IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

9 Pages: V < 1 2 3 4 5 > »   
Reply to this topicStart new topic
> NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI, (TÔN GIÁO)
kimngan
post Jan 12 2012, 08:47 PM
Gửi vào: #41


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TẠI SAO CÓ NGƯỜI ĐẸP,
CÓ NGƯỜI SỐNG LÂU?


Toàn Không



- Qủa dữ trổ trong kiếp hiện tại:

Một người thợ săn dắt bầy chó dữ vào rừng kiếm súc vật, gặp một tu-sĩ đang đi tới trên đường; đi cả buổi không săn được gì, người thợ săn lấy làm bực tức cho rằng vì gặp đạo sĩ lúc đi giữa đường nên xui xẻo. Đến khi trở về cũng lại gặp đạo sĩ ấy nữa, người thợ săn nổi giận nói:

- Vì sáng nay ta đi săn gặp ngươi nên xúi quẩy, không bắt được con mồi nào phải về không! Cho ngươi biết tay ta .

Rồi hắn xua đàn chó cho cắn, mặc dù vị tu-sĩ năn nỉ rằng:
- Không phải gặp tôi mà anh xui xẻo, xin anh đừng xua chó cắn tôi.

Nhưng người ấy không bớt tức giận, vẫn xua chó xông tới cắn; không còn cách nào khác, vị tu-sĩ liền tức tốc chạy và trèo lên cây gần đấy để tránh bầy chó dữ; người thợ săn trông thấy thế, cơn giận càng gia tăng, bèn chạy đến gốc cây dương cung bắn lên trúng nơi chân vị tu-sĩ. Trong lúc đau đớn và sợ hãi mất bình tĩnh, vị tu-sĩ đánh rơi cái áo choàng ngoài đang cầm nơi tay. Chiếc áo choàng rộng rớt xuống trong gió tung bay chùm lên đầu mình người thợ săn. Bầy chó dữ thấy một người đang lúng túng trong chiếc áo choàng, chúng ngỡ là vị tu-sĩ, nên áp lại cắn chủ mình!

2- Vì sao có khi qủa trổ trái ngược với nhân đã gieo?

Nhân lành tạo qủa lành, nhưng nếu đã gieo nhân lành mà còn hối tiếc, thì qủa trổ không được tương xứng với nhân đã gieo; quyển Đức Phật và Phật Pháp do Phạm-Kim-Kánh dịch, trang 396 viết:

Một hôm, vua Ba-tư-Nặc nước Xá-Vệ đến viếng đức Phật và thưa rằng:

- Thưa đức Thế-Tôn, tại thành Xá-Vệ có một người giàu có vừa qua đời mà không có người thừa kế. Vì lẽ ấy, tất cả tài sản của ông ta gồm hàng trăm thoi vàng, hàng nghìn nén bạc, ruộng đất, nhà cửa, và các bảo vật của cải khác, đều được sung công vào kho của nhà nước. Thưa đức Thế-Tôn, người giàu có ấy, khi còn sinh tiền sống thật là kham khổ, ăn chỉ cơm hẩm (gạo cũ rẻ tiền) với muối tương cà; mặc chỉ dùng vải thô may bằng chỉ gai; còn di chuyển chỉ có một cái xe cũ kỹ với con ngựa gầy còm ốm yếu.

Đức Phật bảo Vua :

- Mặc dầu vậy, trong một tiền kiếp người giàu có ấy thường để bát cúng dàng một vị Độc-Giác Phật. Tuy để bát cúng dàng, nhưng ông không hề quan tâm đến công đức ấy. Ông ngồi chễm chệ trên ghế kêu người làm mà bảo: “Hãy đem thức ăn ra cho vị đạo-sĩ “, rồi ông đứng dậy bỏ đi. Ông lại có ý hối tiếc vì đã bố thí và tự nói thầm: “Phải chi ta để dành thức ăn ấy cho kẻ ở người ăn trong nhà còn hơn”; ngoài ra, ông còn giết chết một người con của em ông để chiếm đoạt tài sản.

Do qủa lành của sự bố thí cúng dường, ông tái sinh bẩy lần trong cõi Trời. Cũng do qủa lành ấy, ông tái sinh bẩy lần làm người giàu có tại thành Xá-Vệ này. Vì ông đã hối tiếc về sự cúng dàng, nên mặc dù giàu có, ông không được toại hưởng sự nghiệp vĩ đại ấy. Ăn không dám ăn ngon, mặc không dám mặc đẹp, ông luôn luôn lo sợ hết của, nên không dám dùng tiền để tạo tiện nghi cho đời sống vật chất.

Vì đã giết chết một người con của em để tranh đoạt tài sản, người giàu có ác độc ấy đã phải chịu đau đớn khổ sở nơi Địa-ngục vài nghìn năm. Và cũng vì hành động ác độc ấy, ông phải chịu tuyệt dòng trong bảy kiếp liên tiếp; do đó bao nhiêu của cải tài sản của ông trong bảy kiếp đều phải bị sung vào quốc khố.

3- Tạo nghiệp gì sinh cõi trời?

Nếu người nào tin nơi Tam-Bảo (Phật Pháp Tăng), người làm mười điều lành, không tham lam, không tức giận thù hằn, không tà kiến tức là tin ở nhân qủa, luân hồi, v.v..

Người ấy còn làm các việc phúc đức khác như phụng kính cha mẹ, giúp đỡ các kẻ nghèo hèn, bệnh hoạn, luôn luôn có tâm thương tất cả chúng sanh khổ ải; người ấy sau khi chết liền được sinh lên cõi Trời bằng hóa sinh, hưởng vui thú ngũ dục nhiệm màu. Muốn ăn gì chỉ cần khởi sinh niệm tưởng là có ngay thứ mình muốn; muốn mặc quần áo đẹp cũng vậy, chỉ cần nghĩ tưởng đến thứ quần áo mình muốn là có ngay, tự nhiên biến hóa ra, không phải làm lụng chi cả. Lại có đủ năm thứ thần thông về thân biến hóa, mắt thấy suốt thông, tai nghe thấu suốt, mũi ngửi xa muôn dặm, và ý tưởng muốn gì được ấy. Cuộc sống luôn luôn hưởng lạc an vui tự tại, và có đời sống rất dài lâu.

4- Tạo ác nghiệp gì đọa Địa-ngục?

Người phạm tội ngũ nghịch (Giết cha, giết mẹ, khởi ác hại Phật, giết thánh Tăng Ni, phá rối Tăng đoàn). Người làm mười điều ác, hoặc sai khiến, xui giục, mưu mẹo để người khác làm các điều ác, hoặc vui thích khi thấy nghe người khác làm các điều ác. Người như vậy sau khi chết chắc chắn phải đọa sinh vào Địa-ngục chịu vô lượng cực hình khổ trong thời gian lâu dài triền miên hàng trăm nghìn năm. Mãn kiếp ở địa-ngục rồi, tùy theo tội nặng nhẹ còn dư, có thể tiếp tục phải sinh vào loài Súc-sanh, Ngạ-qủy, hay làm người khốn khổ.

5- Tạo ác nghiệp gì đọa làm Ngạ-qủy?

Người lừa đảo, dối gạt, trộm cắp của tư hay công, hay bảo người khác lừa đảo dối gạt trộm cắp, hoặc thấy người khác lừa đảo dối gạt trộm cắp sinh lòng vui thích; người này còn bòn sẻn tham tiếc không cứu vớt người hoạn nạn nghèo khổ cầu cứu, lại còn sân hận, mắng nhiếc người hoạn nạn nghèo khổ đủ điều thậm tệ, người như vậy sau khi chết hóa sinh vào loài Ngạ-qủy, Ma đói, có đầu lớn, cổ nhỏ tí, bụng lại to như cái trống, ăn nuốt không được nên luôn luôn đói khát khổ sở vô cùng.

6- Tạo ác nghiệp gì đọa làm Súc-sanh?

Người hay giết hại súc vật, ăn tươi nuốt sống súc vật, đánh đập hành hạ và coi rẻ sinh mạng súc vật như cỏ rác; người như thế khi chết sẽ sinh vào loài súc vật để đền mạng oan trái đã gây ra. Lại có kẻ vay mượn tiền bạc không trả, lường gạt, quỵt nợ, cướp đoạt tiền của của người khác, biển thủ của công; người như thế, sau khi chết phải đọa làm loài Súc-sanh hoặc làm người hầu hạ để đền nợ cũ.

3) Căn bản về nhân qủa:

Trong Kinh Pháp-Cú viết: “Dù có bay lên trời cao, lặn xuống biển sâu, hay trốn vào hang núi, cũng không thể trốn khỏi qủa dữ của nghiệp báo đã gây ra”.

Mặc dù nghiệp qủa luôn luôn theo ta như hình với bóng, nhưng không phải vì thế mà ta nói nghiệp giống như số-mạng đã an bài. Ta cũng không thể nói nghiệp giống như tiền-định do một oai lực vô hình huyền bí đã quyết định, đã an bài, không thay đổi, ta phải thúc thủ tuân theo một cách tuyệt đối; trái lại, ta biết nghiệp qủa báo là có, nhưng ta có thể tạo ra phản ứng mới để hòa dịu nghiệp lực cũ. Ta có đủ năng lực để chuyển phần nào cái nghiệp của ta theo ý muốn, và chuyển đến mức độ nào tùy chỉ nơi ta, do ta, không do bất cứ năng lực bên ngoài nào khác; như vậy, ta không bắt buộc phải nhận lãnh tất cả những gì đã gây ra, trong một tình trạng nào đó với sự cố gắng làm các điều lành một cách chính đáng, có thể sửa đổi cái nghiệp của ta.

Trong Kinh Tăng Nhất A-Hàm có câu “Nếu cho rằng con người phải hoàn toàn gặt hái tất cả những hành động trong quá khứ, thì không thể có đời sống đạo đức, và con người cũng không thể có cơ hội để tận diệt phiền não. Nhưng nếu nói rằng qủa gặt tương xứng với nhân ắt có đời sống đạo đức, con người sẽ có cơ hội dập tắt khổ não”.

Chúng ta thấy nghiệp báo nhân qủa không cứng ngắc cố định mà chuyển biến linh động, và đây cũng là luật biến hóa chung của con người và vũ-trụ; nhờ sự chuyển biến nên sự vật trở thành thế này hay thế khác, con người mới có sự khác biệt giữa người này và người kia. Một đứa nhỏ có tính gian xảo thường trộm cắp, nói dối, nếu cha mẹ, người trong gia đình biết giáo dục theo đường lối tốt, đứa nhỏ ấy sẽ dần dần bỏ tính xấu, và lớn lên trở thành người lương thiện. Một người có nhiều tâm lành, nhưng không tạo điều kiện cho nó tăng trưởng, lại rủi ro gây phải một việc xấu, thì vẫn dễ dàng bị lui sụt sa đọa. Một người khi mới sinh ra dù đã tạo nhiều điều ác và mang nhiều nghiệp dữ, nhưng nếu người này biết hướng thiện, làm các việc lành, thì nghiệp dữ trước kia dần dần rửa sạch.

Khi gieo nhân, con người còn có nhiều yếu tố trợ duyên hay thuận duyên, nghịch duyên hay chướng duyên, những duyên này góp phần vào nhân ấy để quyết định vào qủa báo; có thể, một người làm điều tốt nhỏ, nhưng lại gặt được qủa báo lớn, tại sao? Vì một người làm việc lành nhỏ, nhưng lại luôn luôn thỏa thích hoan hỷ việc làm của mình, vui thích lâu dài với việc làm ấy thì phúc qủa sẽ to lớn hơn; nếu một người làm việc dữ, nhưng suốt ngày đêm ăn năn hối hận, luôn luôn bứt rức khó chịu vì đã phạm tội làm việc ác. Người ấy còn thề nguyện sẽ không bao giờ tái phạm nữa, chính cái tâm ăn năn hối hận ấy đã làm cho qủa báo nhỏ đi, nhẹ đi.

Một người có trí làm điều xấu, tội nhẹ, vì người trí hiểu biết đó là việc ác, tội ác, nên tìm cách này hay cách khác làm cho tội ấy giảm nhẹ đi; còn kẻ ngu dù làm tội ác nhỏ, nhưng không nhận biết đó là việc ác, tội ác; nên càng lún sâu vào làm ác, kết qủa là tội ác càng nặng nề hơn; bởi vậy, chuyện nhân qủa xẩy ra muôn mặt, muôn chiều, chứ không đơn giản đâu.

Vì vậy: nếu bảo làm nhân gì phải trả qủa ấy, tức nhân qủa cố định, thì tu hành không có công dụng gì sao? Những người chủ trương định mạng cố định, thiên định đã cố định như vậy dù có tu hành hay không cũng chẳng thêm bớt được gì, vô tình họ đưa con người vào đường đen tối, tuyệt vọng, yếm thế, chịu bó tay, hết hy vọng cải thiện, đó là một chủ trương không giúp ích gì cho nhân loại cả.

Những bằng chứng cho sự sửa đổi nghiệp báo dữ còn được ghi lại rất nhiều trong Kinh như:

- Trong Tạp A-Hàm, quyển 3, trang 661, nói có tên sát nhân Angulimala nghe theo tà giáo đã giết chín trăm chín mươi chín người, rồi chặt mỗi người lấy một ngón tay xâu thành chuỗi. Khi gặp Phật, Angulimala định bắt giết Phật để cho đủ một nghìn ngón tay, nhưng Phật dùng thần thông khiến cho hắn không sao đuổi kịp, lúc đó Phật bắt đầu giáo hóa, và làm cho hắn thức tỉnh u mê; sau nhờ tu tập mà trở thành một vị A-La-Hán, và thoát khỏi qủa dữ của hành động ác ấy.

- Qủy Dạ-Xoa Alavaka hung ác, thường giết hại rất nhiều người, đã từ bỏ thói hung ác ấy, và cố gắng tu hành, sau cũng đắc qủa Tu-đà-Hoàn là bậc Thiền thứ nhất trong bốn Thiền định.

Tóm lại, những người tu mà chưa thấy tánh, có thể đổi nghiệp một phần; còn người đã kiến tánh thì tiêu diệt hết nghiệp, người đạt đạo đối với nghiệp như mặt trời giọi sương tuyết, như lửa đốt lá cây khô, tan biến, cháy tiêu mất luôn..,.

Toàn Không




--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jan 28 2012, 10:05 AM
Gửi vào: #42


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



NI SƯ ĐẠI ÁI ĐẠO
NHẬP NIẾT-BÀN



Toàn Không


Ni Sư Đại Ái Đạo là người nuôi dưỡng Đức Phật từ lúc mới sinh ra sau khi Phật mẫu qua đời, sau này bà được Tôn-giả A-Nan xin Phật cho phép bà được thành lập Ni đoàn với điều kiện phải tuân thủ những điều lệ do Phật đưa ra; từ đó, bà điều hành Ni đoàn tu hành một cách tinh tấn nghiêm trang, và đã có tới 500 vị Ni là bậc A-La-Hán (bậc Thánh).

Khi Bà và Ni đoàn đang ở chùa Cao-Đài trong thành Tỳ-Xá-Ly, bà nghe một vị Tỳ-kheo nói: “Không đầy 3 tháng nữa, đức Thế-Tôn sẽ Niết-Bàn tại rừng Sa-La nước Câu-Thi Na-Kiệt”. Bà liền nghĩ: “Ta không kham nhìn thấy Như-Lai diệt độ, nay ta nên diệt độ trước”. Bà liền đi đến chỗ Phật tại giảng đường Phổ-hội xứ Tỳ-Xá-Ly, cúi lạy rồi nói:
- Con nghe Thế-Tôn sẽ diệt độ tại rừng Sa-La xứ Câu-Thi La-Kiệt. Nay con không kham thấy Thế-Tôn diệt độ. Cúi xin Thế-Tôn cho con diệt độ trước.

Khi ấy đức Phật im lặng chấp thuận, bà Đại Ái-Đạo thấy Đức Phật chấp thuận liền nói:
- Từ nay, con không còn thấy tôn nhan Thế-Tôn, cũng không còn thấy chư Phật tương lai nữa. Con không còn tái sinh, vĩnh viễn ở chỗ an vui.

Bà Đại Ái-Đạo làm lễ dưới chân Phật xong đi quanh Phật bảy vòng, đi quanh đại chúng Tỳ-kheo ba vòng rồi lui; bà trở về bảo các Tỳ-Kheo Ni:
- Ta muốn vào Niết Bàn vô vi, vì Thế-Tôn chẳng bao lâu sẽ diệt độ, các vị nên tùy nghi.
Khi đó Tỳ-kheo Ni Sai-Ma hướng dẫn 500 Tỳ-Kheo Ni đến chỗ Phật, tất cả làm lễ Phật, rồi Ni-Sư Sai-Ma thưa:
- Chúng con nghe nói Thế-Tôn không bao lâu nữa sẽ diệt độ, chúng con không kham nhẫn thấy Thế-Tôn diệt độ. Cúi xin Thế-Tôn cho phép chúng con diệt độ trước. Nay chúng con vào Niết Bàn chính là phải lúc.

Đức Phật im lặng chấp thuận, các Tỳ-kheo Ni thấy Phật hứa khả, liền làm lễ Phật, đi nhiễu quanh ba vòng rồi trở về. Trong khi ấy, Ni-Sư Đại Ái-Đạo trải tọa cụ tại nơi đất trống, bay lên hư không; ở trong hư không, bà ngồi, nằm, đi, đứng, nửa thân dưới phát ra khói, nửa thân trên phát ra lửa, hoặc nửa thân dưới phát ra nước, nửa thân trên phát ra khói, hoặc nửa thân dưới phát ra lửa, nửa thân trên phát ra nước. Hoặc hông bên phải tuôn ra lửa, hông bên trái tuôn ra khói, hoặc hông bên phải tuôn ra nước, hông bên trái tuôn ra lửa, hoặc hông bên phải tuôn ra khói, hông bên trái tuôn ra nước; hoặc phiá trước phun khói, phiá sau phun nước, hoặc phiá trước phun lửa, phiá sau phun khói, hoặc phiá trước phun nước, phiá sau phun lửa; hoặc toàn thân phóng lửa, hoặc toàn thân phóng khói, hoặc toàn thân phóng nước.

Sau khi làm đủ thứ biến hóa, bà Đại Ái-Đạo trở xuống tòa ngồi kiết già, vào chính định nhập từ Sơ thiền cho tới Tưởng tri diệt (10 bậc thiền). Lại từ Tưởng tri diệt trở lại tới Sơ thiền. Rồi lại từ Sơ thiền lên tới tứ thiền, liền diệt độ; khi ấy trời đất chấn động, nhạc trời nổi lên, muôn hoa trời rải xuống chỗ đạo tràng, bấy giờ Ni-Sư Đại Ái-Đạo đã 100 tuổi thọ.

Tỳ-kheo Ni-Sư Sai-Ma và 500 Ni, đều là bậc thượng thủ về đến nơi thì Ni-Sư Đại Ái-Đạo đã diệt độ xong. Mỗi vị đều trải tọa cụ nơi đất trống theo thứ lớp, rồi cùng bay lên hư không. Ở trên hư không ngồi , nằm, đứng, đi, làm 18 phép thần biến (như trên đã diễn tả), rồi tất cả đều trở về tòa ngồi kiết già nhập Sơ thiền cho tới Tưởng tri diệt, và cho tới diệt độ; lúc ấy, trời đất chấn động, nhạc Trời nổi lên, muôn hoa Trời rải xuống chỗ đạo tràng.

Trong khi ấy trong thành Tỳ-Xá-Ly có Đại tướng Du-Da-Đề và năm trăm thanh niên (quân đội) đang tụ họp. Từ xa, họ trông thấy cảnh Tỳ-kheo Ni làm 18 phép thần biến trên không trung như thế, thì họ ngạc nhiên, vui mừng, chắp tay vái về phiá ấy.

Lúc ấy Thế-Tôn bảo Tôn-giả A-Nan:
- Thầy đến chỗ Đại-tướng Da-Du-Đề bảo hoan hỷ sắm cho: “Giường nằm, bình tô lạc, bình dầu, xe hoa, xe hương, xe gỗ củi cho đủ để thiêu 500 người, vì bà Đại Ái-Đạo và 500 Tỳ-kheo Ni đã diệt độ”.

Tôn-giả A-Nan nghe thì buồn khóc than “Bà Đại Ái-Đạo và chúng Tỳ-kheo Ni sao diệt độ nhanh chóng thế!”, Tôn-giả liền đến chỗ Đại-tướng, Đại-tướng thấy Tôn-giả đến, liền chào hỏi:
- Chào Tôn-giả A-Nan, Tôn-giả đến đây thật rất qúy, Tôn-giả muốn dạy điều gì mà đến bất ngờ thế này?
Tôn-giả A-Nan nói:
- Chào Đại-tướng, tôi do Phật sai đến.

Rồi Tôn-giả nói cho Đại tướng nghe tất cả những điều Phật đã bảo, Đại-tướng nghe nói xong thì buồn khóc mà nói:
“Ni-Sư Đại Ái-Đạo, Ni-Sư Sai-Ma, và năm trăm Tỳ-kheo Ni diệt độ nhanh chóng qúa, từ nay ai sẽ giáo hóa và chỉ dạy chúng tôi bố thí?”

Sau khi Tôn-giả A-Nan ra về, Đại-tướng cho sắm sửa chuẩn bị đầy đủ các thứ cần thiết xong đi đến chỗ Phật, cúi lạy rồi thưa:
- Thế-Tôn chỉ dạy con chuẩn bị các thứ, nay đã xong.
Phật bảo:
- Ông hãy đến chùa Cao-Đài để đưa thân bà Đại Ái-Đạo và năm trăm Tỳ-kheo Ni ra khỏi thành đến chỗ đất trống, Ta muốn cúng dường Xá-lợi ở đó.
Đại-tướng Da-Du-Đề đáp:
- Xin vâng, thưa Thế-Tôn.

Đại-tướng liền đến chỗ đạo tràng của bà Đại Ái-Đạo, thấy các vị Tỳ-kheo Ni vẫn ngồi kiết già mà tịch, Đại-tướng bảo năm trăm thanh niên cùng nhau đưa các vị lên giường.
Cùng lúc ấy Phật dẫn chúng Tỳ-kheo đến, Thế-Tôn bảo Tôn-giả A-Nan và La-Vân:
- Các thầy khiêng thân của bà Đại Ái-Đạo lên giường, ta sẽ đích thân cúng dường.

Khi ấy Phạm Thiên Vương, Đế-Thích, biết ý Thế-Tôn, liền đem theo Thiên chúng đến cúi lạy rồi mỗi vị đứng một bên Phật. Tỳ-sa-môn Thiên vương đem theo Qủy Thần Dạ-xoa. Đề-địa Lại-tra Thiên Vương đem theo Càn-thát-bà. Tỳ-lâu-lặc Thiên Vương đem theo Cưu-bàn-trà. Tỳ-lâu-ba-xoa Thiên vương đem theo Long Thần. Và các chư Thiên các tầng Trời đều đến chỗ Thế-Tôn cúi lạy (Chỉ có người nào đã đắc lậu tận mới nhìn thấy các thành phần vừa nêu ra).
Thích-đề-hoàn-nhân và Tỳ-sa-môn Thiên vương trước Phật vái rồi nói:
- Cúi xin Thế-Tôn, chớ nhọc thân, chúng con sẽ cúng dường Xá-lợi.

Phật bảo:-
- Thôi, thôi, Thiên vương, Như-Lai tự biết; đây là việc Ta phải làm, chẳng phải hàng Trời, Qủy Thần, Rồng mà làm được, vì sao? Cha mẹ sinh con nhiều lợi ích cho con, ân trọng dưỡng nuôi, bú mớm ẵm bồng, cần phải báo ân; như thế, Như-Lai nên tự cúng dường, chẳng ai làm thay được.
Tỳ-sa-môn Thiên vương bảo năm trăm Qủy đi lấy củi thơm chiên đàn, các Qủy liền mau chóng đi lấy mang tới chỗ hỏa thiêu.

Khi ấy, Thế-Tôn khiêng một chân giường, Nan-Đà, A-Nan, La-Vân mỗi người một chân, bay lên hư không đến chỗ hỏa thiêu (Đây là do thần lực của Phật, vì Tôn-giả A-Nan chưa có thần thông). Bốn chúng có Chư Thiên Thần hỗ trợ khiêng 500 Thánh Ni đến chỗ hỏa thiêu; tất cả Trời người, Thần, Qủy, Long và nhân dân đến chỗ trà-tỳ có vô số kể, không thể tính hết được.

Khi tới nơi, Qủy đã mang một số củi chiên đàn tới trước rồi, Thế-Tôn lấy củi chiên đàn chất trên thân bà Đại Ái-Đạo và mọi người cũng lấy gỗ củi chất lên thân năm trăm Tỳ-kheo Ni. Sau khi hết thảy năm trăm thân Xá-lợi Thánh Ni hỏa thiêu xong, Thế-Tôn nói Kệ:

Tất cả hành vô thường,
Có sinh ắt có diệt,
Không sinh thời không diệt,
Diệt này là vui tột.

Đức Phật bảo Đại-tướng:
- Nay ông đem Xá-lợi của năm trăm Tỳ-kheo Ni xây tháp để mọi người tưởng nhớ, sẽ được phúc vô lượng.

Rồi Thế-Tôn nói pháp vi diệu, khuyến khích cho chư Thiên và nhân dân được hoan hỷ; có vô số Trời, Người được dứt trần cấu, đắc pháp nhãn thanh tịnh, tất cả đều vui vẻ cúi lạy Phật rồi ra về; Đại-tướng Da-Du-Đề sau đó cho nhặt Xá-lợi đem về xây tháp để mọi người tưởng nhớ. (Ghi chú: Trước đó, hai Tôn-giả Thượng-thủ của Phật là Đại-Trí Xá-Lợi-Phất và Đại Mục-Kiên-Liên cũng đã nhập diệt)..,.

Toàn Không



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jan 28 2012, 06:15 PM
Gửi vào: #43


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



NHỮNG SỰ KỲ DIỆU

Toàn Không


Sau đây là một số điều kỳ diệu trong vô số điều kỳ lạ đã xảy ra khi đức Phật còn tại thế :

1)- Phật Đản sinh:

Khi đức Phật vừa mới sinh ra, trời đất bỗng nhiên chấn động mạnh, làm rung chuyển cả nhà cửa, rồi có ánh sáng vi diệu chiếu khắp thế gian. Những nơi tăm tối không có mặt trời chiếu tới như trong nhà đóng cửa, dưới hầm sâu kín, đều có ánh sáng vi diệu ấy chiếu đến, và mọi người nhìn thấy nhau hay thấy các đồ vật một cách rõ ràng. Rồi trên hư không có tiếng nhạc trời hòa tấu vi diệu, các loại hoa Trời rơi xuống có mùi thơm ngát và màu sắc đẹp đẽ vô cùng.

2)- Khi đức Phật còn trẻ.

Một hôm Ngài theo phụ Vương đi dự lễ Hạ-điền ngoài đồng ruộng. Trong lúc Vua cha và mọi người bận rộn với công việc tế lễ, và những người phụ trách chăm sóc Ngài mải vui với buổi lễ, Ngài ngồi một mình dưới gốc cây trầm ngâm lặng lẽ vào định tâm.

Sau khi chủ lễ xong, nhà Vua đi đến chỗ Thái-tử, thấy con Ngài còn ít tuổi mà đã biết ngồi bắt chéo hai chân một cách nghiêm nghị như các bậc chân tu thiền định. Nhà Vua lại khám phá ra rằng đang lúc xế chiều ấy các bóng cây đều ngả bóng về hướng Đông, duy chỉ có bóng cây chỗ Thái-tử ngồi là không ngả mà vẫn che mát toàn thân Thái-tử ( Về điểm này trái với khoa học). Nhà Vua thấy tận mắt hai điểm khác thường ấy, liền nghĩ rằng: “Vương nhi này thật là kỳ diệu, rất là hy hữu hiếm có trên cõi đời này, Vương nhi có đại phước đức, có đại oai đức”. Nghĩ vậy xong, nhà Vua đến trước mặt Thái-tử xá chào con mà nói:
- Con yêu qúy, đây là lần thứ nhì Phụ-Vương đảnh lễ con.

Cũng nên nhắc thêm là khi đức Phật mới đản sinh chưa được bao lâu (độ vài tháng ?), tin Thái-tử chào đời được loan truyền trong dân gian, và mọi người đều vui mừng không xiết kể. Có một đạo sĩ tên A-tư-Đà, là người thân tín của nhà Vua, ông đến xin Vua được thấy Thái-tử, Vua Tịnh-Phạn lấy làm hân hoan sai người vào Cung bồng Thái-tử ra mắt đạo-sĩ. Khi người cung nữ bồng Thái-tử đến trước mặt, vị đạo-sĩ còn đang ngắm nhìn thì bỗng nhiên Thái-tử cong ưỡn người lên trong tay người cung nữ, và đặt hai chân lên đầu trán của ông. Đang ngồi trên ghế, vị đạo-sĩ vội đứng dậy, chắp tay vái chào Thái-tử, rồi nói với Vua rằng:
- Thưa Đại-Vương, Thái-tử đây sau này sẽ là vĩ-nhân bậc nhất của nhân loại.

Khi nghe nói vậy, nhà Vua cũng làm theo vị đạo-sĩ mà xá chào Thái-tử (lần thứ nhất). Xong rồi, vị đạo-sĩ phát ra tiếng cười, cười xong lại khóc, mọi người đều ngạc nhiên và không hiểu về sự cười khóc của ông. Vị đạo-sĩ giải thích rằng:
- Thưa Đại-Vương, sở dĩ tôi cười là vì tôi vui sướng được biết rằng sau này Thái-tử sẽ trở thành một đại vĩ-nhân; còn tôi khóc là không bao lâu nữa tôi sẽ qua đời mà sinh vào cõi vô sắc, do đó tôi không còn cơ hội thụ giáo với bậc đại vĩ nhân, đại trí-tuệ này nữa, thật đáng tiếc, đáng tiếc!

3)- Khi đức Phật ngự tại Uất-kỳ-La, bên sông Ni-liên-Nhiên,

Ngài ngồi dưới gốc cây, lúc mới thành đạo, bấy giờ mưa to gió lớn, mưa tầm tã hết ngày này qua ngày khác, mưa đến bảy ngày mới ngừng. Mưa đến nỗi từ thấp đến cao đều bị ngập nước, từng luồng nước chảy xoáy ngang dọc khắp một vùng rộng lớn. Nhưng lạ thay, lúc ấy đức Phật đi kinh hành đến chỗ nào thì có bụi bay lên chỗ ấy?!

4)- Khi Đức Phật về thăm phụ Vương.

Lúc Vua Tịnh-Phạn nghe tin đức Phật đang truyền bá giáo pháp tại thành Vương-Xá, Vua nóng lòng muốn gặp người con đại trí-tuệ. Nhà Vua chín lần truyền lệnh sứ thần đi triệu thỉnh đức Phật về thành Ca-Tỳ-la-Vệ đều không kết qủa, vì chín vị ấy đều ở lại theo Phật tu hành. Sau cùng Vua sai một trung thần vốn là bạn thân trước kia với Thái-tử Sĩ-đạt-Ta đi thỉnh.

Cũng như các vị sứ thần trước, vị này cũng được diễm phúc nghe Phật pháp, rồi xin xuất gia, và đắc qủa A-la-Hán; nhưng khác với các vị kia, ông không quên sứ mạng do Vua trao phó. Ông tha thiết khẩn cầu đức Phật về thăm Phụ-hoàng nay đã già yếu, đức Phật bèn trở về quê nhà, sau hai tháng mới tới nơi.

Khi ấy nhà Vua đã sắp xếp việc đón tiếp đức Phật và các đệ-tử tại một vườn hoa thuộc dòng họ Thích-Ca. Lúc đức Phật về đến nơi, các vị bậc chú-bác của Thái-tử Sĩ-đạt-Ta bảo nhau: “Chúng ta là bậc cha-chú, huynh-trưởng, đạo-sĩ kia chẳng qua chỉ là con cháu, em út mà thôi, chúng ta không cần phải chào đón”. Họ bàn với nhau như thế, rồi nói với con cháu bằng vai với Thái-tử Sĩ- đạt-Ta, những người trẻ tuổi chào đón, còn họ vẫn ngồi yên tại chỗ. Đức Phật biết ý nghĩ ngã mạn của các vị cao niên Hoàng-tộc, Ngài bèn bay lên hư không, hoá phép làm cho nước và lửa đồng thời từ lỗ chân lông phát ra.
Trông thấy oai lực thần thông của đức Phật, Vua Tịnh-Phạn vội đảnh lễ, miệng nói lớn lên rằng:
- Phụ-Vương đảnh lễ Hoàng-nhi lần thứ ba.
Thấy thế, tất cả các vị Hoàng-thân đều vội vã cung kính đảnh lễ Phật. Khi mọi người đảnh lễ xong, Ngài từ từ hạ xuống và ngồi vào một ghế bành đã được đặt sẵn. Lúc bấy giờ, tất cả mọi người đều khiêm tốn ngồi xuống, im lặng nhìn Phật với vẻ kính ngưỡng thán phục.

Vừa đúng lúc ấy, đột nhiên mưa trái thời bất ngờ rơi xuống, gây nên những lời bàn tán giữa các vị Hoàng-thân về hiện tượng kỳ lạ ấy; kế đó đức Phật giảng Pháp cho họ hàng thân quyến, nghe xong ai nấy đều phấn khởi tin theo Phật Pháp.

5)- Khỉ rừng cúng dàng Phật.

Khi đức Phật du hóa tại rừng Đại-Lâm thuộc thành Tỳ-xá-Ly, thường ngày các Tỳ-Kheo để bình bát trên một cái sạp ngoài chỗ đất trống để phơi cho khô, bình bát của đức Phật cũng để ở đó. Một hôm, đột nhiên có con khỉ rừng từ đâu đến không biết, nó tới ôm bình bát của đức Phật mà chạy đi. Vài vị Tỳ-kheo trông thấy la lên vì sợ nó làm rơi vỡ bể, hoặc nó đem đi mất, nhưng đức Phật bảo các Tỳ-kheo ấy:
- Hãy để yên, đừng la, không sao đâu.

Con khỉ ấy ôm bình bát đến một gốc cây to lớn, rồi thản nhiên leo lên, nó tới tổ ong lấy đầy bát mật trên cây Sa-la, rồi từ từ leo xuống. Con khỉ bưng bát mật đến chỗ Phật, hai tay dâng lên, nhưng Ngài lắc đầu không nhận. Con khỉ thấy thế, bèn mang bát mật ra một chỗ, ngồi nhặt bỏ rác rến cho sạch sẽ, xong nó bưng bát mật trở lại dâng lên Phật, nhưng Ngài cũng vẫn lắc đầu không nhận. Khỉ lại bưng bát mật đến chỗ đựng nước uống, cầm gáo múc nước đổ vào bát mật, rồi nó bưng bát mật trở lại dâng lên, lần này đức Phật dơ tay tiếp nhận. Khỉ thấy đức Phật thọ nhận bát mật rồi, nó nhảy nhót tỏ ra vui mừng, và chạy đến gốc cây leo lên cây đi mất.

6)- Trời chưa thể mưa.

Một lần bên bờ ao Di-hầu, tại cao lâu đài quán, bấy giờ đức Phật đang phơi tọa cụ, rũ bụi, phủi đất. Trong lúc ấy có một đám mây đen lớn kéo đến trái thời, che kín khắp cả hư không một vùng rộng lớn, chỉ trừ chỗ phơi tọa cụ là còn có ánh nắng, muốn mưa nhưng chưa mưa. Khi đức Phật phơi tọa cụ xong, xếp cất một nơi rồi, và Ngài đứng trong nhà, bấy giờ đám mây mới che kín khắp cả và mưa rất lớn, từ đất thấp đến đất cao, nước mưa ngập tràn lai láng cả một vùng rộng lớn.

7)- Đức Phật thị hiện thần lực.

(Tăng-Nhất A-Hàm, quyển 3, từ trang 95 đến 103)

Trước ngày nhập Niết-Bàn, khi Phật ném chiếc Bát lên hư không tặng cho dân thành Tỳ-Xá-Ly và dặn họ cúng dường Bát thì sẽ được phúc lâu dài, rồi Ngài đi tới nước Câu-Thi La-Kiệt. Lúc ấy có hơn 500 thanh niên nước này đang tụ tập cố gắng dùng sức dựng phiến đá chữ nhật thật là to lớn lên, nhưng họ không thể lay chuyển nổi, vì nó qúa to lớn, quá nặng. Lúc ấy đức Phật đi ngang qua thấy họ tụ tập số người đông đảo thì hỏi:
- Các ông đang làm gì mà tụ tập đông thế này?
Một người trả lời:
- Chúng con muốn dời tảng đá này để dựng lên chỗ kia cho đời sau khen truyền danh tiếng, mà đã mấy ngày nay chưa có cách nào làm được.
Phật bảo họ:
- Các ông có muốn Như-Lai làm cho không?
Mọi người đồng đáp:
- Cúi xin Ngài sắp xếp cho thì may mắn và phúc cho chúng con biết mấy.

Lúc ấy, Thế-Tôn dùng tay phải nâng tảng đá lên, đưa qua tay trái, tung ném lên trời, tảng đá bay vút lên rồi biến mất, mọi người theo dõi không thấy tảng đá đâu nữa! Họ liền thưa:
- Tảng đá đâu rồi? chúng con không thấy nó nữa, khi nào tảng đá mới rơi xuống?

Phật bảo:
- Tảng đá hiện thời bay lên tới cõi Trời Phạm-Thiên, nếu có người ở đó ném xuống phải mất vô số ngày mới tới đây, nhưng do oai thần của Như-Lai, nó sẽ rơi xuống ngay bây giờ.

Bấy giờ, mọi người trông thấy tảng đá đang vùn vụt rơi xuống, họ bèn bỏ chạy tán loạn vì sợ đá đè tan xương nát thịt, đức Phật bảo họ:
- Đừng sợ, Như-Lai tự biết việc.

Rồi Ngài đưa tay trái tiếp lấy tảng đá, đặt qua tay phải, và dựng nó lên ngay đúng chỗ mà họ muốn. Lúc ấy mặt đất rung động mạnh, nhưng tảng đá vẫn không đổ. Mọi người thấy điềm lạ bèn nói:
- Không hiểu sao tự nhiên động đất như thế?

Phật bảo mọi người:
- Đó là do thần lực của Như-Lai, không những động đất tại trái đất này mà cả Tam Thiên đại Thiên thế giới đều rúng động như thế; lại có vô số hoa Trời rải xuống như tuyết bay. Mọi người thấy thế đều khen ngợi:
- Thật chưa từng có, thật là kỳ lạ, thật vô cùng đặc biệt, chưa hề bao giờ có, oai thần của Như-Lai ngoài sức tưởng tượng nổi, oai thần của Như-Lai không thể nghĩ bàn; nếu không tự mắt thấy thì làm sao tin được một việc có thật như thế!

Toàn Không



--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Feb 2 2012, 01:20 PM
Gửi vào: #44


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐẠI HỎA, THỦY, PHONG TAI,
PHỤC SINH CỦA QỦA ĐẤT

Toàn Không


Trước khi đề cập tới ba đại tai họa, chúng ta nên biết rằng có những sự kiện xảy ra rất lâu dài, có thể nói là rất lâu dài hằng nhiều tỷ năm, đó là:

- Từ khi Thái-Dương hệ (hệ thống mặt trời) được thành lập rồi, trong thời gian Thái-Dương hệ tồn tại cho tới khi bị tiêu diệt, thời gian ấy rất lâu dài. (Một nhà khoa học nói: “Thái-Dương hệ của chúng ta có đời sống mười tỷ năm, và hiện tại nó đã sống được một nửa rồi”.
- Từ khi Thái-Dương hệ bị tiêu diệt tới khi được thành lập trở lại rất lâu dài.
- Trong khi Thái-Dương hệ vẫn tồn tại, nhưng quả đất mà chúng ta đang ở phải trải qua những đại tai họa là Hỏa tai, Thủy tai, và Phong tai (Về các điểm này chưa thấy nhà khoa học nào nói tới?). Thời gian xảy ra mỗi đại tai họa ấy cũng không phải là ngắn, sẽ được trình bày dưới đây:

1)- Đại Hỏa tai :

Tới một lúc nào đó, không còn mưa nữa, các loại cỏ cây khô héo dần; sau một thời gian, tự nhiên có mặt trời thứ hai xuất hiện, khiến cho cây cối đều chết dần; các kinh, rạch, ao, hồ nhỏ, sông nhỏ đều khô cạn. Tiếp theo, mặt trời thứ ba xuất hiện, đến lúc này cây cối đều chết khô hết cả, các hồ, sông lớn đều khô cạn, nước biển cạn mất 1/4.

Sau đó, mặt trời thứ tư xuất hiện, các hồ sâu lớn cạn sạch, nước biển vơi đi khoảng phân nửa; rồi mặt trời thứ năm hiện ra, nước bốn biển lớn cạn dần tới gần hết; lúc mặt trời thứ sáu xuất hiện, năm châu bốn biển không còn một giọt nước, khô hết!

Sau chót, mặt trời thứ bảy xuất hiện, thì ôi thôi! cả cõi trần gian cỏ cây, nhà cửa, kiến trúc v.v.. cho đến tám vạn chư Thiên, núi lớn núi nhỏ, núi chúa Tu-Di, ao vườn, cây trái, lâu đài cung điện, thành quách chư Thiên v.v..., tất cả đều bốc khói rồi cháy tiêu tan. Lửa cháy từ đại địa lên tới A-Tu-La, Tứ Thiên Vương, cung Trời Đạo-Lợi, cung Trời Diệm-Ma, cung Trời Đâu-Xuất, cung Trời Hóa Tự-Tại, cung Trời Tha-Hóa Tự-Tại, cung Trời Phạm, tức là cháy hết Sơ thiền. Hết thảy đều bừng bừng như một khối lửa hồng khổng lồ, chẳng có cách gì dập tắt được nữa!

Trong khi đó lại có gíó thổi hừng hực ngọn lửa đỏ lên đến tận giáp cung Trời Quang-Âm (Nhị thiền), các vị Thiên-Tử mới sinh ra ở cõi ấy trông thấy lửa cháy bừng bừng như thế lấy làm lo sợ và nói: “Ôi vật gì thế ? vật gì thế kia mà lớn qúa?”. Các vị Thiên-Tử sinh trước nói: “Đừng sợ, đó là lửa, lửa ấy chỉ đến ngang đây là ngừn lại, chớ sợ”.

Khi lửa đã đốt tiêu tan tất cả, thì từ núi Chúa Tu-Di, núi lớn, núi nhỏ, của chư Thiên đều tiêu tan. Thành quách, lâu đài, cung điện, vườn ao, cây Trú-Độ, các tảng đá v.v...của các cung Trời, cho đến nhà cửa, kiến trúc cây cối, của cải, vật dụng v.v... ở thế gian đều thiêu rụi hết sạch chẳng còn gì cả!

Đại tai họai này đã xảy ra trong một thời gian lâu dài (Giai đoạn Hoại = 336 triệu năm). Hỏi rằng, có cái gì có thể chống đỡ nổi đại Hỏa tai khủng khiếp như thế? Có ai đang tâm gây ra như vậy, chẳng ai gây ra cả, đó chỉ là thành trụ hoại không của qủa đất hay sự tuần hoàn của vũ-trụ mà thôi; có cách gì chống đỡ nổi chăng, ai tin cảnh đại Hỏa tai này? Qua thời gian lâu dài: lửa tắt, các mặt trời dần dần biến mất, đại địa nguội đi, nhưng còn gì đâu; không một giọt nước, đại địa như chết, ai mà tin được việc này? Chỉ ai riêng thấy tự mình biết việc xảy ra, chỉ có Phật thấy cảnh đại Hỏa tai này mà thôi.

2)- Đại Thủy tai : Tới một lúc nào đó, những vầng mây đen hiện khắp nơi cho đến khắp cõi Quang-Âm Thiên, tức là hết Nhị thiền, giáp tới cõi Biến-Tịnh Thiên; rồi mưa tuôn xối xả, những hạt mưa nóng như nước sôi rơi trong cuồng phong bão táp làm thành những mũi tên phá đốt thiêu rụi tan tác các lâu đài, cung điện cõi Quang-Âm Thiên, cõi Phạm-Thiên.

Mây đen vẫn vần vũ, nước vẫn sôi bỏng, gió bão vẫn quay cuồng, mưa vẫn nối tiếp đốt phá các lâu đài cung điện cõi Tha-Hóa Tự-Tại, cõi Hóa Tự-Tại, rồi cõi Trời Đâu-Xuất, cõi Trời Diệm-Ma, tất cả đều tan nát chẳng còn gì.

Mây đen vô tận vẫn bao phủ, mưa tuôn nước nóng bỏng không ngớt bắn phá các thành quách, lâu đài, cung điên, vườn ao, cây cối v.v.. của cõi Trời Đạo-Lợi, Tứ Thiên-Vương, A-Tu-La, núi lớn núi nhỏ, núi Chúa Tu-Di. Tất cả đều tan nát tiêu tan chẳng còn gì nữa.

Bầu trời đen tối, sấm chớp vang trời, cùng khắp quanh đại địa này, chẳng còn nhìn thấy mặt trời đâu nữa; rồi mưa tuôn nước sôi bỏng, gió cuốn vũ bão khắp cả năm châu bốn biển, mưa triền miên, nước ngập lai láng, sóng trào gió dữ. Mưa đến độ nước đã bao phủ cả đại địa này rồi mà còn vẫn mưa tuôn không ngớt, nhà cửa, cây cối, cầu cống, dinh thự, kiến trúc v.v…, tất cả đều đổ nát, cuốn đi bởi sóng nước, chìm nghỉm trong nước mênh mông. Mưa vẫn rơi, nước vẫn dâng lên dần dần khiến cho núi thấp, rồi núi cao ngập trong biển nước; nước càng tăng lên, gió càng mạnh, sóng càng dồn dập vũ bão, khiến tất cả đều tan rã, quay cuồng, chôn vùi trong lòng hành tinh bao phủ bởi nước.

Khi đại địa này đã bao phủ bởi nước rồi, dù ngọn núi cao nhất như ngọn núi Hy-Mã-Lạp-Sơn (cao gần chín cây số, cao nhất của trái đất) ngày nay chẳng hạn, cũng chìm nghỉm chẳng thấy đâu nữa; nhưng mưa xối xả vẫn tiếp tục, nước ngập núi Chúa Tu-Di, rồi dần dần ngập cõi Trời Đạo-Lợi, tới cõi Trời Diệm-Ma cũng chung một số phận. Mưa vẫn chẳng chịu ngừng, làm cho từ cõi Trời Đâu-Xuất, lên cõi Hóa Tự-Tại, tới cõi Tha-Hóa Tự-Tại, cũng chung số phận nước ngập mênh mông. Đến lúc này, trái đất đã ngập nước sâu không biết bao nhiêu nghìn cây số rồi! Như thế mà đã chịu ngưng mưa đâu, rồi dần dần nước ngập luôn cõi Phạm-Thiên, cho tới cõi Quang-Âm Thiên cũng thế! Như từ nguồn nước vô tận, nước ngập từ cõi trần gian lên đến hết cõi Quang-Âm Thiên tới giáp cõi Biến-Tịnh Thiên mới thôi!

Khi nước đã ngập cõi Quang-Âm Thiên tới giáp cõi Biến-Tịnh Thiên, thì mưa đã cả nghìn vạn năm rồi, các vị Thiên-Tử mới sinh ở cõi Biến-Tịnh Thiên trông thấy mây đen kịt vần vũ, sấm chớp giăng đầy, rúng động phiá dưới thì hoảng hốt nói: “Ôi! Đó là cái gì mà đen kịt vần vũ, chớp lo ngoằn ngoèo, sấm động vang rền như thế?” Các vị Thiên-Tử sinh trước nói: “Đừng sợ, mây đen mù mịt, sấm chớp vũ bão, mưa tuôn tràn ngập, chỉ đến ngang đây mà thôi, đừng lo”.

Gió vẫn thổi, nước vẫn động, sóng luôn luôn vỗ dồn dập bập bềnh, tất cả đều nằm dưới sóng nước mênh mông, ầm ầm, cuốn đi, xô lại, xoáy đi mất hút; lúc này trái đất chìm sâu không biết là bao nhiều nghìn cây số, làm sao mà còn có sinh vật sống sót nổi trôi trên mặt nước? Có chăng là những mảnh vụn tan tác bập bềnh trên mặt nước, cuốn đi xô lại ầm ầm!!

Vẫn như thế, hết ngày này qua năm khác cho tới vài vạn năm, thử hỏi cái gì còn có thể chống đỡ sống sót nổi đại Thủy tai này, có cách gì để chống đỡ đây? Lâu lắm mãi về sau (giai đoạn Hoại: 336 triệu năm), nước giảm đi, rồi dần dần cạn hết, nhưng có còn gì đâu nữa? Tất cả tan nát, mất hết dấu tích, chôn vùi trong lòng đất, không một sinh vật, không cỏ cây, khô cằn, đại địa như chết vậy. Đúng, lúc ấy đại địa đã chết rồi!

Ai đang tâm gây ra cảnh đại họa này, chẳng ai gây ra cả, đó chỉ là thành trụ hoại không của trái đất, hay sự tuần hoàn của vũ trụ; có cách nào chống đỡ nổi đây, ai tin được cảnh đại Thủy tai này? Chỉ ai riêng thấy tự biết mà thôi, phải chăng chỉ có Phật thấy thôi, còn có ai thấy cảnh đại Thủy tai này nữa không?

3)- Đại Phong tai :
Tới một lúc nào đó, có những trận gió bão nổi lên khắp nơi, từ cõi Biến-Tịnh Thiên (Tam thiền) cho giáp tới cõi Quả-Thật Thiên, gió bão nổi lên như điên cuồng (ít ra cũng phải trên một nghìn cây số hay sáu bảy trăm miles (dặm) một giờ) (Trong quyển Thiên văn học và Không gian (Astronomy & Space), nhà khoa học cho biết ở vùng đỏ của hành tinh Mộc (Jupiter) đang có bão với tốc độ 500 cây số/giờ, và tại vùng đen tối của hành tinh Hải-Vương (Neptune) có bão 2000 cây số/giờ), làm cho các lâu đài, cung điện tan nát tiêu tùng; rồi xuống đến cõi Quang-Âm Thiên, cõi Phạm-Thiên cũng cùng một số phận, hết thảy đều nát tan, không còn dấu vết gì nữa.

Bão tố cuồng phong hoành hành tiếp nối tới cõi Tha-Hóa Tự-Tại, cõi Hóa Tự-Tại, rồi đến cõi Trời Đâu-Suất, cõi Trời Diệm-Ma. Số phận các lâu đài, cung điện v.v… của các cõi này cũng vậy thôi, tất cả đều tan nát tiêu tùng, chẳng còn gì nữa.

Khi loạn cuồng phong bão táp xuống tới cõi Trời Đạo-Lợi, Tứ Thiên-Vương, A-Tu-La, núi Chúa Tu-Di, các núi Tu-Di, khiến tất cả thành quách, lâu đài, cung điện, vườn ao, cây cối v.v.. cùng đều tan nát như cám. Cũng giống như có người lực sĩ khổng lồ mạnh vô song, dùng hai tay nắm hai trùy đồng mà đập vào nhau, những gì ở giữa hai trùy đồng đều bị nát ra như cám.

Sau cùng, các cuồng phong thổi đến khắp cả xung quanh đại địa này, tất cả nhà cửa, dinh thự, cầu cống, công trình kiến trúc, cây cối, núi to lớn, núi nhỏ bé, bờ đập, đê điều v.v… đều đổ nát tan tành, vùi lấp. Các ao hồ, suối rạch, sông biển đều dần cạn sạch; các mảnh to, mảnh nhỏ, sỏi đá, cây cối, gạch ngói, đất cát, v.v… bay cao tới cả vài do tuần (3 x 18 = 48 cây số), các mảnh ấy quay cuồng chém phá khắp đại địa chẳng sót một chỗ nào, khiến tất cả đều vỡ tung, tan tác, nát tan.

(Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Feb 10 2012, 01:34 AM
Gửi vào: #45


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐẠI HỎA, THỦY, PHONG TAI,
PHỤC SINH CỦA QỦA ĐẤT


Toàn Không



Cứ thế, hết lớp cuồng phong này tiếp nối tới luồng cuồng lốc khác, tất cả mọi lúc ở khắp mọi nơi cho giáp tới cõi Quả-Thật Thiên, thì cuồng phong bão táp mới ngừng. Nên biết, đại tai họa cuồng phong chỉ ngừng trong thời gian rất lâu dài, đừng nói là một nghìn năm, không phải là vạn năm, (Giai đoạn Hoại = 336 triệu năm) thử hỏi còn cái gì có thể vững bền nổi, có chăng chỉ là những gì được chôn vùi dưới lòng đất mà thôi. Về sau, gió giảm dần, nhưng trái đất tan nát, khô cằn, trống rỗng, chẳng còn gì, không một sinh vật, không một cỏ cây, tàn tạ, im lặng như đại địa chết.

Ai gây ra đại họa này?, chẳng ai gây ra cả, đó chỉ là thành trụ hoại không của địa cầu hay sự tuần hoàn của vũ trụ mà sinh ra như thế. Có cách gì chống đỡ nổi đây, ai tin được cảnh đại họa Phong tai này? Ai riêng thấy thì tự mình biết sự việc xẩy ra, chỉ có Phật thấy cảnh đại Phong tai này mà thôi.

Tóm lại, chúng ta thấy cảnh đại tai khủng khiếp như thế, mọi người nên biết tất cả đều là vô thường, thay đổi, hư hoại, không có cái gì chắc chắn, không thể nương tựa, chẳng còn gì, không ai cứu nổi. Ngay cả địa cầu to lớn như thế, vững chắc như thế, con người dựa trên đất để tạo dựng, để sinh sống, và tưởng chừng như nó sẽ vĩnh cửu trường tồn bất biến; nhưng sự thực chẳng phải thế, tất cả những gì gọi là hữu vi, vật chất, đều như thế đấy. Tất cả đều chịu sự chi phối của thành-trụ-hoại-không, thật là đáng chán nản, vô phương cứu chữa, không đáng nương tựa, tuyệt vọng hoàn toàn; dù có được sinh lên các cõi Trời cũng vậy thôi, không thoát khỏi những cảnh đại tai họa ấy, vậy phải làm sao? Ngồi đấy mà khóc than buồn rầu hay van xin mất thời giờ vô ích, câu trả lời là: “Phải tin mà tìm đạo giải thoát, phải tự cứu mình hầu ra ngoài vòng sinh tử luân hồi, có như vậy mới thoát ra khỏi những tai ách của sáu cõi“.

Thời gian thế giới (trái đất) thành hoại được tính theo Tiểu-Kiếp, Trung-Kiếp, và Đại-Kiếp như sau:
- Một Tiểu Kiếp: Theo Quyển Đường Về Bến Giác của Hòa-Thượng Thích-Thanh-Cát, trang 80, lấy tuổi thọ tối đa là 84,000 năm để tính. Tiểu Kiếp = (84,000-10) x 100 x 2 = 16,798,000 (mười sáu triệu, bảy trăm chín mươi tám nghìn) năm, trong đó con người trải qua từ tuổi tối đa (84,000 tuổi) đến tuổi tối thiểu (10 tuổi) rồi lại tiến lên tuổi tối đa, (thời kỳ giảm cứ một trăm năm giảm một tuổi và thời kỳ tăng lên cũng thế), tức một chu kỳ của tuổi thọ tối đa gọi là một Kiếp.

- Một Trung Kiếp bằng 20 Tiểu Kiếp = 16,798,000 x 20 = 335,960,000 (ba trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm sáu mươi nghìn) năm. Một Trung Kiếp cũng gọi là giai đoạn Thành ( tái lập), hay giai đoạn Trụ (phát triển), hay giai đoạn Hoại (đại tai), hay giai đoạn Không (tạm chết).

- Một Đại Kiếp bằng bốn Trung-Kiếp = 335,960,000 x 4 = 1,343,840,000 (một tỷ, ba trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm bốn mươi nghìn) năm. Một Đại Kiếp gồm bốn Trung Kiếp hay bốn thời kỳ Thành, Trụ, Hoại, Không như trên đã nêu.

Cứ khoảng một đại Kiếp lại xảy ra một đại tai, hoặc Hỏa tai, hoặc Thủy tai, hoặc Phong tai. Sau nhiều lần đại Hỏa tai mới có một lần đại Thủy tai, sau nhiều lần đại Thủy tai mới có một lần đại Phong tai. Như vậy có rất nhiều lần đại Hỏa tai mới có một lần đại Phong tai. (Theo Quyển Đường Về Bến Giác, trang 80 ghi: “Cứ 7 lần hỏa tai lại một lần thủy tai; trong 64 đại kiếp, thế giới hoại vì hỏa tai 56 lần, thủy tai 7 lần, phong tai 1 lần”).

LỜI BÀN VỀ CÁC ĐẠI TAI:

Chúng ta được biết cứ khoảng một đại kiếp lại xảy ra đại tai, nghĩa là khoảng 1,344,000,000 (một tỷ ba trăm bốn mươi bốn triệu) năm lại xảy ra đại tai một lần. Đức Phật cho biết lúc đại Hỏa tai xảy ra có tới 7 mặt trời xuất hiện. Chúng ta không biết tại sao có tới 7 mặt trời, mặt trời ở đâu ra mà nhiều như thế, có lẽ có người cho là vô lý, không thể nào như vậy được, có phải không? Cũng có người bảo “Những đại tai xảy ra do con người không tuân theo ý muốn của một vị Tối cao nên mới như thế”; lý luận này tỏ ra thiếu trí tuệ, tại sao?

Tại vì, ngày nay với Khoa học tiến bộ, các nhà Khoa học đã chụp được cả giải Ngân Hà (Milky Way) mà hệ thống mặt trời (Thái dương hệ) của chúng ta nằm ở bên ngoài cánh xoáy thứ hai về phiá Đông Bắc của giải Ngân Hà. Tất cả các Tinh tú (Stars) thuộc giải Ngân Hà đều quay theo chiều xoắn ốc trong hệ thống của giải Ngân Hà (Xin coi hình bià sau).

Như vậy, chúng ta có thể hiểu tại sao khi bị đại Hỏa tai có tới 7 mặt trời, vì lúc đó hệ thống mặt Trời của chúng ta sẽ quay tới điểm mà ở đó có nhiều mặt Trời (Tinh tú) quần tụ gần nhau, nên các mặt Trời này đã thiêu đốt trái Đất. Do đó, Đức Phật nói khi có đại Hỏa tai có 7 mặt Trời xuất hiện, không còn gì nghi ngờ thắc mắc nữa, và khi hệ thống mặt Trời của chúng ta quay tới chỗ vùng nước hay vùng bão tố, thì trái Đất của chúng ta cũng phải chịu cảnh đại Thủy tai hay đại Phong tai vậy.

Đến đây: chúng ta thấy Khoa học đã chứng minh lời Đức Phật nói, đó là những điều có thể hiểu được, không còn gì là huyền bí nữa.

LỜI BÀN VỀ KIẾP, A-TĂNG KỲ KIẾP:

Theo Trường-A-Hàm, quyển 3, trang 95 ghi: “Kiếp vô chừng , rất lâu dài, cũng ví như núi đá lớn mỗi chiều một do tuần (18km), giả sử có người mang áo trời (áo lớn lắm) trăm năm lau một lần, cho tới khi mòn hết, đó là một Kiếp số”.

Theo quyển Tự Điển Phật Học của Chân-Nguyên và Nguyễn-Tường-Bách trang 214 lại ghi: “Kiếp: Một khái niệm Phật giáo nhằm chỉ một thời gian rất lâu dài. Một thời kiếp được biểu diễn như sau: Cứ trăm năm có người dùng tấm khăn lụa chùi một khối đá lập phương mỗi bề một dặm (1km6=1 dặm) tới lúc khối đá mòn hết, đó là một kiếp”. Chúng ta thấy có sự khác biệt về đơn vị.

Theo quyển Nhị Khóa Hiệp Giải lại, trang 319-323 ghi: ”Kiếp: tiếng Phạn là Kalpa là thời phần, nghĩa là rất lâu dài. A-Tăng-Kỳ: tiếng Phạn là Asamkhya nghĩa là vô số, Bồ-Tát muốn thành Phật phải trải qua 3 A-Tăng-Kỳ. Tiểu Kiếp=16,000,000 năm. Trung Kiếp=20 tiểu Kiếp = 320,000,000 năm. Đại Kiếp = 4 Trung Kiếp = 1,280,000,000 năm”. Như vậy ở đây dùng tuổi thọ tối đa của con người là 80,000 năm để tính ra Tiểu Kiếp nên ngắn hơn.

Cũng trong Trường-A-Hàm, quyển 3 trang 95 ghi: “Cách đây 91 kiếp về quá khứ, có đức Phật Tỳ-Bà-Thi, loài người sống 8 vạn tuổi. Cách đây 31 kiếp về quá khứ, có đức Phật Thi-Khí, khi loài người sống 7 vạn tuổi; cũng cách đây 31 kiếp khi loài người sống 6 vạn tuổi có đức Phật Tỳ-Xá-Bà. Đời Hiền kiếp (kiếp hiện tại), có đức Phật Câu-Lưu-Tôn, loài người sống 4 vạn tuổi; khi có đức Phật Câu-Na-Hàm, loài người sống 3 vạn tuổi; khi có đức Phật Ca-Diếp, loài người sống 2 vạn tuổi. Và nay có Phật Thích-Ca, loài người sống chỉ vào khoảng một trăm tuổi”. Trong quyển Nhị Khóa Hiệp Giải, trang 322 lại ghi: “Trong Hiền kiếp này, tiểu kiếp thứ 9 này, về giảm thời, có bốn đức Phật ra đời: 1) Phật Câu-Lưu-Tôn ra đời, nhằm thời xuống đến thuở con người còn sống được 60,000 tuổi. 2) Phật Câu-Na-Hàm ra đời nhằm thời xuống thuở mà con người sống được 40,000 tuổi. Phật Ca-Diếp ra đời nhằm thời giảm xuống thuở mà con ngưòi sống được 20,000 tuổi. Phật Thích-Ca nhằm thời giảm xuống đến thuở mà toàn thế giới con người chỉ sống được một trăm tuổi”. Chúng ta thấy có sự khác biệt tuổi thọ của con người trong thời kỳ có đức Phật Câu-Lưu-Tôn và đức Phật Câu-Na-Hàm của hai cuốn sách nêu trên.
Ngoài ra, xem về các con số về kiếp các đức Phật xuất hiện, chúng ta thấy và xét rằng:

1)- Trái đất này đã từng trải qua nhiều lần đại tai.
2)- Ở đây không tính các kiếp của thời gian Thành, Hoại, Không, mà chỉ tính các kiếp Trụ mà thôi. Nếu tính các kiếp của các giai đoạn ấy, chúng ta không thể tính 31 kiếp hoặc 91 kiếp về quá khứ mà có loài người đang sống được, vì 31 kiếp về trước là thời kỳ Không, và 91 kiếp về trước là thời kỳ tái Thành lập.

3)- Nếu chấp nhận sự nhận xét ở điểm hai, ta có:

-Đức Phật Tỳ-Bá-Thi xuất hiện cách đây 91 kiếp (Trường A-Hàm, quyển 1, trang 18) phải là cách đây 5 đại kiếp, tức là đã có 5 lần đại tai với thời gian trên 6.5 tỷ năm rồi.
-Đức Phật Thi-Khí và đức Phật Tỳ-Xá-Bà xuất hiện cách đây 31 kiếp phải là cách đây 2 đại kiếp tức là cách nay 2.7 tỉ năm.

Có một điểm chúng ta không biết là: từ ngày qủa đất được thành lập tức là hệ thống mặt trời được thanh lập đến nay là bao lâu rồi? Về điểm này: không thấy Phật đề cập tới, có lẽ Phật muốn để dành cho các nhà khoa học?

4)-Sự phục sinh của Qủa Đất:

Sự phục sinh của trái đất sau mỗi đại tai họa đều tương tự như nhau. Sự tái lập địa sau đại Hỏa tai bắt đầu từ cõi Phạm-Thiên, sự tái lập địa sau đại Thủy tai bắt đầu từ cõi Quang-Âm Thiên, và sự tái lập địa sau đại Phong tai bắt đầu từ cõi Biến-Tịnh Thiên trở xuống cõi trần gian.

Như đã nói ở trên, thời gian sau khi bị một trong ba đại tai họa, lúc đó thế giới này trống rỗng trong một thời gian lâu dài (Hoại+Không=672 triệu năm) sau mới bằt đầu phục sinh trở lại, giai đoạn Thành cũng phải một thời gian là 336 triệu năm.

Tới một lúc nào đó qúa xa xôi cái ngày bị đại họa, tự nhiên mây đen nổi lên khắp nơi, cùng khắp cả thế giới, rồi mưa tuôn khắp cả, hạt mưa to như bánh xe (mưa nước đá); mưa liên miên như thế không ngưng nghỉ, kéo dài cho đến vài nghìn năm; mực nước từ lúc ngập đại địa cho đến khi dâng cao lên không biết là bao nhiêu nghìn cây số nữa.

Mưa đến nỗi mực nước cao ngập luôn cõi Phạm Thiên giáp cõi Quang-Âm Thiên sau đại họa Hỏa tai trước kia, mưa mới dừng lại. Mực nước dâng cao ngập cõi Quang-Âm Thiên đến giáp cõi Biến-Tịnh Thiên sau đại Thủy tai xưa kia, mưa mới dừng lại. Mực nước mưa dâng cao ngập cõi Biến-Tịnh Thiên đến giáp cõi Quả-Thật Thiên sau đại Phong tai xa xưa kia mưa mới dừng lại.

(Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Feb 15 2012, 11:05 PM
Gửi vào: #46


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐẠI HỎA, THỦY, PHONG TAI,
PHỤC SINH CỦA QỦA ĐẤT


(Tiếp theo)
Toàn Không



Khi nước đã ngập đến mức vừa kể trên rồi, không còn mưa nữa, nước bắt đầu giảm dần; lúc đó tất cả thế giới chỉ là một trái banh nước khổng lồ bên trong có cái nhân ở giữa là trái đất, nếu nhìn từ một hành-tinh khác ở xa trông giống một hành-tinh nước. Những cơn gió thổi tới, làm nước chao động, sóng vỗ nổi lên khắp chốn, gió càng mạnh sóng càng lớn, sóng càng lớn bọt nước càng nhiều, bọt kết tụ lại. Gió lại thổi bọt rời nước tung lên hư không lâu dần kết thành lâu đài, cung điện, có nhiều màu sắc đẹp đẽ do bảy báu tạo thành. Do nhân duyên này, mà có cung Biến-Tịnh Thiên, cung Quang-Âm Thiên, và cung Phạm-Di-Ca Thiên (Mắt trần phàm phu con người không thể thấy được các cung điện cõi Trời).

Mực nước tiếp tục giảm xuống vô số do tuần, gió vẫn thổi, nước vẫn động, sóng vẫn nổi ầm ầm, bọt vẫn tụ. Do đó gió đưa bọt lên kết thành Thiên cung Tha-Hóa Tự-Tại, Thiên cung Hóa Tự-Tại, rồi dần dần xuống tới Thiên cung Đâu-Suất, Thiên cung Diệm-Ma.

Rồi mực nước tiếp tục giảm vô số do tuần trong thời gian rất lâu dài, gió thổi sóng vỗ, bọt nổi tụ lại bay lên hư không, tự nhiên rắn chắc lại mà thành các lớp thành quách, Long cung, lâu đài, cung điện, vườn ao, v.v... của cung Trời Đạo-Lợi. Bấy giờ gió cuồng lốc lớn nổi lên, làm cho bọt nước dụm lại mà thành núi Chúa Tu-Di cao một trăm sáu mươi tám nghìn do tuần (168,000 x 18 = 3,024,000 cây số), và rộng tám mươi tư nghìn do tuần (84,000 x 18 = 1,512,000 cây số) ngay phiá dưới cõi Đạo-Lợi; núi Tu-Di tạo bằng bốn thứ báu là vàng, bạc, lưu ly, và thủy tinh.

Các cơn gió lốc khác cũng thổi xoáy làm bọt nước tụ thành nhiều núi Tu-Di khác nữa. Trong khi đó lại có những cơn gió khác thổi bọt nước đồng thời bay lên lưng chừng núi chúa Tu-Di tạo thành cung Tứ Thiên Vương. Sau nữa có những cơn gió thổi làm bọt nước kết tụ lại mà tạo thành các cung điện A-Tu-La v.v...tại bốn bên núi chúa Tu-Di

Sau chót, nước giảm vô số do tuần nữa, gió vẫn thổi, lốc vẫn xoáy, nước vẫn xô động, sóng vẫn dồn dập; sóng nước nhào nặn đại địa này thành lồi lõm, núi đồi lởm chởm, biển hồ sâu thẳm bởi nước xoáy, sông suối ngoằn ngoèo do thế đất cứng mềm và bởi nước chảy xuống chỗ thấp hơn.

Có những nơi ngấn nước sóng làm mòn còn để lại dấu tích ở những điểm thật cao từ từ các ngấn xuống dần, mà chúng ta cứ tự hỏi: “Mức nước ở đâu mà cao đến thế, thời nào có nhiều nước đã làm cho đá ngấn nước sói mòn như thế? Câu trả lời là các mức ngấn nước ấy đã được tạo ra từ khi lập địa hay tái lập địa rồi vậy, mực nước không chỉ đến chỗ ngấn trên đá đó, mà mực nước còn cao hơn rất nhiều, rất là nhiều; cả một trái đất này nằm gọn, bao phủ trong nước.

Các di tích về ngấn nước sóng làm mòn trên núi đá: Chúng ta có thể đến thăm để thấy như trên đỉnh núi đá ở Navarra Tây Ban Nha (Spain); hòn đá khổng lồ Brimham Roch ở Anh Quốc (England); vô số cột đá to lớn trông như ống khói trong vùng đồi thung lũng ở Thổ Nhĩ Kỳ (Goreme Valley Fairy Chimneys, Turkey); vô số lớp ngấn mòn trên đá vùng Torcal de Antequera ở Andalusia; vùng đá đỏ Wadi Rum ở Jordania. Đặc biệt tại Hoa Kỳ những ngấn nước soi mòn đá hàng hàng lớp lớp khắp vùng thung lũng Bryce Canyon National Park và Delicate Arch ở Tiểu Bang Utah; cột đá hình nấm khổng lồ chân rất cao có ngấn nước rõ rệt trên đầu nấm ở Tiểu Bang Kansas; đá đỏ hình tháp to lớn thuộc vùng đồi núi Palo Duro Canyon Tiểu Bang Texas; vùng núi thung lũng đá đỏ ở Tiểu Bang Colorado; và nhất là vô số ngấn nước do sóng soi mòn trên đá đỏ ở vùng Chelly Canyon, vùng the Waves Canyon, và vùng Grand Canyon thuộc Tiểu Bang Arizona, Hoa Kỳ.

Ngày nay với đà văn minh của con người càng ngày càng phát triển, hẳn rằng các nhà khoa học khi khám phá ra các mỏ nọ mỏ kia như mỏ than, mỏ dầu, mỏ khí, v.v... phải nhận ra rằng: “Các mỏ ngày nay có được là do thành trụ hoại không của trái đất này đã tạo ra trải qua những thời gian rất lâu dài vậy”. Lại có Hành-tinh hiện tại đang bao phủ toàn là nước, biết đâu rằng Hành-tinh ấy chẳng đang trải qua thời kỳ đại Thủy tai hoặc đang ở trong thời kỳ lập địa hay tái lập địa? Và nếu ta nhìn trong kính thiên văn thật xa xôi trong vũ trụ, biết đâu rằng ta chẳng thấy có những Hành-tinh đang ở thời kỳ đại Hỏa tai v.v...; nhắc lại thời gian giai đoạn tái Thành lập cho tới khi ổn cố là 336 triệu năm.

LỜI BÀN VỀ NÚI TU-DI VÀ CÁC TẦNG TRỜI:

Khi đọc Kinh sách nói đến núi Tu-Di và các tầng Trời, hầu hết chúng ta đều không thể tưởng tượng được vị trí của chúng ở chỗ nào, người viết sau khi thấy các con số lớn lao qúa, đâm ra lo ngại, vì sao? Vì sau khi đọc và viết xong, người viết khám phá ra rằng nếu Núi Tu-Di và các tầng Trời cao xa trái đất qúa như vậy sẽ có hiện tượng đụng mặt trăng, mặt trời, một điều vô lý; tỉ dụ như núi Tu-Di cao 168,000 do tuần x 18 = 3,024,000 cây số, trong khi các nhà khoa-học cho biết mặt trăng cách trái đất chỉ có 384,400 cây số trong quyển Thiên văn học và Không-gian (Astronomy & Space) của Lisa Miles và Alastair Smith xuất bản năm 1998, trang 24; các nhà khoa học cũng cho biết mặt trời cách trái đất là 150,000,000 cây số, trang 22. Trong khi tính theo quyển Nhị Khóa Hiệp Giải nơi trang 202, thì cõi Trời sắc giới thấp nhất là Phạm-chúng-Thiên cũng đã cao tới 194,400,000 cây số rồi, còn các cõi Trời Vô Sắc giới rất cao, vì sao? Vì lấy con số 168,000 (chiều cao của núi Tu Di) nhân với 2, rồi lại nhân với 2 cho tới 28 lần thành số do tuần của cõi Trời Phi Phi Tưởng là cõi Trời xa chúng ta nhất; tuy nhiên, người viết đã hiểu ra được khi nhìn bức hình của hệ thống mặt trời mà các nhà khoa học đã vẽ trong quyển sách nêu trên. Tất cả các hành tinh đều quay quanh mặt trời và tự quay quanh nó, không có một sự lộn xộn nào; mỗi hành tinh quay một quỹ đạo riêng rất xa nhau, gần như trên một mặt phẳng mà mặt trời ở giữa, và đều có cực nam, cực bắc. Ngoài ra, mặt trăng cũng quay quanh trái đất theo trên dưới đường xích đạo của trái đất; như thế, chỗ có núi Tu-Di và các cõi Trời phải là ở bắc cực đi lên, dù cho các cõi trời có cao tới đâu cũng không đụng chạm mặt trời và các hành tinh không thể đụng vào nhau.

Khoa học đối với trái đất:
Các nhà Khoa học nghiên cứu được những gì đối với quả đất?
Trong quyển Lịch Sử Khoa Học Hoa-Kỳ (The Story of Science in America) của L Sprague De camp và Catherine C De Camo, trang 121, 122 ghi:
- Sự cố gắng đo lường tuổi của trái đất do Buffon giả định là trái đất đã từng nóng sáng như mặt trời, và nó nguội đi thành một qủa cầu bằng đá phải mất 74,832 năm, nhưng các nhà khoa học khác không đồng ý và cho rằng sự dự đoán này qúa ngắn, vì sự nguội của trái đất to lớn nó nguội rất chậm.
- Còn các nhà địa chất học thì đoán rằng để có đủ thời gian cho các khoáng chất (chất muối) rời khỏi đá chảy hết xuống biển và các dòng sông có nước ngọt, phải mất thời gian từ 24 triệu đến 100 triệu năm (đây là thành lập địa, không phải tái thành lập).
- Cuối thế kỷ thứ 19 nhà khoa học Becquerel và Curie dùng kiến thức về phóng xạ để phân tích về nguyên tử Uranium phân hóa dần dần đến khi nó trở thành Chì. Bất cứ một phân lượng nào của Uranium, một nửa của nó sẽ đổi thành Chì phải mất 4.5 tỉ năm, và trong 4.5 tỉ năm kế tiếp, phân nửa còn lại sẽ biến thành Chì. Do đó, các nhà khoa học đoán rằng trái đất đã có từ 4.5 tỉ năm.

Trong quyển Những Nguồn Gốc (Origins), của Neil De grass Tyson và Donald Goldsmith xuất bản năm 2004, trang 236-239 ghi:
- Việc thành lập trái đất cách đây khoảng 4.6 tỉ năm, sau 600 triệu năm thì ổn cố và đời sống bắt đầu xuất hiện trên trái đất này.
- Chúng ta không còn bằng chứng về địa chất trong các thời đại từ hơn 4 tỉ năm đã qua vì sự chuyển động, vỏ trái đất do các lớp đất trườn, trượt lên nhau đã dần dần chôn vùi tất cả những gì đã từng ở trên mặt đất.
- Sự va chạm từ một vật lớn với trái đất vào khoảng gần 10 triệu năm đã tiêu diệt phần lớn những động vật, thực vật trên hành tinh chúng ta. Một sự kiện là sự tiêu diệt loài Dinosaurs (Khủng-Long) cách nay 65 triệu năm cũng tiêu diệt 90% đời sống dưới biển, và 70% đời sống động vật trên mặt đất.
- Hiện tại, chúng ta có được một ít đá có niên kỷ hơn 2 tỉ năm do các nhà Địa chất học khám phá ra, oxy xuất hiện trên trái đất đã làm rỉ chất sắt trong đá đỏ ở vùng Grand Canyon, Arizona, Hoa-Kỳ.
- Cách đây 10 năm một nhà khoa học đoán rằng trái đất chỉ còn tồn tại 100 triệu năm nữa, nhưng cách đây vài năm, nhà khoa học James Kasting và Caldeira lại cho rằng trái đất sẽ tồn tại khoảng 1 tỉ năm nữa; lúc đó mặt trời sẽ bành trướng lớn ra và vỏ ngoài của mặt trời sẽ thiêu hủy trái đất, nhưng có nhà khoa học khác lại cho rằng mặt trời còn đủ nhiên liệu cho 5 tỉ năm nữa.

LỜI BÀN VỀ KHOA HỌC:

Xem vậy, chúng ta thấy các nhà Khoa hoc, đã cố gắng phân tích tìm tòi để biết nguồn gốc của trái đất, nhưng kết qủa chưa có là bao, và những ý kiến nhiều khi tương phản hay không ăn khớp nhau, khiến cho chúng ta càng thêm thắc mắc. Có một điều mà người viết tự hỏi là không biết các nhà khoa học nghiên cứu có biết rằng trái đất đã xẩy ra nhiều lần đại tai như Hỏa tai, Thủy tai không? Vì chính những đại tai này đã xóa đi các dấu vết của đời sống trên trái đất mà đức Phật đã cho biết vậy.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Feb 24 2012, 12:48 PM
Gửi vào: #47


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐỨC PHẬT
NHẬP NIẾT-BÀN


Toàn Không


Sau khi đức Phật độ cho Bà-la-môn Tỳ-sa đà-La gần Trúc-Lâm, Ngài dặn Tôn-giả A-nan-Đà là Thị-giả của Ngài rằng: “Sau khi Ta diệt độ nhập Niết-Bàn, hãy tự thắp đuốc lên mà đi; thắp lên với chính pháp, đừng thắp lên với pháp nào khác; hãy nương tựa với chính mình, đừng nương tựa với một pháp nào khác”.

Đức Thế-Tôn nói với Tôn-giả A-nan-Đà:
- Ta nay đã già rồi, tuổi đã tám mươi, ví như chiếc xe cũ, nhờ phương tiện sửa chữa mà đi đến nơi đến chốn; nay thân Ta cũng thế, nhờ nhập định vô-tưởng không còn nghĩ đến một điều gì, nên thân Ta được yên ổn không đau nhức.

Khi đức Phật đi đến ngôi tháp Già-ba-La, Ngài bảo Tôn-giả trải tọa-cụ dưới gốc cây để Ngài nghỉ tại đấy, khi Tôn-giả trải tọa-cụ xong, đức Phật an tọa rồi bảo:
- Này A-Nan, người nào thường xuyên tu tập bốn món Thần-túc (Như ý túc), có thể tùy ý muốn sống đến một kiếp hay hơn một kiếp cũng được. Này A-Nan, Như-Lai đã nhiều lần tu tập bốn món Thần-túc này, chuyên chú nhớ mãi không quên. Bởi vậy cho nên Như-Lai tùy ý muốn sống một kiếp hay hơn một kiếp cũng được để diệt trừ sự tăm tối cho đời, đem lại lợi ích cho Người và Trời.

Lúc đó Tôn-giả A-nan-Đà nghe rồi làm thinh không thưa hỏi nói năng chi cả, Đức Phật lại nói lần thứ hai, Tôn-giả vẫn làm thinh; Đức Phật lại nói y như thế lần thứ ba, Tôn-giả cũng vẫn làm thinh, vì lúc đó bị ma si ám, mê man không hiểu để thưa thỉnh, rồi đức Phật bảo:
- Này A-Nan nên biết, nay đã phải thời (đến giờ).

Tôn-giả A-nan-Đà vâng ý chỉ, đứng dậy đảnh lễ rồi lui ra, đến một gốc cây không xa ngồi thiền; chỉ trong chốc lát Ma Ba-Tuần đến thưa với Phật:
- Sao Ngài chưa sớm vào Niết-Bàn?, nay đã đúng thời rồi, xin Ngài mau diệt độ.
- Thôi, thôi Ba-Tuần, ngươi đừng nói nữa, Ta đã tự biết thời. Như-Lai giờ đây chưa vội vào Niết-Bàn, vì Ta cần đợi các Tỳ-kheo về đông đủ; trong số đó có những đệ tử đã khéo chế ngự được thân tâm, mạnh dạn không khiếp sợ, họ thường sống trong an ổn. Họ không những việc lợi mình đã làm xong, mà còn làm thầy để dẫn dắt kẻ khác, hiện đang truyền bá chính pháp, giảng giải nghĩa lý; nếu họ gặp chủ thuyết ngoại đạo, họ đủ sức đem chính pháp và sự tự chứng ngộ cùng thần biến của mình ra để hàng phục chúng, nhưng mà những đệ-tử ấy chưa về. Lại có những Tỳ-kheo (Tăng), Tỳ-kheo Ni (Ni), Ưu-Bà Tắc (Cư-sĩ Nam), Ưu-Bà Di (Cư-sĩ Nữ) cũng chưa quy tụ; vả lại Ta muốn truyền phạm hạnh một cách sâu rộng, và phổ biến giáo lý giác ngộ cho hàng Trời-Người đều biết và thấy thần biến.
Ma Ba-Tuần thưa:
- Khi xưa, Ngài ở bên bờ sông Ni-Liên-Thuyền thuộc xứ Uất-Tỳ-La, và lúc ở dưới gốc cây A-du-Ba-Ni-câu-Luật khi Ngài mới thành đạo Chính-Giác, những lúc ấy tôi đã đến thỉnh Ngài nên vào Niết-Bàn; nay đã đúng lúc rồi, vậy xin Ngài hãy mau mau diệt độ.

Đức Phật lại trả lời:
- Thôi, thôi, Ba-Tuần, Ta tự biết thời, Như-Lai chưa vội vào Niết-Bàn, mà cần đợi các đệ-tử trở về, và cho đến hàng Trời-Người đều biết và thấy được thần biến, Ta mới nhập diệt.
Ma Ba-Tuần lại thưa lần thứ ba:
- Thưa Ngài, nay các đệ-tử của Ngài đã nhóm họp, và cho đến hàng Trời- Người đã thấy thần biến, nay đã đúng lúc rồi, sao Ngài chưa diệt độ?

Đức Phật bảo:
- Thôi, thôi, Ba-Tuần, Ta tự biết thời, còn không bao lâu nữa, sau ba tháng này, Ta sẽ ở nơi sinh quán đời trước của Ta, giữa cây Long-Thọ, trong rừng Ta-La thuộc xứ Câu-thi-La mà nhập Niết-Bàn.
Lúc ấy Ma Ba-Tuần nghĩ: “Phật không bao giờ đổi ý, không bao giờ nói dối, và chắc chắn là Ngài sẽ diệt độ”, nên vui mừng nhảy nhót rồi biến mất.

Sau khi Ma Ba-Tuần biến đi không lâu, đức Phật nhập định Ý-tam-Muội mà xả bỏ tuổi thọ; ngay lúc đó cõi đất rung động mạnh, nhân dân cả nước đều kinh sợ, lông tóc dựng ngược. Đức Phật phóng hào quang chiếu khắp các nơi, khi ấy Tôn-giả A-nan-Đà thấy mặt đất rung động và có ánh sáng tỏa chiếu nên kinh hãi, vội vàng đi đến chỗ Phật đảnh lễ rồi thưa:
- Thưa đức Thế-Tôn, lạ thay! Không hiểu lý do gì mà mặt đất rung độmg mạnh như thế, lại có ánh sáng rực lên nữa? Xin Ngài giải thích cho con hiểu.

Đức Phật giảng: Phàm mặt đất rung động có tám nguyên nhân:

Thứ nhất: Đất lẫn với đá, kim loại, nằm trên chất lỏng và nương với nước, nước nương với gió, gió nương với hư không mà tồn tại; nếu gió nổi lên nước chao động, nước chao động làm đất và chất lỏng chuyển dịch, nước chao động quá mạnh nên đất rung rinh chuyển động.
Thứ hai: Tỳ-kheo khi đắc đạo, hoặc vị Thiên-thần tu quán về tính nước nhiều, tính đất ít, hoặc do họ thử sức thần-thông nên làm cho cõi đất rung động.
Thứ ba: Khi có vị Bồ-Tát từ cung trời Đâu-Xuất dáng thần vào thai mẹ, mặt đất rung động.
Thứ tư: Khi vị Bồ-Tát đản-sinh mặt đất rung động.
Thứ năm: Khi Bồ-Tát thành Vô-Thượng Chính-Đẳng Chính-Giác, mặt đất rung động.
Thứ sáu: Khi Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên thì mặt đất rung động.
Thứ bảy: Khi Phật xả tuổi thọ mặt đất rung động.
Thứ tám: Khi Phật nhập diệt mặt đất rung động.

LỜI BÀN VỀ ĐỘNG ĐẤT:

Ngày nay hầu như chỉ có động đất là do điểm thứ nhất, vì điểm 3,4,5,6,7,8 ngày nay không có Bồ-Tát thành Phật. Còn điểm 2 thì qúa hiếm.

Quyển Thiên Văn Học và Không Gian (Astronomy & Space) của Lisa Miles và Alastair Smith trang 22 ghi cấu tạo trong trái đất có 4 lớp như sau: Vỏ ngoài cứng giòn (crust) gồm đá, đất...dầy khoảng 50km. Bên trong là lớp vỏ bao bọc (mantle) gồm chất đặc lẫn chất lỏng, lớp này dày chiếm tới 67% của trái đất. Lớp trong nữa là vỏ ngoài của lõi (outer core), là chất lỏng (liquid), luôn luôn di chuyển; trong cùng (inner core) là lõi cứng (solid) phần lớn là chất sắt; vỏ đất đá cứng giòn làm thành những mảnh, gọi là lớp, tầng, di chuyển đối nghịch nhau; những mảnh lớp này luôn di động, đôi khi gây ra động đất ở chỗ đụng nhau. Khoa học không giải thích tại sao chất lỏng của lõi ngoài luôn luôn di chuyển, thì Đức Phật đã nói là do gió và nước gây ra.

1)-Phật báo 3 tháng trước khi nhập Niết-Bàn.

Sáng hôm sau, đức Phật bảo Tôn-giả A-nan-Đà đến Hương-Pháp nhóm họp hết thảy các Tỳ- kheo chung quanh vùng đến giảng đường Hương-Pháp. Tại đấy, đức Phật dạy các Tỳ-kheo:
- Ta do những Pháp sau đây mà tự chứng ngộ thành bậc Chính-Đẳng Chính-Giác, đó là: “Bốn Niệm-Xứ, Bốn Ý-Đoạn, Bốn Thần-Túc, Bốn Thiền, Năm Căn, Năm Lực, Bẩy Giác-Chi, và Tám Chính-Đạo” (37 Trợ Đạo Phẩm). Vậy các thầy hãy ở trong giáo-pháp ấy siêng năng tu học, cùng nhau hưng say (hưng thịnh say mê) phát triển. Các thầy hãy khéo thụ trì tùy theo trường hợp mà tu hành, tại sao vậy?, vì không bao lâu nữa, Như-Lai, sau ba tháng sẽ nhập Niết-Bàn.

Các Tỳ-kheo nghe Phật nói như thế, hết sức sửng sốt kinh hoàng, hoang mang tột độ, gieo mình xuống đất, giậm chân đập tay, cất tiếng kêu than: “Tại sao đức Thế-Tôn diệt độ qúa sớm? Tại sao con mắt thế-gian diệt mất quá mau? Tại sao đức Thế-Tôn bỏ chúng con bơ vơ? Chúng con sẽ không còn nhìn thấy đức Thế-Tôn nữa. Chúng con sẽ mất đức Thế-Tôn mãi mãi v.v…”

Có Tỳ-kheo thương cảm lăn lóc, cũng như rắn bị chém đứt làm hai, quằn quại, run rẩy, ngẩn ngơ, không còn biết gì cả.
Một lúc trôi qua như thế, đức Phật bảo:
- Các thầy hãy dừng cơn bi lụy, chớ ôm lòng sầu muộn, vì từ Trời, Đất cho đến chư Thiên, Người, Vật, không một cái gì là không thành trụ hoại diệt (sinh ra, phát triển, biến dạng, diệt mất), không một sinh vật nào sinh ra mà không chết đi. Nếu các thầy muốn cho các pháp hữu vi không biến dịch thì không được. Hơn nữa trước đây Ta đã từng giảng rằng: “Ân ái là vô thường, nếu có xum họp ắt phải có chia lià, nhất là thân này không phải của ta, mạng sống không tồn tại mãi mãi được”.

Rồi Ngài nói tiếp:
- Ta sở dĩ khuyên bảo như thế vì tối hôm qua Thiên-Ma Ba-Tuần đã đến thỉnh Ta nhập Niết-Bàn ba lần, tới lần thứ ba Ta đã chấp thuận lời thỉnh cầu ấy, và sau đó Ta đã xả bỏ tuổi thọ rồi.
Bấy giờ Tôn-giả A-nan-Đà đứng dậy, quỳ gối phải, chắp tay thưa:
- Cầu mong đức Thế-Tôn thương xót chúng-sanh, hãy sống thêm một kiếp, không nên diệt độ sớm, để làm lợi ích cho Trời và Người.

Khi ấy đức Phật im lặng không đáp, Tôn-giả A-nan-Đà thưa thỉnh lần thứ hai, đức Phật cũng vẫn im lặng, Tôn-giả thưa thỉnh lần thứ ba, lúc ấy đức Phật mới nói:
- Này A-Nan, thầy ba lần làm phiền Ta, Thầy đã đích thân nghe từ Như-Lai nói là người nào tu tập bốn pháp Như-ý-túc (Thần túc) một cách chuyên chú không quên, nên tuỳ ý muốn kéo dài mạng sống trong một kiếp hay hơn một kiếp cũng được. Như-Lai đã tu tập bốn pháp Như-ý-túc một cách chuyên chú không quên, có thể tùy ý kéo dài tuổi thọ trong một kiếp hay hơn một kiếp, Thầy đã được Ta nhắc đi nhắc lại tới ba lần như thế; tại sao lúc ấy thầy không thỉnh cầu Như-Lai sống một kiếp hay hơn một kiếp? Nay thầy mới nói há không trễ muộn hay sao? Ta ba lần hiện tướng, thầy ba lần làm thinh. Sau đó không lâu, Thiên-Ma tới, thỉnh cầu Ta nhập Niết-Bàn ba lần, Ta đã hứa với Thiên-Ma, và Ta đã xả bỏ tuổi thọ tối hôm qua; một khi đã xả bỏ, nhổ bỏ, mà muốn cho Như-Lai hành động trái với lời nói của mình sẽ không bao giờ có sự kiện ấy.

Bấy giờ đức Phật và Tăng chúng đi đến một khu rừng núi gần thôn Am-ba-La, tại đây, Ngài dạy cho đại chúng về Giới, Định, Huệ; do tu Giới mà được Định, do Định mà có trí-tuệ tức là được Huệ. Do tâm và trí đồng thời cùng tu tập, tu tập nhiều, nên được thanh tịnh và giải thoát. (Còn tiếp)

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Mar 1 2012, 03:59 AM
Gửi vào: #48


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐỨC PHẬT
NHẬP NIẾT-BÀN


(Tiếp theo)
Toàn Không



Tại thôn Am-ba-La, đức Phật nhận thấy cơ duyên hóa độ đã xong, Ngài tiếp tục di chuyển tới thôn Chiêm-Bà, thôn Kiển-Trà, thôn Bà-lệ-Bà, rồi đến vườn Xà-Đầu thuộc thành Ba-Bà. Tại nơi đây có người thợ rèn tên là Châu-Na nghe tin Phật đến, liền thay quần áo chỉnh tề đến chỗ Phật ngự, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi qua một bên. Lúc đó đức Phật giảng dạy cho ông những điều lợi ích, nghe xong lòng tin tràn đầy vui vẻ, ông liền thỉnh đức Phật và đại chúng Tỳ-kheo đến nhà thụ trai cúng dàng vào ngày hôm sau, Đức Phật im lặng nhận lời mời, Châu-Na biết đức Phật chấp nhận lời mời, liền đứng dậy đảnh lễ, ra về.

Nội trong đêm đó Châu-Na và người nhà ông lo sửa soạn thức ăn đầy đủ. Sáng hôm sau, ông đến đảnh lễ trước Phật và nói:
- Thưa đức Thế-Tôn, đã đến giờ thụ trai, kính tin Ngài rõ.
Bấy giờ đức Phật cùng đại-chúng đi đến nhà ông Châu-Na, và mọi người tiến vào chỗ ngồi, Ông Châu-Na bày biện thức ăn cúng dàng đức Phật và chư Tăng. Ông lại nấu một thứ nấm chiên-đàn là thức ăn qúy lạ nhất trên đời đem dâng riêng cho đức Phật. Ngay lúc đó, đức Phật bảo Châu-Na:
- Chớ đem thứ nấm này dâng cúng cho chư Tăng.
Lúc đó, ông vâng lời Phật, không dám hành động trái ngược, nhưng có một vị lão Tăng mới xuất gia, thấy tô nước nấm còn dư để gần chỗ ngồi của mình, lại bưng uống hết!

Sau khi thụ trai, đức Phật giảng pháp cho ông Châu-Na nghe xong, Ngài và đại-chúng lại tiếp tục đi., trên đường đi đức Phật hỏi Tôn-giả A-nan-Đà:
- Ông Châu-Na có ý gì hối hận không?
Tôn-giả A-nan-Đà đáp:
- Thưa Thế-Tôn, ông Châu-Na cúng dàng đức Phật như thế không được lợi phúc gì cả, vì sau khi Như-Lai thụ trai tại nhà ông thì Ngài nhập diệt.

Đức Phật dạy:
- Chớ nói như vậy, chớ nói như vậy. Hiện nay Châu-Na được lợi ích lớn là: “Được sức khoẻ tốt, được tiếng tốt, được sống lâu, có nhiều của cải tiền bạc, đến khi qua đời được sinh lên cõi Trời muốn chi có nấy”, tại sao vậy? Vì: người cúng dàng Như-Lai lúc thành đạo cũng như người cúng dàng Như-Lai lúc sắp nhập Niết-Bàn, công-đức của hai người này không hơn không kém. Vậy thầy hãy đến báo cho Châu-Na biết.

Tôn-giả A-nan-Đà vâng lời dạy của đức Phật, liền trở lại báo tin mừng cho ông Châu-Na biết; Đức Phật đi được một đoạn đường nữa thì bệnh tình phát khởi trầm trọng, nên Ngài phải dừng lại nghỉ dưới một gốc cây.

Bấy giờ có một đệ-tử của một vị A-la-Hán tên là Phúc-Quý, từ thành Câu-di na-Kiệt đi đến thành Ba-Bà, đang đi bỗng trông thấy đức Phật ngồi dưới gốc cây với dung mạo đoan chính, các căn đều tịch tĩnh, tâm ý vắng lặng bậc nhất cũng như hồ nước trong suốt không gợn sóng. Thấy xong, ông liền sinh thiện tâm, bèn vui mừng đi đến chỗ Phật ngồi, cúi đầu đảnh lễ, rồi ngồi sang một bên và nói:
- Thưa Ngài, người xuất gia ưa thích sự nhàn tịnh, khi ở chỗ thanh vắng chuyên tu thì thật kỳ lạ! Dù có đoàn xe năm trăm chiếc chạy ngang qua bên họ, họ vẫn không hay biết. Thầy tôi đã có lần im lặng ngồi dưới gốc cây bên đường, lúc đó có đoàn xe năm trăm chiếc đi ngang qua, tiếng xe chạy ầm ầm, Ngài vẫn thức tỉnh nhưng mà không nghe. Vì sau đó có người đến hỏi thầy tôi rằng: “Nãy giờ ông có thấy đoàn xe chạy ngang qua đây không?”

Thầy tôi trả lời: “Không thấy”.
Người ấy lại hỏi: “Hồi nãy ông có nghe tiếng xe chạy ầm ầm không?”
Thầy tôi đáp: “Không nghe”.
Người ấy thắc mắc hỏi: “Từ nãy đến giờ ông thức hay ngủ?”
Thầy tôi trả lời: “Thức”.

Người ấy im lặng cho là hy hữu và nói với thầy tôi: “Vừa rồi không lâu, có năm trăm chiếc xe chạy qua đường này, tiếng xe vang động như thế mà Ngài không nghe không thấy, có đâu lại nghe chuyện khác?”
Nói xong người ấy đảnh lễ thầy tôi với tâm niệm vui vẻ, rồi ra đi, Đức Phật bảo Phúc-Quý:
- Nay Ta hỏi ông, hãy tuỳ ý mà đáp. Đoàn xe chạy vang động như thế, tỉnh thức mà không nghe; có tiếng sấm sét vang động cả trời-đất, tỉnh thức mà không nghe; trong hai trường hợp đó, cái nào khó hơn?
Phúc-Quý thưa :
- Tiếng ầm ầm của hàng nghìn, hàng vạn chiếc xe chạy sao bằng tiếng sấm sét. Không nghe tiếng ầm ầm của xe chạy chưa hẳn là khó; sấm sét vang động đất-trời, thức tỉnh không nghe mới là khó.

Đức Phật bảo Phúc-Quý :
- Ta có lần ở thảo-lư thuộc thôn A-Việt, lúc đó có một vầng mây lạ xuất hiện, tiếp theo là sấm sét vang động làm chết bốn con bò và hai anh em người đi cầy, do đó mọi người tụ tập lại đông đảo; lúc ấy Ta ra khỏi thảo-lư để đi kinh hành một cách chậm rãi. Trong đám đông ấy có một người đến chỗ Ta cúi đầu đảnh lễ, rồi đi theo Ta kinh hành. Dù biết nhưng Ta vẫn hỏi người ấy: “Họ tụ tập làm gì thế?”
Người ấy hỏi lại Ta: “Nãy giờ Ngài ở đâu? Ngài đã ngủ hay thức?”
Ta đáp: “Ta ở trong thảo-lư và không ngủ”.
Người ấy nói: “Thưa Ngài, người ta tụ tập đông đảo để bàn tán với nhau về việc sấm sét đánh chết hai anh em người đi cầy và bốn con bò; với tiếng sấm sét vang động cả trời-đất như thế, Ngài thức tỉnh mà không nghe thật là hy hữu, chưa từng có, và chưa từng thấy ai được định tĩnh như Ngài”.
Lúc ấy Phúc-Quý có đem theo hai xấp vải màu vàng rất giá trị, từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay thưa:
- Nay con xin dâng cúng dàng hai xấp vải này, xin Ngài xót thương mà nhận cho.

Đức Phật bảo:
- Ông hãy dâng cho Ta một xấp, còn một xấp đem dâng cho Tỳ-kheo A-Nan hiện đang ngồi ở gốc cây đằng kia kià.
Vừa nói, Ngài vừa chỉ tay về phiá Tôn-giả A-nan-Đà, Phúc-Quý vâng lời Phật, dâng lên Ngài một xấp, còn xấp thứ hai mang đến cúng dàng Tôn-giả A-nan-Đà. Sau đó trở lại chỗ Phật nghe đức Phật giảng pháp, nghe xong, Phúc-Quý xin được quy-y Phật-Pháp-Tăng, và nguyện tôn trọng năm giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu); khi Phúc-Quý đảnh lễ ra về rồi, Tôn-gia A-nan-Đà đem xấp vải ấy cúng dường đức Phật.

Khi Tôn-giả A-nan-Đà mặc áo Cà-Sa cho Phật lấy làm ngạc nhiên, vì thấy rằng nước da của đức Phật chiếu sáng lạ thường, nên Tôn-giả nói:
- Thưa đức Thế-Tôn, tại sao có chuyện lạ thường, rất là kỳ diệu. Màu da của đức Thế-Tôn trở nên sáng ngời, rực rỡ một cách lạ thường chưa từng có. Khi con đắp chiếc áo màu vàng lóng lánh lên mình Ngài, thì màu sắc của áo bị lu mờ đi mất.

Đức Phật bảo:
- Có hai trường hợp màu da của Như-Lai trở nên sáng lạng, rực rỡ lạ thường, đó là ngay khi thành Đạo Bồ-Đề và trước khi nhập-diệt.

2)- Đức Phật nhập Niết-Bàn.

Đức Phật tiếp tục đi, lần hồi đến rừng Long-thọ thuộc thành Câu-Thi, nơi sinh quán đời trước, thuộc Bộ-tộc Mạt-La, và Ngài bảo Tôn-giả A-nan-Đà:
- Thầy hãy sửa soạn chỗ cho Ta nằm giữa hai cây Long-thọ, đầu quay về hướng Bắc, mặt quay về hướng Tây.
Tôn-giả A-nan-Đà y theo lời Phật dạy, sửa soạn xong, đức Phật nằm xuống nghỉ, và tự lấy áo Tăng-già-Lê xếp thành bốn lớp đắp lên mình. Ngài nằm nghiêng về phiá bên tay phải, hai chân xếp chồng lên nhau, trông như sư-tử chúa.
Lúc ấy giữa đám rừng cây Long-thọ, có các Quỷ-Thần hết lòng cung kính tin Phật, lấy các thứ hoa trái mùa rải khắp mặt đất. Thấy thế, đức Phật bảo Tôn-giả A-nan-Đà:
- Các Thần Long-thọ này: dùng hoa trái mùa dâng cúng cho Ta như thế, chẳng phải là cúng dàng Như-Lai.
Tôn-giả A-nan-Đà thưa
- Thế nào mới gọi là cúng dàng Như-Lai?

Đức Phật bảo:
- Người nào biết lĩnh thọ, và thực hành chính Pháp mới gọi là cúng dàng Như-Lai.
Khi ấy Tỳ-kheo Phạm-ma-Na đang cầm quạt đứng hầu, đức Phật bảo:
- Này Phạm-ma-Na: thầy chớ đứng trước Ta, hãy đi chỗ khác.
Nghe đức Phật nói vậy, Tôn-giả A-nan-Đà thưa:
- Thầy Phạm-ma-Na thường: hầu hạ bên cạnh đức Thế-Tôn, cung cấp những điều cần thiết cho đức Thế-Tôn, cung kính Ngài không bao giờ biết chán nản mỏi mệt, hôm nay là ngày cuối cùng, nên để cho thầy Phạm-ma-Na hầu hạ, sao đức Thế-Tôn lại đuổi đi là vì lý do gì con không hiểu?

Đức Phật bảo:
- Này A-Nan, chung quanh thành Câu-Thi này, cách xa mười hai do tuần (12 x 15 =180 kilomet = 120 miles) đều có các vị Thiên-Thần chật ních cả. Các vị đại Thiên-Thần đều trách Tỳ-kheo Phạm-ma-Na rằng: “Sao lại đứng trước đức Thế-Tôn như thế, trong giờ phút Thế-Tôn sắp nhập Niết-Bàn ? Chúng ta đến muốn chiêm- bái một lần cuối, nhưng vị Tỳ-kheo này với oai đức lớn lao, ánh sáng chói lòa che lấp tất cả, khiến chúng ta không thấy, không đến gần đức Như-Lai được để lễ-bái cúng dàng”. Này A-Nan, vì thế mà Ta bảo thầy ấy đi chỗ khác.

Bấy giờ Tôn-giả A-nan vội quỳ chắp tay thưa:
- Xin đức Thế-Tôn chớ diệt độ nơi vùng đất hoang vu này, vì hiện nay có các thành nước lớn như Chiêm-Bà, Tỳ-xá-Ly, thành Vương-Xá, nước Bạt-Kỳ, nước Xá-Vệ, nước Ca-duy-la-Vệ, thành Ba-la-Nại. Tại những nơi đó dân cư đông đúc, nhiều người ngưỡng mộ Phật-Pháp-Tăng. Nếu đức Thế-Tôn nhập diệt ở những nơi ấy chắc chắn nhiều người sẽ đến cung kính cúng dàng Xá-lợi Phật.

Đức Phật dạy: (Còn tiếp)

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Mar 8 2012, 11:02 AM
Gửi vào: #49


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐỨC PHẬT
NHẬP NIẾT-BÀN


(Tiếp theo)

Toàn Không


Đức Phật dạy:
- Thôi, thôi, A-Nan chớ nghĩ như thế, Ta đã mất ba tháng để đi tới đây, chớ cho đây là vùng hẻo lánh chật hẹp. Vì từ xa xưa, tại quốc độ này có một vị Vua tên là Đại Thiện-Kiến, thành này lúc đó tên là Câu-xá-bà-Đề, kinh đô của nhà Vua rất nguy nga đồ sộ, dân cư đông đúc, và đời sống rất phồn thịnh. Vua có đủ bảy báu, đó là: “Xe báu, Ngựa-xanh báu, Voi-trắng báu, Cư-sĩ báu, Thần-châu báu, Chủ-binh báu và Ngọc-nữ báu”, Vua dùng chính pháp trị dân. Về sau Vua Đại Thiện-Kiến tự nghĩ: “Ta đã tu hành điều gì mà có được qủa báo tốt đẹp này (?), nay Ta đã hưởng phúc nhân-gian, vậy ta hãy tu về phúc báo cõi Trời”. Nghĩ xong, Vua liền bảo Ngọc-nữ báu rằng: “Ta đã hưởng phúc báo nhân-gian, vậy nay ta cần tu thêm về phúc báo cõi Trời, muốn như thế ta phải tự hạn chế, tránh chỗ ồn ào, đồng thời ở nơi thanh vắng để tu luyện”.

Lúc đó Vua bảo Ngọc-nữ báu ra lệnh cho tất cả mọi người trong ngoài từ nay về sau miễn sự chầu chực Vua, Vua bèn lên Pháp-điện, vào Lầu-vàng, ngồi trên Long-sàng (giường của vua) bằng bạc mà tư-duy quán tưởng; trải qua một thời gian, nhà Vua đạt được ý niệm thanh-tịnh, và chứng được lần lượt từ thiền thứ nhất đến thiền thứ tư, rồi Vua tu tập về tâm Từ.

Bấy giờ Ngọc-nữ báu tự nghĩ: “Đã lâu ta không được d iện kiến đức Vua, vậy nay đã đến lúc ta nên ra mắt Ngài một lần”. Nghĩ xong, ngọc-nữ báu Thiện-Hiền liền ra lệnh cho tất cả Mỹ-nữ trong cung Vua: “Các em hãy tắm gội sạch sẽ, xoa dầu thơm, trang sức áo quần đẹp đẽ; vì đã lâu ta không diện kiến đức Vua, vậy nay ta phải ra mắt Ngài một lần”.

Khi mọi người chuẩn bị xong, Ngọc-nữ báu hướng dẫn đoàn người (đẹp như Tiên-nữ) đến vườn Đa-Lân, tiếng ồn ào (tiếng cười nói như tiếng chim hót liú lo) của đoàn người đến tai Vua. Ngài bèn đi đến bên cửa sổ nhìn xem, thấy Ngọc-nữ báu đang tiến lên bên dưới cửa sổ, Vua liền bảo: “Ngọc-nữ báu, hãy đứng đó, đừng tiến lên, vì ta sắp ra”.

Vua Đại Thiện-Kiến đi ra khỏi điện Chính-Pháp, tiến đến chỗ ngồi tại vườn Đa-Lân, Ngọc-nữ báu đến trước mặt Vua mà thưa: “Tâu Đại-Vương, nay nhan sắc Ngài trở nên tươi đẹp hơn lúc bình thường, chắc không phải điềm gì khác hơn là Ngài xả bỏ tuổi thọ chăng?”

Ngọc-nữ báu nói tiếp: “Vậy nay đây,

Trong tám vạn bốn nghìn cỗ Xe, Xe-báu là giá trị nhất;
Trong tám vạn bốn nghìn loại Ngựa, Ngựa-xanh báu chạy nhanh hơn cả;
Trong tám vạn bốn nghìn loại Voi, Voi-trắng can đảm nhất;
Trong tám vạn bốn nghìn Bảo vật, Thần-châu báu quý nhất hạng;
Trong tám vạn bốn nghìn Cư-sĩ, Cư-sĩ báu quý giỏi hơn cả;
Trong tám vạn bốn nghìn Sát-đế-Lỵ, Chủ-binh báu anh dũng số một;
Trong tám vạn bốn nghìn Mỹ-nữ, Ngọc-nữ báu đẹp đẽ đảm đang hơn hết các Mỹ-nữ;

Trong tám vạn bốn nghìn thành-trì, thành Câu-xá-bà-Đề này lớn nhất với cung-điện Chính-Pháp, lâu-đài Đại-Chính đều hơn hết thảy; tất cả các thứ báu ấy đều của Đại-Vương đấy, xin Ngài một chút lưu tâm để cùng hưởng vui thú, chớ vội qua đời bỏ muôn dân phải cô quạnh thương nhớ”.

Vua Đại Thiện-Kiến trả lời Ngọc-nữ báu rằng: “Từ xưa tới nay nàng đã cung phụng ta một cách từ-ái, chưa bao giờ có những lời nói sơ sót, sao nay lại có những lời nói ấy; tất cả các thứ báu ấy đều là vô thường, không gìn giữ lâu dài được, mà nàng khuyên ta phải giữ lấy là thuận sao?”
Ngọc-nữ báu thưa: “Chẳng hay Đại-Vương bảo phải nói như thế nào mới đúng?”

Nhà Vua ôn tồn bảo Ngọc-nữ báu: {{Nếu như nàng nói rằng: “Các thứ báu ấy đều là vô thường không gìn giữ lâu được, xin Ngài không nên lưu luyến làm chi cho nhọc tâm tổn sức”, tại sao vậy? “Vì mạng sống của Đại-Vương, không còn kéo dài được bao lâu nữa, sẽ chấm dứt, để qua đời khác; trên đời này hễ có sinh ắt có tử, có hợp thì có tan, và không sống đời mãi mãi được. Vậy Ngài hãy cắt đứt ái ân mà giữ ý đạo”; đây chính là lời nói kính thuận vậy}}.

Đức Phật kể tiếp:
- Này A-Nan, khi ấy Ngọc-nữ báu nghe đức Vua dạy xong, nức nở khóc, buồn rầu rũ rượi, ngậm ngùi nhắc lại các lời Vua vừa dạy bảo; trong khi Ngọc-nữ báu nước mắt giàn giụa, nói lời vỗ về ấy thì Vua Đại Thiện-Kiến bỗng nhiên băng-hà (qua đời) mau chóng, nhẹ nhàng và đơn giản.

Sau khi Vua Đại Thiện-Kiến băng-hà, lần lượt Ngọc-nữ báu, Chủ-binh báu, Cư-sĩ báu, Voi-Trắng báu, và Ngựa-xanh báu chết dần dần hết; xe báu, và Thần-châu báu đều biến mất, còn thành-trì, cung-điện, và lâu-đài cũng dần dần đổ nát hết mà biến vào đất.

Này A-Nan, Ta còn nhớ thời xa xưa ấy, đã sáu lần làm Chuyển-Luân Thánh-Vương, và đã có lần Ta bỏ xác tại nơi đây. Nay Ta đã thành Vô-Thượng Chính-Giác, lại cũng muốn bỏ xác tại đây; từ nay về sau Ta dứt hẳn sinh tử, không còn chỗ nào là chỗ bỏ xác Ta nữa, đây là lần cuối cùng.

Bấy giờ đức Phật bảo Tôn-giả A-nan-Đà vào thành Câu-Thi báo cho dân chúng biết, khi Tôn-giả đến nơi gặp một nhóm người đông đảo vì một nhân duyên đang tụ họp, Tôn-giả nói:
- Này quý vị, tôi vì lợi ích của quý vị mà đến báo tin là đức Như-Lai định vào lúc nửa đêm hôm nay, Ngài sẽ vào Niết-Bàn. Quý vị nên đến nơi hai cây đại Long-thọ thuộc rừng Ta-La là chỗ Như-Lai đang ngự để kịp thời hỏi những điều hoài nghi, và trực tiếp nghe Ngài chỉ dậy, để sau khỏi hối tiếc.

Khi nghe những lời ấy, họ đều kinh ngạc, kêu than, rồi họ bảo nhau về nhà đem quyến thuộc cùng đi đến rừng Ta-La chỗ có các cây Long-thọ; Tôn-giả A-nan-Đà dẫn số người này đến trước đức Phật đảnh lễ và thăm hỏi xong, đức Phật vì họ mà dạy về lý vô thường, và chỉ dẫn những điều lợi ích vui mừng. Khi nghe Pháp xong, các người Mạt-Na đem năm trăm thước (mỗi thước bằng hai gang tay) vải trắng đã mang theo dâng lên cúng dàng đức Phật, và đảnh lễ lui về.

Lúc đó trong thành Câu-Thi có một Phạm-chí tên là Tu-Bạt, đã một trăm hai mươi tuổi, nhưng còn khoẻ mạnh, là bậc kỳ cựu, trí thức; nhân nghe Sa-môn Cù-Đàm đêm nay sẽ diệt độ vào lúc nửa đêm, ông tự nghĩ: “Ta đối với giáo pháp còn có điều nghi ngờ, chỉ có đức Cù-Đàm Như-Lai mới hiểu ý ta, ta nên đến để kịp hỏi Ngài”. Ngay lúc đó ông cố gắng đi đến rừng Ta-La chỗ các cây Long-thọ, khi tới nơi, ông gặp tôn-giả A-nan-Đà và xin được bái yết đức Như-Lai vì có điều còn nghi ngờ muốn hỏi. Tôn-giả từ chối vì cho rằng đức Thế-Tôn mệt nhọc chịu không nổi, ông Tu-Bạt cố nài xin đến ba lần, nhưng vẫn bị Tôn-giả A-nan-Đà từ chối như thế, khi đó đức Phật nghe được và Ngài bảo Tôn-giả:
- Này A-Nan, thầy không nên ngăn cản, hãy để cho ông ấy đến gặp Ta, vì ông ấy muốn giải quyết điều nghi ngờ, không có gì phiền phức cả; vả lại ông ấy nghe pháp Ta chắc chắn sẽ được giải thoát.

Vâng lời đức Phật, Tôn-giả A-nan-Đà để cho ông Tu-Bạt đến chào hỏi đức Phật xong ông thưa:
- Tôi có điều nghi về giáo-pháp, Ngài có khoẻ để giải quyết cho một lần chăng?

Đức Phật đáp:
- Ông cứ tuỳ ý hỏi.
Ông Tu-Bạt liền nói:
- Tại sao có những người tự xưng là bậc thầy như các ông Phật-lan-Ca-na-Diếp, ông Mạt-già-Lê-Kiều-Xa-Lê, ông Ba-phù-ca-Chiên v.v. những người này đều có giáo-pháp riêng, đức Sa-môn Cù-Đàm có biết hết hay không?
- Thôi, thôi, khỏi nói nữa, những giáo-lý của các ông ấy Ta đã biết tất cả; nay Ta vì ông mà nói đến giáo-pháp thâm diệu, ông hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ về giáo-pháp này.
- Vâng.
- Nếu trong giáo-pháp nào không có Tám Thánh-đạo, nghĩa là không có: “Chính Kiến, Chính Tư-duy, Chính Ngữ, Chính Mệnh, Chính Nghiệp, Chính Tinh-tấn, Chính Niệm, và Chính Định”, thì trong giáo-pháp đó không có bốn quả Sa-môn thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, và thứ tư. Này ông Tu-Bạt, trong giáo-pháp của Ta có bát Thánh-đạo, nên có bốn qủa Sa-môn; trái lại trong giáo-pháp ngoại đạo không có bát Thánh-đạo, nên không có bốn qủa vị Sa-môn; nếu các Tỳ-kheo kìm hãm tâm lại để tu hành thì thế-gian này sẽ không bao giờ mất hẳn qủa vị A-la-Hán.
- Tôi nay có được ở trong giáo-pháp của Ngài mà xuất gia thọ cụ-túc giới không?
- Này ông Tu-Bạt, nếu có người Phạm-chí tu theo pháp khác, nay muốn dự vào pháp của Ta để tu hành, phải trải qua bốn tháng thử thách, hầu xem xét hành vi họ, chí nguyện họ, tính nết họ. Nếu thấy đầy đủ tư cách, không gì thiếu sót mới cho họ ở trong giáo-pháp của Ta thọ cụ-túc giới; nhưng ông nên biết, tuy vậy còn tuỳ theo hành vi của mỗi người mà xét.

Ông Tu-Bạt thưa:
- Như thế hàng ngoại đạo học theo giáo-pháp khác phải tập sự thử thách, trải qua bốn tháng để xem xét hành động họ thế nào, nếu thấy đầy đủ tư cách, không thiếu oai nghi, mới được thọ cụ-túc giới; nay tôi xin ở trong chính-pháp của Ngài phục-dịch bốn năm, một khi không còn sơ suất, mới xin được thọ cụ-túc giới.

Ngay trong đêm ấy, ông Tu-Bạt xuất gia thụ giới, tu hạnh thanh-tịnh, tinh tấn hành trì theo lời Phật giảng dạy, và tự mình chứng ngộ ngay trong hiện tại. Khi gần nửa đêm, ông chứng qủa A-la-Hán, và ông xin được diệt độ trước đức Phật. Ông là đệ-tử cuối cùng, và lúc ấy ông là đệ-tử nhiều tuổi nhất của đức Phật.

Bấy giờ, Tôn-giả A-nan-Đà không ngăn nổi cơn bi lụy, ngậm ngùi than khóc vì đức Phật sắp nhập diệt trong khi Tôn-giả chỉ mới lên được bực có học (hữu học) mà đạo qủa chưa thành. Đức Phật biết thế, nên Ngài nói với Tôn-giả:
- Này A-Nan, thôi đi, chớ có nức nở khóc than, từ trước tới giờ Thầy hầu hạ Ta với cử chỉ hiền hòa khiêm tốn, lời nói lễ độ đúng pháp, ấy là Thầy đã cúng dường Ta, công-đức rất lớn; nếu có sự cúng dàng nào từ Trời, Ma, Sa-môn, Bà-la-Môn, cũng không sao sánh được, Thầy hãy cố gắng lên, ngày thành đạo không còn bao lâu nữa.

(Còn tiếp)

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Mar 15 2012, 09:57 AM
Gửi vào: #50


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21




ĐỨC PHẬT
NHẬP NIẾT-BÀN



(Tiếp theo)

Toàn Không




Rồi đức Phật khen ngợi nhiều công-đức khác của Tôn-giả A-nan-Đà, Tôn-giả cảm thấy phấn khởi khi được đức Phật ngợi khen, nên nguôi quên đi sự bi lụy, Tôn-giả vội qùy gối trước Phật mà nói:
- Thưa đức Thế-Tôn, sau khi Ngài diệt độ rồi, các hàng đệ-tử làm thế nào để tưởng nhớ đức Phật?
- Này A-Nan, chớ lo, các hàng đệ-tử sẽ có bốn chỗ để tưởng nhớ Phật là:

1- Thứ nhất là chỗ Phật Giáng-sinh có những công-đức như thế.
2- Thứ hai là nơi Phật Thành-đạo có những thần-lực như thế.
3- Thứ ba là nơi Phật chuyển Pháp-luân lần đầu có những sự hóa-độ như thế.
4- Thứ tư là chỗ Phật vào Niết-Bàn có những lời di-chúc như thế.

Các hàng đệ-tử có bốn chỗ ấy để tưởng nhớ, vui mừng muốn thấy, ghi nhớ không quên, và sinh lòng luyến mộ; rồi mỗi người nên đi đến bốn nơi đó, sau khi kính lễ, xây Chùa dựng Tháp, thì sau khi qua đời đều được sinh lên cõi Trời.

Tôn-giả A-nan-Đà hỏi tiếp:
- Thưa đức Thế-Tôn, sau khi Phật nhập diệt, có những đệ-tử ngỗ nghịch, tự chuyên ương ngạnh, không tuân theo giáo-luật của Phật, phải đối xử với người này như thế nào?
- Này A-Nan, sau khi Ta diệt độ, nếu có những hạng người như thế, các thầy hãy đem họ mà xử trị theo pháp Phạm-đàn là thông báo cho các đệ-tử khác, không ai được nói chuyện với họ, hoặc tiếp xúc, tới lui, dạy dỗ, cộng tác với họ.
- Này A-Nan, Thầy cho rằng các Tỳ-kheo không có nơi nương tựa, không có ai che chở sau khi Ta nhập diệt ư? Đừng nghĩ như vậy, những Kinh, Luật mà Ta đã giảng dạy từ khi thành Phật đến nay là chỗ nương tựa che chở cho các Thầy đó, từ nay trở đi, Ta cho phép các thầy được tùy nghi bỏ bớt các giới nhỏ nhặt; các Thầy hãy lễ độ, trên dưới hòa thuận với nhau, đó là pháp kính thuận của người xuất gia mà các thầy cần để ý.
- Này các Tỳ-kheo, các thầy đối với Phật, Pháp, chúng Tăng và Chính-Đạo còn có điều gì nghi ngờ không?, ai nghi ngờ, không hiểu bất cứ điều gì thì hỏi ngay đi cho kịp thời, để sau này khỏi hối tiếc, vì giờ này Ta vẫn còn đây và giải quyết cho.

Khi ấy các thầy Tỳ-kheo đều yên lặng không người nào có thắc mắc, Đức Phật hỏi như thế lần thứ hai, rồi Ngài hỏi lần thứ ba, các thầy Tỳ-kheo cũng vẫn im lặng, đức Phật lại nói:
- Nếu các Thầy e ngại không dám hỏi thì nhờ người khác hỏi giùm cho kịp, để sau này khỏi hối tiếc.

Lúc ấy vẫn không có thầy Tỳ-kheo nào nêu thắc mắc, Tôn-giả A-nan-Đà đứng lên, quỳ xuống, chắp tay nói:
- Thưa đức Thế-Tôn, con tin trong đại chúng này, ai nấy đều có lòng tin thanh-tịnh, không còn hoài nghi về Phật, Pháp, Tăng nữa.

Đức Phật dạy:
- Này A-Nan, Ta biết trong đại chúng này, dù một Tỳ-kheo nhỏ nhất cũng thấy được dấu đạo, không còn đọa vào đường ác, chỉ còn bẩy lần sinh lại cõi dục này là diệt hết khổ.

Bấy giờ đức Phật thọ ký cho một nghìn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo đệ-tử chứng được đạo qủa, xong Ngài để lộ cánh tay sắc vàng và bảo các đệ-tử:
- Các Thầy nên nhớ rằng Như-Lai xuất hiện ở đời cũng như hoa Ưu-đàm bát-La xuất hiện vậy, và Ngài diễn tả lại bằng bốn câu Kệ:

Cánh tay phải sắc vàng,
Phật hiện như linh-thụy,
Đến đi đều vô thường,
Hiện diệt không buông lung.

Các Thầy không nên: buông lung phóng dật (lười biếng) trong việc tu hành, Ta nhờ không buông lung mà thành Chính-Giác, và vô lượng điều lành đều nhờ không buông lung mà có được.

Ngừng lại một vài giây, đức Phật nói tiếp:
- Các thầy nên biết: “Tất cả vạn vật đều vô thường, vì không có cái gì bền vững mãi mãi, đó là lời dạy cuối cùng của Như-Lai mà các Thầy phải ghi nhớ”

Dạy các đệ-tử xong, đức Phật để tay trái xuôi trên hông bên trái, chân trái vẫn chồng trên chân phải, từ từ khép hai mắt lại. Khởi đầu, Ngài vào định Sơ-thiền, rồi từ định Sơ-thiền ra để vào định Nhị-thiền; từ định Nhị-thiền ra để vào định Tam-thiền; từ định Tam-thiền ra để vào định Tứ-thiền; từ định Tứ-thiền ra để vào định Không-xứ (Không Vô Biên Xứ); từ định Không-xứ ra để vào định Thức-xứ (Thức Vô biên xứ); từ định Thức-Xứ ra để vào định Bất-dụng (Vô sở Hữu xứ); từ định Vô-dụng ra để vào định Hữu-tưởng; từ định Hữu-tưởng ra để và định Vô-tưởng; từ định Vô-tưởng ra để vào định Diệt-tưởng (Phi Tưởng Phi Phi Tưởng).

Lúc đó Tôn-giả A-nan-Đà hỏi Tôn-giả Trưởng-lão A-na-Luật:
- Thưa Trưởng-lão, đức Thế-Tôn đã nhập Niết-Bàn rồi sao?
- Chưa, đức Thế-Tôn hiện đang ở trong định Diệt-tưởng, tôi lúc trước ở gần đức Thế-Tôn được nghe rằng khi từ định Tứ-thiền ra lần thứ hai, thì đức Thế-Tôn mới nhập Niết-Bàn.

Khi ấy đức Phật từ định Diệt-tưởng ra để vào định Vô-tưởng (bắt đầu ngược lại), rồi từ định Vô-tưởng ra để vào định Hữu-tưởng, định Bất-dụng, định Thức-xứ, định Không-xứ, định Tứ-thiền, định Tam-thiền, định Nhị-thiền ra để vào định Sơ-thiền. Rồi Ngài lại từ định Sơ-thiền ra để vào định Nhị-thiền, từ định Nhị-thiền ra để vào định Tam-thiền, từ định Tam-thiền ra để vào đinh Tứ-thiền, từ định Tứ-thiền ra, đức Phật nhập Niết-Bàn.

Ngay lúc ấy, mặt đất rung động mạnh, Trời, Người, muôn vật đều khủng khiếp kinh hoàng; những chúng-sanh ở những chỗ tối tăm, nơi kín đáo, hang hốc, không có mặt Trời hay mặt Trăng chiếu đến đều được soi sáng, trông thấy lẫn nhau. Trên trời: Chư vị Trời Đao-Lợi ở giữa hư không rải hoa như tuyết rơi để cúng dàng đức Như-Lai, hoa phủ cả một vùng rộng lớn.

3)- Tán thán và cúng dàng thân Phật.

Bấy giờ Phạm Thiên-Vương, Đế-Thích, Thần-Kim Tỳ-La, Phật-Mẫu (Mẹ của Phật), Thần Long-Thọ, Thần rừng Ta-La, Trời tứ-Thiên-Vương, Trời Đao-Lợi, Trời Diệm-Ma, Trời Đâu-Xuất, Trời Hóa-Tự-Tại, Trời Tha-Hóa Tự-Tại, Vua Tỳ-Sa-Môn, Tôn-giả A-na-Luật, Tôn-giả Phạm-ma-Na, Tôn-giả A-nan-Đà, Lực-sĩ Mật-Tích (Thần hộ vệ của đức Phật), và các Tỳ kheo lần lượt nói Kệ tán thán đức Phật.

Sau khi các vị nêu trên tán thán đức độ siêu Phàm vượt Thánh của đức Phật xong, các Tỳ-kheo cảm thấy cô độc vì đã mất đi cả một bầu trời sáng lạng. Các thầy buồn rầu, khóc than, lăn lóc kêu rên vì không kìm hãm nổi nỗi xúc động, và kể lể:
- Đức Thế-Tôn diệt độ quá sớm! Đại-Pháp chìm quá sớm, mắt thế-gian đã diệt mất, cũng ví như cây lớn đã tróc gốc rễ thì cành lá phải bị gẫy đổ, v.v…
Bấy giờ Tôn-giả A-na-Luật bảo:
- Thôi đi, thôi đi, các thầy chớ có khóc lóc, than vãn như thế nữa, kẻo vô số các vị Trời trên hư không nhìn xuống, họ sẽ chê trách chúng ta.
Các thầy Tỳ-kheo hỏi Tôn-giả A-na-Luật:
- Trên hư không có bao nhiêu vị Trời ?
- Các vị Trời đầy cả hư không, đâu có đếm tính mà biết hết được; họ cũng buồn bã, than van, nhưng không ồn ào như chúng ta.

Sáng hôm sau, vâng lời Trưởng-lão A-na-Luật, Tôn-giả A-nan-Đà vào thành Câu-Thi báo cho dân chúng biết, khi gặp một đám đông người nhân có một chút duyên sự nhóm họp tại một nơi, Tôn-giả A-nan-Đà bảo họ:
- Nay tôi vì muốn sự lợi ích cho qúy vị, nên đến đây báo cho qúy vị biết, đó là đức Phật đã diệt độ trong đêm qua tại rừng Ta-La giữa hai cây đại Long-thọ, nếu như qúy vị muốn cúng dàng thân Phật thì hãy đến cho kịp.

Dân chúng Mạt-La nghe lời ấy xong, thảy đều xúc động than tiếc, và bảo nhau:
- Chúng ta hãy về nhà báo cho bà con, anh em, bạn bè, xóm giềng biết, cùng sửa soạn hương hoa, kỹ nhạc đến rừng Ta-La chỗ những cây đại Long-thọ để cúng dàng thân Phật.

Những thân-hào nhân-sĩ Mạt-La dự trù: “Dân chúng sẽ đến cúng dàng thân Phật trong một ngày tại rừng Long-thọ, rồi sau đó để thân Phật trên một cái kiệu lớn, đồng thời cho các Đồng-tử Mạt-La khiêng kiệu, có phướn, lọng, bảo cái, xông hương, rải hoa, và kỹ nhạc đi khắp bốn hướng thành để mọi người trong thành chiêm bái. Sau nữa là rước thân Phật đến một ngọn đồi cao ở phiá Bắc thành Câu-Thi để làm lễ trà-tỳ”(hỏa thiêu).

Một ngày cúng dàng trôi qua, các người Mạt-La thỉnh thân Phật đặt trong kiệu, rồi những thanh niên trai tráng xúm quanh lại khiêng kiệu, nhưng họ nhấc kiệu lên không được, dù có tăng thêm nhiều người cũng vậy. Tôn-giả A-na-Luật liền bảo:
- Này các vị, hãy thôi đi, chỉ nhọc công các trai tráng một cách vô ích, vì chư vị Trời chưa muốn đưa rước thân Phật vào trong thành, họ muốn lưu thân Phật tại nơi đây bảy ngày để cho tất cả Chư-Thiên ở các tầng Trời đến kính lễ cúng dàng. Sau đó mới thỉnh kiệu vào cửa Đông qua cửa Tây, xuống cửa Nam, lên cửa Bắc để cho dân chúng được chiêm bái; từ cửa Bắc qua sông Ni-liên-Thiền, đến Chùa Thiên-Quan mà làm lễ trà-tỳ, đó là ý chư vị Trời, khiến không nâng kiệu lên được.
Người Mạt-La nói:
- Hay lắm, xin tuỳ ý chư Thiên,

Lúc ấy, người Mạt-La bảo nhau cử một số người ở lại để dâng hương, hoa, đèn, và hòa tấu kỹ nhạc cúng dàng thân Phật; những người không có nhiệm vụ ở lại, về thành cổ động anh em bà con dân chúng, quét dọn cổng ngõ đường sá và chuẩn bị các việc trong thành; họ còn phân chia nhau để luôn luôn có người phụ trách việc dâng hương hoa đèn, và hòa tấu nhạc cúng dàng thân Phật suốt trong cả bảy ngày lẫn đêm.

Đúng hết hạn bảy ngày, các thanh niên Mạt-La thỉnh kiệu lên vai, có treo bảo cái, cầm phướn, lọng, xông hương, rải hoa, và trỗi nhạc; đoàn người đi theo kiệu đủ cả tăng tục, nam phụ lão ấu, thứ lớp thong thả, đi chật cả một đoạn đường dài.

(Còn tiếp)

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Mar 22 2012, 11:44 PM
Gửi vào: #51


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



ĐỨC PHẬT
NHẬP NIẾT-BÀN


(Tiếp theo)


Toàn Không



Khi đoàn rước thân Phật bắt đầu đi, thì các vị trời Đao-Lợi rải năm loại hoa Trời xuống như tuyết rơi, như bướm bay, rợp cả một vùng trời. Nhạc Trời trỗi lên âm vang cả một vùng rộng lớn có các Qủy-Thần xướng ca tiễn đưa, làm lấn át tiếng nhạc của cõi Người! Người Mạt-La thấy thế nên bảo nhau:
- Hãy dừng nhạc của chúng ta, thỉnh nhạc của chư Thiên hay hơn, đặc biệt hơn.

Khi đoàn rước thân Phật đã đi hết bốn cửa thành, dân chúng Mạt-La của thành Câu-Thi tán thán cúng dàng chiêm bái xong, họ rước thân Phật ra cửa thành phiá Bắc, qua sông Ni-liên-Thiền, rồi đến Chùa Thiên-Quan. Tại đây, các vị Bô-Lão Mạt-La hỏi Tôn-giả A-nan-Đà:
- Chúng tôi giờ đây nên hỏa táng thân Phật bằng cách nào? Xin Tôn-giả cho biết.

Tôn-giả A-nan-Đà đáp:
- Tôi đích thân nghe đức Phật dạy là muốn táng thân Phật hãy theo cách táng một vị Chuyển-Luân Thánh-Vương mà làm. Trước hết lấy nước thơm tắm rửa, lau khô thân Ngài, và dùng năm trăm thước vải trắng cuốn quanh nhiều lần; rồi đặt thân Ngài vào trong Kim-quan (Quan-tài), lấy dầu vừng (dầu mè) tưới vào, và đậy nắp Kim-quan lại. Sau nữa đặt Kim-quan vào trong một cái Quách bằng sắt (Kim-Tĩnh), rồi đặt cái Quách bằng sắt này vào trong một cái Quách bằng gỗ thơm chiên-đàn (ba lớp cả thảy). Sau chót là đặt cái Quách gỗ chiên-đàn trên một giàn củi gỗ, rồi chất lên trên và chung quanh củi gỗ và hương liệu nổi tiếng mà trà-tỳ (thiêu táng). Trà-tỳ xong, thu nhặt Xá-Lợi, xây Tháp ở các ngã tư đường lớn, đặt Xá-Lợi trong Tháp, đồng thời treo bảo cái, phướn lọng để mọi người trông thấy dễ dàng.

Đức Phật bảo: “Nếu muốn táng Ta cũng làm như thế, để mọi người tưởng nhớ và kính mộ công-đức của Như-Lai. Nhờ đó khi còn sống họ được phúc lợi, khi chết họ được sinh đến cõi lành, ngoài ra đối với người tu được dễ dàng thấy đạo”.

Nghe rồi, dân Mạt-La chia nhau đi lo chuẩn bị các thứ cần thiết, khi có đầy đủ các thứ, họ trở lại và làm đúng như lời tôn-giả A-nan-Đà đã nói; lúc mọi việc tẩm liệm xong xuôi, có vị Đại-thần dòng Mạt-La tên là Lệ-Di, tay cầm bó đuốc lớn cúi đầu xá lạy, rồi châm lửa từ bó đuốc vào giàn hỏa thiêu kim-thân đức Phật, nhưng châm mồi một lúc lâu vẫn không cháy? Kế đó có vị Trưởng-lão Mạt-La cầm đuốc khác đốt theo, nhưng giàn hỏa thiêu cũng vẫn không cháy, rồi nhiều bó đuốc khác cùng châm mồi đốt một lượt, nhưng lạ thay giàn hỏa thiêu vẫn không cháy lên được?! Thấy vậy, Tôn-giả Trưởng-lão A-na-Luật bảo:
- Thôi đi qúy vị, các ông không đốt cháy được đâu. Giàn hỏa không cháy được là do ý các vị Trời, vì chư Thiên muốn đợi vị đại đệ-tử của Phật là Tôn-giả Đại Ca-Diếp dẫn năm trăm Tỳ-kheo từ nước Ba-Bà đến đây, hiện nay họ đang đi nửa đường về đây cho kịp thấy thân Phật trước khi trà-tỳ.

Lúc đó Tôn-giả Đại Ca-Diếp đang dẫn các đệ-tử Phật trên đường vội vã đến để chiêm bái thân Phật, gặp một thanh niên trong tay cầm một đóa hoa trời Văn-đà-La, Tôn-giả hỏi:
- Anh bạn trẻ từ đâu lại đây có biết Thầy tôi không?
- Tôi từ thành Câu-Thi lại đây, Thầy ông nếu là Sa-môn Cù-Đàm đã diệt độ cách nay bảy ngày rồi, tôi từ đó đến, nên tôi nhận được đoá hoa Trời này.

Tôn-giả Đại Ca-Diếp nghe xong buồn bã không vui, các Tỳ-kheo khác khóc lóc kêu than, Tôn-giả bảo các Tỳ-kheo nên đi mau đến rừng Ta-La để kịp được thấy kim-thân Phật. Khi đoàn Tỳ-kheo đi đến bờ sông Ni-liên-Thiền, được tin thân Phật đang quàn tại Chùa Thiên-Quan, họ lập tức đến Chùa Thiên-Quan. Vừa tới nơi, Tôn-giả Đại Ca-Diếp trông thấy Tôn-giả A-nan-Đà, liền hỏi:
- Chúng tôi muốn được thấy kim-thân đức Phật trước khi hỏa táng có được không?

Tôn-giả A-nan-Đà đáp:
- Tuy chưa trà-tỳ, nhưng mà khó thấy được, vì thân đức Phật được cuốn bằng năm trăm thước vải trắng đặt trong một Kim-quan, rồi tưới tẩm dầu vừng. Đồng thời Kim-quan ấy đặt trong một cái Quách bằng sắt, cái Quách bằng sắt này lại được đặt trong một cái Quách khác bằng gỗ chiên-đàn, do đó thân Phật khó thấy được.

Tôn-giả Đại Ca-Diếp hỏi xin lần thư hai, rồi hỏi lần thứ ba, nhưng Tôn-giả A-nan-Đà vẫn trả lời y như thế. Chẳng biết làm thế nào, Tôn-giả Đại Ca-Diếp hướng về phiá giàn hỏa mà đảnh lễ, ngay chính lúc đó bỗng nhiên thấy chân Phật thò ra ngoài. Tôn-giả nhìn thấy chân Phật có màu sắc lạ, bèn hỏi Tôn-giả A-nan-Đà:
- Thân Phật vốn màu sắc vàng, sao chân Ngài có màu sắc lạ như thế?
Tôn-giả A-nan-Đà đáp:
- Trước đây có một bà già vì tiếc thương Phật, sờ chân Phật và có lẽ làm rơi nước mắt trên chân Phật nên có màu sắc khác lạ như thế.
Thế rồi Tôn-giả Đại Ca-Diếp hướng vào Kim-thân Phật đảnh lễ, bốn chúng cùng các vị Trời trên hư không cùng đồng loạt đảnh lễ, lúc đó bỗng nhiên không còn trông thấy chân Phật thò ra ngoài nữa!?
Tôn-giả Đại Ca-Diếp đi chung quanh kim thân Phật ba vòng, vừa đi vừa nói kệ tán thán công đức vô biên của Phật. Tôn-giả Đại Ca-Diếp có đại oai đức, có oai thần lớn lao, vì Tôn-giả vừa nói kệ vừa đi hết ba vòng xong, giàn hỏa thiêu tự nhiên bừng cháy mà không cần đốt lửa!?

4)- Bảy nước cầu thỉnh Xá-Lợi Phật.
Khi hỏa thiêu thân Phật xong: người Mạt-La chuẩn bị thâu thập Xá-Lợi trong khi đợi cho Quách sắt nguội, và tính việc xây tháp để thờ Xá-Lợi Phật.
Lúc ấy, các vua và dân chúng bảy nước gồm:

1- Vua nước Ba-Bà,
2- Dân chúng dòng Bạt-Ly thuộc nước La-Phả,
3- Dân chúng dòng Bà-la-Môn nước Tỳ-lưu-Đồ,
4- Dân chúng dòng Câu-Lợi thuộc nước La-ma-Già,
5- Dân chúng dòng Thích-ca nước Ca-duy-La-Vệ,
6- Dân chúng dòng Ly-Xa thuộc nước Tỳ-xá-Ly,
7- Và vua A-xà-Thế của nước Ma-kiệt-Đà.

Các vua và các dân-tộc bảy nước nghe tin đức Phật diệt độ tại rừng Ta-La, nước Câu-Thi, thì họ đều tự nghĩ: “Ta nên đến đó cầu xin lấy một phần Xá-Lợi đem về xây tháp thờ, để mọi người dân trong nước được phụng kính chiêm bái Xá-Lợi Phật”.

Vua A-xà-Thế và Vua nước Ba-Bà đều huy động bốn thứ binh quân và cử sứ-giả đến thưa hỏi, Vua A-xà-Thế cử ông Hương-Tánh và dặn dò các điều cần nói. Bấy giờ ông Hương-Tánh đến thành Câu-Thi thưa với Vua nước Câu-Thi rằng:
- Vua nước Ma-kiệt-Đà là A-xà-Thế hỏi thăm Đại-Vương. Vua nước Ma-kiệt-Đà với Ngài hết lòng tương kính nhau, nay nhân nghe đức Như-Lai diệt độ tại qúy quốc. Đối với đức Thế-Tôn, Vua nước chúng tôi hết lòng cung kính, cho nên từ phương xa tới đây cầu xin một phần Xá-Lợi của Phật để đem về dựng tháp cúng dàng; Vua chúng tôi sẽ biếu quốc-bảo cho Ngài.

Lúc đó các quần-thần nước Câu-Thi không chịu và tâu với Vua rằng:
- Đức Thế-Tôn đã giáng lâm và diệt độ ở đây, nhân-dân nước Câu-Thi tự lo liệu cúng dàng, việc chia cấp Xá-Lợi Phật không chấp thuận được.

Vua nước Câu-Thi nghe lời các quần-thần, nên bác bỏ lời thỉnh cầu của ông Hương-Tánh,;các Quốc-Vương và các quần-thần các nước bèn họp nhau thảo luận và chung quyết như sau: “Chúng ta từ xa đến cúi đầu khiêm tốn xin được chia phần Xá-Lợi Phật đem về xây tháp cúng dàng, nếu không được chấp thuận, chúng ta phải dùng binh lực”.

Khi ấy Vua nước Câu-Thi cũng triệu tập tất cả quần-thần bàn luận, xong trả lời rằng: “Chúng ta không chia Xá-Lợi cho các nước khác, nếu các nước muốn dùng binh lực, chúng ta đây sẵn sàng chống trả đến cùng”.

Thấy vậy, Bà-la-môn Hương-Tánh đứng ra hiểu dụ mọi người của hai bên như sau:
“Thưa chư Tôn-Hiền, qúy vị đã nhận lãnh lời dạy của đức Phật, miệng tụng lời Phật dạy là tâm hiền hòa, ý nhân từ, và thường mong cho tất cả chúng-sanh đều được an lành lợi lạc. Nay chẳng lẽ vì việc dành giật Xá-Lợi Phật mà trở lại tàn hại lẫn nhau sao? Hơn nữa, nếu muốn có lợi ích sâu xa rộng lớn, thì Xá-Lợi Phật nên chia thành nhiều phần bằng nhau. Mỗi nước lãnh một phần mang về nước mình, xây dựng tháp để mọi người dân trong nước được chiêm-bái cúng dàng, như thế mới là bình đẳng và đem lại phúc báu, an vui cho mọi người trong mọi nước”.

Mọi người của hai bên nghe nói như thế, đều cho là phải lẽ, hợp lý, hợp tình, và đề nghị ông Hương-Tánh đảm nhận việc phân chia; bấy giờ các Quốc-Vương bảo ông Hương-Tánh:
- Ông hãy chia Xá-Lợi Phật làm tám phần đồng đều cho tám nước.

Bà-la-môn Hương-Tánh vâng lời, đến chỗ giàn hỏa thiêu, cúi đầu đảnh lễ xong, ông mở Quách sắt, bới tro nhặt tất cả Xá-Lợi Phật bỏ vào trong một cái bình lớn; sau đó, ông chia Xá-Lợi Phật làm tám phần đựng trong tám cái bát đá bằng nhau, mỗi nước lấy một phần. Chia xong, ông xin mọi người cái bình để đem về dựng tháp thờ tại nhà riêng, người trong thôn Tất-Bát gần đó đến xin tro hài cốt (Bone-ash) còn lại để dựng tháp cúng dàng, mọi người đều chấp thuận vui vẻ cả.

Người của tám nước đều vui mừng phấn khởi trỗi nhạc, cầm phướn, lọng, bảo cái, cùng nhau rước Xá-Lợi Phật về nước mình; rồi mỗi nước tự chọn chỗ thích hợp nhất, xây dựng tháp, để mọi người dân trong cả nước của họ được chiêm bái cúng dàng Xá-Lợi-Phật.

Tóm lại, khởi đầu Xá-Lợi Phật được thờ trong tám tháp tại tám nước, tháp thứ chín thờ cái bình, tháp thứ mười thờ tro hài cốt, và tháp thứ mười một thờ tóc Phật khi Ngài còn tại thế-gian. Đặc biệt, Phật đản sinh, xuất gia, thành đạo, nhập Niết-Bàn đều vào ngày tám tháng hai. (Cần phải coi lại, vì các chùa làm lễ Đản-sinh và Thành đạo khác ngày?)..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Mar 28 2012, 11:29 AM
Gửi vào: #52


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ ĐẠI CA-DIẾP

Toàn Không


Tôn-giả Đại Ca-Diếp trước khi xuất gia theo Phật, Ngài tu theo hạnh Đầu-đà (khất thực). Một hôm trong khi đi khất thực, có người mách bảo rằng: “Hiện có Phật ra đời, đang du hóa tại rừng Trúc (Trúc-Lâm), sao ông chẳng đến đó xin theo Phật mà học đạo tu hành”; nghe được mấy lời ấy, tự nhiên cảm thấy muốn đi, Ngài liền đích thân đến Trúc-Lâm. Khi gần đến nơi, Ngài trông thấy đức Thế-Tôn ngồi trên Bảo-tọa cao, hai bên có Vương-tử Vương-tôn, thiện-nam tín-nữ, và rất nhiều Tỳ-kheo, tất cả ngồi theo thứ lớp và yên lặng nghe Phật nói pháp. Khi đức Phật thấy Ngài vừa đến liền nói rằng:
- Ông Tỳ-kheo kia có nhân lành mà đến đây, vậy râu tóc phải trừ đi mà thọ Cụ-túc giới.
Ngài liền lễ bái Phật và thưa :
- Vâng.
Sau đó Tôn-giả cạo bỏ râu tóc, rồi quy y, thọ giới hạnh Tỳ-kheo, và đi theo Phật đến khắp mọi nơi; đi đến đâu nghe Phật nói pháp thì tâm vẫn phát huệ, nên hay tỏ ngộ mọi lẽ huyền vi.

1)- Đại-Ca-Diếp ngồi nửa Toà ngồi của Phật, được Phật truyền Tâm ấn.

Rồi một hôm, đức Phật đang giảng Pháp cho đại chúng nghe, Tôn-giả đi tới đi lui tìm chỗ ngồi vì đến trễ, đại chúng nhìn theo Tôn-giả có ý bảo: “Ngồi xuống đi”. Ngay khi ấy, đức Phật trông thấy Tôn-giả, liền bảo:
- Ma-Ha Ca-Diếp, hãy đến đây ngồi, ta chia cho phân nửa chỗ ngồi.
Nói rồi: Ngài ngồi xích qua một bên, phân nửa chỗ ngồi để cho Tôn-giả; Tôn-giả liền đi tới gần đảnh lễ Phật xong ngồi xuống, trước con mắt ngạc nhiên của đại chúng.

Một ngày nọ, đức Phật ở trong hội Linh-Sơn cầm một cành hoa giơ ra cho đại chúng xem (Niêm Hoa Thị Chúng), thì ai nấy đều chẳng rõ ý chi mà đâm ra ngơ ngác, nên tất cả yên lặng làm thinh, duy có một mình Tôn-giả Đại Ca-Diếp mỉm cười (Niêm Hoa Vi Tiếu).

Đức Thế-Tôn thấy thế mới nói rằng:
“Ta có Chính-pháp Nhãn-tạng, Diệu tâm Niết-Bàn, Pháp-môn ấy mầu nhiệm vô cùng, chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo-lý. Nay Ta trao cho Ma-Ha Ca-Diếp, vậy ông phải ân cần mà nhận lãnh, giữ gìn Chính-pháp, rồi sau sẽ truyền cho hậu thế, để nối tiếp về sau, chớ để diệt mất”.

Về sau, trong khi Tôn-giả đi giảng đạo tại vùng núi Tất-bát-La, một hôm Ngài dùng Thiên-nhãn xem, thấy đức Phật đã nhập diệt ở dưới gốc cây Long-thọ, trong rừng Ta-La thuộc nước Câu-Thi, Tôn-giả vội vã dẫn năm trăm Tỳ-Kheo về chỗ ấy để điếu viếng. Khi trà-tỳ xác thân Phật xong, thì Tôn-giả là vị tổ thứ nhất đã được đức Phật truyền Pháp trước kia tại hội Linh-Sơn.

2)- Tài biện luận của Tôn-giả Đại Ca-Diếp.

Một lần, tôn-giả Đại Ca-Diếp cùng năm trăm vị Tỳ-Kheo đi du hóa từ nước Câu-tát-La đến thôn Tư-bà-Ê, nghỉ tại khu rừng Thi-xá-Ba; lúc đó có Bà-la-Môn tên Tệ-Túc, được vua Ba-tư-Nặc nước Xá-Vệ phong cho thôn này để lo phần cúng tế Phạm-Thiên. Tệ-Túc là người có kiến chấp theo ngoại đạo và dạy mọi người trong thôn rằng: “Không có đời sau, không có tái sinh, không có qủa báo của việc làm lành và việc làm ác”.

Người trong thôn Tư-ba-Ê nghe tin Tôn-giả Đại Ca-Diếp cùng năm trăm vị Tỳ-kheo đến nghỉ tại rừng Thi-xá-Bà, thì họ bàn tán với nhau rằng: “Vị Đại Ca-Diếp này rất có tiếng tăm, và đã chứng qủa A-la-Hán. Ngài là bậc trưởng thượng tôn-túc, kỳ cựu, đa văn, thông minh, quảng bác, và có tài biện luận đối đáp, nay nếu chúng ta gặp được Ngài thì may cho chúng ta lắm”. Do đó dân trong thôn này, ngày ngày cứ tiếp tục tuần tự đi đến chỗ tôn-giả Đại Ca-Diếp. Bấy giờ bà-la-môn Tệ-Túc đang đứng trên lầu cao, trông thấy từng toán người đi nhưng không biết đi đâu, mới hỏi người hầu, nên được biết chuyện như thế, ông bảo người hầu rằng:
- Ngươi hãy mau tới nói với toán người kia dừng lại đợi ta cùng đi, vì ta biết ông Ca-Diếp kia cố ý mê hoặc người, lừa dối thế-gian, nên ta phải đến đó.
Người hầu vâng lời, đi nhanh đến nói với đoàn người rằng:
- Ngài Tệ-Túc bảo quý vị hãy dừng lại chờ Ngài cùng đi đến gặp ông Ca-Diếp.
Những người ấy đáp:
- Hay lắm, nếu ông Tệ-Túc muốn đi thì mau tới đây để cùng đi, chúng tôi chờ ở đây.
Người hầu liền trở về thưa với chủ:
- Con đã nói họ dừng lại chờ, và họ nói Ngài nên mau tới để cùng đi.
Bà-la-môn Tệ-Túc xuống lầu, gọi gia nhân cùng đi, trước sau vây quanh, lũ lượt cùng đi đến rừng Thi-xá-Bà. Khi đến nơi, có người lễ bái, có người hỏi han, có người vòng tay, có người tự xưng tên mình, và có người im lặng ngồi xuống. Khi mọi người đã ngồi đâu đó xong xuôi, Tệ-Túc mới đứng dậy nói với Tôn-giả Đại Ca-Diếp:
- Tôi là Tệ-Túc, được Vua trao cho thôn Ba-tư-Ê này để lo phần cúng tế Phạm-Thiên, nay tôi có điều muốn hỏi, không biết ông có rảnh trả lời không?

Tôn-giả Đại Ca-Diếp đáp:
- Ông cứ hỏi, sau khi nghe xong phải tự hiểu lấy.
- Nay chủ thuyết của tôi là không có đời sau, không có tái sinh, không có qủa báo thiện ác, còn chủ thuyết của ông thế nào?
- Tôi hỏi ông, hãy tuỳ ý mà đáp. Hiện nay mặt trời, mặt trăng là thuộc về đời này hay đời khác, thuộc về Trời hay Người?
- Mặt trời, mặt trăng thuộc về đời khác, không thuộc về đời này, thuộc về Trời, không thuộc về Người.
- Vì mặt trời mặt trăng thuộc về đời khác và thuộc về Trời, cho nên biết là có đời sau, có tái sinh, và có quả báo thiện ác.
- Tuy ông nói thế, nhưng theo ý tôi không có tất cả, chẳng có gì, chết là hết.
- Vì lý do gì mà ông biết là không có đời sau, không có tái sinh, và không có qủa báo thiện ác?
- Tôi có lý do, vì tôi có một người bà con mắc phải bệnh ngặt nghèo, tôi đến nói với hắn rằng: “Các Sa-môn có quan niệm rằng những người phạm mười điều ác là sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói lời độc ác, tham lam, sân hận, và ngu si tà kiến. Những người phạm mười điều ác như thế sau khi chết đều bị đọa vào Địa-ngục, bị Qủy-ngục hành hạ, chịu khổ sở vô cùng, nhưng tôi không tin, vì tôi chưa từng thấy người nào chết rồi trở lại nói cho biết là họ đã bị đọa vào Địa-ngục. Nay anh là bà con với tôi, chẳng may anh đã tạo đủ mười điều ác ấy, nếu qủa như lời các Sa-môn nói, thì sau khi anh qua đời, anh phải bị đọa vào Địa-ngục. Nay tôi tin vào anh để xét xem có Địa-ngục hay không, anh nhớ trở lại báo cho tôi biết tôi mới tin”.
Tôi biết chắc quan điểm của tôi là đúng, vì anh ta đã im lặng nhận lời, mà từ khi anh ta chết đến nay đã nhiều năm biệt tích hơi tăm, không hề trở lại báo tin; hơn nữa anh ta là người thân của tôi, không lẽ lại dối tôi sao?

Tôn-giả Đại Ca-Diếp nói:
- Những người có trí nhờ thí dụ mà hiểu rõ, nay tôi dẫn dụ để ông hiểu điều đó. Ví dụ như một tên đạo tặc thường giết người cướp của, bị người ta bủa vây bắt được đem đến trình Vua trị tội, Vua liền cho hỏi cung và xử tội bằng cách trói người ấy lại, đem bêu xấu (làm nhục về thanh danh, làm cho mọi người đều biết việc làm xấu xa của người ấy) ngoài đường, sau đó giao cho đao phủ để hành quyết. Tên cướp đó dùng lời mềm dẻo nói với người giữ tù rằng: “Xin ông vui lòng thả tôi về thăm gia đình bà con, vì tôi có chuyện cần nói với họ, sau đó tôi sẽ trở lại chịu tội”. Ông nghĩ sao, người giữ tù kia có thả không?
Bà-la-Môn Tệ-Túc đáp:
- Không.

Tôn-giả nói tiếp:
- Họ cùng là loài người, cùng trong một nước, cùng sống ở đời này mà còn không tạm thả, huống người thân của ông đọa vào Địa-ngục, Qủy-ngục không có từ tâm, lại không phải là loài người, sống chết không cùng một đời. Nếu người ấy dùng lời nói mềm dẻo cầu xin với Qủy-ngục rằng: “Xin Ngài tạm thả tôi về thế-gian gặp người bà con vì tôi có điều cần nói, sau đó tôi sẽ trở lại”, liệu người ấy có được Qủy-ngục tạm thả về không?

Tệ-Túc đáp:
- Không.
- Cứ so sánh theo đó thì đủ biết rồi.
- Ông dẫn dụ có đời sau, nhưng tôi vẫn không tin, vì tôi có một người bà con khác, lúc ngưòi ấy mắc bệnh sắp qua đời, tôi đến thăm hỏi và nói với người ấy rằng: “Các Sa-Môn đều có quan điểm khác rằng có đời sau, tôi không tin vì chưa có ai về báo lại sau khi chết. Nay chú là bà con của tôi lại tạo đủ mười điều thiện. Nếu các Sa-Môn nói đúng. sau khi chú qua đời sẽ được sinh lên cõi Trời. Giờ đây tôi chỉ còn tin cậy nơi chú để quyết định mà thôi, nếu chú thấy thật sự sinh lên cõi Trời, chú phải nhớ trở lại báo cho tôi biết, tôi mới tin được”. Bấy giờ chú ấy đã im lặng nhận lời, nhưng từ khi chú ấy qua đời đến nay đã khá lâu rồi, không thấy trở lại báo tin; do đó tôi biết chắc không có đời sau, không có tái sinh, và không có qủa báo thiện ác.

Tôn-giả Đại Ca-diếp nói:
- Tôi sẽ nói một thí dụ khác cho ông hiểu. Ví như có người bị rơi xuống hầm cầu tiêu, cả đầu mình chìm ngấm dơ bẩn hôi thối. Người ấy được Vua cho vớt lên, lấy tro xoa khắp thân ba lần, lấy nước tháo đậu rửa trước, và lấy nước tro trong rửa sau; tiếp theo, lấy nước thơm tắm gội, và lấy bột thơm xoa khắp thân người. Rồi lấy y phục nổi tiếng cho mặc, và đem thức ăn trăm vị ngon ngọt cho ăn. Sau chót đưa người ấy đến ở tại một ngôi nhà cao sang có phong cảnh tuyệt vời, và cho hưởng năm thứ dục lạc sung sướng vô cùng. Liệu người ấy có muốn rơi xuống hầm cầu tiêu nữa không?

Tệ-Túc đáp:

(Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Apr 6 2012, 07:09 AM
Gửi vào: #53


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ ĐẠI CA-DIẾP


(Tiếp theo)

Toàn Không



Tệ-Túc đáp:
- Không muốn, đấy là chỗ hôi thối bẩn thỉu, ai mà muốn trở xuống làm gì?
- Các vị Trời cũng thế, họ cho cõi trần gian này là nơi tanh hôi bất tịnh, họ ở xa hàng nghìn vạn do tuần còn thấy mùi tanh hôi của nhân-gian xông lên. Bà con của ông đã tạo đủ mười điều lành, tất nhiên sau khi qua đời người ấy được sinh lên cõi Trời, hưởng vui thú vô cùng, liệu người ấy có chịu trở lại cõi giống như hầm cầu tiêu thế-gian này không?
- Không.
- Ngoài ra ở cõi trần này, cứ một trăm năm mới bằng một ngày ở cõi Trời Đạo-Lợi; tại cõi ấy nếu cũng lấy ba mươi ngày một tháng, mười hai tháng một năm, thì họ sống một nghìn năm ở cõi ấy (bằng 365,000 năm ở thế-gian). Ông nghĩ sao nếu bà con ông sinh lên cõi Trời Đạo-Lợi, và người ấy nghĩ rằng: “Ta mới sinh lên cõi này, vậy ta hãy vui thú vài ngày rồi hãy ráng trở lại báo tin cho bà con cũng chưa muộn”, như vậy liệu ông có gặp được người bà con không?
- Không gặp được, vì lúc đó tôi đã chết lâu rồi, không sao gặp được; nhưng tôi không hiểu ai đã nói với ông có cõi Trời Đạo-Lợi sống lâu như thế?
- Tôi sẽ dẫn dụ cho ông hiểu. Ví như có người mới sinh ra đã bị mù hai mắt, không trông thấy, không hiểu về năm màu xanh, đỏ, vàng, trắng, đen; đồng thời cũng không thấy mặt trời, mặt trăng, tinh tú v.v. Nếu có người khác hỏi về màu xanh, đỏ, vàng, đen, trắng như thế nào, người mù đáp không có năm màu như thế; cho đến mặt trời, mặt trăng, tinh tú v.v., người mù đều nói không có các thứ đó; Ông nghĩ sao, người mù trả lời như vậy có đúng không?
- Không đúng, vì sự thực có năm màu, có mặt trời, mặt trăng, và tinh tú.
- Ông cũng giống như vậy, sự sống lâu ở cõi Trời Đạo-Lợi là có thật, chẳng phải không, vì ông không thấy, nên không tin là có.
- Ngài tuy bảo có, tôi vẫn không tin, vì ở trong thôn tôi trước đây có kẻ cướp của giết người, bị người ta bắt được đem đến tôi và nói: “Xin Ngài trị tội nó, vì nó đã nhiều lần cướp của giết người”. Tôi bảo tuần thôn bỏ hắn vào trong một cái vạc lớn, đậy nắp lại, không để cho thần-thức hắn tiếp xúc với bên ngoài bằng cách trét kín với một lớp keo dầy, sau đó tôi bảo người đốt lửa bên dưới; lúc ấy vì muốn tìm để biết chỗ tẩu thoát thần-thức của hắn, nên tôi bảo các người tuần hầu vây quanh cái vạc mà nhìn kỹ, nhưng họ không thấy thần-thức chui ra; sau cùng, tôi cho mở nắp vạc ra, cũng không thấy thần-thức đâu cả, mặc dù hắn đã chết. Vì lý do đó tôi biết chắc là không có đời sau.

Tôn-giả Đại Ca-Diếp nói:
- Tôi hỏi ông, cứ tuỳ ý mà đáp. Khi ông ngủ đã từng mơ, thấy núi rừng, sông ngòi, ao hồ, vườn tược, đường sá, cầu cống, và đi tới đi lui chỗ này chỗ nọ; trong khi đó bà con trong nhà có ở quanh ông không, và họ có thấy thần-thức của ông đi ra đi vào không?
- Trong khi tôi ngủ nghỉ ấy, có khi có người ở quanh tôi, và những lúc ấy họ không trông thấy thần-thức của tôi đi ra đi vào.
- Như vậy khi còn sống, thần-thức ra vào còn không trông thấy huống chi là người chết. Có những vị Tỳ-kheo từ đầu hôm đến cuối đêm không ngủ nghỉ, chỉ siêng tu về đạo phẩm giác-ý, vị ấy không lười biếng, không buông lung, và dùng sức tam muội mà tu luyện; nhờ thế mà vị ấy quán chiếu thấy chúng-sanh chết chỗ này, sinh chỗ kia, tuổi thọ dài ngắn, nhan sắc đẹp xấu, tuỳ theo hành động thiện ác mà thụ qủa báo tương ưng. Ông dùng con mắt người phàm phu mà nhìn thì không thấy được, do đó biết chắc là có đời sau. - Tuy Ngài dẫn giải như thế, nhưng chỗ tôi thấy thì vẫn không phải như vậy, vì có lần một tội nhân trọng tội, Triều-đình giao cho tôi phải hành xử tội nhân ấy bằng cách lột da; tôi sai tuần thôn lột da tử tội, và sai nhiều người khác vây quanh quan sát tìm thần-thức của hắn, nhưng không thấy; tôi lại sai phanh thây ra coi, cũng không thấy gì cả.
Một lần khác, tôi cho giết tội nhân bằng cách sai đem tội nhân đi cân, sau mới giết một cách êm thấm, và không mất một giọt máu. Xong rồi đem cân lại, nhưng lần cân sau lại nặng hơn lần cân trước khi chưa chết. Đáng lẽ khi có thần-thức thì phải nặng hơn, đằng này ngược lại, do đó mà tôi biết chắc không có đời sau.

Tôn-giả nói:
- Tôi sẽ dẫn giải nữa cho ông hiểu. Về một kiếp xa xưa trong qúa khứ, có một quốc độ điêu tàn hoang phế, lúc đó có một đoàn lái buôn đi qua quốc độ này, bỗng họ gặp một Phạm-chí tu đạo thờ lửa ở trong một khu rừng. Đoàn thương buôn xin Phạm-chí cho ngủ nhờ một đêm tại túp lều phụ bên cạnh, rồi sáng sớm hôm sau lên đường. Sáng hôm sau Phạm-chí qua túp lều bên cạnh để xem xét, thì thấy một đứa nhỏ cỡ hơn một tuổi đang ngồi sụt sịt khóc; Phạm-chí nghĩ thầm: “Ta đâu nỡ để đứa bé này chết, ta nên nuôi đứa trẻ này”, tức thì ông bế đứa bé lên, dỗ dành và nuôi nấng.
Đứa bé mỗi ngày một lớn lên, đến khi nó sáu bảy tuổi, lúc đó Phạm-chí có chút việc cần đi vào nhân-gian, bèn bảo đứa bé: “Ta có chút việc tạm đi khỏi ít ngày, ngươi ở nhà có sẵn thức ăn đấy cứ lấy mà ăn. Ngươi trông coi giữ gìn đống lửa, đừng cho lửa tắt, nếu lửa có tắt thì hãy lấy hai thanh củi cọ vào nhau để lấy lửa mà đốt lên”, căn dặn xong, Phạm-chí ra đi.
Đứa nhỏ ở nhà, lúc đầu còn trông coi đống lửa, và cho thêm củi, sau mải chơi quên không ngó tới, nên củi cháy hết, lửa tắt mất; đứa nhỏ đi chơi về thấy lửa tắt, ảo não than thầm: “Mình dại qúa, mải đi chơi nên quên không trông coi đống lửa, nên nó tắt mất, bây giờ biết làm sao đây?” Đứa nhỏ quên lời dặn dò, vội vàng bới tro tìm lửa, tro đã nguội lạnh, và nó dùng đủ mọi cách để tìm lửa, nhưng đều thất bại.
Sau ít ngày Phạm-chí trở về, vừa tới cửa, thấy đứa bé, Phạm-chí hỏi: “Trước khi đi ta đã dặn bảo ngươi ở nhà coi chừng đống lửa, ngươi có coi không?”. Đứa nhỏ đáp: “Vì con mải đi chơi, quên canh chừng nên lửa tắt mất”. Phạm-chí hỏi: “Ngươi làm cách nào để lấy lại lửa?”. Đứa nhỏ đáp: “Khi con bới tro để tìm không thấy lửa, con bèn lấy hai miếng củi đập vào nhau, dùng búa chẻ củi để tìm lửa. Rồi chặt củi nhỏ vụn ra, và sau cùng là con bỏ củi vụn vào cối đá mà giã, nhưng đều không thấy lửa đâu cả”.
Lúc đó Phạm-chí đi vào chỗ đống lửa đã tắt, lấy hai thanh củi cọ vào nhau nhiều lần thì lửa phát ra cháy miếng mồi; đồng thời ông ta để củi lên đốt và bảo đứa nhỏ: “Như muốn tìm lửa ngươi phải dùng đúng cách này, chứ không nên đập, chẻ, chặt, hay giã củi mà có lửa được đâu”.
Trường hợp của ông cũng vậy, không theo đúng phương pháp, lại đi lột da, xả thân người để tìm thần-thức, thì chắc chắn không tìm được.
Về trường hợp người chết nặng hơn người sống cũng dễ hiểu thôi, cũng giống như người cân sắt, khi sắt nguội cân nặng hơn sắt nóng; Ông có biết tại sao sắt nóng có màu sắc đỏ chói, mềm mại, lại nhẹ không?
Bà-la-môn Tệ-Túc đáp:
- Sắt nóng có màu sắc đỏ sáng, mềm mại nên nhẹ, sắt nguội không có màu đỏ sáng và cứng nên nặng.

Tôn-giả Đại Ca-Diếp nói tiếp:
- Con người cũng thế, khi sống thì có nhan sắc, mềm mại, cho nên nhẹ; nhưng khi chết, không còn nhan sắc và cứng, cho nên nặng. Do đó biết chắc là có đời sau.
Tệ-Túc nói:
- Trước đây, tôi có một người bà con mắc phải bệnh nặng, tôi đến thăm và bảo người hầu đỡ người bệnh nằm nghiêng về phiá tay phải, khi đó người bệnh liếc ngó, co duỗi. Tôi lại bảo người hầu đỡ bệnh nhân nằm nghiêng bên trái, rồi lật sấp, lật ngửa, người bệnh vẫn còn liếc nhìn, co duỗi như thường, sau một lúc bệnh nhân tắt thở; tôi lại bảo người hầu đỡ người ấy nằm nghiêng bên phải, bên trái, lật sấp, rồi lật ngửa; trong khi đó tôi nhìn kỹ thấy người ấy không còn liếc nhìn, co duỗi gì cả. Do đó, tôi biết là không có đời sau.

Tôn-giả nói:
- Tôi lại dẫn chứng nữa cho ông hiểu. Thuở xa xưa, bấy giờ tại một nước nọ, không một người nào trong nước được nghe tiếng tù và; một hôm, có một người từ nước khác sành nghề thổi tù và đi đến thôn xóm của nước này, ông ta cầm vỏ ốc biển lớn thổi ba tiếng rồi để xuống đất; khi ấy mọi người trong thôn xóm nghe tiếng kêu của tù và, thì giật mình, không hiểu là tiếng gì mà kỳ lạ như thế, nên một số thanh niên trai gái đi về phiá có tiếng phát ra. Họ gặp người ấy và hỏi: “Thứ gì mà trong trẻo bi ai kêu to vang xa như vậy?” Người ấy chỉ vào vỏ ốc dưới đất mà nói: “Tiếng của cái đó”. Lúc ấy người người trong thôn lấy tay sờ, rồi vỗ vào vỏ ốc mà nói: “Ngươi hãy kêu lên cho chúng ta nghe”, nhưng vỏ ốc vẫn không kêu. Người ấy cầm vỏ ốc lên kề vào miệng thổi ba tiếng rồi lại để xuống đất, mọi người thấy thế trầm trồ khen: “Đấy là tiếng hay ho mà chúng ta nghe khi nãy, chứ không phải tự vỏ ốc mà có tiếng kêu , phải có tay, có miệng, có hơi thổi mới có tiếng kêu”. Con người cũng giống như vậy, cần phải có tri giác, có tinh thần, và có hơi thở ra vào mới liếc nhìn, co duỗi, nói năng được. Do đó ông nên bỏ tà kiến ấy đi, chớ giữ làm gì để thêm khổ não.

Tệ-Túc đáp:
- Tôi không bỏ được vì từ khi sinh ra đến giờ, tôi đã được giảng dạy, học hành, thảo luận, đọc tụng thường xuyên, luyện tập kiên cố, thì đâu bỏ được.
- Những người có trí do dẫn dụ mà hiểu rõ, tôi sẽ vì ông mà dẫn dụ thêm. Cũng trong thuở xa xưa, có một nước mà người dân ở vùng biên giới thật điêu tàn; tại một xóm hẻo lánh kia có hai người thanh niên, một anh có trí, một anh ngu si, họ bàn với nhau: “Tôi và anh, chúng ta cùng nhau vào rừng tìm kiếm cây gai đem về dùng”, và họ tính với nhau lúc đi bằng ngả gồ ghề lên dốc khó đi, khi về bằng lối xuống dốc bằng phẳng dễ đi cho tiện việc mang nặng.

Rồi họ cùng đi đến một khu rừng thấy có cây gai mọc đầy mặt đất, tức thì họ cùng nhau lấy mỗi người một gánh nặng đem về; khi họ đi ngang qua một chỗ nọ, thấy có đống chỉ gai, người trí nói: “Chỉ gai từ cây gai mà ra, nhỏ nhẹ đáng lấy hơn”. Người ngu nói: “Tôi đã lấy cây gai, bó buộc gọn gàng chặt chẽ, nay không bỏ được, anh muốn lấy tuỳ ý”. Bấy giờ chỉ có người trí lấy một gánh chỉ gai và bỏ lại gánh cây gai, hai người lại cùng nhau tiến bước, bỗng họ gặp cây bạch diệp, tiếp theo là họ gặp một đống đồng, rồi sau họ gặp một đống bạc. Mỗi lần gặp như thế, người trí đều bảo người ngu nên đổi cây gai để lấy thứ quý hơn, người ngu nhất mực không nghe.
Sau chót, họ gặp một đống vàng,

(Còn tiếp)

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Apr 11 2012, 10:14 AM
Gửi vào: #54


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ ĐẠI CA-DIẾP


(Tiếp theo)
Toàn Không


Sau chót, họ gặp một đống vàng, bấy giờ người trí nói: “Nếu không có vàng ta lấy bạc, nếu không có bạc ta lấy đồng, nếu không có đồng ta nên lấy bạch diệp, nếu không có bạch diệp ta nên lấy chỉ gai, nếu không có chỉ gai, ta mới lấy cây gai, vì cây gai ít giá trị nhất, nhưng tại đây có rất nhiều vàng, mà vàng là quý nhất. Vậy anh hãy bỏ cây gai, tôi bỏ bạc để cùng nhau lấy mỗi người một gánh vàng mang về”. Người ngu nói: “Tôi đã lấy cây gai bó buộc cẩn thận, gọn ghẽ, chặt chẽ; lại mang đi đã quá xa, tôi không bỏ được, nếu anh có muốn lấy cứ tuỳ ý, tôi không muốn lấy vàng”, thế rồi người trí bỏ bạc lấy vàng, một gánh nặng mang về.

Khi hai người về đến nhà, bà con biết được người trí lấy được nhiều vàng thì vui mừng đến thăm hỏi, trong khi người ngu mang cây gai về không ai thèm đến hỏi thăm và cho là người khờ dại nên anh ta buồn tủi khổ sở.
Nếu cứ chấp chặt ý nghĩ sai lầm của mình như người lấy cây gai kia, ông cũng chỉ thêm buồn não suốt đời mà thôi.

Tệ-Túc nói:
- Tôi không bỏ được những điều đã gắn liền với cuộc đời tôi, vì nhờ những sự tin tưởng tuyệt đối đó mà tôi đã dạy dỗ nhiều người, đem lại nhiều sự lợi ích. Từ Vua-Quan đến hàng Bà-la-Môn tăm tiếng bốn phương đều nghe danh tôi, đều biết rõ tôi là hàng học-giả uyên thâm chủ trương đoạn diệt, không có đời sau, không có tái sinh, và không có quả báo thiện ác.

Tôn-giả Đại Ca-Diếp bảo:
- Tôi thấy ông thật là cố chấp, tôi đã dẫn giải biết bao nhiêu như thế mà ông vẫn khăng khăng một mực không chịu từ bỏ tà kiến ấy, nay tôi sẽ dẫn dụ nữa cho ông hiểu: Cũng về thuở xa xưa có một nước nhân dân ở vùng biên giới thật điêu tàn, lúc đó có hai đoàn thương buôn đi ngang qua vùng hẻo lánh này, nhưng hai đoàn đi cách nhau một tháng; vì đường xa nên họ không mang đủ lương thực, và phải mua thêm ở dọc đường.
Khi đi đến đoạn đường đó, người cầm đầu đoàn thứ nhất nghĩ trong đầu rằng: “Đi đã mấy ngày rồi, sao không có nhà cửa chợ búa gì cả, mà số lương thực mang theo đã gần hết, thật là nguy hiểm!” Đoàn thương buôn tiếp tục đi thêm một đoạn đường nữa, bỗng nhiên người trưởng đoàn nhìn thấy một người thân hình to lớn, mặt đen, mình mẩy dính bùn đi từ đằng xa đi lại, bèn hỏi:
- Anh từ đâu đi đến đây?
- Tôi từ thôn phiá đằng kia đến đây.
Người ấy vừa nói vừa chỉ tay về hướng phiá trước đoàn thương buôn.
- Chỗ anh ở có củi, nước, gạo, rau không?
- Chỗ tôi ở có gạo, củi, nước, rau, và đủ thứ dư thừa; lúc tôi đi giữa đường gặp trời mưa, nên ở thôn phiá trước kia lại càng có nhiều nước và rau tươi. Nếu trên xe các ông có gạo, củi, nước và rau héo nên bỏ đi cho nhẹ xe đi mau hơn, vì tại thôn phiá trước kia cách đây không xa có đủ thứ rất rẻ, không cần chở cho nặng xe lâu tới nơi.
Nghe nói như thế, người trưởng đoàn cho là phải, bèn bảo các người trong đoàn:
- Chúng ta hãy bỏ đi các thứ gạo, củi, nước, rau đã lâu ngày để cho xe được nhẹ đi mau tới, vì ở thôn phiá trước có đủ cả, lo gì.

Thế rồi, cả đoàn đều làm theo, và quả thật xe của họ đi mau hơn, nhưng qua một ngày không thấy thôn xóm chợ búa, hai ngày, ba ngày, rồi đến năm bảy ngày cũng chẳng thấy thôn xóm chợ búa đâu cả! vẫn chỉ là nơi hoang vu, không cây cối, không bóng người. Cả đoàn thương buôn lâm vào cảnh đói khát mà chết dần hết, thật là tội nghiệp đáng thương!

Về sau đoàn thứ hai lên đường, trên đường đi, họ cũng gặp anh chàng mặt đen mình mẩy dính bùn; người trưởng đoàn cũng hỏi tương tự như người trưởng đoàn thứ nhất đã hỏi, và anh chàng mặt đen cũng trả lời và nói y như hắn đã nói với trưởng đoàn thứ nhất, nhưng trưởng đoàn thứ hai bảo mọi người trong đoàn rằng: “Gạo, nước, củi, rau của chúng ta nên giữ kỹ, chớ bỏ đi, bao giờ có lương thực mới, rồi sau sẽ bỏ thứ cũ dư thừa cũng không muộn, vì sao?, vì lương thực cũ và mới phải được liên tục mới mong qua khỏi nơi hoang vu vắng vẻ này”. Hơn thế nữa, người trưởng đoàn hai còn ra lệnh cho mọi người trong đoàn phải tiết kiệm để đủ lương thực ăn trong nhiều ngày. Do đó, cả đoàn cứ thế mà đi, họ đi hết một ngày không thấy thôn xóm chợ búa, rồi hai ba ngày, năm bảy ngày, cho đến chín mười ngày cũng chẳng thấy thôn xóm chợ búa. Đi thêm mấy ngày nữa, đột nhiên họ thấy xác các người trong đoàn thứ nhất chết đã rữa thối dọc đường, trông thật là thảm thương vô cùng!

Như vậy thì ông hiểu rằng trưởng đoàn thứ hai vì là người trí tuệ nên cả đoàn thoát khỏi bị tai nạn, ngược lại trưởng đoàn thứ nhất vì là người ngu si, nên gây ra hậu qủa tai hại là không những tự giết mình mà còn làm cho cả đoàn người bị chết oan uổng nữa; vậy ông nên nghĩ kỹ mà bỏ tà kiến ấy đi, nếu không chỉ gây khổ não suốt đời cho mình, và còn gây khổ não cho người khác nữa, cũng giống như trưởng đoàn thương buôn thứ nhất mà tôi vừa nói.
Bà-la-môn Tệ-Túc đáp:
- Tôi nhất quyết không từ bỏ quan điểm sắt đá của tôi, nếu ai can gián, chỉ làm cho tôi phát bực tức, oán giận mà thôi.
Tôn-giả Đại Ca-Diếp nói tiếp:
- Về thời xa xưa, có một anh chàng kia đi đến một thôn vắng, thấy có nhiều phân khô, bèn lấy cỏ bó lại rồi đội lên đầu mang về để nuôi lợn (heo); khi đang đi về, trời đổ mưa lớn, nước chảy xuống đầu mặt, thân người anh ta, nhưng vẫn cố đội về, do đó nước phân chảy dính khắp đầu mặt, quần áo. Mọi người trông thấy thế đều chê anh ta là người điên dại ngu si và khuyên rằng: “Thứ phân dơ bẩn ấy, giả thử không mưa, trời mát mẻ, cũng không ai đội lên đầu, huống là đội đi giữa trời mưa”. Anh ta nghe nói như vậy thì nổi giận mắng lại rằng: “Các anh là đồ ngu, không biết lợn của ta ở nhà đang đói, nếu các anh là người hiểu biết đã không nói như thế”. Vậy ông chớ nên giữ chặt sự mê lầm giống như người đội phân kia đã không cám ơn người can gián, mà còn trở lại mắng nhiếc người khác là đồ ngu không hiểu biết.
Bà-la-môn Tệ-Túc nói:
- Nếu các ông nói rằng: “Làm lành được sinh lên cõi trời, chết vui hơn là sống”, sao các ông không tự tử, uống thuốc độc mà chết; hoặc nhảy từ lầu cao xuống mà tự vận?, tôi chỉ thấy người nào người ấy đều ham sống sợ chết cả, như thế đủ biết chết không vui hơn sống.
Tôn-giả nói:
- Cũng thuở xưa, tại thôn Tư-ba-Ê này, có một người Phạm-chí trưởng lão, có hai vợ, người vợ cả (vợ lớn) có con đã lớn, người vợ lẽ (vợ nhỏ) mới có thai thì Phạm-chí đó qua đời. Bấy giờ mẹ con người vợ cả đòi lấy hết gia tài, người vợ lẽ nói: “Chị hãy chờ một thời gian, tôi sẽ sinh, nếu là con trai thì phải có một phần gia tài, nếu là con gái chị đem gả chồng để lấy của hồi môn”. Nhưng mẹ con người vợ cả nhiều lần đòi lấy hết gia tài, người vợ lẽ nổi giận, lấy dao tự mổ bụng mình để coi con trai hay con gái!
Ông thấy đấy, người mẹ tự sát mà chết, lại hại luôn cả đứa con trong bào thai, ông cũng giống như vậy, đã hại mình, còn hại luôn cả người khác nữa; trái lại, Sa-Môn nào siêng tu, có giới đức đầy đủ, nếu sống lâu ở đời, sẽ đem lại vô lượng lợi ích cho Trời và Người, tôi không nói hết được những lợi ích ấy.
Này bà-la-môn Tệ-Túc, ông hãy lắng nghe tôi nói thí dụ cuối cùng: nếu ông vẫn không hiểu, tôi sẽ không thuyết pháp cho ông nghe nữa. Một con heo (lợn) lớn, thủ lãnh của một bầy heo rừng, nó đi một mình vào con đường nguy hiểm, đi đến giữa đường, nó gặp một con cọp (mãnh hổ). Khi heo đã thấy cọp, nó liền nghĩ: “Nếu ta đấu với cọp, nó sẽ giết ta, nếu sợ bỏ chạy, thân tộc sẽ khinh dễ ta, vả lại nếu chạy cũng chưa chắc đã thoát chết, không biết làm cách nào để thoát nạn đây?”.
Nghĩ xong, nó nói với cọp:
“Nếu ngươi muốn đấu thì đấu, nếu không ngươi phải tránh đường để ta đi”.

Cọp nghe xong bảo heo: “Ta chấp nhận đấu với ngươi chứ không tránh đường cho ngươi đi”.
Heo lại nói: “Này cọp, được rồi, ngươi hãy đợi ở đây một lúc, để ta về mặc áo giáp của tổ-phụ, xong rồi ta sẽ trở lại đây ngay để quyết đấu với ngươi một trận thí mạng cùi”.

Cọp nghe rồi liền nghĩ: “Nó chẳng phải địch thủ của ta như loài beo, sư tử, huống là nó mặc áo giáp tổ-phụ của nó ư? Ta chấp nó mặc một trăm áo giáp cũng chẳng coi nó ra gì cả”, nghĩ xong, cọp bảo heo: “Ta chấp thuận cho tuỳ ý ngươi đi về mặc áo giáp của tổ phụ ngươi và nhớ mau tới đây đấu với ta”.

Heo liền trở về nơi hàng ngày của đàn heo ở, lăn mình trên đống phân, làm cho phân dính cùng khắp mình mẩy đầu mặt, rồi trở lại chỗ cọp nằm đợi chờ, heo nói: “Ngươi muốn đấu hãy đến đây đấu với ta, nếu không, ngươi phải tránh đường để ta đi”.

Sau khi thấy heo như vậy, cọp nghĩ: “Ta thường không ăn sâu bọ tạp nhạp vì uổng hàm răng ta, huống là lại phải đến gần con heo hôi hám bẩn thỉu này”, nghĩ xong, cọp liền bảo heo: “Ta tránh đường cho ngươi đi chứ không muốn đấu với ngươi nữa”.
Cọp nói rồi liền lảng bước đi, khi heo đi qua được rồi, quay về hướng cọp mà nói lớn lên rằng: “Này cọp, ngươi bốn chân, ta cũng bốn chân, hãy đến đấu với ta, sợ gì mà phải bỏ chạy?”
Cọp nghe vậy trả lời: (Còn tiếp)

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Apr 18 2012, 10:32 PM
Gửi vào: #55


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ ĐẠI CA-DIẾP

(Tiếp theo)

Toàn Không


Cọp nghe vậy trả lời: “Ngươi lông mọc như rừng, hèn nhất trong các loài vật, này heo, hãy mau cút đi, mùi hôi thối ta chịu không nổi”.
Heo tự khoe nói: “Nước Ma-Kiệt, nước Ương-Già nghe ta đấu với ngươi, hãy đến đấu với ta, sợ gì mà phải lảng chạy đi như thế, đúng là ngươi đã sợ sức mạnh và oai phong của ta rồi!”
Cọp liền đáp: “Toàn thân dơ bẩn hôi thối, ngươi làm ta lây thối, ngươi muốn cầu thắng, nay ta cho ngươi thắng”.

Tôn giả Đại Ca Diếp nói tiếp:
- Tôi cũng như thế, để cho ông thắng, đối với quan niệm ấy, ông ngoan cố bảo thủ vì tham dục, vì sân hận, vì tà kiến không bao giờ chịu từ bỏ, thì ông sẽ chịu vô số điều khổ dữ về sau.

Lúc đó Tệ-Túc vội nói:
- Thưa Tôn-giả, ngay thí dụ đầu tiên về mặt trời, mặt trăng, và tinh tú, tôi đã hiểu rồi, sở dĩ tôi lý luận như thế là vì tôi muốn được thấy trí-tuệ biện tài của Ngài để thêm vững chắc lòng tin mà thôi, nay tôi đã tín thọ và xin được quy y với Ngài.

Tôn-giả Đại Ca-Diếp nói:
- Ông chớ quy y với tôi, mà nên quy y với đấng Vô Thượng-Tôn như tôi đã quy y, nhưng đức Thế-Tôn, Thầy tôi đã diệt độ chưa bao lâu.

Ông Tệ-Túc nói:
- Nếu đức Thế-Tôn còn tại thế, chẳng quản gần xa, tôi sẽ đến gặp Ngài và quy y lễ bái, nhưng nay đức Thế-Tôn đã diệt độ rồi. Vậy tôi xin quy y đức Thế-Tôn đã diệt độ, xin quy y pháp và đại chúng Tỳ-kheo, xin Ngài hãy chấp nhận cho tôi là kẻ Ưu-bà-Tắc ở trong chính pháp; từ nay về sau, trọn đời tôi nguyện không còn làm các điều ác, và chỉ làm các việc lành mà thôi, tôi xin mở đại bố thí cho tất cả.

Tôn-giả nói thêm :
- Nếu sát hại chúng-sanh, đánh đập tôi tớ để mở hội bố thí, điều đó chẳng phải là tạo phúc thanh tịnh, và nếu không sát hại chúng-sanh, không đánh đập tôi tớ để bố thí cho hạng người tà kiến, đó cũng chẳng phải là tạo phúc thanh tịnh. Ví như trên đất khô nhiều sỏi đá sạn mà đem gieo trồng vào, chắc chắn không gặt hái được gì; trái lại nếu mở hội đại thí, mà không giết hại chúng-sanh, không hành hạ tôi tớ, đem lòng hoan hỷ mở hội bố thí cho hạng người tu phạm hạnh thanh tịnh thì sẽ được nhiều phúc lợi, cũng giống như ruộng đất tốt, có nước, có phân mà gieo đúng mùa, thời tiết điều hòa, tất nhiên sẽ thu hoạch được nhiều lợi lộc.

Tệ-Túc nói:
- Từ nay về sau, tôi sẽ thường xuyên cúng dàng chúng Tăng, và kể từ ngày mai, xin thỉnh Ngài và chúng Tỳ-kheo đến nhà tôi thỉnh chay.
Tôn-giả Đại Ca-Diếp im lặng nhận lời, ông Tệ-Túc vái chào rồi cùng đoàn người thôn Tư-ba-Ê ra về.

LỜI BÀN VỀ SỰ CỐ CHẤP QUAN ĐIỂM:

Đọc hết cuộc đối thoại, chúng ta thấy rõ tài biện luận (Biện tài vô ngại) của Tôn Giả Đại Ca Diếp, và Bà La Môn Tệ Túc tiêu biểu cho con người cố giữ những điều ông cha truyền lại, bảo thủ những điều đã ghi trong Kinh sách, chấp chặt những điều đã được học hành đọc tụng, kiêu hãnh tự tôn những gì đã đem dạy người vì sự tin tưởng của mình; khi có người nói khác thì quyết liệt phản đối, dùng mọi lý lẽ biện hộ cho sự tin tưởng của mình mà thực ra không có nền tảng trí tuệ.
Từ xưa tới ngày nay, nhiều người giống như Bà La Môn Tệ Túc, cố chấp quan điểm của mình; những người này lợi dụng uy thế Tôn Giáo để bảo thủ quan điểm của mình, tạo sự chia rẽ thù nghịch, đưa tới giết hại khủng bố chiến tranh, gây ra biết bao đau khổ cho con người. Vô tình hay cố ý, họ đã làm ngược lại những điều đạo đức, và hậu qủa là vị Giáo Chủ Tôn Giáo của họ đã thất bại trong việc đưa nhân loại đến Hạnh phúc an vui...

3)- Tôn-giả Đại Ca-Diếp khởi việc kết tập Kinh Phật.

( Sự tích Phật A-Di-Đà, Chư Vị Bồ-Tát & Tổ Sư, từ trang 85 đên trang 88)

Trong việc kết tập Kinh Luật, Tôn-giả Đại Ca-Diếp là người khởi xướng đầu tiên, vì sau khi Phật nhập Niết-Bàn khoảng ba bốn tháng, Tôn-giả thấy bắt đầu có hiện tượng một vài Tỳ-kheo tụng khác nhau, và khác lời giảng của Phật. Tôn-giả thấy nguy cơ Phật pháp có thể đổ vỡ, nên nói với các vị Thánh Tăng rằng: “Đức Thế-Tôn đã vào Niết-Bàn rồi, tôi khuyên các vị hãy ngồi lại với nhau để kết tập những lời đức Thế-Tôn đã thuyết pháp, giảng dạy trong gần 50 năm, để truyền bá về sau, và không nên để cho giáo pháp của Ngài đoạn diệt mất”. Tôn-giả nói kệ tuyên cáo như sau:

Các đệ tử của Phật,
Chớ Niết-Bàn vội vã,
Vị nào đủ thần thông,
Nên đồng nhau kết tập.

Tôn-giả Đại-Ca-Diếp cùng các vị Thánh Tăng bèn nhờ Vua A-Xà-Thế nước Ma-Kiệt-Đà đứng ra tuyên triệu các Tỳ-kheo từ các nơi về, và tổ chức đại hội kết tập những lời giảng dạy của đức Phật.

Vua A-Xà-Thế vâng lời các vị Thánh Tăng, liền cho rao truyền quảng bá đến nhân dân và các nước lân bang; Vua cho mời tất cả các vị Thánh Phàm Tăng đến động Thất-Diệp, cũng gọi là hang Tát-Ba-La, thuộc núi Kỳ-Xà-Quật, gần thành Vương-Xá, nước Ma-Kiệt-Đà để góp phần công đức kết tập những lời giảng của đức Phật trong suốt thời gian Ngài còn tại thế.

Vua cho làm cổng, chuẩn bị chu đáo mọi việc cần thiết cho đại hội như trang trí phòng ốc, dựng cột cao lớn treo đại kỳ phướn ngay phiá ngoài cổng động, chăng hoa, đèn đuốc v.v... tất cả đều chu toàn. Số người tham dự gồm có ngoài hơn một nghìn vị Tỳ-kheo ra, còn có Vua A-Xà-Thế và các Vua lân bang, các quan Đại thần, các Cư-sĩ, và nhân dân các nước tới chứng kiến, tất cả có trên mười nghìn người.

Tôn-giả Đại Ca-Diếp không những là người khởi xướng, mà còn là người hướng dẫn, đôn đốc, và đóng góp để hoàn thành các bộ kinh; khi kết tập xong thì Tôn-giả nói với Tôn-giả A-nan-Đà rằng:
- Ta trụ ở thế gian này chẳng còn bao lâu nữa, nay ta đem Chính Pháp của đức Như-Lai phú chúc lại cho Hiền-đệ, vậy Hiền-đệ phải khéo giữ gìn để lưu truyền Phật-Pháp về sau, chớ để đoạn tuyệt. Hiền-đệ phải hết lòng trân trọng mà hộ trì, và lắng nghe bài kệ của ta mà lãnh Pháp:

Pháp vốn pháp bản lai,
Không pháp không phi pháp,
Sao lại trong một pháp,
Có pháp có chẳng pháp.

4)- Tôn-giả Ca-Diếp nhập diệt định chờ Phật Di-Lặc.

Một hôm, Tôn-giả Đại Ca-Diếp thấy đã đến thời xa thế gian, Tôn-giả nhớ lời Vua A-xà-Thế thỉnh cầu là khi nào nhập diệt cho Vua biết, nên Ngài ghé cung Vua để từ biệt , nhưng khi tới nơi lại không đúng buổi lâm triều, nên Tôn-giả nói với quan giữ cửa rằng:
- Ca-Diếp này đã gần đến thời tiết nhập định nơi núi Kê-Túc, nên đến đây báo trước cùng Đại-Vương. Hiện nay không được gặp mặt Vua mà yết kiến, vậy xin nhờ quan trình giùm rằng có Ca-Diếp đến từ tạ Đại-Vương.

Nói rồi, Tôn-giả liền từ giã mà đi, khi tới núi Kê-Túc, Tôn-giả đi thẳng vào hòn Tam-Nhạc, rồi kết cỏ làm nệm mà ngồi kiết-già; trong khi tĩnh tọa, Tôn-giả phát ra lời thệ nguyện rằng: “Xác thân ta mặc áo Cà-Sa do đức Thế-Tôn ban cho, còn tay ta bưng giữ Bình Bát mà ngồi trong hang đá này; từ nay cho đến khi đức Di-Lặc giáng sinh, ta nguyện xin không mục rã, để cho tất cã đệ-tử của Ngài đều được trông thấy thân ta và Bình Bát này”.
Khi phát nguyện xong, đất tự nhiên rung động, Tôn-giả nhập định rồi, có những vị Trời đem hoa thơm qúy lạ ở cõi Trời rải xuống.

Vua A-xà-Thế, ngủ mơ màng, bỗng nhiên thấy cây đòn dông trên nóc cung điện tự nhiên rớt xuống gẫy nát, thì giật mình tỉnh dậy; lúc Vua biết là chiêm bao, nên trong lòng đâm ra kinh sợ vì không biết là điềm gì sẽ xảy ra. Sau đó quan Thủ-môn vào trình việc Tôn-giả Đại Ca-Diếp đến báo với Vua việc vào núi Kê-Túc để nhập định, Vua hay tin ấy, trong lòng buồn bã, bèn sai người đi thỉnh Tôn-giả A-nan-Đà, và truyền chỉ chuẩn bị xe giá, hương hoa, rồi cùng Tôn-giả A-nan-Đà đến núi Kê-Túc.

Khi Vua và Tôn-giả A-nan-Đà vừa tới nơi, hai vị bước vào, cúng dàng lễ bái, âu sầu thảm thiết; hai người đứng nhìn chân dung hình hài Ngài Ca-Diếp ngồi kiết-già, một hồi lâu hai người mới chịu lui gót ra về, vừa ra khỏi cửa hang, tự nhiên miệng hang núi từ từ khép kín lại, để cho bao đời sau chiêm bái núi Kê-Túc..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Apr 26 2012, 10:29 PM
Gửi vào: #56


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TRƯỞNG-GIẢ
CHẤT-ĐA-LA



Toàn Không


Trưởng-giả Chất-đa-La đã quy-y và học Phật tại rừng Am-La, sau khi đức Phật nhập Niết-Bàn rồi, Trưởng-giả thường hay đến chỗ các Tôn-giả thảo luận, và học hỏi Phật pháp. Các Tôn-giả thường nói Pháp, chỉ dạy, soi sáng, và làm cho Trưởng-giả vui mừng.

Một hôm, Trưởng-giả Chất-đa-La đến phòng của Tôn-giả Na-già-Đạt-Đa chào và hỏi thăm sức khoẻ xong, Tôn-giả nói với Trưởng-giả:
- Đức Phật nói: “Có vô lượng tâm tam-muội, vô tướng tâm tam-muội, vô sở hữu tâm tam-muội, không tâm tam-muội”, thế nào Trưởng-giả, vì Pháp này có các thứ nghĩa nên có các thứ tên, hay chỉ một nghĩa có các thứ tên?

Sau khi suy nghĩ đắn đo, Trưởng-giả trả lời Tôn-giả Na-già Đạt-Đa như sau:
- Có Pháp gồm nhiều nghĩa, nhiều câu, nhiều vị; có Pháp chỉ có một nghĩa mà nhiều câu, nhiều vị; thế nào là Pháp có nhiều nghĩa, nhiều câu, nhiều vị? Tâm cùng hợp với Từ, không oán, không ghét, tâm khoan dung rộng rãi, tu tập nhiều lần, trải khắp một phương; cũng như thế phương thứ hai, thứ ba, thứ tư, phương trên, phương dưới, tất cả thế-gian, duyên trụ tất cả; đó gọi là vô lượng tâm tam-muội.
Thế nào là vô tướng tâm tam-muội?, nghĩa là đối với tất cả các hình tướng không nhớ, không nghĩ trong hết thảy thời gian, tự thân tác chứng đầy đủ; đó gọi là vô tướng tâm tam-muội.
Thế nào là vô sở hữu tâm tam-muội?, nghĩa là vượt qua tất cả các thức, trụ nơi tâm vô sở hữu; đó gọi là vô sở hữu tâm tam-muội.
Thế nào là không tâm tam-muội?, là quán sát như thật thế-gian là không, pháp thường trụ không biến đổi là chẳng phải ngã, tức chẳng phải ta, chẳng phải ngã sở, tức chẳng phải cái của ta, đó gọi là không tâm tam-muội; tất cả các pháp nêu trên gồm nhiều nghĩa, nhiều câu, và nhiều vị vậy.

Thế nào là Pháp chỉ có một nghĩa, mà có nhiều câu, nhiều vị? Thí dụ như tham lam là có tướng, sân hận là có tướng, ngu si tà kiến là có tướng, không tránh (tranh) là vô tướng. Tham, sân, si là sở hữu, là có cái ta, có cái của ta; không tránh là vô sở hữu, là không đối với tham, sân, si; vô tránh là không đối với thường trụ chẳng biến đổi, là không đối với phi ngã, phi ngã sở; đó là Pháp chỉ có một nghĩa mà có nhiều câu, nhiều vị vậy.

Sau khi nghe sự giải thích của Trưởng-giả, Tôn-giả Na-già Đạt-Đa hỏi:
- Trưởng-giả vừa nói ý nghĩa ấy vì ông đã được nghe giải thích trước rồi chăng?
- Không, thưa Tôn-giả, con chưa hề được nghe ai đã giải thích trước đây.
- Trưởng-giả, ông được lợi ích lớn nơi Phật Pháp sâu xa, hiện tại ông được tuệ nhãn của bậc Hiền-Thánh.
- Cám ơn Tôn-giả đã qúa khen ngợi.

Một ngày khác, Trưởng-giả Chất-đa-La đến thăm Tôn-giả Ca-Ma, sau khi chào và thăm hỏi sức khoẻ, Trưởng-giả hỏi :
- Thưa Tôn-giả, thế nào là hành, có mấy loại hành, và ý nghĩa của hành như thế nào?

Tôn-giả Ca-Ma đáp:
- Có ba loại hành là thân hành, khẩu hành, và ý hành; hơi thở ra vào là thân hành, có giác (biết) có quán (thấy) gọi là khẩu hành, có tưởng (nhớ) có tư (nghĩ) gọi là ý hành, vì sao? Vì hơi thở ra vào là pháp của thân, do nơi thân, thuộc nơi thân, nương nơi thân chuyển, do đó hơi thở ra vào gọi là thân hành. Vì có biết, có thấy nên miệng diễn tả nói năng ra, do đó có giác có quán gọi là khẩu hành. Tư tưởng, suy nghĩ nương nơi tâm, thuộc nơi tâm chuyển, do đó tưởng, tư gọi là ý hành.

Một hôm, Trưởng-giả mời các vị Tôn-giả đến nhà thụ chay, sau khi thọ trai và nói Pháp xong, các Tôn-giả ra về, Trưởng-giả đi cùng các Tôn-giả đến Tịnh-xá. Trên đường đi, lúc ấy vào cuối mùa xuân đầu mùa hạ, trời nóng bức, đi đường rất khó chịu, có một Tôn-giả nhỏ nhất trong các vị ấy tên là Ma-ha-Ca nói:
- Thưa các Sư-huynh Tôn-giả, hôm nay qúa nóng nực, con muốn nổi mây và gió mát có được không?
- Hiền-giả làm được như vậy thì tốt lắm.

Tôn-giả Ma-ha-Ca liền nhập tam-Muội Như-chính-thụ, liền lúc đó mây nổi, mưa nhỏ như bụi, gió mát thổi đến làm cho mọi người cảm thấy dễ chịu; khi mọi người đi tới cửa Tịnh-xá, Tôn-giả Ma-ha-Ca hỏi:
- Thưa các Sư-huynh Tôn-giả, việc làm gió mát này dừng lại được chưa?
Các Tôn-giả đều đáp:
- Hãy ngừng đi, đủ rồi.

Lúc ấy Tôn-giả Ma-ha-Ca liền dừng thần-thông và trở về phòng của mình; trong khi đó Trưởng-giả Chất-đa-La nghĩ thầm rằng: “Vị Tỳ-kheo nhỏ nhất ở đây mà còn có thần-thông lớn như thế, huống chi là bậc khác”. Nghĩ như thế, Trưởng-giả liền vái chào các Tôn-giả, rồi đi theo Tôn-giả Ma-ha-Ca vào phòng và nói:
- Thưa Tôn-giả, tôi muốn được thấy Tôn-giả biến hóa hiện thần-túc siêu việt.

Tôn-giả Ma-ha-Ca nói:
- Trưởng-giả, chớ nên thấy, sẽ sợ hãi.
Ba lần Trưởng-giả yêu cầu, ba lần Tôn-giả từ chối như thế, Trưởng-giả lại năn nỉ yêu cầu nữa:
- Xin Tôn-giả vui lòng thương xót cho tôi xem thần-thông biến hóa.
- Thôi được, ông hãy ra ngoài lấy cỏ và củi khô gom lại một đống, rồi đem tấm vải trùm phủ lên, khi nào xong cho tôi hay.

Nói xong, Tôn-giả lấy một tấm vải trao cho Trưởng-giả; Trưởng-giả y theo lời chỉ bảo, ra ngoài, gom cỏ củi khô xếp thành một đống, phủ vải lên trên, rồi đi vào phòng nói với Tôn-giả:
- Thưa Tôn-giả, tất cả củi cỏ đã được chuẩn bị xong đúng như lời Tôn-giả đã nói.
Tôn-giả Ma-ha-Ca liền nhập định, sau một lúc, Tôn-giả bảo Trưởng-giả:
- Ông ra coi có gì xẩy ra cho đống cỏ củi không?
Nghe lời Tôn-giả, Trưởng-giả đi ra chỗ đống cỏ củi, một lúc, ông trở vào mang trả lại Tôn-giả miếng vải và nói:
- Thưa Tôn-giả, con đã nhìn thấy cỏ củi cháy mà miếng vải ở bên trên không cháy, thật là lạ, thật là kỳ đặc! Tại sao thế?
- Tôi đã dùng Hỏa-quang tam-Muội, xuyên qua khe cửa, ánh sáng đốt rụi cỏ củi, mà không cho đốt cháy tấm vải ở bên trên. Ông nên biết, thần-thông này do không buông lung làm gốc, việc này cùng với công-đức khác, tất cả đều do không buông lung làm gốc mà thành.

Cho tới một ngày nọ, Trưởng-giả Chất-đa-La đã lớn tuổi rồi và bị yếu mệt, trong đêm khuya gần về sáng, có nhiều vị Trời đến bảo Trưởng-giả:
- Này Trưởng-giả, ông nên phát nguyện làm Chuyển-luân Thánh-Vương (Đại-Vương), sẽ tuỳ nguyện đắc qủa, vì ông có dư đủ công-đức để sẽ là một vị Đại-Vương ở đời sắp tới.

Trưởng-giả trả lời chư Thiên:
- Nếu làm Chuyển-luân Thánh-Vương, cũng vẫn có vô thường, biến dịch, và khổ, ý tôi không muốn làm Chuyển-luân Thánh-Vương.

Các vị Trời khuyên bảo Trưởng-giả không thuận, nên biến mất, ngày hôm sau, Trưởng-giả nói với quyến thuộc vây quanh:
- Đã có nhiều Chư Thiên đến đây nói với tôi: “Ông nên phát nguyện được làm Chuyển-Luân Thánh-Vương, sẽ tuỳ nguyện đắc qủa”, tôi đã trả lời chư Thiên là: “Đại Thánh-Vương cũng lại vô thường, biến dịch, khổ, nên tôi không muốn”.

Các quyến thuộc hỏi Trưởng-giả:
- Nay ông dụng tâm như thế nào?
- Nay tôi tâm nguyện rằng: {{Chỉ không còn thụ sinh vào bào thai nữa, chẳng thèm mồ mả, chẳng thọ nhận khí huyết, như Thế-Tôn đã nói: “Năm hạ phần kiết-sử, Ta không thấy có ngã, tự thấy chẳng một kiết nào mà chẳng đoạn. Như thế sẽ sinh lên cõi Trời một lần (hóa sinh) rồi nhập Niết-Bàn, không còn tái sinh ở cõi nhân-gian này nữa”}}. Nói xong: Trưởng-giả từ giường nằm ngồi dậy, ngồi kiết-già, giữ chính niệm, và nói kệ về hạnh bố-thí cúng-dàng được phúc báo sinh lên cõi Trời; nói kệ xong, Trưởng-giả liền qua đời, sinh đến cõi Trời Vô Phiền (Đây là cõi Trời Sắc giới vượt trên Tứ Thiền).

Tại cõi Trời, Thiên tử Chất-đa-La nghĩ rằng: “Ta nên đến Diêm-phù-Đề để lễ bái các Tôn-giả”. Nghĩ rồi, chỉ trong khoảnh khắc, Thiên-tử Chất-đa-La dùng sức Thiên-thần, hiện đến rừng Am-La bên ngoài Tịnh-xá, phóng hào quang từ thân Trời, chiếu sáng khắp rừng Am-La. Khi ấy có một vị Tỳ-kheo Tôn-giả ra khỏi phòng, đi kinh hành, trông thấy ánh sáng kỳ diệu chiếu khắp rừng cây, liền nói kệ:

Sắc Trời nào vi-diệu?
Trụ ở giữa hư không,
Giống như núi vàng rực,
Chiếu sáng Diêm-phù-Đàm.

Thiên-tử Chất-đa-La nói kệ đáp:

Tôi là Vua Trời Người,
Là đệ-tử Cù-Đàm,
Trong rừng Am-La này,
Trưởng-giả Chất-đa-La.
Nhờ tịnh giới đầy đủ,
Hệ niệm tự tịch tịnh,
Thân giải thoát đầy đủ,
Thân trí tuệ cũng thế.
Tôi biết pháp nên đến,
Nhân giả cần nên biết,
Nên nơi Niết-Bàn kia,
Pháp này pháp như thế.
Thiên-tử Chất-đa-La nói kệ xong liền biến mất..,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post May 2 2012, 10:51 AM
Gửi vào: #57


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ A-NAN-ĐÀ

Toàn Không


Tôn-giả A-nan-Đà, là dòng dõi hoàng tộc, con người chú ruột của Thái-tử Sĩ-Đạt-Ta, tức là em họ của đức Phật. Tôn-giả A-nan-Đà là bậc kỳ tài hiếm có trên thế-gian này, vì Ngài có một bộ óc siêu phàm tuyệt vời. Ngài nhớ được tất cả những lời đức Phật giảng dạy hàng ngày mà Ngài đã được nghe trong suốt thời gian hai mươi lăm năm làm Thị-giả cho đức Phật.

Đức Phật xếp Tôn-giả A-Nan-Đà vào hàng các đại đệ-tử vì các điểm đặc biệt, đó là: “Sức học uyên thâm, trí nhớ vô cùng đúng, kiên trì chuyên chú cần mẫn, và khéo biết ý Phật”. Những bộ Kinh ngày nay chúng ta được đọc là do sự đóng góp của Ngài và năm trăm vị Thánh Tăng thời ấy đọc lại thành Kinh sau khi đức Phật nhập Niết-bàn chừng ba bốn tháng.

1)- A-Nan-Đà làm Thị-giả của Phật.

Khi đức Phật trú tại thành Vương-Xá, lúc đó có rất nhiều đệ-tử Tỳ-kheo từ Trưởng-Lão trở xuống cũng trú tại thành Vương-Xá, tất cả đều ở vây quanh Phật trong Kỳ-viên Tịnh-xá, bấy giờ Ngài bảo các Tỳ-kheo:
- Các thầy nên biết, hiện nay Ta đã già rồi (Lúc này Phật đã 55 tuổi), thân thể càng ngày càng suy yếu, nên Ta cần có người chăm sóc. Các thầy hãy cử cho Ta một thầy Thị-giả, làm sao để chăm sóc Ta xứng ý, chứ không phải không xứng ý, ghi nhớ lời Ta nói mà không quên mất ý nghĩa.

Lúc ấy Tôn-giả Câu-lân-Nhã liền đứng dậy, chắp tay hướng về đức Phật thưa rằng:
- Thưa đức Thế-Tôn, con xin được làm Thị-giả, con xin nguyện hầu hạ Thế-Tôn xứng ý, chứ không phải không xứng ý, con ghi nhớ những lời Ngài nói mà không quên mất ý nghĩa.
Đức Thế-Tôn bảo:
- Này Câu-lân-Nhã, chính thầy tuổi đã già, thân thể càng ngày càng suy yếu; chính thầy cũng cần có Thị-giả, Thầy nên ngồi xuống đi.

Cũng như vậy, hai mươi mốt vị Tôn-giả, hoặc Tôn-giả Trưởng-Lão lần lượt đứng dậy, chắp tay hướng về đức Phật xin được làm Thị-giả; các vị Tôn-giả đều nguyện hầu hạ xứng ý Phật, và ghi nhớ những lời Ngài giảng dạy mà không quên ý nghĩa, nhưng tất cả đều bị Phật từ chối.

Khi ấy, Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên suy nghĩ: “Đức Thế-Tôn muốn vị nào làm thị-giả, ý Ngài đặt vào vị Tỳ-kheo nào? Ngài muốn ai chăm sóc cho xứng ý, và ghi nhớ lời Ngài dạy mà không quên mất ý nghĩa? Có lẽ ta nên nhập Như-kỳ tưởng-định để quán sát tâm niệm của toàn thể đại-chúng”. Nghĩ rồi, Tôn-giả liền thực hành ngay và biết Thế-Tôn muốn chọn Tôn-giả A-Nan-Đà, vì ý Ngài đặt vào A-Nan-Đà; biết vậy xong, Tôn-giả xuất định, và thưa với đại-chúng:
- Chư Tôn-Hiền biết không? Đức Thế-Tôn muốn chọn: Tỳ-kheo A-Nan-Đà làm Thị-giả, bây giờ chúng ta nên cùng nhau đến chỗ Tôn-giả A-Nan-Đà khuyến dụ thầy ấy chịu làm Thị-giả.

Bấy giờ Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên và các thầy Tỳ-kheo cùng nhau đến chỗ Tôn-giả A-Nan-Đà, chào hỏi nhau xong, Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên bảo:
- Này Hiền-giả A-Nan, Thầy biết không? Đức Thế-Tôn muốn: đại-chúng Tỳ-kheo cử một thầy làm Thị-giả cho Ngài, đã có hai mươi mốt Tỳ-kheo từ bậc Trưởng-lão trở xuống tình nguyện xin được làm Thị-giả, nhưng đều bị đức Thế-Tôn từ chối, không chấp thuận. Tôi đã nhập định để quán sát, được biết đức Thế-Tôn muốn chọn Thầy làm Thị-giả, vì ý Ngài đặt vào Thầy; Ngài muốn thầy chăm sóc, vì Thầy xứng ý Ngài chứ không phải không xứng ý. Thầy ghi nhớ lời dạy của Ngài mà không quên mất ý nghĩa.

Tôn-giả A-Nan-Đà nói:
- Thưa Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên và các vị Tôn-giả, tôi không thể lãnh trách nhiệm hầu hạ đức Thế-Tôn nổi, vì với đức Thế-Tôn khó xứng ý, khó hầu hạ, nghĩa là khó làm Thị-giả. Cũng như con voi rất hùng mạnh, kiêu dũng, sức mạnh cường thịnh, đủ ngà, đủ vóc, khó gần gũi, khó làm xứng ý, nghĩa là khó mà coi sóc. Thưa Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên, với đức Như-Lai cũng lại như thế, khó gần gũi, khó xứng ý, khó làm Thị-giả, vì vậy, tôi không thể làm Thị-giả được.

Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên nói:
- Này Hiền-giả A-Nan, thầy hãy nghe tôi nói, người trí nghe thí dụ liền hiểu ý nghĩa của nó, cũng như hoa Ưu-đàm-bát-La đúng thời mới xuất hiện ở thế-gian chứ không phải lúc nào cũng xuất hiện, dù trăm nghìn vạn ức năm cũng chưa chắc xuất hiện. Này Hiền-giả: đức Như-Lai, Vô-Sở-Trước, Chính-Đẳng Chính-Giác cũng lại như vậy, đúng thời mới xuất hiện ở thế-gian; Thầy nên mau nhận làm Thị-giả của đức Như-Lai, Thầy sẽ được kết quả rất lớn, và rất tốt đẹp.
- Thưa Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên, nếu đức Thế-Tôn thuận cho tôi tám điều nguyện ước thì tôi mới có thể làm Thị-giả, đó là:

1) Tôi nguyện không mặc áo Cà-Sa của đức Thế-Tôn dù cũ hay mới.
2) Tôi nguyện không ăn thực phẩm do Thiện-tín dâng đến đức Phật.
3) Tôi nguyện không gặp đức Thế-Tôn không đúng lúc.
4) Tôi nguyện không ở chung cùng một phòng-thất với đức Thế-Tôn.
5) Đức Thế-Tôn hoan-hỷ chấp thuận cùng tôi đi đến nơi nào có thí-chủ thỉnh tôi đến.
6) Đức Thế-Tôn hoan-hỷ cho phép tôi được tiến dẫn những vị khách đến xin yết kiến Ngài.
7) Đức Thế-Tôn cho phép tôi đến thưa hỏi mỗi khi có điều hoài nghi phát sinh.
8) Đức Thế-Tôn hoan-hỷ lập lại bài Pháp mà Ngài đã giảng trong lúc không có mặt tôi.

Thưa Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên, nếu đức Thế-Tôn chấp thuận cho tôi tám điều, gồm bốn điều nguyện và bốn điều ước vừa kể, thì tôi mới có thể làm Thị-giả được.

Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên sau khi khuyên Tôn-giả A-Nan-Đà nhận làm Thị-giả, Tôn-giả cùng các vị Tôn-giả Tỳ-kheo từ giã Tôn-giả A-Nan-Đà và trở về chỗ Phật. Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên trình lên đức Phật về sự ưng chịu của Tôn-giả A-Nan-Đà nhận làm Thị-giả với tám điều thỉnh nguyện kể trên và xin đức Thế-Tôn chấp thuận.

Sau khi nghe Tôn-giả Đại Mục-kiền-Liên đọc tám điều thỉnh nguyện của Tôn-giả A-Nan-Đà, đức Phật bảo:
- Này Đại Mục-kiền-Liên, Tỳ-kheo A-Nan-Đà thông minh, mẫn tiệp, dự đoán sẽ có những lời tị hiềm, như có người nói: “Tỳ-kheo A-Nan-Đà vì áo mặc nên hầu hạ đức Thế-Tôn”. Hoặc nói: “Tỳ-kheo A-Nan-Đà vì miếng ăn nên hầu hạ đức Thế-Tôn”. Những dự đoán đó là pháp-vị qúy hóa của Tỳ-kheo A-Nan-Đà, Tỳ-kheo A-Nan-Đà khéo biết thời, biết lúc nào nên đến gặp Như-Lai, lúc nào không nên đến gặp Như-Lai; Tỳ-kheo A-Nan-Đà biết lúc nào chúng Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo Ni nên đến gặp Như-Lai, đối với chúng Ưu-bà Tắc và Ưu-bà Di cũng như thế; Tỳ-kheo A-Nan-Đà biết lúc nào các Sa-môn, Bà-la-Môn, Phạm-chí, Dị-học nên đến gặp hoặc bàn luận hay không nên đến gặp hoặc bàn luận với Như-Lai. Tỳ-kheo A-Nan-Đà biết thức ăn loại nào Như-Lai dùng rồi sẽ được biện tài thuyết pháp, thức ăn loại nào sau khi dùng rồi sẽ không được biện tài thuyết pháp, đó là những pháp vị đáng khen ngợi của Tỳ-kheo A-Nan-Đà.

Do những lời chấp thuận và khen ngợi của đức Phật, nên ngay ngày hôm sau Tôn-giả A-Nan-Đà bắt đầu làm Thị-giả Phật. Tôn-giả A-Nan-Đà làm Thị-giả Phật cho đến khi đức Phật nhập Niết-Bàn. Trải qua hai mươi lăm năm làm Thị-giả, Tôn-giả A-Nan-Đà theo đức Phật đi du-hóa khắp mọi nơi trên đất Ấn-Độ. Tôn-giả rất chuyên cần chăm sóc đến mọi nhu yếu của đức Phật với một lòng kính ngưỡng và tôn quý.

2)- A-Nan-Đà bị nạn Ma-Đăng-Già. (Còn tiếp)


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post May 9 2012, 09:20 PM
Gửi vào: #58


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ A-NAN-ĐÀ

(Tiếp theo)
Toàn Không



2)- A-Nan-Đà bị nạn Ma-Đăng-Già.

Một hôm Vua Ba-Tư-Nặc nước Xá-Vệ, nhân ngày giỗ của phụ-Vương làm lễ trai Tăng. Vua cho sắm sửa các món ăn qúy báu và đích thân Vua đến thỉnh Phật cùng các vị Bồ-Tát vào cung thụ trai; ngoài ra, Văn-Thù Bồ-Tát được chỉ định phân chia đại chúng Tỳ-kheo đi dự cúng dàng tại một số nhà Trưởng-giả trong thành. Riêng Tôn-giả A-Nan-Đà đã được một vị ở xa mời riêng trước nên chưa về kịp để đi thụ trai cùng Tăng chúng, lúc ấy đang trên đường trở về một mình, Tôn-giả không biết việc các Bồ-Tát và chúng Tăng đều được Vua và các trai chủ mời vào thành thọ trai. Tôn-giả ôm bình bát đi khất thực theo thứ lớp từng nhà đúng theo phép khất thực. Khi lần lượt đi đến một nhà kia, Tôn-giả (vì trẻ, lại đẹp trai) bị một người đàn bà dùng bùa yêu tà chú mê hoặc cám dỗ; đang khi người đàn bà ấy còn đang cám dỗ, ve vuốt, và sắp tới giai đoạn hoại giới thể A-Nan-Đà.

Lúc ấy Phật đã biết trước việc này, thụ trai xong, Ngài liền cùng các Bồ-Tát về ngay, có Vua, các quan Đại-Thần, Trưởng-giả, Cư-Sĩ đi theo để xin nghe pháp. Vừa về an tọa xong tại đại giảng đường, trên đầu Phật phóng ra hào quang Bách-Bảo Vô-úy, trong hào quang nở ra Bảo-Liên-Hoa nghìn cánh, trên Bảo-Liên-Hoa có Hóa-Phật ngồi kiết già thuyết thần-chú. Ngài liền sai Văn-Thù Bồ-Tát đem chú đi cứu hộ A-Nan-Đà, khi Bồ-Tát Văn-Thù đem chú đến, tà chú của dâm nữ liền bị tiêu diệt ngay, nên Tôn-giả A-Nan-Đà liền hết mê hồi tỉnh; Bồ-Tát Văn-Thù liền dẫn cả hai người về nơi Phật ngự.

Tôn-giả A-Nan-Đà vừa về tới nơi liền đảnh lễ Phật, nức nở rơi lệ, nói lời hối hận việc xẩy ra vì do thiếu đạo lực, nên không chống trả nổi tà chú. Để có thể tu hành đủ đạo lực, Tôn-giả A-Nan-Đà khẩn khoản thỉnh cầu Phật giảng ba thứ thiền quán mà mười phương Chư Phật đã tu được thành chính giác; vì nhân duyên này, Phật thuyết cho A-Nan-Đà, Vua Ba-Tư-Nặc, Đại-chúng, Bồ-Tát nghe Kinh Lăng-nghiêm. (Trích Kinh Lăng-Nghiêm, Hòa-Thượng Thích-Duy-Lực dịch năm 1993, trang 8).

3)- Tôn-giả A-Nan-Đà đại ngộ.
(Phật A-Di-Đà, Chư Vị Bồ-Tát & Tổ-Sư, từ trang 81 đến 95)

Mặc dù là một đệ-tử thông suốt giáo lý, Tôn-giả A-Nan-Đà chỉ là bậc hữu học cho đến ngày đức Phật nhập diệt, Tôn-giả vẫn chưa đắc qủa Thánh; sau khi đức Thế-Tôn nhập đại Niết-Bàn, Tôn-giả Đại Ca-Diếp là vị Tổ thứ nhất kế truyền Chính Pháp Nhãn-Tạng do đức Phật phó chúc.

Ngày bắt đầu kết tập, chỉ có năm trăm vị A-La-Hán (Thánh Tăng) mới đủ tư cách kết tập; do đó Tôn-giả Đại Ca-Diếp cùng các vị Thánh Tăng vào động, còn các vị Tỳ-kheo chưa chứng quả Thánh, các Vua, Quan, Cư-sĩ, Nhân dân, đều phải ở ngoài.

Tôn-giả A-Nan-Đà đã là Thị-giả của Phật, biết nhiều, nhớ giỏi, nhưng vẫn chưa chứng qủa Thánh nên cũng phải ở ngoài; một trở ngại lớn lao trong việc kết tập là mỗi vị Thánh Tăng chỉ được nghe một phần khi Phật giảng, chứ không vị nào được nghe nhiều như Tôn-giả A-Nan-Đà, nên việc kết tập có thể thiếu sót.
Do đó, khi bắt đầu kết tập Kinh điển, Tôn-giả Đại Ca-Diếp nói với các vị Thánh-Tăng rằng:
- Tôn-giả A-nan-Đà đã là Thị-giả của Phật, ông có nhiều cơ hội gần Phật, thường hằng ngày được nghe giảng dạy. Ông lại là người có trí tuệ rất sáng suốt, mặc dù ông chưa chứng quả Thánh, nhưng hễ ông nghe Chính pháp như mước rót vào đồ đựng, không chút nào dư lại, mà cũng không vương vãi ra ngoài, nếu việc kết tập có ông tham dự sẽ tránh được nhiều điều thiếu sót.

Đại hội Thánh-Tăng nghe Tôn-giả Đại Ca-Diếp nói thế, đều im lặng làm thinh, tỏ dấu rằng cũng hợp ý cả, nhưng không biết làm sao để ra ngoài nguyên tắc “Chỉ có Thánh Tăng mới đủ tư cách tham dự kết tập Kinh điển của Phật”.

Cũng vì sau khi năm trăm vi Thánh Tăng vào động rồi, thì cửa động được khóa lại. Khi ấy Tôn-giả A-Nan-Đà ở bên ngoài cảm thấy tủi hổ cho thân phận vì đã nương nhờ nơi đức Phật mà được đại-chúng nể nang, cho dù có trí nhớ siêu phàm, mà chưa chứng qủa Thánh, cũng không được tham dự kết tập, thật là tủi nhục vô cùng. Bởi vì trong lúc Phật còn tại thế không chịu tinh tấn tu hành, nên mới có ngày nay tủi nhục! Nghĩ vậy, Tôn-giả không dằn lòng được sự hối thúc tu hành bèn đến gõ cửa động kêu cầu Tôn-giả Đại Ca-Diếp mà nói lớn lên rằng:
- Trong khi đức Thế-Tôn phó chúc và truyền cái áo Cà-Sa Kim-Lư cho Tôn-Huynh (Tôn-giả Sư huynh) đó, vậy đức Thế-Tôn còn truyền pháp gì riêng cho Tôn-Huynh nữa hay không?
Tôn-giả Đại Ca-Diếp nghe hỏi, liền cất tiếng nói lớn vọng ra :
- A-Nan !
Tôn-giả A-Nan-Đà đứng ngoài ứng khẩu ngay thưa:
- Dạ.
Tôn-giả Đại Ca-Diếp liền nói rằng:
- Cây trụ cờ phướn trước cửa đổ rồi!

Tôn-giả A-Nan-Đà không hiểu tại sao Tôn-giả Ca-Diếp nói thế với ý nghĩa gì, tại sao lại nói cây trụ cờ phướn đổ rồi? (trong khi cây trụ cờ phướn không đổ) Tôn-giả A-Nan vô cùng thắc mắc, bèn hỏi lại:
- Cây trụ cờ phướn đâu có đổ, Tôn Huynh nói như vậy có ý nghĩa gì?

Bên trong im lặng, không thấy Tôn-giả Đại Ca-Diếp trả lời, Tôn-giả A-Nan-Đà thắc mắc không hiểu: tại sao Tôn Huynh nói cây trụ cờ phướn đổ? Rồi Tôn-giả A-Nan-Đà thắc mắc ngày thắc mắc đêm, ăn không được, ngủ không được, và thắc mắc mãi về lời nói ấy (đây là đại nghi tình, đại thắc mắc của Thiền tông mà Tôn-giả A-Nan không biết là mình đang tham thiền, tìm đọc cuốn “Pháp Môn Đốn Ngộ” của cùng tác giả). Sau bẩy ngày vẫn còn thắc mắc mê man như thế, trong khi Tôn-giả đang nghiêng mình nằm xuống về phiá bên tay phải, thì đột nhiên tỏ ngộ (Kiến tánh), và tâm tánh sáng suốt vô cùng. Liền khi ấy, như trút được gánh nặng nghìn cân, vui mừng, Tôn-giả vội vàng đến gõ cửa động xin mở cửa để vào báo tin mừng. Tôn-giả Đại Ca-Diếp biết được nói vọng ra:
- Nếu đã ngộ rồi thì tự vào, sao còn nhờ người mở cửa?
Tôn-giả A-Nan-Đà liền biến mình nhỏ lại chui qua khe cửa mà vào, rồi đảnh lễ Thánh chúng; đại hội Thánh chúng vui mừng đón tiếp Tôn-giả A-Nan-Đà đã đại ngộ, và liền cử Tôn-giả lên tòa cao ngồi trùng tuyên Kinh Giáo của Phật!

4)- Tôn-giả A-Nan-Đà làm Tổ thứ hai.

Sau khi kết tập xong bộ Tăng Nhất và toàn bộ Đại-Tạng Kinh xong, toàn thể Thánh chúng vui mừng nhẹ nhõm vô cùng, Tôn-giả Đại-Ca-Diếp liền truyền giao chính pháp cho Tôn-giả A-Nan làm Tổ thứ hai.
Bấy giờ vô số Bồ-Tát đến dự, có các Thiên Vương và Thiên chúng các cõi Phạm Thiên, Hóa Tự Tại, Tha Hóa Tự Tại, Đâu Suất, Diệm Ma, Đạo-Lợi, Tứ Thiên Vương đến dự.
Cũng có các Vương và chúng của tám bộ là:

1- Đề-Bà (Deva: Thiện, hưởng phúc vi diệu).
2- Càn-Thát-Bà (Grandhava: Thần hầu Đế-Thích để ca và tấu nhạc).
3- Dạ-Xoa (Yaksa: Yểm-Quỷ giữ các cửa thành cõi Đạo-Lợi).
4- Na-Dà (Naga: Rồng giữ địa luân và các cung điện cõi Trời, làm mưa v.v..).
5- A-Tu-La (A Sura: Phi Thiên, Thần).
6- Ca-Lâu-La (Garuda: Chim Súy-Điểu, Chim Cánh-Vàng, hai cánh soè ra đến 360,000 dặm (theo quyển Nhị-Khóa Hiệp-Giải trang 278). Có 4 loại chim bằng noãn, thai, hóa, thấp sinh, bắt 4 loại Rồng noãn, thai, hóa, thấp sinh để ăn).
7- Khẩn Na-La (Kini Nara: Nghi Nhân, Nhân Phi Nhân, giống người mà có sừng, cũng là Thần đánh nhạc cho Đế-Thích).
8- Ma-Hầu La-Già (Mahoraga: Đại Phúc-Hành, đầu Rắn mình người, Thần Rắn, Địa Long Thần, Đại Mãng Thần) đến dự.

(Ghi chú: Bát bộ kể trên, nhục nhãn loài người không thể trông thấy được.
Hai bộ Thiên và Long, thần nghiệm khá nhất, nên gọi là Thiên Long Bát Bộ. Thiên Long Bát Bộ thường hầu Phật mỗi khi Phật thuyết pháp).

Lúc ấy Bồ-Tát Di-Lạc bảo chúng hội:
- Các Đại-Sĩ, hãy khuyên các thiện nam tín nữ đọc tụng, thọ trì Tăng Nhất Tôn Pháp, giảng nói rộng rãi khiến Trời Người vâng làm.
Khi Ngài nói những lời trên xong, tất cả hội chúng đều nói: “Chúng tôi ủng hộ triệt để, quyết không dừng nghỉ nửa chừng”.

Tôn-giả A-Nan cũng nói:
- Nay tôi đem Tăng Nhất A-Hàm này giao cho Hiền giả Ưu Đa-La, hãy khéo tụng đọc, chớ để thiếu sót, vì bộ Kinh này nêu lên lời dạy 37 đạo Phẩm.

Tôn-giả Đại Ca-Diếp nghe nói thế liền hỏi:
- Hiền giả A-Nan, Tăng Nhất A-Hàm lại có thể xuất sinh 37 đạo phẩm và các pháp đều do đây sinh sao?

Tôn giả A-Nan đáp:
- Đúng thế, thưa Tôn Huynh Đại Ca-Diếp, không những thế mà chỉ một bài kệ trong đây cũng xuất sinh 37 đạo phẩm; ngoài ra nghĩa của bốn bộ A-Hàm cũng chỉ trong một bài kệ cũng đầy đủ hết lời chư Phật. Bài kệ là:

Các điều ác chớ làm,
Các điều lành vâng làm,
Tự trong sạch ý mình,
Là lời chư Phật dạy.

Vì sao thế? Các điều ác cấm làm là đầy đủ cấm giới, các điều lành vâng làm là đầy đủ hạnh thanh bạch; tâm ý trong sạch là tự sạch ý mình, trừ tà chấp điên đảo, lời chư Phật dạy là bỏ các ngu dốt. Thưa Tôn-huynh, người giữ giới thanh tịnh thì tâm ý của họ lại bất tịnh sao? Người mà ý thanh tịnh thì không điên đảo, vì không điên đảo nên ngu dốt diệt, ba mươi bảy đạo phẩm liền được thành tựu; đã thành đạo qủa há chẳng phải là các pháp ư?

Tôn-giả Đại Ca-Diếp lại hỏi:
- A-Nan, tại sao lại đem Tăng Nhất A-Hàm giao phó Ưu-Đà-La mà chẳng giao cho Tỳ-kheo khác?
Tôn giả A Nan đáp: (Còn tiếp)

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post May 19 2012, 10:17 AM
Gửi vào: #59


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



TÔN-GIẢ A-NAN-ĐÀ


(Tiếp theo)

Toàn Không


Tôn giả A Nan đáp:

- Thưa Tôn-Huynh, 91 kiếp xưa, có đức Tỳ-Bà-Thi Như-Lai, Ngài đã giao phó Tăng Nhất cho Tỳ-kheo Ưu-Đa-La, lúc đó có tên là Câu Ưu-Đa đọc tụng. Rồi 31 kiếp xưa có Thi-Khí Như-Lai, cũng trao Tăng Nhất cho Ưu-Đa-La lúc ấy có tên là Mục-Gia Ưu-Đa-La tụng đọc. Cũng ở kiếp 31 ấy, lúc có Tỳ-Xá-Phù Như-Lai, cũng lại trao Tăng Nhất cho Ưu-Đa-La lúc này có tên là Long Ưu-Đa-La đọc tụng. Tôn-giả nên biết, trong Hiền kiếp này, 3 vị Như-Lai ra đời trước kia cũng đều đem Tăng Nhất trao cho Ưu-Đa-La đọc tụng như thế cả. Ngày nay có Thích-Ca Như-Lai, tuy đã nhập Niết-Bàn, nhưng Ngài đã đem hết giáo pháp trao cho Tôn-giả, rồi Tôn-giả lại trao hết cho tôi, nay tôi lại trao hết lại cho Ưu-Đa-La.

Còn nữa, Tôn-giả nên biết, một hôm Thế-Tôn đi kinh hành trong vườn Cam-lê, lúc đó tôi thấy Thế-Tôn mỉm cười, tôi liền vái mà hỏi: “Như-Lai không cười vô cớ, xin Ngài giải thích cho sự mỉm cười vừa rồi”. Phật bảo tôi rằng:
“Ở đời qúa khứ trong Hiền kiếp này, có một vị vua tên Ma-Ha Đề-Bà, dùng chính pháp cai trị, vua có đủ bảy báu là Xe báu, Voi báu, Ngựa báu, Châu báu, Ngọc-nữ báu, Cư-sĩ báu, và Chủ-binh báu, Vua lấy đức trị dân trong thời gian lâu dài. Khi ấy, vua bảo người thợ hớt tóc rằng: “Nếu trên đầu ta có tóc bạc hãy cho ta hay”. Người hớt tóc nghe lệnh vua, qua một số năm, thấy đầu vua có tóc bạc, liền tâu vua: “Thưa Đại Vương, đầu Ngài đã có tóc bạc mọc rồi”. Vua bảo người ấy nhổ sợi tóc bạc ấy để lên tay vua. Khi vua trông thấy tóc bạc liền tự nói: “Trên đầu ta có tóc bạc là báo hiệu già sắp chết, nên ta phải xuất gia tu đạo”. Bấy giờ vua bảo Thái-tử lớn nhất là Trường-Thọ: “Con biết chăng, tóc ta đã bạc, ý ta muốn xuất gia học đạo để lià các khổ, con hãy nối ngôi ta, lấy chánh pháp giáo hóa cai trị, chớ sai lời ta dạy, vì nếu sai lời ta dạy thì sẽ ở trong khổ sở sau này”.

Sau khi truyền ngôi, vua đến nơi thanh tịnh, cạo bỏ râu tóc, khéo tu phạm hạnh, hành 4 đẳng tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả, đến khi mạng chung sinh lên cõi Trời Phạm Thiên.

Vua Trường-Thọ nhớ lời cha dạy, dùng chính pháp cai trị, cũng làm Chuyển-luân Thánh-Vương. Rồi cũng dùng đường lối của vua cha, khi có tóc bạc liền dặn bảo và truyền ngôi cho con trưởng là Thiện-Quán, và cũng tu hành y như vua cha, kết cục khi mạng hết cũng sinh lên cõi Phạm-Thiên.

Vua Thiện-Quán cũng làm theo lời dạy của cha ông, dùng chính pháp cai trị, làm Chuyển Luân Thánh-Vương, cũng có bảy báu v.v...

Tôn-huynh nên biết, Vua Ma-ha Đề-Bà khi đó đâu phải người nào xa lạ, vua bấy giờ nay là Phật Thích-Ca. Vua Trường-Thọ nay là thân A-Nan đây, còn vua Thiện-Quán lúc đó nay là Tỳ-kheo Ưu-Đa-La, đã từng nhận Vương pháp chưa từng bỏ mất, cũng chẳng dứt. Vua Thiện-Quán đã làm hưng phục lệnh vua cha, dùng chánh pháp cai trị, chẳng dứt lời vua cha dạy, vì lời dạy của phụ vương khó làm trái được; tôi quán nghĩa này nên đem Tăng-Nhất trao cho Tỳ-kheo Ưu-Đa-La.

Sau khi Tôn-giả Đại Ca-Diếp đến núi Kê-Túc nhập diệt định để chờ đức Phật Di-Lặc ra đời thấy thân áo bát, Tôn-giả A-Nan-Đà đi truyền Chính-Pháp khắp nơi, và hóa độ chúng-sanh rất nhiều.
Một lần, Tôn-giả A-Nan-Đà đến tịnh-xá Trúc-Lâm, Ngài được nghe một vị Tăng tụng bài kệ rằng:

Nếu người sống trăm tuổi,
Không thấy thủy lão hạc.
Chẳng bằng sống một ngày,
Được trông thấy tận mắt.

Tôn-giả bèn kêu vị Tăng ấy mà bảo rằng :
- Bài kệ của thầy đọc đó không nhằm nghĩa của Phật nói. Thầy nên đọc lại như thế này mới đúng:
Nếu ngưòi sống trăm tuổi,
Không biết pháp sinh diệt.
Chẳng bằng sống một ngày,
Được biết pháp sinh diệt.
Khi Tôn-giả đi rồi, Chủ trì nghe vị Tăng thưa lại, bèn nói rằng:
- Ông A-Nan-Đà già cả lẫn lộn, nên bày không trúng, đừng tụng theo mà sai lầm.
Ngày khác Tôn-giả trở lại, cũng nghe vị Tăng ấy tụng sai lầm y như bữa trước, Ngài hỏi lại mới biết rằng thầy Chủ trì cản trở, Tôn-giả tự nghĩ: “Cái bệnh ngu si của người ta thật khó hóa độ”. Ngài liền nhập định mà cầu bậc Tôn Thánh làm chứng, bỗng đâu đất liền chấn động, ánh sáng chói lòa phát chiếu, rồi có một vị Đại-sĩ xuất hiện ngay bên vị Tăng và nói:
- Bài kệ ngươi tụng không phải ý của Chư Phật, nay gặp Tôn-giả A-Nan-Đà chỉ bảo thì ngươi phải tuân theo mới được.
Vị Đại-sĩ nói xong liền biến mất, vị Tăng thấy vậy thất kinh, liền phát tâm cung kính mà tụng bài kệ theo lời dạy của Tôn-giả; về sau vị Tăng ấy chứng qủa thứ hai Tư Đà Hàm.

5)- Tôn-giả A-Nan-Đà nhập diệt.

Về sau, một hôm, Tôn-giả A-Nan-Đà nhớ lại lời thỉnh cầu của Vua A-xà-Thế rằng: “Khi nào Tôn-giả nhập Niết-Bàn thì cho Vua hay trước”, nên Tôn-giả đi đến gặp người Thủ môn canh giữ cổng thành Hoàng-cung mà nói rằng:
- Ta là A-Nan-Đà sắp nhập Niết-Bàn, nên tới đây báo cho Vua A-xà-Thế biết.
Quan Thủ-môn thưa rằng:
- Bây giờ Thánh-Thượng còn đang an giấc, nên chưa dám thưa trình.
Tôn-giả bảo vị quan ấy:
- Thôi được, khi nào đức Vua thức dậy ông thưa trình cũng được.

Nói xong, Tôn-giả từ biệt nước Ma-kiệt-Đà, rồi ngồi thuyền ra sông Hằng để qua xứ Phệ-xá-Ly; trong khi ấy, Vua A-xà-Thế ngủ trên Long-Sàng, và đang trong giấc mộng chiêm bao. Vua mơ thấy một Bảo-Cái có treo bảy món báu vật, xem rất trang nghiêm rực rỡ, Vua còn mơ thấy có vô số người đang ngưỡng mộ lễ bái Bảo-Cái; thình lình một trận mưa gió bão đùng đùng nổi lên rất là dữ tợn, làm cho các món trân-bảo, anh-lạc đều rơi rớt tứ tung cả; Vua thấy vậy thì trong lòng kinh sợ, vì kinh sợ nên giật mình thức dậy, và lúc ấy mới biết là chiêm bao.

Trong lúc Vua còn đang ngồi suy nghĩ điềm mộng ấy hung kiết thế nào, bỗng có quan Thủ-môn đến tâu trình sự việc Tôn-giả A-Nan-Đà đến cáo biệt, và đã đi đến xứ Phệ-xá-Ly để nhập Niết-Bàn rồi. Vua nghe xong liền khóc rống lên một cách thảm thiết, và Vua lập tức truyền lệnh cho ngựa xe cấp tốc thân hành đi mà yêu cầu Tôn-giả trở lại.

Khi tới bờ sông Hằng, Vua trông thấy Tôn-giả A-Nan-Đà đang ngồi Kiết-già trong một chiếc thuyền ở giữa dòng sông, Ngài đứng nơi mé bờ sông mà đảnh lễ Tôn-giả, và kêu lớn lên rằng :
- Xin: Tôn-giả thương tình xứ Ma-kiệt-Đà mà trở lại, và xin đừng vội nhập diệt.

Còn về Vua xứ Phệ-xá-Ly, vì một nhân duyên được nghe tin Tôn-giả A-Nan-Đà đến nước mình, nên đem binh tới bờ sông Hằng mà chực rước, nhà Vua ở nơi bờ sông bên kia, ngó qua mà lễ lạy Tôn-giả, và kêu lớn lên rằng :
- Thỉnh cầu Tôn-giả ghé qua bờ sông nước Phệ-xá-Ly chúng tôi, để tạm thọ lễ cúng dường xong Ngài hãy nhập Niết-Bàn.

Khi thấy hai Vua đều có lòng buồn rầu quyến luyến, Tôn-giả A-Nan-Đà an ủi:
- Niết-Bàn là một cảnh an-tịnh, cứu-cánh, xin hai vị Đại-Vương đừng lấy sự sống chết thường tình mà sầu thảm. Chốc lát nữa đây, tôi sẽ độ cho năm trăm vị Tiên, và truyền trao Chính-Pháp, sau đó tôi sẽ nhập diệt tại giữa dòng sông này, để lấy lòng bình đẳng mà hóa độ.

Tôn-giả vừa nói dứt, thì năm trăm vị Tiên ở núi Tuyết-sơn (Hy-Mã-Lạp-Sơn) dùng thần-thông đi trên không đến đảnh lễ Tôn-giả và thưa:
- Chúng tôi tu Tiên ở núi Tuyết-sơn đến đây, nguyện nhờ Tôn-giả A-Nan-Đà để chứng Phật qủa, xin Ngài từ-bi độ thoát cho chúng tôi.
Tôn-giả A-Nan-Đà nói:
- Ta đang đợi các ông đây.

Nói xong, Tôn-giả thị hiện thần-thông làm mặt nước sông Hằng biến hóa ra một giải đất liền, mặt toàn là vàng ròng rực rỡ; Ngài bảo các vị Tiên hạ xuống mà ngồi, rồi Ngài thuyết pháp Đại-thừa cho Tiên chúng nghe, thuyết pháp xong, Tôn-giả nói:
- Các đệ-tử trước kia của ta chắc cũng sắp đến đây.

Tôn-giả vừa nói xong, thì năm trăm vị A-La-Hán dùng thần-thông đi trên không đến đảnh lễ; Ngài liền yêu cầu các vị A-La-Hán độ cho các vị Tiên xuất gia, và thọ Cụ-túc giới; xong việc truyền Giới, Tôn-giả chọn một vị Tiên là Thương-Na Hòa-Tư đã đắc A-LA-Hán mà bảo rằng :
- Xưa đức Thế-Tôn đem Chính-Pháp Nhãn-Tạng phú chúc cho Tôn-giả Đại Ca-Diếp Sư huynh ta, rồi sau truyền lại cho ta. Nay ta phó chúc cho ông, vậy ông phải hết lòng trân trọng lãnh (lĩnh) thọ mà hộ trì, hầu ngày sau siển dương Phật-Pháp mà hóa độ cho chúng sanh; hãy nghe ta nói kệ mà ấn tâm:

Lâu nay phú có pháp,
Phú rồi nói không pháp,
Thảy đều tự mình ngộ,
Ngộ rồi không không pháp.

Sau đó Tôn-giả kêu vị Tiên tên Mạt-Điền Để-Ca cũng đã đắc A-La-Hán mà dặn rằng:
- Lời thụ ký trước của đức Thế-Tôn có nói: “Sau khi Như-Lai nhập-diệt năm trăm năm, thì ông phải đến nước Kỳ-Tân mà truyền Đại-Pháp, để độ thoát cho loài hữu tình”.

Xong việc truyền Pháp và dặn dò, Tôn-giả bảo một nghìn đệ-tử trở về, rồi Ngài thu hồi thần-thông để mặt sông trở lại mặt nước như cũ.

Vì cả hai nước đều hết lòng kính phụng và mong muốn được giữ Xá-Lợi của Tôn-giả, nên Ngài bảo các đệ tử sau khi Ngài nhập diệt rồi thì trà-tỳ, lấy Xá-lợi chia cho hai nước, cõi Trời Đạo-Lợi và Long cung; rồi Ngài ngồi kiết già trong thuyền ngay giữa dòng sông mà tịch. Khi ấy Chư Thiên và Long-Vương tới lễ bái trên không, và rải hoa cúng dường; Vua hai nước và Thần-Dân hai bên bờ thấy thế thì tất cả đều qùy lễ và chảy nước mắt; các đệ tử sắp đặt việc trà tỳ và phân xá lợi để xây dựng Bảo-Tháp cúng dường đời đời. Khi ấy tôn-giả A-nan-Đà đã 120 tuổi thọ.,.

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post May 23 2012, 10:16 PM
Gửi vào: #60


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



VUA A-DỤC

Toàn Không


1)-Đức Phật thọ ký cho A-Dục.

Một lần đức Phật trú tại vườn Ca-lan-Đà thuộc thành Vương-Xá, một hôm trong khi Ngài đi khất thực, có hai em bé đang bốc cát chơi đùa. Khi chúng trông thấy đức Phật đi tới, một em cầm nắm cát và nghĩ thầm: “Mình đem cát này cúng dàng cho Sa-Môn”, nghĩ rồi em bé liền đem nắm cát ấy bỏ vào bình bát của đức Phật và nói:
- Con muốn được làm vua!
Rồi em bé bỏ đi, bấy giờ đức Phật mỉm cười, Tôn-giả A-nan-Đà thấy thế liền thưa:
- Bạch đức Thế-Tôn, Chư Phật chẳng phải không nhân duyên gì mà tự nhiên mỉm cười, xin đức Thế-Tôn giảng giải sự mỉm cười của Ngài vừa rồi.

Đức Phật bảo:
- Đúng thế, vừa rồi Ta mỉm cười là có nhân duyên: “Sau khi Ta diệt độ khoảng hơn một trăm năm sau, em bé vừa rồi cúng dàng nắm cát cho Ta, đời sau sẽ làm vua tại thành Ba-liên-Phất, thống lãnh một phương rộng lớn. Vua ấy họ Khổng, tên A-Dục, đem chính pháp cai trị giáo hóa nhân dân, lại còn cho xây tám vạn bốn nghìn Tháp Pháp-Vương để phân bố rộng rãi Xá-lợi của Ta và đem lại sự an vui cho vô lượng chúng-sanh”. Này A-Nan, thầy hãy đem số cát cúng dàng trong bình bát này đổ rải ra trên đường Ta kinh hành.
Tôn-giả A-nan-Đà vâng lời: liền mang cát trong bình bát của Phật rải trên đất để Phật đi qua.

Về sau tại thành-ấp xứ Maurya hay Ba-liên-Phất, miền Bắc Ấn-Độ, có Vua hiệu là Nguyệt-Hồ, vị Vua ấy có con tên là Tần-Đầu Ba-La nối ngôi Vua, Vua này có con tên là Tu-sư-Ma. Thời ấy nước Chiêm-Bà có một thiếu nữ Bà-la-Môn rất xinh đẹp, nàng là trân-bảo của đất nước, các nhà tướng số đều nói rằng: “Nàng sẽ là Vương-Phi và sẽ có con thống lãnh thiên hạ”.

Bà-la-Môn cha của thiếu nữ nghe các thầy tướng nói như vậy vui mừng vô kể, liền đưa con gái đến thành Ba-liên-Phất, rồi sắm sửa, trang điểm cho con gái trông càng xinh đẹp hơn; Bà-la-Môn tiến cử con gái vào cung Vua, các bà Phu-nhân và Cung-nữ thấy người con gái ấy liền nghĩ rằng: “Thiếu nữ này quá đẹp, đoan chính, đúng là trân-bảo của đất nước, nếu nhà Vua say đắm nàng, nhà Vua sẽ thờ ơ với chúng ta”; nghĩ như vậy, nên họ đồng lòng ép thiếu nữ ấy học nghề thợ cạo, sau khi học xong nàng sẽ lo việc cắt tiả râu tóc cho Vua. Một hôm, đang cắt tiả râu tóc, Vua Tần-Đầu Ba-La hỏi cô gái:
- Cô ước mơ điều gì?
Thiếu nữ tâu Vua :
- Thiếp chỉ mong Đại-Vương để tâm, thương yêu nghĩ đến thiếp.

Lúc ấy Vua bảo:
- Ta là Vua dòng Sát-Lợi, còn nàng là thợ cạo dòng hạ liệt, làm sao ta thương tưởng nàng được?
Thiếu nữ tâu Vua:
- Thiếp chẳng phải là con dòng hạ tiện, thiếp sinh trưởng trong dòng qúy-tộc, con gái Bà-la-Môn, các nhà tướng số nói với cha thiếp rằng: “Cô gái này nên gả cho Vua, vì thế nên thiếp mới đến đây”.

Vua lại hỏi:
- Nếu như thế, ai đã khiến nàng học cái nghề hèn mọn này?
- Các Phu-nhân và Cung-nữ ép thiếp học nghề này.
Nhà Vua ra lệnh:
- Từ nay về sau, nàng chớ làm cái nghề hạ tiện này nữa.

Vua liền lập nàng làm đệ nhất Phu-nhân, nhà Vua cùng nàng sống hạnh phúc, chẳng bao lâu nàng mang thai, rồi sinh nở an ổn vui vẻ, không ưu phiền, nên qua bẩy ngày sau đặt tên là Asoka, hay A-Du-Ka nghĩa là Vô-Ưu A-Dục. A-Dục có thân hình thô kệch, mặt mũi đen xấu, Vua cha không muốn đến gần bồng bế; sau lại sinh thêm một trai nữa đặt tên là Ly-Ưu. Nhiều lần nhà Vua tỏ ra không thương yêu A-Dục, nên có lần A-Dục than với mẹ rằng: “Vua cha chẳng nghĩ gì đến con, và cũng chẳng muốn nhìn thấy mặt con!”.
Khi A-Dục trưởng thành, có nước láng giềng Đức-Xoa Thi-La làm phản, Vua Tần-Đầu Ba-La bảo A-Dục:
- Con hãy đem binh đi bình phạt nước Đức-Xoa Thi-La đang làm phản, con phải ráng chu toàn nhiệm vụ do ta trao phó.
Khi A-Dục khởi quân ra đi, Vua cho binh giáp chẳng có bao nhiêu, những người đi theo thưa với A-Dục:
- Ngày nay đi bình phạt nước kia, mà binh tốt quá ít, làm sao dẹp yên được?
A-Dục nói:
- Nếu chúng ta sẽ thắng trận thì tự nhiên binh giáp đến phù trợ.

Ứng theo lời nói của A-Dục, có một đoàn quân từ nhân-dân tổ chức đến xin chịu sự sai bảo của Vương-tử A-Dục để đi đánh nước làm phản. Rồi trên đường đi lại có những toán người tình nguyện xin theo đi đánh giặc. Bấy giờ A-Dục dẫn đoàn quân đông đảo, hùng mạnh đi; khi gần tới nước kia, thanh thế Vương-tử lớn mạnh như vũ bão, làm cho binh lính của nước kia sợ hãi mà chạy trốn hết, không phải đánh đấm gì cả mà tự nhiên thắng.
Nhân-dân nước kia nghe A-Dục đến, liền dọn dẹp thành quách đón tiếp Vương-tử và nói:
- Dân chúng tôi không phản lại Đại-Vương và Vương-tử, nhưng bọn quan lại làm hại chúng tôi, nên chúng tôi mới trái nghịch, mong Vương-tử tha tội cho.
Sau khi bình định xong: Vương-tử A-Dục kéo quân chiến thắng trở về.

Một hôm Vương-tử Tu-sư-Ma là con Phu-nhân trước, lớn tuổi hơn A-Dục, ra ngoài dạo chơi, gặp một vị Đại-thần, vị này không chào theo đúng lễ nghi. Vương-tử Tu-sư-Ma sai tùy tùng đánh đập, vị Đại-thần ấy nghĩ: “Vương-tử này hách dịch qúa mức, chưa được ngôi Vua mà cách xử sự như thế, nếu được làm Vua thì sao chịu nổi; lại nghe Vương-tử A-Dục được lòng thiên hạ, được lòng qúy mến của các Đại-thần, họ sẽ cùng nhau lập A-Dục lên làm Vua chứ chẳng sai đâu”.

Mấy năm sau, nước Đức-Xoa Thi-La lại làm phản, các quan cùng nhau bàn luận và đề nghị Vương-tử Tu-sư-Ma đi dẹp loạn; Tu-sư-Ma bằng lòng, liền đem quân đi đến nước kia, nhưng không hàng phục được, mà bị thua trận. Lúc ấy Vua cha bệnh nặng, nên bảo các quan:
- Nay ta muốn lập Tu-sư-Ma làm Vua nối nghiệp, các quan nên sai A-Dục đi đến nước kia thay cho Tu-sư-Ma trở về làm Vua.
Các quan đại-thần muốn lập A-Dục làm Vua, nên tâu:
- Đại-Vương nên: lập A-Dục làm Vua, vì nay đã cấp bách rồi, chúng hạ-thần từ từ sẽ lập Tu-sư-Ma làm Vua sau này.

Vua nghe những lời ấy nên không vui, và đâm ra lo lắng buồn bực nên im lặng không đáp; lúc ấy A-Dục suy nghĩ và nói thầm: “Nếu ta xứng đáng được ngôi Vua, Chư Thiên tự nhiên tưới nước cam-lồ trên đầu ta, lấy hoa trắng rải trên đầu ta”.
Ứng theo tiếng nói thầm của A-Dục, tự nhiên có nước chảy và hoa rơi trên đầu mặt A-Dục. Vua cha trông thấy cảnh tượng ấy vô cùng buồn bã, liền từ trần.

2)- A-Dục lên ngôi Vua.

A-Dục lo việc tang lễ cho Vua cha theo đúng lễ nghi Vương triều, xong A-Dục (272-236 trước Dương lịch) kế vị ngôi Vua, phong cho A-Nâu-Lâu-Đà (khi A-Dục còn nhỏ, người này đã đoán A-Dục sẽ kế vị ngôi Vua) làm Tể-tướng Đại-Thần.

Vương-tử Tu-sư-Ma nghe tin Vua cha qua đời, các quan đã lập A-Dục làm Vua, sinh lòng bất bình, bèn kéo binh lính về đánh A-Dục.

Hai cửa trong bốn cửa thành của Vua A-Dục có đặt hai lực-sĩ, cửa thứ ba đặt một đại-thần, tự mình giữ cửa Đông; Đại-Thần A-Nậu Lâu-Đà cho làm một con voi máy bằng gỗ, và cho đẽo tượng A-Dục cưỡi voi máy đặt ngoài cửa Đông; lại cho làm hầm lửa không khói, lấy vật, đất phủ kín lên. Khi Tu-sư-Ma kéo quân đến gặp ngay cửa của Đại-thần, nên A-Nậu Lâu-Đà nói:
- Vương-tử muốn làm Vua, A-Dục đang ở cửa Đông, Vương-tử đến đó đánh thắng được ông ấy thì tự nhiên được làm Vua.

Nghe lời nói ấy, Tu-sư-Ma liền phóng ngựa kéo quân qua cửa Đông, vì không biết để đề phòng, nên cả người ngựa bị rớt xuống hầm lửa mà chết; Vua A-Dục đem chính pháp trị dân, sau ít ngày một số quần thần cậy vào thế đã đưa A-Dục lên ngôi Vua, nên tỏ vẻ khinh mạn, coi thường, không tuân theo lễ nghi vua tôi. Vua thấy một số các quan khinh lờn mình, bèn bảo những người quan ấy:
- Các ông hãy chặt cây hoa trái trồng cây gai góc.

Các người quan ấy trả lời:
- Chúng tôi chưa từng thấy nghe dẹp bỏ cây hoa trái và trồng cây có gai góc bao giờ, mà chỉ nghe dẹp bỏ cây gai góc và trồng cây hoa trái mà thôi. (Còn tiếp)

Toàn Không


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

9 Pages: V < 1 2 3 4 5 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 17th September 2019 - 11:25 PM