trên mình voi, phóng ánh sáng chói lòa cùng khắp, đi trong hư không, có âm nhạc trời với phướn lọng trong hư không rất kỳ diệu mà đến. Thấy thế, Trưởng-giả lại hỏi:
- Chắc hẳn đây là thầy con?
Tu-Ma-Đề đáp:
- Không phải là Thế-Tôn, đây là đệ tử của Phật, thần túc bậc nhất, tên là Đại Mục-Kiền-Liên.

Mỗi vị vừa kể đều đi 3 vòng trên thành Mãn-Phú, rồi xả thần biến khi xuống nhà Trưởng-giả; lúc này, Thế-Tôn biết đã đến giờ, Ngài khoác áo Tăng-già-lê, đi trên hư không cách bẩy nhẫn (?) Tôn-giả A-Nhã-Câu-Lân hóa hiện làm Nguyệt Thiên ở bên trái, Tôn-giả Xá-Lợi-Phất hoá hiện làm Nhật-Thiên ở bên phải, Tôn-giả A-Nan nương oai thần của Phật đứng phiá sau tay cầm Phất trần. Hơn 1,200 đệ tử vừa Thánh vừa phàm nương oai thần của Phật vây quanh trên hư không vùng Tịnh-xá Kỳ-hoàn như thế; lúc ấy cũng có Phạm-Thiên Vương tới đứng phiá bên phải của Phật, Đế-Thích tay cầm Phất tử đứng phiá bên trái, Lực-sĩ Kim-Cang Mật-Tích ở phiá sau tay cầm Chày Kim-cang, Tỳ-Sa-môn Thiên-Vương tay cầm Lọng bảy báu lớn che cho Phật. Bàn-giá-Tuần và các Thiên Thần, kẻ hoà nhạc, kẻ xướng ca công đức vô biên của Phật. Chư Thiên rải muôn hoa muôn màu trên Phật và chúng Tỳ-kheo.

Bấy giờ Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc, Vua Ba-Tư-Nặc, và nhân dân thành Xá-Vệ đều thấy cảnh ấy tán thán không ngớt, trong khi đó, Phật đem các Tỳ-kheo cùng chư Thiên Thần vô số kể đi như chim Phượng-hoàng trong hư không đến thành Mãn-Phú. Dân chúng cả thành đều thấy những cảnh tượng thù thắng như thế suốt từ sáng cho đến giờ phút ấy.

Bấy giờ Trưởng-giả Mãn-Tài nói kệ để hỏi con dâu:
Đây là ánh trời chăng,
Chưa hề thấy vẻ này,
Mấy nghìn vạn ức tia,
Không dám nhìn chăm chú.

Tu-Ma-Đề gật đầu, rồi qùy xuống, chắp tay hướng về Phật nói kệ đáp:
Chẳng trời, không chẳng trời,
Thường phóng nghìn thứ sáng,
Vì tất cả chúng-sanh,
Đây đúng thật Thầy con,
Trời Người khen Như-Lai,
Qủy Thần sợ oai Phật,
Nay sẽ được qủa lớn,
Cần siêng cúng dường Ngài.

Trưởng-giả Mãn-Tài liền qùy gối phải, chắp tay ngước lên, dùng kệ tán thán Phật là bậc tối thắng đẹp hơn Thiên-Đế, sáng hơn mặt trời, tôn qúy bậc nhất trong trời đất, không có loài hữu hình vô hình nào sánh cùng Phật, và xin được tự quy y mạng với bậc chí tôn.

Lúc ấy Phật đưa các đệ tử xuống khoảng đất trống, rồi bỏ thần túc, bình thường đi vào nhà Trưởng-giả; khi Ngài vừa bước tới cửa thì trời đất rung động mạnh, nhân dân hoảng sợ, Ngài bảo: “Đừng sợ, trời đất chấn động là do Như-Lai đây thị hiện thần lực mà ra”.

Mọi người thấy dung mạo Ngài các căn tịch tĩnh, 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp trang nghiêm, nên đều tự nói: “Tại sao chúng ta lại không biết vị thượng tôn cực diệu như thế này, mà đi thờ những Phạm-chí kém cỏi không thể sánh được như thế ấy?” Thế là họ nói từ người này qua người kia, họ cùng tới để chiêm ngưỡng Phật và chúng Tỳ-kheo. Số người đến mỗi phút mỗi đông hơn, thấy vậy, Thế-Tôn hóa hiện nhà Trưởng-giả thành lưu ly trong suốt, trong ngoài đều thấy hết, để cho nhân dân được lợi lạc chiêm ngưỡng.

Khi ấy Tu-Ma-Đề đến trước Phật qùy lạy và nói điều cảm tạ Phật đã đáp lời khấn của cô mà đến, nhưng không hiểu vì ác duyên nào mà cô chịu khổ ở nơi đây, xin Phật dứt nghi cho. Phật trả lời là do lời thệ nguyện cứu chúng-sanh trước kia mà Tu-Ma-Đề đến nơi này, và cũng vì vậy mà được trí tuệ sáng suốt và khiến Trời, Người thấy được Tu-Ma-Đề như một hạt châu sáng, không có gì phải buồn lo cả; Tu-Ma-Đề nghe Phật nói vô cùng mừng rỡ.

Lúc ấy Trưởng-giả thấy Phật và chư Tỳ-kheo đã an tọa xong, ông cùng các người hầu bưng thức ăn đủ món dâng lên cúng dàng đầy đủ. Khi ông thấy Thế-Tôn và chư Tăng đã thọ trai xong, ông cho dọn dẹp sạch sẽ, rồi cùng Tu-Ma-Đề và thân quyến ngồi ngay trước măt Thế-Tôn. Lúc ấy cũng có vô số kể nhân dân ngồi chung quanh xa gần mà nghe. Thế-Tôn nói giới luận, thí luận, luận sinh Thiên, dục là bất tịnh, lậu là dơ xấu, xuất gia là cần yếu; Thế-Tôn thấy Trưởng-giả, Tu-Ma-Đề, và 84,000 (vô số) nhân dân tâm ý khai mở, Ngài liền thuyết các pháp khổ, nguyên nhân gây ra khổ, cách diệt khổ, và con đường tiến tới đạo. Khi ấy, mọi người đều sạch hết trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh, không còn hồ nghi, được sự không sợ hãi, mọi người đều xin quy y Tam-Bảo, thụ trì ngũ giới, Phật chấp thuận hết thảy.

Trước Phật, Tu-Ma-Đề nói kệ:
Như-Lai tai trong suốt,
Nghe con gặp nạn này,
Giáng thần đến đây xong,
Mọi người được pháp nhãn.

Thế-Tôn thuyết pháp xong, liền từ chỗ ngồi đứng lên cùng các Tỳ-kheo dùng thần thông y như lúc tới để trở về Tịnh-xá Kỳ-Hoàn; mọi người đều qùy gối, ngước lên trời mà vái Phật và chúng Tăng đang xa dần bầu trời thành Mãn-Phú.

Bấy giờ các Phạm-chí bảo nhau: “Chúng ta không thể sánh kịp với Sa-môn Cù-Đàm, nhân dân trong nước này đã bị Sa-môn Cù-Đàm hàng phục rồi, chúng ta không nên ở đây nữa, mà nên đi đến nước khác”, thế rồi họ lần lượt bỏ nước Mãn-Phú mà đi. Ví như Sư-tử chúa của các loài thú, có oai thần, khi rống lên các loài thú đều sợ hãi bay chạy mất hoặc nép phục ẩn núp, hoặc bỏ đi; các Phạm-chí đối với Thế-Tôn có đại oai lực cũng như vậy.

Hôm sau, khi các Tỳ-kheo tụ tập ở giảng đường, có một Tỳ-kheo bạch Phật:
- Xưa cô Tu-Ma-Đề tạo nhân gì mà là con Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc và lại đọa vào nhà tà kiến? Và vì lý do gì cô được pháp nhãn thanh tịnh và lại tạo cho vô số nhân dân cũng được pháp nhãn thanh tịnh như thế, xin Thế-Tôn giải thích cho chúng con.

Phật bảo:
- Trong quá khứ của Hiền kiếp này, lúc đó có Phật Ca-Diếp, Ngài ở tại nước Ba-La-Nại, du hóa cùng 20,000 đại chúng Tỳ-kheo. Bấy giờ vua Ái-Mẫn có con gái tên Tu-Ma-Na, cô này có tâm cung kính Phật, vâng giữ giới cấm, hằng ưa bố thí, ái Kinh, lợi người và đồng lợi. Cô thường ở trước Phật tụng pháp cú (Câu Phật nói) và phát nguyện rộng lớn rằng: “Con hằng có pháp tứ ái và ở trước Như-Lai tụng pháp cú, nếu con có chút phúc nào, con cầu khi sinh ra không rơi vào ba đường ác (Địa-ngục, Súc-sinh, Ngạ-qủy), cũng không vào nhà nghèo, đời vị lai cũng gặp Phật ra đời, cho con chẳng chuyển sang thân Nam mà được pháp nhãn thanh tịnh”.

Nhân dân trong nước nghe được Vương nữ thệ nguyện sâu rộng như thế, vô số người đến gặp, ca tụng công đức Vương nữ đã phát nguyện, nhân dân cũng muốn được đồng lợi như thế. Bấy giờ Vương nữ bảo:
- Tôi đem công đức này cùng thí hết thảy nhân dân các người, nếu về sau gặp được Như-Lai thuyết pháp, tất cả đều đồng được độ.

Các thầy chớ có nghi, vua Ai-Mẫn lúc ấy, nay là Trưởng-giả CẤp-Cô-Độc, Vương nữ lúc ấy nay là Tu-Ma-Đề, nhân dân lúc ấy, nay là nhân dân nước Mãn-Phú. Do lời thệ nguyện trước kia nay gặp Ta, nghe pháp được độ, và được pháp nhãn thanh tịnh, là vì nhân duyên ấy..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Sep 22 2011, 05:54 AM
Gửi vào: #26


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN GIẢ
ĐẠI MỤC-KIỀN-LIÊN
VÀ MA-VƯƠNG


Có một thời gian Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên phụ trách trông coi việc dựng thiền-thất tại vườn Lộc-Dã, một hôm trong lúc Tôn-giả đang đi kinh hành trên khoảng đất trống, Ma-Vương hóa hình nhỏ xíu chui vào trong bụng của Tôn-giả. Lúc đó Tôn-giả nghĩ rằng: “Quái lạ, hình như ta đã nuốt phải vật gì vào trong bụng? Ta nên nhập Như-kỳ tưởng-định để nhìn vào bụng xem là vật gì?” Nghĩ rồi, Tôn-giả đi đến cuối đường kinh hành, bèn ngồi kiết-già nhập định mà nhìn vào bụng mình thì thấy Ma-Vương đang ở trong đó, Tôn-giả bèn ra khỏi định, rồi nói rằng:
- Này Thiên Ma, ngươi hãy ra mau, đừng sống mãi trong sự không thiện lợi không thiện ích mà ngươi phải thác sinh vào cõi dữ chịu vô lượng khổ.

Khi ấy Ma-Vương bèn nghĩ: “Sa-môn này không thấy không biết, thế mà lại nói như vậy, đúng là nói mò; dù Tôn-Sư ông có đại như-ý túc, có đại oai-đức, có đại oai thần, cũng không thể thấy mau biết lẹ như vậy, huống chi là đệ-tử mà thấy biết mau lẹ được sao?”

Tôn-giả lại nói:
- Ta lại biết trong ý của ngươi nghĩ rằng: “Sa-môn này không thấy không biết, thế mà lại nói như vậy, đúng là nói mò; dù Tôn-Sư ông có đại như-ý túc, có đại oai-đức, có đại oai-thần, cũng không thể thấy mau biết lẹ như vậy, huống chi là đệ-tử mà thấy biết mau lẹ được sao?”

Nghe Tôn-giả nói như vậy, Ma-Vương nghĩ: “Sa-môn này đã thấy biết ta, nên mới nói những điều xẩy ra, và còn biết cả ý nghĩ của ta nữa; ta không ra không được”. Rồi từ trong bụng, Ma-Vương chui lên miệng của Tôn-giả, và vọt ra hiện hình người đứng trước mặt Tôn-giả, Tôn-giả bảo:
- Này Ma Ba-Tuần, thuở xa xưa, vào thời đức Phật Giác-Lịch-Câu-Tuần-Đại. Lúc đó ta là đại Ma-Vương tên Ác, ta có cô em tên là Hắc, ngươi chính là con trai của cô Hắc. Này Ma Ba-Tuần, vì lẽ đó cho nên ngươi là cháu gọi ta bằng bác.
Ma Ba-Tuần, thuở ấy đức Phật Giác-Lịch-Câu-Tuần-Đại có hai đại đệ-tử tên là Âm và Tưởng.

Do ý nghĩa nào một người được gọi là Âm? Tôn-giả Âm: kiếp trước đó sống ở cõi Phạm-Thiên, có tiếng nói vang xa cả nghìn thế giới; lại không ai có âm thanh ngang bằng, cho nên Tôn-giả ấy được đức Phật Giác-Lịch-Câu-Tuần-Đại đặt tên là Âm.

Do ý nghĩa nào một người có tên là Tưởng? Vì Tôn-giả Tưởng nương vào thôn-ấp mà du hành, Tôn-giả luôn luôn giữ thân, thu nhiếp các căn, giữ vững chính niệm; Ngài thường đến chỗ vắng hoặc dưới gốc cây trong rừng vắng, hoặc đến chỗ yên tĩnh ngồi kiết-già nhập tưởng-tri diệt-định. Lúc ấy có vài người đi ngang qua thấy Ngài ngồi ngay như khúc cây khô, thân thể không cử động, lá cây vướng mắc cả trên đầu cổ, họ bèn nghĩ: “Người này ngồi chết trong rừng vắng này, chúng ta nên làm phúc, nhặt cỏ và củi khô chất đống bao thân thể mà đốt thiêu”; họ bèn làm như vậy, xong bỏ đi.

Tôn-giả Tưởng sau một đêm, sáng hôm sau đập tro mà ra, phủi bụi rồi du hành trở lại về thôn-ấp như thường lệ. Những người trước kia đã gặp Tôn-giả, khi thấy Tôn-giả lại ngồi (nhập định) ở chỗ khác, họ bèn nghĩ: “Trước kia chúng ta đã hỏa thiêu người này rồi sao không chết mà lại ngồi tưởng ở chỗ khác này?”, vì lẽ đó cho nên mọi người gọi Ngài là Tưởng.

Lúc ấy ta là đại Ma-Vương tên Ác nghĩ rằng: “Sa-môn này bị trói chặt, bị tuyệt chủng, không gia đình con cái; Sa-môn này ngồi (thiền) đắm đuối giống như con mèo ngồi rình bên hang chuột, mải miết say đắm; Sa-môn này đắm đuối cái gì, mục đích gì, mong muốn điều gì, ta chẳng biết người này từ đâu đến và sẽ đi về đâu, ta hãy dạy bảo một số người đến phá không cho ngồi, biết đâu người này chẳng nổi tâm giận dữ để ta dễ lợi dụng”. Nghĩ như vậy: ta liền đi xúi giục một số người đến chửi rủa mắng nhiếc thậm tệ, phá không cho được ngồi yên; thậm chí một số người dùng đá ném, dùng cành cây đánh đập, làm rách áo, và gây thương tích cho Sa-môn ấy.

Tôn-giả Tưởng, đệ-tử của Phật Giác-Lịch-Câu-Tuần-Đại mang đầu mặt thương tích, áo rách tả tơi đi đến chỗ Phật đang thuyết pháp; khi Ngài trông thấy học trò đi đến, Ngài bảo đại-chúng: “Đại chúng có thấy chăng? Ác Ma đã xúi giục một số người đến phá Sa-môn tinh tấn tu hành để hòng mong lợi dụng. Này chư vị đệ-tử, hãy để tâm tương ưng với Từ tỏa khắp một phương, thành tựu an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn cho đến mười phương, không oán hận, không si mê não hại, rộng lớn bao la. Trải khắp tất cả thế-gian, tất cả thời gian, thành tựu an trụ; tâm tương ưng với Bi, Hỷ, và Xả cũng như vậy, với tâm như thế khiến ác Ma không thể lợi dụng được”.

Vì vậy ta không thể lợi dụng được, ta lại nghĩ: “Bằng phương pháp ấy vô hiệu quả, ta phải dùng cách khác, làm cho tâng bốc tâm của các Sa-môn, biết đâu họ chẳng nổi tà tâm để ta dễ dàng lợi dụng”. Nghĩ vậy, ta bèn đi xúi giục một số con gái đẹp đến lễ bái hầu hạ Sa-môn.

Các Sa-môn sau khi được các người con gái đẹp lễ bái cúng dường v.v.. rồi, họ đi đến chỗ Phật Giác-Lịch-Câu-Tuần-Đại. Ngài bảo các đệ-tử: “Đại chúng thấy chăng? Ác Ma xúi giục các người con gái đến lễ bái, hầu hạ và cúng dường, ác Ma lại còn xúi những người con gái đánh mắt đưa tình, nũng nịu, õng ẹo trước Sa-môn, để mong Sa-môn nổi dục tâm hòng dễ dàng lợi dụng. Này các đệ-tử, hãy quán sát các hành là vô thường không bền, các pháp thịnh suy không chắc chắn như bọt nước, như cơn gió thoảng; hãy quán các pháp là không thật như ánh trăng đáy nước, như bóng trong gương. Hãy quán thân là ô uế dơ bẩn thối tha ghê tởm, quán vô dục, quán ly xả, quán đoạn diệt tất cả mọi thứ để cho ác Ma không thể lợi dụng được”.

Này Ba-Tuần, vì thế ta không thể làm gì được Tôn-giả Tưởng, nên bấy giờ ta hóa hình làm một đứa trẻ, tay cầm cây gậy đứng bên đường. Khi đức Phật Giác-Lịch-Câu-Tuần-Đại đi khất thực ngang qua, có Tôn-giả Âm đi theo phiá sau. Ta thấy thế, bèn đánh Tôn-giả Âm một gậy, làm vỡ đầu, và máu chảy ướt cả mặt. Tôn-giả Âm bị đánh bể đầu chảy máu, vẫn đi theo sau đức Phật như bóng với hình, không rời xa, cũng không kêu than nói năng chi cả.

Sau một lúc, đức Phật xoay nhìn về phiá sau bên phải như cái nhìn của một voi chúa không sợ hãi, không giận dữ, và quán sát. Ngài nhìn thấy Tôn-giả Âm đầu bị chảy máu ướt đỏ cả mặt, bèn nói: “Ác Ma thật hung ác này có đại oai lực, ác Ma này không biết đủ”; Ngài vừa nói dứt, thì ngay lúc đó, như tên bắn, chớp nhoáng, ta liền bị đọa vào đại Địa-ngục Vô-Khuyết.

Trong Địa-ngục Vô-Khuyết có Qủy-ngục đến chỗ ta và nói: “Ngươi nên biết nếu đinh hiệp đinh (đinh sắt 100 cái mà đóng vào thân thể) phải mãn hạn một trăm năm” (bằng 100,000 năm thế-gian).
Ma Ba-Tuần nghe nói như vậy, trong lòng hết sức rúng động, sợ khủng khiếp, bèn biến mất.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Sep 30 2011, 10:42 PM
Gửi vào: #27


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ XÁ-LỢI-PHẤT VÀ TRƯỞNG-GIẢ
CẤP-CÔ-ĐỘC


Toàn Không


Khi đức Phật trở lại du hóa tại nước Xá-Vệ trong rừng Đồng-Tử Thắng, đạo tràng Kỳ-Hoàn, thì Trưởng-giả Cấp-cô-Độc mang bệnh hiểm nghèo; hôm ấy, Trưởng-giả Cấp-cô-Độc bảo một người làm sứ-giả đi đến đảnh lễ và thăm hỏi đức Phật, rồi sau đó đến đảnh lễ Tôn-giả Xá-lợi-Phất. Người này nói ý nguyện của Trưởng-giả muốn được gặp Tôn-giả Xá-lợi-Phất, nhưng vì Trưởng-giả bị bệnh trầm trọng nên không thể đến được, và xin Tôn-giả vì lòng từ-mẫn mà đến nhà Trưởng-giả.

1)- Cách chữa bệnh kỳ lạ:

Vào sáng hôm sau, Tôn-giả Xá-lợi-Phất đi đến nhà Trưởng-giả Cấp-cô-Độc. Trưởng-giả vừa trông thấy Tôn-giả đến cửa, liền từ giường nằm muốn đứng dậy, nhưng Tôn-giả cản lại mà bảo:
- Trưởng-giả cứ nằm, đừng đứng dậy vì còn đang bệnh, bệnh trạng của Trưởng-giả hôm nay thế nào, có thuyên giảm không, ăn uống được không?

Trưởng-giả trả lời:
- Bệnh trạng của con rất nguy hiểm, ăn uống chẳng được, sự đau đớn chỉ tăng thêm mà chẳng giảm bớt chút nào! Không chừng vì vậy mà con có thể chết bất cứ lúc nào.
Tôn-giả Xá-lợi-Phất bảo:
- Này Trưởng-giả,
Ông đừng ngại, chớ nên sợ, vì nếu là kẻ phàm-phu ngu-si bất tín (không tin Phật-Pháp Tăng) thì khi chết sẽ sinh vào cõi xấu; còn Trưởng-giả không hề có sự bất tín mà chỉ có chính tín. Nhờ vậy nên sẽ diệt được đau nhức, sinh ra khoái lạc vô cùng; hoặc do lòng tin ấy nên sẽ chứng qủa Tư-đà-Hàm (Thiền thứ hai), hay chứng qủa A-na-Hàm (Thiền thứ ba), vì Trưởng-giả đã chứng qủa Tu-đà-Hoàn (Thiền thứ nhất).

Nên biết, ông chớ nên ngại, đừng sợ, vì kẻ ngu-si có đủ thứ tham-lam, có đủ thứ sân-hận giận-thù, nên khi chết sinh thẳng vào cõi ác; còn ông không hề có tham, sân, mà chỉ có huệ-thí (bố-thí, cúng-dường không vụ lợi). Nhân có huệ-thí nên: sẽ tiêu diệt đau đớn thống khổ, và sinh ra thoải mái vô cùng; hoặc nhân có huệ-thí ấy mà chứng qủa thứ hai Tư-đà-Hàm hay qủa thứ ba A-na-Hàm, vì ông vốn đã chứng quả thứ nhất Tu-đà-Hoàn.

Ông không nên sợ, chớ lo, vì nếu là kẻ phàm-phu ngu-si không có đa-văn, khi chết sinh vào chỗ không tốt, còn ông có đa-văn (học rộng hiểu nhiều, ghi nhớ không quên), nhờ vậy nên sẽ diệt trừ đau đớn phiền hà, và sinh ra vui vẻ vô cùng; hoặc nhân có đa-văn nên sẽ chứng quả Tư-đà-Hàm hay A-na-Hàm, vì ông vốn đã chứng quả Tu-đà-Hoàn.

Điểm nữa: ông đừng ngại, chớ sợ, tại sao vậy? Vì kẻ làm ác có ác giới (làm các việc ác), nên khi chết liền sinh thẳng vào Địa-ngục, còn ông không hề làm các điều ác, mà chỉ có thiện giới (làm các việc lành); Ông có thiện-giới nên sẽ tiêu diệt sự đau đớn bệnh tật, và sinh ra vui vẻ sung sướng. Hoặc nhân có thiện-giới ấy nên sẽ chứng qủa thứ nhì hay quả thứ ba, vì ông đã chứng qủa thứ nhất rồi.

Trưởng-giả nên nhớ, không nên sợ, đừng sợ, vì sao? Tại vì nếu là người phàm-phu ngu-si có ác ngữ (nói dối, nói đâm thọc, nói lời độc ác, và nói lời thô bỉ nhảm nhí), nên khi chết đi sẽ sinh vào đường ác; còn Trưởng-giả không hề có ác ngữ mà chỉ có chính ngữ, có chính ngữ nên sẽ diệt tận sự đau đớn trong thân thể, sinh ra thoải mái nhẹ nhàng. Hoặc nhân có chính ngữ mà chứng qủa Tư-đà-Hàm hay A-na-Hàm, vì Trưởng-giả đã chứng Tu-đà-Hoàn.

Ông cũng chẳng phải lo, chẳng phải sợ, tại sao vậy? Vì nếu là kẻ có tà nghiệp (hành động nơi thân không chân chính như sát sanh, trộm cướp, tà dâm), nên khi chết sinh vào Địa ngục; còn ông không hề có tà nghiệp, mà chỉ làm các thiện nghiệp, chính nghiệp, nên sẽ tiêu diệt mọi buồn phiền, và sinh ra an ổn nhẹ nhàng. Hoặc nhân có chính nghiệp mà chứng qủa Tư-đà-Hàm hay A-na-Hàm, vì ông vốn đã chứng qủa Tu-đà-Hoàn.

Lại nữa, ông đừng sợ, chớ sợ, vì sao thế? Vì nếu là kẻ phàm-phu ngu-si làm tà mạng (sống bằng nghề nghiệp không chính đáng như nghề trộm cắp cướp, nghề giết súc vật, nghề dùng bùa chú v.v. để sinh sống) nên khi chết sẽ sinh vào ba cõi ác; còn ông chỉ có chính mạng, nhân có chính mạng nên sẽ chấm dứt sự thống khổ, sinh ra thoải mái. Hoặc nhân có chính mạng nên sẽ chứng qủa thứ hai hay thứ ba, vì ông đã chứng qủa thứ nhất rồi.

Trưởng-giả, không sợ, đừng lo, vì sao vậy? Vì kẻ ngu-si có tà kiến, nên khi chết đi sinh vào chỗ xấu; còn Trưởng-giả chỉ có chính kiến (hiểu biết có thiện nghiệp, ác nghiệp, thiện báo ác báo, có đời này đời khác, có luân hồi nhân quả v.v), nhân có chính kiến nên sẽ tiêu diệt hết đau đớn lo buồ; hoặc nhân có chính kiến nên sẽ chứng qủa Tư-đà-Hàm hay A-na-Hàm, vì Trưởng-giả đã chứng qủa Tu-đà-Hoàn.

Sau nữa, ông lại càng không nên sợ, chớ sợ, vì sao? Vì kẻ ngu-si có tà giải (tà giải có nghĩa là ý thức, kiến giải, hiểu một cách tà vạy), nên khi chết sẽ sinh vào chỗ dữ; còn ông chỉ có chính giải nên sẽ tiêu diệt được sự thống khổ, sinh ra khoái lạc vô cùng; hoặc nhân có chính giải nên sẽ chứng qủa thứ nhì hay thứ ba, vì ông đã chứng qủa thứ nhất.

Sau chót, ông đừng sợ, cũng chẳng phải lo tí nào, tại sao vậy? Tại vì nếu là kẻ phàm-phu ngu-si có tà trí (hiểu biết sai) nên khi chết đi thẳng đến chỗ không tốt; còn ông không có tà trí mà chỉ có chính trí, nhân có chính trí nên sẽ chấm dứt mọi bệnh tật đau khổ, sinh ra khoan khoái nhẹ nhàng; hoặc nhân có chính trí nên sẽ chứng qủa thứ hai Tư-đà-Hàm hay qủa thứ ba A-na-Hàm, vì ông vốn đã chứng qủa thứ nhất Tu-đà-Hoàn.

Sau khi nghe Tôn-giả Xá-lợi-Phất thuyết giảng một hồi như thế, tự nhiên bệnh trạng của Trưởng-giả Cấp-cô-Độc biến mất; đang nằm, ông ngồi dậy nhẹ nhàng và khen:
- Hay thay! Hay thay! Tôn-giả thuyết pháp cho bệnh nhân thật là kỳ diệu, rất lạ, như có một điểm gì huyền bí; thưa Tôn-giả, khi con nghe bài pháp giáo hóa cho bệnh nhân vừa xong, liền chấm dứt bệnh khổ, sinh ra thoải mái vô cùng. Bây giờ bệnh của con dứt hẳn, không còn đau đớn mệt mỏi nữa, và bình phục khỏe mạnh rõ ràng.

2)-Nhân duyên Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc đối với Đức Phật.

Thưa Tôn-giả, nhân tiện đây con xin kể về nhân duyên của con đối với đức Thế-Tôn và đối với Tôn-giả trước kia:
Một hôm, nhân có chút việc cần làm, con đi đến thành Vương-Xá, và tạm trú ngụ tại nhà Trưởng-giả, một người bà con. Con thấy vị Trưởng-giả sai bảo con cháu và người giúp việc dọn dẹp trang hoàng nhà cửa, sắp xếp bàn ghế; vị Trưởng-giả ấy đích thân sắp đặt một chỗ ngồi cao, trông trang nghiêm vô cùng.

Thưa Tôn-giả, sau khi thấy vậy, con liền hỏi vị ấy rằng: “Ông vì việc hôn-nhân cưới hỏi, hay thỉnh Quốc-Vương, hay mời Đại-thần mà sửa soạn lớn lao như thế này?”
Lúc ấy, vị ấy trả lời con rằng: “Tôi không phải vì việc hôn-nhân, cũng chẳng phải thỉnh Quốc-Vương hay mời Đại-thần; nhưng tôi sửa soạn bữa cơm tiệc chay, vì trưa ngày mai tôi sẽ cúng dường đức Phật và đại chúng Tỳ-kheo”.
Từ thuở nhỏ cho đến lúc ấy, con chưa từng được nghe đến danh hiệu đức Phật, nên khi nghe rồi, rất là ngạc nhiên, toàn thân con lông dựng ngược, con liền hỏi rằng: “Ông nói Phật, vậy thế nào là Phật?”

Vị Trưởng-giả trả lời con rằng: “Ông chưa được nghe sao? Có một vị dòng dõi họ Thích, từ giã vua cha giàu sang quyền quý, bỏ hết cung vàng điện ngọc, thể tần mỹ nữ. Vị ấy xa lià vợ đẹp con khôn và đại gia đình Hoàng-tộc, cắt bỏ râu tóc, khoác áo Cà-Sa, với lòng sắt đá sống nơi rừng hoang để tìm đạo; vị ấy đã chứng quả vô thượng Chính-Đẳng Chính-Giác, vị ấy gọi là Phật”.
Con lại hỏi rằng: {{Ông đã nói: “Đức Phật và đại chúng Tỳ-kheo”, nay tôi đã hiểu Phật, nhưng còn thế nào là đại chúng Tỳ-kheo?}}.

Vị ấy trả lời con: “Ông nên biết, còn có rất nhiều vị có dòng họ và danh hiệu khác nhau, cũng cạo bỏ râu tóc, mặc áo Cà-Sa, những vị này cũng rời bỏ gia-đình sống không nhà, với lòng chí thiết đi theo đức Phật để học đạo, những vị đó gọi là đại chúng Tỳ-kheo (Ngày nay gọi là chư Tăng). Đức Phật và đại chúng Tỳ-kheo ấy là những bậc tôi sẽ thỉnh đến vào trưa ngày mai, hiện nay đức Phật và đại chúng Tỳ-kheo đang trú ngụ tại vườn Ca-lan-Đà, trong rừng Trúc, thuộc thành Vương-Xá này. Nếu ông muốn có thể đến đó hay ở lại đây đến ngày mai cũng có thể gặp được, tuỳ ý”.

Thưa Tôn-giả, nghe vị ấy nói xong, lòng con háo hức mong mỏi muốn được gặp đức Phật; nhưng con tự nhủ rằng hôm sau sẽ được cơ hội gặp Phật, nên con lấy làm vui mừng và yên tâm đi ngủ. Con đi ngủ, chẳng biết đã ngủ được bao lâu, khi thức tỉnh, trong lòng con lại nhớ ngay đến việc gặp Phật và không còn ngủ lại được nữa. Con ngồi dậy nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy trời sáng, vì lòng chí thành của con mong muốn được yết kiến đức Phật, nên lúc đang đêm ấy mà con tưởng đã gần sáng rồi. Con liền từ nhà vị Trưởng-giả ấy đi ra, đến trạm kiểm soát nơi cổng thành, trời vẫn còn chưa sáng hẳn. Con vượt cổng thành để đi ra bên ngoài, chẳng bao lâu con đi ngang qua một nghĩa-địa, tự nhiên trời tối hẳn lại, ánh sáng biến mất, con cảm thấy sợ hãi, toàn thân nổi gai ốc. Lúc ấy con nghĩ: “Mong sao đừng có người hay ma-quỷ đến xúc nhiễu (xúc phạm quấy nhiễu)”.

Đột nhiên, con thấy có ánh sáng tỏa chiếu khắp và có tiếng nói: “Này Trưởng-giả đừng sợ, này Trưởng-giả chớ sợ, vì sao vậy? Vì kiếp trước tôi vốn là bạn của ông tên là Mật-Khí, vào lúc còn trẻ chúng ta rất qúy mến nhau; này Trưởng-giả, thuở xa xưa ấy, tôi đến chỗ Mục-kiền-Liên được Ngài thuyết pháp cho tôi và khuyến khích tôi, ban cho tôi tam tự quy y Phật, Pháp, Tăng, và trao cho tôi năm giới (Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu). Này Trưởng-giả, vì tôi đã thọ trì năm giới một cách kiên cố, nên sau khi chết tôi được sinh lên cõi trời Tứ Thiên-Vương, và ở trong trạm dừng tại cổng thành Vương-Xá; Trưởng-giả hãy đi mau lên, hãy đi nhanh lên, đi tốt hơn là đừng lại”.


Rồi vị Trời ấy nói bài tụng khuyên con như sau:
Được trăm ngựa, tỳ nữ,
Trăm xe đầy châu báu,
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi đến Phật.
Trăm voi trắng tối thượng,
Với yên cương bằng vàng,
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi đến Phật.
Trăm nữ nhân tuyệt đẹp,
Đeo chuỗi ngọc, tràng hoa,
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi đến Phật
Chuyển-luân-Vương đệ nhất,
Ngọc-nữ báu yêu mến,
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đi đến Phật.

Vị Trời tụng xong, tiếp tục khuyên con rằng: “Này Trưởng-giả đi mau lên, này Trưởng-giả đi nhanh lên, qủa thật, đi tốt hơn là dừng lại”.

Bấy giờ con nghĩ: “Đức Phật có ân đức rộng lớn che chở bao trùm, đại chúng Tỳ-kheo cũng có ân đức che chở bao trùm, vì vị Trời cũng muốn khiến ta đi đến yết kiến”. Thưa Tôn-giả, con do ánh sáng của vị Trời ấy hướng dẫn mà đi đến Trúc-lâm, vườn Ca-lan-Đà, thì ánh sáng ấy biến mất. (Còn Tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Oct 12 2011, 10:04 PM
Gửi vào: #28


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ XÁ-LỢI-PHẤT VÀ TRƯỞNG-GIẢ
CẤP-CÔ-ĐỘC


Toàn Không




Lúc ấy, trời còn chưa sáng tỏ, con thấy đức Thế-Tôn từ thiền thất đi ra kinh hành ở khu đất trống. Từ xa con trông thấy đức Phật có ánh hào quang rực rỡ tỏa ra chung quanh, đi gần hơn nữa, con thấy Ngài đẹp đẽ trang nghiêm, như mặt trăng giữa các vì tinh-tú. Con thấy rồi, liền hân hoan đi đến trước Phật, đảnh lễ rồi đứng lên theo Ngài kinh hành.

Bấy giờ đức Phật vừa đi đến cuối đường kinh hành, Ngài trải Ni-sư-Đàn (tọa cụ của Phật) rồi ngồi kiết-già; lúc ấy con lại đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi sang một bên. Đức Thế-Tôn bắt đầu thuyết pháp cho con nghe, Ngài dùng đủ thứ phương tiện thuyết pháp làm cho con được vui thích; rồi Ngài theo thông lệ của chư Phật, trước hết nói về pháp đoan chính để người nghe vui vẻ, đó là nói về bố thí, trì giới và về pháp sinh lên cõi Trời; sau Ngài nói về tai họa của tham dục, sân hận, tà kiến v.v...

Khi đức Thế-Tôn biết con đã có tâm kham nhiễm nhu nhuyễn, có tâm hoan hỷ vươn lên, và có tâm tín chuyên nhất, Ngài liền nói về Khổ, Tập (nguyên nhân gây ra khổ), Diệt (cách diệt trừ khổ), Đạo (con đường dẫn đến đạo) cho con nghe. Ngay khi ấy, con đã thấy bốn Diệu-Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) thật rõ ràng, giống như tấm vải trắng nhuộm thành màu sắc, con cũng như vậy.

Thưa Tôn-giả, con đã thấy Pháp, đắc Pháp; con đã đoạn nghi trừ hoặc, không còn tôn sùng ai, cũng chẳng tin theo người khác. Con không còn một chút do dự, đã trụ nơi qủa chứng, và được sự không sợ hãi đối với giáo-pháp của đức Thế-Tôn, lúc ấy con liền đứng dậy đảnh lễ đức Phật và nói: “Thưa đức Thế-Tôn, con hôm nay tự quy y Phật, Pháp, và chúng Tỳ-kheo; cúi mong đức Thế-Tôn chấp nhận cho con làm Ưu-bà Tắc (Nam Cư-sĩ) bắt đầu từ giờ này cho đến trọn đời con”.

Thưa Tôn-giả, con chắp tay thưa tiếp rằng: “Thưa Thế-Tôn, ngưỡng mong Ngài nhận lời mời của con, cùng đại-chúng Tỳ-kheo đến thành Xá-Vệ (về phương Bắc) thuộc nước Xá-Vệ để an cư mùa mưa”.
Lúc ấy đức Thế-Tôn hỏi con: “Ông tên là gì, người dân nước Xá-Vệ gọi ông bằng gì?”
Con liền thưa: “Con tên là Tu-đạt-Đa, vì con thường cung cấp cho người nghèo cô độc nên người dân trong nước Xá-Vệ gọi con là Cấp-cô-Độc”.

Đức Thế-Tôn lại hỏi: “Tại nước Xá-Vệ ông có phòng ốc gì chưa, nếu có phòng ốc thì các thầy Tỳ-kheo mới có thể vãng lai, mới có thể trú ngụ được”.
Con trả lời rằng: “Thưa Thế-Tôn, tại nước Xá-Vệ, con chưa có phòng ốc, nhưng con có thể cho xây cất, để các thầy Tỳ-kheo vãng lai cư ngụ. Mong đức Thế-Tôn cử một vị Tỳ-kheo đến nước Xá-Vệ giúp con trong việc kiến lập phòng ốc”.

Bấy giờ đức Thế-Tôn liền cử Tôn-giả (Xá-lợi-Phất) đi giúp đỡ con, khi công việc tại thành Vương-Xá xong xuôi, con cùng Tôn-giả đi đến nước Xá-Vệ; nhưng không vào thành ngay, cũng chẳng về nhà, mà lập tức đi dạo khắp nơi bên ngoài thành. Quan sát xem chỗ nào có thể đi lại tiện lợi, ban ngày không ồn ào, và ban đêm tịch tĩnh; chỗ không có muỗi mòng, cũng chẳng ruồi bọ, không nóng cũng chẳng lạnh, có thể xây cất phòng ốc cúng dàng đức Phật và đại-chúng Tỳ-kheo.

Thưa Tôn-giả, bấy giờ con chỉ thấy vườn của hoàng-thân Đồng-Tử Thắng là đủ tiêu chuẩn đã định, con quan sát kỹ rồi liền nghĩ: “Chỉ có chỗ này là thích hợp nhất, là tốt nhất, không còn chỗ nào khác tốt hơn”.
Nghĩ như vậy, con liền đi thẳng đến nhà Đồng-Tử Thắng mà nói rằng: “Thưa Hoàng-thân, Ngài có thể bán khu vườn kia lại cho tôi được không?”
Đồng-Tử liền bảo con: “Trưởng-giả nên biết, tôi không bán vườn đâu”.
Cứ như vậy, lần thứ hai, rồi lần thứ ba con nói như thế; Đồng-Tử cũng lần thứ hai từ chối, rồi lần thứ ba bảo con rằng: “Này Trưởng-giả, tôi đã nói tôi không bán vườn. Ông cứ hỏi lôi thôi mãi, ngoại trừ chỉ khi nào tiền ức triệu ông trải đầy mặt đất”.
Lúc ấy con liền nói: “Này Hoàng-thân, Ngài đã quyết định giá cả, chỉ còn việc trao tiền nữa thôi”.
Thưa Tôn-giả, con và Đồng-Tử Thắng, người thì nói đã quyết định giá cả rồi, người thì nói chưa có quyết định giá cả. Cùng nhau tranh cãi lớn, rồi dắt nhau đến vị Phán Quan xử án của nước Xá-Vệ để xin phán quyết về việc ấy. Bấy giờ vị Phán Quan sau khi nghe đôi bên trình bày, liền bảo Đồng-Tử Thắng rằng: “Này Đồng-Tử Thắng, thế là ông đã tự quyết định giá cã rồi, chỉ còn việc nhận tiền của Trưởng-giả mà thôi, không còn tranh cãi gì nữa”.

Thế là con liền trở về nhà lấy tiền, và dùng voi, xe ngựa để chuyên chở các kho bạc đem đến. Con đã xuất ra tới ức triệu tiền bạc để trải khắp mặt đất, nhưng còn một chỗ chưa khắp đến. Con còn đang suy nghĩ nên lấy bạc ở kho nào để trải chỗ đất còn dư ấy để cho đủ; bấy giờ Đồng-Tử Thắng bảo con rằng: “Này Trưởng-giả, nếu có ăn năn về số tiền ấy thì hãy mang trở về, trả lại khu vườn cho tôi”.
Con bảo Đồng-Tử Thắng: “Tôi không có ăn năn, tôi chỉ suy nghĩ xem nên lấy tiền ở kho nào để mang đến trải chỗ đất còn lại cho vừa đủ, không thừa cũng không thiếu”.

Bấy giờ Đồng-Tử Thắng tự nghĩ: “Đức Phật hẳn là một người cao cả, vĩ đại, và có oai đức lớn; đại chúng Tỳ-kheo hẳn cũng rất cao cả, và cũng có oai đức lớn. Do đó mới làm cho Trưởng-giả này thiết bày sự cúng dàng vĩ đại, coi của cải rẻ đến như thế; có lẽ ta nên xây cổng ngõ tại miếng đất còn lại để cúng dàng”, rồi Đồng-Tử Thắng bảo con: “Này Trưởng-giả, hãy thôi đi, đừng xuất tiền để trải chỗ đất còn lại nữa, vì ngay chỗ đất ấy tôi sẽ xây cổng ngõ để cúng dàng Phật và đại-chúng Tỳ-kheo”.
Thưa Tôn-giả, vì lòng từ-mẫn, nên con đồng ý để chỗ đất ấy lại cho Đồng-Tử Thắng xây cổng ngõ.

3)- Ngoại đạo quy phục Tôn-giả Xá-Lợi-Phất:

Khi vừa khởi công xây cất, lại xảy ra việc ngoại đạo ngăn cản, nhiều nhóm Bà-la-môn (Ấn-Độ-Giáo) đến gặp con yêu cầu hủy bỏ xây cất Tịnh-xá, nhưng tín tâm đối với đức Phật của con rất kiên cố nên họ không thể nào lay chuyển nổi; họ bèn xoay qua việc đòi tranh luận với đệ-tử Phật là Tôn-giả để đánh bại lý thuyết Phật-giáo, hầu dẹp trừ sự phát triển của Phật-giáo tại vùng Bắc (Ấn-Độ) này.

Thưa Tôn-giả, con nghe tin như thế thì đâm ra hoang mang lo sợ, vì họ huy động một lực lượng hùng hậu gồm 10 Luận-Biện-Sư nổi tiếng nhất xứ (Ấn-Độ) đến, trong khi đó chỉ có một mình Tôn-giả. Con rất lo ngại báo tin ấy với Tôn-giả, nhưng Tôn-giả trái lại không hề lo lắng, mà tỏ ra hoan-hỷ, vì Tôn-giả cho rằng đây là cơ hội tốt để thể hiện và tuyên dương lý thuyết của Phật-giáo tại miền Bắc này, rồi họ hẹn ngày và địa điểm tranh biện.
Ngày tranh luận, dù họ đông, dương oai thế lực, nhưng từ nhỏ Tôn-giả đã thừa hưởng một kiến thức siêu quần về Bà-la-môn của cha ông, và đặc biệt hơn là Tôn-giả đã đắc qủa A-La-Hán với giáo-lý của Phật. Kết qủa cuối cùng là Tôn-giả thắng lợi, khiến một số ngoại đạo tiếp thu chân-lý và xin Tôn-giả hướng dẫn quy-y Phật-Pháp. Từ đó đến nay vô số người tại miền Bắc này trở thành con Phật.
Việc xây cất Tịnh-xá chủng-viện bởi thế trở nên rất thuận lợi và nhanh chóng, rồi suốt trong mùa hè ấy, con đã cấp tốc cho xây cất hoàn tất mười sáu dãy nhà làm các giảng đường và đại giảng đường, và mười nhà lớn biệt lập, mỗi nhà đều có ngăn nhiều phòng riêng biệt làm nơi trú ngụ. Lại có nhà tắm, nơi chứa nước, ao hồ, suối, đường để đi kinh hành v.v...
Con còn nhớ rõ, lúc Tịnh-xá sắp hoàn tất, hôm ấy đang khi đi thăm công việc xây cất, Tôn-giả bỗng nhiên nói với con: “Này Trưởng-giả, ông hãy nhìn lên Trời xem có gì lạ kià.” Con vội nhìn lên nhưng chẳng thấy gì cả nên đã trả lời rằng: “Con chẳng thấy gì trên Trời cả”. Tôn-giả nói: “À phải rồi, mắt thường của con người không thấy được, Trưởng-giả hãy đến gần tôi và nương theo Thiên nhãn của tôi mà nhìn lại xem sao”. Con liền đến đứng sát Tôn-giả mà nương nhìn liền thấy rất nhiều cung-điện trang nghiêm đẹp đẽ vô cùng. Tôn-giả giải thích rằng: “Những cung điện ấy dành cho Trưởng-giả vì ông đã phát đại tâm xây cất Tịnh-xá cúng dường Phật.”.
Thưa Tôn-giả, lúc ấy con đâm ra hoang mang, và nói: “Sao nhiều cung điên quá, con biết ở cung điên nào?”. Tôn-giả bảo: “Trưởng-giả nên chọn cung điên ở cung Trời Đạo-Lợi, có thọ mạng khá lâu dài, lại biết tu hành, và khó đọa lạc”. Con ưng ý ngay và buột miệng nói: “Con ước mong sau này được sinh đến cõi Trời Đạo-Lợi”, con vừa nghĩ vừa nói xong, lạ thay các cung điện đều biến mất, chỉ còn một cung điện mà thôi, khi ấy Tôn-giả bảo: “Chỉ còn cung điện của cõi Trời Đạo-Lợi theo ý nguyện của Trưởng-giả đó”. Lúc ấy con vui mừng biết mấy.

Thời ấy Tôn giả đã giúp đỡ con rất nhiều trong việc dựng lập Tịnh-xá chủng-viện, hôm nay Tôn-giả thuyết pháp để giáo hóa người bệnh rất là kỳ lạ. Con nghe bài giáo hóa người bệnh vừa rồi, bệnh khổ nặng nề liền biến mất, lại sinh ra vui vẻ nhẹ nhàng vô cùng.
Thưa Tôn-giả, bây giờ con không còn bệnh nữa, và được yên ổn hoàn toàn, kính mong Tôn-giả ở lại thọ trai; Tôn-giả Xá-lợi-Phất im lặng nhận lời mời, sau khi thọ trai xong, Tôn-giả thuyết pháp cho Trưởng-giả nghe, xong Tôn-giả ra về.

Khi ấy đức Thế-Tôn đang thuyết pháp cho đại chúng nghe, từ đằng xa, đức Thế-Tôn thấy Tôn-giả Xá-lợi-Phất đi lại, Ngài bảo đại chúng: “Tỳ-kheo Xá-lợi-Phất là bậc thông tuệ, tốc huệ, tiệp huệ, quảng huệ, xuất yếu huệ, minh đạt huệ, và biện tài huệ; Tỳ-kheo Xá-lợi Phất đã thành tựu thật huệ, vì sao vậy? Vì: về bốn hạng Tu-đà-Hoàn mà Ta đã nói sơ lược, thì Tỳ-kheo Xá-lợi-Phất triển khai thành mười hạng để nói cho Trưởng-giả Cấp cô-Độc nghe và khỏi bệnh”.

4)- Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc sinh lên cõi Trời.
Về sau, lúc đã lớn tuổi già yếu bệnh hoạn nhiều, và cảm thấy không còn sống được bao lâu nữa; Trưởng-giả Cấp cô-Độc sai sứ-giả đến đảnh lễ, thăm hỏi đức Thế-Tôn và thưa rằng bệnh tình của Trưởng-giả đã đến hồi trầm trọng, nhưng ông vẫn từ giường bệnh kính cẩn đảnh lễ đức Thế-Tôn. Sau đó: sứ-giả cũng đến thăm hỏi Tôn-giả Xá-lợi-Phất, và nói ý nguyện của Trưởng-giả là muốn được gặp Tôn-giả trước khi nhắm mắt qua đời.

Theo lời thỉnh, Tôn-giả Xá-lợi-Phất đi cùng với Tôn-giả A-nan-Đà đến nhà Trưởng-giả Cấp cô-Độc và thăm hỏi bệnh tình; Trưởng-giả Cấp cô-Độc thưa rằng bệnh của ông không có dấu hiệu giảm bớt, mà chỉ có tăng thêm, càng ngày càng trầm trọng hơn, và có thể chết bất cứ lúc nào.

Tôn-giả Xá-lợi-Phất liền thuyết cho ông một bài pháp rất chi tiết mạch lạc, Tôn-giả bảo ông ráng thực hành, đại cương gồm những điểm sau đây:

1- Quán niệm về Tam Bảo Phật-Pháp-Tăng thì sẽ không bị đọa vào ba đường ác là Ngạ-Qủy, Súc-sanh, và Địa-Ngục.
2- Quán niệm về 18 giới: sáu căn (giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, xúc thức, và ý thức) đều không phải là ta, không vướng mắc tới ta .
3- Quán niệm sáu đại: (đất, nước, gió, lửa, không gian, và tâm thức) không phải là ta, không vướng mắc tới ta.
4- Quán niệm năm uẩn (hay 5 ấm): (hình sắc, cảm thọ, tri tưởng, tâm hành, nhận thức) không phải là ta, ta không bị giới hạn bởi năm uẩn.
5- Quán niệm về thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai) không phải là ta, ta không bị giới hạn bởi thời gian. (qúa khứ đã qua rồi, hiện tại không dừng, tương lai chưa tới)

Các pháp đều do nhân duyên sinh khởi và diệt đi, thật ra tự tánh của các pháp là không sinh cũng chẳng diệt, không tới cũng chẳng đi. Khi có đầy đủ nhân duyên hội tụ thì con mắt có mặt, khi nhân duyên thiếu thì con mắt vắng mặt. Điều này cũng đúng với tất cả các pháp khác của sáu căn, sáu trần, sáu thức, năm uẩn, và thời gian.

Trong năm uẩn không gì có thể gọi được là ta, không thấy được sự thực này là vô minh (ngu si). Vì vô minh mà có hành (hành động), vì hành mà có thức (vọng thức), vì thức mà có danh sắc (danh: tên gọi, sắc: vật chất), vì danh sắc mà có sáu nhập (tai mắt mũi lưỡi thân ý), vì lục nhập mà có tiếp xúc (mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm, ý nghĩ tưởng), vì xúc chạm mà có thọ (thụ cảm), vì cảm thọ mà có ái (yêu thích, ghét chê), vì tham ái mà có thủ (vướng mắc giữ lấy), vì thủ mà có hữu (có), vì hiện hữu mà có sinh, già, bệnh hoạn khổ não, rồi chết.

Mọi pháp đều không có tự tánh riêng biệt, và đều do nhân duyên mà phát hiện, đó gọi là quán niệm muôn pháp đều không, một phép quán cao siêu vào bậc nhất.

Khi nghe xong, nước mắt Trưởng-giả ràn rụa trào ra. Tôn-giả A-nan-Đà thấy thế bèn hỏi:
- Có phải Trưởng-giả sợ thực hành không được, nên tinh thần suy nhược chăng?

Ông trả lời: (Còn Tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Oct 21 2011, 05:22 AM
Gửi vào: #29


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ XÁ-LỢI-PHẤT VÀ TRƯỞNG-GIẢ
CẤP-CÔ-ĐỘC


(Tiếp theo)
Toàn Không


Ông trả lời:
- Thưa Tôn-giả A-nan, không phải vậy, con thực tập rất thành công, tinh thần con không chút giảm suy. Chỉ vì mặc dù đã được nghe nhiều bài pháp do Tôn-Sư giảng, con chưa hề được nghe pháp cao siêu như thế này.

Tôn-giả A-Nan-Đà nói:
- Ông nên biết giáo pháp này thường được Thế-Tôn dạy cho các Tỳ-kheo nghe.

Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc nói :
- Xin Tôn-giả A-Nan thưa lại với đức Thế-Tôn, xin Ngài cho phép giới Cư-sĩ được nghe những giáo pháp vi diệu như giáo pháp này, vì cũng có Cư-sĩ đủ sức hành trì những giáo pháp thâm diệu ấy.

Khi hai vị Tôn-giả đệ-tử Phật ra về Trưởng-giả Cấp-Cô-Độc tiếp tục quán niệm giáo pháp vi diệu ấy, mấy ngày sau Trưởng-giả thở hơi cuối cùng, qua đời, và tức khắc, sinh lên cõi trời Đạo-Lợi.

Sau đó ít lâu, một đêm, vị Trời Cấp-cô-Độc từ cung trời Đạo-Lợi trở về Tịnh-xá, hào quang sáng ngời, chiếu cả một khu rộng lớn. Vị Trời Cấp-cô-Độc đến đảnh lễ đức Thế-Tôn, Thiên-tử Cấp-cô-Độc bày tỏ niềm hân hoan được gặp lại đức Thế-Tôn và chư vị Đệ-tử của Ngài trong Tịnh-xá do ông đã kiến tạo. Vị Trời Cấp-cô-Độc cũng hết mực ca tụng phẩm hạnh và tài đức của Tôn-giả Xá-lợi-Phất. Sau khi ngỏ lời từ giã, vị Trời Cấp-cô-độc đảnh lễ đức Thế-Tôn, rồi biến mất chỉ trong chớp mắt.

5)- Qủy Già-La đấm Tôn-giả Xá-Lợi-Phất.

Một lần, Tôn-giả Xá-Lợi-Phất nhập Kim-Cang Định ở bên một gốc cây ngay chân núi Kỳ-Xà-Quật, trên núi có hai con Quỷ một con Quỷ thiện tên Ưu-Bà Ca-La, một con Quỷ ác tên Già-La, chúng nhìn thấy Tôn-giả đang ngồi thiền dưới một lùm cây cổ thụ, Quỷ ác liền nói:
- Ta sẽ đánh bể cái đầu trọc của lão Sa-môn kia.

Quỷ thiện nói cản lại:
- Đừng làm thế, vị ấy có thần-lực, nguy hiểm lắm.
- Ngươi sợ lão Sa-môn này sao? Ta chỉ đấm một cái là cái đầu trọc kia bể nát ra cho mà xem.

Nói vừa dứt, nhanh như chớp, liền vung tay đánh xuống đầu Tôn-giả như sấm nổ, trong lúc ấy Quỷ thiện sợ qúa biến mất. Quỷ ác đánh tới mà Tôn-giả chỉ cảm thấy như có một chiếc lá rơi trên đầu, rồi Tôn-giả thấy một con Quỷ máu từ miệng, mũi, tai, mắt chảy ra, và đang sa vào Địa-ngục.

Khi Tôn-giả đến vườn Ca-lan-Đà, đức Phật hỏi:
- Xá-Lợi-Phất, hôm nay ông có sao không?

- Thưa Thế-Tôn, con không sao, chỉ hơi ê đầu một chút thôi.

- Xá-Lợt-Phất, hôm nay ông nhập Kim-Cang Định rất tốt, quỷ Già-La mà đấm núi Tu-Di cũng phải vỡ nát. Sức mạnh của Định Kim-Cang vững mạnh đến như thế đó, ngay khi đánh, quỷ Già-La bị sức phản lại của Kim-Cang Định nên thất khiếu bị chảy máu mà chết và bị đọa địa ngục vì làm ác, các ông (các Tỳ-kheo) cần phải tu trì như thế.

6)- Xá-Lợi-Phất rống tiếng rống Sư-tử :
Sau này, khi Tôn-giả Xá-lợi-Phất muốn đi giáo hóa trong nhân gian, Ngài đi đến chỗ đức Phật đảnh lễ và thưa:
- Bạch Thế-Tôn, con an cư ba tháng ở tại nước Xá-Vệ này vừa xong, bây giờ con muốn đi du hành trong nhân gian.

Đức Phật bảo:
- Ông hãy đến đâu tùy ý, người nào chưa được hóa độ hãy khiến họ được hóa độ, những người nào chưa được giải thoát hãy khiến họ được giải thoát.

Sau khi nghe đức Phật dạy xong, Tôn-giả đảnh lễ, đi quanh Phật ba vòng, rồi lui ra về phòng riêng lấy y bát, rồi ra đi; Tôn-giả vừa ra đi, có một vị Tỳ-Kheo đến thưa với Phật rằng:
- Thưa Thế-Tôn, hôm nay Tỳ-kheo Xá-lợi-Phất sau khi khinh mạn con rồi đi du hành trong nhân gian.

Khi nghe lời ấy, đức Thế-Tôn liền bảo một Tỳ-Kheo khác đi gọi Tôn-giả Xá-lợi-Phất trở lại; lúc ấy, Tôn-giả A-Nan-Đà đang đứng phiá sau đức Phật nghe những lời ấy, liền cầm chùm chià khóa đi đến khắp các phòng, mời các Tỳ-Kheo đến đại giảng đường để nghe Tôn-giả Xá-lợi-Phất sẽ ở trước Phật mà rống tiếng rống Sư-tử. Tôn-giả A-Nan-Đà còn căn dặn: “Nếu Tôn-giả Xá-lợi-Phất nói ra những điều sâu xa, tịch tịnh, vi diệu, mọi người phải khéo ghi nhớ và thọ trì”.

Khi Tôn-giả Xá-lợi-Phất được vị Tỳ-Kheo đi kịp nói lại sự việc xẩy ra và lời đức Phật bảo, Tôn-giả liền quay trở lại chỗ đức Phật, cúi đầu đảnh lễ, rồi ngồi qua một bên. Đức Phật bảo:
- Xá-lợi-Phất, sau khi ông rời khỏi đây, có một Tỳ-Kheo đến đây nói: “Thưa Thế-Tôn, hôm nay Tỳ-kheo Xá-Lợi-Phất sau khi khinh mạn con rồi đi du hành trong nhân gian”, có thật sau khi khinh mạn một Tỳ-Kheo phạm hạnh rồi ông đi du hành trong nhân gian chăng?

Tôn-giả Xá-Lợi-Phất thưa:
- Bạch Thế-Tôn, nếu người nào không thực hành niệm thân trên thân, thì người ấy mới khinh mạn một vị Tỳ-Kheo phạm hạnh; còn con luôn luôn không quên thực hành niệm thân trên thân, thì sao con lại có thể khinh mạn một vị phạm hạnh?

Thưa Thế-Tôn,
Cũng như một con trâu gãy cả hai sừng, rất nhường nhịn, hiền lành, dễ chế ngự, không gây gỗ; nó từ xóm thôn này đến xóm làng khác, những nơi nó đi qua không gì bị nó xâm phạm. Con cũng như vậy, tâm con như trâu gãy cả hai sừng, không não hại, con đã tu tập thuần thục như thế.

Như con của người trọng tội, nên nó phải bị chặt hai tay, tâm ý nó rất thấp kém, nó từ xóm này đếm xóm khác, những nơi nó đi ngang qua, không có gì bị xâm phạm. Tâm con cũng giống như con của người trọng tội kia, không nhìn ngó người khác, không sân hận, con khéo tu tập tâm ý như thế.

Lại như mặt đất dung nạp tất cả thứ sạch, đồ dơ, nước mũi, nước miếng, nước tiểu, cho đến đủ thứ phân người và phân các loài súc vật v.v.. Mặt đất không phải vì thế mà có sự thương ghét giận hờn, không lấy thế làm xấu xa, cũng chẳng thẹn thùng; tâm con cũng như mặt đất, không phân biệt dơ sạch, không oán kết, khéo hành trì, biến mãn tất cả thế gian.

Cũng lại như ngọn lửa đốt cháy tất cả, không phân biệt thứ sạch đồ dơ, ngọn lửa không có sự yêu ghét, không kiêu hãnh, cũng chẳng hổ thẹn. Tâm con cũng như ngọn lửa, khéo điều phục, rộng lớn vô biên, thành tựu an trụ đầy đủ.

Lại nữa, như gió thổi bay những thứ nhẹ, không phân biệt là thứ gì, không phân biệt là sạch sẽ hay dơ bẩn, gió không vì thế mà có sự yêu thương hay ghét bỏ; gió thổi đến mọi chỗ, từ đồng bằng đến biển cả cho tới đồi hoang, chỗ nào cũng có gió, không e lệ, không kiêu căng, cũng chẳng thẹn thùng. Tâm con cũng vậy, luôn luôn bình đẳng như gió, khắp tất cả thế gian.

Cũng như cây chổi, quét khắp tất cả bụi, rác, nước miếng, nước mũi, không phân biệt sạch dơ; cây chổi không vì thế mà có yêu ghét, không lấy làm xấu xa, không xấu hổ, cũng chẳng ngại ngùng. Tâm con cũng như cây chổi, không oán không kết, khéo tu tập đầy đủ.

Như cái chậu đựng nước lau sàn nhà, khăn lau chùi tất cả chỗ sạch chỗ dơ, rồi khăn lau được giặt vào cái chậu nước ấy; cái chậu không vì thế mà có sự thích hay không thích, cũng không lấy làm xấu xa hổ thẹn; con cũng như vậy, tâm con như cái chậu nước lau sàn nhà kia, không chọn lựa, không chê bai, cũng chẳng giận hờn.

Sau nữa, cũng như bình mỡ nứt nẻ đựng đầy mỡ rồi để dưới ánh nắng mặt trời, mỡ chảy rỉ thấm ướt khắp cả; con cũng thế, con thường quán sát thân này có chín lỗ thường chảy ra, thoát ra, rỉ ra, thấm khắp cả những đồ bất tịnh, dơ bẩn, khó coi, khó ngửi, ghê tởm, nên con không coi trọng, không qúi, không ham, không đề cao thân này.

Sau chót, cũng như con một Trưởng-giả ưa thích tuổi niên thiếu của mình, thường tắm gội sạch sẽ, xông thân thể bằng hương thơm, mặc áo trắng thêu hoa đeo vòng ngọc, đầu đội tràng hoa. Nếu đem ba xác chết: Rắn chết, chó chết và người chết, máu ứ bầm xanh, sình trương to lớn, rữa ra, rất khó chịu vì mùi hôi thối, nước dơ rỉ chảy ra dính khắp. Người niên thiếu ấy thấy thế sẽ rất sợ hãi, rất khủng khiếp, ghét vô cùng cảnh ô uế đó; con cũng như thế, thường quán sát những chỗ thối tha dơ bẩn của thân này giống như các xác chết ấy, tâm ôm lòng sợ hãi, và rất chán ghét thân này.

Thưa Thế-Tôn, nếu ai không thực hành niệm thân trên thân, có thể sẽ khinh mạn một vị phạm hạnh. Còn con không oán không kết, không sân hận, không não hại, rộng lớn vô biên, đã khéo thực hành, tu tập, hành trì niệm thân trên thân, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ, tại sao con lại khinh mạn một vị phạm hạnh, rồi đi du hành trong nhân gian?

Bỗng nhiên lúc ấy Tỳ-Kheo kia liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật và nói:
- Thưa Thế-Tôn, con xin sám hối, con xin sám hối, con thành thật xin hối lỗi; con như người ngu si, con như người bất định, con như người bất thiện, con như người mù quáng; con đã đem lời dối trá để vu khống cho Tỳ-kheo Xá-Lợi-Phất, là bậc phạm hạnh thanh tịnh. Thưa Thế-Tôn, con nay xin sám hối tội lỗi đã tạo ra, mong Ngài chấp nhận cho con; sau khi sám hối, con quyết sẽ không còn tạo tội nữa, xin Ngài chấp nhận lời sám hối của con.

Đức Phật dạy:
- Này Tỳ-Kheo, ông qủa thật là người ngu si, như người bất định, như người bất thiện, như người vô trí; Ông đã đem lời dối trá hoàn toàn không chân thật để vu báng Tỳ-kheo Xá-Lợi-Phất là bậc phạm hạnh thanh tịnh. Ông có thể sám hối tội lỗi, đã sám hối rồi sau này sẽ không còn tạo tội nữa; nếu có người nào sám hối tội lỗi đã phát lồ rồi, sau này không còn tạo tội nữa, như thế sẽ được trưởng thành trong Thánh pháp luật mà chẳng suy giảm.

Nói rồi, đức Phật bảo:
- Tỳ-kheo Xá-Lợi-Phất, ông nên sớm nhận lời sám hối của người ngu si kia, chớ để Tỳ-Kheo kia lập tức ở trước ông mà đầu bị vỡ tung ra.

Bấy giờ Tôn-Giả Xá-Lợi-Phất vì thương xót Tỳ-Kheo kia nên liền nói:
- Tôi nhận lời sám hối tội lỗi của ông, từ nay về sau ông không còn phạm tội tương tự như thế nữa đối với tất cả mọi người.

Nhận sự sám hối của Tỳ-kheo kia xong, Tôn-giả Xá-Lợi-Phất đứng dậy đảnh lễ Phật, đi quanh ba vòng, lui bước ra khỏi đại giảng đường rồi đi du hành trong nhân gian...


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Oct 31 2011, 04:06 AM
Gửi vào: #30


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐẾ THÍCH
KIẾN PHẬT


Toàn Không


Khi đức Phật ngự trong động Nhẫn-Đà Bà-La, tại núi Tà-đà, thuộc nước Ma-kiệt-Đà, bấy giờ Vua Trời Thích (Đế-Thiên Đế-Thích cũng gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế) khởi tâm muốn đến gặp Phật. Ngay khi ấy, các vị Trời cõi Đạo-Lợi biết được Đế-Thích khởi tâm như thế, liền đến chỗ Đế-Thích thưa :
- Nay Ngài khởi tâm thiện vi diệu muốn đến chỗ Như-Lai nơi cõi trần phàm, chúng tôi cũng muốn theo hầu, để được đến mà chiêm bái và học hỏi nơi Thế-Tôn.

Lúc đó Đế-Thích bảo Thần-nhạc là Bàn-giá-Dực rằng:
- Ta muốn đến nơi Thế-Tôn ngự, vậy ông và chư Thiên có thể đi cùng ta đến đó.
Thần nhạc đáp:
- Thưa vâng.

Rồi Thần nhạc cầm cây đàn Lưu-ly khảy khúc đàn cúng dàng Đế-Thích và chư Thiên. Tiếng đàn vừa dứt, chỉ trong khoảnh khắc như người lực sĩ duỗi cánh tay, họ biến mất khỏi Thiện Pháp-đường cõi Trời và đến trên núi Tỳ-Đà.

Trong khi ấy, đức Phật đang nhập định Hỏa-diệm tam-Muội, khiến cả vùng núi có một màu đỏ rực; một vài người dân trong vùng gần đấy trông thấy tự nói: “Núi Tỳ-Bà là một biển lửa! Không biết chuyện gì đã xẩy ra mà đang đêm cháy như thế?”. Đế-Thích bảo Bàn-già-Dực:
- Đức Như-Lai ra đời thật hy hữu hiếm có, Ngài thường được các chư Thiên và đại Qủy-Thần theo hầu. Nay ông hãy vào động Nhẫn-Đà Bà-Là khảy đàn cúng dàng Như-Lai, còn ta và chư Thiên sẽ đến sau.

Vâng lời Đế-Thích, Bàn-già-Dực liền vào động khảy khúc đàn hòa với tiếng ca cúng dàng Như-Lai, tiếng đàn trầm bổng, xen với tiếng hát ca tụng công đức vô lượng vô biên của Như-Lai; khi đàn hát vừa dứt, thì đức Phật xuất định, và bảo Bàn-già-Dực:
- Hay thay! Hay thay! Ông có thể dùng âm thanh thanh tịnh hòa điệu với tiếng đàn Lưu-ly để khen ngợi Như-Lai, giọng ca, tiếng đàn uyển chuyển, trầm bổng, mà có ý nghiã tham dục là trói buộc, phạm hạnh của Sa-môn đưa đến giải thoát.

Lúc đó Bàn-già-Dực liền đảnh lễ Phật, xong thưa:
- Vua Trời Thích và chư vị Trời Đạo-Lợi sai con đến thăm hỏi đức Thế-Tôn có được mạnh khoẻ không, đi đứng có được thoải mái không?

Đức Phật nói :
- Ta mong cho Đế-Thích của ông, và Chư Thiên Đạo-Lợi sống lâu, an vui, và không hoạn nạn.

Lúc ấy, Đế-Thích tự nghĩ: “Bây giờ chúng ta nên đến ra mắt Như-Lai cho đúng lúc”. Nghĩ rồi cùng Chư Thiên vào động đảnh lễ và thưa:
- Đế-Thích và Chư Thiên Đạo-Lợi đến đảnh lễ Như-Lai, không biết chúng con nên ngồi gần hay nên đứng cách xa đức Thế-Tôn?

Phật đáp:
- Thiên chúng của ông quá đông, vậy nên ngồi gần Như-Lai.

Lúc đó động đang chật hẹp tự nhiên rộng hẳn ra, chứa hết chư Thiên, và chỉ trong khoảnh khắc tất cả đã an vị xong, Đế-Thích nói:
- Trước kia, có một lần Thế-Tôn ngự tại nước Xá-Vệ, lúc ấy trong khi Ngài đang nhập định, con vì có chút việc nên ngồi xe báu nghìn căm đến chỗ Tỳ-lâu-Lặc Thiên-Vương. Khi đi ngang qua hư không, con thấy một Thiên nữ đang chắp tay đứng trước Thế-Tôn, con liền nói với nàng ấy rằng: “Nếu khi Thế-Tôn xuất định, nàng hãy nhân danh ta thăm hỏi đức Thế-Tôn có được mạnh khoẻ thoải mái không?”. Nhưng không biết Thiên-nữ ấy có hiểu được hậu ý của con không, đồng thời Thế-Tôn có còn nhớ sự việc ấy không?

Phật đáp:
- Nhớ, Thiên-nữ ấy đã nhân danh ông mà nói đúng như những lời ấy, và khi Ta xuất định cũng nghe tiếng xe của ông.
Đế-Thích lại nói:
- Thuở xưa có một Thiên chúng nói: “Nếu Như-Lai xuất hiện ở thế-gian, Thiên chúng các cõi Trời sẽ tăng lên, và A-Tu-La (Thần) sẽ giảm bớt vì do sự giáo hóa của Như-Lai”. Nay đích thân con thấy Như-Lai đang ở thế-gian, thì tự con biết rằng Chư Thiên đang tăng lên, và A-Tu-La đang giảm xuống, đó là điều vô cùng vui mừng thấy được Thế-Tôn nơi đây.

Ca tụng Phật xong, Đế-Thích nói tiếp:
- Thưa Thế-Tôn, có Thích-nữ Cù-Di ở nơi Pháp của Thế-Tôn trước đây tu phạm-hạnh, sau khi qua đời ở thế-gian, được sinh về cõi Trời và làm con của con; Chư Thiên đều khen ngợi Thiên-nữ Cù-Di có công đức lớn, có oai lực lớn. Lại có ba Tỳ-kheo cũng theo Thế-Tôn tu phạm hạnh trước kia, cũng được sinh lên cõi Trời, nhưng lại ở địa vị thấp kém hơn, làm kẻ đánh nhạc ca hát cho con.
Nói đến đó, Đế-Thích lại thưa tiếp:
- Nếu Thế-Tôn có rảnh, xin Ngài cho con hỏi một điều thắc mắc.
Phật nói:
- Tùy ý ông cứ hỏi, Ta sẽ tùy từng trường hợp mà giải thích cho.
Đế-Thích hỏi:
- Thế nào là cứu cánh của một vị tu hành?
Đức Phật giảng:
- Nếu ai bị ái làm khổ thân mà diệt được thì gọi là cứu cánh, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh an ổn, cứu cánh vô dư (Niết-Bàn).
Đế-Thích thưa:
- Con đã ôm ấp mối nghi này từ lâu, nay nhờ Thế-Tôn mà con được giải nghi. Con còn nhớ ngày xưa con đã từng đến nơi Bà-la-Môn để hỏi về nghiã này rồi, vì trước đó, con cùng chư Thiên đã nhiều lần thảo luân về Như-Lai đã xuất hiện ở thế-gian này hay chưa. Chúng con cũng đã đi tìm kiếm khắp, nhưng không thấy Như-Lai, nên chúng con trở về Thiên cung vui thú ngũ dục.

Về sau, con thấy một số chư Thiên, đại Thiên-Thần sau khi vui thú ngũ dục thì dần dần lần lượt mạng chung (chết). Thấy như thế xong, con đâm ra sợ hãi cùng cực, không biết làm sao, con bèn hội họp chư Thiên lại thảo luận để tìm nguyên nhân, nhưng chẳng ai biết được! Con bèn đi tìm những vị Thánh ở thế-gian để hỏi, con thấy Sa-môn, Bà-la-Môn ở nơi thanh vắng tu hành lánh tục, con liền đến chỗ ấy mà hỏi: “Thế nào là cứu cánh của một vị tu hành ?”. Khi con hỏi như thế, người ấy không đáp được, đâm ra lúng túng, lại còn hỏi ngược lại con: “Ông là ai?” Con đáp: “Tôi là Thích-đề-hoàn-nhân”. Họ lại hỏi: “Ông là Thích, mà là Thích gì?” . Con lại đáp: “Tôi là Vua Trời Thích (Thiên Đế-Thích)”. Khi đó, con và họ cứ theo sự hiểu biết của mình mà nói qua nói lại một hồi, kết quả chẳng đi đến đâu. Xong, họ lại tự nguyện xin làm đệ-tử của con! Do đó sự thắc mắc ấy vẫn giữ mãi trong tâm cho tới nay mới được Thế-Tôn giải mối nghi to lớn của con.
Thưa Thế-Tôn, nay con là Phật-tử, đã chứng quả thứ nhất Tu-đà-hoàn. Cúi xin Thế-Tôn thọ ký cho con sẽ chứng quả thứ hai Tư-đà-hàm.

Phật bảo Đế-Thích:
- Ông còn nhớ khi được hỷ lạc (sung sướng vui vẻ) và niệm lạc (ý nghĩ vui sướng) không?
- Thưa Thế-Tôn, con còn nhớ ngày xưa, con và chư Thiên đã cùng A-Tu-La đánh nhau, chúng con thắng , A-Tu-La bại. Khi trở về ca khúc khải hoàn thật là sung sướng vui vẻ vô cùng. Tuy nhiên, đó chỉ là sự vui vẻ sung sướng trên chiến tranh, chửi lộn, đánh nhau, dùng mưu kế đánh đập, hành hạ, giết chóc.
Nay con ở nơi Phật ngự được thoải mái, vui vẻ, không có binh giáp chiến tranh, không có đánh đập giết chóc, mà trí tuệ lại được mở mang.
- Vậy ông ở trong sự hỷ lạc (vui sướng) này còn mong cầu điều gì nữa?
- Con mong cầu được tăng tuổi thọ, sau này qua đời khi tái sinh không còn lo buồn. Con lại biết nói chính đạo, nhớ tu phạm hạnh, và thấy được chân-đế (chân lý).

Thưa Phật tới đó, Đế-Thích xoay qua nói với chư Thiên:
- Chư Thiên, các ông ở trước Phạm-Đồng-Tử (Phạm Thiên Vương) cung kính lễ bái, nay ở trước Thế-Tôn các ông cung kính lễ bái, như vậy thì không đẹp lắm sao?
Khi Đế-Thích vừa nói dứt lời, Phạm Đồng-Tử bỗng nhiên xuất hiện giữa hư không bên trên chúng Thiên, đồng thời hướng về Đế-Thích nói kệ:

Thiên-Vương hạnh thanh tịnh,
Nhiều lợi ích chúng-sanh,
Ma-Kiệt, Đế-Thích chủ,
Hay hỏi nghĩa Như-Lai.

Phạm Đồng-Tử vừa nói kệ xong, bỗng nhiên biến mất; rồi Đế-Thích đứng lên đảnh lễ Phật, Chư Thiên, Bàn-già-Dực cùng đứng lên đồng loạt đảnh lễ Phật, rồi tất cả đều biến mất khỏi chỗ Phật chỉ trong chớp mắt.

Đế-Thích đi trước, xoay lại nói với Bàn-già-Dực:
- Hay thay, ông có thể ở trước Như-Lai khảy đàn ca hát vui vẻ cúng dàng, sau đó ta và Chư Thiên đến sau; nay ta bổ nhiệm ông vào chức vị của cha ông là bậc tối thượng cuả hàng Càn-thát-Bà (Nhạc Thần), đồng thời sẽ gả Bạt-Đà Càn-Thát Vương-nữ cho ông làm vợ.
Bàn-già-Dực thưa:
- Xin đa tạ Thiên-Vương, kính chúc Thiên-Vương vạn vạn tuế.


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Nov 4 2011, 03:31 AM
Gửi vào: #31


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



THẦN-LỰC
KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
CỦA CƯ SĨ DUY-MA-CẬT



Toàn Không



Một dạo, Phật ngụ tại vườn Am-La-Thọ, thuộc thành Tỳ-Da-Ly, có đông đảo các Bồ-Tát và tứ chúng; ngoài ra còn có vô số chư Thiên, Phạm Thiên-Vương, Đế-Thích, Long, Thần, A-Tu-La, Dạ-Xoa, Càn-Thát-Bà, Khẩn-Na-La, v.v… đến tham dự.

Bấy giờ tại thành Tỳ-Da-Ly có Trưởng-giả Bửu-Tích cùng năm trăm Trưởng-giả cầm Bảo-Cái (Bửu-Cái) đến nơi Phật ngự cung kính đảnh lễ, rồi mỗi vị đều dâng Bảo-Cái của mình cúng dàng Phật. Lúc ấy Phật dùng oai thần nhập năm trăm Bảo-Cái ấy thành một đại Bảo-Cái vô cùng to lớn trùm khắp Đại-Thiên Thế-giới. Tất cả núi sông đất đai, nhà cửa, cho đến Thiên cung, Long cung, bốn biển, mặt Trời, mặt Trăng, v.v...đều hiện trong đại Bảo-Cái ấy.

Lúc ấy đại chúng thấy thần-lực của Phật như thế, đều ca ngợi là việc chưa từng có, nên tất cả đều đảnh lễ Phật và tán than, Trưởng-giả Bửu-Tích liền tụng bài kệ ca tụng công-đức của Phật

Rồi theo sự thỉnh cầu của Trưởng-giả Bửu-Tích, Phật thuyết giảng về Tịnh-Độ của Bồ-Tát là Trực-Tâm, Thâm-Tâm, Bồ-Đề-Tâm, Bố-Thí, Trì-Giới, Nhẫn-Nhục. Tịnh-Độ của Bồ-Tát là Tinh-Tấn, Thiền-Định, Trí-Tuệ, bốn Vô-Lượng-Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả), bốn Nhiếp-Pháp (Bố thí, Ái ngữ, Vị tha, Đồng sự). Tịnh-Độ của Bồ-Tát còn là Hồi-Hướng-Tâm, Giải-Thoát ba ác (tham, sân, si), tám nạn [sinh vào 8 nơi: Ngạ-Quỷ, Súc-Sinh, Địa-Ngục, Trường-Thọ-Thiên, Biên Địa (chỗ không có người tới), Càn Khuyết (không đủ giác quan như điếc câm), Tà kiến, và thời không có Phật Pháp Tăng], là chẳng chê bai, là làm mười việc lành v.v...; tóm lại, nếu Bồ-Tát muốn đắc Tịnh-Độ, nên tự tịnh tâm, tùy nơi tâm tịnh thì Phật độ tịnh. v.v...

Cũng trong thành Tỳ-Da-Ly có một vị Cư-Sĩ tên Duy-Ma-Cật đã từng cúng dàng vô lượng chư Phật, trồng sâu cội lành, được Vô-Sinh-Pháp-Nhẫn (không chi phối bởi sinh tử luân hồi). Cư-Sĩ có biện tài vô ngại, du hí thần thông, được vô sở úy (không sợ hãi), Ma-Vương phải hàng phục; lại được nhập pháp môn thâm diệu, khéo dùng trí tuệ, thông đạt mọi phương tiện, và nhất là thấu rõ tâm chúng-sanh; việc làm của Cư-Sĩ chẳng cần tác ý, tâm như biển cả, oai nghi y như chư Phật. Cư-Sĩ được chư Phật khen ngợi, Vua Chúa, Trời Người đều cung kính cúng dàng.

Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật dùng phương tiện hiện thân có bệnh để lợi ích chúng-sanh, Ngài dùng vô lượng của cải để cứu độ dân nghèo, Ngài dùng vô lượng phương tiện để giúp đỡ chỉ bảo mọi loại, mọi giới, mọi hạng. Ngài làm vô lượng công đức như thế, nên hết thảy ai ai cũng nghe biết Ngài; vì Ngài bệnh, nên Chư Thiên, Quốc-Vương, Đại-Thần, Trưởng-Giả, Cư-Sĩ, Bà-La-Môn, v.v... cùng quyến thuộc đều đến thăm bệnh Ngài.

Nhân dịp thăm bệnh, mà Ngài nói rằng: “Thân này không có sức, không bền vững, mau hư hoại, chẳng thể tin cậy; thân này, nó là ổ chứa bệnh khổ, chứa phiền não, không nên nương cậy nó. Xét kỹ, nó như bọt bóng không lâu, như trăng đáy nước không thật, v.v... Các nhân-giả, nên thích thân Phật, nhàm chán thân này; vì thân Phật từ Giới, Định, Huệ sinh, từ Bố-Thí, Nhẫn-Nhục, Trì-Giới (giữ giới), Tinh-Tấn, Thiền-Định sinh, từ đoạn dứt làm điều ác, tu tập làm điều lành sinh, v.v... Như thế, muốn dứt tất cả thân bệnh, và đắc thân Phật, phải phát tâm Vô-Thượng Chính-Đẳng Chính-Giác”; như thế, Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật tùy cơ thuyết pháp, khiến vô số Trời, Người phát tâm Bồ-Đề.

1)- Từ chối đại diện Phật đi thăm bệnh Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật:

Một hôm, Cư-Sĩ thầm nghĩ: “Nay mình nằm ở giường bệnh, Thế-Tôn đại Từ, đại Bi, lẽ nào Ngài chẳng đoái lòng thương xót?!” Lúc ấy Phật biết ý của Cư-Sĩ, Ngài liền bảo Tôn-giả Xá-Lợi-Phất đại diện Phật đi thăm người bệnh thì Tôn-giả thưa:
- Thế-Tôn! con không xứng đáng là đại diện đến thăm Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật, vì con còn nhớ có một hôm con đang tĩnh tọa (ngồi thiền) dưới gốc cây trong rừng, Cư-Sĩ đến bảo con rằng: “Xá-Lợi-Phất! Không hẳn ngồi đó mới là tĩnh tọa, nói tĩnh tọa là chẳng hiện thân ý nơi tam giới là tĩnh tọa; dại định (tâm thức yên lặng tuyệt đối) mà chẳng khởi diệt mà hiện các oai nghi là tĩnh tọa, thị hiện việc phàm phu mà chẳng bỏ đạo pháp là tĩnh tọa, chẳng dứt phiền não mà nhập Niết-Bàn là tĩnh tọa; Xá-Lợi-Phất! nếu tọa như thế mới được Phật ấn khả”. Bạch Thế-Tôn! Lúc ấy con im lặng chẳng thể mở miệng trả lời, vì thế con không xứng đáng là đại diện đến thăm bệnh Ngài.

Rồi Phật bảo các đệ-tử khác đi thăm bệnh, tất cả đều không dám nhận, lần lượt tới Tôn-giả A-Nan-Đà, Tôn-giả nói:
- Thưa Thế-Tôn! con không xứng đáng là đại diện đến thăm Cư-sĩ Duy-Ma-Cật, vì có một lần Thế-Tôn có bệnh cần dùng sữa bò. Con cầm Bình-bát đến trước cửa nhà Bà-La-Môn để xin thí sữa.
Lúc ấy Cư-Sĩ đến hỏi con: “A-Nan! làm gì mà cầm Bình-bát đứng đây sớm thế?” Con đáp: “Thưa Cư-Sĩ! Thế-Tôn thân có chút bệnh cần dùng sữa bò nên tôi mới đến đây”.

Ngài nói: {{Thôi, thôi, A-Nan! chớ nói như thế! Thân Như-Lai (Phật) là thể Kim-cương, ác đã dứt sạch, thiện đã viên mãn, đâu còn bệnh nào nữa? A-Nan! Hãy im lặng về đi, chớ phỉ báng Như-Lai, đừng cho người khác biết về việc này; chớ cho Chư Thiên và các Bồ-Tát ở các phương khác đến nghe biết lời này. A-Nan! Chuyển-Luân-Thánh-Vương (Vua có rất nhiều nhân đức, dùng chính pháp giáo hóa cai trị dân) có chút it phước-đức còn chẳng bệnh tật, huống là Như-Lai có vô lượng công-đức tụ. A-Nan! Chớ để cho chúng ta chịu sự sỉ nhục ấy, ngoại đạo, Phạm-chí, Ni-Kiền, v.v… nếu biết được việc này sẽ nghĩ rằng: “Sao gọi là thầy được! Bệnh của mình không chữa nổi, mà chữa được bệnh cho người khác sao?” A-Nan! Nên lén đi mau, chớ để cho người nghe biết việc này! Nên biết: Thế-Tôn siêu việt ba cõi (Dục, Sắc, và Vô-Sắc), thân Như-Lai tức là Pháp-thân, chẳng phải thân sắc dục. Thân Phật vô lậu, các ô trược phiền não đã sạch hết, là vô-vi (tùy thuận thiên nhiên, không dụng tâm tạo tác), như thế còn bệnh gì nữa ? }}.

Nói rồi Ngài bỏ đi, thưa Thế-Tôn! Lúc ấy con thật qúa hổ thẹn! Chỉ muốn độn thổ mà chạy trốn! Chẳng lẽ con gần Thế-Tôn mà nghe lầm sao? May thay! Lúc ấy trên hư không có tiếng nói rằng: “Đúng như lời Cư-Sĩ, chỉ vì Phật ra đời nơi ngũ trược ác thế, nên thị hiện để độ chúng-sanh thôi. Nay A-Nan cứ lấy sữa, chớ cho là hổ thẹn”.

Thưa Thế-Tôn! Ngài Duy-Ma-Cật trí-huệ biện tài như thế ấy, cho nên con không xứng đáng là đại diện đến thăm bệnh Ngài; rồi đức Phật bảo Trì-Thế Bồ-Tát đến thăm bệnh nhân, Trì-Thế Bồ-Tát thưa:
- Thế-Tôn! con không xứng đáng là đại diện Phật đến thăm bệnh Cư-sĩ Duy-Ma-Cật, vì nhớ lại khi xưa, con ở nơi tịnh-thất, có Ma Ba-Tuần dắt theo mười hai nghìn Thiên nữ, giả dạng giống như Đế-Thích, trỗi nhạc (hòa nhạc) đàn ca. Thiên Ma đến nơi đảnh lễ dưới chân con, chắp tay cung kính đứng hầu. Con tưởng là Đế-Thích, nên bảo rằng: “Khéo đến Kiều-Thi-Ca (Đế-Thích)! Dù đã có phúc, cũng chẳng nên buông lung, phải quán ngũ dục là vô thường để cầu cội lành, dùng thân mạng tài sản để tu pháp kiên cố”. Đại Ma nói với con: “Thưa Chánh-Sĩ! Hãy nhận lấy mười hai nghìn Thiên nữ này dùng để hầu hạ”. Con bảo: “Kiều-Thi-Ca! Chớ lấy vật phi pháp cho Sa-Môn, việc này không thích hợp với tôi”.

Nói vừa dứt lời, Cư-sĩ Duy-Ma-Cật hiện đến bảo con rằng: “Đây là bọn Thiên Ma đến quấy nhiễu ông, chứ chẳng phải Đế-Thích”. Cư-Sĩ lại bảo đại Ma rằng: “Những Thiên nữ này hãy cho ta, như ta mới đáng thọ lấy”. Đại Ma kinh sợ nghĩ rằng: “Có lẽ Duy-Ma-Cật báo hại ta?” nên muốn tàng hình bỏ đi mà chẳng thể được, Ma Ba-Tuần cố hết sức thần lực cũng không biến đi được.
Lúc ấy trên hư không có tiếng nói: “Ba-Tuần: Hãy đem các Thiên nữ dâng cho Ngài Duy-Ma-Cật rồi mới đi được”. Đại Ma vì sợ hãi nên phải miễn cưỡng nghe theo và nói: “Tôi thuận giao các Thiên nữ cho Ngài, tuỳ Ngài sử dụng”.

Cư-Sĩ bảo các Thiên nữ: “Đại Ma đã đem các nàng cho ta, thì các nàng phải phát ý đạo là tin Phật, thích nghe pháp, thích cúng dường Sa-môn. Các nàng học pháp lạc là quán năm ấm (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) như oán tặc, quán bốn đại (đất, nước, gió, lửa) như rắn độc, quán sáu nhập (Sắc , thanh, hương, vị, xúc, pháp) như hư không, v.v.. để làm vui. Các nàng chẳng nên vui thú năm dục (thích sắc đẹp, tiếng hay, vị ngon, mùi thơm, xúc chạm) nữa, mà phải phát tâm Vô-Thượng Chính-Đẳng Chính-Giác”.

Sau khi Cư-Sĩ thuyết pháp cho các Thiên nữ nghe, Thiên Ma Ba-Tuần nói: “Cư-Sĩ! Xin Ngài xả các Thiên nữ cho tôi, vì thí tất cả sở hữu cho kẻ khác, mới là đại Bồ-Tát”. Cư-Sĩ nói: “Ta đã xả rồi, ngươi cứ dắt đi, để cho tất cả chúng-sanh được pháp nguyện thỏa mãn”.

Lúc ấy, các Thiên nữ hỏi Cư-Sĩ: “Trong khi chúng tôi ở trong cung Ma-Vương, chúng tôi phải làm thế nào?” Ngài nói: “Có pháp môn gọi là Vô Tận Đăng, các nàng nên học và hành. Vô Tận Đăng ví như ngọn đèn mồi dùng để mồi đốt trăm nghìn ngọn đèn khác, mọi chỗ tối đều sáng, ánh sáng ấy sẽ vô cùng tận. Cũng thế ấy, một Bồ-Tát dẫn dắt trăm nghìn chúng-sanh khiến họ phát tâm Vô-Thượng Bồ-Đề. Nơi ý đạo của họ cũng sáng mãi vô tận, tùy theo pháp sở thuyết mà tự tăng thêm pháp lành. Các nàng ở trong cung Ma hãy dùng pháp Vô Tận Đăng này, khiến cho vô số Thiên Tử, Thiên nữ phát tâm Bồ-Đề để đền ơn Phật, cũng là lợi ích cho chúng-sanh”. Bấy giờ, các Thiên nữ cúi đầu đảnh lễ Ngài rồi theo Ma Vương về cung, tất cả bỗng nhiên biến mất.
Thưa Thế-Tôn: Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật có thần-lực tự tại như thế, có trí tuệ biện tài như thế, nên con không xứng đáng đại diện thăm bệnh Ngài.

Rồi đức Phật bảo Bồ-Tát Di-Lặc, Bồ-Tát Quang-Nghiêm Đồng-Tử, Trưởng-giả Thiện-Đức, và bảo vô số Bồ-Tát, nhưng mỗi vị đều đem chuyện của mình khi gặp Cư-sĩ Duy-Ma-Cật mà thuật lại, và nói: “Con không xứng là đại diện đến thăm bệnh Ngài”. (Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Nov 11 2011, 10:04 AM
Gửi vào: #32


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



THẦN-LỰC
KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
CỦA CƯ SĨ DUY-MA-CẬT


(Tiếp theo)

Toàn Không


2)- Bồ-Tát Văn-thù nhận đi thăm Cư-sĩ Duy-Ma-Cật.

Sau cùng Phật bảo Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát đi thăm người bệnh, Văn-Thù thưa:
- Thế-Tôn! Bậc Thượng nhân kia khó bì đối đáp, vì đã thấu đạt thật-tướng, khéo thuyết yếu chỉ pháp-tướng; người ấy có trí-huệ biện tài vô ngại, biết hết tất cả lối tu của Bồ-Tát. Ngài còn thâm nhập bí-tạng của Chư Phật, du hí thần-thông, hàng phục Ma chúng, trí-huệ phương tiện đều viên mãn; tuy thế, con vâng Thánh chỉ, đến thăm bệnh Ngài.

Lúc ấy, các Bồ-Tát, các đại đệ-tử Phật, Phạm Thiên, Đế-Thích, Chư Thiên, v.v... trong chúng đều nghĩ rằng: “Nay hai Đại-Sĩ gặp nhau ắt sẽ có nói pháp vi-diệu”. Tức thì tám nghìn Bồ-Tát, Thanh-Văn, trăm nghìn Trời Người đều muốn đi theo. Do đó Văn-Thù cùng với vô số Bồ-Tát, Trời Người như thế cùng nhau cung kính vào thành Tỳ-Da-Ly.

Cư-sĩ Duy-Ma-Cật biết Văn-Thù Bồ-Tát cùng đại chúng đến, bèn dùng thần-lực đem đi tất cả đồ đạc và người hầu, trong phòng trống rỗng chỉ còn có một giường nằm bệnh; Văn-Thù đi đầu vừa bước vào, Cư-Sĩ liền nói:
- Khéo đến Văn-Thù: Tướng (hình dạng) chẳng đến mà đến, tướng chẳng thấy mà thấy (không mà là có).

Bồ-Tát Văn-Thù nói :
- Đúng thế Cư-Sĩ! Nếu đến rồi thì chẳng đến nữa, nếu đi rồi thì chẳng đi nữa; vì nói đến thì chẳng từ đâu đến, nói đi thì chẳng đi về đâu (ý nói Phật tánh cùng khắp chỗ nào cũng có, lúc nào cũng hiện diện), chỗ được thấy chẳng còn thấy nữa (có mà là không); hãy bỏ qua việc này, nay bệnh của Cư-Sĩ có bớt mà chẳng thêm không? Thế-Tôn gửi lời ân cần vô lượng để hỏi thăm Cư-Sĩ. Bệnh do đâu mà khởi, làm thế nào mới khỏi được?

Cư-sĩ Duy-Ma-Cật đáp:
- Từ “Si” có “Ái” thì bệnh “Ngã” sinh, vì tất cả chúng-sanh bệnh nên tôi bệnh, tất cả chúng-sanh không bệnh thì tôi khỏi bệnh, tại sao? Bồ-Tát vì độ chúng-sanh nên vào sinh tử, có sinh tử thì có bệnh; nếu chúng-sanh lià được sinh tử thì Bồ-Tát chẳng còn bệnh, nói bệnh này do đâu khởi, bệnh của Bồ-Tát do đại Bi khởi.

Văn-Thù hỏi:
- Phòng của Cư-Sĩ sao trống không, không có đồ đạc, Thị-giả, và người hầu đâu cả?
- Các cõi Phật cũng đều rỗng không, tất cả Ma chúng, ngoại đạo đều là Thị-giả của tôi; bọn Ma ham sinh tử (sống chết), Bồ-Tát ở nơi sinh tử mà chẳng bỏ (mất); ngoại đạo ham tri kiến (suy nghĩ, thấy biết), Bồ-Tát ở nơi tri kiến mà chẳng động (tâm lúc nào cũng vắng lặng).

Văn-Thù lại hỏi:
- Tướng bệnh của Cư-Sĩ thế nào?
- Bệnh tôi vô hình chẳng thể trông thấy.
- Bồ-Tát làm sao an ủi Bồ-Tát có bệnh?
- Nói thân vô thường, chẳng nói nhàm chán thân; nói thân có khổ, chẳng nói ưa thích Niết-Bàn; nói thân vô ngã (thân không phải là ta), thân không tịch, mà chẳng nói tịch diệt rốt ráo. Nói hối cải việc trước mà chẳng nói vào thời gian qúa khứ; nói vì bệnh của mình mà thương xót bệnh của người, nguyện làm Y-Vương để điều trị bệnh chúng-sanh; Bồ-Tát nên an ủi Bồ-Tát có bệnh như thế để cho người bệnh hoan hỉ.

Văn-Thù lại hỏi:
- Cư-Sĩ! Vị Bồ-Tát có bệnh phải tự điều phục tâm như thế nào?
- Bồ-Tát có bệnh nên nghĩ bệnh của tôi đều do các vọng tưởng phiền não từ kiếp trước sinh, nay pháp vốn chẳng thật thì ai là kẻ thụ (thọ) bệnh? Vì bốn đại (đất, nước, gió, lửa) hòa hợp giả danh là thân, tứ đại không có chủ, thân cũng vô ngã (không có ta), vì thế chẳng nên chấp ngã (chấp ta đây). Đã biết gốc bệnh như thế, nên phải trừ ngã tưởng (đoạn trừ suy nghĩ về cái ta), trừ chúng-sanh tưởng (không suy nghĩ đến người này con vật kia). Bồ-Tát nên nghĩ rằng: “Thân này do các pháp hòa hợp mà thành, khởi chỉ là pháp khởi, diệt cũng chỉ là pháp diệt”. Dù nói các pháp hòa hợp, mà mỗi pháp đều chẳng biết nhau, Bồ-Tát muốn lià pháp tưởng nên nghĩ rằng: “Ngã tưởng, chúng-sanh tưởng là điên đảo, điên đảo tức bệnh lớn ta nên lià nó, đoạn nó”.

Khi Cư-Sĩ nói pháp xong, cả đại chúng đi theo Văn-Thù đều phát tâm Vô-Thượng Chính-Đẳng Chính-Giác.
Bấy giờ Tôn-giả Xá-Lợi-Phất thấy trong phòng chẳng có chỗ ngồi nên nghĩ: “Lạ qúa! sao trong phòng chẳng có chỗ để ngồi như thế này?” Cư-Sĩ biết ý, liền hướng về phiá Tôn-giả Xá-Lợi-Phất nói:
- Thế nào, nhân-giả vì pháp đến đây hay vì chỗ ngồi mà đến?
- Tôi vì pháp mà đến, chứ chẳng phải vì chỗ ngồi.

Cư-Sĩ nói:
- Xá-Lợi-Phất! Kẻ cầu pháp, thân mạng còn chẳng tiếc huống chi là chỗ ngồi. Kẻ cầu pháp chẳng cầu nơi năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), sáu nhập (Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), mười tám giới (6 căn + 6 trần + 6 thức = 18 giới); cũng chẳng cầu nơi ba giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới).

Kẻ cầu pháp chẳng chấp cầu Phật, Pháp, Tăng; cũng chẳng cầu nơi Khổ, Tập (nguyên nhân gây ra khổ) Diệt (cách diệt khổ), Đạo (con đường đưa đến đạo); vì pháp chẳng hý luận (chẳng phải bàn luận cho vui đâu), nếu nói ta Khổ phải đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo, ấy là hí luận, chẳng phải cầu pháp.

Pháp gọi là tịch diệt, nếu hành nơi sinh diệt, là cầu sinh diệt, chẳng phải cầu pháp; pháp gọi vô tướng (không hình dáng), nếu nhận biết nơi tướng ấy là cầu tướng, chẳng phải cầu pháp; pháp chẳng thể Kiến (thấy) Văn (nghe) Giác (cảm nhận) Tri (biết), nếu hành Kiến Văn Giác Tri, ấy là Kiến Văn Giác Tri, chẳng phải cầu pháp. Pháp gọi Vô-Vi, nếu hành Hữu Vi, là cầu Hữu Vi, chẳng phải cầu pháp; như thế, kẻ cầu pháp, đối với tất cả pháp nên Vô Sở Cầu (Không mong cầu).
Khi Cư-Sĩ nói những lời ấy, có vô số Thiên-tử được Pháp-Nhãn Thanh-Tịnh.

3)- Cư-sĩ Duy-Ma-Cật trụ Pháp môn Bất Khả Tư Nghì.

Nói pháp xong, Cư-Sĩ hỏi Bồ-Tát Văn-Thù:
- Nhân-giả đã dạo qua vô lượng cõi Phật thấy cõi nào có tòa Sư-tử (tòa ngồi) được thành tựu công đức vi diệu nhất?

Bồ-Tát Văn-Thù trả lời:
- Cư-Sĩ! bên phương Đông cách đây ba mươi sáu hằng sa quốc độ, có thế-giới gọi là Tu-Di-Tướng, hiện nay có Phật hiệu là Tu-Di Đăng-Vương. Thân Phật ấy cao tám mươi bốn nghìn do-tuần, tòa Sư-tử cũng cao như thế, là trang nghiêm bậc nhất.

Cư-sĩ Duy-Ma-Cật nghe xong liền hiện thần-lực, tức thì đức Phật ấy điều khiển ba mươi hai nghìn tòa sư-tử cao rộng trang nghiêm đến trong phòng của Cư-Sĩ. Các Bồ-Tát, chư Thiên, và tất cả đại chúng đều thấy việc xưa nay chưa từng có: Phòng nhỏ chứa ba mươi hai nghìn tòa ngồi cao rộng như thế mà chẳng thấy trở ngại chật hẹp; nơi thành Tỳ-Da-Ly, cho đến cả nước cũng chẳng thấy thay đổi, tất cả đều y như trước.

Lúc ấy Cư-Sĩ mời tất cả Bồ-Tát, Chư Thiên và đại đệ-tử lên tòa ngồi, những vị đắc thần thông liền biến hình cao bằng tòa Sư-tử rồi ngồi, nhưng các sơ tâm Bồ-Tát và hầu hết đại chúng chưa thể ngồi được, Cư-Sĩ nói:
- Những vị nào muốn ngồi mà không lên tòa Sư-tử được thì phải đảnh lễ Phật Tu-Di-Đăng-Vương thì mới ngồi được.

Nghe Cư-Sĩ nói thế, những người ấy liền đảnh lễ Tu-Di-Đăng Như-Lai, tức thì họ ngồi được trên tòa Sư-tử, Tôn-giả Xá-Lợi-Phất nói:
- Thưa Cư-Sĩ, thật chưa từng có, phòng này chứa được các tòa ngồi cao lớn như thế, nhiều như vậy, mà chẳng thấy chật hẹp trở ngại gì cả.

Cư-Sĩ nói :
- Xá-Lợi-Phất, Chư Phật và đại Bồ-Tát có Pháp-môn Giải-thoát gọi là “Bất-Khả-Tư-Nghì” (không thể luận bàn suy nghĩ tới). Nếu đại Bồ-Tát trụ nơi pháp Giải-thoát đó, đem núi Tu-Di to lớn để vào trong hạt cải nhỏ bé, mà chẳng thêm chẳng bớt, hình dáng núi Tu-Di vẫn y nguyên như cũ, các cung Trời Dục-giới cũng chẳng biết mình đã vào đó, ấy là pháp môn Bất-Khả-Tư-Nghì.

Lại nữa, đại Bồ-Tát đem nước của bốn biển lớn để vào một lỗ chân lông mà các loài sống trong nước như cá, tôm, cua, cho đến Long-Vương, Qủy-Thần cũng chẳng hay biết mình đã vào đó.

Xá-Lợi-Phất, đại Bồ-Tát trụ nơi Giải Thoát Bất Khả Tư Nghì rút lấy Đại-Thiên thế-giới như lấy đồ vật để trên bàn tay, quẳng ra ngoài hằng sa thế-giới, rồi thu lấy để lại chỗ cũ, mà chúng-sanh sống trong đó vẫn không hay biết mình đã bị di chuyển. Hoặc có chúng-sanh đáng độ ham trụ lâu (sống lâu) nơi thế-gian thì đại Bồ-Tát biến hiện bảy ngày dài như một kiếp khiến chúng-sanh ấy tưởng là rất lâu, hoặc có chúng-sanh đáng độ mà chẳng ham trụ lâu, thì đại Bồ-Tát rút một kiếp xuống còn bảy ngày, khiến chúng-sanh ấy tưởng là bảy ngày.

Xá-Lợi-Phất, đại Bồ-Tát trụ nơi Giải-Thoát Bất Khả Tư Nghì đem sự trang nghiêm của tất cả các cõi Phật trong mười phương gom lại trong một quốc-độ để thị hiện cho chúng-sanh biết; lại nữa, đại Bồ-Tát đem tất cả chúng-sanh trong một cõi để trên bàn tay rồi bay khắp mười phương thế-giới, bày ra cho ai cũng thấy, mà chẳng thấy lay động. Hoặc tất cả mặt trời, mặt trăng trong mười phương thế-giới cùng hiện trong một lỗ chân lông cho tất cả đều thấy, hoặc đại Bồ-Tát hút vào miệng tất cả mười phương thế-giới mà thân hình chẳng đổi, cây cối nhà cửa, núi non biển hồ chẳng đổ gẫy xê dịch.

Xá-Lợi-Phất, đại Bồ-Tát trụ nơi Giải-Thoát Bất Khả Tư Nghì, dùng thần-thông hiện thành thân Phật, hoặc làm thân Duyên-Giác, hoặc làm thân Thanh-Văn, hoặc làm thân Đế-Thích, hoặc thân Phạm Thiên-Vương, hoặc thân Vua Chúa, v.v...; nay ta sơ lược nói ra như thế, nếu nói chi tiết cả kiếp cũng chẳng hết.

Tôn-giả Đại Ca-Diếp nghe rồi tán thán việc làm của đại Bồ-Tát ngoài sự nghĩ bàn tới, ngoài sức tưởng tượng của hàng Thanh-Văn, chứ đừng nói chi đến hàng phàm phu lại càng khó tin được. Rồi Tôn-giả nói với Tôn-giả Xá-Lợi-Phất:

(Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Nov 17 2011, 12:12 AM
Gửi vào: #33


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



THẦN-LỰC
KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
CỦA CƯ SĨ DUY-MA-CẬT



(Tiếp theo)

Toàn Không


- Ví như có người hiện nhiều hình dạng khác nhau trước người đui mù, người mù chẳng thể thấy biết được. Vậy tất cả những ai chẳng tin hiểu được pháp môn này thì nên khóc to lên cho vang xa đến cả Đại Thiên thế-giới này nghe, còn những Bồ-Tát tin pháp môn này nên vui mừng mà lãnh thọ vì bọn ma muốn quấy phá cũng chẳng làm gì được.

Khi Tôn-giả Đại Ca-Diếp nói những lời này, có vô số Chư Thiên phát tâm Vô-Thượng Chính-Đẳng Chính-Giác; bấy giờ có Thiên nữ đem hoa tung rải cúng dàng khắp trong phòng, khi hoa đến các Bồ-Tát, chư Thiên, hoa rơi xuống, khi hoa đến các Tỳ-Kheo, Trưởng-giả v.v... hoa dính trên áo chẳng rớt xuống, dù có phủi cũng vẫn không rơi. Lúc ấy Thiên nữ hỏi Tôn-giả Xá-Lợi-Phất:
- Tại sao lại phủi hoa?
Tôn-giả trả lời:
- Bông hoa này chẳng đúng pháp nên phủi.

Thiên nữ nói:
- Chớ nói hoa này chẳng đúng pháp, vì hoa này chẳng phân biệt. Tại nhân-giả có tâm phân biệt (về đủ thứ như: phải trái, đúng sai, ưa ghét, ngắn dài, sáng tối, ngon không ngon v.v.) mà thôi; người ở nơi pháp, tu hành, lại có tâm phân biệt tưởng (suy nghĩ phân biệt này nọ) là không đúng pháp. Nay các vị Bồ-Tát chẳng dính hoa là do đã đoạn dứt tất cả phân biệt tưởng, cũng như người có tâm khiếp sợ thì chúng Ma mới được dịp mê hoặc vậy.

Tôn-giả hỏi:
- Thiên nữ ở trong phòng này được bao lâu?
- Tôi ở đây lâu như ông Giải-thoát.

Tôn-giả im lặng, Thiên nữ nói tiếp:
- Sao ông không nói?
- Sự Giải-thoát vốn: chẳng ngôn thuyết, nên tôi không nói.
- Ngôn thuyết, văn tự đều là tướng Giải-thoát, sự Giải thoát chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở giữa; văn tự cũng thế, cho nên chẳng có sự lià văn tự mà thuyết pháp Giải-thoát, vì tất cả các pháp đều là tướng Giải-thoát.
- Nghĩa là chẳng cần lià tham sân si cũng được Giải-thoát sao?
- Phật vì nói với kẻ tăng thượng mạn (kiêu căng ngã mạn) mà nói: “Lià tham sân si là Giải-thoát”, đối với người không hề có tăng thượng mạn thì Phật nói: “Tánh tham sân si là Giải-thoát” vậy.
- Lành thay! lành thay! Thiên nữ: đắc được gì mà có biện tài như thế?
- Tôi vô đắc vô chứng, kẻ có đắc có chứng Phật pháp gọi là kẻ tăng thượng mạn.
- Thiên nữ ở nơi tam thừa có chí cầu gì?
- Tôi làm Thanh-Văn để dùng pháp Thanh-Văn hóa độ chúng-sanh, tôi làm Duyên-Giác để dùng pháp nhân duyên hóa độ chúng-sanh, tôi làm Bồ-Tát để dùng pháp đại Bi hóa độ chúng-sanh.

Xá-Lợi-Phất, tôi ở trong phòng này mười bai năm chỉ nghe Phật pháp đại Từ, đại Bi Bất Khả Tư Nghì của Bồ-Tát, phòng này thường hiện tám thứ công-đức chưa từng có là:

1)- Trong phòng thường có ánh sáng màu vàng chiếu soi chẳng nhờ ánh sáng mặt trời mặt trăng, hoặc đèn đóm củi lửa .
2- Kẻ vào phòng này chẳng bị cấu bẩn làm cho phiền não.
3- Phòng này thường có các Đế-Thích, Phạm-Vương, Tứ Thiên-Vương, chư Thiên, và Bồ-Tát ở các phương khác đến tụ hội chẳng có gián đoạn.
4- Phòng này thường có thuyết Bất Thối Chuyển và sáu Ba-La Mật.
5- Phòng này thường trỗi âm nhạc bậc nhất cõi Trời và vô lượng pháp âm.
6- Phòng này có kho tàng chứa vô lượng bảo vật để cứu kẻ nghèo khổ.
7- Phòng này khi Thượng nhân khởi niệm, Chư Phật mười phương đến thuyết Pháp Tạng Bí Mật của Chư Phật.
8- Phòng này có tất cả cung điện các Chư Thiên và các cõi Phật đều hiện trong đó.

Phòng này thường hiện tám thứ pháp chưa từng có như thế, Tôn-giả Xá-Lợi-Phất lại hỏi :

- Thiên-nữ diệt nơi đây rồi sẽ sinh nơi đâu?
- Phật biến hóa sở sinh, tôi cũng theo đó sinh, nếu biến hóa sở sinh thì chẳng phải diệt và sinh.
- Thiên-nữ bao lâu nữa sẽ đắc Vô-Thượng Bồ-Đề?
- Khi ông trở lại làm phàm phu thì tôi sẽ đắc Vô-Thượng Bồ-Đề.
- Tôi sẽ trở lại làm phàm phu thì không có chỗ đúng.
- Tôi đắc Vô-Thượng Bồ-Đề cũng chẳng có chỗ đúng, vì Bồ-Đề chẳng nơi trụ nên chẳng có kẻ đắc.
- Hiện nay Chư Phật đã đắc Vô-Thượng Bồ-Đề nhiều vô số, việc này gọi là gì?
- Ấy là: dùng văn tự số lượng cuả thế-tục mà nói có tam thế, chứ chẳng phải Bồ-Đề có quá khứ, hiện tại, vị lai; Xá-Lợi-Phất, ông đắc A-La-Hán ư?
- Vì vô sở đắc mà đắc.
- Chư Phật và Bồ-Tát cũng thế.

Lúc ấy, Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật nói với Tôn-giả Xá-Lợi-Phất:
- Thiên nữ này đã từng cúng dàng chín mươi hai ức chư Phật, đã đắc du hí thần thông của Bồ-Tát, nguyện lực đầy đủ. Thiên nữ này đã đắc Vô-Sinh Pháp-Nhẫn, trụ nơi chẳng thối chuyển, tùy theo bổn nguyện thị hiện tùy ý để giáo hóa chúng-sanh.

Rồi Cư-Sĩ nói với các Bồ-Tát:
- Các nhân-giả, Bồ-Tát làm sao nhập Pháp-Môn Bất-Nhị (không hai)? Hãy: tùy sở ngộ của mình mà nói ra cho đại chúng biết.

Trong hội có Bồ-Tát tên Pháp-Tự-Tại nói:
- Các nhân-giả, Sinh Diệt là nhị, pháp vốn chẳng Sinh, nay cũng chẳng Diệt; đắc Vô-Sinh Pháp-Nhẫn này, gọi là nhập Pháp-Môn Bất-Nhị.

Phất-Sa Bồ-Tát nói:
- Thiện với Bất-Thiên là hai, nếu chẳng khởi Thiện và Bất-Thiên thì vào nơi vô tướng, kẻ thông đạt lý này là nhập Pháp-Môn Không Hai.

Đức-Thủ Bồ-Tát nói:
- Ngã (Ta) với Ngã Sở (cái của ta) là hai, vì có cái ta, nên mới có cái của ta, nếu chẳng có cái ta thì chẳng có cái của ta, ấy là Pháp-môn Không-Hai.

Vô số Bồ-Tát, mỗi vị đã nói như trên, xong một vị Bồ-Tát hỏi Văn-Thù Bồ-Tát:
- Thế nào là Pháp-Môn chẳng phải hai của Bồ-Tát?
Bồ-Tát Văn-Thù trả lời:
- Theo ý tôi, nơi tất cả pháp vô ngôn vô thuyết, vô thị vô thức, lià nơi vấn đáp suy nghĩ, ấy là Pháp Môn Bất Nhị.

Rồi Bồ-Tát Văn-Thù nói với Cư-sĩ Duy-Ma-Cật:
- Chúng tôi mỗi người đều nói xong, nay xin Cư-Sĩ trả lời cho cùng một câu hỏi ấy.
Cư-sĩ Duy-Ma-Cật im lặng, không nói năng chi cả, Bồ-Tát Văn-Thù thấy thế tán thán:
- Lành thay! Lành thay Cư-Sĩ! Cho đến: chẳng có lời nói mới là chân nhập Pháp Môn Không Hai.

Bấy giờ Tôn-giả Xá-Lợi-Phất sực nghĩ: “Sắp đến trưa rồi, mọi người có được ăn không? Làm sao có đủ thức ăn cho cả đại chúng đông đảo này?”
Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật biết ngay, liền nhìn Tôn-giả Xá-Lợi-Phất mà nói:
- Phật thuyết bát (tám) Giải-thoát, nhân-giả đã thọ hành, đừng nên xen cái tâm muốn ăn trong khi nghe pháp. Nếu muốn ăn, hãy đợi giây lát, nhân-giả sẽ có bữa ăn chưa từng có trên thế-gian này.

Nói xong, Cư-Sĩ liền nhập định, thị hiện thần lực cho đại chúng thấy tại phương Trên cách xa bốn mươi hai hằng sa (hằng hà sa số) quốc độ {Ngày nay các nhà khoa học ước lượng là nếu đi nhanh bằng tốc độ ánh sáng (300,000 cây số một giây đồng hồ) để đi từ trái đất tới đó thì phải mất bao nhiêu năm. Trong quyển Thiên văn học và Không Gian (Astronomy & Space) của Lisa Miles và Alastair Smith xuất bản năm 1998, trang 74 cho biết từ trái đất này đi tới ngôi sao hay hệ thống mặt trời gần nhất là sao Alpha, sao Beta có thể nhìn thấy bằng mắt trần, và sao Proxima có thể nhìn bằng viễn vọng kính. Các ngôi sao này nằm trong chòm sao Centaurus (đầu người mình ngựa) có thể nhìn thấy rõ về ban đêm ở những nước thuộc Nam bán cầu trái đất. Nếu đi nhanh bằng tốc độ ánh sáng phải mất vào khoảng 4.25 năm, nghĩa là cách xa ta 40,318,600,000,000 km. (bốn mươi trin, ba trăm mười tám tỷ, sáu trăm triệu cây số) hay 25,199,125,000,000 miles (hai mươi lăm trin, một trăm chín mươi chín tỷ, một trăm hai mươi lăm triệu dặm Anh)(tạm gọi trillion tiếng Anh bằng danh từ Việt là trin=1,000 tỷ)} có Phật Hương-Tích ở cõi Chúng-Hương. Mùi hương thơm của cõi ấy hơn hết thảy các cõi khác, và tất cả vạn vật ở cõi ấy đều có mùi hương đặc biệt. Lúc ấy, đức Phật Hương-Tích cùng các Bồ-Tát đệ-tử đang ăn cơm, lại có các Vua Trời (Thiên-Vương) có cùng danh hiệu là Hương-Nghiêm đang cúng dường Phật và chúng Bồ-Tát. Cơm ở cõi này có mùi thơm vô cùng đặc biệt và lan tràn khắp mười phương thế-giới. Lúc ấy đại chúng đều thấy rõ ràng cảnh cõi Chúng-Hương như thế.

Cư-sĩ Duy-Ma-Cật hỏi đại chúng:
- Vị nào có thể đi thỉnh cơm của đức Phật cõi Chúng-Hương kia?
Do sức oai thần của Bồ-Tát Văn-Thù, nên đại chúng đều im lặng. Không thấy ai lên tiếng tự nguyện đi, Cư-Sĩ nói:
- Này các nhân-giả, không tự hổ thẹn sao?

Bồ-Tát Văn-Thù nói:
- Như lời Phật dạy: “Chớ khinh kẻ sơ học”.
Khi đó, Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật chẳng rời chỗ ngồi, trước mặt đại chúng, hóa hiện ra một Bồ-Tát có tướng đẹp thù thắng vô cùng, rồi Cư-Sĩ bảo vị Bồ-Tát ấy:
- Ông hãy đến cõi Phật Chúng-Hương nói những lời tôi dặn bảo: “Duy-Ma-Cật vô cùng cung kính đảnh lễ Như-Lai, và kính lời hỏi thăm đức Như-Lai. Duy-Ma-Cật mong được đức Như-Lai thí cho ít cơm thừa để làm Phật sự dưới cõi Ta-Bà, khiến cho chúng-sanh được vào đại-thừa, cũng khiến cho tiếng tăm của Như-Lai vang tới cõi Ta-Bà”.

Một lằn chớp loé lên, đại chúng đều trông thấy hóa thân Bồ-Tát bay lên đến cõi Chúng-Hương chỉ trong giây lát, đảnh lễ chân Phật và nói lại lời Cư-Sĩ. Các Bồ-Tát cõi ấy thấy hóa thân Bồ-Tát thì tán thán việc chưa từng có, rồi hỏi Phật Hương-Tích: (Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Nov 24 2011, 12:21 PM
Gửi vào: #34


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



THẦN-LỰC
KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
CỦA CƯ SĨ DUY-MA-CẬT


(Tiếp theo)

Toàn Không



- Thượng-nhân này từ đâu tới, cõi Ta-Bà ở đâu?
Phật Hương-Tích bảo:
- Nơi phương Dưới cách đây bốn mươi hai hằng sa cõi Phật có thế-giới gọi là Ta-Bà, có Phật Thích-Ca đang vì chúng-sanh thuyết pháp. Ở đó có một vị đại Bồ-Tát tên Duy-Ma-Cật trụ nơi Giải-Thoát Bất-Khả Tư-Nghì, vì thuyết pháp cho các Bồ-Tát và đại chúng nên sai hóa thân đến đây.

Các Bồ-Tát lại hỏi:
- Vị đó như thế nào mà có sức công đức vô cùng lớn lao có thể hóa ra Bồ-Tát có thần-túc như thế?
- Thần-lực của Bồ-Tát Duy-Ma-Cật rất lớn lao, thường sai hóa-thân đến khắp mười phương làm Phật sự để lợi ích chúng-sanh.

Nói xong, Phật Hương-Tích liền lấy một bát đựng đầy cơm trao cho hóa thân Bồ-Tát và nói:
- Ngươi hãy mang bát cơm này về trao lại cho Bồ-Tát Duy-Ma-Cật.
Khi ấy vô số Bồ-Tát cõi ấy thưa với Phật Hương-Tích:
- Chúng con muốn đến cõi Ta-Bà cúng dường Phật Thích-Ca và muốn gặp Bồ-Tát Duy-Ma-Cật cùng đại chúng cõi ấy.

Phật Hương-Tích bảo:
- Lành thay! Nhưng các ông phải thu nhiếp mùi hương, chớ để chúng-sanh cõi Ta-Bà say đắm mùi hương; lại nữa, hãy bỏ hình dạng cao lớn đẹp đẽ của các ông, kẻo ở cõi ấy khởi tâm hổ thẹn, và đặc biệt là các ông không nên khởi tâm khinh chê họ.

Lúc ấy vô số Bồ-Tát cõi ấy thừa oai-thần của Phật Hương-Tích, cùng với hóa thân Bồ-Tát đang ở cõi ấy bỗng nhiên biến mất, và chỉ trong chốc lát đến nhà Cư-sĩ Duy-Ma-Cật. Cư-Sĩ liền hóa hiện đủ số tòa sư-tử, các Bồ-Tát cõi ấy cúi đầu chào tất cả Bồ-Tát và đại chúng rồi an tọa mau chóng.

Hóa Thân Bồ-Tát liền đưa bát cơm cho Cư-sĩ Duy-Ma-Cật. Mùi thơm của cơm tỏa khắp cõi Ta-Bà. Mọi chúng-sanh ngửi được mùi thơm ấy đều khoan khoái, tán thán mùi hương thơm lạ chưa từng có. Các chư Thiên cõi Dục giới, Sắc giới, Không Thần, Địa Thần, ngửi thấy mùi hương đều đến nhà Cư-Sĩ. Trưởng-giả Nguyệt-Cái và vô số người cũng đến nhà Cư-Sĩ, thấy trong nhà có vô số Bồ-Tát ngồi trên tòa sư-tử cao rộng đẹp đẽ trang nghiêm thì tất cả đều rất vui mừng và cung kính đảnh lễ.
Cư-Sĩ bảo tất cả đại chúng:
- Qúy vị cứ tùy ý dùng cơm cam-lồ của Như-Lai cõi Chúng-Hương.

Khi ấy có nhiều người lại nghĩ rằng: “Cơm ít qúa! Chỉ có một bát cơm như thế! Làm sao đủ cho đại chúng vô cùng đông đảo như thế này ăn?”. Hóa thân Bồ-Tát hiểu ý liền nói:
- Chớ lấy tiểu trí, tiểu đức mà đo lường vô lượng công-đức của Như-Lai; nước bốn biển lớn có thể cạn, chứ cơm này thì vô tận. Dù tất cả các vị có mặt nơi đây, ăn mỗi vị nhiều to bằng núi Tu-Di, ăn mãi cho đến khi hết kiếp cũng chưa hết, vì cơm dư của người đầy đủ công-đức thì vô lượng vô biên.

Qủa thật sau khi tất cả đại chúng ăn xong rồi mà cơm vẫn còn dư thừa!?! Thân thể lại an vui thoải mái, và từ lỗ chân lông phát ra mùi hương thơm nữa!
Bấy giờ Cư-sĩ Duy-Ma-Cật hỏi các vị Bồ-Tát cõi Chúng-Hương:
- Chúng tôi muốn biết Hương-Tích Như-Lai lấy gì để thuyết pháp?
- Đức Như-Lai cõi chúng tôi chẳng dùng lời nói văn tự, chỉ dùng mùi hương khiến chúng-sanh vào luật hạnh; Bồ-Tát ngồi dưới gốc cây Diệu-Hương đắc Nhất Thiết Đức Tạng Tam Muội.

Một Bồ-Tát cõi ấy hỏi Cư-sĩ Duy-Ma-Cật:
- Phật Thích-Ca ở đây lấy gì giáo hóa chúng-sanh?
Cư-Sĩ trả lời:
- Chúng-sanh cõi này cang cường, nên Phật thuyết những lời mạnh mẽ để điều phục họ. Nào là Địa-Ngục, Súc-sanh, Ngạ-Qủy; nào là chỗ đọa sinh của kẻ Tham Sân Si từ Thân Miệng Ý phát sinh ra mười thứ bất thiện phải chịu qủa báo v.v..

Bồ-Tát cõi kia nói:
- Thật chưa từng có, lần đầu chúng tôi mới được nghe như thế.
Cùng lúc đó, nơi vườn Am-La-Thọ, Phật Thích-Ca đang thuyết pháp cho bốn chúng nghe; vườn bỗng nhiên rộng ra, mọi người đều có sắc vàng, thấy thế, Tôn-giả A-Nan-Đà thưa Phật:
- Thế-Tôn! Do nhân duyên gì mà có điềm lành ứng hiện lạ qúa: “Vườn cây trang nghiêm rộng rãi, sắc tướng của mọi người đều có màu vàng như thế này?”

Đức Phật Bảo:
- Ấy là do Cư-sĩ Duy-Ma-Cật, Văn-Thù cùng vô số Bồ-Tát cõi Chúng-Hương và đại chúng vây quanh khởi ý muốn đến đây nên báo hiệu như thế.
Vì đúng lúc ấy, Cư-Sĩ bảo Bồ-Tát Văn-Thù:
- Chúng ta hãy đến gặp Phật để các Bồ-Tát cõi Chúng-Hương được lễ bái thỉnh pháp Phật.

Bồ-Tát Văn-Thù nói:
- Lành thay! Nay đã đúng lúc nên đi.
Cư-sĩ Duy-Ma-Cật liền dùng thần-lực đem đại chúng cùng tòa sư-tử để trên bàn tay phải đến nơi Phật rồi để xuống. Cư-Sĩ đảnh lễ Phật, chắp tay đi nhiễu bảy vòng chung quanh Phật, các Bồ-Tát, chư Thiên, v.v… đều xuống tòa đảnh lễ cùng đi nhiễu bảy vòng theo sau Cư-Sĩ.

Bấy giờ, sau khi hỏi thăm các Bồ-Tát, Phật bảo tất cả ngồi lại như cũ; chỉ trong giây lát tất cả ngồi im lặng rồi Phật nói:
- Xá-Lợi-Phất! Ông có thấy thần lực của Cư-sĩ Đại-Sĩ chăng?
- Vâng, con đã thấy những việc làm của Cư-sĩ Duy-Ma-Cật là Bất Khả Tư Nghì, chẳng phải suy nghĩ tưởng tượng mà có thể đo lường được.
Lúc ấy, Tôn-giả A-Nan-Đà thưa :
- Thế-Tôn! Nay con ngửi mùi hương thơm xưa nay chưa từng có.

Phật bảo:
- Đó là mùi hương từ lỗ chân lông của các Bồ-Tát cõi Chúng-Hương đang hiện diện nơi đây.
Tôn-giả Xá-Lợi-Phất vội nói:
- Hiền-giả A-Nan biết không? Lỗ chân lông của chúng tôi bây giờ cũng có mùi hương này, vì trưa nay, Cư-sĩ Duy-Ma-Cật biến hóa một Bồ-Tát Hóa thân, rồi sai Hóa thân lên cõi Chúng-Huơng xin cơm của Phật Hương-Tích mang về cho vô số Bồ-Tát, Chư Thiên và đại chúng cùng ăn nơi nhà của Ngài. Do đó các lỗ chân lông của tất cả mọi Bồ-Tát, Trời, Người đã ăn cơm ấy đều có mùi thơm này.
Tôn-giả A-Nan-Đà hỏi:
- Thưa Cư-Sĩ! Mùi hương này giữ được bao lâu?
- Mùi hương này hết khi cơm tiêu.
- Thưa, cơm này bao lâu mới tiêu?
- Thế lực của cơm này đến bảy ngày mới tiêu. Đúng ra, nếu là người chưa vào chính vị, ăn cơm này đến khi vào chính vị mới tiêu. Người đã vào chính-vị, ăn cơm này đến khi tâm được Giải-thoát mới tiêu. Người chưa phát tâm đại-thừa, ăn cơm này đến khi phát tâm đại-thừa rồi mới tiêu. Người đã phát tâm đại thừa, ăn cơm này, đến khi đắc Vô-Sinh Pháp-Nhẫn mới tiêu. Người đã đắc Vô-Sinh Pháp-Nhẫn, ăn cơm này đến khi một đời kế vị Phật mới tiêu; nhân-giả nên biết, ví như có thuốc gọi là Thượng-vị, kẻ uống thuốc này, những độc trong thân diệt hết rồi mới tiêu thuốc, cơm này cũng thế, khi diệt hết độc phiền não rồi mới tiêu.
Tôn-giả A-Nan-Đà nói:
- Cảm tạ Cư-Sĩ đã giảng giải.
Rồi Tôn-giả quay lại bạch Phật:
- Thưa Thế-Tôn! Cơm hương hiếm qúy này hay làm Phật sự như thế, thật chưa từng có.

Phật bảo:
- Đúng thế! A-Nan! Có cõi Phật dùng ánh sáng mà làm Phật sự, hoặc dùng người huyển mà làm Phật sự. Có cõi Phật nhờ Bồ-Tát mà làm Phật sự, hoặc dùng quần áo ngọa cụ mà làm Phật sự; có cõi Phật dùng cơm ăn, hoặc vườn tược, hoặc lâu đài, hoặc âm thanh, mộng huyển, v.v.. mà làm Phật sự. Như thế tùy theo nhân duyên, cảm ứng của chúng-sanh mà làm cho họ được vào luật hạnh.
A-Nan, ông thấy các cõi như đất đai có số lượng, chứ hư không thì không có giới hạn. Cũng thế, hình dáng chư Phật có giới hạn, chứ trí tuệ biện tài vô ngại của chư Phật thì vô hạn vô biên dù chúng-sanh trong đại thiên thế-giới đều có đa văn như A-Nan, và dù trải qua nhiều kiếp cũng chẳng thể lãnh thọ hết.
Tôn-giả A-Nan-Đà thưa:
- Từ nay về sau con chẳng dám tự cho là đa văn nữa (biết nhiều nhớ rộng).

Phật bảo:
- Chớ nên khởi tâm thối lui. Ta nói người đa văn trong hàng Thanh-Văn, chẳng phải trong hàng Bồ-Tát; người có trí chẳng nên so sánh, biển sâu vực thẳm còn có thể đo được, chứ biện tài, công đức của Bồ-Tát chẳng thể đo lường được.
Bấy giờ một Bồ-Tát cõi Chúng-Hương chắp tay vái Phật rồi thưa:
- Như-Lai! Chúng con khi mới thấy cõi này sinh tâm cho là thấp kém, nay tự hối trách, lià bỏ ý ấy. Phương tiện của chư Phật không thể nghĩ bàn, vì độ chúng-sanh mà tùy cơ hiện cõi Phật chẳng đồng (chẳng giống) nhau. Thưa Như-Lai xin ban cho chúng con ít lời chỉ dạy để khi về chúng con được tưởng nhớ Ngài.

Phật bảo các vị Bồ-Tát cõi Chúng-Hương :
- Lành thay! Lành thay! Có pháp môn Hữu-Tận Vô-Tận Giải-Thoát, các ông nên học; sao gọi là Hữu-Tận? Ấy là pháp Hữu-vi; sao gọi là pháp Vô-Tận? Ấy là pháp Vô-vi; Bồ-Tát thì chẳng nên tận Hữu-vi, cũng chẳng nên trụ Vô-vi.
Thế nào là chẳng tận Hữu-vi? Ấy là chẳng lià đại Từ, chẳng bỏ đại Bi, thân tâm phát khởi Nhất Thiết-Trí (một trí kiên cố) và chẳng tạm quên; thường tùy thuận (phương tiện) hộ trì chính pháp chẳng tiếc thân mạng, thuyết pháp cho chúng-sanh chẳng bỏn sẻn hà tiện, siêng năng cúng dường mười phương chư Phật, v.v…
Thế nào là chẳng trụ nơi Vô-vi? Ấy là quán pháp không mà chẳng chứng pháp không, quán pháp vô thường mà chẳng chán pháp thiện; quán thế gian khổ mà chẳng ghét sinh tử, quán pháp hư vô mà chẳng bỏ đại Bi v.v…; Bồ-Tát chẳng tận Hữu-vi, chẳng trụ Vô-vi như thế gọi là pháp môn Tận Vô Tận Giải-Thoát mà các ông nên học.
Bấy giờ các Bồ-Tát cõi Chúng-Hương nghe Phật dạy xong đều vui mừng tán thán ca ngợi việc chưa từng có rằng: “Phật Thích-Ca khéo hành phương tiện nơi cõi Ta-Bà”. Vị Bồ-Tát cõi Chúng-Hương thưa:
- Chúng con xin đa tạ đức Như-Lai đã dạy bảo những lời qúy báu chưa từng có. Chúng con xin cáo từ Như-Lai, đại Bồ-Tát Duy-Ma-Cật, và tất cả chư vị nơi đây.

Lời nói vừa dứt, tất cả Bồ-Tát cõi Chúng-Hương đều đồng loạt đảnh lễ Phật xong bỗng nhiên biến mất, và chỉ trong khoảnh khắc, họ dùng hoa đủ màu sắc trải khắp Đại-Thiên thế-giới để cúng dàng Phật Thích-Ca, các vị Bồ-Tát, và đại chúng.
Bấy giờ Phật hỏi Cư-sĩ Duy-Ma-Cật:
- Cư Sĩ, Ông muốn gặp Như-Lai, mà lấy gì để quán Như-Lai?
Cư-Sĩ Duy Ma Cật thưa:
- Con quán hình hài của chính mình, quán Phật cũng vậy. Con quán Như-Lai việc trước chẳng có, việc sau chẳng tới, chẳng để ý đến việc hiện tại chẳng dừng. Con quán bốn Đại (đất, nước, gió, lửa) giống như hư không, sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) chẳng thể dính sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Ba độc (tham sân si) đã đoạn lià, chẳng ở ba cõi (Dục-giới, Sắc-giới và Vô-Sắc-giới), tùy phương tiện mà vào ba cửa Giải-Thoát. Tam-minh bằng với Vô-minh, chẳng phải không có hình tướng, chẳng phải chấp hình tướng, chẳng một hình tướng, chẳng khác hình tướng; chẳng bờ bên đây, chẳng bờ bên kia, cũng chẳng ở giữa, mà giáo hóa chúng-sanh v.v...

Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật vừa nói dứt, Tôn-giả Xá-Lợi-Phất liền hỏi:
- Cư-Sĩ diệt nơi đâu mà thụ sinh nơi đây?
Cư-Sĩ trả lời:
- Pháp sở đắc của ông có sinh diệt chăng?
- Chẳng có sinh diệt.
- Nếu các pháp chẳng có tướng sinh diệt thì sao còn hỏi: “Diệt nơi nào rồi đến sinh nơi đây?”, ý ông thế nào, nếu người nam, người nữ do nhà huyển-thuật làm ra đó có sinh diệt chăng?
- Chẳng có sinh diệt.
- Ông há chẳng nghe Phật thuyết các pháp (vạn vật) như tướng huyển hóa sao?
- Tôi có nghe.
- Vậy sao còn hỏi về sự sinh diệt chi nữa? Diệt là: pháp giả dối của tướng hư hoại, sinh là tướng giả dối của tướng tương tục; Bồ-Tát dù diệt mà thiện pháp chẳng hết, dù sinh mà ác nghiệp chẳng sinh.

Khi ấy Phật bảo Tôn-giả Xá-Lợi-Phất:
- Có Cõi Diệu-Hỷ, Phật hiệu Vô-Động, Duy-Ma-Cật diệt nơi ấy mà sinh nơi đây.
Tôn-giả Xá-Lợi-Phất nói:
- Cư-sĩ Duy-Ma-Cật nguyện bỏ cõi thanh tịnh mà đến sinh nơi có nhiều ác hại này, thật chưa từng có.
Cư-Sĩ bảo Tôn-giả:
- Ý ông thế nào, khi mặt trời chiếu, ánh sáng ấy có hợp với tối không?
- Thưa không, khi mặt trời chiếu ánh sáng thì chẳng còn đen tối nữa.
- Tại sao mặt trời phải có tại cõi Ta-Bà?
- Vì muốn dùng ánh sáng chiếu soi để diệt đen tối.
- Bồ-Tát cũng vậy, vì giáo hóa chúng-sanh, nên dù sinh nơi cõi bất tịnh mà chẳng hợp với đen tối, chỉ vì diệt trừ phiền não ngu si của chúng-sanh thôi.

Nghe Phật nói có Phật Vô-Động tại cõi Diệu-Hỷ, đại chúng liền khao khát muốn thấy Vô-Động Như-Lai, các Bồ-Tát, và đại chúng cõi Diệu-Hỷ. Phật biết ý đại chúng, Ngài bảo Cư-Sĩ Duy-Ma-Cật:
- Cư-Sĩ ! Hãy vì đại chúng trong hội này mà thị hiện thần lực để tất cả được thấy Vô-Động Như-Lai, các Bồ-Tát, cùng đại chúng cõi Diệu-Hỷ kia.
Cư-Sĩ nói:
- Thưa vâng.
Khi ấy Cư-Sĩ nghĩ rằng: “Ta sẽ chẳng cần rời chỗ ngồi mà thị hiện thần-lực đối với vạn vật trong cõi Diệu-Hỷ như sông biển, đất đai, núi rừng, mặt trời mặt trăng, Thiên, Long, Qủy-Thần, v.v... cho đến Vô-Động Như-Lai. Ta sẽ dùng tay phải rút lấy cõi ấy đem vào cõi này cho tất cả đại chúng ở đây đều thấy”. Nghĩ xong, Ngài liền nhập định, hiện sức đại thần thông, dùng tay phải rút lấy cõi Diệu-Hỷ mang vào cõi Ta-Bà..
Lúc ấy, các Bồ-Tát, Chư Thiên cõi Diệu-Hỷ đều cất tiếng hỏi: “Tại sao tự nhiên bị di chuyển thế này? Như-Lai! Mong cứu hộ cho, ai mang con đi thế này?”. Phật Vô-Động bảo:
- Chẳng phải ta làm, đó là do thần-lực của Bồ-Tát Duy-Ma-Cật làm như thế.

Những người không có thần-thông, khi bị di chuyển không hề hay biết chi cả (Hiện tại qủa đất đang chạy chung quanh mặt trời với tốc độ khoảng 110,000 cây số một giờ hay 30 cây số một giây, và tự quay 24 giờ một vòng rất là mạnh mẽ kinh khủng như thế mà chúng ta có thấy đâu; nếu các nhà khoa-học không nói ra thì ít người biết là trái đất đang chạy với tốc độ khủng khiếp như vậy!). Cõi Diệu-Hỷ được Ngài Duy-ma-Cật đưa vào cõi Ta-Bà để mọi người đều thấy rõ, mà cõi Ta-Bà vẫn không thay đổi, Đức Phật Thích-Ca bảo đại chúng:
- Tất cả hãy xem quốc độ trang nghiêm, Bồ-Tát thanh-tịnh, đệ-tử, đại chúng cõi Diệu-Hỷ v.v...
- Vâng, chúng con đã thấy rõ.
Phật bảo:
- Nếu muốn đắc cõi trong sạch ấy, nên học theo sở hành của Vô-Động Như-Lai.

Lúc ấy có vô số người phát tâm Vô-Thượng Bồ-Đề, nguyện sinh sang cõi Diệu-Hỷ, Phật Thích-Ca liền thọ ký cho họ được sinh sang cõi ấy; sau khi tất cả đại chúng thấy và tán thán xong, Cư-sĩ Duy-Ma-Cật dùng thần-lực đẩy cõi Diệu-Hỷ về bản xứ, tất cả đại chúng đều thấy rõ.

Phật bảo Tôn-giả Xá-Lợi-Phất:
- Ông thấy Cõi Diệu-Hỷ, Vô-Động Như-Lai chăng?
- Thưa Thế-Tôn, con đã thấy rõ. Nguyện cho tất cả chúng-sanh đều được cõi Phật trong sạch như thế, được sức thần-lực như Cư-sĩ Duy-Ma-Cật. Thế-Tôn, chúng con được gặp Ngài Duy-Ma-Cật để cúng dường thân cận sẽ được nhiều lợi ích. Con mong cho chúng-sanh đời sau khi đọc được những việc xảy ra hôm nay không có sợ hãi, không có điều nghi ngờ và tin tưởng hoàn toàn thì sẽ có biết bao phước đức lợi lạc v.v..(Xin xem Kinh Duy-Ma-Cật)..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Nov 30 2011, 11:28 AM
Gửi vào: #35


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21




NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

Toàn Không


Nói về nguồn gốc loài Người, một vấn đề liên quan tới nguồn gốc của chính Tổ-tiên xa xưa lâu đời của chúng ta; nó hết sức khó hiểu cho con người, đã có biết bao người suy nghĩ, nghiên cứu và lý luận để tìm câu trả lời. Ngày nay chúng ta đã có những thuyết trả lời khác nhau như sau:

- Thuyết cho rằng Người đầu tiên trên thế-gian này do một Thượng-Đế sinh ra, được viết trong Thánh Kinh của người Do-Thái giáo (Xin miễn bàn).

- Thuyết cho rằng loài Người do một loài Khỉ-Đột tiến hóa biến hóa mà thành, do một người nước Anh tên Charles-Robert-Darwin (1809-1882) nghiên cứu về loài Khỉ-Đột mà viết ra (Xin miễn bàn).

- Thuyết của Phật-giáo

Ở đây người viết không trình bày hay phê bình chỉ trích hai thuyết trên, mà chỉ trình bày và mô tả thuyết của Phật giáo. Người đọc có toàn quyền suy xét, nhận xét theo quan điểm riêng của mình. Dù sao đi nữa, chân-lý bao giờ cũng là sự thật; dù thời gian có trôi đi, không gian có đổi chỗ, nhưng trải qua nghìn muôn ức tỷ năm sau, hoặc tại châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, hay châu Úc đi nữa, chân-lý vẫn bất di bất dịch không thay đổi, đó mới là chân lý.

Sau đây tôi xin ghi lại thuyết nguồn gốc loài Người của Phật-giáo do đức Phật đã dùng Phật-nhãn (mắt Phật) chiếu soi, nhìn thấu về vô thủy, nghĩa là Ngài nhìn về quá khứ hàng vô số tỷ năm, nên Ngài nói ra những gì đã thấy. Tôi viết như vậy chỉ là lấy ý của một kẻ phàm-phu mà viết, chứ chẳng phải như triết thuyết của Phật-giáo Tối-thượng-thừa; theo Phật-giáo Tối-thượng-thừa thì: “Như-Lai không đến, không đi, không quá khứ, không hiện tại, không tương lai, chỉ như như”. Nghĩa là chân-tánh cùng khắp không gian chỗ nào cũng có, chân-tánh cùng khắp thời gian lúc nào cũng hiện diện; như vậy làm gì có sự phân biệt qúa khứ, hiện tại, tương lai, đâu còn phân biệt chỗ này chỗ kia nữa.

Khi có thế giới (thế gian) hư hoại, hủy diệt bởi đại Hỏa tai, tất cả con người ở đó chết đi, hóa sinh đến cõi Trời Quang-Âm tương ưng với Nhị-thiền Sắc giới. (Khi có thế giới hư hoại hủy diệt bởi đại Thủy tai, tất cả con người chết đi, hóa sinh đến cõi Trời Biến-Tịnh tương ưng với Tam-thiền Sắc-giới. Khi có thế giới hư hoại, hủy diệt bởi đại Phong tai, tất cả con người chết đi hóa sinh đến cõi Trời Qủa-Thật tương ưng với Tứ-thiền Sắc-giới). Các vị Trời ở Quang-Âm Thiên sống rất lâu dài là 8 A-Tăng-Kỳ (1 A-Tăng kỳ = 1 Kiếp = 16,798,000 năm, sẽ giải thích cách tính sau, ở mục các đại tai họa).

Các vị Trời ở cõi Quang-Âm Thiên khi thọ mạng và hành nghiệp đã hết, họ chết đi ở đó, và hóa-sinh đến cõi Trời Không-Phạm (Phạm-Thiên), tức là sinh đến cõi Trời khác thấp hơn (cõi Phạm-Thiên tương ưng với Sơ-thiền Sắc-giới).

Bấy giờ vị Phạm-Thiên (vị Trời ở cõi Không-Phạm) hóa-sinh ra đầu tiên tự nghĩ: “Ta là Đại Phạm-Thiên, tự nhiên mà có, không ai tạo ra ta. Ta có thể thấu suốt được tất cả nghĩa lý, rất được tự-tại, và vi diệu bậc nhất. Ta trước đây chỉ có một mình, và do sức ta mà có chúng-sanh, ta tạo ra chúng-sanh”. Vì trước đây ta nghĩ: “Phải chi có những chúng-sanh khác được ra đời, thì ta vui biết mấy! Và sau đó có những chúng-sanh sinh ra, tuổi thọ của ta sống lâu hơn các chúng-sanh sinh ra sau, do đó ta là bậc nhất, hơn hết tất cả”.

Đồng thời những vị Phạm-Thiên hóa-sinh ra sau tại cõi Trời Không-Phạm cũng tự nghĩ: “Vị ấy là Đại Phạm-Thiên, không do ai sinh ra và tự nhiên có. Vị ấy thấu suốt các nghĩa lý, rất được tự-tại, có thể tạo ra, và có thể hóa ra. Vị ấy vi diệu bậc nhất và đáng tôn kính bậc nhất, vị ấy sống lâu hơn chúng ta; trước chỉ có vị ấy, sau mới có chúng ta, vị ấy đúng là đấng tạo ra chúng ta”.

Tất cả chúng-sanh tại cõi Trời Không-Phạm đều tùy theo phúc nghiệp đã tạo ra trước kia mà được qủa báo là:

- Đại Phạm-Thiên:
Vi diệu, đẹp đẽ, uy nghi, tự tại, hạnh phúc, có ánh sáng cực kỳ rực rỡ; vị Đại Phạm-Thiên có các vị Phạm-Thiên thân cận, và Phạm-Chúng-Thiên bao quanh. Tuổi thọ của Đại Phạm-Thiên là một 1 Tiểu kiếp rưỡi = 16,798,000 + 8,399,000 = 25,197,000 năm của trái đất.

- Phạm-Thiên :
Là những vị Trời thân cận Đại Phạm-Thiên, kém vị Đại Phạm-Thiên một chút, ví như các vị quan đại-thần; các vị Phạm-Thiên sống lâu một Tiểu kiếp = 16,798,000 năm của trái đất.

- Phạm-Chúng-Thiên :
Là các vị Trời tùy tùng các vị Phạm-Thiên, cũng có đầy đủ thần thông, nhưng không bằng các vị Phạm-Thiên, Phạm-Chúng-Thiên sống lâu một nửa Tiểu kiếp = 16,798,000 / 2 = 8,399,000 năm của trái đất.

Những chúng-sanh ở cõi Phạm-Thiên tuỳ theo thọ mạng và hành nghiệp hết, qua đời, và sinh đến trái đất (thế-gian) này.

Các chúng-sanh sinh đến thế-gian này khi mặt trời và các hành-tinh được cấu thành và ổn cố rồi, tức là mới thành lập (lập Địa); hoặc được thành lập trở lại sau khi bị hủy hoại (tái lập Địa) bởi một trong ba đại tai họa, đó là đại Hỏa tai, đại Thủy tai, hoặc đại Phong tai (sẽ trình bày ở một mục sau). Khởi đầu, các chúng-sanh này đều do hóa-sinh mà ra, không phải là một chúng-sanh được hóa sinh ra đời, mà là nhiều chúng-sanh được hóa sinh ra tùy theo thọ mạng hết tại cõi Trời Không-Phạm. Có thể là các chúng-sanh khởi đầu ấy hóa sinh ra không cùng một lúc, và không do chúng-sanh trước sinh ra chúng-sanh sau.

Các chúng-sanh đầu tiên ấy: không cần chúng-sanh khác nuôi nấng dạy bảo trông nom, mà có thể tự lực sinh sống; họ lấy niệm thực để ăn, nghĩa là lấy sự vui vẻ, thanh tao, nhàn tản làm thức ăn. Nói đúng hơn, như thức ăn ngày nay, họ không cần ăn uống mà vẫn sống phây phây, không thấy đói khát, lại luôn luôn mạnh khỏe, thật sung sướng vô cùng.

Trên thân thể họ phát ra ánh sáng, soi chiếu khắp chung quanh. Họ có thể nhìn thấy rõ ban đêm cũng như ban ngày. Họ có thần-túc-thông đi, bay trên hư không chớp nhoáng, nhẹ nhàng, an lạc, tự-tại, vô ngại, suốt ngày đêm vui vẻ bay nhảy đùa rỡn với nhau thỏa thích. Họ không cần ăn uống, không cần làm việc chi cả, cuộc sống vô cùng thanh tao nhàn hạ; họ muốn đi đâu thì đi, muốn nghỉ thì nghỉ, muốn ngủ thì ngủ, luôn luôn thoải mái chẳng có gì là mệt nhọc buồn phiền cả.

Bấy giờ không có nam nữ phân biệt vì hình dạng giống như nhau, mọi chúng-sanh đều đẹp tuyệt vời; không có tôn ty trên dưới, ai cũng như ai, bình đẳng hoàn toàn, không ai động chạm tới ai vì không có gì để tranh giành cả. Không có tuổi tác, không có trẻ già, tất cả chúng-sanh đều tươi trẻ như nhau; không có tên gọi khác nhau, khi nói chuyện thì nói ta, ngươi, chúng-sanh này, chúng-sanh kia, chúng ta, chúng ngươi v.v...

Thế-gian này chỉ có nhiều chúng-sanh (Người) hóa-sinh ra, nên gọi là chúng-sanh; các chúng-sanh sống cuộc sống an nhàn thoải mái, không có sự tham lam, không có sự giận hờn, không có đẹp xấu, hơn thua,, phải trái, yêu ghét, đói no v.v.., nghĩa là không có bất cứ một tranh cãi phiền não, dù đó là sự tranh cãi phiền não nhỏ bé của ngày nay.

Các chúng-sanh sống cuộc sống đẹp đẽ như thế một thời gian khá lâu dài, rồi, đại Địa (qủa đất lớn) này tự nhiên có nước xuất hiện, nước ngưng tụ trên mặt đất và nước có vị ngon như nước đề hồ; những chúng-sanh ấy thấy nước xuất hiện, thì sinh tâm thắc mắc, bèn hỏi nhau: “Đây là cái gì, đây là vật gì, ta chưa thấy cái lạ này bao giờ, cái này ở đâu ra?””

Những chúng-sanh ấy tự nghĩ: “Không biết cái này ra sao, nó có mùi gì, nó có vị gì?”. Nghĩ như thế, họ bèn lấy ngón tay chấm rồi ngửi thì chẳng có mùi gì cả. Họ lại lấy ngón tay chấm nước đề-hồ cho vào miệng nếm thử. Sau khi nếm, họ thấy ngon họ gọi cái ấy là “Nước” và họ khen:
“Cái này ngon, nước này ngon quá!”

Những chúng-sanh khác thấy khen ngon, cũng bắt chước làm theo, họ dùng ngón tay chấm nếm thử. Lúc đầu nếm thử, họ cũng thấy ngon, liền sinh tâm đắm nhiễm, cứ chấm nếm hoài không thôi; dần dần tâm ưa thích càng tăng, họ dùng cả bàn tay bốc để ăn, những chúng-sanh khác trông thấy thế, cũng bắt chước lấy tay bốc ăn. Càng ăn, tâm đắm nhiễm càng nhiều, nên họ bốc ăn mãi liên tiếp, và họ cứ tiếp tục ăn mãi như thế không biết chán.

Trải qua một thời gian không lâu, thân thể của chúng-sanh trở nên nặng nề, thô kệch, không còn mềm mại, và không còn bay trên hư không được nữa, mà phải đi trên đất. Trên thân mình chúng-sanh mất dần ánh sáng, và không còn nhìn rõ trong đêm tối được nữa. Những chúng-sanh ấy bắt đầu than van về việc thân họ mất ánh sáng và mất nhẹ nhàng, nhưng họ vẫn giữ tâm ưa thích vị nước và họ không ngừng dùng tay bốc nước để ăn uống.

Sau một thời gian lâu dài như thế, rồi nước tự nhiên biến mất (vì nước ngấm vào đất, chảy xuống các chỗ thấp xa xôi, và bốc thành hơi), các chúng-sanh dùng ngón tay bới đất tìm nước. Không tìm thấy nước, chúng-sanh nếm (ăn) thử đất có thấm nước, nhão mềm như bùn, và cảm thấy cũng ngon; họ bèn ăn đất nhão mềm ấy, và gọi đó là “Vị đất”. Chúng-sanh khác thấy khen ngon cũng lấy tay bốc vị đất ăn. Những chúng-sanh nào ăn nhiều vị đất nhan sắc trở nên xấu xí, những chúng-sanh nào ăn ít vị đất thì nhan sắc còn tươi đẹp; lúc đó chúng-sanh bắt đầu sinh tâm phân biệt về nhan sắc, dung mạo, đẹp xấu.
Có chúng-sanh nói:
- Chúng sanh này đẹp, chúng sanh kia xấu.
Có chúng-sanh nói:
- Ngươi xấu hơn chúng sanh kia. Tại sao thế?

Chúng-sanh sống một thời gian như thế, rồi dần dần đất khô cứng lại, không còn vị đất mềm nữa; bấy giờ chúng-sanh bắt đầu buồn rầu than thở mà nói: “Khổ thay, khổ thay, đây là tai họa, tại sao vị đất bỗng nhiên mất đi như thế?”

Sự kiện ấy cũng giống như ngày nay người ta có đầy đủ thức ăn ngon, thì người ta nói: “Ngon quá, ngon quá!”, nhưng sau đó thức ăn ngon ấy bỗng dưng hết không còn nữa, thì họ lấy làm nhớ tiếc, buồn rầu; những chúng-sanh nhớ tiếc vị đất, cũng buồn rầu như thế, từ đó chúng-sanh bắt đầu sinh tâm buồn phiền.

Khi đất khô cứng lại, trên mặt hình thành một lớp vỏ mỏng như cái bánh ngày nay (cũng giống như ngày nay mỗi khi có nước lụt lớn, nước đục lẫn đất tràn vào đồng ruộng; sau khi hết lụt lội, nước bốc hơi cạn đi, đất trở nên khô cứng, đồng ruộng nứt nẻ, có một lớp đất mỏng ở trên mặt), không có vị đất, chúng-sanh bèn bóc lấy lớp đất ấy để ăn, và họ gọi là “Vỏ đất”. Dần dần họ cảm thấy ăn vỏ đất cũng có mùi vị và ngon miệng.

(Còn tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Dec 9 2011, 12:06 AM
Gửi vào: #36


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

(Tiếp theo)

Toàn Không


Trong số đó những chúng-sanh nào ăn nhiều nhan sắc trở nên xấu xí hơn, những chúng-sanh nào ăn ít thì còn giữ được tươi đẹp. Chúng-sanh tranh cãi nhiều hơn về dung mạo nhan sắc, có chúng-sanh nói:
- Chúng sanh kia đẹp hơn ngươi.
Có Chúng-sanh nói:
- Ngươi xấu hơn ta.
Có chúng-sanh nói:
- Chúng-sanh này đẹp hơn chúng-sanh kia.

Về sau có thứ nấm mọc từ đất xuất hiện, nấm có màu sắc đẹp, mềm mại. Chúng-sanh thấy vật lạ xuất hiện thì thắc mắc hỏi nhau: “Đây là cái gì, đây là vật gì, cái này trông lạ qúa, ta chưa thấy vật này bao giờ, nó là cái gì? v.v...”

Họ bèn lấy tay sờ thấy mềm, họ bèn cầm cây nấm kéo lên rồi ăn thử, họ thấy ngon ngọt và có mùi thơm vị ngon hơn vỏ đất; họ gọi vật ấy là “Nấm đất”, vì nó mọc từ đất lên. Họ nói cho những chúng-sanh khác biết như thế, chúng-sanh khác nghe nói cũng làm theo.

Từ bấy giờ chúng-sanh thôi ăn vỏ đất và cùng nhau ăn nấm đất. Trong số đó, những chúng-sanh nào ăn nhiều nhan sắc trở nên xấu hơn nữa, những chúng-sanh nào ăn ít nhan sắc còn giữ được tươi đẹp. Các chúng-sanh sinh tâm phân biệt tranh cãi đẹp xấu nhiều hơn, có chúng-sanh nói:
- Sắc đẹp của ngươi kém sắc đẹp của ta.
Có chúng-sanh nói:
- Ta đẹp, ngươi xấu, sắc đẹp của ta hơn sắc đẹp của ngươi.
Có chúng-sanh nói:
- Ngươi xấu hơn ta nhiều, ngươi xấu qúa, tại sao ngươi xấu thế?
Có chúng-sanh nói:
- Chúng-sanh này đẹp, chúng-sanh kia xấu, tại sao thế?

Chúng-sanh sinh tâm hơn kém, ôm lòng cạnh tranh càng ngày càng tăng, họ sống như thế một thời gian khá lâu, rồi tự nhiên nấm đất dần dần ít đi; chúng-sanh thấy nấm đất ít đi, họ tụ tập lại mà than vãn với nhau, một chúng-sanh hỏi:
- Tại sao tôi không thấy có nhiều nấm đất như trước kia?
Các chúng-sanh khác đều trả lời:
- Tôi không biết tại sao.
Có chúng-sanh nói:
- Bây giờ chúng ta phải đi xa để tìm kiếm nấm đất mà ăn.
Nhiều chúng-sanh nói: “Khổ thay, khổ thay, đây là tai họa cho chúng ta, tại sao nấm đất càng ngày càng ít đi như thế?”

Thế là họ rủ nhau đi chỗ xa tìm kiếm nấm đất để ăn, đang khi nấm đất ít dần đi như thế và các chúng-sanh đều lo lắng không có đủ nấm đất để ăn, tự nhiên có một số loại cây có hạt xuất hiện như lúa gạo, lúa mì, lúa mạch v.v...

Các chúng-sanh thấy các cây có hạt xuất hiện nên ngạc nhiên vô cùng, họ không biết những thứ ấy từ đâu mà sinh ra; các loại cây này sinh ra nhiều hạt không có vỏ cứng, chúng-sanh thấy thế thì lấy ăn thử, họ ăn thấy bùi bùi, ngon ngon, lại có mùi thơm. Họ bèn lấy các hạt ấy để ăn và bảo nhau cùng ăn. Do nhân duyên này nên có tên “Hạt gạo, hại mì. hạt mạch, v.v..”. Từ lúc bấy giờ, chúng-sanh cùng nhau lấy hạt để ăn, họ ăn hạt trong một thời gian không lâu, thân hình trở nên thô xấu hơn, phát triển nẩy nở mạnh mẽ.

Bắt đầu từ lúc bấy giờ, các chúng-sanh có hai loại thân hình sai khác nhau, nên mới có danh từ: “Chúng-sanh Nam (đàn ông), chúng-sanh Nữ (đàn bà)”. Con Người bắt đầu thành hình rõ rệt và phát triển từ đấy, các chúng-sanh nam lạ lùng về hình dáng khác biệt của các chúng-sanh nữ, phái nữ lạ lùng về sự sai khác hình dáng của phái nam. Các chúng-sanh phái này thích nhìn chúng-sanh phái kia, họ nhìn nhau, và nhìn nhau không biết chán, họ nhìn nhau mãi không thôi. Rồi chúng-sanh phái này bắt đầu sinh tâm thích thú, lưu luyến phái kia, và chỉ muốn gần gũi nhau; họ thích nhìn ngắm (vướng mắc về Sắc) vuốt ve (vướng mắc về Xúc chạm) những thứ khác lạ của nhau, và họ bắt đầu thích nói chuyện (vướng mắc về Thanh), khen ngợi lẫn nhau. (Trung A-Hàm, quyển 3, từ 526 đến 532)

Tưởng (ý nghĩ) dục (dâm dục) từ đó phát sinh, chúng-sanh nam và chúng-sanh nữ cùng nhau tìm chỗ kín đáo hay chỗ không có chúng-sanh khác để được tự do nhìn ngắm, nói chuyện, ôm ấp, vuốt ve, và làm điều bất tịnh (làm tình). Những chúng-sanh khác thấy thế, bèn nói: “Than ôi! Đó là việc sai trái, tại sao chúng-sanh nam này cùng với chúng-sanh nữ kia làm việc dâm dục xấu xa như thế?”

Danh từ “Ôm ấp, vuốt ve, dâm dục, làm tình” bắt đầu có từ đó; những chúng-sanh nam làm việc bất tịnh dâm dục ấy thấy chúng-sanh khác quở trách thì ăn năn và nói: “Việc làm của tôi là sai quấy, tôi đã làm việc xấu xa, tôi đáng khiển trách”.

Tức thì chúng-sanh nam ấy gieo mình xuống đất không đứng dậy nữa, chúng-sanh nữ thấy thế thì lo chúng-sanh nam ấy đói, nên bèn đi lấy hạt (thức ăn) đem đến cho ăn, chúng-sanh khác thông thấy hỏi:
- Ngươi mang thức ăn này đi đâu?
- Chúng-sanh nam kia vì ăn năn về việc làm bất tịnh của mình, nên gieo thân xuống đất không chịu đứng dậy, tôi sợ hắn đói nên tôi đem thức ăn đến cho hắn.

Từ đây các chúng-sanh đã có đủ năm dục (Ngũ dục: Sắc, thanh, hương, vị, và xúc). Về sau chúng-sanh càng ngày càng tham đắm làm việc dâm dục nhiều hơn, và muốn che kín để tránh sự nhòm ngó của chúng-sanh khác, nên họ mới tìm đến chỗ kín đáo như nơi hang hốc, gò đống, hoặc tạo ra ngăn che riêng biệt kín đáo. Bởi nhân duyên ấy nên mới có danh từ: “Hang ổ, chỗ kín đáo, chỗ riêng biệt, chỗ ở, túp lều, nhà, v.v...” và gọi chúng-sanh nam, chúng-sanh nữ ở chung làm việc dâm dục là “Nhân tình, chồng vợ”.

Từ lúc đó, những chúng-sanh khác tại cõi Trời Phạm hết mạng sống, hoặc hết hạnh nghiệp, hoặc hết phúc báo nên chết tại đó sinh đến thế gian này, nhưng không còn là hoá-sinh nữa, mà ở trong bào thai của chúng-sanh nữ. Nhân đó mới có danh từ: “Có thai, có chửa, có bầu, bào thai, đẻ con, sinh con, con trai, con gái v.v...”, từ đây bắt đầu đặt tên cho con khi mới sinh đẻ ra, và người nam nữ sống chung có con là một ”gia đình”.

Cũng cần ghi nhận rằng: từ khi các loại cây có hạt vỏ mềm xuất hiện, chúng-sanh lấy hạt để ăn, khi hạt lấy đi rồi, những hạt khác lại sinh ra. Sáng lấy chiều lại có, chiều lấy sáng hôm sau có, vì vậy nên lấy hoài, ăn hoài không hết; họ sống một thời gian như thế khá lâu rất thoải mái.

Bỗng có chúng-sanh tự nghĩ: “Nếu mỗi ngày đều đi lấy hạt thì nhọc công quá, nay ta nên lấy gấp hai để ăn trong hai ngày”. Sau khi nghĩ như vậy rồi, chúng-sanh ấy bèn đi lấy đủ số lượng hạt để ăn trong hai ngày, “Tâm tham” bắt đầu phát sinh từ đây. Khi chúng-sanh nọ đến rủ đi lấy hạt, thì chúng-sanh ấy nói:
- Ta đã lấy hạt đủ để ăn trong hai ngày rồi, không cần đi lấy nữa, ngươi muốn đi tuỳ ý.
Chúng-sanh nọ nghe nói thế, bèn nghĩ: “Chúng-sanh ấy đã lấy hạt để ăn trong hai ngày, sao ta không lấy hạt để ăn trong ba ngày?” Nghĩ như vậy rồi, liền đi lấy hạt đủ dự trữ ăn trong ba ngày.
Cũng như thế ấy, có chúng-sanh kia đến gặp chúng-sanh nọ và nói:
Chúng ta hãy cùng đi lấy thực phẩm (hạt) để ăn,

Chúng-sanh nọ nói:
- Ta đã lấy thực phẩm đủ để ăn trong ba ngày rồi, ngươi tuỳ ý đi lấy.
Chúng-sanh kia nghe xong tự nghĩ: “Ngươi đã lấy đự trữ ăn trong ba ngày, ta sẽ lấy nhiều hơn, ta sẽ lấy dự trữ ăn trong năm ngày”. Chúng-sanh kia bèn đi lấy hạt đủ ăn trong năm ngày, tất cã chúng-sanh đều sinh tâm “tranh đua” nhau tích trữ hạt như thế, và càng ngày càng gia tăng mãi lên.

Sau một thời gian như thế, tự nhiên các loại hạt sinh ra “có vỏ cứng, có trấu” không ăn được ngay mà phải bỏ vỏ đi mới ăn được. Khi hạt lấy đi rồi, những cây ấy không còn sinh ra những hạt khác nữa, đồng thời các loại cỏ: cỏ lăn, cỏ lác, v.v... xuất hiện, mọc đầy cả.

Lúc đó, chúng-sanh gặp nhau kêu than, buồn rầu, họ ôm bụng tự than nói:
“Khổ thay, đây là tai họa, biết làm sao bây giờ? Chúng ta trước kia đều là hóa-sinh, không cần ăn uống gì cả, chỉ lấy sự rong chơi, nhàn tản đó đây làm vui vẻ thỏa thích (được tự tại). Trên thân chúng ta phát ra ánh sáng, nên nhìn khắp tất cả không trở ngại đêm cũng như ngày (Có hào quang). Chúng ta lại bay trên hư không, được an lạc, tự tại, vô ngại (Có thần túc).

Rồi sau nước xuất hiện như nước đề hồ, chúng ta thắc mắc muốn biết là vật gì (khởi ý niệm đầu tiên) nên dùng ngón tay chấm quệt cho vào mũi ngửi (khởi ý niệm thứ hai), rồi cho vào miệng nếm thử (khởi ý niệm thứ ba). Khi nếm thử thấy vị lạ, ngon (dính mắc vào vị), chúng ta liền sinh ra ưa thích, và nếm mãi không ngưng; lòng tham đắm càng ngày càng tăng lên, nên dần dần chúng ta dùng tay bốc để ăn cho được nhiều (tâm tham khởi sinh). Chúng ta bốc ăn mãi như thế không thôi. Rồi thân chúng ta không còn mềm mại nữa, mà trở nên thô kệch, nặng nề (vì có nước trong thân), không còn bay trên hư không được nữa (nặng nề qúa).

Sau một thời gian nước đề hồ dần dần biến mất, chúng ta phải ăn vị đất (vì cần phải có một cái gì trong bụng). Khi vị đất không còn, chúng ta ăn vỏ đất. Rồi nấm đất có mùi thơm và vị ngọt xuất hiện, chúng ta ăn nấm đất (dính mắc hương vị); trải qua mỗi thời kỳ, thân hình chúng ta càng ngày càng trở nên thô kệch xấu xí hơn, tâm trí chúng ta càng ngày càng cạnh tranh hơn thua về nhan sắc đẹp xấu (mà sự thực thì nhan sắc càng ngày càng xấu đi).

Từ khi các loại cây có hạt xuất hiện, chúng ta lấy hạt ăn mà không cần làm gì cả; hạt lấy đi rồi hạt khác lại sinh ra. Buổi sáng lấy buổi chiều các hạt mới sinh chín, buổi chiều lấy sáng hôm sau các hạt mới sinh chín, sẵn sàng để lấy ăn. Vì sự đua nhau lấy hạt cất giữ của chúng ta (phát sinh lòng tham), nên các loại hạt lấy đi, các hạt mới không sinh ra nữa; tệ hại hơn nữa các hạt sinh ra có vỏ, có trấu, không ăn hạt ngay được, mà phải bỏ vỏ, bỏ trấu đi rồi mới ăn được”.

Chúng-sanh cùng nhau suy nghĩ về các khó khăn ấy, và bảo nhau phải tìm cách bỏ vỏ đi, và tự gieo trồng để có hạt mà ăn; họ thỏa thuận với nhau việc phân chia đất ra từng ô để mỗi người tự trồng trọt trên phần đất của mình, từ đó danh từ “Ruộng rẫy, trồng trọt, v.v...” được nói đến, và có lời nói “Của ta, của ngươi”.

(Còn tiếp).


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Dec 15 2011, 11:22 PM
Gửi vào: #37


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI


(Tiếp theo)

Toàn Không


Họ cùng nhau gieo trồng chăm sóc để lấy hạt mà ăn, cuộc sống cũng tạm ổn; sau một thời gian yên lành như thế, có một số người sinh tâm dối trá (khởi tâm dối trá), họ giấu hạt của mình, và đi lấy hạt của người khác; tính gian dối bắt đầu từ đấy, những người bị mất trông thấy người khác lấy hạt của mình nói:
- Ngươi làm sai, ngươi làm quấy! Tại sao ngươi giấu hạt của mình, rồi đi lấy vật thực của ta, từ nay ngươi không được lấy trộm nữa;

Từ đó có danh từ “Cất giấu, vật thực, dối trá, trộm, cắp” bắt đầu được nói đến, nhưng những người có tâm dối trá ấy vẫn tiếp tục làm điều xấu như trước, họ lại trộm cắp. Khi bắt được kẻ trộm cắp, những người bị mất trách:
- Ngươi làm điều xấu xa, tại sao ngươi không bỏ việc đi trộm cắp?

Họ dùng tay đánh người trộm cắp, rồi cầm tay lôi kéo người ấy đến chỗ có nhiều người mà nói lớn lên rằng:
- Người này giấu vật thực của mình và đã trộm cắp của tôi hai ba lần.
Kẻ trộm thì nói:
- Người này đánh vào lưng tôi nhiều lần bằng tay, người này đánh đau tôi!

Lúc ấy các người khác nghe hai người nói thế, sinh lòng buồn rầu, lắc đầu, nói: “Thế-gian này dần dần trở nên độc ác, có phải đây là ác pháp sinh chăng?”

Từ đó phát sinh ra các danh từ “Lôi kéo, đánh đập, ác độc, v.v…” Con người từ đấy sinh lòng buồn khổ về việc này, rồi tiếp đến việc khác. Từ lòng buồn khổ ấy kết (tạo) thành qủa báo khổ não. Các khổ não buồn phiền là nguồn gốc của “sinh già bệnh chết”, và các việc làm bất thiện là nhân để đọa sinh vào các cõi ác.

Từ khi ruộng đất được phân chia, chỗ ở tạo ra riêng biệt, và từ khi có kẻ sinh tâm tham lam, giấu giếm vật thực của mình, trộm cắp, dành giật vật thực của người khác. Con người cãi lộn, nói xấu, giằng co, thậm chí đi đến đánh nhau và tìm cách giết nhau, các việc không tốt như thế xảy ra hàng ngày càng nhiều hơn lên, họ không sao tự giải quyết được; họ bèn thảo luận và thỏa thuận với nhau rằng họ cần một người có đủ khả năng để trông coi phân xử mọi việc xảy ra cho họ.

Bấy giờ, trong chúng-sanh có người hình vóc to lớn, khoẻ mạnh, dung mạo đoan chính, nói năng từ tốn phải lẽ, trông rất uy nghi, và có đức độ; mọi người thấy thế bèn đến nói với người ấy:
- Như ông biết ngày nay có nhiều việc không tốt đẹp xảy ra hàng ngày, chúng tôi thấy ông là người tốt, mạnh khoẻ, có đủ khả năng làm người trông coi, và phân xử các việc xảy ra. Chúng tôi muốn tôn ông lên làm người trông coi phân xử công bằng, khen người làm việc tốt, chê bai trừng phạt kẻ làm việc xấu v.v...; vậy ông khéo giúp đỡ mọi người, chúng tôi mỗi người sẽ bớt ra một số vật thực để tặng ông.

Người ấy nghe xong thấy hay, bèn chấp nhận làm người trông coi phân xử. Từ đó, mới có danh từ “người trông coi phân xử, người có trách nhiệm giữ trật tự chung, người đại diện dân, v.v...” Về sau các việc giải quyết càng ngày càng nhiều, nên cần có người phụ giúp. Những người có trách nhiệm trông coi phân xử ấy được tổ chức thành nhiều người có một người đứng đầu chỉ huy, nên từ đó có những danh từ mới được nói đến như “Người đứng đầu, người lãnh đạo, chúa, vua v.v...”.

Tóm lại, những người sinh ra đầu tiên trên trái đất này đều từ cõi Phạm-Thiên sinh đến bằng hóa-sinh, nghĩa là không có ai sinh đẻ ra , hay một vị nào tạo ra cả, mà là chết từ cõi Phạm-Thiên rồi sinh đến cõi này bằng hóa sinh. Những người mới hóa-sinh ra không cần đến người khác nuôi nấng chăm sóc, bế bồng mà vẫn sống được một mình; vì dù mới sinh ra, nhưng họ không cần ăn uống như trẻ mới sinh ngày nay. Cũng không phải là chỉ có một người được hóa sinh ra, mà là nhiều người cùng hóa sinh ra, nhưng cũng có người hóa sinh ra trước, kẻ hóa sinh ra sau, tuỳ theo hạnh nghiêp, phúc báo, và mạng sống ở cõi Trời Không-Phạm đã hết chết đi, sinh đến cõi này. Cũng vì mọi người đều được hóa sinh ra như thế, nên không có cha mẹ, không có ai đặt tên cho, nên mọi người đều có cái tên chung gọi là chúng-sanh.

Chúng ta không thấy nói tới hình hài của những người đầu tiên ấy, nhưng chắc là có thân hình trong vắt như pha lê(?), mềm mại, nhẹ nhàng, có ánh sáng phát ra, nên bay đi tới lui dễ dàng. Khi bốc nước ăn uống thì dần dần thân hình trở thành căng phồng lên giống như bơm nước vào bong bóng(?), con người trở thành thô cứng, nặng nề, không còn nhẹ nhàng để bay được nữa, nhưng vẫn còn trong đẹp. Đến khi ăn bùn, ăn đất, cho đến ăn nấm đất, con người trở thành có màu giống màu bùn đất(?) xấu xí. Và khi tới giai đoạn ăn các hạt, con người mới thực sự phát triển, nẩy nở các cấu trúc của cơ thể .

Những người đầu tiên ấy sống từ lúc lập Địa, hay tái lập Địa, họ sống từ lúc hóa sinh ra tại trái đất này cho đến khi chết trung bình khoảng 84,000 (tám mươi tư nghìn) năm; họ sống rất lâu, rất thọ như thế, (họ thọ gấp một trăm linh (lẻ) năm lần ông Bành-Tổ mà người ta thường nói đến chỉ sống khoảng 800 năm mà thôi).

Chắc rằng có một số người không tin rằng những con người sinh ra đầu tiên trên trái đất này lại sống lâu như vậy. Người không tin cũng giống như người vừa sinh ra đã bị mù mắt không thấy được các màu sắc khác nhau như thế nào, nên khi có người nói với người mù ấy về sự khác biệt giữa các màu sắc trắng xanh vàng đỏ đen tím nâu v.v., thì người mù ấy không tin, không tưởng tượng nổi sự khác biệt giữa các màu sắc, và nói rằng làm gì có các màu sắc khác nhau như thế.

Vậy những con người đầu tiên xuất hiện trên trái đất này từ lúc lập Địa hay tái lập Địa đến bây giờ, phải là bao nhiêu triệu năm? Về điểm này sẽ được nói tới ở phần lời bàn nơi cuối đề tài này, trước đây, người ta đã phát giác ra những kiến trúc nhà cửa ở dưới đáy Đại-Tây-Dương rất là lâu đời rồi; mới đây, với sự tiến bộ của con người, các nhà Khoa-học khám phá ra những bộ xương hóa đá chôn vùi dưới đất của loài tương tự cá sấu gọi là SuperCroc mà các nhà cổ sinh vật học Pháp đã đặt cho chúng cái tên khoa học Sacosuchus imparator cách nay vài chục năm. Những con vật này có chân dài ba thước nhưng sống trên cạn, có niên kỷ cách nay 110 triệu năm, chúng sống đồng thời với những con vật Khủng long, và những con Titanosaurus.

Các nhà khoa học còn cho rằng Nam Mỹ-châu đã tách rời khỏi Phi-châu cách nay khoảng 70 triệu năm, vì họ tìm thấy các bộ xương hóa đá của cá sấu cùng loại tại Patagonia thuộc Argentina (Nam Mỹ châu) và Madagasca thuộc Phi-châu.

Nhưng xa hơn thế rất nhiều, các nhà Khoa-học Đức lại khám phá ra vỏ loài Sam biển hóa đá, nó đã xuất hiện trên trái đất với niên kỷ là 330 triệu năm rồi, thành ra sự truy nguyên về qúa khứ của các nhà khoa-học vẫn còn chưa rõ ràng.

Về sau, tuổi thọ của con người giảm xuống, có những thời kỳ tuổi thọ tăng lên, có những thời kỳ tuổi thọ giảm xuống, và bây giờ tuổi thọ trung bình của con người quá ngắn ngủi, khoảng 75 tuổi (Phật lịch: năm 2629, Dương lịch: năm 2006). Tuổi thọ của con người tuỳ thuộc vào ý nghĩ và hành động của con người. Ý nghĩ này không phải là ý nghĩ muốn sống lâu mà được, mà là ý nghĩ những việc thật thà, đạo đức, hay ý nghĩ gian dối lừa đảo, mưu mô độc ác. Ý nghĩ là đầu mối của hành động, ý nghĩ bằng tâm (óc, bộ não), hành động bằng thân (đầu, mình, tay chân và các bộ phận phụ thuộc thân) và khẩu (mồm miệng). Tâm nghĩ, thân làm, miệng nói, miệng cũng thuộc về thân, nên mới nói “Tâm nghĩ thân hành” (thân làm).

Nói chung là tâm thân hành của đa số con người tạo nên cộng nghiệp, cái cộng nghiệp này nó dẫn dắt tuổi thọ trung bình của con người, còn cái biệt nghiệp của mỗi người nó sẽ dẫn dắt chính người đó. Ví như ngày nay có người sống chín mươi tuổi, nhưng cũng có người chỉ sống năm mươi tuổi v.v... mà thôi.

Từ những niệm tham, sân, si dẫn dắt ý khẩu thân hành động, đưa đến qủa báo khổ não là sinh già bệnh chết, và đọa sinh vào sáu cõi; nghiệp báo trói chặt con người trong sáu nẻo phải đi qua, đó là: “Các cõi Trời, cõi Người, cõi A-tu-La (Thần), cõi Ma-Qủy, cõi Súc-sanh, và cõi Địa-ngục”.

Con người cứ thế sinh ra, già đi, bệnh tật, chết đi, trải dài theo thời gian lên bổng xuống chìm, tuỳ theo ý thân hành thiện hay ác của mỗi người, đó là tạo nghiệp; nghiệp dẫn dắt ta như hình với bóng không sao thoát ra khỏi, ngoại trừ những vị tu hành đạt đạo thì mới ra khỏi vòng luân hồi luẩn quẩn ấy mà thôi.

Đến đây: chúng ta không thấy nói tới vạn vật cây cỏ bắt đầu xuất hiện trên trái đất này từ lúc nào? Các loại cỏ thì được nói đến ngay khi các loại cây có hạt có vỏ có trấu xuất hiện thì các loại cỏ đồng thời xuất hiện. Và có lẽ các loại cây khác cũng với thời gian sau đó dần dần xuất hiện; riêng về các loài vật thì không thấy đề cập tới, nhưng nhận thấy con người từ khi tạo nghiệp báo, sinh khổ não đi đến già bệnh chết, rồi sinh vào sáu cõi khác nhau tùy theo ý khẩu thân hành việc lành dữ. Do đó các loài súc vật với thời gian sau đó dần dần xuất hiện trên trái đất này, còn những con vật đầu tiên của mỗi loài được sinh ra bằng cách nào? Người viết chưa được đọc về điểm này, nhưng được biết trong thiên nhiên cả thảy có bốn loại sinh, đó là:

(Còn tiếp).


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Dec 22 2011, 03:30 AM
Gửi vào: #38


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI


(Tiếp theo)

Toàn Không



- Hóa sinh:
Chúng-sanh đột nhiên mà có, bỗng nhiên xuất hiện, không qua giai đoạn phôi thai nào cả. Những chúng-sanh thuộc loại hóa sinh thường là vô hình như chư vị Trời, A Tu La, Ngạ-qủy v.v... và những người đầu tiên như đã nói ở trên.
Lại có những loài biến hóa sinh ra từ một loại khác như ve, bướm v.v... Loại này đời trước hay thay đổi lòng dạ, trước sau nói khác nhau, cố làm cố phạm. (Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, trang 22)

- Noãn sinh:
Là những chúng-sanh sinh từ trong trứng gồm có: Loài có lông vũ như gà, chim, loài bò sát như rùa, rắn, và loài sống với nước như cá; loại này, đời trước tham lam, mưu mô lừa đảo, kế hoạch cao thì làm chim, kế hoạch sâu thì làm cá. (Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, trang 21)

- Thai sinh:
Là những chúng-sanh sinh từ bào thai như người và các loài thú, đời trước tham đắm dâm dục; tham dục phải đạo thì làm người, tham dâm ngang trái thì làm thú bốn chân đi ngang.

- Thấp sinh:
Là những chúng-sanh sinh từ nơi ẩm ướt như vài loài côn trùng, muỗi mòng, vi khuẩn, vi trùng, gạo ẩm sinh mọt, cỏ mục sinh đom đóm, lúa sinh sâu... Đời trước tham ăn thịt uống rượu, lấy việc đánh đập, gây gỗ, ồn ào làm vui.

Trong quyển Đạo Phật và Khoa Học, trang 167, có thêm chi tiết như sau: “Noãn, Thai, Thấp, Hóa sinh đều lấy cái định nghiệp mà tương cảm nhau, cho nên cái định báo của chúng-sanh cũng tùy theo chỗ cảm mà ứng. Như loài sinh trứng thì ứng theo loạn tưởng mà sinh. Loài sinh thai thì ứng theo tình ái mà sinh. Loài Thấp sinh thì ứng theo hiệp mà sinh, tức là nương phụ với thấp khí. Loài Hóa sinh thì ứng theo Ly mà sinh, tức là bỏ đây tới kia. Xong , tình, tưởng, hiệp, ly trong bốn giới ấy vốn không nhất định, hoặc tình biến làm tưởng, hiệp biến làm ly, hoặc đổi làm tình, hoặc thấp đổi làm hóa. Vậy tùy nghiệp thọ báo, cũng có thứ bay mà trở lại làm thứ lặn, cũng có thứ lặn mà trở thành làm thú bay, như cá hóa rồng; đại để những truyện kỳ quái như vậy rất nhiều, thay hình đổi xác, quay lộn luôn luôn; vì thế, chúng-sanh có hoài không dứt”.

Trong quyển Thiền Đốn Ngộ do Hòa-Thượng Thích-Thanh-Từ dịch năm 1974, phần Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn, trang 146 lại ghi: “Vô minh là noãn sinh, phiền não bao bọc ở trong là thai sinh, nước ái đượm nhuần là thấp sinh, chợt khởi phiền não là hóa sinh (từ loài này hóa sinh loài khác)”.

Ta thấy là con người có mặt trên trái đất này trước các loài thực vật và các loài động vật. Nhưng những con vật đầu tiên thuộc loại noãn sinh và thai sinh trên trái đất này từ đâu mà có? Con gà, con chim, con rùa v.v... có trước hay cái trứng gà, trứng chim, trứng rùa có trước? Nếu những cái trứng có trước, cái gì sinh ra những cái trứng đầu tiên ấy? Người viết thiển nghĩ rằng những con vật đầu tiên ấy cũng là do hóa sinh mà ra. Kể cả những loài thai sinh cũng giống như vậy mà thôi.

Về nòi giống: chúng ta không thấy nói tới, đại loại trên thế giới này có mấy trăm nước và có rất nhiều tiếng nói khác nhau, ngay trong một nước cũng có nhiều thứ tiếng nói khác nhau, tại sao thế? Có lẽ rằng những nhóm chúng-sanh đầu tiên khi hóa sinh đến cõi này, ở những vùng cách biệt nhau nên phát sinh ra tiếng nói khác nhau; lại nữa, trên thế-giới này có những người da trắng, những người da vàng, những người da đen, tại sao vậy?

Có người muốn làm vui cho người khác, nên nói: “Thuở khai sinh lập địa, khi Thượng-Đế sinh ra con người bằng cách: Ngài nặn hai con người, một nam một nữ, xong Ngài bỏ hai con người ấy vào lò đốt lửa nung, lúc ấy Ngài ngủ quên nên không lấy ra kịp thời, khi nhớ ra hai người ấy đã bị cháy đen thui. Ngài bèn nặn hai người khác, rồi bỏ vào lò nung, lần này vì sợ cháy đen như lần trước Ngài lấy ra sớm qúa, nên trông còn trắng bệch. Thượng-Đế vẫn chưa vừa ý, nên nặn thêm hai con người nữa, Ngài tự nhủ, lần này Ta phải canh chừng để lấy ra cho đúng cho vừa ý, và qủa thật lần này Ngài nung được hai con người có nước da vàng vàng, không đen cũng không trắng đúng theo ý, Ngài nói: Thế là được rồi.

Bởi lẽ đó chúng ta mới có những người anh cả da đen, những người anh hai da trắng, và những người thứ ba da vàng. Ba cặp nam nữ này đã sinh con đẻ cháu nảy nở ra nhân loại trên trái đất này từ ngày đó đến ngày nay!”.

Trong những sự giải thích có lẽ lý do địa dư ảnh hưởng đến màu da con người, vì sau thời kỳ khai Thiên lập Địa hay tái lập Địa, trái đất trơ trụi. Những con người đầu tiên chịu biết bao khổ cực với thiên nhiên, phải dầm mưa dãi nắng bỏng cháy khét thân thể đầu tóc đối với con người sống ở vùng Xích-đạo như Phi-Châu, Ấn-Độ, Nam Mỹ. Con người phải chịu cái lạnh thấu xương tại vùng Bắc-Cực, Nam-Cực, mặt trời chiếu tới rất ít. Những khí hậu khác biệt ấy đã tạo nên màu da khác biệt của con người tiền sử và truyền lại nhân loại hiện tại (?)

Mặt khác, nên để ý rằng những chúng-sanh sinh ra đầu tiên không phải được sinh ra tại một nơi hay một vùng, mà đã được sinh ra ở nhiều nơi khác nhau trên mặt địa cầu này; ngoài ra, các chúng-sanh sinh tới cõi Quang âm Thiên trước kia có lẽ đã từ nhiều nơi (nhiều thế-giới) khác nhau hóa sinh tới đó, về sau các chúng-sanh hóa sinh đến cõi Phạm Thiên cũng có thể từ nhiều nơi khác nhau tới và sau khi chết đi đã sinh đến trái đất này; những điều trên đây có thể giải thích những sự khác biệt của các chủng tộc khác nhau tại thế-gian này.

Một điểm nữa được suy ra là trong thời kỳ đầu tiên của con người, chưa có phát minh ra lửa, nên chỉ là ăn sống không có thức ăn nấu nướng chín. Có lẽ sau đó có những vụ cháy rừng do các loại cỏ cây khô, con người mới biết tới lửa. Chưa có các đồ dùng như nồi niêu bát đĩa, chén đũa dao thớt v.v.., mà phải dùng hai bàn tay. Chỗ ở chỉ là hang ổ lều nhỏ thô sơ để trú thân, mà vật liệu là rơm rạ cỏ cây. Cũng không có quần áo che thân, mà phải dùng cỏ lá rơm rạ bó kết lại che thân. Thức ăn chỉ là ăn các loại hạt, lá, hoa qủa v.v... từ thực vật mà thôi.
Được biết, để giúp chúng sanh sống còn và tăng trưởng, ta thấy có bốn cách ăn như sau:

- Đoàn thực: Ăn từng miếng, từng nắm, từng cục. Đây là cách ăn của loài người và các loài vật.

- Xúc thực:
Ăn bằng tiếp xúc, xúc chạm, như Quỷ Thần tiếp xúc với vật thực thì đủ no; cũng gọi là Cảnh lạc thực, như quần áo, hương hoa, cùng thiên nữ vui vầy khiến vui no đủ.

- Niệm thực:
Cũng gọi là Tư thực, ăn bằng ý suy nghĩ, tư tưởng, các cõi Trời Sắc-giới lấy thiền định, hỷ lạc làm vị ăn.

- Thức thực:

Ăn bằng thức phân biệt, niệm hiểu, ý biết; các tầng Trời vô Sắc-giới và chúng-sanh trong Địa-ngục đều lấy thức duy trì sinh mạng. (Trường A-Hàm, quyển 2, trang 402).

Về sau, sống với hoàn cảnh, cọ sát với thực tế, dần dần trải qua thời gian lâu dài, con người đã khám phá, phát minh và tạo ra rất nhiều thứ để làm cho cuộc sống được tốt đẹp hơn về vật chất; còn vấn đề tinh thần đạo đức mà ai cũng biết là cần thiết, nhưng phần lớn chỉ được dàn dựng lên bằng những lớp vỏ bề ngoài hào nhoáng, mà thực ra bên trong có nhiều vụ lợi, thiếu chân thật. Con người càng ngày càng có mưu thâm độc sâu, kế hiểm ác cao, nên nghiệp qủa càng ngày càng sâu dày nặng nề vậy. (Tạp A-Hàm, Q 2, trang 70: Bốn cách ăn)

LỜI BÀN VỀ TUỔI THỌ TỐI ĐA:

Trường-A-Hàm quyển 2, trang 477 ghi:
“Thế nào là kiếp đao binh? Nghĩa là con người ở thế gian này vốn sống 40,000 (bốn vạn) tuổi, sau đó giảm dần còn sống hai vạn tuổi, và tiếp tục giảm xuống còn một vạn tuổi, một ngàn tuổi, năm trăm tuổi, ba trăm tuổi, hai trăm tuổi. Như ngày nay (thời Phật còn tại thế) con người sống trăm tuổi, tăng ít, giảm nhiều; nhưng về sau, tuổi thọ con người giảm dần, chỉ còn 10 (mười) tuổi là dừng lại”.

Quyển Đường Về Bến Giác của Hòa-Thượng Thích-Thanh-Cát, trang 78 ghi: “Theo luận Trí Độ thì người ta thọ từ 10 tuổi, cứ trăm năm lại tăng một tuổi, cứ tăng mãi cho tới khi nào thọ 84,000 tuổi mới thôi...”; theo quyển Nhị Khóa Hiệp Giải thì lại lấy 80,000 năm là tuổi tối đa để tính ra Kiếp và Đại kiếp, như vậy chúng ta không chắc chắn tuổi thọ tối đa của loài người là bao nhiêu.

Tuy nhiên trong sách này người viết cũng phải lấy con số 84,000 năm làm tuổi tối đa (như quyển Đường Về Bến Giác đã ghi) để tính số năm của kiếp, đại kiếp. Nếu sau này có sự khám phá ra số tuổi thọ tối đa của con người có sự khác biệt với con số tối đa 84,000 năm nêu trên, thì số năm trong một kiếp, trung kiếp, đại kiếp, v.v... trong sách này phải thay đổi theo.

LỜI BÀN: Tuổi thọ con người có đang giảm xuống không?

Ngày nay khoa học đang tiến bộ, kể cả ngành Y khoa mà ai cũng thấy; vậy mà đạo Phật lại nói ngày nay đang vào thời kỳ giảm tuổi thọ dần dần cho tới 10 tuổi thọ, vậy liệu có đúng không? Thật là khó trả lời rõ ràng, nhưng chúng ta thấy rằng:

1)- Hồi đức Phật còn tại thế, tuổi thọ trung bình là 100, đến nay đã 25 thế kỷ, 100 năm giảm một tuổi, tức giảm đi 25 tuổi. Chắc mọi người cũng đồng ý là tuổi thọ trung bình của con người bây giờ là 75, vì hồi ấy có người sống 120, 130 và cho đến 140 tuổi mà ngày nay không thể có.

2)- Hiện tại tuổi thọ trung bình là 75 tuổi, nhưng vẫn có người sống 100 tuổi hay hơn nữa, thế thì khi tuổi thọ giảm xuống còn 50 tuổi vẫn có người sống tới 70 hay 80, khi tuổi thọ giảm xuống còn 25 tuổi vẫn có người sống tới 40 hay 50 tuổi v.v...

(Còn tiếp).


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Dec 30 2011, 11:24 PM
Gửi vào: #39


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

(Tiếp theo)

Toàn Không


3)- Mặc dù khoa học tiến bộ, nhưng vì chính những cái tiến bộ đã làm ô nhiễm bầu khí quyển và môi trường sinh sống của con người; chính những hệ thống đông lạnh, máy lạnh đã làm hoại dần vòng o-zone của bầu khí quyển che chở cho trái đất. Chính những nhà máy, xe cộ các loại tỏa khói độc hại buồng phổi con người. Chính những chất hóa học thải ra từ việc làm ra cái này cái nọ đang thải vào các dòng sông và lan dần cùng khắp mặt địa cầu tác hại đến sức khỏe con người và muôn vật. Như các loài vật ăn, loài cây cối hấp thụ, loài cá sống trong các chất hóa học, chất độc, rồi con người ăn thịt loài vật, loài cá hay rau qủa ấy thì sẽ sinh bệnh. Chính các lò nguyên tử là nguồn gốc thải dần những phóng xạ đến khắp mọi nơi v.v..., đó là chưa kể đến chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra; do đó, phần lớn những việc làm có tính cách tiến bộ để phục vụ con người lại là nguồn gốc của sự hại mạng sống lâu dài của con người vậy.

4)- Đồng ý rằng y khoa tiến bộ rất nhiều, nhưng thử hỏi ngành y tế có thể đương đầu với những tai hại do tiến bộ khoa học kể trên gây ra không? Bởi vì mỗi ngày sinh ra bệnh mới có thể do những thứ nêu trên gây ra, mà chúng ta không thể tiên đoán trước được.

5)- Con người càng ngày càng bôi bác gian dối, mưu trí tệ hại, giết người vui thích, huà với nhau bắt nạt kẻ yếu, hại người ngay trong vui thích. Tỉ như muốn có quyền lợi, thương lượng không được, bèn dùng mưu kế dàn dựng nên tội, rủ kẻ khác cùng nhau hiệp lực thanh toán, mặc cho máu có đổ, xương có chất thành núi đi nữa vẫn vui vẻ v.v…; như vậy làm sao mà tuổi thọ không giảm?

LỜI BÀN: Khi nào Phật Di-Lặc ra đời?

Một số người đang chuẩn bị đón Phật Di-Lặc ra đời, thật là tức cười, họ chính là người đang mò trăng đáy nước; quyển Nhị Khóa Hiệp Giải ghi: “Trong Hiền kiếp này, tức trong Trung kiếp Trụ này, hiện nay đang ở kiếp thứ 9, tới kiếp thứ 10 , khi mà giảm xuống đến thuở con người còn sống được 8 vạn tuổi là đức Phật Di Lặc ra đời”. Nguyên tắc tính số năm là thời kỳ đang giảm tuổi thọ (ở kiếp thứ 9 này) từ thời Phật Thích-Ca, con người sống trung bình 100 tuổi. Bây giờ, sau 2550 năm (tính từ khi Phật nhập Niết-Bàn), con người trung bình sống 75 tuổi thọ, cứ 100 năm giảm một tuổi. Như vậy số năm cần thiết để giảm xuống tới 10 tuổi thọ là: (75 - 10) x 100 = 6500 năm. Số năm cần thiết để tăng tuổi thọ con người (cũng ở kiếp thứ 9) từ 10 tuổi lên 84,000 là: (84,000 - 10) x 100 = 8,399,000 năm. Số năm cần thiết để giảm tuổi thọ từ 84,000 xuống còn 80,000 (ở kiếp thứ 10) là lúc Phật Di-Lặc ra đời là: (84,000 - 80,000) x 100 = 400,000 năm. Cộng ba con số năm trên, chúng ta có thể biết đức Phật Di-Lạc sẽ ra đời vào khoảng: 6500 + 8,399,000 + 400,000 = 8,805,500 (tám triệu tám trăm linh (lẻ) năm nghìn năm trăm) năm nữa.

LỜI BÀN: Khi nào tận thế?

Không khó khăn để biết ngày tận thế mà nhiều người đã qúa lo lắng, nhất là những người ngoại đạo, không biết họ nghe lời tiên tri từ đâu mà họ cho rằng năm 2000 Dương lịch vừa rồi là tận thế; tội nghiệp! Họ đã lo lắng cùng cực, cầu nguyện ngày đêm, cho đến khi chẳng thấy gì xảy ra cả! Để biết rõ ngày tận thế, chúng ta thử làm con toán:
- Trước hết chúng ta đã có con số năm từ nay đến hết kiếp thứ 9 này là 6500 + 8,399,000 = 8,405,500 năm như trên đã tính.
- Từ kiếp thứ 10 đến hết kiếp thứ 20 của Trung kiếp Trụ này là 11 kiếp nữa thì bắt đầu vào thời kỳ Hoại của trái đất, chứ không phải hoại của mặt trời, mỗi kiếp là (84,000 - 10) x 100 x 2 = 16,798,000 năm; như vậy số năm trong 11 kiếp là 16,798,000 x 11 = 184,778,000. Do đó số năm để trái đất này sẽ chết (tạm thời, vì sẽ tái lập địa) là vào khoảng: 8,405,500 +184,778,000 = 193,183,500 (một trăm chín mươi ba triệu một trăm tám mươi tư nghìn năm trăm) năm, vì đại tai sẽ trình bày ở một mục sau.

LỜI BÀN: Các Cụ Tổ loài người có từ bao giờ?

Như vậy, thời gian từ lúc tái lập địa tới nay là bao lâu? Chúng ta có thể tính như sau: Trung kiếp Trụ có 20 kiếp, cho đến nay ta đang ở kiếp thứ 9 giảm tuổi, như vậy, trong 8 kiếp trước ta có: một kiếp x 8 = 16,798,000 x 8 = 134,384,000 năm, cộng với số năm từ đầu kiếp thứ 9 đến nay là (84,000 - 75) x 100 = 8,392,500 năm, thì ta có: 134,384,000 + 8,392,000 = 142,776,500 năm; đó là thời gian từ lúc tái lập địa đến giờ, và cũng là lúc mà các ông Tổ các bà Tổ loài người xuất hiện vậy.

Về khoa học thì sao?

1)- Trong quyển Những Nguồn Gốc (Origins), trang 236 ghi: “Hệ thống mặt trời và trái đất được thành lập khoảng 4.6 tỉ năm, sau 600 triệu năm thì ổn cố và xuất hiện đời sống trên trái đất”; lại có nhà khoa học nói đời sống khởi thủy ít ra cũng vài chục triệu năm rồi.

2)- Quyển Đạo Phật và Khoa Học,trang 270, ghi:
- Các nhà khoa học cho rằng vào thời kỳ xuất hiện đột nhiên (Cambrian Explosion) là thời kỳ mà các chủng loại khác nhau có mặt bất ngờ. Thời kỳ các lớp đá xuất hiện từ động vật hóa thạch cổ xưa cách nay 545 triệu năm, các nhà khảo cổ còn cho rằng đã có nhiều sinh vật khác nhau đã được sinh ra từ cả tỉ năm phần lớn sống trên đại dương và các vùng thấp, những sinh vật đầu tiên này có cơ thể mềm yếu không tồn tại lâu dài và không hóa đá được.

3)- Theo tài liệu cổ của nhân chủng học trong quyển Đạo Phật và Khoa Học, trang 325 ghi:
Về động vật: Sự sống cách đây 4 tỉ năm, loài có vú đàu tiên cách đây 50 triệu năm.
Lại có khoa học gia tìm thấy trong lớp địa tầng ở Phần-Lan có bằng chứng về sự sống cách nay 3 tỉ 850 triệu năm từ những hạt khoáng chất do vi sinh vật tạo nên.
Về thực vật: Trước kia các nhà khoa học nghiên cứu về hóa thạch cho rằng loài thực vật có trên trái đất vào khoảng 425 triệu năm.
Nhưng mới đây Tiến sĩ Blair Hedges trưởng nhóm nghiên cứu của trường đại học Pensylvania Hoa-Kỳ nói là loài nấm đất có từ 1.3 tỉ năm, loài rêu có từ 700 triệu năm; ông nói rằng thuở ấy trái đất còn bao phủ bởi băng hà, và sự có mặt của thực vật đã làm tăng lượng oxy và giảm lượng carbon dioxides trong khí quyển. Hiện tượng này kéo dài hơn 100 triệu năm, cho đến cách đây 530 triệu năm là thời kỳ băng hà chấm dứt; những loại động vật đầu tiên xuất hiện, được gọi là thời đột xuất Cambri Explosion; chính sự phong phú hiện diện của thực vật đã làm lượng oxy tăng lên đủ để động vật phát triển xương và có thân hình to lớn.

4)- Các nhà Nhân chủng học ngành huyết thống (đạo Phật và Khoa Học trang 262) cho rằng có hai chủng loại khác nhau:
- Chủng loại Lucy có 4 loại khác nhau cách đây từ 1 tới 4 triệu năm. Chủng loại Lucy đã tìm thấy bộ xương sọ ở Hadar, Phi châu.
- Chủng loại Homo cũng có 4 loại khác nhau cách đây từ 1 tới 3 triệu năm.
Năm 1980, Allan Wilson, Rebecca Cann, và Mark Stoneking đưa ra bằng chứng về Vi Năng tử DNA để nói rằng bà Tổ loài người xuất phát từ Phi-Châu cách đây 200,000 năm, rồi một số di cư tới Âu-Châu (Đạo Phật và Khoa Học, trang 265).
Nhưng giả thuyết này bị chống đối, nhà khoa học gia Ayala cho rằng người đàn bà Phi-Châu không thể coi là thủy tổ của tất cả nhân loại, mà di tử được truyền thừa từ nhiều tổ tiên chứ không phải một hay một số ít tổ tiên.

5)- Ông Robert L Drit thuộc đại học Yale Hoa-Kỳ tìm nguồn gốc tổ tiên bằng cách hoán chuyển Di-tử (Gene Mutual) trong những đoạn đặc biệt của dây nhiễm sắc (Chromosome Y), là những dây di truyền từ cha đến con. Bằng cách hoán chuyển với một tỉ lệ ngược thời gian nhiều thế hệ đến một điểm mà nhân loại có một ông tổ chung; ông tính ra là 270,000 năm (Đạo Phật và Khoa Học, trang 267).
Nhưng ông Mike Hammer nói rằng ông Dorit chỉ nghiên cứu 38 người trên thế giới chưa đủ, cần nghiên cứu nhiều người khác nữa trên thế giới.

6)- Christ Turner 2, Giáo sư Nhân chủng học đại học Arizona Hoa-Kỳ nghiên cứu 250,000 chiếc răng cho rằng người tiền sử, nói rằng nếu con người hiện đại chỉ xuất hiện ở một nơi, thì nơi đó phải là vùng Đông Nam Á châu, vì những yếu tố ông thâu thập được chứng minh như thế (Đạo Phật và Khoa Học trang 269).

Nhưng Chris Stringer, trưởng toán nghiên cứu nguồn gốc loài người tại Viện Bảo Tàng Lịch-sử thiên nhiên ở Luân-Đôn không đồng ý và cho rằng yếu tố thâu thập về răng chỉ chứng tỏ rằng Á-Châu là nơi di cư tản mát của loài người sau khi xuất phát từ Phi-Châu.

LỜI BÀN VỀ KHOA HỌC:

Xem vậy, lâu lâu các nhà khoa học lại khám phá ra một điều mới lạ có liên quan đến nguồn gốc loài người, loài vật và thực vật; nhưng xem ra chưa phải là kết quả cuối cùng, thậm chí điều khám phá ra sau lại trái với điều khám phá ra trước, nhất là các con số đưa ra, làm cho người đọc lẫn lộn, bối rối, vì chưa rõ ràng. Có người bảo các nhà khoa học như những người mù sờ voi chỉ trúng một phần thôi chứ không trúng hết, nói vậy cũng là qúa khe khắt, dù sao, họ cũng đang chứng minh bằng khoa học thực nghiệm được một phần nào mà đức Phật đã dạy trước kia như có những sinh vật nhỏ bé trong nước, vũ trụ vô biên, thế giới vô số v.v....,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jan 5 2012, 12:00 AM
Gửi vào: #40


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TẠI SAO CÓ NGƯỜI ĐẸP,
CÓ NGƯỜI SỐNG LÂU?


Toàn Không


Nghiệp là kết qủa sự tổng hợp của các hành động trong quá khứ và hiện tại của con người, chính chúng ta phải lãnh trách nhiệm về những hành động trước của chúng ta. Chúng ta gặt hái quả tốt hay xấu tuỳ thuộc sự gieo nhân lành hay ác của chính chúng ta. Chính ta tạo ra Thiên-đường hay Địa-ngục cho ta, không ai đưa ta lên Niết Bàn được, cũng không ai đẩy ta xuống Địa ngục cả. Tất cả chúng-sanh đều mang theo cái nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như chỗ nương tựa. Chính vì cái nghiệp riêng biệt của mỗi người mỗi khác, nên mới có sự khác biệt giữa người này và người kia.

1) Nhân qủa.
Sau đây là một số câu hỏi và trả lời có liên quan đến nghiệp qủa của đời sống con người:

1- Tại sao có người đời sống ngắn ngủi, có người hưởng tuổi thọ lâu dài?
Những kẻ mà kiếp trước hay sát sinh, hung dữ, cực ác, uống máu, uống mật, ăn gan, ăn thịt chúng-sanh, cố ý sát hại chúng-sanh. Những kẻ ấy lại còn dạy bảo người sát sanh, khen ngợi sự sát sanh, thấy người khác giết người hại súc vật, sinh tâm vui thích, và mang tâm niệm xấu xa ác độc đối với chúng-sanh. Những kẻ ấy thọ lấy nghiệp ấy, tạo tác đầy đủ rồi, đến khi chết đi, chắc chắn đi đến chỗ dữ, sinh vào Địa-ngục rất lâu dài (trăm nghìn năm), chịu vô kể cực khổ; mãn kiếp Địa-ngục, lại được sinh vào nhân gian, sống đời sống ngắn ngủi.
Ngược lại, những người mà kiếp trước không sát sanh, không bảo người sát sanh, thấy người khác sát sanh khởi tâm thương xót và ngăn cản chê bai kẻ sát sanh; những người ấy có tâm từ-ái, và làm lợi ích mạng sống của tất cả chúng-sanh mọi loài. Những người ấy tạo nghiệp lành này, thọ nghiệp này đầy đủ, khi qua đời, chắc chắn đến cõi lành, sinh lên cõi Trời, sống rất lâu dài; khi mãn kiếp ở cõi Trời, người ấy lại sinh vào nhân-gian, và cũng lại có tuổi thọ lâu dài.

2- Tại sao người sinh vào gia đình thấp hèn, người sinh vào gia đình danh giá?
Người có tính kiêu ngạo, ngã mạn, không tôn trọng người đáng tôn kính, khinh người, và không biết phục thiện; người ấy thọ nghiệp này rồi, tạo tác đầy đủ, đến khi chết, đi đến cõi dữ; mãn kiếp tại cõi dữ rồi, tái sinh vào nhân gian làm người đê tiện thấp hèn.
Người không ngã mạn kiêu ngạo, luôn luôn nhã nhặn lễ độ, biết tôn trọng người đáng tôn kính, và biết phục thiện; người ấy thọ nghiệp này, tác thành đầy đủ rồi, khi qua đời, tiến đến chỗ lành ở cõi Trời hoặc cõi Người nơi gia đình sang trọng quyền qúy. Nếu sinh lên cõi Trời, hưởng cuộc đời sung sướng rất lâu dài. Khi mãn kiếp ở cõi Trời, tái sinh vào cõi Người nơi gia đình quyền quý sang trọng.

3- Tại sao có người giàu, kẻ nghèo?
Do người nào không bố thí từ tiền bạc, của cải, thực phẩm, cho đến lời chỉ bảo lợi ích; người ấy luôn luôn keo kiết ích kỷ, và không có lòng thương kẻ nghèo nàn khốn khổ; người ấy thọ nghiệp này, tác thành đầy đủ rồi, đến khi chết, sinh vào nơi dữ; mãn kiếp tại nơi dữ, tái sinh vào nhân-gian, sống cuộc đời nghèo nàn thiếu thốn không của cải.
Ngược lại, người ưa làm bố thí từ tiền bạc, của cải, cho đến các lời chỉ bảo lợi ích; người ấy có lòng quảng đại đối với mọi người, và có tâm thương người nghèo khó; do lòng quảng đại rộng rãi, người ấy thọ nghiệp này, tác thành đầy đủ, đến khi qua đời, sinh vào cõi Trời. Mãn kiếp ở cõi Trời rồi, tái sinh vào nhân-gian, người ấy tạo được nhiều của cải, và trở nên giàu có.

4- Tại sao có người vợ con bị hại, người vợ con không ai xâm phạm?
Nếu kẻ quen thói tà dâm, hay làm điều tà dâm như cướp vợ người khác, hãm hiếp đàn bà con gái v.v.., kẻ ấy sau khi chết sẽ sinh vào cõi ác; mãn kiếp ở cõi ác rồi, tái sinh vào nhân gian, có vợ con bị người khác xâm phạm tiết trinh.
Ngược lại, nếu người không hề làm điều tà dâm, không dạy bảo người làm điều tà dâm, thấy người làm điều tà dâm không sinh tâm vui thích; người ấy sau khi qua đời, nếu sinh vào cõi Người có vợ con hiền hòa, xinh đẹp, thuận thảo, không bị người khác trêu chọc xâm phạm tiết hạnh.

5- Tại sao có kẻ hay gặp tai họa về tiền của, người không bị mất mát gì?
Những kẻ hay quen thói trộm cướp, cắp vặt, thích thú trong việc trộm cướp, cắp vặt, và luôn luôn nghĩ mưu kế để lừa đảo, cắp vặt dù đó là của công hay của tư. Mỗi khi trộm cướp lừa đảo cắp vặt thành công, người ấy sinh tâm thích thú vui mừng; những kẻ ấy thọ nghiệp này rồi, tác thành đầy đủ, khi chết đi, sinh vào ba đường ác; mãn kiếp ở đường ác rồi, tái sinh vào nhân-gian, làm người thường có tai họa về tiền bạc, của cải hay bị mất mát.
Trái lại, những người không hề lừa đảo, trộm cướp, cắp vặt; không bảo người khác lừa đảo, trộm cướp, cắp vặt; không vui mừng khen ngợi khi thấy người khác lừa đảo trộm cướp, cắp vặt dù của công hay của tư cũng vậy; những người đó sau khi qua đời, sinh vào chỗ thiện, nếu sinh làm người thì tiền bạc của cải không thất thóat mất mát.

6- Tại sao có kẻ thường bị người khác chê, người được người khác khen?
Nếu có người thường hay quen thói nói dối, dậy bảo người khác nói dối, và khen ngợi vui mừng khi thấy người khác nói dối, người ấy sau khi chết, sinh vào cõi dữ. Mãn kiếp ở cõi dữ rồi, tái sinh làm người, người ấy sẽ bị những người khác chê bai dè bỉu đủ thứ.
Những người không nói dối, không bảo người khác nói dối, không khen, không vui khi thấy người khác nói dối; người này sau khi qua đời, sinh đến cõi lành, nếu sinh vào cõi Người sẽ được nhiều người khen ngợi.

7- Tại sao kẻ thường bị chống đối, người được người khác thuận hòa?
Những kẻ có thói quen nói hai lưỡi, hay đâm thọc, ly gián, và làm cho những người khác ghét nhau, thù nhau, hại nhau, và giết nhau; những kẻ này sau khi chết, sinh vào đường ác, khi mãn kiếp ở cõi ác, tái sinh làm người bị thân quyến, bạn bè xa lìa chống đối.
Ngược lại, những người không hề nói hai lưỡi, không bảo người khác nói lời đâm thọc, chê bai khi thấy người khác nói lời ly gián; những người này sau khi qua đời, sinh vào chỗ lành, nếu sinh làm người thì gia đình vợ (chồng) con đoàn tụ vui vẻ; anh em, bà con, bạn bè thương yêu gắn bó

8- Tại sao kẻ thường phải nghe tiếng xấu xa, người được nghe lời êm dịu?
Kẻ quen nói những lời thô lỗ, độc ác, như lời nguyền rủa, lời chửi mắng thậm tệ, và lời nhiếc mắng tàn nhẫn; kẻ này sau khi chết đi, sinh vào cõi ác, nếu tái sinh làm người, thường phải nghe những lời xấu xa ác độc, không sao tránh khỏi được.
Trái lại, người suốt đời không nói lời độc ác, không dạy bảo người khác nói lời độc ác, và chê bai khi nghe thấy người khác nói lời độc ác, như can ngăn người hay chửi rủa nhiếc mắng người khác một cách thậm tệ; người này sau khi qua đời, nếu sinh lại làm người thì thường được nghe những lời êm dịu ngọt ngào.

9- Tại sao người này nói không ai tin, người khác nói có nhiều người nghe?
Những kẻ thích nói lời thêu dệt, như có một nói mười có mười nói một; những kẻ ấy nói không đúng sự thật, và làm cho những người khác nghi ngờ xích mích, hằn thù nhau vì những lời nói thêu dệt của mình; những kẻ này sau khi chết đi, sẽ sinh vào ác xứ. Đến khi mãn hạn ở ác xứ, tái sinh vào nhân-gian, làm người thì lời nói không được tin dùng, đề nghị chẳng có ai nghe theo.
Ngược lại, những người không bao giờ nói lời thêu dệt, không bày vẽ cho người khác nói thêu dệt, và cũng can ngăn khi thấy người khác nói thêu dệt; sau khi qua đời, nếu những người ấy tái sinh làm người, thì lời nói sẽ được người khác tin dùng, và lời đề nghị sẽ được mọi người nghe theo.

10- Tại sao có người đần độn ngu si, có người lanh lẹ thông minh?
Người nào không chịu học hỏi, tìm hiểu, nghiên cứu; không chịu gần người có tài đức để học hỏi các điều phải trái, lành ác; giả thử người ấy có học hỏi, nhưng không thực hành theo lẽ phải đã được chỉ dẫn. Người ấy sau khi chết nếu được tái sinh làm người sẽ có đầu óc đần độn ngu si dốt nát.
Mặt khác, người thích học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi; ưa gần gũi người tài đức để học hỏi các điều phải trái, thiện ác. Học hỏi rồi, người ấy ghi nhớ và thường thực hành; người ấy thọ nghiệp này, tác thành đầy đủ rồi, đến khi qua đời, tiến đến chỗ lành, sinh vào cõi Trời hay cõi Người là người hiểu biết mau lẹ, trí óc thông minh.

11- Tại sao có người mặt xấu xa, có người đẹp đẽ dễ yêu?
Nếu kẻ hay thô lỗ, cộc cằn, luôn luôn giận dữ, nhăn nhó, khó chịu. Kẻ ấy hay gây gỗ, và tìm đủ cách để gây thù kết oán. Do sự giận dữ, cộc cằn ấy, sau khi chết, nếu tái sinh làm người sẽ có thân hình, mặt mũi xấu xí. Nếu người thanh tao nhã nhặn, không hề giận dữ gây gỗ với bất cứ ai, do kết qủa của sự thanh tao và không giận dữ cộc cằn ấy, sau khi qua đời, nếu tái sinh lại nhân-gian, người ấy sẽ có thân hình rất đẹp đẽ, mặt mũi dễ yêu.

12- Tại sao kẻ không ảnh hưởng được ai, có người làm gì cũng có người theo?
Kẻ nào hay đố kỵ, thèm muốn lợi danh của người khác, và luôn luôn chấp chứa lòng ganh tị với kẻ khác, do kết qủa của tính tật đố ganh tị ấy, sau khi chết, nếu tái sinh làm người, sẽ là người không có ảnh hưởng, nói gì, làm gì cũng không có người theo.
Ngược lại, người nào không có tính tật đố, không thèm muốn lợi danh của người khác, và không chứa chấp lòng ganh tị, do lòng không tật đố, không ganh tị, và không thèm muốn ấy, sau khi qua đời, nếu sinh lại vào cõi Người, sẽ là người có thế lực, nói gì, làm gì cũng có người theo.

2) Những điểm cần biết về nghiệp.

1- Nghiệp hiện tại nhãn tiền.
Có trường hợp qủa xẩy ra ngay sau khi nhân đã gieo, có hai loại:
- Qủa lành trổ trong kiếp hiện tại:
Có hai vợ chồng nhà kia rất nghèo, chỉ có một cái áo, khi chồng có việc đi đâu, cần áo mặc vợ phải ở nhà; ngược lại, nếu vợ cần đi chồng phải ở nhà.

Một hôm, người chồng đi nghe thuyết pháp, lấy làm vui vẻ thỏa thích, ông nảy sinh ra ý muốn cúng dàng đức Phật chiếc áo duy nhất ấy, nhưng ông lại sực nhớ tới người vợ ở nhà. Sau khi nghe thuyết pháp xong, ông bèn lễ chào Phật rồi ra về; vừa tới nhà, ông bèn nói những gì Phật đã thuyết pháp giảng dạy cho người vợ nghe, xong ông nói ý định cúng dàng chiếc áo cho Phật. Người vợ sau khi nghe hoan hỷ nói:
- Sao ông không cúng dàng ngay, còn về hỏi tôi làm gì? Ông hãy: mau mau đem chiếc áo đến cúng dàng đi, chúng ta không cần đi đâu cả, chúng ta sẽ tạo ra chiếc áo khác sau này.
Được vợ đồng lòng và khuyến khích như thế, người chồng vội vã đem chiếc áo ấy đến cúng dàng đức Phật, trong khi ông ta ở trần!

Câu chuyện này lọt đến tai Vua, Vua lấy làm cảm động, Ngài liền truyền lệnh ban cho vợ chồng ấy ba mươi hai bộ quần áo mới. Hai vợ chồng nhà kia chỉ lấy mỗi người một bộ quần áo, còn lại bao nhiêu họ đem cúng dàng Phật!

(Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

9 Pages: V < 1 2 3 4 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 17th September 2019 - 11:11 PM