IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> BIẾTNGƯỜIBIẾTTA, CÓ MỘTTRUNGQUỐCKHÁC/BÙICÔNGTỰ
NhaQue
post Jun 24 2011, 10:03 PM
Gửi vào: #1


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,620
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Xin phép tác giả Bùi Công Tự và chủ trang Blog Nguễn Xuân Diện để đăng - BTH



CÓ MỘT TRUNG QUỐC KHÁC

Bùi Công Tự




Theo chúng ta được biết thì "Văn minh Trung Hoa" thật sự đáng kính nể. Đó là một nền văn minh vào loại sớm nhất và lớn nhất của loài người. Trong số những sáng tạo của họ, tôi đặc biệt khâm phục kiểu chữ viết tượng hình độc đáo mà cụ Hàn Thuyên ngày xưa đã học để tạo ra chữ Nôm cho người Nam chúng ta. Cũng nhờ có chữ Nôm mà chúng ta lưu giữ được Truyện Kiều trước khi có chữ Quốc ngữ.


Tôi có cảm giác là hình như các học giả Việt Nam nghiên cứu về Trung Quốc (TQ) còn nhiều hơn cả nghiên cứu về đất nước mình ? Các nhà văn, nhà báo, doanh nhân và khách du lịch Việt Nam cũng nói về TQ với rất nhiều mỹ tự.


Nhưng có một đất nước TQ khác như là những điều tôi nói dưới đây thiết nghĩ ngay cả người TQ cũng không thể không thừa nhận.


1. Một nước TQ nội chiến liên miên


Người Việt Nam ta, đến trẻ con cũng biết ít nhiều về lịch sử TQ. Đó là lịch sử của những cuộc nội chiến liên miên giữa các tập đoàn quân phiệt cát cứ, giữa Đại Hán với Đại Hán. Những cuộc chiến "nồi da xáo thịt", "cốt nhục tương tàn". Hiện thực ấy ngoài ghi chép của các sử gia (như Tư Mã Thiên) còn được tái hiện một cách sinh động trong các tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như "Đông chu liệt quốc", "Tam quốc diễn nghĩa", vv.. mà chúng ta đọc thấy họ chém giết nhau dã man, coi mạng người như con ngóe. Những trận đánh xương chất thành núi, máu chảy thành sông (như trận Xích Bích).


Cuộc nội chiến gần đây nhất của người Trung Hoa là cuộc chiến giữa Hồng quân của ĐCS Trung Quốc và quân đội của Quốc dân đảng TQ, kéo dài từ năm 1927 đến năm 1949. Lúc đầu quân của ĐCS thất bại, phải làm cuộc vạn lý trường chinh, một cuộc rút chạy dài 12000km từ Giang Tây đến Diên An trong thời gian 370 ngày (từ 16/10/1934 đến 19/10/1935). Trong cuộc rút lui này, Hồng quân từ lúc có 300.000 người đã bị quân Tưởng tiêu hao, bị chết đói, chết rét, chết bệnh mất 270.000 người, khi tới Diên An chỉ còn 30.000 người.


Có thể nói cuộc nội chiến này đến nay vẫn chưa chấm dứt. Những năm 1960 trong một thời gian dài TQ bắn đại bác qua eo biển Đài Loan. Hiện nay chính phủ Đài Loan đang mua nhiều vũ khí, hiện đại hóa quân đội, đề phòng TQ lục địa tấn công bất cứ lúc nào.


2. Một nước TQ bá quyền xâm lược


Lúc ban đầu, lãnh thổ của người Hán chỉ là một vùng đất nhỏ là bình nguyên Hoa Bắc. Trải qua lịch sử nghìn năm, họ đã liên tục gây chiến tranh xâm lược các quốc gia láng giềng, mở rộng lãnh thổ gấp 900 lần. Có thời gian TQ xâm lược nước ta 1000 năm mà sử ta quen gọi là nghìn năm Bắc thuộc. Nhưng vượt trội hơn các tộc Việt khác (trong Bách Việt) tổ tiên chúng ta đã không cam chịu khuất phục, không để bị đồng hóa, đã vùng lên giành độc lập. Sau đó các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đời nào cũng đem quân xâm lược nước ta nhưng chúng đều chuốc lấy thất bại nhục nhã.


Tại TQ hiện nay vẫn nổ ra các cuộc bạo động của các dân tộc thiểu số (người Duy Ngô Nhĩ, người Tạng). Bởi vì hai vùng đất bao la này vốn là những quốc gia riêng biệt. Người Trung Quốc xâm chiếm Tân Cương vào thời nhà Thanh. Còn vùng Tây Tạng - nóc nhà của thế giới - thì mới sát nhập vào TQ năm 1951 sau khi ĐCS TQ giành được chính quyền năm 1949. Bây giờ đang tồn tại một chính phủ Tây Tạng lưu vong mà lãnh tụ tinh thần là Đạt Lại Lạt Ma - một người được cả thế giới biết tiếng và ủng hộ (trừ TQ).


Có điều đáng lên án là ở lịch sử hiện đại, khi các nước đế quốc có nhiều thuộc địa như Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, ... đã trả lại độc lập cho các nước thuộc địa của họ thì nước CHND Trung Hoa vẫn tiếp tục đi xâm lược. Năm 1951 họ xâm lược Tây Tạng, năm 1956 xâm lược 3 đảo phía đông và năm 1974 xâm lược nốt 3 đảo phía Tây thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1988 họ xâm chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Năm 1995 họ xâm chiếm đảo Vành khăn của Philipin. Hiện tại họ đang từng bước xâm chiếm biển Đông và các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam và các nước ASEAN.


3. Một nước TQ không có truyền thống giữ nước, chống ngoại xâm


TQ có "truyền thống đi xâm lược" nhưng lại không có truyền thống đấu tranh giữ nước khi đất nước họ bị xâm lăng. Câu chuyện "Chiêu Quân cống Hồ", "Tô Vũ chăn dê" cho thấy người Hán đã phải thần phục người Mông Cổ ngay từ TCN.


TK XIII, năm 1279 quân Mông Cổ xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ TQ (lúc ấy đã rộng tới vùng Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay). Người Hán đầu hàng. Người Mông cổ lập nên nhà Nguyên cai trị Trung Quốc 100 năm từ 1279 đến 1368.


Năm 1662 người Mãn Thanh, một tộc người ở phía Đông bắc (không nói tiếng Hán) đã đánh bại nhà Minh. Người Mãn lập nên nhà Thanh cai trị người Hán đến tận năm 1912.


Những năm cuối TK XIX - đầu TK XX, người Anh, Pháp, Bồ Đào Nha chỉ đem đến những lực lượng nhỏ với súng trường và ít khẩu pháo trên những tàu chiến cũ kỹ. Thế mà người TQ đã vội đầu hàng, phải cắt đất cho họ làm tô giới, nhượng địa.


Năm 1931 quân đội Nhật Hoàng chỉ có 10.000 lính gồm bộ binh, pháo binh đánh chiếm vùng Mãn Châu (Đông bắc TQ). Quân TQ tại đó cả bộ đội chủ lực và địa phương đông tới 448.000 binh sĩ mà vẫn bị thất bại. Nhật chiếm được Mãn Châu lập ra Mãn Châu quốc.


Sau đó trong thế chiến II, Nhật chiếm đại bộ phận lãnh thổ TQ một cách dễ dàng. Chỉ có lực lượng của Quốc Dân Đảng chống cự yếu ớt. Bạn đọc chắc còn nhớ chúng ta đã được xem nhiều bộ phim do điện ảnh TQ thực hiện, trong đó mô tả người TQ run sợ trước quân lính Nhật như thế nào ? Chính Hồng quân Liên Xô đã đánh tan đội quân Quan Đông của Nhật giải phóng TQ.


Ông Mao Trạch Đông - "Người cầm lái vĩ đại" của TQ có câu nói :"Bất đáo trường thành phi hảo hán" (Ai chưa đặt chân đến Vạn lý trường thành thì chưa là hảo hán).


Vậy thưa các vị hảo hán Trung Hoa, các vị tự hào vì ngồi trên con tàu vũ trụ nhìn xuống quả đất thấy vạn lý trường thành. Nhưng tôi xin hỏi: Tổ tiên các vị xây đắp bức Trường thành vạn lý ấy để làm gì ?


Trong con mắt nhiều người nước ngoài bức thành ấy không phải là kỳ quan mà là nỗi nhục cho dân tộc Hán. Vì sao ? Vì chỉ để ngăn vó ngựa của tộc người du mục với số dân ít ỏi ở phía Bắc (người Mông Cổ, người Mãn) mà người Hán đã phải mất 20 thế kỷ (từ TK V-TCN đến TK XVI), bỏ mạng biết bao nhiêu triệu người dài vạn dặm. Bức thành ấy không phải đắp bằng đất, bằng đá mà bằng xương máu nhân dân TQ. Nhiều câu chuyện, nhiều bài thơ kể về nỗi thống khổ này. Hãy tưởng tượng những người lao động khổ sai trong đói rét bệnh tật và sự đàn áp dã man. Như thế người TQ chẳng nên tự hào về Vạn lý trường thành.


4. Một nước TQ luôn gây xung đột với các quốc gia láng giềng


Từ khi thành lập, nước CHND Trung Hoa luôn gây ra những vụ xung đột căng thẳng ở biên giới với các quốc gia láng giềng.


Năm 1962 xung đột với Ấn Độ. Chiến tranh nổ ra trong 1 tháng từ 20/10/1962 đến 20/11/1962. TQ đánh chiếm được một số vùng đất của Ấn Độ. Bị Ấn Độ phản công họ phải rút quân nhưng đến nay vẫn còn chiếm đóng một vùng đất của Ấn Độ mà họ nhận là của TQ.


Những năm thập niên 1960 TQ gây căng thẳng với Liên Xô suốt dọc 4380km đường biên. Nhiều cuộc đấu súng và cả đấu mồm (chửi bới). Cao điểm là cuộc nổ súng dữ dội tại nhiều vị trí ngày 2/3/1969. Kết quả TQ thất bại vì quân Liên Xô quá mạnh và đã chuẩn bị kỹ. Đối với Việt Nam, năm 1956 và năm 1974 họ chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Suốt 2 thập niên 1970-1980 họ gây căng thẳng ở biên giới phía Bắc với các thủ đoạn lấn đất, di chuyển cột mốc, gài mìn, bắn pháo, lôi déo dân, ...tháng 2/1979 họ đánh chiếm các tỉnh biên giới phía Bắc và đã thất bại. Năm 1988 họ đánh chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Năm 1995 họ chiếm đảo Vành Khăn của Philipin.


Từ năm 2004 đến nay TQ liên tục có những hoạt động xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt nam và các nước trong vùng biển Đông với những thủ đoạn thô bạo. Có thể nói trong hơn nửa thế kỷ qua nước CHND Trung Hoa thường xuyên gây xung đột với tất cả các quốc gia láng giềng có chung đường biên, kể cả Myanma. Với Nhật Bản thì xung đột trên biển.


5. Một TQ với nhiều thủ đoạn thâm độc


Người Hán rất đa mưu. Họ có những "đại gia mưu lược" chỉ ngồi trong màn mà vận trù tính toán thế cuộc. Những thủ đoạn, mưu lược của họ rất thâm độc, lắm khi "quái thai", phi nhân tính. Ở đây tôi chỉ giới hạn trong những thủ đoạn chính trị, không nói đến những thủ đoạn về kinh tế và các lĩnh vực khác.


Thời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng có chủ trương "đốt sách chôn nho" và đã thực hiện cực kỳ dã man. Mục đích là diệt tận gốc những tư tưởng phê phán triều đình. Khi quân Minh sang xâm chiếm nước ta vào thành Thăng Long chúng cũng thiêu hủy hết các văn tự của ta mà chúng chiếm được. Ta còn thấy chủ trương đó truyền đến cả bọn diệt chủng Pôn Pốt khi tập đoàn này được TQ nuôi dưỡng. Và khi Mao Trạch Đông nói câu: "Trí thức là cục phân" thì ông ta đích thực là con cháu Tần Thủy Hoàng.


Vùng miền núi tỉnh Vân Nam là nơi trồng nhiều cây thuốc phiện, lại tiếp giáp vùng "Tam giác vàng". Có nguồn tin nói rằng trong một thời gian dài ĐCS TQ tổ chức đường dây chế biến, vận chuyển thuốc phiện để đưa vào các nước phương Tây nhằm tiêu diệt CNTB tận sào huyệt của chúng ?


Nhiều thủ đoạn thâm độc của họ thường được đúc kết trong những câu nói ngắn gọn:


"Tọa sơn quan hổ đấu": Ngồi trên núi xem hai con hổ đánh nhau, không phải động tay chân mà có xương hổ nấu cao.


"Viễn giao cận công": Giao thiệp hữu hảo với nước ở xa để đánh chiếm nước ở gần.
Những câu trong cái gọi là "phương châm 16 chữ" và "nội dung 4 tốt" mà Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào lừa phỉnh chính là một thủ đoạn thâm độc của nhà cầm quyền Bắc Kinh đối với nước ta. Thực chất chúng nói một đằng làm một nẻo.


Ngoài những thủ đoạn thâm độc của các nhà chính trị, quân phiệt TQ, giới trí thức "phù quyền" TQ cũng nghĩ ra nhiều thủ đoạn nguy hiểm.


Những năm gần đây họ tuyên truyền khái niệm "biển là lãnh thổ quốc gia" để hợp thức hóa đường yêu sách lưỡi bò phi lí của TQ trên biển Đông. Hiện tại họ lại đang bàn thảo về khái niệm "nhu cầu không gian sống". Họ nói rằng TQ cần mở rộng không gian sống không chỉ ở biển Nhật Bản, biển Đông mà còn cần phải mở rộng ra cả Ấn Độ Dương.


Kết luận


Các nhà thơ thường ví tổ quốc Việt Nam như một con thuyền mong manh đậu bên bờ biển cả. Tôi nghĩ nếu là con thuyền thật thì cha ông chúng ta đã nhổ cây sào khua mái chèo rẽ sóng đưa đất nước đến một miền xa nào đó nơi có những láng giềng thân thiện, để tránh xa ông láng giềng Đại Hán lúc nào cũng âm mưu thôn tính chúng ta.


Nhưng đất nước lại là núi sông, ruộng đồng, biển cả. Ta đã ở nơi này thì ta chấp nhận chiến đấu để sống còn với trọn vẹn độc lập chủ quyền. Điều đó cha ông ta đã làm được, chúng ta phải nối tiếp truyền thống kiên cường ấy.


Muốn đập tan âm mưu thâm độc, ngang ngược, tham lam, quái thai, bất chấp lẽ phải của bành trướng đại Hán thì chúng ta phải hiểu rõ về họ. Bài viết trên đây của tôi mong đóng góp một phần cho mục đích đó.


TP Hồ Chí Minh, 18/06/2011

.
*Bài viết do tác giả Bùi Công Tự gửi riêng NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!




--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 29 2011, 02:16 AM
Gửi vào: #2


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,620
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Người viết bài nầy quả là đã có một cái nhìn thấu đáo về lối suy nghĩ và hành động của cả người Tàu lẫn người Việt.


Niềm tin của TQ
14/06/2011

Ngô Văn Lang 13/06/2011

Người Trung Quốc rất hiểu Việt Nam. Họ có mặt ở Việt Nam rất đông, với nhiều lí do: làm ăn buôn bán, hợp tác, và không loại trừ cả mục đích do thám. Gián điệp Trung Quốc đã có mặt ở Việt Nam từ thời An Dương Vương, chui vào tận nơi cao nhất của bộ máy cầm quyền. Không một người Việt nào lại không biết điều này. Thất bại của An Dương Vương đã mở đầu cho một ngàn năm Bắc thuộc đau khổ của cả dân tộc. Người Trung Quốc có thể nói tiếng Việt như người Việt. Kể cả những người không ở Việt Nam cũng rất hiểu Việt Nam vì họ nghiên cứu Việt Nam rất kỹ.

Trung Quốc hiểu rõ Việt Nam đương đại ở mấy điểm sau đây:

Việt Nam đang suy yếu về mọi phương diện
. Biểu hiện dễ thấy nhất là về kinh tế: lạm phát tăng liên tục và chưa nhìn thấy khả năng kiềm chế và khắc phục. Nhiều vùng hiện nay đang lâm vào cảnh đói ăn.
Suy yếu về kinh tế tất yếu dẫn tới suy yếu về quân sự. Bởi lấy đâu ra ngân sách để đầu tư đúng mức cho quân sự. Trong khi đó thì thất thoát tài chính kinh hoàng diễn ra hàng ngày ở mọi lĩnh vực, mà một ví dụ điển hình giờ đây không ai còn có thể chối cãi là Vinashin.

Điều quan trọng là người Việt Nam đang suy yếu về tinh thần. Hiện nay chỉ có một bộ phận rất nhỏ trong tổng số hơn tám mươi lăm triệu người là còn dám phân tích, dám suy nghĩ, dám đối diện với thực tế và dám nắm bắt thực tế. Đại bộ phận hoặc bị tê liệt các khả năng ấy vì sợ hãi, hoặc các khả năng ấy bị bóp nghẹt từ trong trứng nước, đầu óc chỉ còn có thể tiếp nhận các chỉ thị một chiều từ trên xuống và thực hiện chỉ thị một cách vô điều kiện. Đa số người dân Việt Nam không quan tâm đến thực trạng của đất nước mình, không quan tâm đến những gì đang đe dọa cuộc sống của mình và vận mệnh của đất nước mình. Đa số đều thực hành triết lí: sống ngày nào biết ngày đó. Chính quyền tưởng đã thành công khi làm cho dân chúng sợ mình, nhưng đó là một sai lầm trầm trọng, vì giờ đây, khi phải đối diện với sự suy thoái kinh tế, đối diện với sự đe dọa của ngoại xâm, thì những người dân đó không còn đủ khả năng để ứng phó với tình hình. Trung Quốc không mong gì hơn điều đó.

Trung Quốc hiểu rằng, với cơ chế và cách thức vận hành xã hội hiện tại, năng lực của người Việt Nam bị suy yếu.

Các “năng lực”, “phẩm chất” hiện được đặc biệt phát triển ở người Việt Nam là:

- Khả năng lấy lòng người khác, làm hài lòng cấp trên.

- Khả năng chịu đựng, nhẫn nhục
. Chữ “nhẫn” của Tàu được bày bán đầy ở Văn Miếu mỗi dịp xuân về, nhắc cho người Việt Nam biết rằng nhẫn nhục là con đường sống của họ. Họ tưởng rằng như vậy là khôn ngoan, nhưng kết cục là nhà nhà nhẫn nhục, người người nhẫn nhục sẽ có một quốc gia nhẫn nhục, hệ quả là sự suy yếu tập thể. Trung Quốc không mong gì hơn điều đó.

- “Năng lực” phục tùng, vâng lời. Đây là một “phẩm chất” được đánh giá cao trong hệ thống nhà nước. Những người thành công nhờ vâng lời tất yếu cũng muốn người khác phải vâng lời họ, họ sẽ kìm hãm những người có khuynh hướng hoạt động độc lập, có khả năng suy nghĩ độc lập. Vì thế, khi mà sự phục tùng được đề cao thì hiệu quả công việc bị sụt giảm, bộ máy nhà nước cồng kềnh và kìm hãm sự phát triển. Trung Quốc rất hài lòng trước hiện tượng này.

- Năng lực và nghệ thuật đưa hối lộ. Năng lực này được bồi dưỡng ngay từ khi thời thơ ấu, bắt đầu từ việc đưa phong bì cho giáo viên hay bác sĩ.

- Năng lực và nghệ thuật nhận hối lộ. Càng lên các cấp cao trong hệ thống quản lí thì năng lực này càng pháp triển. Trung Quốc hiểu rằng việc chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là nói cho có nói mà thôi, không bao giờ thực hiện được. Trung Quốc khuyến khích tham nhũng ở Việt Nam phát triển vì hiểu rằng nó sẽ thúc đẩy sự suy tàn nhanh chóng của đất nước này.

- Năng lực “ngu hóa” : tự làm cho mình ngu si, tự triệt tiêu khả năng suy nghĩ và khả năng nhận thức của mình. Phổ biến phương châm sống: “ngu si hưởng thái bình”. Hệ quả là nền kinh tế tuột dốc, giáo dục thảm hại. Nền giáo dục, thay vì giáo dục lòng can đảm, phát triển tư duy, thì lại gieo rắc nỗi sợ hãi và làm thui chột khả năng suy nghĩ độc lập của học sinh sinh viên. Và khi có chuyện xảy ra, đa số không còn có thể phân tích tình hình, không biết phải làm gì. Trung Quốc không mong gì hơn điều này.

Trung Quốc hoàn toàn hiểu rằng người Việt Nam suy yếu là do sợ hãi. Nỗi sợ hãi của người dân Việt Nam là điều kiện cho việc Trung Quốc thôn tính đất nước này. Người dân Việt Nam có thể không sợ Trung Quốc, nhưng lại rất sợ chính quyền của mình, không dám đi ngược lại các phán quyết của chính quyền. Một số rất ít người, đếm trên đầu ngón tay, dám hy sinh, dám chịu nguy hiểm để biểu hiện lòng yêu nước thì bị chính quyền đàn áp, bắt bớ, bỏ tù. Điều này khiến toàn bộ dân chúng còn lại càng thêm sợ hãi. Nỗi sợ hãi làm họ tê liệt đến mức họ không còn muốn tìm hiểu vì sao biểu tình chống Trung Quốc chiếm các hải đảo của mình mà lại bị ngăn cấm và bắt bớ. Họ không muốn, không dám tìm hiểu và họ để mặc cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm. Đó là những gì đã diễn ra sau những cuộc biểu tình năm 2007. Và triệt để hơn, người Việt Nam không muốn tìm hiểu về bất kỳ chuyện gì khác ngoài chuyện mưu sinh hàng ngày. Hoặc nếu có tìm hiểu thì cũng chỉ để bàn luận với nhau trong góc nhà, hay trong quán cà phê mà thôi, họ thụ động chấp nhận tất cả mọi thứ.

Trung Quốc cũng hiểu rõ rằng Việt Nam suy yếu là do những người có năng lực ở Việt Nam không được sử dụng, rằng nhiệt tình và năng lực, năng lượng của người Việt Nam đã bị tắt ngấm dưới làn sóng sợ hãi băng giá. Và chính quyền Việt Nam không tin ở công dân của họ. Mọi cố gắng phản biện nhằm gây dựng sự lớn mạnh cho quốc gia đều bị quy về tội chống phá nhà nước.

Vì thế Trung Quốc quyết định rằng đây là thời cơ ngàn vàng để thể hiện cho người láng giềng yếu kém Việt Nam thấy sức mạnh của mình. Và Trung Quốc đã chuẩn bị rất bài bản, rất cẩn thận cho quá trình thôn tính Việt Nam. Bắt đầu bằng sự thôn tính bộ phận: thuê hàng loạt rừng đầu nguồn ở những vị trí trọng yếu, nắm Tây Nguyên với cái cớ hợp pháp là khai thác bô xít, đầu tư nhiều công trình, nhiều cơ sở kinh doanh ở Việt Nam mà nhân công chủ yếu là người Trung Quốc. Thôn tính thị trường Việt Nam bằng hàng hóa Trung Quốc, và chủ yếu là hàng hóa chất lượng kém để đầu độc người Việt Nam, và với mục đích vô hiệu hóa nền sản xuất và kinh doanh của Việt Nam. Trung Quốc hiểu rằng hàng hóa không chỉ là hàng hóa, mà hàng hóa còn là văn hóa. Người Việt Nam hàng ngày dùng đồ Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng một cách từ từ nhưng sâu đậm bởi văn hóa Trung Quốc. Trung Quốc thôn tính truyền hình Việt Nam bằng vô số phim Trung Quốc, và đã thành công kinh khủng khi khiến cho thanh niên Việt Nam thuộc sử Trung Quốc hơn là sử Việt Nam. Đây quả là một tính toán mang tầm chiến lược và rất đáng nể phục: khi Trung Quốc thôn tính xong Việt Nam thì người Việt Nam không bị xa lạ với văn hóa Trung Quốc, sẽ cảm thấy Trung Quốc gần gũi với họ, gần gũi từ trong tâm thức.

Câu hỏi mà người Việt Nam phải đặt ra là: “Tại sao Trung Quốc lại thành công được như vậy?”. Nếu mỗi người Việt Nam đều đặt câu hỏi đó thì Trung Quốc có tài giỏi đến mấy cũng không thành công được. Nhưng người Việt Nam đã bị tê liệt khả năng đặt câu hỏi, tê liệt khả năng tìm hiểu và nhận thức.Vì người Việt Nam từ lâu đã bị cấm đặt câu hỏi, bị cấm tìm hiểu và bị cấm nhận thức về những gì bị cho là “nhạy cảm”, tự do ngôn luận và tự do báo chí bị bóp nghẹt. Vì người Việt Nam bị trừng phạt khi dám thử tìm hiểu, thử nhận thức. Than ôi, có cái gì mà không nhạy cảm đây? Người Việt Nam chỉ biết than mà không dám hành động. Trung Quốc biết rõ như vậy. Cơ hội đang thuộc về Trung Quốc.

Trung Quốc hiểu rằng, không có thời cơ nào tốt hơn hiện nay
, khi chính quyền và người dân Việt Nam sợ hãi lẫn nhau (chính quyền sợ nhân dân và nhân dân sợ chính quyền), khi thông tin bị bưng bít, người dân thờ ơ với vận mệnh đất nước, lãnh đạo bằng mọi giá bảo vệ quyền lợi cá nhân, tình trạng chung là không chịu suy nghĩ, không chịu hành động, không chịu thay đổi.

Trung Quốc hiểu rằng nhân dân Việt Nam đang mất lòng tin vào chính phủ. Bởi những biểu hiện hèn nhược của chính phủ và sự kém cỏi của chính phủ trong việc giải quyết tất cả mọi vấn đề. Vì thế mà Trung Quốc dám vào tận lãnh hải Việt Nam để tuyên bố rằng người Việt Nam xâm phạm chủ quyền của mình, dám hùng hồn tuyên bố điều dối trá đó trên báo chí quốc tế. Trung Quốc tin rằng sẽ thực hiện được giấc mộng thôn tính Việt Nam. Nếu ngư dân Việt Nam bị bắn chết mà chưa bao giờ Trung Quốc bị trừng phạt, nếu những người Việt Nam tiếp tục bị Trung Quốc giết chết mà chẳng có ai dám làm gì Trung Quốc, thì tại sao Trung Quốc không lấn tới?

Nhưng có một điều mà Trung Quốc không hiểu, hay chưa hiểu: những người Việt Nam mà Trung Quốc tưởng là hèn hạ và chỉ biết sợ hãi ấy, những người đó sẽ cho Trung Quốc biết thế nào là người Việt Nam thực sự. Vì đây cũng là thời cơ để người dân Việt Nam nhận thức, hiểu rõ chính mình, hiểu rõ chính phủ của mình, hiểu rõ “ông bạn” láng giềng. Thời cơ để người dân Việt Nam lấy lại sức mạnh của mình. Trung Quốc cứ thử xem, người Việt Nam sẽ chứng minh rằng mảnh đất này chính là linh hồn của họ. Lịch sử cho thấy, đôi khi có chuyện vua quan Việt Nam bán nước, nhưng nhân dân Việt Nam chưa bao giờ chịu mất nước.

28/5/2011
N. V. L.





--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 29 2011, 04:44 AM
Gửi vào: #3


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,620
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Sưu Tầm


TÂM SỰ GỞI NGƯỜI LÁNG GIỀNG PHƯƠNG BẮC


Láng giềng gần
Nay có mấy lời nhỏ to tâm sự
Phên giậu nhà tôi sao người chọt phá hoài

Vốn con cháu Rồng Tiên
Người Việt Nam đã dày dạn lửa khói binh đao
Và rất trọng nhân tâm, tình làng nghĩa xóm
Những lỗi lầm tiên tổ của ngươi xưa
Đường
Hán
Tống
Nguyên-Mông
Minh
Thanh
Đã lặng vào dĩ vãng
Thuận khí, hòa ngôn
đồng lòng diệt phát xít xâm lăng
Láng giềng gần hữu hảo môi - răng
Vượt gian khó cùng bền lòng yêu thương Hoa -Việt
Một tiếng gà sang canh hai dân tộc thức cùng

Trước sóng gió sen đầm
Nhà tôi thành đê chắn để người được ung dung
Theo chiến sách béo cò, “Tọa sơn quan hổ đấu”


Triệu triệu máu xương dân Việt Nam góp màu thắm đượm
Ngọn cờ hồng của tổ quốc các ngươi
Dẫu biết rằng trên lưng dân tộc chúng tôi
Hằn đường thoi bóng bàn giao hữu(*)
Để các người hữu nghị với diều hâu
Để các người thỏa thuận trao nhau
Những lợi ích của bá quyền nước lớn.
Chúng tôi biết “quân tử nhái” thường ngụy lời hảo hớn
Nên liệu sức mình quyết thống nhất giang sơn

Vậy mà
Trên đất nước chúng tôi
mìn đạn còn vương
thuốc súng chưa tàn
Sức dân còn nhặt khoan từng hơi thở
Vừa chạy, vừa xếp hàng
bụng đói cồn cào
Đang gắng sức dựng xây

Thì ngươi lại nhỏ nhen oán hờn,
lấn đất
giàn thế trận bủa vây
Lên giọng dạy đời, cho Việt Nam bài học

Hơn ba mươi năm
chiến – hòa
phán-đàm
đầy gai góc
Sách ngụy mười sáu chữ vàng
miệng mỏng môi bốn tốt
Mà đường biên đất nước chúng tôi
càng lệch xuống phương nam

Chúng tôi đã dịu mềm, tình thắm thiết anh em
Cũng chẳng thoát được
lòng tham của các ngươi mộng đồ vương Á
Lấn đường biên, đào cột mốc Pháp-Thanh
Lắm chiêu, nhiều bài giả trá gian manh
Đã cướp đảo Hòang Sa,
nay đưa đường lưỡi bò liếm biển Đông chín đoạn

Chỗ anh em
Láng giềng gần
Nhắc mấy lời tâm huyết
Bài học xưa người chẳng biết có còn không?


Đại cường quốc đế chế Nguyên –Mông
Đánh Nga, Nga kinh,
đánh Trung đông, Ba Tư lùa chạy
Khắp Á- Âu
Phần ba thế giới buông giáo quy hàng
Nhưng đụng đến Việt Nam thì vang dội Bạch Đằng Giang
Chỉ vũ khí lòng dân “Hy Sinh” kết đoàn “Quyết Chiến”

Nay
Giữ thuận hòa anh em, bè bạn
Lòng dân Nam nén lắm cũng xô bờ
Bắc Nam Trung đã âm ỉ giương cờ
Và chính nghĩa đã lan cùng bốn biển.

Thêm lẽ nữa
cũng chỗ anh em
giãi bày lời hơn thiệt.
Trái đất thời nầy chẳng của riêng ai.
Những tính toán ăn chia gian ngoa
thì mâu thuẫn chất chồng
Đừng tham quá để vướng tay vào lọ kẹo
Người dân Trung Hoa vốn trung thực hiếu hiền
Các ngươi nên tạo cho dân ngươi
được hạnh phúc, bình yên

Nước Nam có của nổi-chìm,
là do máu xương cha ông để lại
Lịch sử còn,
mộc bản còn,
còn sách sổ tàng thư
Công ước 1982 cũng định rõ chung - tư
Điều ứng xử rành rành ngươi đã ký
Liên Hiệp Quốc, Asean
chẳng bao giờ
chấp nhận những điều phi lý

Thôi !!!
Người anh em ơi!
Nên một vừa hai phải, biết sống để đời thương./.

Nguyên Hải

----------------------------------------------------------

(*) ngày 7 tháng 4 năm 1971 Chu Ân Lai cho mời đoàn Vận động viên Bóng bàn Mỹ sang Bắc Kinh thi đấu giao hữu.



---------------------------



BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO(NGUYỄN TRÃI) Và HỊCH TƯỚNG SĨ (TRẦN HƯNG ĐẠO)

Phần Chuyển Sang Quốc Ngữ



BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO

Nguyên tác: NGUYỄN TRÃI

Chuyển văn: NGÔ TẤT TỐ



Bình Ngô Đại Cáo là bài cáo của Ức Trai - Nguyễn Trãi (1380-1442) viết bằng chữ Hán vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Định Vương Lê Lợi để tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Minh phương Bắc xâm lược, giành lại độc lập cho Đại Việt. Về mặt văn chương, tác phẩm này được người đương thời và hậu thế vô cùng thán phục và xem như “Thiên Cổ Hùng Văn” trong lịch sử văn học Việt Nam.



平吳大告

阮廌


CÁO BÌNH NGÔ

Bản dịch Ngô Tất Tố

代天行化皇上若曰。
蓋聞﹕
仁義之舉,要在安民,
弔伐之師莫先去暴。
惟,我大越之國,
實為文獻之邦。
山川之封域既殊,
南北之風俗亦異。
自趙丁李陳之肇造我國,
與漢唐宋元而各帝一方。
雖強弱時有不同
而豪傑世未常乏。
Thay Trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng.
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.



故劉龔貪功以取敗,
而趙好大以促亡。
唆都既擒於鹹子關,
烏馬又殪於白藤海。
嵇諸往古,厥有明徵。


Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi.


頃因胡政之煩苛。
至使人心之怨叛。
狂明伺隙,因以毒我民;
惡黨懷奸,竟以賣我國。
焮蒼生於虐焰,
陷赤子於禍坑。
欺天罔民,詭計蓋千萬狀;
連兵結釁稔惡殆二十年。
敗義傷仁,乾坤幾乎欲息;
重科厚歛,山澤靡有孑遺。
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.


開金場塞冒嵐瘴而斧山淘沙,
採明珠則觸蛟龍而緪腰汆海。
擾民設玄鹿之陷阱,
殄物織翠禽之網羅。
昆虫草木皆不得以遂其生,
鰥寡顛連俱不獲以安其所。
浚生靈之血以潤桀黠之吻牙;
極土木之功以崇公私之廨宇。
州里之征徭重困,
閭閻之杼柚皆空。
決東海之水不足以濯其污,
罄南山之竹不足以書其惡。
神民之所共憤,
天地之所不容。
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?


予﹕
奮跡藍山,
棲身荒野。
念世讎豈可共戴,
誓逆賊難與俱生。
痛心疾首者垂十餘年,
嘗膽臥薪者蓋非一日。
發憤忘食,每研覃韜略之書,
即古驗今,細推究興亡之理。
圖回之志
寤寐不忘。
當義旗初起之時,
正賊勢方張之日。

Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.


奈以﹕
人才秋葉,
俊傑晨星。
奔走先後者既乏其人,
謀謨帷幄者又寡其助。
特以救民之念,每鬱鬱而欲東;
故於待賢之車,常汲汲已虛左.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.


然其﹕
得人之效茫若望洋,
由己之誠甚於拯溺。
憤兇徒之未滅,
念國步之遭迍。
靈山之食盡兼旬,
瑰縣之眾無一旅。
蓋天欲困我以降厥任,
故與益勵志以濟于難。
揭竿為旗,氓隸之徒四集
投醪饗士,父子之兵一心。
以弱制彊,或攻人之不備;
以寡敵眾常設伏以出奇。
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng chí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.


卒能﹕
以大義而勝兇殘,
以至仁而易彊暴。
蒲藤之霆驅電掣,
茶麟之竹破灰飛。
士氣以之益增,
軍聲以之大振。
陳智山壽聞風而;褫魄,
李安方政假息以偷生。
乘勝長驅,西京既為我有;
選兵進取,東都盡復舊疆。
寧橋之血成川,流腥萬里;
窣洞之屍積野,遺臭千年。
陳洽賊之腹心,既梟其首;
李亮賊之奸蠹,又暴厥屍。
王通理亂而焚者益焚,
馬瑛救鬥而怒者益怒。
彼智窮而力盡,束手待亡;
我謀伐而心攻,不戰自屈。
謂彼必易心而改慮,
豈意復作孽以速辜。
執一己之見以嫁禍於他人,
貪一時之功以貽笑於天下。
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,

Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.


遂靈宣德之狡童,黷兵無厭;
仍命晟昇之懦將,以油救焚。
丁未九月柳昇遂引兵猶邱溫而進,
本年十月木晟又分途自雲南而來。
予前既選兵塞險以摧其鋒,
予後再調兵截路以斷其食。
本月十八日柳昇為我軍所攻,計墜於支稜之野;
本月二十日柳昇又為我軍所敗,身死於馬鞍之山。
二十五日保定伯梁銘陣陷而喪軀,
二十八日尚書李慶計窮而刎首.


Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chặn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.


我遂迎刃而解,
彼自倒戈相攻。
繼而四面添兵以包圍,
期以十月中旬而殄滅。
爰選貔貅之士,
申命爪牙之臣。
飲象而河水乾,
磨刀而山石鈌。
一鼓而黥刳鱷斷,
再鼓而鳥散麇驚。
決潰蟻於崩堤,
振剛風於稿葉。
都督崔聚膝行而送款,
尚書黃福面縛以就擒。
僵屍塞諒江諒山之途,
戰血赤昌江平灘之水。
風雲為之變色,
日月慘以無光。
其雲南兵為我軍所扼於梨花,自恫疑虛喝而先以破腑;
其沐晟眾聞柳昇為我軍所敗於芹站,遂躪藉奔潰而僅得脫身.
冷溝之血杵漂,江水為之嗚咽;
丹舍之屍山積,野草為之殷紅.
兩路救兵既不旋踵而俱敗,
各城窮寇亦將解甲以出降。
賊首成擒,彼既掉餓虎乞憐之尾;
神武不殺,予亦體上帝孝生之心。
參將方政,內官馬騏,先給艦五百餘艘,既渡海而猶且魂飛魄散;
總兵王通,參政馬瑛,又給馬數千餘匹,已還國而益自股慄心驚。
彼既畏死貪生,而修好有誠;
予以全軍為上,而欲民之得息.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kỳnh ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.



非惟謀計之極其深遠,
蓋亦古今之所未見聞。
社稷以之奠安,
山川以之改觀。
乾坤既否而復泰,
日月既晦而復明。
于以開萬世太平之基,
于以雪天地無窮之恥。
是由天地祖宗之靈有
以默相陰佑而致然也!

Chẳng những mưu kế kỳ diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ…



於戲!
一戎大定,
迄成無兢之功;
四海永清,
誕布維新之誥.
播告遐邇,咸使聞知.
Than ôi!
Một cỗ nhung y chiến thắng,
nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo, ai nấy đều hay!


HỊCH TƯỚNG SĨ

(Dụ Chư Tỳ Tướng Hịch Văn)

Nguyên tác: TRẦN HƯNG ĐẠO

Chuyển văn: NGÔ TẤT TỐ



Năm Giáp Thân (1284), hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời Trần Nhân Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp. Vua Trần Nhân Tông thấy thế giặc mạnh, cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng: "Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?" Trần Hưng Đạo tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn Miếu Xã Tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng!" Vua nghe thế yên lòng. Trần Hưng Đạo trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân Nam, và thảo bài Dụ Chư Tỳ Tướng Hịch Văn (諭諸裨將檄文, thường gọi là Hịch Tướng Sĩ) để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách Binh Thư Yếu Lược, chuẩn bị cho Cuộc Kháng Chiến Chống Quân Nguyên lần thứ 2.



諭諸裨將檄文

陳興道
HỊCH TƯỚNG SĨ

Bản dịch: Ngô Tất Tố

余常聞之
紀信以身代死而脫高帝
由于以背受戈而蔽招王
蓣讓吞炭而復主讎
申蒯断臂而赴國難
敬德一小生也身翼太宗而得免世充之圍
杲卿一遠臣也口罵禄山而不從逆賊之計
自古忠臣義士以身死國何代無之
設使數子區區為兒女子之態
徒死牖下烏能名垂竹白
與天地相為不朽哉
Ta thường nghe:
Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế;
Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương;
Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ;
Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước.
Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung;
Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc.
Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có?
Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình
Thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách
Cùng trời đất muôn đời bất hủ được ?

汝等
世為將種不曉文義
其聞其說疑信相半
古先之事姑置勿論
今余以宋韃之事言之
王公堅何人也
其裨將阮文立又何人也
以釣魚鎖鎖斗大之城
當蒙哥堂堂百萬之鋒
使宋之生靈至今受賜
骨待兀郎何人也
其裨將赤脩思又何人也
冒瘴厲於萬里之途
獗南詔於數旬之頃
使韃之君長至今留名
況余與汝等生於擾攘之秋
長於艱難之勢
竊見偽使往來道途旁午
掉鴞烏之寸舌而陵辱朝廷
委犬羊之尺軀而倨傲宰祔
托忽必列之令而索玉帛以事無已之誅求
假雲南王之號而揫金銀以竭有限之傥庫
譬猶以肉投餒虎寧能免遺後患也哉
Các ngươi,

Vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa,
Nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ.
Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn.
Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói:
Vương Công Kiên là người thế nào?
Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào?
Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu
Đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn,
Khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu!
Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào ?
Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào?
Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần,
Khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!
Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc,
Lớn lên gặp buổi gian nan.
Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường,
Uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình;
Đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ.
Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng;
Khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn.
Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

余常
臨餐忘食中夜撫枕
涕泗交痍心腹如搗
常以未能食肉寢皮絮肝飲血為恨也

余之百身高於草野
余之千屍裹於馬革
亦願為之
Ta thường,
Tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,
Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa;
Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù;
Dẫu cho
Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ,
Nghìn thây ta bọc trong da ngựa,
Cũng nguyện xin làm.

汝等
久居門下掌握兵權
無衣者則衣之以衣
無食者則食之以食
官卑者則遷其爵
祿薄者則給其俸
水行給舟陸行給馬
委之以兵則生死同其所為
進之在寢則笑語同其所樂
其是
公堅之為偏裨兀郎之為副貳亦未下爾
Các ngươi
Ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền,
Không có mặc thì ta cho áo;
Không có ăn thì ta cho cơm.
Quan thấp thì ta thăng tước;
Lộc ít thì ta cấp lương.
Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa.
Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết;
Được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười.
So với
Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

汝等
坐視主辱曾不為憂
身當國恥曾不為愧
為邦國之將侍立夷宿而無忿心
聽太常之樂宴饗偽使而無怒色
或鬥雞以為樂或賭博以為娛
或事田園以養其家
或戀妻子以私於己
修生產之業而忘軍國之務
恣田獵之遊而怠攻守之習
或甘美酒或嗜淫聲
脱有蒙韃之寇來
雄雞之距不足以穿虜甲
賭博之術不足以施軍謀
田園之富不足以贖千金之軀
妻拏之累不足以充軍國之用
生產之多不足以購虜首
獵犬之力不足以驅賊眾
美酒不足以沈虜軍
淫聲不足以聾虜耳
當此之時我家臣主就縛甚可痛哉
不唯余之采邑被削
而汝等之俸祿亦為他人之所有
不唯余之家小被驅
而汝等之妻拏亦為他人之所虜
不唯余之祖宗社稷為他人之所踐侵
而汝等之父母墳墓亦為他人之所發掘
不唯余之今生受辱雖百世之下臭名難洗惡謚長存
而汝等之家清亦不免名為敗將矣
當此之時汝等雖欲肆其娛樂
得乎
Nay các ngươi
Ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo;
Thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn.
Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức;
Nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm.
Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích.
Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình;
Có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ.
Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước;
Có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân.
Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm.
Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang
Thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc;
Mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh.
Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng;
Vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc.
Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc;
Chó săn tuy hay không đuổi được quân thù.
Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết;
Giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai.
Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào!
Chẳng những thái ấp của ta không còn
Mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác;
Chẳng những gia quyến của ta bị đuổi
Mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi;
Chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo
Mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào;
Chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu,
Mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận.
Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích,
Phỏng có được chăng ?

今余明告汝等
當以措火積薪為危
當以懲羹吹虀為戒
訓練士卒習爾弓矢
使
人人逄蒙家家后羿
購必烈之頭於闕下
朽雲南之肉於杲街
不唯余之采邑永為青氈
而汝等之俸祿亦終身之受賜
不唯余之家小安床褥
而汝等之妻拏亦百年之佳老
不唯余之宗廟萬世享祀
而汝等之祖父亦春秋之血食
不唯余之今生得志
而汝等百世之下芳名不朽
不唯余之美謚永垂
而汝等之姓名亦遺芳於青史矣
當此之時汝等雖欲不為娛樂
得乎
Nay ta bảo thật các ngươi:
Nên lấy việc "đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ" làm nguy;
Nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" làm sợ.
Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên,
Khiến cho
Ai nấy đều giỏi như Bàng Mông,
Mọi người đều tài như Hậu Nghệ,
Có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết,
Làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai.
Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền
Mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng;
Chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm,
Mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy;
Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu
Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng;
Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,
Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm;
Chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một,
Mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền.
Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi,
Phỏng có được không?

今余歷選諸家兵法為一書名曰兵書要略
汝等
或能專習是書受余教誨是夙世之臣主也
或暴棄是書違余教誨是夙世之仇讎也
Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược.
Nếu các ngươi
Biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử;
Nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

何則
蒙韃乃不共戴天之讎
汝等記恬然不以雪恥為念不以除凶為心
而又不教士卒是倒戈迎降空拳受敵
使平虜之後萬世遺羞
上有何面目立於天地覆載之間耶
Vì sao vậy?
Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung,
Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ,
Chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc.
Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc,
Để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

故欲汝等明知余心因筆以檄云
Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.




--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 17th September 2019 - 11:17 PM