IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> Truyện Ngắn HỒ THANH NHÃ, Đoản Truyện
NhaQue
post Oct 18 2018, 01:42 AM
Gửi vào: #1


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,572
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Thanh bảo kiếm của chùa Miên-Kompong Chàm .

Viết theo lời kể của Kỵ binh Vũ Đình Lưu – Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh .

Tháng 8 năm 1971 , chi đoàn 2/5 Thiết kỵ (-) chúng tôi biệt phái hành quân trên đất Miên với Trung đoàn 48 thuộc Sư Đoàn 18 Bộ binh trong khu vực Đông –Bắc Kampuchea . Sáng sớm hôm ấy , chi đoàn cùng với một đại đội bộ binh tùng thiết , hành quân lục soát một khu làng mạc gần bờ sông Mê Kong . Xa xa phía bên kia sông là thành phố Kompong Chàm , một thành phố lớn hàng thứ tư của Miên nằm trên Quốc lộ 7 . Rời khỏi đồn điền cao su Suông , chúng tôi men theo một hương lộ đá đỏ đi sâu về hướng Bắc . Hai bên đường là khu rừng chồi thấp không có nhà dân . Mục tiêu là một khu dân cư thưa thớt , giữa có ngôi chùa cổ rất lớn . Nhìn cách kiến trúc , chúng tôi phỏng đoán chắc ngôi chùa cổ nầy đã xây dựng hàng trăm năm nay , cổ kính và to lớn . Sư sải chỉ có khoảng mười người , phần lớn là các vị sư già . Họ cư xử với chúng tôi chừng mực không niềm nở cũng không xa cách . Có lẽ nơi đây các đơn vị Việt cộng và Khờ Me đỏ thường xuyên lui tới nên dù muốn dù không họ cũng phải giữ một khoảng cách với đoàn quân ngoại biên đang hành quân trên đất nước họ . Suốt ngày không có cuộc chạm súng nào , chúng tôi chỉ khám phá một số hầm hố cấp Đại đội còn mới của địch rải rác trong khu vực .Có lẽ địch vừa rút đi vài hôm trước . Khoảng 5 giờ chiều chúng tôi được lịnh rút về căn cứ Chiến đoàn đóng gần Quốc lộ 7 , cũng theo hướng hương lộ buổi sáng . Chiếc Thiết vận xa M113 đi đầu rời vùng hành quân chừng một cây số thì cán phải mìn chống chiến xa . Quả mìn nổ phía đầu xe , đứt xích , bể guồng kéo xích bên trái , phía bên tài xế . Các xe phía sau phản ứng tức thời khai hỏa hướng hai bên đường rừng chồi thấp . Không thấy địch chống trả như một trận phục kích . Tôi cho chi đoàn vượt hương lộ băng sâu vào hai bên đường bố trí . Như vậy chỉ có một quả mìn chống chiến xa đơn lẻ mà thôi . Lát sau tôi đến chiếc xe bị mìn quan sát . Hạ sĩ Năm tài xế M113 chết tại chỗ , trung sĩ Vân trưởng xa bị thương ở vai , các binh sĩ khác trong xa đội xây xát chút đỉnh . Lính khiêng người chết và bị thương ra khỏi buồng lái , chờ trực thăng đến tải thương . Chiếc M113 hoàn toàn bất khiển dụng , đứt xích , thủng một lổ gần chỗ tài xế ngồi . Tôi bước vào trong xe , thấy ngổn ngang vũ khí cá nhân của xa đội , 2 nòngsúng đại liên50 và 30 bị cong vì sức công phá của quả mìn . Lẩn lộn trong đó là một thanh kiếm cổ còn nguyên vẹn . Hỏi các binh sĩ thì họ cho biết là tài xế Năm lấy nó trong chùa ban trưa và đem giấu trong xe . Tôi cầm thanh kiếm lên thì thấy rất nặng , ít ra cũng cở 4-5 ký . Người xử dụng thanh kiếm nầy hẳn phải là tay vũ dũng phi thường . Tay mơ khó lòng múa nổi thanh kiếm nầy . Trước đây chủ nhân thanh kiếm nầy chắc đã đi vào lịch sử của một triều đại Miên nào đó . Tiếc rằng trong chi đoàn chúng tôi không ai đọc được chữ Miên nên đành đoán mò mà thôi . Bao gỗ thanh kiếm màu nâu , lên nước bóng loáng , có chạm trổ hoa văn chim thú , hoa lá . Rút thanh kiếm ra khỏi vỏ , thấy tỏa ánh sáng xanh . Tôi chặt thử bụi cây ven đường , ngọt sớt , vô cùng sắc bén . Đúng là một thanh bảo kiếm giá trị không sao lường được . Thanh kiếm dài cở một mét kể cả cán kiếm . Cán kiếm cũng có chạm trổ hoa văn và chữ Miên . Lát sau trực thăng đến tải thương xong , tôi đem thanh kiếm về xe M113 chỉ huy của tôi .
Khoảng 6 ngày sau , chi đoàn chúng tôi rời vùng đồn điền cao su Suông , tiến sâu về hướng Đông Quốc lộ 7 , cách ngả ba Krek chừng 50 cây số thuộc đồn điền cao su Mimot . Lần nầy chi đoàn đi chung với một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 48 bộ binh . Suốt ngày hành quân vô sự . Tối đến chúng tôi đóng quân nghỉ đêm trong vườn cao su ven Quốc lộ 7 . Đêm tháng 8 trời không gió , thời tiết nóng bức nên tôi hạ cầu dốc phía sau M113 xuống , lót ván ngang hông xe , nằm trằn trọc không ngủ được . Đến khoảng 1 giờ khuya , địch bắt đầu pháo kích và tấn công vào vị trí dã chiến của chi đoàn . Chưa kịp đóng cửa cầu dốc phía sau thì một quả đạn cối 82 ly nổ cách xe chừng 5 mét . Tôi bị miểng pháo xuyên thủng bàn chân trái , thiếu tá Luân tiểu đoàn trưởng bị thương ở ngực . Tôi tự băng bó tạm thời vết thương và lên máy truyền tin điều động các chi đội chống trả . Sau chừng một giờ giao chiến , địch rút lui trước sự chống trả quyết liệt của chúng tôi . Khoảng 10 giờ sáng hôm sau , trực thăng chở trung tá Nguyên chiến đoàn trưởng 48 và chuẩn tướng Lâm Quang Thơ Tư lịnh Sư đoàn 18 bộ binh đáp xuống gần vị trí chúng tôi , thị sát mặt trận . Một số tử thi địch còn nằm rải rác trong vườn cao su . Chừng 10 phút sau địch lại tiếp tục rót pháo vào vị trí chúng tôi . Hai vị khách chạy vào xe M113 của tôi tránh pháo . Thấy thanh kiếm cổ còn để trong xe chờ đem về hậu cứ trong đợt tiếp tế sau , trung tá Nguyên trung đoàn trưởng hỏi xin và tôi cũng đồng ý tặng ông . Sau đó hai vị khách rời vùng giao tranh , thiếu tá Luân và tôi cũng theo trực thăng tản thương về binh viện Tây Ninh .
Trung tá Nguyên nhận được thanh kiếm báu ,ông cho người đóng một giá kiếm bằng gỗ cẩm lai rất đẹp và đem tặng cho chuẩn tướng Lâm Quang Thơ . Tướng Thơ lại đem tặng cho trung tướng Đỗ Cao Trí Tư lịnh Quân Đoàn.Sau nầy tôi có dịp trò chuyện với đại úy Tuấn-sĩ quan tùy viên của trung tướng Đỗ Cao Trí- , tháp tùng tướng Trí đi thăm trung đoàn 48 bộ binh đóng ở căn cứ Thùy dương bên Miên . Đại úy Tuấn cho biết thanh kiếm ấy vẫn còn treo tại tư dinh tướng Trí tại thành phố Biên Hòa .
Đầu năm 1972 tướng Trí cho mỡ một cuộc hành quân lớn đánh vào sào huyệt Cục R của Việt cộng tại Chlong thuộc tỉnh Kratie phía Đông Bắc Kampuchea với một lực lượng hung hậu gồm Lữ đoàn 3 Kỵ binh và Liên đoàn 5 Biệt động quân trong giai đoạn 1 và thêm Sư đoàn nhảy dù trong giai đoạn 2 . Cuộc hành quân mới bắt đầu có 5 ngày thì tướng Trí tử nạn trực thăng ở Tây Ninh trên đường bay thị sát mặt trận ở Miên . Sau khi tướng Trí chết thì 3 Sư đoàn 5-7 và 9 của cộng quân bắt đầu phản công , vây hảm và chận đường về của đoàn quân . Hàng ngày phi cơ chiến lược B52 dội bom hai bên đường nhưng địch quân vẫn bám sát . Sau nhờ Đại tá Trần Quang Khôi –Tư lịnh Lử Đoàn 3 Kỵ binh – điều động đoàn quân cắt rừng chồi sâu về hướng Đông chừng một cây số rồi quay ngược,bọc hậutấn công vào hông địch tại miếu Thổ thần , sau đó đưa đoàn quân viễn chinh về đến Tây ninh , bảo toàn được lực lượng . Thế trận vùng ngoại biên bắt đầu co cụm lại cho đến ngày đoàn quân vượt biên rút hết về nước vào cuối năm 1972 .
Sau ngày tướng Trí chết không còn ai biết thanh kiếm báu ở chùa Miên xiêu lạc nơi đâu . Cuối năm 1972 có một phóng viên của tờ báo Tin sáng có viết một bài về thanh kiếm nầy , cho rằng sau đó bà quả phụ Đỗ Cao Trí tặng thanh kiếm trên cho Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt . Chuyện nầy cần kiểm chứng lại vì sau nầy ở Mỹ , tôi có hỏi một người bạn cũ theo học khóa 26 Võ bị Đà Lạt . Anh nầy cho biết khi còn học tại trường, khóa anh có dịp tham quan phòng bảo tàng của trường thì chỉ thấy tại đây có trưng bày cây gậy chỉ huy của tướng Trí bằng gỗ mun thôi . Không hề thấy thanh kiếm nào ở đó và cũng chẳng nghe cán bộ trường đề cập đến chuyện nầy .
Quí vị độc giả nếu có ai biết ít nhiều về tung tích thanh kiếm báu ở chùa Miên sau năm 1975 thì xin vui lòng cung cấp tin tức cho tác giả , để bổ sung cho bài viết nầy đầy đủ hơn .
Ai cũng biết là người Miên rất giỏi về bùa ngãi , thư ếm . Do đó không rỏ có sự huyền bí nào về thanh kiếm báu mà chúng ta thấy những tai họa liên tiếp xảy đến cho những người liên quan hoặc có thời gian sờ mó tới thanh kiếm dù ngắn hay dài , từ ngày vật bất tường nầy rời khỏi chùa Miên -Kompong Chàm vào tháng 8 năm 1971 . Tôi xin tóm lược như sau :
1# Người lấy trộm thanh kiếm từ chùa Miên là Hạ sĩ Năm , tài xế Thiết vận xa M113 chết vì mìn , chỉ vài giờ sau khi sở hửu thanh kiếm .
2# Chi đoàn trưởng Vũ Đình Lưu bị miểng pháo xuyên thủng chân trái , nằm viện cả tháng sau khi giữ thanh kiếm được 6 ngày .
3# Trung tá Nguyên Trung đoàn trưởng 48 bộ binh bị tướng Trí cách chức tại mặt trận sau khi làm chủ thanh kiếm được chưa đầy một tuần ..
4# Chuẩn tướng Lâm Quang Thơ được tặng thanh kiếm từ trung tá Nguyên , sau đó ông lại tặng cho tướng Trí . Sau khi tướng Trí chết chừng một tháng,ông cũng bị mất chức Tư lịnh Sư đoàn 18 bộ binh , giao sư đoàn cho Đại tá Lê Minh Đảo
5# Tướng Đỗ Cao Trí là người giữ thanh kiếm lâu nhất , đâu chừng 4-5 tháng , chết vì trực thăng phát nổ trên không ở Tây Ninh , trên đường bay thị sát mặt trận . Nguyên do chiếc trực thăng phát nổ cho đến nay vẫn còn là một nghi vấn .

Hồ Thanh Nhã .


--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Oct 18 2018, 01:46 AM
Gửi vào: #2


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,572
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8






Lời nguyền bà Chúa .



Chạy dọc theo Quốc lộ 1 A về hướng Bắc , qua khỏi thị xã Phan Thiết , Lương Sơn , chúng ta sẽ thấy hai bên đường nhà cửa dân cư đông đúc , đồng ruộng phì nhiêu xanh mướt , kéo dài đến thị trấn Tháp Chàm , Phan Rang . Đó là địa phận của hai huyện Tuy Phong và Sông Mao thuộc tỉnh Thuận Hải . Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn trong bài “ Mật khu Lê Hồng Phong “ có những câu thơ như sau :
Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui
Linh hồn ta sẽ thành đom đóm
Vơ vẩn trong rừng động Thái An
Miền Bắc sương mù giăng bốn quận
Che mưa giùm những đám xương tàn
Ông đã diển tả tận cùng chiều sâu của tâm trạng người lính trận và nỗi hiểm nguy diễn ra hàng ngày trên vùng đất thuộc động Thái An giáp ranh với mật khu Lê hồng Phong nầy . Động Thái An là một vùng cát mút mắt thuộc huyện Tuy Phong tỉnh Thuận Hải , có rừng chồi thấp kéo dài hàng chục cây số ra tới biển . Vùng nầy thuộc lãnh địa của hoàng tộc người Chăm hiện do một bà công chúa con út vua Chăm cai quản Đi hành quân vùng nầy vào mùa khô thì thiếu nước , suối ngòi khô cạn, phải tiếp tế bằng trực thăng vì xe kéo nước vô phương chạy được vào vùng nầy . Mùa mưa thì cát lún , lính giở chân không lên . Hơn nữa len lỏi trong rừng chồi mà mắt cứ láo liên , đề phòng mìn bẩy và bắn sẻ . Tốc độ di chuyển chậm như rùa , đi hoài không đến . Hành quân trong vùng nầy nhọc nhằn , hiểm nguy như đi vào đất Ba Thục bên Tàu .Không cuộc hành quân nào mà không có thương vong . Dứt cuộc hành quân tổng kết chiến quả coi như con số không , từ chết tới bị thương . Bởi vậy đơn vị nào được lịnh mỡ cuộc hành quân vùng nầy thì ai cũng lạnh mình , từ quan đến lính . Không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho mình và cũng không mong gì lập nổi một chiến công ra hồn . Ngán trân !.
Bên phải Quốc lộ 1 A thuộc huyện Tuy Phong nằm cạnh sông Lòng Sông , có ga xe lửa nhỏ , thuộc tỉnh Thuận Hải . Việc thông thương di chuyển dễ dàng vì có cả đường bộ lẫn đường sắt . Có hai thị trấn của huyện nầy tiếp giáp nhau là Phan Rí Chàm và Phan Rí Cửa . Hai sắc tộc Chàm -Việt ở xen kẻ nhau . Xen kẻ nhưng biệt lập từng thôn , từng xã . Có nghĩa là thôn nào người Chàm thì toàn người Chàm , thôn nào người Việt thì toàn người Việt .Động cát Thái An thuộc huyện nầy kéo dài hàng chục cây số ra tận biển . Dân chúng Phan Rí Chàm đa số thuộc sắc tộc Chăm tức Chiêm Thành cũ , quen gọi là người Chàm . Họ sống bằng nghề nông trồng lúa nước mỗi năm một vụ và hoa màu phụ . Dân ở cạnh quốc lộ thì làm các nghề thủ công như nắn các lò nấu nướng , lu chén , khuôn bánh căng bằng đất sét …Bánh căng là loại bánh bột gạo nhỏ nướng bằng loại khuôn đất tựa như bánh khọt ở miền Nam nhưng không có nhưn tôm thịt gì hết . Ăn với nước cá kho trộn ớt bầm . Ăn dòn dòn cũng ngon , món ăn quê mùa của dân miền biển .Các sản phẩm thủ công nầy của họ rất bền ,xài lâu , tiêu thụ khắp nước nên cuộc sống của số người Chàm nầy khá sung túc .
Dài theo quốc lộ cho đến Phan Rí Cửa thì nhà cửa san sát , đồng ruộng phì nhiêu . Vùng nầy đi sâu về hướng biển giáp động cát Thái An là khu dinh cơ của bà công chúa Chàm . Bà nầy cũng già rồi , cũng ngoài bảy mươi tuổi . Khu dinh cơ bằng gỗ nhà ngang dãy dọc hàng rào kín mít nên cũng không biết sinh hoạt và trang trí bên trong thế nào . Gia đình bà công chúa nầy ít giao thiệp với người Việt nên sự hiểu biết về gia thế bà nầy cũng rất hạn chế . Hàng năm cứ vào khoảng tháng 4 âm lịch khi trời sa mưa vài đám thì thấy bà cùng đám tùy tùng đến cái cốc tức cái đền thờ của người Chàm , cất trên miếng đất cao ở ngay ngã ba đường đi chợ Sông Mao vào thôn Hòa Thuận để tế lễ thượng điền . Lễ hội cũng lớn qui tụ dân Chàm các xã lân cận , cúng tế nhạc lễ hai ba ngày . Chẳng biết họ cúng tế ra sao vì chỉ có tộc Chàm dự thôi , không mời người Việt . Chỉ nghe chiêng trống vang lừng , dân tham dự thì áo quần lòe loẹt . Họ rất cung kính khi nói chuyện với bà công chúa nầy . Dân Việt cũng như dân Chàm đều gọi là bà Thềm . Cũng không rõ từ ngữ “ bà Thềm “ là tục danh của bà hay là tước vị công chúa của bà . Quảng cáo của các hảng du lịch Thuận Hải giới thiệu về vùng Phan Rí nầy cũng chẳng thấy nhắc đến bà nầy . Dân Chàm cho biết là bà là con gái út của vua Chàm . Tước vị nầy xem ra cũng là hư danh thôi vì trên thực tế thì lãnh thổ Chiêm Thành thu hẹp dần qua nhiều triều đại bắt đầu từ đời vua Lê Đại Hành cho đến triều Nguyễn đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn năm 1832 mới thực sự mất hết đất đai . Vương quốc nầy trải qua cũng 7-8 thế kỹ . Theo đà Nam tiến của người Việt , qua nhiều triều đại khác nhau từ thế kỹ 11 đến thế kỹ 19 vương quốc Chiêm Thành lần hồi lụn bại , mất dần đất đai qua nhiều lý do khác nhau như bị lấn chiếm bằng quân sự , tranh dành quyền lực giữa hoàng tộc , cuộc hôn nhân của công chúa Huyền Trân đời Trần …Xa rồi thời kỳ huy hoàng , phồn thịnh của triều đại Chế Bồng Nga vào thế kỹ 14 ngày xưa …
Năm 1946 người Pháp quay lại Việt Nam . Gia đình bà công chúa Chàm bỏ chạy khỏi dinh cơ gần động Thái An , tản cư qua một trang trại ở huyện Sông Mao . Vì tàu Tây từ biển bắn vào hàng ngày chịu không thấu nên dân chúng vùngduyên hải chạy dạt về vùng núi Sông Mao phía Tây quốc lộ 1 rất nhiều .Bà Thềm có nhiều ruộng đất ở Sông Mao nên cũng chạy về đây tá túc . Cho đến khi người Pháp chiếm xong Phan Rí Cửa . Phan Rang bà mới hồi cư . Tại trang trại nầy bà công chúa Chàm chôn dấu chắc nhiều của cải lắm và chắc cũng ở nhiều nơi . Do đó khi người Pháp ổn định xong chánh quyền ở huyện Tuy Phong , gia đình bà mới hồi cư về dinh cơ cũ , thì một số của cải bị thất lạc vì không nhớ chôn ở đâu . Có một gia đình một nông dân nghèo người Việt tên là ông bà Ri làm ruộng ở gần trang trại của bà công chúa nầy . Ông bà nghèo lắm , thường đi làm mướn , có miếng ruộng nhỏ năm sào và có nuôi được vài con heo . Vào mùa mưa ở đây , nước nguồn trên núi tuôn xuống các con sông như Sông Lủy , sông Lòng Sông và các suối nhỏ . Tiếp nối các sông suối nầy là vô số các mương thủy lợi hình nan quạt chi chít dẫn nước vào từng thửa ruộng của dân chúng trong vùng . Hệ thống thủy lợi nầy có từ đời nào không rõ nhưng đủ nước tiêu tưới suốt mùa lúa mỗi năm một vụ của cánh đồng Sông Mao rộng hàng ngàn mẫu . Cá từ các suối hồ trên dãy Trường sơn theo nước về đồng ruộng sinh đẻ vài tháng , sau đó đi ngược nước trở về nguồn trên núi . Dân chúng đan những tấm đăng bằng tre chận ngang mương , chừa một lổ nhỏ để đặt miệng dẹp bắt cá .Dẹp là loại dụng cụ bắt cá bằng tre vót tựa như cái lợp ở miền Tây nhưng ngắn chừng ba gang tay thôi . Cá ở đây là các loại cá đồng như cá trê , cá lóc , cá rô thôi . Đôi khi cũng có vài loại khác như lươn , rùa , rắn . ..Cá thường về nhiều ban đêm , tới sáng được chừng vài ký cá . Cũng có đêm trúng thì cũng được cả chục ký cá đủ loại . Nhiều đêm soi đèn pin dọc theo tấm đăng thấy cá chạy ngược nước từng đàn , lần lượt chui vào miệng dẹp . Thấy mê ! Phải che lều đóng đô ngày đêm ngoài thửa ruộng của mình . Ông bà Ri cũng vậy , ở liền ngoài ruông chừng vài tháng . Ông thì đêm đặt dẹp , ngày thì vác cuốc đi dọc theo bờ mẫu trám các lổ mội để giữ nước lại trong ruộng hoặc khui lổ nhỏ cho nước vào ruộng nếu thấy thiếu nước . Công việc nầy dân địa phương gọi là “ theo nước “ . Bà Ri thì lội dọc theo suối cắt các rau dại mọc um tùm ven suối đem về nấu cháo heo . Một hôm bà Ri lượm được một nải chuốc bằng vàng ven suối . Ngoài nải chuối nầy có thêm món gì nữa thì không rõ . Việc nầy ông bà dấu nhẹm . Vài tháng sau ông bà Ri mua được vài mẫu ruộng , một vườn me cả trăm gốc gần nhà và xây căn nhà có gác lửng bằng gạch .Từ ngày ông bà Ri phất lên thì chòm xóm xầm xì bàn tán . Dỉ nhiên ông bà chối quanh , không hề hé môi về món của hoạnh tài . Về sau có người chủ tiệm vàng ở Phan Thiết có dịp đi thăm người bà con ở Sông Mao vô tình nói là Tết năm ngoái có người đàn bà hình dạng như thế đến tiệm bà bán mấy quả chuối bằng vàng .Từ đó dân chúng trong thôn Hòa Thuận đoán già đón non là người đàn bà kia chắc là bà Ri cùng thôn . Chỉ đồn đoán thôi chớ không có chứng cớ gì . Thời đó cũng đâu có tòa án nào ra lịnh xét nhà bà Ri . Kể ra bà Ri cũng khôn , đi đến một thành phố xa nhà mình gần trăm cây số bán vàng mà sau cũng lộ . Tin bà Ri được vàng đến tai bà chúa Thềm . Bà nhờ người thân tìm đến nhà ông bà Ri thương lượng xin chuộc lại nải chuối vàng đổi lấy năm mẫu ruộng tốt .Ông bà Ri từ chối . Sau tăng thêm tới bảy mẫu ruộng rồi mười mẫu , ông bà Ri cũng không bằng lòng . Cuộc thương lượng kéo dài cả tháng coi như bất thành . Bất thành nhưng chuyện chưa hết !
Qua Tết ruộng vùng Sông Mao gặt xong , lúa má chở vào bồ , mùa khô đến . Như đã nói ở đoạn trên , vùng nầy chỉ làm lúa một vụ . Mùa nắng suối mương khô cạn không đủ nước trồng hoa màu nào khác , dân quê không có việc gì làm nữa , chỉ chờ mùa mưa tới mới bắt đầu lại mùa vụ .Nhà nào có xe bò thì đánh xe lên rừng chặt củi chồi cở cổ chân đem về dành chụm quanh năm . Xe bò đi sâu vào đường núi chừng hai ba cây số mới có củi . Ngoài bìa rừng thì ai nhanh tay mới có củi . Mà chậm tay thì phải đi vào sâu hơn , đi càng sâu càng nguy hiểm ..sợ cọp . Người nào lanh lợi có khiếu buôn bán thì lùng sục trong xóm mua lúa về xay lúa bằng cối xay tay , giả lại bằng chày đạp cho gạo trắng .Đem tới nhà máy xay thì đâu có lời . lấy công làm lời . Cả nhà cùng làm vài ngày được vài ba tạ gạo trắng . Họ thồ ra ga Sông Mao , đi xe lửa vào Biên Hòa , Sài Gòn bán kiếm lời . Trong lúc đó những người ở nhà tiếp tục xay giả để có gạo cho chuyến buôn sau . Mùa khô rất vất vả sinh kế , đắp đổi qua ngày , chờ đến khoảng tháng Tư mới có mưa , vào lại vụ mùa . Ông bà Ri thì thong thả hơn , kéo nhau ra vườn me hàng trăm gốc , mướn dân hái me cân cho bạn hàng hết xe lam nầy đến xe lam khác , khỏe ru mà huê lợi kiếm được cũng bộn , cũng khá phong lưu . Một bữa đang cân me , bà Ri than nhức đầu , xây xẩm mặt mày về sớm .Về đến nhà bà phát sốt phải chở đi nhà thương Sông Mao .Bị thương hàn nằm viện chừng một tuần bác sĩ mới cho về . Về nhà vài hôm bà lại phát điên , lảm nhảm suốt ngày .Chạy chửa đủ thứ thuốc bắc , thuốc nam , kể cả thầy bùa mà cũng không khỏi .Ông Ri buồn phiền bắt đầu uống rượu .Tình trạng đó kéo dài cả năm thì xảy ra thêm chuyện khác . Đứa con trai thứ của ông tên Đẩu khoảng 20 tuổi thương một người con gái cùng thôn . Sau nầy không biết tại sao hai người chia tay , cậu trai buồn phiền treo cổ tự tử sau nhà bếp . Ông Ri càng uống rượu nhiều hơn , gây gổ hoài với bà vợ điên . Chừng hai năm sau trong lúc cả nhà đang ăn cơm chiều thì một chiếc xe ben chở cát lao hết tốc lực vào nhà ông . Vì nhà ông bà ở ngay ngã ba trong thôn . Tài xế xe ben say rượu thay vì tới ngã ba đạp thắng thì anh ta lại đạp ga . Tai nạn nầy làm cả nhà ông Ri chết hết ba người : vợ chồng ông và người con gái lớn trong lúc ăn cơm chiều . Dân chúng trong vùng bàn tán xôn xao hàng tháng trời vì những tai họa liên tiếp xảy ra cho một gia đình mà trước đây họ nghi là đã lượm được vàng của người Chàm . Người dân thấy cái quả rồi từ đó họ thêu dệt ra cái nhân . Họ xầm xì bàn tán với vài người trong thân tộc là gia đình ông bà Ri gặp tai họa liên tiếp là vì lời nguyền của bà công chúa Chàm . Chuyện nầy đúng sai thì cũng không ai dám chắc . Nhưng họ cứ to nhỏ rỉ tai nhau thành một huyền thoại về bùa ngãi , thư ếm của người Chàm . Tin đồn thì làm sao bụm miệng họ được ? Nếu quả là chuyện có thật thì đời nào bà chúa Chàm thừa nhận chuyện thư ếm thất đức nầy ? Nhưng nếu chúng ta có dịp tham quan các di tích , tháp đền của người Chàm qua nhiều triều đại khác nhau thì thấy có khắc trên đá rất nhiều hình ảnh hoang đường huyền hoặc như ông thần nầy , bà chúa nọ …đền nào cũng có . Từ các truyền thuyết thần linh còn lưu trên đá của tộc Chàm cho đến chuyện bùa ngải , thư ếm thì …khoảng cách đâu có xa ./.

Hồ Thanh Nhã


--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 14th November 2018 - 10:05 PM