IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

4 Pages: V  1 2 3 > »   
Reply to this topicStart new topic
> NhữngChuyệnHaySưuTầm, (ý riêng của người chọn đăng)
NhaQue
post Oct 21 2008, 08:52 AM
Gửi vào: #1


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





CHUYEN TINH CAM DONG

(GIÒNG ĐỜI...VÀ HỒI ÂM GIÒNG ĐỜI... )


QUOTE
Đầu tháng 9-96, báo Ngày Nay ở Houston có đăng một lá thư, tác giả là một người đàn bà ký tên Nga (Sàigòn) gửi cho người yêu cũ Duy, tức Đại Tá Không Quân Đặng Duy Lạc, người đã viết đoản văn "Giòng Đời" trên Đặc san Ngàn Sao của Hội Không Quân Houston, số mùa Hè 92 với bút danh Duy Lạc.
"Giòng Đời" là một bài văn hồi tưởng về cuộc tình lỡ của tác giả trong thời niên thiếu. Đó là mối tình đầu, như rất nhiều mối tình đầu dang dở khác, ở cái thời đại mà tình yêu trai gái coi như trái cấm bởi vòng rào luân lý, và quan niệm tương giao nam nữ khắt khe của xã hội đương thời. Biết bao mối tình trong sáng, ngây thơ, chất phác, như những đóa hoa yêu hoa lệ nở rụt rè, rồi tan vỡ, để lại trong văn chương nhiều chuyện tình đẫm lệ, dư âm còn mãi đến bây giờ.
Trong phần giới thiệu, Ngày Nay viết: "... Tác giả (Duy Lạc) kể lại mối tình đầu của mình vào thời niên thiếu, lúc cắp sách đến trường huyện với một người con gái tên Nga học cùng lớp. Lúc đó, vào dịp toàn dân kháng Pháp, 1945. Thời thế sau đó đổi thay, ông Duy Lạc vào Nam, rồi trở thành một Sĩ quan Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Còn cô Nga trở thành một người lính của phía bên kia, vượt Trường Sơn vào Nam .
Chuyện không ngờ là tờ Ngàn Sao lọt được về Sàigòn, và cô Nga ngày xưa được đọc bài "Giòng Đời" và sau đó, viết một bài chuyển ra ngoài với tên "Hồi Âm Giòng Đời"... Đây là một bức thư tâm tình riêng tư giữa hai người bạn lòng, nhưng tình tiết ghi lại một giai đoạn phân ly nghiệt ngã của đất nước..."
Bài "Hồi Âm Giòng Đời" đăng trên Ngày Nay đã gây một xôn xao dư luận, nhất là trong dư luận Không Quân. Ở một vài nơi, có những báo khác đăng lại. Đây là chuyện tình cảm động của thế hệ chúng ta, với đầy đủ tính cách bi thương, lãng mạn, chung thủy và đằm thắm biết bao, trong bối cảnh đau thương của đất nước, với cuộc phân tranh đối đầu chủ nghĩa, huynh đệ tương tàn.
Lý Tưởng dăng lại bài văn "Hồi Âm Giòng Đời", vì thứ nhất, ngoài tính chất bi thảm của một câu chuyện đầy bi thảm, còn vì cái đoạn kết bất ngờ và đau sót là Đại Tá Đặng Duy Lạc đã chết đường đột, ít ngày sau khi bài báo được phổ biến. Có thể chăng, lá thư tình gởi muộn đã làm anh rúng động và cảm xúc, vì ăn năn, hờn trách mình ngày xưa đã rụt rè, yêu không dám ngỏ và đã hiểu lầm, hóa nên cuộc tình thành chia biệt 40 năm...?
Nỗi riêng nhớ ít tưởng nhiều... (Kiều)
Phải chăng chính cái tâm "quán tưởng" theo kinh Phật mà Nguyễn Du đề cập đến rất nhiều lần trong truyện Kiều, đã khiến con người nòi tình nghệ sĩ Đặng Duy Lạc tưởng tượng thêm ra những tình tiết đẹp đẽ cho mối duyên dang dở, để càng nặng lòng tiếc nuối, âu sầu, đắm đuối mình trong niềm ai oán với trò chơi nghiệt ngã của định mệnh? Anh khổ dau, dằn vặt bởi giòng chữ bùi ngùi thương tội "Anh đã từ phương xa lại, mình gặp gỡ nhau, anh gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt..." khiến "Anh Duy thân mến" của Nga đã bơi ngược giòng đời, day dứt niềm thương, đem xuống tuyền đài mối tình đằng đẳng chưa tan.
Thứ nữa, "Hồi Âm Giòng Đời" của Nga Sàigòn có một giá trị văn chương cao vượt trên "Giòng Đời" của Duy Lạc khó mà phủ nhận.. Người nữ đó đã sống hết ngả truân chuyên, trôi cuốn theo giòng cuồng lưu vận nước, vô độ thảm thương hơn thân phận Thúy Kiều, khổ đau và tủi nhục trên cả Lara trong "Dr. Jivago", vượt xa cơn khốn khó của Catherine Barkley trong "A Farawell To Arms". Những nhân vật nữ đa truân của văn chương nhân loại. Người đàn bà tên Nga đã cho đi ở lứa tuổi thanh xuân đẹp đẽ đó, cả cuộc đời nàng vì lý tưởng thiêng liêng dành cho đất nước, thủy chung ôm giữ mối tình đầu câm lặng cùng niềm u oán... Để bốn chục năm sau, bàng hoàng sống lại nguyên tròn cảm giác bồi hồi xưa cũ, nửa đêm ngồi viết lá thư dài, gửi "Anh Duy dấu yêu" những lời nồng nàng tha thiết, bây giờ mới ngỏ... Để tim người tình năm xưa quặn thắt và đau buốt nhức, tay cầm tờ thơ cũng run lên, như trước đây, bên trời xa mù tắp, Nga cũng run lên "còn hơn bị B-52 trải thảm", khi đọc "Giòng Đời" trên giai phẩm Ngàn Sao.
Thiên tình sử đã được viết ra bằng những giòng chữ đầm đìa ngấn lệ, văn chương tới độ chân thành, cảm động, khiến hoe rưng người đọc. Thêm vào đó, "Hồi Âm Giòng Đời" còn là một tác phẩm sâu sắc, tát thẳng vào mặt chế độ với những giòng chữ viết ra từ một người theo cách mạng, nói về thực chất của cái gọi là "nhà nước", trên phương diện thông tin chỉ thuần mục đích tuyên truyền "nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích", về tệ trạng tham nhũng hối mại "chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng hồ rẻ tiền.v.v... thì cái gì to như con voi cũng qua lọt", và thú nhận lầm lỡ đi theo ###### chỉ là do "định mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê hương!"...Em tập kết vì ngỡ mình sẽ đến được một nơi như thiên đàng, chứ không phải vì lý tưởng hay vì bị huyền hoặc bởi cái chủ nghĩa hứa hẹn không còn có cảnh người bốc lột người...."
Đó là tâm trang não nề của "người đàn bà góa bụa mái tóc đã bắt đầu điểm sương ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa vòng trái đất.." tủi buồn ngậm giọt thương thân, nhớ lại mối tình thơ ngây không dám ngỏ và thổn thức hồi niệm cuộc chia ly định mệnh, khiến cho đời nàng giông bão "Nhiều đêm em đã khóc vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ đến anh thật nhiều..." Nhớ đến bóng hình xưa thuở thanh xuân đèn sách học trò và giấc mơ lãng mạn "Có lần nào anh say xưa oanh kích, mà dưới ấy là chỗ đóng quân của em? Nếu chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em là người băng bó cho anh, thì không hiểu bọ mình phải xử trí ra sao trong tình huống ấy?"
"Hồi Âm Giòng Đời" nói lên đầy đủ cái thảm kịch của thế hệ chúng ta, của phần số đau thương bất hạnh dân tộc ta gánh chịu. Lý Tưởng trân trọng mời bạn đọc theo dõi và cảm xúc với từng giòng chữ phô diễn chân thành tâm trạng người viết, để hiểu tại sao cái khổ đau ray rứt đã khiến ông Đại Tá Phi công Khu trục Đặng Duy Lạc không gượng nổi, phải từ giả anh em, từ giả bạn bè để ra đi mang theo tình yêu thánh hóa sang bên kia thế giới... (Đào Vũ Anh Hùng)






GIÒNG ĐỜI...
Duy Lạc.

Tôi sinh ra vào thế hệ của thập niên 30. Thế hệ của chúng tôi chịu nhiều xáo trộn điên đảo nhất trong giòng lịch sử 60 năm của dân tộc (1930-1990). Chúng tôi may mắn là nhân chứng của nhiều sự hưng vong của bao chế độ và cuối cùng được nhìn tận mắt sự sụp đổ ngoạn mục của chế độ (Không dùng từ này) bạo ngược khắp thế giới. Đó cũng là một niềm an ủi cuối đời cho thế hệ chúng tôi, những người chống (Không dùng từ này) phải bỏ nước ra đi lang thang, bơ vơ, chịu nhiều bất hạnh, mang nhiều nổi đau buồn trên đất khách.
Ngày xưa từ tuổi nhi đồng qua thời niên thiếu, chúng tôi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của luân lý đạo đức Khổng Mạnh qua các tập "Luân Lý Giáo Khoa Thư" ở nhà trường. Trong xã hội lúc bấy giờ, một thời văn chương lãng mạn của các nhà thơ: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Hàng Mạc Tử, Chế Lan Viên.v.v... và nhóm chủ trương Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh đã mang lại cho chúng tôi một ít mơ mộng về tình yêu (Hồn Bướm Mơ Tiên), hay ý thức mơ hồ về các hoạt động cách mạng (Đôi Bạn). Sau đó từ năm 1935-1945, dòng nhạc tiền chiến trữ tình và lòng yêu nước của Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy,Tô Vũ, Đặng Thế Phong.v.v... đã thật sự thấm nhập tâm hồn tuổi trẻ vừa lãng mạn vừa khơi động tình yêu tổ quốc của tuổi thanh niên. Kế đến thế chiến thứ hai vào giai đoạn chót bộc phát dữ dội. Bom đạn của chiến tranh bắt đầu tàn phá quê hương. Nương theo sự thất trận của Nhật, nhiều phong trào yêu nước chống Pháp nổi dậy, cuối cùng đi đến ngày 19-8-1945, ngày toàn quốc khởi nghĩa mà bọn Việt Minh (Không dùng từ này) quỷ quyệt cướp lấy công đầu. Và cũng từ hoàn cảnh đó, đám thanh niên thế hệ chúng tôi một số vào rừng, vào bưng, vào chiến khu để theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc. Một số khác vì còn trẻ tuổi, phải bỏ thành phố tản mác về vùng quê để tạm lánh cư.
Cũng như mọi gia đình khác, cha mẹ chúng tôi vội vã bỏ hết gia sản chạy về vùng quê miền Trung. Từ đó đời tôi bắt đầu một khúc quanh: cơ cực cũng lắm, hạnh phúc cũng nhiều, chạy dài suốt một thời niên thiếu. Tôi dần dần yêu thích cảnh sống đồng quê. Say sưa với núi cao, biển rộng, rừng thông, đồi cát, ruộng mía nương khoai với những hình ảnh của đình chùa, miếu mão. Tôi yêu thương làng tôi qua lũy tre xanh. Con đường nho nhỏ thông reo. Ngôi đình cổ kính nằm bên chân đồi. Tôi mê nhất những buổi trưa hè ngồi nghe tiếng thông vi vu, réo rắt một điệu nhạc buồn như tiếng sáo diều từ lưng đồi vọng lại.
Tuổi thơ của tôi thấm đậm tình quê hương từ những ngày tháng êm đềm thơ dại đó.
Những năm đầu kháng chiến, gia đình tôi chưa đến nỗi sa sút. Tôi được đi học tại trường Trung học cấp huyện, cất ngay trong làng. Ở miệt thôn quê thời kháng chiến, sự học hành bị gián đoạn nên học sinh tuy ngồi chung lớp nhưng tuổi tác chênh lệch nhau. Trong lớp "Đệ nhất niên" của tôi có độ mươi cô nữ sinh. Các cô thuộc người làng hoặc từ những làng kế cận đến học. Phần nhiều nữ sinh thuộc gia đình giàu có trong đám hương mục ngày xưa như Chánh Tổng, Xã Trưởng, Hương Lý, Hương Hộ.v.v... Các cô tuy là gái quê nhưng trông cũng xinh đẹp lượt là lắm. Tôi thời đó học hành dốt nát, chỉ thích lêu lỏng ngoài đường. Chuyện nhà trốn tránh, chuyện bạn bè thì mau mắn. Tôi lang thang suốt xóm trên làng dưới, tập đàn ca với đám nữ sinh cùng lớp, ít khi có mặt ở nhà.. Công việc nặng nhọc trong gia đình tôi giao cho chú em kế gánh vác. Mẹ già nhiều lúc mắng mỏ rầy la, tôi vẫn trơ mặt thịt. Đã vậy tôi còn tơ tưởng yêu đương. Tôi yêu tha thiết một cô em tên Nga cùng lớp. Em ngồi dãy bàn trước mặt. Tôi còn nhớ chiếc áo chemise lụa mỏng và chiếc quần lãnh đen của em. Em có đôi mắt nhung huyền sâu thẳm như đáy hồ thu mà tôi tự nguyện chết đuối trong đó những lần em quay lại nhìn tôi cầu cứu. Đôi môi em đỏ hồng gợi cảm. Những lúc em ban phát cho tôi một nụ cười cám ơn khi tôi cho cóp bi bài toán là những lần tim tôi như ngừng đập. Em thường liếc xéo tôi mỗi khi tôi trêu chọc. Cái nguýt dài, con mắt có đuôi, kèm theo một nụ cười mỉm của cô gái dậy thì, có lúc là một "message" ưng chịu kín đáo của thời đó.
Thật tình lúc bấy giờ tôi không đoán được Nga có cảm tình gì với tôi chưa. Nhưng riêng tôi, tôi đã mê tít nàng. Cứ mỗi ngày cô em nghỉ học là mỗi ngày tôi thẩn thờ nhớ nhung. Tôi tương tư nàng như Nguyễn Bính tương tư "Cô hàng xóm"
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh dờn...

Tuy yêu thương mê mẩn như thế, tôi chưa dám nói một lời yêu thương cùng nàng. Hồi đó tôi đen đúa xấu trai. Tóc chải bảy ba có thên một chút tango ổ quạ ngay trước trán (thời trang 1945). Tôi gầy đét và cao lêu nghiêu như cây sậy. Thật tình nhìn kỹ tôi chả giống con giáp nào! Tôi chỉ được tiếng "người Sàigòn" và một chút tài mọn về đàn ca hát xướng. Vì vậy, tôi chủ quan nghĩ rằng em đã cảm tình với tôi. Một hôm vào dịp nhà trường tổ chức đi cắm trại qua đêm ở một rừng dừa ven biển. Dĩ nhiên tối hôm ấy có đốt lửa trại và thi đua văn nghệ, giữa mấy trăm học sinh cùng trường. Tôi táo bạo ghi tên tham dự, cốt để chứng tỏ với Nga về khả năng văn nghệ của mình.. Đêm hôm đó, trước đám đông đảo học sinh, tôi đơn ca bản nhạc "Nhớ Chiến Khu", một bài ca tủ của tôi, "Còn đâu trong chiến khu trên rừng chiều. Bên đèo tiếng suối reo, ngàn thông réo..." Tôi đang mơ màng vừa ca vừa diễn xuất bộ mặt sầu sầu của anh Vệ quốc Quân nhớ nhà, nào ngờ đến đoạn cao nhất của bài hát, một phần vì khớp, một phần vì nhìn thấy cô nàng đang theo dõi mình, tự nhiên tôi té giọng kim, dứt đoạn, rồi ngừng ngang nửa chừng. Tôi đúng như trời trồng giữa tiếng vỗ tay la ó của đám học sinh. Tôi xấu hổ, tay chân thừa thải, mặt đỏ bừng chỉ muốn độn thổ cho xong. Tội nghiệp Nga, nàng cúi đầu thương hại cho tôi.
Rồi có một lần, chuyện phải đến đã đến, Nga ngỏ lời mời tôi đến nhà nàng chơi vào chiều thứ bảy. Tôi sung sướng nhận lời. Dịp này nhất định tôi sẽ bộc lộ tâm sự với nàng bằng một lá thơ. Mấy ngày liền tôi ngồi nắn nót viết bức thư tình đầu tiên. Tôi còn nhớ rõ bức thư viết dài và hay lắm. Tôi diễn tả mối tình say đắm của mình. Văn chương lãng mạn và ướt át vô cùng. Trong bức thư tôi còn làm dáng về vốn Pháp văn của mình bằng hai câu bất hủ "L'homme sans amour comme La Terre sans Lumière" mà tôi thuổng được ở mấy bức thư tình của bà chị tôi. Chiều hôm ấy, tôi băng mấy cánh rừng dương để đến nhà nàng. Nhà Nga xinh xắn bao quanh bởi một vườn cau và một hàng rào bông bụp tím nhạt. Vườn có nhiều hoa và cây ăn trái. Tôi dạo chơi thơ thẩn trong vườn cùng nàng suốt buổi tối. Nàng bóc bưởi mời tôi ăn. Tôi trèo cây hái khế tặng nàng. Cứ như thế mãi cho đến khi trăng treo đầu ngọn cau và hoa bưởi bắt đầu tỏa hương thơm ngát, tôi mới từ giã nàng. Trước khi về tôi dúi vội bức thư vào tay nàng. Nàng ngập ngừng e thẹn nhận lấy thư tôi.
Sau ngày trao bức thư tình, tôi cảm thấy yêu đời, mơ mộng nhiều hơn. Và trong khi tôi nao nức đợi chờ hồi âm, thì hởi ơi! Hai câu Pháp văn bất hủ tôi viết cho nàng được loan truyền khắp nơi nhất là trong đám nữ sinh. Mấy bà chị họ, mỗi lần gặp tôi đều tủm tỉm cười, làm tôi xấu hổ vô cùng. Tôi loáng thoáng đoán rằng tôi đã lầm và quá chủ quan, chớ nàng không hề yêu thương hay tình cảm gì với tôi. Nàng đã đem bức thư của tôi bêu rếu để làm trò cười. Từ đó tôi không nhìn nàng. Tôi đau khổ hận đời, hận nàng và trốn học luôn...

Cho đến một ngày trước khi xuống tàu bỏ trốn vào Nam, vì vô tình hay cố ý, Nga chận tôi trên con đường làng vắng vẻ, gương mặt xanh xao, ánh mắt buồn buồn. Nàng khóc thật nhiều và giải thích với tôi rằng nàng đã yêu tôi. Chuyện bức thư là lỗi bất cẩn của nàng (Nga cho người bạn gái mượn quyển sách trong đó có dấu bức thư). Nàng trách tôi tại sao bỏ học và trốn tránh không nhìn mặt nàng. Lần đầu tiên tôi run run cầm tay nàng, nhìn sâu vào đôi mắt lệ nhạt nhòa, thổn thức không nói một lời, bởi vì ngày tôi nhận được hạnh phúc tình yêu đầu đời và cũng là ngày tôi xót xa chia tay mối tình học trò ngắn ngủi đó. Ngày hôm đó, tôi đau đớn vĩnh biệt Nga mà chính nàng không hề hay biết.
Con thuyền đưa tôi vào Nam chập chùng giông bão. Giông bão xô dạt con thuyền. Giông bão ngay trong lòng tôi...
Tôi có người em kế, cùng trạc tuổi. Chúng tôi là hai thái cực. Chú Lâm hiền hòa thích sống trong gia đình. Tôi mê cuộc đời hải hồ lang bạt. Lớn lên, hai anh em cùng vào quân đội. Tôi đi lính Không Quân đồn trú tại Pleiku.. Chú đi sĩ quan Thủ Đức đóng đồn ở Daksut. Những ngày cao nguyên sôi động, nhiều lần từ trời cao, tôi xót xa nhìn chú bị vây hãm dưới đồn. Anh em tuy đóng quân cùng một vùng nhưng chả bao giờ gặp nhau. Thỉnh thoảng hành quân ngang đồn, tôi bay thấp để chào chú, hoặc liên lạc FM để thăm hỏi sức khỏe và nhắn tin nhà, thế thôi. Vậy mà chú Lâm vẫn vui vẻ sống cuộc đời gian khổ bộ binh. Mãi đến ngày bỏ nước ra đi, chú ra đi một mình không kịp đón gia đình vợ con. Những năm tháng xa quê hương, chú Lâm vẫn sống cảnh đơn lẻ ở một tiểu bang xa lắc xa lơ. Nhưng mấy năm gần đây, chắc có lẽ chịu hết nổi cảnh "Đồn Lẻ Chiều Xuân" chú đã âm thầm bước thêm bước nữa để nếm mùi "một cảnh hai quê". Thật tội nghiệp!

Hôm Tết vừa qua, nhân dịp đi công tác cho hãng ở Hà Nội. Lâm ghé Sàigòn thăm nhà và về làng thăm quê cũ. Một sự việc bất ngờ và cảm động là chú Lâm đã tìm được dấu tích của Nga ngày xưa. Đuợc biết nàng đã trốn ra Bắc năm 1956 và sau ngày Viẽt cộng cưỡng chiếm miền Nam, nàng trở về với quân hàm Đại úy và là vợ lẽ của một ông tướng già ######. Hiện nay nàng đang ở Sàigòn, khu cư xá sĩ quan Chí Hòa và ông tướng già đã chết. Trước khi trở về Mỹ, Lâm có đến tìm gặp nàng. Nga sững sốt mừng rỡ khi nhận ra Lâm em của tôi. Nàng vui vẻ kể chuyện xưa về tôi với chú Lâm và nói rõ lý do vì sao nàng bỏ xứ ra đi. Trong câu chuyện thăm hỏi, Lâm đã cố khơi lại chuyện tình ngày xưa của chúng tôi. Lâm nói: "Anh tôi vẫn nhắc nhớ về chị." Nàng cúi đầu lặng lẽ, giọng buồn buồn: "Dạ vâng, tôi đoán thế." Và nàng cảm động cho biết người làng đã kể: Có lần tôi một mình lái xe về thăm vườn cũ tìm lại người xưa, và người xưa không còn nữa. Lâm tiếp tục thăm dò: "Chị có biết anh tôi ngày xưa làm gì không?" "Dạ tôi biết, nghe nói anh ấy là một phi công trong Không Lực Cộng Hòa." "Chị có oán hận, căm thù gì chúng tôi không?" Nga lắc đầu cười chua chát, "Tôi không nghĩ đến điều đó, và chẳng bao giờ nghĩ như vậy, nhất là đối với anh ấy..."
Nàng trả lời với đôi mắt mơ màng xa vắng. Chắc có lẽ chú Lâm đã vô tình khơi dậy những kỹ niệm thời học trò của nàng. Những kỹ niệm tưởng như đã chôn vùi dưới lớp bụi thời gian sau bốn mươi năm xa cách.
Và trong buổi chiều hôm đó, theo lời nhật xét của chú Lâm. Nga như "lội ngược giòng thời gian" tìm sống lại quảng đời con gái ngây thơ, cùng với mối tình thơ mộng và đẹp nhất của đời nàng. Vì đó là mối tình đầu và mối tình không có đoạn cuối.



Hồi Âm "GIÒNG ĐỜI..."
Nga Sàigòn.


Anh Duy thân mến,

Em ngồi viết lá thư này cho anh khi cơn mưa vừa mới tạnh. Cơn giông miền nhiệt đới ào ạt, kéo dài độ chừng hai tiếng đồng hồ, nhưng cũng đã làm cho cái nóng oi bức của Sàigòn dịu bớt. Mưa đã dứt, chỉ còn những giọt nước nhỏ thỉnh thoảng tí tách rơi trên miếng tôn mỏng hứng nước bên hiên nhà. Nghe tiếng giọt nước gõ đều đặn, rồi nghe tiếng nhịp tim mình đập, em bỗng thấy hình như mình mang một tâm trạng bồi hồi. Đặt bút viết là thư này cho anh, lòng em cũng cảm thấy bồi hồi như thủa ấy cầm tay anh lần đầu, mà không ngờ cũng là lần chào ly biệt.... Không biết rồi lá thư này có thể đến tay anh? Nếu may mà thư đến, đọc xong anh sẽ nghĩ gì? Thôi em cũng liều... Cầm bằng như gió mang đi...

Tuần trước em đến thăm chị Hạnh, người bạn làm việc cùng cơ quan với em trước đây. Chị ấy xin phục viên sớm, vì đồng lương nhà nước trả không đủ sống. Chưa kể là đôi ba tháng nhà nước không có tiền phát cho nhân viên. Chị Hạnh bây giờ làm nghề buôn chui sách báo nước ngoài. Ở chỗ này thì em phải giải thích thì anh mới rõ tại sao ngày nay nước mình lại có cái nghề lạ như vậy. Từ ngày các nước xã hội chủ nghĩa anh em ngưng viện trợ, nhà nước cần ngoại tệ nên họ đã mở cửa, khuyến khích người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương. Tuy có lệnh kiểm soát gắt gao ở các cửa khẩu hải quan những món hàng quốc cấm như sách báo tuyên truyền của phe tư bản, nhưng tệ nạn tham nhũng tràn lan không có cách gì ngăn cản nổi. Vì thế, du khách chỉ cần đút lót vài ba bao thuốc thơm, chiếc đồng hồ rẻ tiền..v.v... thì cái gì to như con voi qua cũng lọt. Người dân ở quê nhà bây giờ không ai thèm đọc báo nhà nước, ngày nào ngày ấy tin tức đều nhai đi nhai lại một luận điệu cũ rích. Người ta còn khôi hài nói rằng chỉ có tin tức khí tượng là không sặc mùi tuyên truyền, còn hầu hết đều... cuội! Vì thế dân chúng mới lén lút thuê hoặc mua lại báo chí bằng Việt ngữ hay bằng ngoại ngữ xuất bản tại nước ngoài.
Gặp em, chị ấy vội kéo vào buồng trong nói nhỏ:
- Này Nga, tôi có món quà này, chắc Nga sẽ thích vô cùng
Em chưa kịp hỏi chi ấy món quà gì, chị Hạnh đã dúi vào tay em một tờ báo. Chị nói:
- Dấu cho kỹ vào người đi! Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng rồi hãy đem ra đọc. Đọc để xúc động vì "người ta" còn nhớ tới mình!
Nhìn trang bìa tờ báo có hình một nửa chiếc máy bay phản lực đậu trên phi đạo và tên tờ báo là Ngàn Sao, lại nghe chị Hạnh nói bóng gió xa xôi, em linh cảm một điều gì đó rất mơ hồ. Nửa năm trước, chú Lâm từ bên Mỹ đi công tác cho hãng về Việt Nam đến thăm em. Chú ấy nhắc đến anh, đến tình cảm anh vẫn âm thầm dành cho em. Giác quan thứ sáu xui em liên tưởng đến một điều gí đó (mơ hồ thôi) rằng anh, chàng Phi công Cộng Hòa lãng mạn, có thể đem chuyện tình hai đứa dệt thành văn? Cầm tờ báo trên tay, em run còn hơn bị B-52 trải thảm hay như hồi sơ tán phòng không ở Việt Bắc. Chị Hạnh trấn an:
- Làm gì mà run dữ vậy? Bề nào Nga cũng là cựu sĩ quan quân đội nhân dân, công an nào dám đụng đến?
Em run không phải là sợ công an khám xét thấy mình mang món hàng quốc cấm. Em run vì không hiểu điều dự đoán của mình có phải là sự thực. Em run vì liên tưởng đến người bạn năm xưa vẫn còn nhớ đến mình. Anh đừng cười em già rồi mà còn vớ vẩn.
Chị Hạnh là người bạn sát cánh với em vào thời kỳ chiến đấu dọc Trường Sơn. Chị ấy cũng là con nhà tiểu tư sản như mình, nên em thường nhỏ to tâm sự trong những lúc dừng quân. Em có kể cho chị ấy nghe về anh, người bạn học cùng trường thủa thiếu thời.

Về nhà, chờ đêm khuya thanh vắng, mọi người đều đã say giấc nồng, em len lén đem tờ báo ra chong đèn lên đọc. Em đọc từng trang, rồi em dừng lại ở bài viết mang tên tác giả Duy Lạc, "Chắc chắn là anh đây rồi?!" Em tự nhủ: Quả nhiên đúng như điều em dự đoán.


Thời gian trôi nhanh quá anh nhỉ? Thấm thoát đã bốn mươi năm rồi còn gì? Bao nhiêu tấn tuồng dâu bể diễn ra! Bao nhiêu nước chảy dưới cầu! Hai mái tóc xanh của đôi trẻ ngày nay đã bắt đầu điểm trắng.
Chiến tranh bùng nổ, anh từ Sàigòn về lánh nạn ở quê nhà. May mắn thay giặc chưa thể tràn về vùng đất của mình, nên chúng ta có một thời kỳ bình yên. Khí thế bừng bừng của phong trào giành độc lập xứ sở bốc cao khiến tất cả thanh niên hăm hở lên đường làm anh vệ quốc quân. Tuy bọn mình còn nhỏ mà trong trí óc non nớt cũng đã thấy lòng rộn ràng vui thích như đi trẩy hội ngày Xuân. Em còn nhớ đêm liên hoan, anh hát bài "Nhớ Chiến Khu". Lúc bấy giờ nghe giọng anh run run, em cứ tưởng anh vì cảm thương nỗi nhớ nhà của anh vệ quốc quân trong núi rừng thâm u; nào dè anh run ...vì ánh mắt ngưỡng mộ va say mê theo dõi của em. Thì ra nhãn lực của em cũng khá đấy anh Duy nhỉ?
Dạo ấy lần đầu tiên nghe anh trả bài thầy giáo, em mới để ý thấy cách phát âm của anh khác với những học trò con trai trong huyện. Chẳng hạn, "mờ mịt" thì anh phát âm thành "mờ mịch" hay "vui quá" thành "vui góa". Và còn nhiều chữ độc đáo nữa...
Mới đầu bọn học trò trong lớp, rồi về sau bọn học trò của cả trường thường nhại cách phát âm ấy để trêu ghẹo anh. Thoạt tiên em cũng cười hùa theo bọn chúng, nhưng thấy anh chẳng phản ứng gì, mà chỉ nhún vai cười khỉnh rất là... Sàigòn, tự nhiên em đâm ra thích cái giọng ấy mới kỳ chứ! Mỗi lần đến giờ học, em đều cầu mong thầy giáo gọi anh lên trả bài để em được nghe cái giọng ngồ ngộ ấy.
Anh còn nhớ lần đi cắm trại đầu tiên do nhà trường tổ chức trước vụ Hè 51 không? Lớp mình chia làm bốn toán mà anh thì ở toán A, còn em ở toán B. Khi đến nơi, ai nấy đều lo căng lều dựng trại của toán mình, trong lúc đó anh lại chạy sang loay hoay giúp em làm chuyện này chuyện kia. Cử chỉ lăng xăng của anh có vẻ vụng về, khiến cho em vừa buồn cười vừa cảm động. Vì thế, buổi tối họp lửa trại, em mới lén dúi vào tay anh củ khoai em vùi trong bếp lúc nấu cơm chiều. Em còn trêu:
- Trại sinh bên toán B ăn hết "thịch" (thịt) cá rồi, em chỉ còn củ khoai nóng này tặng anh dùng đỡ cho "dzui"!
Chẳng những anh không giận vì bị em nhái giọng, anh chìa tay ra cầm củ khoai một cách hồn nhiên, mà miệng còn ấp úng nói gì nghe không rõ, em bỗng cảm thấy thương anh chi lạ!
Dân trong làng kế cận khu cắm trại, tối đến xong việc đồng áng cũng ra tham dự trò chơi lửa trại của đám học sinh. Ánh lửa hồng chờn vờn nhảy múa ngọn thấp ngọn cao, nhịp nhàng lung linh với tiếng đàn guitar bập bùng của anh tạo nên cảnh tượng kỳ ảo rất liêu trai. Con Thủy, con gái ông Xã Tài; con Nhạn, con gái ông Lý Trân, ngồi bên em cứ huých cùi chỏ vào hông em từng chập, mỗi lần chúng nó trông thấy anh gật gà gật gù theo điệu nhạc trầm bổng. Dường như lúc bấy giờ anh say sưa với âm thanh của từng nốt nhạc, không thèm biết gì đang xảy ra chung quanh. Khách quan nhận xét, cả huyện mình đâu có cậu học trò nào chơi đàn ngọt như anh? Chúng nó cũng khoái và để ý "người Sàigòn" có mái tóc chải bảy ba tango lắm đấy! Anh có biết rằng anh đã lọt vào mắt xanh của bọn học trò con gái tinh quái ấy không?
Em còn nhớ tính anh ít nói. Trong lúc mọi người ngồi huyên thuyên, thình thoảng anh chêm một câu pha trò hóm hỉnh mà nhiều khi người nghe không tinh ý, phải mất ba, bốn ngày sau mới hiểu. Cái tính "nghịch" ấy ngày nay anh vẫn không bỏ. Trong bài "Giòng Đời", em vẫn đọc thấy thấp thoáng cái văn phong đó. Anh cao lớn, nhưng không gầy như cây sậy và anh đâu có đen đúa xấu trai như anh tự chế diễu mình trong bài văn? Lại còn bày đặt tự chê mình học dốt!
Xong màn văn nghệ và đọc tin thời sự về những chiến thắng công đồn đả viện của bộ đội cụ Hồ cho dân chúng nghe, bọn học trò chạy xuống bờ biển nô đùa với sóng nước. Em nhớ đêm đó trăng lên muộn và trời trong xanh không một vẩn mây. Hình như đốm lửa trại cuối cùng tàn lụi rồi trăng mới lên. Khác với những học trò khác cùng lớp, anh không xuống bờ cát giỡn nước, giỡn trăng. Em thấy anh ngồi tựa lưng vào một cây dừa lả ngọn và đôi mắt đăm chiêu nhìn ra trùng khơi. Anh ngồi yên một cách thư thái, tự tại, đẹp như một pho tượng! Em biết rồi, người đó đang mơ mộng vì người đó đang yêu?! Lúc bấy giờ những cơn sóng bạc đầu phản chiếu ánh trăng nhấp nhô vờn nhau xô vào bờ, có làm cho tim anh xao xuyến, hởi người nghệ sĩ với cây đàn?
Em là con gái, trời ban cho em cảm nhận bén nhạy hơn con trai. Kinh nghiệm đời trải qua, chắc bây giờ anh đã hiểu rõ điều đó. Hồi ấy, mới thoáng thấy cử chỉ ân cần và ánh mắt trìu mến của anh nhìn em trong lớp học, ngoài sân trường, em đã đọc được ý nghĩ thầm kín của anh. Nhưng em là con gái, đặt biệt vào thời buổi ấy, luân lý và bản tính rụt rè của phụ nữ đâu cho phép em có một cử chỉ gì gọi là biểu đồng tình, dù trong thâm tâm em cũng rất cảm mến anh. Cũng có những đêm nằm một mình vẩn vơ bên cửa sổ ngắm trăng, bỗng nhiên ngửi thấy mùi hoa cau bưởi từ đâu đưa lại, em chợt thèm có anh bên cạnh để... ngắm anh (!) Hoặc để luồn những ngón tay thon nhỏ của mình vào tóc người yêu. Đó là cái rạo rực rất tự nhiên của người con gái ở tuổi dậy thì khi biết mình đang có một anh chàng đang ngấm nghé.
Em đã đọc đi đọc lại nhiều lần lá thư anh trao. Vì sự bất cẩn của em, con nhỏ Thủy - con gái ông Xã Tài - đọc trộm lá thư em dấu trong sách cho mượn, thế là nó đem đi mách lẻo với mọi người, gây ra sự hiểu lầm đáng tiếc khiến anh sinh lòng oán hận em. Nếu lá thư ấy bị một người bạn gái nào khác đọc thì chẳng đến nỗi nào. Đằng này con nhỏ Thủy vốn thầm yêu trộm nhớ anh, nên khi nó vớ được lá thư là nó kháo ầm lên để anh phải thẹn thùng với đám bạn gái của em và hai bà chị họ. Nghĩ lại, em chẳng phiền trách gì nó. Âu cũng là tại sợi chỉ hồng không se duyên cuộc tình chúng mình!
Ngày anh cầm tay em lần đầu (và cũng là lần cuối), em đã khóc, đã hết lòng gạn hỏi tại sao anh bỏ học và cố tình lẩn tránh em. Anh cứ lầm lì im lặng. Không ngờ bữa đó anh đã quyết định xuống tàu trở lại chốn phồn hoa. Tuổi trẻ thường hay đặt tự ái quá cao! Anh đi biền biệt để lại cho em nỗi nhớ đoạn trường. Em thẩn thờ biến nhác việc học hành và công việc trong nhà. Ba mẹ không hiểu chuyện cứ rầy la. Bỗng nhiên em cung sinh lòng trách cứ anh. Anh đã từ phương xa lại, mình gặp gỡ nhau, anh gieo vào lòng em một vết thương, rồi anh lẳng lặng ra đi không một lời từ biệt. Bạn bè em một đôi đứa đem lòng thương hại, vài đứa trêu ghẹo em mang mối sầu tương tư. Em lại càng giận anh hơn.
Năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ chia đôi đất nước. Một số người trong làng xã tập kết ra Bắc. Gia đình em vẫn ở lại vì thuộc thành phần địa chủ. Tổng Thống Diệm về nước, đẩy mạnh chiến dịch Tố Cộng. Gia đình em không bị ảnh hưởng gì, vì người ta biết thời ấy ai cũng chống Tây. Nhưng chỉ có một số cán bộ Tố Cộng của ông Diệm lợi dụng quyền thế, thấy em có nhan sắc nên họ gây nhiều khó dễ để cưỡng bách em trao thân gởi phận. Nếu em liều mình nhắm mắt đưa chân, chắc chắn em sẽ cũng được yên thân. Nhưng tính em ương ngạnh, không chấp nhận sự hà hiếp, em bèn tìm đường lên núi để rồi ngả về phía bên kia. Thân gái dậm trường, liều mình bỏ gia đình ra đi đến phương trời vô định, em nào muốn làm một cuộc phiêu lưu? Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã đẩy em thành một kẻ ruồng bỏ quê hương!

Anh Duy yêu dấu,

Nhiều đêm em đã khóc, vì nỗi bơ vơ của mình nơi xứ lạ quê người. Em nhớ đến anh thật nhiều. Nhớ đến kỹ niệm của những đêm trăng ở làng quê mình, của những buổi chiều hai đứa rong chơi lang thang trên bờ ruộng lúa vừa mới gặt, của mùi hương ngai ngái từ gốc rạ thoảng đưa trong gió. Và em còn nhớ đến cái giọng Sàigòn ngồ ngộ của anh nữa!
Sự đãi ngộ ở miền Bắc không tốt đẹp như những gì mà "người ta" đã ngọt ngào dụ dỗ em. Cũng như những bộ mặt đàn ông nham nhở (xin lỗi anh) tìm đủ mọi cách chiếm đoạt em. Ở vào bước đường cùng, lần này em đành nhắm mắt đưa chân. Em kết hôn với một ông sĩ quan già hơn em mười lăm tuổi. Trong bài "Giòng Đời" anh kể rằng em làm lẽ một viên tướng già là không đúng sự thực. Nhưng mà thôi, không sao! Làm vợ chính thức hay làm lẽ, số phận em vẫn hẩm hiu "bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!"
Chiến tranh ngày càng lan rộng và khốc liệt. Phi cơ oanh tạc hầu như mỗi ngày. Đa số nhân dân miền Bắc đều mong mỏi được quân đội miền Nam giải phóng, vì họ hết chịu đựng nổi đói khổ và cuộc sống hắc ám, rình rập. Em là người miền Nam tập kết muộn. Tập kết vì tưởng mình sẽ đến một nơi như thiên đàng, chứ không phải vì lý tưởng hay bị huyễn hoặc bởi cái chủ nghĩa hứa hẹn không còn cảnh người bóc lột người! Em chỉ tha thiết một điều: Chiến tranh sớm chấm dứt, hòa bình mau trở lại để em được quay về xóm làng xưa. Em tình nguyện xung phong đi chiến trường B (tức là xuôi Nam ) với hy vọng nhìn lại Bố Mẹ già và đàn em dại. Em lên đường như một người tìm về nơi chôn nhau cắt rốn, chứ không phải là kẻ lên đường "làm nghĩa vụ quốc tế" như người ta cổ võ đề cao. Trở về đó, em lại nghe tin đồn phong phanh rằng anh đã trở thành người phi công khu trục của chính quyền Sàigòn. Chao ôi! có lần nào anh say sưa oanh kích mà dưới ấy là chỗ đóng quân của em? Nếu chẳng may bị trúng đạn phòng không, anh nhảy dù xuống và em là người băng bó cho anh, thì không hiểu bọn mình phải xử trí ra sao trong tình huống ấy? May mà điều ấy không bao giờ xảy ra để chúng ta khỏi bị ngỡ ngàng.
Có lần em nhặt được tờ truyền đơn kêu gọi chiêu hồi từ trên phi cơ thả xuống. Em vội dấu kỹ tờ truyền đơn vào lần túi áo trong để chờ dịp thuận tiện là trốn thoát, nhưng cơ hội không bao giờ đến với em cả!

Khi miền Nam được "giải phóng", em nghĩ rằng đây là cơ hội em có thể tìm gặp người bạn tình năm xưa.. Em biết rằng gặp nhau thì đôi ta mỗi đứa ván đã đóng thuyền, không còn hy vọng gì chấp nối, nhưng ít nhất mình cũng còn được thấy nhau sau mấy mùa chinh chiến. Niềm hy vọng ấy vội tan biến khi em biết rằng anh đã ra đi nước ngoài. Tâm tình em xen lẫn hai nỗi buồn, vui: Buồn vì không gặp được anh và vui vì anh không phải rước cảnh tù đày. Anh còn nhớ Loan, em gái của em. Nó kết hôn với Cảnh, một người Thiếu tá trong quân đội Cộng Hòa. Chồng nó bị đưa đi "học tập cải tạo", rồi chết vì lao lực trong rừng thiêng nước độc và vì thiếu dinh dưỡng. Loan nhờ chồng em can thiệp cho Cảnh. Như anh biết đấy. Tuy chồng em là tướng ###### mà cũng đành bó tay bất lực. Từ đó Loan không bao giờ nhìn mặt em nữa. Chị em cật ruột bỗng hóa thành kẻ thù. Nỗi khổ tâm ấy do ai gây ra, mà một mình em phải hứng chịu sự khinh khi của gia đình? Tại sao em phải chịu nhiều điều oan nghiệt thế hở anh Duy?
Năm kia, chú Lâm về Sàigòn, chú ấy kể rất nhiều chuyện về anh. Em vô cùng xúc động vì anh vẫn giữ được trong ký ức hình ảnh và tình cảm trân trọng đối với người bạn gái đầu đời. Vận nước điêu linh, thế hệ chúng mình chẳng may phải hứng chịu nhiều thua thiệt. Thật là vô lý khi hai kẻ yêu nhau trở nên vô tình quay mũi súng bắn vào nhau. Ước mong sao những lớp người thuộc thế hệ mình nhìn rõ chân lý để cùng nhau xây dựng lại xứ sở hoang tàn bởi một thứ chủ nghĩa ngoại lai phi nhân. Mình phải có bổn phận nói rõ cho con cháu nên lấy thương yêu, chứ không phải hận thù, bù đắp những lỗi lầm của người đi trước. Có như thế thì mới hàn gắn được những đổ vỡ lớn lao trong quá khứ.
Đúng bốn mươi năm trước, dưới rặng dừa ở làng quê, anh e ấp trao em lá thư tỏ tình. Anh nao nức chờ đợi hồi âm. Em chưa kịp hồi âm thì không may xảy ra chuyện hiểu lầm. Bốn mươi năm sau, (nhờ đọc được bài văn của anh trên báo), từ phương trời này, một người đàn bà góa bụa và mái tóc đã bắt đầu điểm sương lại ngồi viết thư cho người bạn tình xa cách nửa vòng trái đất để kể lể chuyện đời. Xin cám ơn anh đã cho em một chút nắng trong buổi chiều tàn, "Một Chút Mặt Trời Trong Ly Nước Lạnh!" Đời em truân chiên đã gặp nhiều bất hạnh, nhưng kể từ khi đọc những dòng tâm tư của anh trên trang báo, em cảm thấy được an ủi phần nào. Bây giờ thì em mới biết ở nơi cuối trời xa thẳm kia có một chàng trai Sàigòn thủa nào vẫn còn giữ trong tim hình ảnh và kỹ niệm đằm thắm của người yêu ban đầu.

Thư viết cho anh đã khá dài. Những giọt nước mưa trên mái nhà cũng đã thôi gõ đều đặn xuống tấm tôn. Đêm đã xuống từ lâu.. Cảnh vật yên lặng như tờ, nhưng dường như trong tiềm thức em vẫn nghe tiếng sóng biển rì rào và âm thanh xào xạc của những ngọn lá dừa cọ xát vào nhau. Biết bao giờ hai chúng ta có thể lại cùng nhau dạo chơi hóng gió chiều và nghe sáo diều trên đường làng quê cũ anh nhỉ? Ấy chết! Em lại lẩn thẩn mất rồi! Đừng! Chúng mình không nên gặp lại nhau để anh còn giữ trong trí nhớ hình ảnh con bé Nga mười mấy tuổi, má lún đồng tiền và nụ cười răng khểnh.
Em xin dừng bút. Cầu chúc anh dồi dào sức khỏe và gia đình gặp nhiều sự may mắn, an khang, thịnh vượng. Và xin anh nhớ cho rằng ở nơi xứ sở nghèo khó này vẫn có một người luôn luôn thương nhớ anh.

Thân ái,

Em gái anh, Nga

Tái bút: Để tránh sự kiểm soát của nhà nước, em trao lá thư này cho một sĩ quan sắp sang Mỹ theo diện H.O. và nhờ ông ta gửi đến chú Lâm bằng đường bưu diện. Em hy vọng r&


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Nov 23 2008, 01:56 AM
Gửi vào: #2


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Chuyện 2 Người Đàn Ông

Có hai người đàn ông, cả hai đều bị bệng nặng lắm, cùng nằm chung trong một căn phòng của bệnh viện nọ.
Một người thì được phép ngồi dậy trên giường vào mỗi buổi trưa hằng ngày để được chữa bệnh bằng cách rút nước trong phổi của ông ta, giường của ông này được kê sát cửa sổ duy nhất trong căn phòng.
Người kia thì chỉ nằm dài trên giường suốt ngày đêm. Hai người nói với nhau rất nhiều chuyện hằng ngày: Chuyện vợ con, gia đình, nhà cửa, công việc, cả việc những ngày trong quân đội, họ kể cho nhau nghe về những chuyến du lich đó đây.
Cứ buổi trưa hằng ngày, khi phải ngồi dậy để được chữa trị, công việc rút nước trong phổi có khi hằng giờ, để cho thời gian qua nhanh, ông diễn tả cho người bạn nằm cùng phòng những gì ông có thể thấy được bên ngoài khung cửa sổ.
Kể từ đó người bệnh nằm trên giường suốt ngày bắt đầu sống với khoản thời gian buổi trưa quí báu kia, đó là cái thế giới duy nhất, với cuộc đời bên ngoài và thật sự sống với những sinh hoạt và mầu sắc của thế giới bên ngoài.
Bên ngoài khung cửa sổ là một khu công viên với một cái hồ nhỏ xinh xinh, vịt trời và những con thiên nga tung tăngbơi lội trong hồ, trẻ con chơi trò thả thuyền buồm do chúng chế tạo bằng những kiểu mẫu được bày bán trong các cửa hiệu đồ chơi. Những đôi tình nhân tay trong tay giữa vườn hoa đầy mầu sắc của muôn hoa đua nở và xa xa là thành phố nhộn nhịp.
Người đàn ông phải nằm suốt ngày trên giường chỉ cần nhắm mắt lại là có thể tưởng tượng ra mọi cảnh sắc do sự diễn tả tỉ mỉ của ông bạn kia ngồi bên cửa sổ.
Một buổi trưa ông ngồi bên cửa sổ tả lại một cuộc diễn hành vừa mới đi qua, mặc dù người đàn ông nằm trên giường không được nghe tiếng của ban nhạc diễn hành nhưng ông vẩn có thể trông thấy trong trí tưởng trong khi nằm nghe người kia kể lại câu chuyện thật rõ ràng
Ngày tháng qua nhanh, vào một buổi sáng khi người y tá mang nước vào phòng tắm rửa cho bệnh nhân và khám phá ra người nằm trên giường bên cửa sổ đã qua đời trong giấc ngủ bình yên đêm qua, bà buồn bã cho người trong bệnh viện mang thi hài của ông ra đi.
Còn lại người đàn ông nằm suốt ngày trên giường chụp lấy cơ hội để xin chuyển giường sang nằm kế bên cửa sổ, người y tá chấp thuận ngay và chuyển ông sang nằm cho gần cửa sổ sau đó rời khỏi phòng trả lại sự yên lăng cho người bệnh nhân.
Lúc này, trong một cố gắng phi thường, chấp nhận mọi sự đau đớn của thể xác, ông ta đã chống khuỷu tay cố rướng người nhìn qua khung cửa sổ để nhìn ra cuộc đời thật sự bên ngoài lần đầu tiên từ ngày ông vào đây. Ông cố gắng chậm rãi nhìn ra bên ngoài khung cửa sổ bên cạnh giường của ông.
Ô kìa! Đầy kinh ngạc, bên ngoài chỉ là một bức tường trống trơn! Lần sau khi người y tá đến ông ngạc nhiên hỏi "Làm sao ông bạn kia đã kể lại một cách tỉ mĩ những điều kỳ diệu ở bên ngoài chiếc cửa sổ này?"
Người y tá đã kể lại rằng người bệnh kia là một người mù và còn không thể thấy được cả bức tường trống vắng ngoài kia và kết luận:"Có thể ông ta chỉ muốn giúp cho ông thêm can đảm".
Người ta có thể quên mình để đem lại cho người khác những niềm hạnh phúc vô biên.
Chia xẻ một nỗi khổ chỉ chia được một nửa của sự buồn rầu, nhưng đem lại hạnh phúc cho người là một điều sung sướng mênh mông.
Nếu bạn muốn cảm thấy bạn giàu có, chỉ cần đếm những gì bạn không thể dùng tiền để mua được.
Cuộc đời là hiện tại như trong ngôn ngữ có câu:
"TODAY IS A GIFT, that is why it is called PRESENT"



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Dec 4 2008, 06:09 AM
Gửi vào: #3


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những Con Dốc Đứng


LTS: Mỗi năm, vào cuối tháng 11 dương lịch, dân chúng Hoa Kỳ lại ăn mừng Lễ Tạ Ơn – Thanksgiving - để tạ ơn Thượng Ðế đã quan phòng, cho mọi người dược an vui hạnh phúc.
Tục lệ này bắt đầu từ thế kỷ 16 khi những người từ châu Âu di dân sang Hoa kỳ trên con tầu Mayflower, dù gặp nhiều bão táp sóng gió và mất mát, cuối cùng họ đã đến nơi họ đã ăn mừng lễ này cùng với những người da Dỏ, thổ dân tại Plymouth, Hoa kỳ.

Lấy mốc từ những lễ Thanksgiving, bằng lời văn dí dỏm, trong sáng đầy duyên dáng, ý nhị, Nhà Văn Xuân Vũ Trần Ðình Ngọc sẽ đưa chúng ta đến thành phố nổi tiếng của Hoa kỳ: San Francisco với những cơn nóng kinh khủng mùa hè, những con dốc đứng và một mối tình thật thơ mộng như cây cầu Golden Gate và những thắng cảnh tuyệt vời của San Francisco

Nào mời quý bạn cùng tác giả vào chuyện! Bảo đảm thật 100%.

**************

Do một sự đẩy đưa tình cờ, thế mà bây giờ tôi đang sống ở cái thành phố xưa nay trên báo chí Việt Nam người ta vẫn gọi nó với cái tên rất cổ kính là Cựu Kim Sơn.
Vâng, Cựu Kim Sơn, hay gọi nguyên văn tiếng Mỹ là San Francisco, thuộc tiểu bang California, thành phố đã có từ vài trăm năm trước khi tôi nhìn thấy nó.

Vừa từ Việt Nam qua, tôi đi chui, ở Song Kla ít lâu rồi được đưa ngay đến đây, coi như nơi định cư đầu tiên,tôi không thích San Francisco cũng không được, bởi tôi đã biết một thành phố Mỹ nào khác đâu?
Vả lại, San Francisco cũng có những điểm dễ thương của nó ngoại trừ những con dốc gần như đứng thẳng mà leo lên được tới đỉnh, lần nào tôi cũng phải đứng nghỉ để thở dốc - chữ nghĩa ông bà mình dùng quá hợp - ít nhất là mươi, mười lăm phút ấy là không kể nghỉ dợm ở giữa dốc dăm, ba phút để lấy sức lên tiếp.

Nhưng dốc đứng thẳng và có quá nhiều dốc cũng như những cơn nóng kinh khủng mùa hè chưa phải là cái tệ nhất của San Francisco. Còn một thứ nữa có phần tệ hơn. Ðó là đất hẹp, người đông. Quá đông! Tôi chưa đọc bản thống kê về mật độ dân số ở San Francisco, nhưng cứ ra đường nhìn người ta đi bộ lũ lượt - dĩ nhiên có dân du lịch từ các nơi khác tới ngoạn cảnh - và cứ nhìn những cao ốc chọc trời san sát, những khu thương mại chen chúc, những khu hộp quẹt dành để ở... người ta tận dụng từng phân vuông đất là biết San Francisco đất hiếm và quí như thế nào!

Từ chỗ nhà đất hiếm quí đó, giá thuê nhà cũng leo thang lên tới một mức đắt đỏ hơn tất cả mọi thứ phải tiêu xài ở San Francisco, kể cả một chiếc xe cũ còn khả năng leo dốc.

Ấy vậy mà tôi vẫn có một chỗ ở đàng hoàng ở San Francisco, rộng rãi là khác. Số là - đúng là cái số - ông anh họ tôi vốn không lấy vợ bao giờ dù ông đã lớn tuổi. Sang Mỹ từ năm 1975, lập nghiệp ở San Francisco, sau hơn chục năm làm ăn chí thú và buôn bán gặp thời, ông đã tậu được một căn nhà nhỏ hai phòng ngủ, tuy cũ kĩ nhưng sơn sửa lại trông cũng còn đẹp mắt. Nhà ở ngay phía sau công viên toàn cây cổ thụ, đi bộ khoảng 5 phút là tới Young Museum, nuôi đủ mọi thứ cá, hấp dẫn rất đông đảo du khách mỗi ngày.

Ông Tú - tên ông anh họ - không muốn cho mướn vì ông sợ người mướn cho đông người vào ở rồi phá hư nhà ông. Có thể nhiều nơi khác không có cái nạn đó nhưng ở San Francisco này, chủ nhà phải coi chừng vì chuyện đó đã thường xẩy ra.

Bởi thế ông Tú giao nhà cho tôi và đi Pháp sau khi tôi đến San Francisco vỏn vẹn được hơn một tháng. Ông sang đó - theo ông nói - để nhờ một ông bác sĩ già người Pháp chữa bệnh mà ông đã đeo đuổi ông thầy thuốc này từ hồi còn ở Sàigòn. Ngoài ra chuyến đi cũng giúp ông giải quyết một vài thương vụ làm ăn từ trước kia mà ông cần có mặt.

Có thể nói ông Tú khá giả. Ông không từng khoe với tôi nhưng bạn bè quen cho hay thương vụ mà ông có ở Paris là số cổ phần của một nửa nhà thuốc tây khá lớn ở quận 8, ông đã bỏ tiền mua chung với người chị họ từ 5 năm nay và phần lời chia cho ông mỗi ba tháng tính sổ cũng là một số tiền kha khá, sau khi đã trừ hết mọi phí khoản về nhân viên và điện nước. Nhà thuốc tây mua đứt, cũng như cái nhà ông cho tôi ở nhờ, ông đã trả hết nợ, nên mỗi tháng không còn phải lo đến cái vụ trả tiền nhà băng. Thật khoẻ vô cùng. Bởi vậy, vợ con không có, lại tiền nhiều, không biết ăn chơi, ông dùng tiền làm gì bây giờ nên đã tự ý nghỉ hưu, sang Pháp chữa bệnh và đổi gió ở bờ biển Ðịa Trung Hải.

Nhưng dù ông đi dâu, tôi nghĩ ông cũng không tiêu pha bao nhiêu, bởi ngoài ba bữa ăn mỗi ngày và thỉnh thoảng đi xem một phim hay, ông có cơ hội nào để tiêu tiền nữa đâu? Vì thế tiền ông tích lũy vào phải khá, tôi đoán thế chứ quả tình không ai biết đồng tiền của ông mặt ngang mũi dọc thế nào và nó ẩn nấp ở những chỗ nào. Vài người đàn bà sồn sồn vào cái kiểu chồng còn kẹt lại Viêt Nam hoặc chồng đi tù cải tạo không thấy về, sau này còn nói với tôi, ai có nhìn thấy ma quỉ ngày Halloween thì mới thấy đồng bạc của ông Tú. Tôi nghe chỉ cười, ngẫm nghĩ biết đâu mấy bà lại không từng cay cú với ông Tú vì ông quá khôn, không để cho các bà dùng tình cảm và nhan sắc đào cho được cái mỏ vàng đầy nhóc của ông.

Ðã đành chuyện đó chỉ là một cách phỏng đoán, có thể đúng, có thể sai. Nhưng cái chuyện liên quan đến tôi thì không phải phỏng đoán mà nó rõ ràng như ban ngày, như thanh thiên bạch nhật. Có nghĩa là tuy mang tiếng bảo trợ, ông Tú không giúp tôi được một chút gì từ những ngày đầu, ngoài căn nhà ông để cho tôi ở và trông coi giùm ông.

Chỉ sau hơn một tuần đến San Francisco, một buổi sáng mây xám giăng đầy trời, gió hun hút trên cầu Golden Gate, ông Tú bảo tôi đi kiếm việc mà sống. Phần ông, ông chỉ giúp cho tôi chỗ ở và như thế đã là may mắn cho tôi lắm rồi.

Vì không lạ gì tính nết ông anh yêu quí, tôi chẳng ngạc nhiên khi nghe ông nói, trong bụng cũng thầm đồng ý, tôi có cái may không phải lo trả tiền phòng mỗi tháng, nhất là tại một nơi nhà cửa đắt như vàng thế này.

Tôi đã ngoan ngoãn nghe ông và ngay chiều hôm đó đi mua tờ nhật báo địa phương bằng số tiền lẻ rất nhỏ nhoi còn nằm trong đáy túi, mở lớn mắt dò tìm trên những trang chủ nhân đăng rao vặt kiếm người làm.

Tôi leo lên xe bus thành phố đi nộp đơn nơi này nơi kia bở hơi tai, viết đơn lia lịa, gặp ai có thể hỏi được việc làm cũng hỏi mà sau cả tuần, chẳng ma nào cho tôi cái job.

Công bình mà nói, có lẽ một phần cũng tại tôi. Lúc đó nào tôi nói tiếng Anh đã khá đâu, dù đọc và viết tưong đối trơn tru vì ngày xưa tôi đã từng dạy Anh ngữ tại các trường Trung Học Sàigòn. Thiếu thực hành nói và nghe Anh ngữ, quả thực dù vốn liếng có chứa đầy trong bụng cũng chịu thua. Lúc phỏng vấn có người Mỹ nào chịu bút đàm với mình đâu!

Ðang lúc buồn phiền và băn khoăn vì không có job như thế, mà có lẽ ông Tú còn buồn phiền hơn tôi vì ông chỉ mong tôi có được cái job yên ổn đi làm kiếm cơm và coi nhà cho ông để ông đi Tây sớm sủa, thì một phép lạ đã xẩy ra với tôi.

Tòa Thị trưởng thành phố Cựu Kim Sơn gọi tôi đến trình diện để đi làm cho sở phân phối nước. Tôi cầm lá thư báo mà khấp khởi mừng như bắt được vàng. Nghĩ thầm, thôi được, kể từ nay anh có thể đi Tây bất cứ giờ nào, ngày nào và tôi chẳng còn là gánh nặng cho anh nữa.

Dĩ nhiên ông Tú mừng hơn tôi bội phần vì những sắp xếp đã xảy ra đúng như ý ông. Nghe tôi báo tin, ông lật đật kiếm số điện thoại hãng American Airline, thông báo ngày đi. Ông vốn thích mua loại “stand by” cho đỡ tiền.

Nhưng nỗi mừng của tôi không trọn vẹn, đúng ra, tôi chỉ nên mừng một nửa. Thành phố chỉ cho tôi cái part time, 25 giờ mỗi tuần, có nhận thì nhận. Và dĩ nhiên, tôi phải nhận. Người Mỹ đã chẳng thường nói:”A little is better than nothing” sao?.

Tháng 100 giờ với lương $7.00/giờ lúc đó, tôi tự an ủi thôi sống cũng được đi, từ từ tính sau và thứ hai sau đó tôi bắt đầu leo lên xe bus đi làm, còn ông Tú thì leo lên máy bay đi Paris, sau khi đã gửi kĩ cái xe Mercedes khá mới của ông vào một nơi an toàn.

Công việc của tôi không có gì khó khăn. Tôi chỉ phải coi lại những hóa đơn tiêu thụ nước của cư dân Cựu Kim sơn xem họ có dùng quá số lượng nước được thành phố ấn định cho họ không vì thành phố này rất hiếm nước. Nếu có, tôi phải gửi giấy cảnh cáo và nếu là lần tái phạm thì tôi phải “bill” phạt, tùy theo số lượng nước dùng quá tiêu chuẩn nhiều hay ít.

Công việc này mới nghe có vẻ ngon xơi. Ngày đầu tiên khi gặp bà xếp Mỹ giao việc, tôi cứ mừng thầm có số may, mới chân ướt chân ráo tới Cựu Kim Sơn đã chớp ngay được một cái job, dù chẳng hiển hách gì nhưng đỡ phải lao động chân tay và dầm mưa dãi nắng.

Nào ngờ công việc càng ngày càng bận bịu, nhất là làm việc với những con số, không phải là sở thích của tôi. Sau ba tháng, tôi muốn đi kiếm một công việc khác, nhưng dù sao cũng phải chờ thời, không thể bỏ việc một cách ngang xương, trong khi tôi cần một cái xe làm chân, một cái xe còn khả năng leo dốc, mấy con dốc dựng đứng. Tôi vẫn leo lên xe bus đi làm mỗi ngày và buổi chiều trước khi về nhà, thế nào tôi cũng ngồi ở băng đá trước mặt công viên Young Museum để ngắm trời, ngắm đất, ngắm mấy con vịt bơi lội dưới hồ gần đó và những cây cổ thụ cả mấy người ôm trước khi về nhà ăn bữa cơm tối.

Ngày nào đến đó tôi cũng thấy một anh nhạc sĩ Mỹ với cây đàn accordeon trên tay, đang ráng sức chơi những bản nhạc đủ loại như Rock and Roll, Jazz, Pop, Country...liên tục hết bản này đến bản khác. Trước mặt anh là một cái hộp giấy trong có ít tiền cắc và mấy đô-la giấy lổn nhổn.

Người anh chàng cao, gầy, nước da trắng nhưng hơi tái, hàm râu quai nón, cặp kính cận dầy nhìn thẳng vào thấy quầng không, có lẽ anh bị cận hơi nặng tuy đôi mắt linh hoạt và có vẻ trí thức. Tóc mầu hạt dẻ, lúc nào tôi cũng thấy anh để lòa xòa trước trán và bồng bềnh trong gió có vẻ rất nghệ sĩ.

Tứ thời bát tiết, tôi thấy anh chỉ có vài bộ đồ thay đổi, luôn luôn trên người là cái áo sơ-mi ca-rô dài tay, ba bốn mầu xanh đỏ tím vàng lộn xộn, bỏ trong cái quần dài nâu đã nhạt mầu và dưới chân là đôi giầy tennis trắng, nửa mạc, có vết sờn để lộ ra ngay trên khoảng mu bàn chân. Cách chỗ anh đứng khoảng hơn một thước tây là cái ba-lô kiểu backpack của sinh viên Ðại học, tôi đoán anh dùng để đựng các đồ lặt vặt.

Nhìn anh đứng chơi đàn suốt, bản nọ nối bản kia, lâu lâu mới có vài người khách du lịch đi qua - họ vào coi cá và các thứ bảo vật tàng trữ trong Viện Bảo tàng Young Museum - bỏ vào cái hộp giấy mấy đồng tiền cắc hoặc tờ 1 đô-la, tôi nhủ thầm công việc tôi đang làm có lẽ khấm khá hơn cái job đứng xin tiền của anh một tí. Không biết từ sáng nghĩa là từ lúc anh đến đây cho đến lúc tôi có mặt, số thu nhập của anh có khá không chứ từ lúc tôi đến cho đến lúc trời ngả muộn muộn tôi về, coi bộ anh kiếm chẳng được bao nhiêu. Tôi phỏng đoán điều đó bằng cách quan sát số người dừng lại trước cái hộp giấy cũng như số người thưa thớt vào coi cá sau 4 giờ chiều.(tinvui.org Văn học)

Sau mấy ngày ngồi nhìn anh chơi đàn, tôi quen anh vì một bữa anh bỏ đàn xuống bãi cỏ nghỉ và lại tôi xin mồi điếu thuốc. Kể từ đó, chúng tôi quen nhau. Anh tự xưng là Jake, vô gia cư, hiện tại không có nghề gí ngoài việc chơi đàn ở công viên này kiếm sống. Khi biết tôi là người Việt, Jake thân mật bảo tôi:

“Anh có thể tưởng tượng tôi đã là G.I. sang Việt Nam chiến đấu hơn 3 năm mới về không? Tôi đã đi khắp nơi: Chu Lai, Ðà nẵng, đèo Hải Vân, Huế, Quảng trị vv...nhiều địa danh mà tới nay tôi quên tên hoặc nhớ mặt chữ mà không phát âm được, tôi đã ăn nhiều món ăn Việt tại các quán ăn ở các thành phố cũng có, mà do anh em binh sĩ Việt Nam tiểu đoàn 3, rồi tiểu đoàn 1... những tiểu doàn tôi đã đến phục vụ cùng với đoàn cố vấn Mỹ, khi có lễ Tết hay ăn mừng chiến thắng vv...Anh em binh sĩ đã tổ chức những “party” rất xôm tụ làm tôi còn nhớ đến bây giờ.”

“Anh sang Việt Nam năm nào, Jake?” Tôi hơi tò mò.

Anh trầm ngâm và yên lặng mấy giây, rít một hơi thuốc: “Tháng 3 năm 1967. Tết Mậu Thân 1968, ###### tấn công Huế thì tôi đang ở đó. Cuối năm 1970 tôi bị thương được trở về Mỹ điều trị, sau đó người ta không cho tôi đi nữa.”

“Nếu Chính phủ cho trở lại Việt Nam chiến đấu, anh có trở lại không?”

Jake bày tỏ hết nhiệt tình mà tôi nghĩ là thành thực: “Sao không! Tôi còn một đám bạn bè bên đó. Tôi cũng còn một người đàn bà Việt rất thương tôi cũng còn bên đó. Tên nàng là Ly. Ly Nguyễn. Nàng ở Ðà nẵng . Nàng theo tôi vào Sàigòn săn sóc cho tôi hai tuần nhưng đến khi Bộ chỉ huy quyết định đua tôi về Hoa kỳ chữa thương tật thì chúng tôi xa nhau.

Ly không có giấy tờ cần thiết để theo tôi mà thủ tục điều tra để có giấy phép làm hôn thú cũng như nhập cảnh Hoa kỳ đòi hỏi một thời gian mấy tháng.

Chúng tôi đành gạt nước mắt xa nhau. Nàng đưa tôi ra phi trường Tân Sơn Nhất và khóc như mưa như gió. Tôi hứa với Ly sau khi chữa lành chân sẽ trở qua nhưng rồi quyết định đó nằm ngoài tầm tay của tôi.”

Jake ngồi cạnh tôi, tròng kiếng cận nhìn vào một khoảng trời xa ở cuối công viên nơi những vạt nắng cuối cùng một ngày còn đang đậu chơi vơi trên những ngọn cây sồi cành lá sum suê. Những con sẻ ríu rít bay vào tụ tập trong một lùm cây rậm rạp. Những con vịt ở dưới hồ đã lên bờ đứng rỉa lông cho nhau đợi tối. Một cơn gió hây hẩy từ xa lạc tới làm tôi cảm thấy thoải mái hơn lúc mới tới. Những ngày quá nóng, công viên này ngột ngạt nhiều khi không thở nổi. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn cứ vào đây sau giờ làm việc để nghe Jake đàn và nói chuyện phiếm với anh ta. Hôm nay tôi định ngồi cho đến lúc Jake ra về tôi mới về.

“Anh biết không?” Jake thở phào một cụm khói ra trước mặt, “Tôi đứt liên lạc với Ly từ dạo đó, mặc dầu tôi đã nhờ bạn bè còn ở lại Việt Nam tìm giùm. Tôi nhớ nàng muốn điên và tôi nghĩ nàng cũng nhớ tôi. Ðây, anh coi tấm hình của nàng.”
Jake móc cái ví dầy cộm ở túi quần sau, lật lật xong chìa cho tôi một tấm hình đen trắng đã cũ, hơi ố vàng. Người con gái Việt Nam trong hình khá xinh với nụ cười tươi, mái tóc dài nữ sinh thả xuống ngang lưng, bộ quần áo trắng dài nổi bật trên khung trời xám, dòng sông Hương dưới dạ cầu Tràng Tiền nàng đứng êm đềm không một gợn sóng. Chiếc nón bài thơ nàng cầm che hờ trên đầu lấp lánh ánh sáng phản chiếu từ những mảnh nón lá mới trắng nõn. Tấm hình thứ hai chụp bán thân Jake và nàng. Jake đội mũ chào mào và mặc bộ quân phục loại dạ xanh có đeo lon Trung Úy, đeo huy chương và giây danh dự. Trông Jake trong hình không ai nhận ra Jake hôm nay. Nếp sống lang thang vô định của một nghệ sĩ, cựu binh sĩ thất thế đã dũa mòn những nét tươi vui, khoẻ mạnh, yêu đời của một Jake trẻ trung khi còn ở Việt Nam.

“Một người bạn sau khi dò tìm cả năm đã viết thư cho tôi” Jake tiếp lời. “Có lẽ nàng đã chết trong một tai nạn ###### giật mìn trên con đường Huế - Ðà nẵng. Người bạn tôi thu lượm tin này khi anh tìm đến một người thân thuộc của nàng ở Ðà nẵng. Vì ngôn ngữ bất đồng, anh bạn tôi hiểu được đến thế, không biết hư thực ra sao, nhưng dù nàng đã chết hay còn sống, đối với tôi cũng là chẳng bao giờ còn gặp lại nàng nữa...”

Mặt Jake đượm buồn. Anh lại châm một điếu thuốc khác, rít một hơi dài. Sau khi thở khói ra, anh vẫn nhìn mãi vào khoảng không trước mặt, đăm chiêu, mơ tưởng.

Mặt trời đã khuất hẳn phía trời Tây. Tôi kiếu từ Jake thủng thỉnh bước một về nhà. Jake cũng chào tôi và đeo đàn, đeo ba-lô lên vai đi xuôi theo con đường nhỏ trong công viên ra phía lộ.

Từ dó, tôi trở nên thân thiết với Jake. Tôi nghe Jake đàn mỗi buổi chiều và trước khi về, bao giờ chúng tôi cũng để khoảng nửa giờ ngồi châm thuốc lá chuyện gẫu trước khi ai về nhà nấy mặc dầu Jake chẳng biết tôi ở đâu và ngược lại tôi cũng chẳng được Jake cho biết Jake ở đâu.

Có lần câu chuyện đi hơi xa trở về ngày 30-4-1975, Jake bảo tôi:

“Lẽ ra chúng ta không thua trong cuộc chiến tranh ý thức hệ tại miền Nam Việt Nam. Chúng ta có đủ vũ khí, đạn dược, quân sĩ đông đảo và dũng cảm. Chúng ta có ý thức Dân chủ, Tự Do, Hòa bình, No ấm cho dân chúng miền Nam, làm sao chúng ta thua được?

Chúng ta thua chính vì thái độ lưng chừng, nửa đánh nửa thôi, nửa nạc nửa mỡ của Chính phủ Hoa kỳ, vì báo chí Mỹ ngu đần, phản chiến (Jake dùng chữ stupid và anti-war) và vì một số chính trị gia kém cỏi, chủ hòa, vô ý thức. Như anh thấy đó, 58,000 binh sĩ Mỹ đã nằm xuống vô ích, lại còn bao nhiêu ngàn binh sĩ Ðồng Minh. Còn người Việt các anh thì...không còn sức để đếm nữa!”

Tôi giả bộ không biết, hỏi Jake: “Những điều này anh nghe được ở đâu?”
“Ở đâu? Ở báo chí, truyền thanh, truyền hình, ở cửa miệng mọi người nhất là bọn thương phế binh tụi tôi. Ðây, anh hãy coi cái chân tôi!”

Jake vén ống quần bên phải lên đến đầu gối để tôi nhìn thấy một khúc chân gỗ đen đúa, vô tri giác. Jake nói tiếp:

“Số thương phế binh như tôi do cuộc chiến đau khổ đó không ít ỏi gì. Cả trăm ngàn. Chúng tôi cố sống nốt chuỗi ngày thừa nhưng một lần nhớ lại dĩ vãng là một lần đau.”

Tôi liệng mẩu thuốc ra xa, đầu nóng phừng phừng: “Dù sao các anh còn khá hơn những người lính Việt nam Cộng hòa chúng tôi. Cuộc chiến đã tàn nhưng nỗi đau vẫn còn y, nhất là dân nước tôi thì càng ngày càng sa lầy trong cuộc sống thiếu hẳn Tự Do, Dân chủ, Ấm No... Ðó là một cuộc tàn sát tập thể khởi đầu từ Chính phủ Hoa kỳ, một Ðồng minh tin cậy của chúng tôi...”

Tôi không nhìn được khuôn mặt tôi lúc đó nhưng mặt Jake đanh lại. Anh bậm môi không trả lời. Tôi nghĩ nỗi đau xót trong anh không nhỏ mặc dầu cuộc chiến anh đã đổ máu và bỏ lại một phần thân thể ở Việt Nam là một cuộc chiến bảo vệ Tự Do, Dân chủ cho đất nước tôi, cách quê hương anh nửa quả địa cầu.

o0o

Một trường hợp khá hi hữu đã xẩy ra cho tôi và Mai Lê.

Bữa đó thứ bảy, tôi ra khu bến tầu Cựu Kim Sơn dạo chơi vì ở nhà buồn quá.
Mấy tháng trời từ ngày tới đây toàn đi kiếm việc rồi đi làm, tôi không còn biết trời trăng mây nước gì hết.

Phố Tàu là chỗ đông người Á Ðông, tôi cũng không đến vì nhiều lí do. Tiền bạc không sẵn, làm sao tôi dám léo hánh đến những chốn ăn chơi đó mà có người bảo đủ hết tam, tứ khoái. Tôi cũng chẳng có một người bạn Việt để la cà, còn đi một mình thì chán chết. Trong các món quà sáng, quà rong, tôi chỉ thích phở. Sau này người Việt đến đông mới có tiệm phở, còn lúc đó, chỗ nào cũng chỉ mì, hoành thánh, sủi cảo...Không lẽ vác xác lên đó chỉ để ăn tô mì hoành thánh rồi về?

Người Tàu sống chen chúc ở Cựu Kim Sơn từ vài trăm năm nay. Họ mọc rễ vào Cựu Kim Sơn, coi nó như một thứ đất hương hỏa. Họ tổ chức những ngày lễ tết của họ y như ở Ðài loan, Hồng Kông hoặc lục địa Trung hoa. Có những người Tàu ở đó mà chẳng hề biết tiếng Anh vì họ chỉ giao dịch buôn bán với người của họ. Họ vẫn sống mạnh, làm giầu và bảo tồn văn hóa của họ một cách đáng nể phục khiến người Mỹ cũng phải thừa nhận thực trạng.

Khu họ sống thường chen chúc và nhiều khi người bàng quan không nghĩ rằng đó là một chỗ ở cho một gia đình năm, bảy người. Ở Hồng Kông, người Tàu ngủ giường tầng. Ở Cựu Kim Sơn, họ cũng ngủ giường tầng. Hai tầng, ba tầng là thường. Có những căn phòng, như ở nơi khác chỉ dành cho hai vợ chồng nhưng ở đây, họ nhét đến năm, sáu người vào. Vậy mà vẫn xong, vẫn không có vấn đề. Người Tàu ở đây triệt để thực hành câu ngạn ngữ Việt:” Ăn tốn kém nhiều, ở đâu có bao nhiêu” nhưng của cải tích lũy thì họ phải đứng vào hàng nhất nhì thế giới vì cái tính cần kiệm, ngang ngửa với dân Do Thái và dân Ái nhĩ Lan.

Một hàng bán hoa mầu sắc sặc sỡ xinh tươi ở bến tầu buổi sáng đó đã làm tôi chú ý từ xa vì tôi vốn yêu hoa. Những cái thùng tôle tròn cắm cả chục bó hoa hồng, cẩm chướng, hoàng cúc, thược dược...tươi thắm, để la liệt trên kệ hoặc dưới đất.
Những chậu dây trầu bà, tóc tiên xanh ngắt treo lủng lẳng ngang tầm mắt và hàng chục thứ hoa và cây cỏ khác xanh mướt điểm hồng, trắng, tím, vàng làm tôi phải đến gần để ngắm cho đã con mắt. Tôi tự nhủ chắc chỉ ngắm chứ không mua. Ðang đi dạo chơi chưa biết lúc nào về mà cầm một bó hoa tươi đẹp như thế kia giữa trời nắng chang chang thì tội cho hoa quá!

Cô hàng hoa đang cắt cắt, nhặt nhặt những cọng hoa; tôi chỉ nhìn thấy cô ở phía sau lưng. Mớ tóc đen mượt mà thả dài xuống ngang vai, tấm thân nhỏ nhắn, thon thả, đôi cánh tay giơ lên giơ xuống trắng mát làm tôi thoáng nghĩ đến các cô nữ sinh xinh xắn lớp 11 và 12 ở Nguyễn bá Tòng, Đồng Tiến, Lê bảo Tịnh... khi xưa tôi dạy.

Khi cô hàng hoa biết có tôi đang ngắm hoa, cô quay lại và chào mời theo thông lệ với một nụ cười thật tươi mà tôi nghĩ khó có ai từ chối nổi:

“You buy some flowers?”

Tôi nhìn kĩ cô và cô cũng quan sát tôi. Rồi cô la lên: “Are you Vietnamese? Phải anh Vũ không?”

“Phải. Tôi Vũ đây. Cô là... Mai Lê phải không?”

Chúng tôi trân trối nhìn nhau và quá xúc động vì mừng. Mai Lê không cần giữ ý, nàng nắm lấy hai tay tôi: “Trời ơi! Làm sao trời xui đất khiến em lại gặp anh ở đây? Anh tới San Fran lâu chưa anh Vũ?”

Tôi để nguyên tay tôi trong tay Mai, đôi bàn tay và giọng nói run rẩy vì cảm động: “Mới bốn tháng. Còn Mai?”

“Em ở đây hơn năm rồi. Em từ Nebraska về đây với cháu gái, chỉ có hai mẹ con. Thành phố Omaha, Nebraska lạnh quá em ở không nổi. Thế vợ con anh đâu”

Tôi rút hai bàn tay ra khỏi tay Mai: “Vợ con gì đâu, vẫn độc thân tại chỗ thôi.”

Mai tròn mắt, bĩu môi: “Thiệt hôn? Tuổi này mà anh chưa lấy vợ?”

“Thiệt. Từ dạo em bỏ anh em đi lấy chồng, anh tu luôn.”

“Hứ, tu hú ấy. Anh mà tu được, em nằm cho cả cái San Fran này đánh bằng chổi chà. Nếu anh nói anh có quá nhiều cô không biết lựa ai thì em tin được.”

“Thôi tạm bỏ chuyện đó. Bây giờ em ở đâu? Chồng em đâu? Em vẫn đẹp và mí-nhon như ngày xưa!”


Mai Lê lấy mảnh giấy viết số phone và địa chỉ cho tôi, không quên mời tôi đến nhà chơi vào ngày mai: “Cám ơn anh. Ba Hồng Vân còn ở tù cải tạo chưa về. Hai mẹ con em đóng vàng cho chủ tầu vượt biên, 1979 đã tới Mỹ. Em ở Nebraska 2 năm và về đây từ tháng 3-1982.”

Có một bà Mỹ vào mua hoa, câu chuyện bị cắt ngang. Khi bà Mỹ cầm bó hoa đi rồi, Mai bảo tôi:

“Thường em bán cả ngày chủ nhật vì có khách du lịch đi chơi đông, nhưng để mừng gặp lại anh, em nghỉ ngày mai làm cơm mời anh đến chơi với mẹ con em. Anh còn thích món bún chả Hànội như ngày xưa không? Tối về em ghé chợ Việt Nam mua thịt về ướp một đêm, mai nướng gia vị mới thấm, mới ngon. Hình như anh thích có rau muống chẻ với rau kinh giới, phải không?”

Tôi không ngờ đã hơn chục năm, kể từ ngày hai đứa mài đũng quần trên ghế trường Trung học, tới giờ này Mai vẫn còn trẻ đẹp như xưa, duyên dáng hơn xưa, còn nhớ những chi tiết rất nhỏ về sở thích ăn uống của tôi. Cảm động, tôi cười xòa bảo Mai:

“Mai em cứ đi bán kẻo mất một ngày đông khách. Ðã gặp lại nhau còn thiếu gì ngày. Anh thích tự nhiên, không thích phiền. Hồng Vân mấy tuổi rồi?”

“Cháu 10 tuổi, nó ngoan lắm, học cũng giỏi nữa. Anh gặp là anh thương nó. Chắc chắn mai anh lại nhé!”

“Nhất định mai nghỉ bán sao?”

“Nhất định. Làm mãi cũng thế thôi. Từ sau ngày 30-4, em chẳng thiết sự gì. Sống cho qua ngày vậy thôi...”

“Chắc tại mối tình dang dở...?”

Mai cười nửa miệng, chua chát: “Nếu đuợc vậy đã quí, có tình có ái gì đâu mà dang dở với chẳng dở dang. Gặp em là anh cứ ngạo em không hà!”

“Ừ, thì không phải vậy. Chiều mai anh sẽ tới.”

“Sớm sớm nha anh! Mình còn nhiều chuyện để nói. À anh, khu em nhà cửa chi chít mà căn apartment của em lại lọt vào phía sau nên hơi khó kiếm. Nếu có phải hỏi thăm, anh phải hỏi Mai Lê, chứ Mai “không” người ta không biết lại chỉ tới hai con Mai kia là Mai Trần và Mai Ðỗ. Chúng bắt cóc anh của em thì khổ...”

Tôi cười xòa, nói ghẹo Mai: “Thì cứ để cho họ bắt cóc. Mai nào chẳng là Mai, càng vui chứ sao!”
Mai lườm tôi một cái muốn nghiêng cả bến tầu San Fran. Tôi giữ nụ cười thoải mái trên môi, lững thững bỏ đi, hòa nhập với dòng người lũ lượt. Người đông quá là đông. Tôi ngoái lại, Mai Lê còn đứng nhìn tôi cho đến lúc tôi lẫn vào đám đông.

Vừa đi tôi vừa nhớ lại ngày tôi 18 và Mai Lê mới 16 tuổi. Chúng tôi học chung một trường nhưng khác lớp. Nhà cùng một khu nên thường đi về có nhau, lúc đi bộ, lúc hai cái xe đạp song song. Năm 20 tuổi, tôi cảm thấy yêu Mai thắm thiết và ngỏ lời với Mai bằng những cái nắm tay thật chặt, rồi những nụ hôn cháy môi. Mai Lê cũng yêu tôi và đã có những lần chúng tôi hẹn hò đi chơi xa. Nhưng ông bố Mai không ưa tôi và cũng không ưa bố mẹ tôi. Khi ông biết chúng tôi yêu nhau, ông tìm cách phá. Ông tìm đến một người đàn bà có tiếng nhiều lời trong phố để nhờ bà ta ngỏ lời với một gia đình có con trai lớn, nói nếu họ đồng ý thì bà ta sẽ làm mai Mai Lê cho. Người con trai đó là Xướng, ba con bé Hồng Vân bây giờ. Mai Lê đau khổ vì bị ép gả nhưng nàng không làm gì được. Nàng tìm cách gặp tôi mấy lần mà lần nào cũng khóc đỏ con mắt. Nàng giục tôi nói với bố mẹ tôi đem cơi trầu sang nói, nàng sẽ nói với bố mẹ nàng ưng thuận ngay.

Nhưng bố tôi không ưa gia đình Mai Lê, đã có lần hai ông bố quặc nhau suýt đánh nhau trong một cuộc họp của khu phố. Tôi không biết ai phải, ai trái nhưng kể từ đó hai gia đình coi như tuyệt giao đến nỗi mẹ Mai Lê và mẹ tôi gặp nhau ngoài đuờng cũng không chào hỏi, nói gì gả con cho nhau.

Hai ngày trước khi làm đám cưới, Mai Lê tìm gặp tôi khóc lóc và rủ tôi trốn đi thật xa để xây tổ ấm. Nàng nói nàng không muốn nhìn cái xã hội xung quanh với những con người ích kỉ chỉ nhìn thấy chính mình và cái lòng độc tôn tàn ác của mình mà không biết đến ai khác, dù ai khác đó là chính đứa con của mình. Tôi thấy Mai Lê có lý nhưng không thể nghe theo lời Mai Lê. Tôi còn một ngàn lí do để gắn bó với gia đình dù tôi yêu Mai tha thiết. Tôi biết bố mẹ tôi sẽ giận tôi ghê gớm nếu tôi bỏ đi với Mai Lê. Lý trí trong tôi vẫn còn mạnh hơn tình cảm và tôi phải nuốt hận nhìn Mai Lê lên xe hoa vào một buổi sáng thứ bảy đẹp trời.

Ngày hôm đó, tôi đi chơi thật xa, cách nhà cũng hơn dăm chục cây số. Tôi tới chị Ngà, anh Hộ - anh rể, chị gái tôi - và mấy đứa cháu. Tôi đòi chị Ngà cho uống rưọu đế nhắm với mấy con khô mực Láng Cát, nướng than thơm tưng thơm lừng. Tôi không biết anh Hộ có say không, riêng tôi, tôi mê mệt từ tối thứ bảy và chỉ tỉnh dậy vào trưa thứ hai sau khi thấy quá nhột ở gan bàn chân. Nhờ thế tôi tỉnh rượu.

Cái muỗng nhôm và chai dầu gió còn để cạnh. Mùi dầu gió phả vào mũi làm tôi dễ chịu. Thì ra chị Ngà cạo gió cho tôi. Vừa cạo chị vừa khóc vì ít phút đầu chị không thấy tôi nhúc nhích mà chỉ còn hơi thở. Gan bàn chân, nơi tập trung cả chùm thần kinh, chị lại hơi nặng tay vì sợ tôi chết, tôi nhột quá giật thót người lên, mở mắt nhìn chị, cái muỗng vẫn trong tay định tiếp tục xăm xoi làm nữa.

“Thôi chị ơi! Nhột muốn chết rồi!”

Chị Ngà cười thật tươi. Bọn trẻ đứng xung quanh cũng cười ầm lên. Sinh khí tươi vui làm tôi quên hết, cứ tưởng mình bị cảm cúm chi đó và chị Ngà đè ra cạo gió.

“Tưởng Vũ làm gan với chị chứ!”

“Chị không cạo gan bàn chân, em còn nằm đến trưa mai!”

Con bé Nga, chín tuổi, hỏi tôi:” “Ðau nhiều thế hả cậu?”

“Nó không đau, nó chỉ nhột. Nga nằm xuống cậu cạo cho là biết liền.”

Nó lè lưỡi: “Cháu không dám đâu cậu.”

Chị Ngà bưng từ bếp lên cho tôi một tô cháo đậu xanh, bắt ăn với đường cho giã rượu. Tôi cười với chị nói tôi có sao đâu, vẫn sống nhăn răng đây thôi, nhưng chị la lối, nói chị đã khóc khi thấy tôi không tỉnh và suýt nữa thì hai anh chị đã thuê xe Lam chở tôi vào bệnh viện.

Kể từ dạo đó, đến bây giờ tôi mới gặp lại Mai Lê. Nàng không khác hồi xưa bao nhiêu, có lẽ đẹp mặn mà hơn như người ta vẫn nói:”Gái một con trông mòn con mắt”. Ngày xưa Mai Lê đơn độc như tôi nhưng bây giờ nàng có bé Hồng Vân. Ba Hồng Vân lúc lấy Mai Lê đã hơn Mai Lê cả chục tuổi.

Tôi đã mua được chiếc xe Grand Am của bà Mỹ cùng sở về hưu, các con các cháu bà không cho bà lái xe đi làm nữa và bắt bà về hưu sau khi đã làm kế-tóan-viên cho Sở kiểm soát nước được 20 năm.

Bà cụ muốn giữ cái xe để đi chợ, đi nhà thờ, đi thăm bạn bè nhưng mấy người con nói bà già rồi không nên lái xe nữa, bảo hiểm cao mà lại nguy hiểm vì phản ứng chậm đi. Có đi đâu họ chở. Thế là tôi thầu được cái xe với giá $1,000.00, còn leo dốc khá vì bà đi rất ít và giữ rất kỹ.

Khu apartment Mai Lê ở khá đông người. Thực ra hầu hết các khu chúng cư ở San Fran này đều thế. Kích cỡ đều nhỏ nhưng được cái riêng biệt. Một phòng ngủ, có tí xíu làm phòng khách kê được cái sofa nhưng không có bàn, cũng có bếp, nhà tắm và nhà vệ sinh nhưng tất cả đều nhỏ gọn. Ðến chỗ đậu xe cũng khốn vì mỗi gia đình chỉ được một chỗ. May người hàng xóm Mai Lê đi chơi xa nên tôi mới có chỗ đậu.

Bé Hồng Vân mới gặp tôi đã mến. Nó thừa hưởng từ mẹ nó đôi mắt đen và hàng mi dài, khuôn mặt thông minh với nước da trắng muốt. Hồng Vân đang phụ mẹ chẻ rau muống. Tôi gọi:

“Hồng Vân, lại đây bác hỏi coi!”

Hồng Vân nhìn mẹ ra ý hỏi. Mai Lê bảo:

“Con lại bác Vũ hỏi con đi!”

Hồng Vân bỏ con dao xuống, nó rụt rè lại gần tôi:

“Con tên gì?”

“Thưa bác, con tên Hồng Vân.”

“Con học lớp mấy?”

“Thưa bác, con học lớp bốn.”

“Con ngoan lắm, Hồng Vân! Ráng học giỏi cho mẹ vui lòng nhé. Thôi con chẻ tiếp rau cho mẹ đi!”


Bữa ăn Mai Lê nói để mừng tôi, chẳng có ai ngoài tôi, Mai Lê và Hồng Vân. Tôi mang theo một chai Courvoisier và 6 chai soda Perrier nhưng Mai Lê không cho tôi uống. Nàng đã mua bia Heineken cho tôi và để trong freezer cho thật lạnh. Lúc tôi đến, Mai mới lấy thịt ra quạt. Nàng đưa cái Hibachi bề mặt chỉ to hơn cuốn tập nhưng có chân cao vài gang tay ra hiên, đặt vỉ thịt lên than hồng và sau vài ba phút, nước mỡ từ vỉ thịt nhỏ xuống xèo xèo, khói um lên. Mùi thịt nướng theo gió bay đi khắp chúng cư ngan ngát hương vị quê hương. Tôi nghĩ những cái mũi ngửi thấy cái mùi đó phải nhẩy nhổm lên, chủ nhân những cái mũi dù không đói cũng phải nuốt nước miếng. Nhưng nếu không đưa ra hiên quạt mà để ở trong nhà thì có lẽ cả Mai Lê, tôi và Hồng Vân chết ngạt với khói.
Thịt xắt mỏng và thịt bằm, chẳng hiểu Mai Lê ướp những gia vị gì nhưng nó ngon lạ, ngon lùng. Lại càng ngon hơn từ khi đến San Fran này, đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức bún thịt nướng.

Cứ một chút bún, vài miếng thịt, một gắp rau muống chẻ, vài cọng kinh giới, vài muỗng nước mắm chua ngọt có ngâm sẵn tỏi, cà rốt bào nhỏ...tôi thong thả thưởng thức món bún chả Hà nội tuyệt vời.

Hồi còn nhỏ, ở Hà nội, thỉnh thoảng mẹ tôi dẫn tôi vào chợ Ðồng Xuân, hai mẹ con ngồi vắt vẻo trên cái băng thấp, ăn bún chả căng bụng mới về. Ngay lúc ấy tôi đã nghĩ, mấy anh Tây, anh Mỹ, anh Ấn độ... làm gì có bún chả mà ăn và cái lợi thứ nhất của tôi sinh làm người Việt Nam là được ăn bún chả Hà nội, sướng ơi là sướng! (nhưng nhiều cái khốn khổ khốn nạn khác lúc đó tôi chưa biết).

Mai Lê bảo tôi: “Nếu em không muốn làm thì có thể lại tiệm Hoàng Xuân mua mấy phần về, nhưng em nghĩ chắc anh không thích bằng chính em làm. Vả lại, vì phải phục vụ cả trăm người một ngày, em chắc họ không cẩn thận bằng em. Mỡ và bột ngọt nhiều là cái chắc rồi. Vì vậy em phải bỏ giờ làm, mất công một tí nhưng ngon và yên trí hơn.”

Hồng Vân ăn rất gọn ghẽ và rất khéo. Nó có cái ý tứ và trưởng thành của một thiếu nữ 18 tuổi từ cách mời chào đến cách gắp và ăn. Thỉnh thoảng Hồng Vân lại nhìn tôi với đôi mắt đầy thiện cảm. Tôi nghĩ Hồng Vân thiếu tình cảm cha con nên thấy tôi được Mai Lê trọng vọng, nó cũng đối xử với tôi như người ruột thịt cha bác trong nhà.

Món ăn ngon, tình người đậm đà. Càng đậm đà hơn khi tôi và Mai Lê biết ở thành phố Cựu Kim Sơn này, người đông đến chen chân mà chúng tôi chẳng có ai hết ngoài chính chúng tôi. Khi phải xa gia đình, xa quê hương, người ta mới cảm hết được nỗi cô đơn vò võ một phương trời và người ta mới thấy quí những người đồng hương, đồng chủng. Mai Lê với tôi và có lẽ cả bé Hồng Vân ở trường hợp khắc khoải đó.

Khoảng 8giờ30 Hồng Vân xin phép vào giường ngủ. Cô bé vẫn quen ngủ sớm và dậy sớm đi học. Mai Lê đã thu dọn xong hết nên chúng tôi ngồi ở salon nói chuyện. Ðể bớt chói mắt cho Hồng Vân, Mai Lê chỉ thắp một ngọn đèn nhỏ có chụp mầu hồng và mở cassette cho tôi nghe vài bản nhạc tiền chiến:

Ai có về bên bến sông Tương
Nhắn người duyên dáng tôi thương, mối tình tôi vẫn cô đơn...
Ới duyên tình từ nay bơ vơ, ước thề từ những năm xưa, cho lòngthầm trách người mơ...


Tôi để lòng mình trôi về dĩ vãng, ở đó không phải tôi chỉ có một người yêu mà tôi còn có ông bà, cha mẹ, anh em, chị em. Tôi để hồn trôi về khu phố ngày xưa nơi có ngôi trường thân yêu, có rặng bàng đầy trái tôi vẫn leo trèo hái vào cuối mùa hè khi bàng chín, da bàng vàng nhạt và thịt bàng mầu hồng ăn thật ngọt, chúng tôi vẫn gọi là bàng đào.

Tôi yên lặng. Mai Lê cũng yên lặng. Chúng tôi có nhiều chuyện để nói với nhau như Mai Lê dự định từ hôm mới gặp, nhưng giờ này, chúng tôi đều ngại nói. Chúng tôi sợ những thực tế phũ phàng trong quá khứ sẽ phá tan cái khung cảnh êm đềm nên thơ giữa hai chúng tôi. Kỷ niệm thơ ấu nào có gì ngoài một tình yêu vụng dại, trắc trở, dở dang và tận cùng là trống rỗng. Trống đến nỗi không có một quyền lực gì, một cách gì để giữ người mình yêu. Mai Lê cũng như tôi, con người chúng tôi nhu nhược và yếu đuối đến thế là cùng.Và chính vì thế, chúng tôi đã mất nhau. Tôi gia nhập Quân Ðội một nắng hai sương đối diện với tử thần, còn nàng đi lấy chồng với con tim và xác thân tan nát.

Nếu biết yêu là đau khổ
Thà ta đừng quen nhau
Nếu biết cuộc đời là bể khổ
Thà dương gian đừng có chúng mình..

Giọng truyền cảm và ngọt ngào của nữ ca sĩ Tâm Đan trong cuốn băng vẫn đều đều đưa người nghe vào những nỗi ngậm ngùi xa vắng. Dứt bài, cuốn băng chấm dứt. Tôi nhổm người bảo Mai Lê:

“Thôi anh về. Cám ơn Mai bữa ăn ngon và buổi tối đầy ghi nhớ.”

“Anh lái xe được không?” Mai Lê nhìn sâu vào mắt tôi.

“Ðược, sao không?”



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Dec 4 2008, 07:34 AM
Gửi vào: #4


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





“Anh lái xe được không?” Mai Lê nhìn sâu vào mắt tôi.

“Ðược, sao không?”

Ðứng lên ra cửa, nhưng sao tôi say quá! Hai chai Heineken mọi khi không nhằm nhò gì, ngay Martel tôi vẫn uống sec, nhưng có lẽ hôm nay độc ẩm nên nó giở chứng. Uống rượu với đàn bà thật chán!

Giơ tay vịn vào khung cửa, tôi hơi lảo đảo nhưng đứng định thần vài phút, tôi quả quyết bước hẳn ra ngoài. Ðầu óc vẫn tỉnh táo nhưng sao bước chân ríu lại, chân nam đá chân chiêu, tôi đứng không vững, nghiêng nghiêng ngả ngả muốn té.
May có Mai Lê đứng ngay bên cạnh đỡ lấy không thì tôi đã ngã nằm xoài ra rồi.

“Anh say quá không thể lái xe được. Ðể em dìu anh vào nhà ngồi nghỉ một lát đã.”

Tôi biết không đi ra nổi tới chỗ đậu xe và cũng không lái nổi về nhà nên nghe lời Mai Lê trở vào cái sofa. Thấy nó, tôi gieo người cái phịch ngồi bật ngửa ra, hai mắt thao láo nhìn lên trần nhà.

“Ðể em đi pha nước chanh anh uống cho giã rượu.”

Tôi muốn bảo thôi khỏi nhưng không mở miệng nói được. Năm phút sau, Mai Lê bưng đến cho tôi một li nước:

“Nước chanh đây anh. Em để microwave âm ấm cho anh uống, tốt hơn nước lạnh. Anh uống đi!”

Tôi uống một hơi nửa li. Mai Lê cho ít đường nên hơi chua.

“Anh cần thêm đường không?”

“Không, thôi để chua vậy cho mau giã rượu.”

Nhưng nửa tiếng sau rượu vẫn không giã mà có vẻ còn bê bết hơn. Trán dấp dấp mồi hôi lạnh và cả ở lưng.

“Có lẽ anh bị cảm, “ Mai Lê sờ trán tôi và nói, “Thôi, để em lấy dầu gió em cạo gió cho anh.”

Tôi gượng cởi áo trao cho Mai treo lên mắc rồi nằm sấp cho Mai thoa dầu và dùng đồng 25 cents đã rửa sạch bằng cồn để cạo. Mười ngón tay thon nhỏ của Mai sờ đến đâu, tôi “nổi gai ốc” đến đó. Mùi dầu khuynh diệp phảng phất mùi nước hoa Salomé Mai xức làm tôi ngây ngất hơn. Cạo xong lưng, Mai bắt tôi phải nằm ngửa ra để Mai cạo hai sợi gân cổ và mấy xưong rẻ ngực:

“Anh có nhiều gió quá, vết cạo bầm tím đen.”

Ðến lúc này thì tôi chịu hết nổi. Tôi ghì Mai chúi sấp trên ngực và hai đôi môi đã chịu bao nhớ nhung, đau khổ từ mười mấy năm qua cuống quýt tìm nhau và gắn chăt lấy nhau không rời. Chúng tôi cùng có ý nghĩ là sẽ chẳng một áp lực nào dù mạnh mẽ đến đâu bắt chúng tôi xa nhau được nữa.

Kể từ thuở biết yêu Mai - người yêu đầu đời - chưa bao giờ tôi được hưởng một đêm hạnh phúc tuyệt vời như đêm đó.

******

Ngày lễ Tạ Ơn đã tới, ngày mà mọi ngưòi Hoa Kỳ mong đợi. Nhiều gia đình ăn mừng lễ này lớn hơn lễ Giáng Sinh và Năm Mới nữa. Họ đi khắp các Tiểu bang làm ăn nhưng vẫn về xum họp với gia đình vào dịp lễ Tạ Ơn. Chiều hôm đó, Jake nhắc lại lời mời tôi tới dự tiệc Tạ Ơn vào tối thứ năm tuần tới khi trao cho tôi mảnh giấy có ghi địa chỉ và số phone:

“Tôi mới dọn đến đây vài ngày nay để có chỗ mừng lễ Tạ Ơn. Anh cứ đi theo bản đồ tôi vẽ.”

Tôi hỏi Jake nếu có thêm bạn cùng đến được không? Jake không biết tôi đã gặp lại Mai Lê. Anh hoan nghênh:”Càng đông càng vui.”

Tôi đi mua một chai Cognac và vài vỉ Heineken, phòng hờ không uống thứ này thì uống thứ kia. Còn Mai thì cuốn vài chục cái chả giò, gọi là chút quốc hồn, quốc túy của Việt Nam. Nàng không quên gói một chục bông hồng đẹp nhất. Tôi nói có lẽ Jake không biết chơi hoa nhưng Mai Lê cứ đem đi, nói lễ lạc nên có hoa cho đẹp.

Tôi muốn đem Hồng Vân theo nhưng Mai bảo Hồng Vân ưa ngủ sớm, bé không thức được đến khuya nên đành phải để bé ở nhà với bà hàng xóm.

Tôi cứ theo những chỉ dẫn trong tờ giấy Jake đã trao để tìm đến nhà Jake. Khu này toàn Mobil Home dành cho những người bình dân không đủ tiền mướn hoặc mua những nhà lớn nhưng lại muốn có sự riêng biệt. Tự Do và sự riêng biệt hình như là món quà tặng từ Thượng Ðế cho những người ở Hoa kỳ, dù bản xứ hay di dân.

Ði vòng mấy lượt vì hơi khó kiếm, rồi tôi và Mai cũng tới được căn Mobil Home Jake ở.

Tôi gõ cửa. Jake ra mở, anh đón tôi với nụ cười thật tươi: “Please, come on in!”

Tôi và Mai vừa bỏ “lễ vật” lên mặt bàn thì đã nghe giọng nói một người đàn bà.

Cô ta từ trong bước ra, tự giới thiệu:

“Hi! How are you doing? I’m Elizabeth.”

Jake biết tôi hơi ngạc nhiên với người đàn bà này, anh giới thiệu ngay:

“Elizabeth là cô bạn gái lâu ngày. Còn đây là...”

“Mai Lê, người bạn của tôi...” Tôi tiếp lời Jake.

Chúng tôi bắt tay chào hỏi thân thiện. Mai Lê được dịp tặng Elizabeth bó hoa làm cô ta sung sướng nhảy cỡn lên như đứa con nít:

“Thank you! Thank you so much! They’re very pretty!”

Elizabeth đi kiếm cái bình cắm hoa nhưng Jake nói không có, cô ta đành lấy một cái ly lớn dùng uống bia để cắm. Từ lúc đó cho đến lúc chúng tôi về, tôi nhận thấyElizabeth chỉ chú ý vào cái bình hoa mà thôi.

Khoảng 15 phút sau, Jake mời chúng tôi vào bàn ăn. Chủ nhà chưa bày biện đâu ra đâu nên Mai Lê phải ra tay sắp xếp giùm các thứ. Jake nói anh đã mua một con gà tây quay sẵn ở chợ, bây giờ chỉ việc hâm nóng trong oven, sốt gravy và khoai nghiền cũng có sẵn, còn rau sà-lát thì Mai mang theo dư dả.

Tôi phụ hai người đàn bà bằng cách dùng dao xắt thịt gà. Con gà tây khoảng vài chục “pao” – Jake nói không có thứ nhỏ hơn – toàn thịt là thịt. Một ổ bánh mì dài được xắt ra, rồi bơ, mayonnaise có sẵn để quệt lên và cứ thế, chúng tôi vào tiệc với rượu, bia, nước ngọt. Jake bắt đầu bằng một lời nguyện rất ý nghĩa và chân thành và sau đó chúng tôi cụng ly.Tôi hỏi Jake còn ai nữa không? Anh nói còn vài thằng bạn cố tri nhưng chúng rủ girl friends đi Lake Tahoe du hí trên đó rồi. Ngày lễ Tạ Ơn, mỗi người tự tìm lấy ý nghĩa sâu sắc nhất cho mình.

Hai người đàn bà vừa ăn vừa rỉ rả nói chuyện. Còn tôi với Jake chỉ uống. Jake trỏ Elizabeth bảo tôi và Mai Lê:

“Liz làm ở Sacramento thỉnh thoảng mới về thăm tôi vài ngày. Nàng có job trang trí nhà cửa và làm part-time cho bưu điện. Liz muốn tôi lên Sacto sống với nàng nhưng cái Young Meseum không cho tôi đi đâu hết. Còn cô này - Jake trỏ Mai - tôi chưa gặp bao giờ.”

Tôi nói sơ qua cho Jake hiểu chúng tôi là bạn học ngày xưa, đã hơn chục năm không gặp nhau bây giờ mới gặp lại. Mai Lê có bé Hồng Vân đã 10 tuổi và hiện có quán bán hoa ở bến tầu.

“Tôi không nghĩ tôi có thể lo lắng đầy đủ cho một đúa con,” Elizabeth nối tiếp lời tôi, “nên tôi không mong có con. Có con mà bỏ nó thiếu thốn, nhất là vấn đề học hành, là một thiếu sót đáng trách. Hoàn cảnh Jake và tôi hiện tại không cho phép chúng tôi có một đứa con. Vì vậy chúng tôi luôn luôn phải phòng ngừa.”

Tôi hỏi Jake và Liz: “Phòng ngừa như thế nào, khi mấy tháng hai anh chị mới gặp nhau một lần?”

Cả bốn chúng tôi cười ran. Jake hỏi Mai Lê:

“Thế còn you, Mai Lê. You muốn có thêm một đúa con nữa không?”

Mai Lê bị hỏi bất chợt, nàng chưa chuẩn bị câu trả lời nên lúng túng mấy giây, nhưng rồi nàng đáp một cách quả quyết:

“Không đâu, Jake. Không bao giờ. Một đứa đã quá đủ, nhất là hoàn cảnh tị nạn nhiều gai góc như tôi hiện phải đương đầu...”

Mai Lê gắp chả giò tiếp cho mọi người. Jake và Liz khoái món quốc hồn quốc túy Việt Nam này, vừa ăn vừa khen:

“Ðã quá lâu tôi mới lại được thưởng thức món egg roll này với nước mắm chua ngọt, hơi cay cay và rau sống. Ăn món này làm tôi nhớ đến Căn cứ Không quân Biên Hòa. Một quán bán chả giò thế này ở ngay kế Căn cứ. Cô bán hàng cũng xinh và trẻ như Mai Lê. Khi đóng ở Biên hòa, mỗi tuần tôi phải rủ bạn bè đến thưởng thức ít là một lần. Nhưng chả giò ở quán đó còn có cả spaghetti trắng ăn chung.”

Mai Lê cười xòa: “Ðó là bún, một loại oriental noodle. Ðể lần sau tôi mang tới. Hôm nay tôi nghĩ có nhiều món quá nên làm biếng.”

Hai người đàn bà ăn xong rủ nhau ra ngồi ở sofa coi TV, uống egg nog và cà-phê. Câu chuyện của họ xoay quanh những đồ trang trí trong nhà và những loại màn gió. Liz say sưa kể tên những hãng danh tiếng sản xuất màn cửa từ 20 năm mặc dù nàng mới vào nghề 5 năm. Nàng nói có cái nhà đẹp mà không biết hay không có con mắt lựa màn cửa thì cũng hỏng. Màn cửa làm giá trị căn nhà tăng lên 30% và chỉ những chủ nhà không biết đến ích dụng của màn cửa mới treo màn bừa bãi mà thôi.

Tại bàn ăn, Jake với tôi cứ uống tì tì. Tôi không ngờ Jake có tửu lượng cao đến vậy.Anh uống cả hai, rượu và bia, nhưng không say. Jake bảo tôi anh không muốn uống nữa thì thôi chứ không bao giờ say, có lẽ anh thừa hưởng dòng máu của bố mẹ anh, nhất là mẹ. Cả hai ông bà đều là sâu rượu, hũ chìm hũ nổi và có lần bố anh bảo, mẹ anh lúc mang thai anh, bà uống rượu hầu như mỗi ngày mặc dù gia đình cấm đoán. Lúc say bà leo lên cái gác xép trong kho để nông cụ ngủ vùi cho đến ngày hôm sau tỉnh dậy mới mò xuống kiếm bánh mì với bơ.

Mười hai giờ đêm, bữa tiệc lễ Tạ Ơn của Jake với tôi mới tàn. Mai phải lái về vì tôi say quá chỉ biết lờ mờ sự việc xảy ra xung quanh.

Lễ Tạ Ơn năm kế tiếp, tôi mời Jake và Liz lại nơi tôi ở. Ông anh họ tôi vẫn mải mê với ông thấy thuốc già người Pháp và những bãi biển Ðịa Trung Hải dọc theo bờ biển Pháp và Ý nên chưa trở về.

Bữa tiệc này có thêm hai đứa trẻ, Hồng Vân và em nó. Khi nhìn cái bụng cao vượt mặt của Mai và chiếc áo bầu súng sính rộng thùng thình, Jake cười hỏi, giọng chế nhạo:

“Mai Lê, thế bây giờ you thay đổi lập trường rồi à? You nhất định chỉ có một đứa con thôi mà?”

Mai đỏ mặt mắc cỡ, ấp úng nói không ra lời. Tôi phải thay nàng:

“Tại những con dốc đứng và thời tiết nóng lạnh bất chợt của San Fran đó, đâu phải tại Mai!”

Cả bốn chúng tôi cười ran.

Jake hứng chí đeo cây đàn accordeon lên vai, vừa hát vừa đàn bản: “Hey man! I’ve a new baby. She’s pretty, pretty! You should come to see my new baby!”


Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC

(Trích Tuyển tập Truyện ngắn NHỮNG CON DỐC ÐỨNG - 1999)



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Dec 17 2008, 08:17 AM
Gửi vào: #5


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8



Chuyện là lạ gởi cùng đọc chơi- NhàQuê (Từ Cali-Today)

Mỗi tuần một truyện ngắn chọn lọc: NGƯỜI ĐÀN BÀ TÔI QUEN
Toại Khanh, Dec 05, 2008
MỖI TUẦN MỘT TRUYỆN do Hoa-Hoàng-Lan phụ trách. Mời bạn đọc thưởng thức một chút hương vị Thiền qua đoạn văn “Người Đàn Bà Tôi Quen” với ngòi bút đạo hạnh của Toại Khanh.

Tôi gọi chị là đàn bà chỉ là để phân biệt với đàn ông. Đến tận giờ, chị vẫn một đời bỏ ngỏ đêm hồng. Cách biệt nhau nhiều phương diện, nhưng tôi vẫn trộm xem chị là bạn, là một người chị ở nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhiều lúc nghĩ lại mà giật mình, ngoài chị, tôi hình như không còn ai thân quen hơn thế nữa.

Tết này nữa, tôi bốn mươi rồi. Và không biết nên nói là vui hay buồn khi đến tận tuổi này tôi vẫn không có được một tình bạn đúng nghĩa, đại khái là mình có ra làm sao vẫn thương, vẫn giúp. Ngay trong Tử Vi, các cung Phu Thê hay Tử Tức của tôi cũng tệ lắm. Nhưng may mà làm thầy tu, nên chuyện đó lâu nay coi như chẳng đáng nhớ nữa. Chuyện bạn bè hay vợ con thì là vậy, nhưng tôi may mắn có được vài cuộc gặp gỡ còn đáng hơn hai thứ đó cộng lại. Tôi nhớ từng gọi đó là những cuộc kỳ ngộ, tức những cuộc gặp gỡ ly kỳ với những con người đặc biệt. Chuyện tôi quen biết chị là một trong số một vài cuộc kỳ ngộ đó.

Nhan sắc không đẹp cũng không xấu, tiền bạc không thiếu nhưng chẳng dư, dở dang đại học nên cũng không phải thứ dốt, cuộc đời và con người của chị không thể xếp hẳn vào loại nào được, bởi nó nằm giữa các cực. Có điều là nói theo người xưa, chị cao số lắm. Tôi biết chị mười năm rồi, từ lúc còn ngó được một tí, đến nay xuống sắc lắm rồi, vẫn vò võ vậy thôi. Nghe đâu trong một lần về thăm Việt Nam mấy năm trước, có kẻ biết chị ở Mỹ và ngỡ là có tiền nên ra sức dòm ngó ít lâu. Sau thấy chị kẹo quá, hắn biến luôn. Chị trở về Mỹ với chút buồn rồi thì đâu lại vào đó.

Tôi gọi chị là Phật tử vì thấy chị biết đi chùa, biết xưng hô cư xử phải phép với tăng ni. Ngoài ra gì cũng không. Không học đạo, không tu trì gì ráo. Chị là vậy đó, nhưng cứ bắt tôi phải hồ nghi về con người thật của chị. Nửa ma nửa người, nửa tốt nửa xấu, nửa khôn nửa khờ. Những thứ mâu thuẫn đó không phải trước hay sau nhau, mà cùng lúc có mặt. Tôi thấy nhức đầu khi nghe chị nói chuyện, nhưng không thể không suy nghĩ.

Một ngày, sau gần cả năm không liên lạc, bỗng nhiên chị gọi tôi hỏi thăm vớ vẩn đôi điều, rồi giải thích bâng quơ: Đời người ngắn quá, con sợ mấy chuyện thù tạc vô nghĩa. Hỏi thăm nhau mà chẳng giúp được gì, thôi im cho xong. Lang thang ngoài mấy tiệm sách hay vào Internet đọc cái gì đó còn hay hơn, phải không sư ?
Tính cách của chị là vậy, ai buồn cũng mặc, nói năng như muốn chửi vô mặt người ta. Nhưng chị có nhiều suy nghĩ lạ lắm. Lần đó ngẫu nhiên tôi hỏi chị chuyện chính trị. Chị phì cười trong phone: Có triều đại hay chính thể nào kéo dài được thiên thu đâu, nói chi là vạn tuế. Hay dở gì cũng phải sụp để cái khác thế vào. Đã vậy nếu có kiếp sau thì ai biết mình sẽ sinh vô dân tộc nào mà kêu gọi yêu nước thương nòi. Quan trọng nhất là kiến thức, dốt quá thì không nghĩ ra được cái gì. Nếu trước và sau 1975 dân miền Nam biết nhiều hơn một tí thì số người khổ nạn sẽ không nhiều như đã…

Một dạo thiên hạ khắp nơi rộ lên phong trào về nước làm từ thiện, tôi lại nghe chị nói mấy câu thiệt ngộ: Ai có nhiều tiền cứ đưa đây, con về nước làm từ thiện giùm cho. Lấy tiền của thiên hạ để làm nở mặt mình thì khó gì. Nếu thương người, hãy nghĩ cách khác lâu bền và khó gây hiểu lầm một tí.

Cách đây hai năm, nghe tôi nói muốn có riêng một đạo tràng để làm văn hoá, chị cười không kịp thở: Nếu có lòng thì thời buổi này thiếu gì cách. Coi chừng có cái tư riêng rồi thì lý tưởng thay đổi. Người Mỹ nói tàu nằm ở bến cảng thì luôn an toàn, nhưng sự an toàn nhàn hạ đó không phải lý do để người ta đóng tàu. Có nhiều kẻ trời sanh phải long đong mới dễ thương !

Giữa năm ngoái, một đêm chị gọi tôi với giọng nói thật lạ và cho hay bác sĩ đang nghi ngờ chị mắc một trọng bệnh hiếm người bị. Tôi chợt lo sợ một chuyện xa xôi, hỏi han lung tung, kể cả việc sẵn sàng bay về với chị vài bữa, rồi tôi gợi ý chị lên West Virginia tham dự một khoá tu ở đó. Tôi thiệt bất ngờ khi trong hoàn cảnh đó còn nghe chị phán mấy câu ráo hoảnh: Sư có biết con sợ thiền sư và sách thiền lắm không, lắm thầy thì nhiều ma. Kinh nghiệm thực tế của mỗi cá nhân thì quý lắm, nhưng nhiều cá nhân quá thì cái cá nhân này có mà chết. Cái gì nguồn cội và nguyên thủy thì đơn giản và chắc ăn hơn. Nhưng con hiểu ý sư rồi, sẽ chọn ngày lên đó một chuyến.

Đầu năm 2007 tôi có đi Tàu một chuyến. Ngày về tôi đã khoe với chị một bức tượng Phật rất đẹp. Tôi chụp hình bức tượng và gửi qua email rồi hỏi nếu chị thích thì sẽ gửi biếu chị. Chị cảm ơn và câu trả lời làm tôi giật mình: Trong nhà con chỉ thờ những tranh tượng không sợ hư mất. Ngày trước có dạo lên Internet tìm được mấy tấm ảnh Phật đẹp lắm, muốn in ra giấy để thờ, nhưng nếu mai này có đi đâu chẳng lẽ phải mang theo hay sao. Con có cái Laptop, và save sẵn vài tấm hình Phật vừa ý, mỗi lần tụng kinh một mình cứ mở máy ra rồi nhìn vào đó là xong. Nếu không, chỉ cần một tờ giấy trắng với cây bút chì, chỉ chừng 30 giây đồng hồ là có ngay tấm ảnh để lạy rồi !

Mấy hôm trước khắp nước Mỹ râm ran chuyện bầu cử, tôi hỏi chị chọn ai, chị nói tỉnh như không: Cha nội nào cũng mấy năm thôi, ai cũng được. Con chỉ quan tâm những cuộc “bầu cử” ảnh hưởng cả cuộc đời mình !

Chị có nhiều cách nghĩ thiệt lạ và buộc tôi nhớ hoài, như nhớ những bài học để sống đời và hành đạo. Câu nói nào của chị cũng có thể hiểu nhiều cách và gợi ý nhiều điều.

Mùa đông này có vẻ lạnh hơn năm ngoái. Cách đây nửa tháng, chị gọi phone thăm tôi và hỏi có muốn chị gửi đồ ấm. Tôi bảo xứ này thiếu gì mấy thứ đó, chỉ cầm hơn mười đồng là có ngay cái áo mặc ấm chết bỏ. Nếu được chỉ xin chút mứt gừng là quý rồi. Mười ngày trôi qua, tôi nhận được gói quà của chị. Ngoài gói mứt gừng vàng óng như màu mật ong, là hai cái áo lót bằng vải mềm với bốn túi trên dưới, dây kéo (zipper) hẳn hoi. Chị gửi kèm theo đó mấy chữ: Mứt gừng cho mùa đông và hai cái áo mặc mùa nào cũng được, khỏi mang túi hay đeo belt-bag phiền phức.

Tôi chẳng biết chị mua hai cái áo ở đâu, có vẻ hàng hiếm, may ở Tàu. Chị thiệt thà đến mức để nguyên cả tấm thẻ giá trên đó, mỗi cái áo 9 đồng 99 cent. Chị như nhớ cả size áo của tôi, và cái màu dưa cải thật dịu mắt. Đã bao lâu rồi tôi mới nhận được những món quà kiểu đó. Rẻ mà quý, đơn sơ mà nồng nàn. Như con người và ngôn ngữ của chị, ít mà nhiều, bông lơn mà sâu sắc, giản dị mà cần thiết. Thế thôi, một đời người còn cần gì hơn vậy nữa. Mùa đông này là của chị đấy biết không?

Santosa 11/24/08
Toại Khanh


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jan 6 2009, 09:50 PM
Gửi vào: #6


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8




Chào mẹ


Tôi không khó khăn nhận ra mẹ khi bà vừa bước ra khỏi trạmkiểm soát an ninh phi trường. Một tay kéo chiếc va ly nhỏ, một vai mang chiếc xách tay, mẹ thong dong như trôi theo dòng người.
Dáng mẹ trông mảnh mai, thanh nhã, linh hoạt dù rằng đã ở cáituổi tám mươi. Tóc đã bạc phơ. Chiếc áo sơ mi màu trắng như giúp khuôn mặt mẹ tươi tắn hơn ngày tôi gặp mười lăm năm trước.
Mẹ đưa mắt tìm kiếm. Tôi giơ tay vẩy. Bà mừng rỡ vẩy lại.
Tôi cười khi mẹ đến gần:
- Chào mẹ!Mẹ buông rơi chiếc va ly, mở vòng tay ôm ghì lấy tôi. Tôi cũng ôm xiết mẹ mà sao không cảm nhận chút nồng ấm nào. Từ khi chưa đầy một tuổi, ba mẹ tôi đã đành đoạn bỏ rơi tôi.
Thôi nôi, ngoại cúng kiến van vái. Lên ba, ông ngoại mất. Lênnăm, bà ngoại lìa đời. Cậu mợ tôi thừa hưởng gia sản nên…thừa hưởng luôn việc săn sóc dưỡng dục tôi. Vì vậy mà khi khôn lớn, tôi hầu như quên hẳn mình còn đủ cha đủ mẹ.

Tôi lái xe vào trung tâm thủ đô, chạy vòng vòng cho mẹ xem phố xá rồi quẹo sang đường Constitution. Tôi chỉ mẹ xem đàitưởng niệm Washington, tòa Bạch ốc và hứa một ngày khác sẽ đưa mẹ vào xem tận bên trong. Mẹ nói mẹ muốn ưu tiên gặp em của mẹ, còn việc tham quan chừng nào cũng được. Tôi cho mẹ biết cậu mợ đang chu du Âu châu, hai tuần nữa mới về. Sợ mẹ hiểu lầm, tôi giải bày:
- Cậu mợ ghi tên đi chơi trước ngày mẹ báo tin qua đây nênkhông hủy bỏ được. Con đã xin nghỉ một tháng. Trong tháng đó mình sẽ đi một vòng sơ khởi nước Mỹ. Mẹ sẽ gặp em trai mẹvào tuần lễ thứ ba...Tôi ngưng nói khi thấy mẹ xoay mặt về khung cửa kính.
Nhân lúc xe qua cầu, tôi cất cao giọng:
- Đây là sông Potomac. Đi xuôi dòng sẽ trông thấy một phầnhình ảnh rất đẹp của thủ đô. Nhà của con phía thượng dòngcách đây độ nửa giờ.Mẹ vẫn nhìn quang cảnh thành phố, chỉ có tiếng "thế à" hờ hững vang lên.
Tôi nhìn đồng hồ và mừng là đã tới giờ cơm chiều. Tôi nói nhỏ nhẹ:
- Suốt ngày đêm trên máy bay, chắc mẹ thèm cơm. Khu thương mại Eden của người Việt vùng này có một nhà hàng nấu món canh chua cá bông lau, cá kho tộ ngon lắm!

Bà nói giọng mệt mõi:
- Nói chung thì mẹ thèm một tô phở.
Một cái gì nghẹn ngào đột ngột trào dâng trong tôi. Hai mươi năm tập kết ra Bắc mẹ đã bị đồng hóa. Không chỉ thay đổi cả giọng nói, ngôn từ mà lơ là luôn cả món ăn ưa thích của miền Nam. Tôi ngờ rằng bà không phải là người sinh ra tôi…
Tôi đưa mẹ vào tiệm Phở Xe Lửa và gọi tô đặc biệt. Mẹ khen ngon hơn phở ở Sài Gòn.
"Nhưng vẫn thua phở Hà Nội", tôi nhanh nhẩu tiếp lời.
Mắt mẹ thoáng chút ngạc nhiên rồi lặng lẽ quan sát xung quanh… Tôi cũng quan sát bà. Tôi giống mẹ lạ lùng. Chắc chắn nhìn chúng tôi, không ai nghĩ khác hơn là mẹ và con. Mà giống mẹ để làm gì khi tâm hồn chúng tôi khôngcó chút gì hòa điệu…

Tôi nhấn một chiếc nút trên trần khi xe sắp quẹo vào drivewayvà lái thẳng vào garage. Trong khi tôi mở cóp nhấc xuống các hành lý, mẹ đi ra phía trước đường. Tôi bước đến bên mẹ khi bà ngắm nghía ngôi nhà, trầm trồ:
- Nhà của con đây hả? To và đẹp quá, ngoài tưởng tượng của mẹ. Quang cảnh cũng thật sáng sủa tươi mát.
Tôi cười buồn:
- Chúng con mới mua năm ngoái và chắc cũng sắp bán…
Giọng mẹthảng thốt:
- Tại sao thế?
Tôi nắm cánh tay mẹ dìu đi:
- Mẹ vào nhà nghỉ ngơi. Từ từ rồi mẹ sẽ biết ...

Tôi bấm số liên hợp và mở toang cánh cửa. Mẹ bước vào, đứng sững người trên tấm thảm nhỏ mang chữ welcome. Dường như mẹ không tin những gì mẹ đang thấy. Mẹ ngập ngừng bước đi, mắt dừng lại từng vật trang trí ở phòng khách, phòng giađình, miệng lẩm bẩm lời tán thưởng. Khi mẹ hướng về khu bếp, tôi biết mẹ sẽ ở đây lâu hơn nên lặng lẽ trở ra ngoài mang hành lý vào nhà.
Khóa cửa xong, tôi đảo mắt tìm mẹ. Bà đang ở trong phòng đọc sách, đứng lặng yên trước bàn thờ. Mẹ không nhìn các tượng Phật rất đẹp tôi thỉnh tậnThái Lan.
Mắt mẹ đang đăm đăm nhìn di ảnh của Huy. Anh mặc áo tiểu lễ hải quân, trên một nắp túi là bảng tên Lê Quang.Bên kia là chiếc huy hiệu hạm trưởng với hai hàng huy chương nhiều sắc màu khác biệt. Và Huy đang tươi cười…
Mẹ nói bằng giọng ngạc nhiên mà bình thản:
- Sao con không nói gì với mẹ?
Tôi lắc đầu:- Để làm gì? Mẹ có biết gì về ảnh đâu và chắc cũng không ưa ảnh!
Mười lăm năm trước, khi về chịu tang ba tôi, tôi đã từ chối trả lời mọi câu hỏi của mẹ. Tôi muốn cho thấy khi bà đã có can đảm bỏ rơi tôi thì tôi cũng có can đảm coi như đời tôi không dính dáng gì tới bà. Mãi gần đây, khi mẹ ngỏ ý muốn qua thăm chúng tôi, Huy khuyên tôi nhận lời, dù gì bà cũng là người sinh thành ra mình. Tôi nghe lời khuyên nhưng chỉ một mình tiếp đón mẹ. Huy chết bất thần vì cơn đột quỵ.
Mẹ nhìn khắp bàn thờ rồi quay phắt sang tôi:
- Sao không thấy con thờ ba con?
- Thờ ba? Tại sao con phải thờ ba?
Mặc dù đã tự nhủ, tôi vẫn không dằn được cơn bực tức bùng vỡ.
Mẹ quay đi, lặng lẽ thắp nén nhang cắm vào lư hương,nhìn Phật Bà, nhìn Huy rồi thở dài lặng lẽ bước lên thang lầu.
Tôi đã từng nghe nhiều tiếng thở dài tương tự của mẹ trong suốt thời gian mười ngày về dự đám táng ba tôi. Tôi đã cho bà thấy tôi không chỉ dửng dưng với người chết mà cònl ạnh lùng với cả người còn sống.
Liệu có ai cư xử khác tôi khi suốt quãng đời dài gần bốn mươi năm mà chỉ vài lần được nghe nhắc đến mẹ cha mình bằng lối bông đùa.
Năm tôi lên mười bốn, sau trận Mậu Thân khói lữa khắp Chợ Lớn Sài Gòn, một bữa, lần đầu tôi nghe cậu nhắc tới ba mẹ.
Trong bộ đồ trận rằn ri mang lon trung tá, cậu ra vẻ trịnhtrọng:
"Nè, Phượng! Con có biết là suýt nữa con đã có dịp trùng phùng ba mẹ con không?"
Trong khi tôi tò mò lắng nghe, cậu tỉnh bơ tiếp:
" Nhưng vì cậu thấy họ không xứng đáng làm bậc cha mẹ, cậu đã đuổi họ về mật khu rồi!"
Tôi thường cười với mỗi cợt đùa của cậu nhưng lần đó tôi mím môi muốn khóc.

Năm hai mươi mốt tuổi, khi tôi đưa Huy về nhà giới thiệu nhân buổi tiệc mừng cậu thăng cấp tướng, cậu nói nhỏ vào tai tôi:
" Chà chà! Như vầy là kẹt cậu rồi! Con mà chọn tên hải quân đó làm chồng thì cậu khốn khổ với chị cậu. Tuy nhiên,nếu con… năn nỉ cậu, cậu cũng liều cho con làm… bà thiếu tá.

Tôi vẫn cười thầm về chuyện này vì bốn tháng sau, sự thể đảo ngược. Chính cậu lại là người phải "năn nỉ" tôi để cả gia đình được lên tàu của Huy rời khỏi Việt Nam.
Chúng tôi thành hôn ở Mỹ. Huy trở lại đại học, tôi đi làm ngày đêm. Rồi lần lượt hai đứa con ra đời. Huy ra
trường đi làm. Tôi vào đại học. Vất vả mà hạnh phúc.
Tôi quá bận rộn để nhớ về quê cha đất tổ, cho tới mười năm sau tôi mới lại nghe tin tức về ba mẹ. Lại vẫn do cậu đưa tin.
Cậu tôi cho biết đã liên lạc được với chị của mình. Không lâu sau đó tôi liên tiếp nhận được thư ba mẹ tôi bày tỏ lòng khao khát mong nhận được thơ tôi và hình ảnh gia đình. Và tiếp đến là những lá thư mong mỏi tôi về Việt Nam.
Tôi nhận thư, tôi đọc, lòng ngơ ngẩn, bâng khuâng nhưng không có chút hứng thú trả lời. Thậm chí nhiều năm sau, cái tin ba tôi đau nặng cũng chỉ được đón nhận với lòng dửng dưng. Huy bảo tôi nên về. Cậu mợ gọi điện bảo tôi phải về. Tôi thưa với cậu mợ rằng tôi không có cha mẹ nào khác ngoài cậu mợ nhưng cậu mợ tiếp tục thúc bách và giảng đạo lý.
Tôi rủ cậu mợ cùng về. Cậu bảo cậu không muốn giỡn mặt với chính quyền (Không dùng từ này). Cuối cùng tôi khăn gói một mình lên đường.
Thời điểm này chúng tôi còn nghèo nên Huy đành ở lại với hai con.
Nhưng đoạn đường quá xa để ba tôi không thể chờ. Ông vĩnhviễn ra đi vài giờ trước lúc tôi bước vào ngôi nhà xưa. Dù vậy tôi vẫn còn kịp nhìn mặt ba tôi. Nhìn chỉ một lần mà vẫn đủ để khuôn mặt già nua, khắc khổ, hoàn toàn xa lạ đó theo tôi về tận xứ Mỹ.
Thỉnh thoảng nhân một liên tưởng về dòng họ ai còn ai mất, khuôn mặt của ông lại hiện ra cùng với những tiếng thở dài của mẹ.
Thế mà tuyệt nhiên, tôi không hề nghĩ đến việc thờ phượng ông…
Mẹ nằm trong buồng riêng suốt đêm ngày, mãi đến tối hôm sau mẹ mới tươi tỉnh hẳn. Tôi rủ mẹ đi ăn đồ biển. Mẹ ăn tự nhiên, ngon lành. Nếm đủ tôm cua nghêu sò óc hến. Luôn cả hào tươi. Lâu lắm mới có dịp ăn ngoài, tôi cũng tận lực nuốt.
Trên đường về nhà, mẹ hỏi:
- Cậu bảo con có hai thằng con trai. Chúng nó đâu mà mẹ chưa gặp?
- Tụi nó đều đã lập gia đình. Mỗi đứa ở mỗi tiểu bang khác nhau, khá xa. Đứa lớn ỏ Georgia, có hai con, đứa nhỏ ở Texas, đang chờ con đầu lòng. Con đã sắp xếp để mẹ đến chơi với chúng nó, mỗi đứa vài ngày, sau khi mẹ gặp cậu mợ.
Mẹ nhìn tôi, dò hỏi:
- Con ở đây một mình sao?
Tôi gật đầu:
- Vì vậy mà con có ý muốn bán nhà này về sống với mấy đứa nhỏ, luân phiên mỗi đứa một thời gian. Tụi nó đang năn nỉ con về ở chung.
Giọng mẹ ngập ngừng:
- Phải thú nhận rằng mẹ vừa trông thấy căn nhà này là mê ngay. Nếu con bán thì bán cho mẹ. Mẹ con ta sẽ ở đây, mãi mãi tới ngày mẹ chết…
Tôi đăm đăm nhìn mẹ. Tôi đã biết từ lâu là mẹ rất giàu, chỉ ngạc nhiên về ý cuối. Nó đến quá bất ngờ như là một nhánh gai quẹt vào người. Tôi nghe xót đau, khó chịu. Tôi không chuẩn bị việc này, cũng không muốn nó xảy ra. Đầu óc tôi đông cứng.
Chợt hình ảnh Huy hiện ra, miệng cười cười. Ba tháng nay, từ ngày anh mất, khi tôi gặp điều gì khó xử là anh lại hiện về. Nụ cười của anh luôn luôn giúp tôi tìm giải pháp.
Tôi thấy bao nhiêu phiền phức nếu cho mẹ ở chung. Tôi đã quen với cuộc sống không có mẹ. Chỉ mới hai mươi bốn tiếng đồng hồ "có mẹ" mà tôi đã chịu đựng biết bao gượng ép.
Mẹ nhìn tôi dò hỏi.
Tôi nói:-
Con mới mất anh Huy. Con cần một thời gian yên tĩnh.
- Mẹ cũng cần có thời gian sắp xếp mọi việc ở Việt Nam.Năm tới mẹ trở qua sống hẳn với con. Con đồng ý chứ?
Tôi không biết nói gì hơn. Tôi như nghe tiếng Huy văng vẳng: Đừng làm mẹ buồn! Tôi cố nhìn vào bóng đêm loang loáng tìm hình bóng Huy nhưng tôi chỉ thấy ánh đèn đỏ vừa bật ở ngả tư…

Sau năm ngày dạo chơi phố xá và ngắm cảnh Nữu Ước, chúng tôi dành hai đêm thử thời vận ở sòng bạc Atlantic City. Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, cả hai mẹ con thắng lớn. Chúng tôi về đến nhà, tẩy rửa xong lớp bụi đường thì trời tối hẳn. Tôi thấy mệt mõi nhưng mẹ tỉnh bơ đề nghị để mẹ nấu ănở nhà. Tôi nói sẽ ăn ở nhà nhưng mẹ khỏi nấu. Mẹ không tỏ gì ngạc nhiên khi tôi gọi thức ăn bằng điện thoại. Bà ngồi thoải mái trong bộ ghế êm ái, xem truyền hình đưa tin thế vận hội. Tôi sắp đặt chén đũa, khăn ăn và nước ngọt rồi ngồi xuống cạnh mẹ.
Chợt mẹ quay sang tôi, giọng ngập ngừng thiếutự nhiên:
- Mẹ phải nói với con chuyện này. Em trai con muốn nhờ mẹ hỏi con giúp nó một việc.
Em trai tôi? Tôi từ từ hình dung đứa em trai của mình. Tôi đã nhớ ra một hình dáng hiền hòa thường quanh quẩn gần tôi. Cũng như cậu và mẹ, em tôi nhỏ thua tôi năm tuổi. Nhưng nó khác với tất cả chúng tôi là đã không chào đời ở miền Nam. Tôi nhìn mẹ chờ đợi.
Giọng mẹ đều đều:
- Đứa con gái út của nó học rất giỏi. Năm tới lên đại học. Nó muốn nhờ con giúp cháu qua học bên này. Nó không muốn cho cháu ở nội trú. Nó xin cho cháu ở với con. Cơ bản là con không phải tốn kém gì hết. Mẹ sẽ lo đi chợ, nấu ăn cho cả nhà...
Cơn giận chợt ứ lên ngực làm tôi khó thở. Tôi hít vào một hơi thật sâu. Tôi biết là mở miệng lúc này tôi sẽ nói ra lời cay độc.
Tôi nhìn ra ngoài trời đang đổ mưa với những ánh chớp liên hồi. Tôi nhớ tới những cơn mưa đầy sấm sét trong căn nhà thênh thang thuở lên mười. Thuở đó cậu tôi đổi đi đơn vị xa và mợ theo cậu. Người giúp việc thì ngủ gần bếp, xa căn buồng riêng biệt của tôi. Tôi đã vô cùng sợ hãi và từng ước ao có được một đứa em. Bây giờ tôi đâu còn cần.
Tôi nói chầm chậm:-
Thì ra mẹ qua đây không phải vì con mà vì tương lai cháu nội của mẹ!
Bà nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Con nói gì lạ vậy. Tất nhiên mẹ qua đây là vì con, bởi vì mẹ muốn bù lại thời gian ba mẹ bỏ bê con. Mẹ không hề vì cháu nội. Nó chỉ ngõ lời sau khi biết ý định của mẹ.
Mẹ đưa tôi lá thư cầm sẵn:
- Đây là thư nó gửi cho vợ chồng con.
Tôi hững hờ nhận. Mẹ tiếp:
- Thật ra nó cũng đã hỏi các thủ tục xin ở nội trú. Không có con ở đây, con của nó vẫn qua đây học. Mẹ thấy điều quan trọng là có người ruột thịt cận kề, coi sóc, nhắc nhở.
Tôi cười chua xót, không còn ngăn được lời mai mỉa:
- Ruột thịt? Có là ruột dư với thịt thừa! Và mẹ đã từng cắt bỏ không thương tiếc!
Mẹ nhìn tôi đăm đăm:
- Con vẫn còn giận mẹ đến thế sao? Lần con về, mẹ đã hết lời giải thích..
- Con vẫn nhớ các lời giải thích đó: Ba mẹ đâu có muốn xa con, chẳng qua chỉ vì muốn góp phần giành độc lập, thống nhất đất nước. Thì đất nước đã độc lập thống nhất, sao mẹ và cháu nội không ở Việt Nam mà hưởng.
Mẹ buông tiếng thở dài. Tôi cũng chợt nhận ra mình vừa buông lời xỉa xói hỗn hào. Tôi trầm giọng:
- Con xin lỗi. Hễ nhớ đến những ngày con bị bỏ rơi là cứ muốn nổi xung thiên…
- Mẹ phải làm gì để được con tha thứ, quên đi chuyện cũ.Con nghĩ lại đi. Ba mẹ đâu có gửi con cho ai xa
lạ. Người đó chính là ba mẹ ruột của mẹ. Con lúc nào cũng nhận được trọn vẹn tình thương và chăm sóc…
Tôi cố giữ giọng bình thường:
- Ba mẹ ruột của mẹ chớ đâu phải ba mẹ ruột của con! Suốt tuổi thơ của con, con bị bạn bè cười nhạo là đứa trẻ mồ côi, là con không cha không mẹ!
Nước mắt tôi tự dưng ứa ra, rơi dài xuống. Mẹ đứng lên,bước lại ôm choàng lấy tôi.Tôi khóc nức nở trên vai mẹ. Khi muộn phiền đã dịu xuống,tôi nhìn thẳng vào mắt mẹ:
- Mẹ không thấy là mẹ không công bằng sao? Lúc con ở cái tuổi rất cần sự săn sóc của ba mẹ thì ba mẹ bỏ đi biền biệt. Còn bây giờ, khi mẹ muốn ở gần con thì mẹ đã bước vào cái tuổi gần đất xa trời, cái tuổi mẹ cần con chớ con không cần mẹ. Thật lòng mà nói, cho tới giờ phút này, con không một mảy may cảm thấy chút gì thương yêu mẹ, thì nói chi thương yêu cháu.
Mẹ ôm mặt, thân hình thả rơi lên ghế. Tôi nghe tiếng nấc của mẹ và nghe lòng chùng xuống. Tôi nói nhanh như sợ không còn nói được:
- Nhưng có điều chắc chắn là con cũng không thể chối bỏ mẹ không phải là mẹ của con. Chừng nào mẹ muốn ở với con, mẹ cứ ở. Chừng nào mẹ muốn đi, mẹ cứ đi. Điều em con muốn, cháu con muốn, con khó mà nói được lời từ chối!
Mẹ vẫn ngồi yên, thút thít khóc. Đúng lúc tôi muốn ngồi xuống ôm lấy mẹ thì tiếng chuông reo. Tôi thở hắt ra, bước về phía cửa nhận thức ăn mang tới…

Ở San Francisco ba ngày, chúng tôi đi xe đò xuống San Jose. Ba ngày sau nữa chúng tôi về tới quận Cam. Cậu và các con cháu đón chúng tôi ở bến xe, chỉ thiếu có mợ.
Khi tôi thông báo mẹ sẽ sang thăm gia đình cậu, cậu nói sẵn sàng gặp mẹ nhưng từ chối cho chúng tôi tạm trú. Nhà cậu mợ rất rộng, nhiều buồng ngủ. Vợ chồng con cái tôi mỗi khi qua Cali là ở nhà cậu mợ hà rầm.
Cậu mợ hẳn phải đau lòng khi lần này để tôi ở khách sạn chỉ vì… có mẹ!. Mợ không muốn chứa mẹ trong nhà. Hai đứa em trai của mợ đều bị tập trung, một bỏ xác trong rừng Yên Bái.
Mỗi ngày trong suốt một tuần, cậu lái xe đến khách sạn đón chúng tôi đi viếng thăm hết nơi này đến nơi khác. Ngày đầu,cậu dành cho khu Little Saigon. Mẹ thú nhận là rất ngạc nhiên về mức phát triển quy mô và sự phồn vinh sang giàu của người Việt tỵ nạn.
Những ngày kế dành cho danh lam thắng cảnh. Có ngày chúng tôi bay khỏi thành phố đỏ đen Las Vegas về phía Bắc để chiêm ngưỡng Grand Canyon vô cùng ngoạn mục. Ngày khác lái xe tận về phía Nam gần kề Mể Tây Cơ để ngắm nghía những quang cảnh sinh động huy hoàng trong Monterey Bay Aquarium.
Cậu thường dùng khoảng thời gian di chuyển để hỏi mẹ về gia đình và dòng họ ở quê nhà. Cậu cũng kể về cuộc đời của cậu trong suốt nửa thế kỷ không gặp chị.
Tôi vô cùng thú vị được nghe hai chị em nhắc lại những kỷ niệm thời họ sống bên nhau. Thỉnh thoảng cậu và mẹ "đụng" nhau về đề tài chính trị thường là do cậu khởi xướng.

Một lần đang lái xe, cậu bỗng nhái cái giọng bắc của mẹ:
"Thật đáng tiếc! Nếu chị cả đừng… vớ phải cái ông cán ngố nằm vùng thì giờ chị em gặp lại dung dăng dung dẻ biết bao!".
Mẹ nở ngay nụ cười đáp trả:
"Thì cũng lỗi ở em. Nếu em đừng theo Mỹ Ngụy".
Cậu gật gù ra vẻ tán thưởng rồi bắt sang chuyện khác. Hôm đứng trước trường đại học danh tiếng Standford, cậu cười nói:
"Tham quan trường này chị có nhớ đến những năm chị dạy ở trường Đảng không? Phải công nhận duy vật biện chứng pháp hay tuyệt. Đảng (Không dùng từ này) chủ trương " không có người bốc lột người". Thế mà ngày nay bản thân Đảng hoát hành "đảng bốc lột người". Y chang…hủy thể của hủy thể!"
Mẹ bậc cười dòn tan: " Đúng ra là… phủ định của phủ định!".

Một buổi tối về khách sạn còn sớm, cậu lân la ở lại. Không biết dẫn dắt từ đề tài gì, hai chị em bắt đầu bàn về Hoàng Sa, Trường Sa và sự hiếp đáp của Trung Cộng.
Bỗngcậu đặt câu hỏi:
"Ông Bush hứa với ông Dũng sẽ ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của VN. Vậy giả sử Trung cộng tấn côngViệt Nam và Mỹ đem quân qua giúp đánh lại Trung Cộng, thì đối với hai quân đội ngoại nhập đó, theo chị thì phải gọi là gì? Tàu là quân xăm lăng, Mỹ là bọn xâm lược?
Mẹ cười duyên dáng:
"Gọi thế là…đúng sách vở đấy".
Vào ngày thăm viếng Getty Center, một công trình chi phí hàng tỷ đô la, vừa đồ sộ về kiến trú tân kỳ, vừa là viện bảo tàng nghệ thuật cổ vật hàng thế kỷ, lại vừa quy mô về tổ chức, tất cả chi phí do nhà tỷ phú Paul Getty đài thọ, cậu tôi bất ngờ hỏi mẹ:
" Nghe đâu chị đang là tỷ phú đỏ. Ngàyxưa chị chống Mỹ cứu nước, ngày nay nhà tỷ phú Việt Nam đổi mới đã đóng góp được gì để dựng nước?"
Mẹ cười: "Chị đang cho xây Đại Nam Quốc Tự thứ nhì. Hôm nào khánh thành chị sẽ mời em về dự".
Cậu cười ra vẻ đắc ý:
"Xin hỏi lần này chị đặt ông Hồ ngồi ở đâu?"
Tôi nhớ vừa đọc tin tức gần đây nói về ngôi chùa vĩ đại mới xây xong có đặt ba bức tượng từ thấp lên cao: Hồ Chí Minh, KhổngTử, Phật Thích Ca.
Tôi lo âu chờ câu trả lời. Mẹ nhởn nhơ:
"Em về thì biết".

Đêm chót trước khi rời Quận Cam trở lại Maryland chúng tôiđược cậu mời một bữa tiệc cá 7 món, đặc sản Cali. Khi chúng tôi đến nhà hàng, tôi thật sự ngac nhiên và vui mừng khi thấy có cả mợ hiện diện. Mợ đứng lên vui vẻ chào hỏi và mời mẹ ngồi bên cạnh. Mợ vốn hoạt bát, nên mẹ lúc nào cũng cười tươi. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc.
Lúc chờ tính tiền cậu hỏi mẹ bao giờ về Việt Nam. Mẹ bảo còn lâu, khoảng sáu tháng nữa. Và năm tới có thể là qua ở luôn.
Cậu gật gù nhìn mẹ rồi nhìn tôi. Tôi tưởng cậu tán thành quyết định của mẹ nhưng cậu chậm rãi nói:
" Phải nói là rất ngạc nhiên khi nghe chị tính qua Mỹ ở luôn. Chị biết không ông Hồ Chí Minh có làm một câu thơ rất nổi tiếng: đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào! Ba mươi ba năm qua, Ngụy đã nhào Mỹ đã cút. Thế mà giờ đây có người đánh đuổi Mỹ lại muốn… cút theo Mỹ!"
Tôi bật cười nhưng kịp hãm khi thấy mặt mẹ sa sầm…
Về Maryland, theo dự trù chúng tôi nghỉ ngơi ba ngày trước khi bay xuống Georgia và Texas. Nhưng chỉ mới qua đêm, buổi sáng mẹ buồn rầu đổi ý. Mẹ muốn về ngay Việt Nam. Tôi ngỡ ngàng. Nhưng tôi chợt hiểu ra. Câu trêu chọc của cậu đã chạm tự ái mẹ. Xa nhau quá lâu, mẹ không quen tính tình em mình. Cợt đùa,đốp chát vô tội vạ là thói quen của cậu. Hiểu cậu thì không ai giận cậu. Không hiểu cậu, giận cậu thì ráng chịu. Cậu nói đó rồi quên đó.
Tuy nhiên tôi vẫn không muốn thay cậu ngõ lời xin lỗi mẹ. Tôi cũng không có ý định van xin mẹ khoan vội về Việt Nam. Tôi biết chắc nếu tôi năn nỉ, mẹ sẽ ở lại. Gần tháng qua tôi đã cảm thấy chút gì gần gũi mẹ nhưng xem ra vẫn còn một bức vách vô hình ngăn cản sự thoải mái, tự nhiên, thân mật. Thậm chí còn có cái gì khác nữa khiến tôi có lúc bứt rứt, bực mình. Không có mẹ, tôi ngủ nghê, ăn uống thế nào lúc nào tùy
thích. Có mẹ, tôi phải hầu hạ, e dè, trông trước ngó sau. Mẹ ở lại lần này, lần tới sẽ ở lại mãi mãi. Mà xem ra thời gian để xây đắp tình mẫu tử chẳng còn bao nhiêu. Luật đời vốn trói buộc tôi vào kiếp nạn mồ côi từ đầu đời. Có gặp lại cha thì chỉ khi cha mất. Gặp lại mẹ thì mẹ lại bỏ đi. Thôi thì hãy coi mươi ngày bên mẹ đã là một hồng ân.
Phải mất một tuần tôi mới đổi được vé máy bay. Trong tuần cuối đó, mẹ chỉ thích đi mua sắm. Mỗi ngày tôi đưa mẹ vào một trung tâm thương mại khác nhau. Ăn thì mỗi bữa một nhà hàng khác xứ. Mẹ đã thưởng thức các món ăn Mỹ, Nhật, Thái, Đại Hàn, Mã Lai, Nam Dương.
Đêm cuối cùng, tôi hỏi mẹ có muốn ăn phở lần chót ở Mỹ không, mẹ cười bảo muốn ăn canh chua cá kho tộ. Tôi thấy chút ấm lòng..Hôm đưa mẹ ra phi trường, chúng tôi im lặng suốt đoạn đường.
Gửi xong hành lý, tôi kéo chiếc va ly, tay kia nắm bàn tay mẹ bước chầm chậm về trạm kiểm soát an ninh cá nhân. Khi gần đến dòng người ngoằn ngoèo chờ qua trạm, mẹ dừng lại. Tôi nhìn mẹ dò hỏi. Ánh mắt mẹ ngập tràn âu yếm mà giọng cất lên trầm buồn:
- Chắc mẹ sẽ không qua đây thăm con nữa.
Tôi nghe xao xuyến nhưng vẫn lặng thinh. Lời mẹ êm như tiếng thở dài:
- Và khi mẹ chết, con cũng không cần phải về…
Tôi đứng chết lặng. Tôi có cảm tưởng như tôi đã cư xử quá tệ hại với chính mẹ mình. Ý nghĩ trở thành đứa con bất hiếu khiến tôi buột miệng:
- Mẹ! Con sẽ về. Thế nào con cũng về. Cậu đã dạy con nghĩa tử là nghĩa tận.
Bà vòng tay ôm lấy tôi thật chặt, giọng êm đềm:
- Còn đây là lời mẹ dạy, lần đầu mà cũng là lời cuối. Con hãy luôn luôn ghi nhớ: "Chú như cha, cậu như mẹ". Con gắng giữ sức khỏe. Thôi mẹ đi.

Mẹ nắm chiếc cần va ly từ tay tôi. Tôi vụng về ôm lấy mẹ. Mẹ áp má vào má tôi. Tôi nghe chừng thân mình bay bổng. Khi tôi mở vòng tay, mẹ quay mặt bước đi. Tôi thấy mình quá bất nhẫn, khẻ gọi:
- Mẹ!
Bà quay lui, chân vẫn bước, đôi mắt hiền từ. Tôi lúng túng vẩy tay, cố nở nụ cười:-

Chào mẹ!


Vũ Thất 9/2008


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Mar 4 2009, 07:53 AM
Gửi vào: #7


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8






TRỜI ƠI! DUYÊN DÁNG VIỆT NAM !!!
- Mấy người?
- Bốn, hai Việt Kiều với hai ######!
Đó là câu đối đáp giữa nhóm người vừa bước vào tiệm phở với ông chủ tiệm. Cách ăn nói ở Việt bây giờ coi mòi tự nhiên và hình như họ không còn e dè gì nữa.
Về nước, mặc bộ đồ lao động, da được phơi nắng hai ba tuần nám đen cho giống người VN, tôi ung dung ngoắc chiếc xe ôm và oách như người Di cư 54:
- Đi Thủ Đức!
Gió chiều lồng lộng trên xa lộ Biên Hoà, tôi mỉm cười đắc chí, lẩm bẩm ca bài "Từ bắc vô nam tay cầm bó rau.... đay, còn tay kia... chúng ông dắt con cầy..."
Chạy ngang khoảng Cát Lái, chú xe ôm bắt chuyện: - Anh ở lước lào về?
Ô hay, sao lại "lước lào về" xế lày?
Tôi hỏi: - Anh tưởng tôi là Việt Kiều à? Tôi quê ở ngoài Hà Lam Linh đấy.
Anh nhất định tôi chẳng lừa được anh.
Có đời nào người trong "lước" mà lại ra đường đứng ngẩn ngơ ngó trời ngó đất, ngó cái bảng hiệu, ngó tùm cây bông giấy và ngó... con gái đi đường, y hệt đám bộ đội hồi mới vô nam năm 75!
Anh giải thích thêm: - Ra đường, cứ thấy ai băng qua lộ mà thập thò như con nít, nắm tay nhau hai ba người như dân quê lần đầu ra tỉnh, chắc trăm phần trăm họ là Việt Kiều đấy.
Hôm về quê, vợ chồng tôi ra chợ, cũng được chào đón một câu rất niềm nở:
- Mời anh chị Việt Kiều mua cho em ít rau.
Tôi ngạc nhiên, nhưng con em giải thích: - Ai đời vào chợ mà mặt mày ngơ ngáo, chợ quê có ai đi cả hai vợ chồng như thế, mà có đi chăng nữa cũng nguời đầu chợ kẻ cuối chợ lo mua đồ mà về cho sớm, chứ có đâu dẫn nhau đi vô hàng rau, nhìn quả khổ qua, ngó thúng cà pháo, ngó cả bó rau dền.
Nhớ lúc mới bước xuống phi trường, tôi mắc cười ngay cái bảng ghi hàng chữ "Tổ Lái", người đi bên cạnh hỏi nhỏ:
- Cười gì thế?
- Cái bảng ghi Tổ Lái.
- Kệ họ, đó là lối đi dành riêng cho tiếp viên và phi công, mình đi lối bên này.
Khi về tới đò Vàm Cống gần Long Xuyên, vợ tôi lại chúm chím cười với hàng chữ: Cụm Phà Vàm Cống.
Thằng em tôi thấy thế nói rằng: - Ăn thua gì, ở SG còn có một cơ quan đề là Cụm Cảng Hàng Không Phía nữa kìa.
Từ đường lộ vào nhà Má tôi còn hai cây số nữa, khi bước xuống đò, tôi thấy hàng chữ sơn trên một tấm tôn treo toòng teng: Đừng cột ghe xập nhà.
Em tôi lại phải giải thích là nhà làm de ra phía trên sông, nếu người ta cột ghe vào mấy cây chống sàn nhà, khi tàu lớn chạy ngang sẽ tạo ra sóng nhồi xóc chiếc ghe, thì nó sẽ giật tung lên và đổ nhà là cái chắc.
Bao nhiêu năm xa nhà, về lại thì cái gì cũng lạ và dễ tức cười, mà người ở nhà họ cũng cười cái lạ của mình. Tôi ra phố chợ, đặt tiệm da giầy một cái bao điện thoại theo ý mình, đeo vào, thằng bạn lắc đầu cười:
- Y như cái bao đựng đạn súng lục.
Mặc cái áo sơ mi kiểu Hawaii định ra phố, bà chị nói: - Trông cậu y như phường tuồng!

Tôi ở Garden City, KS. muốn về VN phải lên Wichita để đón máy bay, lái xe hơn ba tiếng đồng hồ. Khi đi, mùa hè oi ả, mặc chiếc quần ngắn cho nó mát, lên đến nơi, gặp bạn bè nói chuyện đến khuya, gần nửa đêm chuẩn bị áo quần để sáng mai ra phi trường sớm mà về VN, lục quần áo mới thấy "sự cố" là không có cái quần dài nào cả, vội vàng ra chợ Walmart kiếm cái quần vào lúc nửa đêm. Walmart bán đủ mọi cỡ áo quần, duy chỉ có size của tôi nó lại không bán, cuối cùng cũng lựa được một cái tạm hài lòng: lưng rộng hơn hai số, bù lại, chiều dài ngắn đi một số.
Hôm sau tôi mặc vào cảm thấy nó làm sao ấy, nhưng lỡ rồi, mặc đại, đi đường cứ lâu lâu lại phải ôm nó mà xốc lên vì dây lưng cũng quên tuốt ở nhà.
Về đến SG, bà chị tôi nhìn em thương hại quá, cứ xuýt xoa hoài, tội nghiệp nó ở Mỹ mà quần áo xốc xếch, xộc xệch!
Trời mùa hè VN nóng thật, con tôi không muốn đi giầy nên tôi dẫn nó ra chợ Thái Bình mua đôi dép Nhật, tôi định tập cho nó trả giá cho quen. Hỏi giá thì bà hàng nói 4,500 đồng, thằng bé ngơ ngác không hiểu nên tôi phải thông dịch từ tiếng Việt qua tiếng Việt:
- Giá bốn mươi lăm trăm đó con, trả giá đi.
Thằng bé nói: - Đâu cần trả đâu, được rồi, rẻ quá mà.
Những người chung quanh cười um lên, xúm lại coi thằng Việt Kiều con mua đồ.

Có bữa kia ngồi ở quán cóc đầu ngõ uống cà phê, đứa em thò cổ vô gọi: - Anh ra đây xem Việt Kiều Con bị đày.

Tôi ngạc nhiên không hiểu nó nói gì, ra xem thì thấy một bà già kè hai đứa nhỏ khoảng dưới sáu tuổi, ăn mặc có vẻ tươm tất lắm, không biết là đi nhà trẻ hay ra công viên chơi nhưng mặt tụi nó ỉu xìu.
Thì ra hai đứa bé đó có cha mẹ làm Nail ở Mỹ, không hiểu sao lại giao chúng về cho bà ngoại nuôi, cả xóm này gọi tụi nó là hai thằng Việt Kiều Con Bị Đày!

MỜI BẠN CÙNG TÔI KHÁM PHÁ SỰ ĐỔI MỚI CỦA VN TRONG 3 TUẦN THĂM QUÊ CỦA TÔI.

Xe Đò Nằm: Hồi này có một loại xe đò (xe khách) gọi là xe đò nằm. Đi xe này hành khách không ngồi ghế như xe đò thường, mà được nằm dài ra. Xe có ba dãy giường, mỗi dãy ba chiếc giường sắt và lại còn chồng lên một tầng nữa, vị chi là 24 cái giường.
Đây là loại giường hiện đại điều chỉnh được, tựa như giường ở trong bệnh viện.
Xe có điều hoà không khí và mở nhạc vàng nghe thoải mái. Mỗi người lên xe đều được phát một chiếc mền để đắp vì xe mở máy lạnh.
Hành khách mua vé qua điện thoại, tài xế sẽ bốc khách hẹn trước tại bất cứ khúc đường nào trên tuyến xe sẽ chạy qua.
Xe chạy khá đúng giờ, giá vé cũng tương đối hạp với túi tiền, thí dụ tuyến Rạch Giá-Vũng Tàu là 125,000 một lượt (chưa tới 8 đô la). Lơ xe rất điệu nghệ, phục vụ hành khách rất lịch sự và tận tình.
Hôm đó, nằm kế tôi là một cô nhìn dễ thương lắm, nhưng hai giường lại cách nhau đến nửa thước. Tôi ước ao lần sau họ ghép giường gần nhau hơn, để hành khách có thể nằm mà dòm nhau, âu cũng là cách rút ngắn thời gian trên đường dài.
Ai cũng biết xe đò VN có cái tật là hễ thấy khách đón xe thì không cần biết họ muốn đi tới đâu, anh lơ nhảy xuống kéo ào lên xe, miệng la "Tới luôn bác tài".
Chuyến tôi đi, có hai cha con ông kia lên xe, xe chạy một quãng thì lơ xe mới khám phá ra "có vấn đề". Ông già có tính tiết kiệm, đặt mua vé có một giường, mà lại dẫn theo cô con gái. Ông cãi với lơ xe:
- Hai người ngồi trên giường thì cũng choán chỗ y như một người nằm chớ gì.
Mặt nạ lịch sự của anh lơ xe bèn rớt xuống, anh ta với ông già xổ tiếng Đức với nhau một hồi, rồi sau cùng ông già nhượng bộ trả thêm 20,000 để cô con có thể ngồi ké ở phía cuối giường.
Tôi rất tội nghiệp mà không thể mời cô ngồi qua phía giường tôi, hoặc là mua cho cô một vé, vì hôm đó tôi đang đi chung với "con gấu yêu dấu" của tôi!

*Ăn Uống: Nghệ thuật ẩm thực VN thì quá siêu đẳng rồi, tôi xin không đề cập đến những chuyện uống máu rắn, ăn bò cạp hoặc trích mật gấu ..., mình chỉ làm một người bình thường ăn những món ăn bình thường.
-Bạn muốn xài tiền triệu?
Mời vào tiệm C. Steak House ở đường Đinh Công Tráng (chợ Tân Định), một miếng T Bone 6oz.. giá rất nhẹ nhàng là 250,000 (tiệm này có vẻ kỳ thị nặng, trên bảng giá đề: Thịt bò Mỹ: 250.000 thịt bò Úc 225.000 thịt bò nội địa 180.000).
Miếng steak ăn vào, nuốt đến đâu, thấy nó nghẹn nghẹn đến đó, vì giá cả là một, nhưng cũng tại vì nó giống như miếng thịt được bỏ trong Microwave!

- Bạn muốn xài tiền lẻ?
Mời bạn đi ăn cháo lòng bình dân với tôi.
Tôi biết cô bán cháo lòng ở quê, trước 1975 cô thuộc loại sắc nước hương trời, nhưng hồng nhan đa truân, cô đã kẹt lại. Quán cô chỉ là một cái bàn làm bằng gỗ tạp nho nhỏ, trên để mấy chai lọ lỉnh kỉnh như muỗng đũa, nước mắm, ớt... ngang chỗ cô ngồi là một nồi cháo đang sôi ọc ạch đặt trên cái cà ràng lửa liu riu.
Là khách đặc biệt nên tôi được cô vồn vã hỏi thăm và ân cần đưa cho một đôi đũa không nằm trên ống đũa "dân gian" trên bàn, cô lau cẩn thận bằng một miếng giẻ và nói:
- Anh dùng đũa này sạch hơn.
(Đũa của cô có nhiều loại: Sạch, sạch vừa, sạch hơn)
Cháo bán giá từ 3 ngàn một tô, dĩ nhiên khách muốn thêm thịt, thêm lòng thì sẽ tính thêm tiền.
Tôi ngồi ăn cháo mà ái ngại cho cuộc đời cô, vì cách đây hơn hai mươi năm, thấy cô đi ngoài đường thì tôi "chỉ nhìn mà không dám nói" vì nghĩ tới cái thân phận "quản chế" của mình.
Chợt một bà đi ngang phía trước, bà bước bỗng một chân và né sang phía trái, tôi ngạc nhiên khi thấy động tác của bà nên chú ý nhìn xuống mặt đường thì - eo ơi một đống phân chó nằm thù lù ở đó. Khiếp đảm, tôi bèn gài tờ giấy bạc vào dưới tô rồi cám ơn cô chủ quán để vọt gấp. Dợm đứng lên thì cũng vừa lúc cánh cửa sắt phía sau lưng cô hàng mở ra, một mùi nồng nặc xộc vào mũi tôi, thì ra đây là cửa hàng bán phân bón và thuốc trừ sâu rầy, mà cô hàng chỉ thuê phía trước chái hiên để bán buổi sáng. Khách hàng của cô cứ tự nhiên ăn uống kề bên những bao phân và những chai thuốc sâu độc hại, có điều mỗi lần xe đò chạy ngang, bụi tung lên mù mịt nên mùi phân bón cũng vì thế mà bớt đi phần nào!

Tham Dự Phiên Toà Lưu Động

Đang lững thững gần chợ Kinh 8 để ngó ông đi qua bà đi lại thì tôi nghe "loa cột đèn" thông báo hôm nay có phiên toà lưu động xử vụ ăn cắp trong chợ cách đây ít lâu, phòng xử ở ngay trong trường tiểu học Đông Thọ, Tân Hiệp, Kiên Giang.
Trong sân trường có một xe công an, phía trước có hai anh công an đang đọc báo, thiên hạ xầm xì rằng hai người bị còng ngồi phía sau là một cặp vợ chồng, tôi nhìn thấy tụi nó nhóc quá, chừng mười bảy mười tám tuổi là cùng. Viên chức toà án, nhân viên an ninh và ấp đội chộn rộn chạy lăng xăng trong sân trường.
Tới giờ xử, bị cáo được dẫn từ xe vào trong trường, rồi thủ tục rất rườm rà, nào là trình diện bị cáo, nào là giới thiệu thành phần các cấp dự phiên toà và tuyên đọc quyền hợp pháp của bị cáo ..
Theo cáo trạng, hai vợ chồng trẻ vì túng tiền nên len lỏi vào chợ bấm dây chuyền của một đứa bé mà má nó đang bồng trên tay, bị phát hiện thì cô vợ đưa tang vật cho chồng, anh này nuốt ngay vô bụng. Họ bị bắt đem vào nhà thương rọi X ray và bị truy tố.
Phiên toà bắt đầu bằng cảnh thư ký toà đọc tên tuổi, lý lịch của bị cáo, cáo trạng bị truy tố ... sau đó là phần chất vấn giữa Công Tố Viên và bị cáo:
- Bị cáo tên gì?
- Tên là Hoa, ông có tên tui ở trong miếng giấy ở trên đó.
- Bị cáo bị tội gì có biết không?
- Dạ bị chi tố tội chôm đồ, bấm dây chiền. (bị truy tố tội chôm đồ, bấm dây chuyền)
- Bị cáo tả lại cảnh âm mưu đi bấm dây chiền như thế nào.
- Đâu có âm mưu gì đâu, hết tiền nói đi vô chợ kiếm tiền xài với trả nợ thôi.
- Bị cáo hãy kể rõ, ở nhà hai vợ chồng bàn tính âm mưu như thế nào để giựt dây chiền trong chợ.
- Ông đổ oan, chứ đâu có mưu gì, làm sao ở nhà mà biết có đứa nhỏ ở trong chợ có dây chiền mà âm mưu.
- Bị cáo không quí trọng sức lao động, không chịu làm ăn lương thiện mà tối ngày cứ lo đi giựt đồ là làm sao, bị cáo có muốn nói gì không?
- Đâu có tối ngày đi giựt đâu, lâu lâu mới làm một lần, giờ muốn xin dìa.
- Bị cáo phạm tội, bị cáo lại xin về, bị cáo nói vậy nghe có được không?
- Chứ lỡ rồi biết làm sao giờ, ở tù rồi ai nuôi con, nó còn nhỏ híu mới chín tháng hà.
- Cha bị cáo bao nhiêu tuổi? Làm nghề gì?
- Tuổi hổng nhớ, nghề đi ghe.
- Tuổi cha mà không nhớ, hay dữ, đi ghe mà làm nghề gì?
- Đã nghề đi ghe là nghề đi ghe chứ ai mà biết làm gì.
- Bao lâu về một lần?
- Dạ vô chừng, ổng có bà nhỏ, về vô chừng lắm.
Quan toà đúng là Phụ Mẫu Chi Dân nên quay qua hỏi thân nhân bị cáo có ai muốn nói gì không, thì một bà quấn khăn rằn đứng lên xưng là mẹ bị cáo:
- Ông có cách gì coi cho nó dìa sớm sớm một chút tui đội ơn, nó là "con ních" đâu có làm hại ai bao giờ, tự tay giựt dây chiền mới bị bắt có một lần hà.
Quan toà rất thông cảm, cười cười rồi nói: - Mới bị bắt có một lần, còn thoát được mấy chục lần rồi?
Thằng chồng đen thui, chắc gốc Miên, không thấy nó nói gì ngoài những câu trả lời về lý lịch khi toà hỏi, đa số là con vợ nói xen vô.
Thằng bạn tôi thì thầm: - Đàn bà ở đâu cũng lắm mồm, kể cả khi ra toà.
Phiên toà toàn là những câu đối đáp cù cưa như trên, nghe cũng buồn cười và giải trí được chốc lát.
Phiên toà kết thúc bằng một bản án 36 tháng tù dành cho mỗi người.
Dân trí ở miền quê hình như còn quá mộc mạc, họ không coi phiên toà ra gì, hoặc họ lì rồi nên coi như một trò hề trong phiên xử.
Nhìn cảnh anh Trung uý Công An đeo quân hàm oai vệ, bước bẻ góc ở ngoài sân khi trình diện bị cáo với quan toà, rồi nghe những lời đối đáp giữa quan toà và bị cáo, giống như hai cảnh ở hai nơi, bị ép duyên vào một màn kịch bi hài.

Đi Thăm Mộ Ngô Tổng Thống

Báo chí hải ngoại đưa tin rằng anh em ông Diệm được cải táng rồi đem chôn ở Lái Thiêu, nên tôi hỏi người bạn:
- Ông biết nghĩa trang Lái Thiêu có mộ anh em ông Diệm ở đâu không?
- Ai nói với ông là ông Diệm chôn ở Lái Thiêu?
- Thấy báo nói vậy.
- Lầm tuốt. Ba anh em họ Ngô và thân mẫu của họ đều chôn ở nghĩa trang Vườn Ngâu - Thủ Đức, chỗ này còn có tên là Thừa Thiên Tương Tế.
Bởi vì bên kia xa lộ có cái bảng đề là Lái Thiêu nên người ta tưởng lầm vậy, chứ phía bên này đường là thuộc về quận Thủ Đức.
Anh xe ôm ở gần nhà cãi lại: - Hổng dám đâu. Mộ ông Diệm chôn cùng chỗ với ông Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn đó. Họ đều là người Huế hết mà, ngay nghĩa trang Gò Dưa gần đây chớ đâu xa.
Thế là tôi và ba người quen được anh ta hướng dẫn đi thăm.
Trời chiều mưa sụt sùi, nhưng nghĩa trang không có không khí ảm đạm, coi cũng khá đẹp. Chúng tôi đứng nhìn mộ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trang trí như một hòn non bộ lớn.
Lúc chúng tôi đứng chụp hình thì anh xe ôm lội cùng khắp mà không kiếm ra mộ ông Ngô Đình Diệm, anh ta tẽn tò nói tụi tôi ra ngồi chờ ở quán cà phê rồi xách xe đi kiếm. Cả tiếng đồng hồ sau mới quay trở lại và cho biết người bạn tôi đã nói đúng: Họ được chôn ở nghĩa trang Vườn Ngâu chứ không phải Gò Dưa.
Chạy xe khoảng 5 cây số nữa mới đến nơi, người ta chỉ cho ngôi mộ ông Diệm đề là Gioan Baotixita Huynh, mộ kế đó là của bà mẹ, tức là bà Ngô Đình Khả, rồi mới tới mộ ông Nhu đề là Giacôbê Đệ. Ngay kế bên là một ngôi mộ có hình một người mặc quân phục VNCH, mang một sao hai bên cổ áo, đề tên Trần Văn Ân. Cách đó dăm ngôi mộ mới là mộ ông Ngô Đình Cẩn, phía trước đề tên là Cẩn, nhưng phía sau lưng bia lại đề tên Can. Những người giữ nghĩa trang kể cho tôi nghe rằng tháng trước có người đặt một tấm bia mới đề tên là Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, rồi đem tới gắn lên ngôi mộ, đang làm thì công an tới bắt đập bể ra, còn người thì bắt đi làm kiểm điểm.
Ngày còn ở lính, tôi không hề nghe tên Chuẩn Tướng Trần Văn Ân bao giờ, hay đây là Đại Tá Ân, có bà vợ cũng là Nữ Quân Nhân, hai vợ chồng tử nạn khi bay trên chiếc trực thăng C&C trong một cuộc hành quân trên vùng Cao Nguyên (?)

Cuộc Sống Xã Hội

Hồi thời kỳ chống Mỹ cứu nước, cứ ra đến ngõ là gặp anh hùng, còn bây giờ đến quán cà phê, vô tiệm phở hay lúc đến thăm người quen, đều nghe người ta nói về những tỷ phú!
Hầu hết là chuyện nhà cửa đất đai, nào là giá một mét vuông đất từ một triệu vọt lên năm triệu, mà có người sở hữu đến dăm ngàn mét vuông; lại nghe ông kia mua một miếng đất năm bảy chục ngàn cách đây mấy năm, bây giờ nếu bán cũng được ít nhất hai ba tỷ!
Tôi đang ngồi ở quán cà phê, một anh cò đất xề tới gạ: - Bên kia có miếng đất 3 ngàn mét, nếu anh trả chừng 500 ngàn một mét (một tỷ rưỡi) nó bán ngay, bảo đảm với anh, chỉ tháng sau là anh sẽ bán được 3 tỷ, nếu không dô mánh như vậy, thằng này xin làm con anh.
Trời ơi, nhìn cặp mắt láo liên của nó, tôi đã ngán rồi, nó lại còn xin làm con tôi nữa thì xin chạy mất dép.
Cứ chỉ nghe nói không thôi, thì tiền ở VN sao dễ kiếm quá.
Vậy mà hễ cứ "giúp vốn" cho đứa cháu nào, thì cứ y như rằng năm sau cụt vốn, nó nói "Làm ăn ở VN bây giờ khó lắm chú ơi! Chú ở xa không biết ..." Tôi quát lên:
- Làm ăn ở đâu không khó? Chỉ có nằm ngửa ăn sẵn mới dễ thôi.
Hôm tôi lại nhà người thân, anh đã đặt cọc để mua một miếng đất 40 ngàn đô, thì có một anh bá vơ chạy xe tới đưa cho coi một bản đồ qui hoạch, mà trong đó chỉ rõ miếng đất kia đã bị qui hoạch làm công viên và nhà thể thao. Anh ta nói:
- Thấy anh tính mua thì thương mà báo cho biết vậy, mai mốt có mất đất thì đừng trách là thằng em không báo trước.
Trời ạ, bây giờ còn biết tin ai? Lên hỏi Địa Chính thì họ cũng trả lời mờ ớ. Hay là thằng cò kia nói thế để mình nản, đi mua miếng đất của nó ở chỗ khác (?).
Bên cạnh những người nói chuyện tiền tỷ, thì lại có những cảnh lầm than quá sức.
Gia đình tôi có làm bữa tiệc đãi bà con họ hàng lối xóm nhân dịp chúc thọ mẹ tôi được 90 tuổi. Sau bữa tiệc, có một số lon bia bán ve chai. Tôi thấy con cháu gọi chị mua đồ nhôm vô, hai người nói gì đó rồi chị ta tất tả ra đi, và khoảng hai giờ sau trở lại. Chị nhờ tôi phụ đếm số lon bia đã uống hết, chứa trong mấy cái thùng giấy. Tôi hỏi:
- Chị tính đếm từng lon hay sao?
- Dạ, vì mỗi lon giá đến 200, nếu lộn thì lỗ.
Tôi nhìn đống lon bên trong chứa lẫn lộn tàn thuốc lá lẫn xương gà.

- Con cháu tôi nói với chị là bao nhiêu lon?
- Dạ cô nói là 24 két, mỗi két 24 lon, nhưng chắc không còn đủ vì có nhiều người uống rồi lấy luôn lon.
- Hồi nãy thấy chị vô rồi đi luôn, tưởng chị không mua.
- Dạ không có, tại không đủ tiền nên phải về vựa vay thêm.
- Vựa ở đâu? Vay như thế nào?
- Dạ cũng gần, cách đây 5 cây số, đi xe ôm có ba ngàn đồng hà, vay rồi chiều về bán lại, trả họ tiền lời.
- Sao hồi sáng chị không đem về bán cho họ rồi mai đem tiền vô trả?
- Dạ sợ cô nhỏ không chịu.
Tôi thấy chán đời cho cô quá, tính ra số tiền chưa tới trăm ngàn, nếu không ngồi đếm với cô thì có vẻ bất nhẫn, mà ngồi đếm đống lon hôi rình đó thì tôi chẳng hào hứng tí nào. Tôi nói:
- Thôi, khỏi đếm nữa, cô cứ đưa cho con nhỏ 20 ngàn thôi, thiếu bao nhiêu tôi bù.
Cô ngước lên nhìn tôi rồi ứa nước mắt nói nhỏ:
- Cám ơn anh.
Vừa lúc đó mẹ tôi bước ra hàng hiên vì có tiếng người đàn bà la chói lói ở phía trước bờ sông, rồi một người chạy như bay vô sân:
- Cứu mạng! Cứu mạng! Bà ngoại ơi, ngoại có thuốc gì cho đứa con của con mấy viên, không thôi nó chết.
Mẹ tôi hỏi: - Con chị bị đau gì mà đến nỗi chết? Mà tôi đâu biết thuốc gì mà cho.
- Dạ, nó đang giựt đùng đùng dưới ghe kìa, hông có thuốc chắc nó chết.
Tôi xen vào: - Ở nhà chỉ có thuốc cảm thôi chứ có thuốc gì mà cho, sao chị không đưa nó lại Trạm Y tế coi.
- Dạ thuốc cảm cũng được chú Hai, ở Trạm Y Tế họ đâu có cho cái gì đâu.
- Tôi chỉ có thuốc cảm người lớn thôi chứ không có thuốc con nít.
- Dạ chú Hai cho con đi, con dìa bẻ làm hai cho thằng nhỏ uống cũng được mà.
Tôi vô lục túi lấy chai thuốc Tylenol đưa cho chị nhưng vẫn ngần ngại nói: - Thuốc này là thuốc người lớn, tôi sợ con chị uống không hạp.
Chị ta sợ tôi đổi ý nên chụp vội chai thuốc trên tay tôi rồi nói: - Dạ không sao đâu, con cho nó uống mỗi lần nửa viên.

Những người thợ gặt mướn tạm trú bên bờ kinh, hay ngủ dưới ghe, họ ra ruộng từ khi còn tối trời, mang theo cả đứa con mới sanh chưa đầy tháng, thằng bé nằm chổng chân ngọ ngoạy trong cái thúng, phơi nắng cả ngày mặc dù có tấm mủ cao su che phất phơ trên đầu, chắc là đang tập làm Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ ngày xưa. Thỉnh thoảng nó khóc ré lên thì bà mẹ chép miệng:
- Chắc thằng nhỏ bị kiến lửa chích!
Cô em gái tôi kể một chuyện khó tin nhưng có thật: - Thằng bé mười ba tuổi vào nhà bà ngoại với chiếc giỏ đeo toòng teng trên ghi đông xe. Bà già hỏi:
- Mày có cái gì đem vô cho tao đó Tèo?
-Dạ không có gì cho ngoại hết, má con nói đem em con vô nhờ ngoại chôn giùm!
Thì ra má nó nghèo quá không có đất chôn con, nên mới bỏ đứa nhỏ vô cái bị cói, kêu nó đem vô nhờ bà ngoại chôn.

Ấp Văn Hoá

Khắp miền quê, đâu đâu cũng thấy nhiều khẩu hiệu, thỉnh thoảng có tấm áp phích lớn đề là Ấp Văn Hoá. Đây là những ấp đã đạt đủ những tiêu chuẩn gì đó về nếp sống văn minh, tiến bộ, xoá nạn mù chữ...
Tôi đến nhà bạn chơi, cũng là một Ấp Văn Hoá, chứng kiến cảnh hai đám người chửi lộn nhau to tiếng, họ dùng toàn những lời lẽ "thầy chạy" luôn. Tôi chọc bạn tôi:
- Dân xóm mày chửi tục quá.
Nó nói: - Họ không phải dân ở đây, họ ở ấp Văn Hoá bên kia, qua đây để gặt mướn.
Tôi diễu: - Ở ấp Văn Hoá mà còn chửi nhau hả?
Nó cười:
- Càng ở Ấp Văn Hoá, càng chửi tục điệu nghệ hơn.

Đi Câu Giải Trí

Gọi một chiếc Taxi, tôi nhờ anh tài xế đưa đến một nơi câu cá giải trí, anh ta cam đoan biết rõ một hồ câu có lý lắm, lại có tiếp viên phục vụ và ngồi nói chuyện hết xẩy. Rồi ông chở tôi vào khu giải trí Thanh Đa. Chỉ là một cái hồ nông toen hoẻn rộng chừng một công đất, nước đục ngầu và có váng phèn. Từ cổng vào có ít bụi dừa nước đứng xơ rơ còi cọc. Chung quanh hồ có trồng một ít cây ăn trái như dừa, xoài và ít bụi tre, cứ cách vài ba bước lại làm một cái lều dã chiến, lợp lá, treo mấy cái võng. Có tiếp viên thật, nhưng là những anh thanh niên từ miền Bắc vào, họ lăng xăng mắc võng, dưa cần câu tới rồi mắc mồi bằng những miếng đậu hũ chiên vàng, nếu cá dính câu thì họ sẽ gỡ cá, bỏ vào giỏ hoặc đem đi chiên nướng theo yêu cầu của khách. .
Câu hơn nửa ngày, khách câu khoảng 50 người mà tôi thấy chỉ có một cần dính cá, nản quá tôi bảo anh phục vụ:
- Anh làm thế nào thì làm, mồi câu nào tốt nhất thì cứ móc vô cho tôi, nếu câu dính một con cá tôi tặng riêng anh 10 ngàn.
Thánh thật! Chỉ một lát là đầu cần câu tôi nhúi xuống, tôi gặc mạnh cần rồi ra sức quay vào, con cá khá lớn lao trên mặt nước nhủi qua kéo lại làm rối nùi dây câu của những người gần đó, thế là từng tràng tiếng chửi thề vang lên.
Tôi hết hứng, bỏ dở buổi câu mà lòng chán nản.

Thương Quá Em Bé Việt Nam

Ăn sáng ở lề đường Phan Thanh Giản, một em bé chừng mười hai mười ba tuổi cứ quẩn quanh mời tôi mua vé số, gương mặt và ánh mắt trông rất tội nghiệp. Tôi từ chối vài lần vì biết nếu mình mua của em này, thì vô khối người khác sẽ đổ xô vào mời mua thì rất kẹt, nhưng khi nhìn đến ánh mắt van lơn của em, lòng thương người rất hiếm hoi của tôi nổi dậy, tôi muốn mua giúp em để hôm nay em có thể về sớm một bữa. Tôi hỏi:
- Bình thường em bán đến mấy giờ thì hết xấp vé số này?
- Dạ thường thì ít khi hết lắm, nhưng nếu còn dư thì em phải đem về trả cho đại lý trước 3g chiều, nghĩa là trước khi sổ số.
Em nói từ sáng tới giờ mới bán được có 3 tấm, còn lại 97 tấm. Tôi kêu em đếm lại coi còn bao nhiêu tấm tôi mua hết cho, để hôm nay có thể về nhà nghỉ. Trong lúc tôi ăn thì em ngồi đếm từng tờ và nói còn đúng 97 tấm, giá 5 ngàn 1 tấm, vị chi là 485 ngàn. Tôi móc 500 ngàn ra đưa luôn, nói khỏi thối.
Thằng bé sung sướng nói cám ơn rồi lách vào dòng người xuôi ngược trên phố đông nghẹt những xe và người.
Đúng là: Sáng nay tươi hồng, trời không có mây... tôi tiếp tục bữa ăn sáng tuyệt vời.

Ở Mỹ mỗi lần mua vé số dĩ nhiên tôi mong mình trúng, mà trúng là trúng lớn để tôi có thể điềm nhiên lật ngửa cái xe cà tàng của tôi lên mà đốt, tuy nó có vẻ hơi bạc bẽo, nhưng để giã từ cái sự không sung sướng của kiếp nghèo, nếu không trúng đi nữa thì âu cũng là mua một niềm vui trong chốc lát, vì đời chỉ vui khi có hy vọng.
Đọc bài essay của một sinh viên nói về mua vé số, tôi thấy cũng có lý, vé số giúp cho mọi người trúng.

Này nhé: Ngân sách nhà nước hưởng 40%, người bán lẻ và giới quảng cáo 20%, người trúng hưởng 40% .. và ngay cả chúng ta cũng trúng luôn vì ta chỉ bỏ ra có mấy đồng, mà mua được niềm hy vọng, rẻ quá đi ấy chứ.
Những tín đồ các tôn giáo đã bỏ ra bao nhiêu tiền của, cũng chỉ là mua lấy một hy vọng mai sau có về cõi trời được hơn người khác, mà niềm hy vọng này chưa được ai kiểm chứng cụ thể cả, còn mua vé số thì có người trúng thật rồi.
Hoan hô những người mua số như tôi là những người thông minh.
Lần này mua số ở VN, tôi lại thêm được cái lợi nữa là làm cho một em bé dễ thương vui được một ngày.

Ông Trương Quang Nhơn viết bài kể chuyện ông bị thằng đánh giầy lấy đinh đục cho thủng giầy rồi đòi tiền vá. Tôi nghi ông này vẫn còn thù (Không dùng từ này) nên đặt chuyện viết "linh tinh".
Buổi chiều về nhà, tôi móc xấp vé số ra cho các cháu, tụi nó đang ồn ào chia chác thì có đứa hỏi:
- Bác mua bao nhiêu tấm?
- Thằng nhỏ biểu là 97 tấm.
- Bác có đếm không?
- Đếm làm gì?
- Thế thì bác bị nó lừa rồi, chỉ có 75 tờ thôi bác ạ.
Tôi suy nghĩ và tội nghiệp cho thiếu niên VN bị thất học, ngần ấy tuổi rồi mà đếm có mấy chục tấm vé số hãy còn sai.
Bọn nhóc trong nhà vừa cười vừa la:
- Ê, bác Việt Kiều bị thằng bán vé số nó lừa!
Tôi phân vân: Không lẽ thằng nhỏ đó nó nỡ lừa tôi, mà sao nó nghĩ cái kế lừa tôi mau như vậy được. Có lẽ nó đã lừa nhiều quả như vậy rồi.

Sách Báo

Tôi vào nhà sách mua một số sách báo mới xuất bản năm 2006.
Trong thời chiến tranh, nếu phải viết để tuyên truyền thì không nói làm gì, nhưng bây giờ đâu cần làm vậy nữa, vậy mà có những câu chuyện hay ký sự về thời chiến đã không được thi vị hoá một chút nào, toàn nói những chuyện mà người đọc bình thường cảm thấy tội nghiệp cho tác giả, bà Mã Thiên Đông viết cuốn Chuyện Giờ Mới Kể, nói về những cuộc khủng bố hay những toán đặc công đột nhập vào SG khoảng thập niên 60 hay Tết Mậu Thân. Tôi có cảm tưởng bà ta bị bệnh hoang tưởng hay là xã hội đã làm cho bà và một thế hệ cùng thời có những suy nghĩ như vậy.

Bà kể cứ chỗ nào mà đám xung kích nội thành có mặt thì bên phe Quốc Gia kể như "Tàn đời cô Lựu". Chỉ có nửa tiểu đội đặc công tấn công vào Đài Phát Thanh mà họ tả xung hữu đột, bắn cháy một xe nồi đồng, quân địch chết 38 người còn lính bị thương thì nằm la liệt khắp các nơi. Các chiến sĩ còn rất trẻ mới 17 hoặc 18 tuổi.
Ban đầu thì tôi tưởng rằng bà tả nhân dân anh hùng của SG nổi dậy nên họ rành rẽ đường đi nước bước như thế, nhưng tác giả tiết lộ đó là những du kích ở làng Trung Hoà Hạ, dưới miệt Củ Chi - Hậu Nghĩa. Trước giờ nổ súng 15 phút họ còn cách Đài Phát thanh 100 thước, với lời hứa hẹn là Đại quân sẽ tiếp viện, chỉ cần họ giữ vững 15 phút mà thôi.
Bà Mã Thiên Đông còn viết một cuốn sách quái đản: Kẻ Bị CIA Cưa Chân Sáu Lần.
Chuyện kể Mỹ dùng 10 chiếc trực thăng đổ quân để chặn bắt một anh Giao Liên ở trong rừng, họ thiệt hại một máy bay lên thẳng và chết mấy chục quân. Bắt được anh Giao Liên họ mừng lắm, chở ngay về SG cho ở trong một biệt thự tráng lệ, hứa hẹn nếu anh chịu khai báo thì sẽ tưởng thưởng cặp lon Trung Tá, cho 100 ngàn đô la với 10 người con gái đẹp phục vụ ngày đêm.
Dĩ nhiên câu chuyện lâm li ở chỗ là cái anh Vẹm con này đã thấm nhuần lý tưởng của Bác và đảng, nên từ chối những thứ kia, thế là CIA đem anh đi cưa chân đến 6 lần, mỗi lần một khúc. Một anh Bác sĩ Nguỵ còn doạ đểu, khi cầm cái cưa dứ dứ và nói cắt đến chỗ này, chỗ này... để cho anh sợ mà khai hết bí mật ra.
Đọc xong những "Đại tác phẩm" này tôi lẩm bẩm: - Sách báo như thế này mà cũng bày đặt viết rồi xuất bản.
Bà xã tôi cười mũi: - Sách vớ vẩn như vậy mà cũng có người mua đọc, rồi tức mới hay

.Người Xưa Lối Cũ

Có người về VN thăm thắng cảnh quê hương, có người về kiếm thế hưởng thụ ăn chơi, cũng có người về vì tình cảm sâu đậm đối với thân nhân bạn bè năm cũ, thoáng đâu đó, có người tìm về để ôn lại một mối tình xưa..
Tôi theo người bạn đi đến nhà người xưa của nó. Bước chân vào con hẻm cụt có bóng mấy cây khế rợp mát, chân nó bước líu ríu như lê không nổi. Đến trước căn nhà có cây ngọc lan toả bóng, thấy có người đàn bà đang quét lá, tôi với tay bấm chuông, chứ thằng Thịnh như người mất hồn. Người đàn bà hỏi:
- Hai ông kiếm ai?
Thịnh buột miệng nói liền: - Thưa bác, cô Hằng có ở nhà không ạ?
Người đàn bà vừa mở cổng vừa ngờ ngợ: - Anh là ai mà biết Hằng?
- Trời ơi, bác không nhớ cháu hay sao? Cháu là thằng Thịnh hồi trước đây có kèm cho Hằng lúc cô thi Tú Tài đó.
Cây chổi rớt xuống đất cái xẹp, hai tay bà ôm chầm lấy Thịnh và tiếng khóc oà ra:
- Trời ơi anh Thịnh, em là Hằng đây mà.
Thì ra qua hơn 30 năm, Hằng ngày xưa nay đã hơn 50 rồi. Thời gian nó tàn phá chẳng chừa một ai.

Hôm tôi về Rạch Giá, vừa bước xuông con đò ngang thì đã có cả hơn chục người đứng ngồi dưới đò, ai cũng đưa mắt nhìn tôi, miệng cười cười như chào hỏi, nhưng tôi không nhận ra mặt ai quen, bỗng có một người đàn ông chừng 50 tuổi nhưng tóc còn loe hoe có mấy sợi phất phơ trước gió, vồn vã:
- Anh mới về chơi ạ, anh còn nhớ em không?
Đầu óc tôi bây giờ tây ta lẫn lộn, chỉ nhớ mang máng hình như anh này là Khanh Khờ. Và để tỏ ra là người nhiều tình cảm, chẳng bao giờ quên anh em bạn bè, tôi tiến tới vỗ vai rồi cả quyết:
- Quên thế chó nào được, cậu là thằng Khanh Khờ đây mà!
Nguyên cả chuyến đò cười ngặt nghẹo, có người ôm bụng rũ xuống cười suýt rớt xuống sông. Tôi sượng trân, còn người đàn ông hem hễ kia nói như than:
- Em là Đĩnh đây, nhưng mà thằng Khanh mới bị khờ, còn em thì bình thường mà anh.
Tôi chỉ còn biết xin lỗi anh ta vì cái tài nhớ dai của mình.

Về đi lại trên bờ con kinh xưa, tôi gặp một thiếu phụ bồng con trên tay, thôi đúng là người vợ của bạn tôi rồi, tôi xăng xái hỏi:
- Xin lỗi, chị là chị Độ phải không? Anh chị hồi này khoẻ chứ?
Cô ta ngơ ngác vài giây rồi lí nhí: - Dạ thưa, Độ là tên của bố mẹ cháu ạ.
Ôi! Từ Thức về trần, tôi quên béng đi là mình đã xa quê hương một thế hệ rồi.

Ngày còn nhỏ, thập niên 50, tôi thường nghe bản Gạo Trắng Trăng Thanh khi nghe tiếng cắc cụp đều đều ở quê tôi, vùng suối rừng Thủ Dầu Một. Người dân vần công giã gạo cho nhau, cũng là dịp trai gái hẹn hò gặp gỡ qua công việc và lời ru tiếng hát:
"Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ta hát vang trong đêm trường mênh mang. Ai đang xay, chày buông lơi nghe tiếng vơi tiếng đầy ".

Bây giờ không còn cảnh giã gạo đêm trăng nữa, nhưng bạn tôi, một ông Pilot 69A - Ông Đông Nguyên (thi sĩ Điên Ngông) - cũng trong tâm trạng Từ Thức về trần như tôi, nặn ra được một bài thơ có thể làm Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phiền lòng:
Ta về giã lại cối xưa
Nửa đêm trăng tỏ bóng dừa ngả nghiêng
Thấy trong gạo trắng ưu phiền
Thương em hạt gạo còn nguyên nỗi buồn

Vận nước xoay vần, có những người đi xa, có những người còn ở lại, bài Tình Già của Phan Khôi sao mà thấm thía quá thể:
Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ngọn đèn mờ trong gian nhà nhỏ
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở...

Để rồi:
Hai mươi bốn năm sau
Tình cờ QUÊ CŨ gặp nhau
Đôi mái đầu đều bạc
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được...

Người ta nói "Quê hương là chùm khế ngọt", ngọt như vần điệu ca dao và ngọt như nụ hôn người tình.
Vài vần thơ lạc điệu, xin gửi cho ai có những kỷ niệm khó quên của cây khế quê nhà:
Năm xưa có cây khế ngọt
Quả non đeo nhẹ trên cành
Tay trần anh đưa muốn hái
Em cười: Khế hãy còn xanh
Hôm nay anh cầm trái khế
Muốn cắn vào năm cánh hồng
Nhưng rồi nâng niu tay khẽ
Ôm ấp chuyện xưa vào lòng.

Phương Toàn


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Mar 7 2009, 06:28 AM
Gửi vào: #8


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Truyện ngắn của Chu Quang

Câu chuyện của Lou

Mỗi lần về Washington công tác, Lou thường gọi cho tôi và hai đứa kéo nhau ra quán chị Nguyệt ở đường Wilson.

Tôi thường gọi nó với cái tên thân mật là Lou, trong khi tên đầy đủ của nó là Louis Turner, Cố Vấn Giao Tế Quần Chúng tại sứ quán Hoa Kỳ trên đường Láng Hạ của Hà Nội.

Trước năm 75, nhà ngoại giao mới tò te đầy nhiệt huyết Lou làm tại Phòng Thông Tin Hoa Kỳ tại Sài Gòn; trong chức vụ này, nó hay liên lạc và giúp đỡ hội Việt Mỹ ở đường Mạc Đỉnh Chi, qua đó nó mê con em gái tôi, đang học thêm Anh văn ở đó. Tuyết Minh cuồng nhiệt đáp lại mối tình của Lou và muốn lấy Lou, bất chấp sự chống đối của bố tôi, một công chức trung cấp. Là một người bảo thủ, có tinh thần dân tộc cao, bố tôi mắng Tuyết Minh vợ chồng khác giống, khác văn hóa không ở với nhau được lâu, và xã hội miền Nam bấy giờ ai cũng coi tất cả những ai lấy Mỹ đều là Me Mỹ. Hai đứa nó yêu nhau có lẽ vì gốc Tây. Ông nội Lou từ Pháp sang Mỹ lập nghiệp, Tuyết Minh là dân Marie Curie. Thỉnh thoảng biết ý người yêu, mỗi khi có dịp đi công tác ngoài Việt Nam về, Lou thường mang tặng những món đặc sản của Paris, như các đĩa 45, khi thì Francoise Hardy, khi thì Charles Aznavour.

Những ngày cuối cùng của tháng Tư năm 75 Lou kẹt công tác ở HongKong. Nó nhờ một thằng bạn lo thủ tục di tản bằng C-141 cho Tuyết Minh và bố mẹ tôi. Lúc bấy giờ tôi đã bị bắt và nhốt ở trại A-30 khi tiểu đoàn Dù của tôi từ Sài Gòn tăng phái cho mặt trận Khánh Dương ở vùng II bị tan hàng. Cả ba đều có tên trong manifest trên một chuyến C-141, có giờ giấc địa điểm tập trung để lên xe bus vào Tân Sơn Nhất, nhưng đến bây giờ tôi cũng không rõ chính xác vì lý do nào không đi được. Sau này mẹ tôi nói lại bố mày tin vào cậu Đài, người bà con của ông Dương Văn Minh, nói đừng đi đâu cả, miền Nam thế nào cũng trung lập; còn mẹ thì lo âu không có tin tức gì của con. Nhưng tôi thì tôi nghĩ bố tôi trong đáy lòng không muốn xa quê hương. Và đến khi ông đã “sáng mắt sáng lòng” cả nhà gom góp lại chỉ đủ vàng cho một người đi chui. Bố tôi nài nỉ con Minh mày cứ đi trước đi, sau này bảo lãnh được bố mẹ thì tốt, không thì ít ra cuộc đời mày cũng ít khốn nạn hơn bố mẹ bây giờ. Tuyết Minh rời bến Ghềnh Hào ở Bạc Liêu rồi từ đó không còn tin tức gì nữa.

Lou nói với tôi trong những năm đầu tiên sau tháng Tư năm 75, nó xin về cạo giấy tại Bộ Ngoại Giao trên đường 23 để có dịp đi tìm Tuyết Minh ở khắp các trại tỵ nạn bên Mỹ; hoặc nhờ Hồng Thập Tự đi tìm ở Úc, Canada, Pháp… nhưng chẳng nơi nào cho nó một tin tốt.

Thất vọng và chán nản, nó lại tiếp tục cái nghề ngoại giao với những nhiệm sở mới, khi thì Đông Âu, khi thì Phi Châu, khi thì Á Châu, khi thì trở lại cạo giấy ở Washington; mỗi nơi trải qua một vài mối tình lẻ, một lần lấy vợ cùng da trắng nhưng sống với nhau vài năm thì chia tay, chẳng có cái nào bền; vì dường như lúc nào nó cũng “yêu qua bóng dáng của Tuyết Minh”.

Thực tình mà nói, sau cú 30 tháng Tư, sau 9 năm cải tạo, bố tôi mất trong thời gian này, sau gần chục năm sống lây lất ở Sài Gòn, đến Mỹ theo diện HO; tôi chẳng còn chút tin tưởng nào nơi người Mỹ; nhưng mỗi khi nhắc đến những gì có liên quan đến Tuyết Minh, cặp mắt của Lou có những nét lạ lùng, vừa đau khổ, lãng mạng, say sưa, tuyệt vọng, có lẽ do giòng giống của Ronsard, Lamartine để lại; nên tôi vừa tin vừa ngạc nhiên. Dầu gì thì nó cũng là ân nhân của tôi. Nó mò ra tôi nhờ Hội Nhảy Dù địa phương, khi đó Phúc là Hội Trưởng, trong lúc tôi chưa biết lái xe ở Mỹ, thu xếp cho tôi một chân Computer Operator ca đêm trong một công ty do bạn nó có phần hùn. Nhớ những ngày đầu vào làm, tôi hoang mang lo lắng không biết có làm nổi không, Lou thỉnh thoảng phải động viên tôi theo kiểu “không vấn đề gì, anh chỉ huy một đại đội Nhảy Dù được thì chỉ huy cái dàn máy tính đó là đồ bỏ”. Mấy chú Mỹ con làm chung ca đêm với tôi coi bộ cũng ớn cái anh chàng Việt Nam có tóc bạc này. Mấy chú bảo nhau chớ đụng đến ông ấy, dù sao thì ông ta cũng là một hero theo tiêu chuẩn Mỹ, Bộ Quốc Phòng Mỹ đã thưởng ông ta một huy chương khá cao, nhờ đã chỉ huy trung đội cứu được một phi hành đoàn trực thăng Mỹ rớt xuống vùng ######.

Cuối cùng thì Lou cũng xin được một tour thứ nhì tại Việt Nam cách đây hai năm. Nó nói với tôi đây là nhiệm sở cuối cùng trước khi về hưu, bởi vì “nhiệm sở đầu tiên của tôi là Việt Nam thì nhiệm sở sau cùng phải là Việt Nam, dường như có một cái duyên nợ gì đó mà tôi không giải thích được”. Trong nghề, nó thuộc ngạch Phó Đại Sứ, nhưng đến Việt Nam lần này, nó chấp nhận chức Cố Vấn Giao Tế Quần Chúng. Vì có thâm niên cao nhất trong số các cố vấn, nên Đại Sứ Marine xem nó là nhân vật số hai, thỉnh thoảng thay mặt ông về Washington họp hành.


ĐS Marine tại Trung tâm Da Liễu Hà Nội — Nguồn: hanoi.usembassy.gov
________________________________________
Nhân viên mang quốc tịch Mỹ tại sứ quán Mỹ không phải chỉ là người của Bộ Ngoại Giao. Bên cạnh đó chủ yếu còn có người của cơ quan viện trợ USAID-nay mai có thể sáp nhập với Bộ Ngoại Giao; Bộ Thương Mại-giúp các công ty Mỹ muốn làm ăn tại Việt Nam hoặc làm những công việc như theo dõi các công ty thủy sản Việt Nam có tranh chấp phá giá với Hoa Kỳ; Bộ Quốc Phòng-tìm kiếm MIA quân nhân nhân Mỹ mất tích, trong số người của Bộ Quốc Phòng lại có DIA, người của tình báo quốc phòng theo dõi tình hình của quân đội Việt Nam, các chuyển động của quân đội Trung Quốc ở vùng biên giới Hoa-Việt, ghi nhận các phái đoàn quân sự ngoại quốc, đặc biệt là Trung Quốc, đến Việt Nam. Dĩ nhiên phải có người của CIA, mà người thuật chuyện tạm gọi là Trú Sứ CIA, để nhớ đến Người Thứ Tám, cha đẻ của điệp viên đào hoa Tống Văn Bình Z-28 của miền Nam trước 75.

Công việc hiện nay của Lou ở Hà Nội gồm hai mặt đối nội và đối ngoại. Đối nội là thu xếp cho các phóng viên của các đài truyền hình, phát thanh, báo chí Mỹ đến Việt Nam để tường thuật về hoạt động của người Mỹ tại Việt Nam và thu xếp cho Đại Sứ những việc cần thiết mỗi khi về Mỹ họp với Bộ Ngoại Giao, Quốc Hội, hoặc cộng đồng người Việt. Đối ngoại là tạo một hình ảnh tốt đẹp về nước Mỹ trước mắt người dân Việt Nam. Tổ chức những chuyến tham quan cho các nhà báo Việt Nam đến xem những dự án do Hoa Kỳ tài trợ, như dự án dọn dẹp mìn bẫy ở Quảng Trị, dự án HIV/AIDS ở Hà Tây, và gần đây là dự án cúm gia cầm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chính Lou đã đưa ý kiến sử dụng một tàu chiến của Hải Quân có Hạm Phó là một người Mỹ gốc Việt, khi Hà Nội chấp nhận cho tàu Mỹ ghé cảng Sài Gòn. Theo dõi dư luận báo chí, truyền thanh, truyền hình của Việt Nam xem họ nghĩ gì về các chính sách của Mỹ, dưới trướng Lou có bốn nhân viên người Việt thuộc ngạch FSN -Foreign Service National, người địa phương làm cho ngành ngoại giao Mỹ- lo chuyện này. Lou có một số bạn nhà báo trong các tờ Nhân Dân, Tuổi Trẻ và Thanh Niên; nhưng rõ ràng là những bạn này vẫn giữ thái độ dè dặt, “có mặt mình thì họ nói khác, không có mặt mình thì họ nói khác, xã hội Việt Nam bây giờ muốn tồn tại thì phải đóng nhiều vai”. Thu xếp cho các Dân Biểu, Nghị Sĩ đến gặp các nhân vật hô hào dân chủ, các nhà sư không thuộc giáo hội quốc doanh; cũng là chức năng của Lou, và công việc này khá phức tạp, mỗi lần phải thuyết phục phía “đối tác” bên Bộ Ngoại Giao Việt Nam khản cả cổ mới xong. Hai phòng thông tin Hoa Kỳ ở Hà Nội và Sài Gòn cũng nằm dưới trướng của Lou. Ngoài ra, Lou còn quản lý một số chương trình như Fulbright, chọn lựa một số trí thức Việt Nam thuộc đủ mọi ngành nghề, đài thọ họ một chuyến đi Mỹ trong vài tuần, vài tháng hoặc cả năm, để họ có dịp chứng kiến tận mắt những xấu tốt của nước Mỹ. Cố Nghị Sĩ Fulbright đã đặt ra chương trình này với quan niệm rằng cách tốt nhất để quảng cáo cho nước Mỹ, là đưa người ngoại quốc đến Mỹ để nhìn thấy chế độ dân chủ dựa trên kinh tế thị trường thực sự vận hành như thế nào để rồi sau khi về nước, những người đó sẽ có những suy nghĩ, tư duy, so sánh và hành động.

Sau khi cạn món nhắm đầu tiên-hến xúc bánh tráng, và ly rượu đỏ đầu tiên-Merlot California 2001-của quán chị Nguyệt, Lou bắt đầu kể.



Metro Foggy Bottom — Nguồn: stationmasters.com
________________________________________
Ra khỏi trạm metro Foggy Bottom, tôi quẹo mặt, bỏ lại trường đại học Washington phía sau để đi bộ về hướng Bộ Ngoại Giao, dọc theo đường 23.

Quãng đường nay không xa lạ gì với tôi, chỉ có ba block thôi nhưng không hiểu sao hôm nay nó dài thế, và tôi hơi có hơi mệt mỏi. Không phải vì jet lag sau gần 20 tiếng đồng hồ ngồi máy bay, ngủ gà ngủ gật, mà vì có lẽ kinh nghiệm trong nghề cho biết mình sẽ dự một cuộc họp nếu không quan trọng thì cũng sắp sửa dẫn đến một biến chuyển quan trọng.

Đáng lý ra Đại Sứ Marine phải dự cuộc họp này, nhưng ông nói tình hình khẩn trương buộc ông phải ở lại Hà Nội. Đảng (Không dùng từ này) đang có những cuộc họp trù bị để sắp xếp ban lãnh đạo mới, chủ yếu là Bộ Chính Trị, hay cụ thể hơn là Thường Trực Bộ Chính Trị. Tất cả quyền lực gồm bộ máy công an chìm nổi khổng lồ ở mọi ngõ ngách đều nằm trong tay một nhúm người. Theo lối tổ chức của (Không dùng từ này), đảng đồng nghĩa với chính phủ – đúng ra là ông đảng trên ông chính phủ, Thủ Tướng muốn cách chức một đảng viên Bộ Trưởng phải hỏi đảng, đảng lắc đầu thì Thủ Tướng không cách chức được, vẫn phải tiếp tục làm việc với cái anh thuộc cấp mà mình muốn đuổi đi. Mà Đảng viết hoa là ai, có phải 80 triệu người Việt không, không; có phải 2 triệu đảng viên không, không; có phải là gần 200 mạng trong Ban Chấp Hành Trung Ương không, không; có phải là mười mấy anh trong Bộ Chính Trị không, không. Hóa cho nên rút cục những chức vụ quan trọng nắm quyền sinh sát là nhúm người trong Thường Trực Bộ Chính Trị, hay cụ thể hơn, là Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng, và Chủ Tịch Quốc Hội. Anh Bộ Trưởng có tội chỉ cần chạy án với mấy cụ to đầu này là xong, nhiều khi không cần chạy mấy cụ to đầu này cũng phải đưa tay ra giúp, nếu không thì bứt giây động rừng.

Cũng giống như hai người tiền nhiệm, nhiệm vụ của Đại Sứ Marine là tạo điều kiện thuận lợi để bốn chức này nói riêng, và Thường Trực Bộ Chính Trị nói chung, phải có đa số là người ngả theo Washington, thay vì Bắc Kinh. Nhiệm vụ này không dễ gì, nói theo người Mỹ là “to fight a losing battle”; vì Hà Nội gần với Bắc Kinh hơn là Washington; cách cai trị của Hà Nội và Bắc Kinh cũng giống nhau, cha truyền con nối, xem dân là con cái trong nhà, ông đặt đâu chúng mày phải ngồi đấy. Một cái khó nữa của Đại Sứ Marine ở Hà Nội là bây giờ ông không có được cái thế giống như Đại Sứ Lodge ở Sài Gòn trong năm 1963. Tuy nhiên, nhờ hai người tiền nhiệm đã dọn đường khá tốt, Đại Sứ Marine có thể đóng vai dứt điểm, nhiệm sở này có thể định đoạt sự nghiệp ngoại giao của ông, giúp ông đi vào lịch sử, vì ông đã được miêu tả như là người “vừa có kinh nghiệm với người Việt, vừa có kinh nghiệm với người Tàu”.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, lịch sử Việt Nam không được viết tại Hà Nội hoặc Sài Gòn mà khi thì Genève, khi thì Paris, khi thì Washington. Cũng không viết bởi những cái tên Đinh Lê Lý Trần mà những cái tên như Bundy, Harriman, Lodge, Habib, Kissinger; những người đã có thời ra vào hằng ngày tòa nhà nằm góc đường 23 và C của Washington. Thời thế thay đổi, tòa nhà đó lúc trước phải cạnh tranh với điện Kremlin và những người ngồi ở Trung Nam Hải, nhưng bây giờ tuy chỉ còn Trung Nam Hải, nhưng Trung Nam Hải này quá mạnh.

Một lý do nữa khiến tôi nghĩ rằng cuộc họp này quan trọng vì đã đến lúc tôi phải công khai hóa cuộc tình giữa tôi và Hoài Thu, kém tôi nhiều tuổi, cán bộ của Vụ Báo Chí Nước Ngoài thuộc Bộ Ngoại Giao, nằm trên đường Khúc Hạo. Không biết có phải là tình yêu thực sự hay không nhưng có vẻ cũng “nặng” rồi. Chúng tôi quen nhau do công việc tiếp xúc thường xuyên, rồi bỗng dưng thấy không thể thiếu nhau, nhưng mọi chuyện yêu đương phải làm trong trong lén lút, và tình trạng này không thể kéo dài. Hoài Thu nói nếu phải bỏ đảng thì không sợ, chỉ sợ gia đình nàng bị kéo theo những chuyện lôi thôi phức tạp.

*****

- Chờ chút đã, Lou. Tôi tưởng bây giờ người Hà Nội thích, nếu không muốn nói là tự hào, cho con cái mình lấy người Mỹ nói riêng và Tây nói chung?

- Đúng, nhưng vẫn còn một số rất nhỏ đảng viên có quyền lợi dính chặt với đảng. Họ chỉ muốn hàng hóa, công nghệ, đôla của Mỹ chứ không muốn tổ chức chính quyền theo kiểu Mỹ, bởi vì như vậy là họ tự giết họ. Cái số của tôi cứ phải liên lụy với phụ nữ Việt Nam, lần trước với Tuyết Minh chẳng đi tới đâu, có vấn đề với bố nàng; lần này với Hoài Thu chưa biết đi về đâu, trước mắt có vấn đề với đảng.

- Là dân ngoại giao chuyên nghiệp, cậu không ngại quan hệ tình cảm với đảng viên (Không dùng từ này) sao?

- Dĩ nhiên Bộ Ngoại Giao sẽ thắc mắc với tôi vì quan hệ tình ái với một đảng viên hay cựu đảng viên (Không dùng từ này), nhưng lúc đó thì tôi đã về hưu rồi. Về mặt chính thức, Hoa Kỳ và Việt Nam không phải là kẻ thù, Bộ Ngoại Giao hoặc chính phủ liên bang có thể không sử dụng tôi, nhưng không thể cấm tôi sống với người Việt Nam, dù có gốc (Không dùng từ này) hay không.

- Trước khi nghe cậu kể tiếp, tôi có câu hỏi. Thời buổi Internet, email, vệ tinh viễn thông, hội thoại truyền hình; tại sao không sử dụng mấy phương tiện đó cho nhanh, mà phải đích thân từ Hà Nội bay về Washington họp?

- Các phương tiện đó chỉ sử dụng cho các cuộc họp bình thường. Cơ quan phản gián của Hà Nội và Bắc Kinh cũng gớm lắm, mấy lần họ đã cho hacker xâm nhập hệ thống điện tử của chúng tôi ở sứ quán. Cũng may nhờ có Christine Trần phát hiện kịp nên chỉ bị mất những dữ liệu không quan trọng. Christine là chuyên viên bảo vệ an ninh máy tính, tốt nghiệp đại học Fullerton ở California. Cô ta xem công việc ở sứ quán vừa là chuyện để lãnh lương, vừa là “sứ mạng” phải làm một cái gì cho cha cô, một sĩ quan chế độ Sài Gòn chết trong trại cải tạo.

- Okay. Cậu cho nghe tiếp.

***********

Mở đầu buổi họp, Đại Sứ Christopher Hunt yêu cầu từng người báo cáo tình hình. Đây là lần đầu tôi họp với ông. Là nhà ngoại giao chuyên nghiệp, ngạch Đại Sứ, chức vụ của ông bây giờ là Trợ Lý Ngoại Trưởng về Châu Á Thái Bình Dương. Ông được Ngoại Trưởng Rice chỉ định để thay thế cho Jim Kelly khi bà Rice thay ông Powell. Kinh nghiệm chính của Chris là Triều Tiên sau nhiều năm làm đại sứ ở Seoul. Trong buổi họp đầu tiên với các đại sứ thuộc trách nhiệm của mình, Chris đề ra những ưu tiên trong kế hoạch hành động của ông là làm thế nào giải quyết vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên và kế đó là giữ cho các nhóm Hồi giáo cực đoan ở Đông Nam Á ngồi yên một chỗ, đặc biệt là nhóm Jemah-Islamiah tại Indonesia. Như vậy, theo tôi hiểu, Việt Nam không phải là ưu tiên số một của Chris; và ông ta cũng không có nhiều kinh nghiệm để đối phó với Việt Nam cùng mối liên hệ tay ba phức tạp giữa Hà Nội, Bắc Kinh và Washington.

Một trong những người đứng phó cho Chris là Eric Johnson, phụ trách Việt-Miên-Lào và Miến Điện. Tôi không biết nhiều về Eric, chỉ gặp một lần khi ông đến Hà Nội tháng trước. Ông giữ chức này cùng thời gian với Chris, khi bà Rice thay ông Powell. Người trực tiếp phụ trách Việt Nam, Vietnam Desk, dưới trướng của Eric là Helen Dunlap, chuyên viên ngoại giao với sáu bảy năm trong nghề.

Người cuối cùng trong buổi họp là Matthew Duly, Chủ Tịch Hội Đồng Phát Triển Thương Mại Hoa Kỳ-ASEAN. Matthew trước đây ngồi ở cái ghế của Eric bây giờ. Sau khi nghỉ hưu, ông xoay được cái chức này để vừa ăn lương hưu, vừa ăn lương tượng trưng trong Hội Đồng, vừa có dịp du lịch các nước ASEAN. Giống như CIA có những tổ chức bình phong để thu lượm thông tin, Bộ Ngoại Giao có những tổ chức “con”, mang tính cách tư nhân – như hội đồng phát triển thương mại, tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện… - để hỗ trợ cho chính sách ngoại giao của mình. Đáng lý ra Matthew không có tư cách để ngồi trong buổi họp này, ông không còn là người của nhà nước nữa, ông ta đã “out of the loop", nhưng Chris mời ông đến vì cần đến kinh nghiệm và kiến thức của ông.

Matthew cũng là người lên tiếng đầu tiên trong buổi họp:

- Trong nỗ lực đưa Hà Nội đến gần với Washington hơn, trong thời gian qua, hội đồng chúng tôi đã thuyết phục Intel đến Việt Nam lập nhà máy sản xuất chip, thuyết phục ông Bill Gates đón Thủ Tướng Việt Nam tại Seattle và đồng thời thuyết phục ông Gates đến thăm Việt Nam một chuyến dù ông ta biết rằng các sản phẩm nhái của Microsoft được bày bán công khai trên đường phố. Trong tháng 3 vừa qua, đích thân tôi đã hướng dẫn một đoàn doanh nhân Mỹ đến Việt Nam, gồm nhiều cái tên lớn của nhiều ngành nghề như ACE, Alticor, Anheuser-Busch, Boeing, Citigroup, FedEx, Ford, GE, Oracle, Phillip Morris, Time Warner, và UPS. Mục đích là để Hà Nội thấy đang có nhiều công ty Mỹ muốn làm ăn tại Việt Nam. Ngược lại, thông qua Hội Đồng Thương Mại Việt Mỹ của Virginia Feet, chúng tôi cũng đưa một số đoàn doanh nhân Việt Nam đến thăm Hoa Kỳ để tìm hiểu thị trường, cung cách làm ăn của các công ty Mỹ.

Chris đặt câu hỏi:

- Chúng ta sẽ tiếp tục để cho thâm hụt mậu dịch giữa hai nước kéo dài trong bao lâu?

Eric trả lời:

- Thâm hụt với Việt Nam không đáng kể so với thâm hụt với Trung Quốc cho nên chúng ta vẫn còn tiếp tục được, để phục vụ cho chính sách ngoại giao. Điều cần nhất là Hà Nội cần hiểu được rằng Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ mạnh nhất các sản phẩm của Việt Nam; đặc biệt là hàng dệt may, giày da, và thủy sản. Các ngành này liên quan đến cuộc sống của hàng triệu người Việt, lớp người này thất nghiệp sẽ tạo bất ổn xã hội. Còn như nếu muốn thăng bằng mậu dịch thì không có gì khó, chỉ cần bán vài chiếc Boeing cũng đủ huề với cả triệu pao cá basa.

Lou chen vào:

- Tôi xin trở lại đề tài Bill Gates mà Matt vừa nói lúc nãy. Nếu được thì xin Matt thuyết phục ông Gates đến Việt Nam lúc Đại Hội 10 đang họp để thứ nhất là để ủng hộ tinh thần cho phe cấp tiến muốn hợp tác với Washington, thứ hai là để chứng tỏ Hoa Kỳ chủ yếu chỉ muốn giúp Việt Nam phát triển kinh tế chứ không muốn áp đặt về chính trị.

Chris thắc mắc:

- Nhưng có kịp hay không và liệu Hà Nội có chịu tiếp ông Gates trong lúc đại hội đảng đang họp hay không?

Lou trả lời:

- Tôi nghĩ là kịp. Dù sao bên cạnh sự kiện tỷ phú, ông Gates còn là một người yêu nước. Chúng ta sẽ thuyết phục ông dành chút thời giờ bận rộn đến thăm Việt Nam để làm đẹp bộ mặt nước Mỹ thì chắc ông không nỡ từ chối. Khi Thủ Tướng Phan Văn Khải đến gặp ông Gates ở Seattle trong chuyến đi Mỹ, ông Khải có nói bất cứ lúc nào ông Gates đến thăm Việt Nam cũng được welcome. Dù sao ông Khải cũng là dân miền Nam, sẽ tôn trọng lời hứa; bên cạnh đó, chúng ta cũng bắn tin nói rằng nếu ông Gates không đến Việt Nam trong lúc này thì còn lâu lắm mới đến được. Sự có mặt một doanh nhân số Một của Mỹ trong ngày đảng (Không dùng từ này) Việt Nam họp đại hội, được Thủ Tướng Việt Nam đón tiếp, được các sinh viên Việt Nam, trong đó có nhiều sinh viên bỏ ông Hồ Chí Minh sang một bên để xem ông Gates là thần tượng, tự động đổ xô nhau dàn chào, nhất định sẽ làm Bắc Kinh bực tức, và sẽ làm phe cấp tiến trong đảng (Không dùng từ này) Việt Nam lên tinh thần.

Matt gật đầu:

- Okay, lát nữa sau buổi họp tôi sẽ gọi điện thoại cho ông Gates, hoặc nếu cần thì tôi sẽ bay đi Seattle.

Chris hỏi tiếp:

- Có tiến bộ gì trong vấn đề đàm phán song phương để Việt Nam gia nhập WTO chưa?

Eric trả lời thay Matt:

- Tôi vẫn đi họp với cơ quan phát triển ngoại thương ITA của Bộ Thương Mại và Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ USTR để trình bày quan điểm của Bộ Ngoại Giao chúng ta là muốn thấy Việt Nam vào WTO trong năm nay để vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, vừa đưa Việt Nam vào khuôn khổ của những tập quán buôn bán phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Đại diện của ITA và USTR cho biết họ cố gắng giải quyết một số chi tiết nữa, có những chuyện mà chúng ta xem là bình thường thì Hà Nội xem là nhạy cảm; ví dụ như họ chỉ muốn sách báo của họ được tự do ra vào Hoa Kỳ nhưng họ lại không muốn sách báo từ Mỹ, nói vắn tắt, họ không muốn sách báo của cộng đồng người Việt tại Mỹ-mà họ thường gọi là Việt Kiều-được tự do ra vào Việt Nam. Chúng tôi đã tìm cách thuyết phục họ là nếu chúng tôi chấp nhận thì thứ nhất là sẽ không theo đúng qui định của WTO, thứ hai là chúng tôi sẽ khó ăn khó nói với cộng đồng Việt Kiều.

- Như vậy tôi sẽ trả lời sao với Mađam Bộ Trưởng về chuyện WTO?

- Ông cứ nói là chúng ta đang giải quyết một số chi tiết nhỏ, và hy vọng là sẽ đạt được mục tiêu giúp Việt Nam gia nhập WTO trong năm nay.

Quay sang Helen, Chris hỏi:

- Cô có gì mới để báo cáo không?


Đại Sứ Chiến — Nguồn/Ảnh: washingtonpost.com/ Gerald Martineau
________________________________________
- Quan hệ giữa văn phòng tôi và sứ quán của Hà Nội vẫn bình thường. Đại Sứ Nguyễn Tâm Chiến có vẻ vui hơn sau khi chúng tôi phối hợp với sứ quán tổ chức chuyến đi Mỹ của Thủ Tướng Phan Văn Khải, và đặc biệt là Bạch Cung đã chấp thuận đề nghị của chúng tôi là dành cho vợ chồng Đại Sứ Chiến một buổi tiếp kiến riêng với Tổng Thống Bush và Đệ Nhất Phu Nhân. Tuy nhiên, thỉnh thoảng ông ấy vẫn nhắc tôi là làm thế nào giúp ông ta bằng cách giúp lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC, chấm dứt hiện tượng treo cờ của chế độ cũ của miền Nam tại nhiều thành phố Hoa Kỳ, và vô hiệu hóa hoạt động của các tổ chức muốn lật đổ, đặc biệt là tổ chức của ông Nguyễn Hữu Chánh.

- Cô trả lời ông Chiến ra sao?

- Tôi đã giải thích với ông ta vấn đề đưa Việt Nam vào danh sách CPC là do áp lực của đồi Capitol, do đó muốn lấy tên Việt Nam ra khỏi danh sách này thì ông ấy phải lobby với Quốc Hội bởi vì chúng ta có sự phân quyền rõ rệt, không phải như Việt Nam, đảng muốn thì chính phủ hay Quốc Hội phải nghe. Tuy nhiên, để giúp ông ta trong vấn đề này, chúng tôi cũng đã gửi một memo cho Đại Sứ Marine để khi nào thấy thuận tiện thì tuyên bố ủng hộ chuyện rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC và Đại Sứ Marine đã làm điều đó. Về chuyện treo cờ của chế độ miền Nam cũ, chúng tôi cũng giải thích với Đại Sứ Chiến là chúng tôi bó tay, bởi vì đây là việc làm của các tổ chức dân sự, phù hợp với tinh thần tự do của xã hội Hoa Kỳ. Điều mà chúng tôi có thể làm là nhờ Đại Sứ Marine tuyên bố công khai chính phủ Hoa Kỳ bang giao với Hà Nội nên chỉ công nhận lá cờ của Hà Nội, và Đại Sứ Marine cũng đã làm điều đó. Còn về tổ chức của ông Nguyễn Hữu Chánh thì sau khi nhận được thông tin của FBI, tôi đã giải thích với Đại Sứ Chiến rằng tổ chức đó không có gì đáng ngại, và chúng ta không có lý do pháp lý nào để khởi tố tổ chức hoặc cá nhân ông Nguyễn Hữu Chánh cả.

- Cám ơn Helen, thưa các bạn, chúng ta đã nghe phần trình bày của Matt, Eric và Helen. Bây giờ đến phần mà tôi cho là quan trọng nhất trong buổi họp hôm nay, là phần của Lou. Xin mời.

- Cám ơn Đại Sứ. Như ông và các bạn đã biết, trong lúc chúng ta đang ngồi họp với nhau đây thì đảng (Không dùng từ này) Việt Nam đang có những buổi họp trù bị để chuẩn bị cho Đại Hội đảng. Đại Hội này sẽ chọn ra nhóm lãnh đạo mới trong ít nhất là 5 năm tới đây. Nếu nói một cách ngắn gọn, thì mục đích của chúng ta là làm thế nào để các chức vụ quan trọng nhất, là Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng và Chủ Tịch Quốc Hội nếu không rơi vào tay thành phần thân Washington thì cũng vào tay thành phần không quá lệ thuộc vào Bắc Kinh. Công tác này tùy thuộc phần lớn vào Trú Sứ CIA tại Hà Nội, ngành ngoại giao của chúng ta chỉ đóng vai yểm trợ mà thôi. Trước khi về đây họp, tôi cũng có dịp họp với Trú Sứ CIA tại Hà Nội nhưng như Đại Sứ và các bạn đã biết, CIA cũng chỉ cho chúng ta biết phần nào công việc của họ. Rút kinh nghiệm của vụ Năm Cam, lần này CIA đưa ra sách lược mới. Đầu tiên…

- Lou, xin ngắt lời anh một chút, làm ơn làm mới lại bộ nhớ của tôi dùm, vì khi vụ Năm Cam xảy ra thì tôi vẫn còn phục vụ nhiệm sở ở Seoul.


Trương Văn Cam — Nguồn: vnmedia.vn
________________________________________
- Vâng, Trú Sứ CIA tại Việt Nam móc nối được với Năm Cam, khi anh ta đang ở đỉnh cao trong giới xã hội đen. Là một Hạ Sĩ Quan của quân đội miền Nam, Năm Cam có truyền thống ơn nghĩa với cấp chỉ huy cũ. CIA kiếm được “ông thầy” trực tiếp cũ của Năm Cam lúc đó đang ở California và nhờ ông thầy của Năm Cam, một sĩ quan cấp úy, giúp tuyển mộ Năm Cam. Ông thầy sau đó đi Việt Nam vài chuyến với tư cách du lịch, ăn nhậu và thăm dò tư tưởng và cuối cùng thuyết phục được Năm Cam hợp tác. Để chứng minh hợp tác với CIA là chuyện nghiêm túc chứ không phải là cái bẫy, ông thầy còn mời Năm Cam đến Las Vegas, với danh nghĩa là để đốt tiền trong các casino, và có ca sĩ Phương Hồng từ Quận Cam lái xe lên thăm. Để tránh những con mắt dòm ngó của phản gián Hà Nội và Bắc Kinh; trong thời gian Năm Cam ăn ngủ, vui chơi và đánh bài tại sòng Bellagio - huấn luyện viên và phiên dịch viên của CIA khi thì đóng vai hooker, khi thì đóng vai phục vụ phòng; đến tận cái suite của Năm Cam để huấn luyện anh ta sử dụng các thiết bị điện tử và hi-tech cần thiết cho công tác. Đến khi quay về Việt Nam, Năm Cam lần lượt cung cấp cho chúng ta những thông tin với những chứng cớ rõ ràng của các quan chức thân Bắc Kinh đã bị “hủ hóa” để đến khi cần, họ sẽ bị loại bỏ khỏi guồng máy lãnh đạo. Điều không may là gần đến bước quyết định, phản gián Hà Nội và Bắc Kinh phát hiện và báo động cho thành phần thân Bắc Kinh. Họ bèn cho “khoanh vùng” lại và chận đứng vụ này ở cấp Thứ Trưởng. Một số người thân Washington bị lộ đã bị mất chức, một số chưa bị lộ lai tiếp tục án binh bất động. Kết luận, vụ Năm Cam là một thoái bộ của phe cấp tiến và làm cho công việc của Trú Sứ CIA khó khăn thêm.

- Cám ơn Lou. Bây giờ xin anh tiếp tục.

- Vâng! Rút kinh nghiệm vụ Năm Cam, Trú Sứ CIA lần này mở nhiều chiến dịch đồng bộ. Trước khi nói đến các chiến dịch này, tôi cũng xin báo cáo câu chuyện về phô trương lực lượng của Bắc Kinh. Trước ngày họp Đại Hội 10, Giả Khánh Lâm, nhân vật lãnh đạo số 4 của Trung Quốc đã đến Việt Nam để ủng hộ tinh thần cho phe thân Bắc Kinh. Trú Sứ CIA ghi nhận rằng ông này đã ngang nhiên ra chỉ thị cụ thể là phải có người này người nọ vào Bộ Chính Trị. Và cũng giống như Giang Trạch Dân lần trước, Giả Khánh Lâm lần này cũng ghé Đà Nẵng, đi thăm phố cổ Hội An; để một lần nữa, nhắc lại lập luận của Bắc Kinh là đã có Quảng Đông, Quảng Tây rồi thì phải có Quảng Nam.

- Nhưng sau đó Hà Nội đã tìm cách giảm bớt tầm quan trọng này bằng cách mời Chủ Tịch Hạ Viện Dennis Hastert của chúng ta đến Hà Nội.

- Đúng ra đây là sự thiếu phối hợp giữa Quốc Hội và Chính Phủ Hà Nội. Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An mời ông Haster mà quên hội ý trước với phía Chính Phủ. Còn ông Hastert thì cũng sẵn dịp đi chơi trong hai tuần nghỉ Phục Sinh. Tóm lại, sự trùng hợp và tình cờ này làm Bắc Kinh bực tức vì trong lúc Trung Quốc cử nhân vật số 4 đến Việt Nam để “giám sát” đại hội đảng thì Hoa Kỳ lại đưa nhân vật số 3 đến. Đại Sứ Trung Quốc Hồ Càn Văn phải chạy đến trụ sở Bộ Ngoại Giao Hà Nội mấy lần để vận động. Cuối cùng thì Hà Nội phải mở cửa đón thêm Bộ Trưởng Quốc Phòng Tào Cương Xuyên cho vừa lòng Bắc Kinh. Bây giờ tôi xin trở lại với các chiến dịch mà Trú Sứ CIA tại Việt Nam đã tung ra nhân kỳ Đại Hội 10 này. Rút kinh nghiệm của vụ Năm Cam, Trú Sứ CIA cho tôi biết, lần này họ mở nhiều mặt trận cùng một lúc, vừa giúp đỡ ngầm các vụ đình công của công nhân đòi tăng lương, vừa giúp hơn một trăm nhà trí thức trong vấn đề ra tuyên ngôn và báo chui. Nhưng trọng điểm vẫn là vụ PMU 18, mà mục tiêu tối hậu là loại bỏ những người, kể cả người có quyền lực cao nhất, có lập trường đi theo Bắc Kinh.

- Nhưng rõ ràng lần này vụ PMU 18 lại bị “khoanh vùng”, chỉ lên đến Bộ Trưởng Đào Đình Bình là hết.

- Vâng, khi vụ PMU 18 bắt đầu nổ ra thì Sứ Quán, Cục Phản Gián và Cục Tình Báo Hải Ngoại của Trung Quốc biết ngay là chúng ta đang nhắm vào họ; bởi vì có nhiều công ty xây dựng của Trung Quốc bắt được hợp đồng trong dự án PMU 18. Một mặt họ phản công bằng cách đánh vào một số cơ sở bình phong của CIA; ví dụ như SITC, một doanh nghiệp có nhiều trường dạy tiếng Anh và Trường Quốc Tế Hà Nội, chuyên dạy cho con cái người nước ngoài. Họ đánh vào đó bằng cách dùng những lý do như lừa đảo, ăn cắp, tẩy tiền…để dằn mặt CIA. Một mặt họ tìm cách ngăn vai, giữ cho vụ PMU 18 chấm dứt ở cấp Bộ Trưởng. Hiện nay ông Đào Đình Bình chưa bị chính thức kết tội. Người ta để cho ông tự hiểu ngầm cứ ngồi yên đó, đại hội đảng xong sẽ có giải pháp thuận lợi cho anh, thông thường là “xử lý nội bộ”, hoặc cùng lắm thì ở tù vài tháng, chế độ khách sạn 5 sao, mãn hạn tù coi như “hạ cánh an toàn”, tài sản được bảo quản; còn nếu anh mở miệng khai chia chác tiền bạc ăn cắp với ai thì anh chẳng có lợi gì cả, mà bản thân anh, gia đình anh sẽ lãnh đủ.

- Như vậy thì lần này người Mỹ chúng ta lại thua một keo nữa?

- Cho tới giờ phút này, chưa thể khẳng định được.

- Tại sao?

- Trú Sứ CIA cho tôi biết lần này họ áp dụng binh pháp Tôn Tử và sách lược Mao Trạch Đông để đối phó người Trung Quốc. Dương Đông kích Tây, điệu hổ ly sơn, làm cho địch tưởng là Điểm nhưng thực ra là Diện, làm cho địch tưởng là Diện nhưng thực ra là Điểm. Trú sứ CIA có nhờ sứ quán chúng tôi vận động với chính phủ Nhật Bản, các nước Tây Âu, Ngân Hàng Thế Giới lăm le đưa người sang điều tra vụ PMU 18 để xem các món viện trợ ODA đã bị thất thoát như thế nào, nếu cần thì đòi lại tiền. Mục đích là gia tăng áp lực để phe thân Trung Quốc phải tập trung mọi nguồn lực để be bờ, bận rộn che chắn để bảo vệ người đỡ đầu cho nhóm Bùi Tiến Dũng, giúp cho người thân Bắc Kinh được tiếp tục giữ chức vụ sau Đại Hội 10. Nhờ vậy, nhân vật cấp tiến, thân Tây Phương mà lâu nay Bắc Kinh vẫn tin là mình đã nắm chắc, mới có cơ hội lên cầm quyền và đưa thêm người của mình vào bộ Chính Trị.

- Điều đó có nghĩa là trong lúc mọi người tưởng nhân vật đó lên nắm quyền thì coi như phe thân Bắc Kinh thắng thế, nhưng thực ra không hẳn là như vậy?

- Đúng thế, thưa ông Đại Sứ. Tuy nhiên nhân vật này, mà Trú Sứ CIA không cho tôi biết là ai, vẫn chưa tin tưởng nơi người Mỹ hoàn toàn. Vì thế, Trú Sứ CIA nói với tôi, để củng cố niềm tin cho ông ta và nhóm của ông ta, có lẽ chúng ta nên có vài biện pháp.

- Ví dụ như?

- Ví dụ như thu xếp với chính phủ Thái Lan để tạo cho mọi người cái cảm tưởng rằng nay mai ông Lý Tống sẽ bị trả về Việt Nam; thu xếp với FBI, Interpol, và Nhà chức trách Nam Hàn để tìm cách câu lưu ông Nguyễn Hữu Chánh và cũng tạo cho mọi người cái cảm tưởng rằng nay mai ông này cũng sẽ bị trả về Việt Nam. Lúc nãy Helen nói đúng. Hà Nội rất sợ tổ chức của ông Nguyễn Hữu Chánh. Khi nhìn thấy những người muốn lật đổ (Không dùng từ này) bằng vũ lực như ông Chánh, ông Tống không còn là mối nguy nữa thì nhân vật cấp tiến đó và nhóm ông ta càng yên tâm hơn.

- Okay. Cám ơn Lou. Nếu không còn gì để nói thêm thì chúng ta giải tán, tôi sẽ đi gặp Mađam Bộ Trưởng ngay cho kịp.

*****

Lou và tôi đã làm hết chai vang của quán chị Nguyệt. Mùi chua chát của rượu làm tôi liên tưởng đến câu chuyện của Lou.

- Như vậy là sau Đại Hội 10, điều mà nhiều người nghĩ sẽ không hẳn là như thế?

- Đối với chúng ta, tôi dùng chữ chúng ta vì bây giờ anh cũng là người Mỹ rồi, đối với chúng ta, trong ngành ngoại giao và tình báo không có chuyện thắng hay bại mà chỉ là một sự vận hành liên tục, kẻ thù hôm nay có thể thành bạn ngày mai và ngược lại. Trước xu thế toàn cầu hóa, mà người (Không dùng từ này) gọi là thế giới đại đồng; nước Mỹ với nguồn lực nhân sự và thiên nhiên dồi dào, sẵn sàng đóng vai President kiêm CEO cho cả tổng công ty gọi là Thế Giới, vai trò mà người (Không dùng từ này) gọi là Sen Đầm Quốc Tế; với điều kiện quyền lợi của Mỹ được bảo vệ. Dù ông Bush có nói gì đi nữa, quyền lợi Mỹ phải đi trước; sau đó mới đến tự do dân chủ nhân quyền, phát triển kinh tế, công tác nhân đạo, quảng bá văn hóa và lối sống Mỹ, bảo vệ môi trường... Vì không quốc gia nào giống quốc gia nào, cho nên tùy trường hợp cụ thể mà sắp xếp các thứ tự ưu tiên.

- Con đường từ Hà Nội đi Bắc Kinh gần hơn Hà Nội Washington, sự chọn lựa của những người ngồi ở hội trường Ba Đình cũng dễ hiểu và hợp lý thôi. Cậu có thấy như vậy không?

- Đúng vậy! Địa lý, văn hóa, bộ máy kềm kẹp khổng lồ, người có chức có quyền cứ ngang nhiên xem người dân là con cái, xem chuyện biếu xén hối lộ là bình thường bắt buộc, còn người dân thì có tâm lý “chấp nhận để tồn tại”. Theo Bắc Kinh thì tiếp tục ăn trên ngồi trước, bảo vệ được tài sản và tính mạng. Theo Washington thì nguy hiểm quá, thậm chí trong số những người đang nắm quyền sinh sát tại Việt Nam, vẫn còn nhiều người mang não trạng của thời chiến tranh: nghi ngờ Mỹ, sợ Mỹ và thù Mỹ. Khi nghe Bin Laden đánh sập hai tòa tháp đôi ở New York, nhiều chai XO đã được khui ra ở Hà Nội để ăn mừng cho “đáng đời thằng Mỹ”. Theo tôi, chỉ có những ai đặt quyền lợi đất nước lên trên cá nhân và Đảng thì mới dám thay đổi nguyên trạng.

- Sự lệ thuộc của Hà Nội vào Bắc Kinh nặng đến mức nào?


Quan hệ Hà Nội-Bắc Kinh? — Nguồn: encyclopedia.laborlawtalk.com
________________________________________
- Ngoài những chuyện mà mọi người đều biết, ví dụ như chờ Trung Quốc vào WTO xong thì Việt Nam mới xin vào, ví dụ như Giả Khánh Lâm và Tào Cương Xuyên đến Hà Nội để chuẩn bị cho Đại Hội 10; tôi xin kể anh nghe một chuyện nữa. Hằng năm, nghe theo lời khuyên của bên Ngoại Giao, Tư Lệnh Các Lực Lượng Quân Sự Mỹ trong vùng Thái Bình Dương, mà bây giờ là Đô Đốc Falcon, đều mời các Tư Lệnh Quân Đội của tất cả các nước trong vùng châu Á Thái Bình Dương đến Hawaii dự party trong vài ngày. Mục đích là để các ông tướng to nhất của mỗi nước quen biết nhau, có cảm tình với nhau, để lỡ sau này có chuyện gì thì cũng là bạn bè cả, không nhẽ lại choảng nhau. Năm nào cũng vậy, hễ ông tướng Trung Quốc đi dự party thì ông tướng Việt Nam đi, ông tướng Trung Quốc cáo ốm thì ông tướng Việt Nam cũng bận. Có năm cả hai ông tướng đều RSVP là đi, nhưng sau đó mấy hôm ông tướng Trung Quốc gửi giấy thoái thác thì ông tướng Việt Nam cũng sorry.

- Thế còn thành phần được Mỹ cho đi tour hoặc cấp học bổng du học, lấy những bằng cấp to đùng của Mỹ trở về nước thì sao?

- Thành phần này gồm hai loại, con cháu các cụ và cực kỳ giỏi. Sau khi tốt nghiệp về nước, loại con cái các cụ thì coi như đi du lịch có người Mỹ đóng thuế trả tiền; còn loại cực kỳ giỏi biết rằng mô hình tổ chức xã hội theo kiểu Mỹ vẫn hay hơn, nhưng không hiểu liệu tài sức của mình có thay đổi được cái cơ chế quá tệ này hay không, hay chỉ là chuyện châu chấu đá xe, hay chỉ cần mở miệng ra một chút là coi như tàn đời. Ngược lại, nhóm người đang cai trị cũng biết ý đồ người Mỹ. Thành phần tốt nghiệp ở Mỹ về rất hiếm khi được “cơ cấu” vào những vị trí thực sự có chức có quyền, rút cuộc họ lần lượt trở thành chủ nhà hàng, khách sạn, đại diện công ty nước ngoài…

- Theo như cậu kể thì phong trào công nhân đình công, phong trào ra tuyên ngôn đòi dân chủ có trên 100 chữ ký là do CIA dựng lên?

- CIA không có chiếc đũa thần, nhưng lối làm việc của CIA liên quan các phong trào n


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Mar 29 2009, 10:33 PM
Gửi vào: #9


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Ðôi Mắt Phượng


Tôi là một quân y sĩ ra trường năm 1974; đơn vị đầu tiên, cũng là đơn vị cuối cùng của tôi, là một tiểu đoàn Nhẩy Dù. (Xin bạn đọc cho phép tôi được bất chấp văn phạm, viết hoa hai chữ “Nhẩy Dù”, vì đó là những chữ tôi thương yêu nhất.)
Tôi lập gia đình nằm 22 tuổi, ngày còn là một sinh viên quân y. Mẹ tôi bảo “chờ ra trường, có việc làm, có lương nuôi vợ, rồi hẵng cưới vợ.” Tôi biết mẹ tôi có lý, nhưng tình yêu cũng không vô lý. Tình yêu thúc dục tôi cưới Phượng ngay. Nàng quá đẹp; thằng Quỳnh, thằng Khương, thằng Ðịnh, những đứa bạn cùng lớp bảo tôi, “Phượng đẹp ngây ngất.”
Phượng là nữ sinh đệ nhất Trưng Vương; nàng cũng yêu tôi nhưng xin một năm đính hôn để học hết trung học. Tôi chờ; một năm dài được chia thành 52 tuần lễ ngắn hơn, đánh dấu bằng 52 ngày chủ nhật chúng tôi gặp nhau.
Không phải là một nhà văn, tôi không mô tả được nét đẹp của Phượng; tôi chỉ biết là Phượng rất đẹp, và nhất là có một sức hút dễ sợ; chỉ cần gặp Phượng một lần là không người đàn ông nào quên được nàng.
Xin đừng hiểu lầm Phượng là “típ” người nở nang, ăn mặc khêu gợi; sức hút của Phượng là sức hút ngầm do duyên dáng, do tình ý, chuyển đi từ đôi mắt. Ðôi mắt thật là tình. Mẹ tôi phán là đôi mắt lẳng lơ; tôi không thích hai chữ này vì nó làm mất đẹp cặp mắt trữ tình của Phượng.
Trước hôn nhân tôi mê mệt với đôi mắt ấy; sau hôn nhân tôi khổ sở, bực bội cũng vì đôi mắt ấy. Không một người đàn ông nào, dù chỉ gặp Phượng lần đầu, không có cảm tưởng đã yêu nàng và tình yêu của họ không bị nàng hất hủi. Ít nhất Phượng cũng không xua đuổi, không vô tình với họ. Tôi mất một số bè bạn cũng vì Phượng. Chỉ một vài lần gặp Phượng, chạm mắt với Phượng cũng đủ để họ thầm nghĩ là tôi dã mọc sừng.
Dĩ nhiên vợ tôi không thể có tình ý với tất cả mọi người, nhưng cái khổ là đôi mắt đắm đuối của Phượng không nhìn mọi người một cách thản nhiên như người ta nhìn những vật vô tri quanh mình.
Giờ này, vợ tôi không còn trên cõi đời trần tục nữa tôi mới thấm thiá hiểu được một việc rất giản dị, rất tầm thường là không tạo ra đôi mắt của chính mình, Phượng không có trách nhiệm gì về những đổ vỡ đôi mắt gây ra. Chỉ có tác giả đôi mắt đó _ông Thợ Tạo_ mới đúng là người tôi phải oán trách.
Ði đôi với cặp mắt tình tứ là một đồng tiền rưỡi (một ở bên má trái, và một nửa ở cạnh môi dưới) trên khuôn mặt tươi như hoa, trắng mỏng manh. Cái đồng tiền rưỡi ấy _dù chỉ có đồng rưỡi_ có ma lực giết người. Xin hiểu hai chữ “giết người” theo nghĩa trắng của nó. Chỉ riêng tôi biết cũng đã có 2 người chết đuối trong cái vũng thịt sâu không đầy nửa ly này.
Một trong 2 người xấu số là bạn thân của tôi. Nó tự bắn vỡ toang đầu ngay trên bậc cửa nhà tôi. Lá thơ tuyệt mạng trong túi nó chỉ có mấy chữ “hình dung em đang nằm trong tay một người đàn ông khác, anh không còn can đảm sống nữa.” Tôi cũng không bao giờ đủ can đảm để tìm hiểu xem vợ tôi có nằm trong vòng tay nó không. Hai giòng chữ nó viết không cho phép tôi hiểu khác được.
Tôi chạy trốn trước mọi ngờ vực; tôi quan niệm đã không tránh được bão cát thì thà vùi đầu xuống cát để không còn biết tới giông bão bên ngoài nữa. Tôi hèn nhát? Có thể; nhưng tôi làm gì hơn được? Không chỉ yêu thương vợ, tôi vẫn còn say mê vợ tôi sau 3 năm chăn gối.
Mẹ tôi, chị tôi đề quyết vợ tôi đã cho tôi ăn bùa mê, thuốc lú. Tôi hiểu quan điểm những người thân của tôi; tôi hiểu cả định mệnh của tôi, của vợ tôi, và của cả những người say mê vợ tôi nữa.
Tôi vừa nói tôi hiểu định mệnh của vợ tôi. Ðiều đó cần được giải thích rõ hơn; đôi khi tôi nghĩ Phượng cũng đáng trách, nhưng trong đa số những đổ vỡ quanh nàng, Phượng chỉ thụ động, đáng thương. Phượng sợ và tránh né tất cả mọi gặp gỡ. Những buổi liên hoan của đơn vị tôi, những cuộc họp khóa, họp bạn của tôi, luôn luôn Phượng cáo bệnh hay tìm cớ bận con để không tham dự.
Cũng như tôi, Phượng sợ hậu quả của những cuộc giao tiếp, sợ cái bản chất đa cảm, đa tình của chính mình. Không phải là một người đàn bà trắc nết, vợ tôi thật sự chỉ là nạn nhân của bản ngã.
Sở dĩ tôi phải dài lời nói về vợ tôi như vậy, lả để người đọc hình dung được cái ray rứt, khổ sở của tôi trong 14 tháng tù khổ sai được (Không dùng từ này) đánh bóng bằng hai chữ “cải tạo.”
Cũng như mọi sĩ quan cấp úy khác, tôi bị (Không dùng từ này) lừa bằng cách chơi chữ. Trên đài phát thanh, chúng kêu gọi binh sĩ trình diện và đem theo 3 ngày ăn. Sau 3 ngày học tập, thành phần binh sĩ được ra về yên ổn. Tiếp theo đó, chúng kêu gọi các sĩ quan cấp úy trình diện với 10 ngày tiền ăn. Chúng tôi tin tưởng, hoặc ít ra chúng tôi cũng mong mỏi là thời gian cải tạo chỉ kéo dài 10 ngày. Ðó là cái lầm của tôi, cái ảo tưởng đưa đến chỗ tự diệt của mọi cán bộ chỉ huy.
(Không dùng từ này) hiểu rằng mặc dù nhất thời thất trận, lực lượng quân sự của miền Nam vẫn còn là một đe dọa nghiêm trọng đối với nền thống trị mà lúc ấy chúng mới rắp tâm đem đặt lên lưng người dân Nam Việt. Một triệu quân nhân bị đặt vào hoàn cảnh thất thế vì những lừa đảo, phản phúc chính trị, những dốt nát chiến lược đã bị những mũi dùi tấn công của 15 sư đoàn Bắc Việt xé thành từng mảng nhỏ. Muốn ngăn ngừa sự kết hợp lại của những mảng quân lực, (Không dùng từ này) chủ trương đánh vỡ đầu rắn: chúng phải tiêu diệt bằng mọi giá hệ thống cán bộ chỉ huy của QLVNCH. Trong 3 ngày học tập, chúng đối xử hết sức nhã nhặn lễ độ với anh em hạ sĩ quan, binh sĩ. Không một hình thức hành hạ giam cầm, không một lời nói nặng, một đe dọa.
Sau 3 ngày học tập binh sĩ đem loan truyền với chúng tôi cái tin tưởng học tập qua loa, ra về đúng kỳ hạn. Ðiều đó làm đa số sĩ quan cấp úy chúng tôi yên lòng khăn gói lên đường với 10 ngày tiền ăn. Nhiều anh lười, không đem theo cả mùng mền, tính ngủ nhờ với bạn bè cũng đủ qua khoảng thời gian 10 ngày ngắn ngủi.
Dĩ nhiên là chúng tôi đã lầm; chỉ ngay sau khi cái bẫy xập xuống đầu chúng tôi, (Không dùng từ này) trắng trợn vứt bỏ mặt nạ “đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù.”
Bài học đầu tiên chúng tôi được nghe qua giọng nói hằn học căm hờn của một anh cán bộ quản giáo Bắc Việt. Anh ta oang oang bảo chúng tôi, “Các anh quên hết địa vị xã hội của các anh đi. Kể từ ngày hôm nay, vợ con các anh sẽ ngửa tay xin nhân dân từng hột cơm; và vài tháng sau vợ các anh chỉ còn nước đi làm đĩ để sống.”
Chúng tôi thắc mắc về thời gian 10 ngày, hắn cười khẩy, vẻ mặt câng câng, đểu cáng, “Các anh chỉ có 10 ngày ăn thôi ư? Ðừng lo, cứ ăn hết 10 ngày đó đi đã; sau đó ăn bám vào sức sản xuất của nhân dân.”
Trước mỗi cửa phòng giam, (Không dùng từ này) cắc cớ bắt chúng tôi phải dán lên khẩu hiệu “không có gì quý bằng độc lập, tự do.” Cán bộ ###### còn phụ giải “người đi trên sa mạc thấy không có gì quý bằng nước uống. Các anh sẽ thấy đối với các anh thì không có gì quý bằng tự do.”
Ðề cao cái giá của tự do trong nhà giam quả là việc làm vừa châm biếm, vừa độc ác. Nhưng không phải chỉ trong nhà giam tôi mới thấm thía hiểu tự do là quý. Sau này ra khỏi trại cải tạo, sống trong cái nhà giam lớn hơn là nguyên cả Miền Nam Việt Nam tôi càng thấy rõ không phải chỉ một mình tôi, mà cả 20 triệu người dân Nam Việt đều đang khắc khoải giữa sa mạc thống trị, thèm khát ngụm nước tự do.
Xin trở lại với trại cải tạo và với vợ tôi; tôi bị giam 2 tháng hơn thì một buổi chiều nghe loa gọi lên văn phòng. Tôi tái người, nghĩ ngay đến những vụ thủ tiêu, biệt giam, thường xẩy ra đối với những thành phần (Không dùng từ này) gọi là ngoan cố.
Bản chất hiền lành, tôi không ra mặt chống đối bọn giảng viên, quản ngục. Cái tội của tôi chỉ là không nuốt trôi được mớ lý thuyết rẻ tiền, lẩm cẩm của (Không dùng từ này). Nhưng đối với chúng, đó không phải là một khinh tội. Tôi lo lắng chờ đợi một hình thức trừng phạt vì trọng tội trí thức.
Lên đến văn phòng, tôi được một anh binh ba Bắc Việt, mặt non choẹt, đưa vào phòng chính ủy. Và tôi đã chết đứng khi thấy Phượng trong đó.
Giọng đầy cải lương, nhân vật số một của trại giam bảo tôi, “Xét thành tích học tập tốt của anh, nhân dân đặc biệt cho anh được nhận sự chăm nuôi của gia đình.”
Tôi học tập tốt? Thật là mai mỉa; những âm thanh giảng huấn chan chát của bọn cán bộ (Không dùng từ này) đối với tôi không một mảy may khác những tiếng cuốc đất trong giờ lao động sản xuất. Tôi đoán hiểu cái lý do đã khiến “nhân dân đặc biệt cho phép” tôi được nhận sự thăm nuôi của gia đình.
Cặp mắt nẩy lửa vì giận, tôi nhìn Phượng. Vợ tôi đã đến cái nước đi làm đĩ như bọn (Không dùng từ này) tiên đoán rồi ư? Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt vẫn tình tứ, nhưng buồn thăm thẳm và ướt đẫm. Những giọt lệ lăn dài trên đôi má nhung mịn màng làm lòng tôi se thắt. Tôi thèm bước tới, ôm Phượng vào vòng tay, và hôn dài trên đôi mắt đắm đuối ấy. Nhưng dĩ nhiên ngoại cảnh không cho phép tôi làm việc tôi thường làm đó.
Vợ tôi nghẹn ngào, “Bé Mai nhớ anh lắm.”
Bé Mai! Ðứa con gái 2 tuổi của tôi, báu vật của vợ chồng tôi! Tôi đứng khựng như trời trồng trước cái hình ảnh nhỏ bé, thương yêu mà vợ tôi vừa gợi ra.
Suốt 10 phút gặp gỡ, tôi không nói được một lời nào với Phượng cả. Cổ họng tôi nghẹn cứng; rồi bên tai tôi văng vẳng thật xa có tiếng nói của tên chính ủy: “Thôi, xách đồ ăn về phòng đi, Tuần sau lại được thăm nuôi nữa.”
Ðêm đó tôi không chợp mắt. Tôi hình dung những chuyện đã xẩy ra giữa vợ tôi và tên chính ủy (Không dùng từ này) trước khi tôi được dẫn vào và sau khi tôi bị đưa ra khỏi văn phòng hắn. Tôi không tin đã có gì quá đáng trong phòng làm việc. Nhưng sau đó hắn có thể đến nhà tôi hay bảo vợ tôi đến một chỗ nào đó.
Tuần sau và những tuần kế tiếp, Phượng đều đều đến thăm tôi, mỗi lần đem theo một món ăn mà trước kia tôi ưa thích. Tôi nuốt những món khoái khẩu mà có cảm tưởng như mình đang ăn rơm khô, không mùi, không vị. Mỗi lần thăm viếng chúng tôi được nói chuyện với nhau 10 phút. Toàn những chuyện bâng quơ. Cả hai đứa chúng tôi đều không dám đả động tới điểm ngờ vực đau xót của tôi.
Có lần Phượng nói với tôi bằng cái giọng thiết tha nhưng nghiêm trọng, “Em chỉ xin mình tuyệt đối tin tưởng là em yêu mình. Suốt đời em, em chỉ yêu có một mình mình. Mặc dù những gì đã xẩy ra hay sẽ xẩy ra thì tình em yêu mình vẫn mãi mãi là sự thật duy nhất.”
Qua tâm linh, tôi biết Phượng nói thật. Tôi muốn quên những việc đáng buồn đã xẩy ra; quên không được, tôi cố gắng bào chữa cho Phượng. Nhưng ghen tương, ích kỷ, cũng không phải là những cảm nghĩ nhỏ trong lòng người chồng.
Những cuộc thăm viếng kéo dài được 4 tháng thì một hôm Phượng bảo tôi, “Tuần sau em về Long Xuyên với má; sống ở thành phố không có sinh kế gì hết.”
Tôi hăng hái khuyến khích vợ tôi xa lìa Saigon. Ít nhất về ruộng sống với mẹ Phượng cũng đỡ phải lo 2 bữa ăn hàng ngày, cái lo to lớn của người thị dân sau ngày bị giải phóng.
“Mỗi tuần được gặp em là niềm an ủi lớn cho anh,” tôi bảo vợ. “Nhưng cái nhìn ngờ vực, khó chịu của 2,000 anh em đồng đội, đồng cảnh trước việc anh được uu đãi làm anh khổ sở. Anh muốn chịu chung những đầy ải với họ.”
Tuần sau Phượng không đến thăm tôi nữa. Cuộc sống khổ sai không hạn định trở thành dài hơn vì thiếu sự chia cắt của những tiêu mốc ngắn hạn. Tôi trở lại vị trí của cái máy người, vô tri giác, không phản ứng, bảo đi thì đi, bảo học thì học, bảo lao động thì lao động. Những bạn nào đã sống trong trại cải tạo của ###### hẳn đồng ý với tôi là (Không dùng từ này) đã thành công trong việc làm chúng tôi mất hết tri giác. Không vui, không buồn, không hy vọng, thất vọng, không mong chờ bất cứ một điều gì nữa. Cuộc sống hàng ngày như một bộ máy được điều động bằng những tiếng còi, những khẩu lệnh. Phần ăn quá đói làm tất cả chúng tôi tìm được cái khôn ngoan của loài vật: không làm một cử động thừa, không nói một câu thừa để không phí phạm bất cứ một phấn thật nhỏ nào cái sinh lực le lói còn trong xác người.
Chính trong trạng thái vật vờ của một xác chết chưa chôn ấy, tôi nhận được giấy phóng thích. Cầm tờ giấy chấm dứt cuộc sống tù ngục của mình trong tay, tôi dửng dưng như cầm một tờ truyền đơn học tập. Nói dửng dưng cũng vẫn chưa đúng; tôi không ý thức được những thay đổi tờ giấy mang lại cho tôi. Nhẩn nha nhơi từng hột bắp của bữa ăn trưa đói khổ tôi nghe cơ thể khoan khoái với chút bồi dưỡng ít oi. Trái bắp có trong tay vẫn quý hơn hai chữ “tự do” mới viết trên giấy.
Một cán bộ bảo tôi, “Chiều nay anh khỏi lao động; về sửa soạn nóp, chén trả lại nhà kho.”
Khỏi lao động, một tin mừng khác. Tôi trở về căn phòng giam hôi hám nhưng mát rượi như một thiên đàng so sánh với cái hỏa ngục lao động sản xuất mà các bạn tôi đang chịu đựng ngoài trời.
Bốn giờ chiều Phượng đón tôi ngoài cổng trại giam. Người vợ đài các của một bác sĩ mặc cái áo bà ba vải bông và cái quần đen, đứng vịn một chiếc xe đạp đàn ông cũ kỹ. Có thể tôi sẽ ít ngỡ ngàng hơn nếu từ trong thế giới tù ngục bước ra được gặp lại thế giới cũ của mình với xe honda, với áo dài. Tôi đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ sau chưa đầy 2 năm mất nước.
Thế giới bên ngoài nhà tù không phải ít khe khắt, ít đọa đầy; suốt một năm trời tôi phải sống trong chế độ “quản chế của nhân dân”; tôi xin giải thích những chữ văn hoa này. Chế độ “quản chế của nhân dân” có nghĩa là tôi phải làm mọi không công, phải sợ sệt tất cả mọi người. Bất cứ ai trong phường cũng có quyền phán xét là tôi chưa giác ngộ, cần học tập thêm, là tôi lại đi tù nữa.
Tôi cúi mặt trước tất cả mọi người, dù đó chỉ là một đứa con nít. Tôi vâng dạ, tôi tuân lệnh, không cần biết lệnh đến từ đâu. Một bà hàng xòm gọi tôi đến coi chứng bệnh cho thằng con tám tuổi. Sau khi quan sát kỹ mọi triệu chứng, tôi bảo bà là con bà bị thương hàn và không có cách nào hay hơn là đưa nó đi bệnh viện. Bà quắc mắt, “Anh đi học tập ra mà con như vậy đó hả? Nhân dân có quá nhiều nhu cầu để bệnh viện thừa chỗ trống cho một đứa con nít nóng lạnh. Anh không biết cách nào khác nữa sao?”
Tôi đề nghị bà đừng cho con ăn gì hết để ruột không hư. Bà ta cáu kỉnh nạt, “Lang băm tư bản.”
Sau khi tôi về không hiểu bà có nghe lời tôi khuyến cáo không, nhưng rất may là đứa trẻ lành bệnh. Suốt nửa tháng trời tôi hồi hộp lo sợ: cái chết của đứa trẻ vì thiếu thuốc, thiếu chăm sóc có thể đưa tôi trở lại trại cải tạo như không.
Nguồn an ủi của tôi là số người thiếu ý thức như bà hàng xóm mà tôi vừa kể tương đối rất ít; đa số dân Saigon sống trong một tình đoàn kết ngấm ngầm nhưng khắng khít. Một bà cụ dúi cho tôi gói gạo nhỏ qua câu nói chí tình, “Bác sĩ phải ăn thêm mới sống nổi, tôi già rồi, thiếu thốn chút đỉnh cũng không đến nỗi nào.” Bà vợ của một công chức còn đang tù tội cho tôi đôi giầy. Ông hàng xóm sát vách cho cái áo.
Nhưng mọi nguồn vui của tôi đến từ Phượng thì nàng cũng là nguyên nhân của mọi buồn khổ. Phượng làm đĩ ra mặt, không còn e dè gì tôi nữa cả. Vợ tôi không chỉ tống tình cán bộ (Không dùng từ này) để thăm nuôi tôi nữa, mà xuống đến tận chân thang của xã hội: mỗi ngày vài lần những anh phu xích lô đến gọi Phượng đi khách. Những lần đầu tiên Phượng còn ngượng với tôi, nhưng sau quen dần, nàng chỉ bảo tôi, “lát em về.”
Phần tôi, tôi vẫn phải tình nguyện xung phong trong mọi công tác nặng nhọc của phường như hốt rác, quét đường, trồng cây, thông cống, ... . Tôi xung phong để được chấm điểm, xung phong để khỏi trở lại lao tù cải tạo. Ðôi khi nghĩ quẩn tôi cho rằng đi tù mà còn tự do hơn chế độ nhân dân quản chế.
Thêm một lần nữa, tôi tuyên dương sự thành công của (Không dùng từ này). Chúng đã hoàn toàn đập tan uy thế của giới chỉ huy, giới trí thức miền Nam. Suốt một năm ra khỏi tù, tôi không được phép làm bất cứ một việc gì cả. Nói một cách khác, tôi phải ăn bám vào đồng tiền vợ tôi ngày ngày bán thân tạo ra. Sau 31 năm, nghĩ lại tôi vẫn rùng mình khiếp sợ.
Tôi xin độc giả ngưng đọc một phút để hình dung cái nhục nhã của tôi, của tất cả giới trí thức miền Nam. Tôi không đủ can đảm để nói bất cứ câu gì với vợ tôi về việc làm của nàng; cả hai chúng tôi cúi đầu chịu phép trước guồng máy xã hội mới.
Nếu một ngày tù dài bằng một ngàn năm sống tự do thì 365 ngày bị trói tay, thất nghiệp, sống đói khổ dưới quyền quản chế của nhân dân, và nhìn vợ đi làm đĩ chắc phải dài hơn sự hiện hữu của cả hệ thống vũ trụ.
Giữa hai vợ chồng tôi nẩy sinh ra một tình trạng ngượng ngập khó tả, Ít khi tôi dám nhìn thẳng vào mắt Phượng, và gần như không bao giờ tôi dám nói với nàng chuyện gì khác hơn là những câu đối thoại tầm thường quanh sinh hoạt nho nhỏ trong nhà.
Thỉnh thoảng bà mẹ vợ tôi lén lút đem được ít gạo, ít thịt lên cho chúng tôi. Qua những cuộc tiếp tế lậu này, tôi khám phá thêm được một bí mật: vợ tôi không hề về Long Xuyên với mẹ như nàng đã nói với tôi. Phượng đã làm gì, ở đâu, trong 7 tháng trời tôi nghĩ nàng về quê sống với mẹ? Cả đến câu hỏi này cũng chưa lần nào tôi dám hỏi Phượng. Tôi trốn chạy một sự thật phũ phàng nào nữa đó sẽ đến, nếu Phượng phải trả lời tôi.
Tối 30 tháng Chín 1978, sau khi theo một anh xích lô “đi khách” về, Phượng kéo tôi vào phòng trong cùng với bé Mai. Trên bộ ván thay cho cái giường nệm đã đi vào chợ trời từ hai năm trước, Phương mở gói thịt quay ra rồi bảo tôi, “Mình ăn với em.”
Từ sau ngày mất nước đây là lần đầu tiên tôi lại được nhìn thấy miếng thịt quay; Phượng lăng xăng bới cơm, và vợ chồng con cái chúng tôi ăn uống ngon lành như chưa bao giờ được ăn ngon đến như thế.
Những đó không phải là điều ngạc nhiên duy nhất của tôi; ăn uống xong, vợ tôi kéo từ trên đầu tủ xuống một gói giấy: bên trong là một bộ đồng phục thanh niên xung phong. Tay chân run rẩy, Phượng trải bộ quần áo lên mặt bộ ván, rồi giọng nói cũng run rẩy nàng bảo tôi, “8 giờ sáng mai, mình mặc đồng phục này đứng đón tàu ở bến Bạch Ðằng.”
“Ðón tầu? Ðể đi đâu?”
Không trả lời câu hỏi của tôi, vợ tôi chỉ lập cập nói, “Em đã đóng đủ 10 cây cho họ rồi.”
Mười cây vàng! Tôi choáng váng với con số lớn khiếp đảm đó.
“Vàng đâu mà em có đến 10 cây?” Câu hỏi buột miệng không nuốt trở vào được nữa, tôi chỉ còn biết nhìn vợ tôi, câu xin lỗi ngầm chứa trong ánh mắt. Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt thăm thẳm tình tứ trên khuôn mặt vẫn còn đẹp dù đã gầy đi và dạn dầy phong trần.
Sau một phút im lặng, nàng nghẹn ngào, “Em không biết mình có tin hay không, nhưng sự thật lúc nào em cũng yêu mình.”
Tôi ôm Phượng vào lòng; giữa một xã hội thù hận, cái bóng mát yêu thương nhỏ bé thật là vô giá. Mặc dù Phượng chưa nói, nhưng tôi cũng đoán hiểu mục đích vượt thoát của chuyến đi ngày mai, và hiểu 10 lượng vàng, giá của chuyến đi là kết quả của những canh dài Phương đem thể xác ra cho thiên hạ dầy vò để góp nhặt từng đồng hầu mua tự do cho tôi.
Cổ nghẹn lại, tôi không nói được một tiếng nào cả; tôi vừa sung sướng trước những bằng chứng hiển nhiên của một mối tình to lớn, bền chắc, vừa xấu hổ nhận những hy sinh nhục nhã của vợ.
Phượng bảo tôi, “Em chỉ đủ tiền đóng cho mình; nhưng em với con vẫn đi theo mình.” Nàng giải thích cho tôi hiểu chuyến tầu vượt thoát là tầu thầu việc chuyên chở thanh niên xung phong đi làm rừng ở cửa Cần Giờ. Sáng mai, tôi sẽ cùng với 30 người nữa đội lốt thanh niên xung phong xuống tầu tại bến Bạch Ðằng. Ðàn bà, trẻ con đi đường bộ xuống ngã ba Ðồng Chanh, chờ tại đó và sẽ đổ lên tầu. Họ là những người đi lậu, không đóng vàng.
“Người ta đi lậu nhiều lắm,” Phượng bảo tôi. “Em cũng trà trộn vào đám người đó; không lẽ người ta xô mình xuống sông. Sợ gì?”
Tôi sợ. Rùng mình tôi nghĩ đến cảnh “người ta xô vợ con tôi xuống sông”, nhưng có sợ tôi cũng không giải quyết được cái khó không tiền và đành theo mọi xếp đặt của Phượng.
Ðêm đó tôi trằn trọc không ngủ, Phượng cũng không ngủ. Vào khoảng gần sáng nàng hỏi tôi, “Mình đã đủ tin vào tình em yêu mình để tha thứ hết mọi việc cho em chưa?”
“Anh tin. Anh yêu mình.”
“Em còn một tội nữa, chưa thú nhận được với mình.”
Trong bóng đêm, tôi lặng thinh lo lắng. Ngần đó bất hạnh chồng chất vào một cuộc sống ngắn ngủi, cay cực, còn chưa đủ nữa hay sao.
Vợ tôi thở dài, “Lúc đó em còn khờ quá nên chuyện mới xẩy ra. Em phải nói dối mình là em về Long Xuyên với má. Thật ra em không muốn mình buồn.”
Dù vợ tôi chưa nói ra, nhưng tôi cũng đoán hiểu.
“Em có con?” tôi hỏi.
Rúc đầu vào ngực tôi, vợ tôi thút thít khóc, “Mình tha cho em.”
Ðứa con chỉ là hậu quả đương nhiên cua những việc làm mà tôi đã nhìn vợ tôi hàng ngày đi theo những bác phu xích lô để làm. Bây giờ tôi lại hiểu mục đích cao cả của việc làm đê tiện đó. Tôi thương Phượng hơn là trách nàng.
“Ngày mai em muốn cho con cùng đi?”
“Nếu mình đồng ý.”
Dĩ nhiên tôi đồng ý; đồng ý đưa những người thân nhất đời mình vào chuyến đi địa ngục, vào vòng tay tử thần.
Trước 5 giờ sáng hôm sau, trong bộ đồng phục thanh niên xung phong, tôi chở Phượng và bé Mai trên chiếc xe đạp mà mấy tháng trước Phượng đã dùng để đón tôi ra khỏi trại tù cải tạo. Mặc dù giờ hẹn là 8 giờ, nhưng tôi vẫn đi sớm để hàng xóm đừng để ý đến bộ đồng phục của tôi. Hơn nữa, Phượng còn ghé Phú Nhuận, nơi nàng gởi nuôi thằng Vình, đứa trẻ ra đời trong thời gian tôi ở tù.
Mọi việc xuôi lọt, và tương đối dễ dàng: 7 giờ sáng tôi đến điểm hẹn; nhiều người cũng mặc đồng phục như tôi đã có mặt; nhìn thái độ ngỡ ngàng, dè dặt của họ, tôi hiểu họ cũng như tôi, ngoài bộ áo thanh niên xung phong, chúng tôi không xung phong làm gì hết.
Phượng bảo tôi, “Mình chờ ở đây, em qua Tân Thuận đón đò máy.”
Nhìn vợ lưng đai một đứa con, chở đứa thứ nhì trên thanh ngang xe, ra sức đạp chiếc xe cót két, tôi nghe đứt ruột. Nửa tiếng đồng hồ sau tôi xuống tàu, chọn chỗ ngồi ngay bên hông, hy vọng giúp đỡ Phượng đưa con lên. Khoảng 8 giờ 45, tàu đến ngã ba sông Ðồng Chanh; bốn chiếc đuôi tôm xáp lại, đàn bà trẻ con ồn ào dành nhau leo lên. Tôi đỡ bé Mai trên tay Phượng, rồi kéo Phượng, tay còn bồng thằng Vinh lên theo. Cuộc đổ bộ của khoảng 70 đàn bà, trẻ con lên tàu không những đã công khai mà còn ồn ào, hỗn độn, tranh dành, la lối, đính chánh hùng hồn cái huyền thoại gán cho (Không dùng từ này) một hệ thống an ninh bao trùm và hữu hiệu. Hàng chục khách thương hồ và ít nhất là 4 người tài công đuôi tôm đã chứng kiến và chắc chắn cũng đã biết mục đích của chuyến đi, nhưng (Không dùng từ này) vẫn không bắt buộc được họ khai báo, phản phúc đồng bào ruột thịt.
Mười rưỡi, tàu ra đến cửa biển Cần Giờ, và trưa hôm đó quê hương thương yêu chỉ còn là một vệt dài dậm hơn mầu biển. Ðến lúc này các “giới chức” trên tàu mới hò hét chửi mắng những người vượt thoát lậu. Họ bảo chỉ dự trù lương thực và nước uống cho những người có ghi tên và có góp vàng. Những người khác sẽ không có khẩu phần.
Phần ăn và nhất là phần nước uống ít oi của tôi được chia làm 4; bao tử trống nhưng tâm tư vợ chồng chúng tôi tràn đầy hạnh phúc. Vợ tôi ngồi sát bên tôi, tay ẵm thằng Vinh, bé Mai nằm gọn trong lòng tôi; đầu vợ chồng tôi đội chung một cái áo, vừa làm nón cho người lớn, vừa làm mái nhà cho trẻ con.
Ngồi bó rọ trong cái cảnh mà nếu được nhìn thấy, chắc mọi người phải gọi là địa ngục trần gian, vợ chồng tôi bàn chuyện thiên đàng mộng tưởng. Cái thiên đàng của chúng tôi rất giản dị: bất cứ nơi nào cho tôi được đem sức đàn ông ra đi làm, làm bất cứ việc gì để nuôi vợ, nuôi con.
Tôi bảo Phượng, “Anh sẽ làm việc, làm ngày, làm đêm, để không bao giờ em và con còn phải thiếu thốn khốn khổ nữa.”
“Em thương mình,” Phượng thủ thỉ bên tai tôi. “Không bao giờ em còn làm mình buồn nữa.”
Tất cả những cam kết, hứa hẹn, dự tính đẹp như mộng ấy, chúng tôi đem ra làm thức ăn để đánh lừa cơn đói. Khẩu phần của tôi mỗi bữa khoảng 2 chén cơm chỉ vừa đủ cho 2 đưa nhỏ. Phượng và tôi nhắp một đầu đũa để cầm hơi.
Qua đến ngày thứ 3, vì đói quá, khi đi lãnh cơm tôi thò tay vào nồi, vừa bốc thêm một nắm cơm vừa nói, “Cho tôi xin thêm chút cơm.”
Một quả đấm bay vào mặt tôi; yếu đuối sau 14 tháng bị giam cầm đói khổ, yếu đuối sau 3 ngày thiếu cơm, thiếu nước, tôi té ngửa dưới sức mạnh của quả đấm trời giáng.
“ÐM quân ăn cướp. Ðã đi lậu mà còn đòi ăn nữa hả.”
Quả đấm tuy đau, nhưng tôi vẫn mừng vì cà mèn cơm chưa đổ. Bưng cà mèn đầy cơm hơn nhờ bốc thêm được một nắm về mái lều to bằng manh áo, tôi sung sướng nhìn Phượng được ăn thêm miếng cơm thứ nhì. Tôi an ủi vợ, “Mình đi được 3 ngày rồi, nhiều lắm 2 ngày nữa cũng phải đến Thái Lan hay Mã Lai.”
Héo hắt cười, Phượng nhìn tôi. Tôi muốn thuyết phục cho vợ yên lòng, nhưng chính giọng nói của tôi cũng không vững.
Mũi tàu vẫn hướng về phía Nam, điều làm tôi thắc mắc. Mặc dù không có cả đến một tấm địa đồ nhỏ trong tay, nhưng tôi vẫn mường tượng được vị trí của Thái Lan và Mã Lai so với Việt Nam. Tôi góp ý với những người điều khiển tàu là nên cho mũi tàu chếch thêm về hướng Tây Nam. Tôi chưa nói dứt lời, một ông vạm vỡ nạt ngang, “Anh biết gì mà nói.”
Ðến ngày thứ 5 của chuyến hải hành, vợ tôi lả đi vì đói, vì mệt và say sóng. Phượng dựa vào thành tàu, mắt nhắm nghiền, đầu gục xuống. Tôi van xin ông ngồi cạnh nửa thước khoảng trống để vợ tôi có thể ngả lưng trong thế nằm co quắp. Hai đứa bé không còn khóc được nữa; tiếng khóc của chúng trở thành những tiếng rên nho nhỏ.
Tôi mò xuống bếp tán tỉnh xin phụ việc. Khoản thù lao tôi mong mỏi chỉ là mỗi bữa một chén nước cơm cho trẻ con uống. Chúng không còn sức để nhai và nuốt vật cứng nữa. Một ông “giới chức” hất hàm hỏi tôi, “Trước kia anh làm nghề gì?”
Dĩ nhiên việc đi cải tạo không phải là một nghề, mà cũng không phải là việc đem ra khoe được, tôi đành khai, “Thưa ông, tôi làm bác sĩ.”
“Biết chích không?”
“Dạ biết.”
Thế là tôi biến thành thầy Hai chích dạo. Bà vợ ông giới chức bị bệnh đái đường; ông đem theo một xách thuốc cần thiết cho bà, nhưng thiếu thầy Hai chích. Ðường lên, bà nằm mê man từ 2 ngày nay. Tôi được đưa vào khoang để chích insuline cho bà. Bữa đó không những có được chén nước cơm, mà trong cà mèn còn thêm được một miếng thịt.
Ðược dinh dưỡng, vợ tôi và 2 đứa trẻ cũng tỉnh táo hơn. Chiều hôm đó tôi lại có thêm một thân chủ: gia đình một người Trung Hoa nhờ tôi chăm sóc cho đứa con bị cảm nắng. Họ tạ thầy một hộp Sumaco, khiến bữa ăn chiều của chúng tôi có thể nói là thịnh soạn.
Cà mên cơm đầy ăn với cá hộp giúp Phượng đủ sức ngồi dậy săn sóc con. Hai đứa trẻ vẫn đuối, nhưng nhờ được uống nước cơm nên không đến nỗi bị lả đi như hôm trước nữa.
Sáng hôm sau tôi trở lại chích thuốc cho bà giới chức; nhờ insuline làm tan đường, bà đã ngồi dậy được, tỉnh táo hơn. Uy tín lang băm của tôi gia tăng nhanh chóng, số thân chủ cũng gia tăng vì sau 5 ngày ngồi bó rọ phơi nắng, gần như tất cả mọi người đều cảm thấy mệt đuối, đau nhức, nhiều người sốt, cảm, và ho.
Nỗi khổ tâm của tôi là trị bệnh không dược liệu; đem kinh nghiệm 14 tháng giúp bạn tù trị bệnh bằng phương pháp kháng bệnh, tôi chỉ dẫn mọi người cách hô hấp, cánh tập trung tư tưởng để tự kỷ ám thị.
Nhờ hành nghề bác sĩ, khẩu phần của gia đình tôi trở nên sung túc hơn rất nhiều. Mỗi gia đình vượt biển đều có thủ theo một vài thứ thực phẩm khô, họ chia cho tôi một ít để thù lao bác sĩ.
Ðến ngày thứ 7, nhờ được ăn no hơn vợ tôi đã bình phục và hai đứa trẻ cũng tỉnh táo. Trưa hôm ấy chúng tôi gặp hoạn nạn: chiếc áo mái nhà của tôi bị gió biển cuốn đi, vợ tôi lục giỏ tìm cái áo khác ra căng lều. Lần này tôi có ý cột kỹ tay áo vào thành tầu.
Tối hôm đó, đang gục đầu trong thế ngủ ngồi tôi nghe như một biến chuyển lớn đang xẩy ra. Giật mình tôi thức dậy trong tiếng reo hò của mọi người.
“Tới rồi. Thấy đất rồi.”
“Cảm ơn trời phật. Chuyến đi quá dài nhưng rồi cũng đến.”
Giọng quát của một giới chức, “Ngồi cả xuống; chạy tới, chạy lui, mất thăng bằng lật tàu chết cả đám bây giờ.”
Mọi người ngoan ngoãn ngồi trở xuống, nhưng tiếng ồn ào vẫn không ngớt. Người ta bàn tán, “Chắc là Mã Lai.”
“Có lẽ như vậy, vì nó là hòn đảo, chứ Thái Lan thì đã thấy lục địa.
“Không chừng Nam Dương.”
“Rất có thể là Úc.”
Vợ tôi nắm tay tôi bóp mạnh. Tôi nghe như những mừng vui của Phượng đang được chuyền sang tâm hôn tôi mà không cần một lời nói. Mọi người mừng vì chuyến hải hành 8 ngày đã đến đích. Cuộc hành trình của riêng tôi và Phượng đã kéo dài gần 4 năm, mà mỗi ngày là một cơn ác mộng bất tận cho cả 2 chúng tôi cũng đang chấm dứt với chuyến đi này. Nỗi mừng của chúng tôi, vì vậy mà to lớn hơn tất cả. Chúng tôi mừng đến không nói được nên lời, không hò reo được như mọi người. Tôi ngồi yên, không buồn chồm lên nhìn hòn đảo mà tàu đang tiến vào nữa. Niềm vui của tôi đã quá đầy từ ngày bước chân xuống tàu rời bỏ quê hương địa ngục, trên những bằng chứng xác nhận tình yêu tuyệt vời của Phượng đối với tôi. Không một người bạn đồng thuyền nào thỏa mãn bằng tôi.
Ông bạn ngồi cạnh gợi chuyện, “Hình như hòn đảo nhỏ quá.”
“Vâng,” tôi lơ đãng đáp.
“Không chắc đã có người trên đảo.”
“Vâng.”
Mũi tàu vẫn hướng vào hòn đảo cô đơn trong khi niềm lạc quan trên tàu lắng xuống. Khoảng cách thu ngắn dần làm mọi người thấy rõ kích thước nhỏ bé của hải đảo. Nhưng giữa khoảng ngàn trùng của đại dương nhấp nhô hòn đảo kia vẫn là đất, vẫn bảo đảm vững vàng. Hơn nữa, nó cũng lớn tối thiểu bằng 20 lần con tàu dài 15 thước, rộng 3 thước với 140 người trong lòng tàu.
Ða số góp ý kiến nên ngừng lại đảo.
“Biết đâu bờ bên kia lại không có một làng chài lưới.”
“Ghé nghỉ ngơi một ngày, đi lại cho dãn gân; ngồi bó gối mãi, mỏi quá.”
“Có thể tìm nước ngọt, đánh cá tăng thêm thực phẩm trước khi tiếp tục đi nữa.”
Cuối cùng, những giới chức trên tầu quyết định cho tầu chạy một vòng quanh đảo để quan sát trước. Và đó là quyết định cuối cùng của họ với tư cách chỉ huy chiếc tiểu hạm tử thần: mới chạy được nửa vòng đảo, tàu chạm đá ngầm, vỡ đáy, lật nghiêng qua 30 độ.
Phượng văng từ thành tàu bên này sang thành tàu bên kia, thằng Vinh tuột tay mẹ, rơi thẳng xuống biển. Trên đà nghiêng của con tàu, tôi phóng nhanh đến bên Phượng, trao vội bé Mai cho nàng và nhẩy xuống biển để chỉ vừa kịp nắm tay đứa bé chưa đầy năm, theo nó ngụp vào một đợt sóng lớn. Sóng đưa tôi và thằng Vinh vào gần bờ, và do đó tôi trở thành người đầu tiên đặt chân lên hòn đảo san hô thê lương, sau này biến thành nơi gởi xác của nhiều người trong chúng tôi.
Việc làm đầu tiên của tôi là bồng thằng Vinh đưa lên cao để vợ tôi nhìn thấy mà yên lòng. Cách bờ khoảng 15 thước, mọi người nhốn nháo; tiếng kêu khóc thật là thê thảm, nhiều người nhẩy xuống nước chạy vào bờ.
Sau khi bị vỡ đáy, con tàu mắc cạn đang từ từ trở lại thế thăng bằng, mặc dù vẫn còn hơi nghiêng, nhưng người trên tàu không đến nỗi phải bám cứng vào thành tàu để khỏi rơi xuống biển nữa.
Nhờ người coi chừng thằng Vinh, tôi lội xuống nước trở ra mạn tàu bồng bé Mai, và xách gói hành lý khiêm tốn của chúng tôi, rồi dắt Phượng lên đảo. Nhiều người khác cũng làm như chúng tôi; họ lìa bỏ con tàu mà không cần biết là đi đâu, nhắm mắt đưa chân, như 8 ngày trước rời bỏ quê hương Việt Nam.
Ðó là sai lầm của chúng tôi. Hòn đảo san hô khô cằn, lởm chởm, không dung nạp chúng tôi. Tìm được một chỗ bằng phẳng để ngồi xuống cũng đã khó chứ chưa nói đến việc ngả lưng.
Sau gần một tiếng đồng hồ loay hoay tìm kiếm, tôi chọn được một hốc đá tương đối rộng rãi để định cư. Cái áo làm mái nhà đổi vai trò trở thành tấm chiếu cho trẻ con ngồi.
“Ðau đít quá ba ơi,” bé Mai nhăn nhó nói.
Tôi ẵm con lên, đặt nó ngồi trên bọc quần áo, rồi bảo Phượng, “Em coi chừng con, anh đi quanh tìm xem có con ốc, con sò nào không.”
Tôi ngỡ mình là người nhanh chân trong việc đi kiếm ăn, nhưng hơn chục người khác cũng đã lom khom trong các hốc đá tìm kiếm như tôi. Cái may của tôi là trong một kẹt đá nhỏ, tôi chụp được hai vợ chồng một chú tôm hùm khá to, mỗi con khoảng hai kí.
Phượng reo mừng, “đồ biển sẵn thế này là không phải lo đói nữa.”
Phượng lầm, mà tôi cũng lầm. Ðồ biển không sẵn như chúng tôi tưởng, hoặc ít ra thì đó cũng không phải là nguồn thực phẩm đủ cung cấp cho 140 người đói khát.
Tôi đi nhặt rác và rong biển về làm củi nướng tôm; tôi cũng tìm được một mảnh ván nhỏ cho Phượng ngồi. Bữa ăn đầu tiên trên hoang đảo, cách tìm thực phẩm, nướng và ăn bốc theo kiểu thượng cổ, vừa ngon lại vừa vui. Vợ chồng, con cái chỉ ăn hết một con tôm, con thứ nhì để dành.
“Em chưa thấy con tôm hùm nào lớn đến như vậy,” Phượng vừa chôn vỏ tôm xuống cát vừa bảo tôi.
Mới 6 giờ chiều, mặt trời còn cao mà gió biển nghe đã lạnh; tôi lo lắng bảo Phượng, “Có bao nhiêu quần áo em lấy mặc hết cho con. Cả em nữa.”
Gói hành lý được mở ra, tắp hết lên người. Mỗi đứa trẻ mặc 4 áo, 3 quần. Phượng được 3 áo, 2 quần. Tôi mặc thêm cái sơ mi nửa ra ngoài bộ đồng phục chưa thay từ ngày đi.
Gia đình ông hàng xóm sát hốc đá nhà tôi định xuống tầu tránh lạnh nhưng bị đuổi trở lên. Một số thanh niên tổ chức chiếm độc quyền cư ngụ trên tầu. Họ cũng ngưng, không phát thực phẩm như trước nữa.
Ðêm hôm đó một người đàn bà chết, có lẽ vì quá lạnh. Chúng tôi xuống tầu mượn được một cây xà beng và một cái búa để đục đá chôn người xấu số. Ðó là người đầu tiên và người cuối cùng được chôn. Lý do thứ nhất khiến chúng tôi không chôn người chết nữa là vì đục đá làm mồ là một công trình quá khó mà lại không hiệu quả. Lớp đá vụn lấp xác chết không chặt được như đất nên chỉ một ngày sau mùi thối đã xông lên nồng nặc. Lý do thứ nhì chua chát hơn: người ta không muốn vùi đi mấy chục kí thịt của người chết trong lúc tất cả đều đói.
Xác chết đầu tiên tôi thấy bị xẻ thịt là xác một thiếu nữ trắng trẻo, xinh xắn. Tôi đang đi nhặt ốc thì nhìn thấy xác cô, khuy áo bị cổi banh ra, chỗ đôi nhũ hoa chỉ còn thịt lầy nhầy và mấy rẻo xương lồng ngực. Một tiếng đồng hồ sau, tôi trở lại, cô đã bị lột truồng, bắp vế, bắp chuối bị xẻo mất.
Tôi rùng mình. Suốt 2 năm chinh chiến tôi cũng đã chứng kiến nhiều cái chết ghê rợn do súng đạn gây nên, nhưng quả thật chưa một xác chết nào làm tôi khiếp đảm hơn.
Thượng Ðế ơi, người đã sinh ra con người như sinh vật khôn linh hơn mọi sinh vật khác, sao người lại còn bày ra những thử thách trớ trêu đó để làm gì? Ðể chứng minh là con người cũng không hơn gì loài cầm, loài thú ư?
Tôi trở về hốc đá với khuôn mặt chắc phải vô cùng sầu thảm; nhìn tôi, Phượng bảo, “Mình đuối lắm rồi, để em đi kiếm thực phẩm thay mình.”
“Em không đi đâu hết,” tôi gạt phăng.
Vợ tôi nhìn tôi lo sợ; có thể Phượng thấy phản ứng của tôi


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Mar 29 2009, 10:39 PM
Gửi vào: #10


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622





Đôi Mắt Phượng

(Tiếp Theo)



Nhìn những con cá hung hãn chồm vào đến tận bờ để chia phần thịt người, tôi bàn với ông hàng xóm phương pháp bẫy cá mập. Chúng tôi đào một vũng cạn, rồi lấy đá be bờ khá cao. Sườn vũng nước nghiêng vào bờ, bên trong sâu hơn bên ngoài bờ biển.
Mượn cái đầu của một bà lão vừa bị xẻ thịt, chúng tôi thả mồi chờ cá mập; thời gian chờ đợi không lâu hơn 20 phút: theo đà sóng một con cá mập nhỏ, khoảng trên dưới 40 kí, trườn vào bẫy.
Sóng rút ra, cá mập mắc cạn và chết ngay sau vài chục nhát búa và xà beng của chúng tôi. Chúng tôi lôi cá lên cạn xẻ thịt; khoảng vài chục người đến hôi món thịt cá mập. Việc xẻ thịt chưa xong, con cá mập thứ nhì đã lại trườn vào bẫy trước tiếng reo hò mừng vui của hơn 100 con người đói khổ.
Thịt cá mập béo ngậy và tanh rình, nhưng vẫn giúp chúng tôi tránh được ăn thịt người, và cái bẫy cá mập của tôi trở thành nguồn cung cấp thực phẩm khá dồi dào cho những nạn nhân mắc cạn.
Cái khổ của chúng tôi là trên đảo san hô không còn một thứ gì có thể sử dụng thay củi nữa cả; một vài người liều lĩnh xách búa ra định bửa tầu lấy gỗ, nhưng chỉ cần một phát súng bắn chỉ thiên của nhóm thanh niên khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, lại có võ khí, đang chiếm giữ con tàu, cũng đủ làm những người liều nhất trở thành khôn ngoan, lui nhanh vào bờ.
Cầm miếng cá sống, vừa xệu xạo cắn, Phượng vừa hỏi tôi, “Mình có còn tin được câu người ta thường nói ‘trời xanh có mắt’ nữa không?”
Tôi thở dài. Nếu quả trời có mắt thì cặp mắt đó đã nhắm lại từ 4 năm nay rồi. Bé Mai chỉ còn là một cái xác nhỏ xíu, gầy ốm, thoi thóp níu vào cuộc sống. Thằng Vinh khá hơn đôi chút, nhưng cũng nằm lả, đôi mắt gần như không bao giờ hé mở.
Tôi nhai miếng cá trong miệng đến thành nước rồi cúi xuống mớm cho con. Phượng thút thít khóc. Cũng như tôi, vợ tôi hiểu mạng sống của đứa con gái chúng tôi thương yêu, nâng niu, đang tàn lụi dần và sẽ tắt hẳn, khi gió biển, nắng cháy, và thiếu dinh dưỡng, cướp đi những sinh lực cuối cùng.
Bé Mai bỏ đi tối hôm đó. Ôm con trong tay tôi nghe hơi thở nó yếu dần, yếu dần trước khi tắt hẳn. Cơ thể của đứa con yêu thương vẫn mềm mại nhờ chút hơi ấm của tình phụ tử ủ ấp.
Tôi lặng đi ngồi ôm xác con trong gió biển cắt da; khoảng một tiếng đồng hồ sau Phượng hỏi tôi, “Con có khá hơn không mình?”
Tôi hiểu nghĩa câu hỏi này: Phượng muốn biết bé Mai đã chết chưa, nhưng chữ “chết” ghê rợn không phát ra được trên đôi môi người mẹ. Tôi lặng thinh để vợ tôi ngỡ là tôi đã thiếp đi trong mòn mỏi. Nhưng rồi tôi thiếp đi thật; sức chống đỡ của cơ thể chỉ có giới hạn. Giữa những hoàn cảnh phi lý nhất, thể chất vẫn giữ nguyên những đòi hỏi bình thường của nó. Ôm xác con trong tay, ngồi giữa một cô đảo Thái Bình Dương, tôi ngủ ngon lành.
Tôi bị mặt trời nhiệt đới đánh thức; mở mắt dạy trong ánh nắng chói lòa, tôi hốt hoảng nhận ra là bé Mai không còn nằm trong tay tôi nữa. Phượng cũng không thấy đâu cả. Tôi cất tiếng gọi vợ, tiếng sau lớn hơn tiếng trước, những tiếng cuối cùng trở thành tiếng gào kinh hoảng.
Những người chung quanh nhìn tôi; cặp mắt họ không thiện cảm, nhưng cũng không ác cảm, mà chỉ là những cập mắt vô can mất hết khả năng xúc động. Cái khổ đau, bất hạnh của tôi, tôi cứ tự gánh lấy. Phần riêng của họ cũng đã quá lớn, họ không thể chia xẻ thêm với ai chút gì nữa cả.
Tay ẵm thằng Vinh, tôi phóng nhanh xuống bờ biển vừa chạy quanh đảo, vừa gọi Phượng. Vợ tôi ngồi xẹp trên một phiến đá, vẻ mặt sầu khổ. Ôm chầm lấy vợ, tôi hỏi, “Em đi tìm con?”
Vợ tôi không nói được một tiếng nào cả.
“Họ đã xẻ thịt bé Mai?” Phượng gật đầu rồi gục vào vai tôi thút thít khóc; tôi lặng đi, tê tái.
Nguyên ngày hôm đó vợ chồng chúng tôi không nói thêm với nhau một câu nào nữa. Trước những đổ vỡ thương đau toàn diện, chúng tôi không còn khả năng khóc, than.
Sáng hôm sau, sau một vòng đi tìm thực phẩm thất bại như từ nhiều ngày nay, tôi trở về hốc đá và tình cờ khám phá ra nguyên nhân giúp bé Vinh còn tương đối mạnh khỏe: Phượng đang cho con bú. Tôi ngạc nhiên vì từ trước đến giờ Phượng không hề làm việc đó. Cả bé Mai cũng bú sữa bò từ khi mới lọt lòng.
Phượng bối rối nhìn tôi, trong lúc tôi nhìn bé Vinh: môi đứa bé đỏ lòm. Tôi kéo vú Phượng ra để thấy một vết cắt còn mới trên đầu vú. Tôi tìm thấy nhiều vết cắt khác ở đầu ngón tay, ở cổ tay người mẹ khốn khổ. Thở dài, tôi cúi đầu. Phượng đang trút tàn lực sang để nuôi một mầm sống. Việc làm vô cùng đáng kính phục đó chắc chắn sẽ làm tôi trở thành góa bụa sớm hơn.
Dĩ nhiên tôi không ngăn cản, cũng không phiền trách gì Phượng. Ðiều độc nhất tôi có thể làm là cố gắng hơn nữa trong việc tìm kiếm thực phẩm để nuôi Phượng và bé Vinh, nhưng số người đói khát thì đông mà số thực phẩm lại giới hạn nên gần như chúng tôi không còn tìm ra bất cứ một thứ gì, dù chỉ là cỏ, là cây, để nhai trong miệng.
Bốn ngày sau ngày bắt gặp Phượng cho con bú bằng máu, tôi tìm được một con của khá lớn. Phượng ăn gượng gạo rồi lại nằm ngay. Vợ tôi đuối đến mức tôi phải xé từng miếng thịt cua, đút vào miệng cho nàng.
Suốt tuần sau, tôi chỉ tìm được vài con ốc. Nhìn những triệu chứng sắp chết của vợ, tôi nghe đứt ruột. Tôi không dám đi kiếm thực phẩm xa nữa, sợ người ta đến ăn thịt Phượng.
Hai ngày sau, đang nửa mơ, nửa tỉnh, tôi chợt nghe nhiều tiếng súng; tiếp theo là tiếng reo hò. Bàng hoàng choàng dậy, tôi nhìn theo hướng nhìn của mọi người và thấy một chiếc tàu đang từ từ tiến lại.
Tim tôi ngừng đập; cuối cùng trời vẫn còn có mắt, chúng tôi sắp được cứu sống, và tôi vẫn còn Phượng, còn người vợ mà trong hoạn nạn tôi thấy tình yêu trở thành to lớn hơn, bền chặt hơn. Tôi sẽ lại được mê mệt, được khổ sở với cặp mắt đa tình của Phượng.
Trong tiếng reo hò của những người đồng cảnh ngộ, tôi cúi xuống thủ thỉ bảo vợ, “Hôm trước em hỏi anh có còn tin là ‘trời xanh có mắt nữa không’; bây giờ anh trả lời em là anh tin. Anh tin cuối cùng rồi ông trời vẫn có mắt.”
Nhưng tôi đã lầm. Ðối với những kẻ bất hạnh, vô phước như tôi, ông trời (nếu có ổng) đã vĩnh viễn nhắm mắt, quay mặt đi.
Con tầu tôi đang nhìn theo là một ngư thuyền của Ðài Loan. Họ neo xa bờ chừng 2 cây số, rồi cho ghe nhỏ vào chở người đại diện của chúng tôi ra thương lượng. Cuộc thương lượng, nói trắng ra chỉ là một cuộc trả giá.
Người đại diện trở về cho chúng tôi biết tầu Trung Hoa đòi một số vàng lớn mới chịu cứu chúng tôi. Số người có vàng đề nghị chia số người Trung Hoa đòi hỏi trên đầu người; những kẻ trắng tay như tôi ngồi lặng thinh, dự thính.
Chiều hôm ấy người đại diện của chúng tôi trở ra ngư thuyền Trung Hoa với một phản đề nghị. Cuộc trả giá kéo dài cho đến tối, và ông ta ngủ lại trên tầu đánh cá. Sáng hôm sau ông trở lại với 3 người Tầu, và bắt đầu cuộc ghi danh, góp vàng.
Những người có vàng để góp lần lượt được xuống ghe máy để ra tàu trước cặp mắt thèm thuồng của chúng tôi. Khoảng xế chiều việc đưa những người góp vàng ra tàu hoàn thành. Người Trung Hoa chở vào cho chúng tôi một thùng cá và bảo, “Các anh ăn uống tạm tối nay. Sáng mai chúng tôi sẽ vào chở tất cả ra tàu.”
Thì ra họ chỉ muốn làm khó dễ để lột một số vàng của những người có tài sản. Sáng hôm sau toàn bộ chúng tôi được chở ra tàu; một thủy thủ Trung Hoa giúp tôi bồng bé Vinh, trong lúc tôi bồng Phượng xuống ghe.
Yếu đuối, tôi ngã mấy lần, Phượng mở mắt nhìn tôi, cặp mắt tình tứ, đắm đuối ngày xưa, giờ này đã mất thần.
Xuống tầu, tôi xin một ly sữa, đút cho Phượng, nhưng vợ tôi không còn nuốt được nữa. Tôi biết cơ thể nàng đã mất hết hydrate; giải pháp độc nhất còn lại là nuôi bằng nước biển, nhưng làm gì có thứ đó trên một ngư thuyền.
Phượng lịm dần và hơi thở thật sự tắt hẳn vào đêm hôm đó. Xác nàng bị chuồi xuống biển theo hình thức thủy táng.

TÔI DỨT CÂU CHUYẸN vào lúc 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 2004, rồi bảo thằng Vinh, “Ba hứa ngày con học xong, ba sẽ kể lại câu chuyện về mẹ con cho con nghe; ba đã thực hiện lời ba hứa.”
Nó bước đến trước ghế tôi ngồi, quỳ xuống, gục đầu lên đùi tôi, “Ba đau khổ nhiều quá,” lời nó nghẹn lại. “Con thương ba.”
Tôi vuốt tóc nó, “ba thương con.”
“Con muốn vinh danh mẹ,” thằng Vinh bảo tôi. Năm đó nó 26, vừa ra trường thuốc Austin, và đang tập sự tại nhà thương Memorial Hertman, Houston, nơi tôi làm việc.
“Bằng cách nào?” tôi hỏi nó.
“Con muốn về Việt Nam để cùng bác sĩ Nguyễn Ðan Quế tranh đấu giải thể chế độ (Không dùng từ này) dã man đã giết mẹ con, giết chị Mai, và làm ba buồn khổ suốt cuộc đời.”
“Môi trường tranh đấu tại hải ngoại thuận lợi hơn môi trường quốc nội,” tôi bảo Vinh. “ Tiếng nói của con sẽ lớn hơn, vì có một đối tượng rộng hơn, quyền hạn hơn.”
Nó nghe lời tôi, và giờ này bác sĩ Trần Phượng Vinh, con của bác sĩ Trần Quang trở lại trường đại học; môn học mới của nó là điện ảnh.
Họa sĩ Thương Thương, hôn thê của nó đã vẽ xong từ năm ngoái bức tranh quảng cáo cuồn phim đầu tay ÐÔI MẮT PHƯỢNG của tài tử kiêm đạo diễn Phượng Vinh.
Nó đóng vai trung úy quân y của Sư Ðoàn Nhẩy Dù, trung úy Trần Quang.

Nguyễn đạt Thịnh

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Apr 16 2009, 10:02 PM
Gửi vào: #11


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Cơm Nguội

Tiểu Tử

Ông già đó lái xe đưa hai thằng cháu nội sáu bảy tuổi đi ăn MacDonal's. Bữa nay chúa nhựt, vợ chồng thằng con ông không có đi làm, nhưng vì phải đi dự đám cưới của một người bạn vào buổi trưa nên thằng con ông nhờ ông đến nhà vừa giữ nhà vừa trông chừng hai đứa nhỏ. Nó đã điện thoại cho ông hôm tuần trước để…"xí chỗ" bởi vì nó biết hai đứa em của nó lâu lâu cũng nhờ ông làm như vậy. Nhà ông chỉ cách nhà của các con ông có ba bốn chục phút xe hơi – nếu xa lộ không bị kẹt – nên việc đi lại không gây nhiều phiền phức. Ông sống một mình, thành ra khi đứa con nào cần, gọi ông là ông " ừ " ! Trừ phi ông đã hẹn lỡ với mấy ông bạn già đi đánh bài ở nhà ông nào đó, hay đi ăn phở ở khu 13 chợ tàu Paris…
Giữ hai đứa cháu đến bốn giờ chiều vẫn chưa thấy cha mẹ chúng nó về. Giờ này phải cho chúng nó ăn cái gì – quen giữ mấy đứa cháu nên ông rành thông lệ đó. Ông đề nghị đưa chúng nó đi ăn MacDo's, hai đứa vỗ tay nhảy cẫng reo mừng. Vậy là ông chở chúng nó đi, sau khi viết ít chữ để lại trên bàn ăn cho vợ chồng thằng con ông biết.
Nhà hàng nằm ngoài đồng nên có sân chơi rộng lớn với nhiều đu và cầu tuột. Giờ này thật đông khách, nhứt là trẻ con. Nhờ có bãi đậu xe mênh mông nên ông già không phải khó khăn tìm chỗ.
Vừa xuống xe, hai thằng nhóc chạy thẳng ra sân chơi. Ông già nói vói theo bằng tiếng Việt :
- Hai đứa muốn ăn cái gì để ông nội lấy.
Hai đứa không quay đầu lại nhưng nói to bằng tiếng Pháp :
- Hamburger và coca.
Ông lại hỏi :
- Không lấy happy meal hả ?
Hỏi như vậy, vì thông thường trẻ con hay lấy món đó để có đồ chơi.
Tụi nhỏ vừa trèo lên cầu tuột vừa nói lớn bằng tiếng Pháp :
- Không ! Cái đó của con nít !
Ông bật cười, vừa chửi thầm " cha tụi bây" vừa bước vào trong. Nối đuôi một lúc rồi ông mang mâm đồ ăn ra ngồi ở một cái bàn ngoài sân dưới nắng, cho ấm. Hai thằng cháu nội của ông đang chơi cầu tuột, la hét bằng tiếng Pháp, om sòm. Trong đám trẻ tóc vàng, chúng nó tóc đen mắt hí nên dễ thấy. Ông nhìn theo tụi nó trèo lên tuột xuống, chen chúc với bầy tây con mà ông thấy thương.
Hai thằng cháu nội của ông chỉ hiểu chớ không nói được tiếng Việt. Tiếng Việt, tụi nó nói được có hai tiếng " ông nội".( Đó là bây giờ, sau khi được ông sửa nhiều lần. Chớ hồi còn bốn năm tuổi, tụi nó gọi ông bằng " ông nại", nghe thấy cười lắm !)Thành ra, trong đối thoại giữa ông cháu, tụi nó nói tiếng Pháp, còn ông thì dùng tiếng Việt. Ông nghĩ :" Cứ bắt tụi nó phải nghe tiếng Việt, kẻo không chúng nó sẽ quên. Rồi mình sẽ đốc thúc ba tụi nó đưa tụi nó đi học nói và học viết nữa".
Một lúc sau, thấy hai đứa nhỏ chơi đủ lâu, ông đứng lên vẫy tay gọi :
- Tí ! Tú ! Lại ăn nè !
Tụi nhỏ còn ráng tuột thêm hai lần nữa rồi mới chạy vào, mặt mày đỏ ửng, mồ hôi mồ kê. Ông nói :
- Vô toa-lét rửa tay rửa mặt rồi ra ăn.
Hai đứa gật đầu nhưng vẫn cầm ống hút chọc lủng nắp ly giấy, hút vài ngụm coca trước khi hí hửng đi vào bên trong. Ông mỉm cười nhìn theo mà nghe tình thương dào dạt trong lòng…Ông nhớ lại ở bên nhà hồi xưa, hồi thời mà cha chúng nó bằng tuổi chúng nó bây giờ, ông cũng hay dẫn đi " ăn cái gì " lúc bốn năm giờ chiều chúa nhựt. Mà ở Việt Nam đâu cần phải lái xe đi cả chục cây số như ở xứ Pháp này. Cứ thả bộ ra đầu ngõ là có đủ thứ để " bỏ bụng " : cháo lòng, mì, phở v.v…Hồi đó, khi được dẫn đi ăn, cha chúng nó cũng có bộ mặt hí hửng giống như tụi nó bây giờ. Vậy mà cũng đã gần bốn chục năm…
Hai đứa nhỏ trở ra ngồi vào bàn ăn hamburger. Thằng lớn, tên Tí, để ý thấy ông nội không có hộp MacDo's nào hết, bèn hỏi :
- Ông nội không ăn gì à ?
- Không, ông không có đói.
Ông cầm cái ly giấy đựng cà phê đưa lên :
- Ông uống một cái cà-phê là đủ rồi.
Thằng nhỏ, tên Tú, chen vào, miệng còn ngồm ngoàm hamburger :
- Mấy người già kỳ cục lắm ! Ăn uống không giống ai hết !
Thằng anh rầy :
- Nói bậy ! Mày nói như vậy là không có lễ độ !
Rồi nó lên giọng người lớn để dạy em, nói chậm rãi :
- Người ta nói : mấy người lớn tuổi không biết cách ăn uống. Mầy hiểu chưa ?
Ông bật cười, chửi đổng " Cha mầy " ! Thằng Tí không hiểu tiếng chửi đó nên hỏi :
- Ông nội nói cái gì vậy ? " Cha mầy " là nghĩa gì ?
Ông đưa tay gãi cổ, tìm cách giải nghĩa :
- Ờ…ông muốn nói…Nghĩa là…Nghĩa là…
Thấy ông nội nó có vẻ gặp khó khăn trong tiếng Việt, thằng Tí đề nghị :
- Ông cứ giải nghĩa bằng tiếng Pháp đi, có lẽ dễ hơn đó !
Ông gật đầu, nói bằng tiếng Pháp :
- Ông muốn nói rằng…muốn nói rằng là … con dễ thương !
Thằng nhỏ mỉm cười, vừa gật gật đầu vừa hí hửng nói :
- Merci ! Merci !
Thấy thương quá, ông chồm qua mặt bàn hôn lên má phinh phính của nó. Thấy vậy thằng em đòi :
- Còn con ! Còn con !
Ông bèn đưa tay ôm hai cái đầu cụng lại rồi hôn chúng nó trơ trất. Hai đứa rụt cổ cười lên hắc hắc. Trong khoảnh khắc đó, ông già cảm thấy không còn sự sung sướng nào bằng…
Ăn xong, thằng Tí xin phép ông nội cho tụi nó tiếp tục chơi một lúc nữa. Ông vén tay áo nhìn đồng hồ rồi gật đầu. Hai đứa nhỏ vừa chạy đi vừa nói nửa tiếng tây nửa tiếng ta :" Merci ông nội !". Ông mỉm cười nhìn theo một lúc rồi mới đi vào bên trong lấy thêm một ly cà phê.
Ngồi vào bàn, ông vừa nhăm nhi vừa nhớ lại thời ông còn nhỏ. Hồi đó, ông ở dưới quê với bà ngoại. Chiều nào đi học về, cũng bước vào bếp bốc một cục cơm nguội to bằng nắm tay rồi ra ngồi ngoài hiên ăn với miếng đường mía màu nâu sặm đen nhỏ bằng ngón chân cái. Vậy mà sao ngon vô cùng ! Và ngày nào cũng vậy. Hể nghe đói – ngoài hai bữa cơm chánh – là cứ vô bếp lục cơm nguội. Lúc nào nấu cơm, bà ngoại cũng nấu nhiều. Bà nấu trong cái nồi đất và không biết nấu cách nào mà khi nguội cơm dính vào nhau chớ không bời rời. Cho nên chỉ cần cầm chiếc đũa bếp xắn xuống một cái là có ngay một cục cơm gọn bân ! Nồi cơm nguội luôn luôn nằm trên đầu ông táo. " Để kiến đừng bò vô, vì kiến sợ tro bếp". Hồi đó nấu bếp bằng củi nên bếp đầy tro. Lâu lâu, bà ngoại có hốt tro đổ bớt, nhưng vẫn chừa lại một lớp dầy để giữ than cho âm ỉ dùng " ghế" nồi cơm. Bà giải nghĩa :" Sôi vừa cạn nước là dập tắt lửa ngọn rồi cời than với tro ra khỏi chưn ông táo, bắc nồi cơm xuống đặt lên đó cho gạo nở. Như vậy kêu là ghế nồi cơm. Nấu cơm ngon hay không ăn thua ở cái chỗ biết ghế hay không biết ghế. Chỉ có vậy thôi !". Bà coi chuyện nấu cơm trong nồi đất và bằng lửa củi là chuyện dễ ợt. Điều quan trọng đối với bà ngoại là phải nấu dư dư ra một chút. "Cho thằng nhỏ nó có cơm nguội nó ăn". Nói như vậy chớ thỉnh thoảng bà cũng cho "thằng nhỏ" một khúc khoai mì hay một củ khoai lang…những thứ không phải hiếm – nhứt là ở vùng quê – nhưng vì nhà nghèo nên những thứ như vậy cũng trở thành hiếm hoi cho lúc đói lòng của " thằng nhỏ"…
Nghĩ đến đó, ông già buông tiếng thở dài. Sao mà có thể nghèo như vậy được ? Bà ngoại chỉ có mấy nọc trầu, vài hàng cau, đôi ba cây ổi cây mít…Ngần đó thứ chỉ đủ cho hai bà cháu có hai bữa cơm rau khô mắm hằng ngày. Vậy mà bà ngoại cũng ráng nuôi cho ông đi học. " Cái thứ mồ côi, Trời bù cho cái khác. Thằng nhỏ sáng dạ học giỏi, bắt nó ở nhà chăn trâu sao đành". Vậy là ông phải cắp sách đến trường như mọi đứa trẻ khác và chiều về nếu không có củ khoai thì vẫn còn có nồi cơm nguội... Thành ra, cơm nguội đối với thằng nhỏ nghèo là ông hồi đó, lúc nào cũng có giá trị như hamburger của hai thằng cháu nội của ông bây giờ. Còn hơn thế nữa là nhờ có cơm nguội mà ông đã đi hết bậc tiểu học một cách trơn tru rồi sau đó thi đậu học bổng vào trường lớn ở Sàigòn, cũng dễ dàng như bà ngoại nấu cơm trong nồi đất !
Ông già vén tay áo xem đồng hồ rồi đứng lên gọi :
- Tí ! Tú ! Về, tụi con !
Hai đứa chạy lại mang mâm hộp không ly không dẹp vào trong rồi theo ông nội chúng nó ra xe.
Về đến nhà thì ba mẹ của hai thằng nhỏ cũng đã về rồi. Ba chúng nó hỏi bằng tiếng Việt :
- Tụi con đi chơi có vui không ?
Hai đứa gật đầu. Thằng Tí giành nói :
- Ông nội cho tụi này chơi cầu tuột, chơi đu, lâu thật lâu. Đã luôn !
Ba chúng nó quay sang ông già :
- Tụi nó có ngoan không, ba ?
- Ngoan chớ. Dễ dạy lắm.
Mẹ chúng nó vừa đưa cho mỗi đứa một cái bánh sô-cô-la vừa nói bằng tiếng Pháp:
- Mẹ tưởng tụi con không có đi ra ngoài nên mẹ mua bánh cho tụi con đây.
Hai đứa vừa ôm mẹ hôn vừa nói " Cám ơn ! Cám ơn !" tía lia. Thằng Tú bẻ cái bánh của nó ra làm hai rồi đưa phân nửa cho anh nó :
- Ăn với Tú nè ! Để dành cái bánh của Tí lác nữa ăn !
Thằng anh vui vẻ cầm lấy phần bánh nói " merci" rồi vừa hôn lên má em vừa nói bằng tiếng Việt :
- Cha mầy !
Mẹ nó giật mình, trừng mắt, la lên bằng tiếng Pháp :
- Tí ! Sao con chửi nó ?
- Con đâu có chửi. Con nói nó dễ thương mà !
- " Cha mầy " là tiếng chửi đó !
- Hồi nãy, ông nội nói " cha mầy là dễ thương " !
Ông già bật cười trong lúc mọi người đều ngạc nhiên nhìn ông không hiểu. Ông nói :
- Ờ ! Hồi nãy ba có giải nghĩa như vậy khi thằng Tí nói một câu dễ thương. Thật ra, hai tiếng đó tùy trường hợp và tùy cách nói mà thành tiếng chửi hay tiếng mắng yêu, tụi con hiểu không ?
Mẹ chúng nó quay sang hai con, nói bằng tiếng Pháp :
- Tiếng đó chỉ có người lớn mới có quyền dùng thôi. Tụi con không được nói, nghe chưa ?
Thằng Tí gật đầu, rồi vừa kéo thằng em đi vào trong vừa càu nhàu :
- Ồ…tiếng Việt Nam rắc rối quá !
Mấy người lớn nhìn nhau mỉm cười. Ông già nói, giọng nghiêm trang :
- Ba nghĩ tụi con nên sắp xếp thì giờ để chở tụi nhỏ đi học nói và học viết tiếng Việt. Ở Paris thiếu gì chỗ dạy. Ngoài ra, ba cũng muốn nhắc tụi con thường xuyên nói tiếng Việt với chúng nó thay vì dùng tiếng Pháp. Để cho chúng nó đừng quên. Mình đi lưu vong, bỏ hết mất hết. Chỉ còn có tiếng nói mang theo mà cũng để cho mất luôn…thì mình sẽ thành ra cái giống gì, hả các con ?
Giọng ông già bỗng như nghẹn lại. Ba mẹ tụi nhỏ chừng như xúc động , làm thinh. Yên lặng một lúc, mẹ thằng Tí vừa đi vào bếp vừa nói :
- Để con đi làm cơm. Ba ở lại ăn với tụi con nghen.
- Không, con. Chơi một chút rồi ba về.
Ba tụi nhỏ rót trà vào tách đưa cho ông già :
- Biết ba thích uống trà nên con có pha sẵn bình Ô long cho ba đây.
- Ờ…Cám ơn con !
Ông già hớp một hớp, đặt tách xuống, gật gù :
- Ùm…Ngon !
Rồi ông tiếp :
- Hồi nãy, ở ngoài Mac Do's, tự nhiên sao ba nhớ lại ba hồi nhỏ. Hồi đó, vì nghèo nên ba đâu có quà bánh gì để ăn. Ba chỉ biết có cơm nguội ăn với đường mía, loại đường cục đậm đen nhìn không thấy thèm mà khi cắn vô mùi mật mía thơm phức làm tươm nước miếng.
Ông già ngừng nói đưa tách lên môi hớp một hớp trà, làm như ông vừa bắt gặp lại vị ngọt đậm đà của cục đường đen và ông cần một hớp trà để đẩy đưa cho hậu vị…
Người con ông ngồi đối diện, uống trà trong im lặng. Anh biết cha anh đang sống lại với dĩ vãng nên không dám làm xáo trộn giòng suy tư của cha. Ông già nói tiếp :
- Hồi thời đó bà ngoại của ba nấu cơm trong nồi đất, nhúm lửa bằng giăm bào, chụm bằng củi. Muốn cho lửa bắt phải hít hơi đầy phổi rồi dùng ống trúc mà thổi nhiều lần. Ống trúc đó gọi là " ống thổi". Khi sử dụng, phải để ý. Bởi vì ống thổi có một đầu sạch và một đầu dơ. Đầu sạch là đầu mà mình chúm môi kê vào để thổi, còn đầu dơ là đầu mà mình thọc vào chỗ có lửa. Đầu đó luôn luôn bị cháy nám đen và dính tro bụi. Người không biết, thổi ở đầu dơ, một lúc sau mồm mép dính lọ đen thui mà không hay !
Ông già khịt mũi cười rồi mới tiếp :
- Rồi phải đợi cơm sôi để hạ lửa, sớm một chút là cơm nhão, trễ một chút là cơm khê. Nấu cơm cực lắm chớ không phải như bây giờ nấu bằng nồi điện, chỉ cần nhận có cái nút !
Ông ngừng nói, cầm tách lên hớp mấy hớp trà. Ba thằng Tí cũng đẩy đưa :
- Như vậy mới là tiến bộ, chớ ba.
- Dĩ nhiên. Đó là điều cần thiết cho cuộc sống. Bây giờ mà bắt mấy bà mấy cô nấu cơm bằng nồi đất, bằng lửa củi…chắc họ nổi loạn ! Ba muốn nhắc lại chuyện nấu cơm hồi trước là để cho con thấy trong hột cơm hồi đó có chút công sức của người nấu, có chút tình người làm cho hột cơm có giá trị hơn hột cơm " nhận nút " của thời bây giờ. Chỉ có vậy thôi.
Ông già ngừng nói, nhìn thằng con một chút rồi tiếp :
- Nhưng chuyện mà ba muốn nói ở đây là chuyện " cơm nguội" . Cơm nguội là một thứ chẳng có gì hấp dẫn ! Cho dù nó có nằm trong nồi đất hay trong nồi điện gì, nó cũng không gợi thèm như tô phở hay tô mì. Nó không có chỗ đứng trong hàng quà bánh. Chẳng ai để ý tới nó hết ! Vậy mà khi mình đói và chẳng có gì ăn thì cục cơm nguội lại trở thành " có giá" ! Nó như loại bánh xe xơ-cua của xe hơi : bình thường chẳng ai nhìn đến, nhưng khi bị xẹp bánh mới thấy cái bánh xơ-cua, dù đã mòn lẵn, thật hữu ích vô cùng.
Ông già lại ngừng nói, tự tay rót trà vào tách, chậm rãi như để cho thằng con có thời giờ " thấm " những gì ông muốn nói. Sau một hớp trà, ông tiếp :
- Con thấy không ? Cục cơm nguội cũng có cái giá trị của nó đó chớ ! Ngoài ra, khi ăn cục cơm nguội, đối với những ai chỉ biết nồi cơm điện chớ chưa từng biết cái nồi đất như tụi con chẳng hạn, thì cục cơm nguội chẳng gợi lên hình ảnh gì khác. Nhiều lắm là chỉ gợi lên hình ảnh cái bánh xơ-cua thôi ! Còn như đối với những người như ba, nhai cục cơm nguội là nhớ công ơn người thổi lửa nấu cơm nuôi mình. Nhai cục cơm nguội là nhớ cái gốc nghèo của mình. Cái gốc mà từ đó ba đã cố gắng vươn lên để về sau, ở Sàigòn, tụi con mới có đủ thứ quà bánh bỏ vào bụng khi cần, và để bây giờ, ở đây, tụi thằng Tí thằng Tú mới có hamburger . Con thấy không ? Cơm nguội đâu phải chỉ là cơm nguội !
Dứt lời, ông già đứng lên cầm tách trà uống một hơi. Ông đặt tách xuống rồi nhìn ra ngoài :
- Thôi, ba về kẻo tối. Già rồi, mắt mũi dở lắm, con à.
Rồi ông hướng vào trong, nói lớn :
- Ông nội về nghe tụi con !
Tụi nhỏ ló đầu ra cửa buồng nói nửa tiếng Pháp nửa tiếng Việt " Au revoir Ông Nội". Có tiếng mẹ chúng nó từ trong bếp vọng ra :" Dạ ! Ba về. Lái xe cẩn thận nghen ba !"
Ra đến cửa, ông già đưa tay bắt tay thằng con. Anh ta cầm tay cha, vừa siết mạnh vừa nói :
- Cám ơn ba ! Cám ơn !
Trong cái siết tay đó, hình như người con muốn nói lên một điều gì…Anh ta đưa ông già ra xe, đứng nhìn theo chiếc xe đi lần ra ngõ trong ánh hoàng hôn chập choạng. Xe đã đi khuất mà anh ta vẫn còn nhìn theo hướng đó, ân hận sao hồi nãy mình không nói được một lời gì để cho cha hiểu rằng mình thương cha vô cùng…thương vô cùng…

Trên đường về nhà, ông già lái xe chậm rãi. Hình ảnh cục cơm nguội vẫn còn vươn vấn đâu đó ở trong lòng. Bỗng ông thở dài, lẩm bẩm :" Mình, bây giờ, cũng chỉ là một thứ cơm nguội đối với các con. Tụi nó chỉ phone tới, khi nào tụi nó cần…"
Con đường trước mặt ông sao thấy như dài thăm thẳm…

Tiểu Tử




--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post May 2 2010, 09:25 PM
Gửi vào: #12


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





KHI TÓC KHÔNG CÒN XANH.

Nguyễn Thị Thanh Dương.

Ngày mái tóc không còn xanh được nữa,
Ngày đôi tay thôi dệt mộng phù hoa,
Thì em sẽ vì anh mà mở cửa,
Trông lên trời đếm hàng vạn sao sa.

( Thơ: Nguyên Sa).


Tôi thu xếp ít quần áo và vài thứ lặt vặt cần thiết vào trong chiếc va ly nhỏ, sửa soạn cho một chuyến đi vài ngày. Bác ruột tôi vừa qua đời tại thành phố Wichita , tiểu bang Kansas.Gia đình bác mới từ tiển bang Washington D.C. dọn về đây được mấy tháng nay.
Lòng tôi buồn vời vợi đang nghĩ nên nói cách nào cho đám anh chị em họ của tôi về chuyện hạnh phúc của gia đình mình đang đến hồi sụp đổ?
Chồng tôi về tới nhà, thấy tôi bên chiếc va ly anh chỉ hỏi một cách bình thường:
- Em sắp đi đâu?
- Bác Lân em vừa qua đời, em phải về tham dự tang lễ.
Anh lạnh lùng, ngắn gọn:
- Cho anh gởi lời chia buồn đến họ.
Chúng tôi đang làm đơn ly hôn. Anh, người đàn ông thành đạt của tôi cũng là một người bay bướm trăng hoa. Suốt thời gian hơn 10 năm chung sống tôi đã cố gắng chịu đựng vì các con, vì muốn gìn giữ tài sản của gia đình không thể để mất vào tay người đàn bà khác.
Nhưng cho tới hôm nay thì sức chịu đựng của tôi đã cạn kiệt, như giòng nước lũ làm vỡ bờ chảy xối xả những giận hờn và tủi nhục. Anh đã về Việt Nam du lịch nhiều lần và gian díu với một cô gái trẻ đẹp, chính anh thẳng thắn đề nghị ly hôn với tôi, để cưới cô gái đó làm vợ.
************
Sau những ngày tang lễ bác, và những lần tâm sự với các anh chị họ về tình trạng gia đình của tôi hiện nay. Các anh chị đều nói hạnh phúc của tôi không thể cứu vãn được nữa, chia tay là giải thoát cho cả hai.
Wichita thành phố không qúa lớn cũng không qúa nhỏ, và cũng chẳng có gì hấp dẫn tôi vào lúc này, mà còn hai ngày nữa tôi mới phải trở về nhà, dù là ngôi nhà bất hạnh, có người đàn ông tôi từng yêu thương, qúy trọng, nay đã quay mặt phản bội hất hủi tôi.
Đến tiểu bang Kansas, thành phố Wichita lại không xa mấy thành phố Liberal, chỉ 4 tiếng lái xe, làm tôi bỗng dưng tha thiết nhớ đến thành phố Liberal, nơi mà ngày đầu tiên đến Mỹ gia đình chúng tôi đã ở đây, và trong ký ức tôi mơ hồ nhớ đến John, người bạn thân thuở đó. Thuở tôi mới 15 tuổi.
Gia đình chúng tôi đi vượt biển, đến trại tị nạn Bidong, Mã Lai. Sau 9 tháng gia đình chúng tôi đến Mỹ nhờ sự bảo trợ của một gia đình người Mỹ. Đó là ông bà Smith, nhà truyền giáo, họ chỉ có 1 người con trai, anh tên John, lớn hơn tôi 1 tuổi.

Nhà chúng tôi ở không xa căn nhà của ông bà Smith, nơi hứơng Nam của thành phố Liberal nhỏ bé. Nhà ông bà Smith đúng là một căn nhà nông thôn, mảnh sân rất to rộng phía trưóc khi mùa Xuân đến là trồng trọt dưa hấu, xung quanh nhà những cây lê, cây táo và cây đào lần lượt thi nhau nở hoa.

Tôi không có ai để chơi ngoài John hay sang nhà trò chuyện, mấy đứa em tôi cũng thích xúm vào hóng chuyện, và thỉnh thoảng tôi cũng chạy sang nhà John vào những lúc cây có trái chín trên cành. Ôi, tôi mê cây táo chẳng biết loại táo gì mà cành cây khi chĩu trái thì xà xuống thấp đến nỗi tôi chỉ việc ngồi xổm mà tha hồ hái trái. Lại còn vườn dưa hấu trước sân, tôi hay cùng John háo hức vạch tìm trong đám lá những trái dưa hấu nhỏ vừa hiện ra và thích thú theo dõi chúng cho đến khi lớn lên, to tròn vươn lên khỏi đám lá. Không gì ngon ngọt bằng trái dưa hấu vừa cắt cuống trong vườn, bổ ra ăn ngay tại chỗ trong một buổi trưa hè mà John thường làm cho hai đứa cùng ăn.
John nói chuyện với tôi đủ thứ, từ những chuyện hàng ngày của anh cho đến những ước mơ mai sau, anh lấy vợ thì sẽ về sống ở một nông trại. Anh say sưa tả cái nông trại của gia đình anh trước kia ở tiểu bang Texas, có một căn nhà gỗ dài, bên cạnh là chuồng bò bằng hàng rào gỗ sơ sài, anh khoe biết cách vắt sữa bò.
Anh đã chạy rong trên cánh đồng có khô hay đi trên con đường đất mà mỗi khi gío mùa hè lồng lộng thổi làm tung bụi mịt mù.
Đất Texas khô cằn gần như sa mạc, cả mấy chục acre đất nhà anh chỉ toàn là những bãi cây lúp xúp thấp lè tè chưa vượt qua đầu thàng bé lên 10 như anh thuở đó, và những bụi xương rồng rải rác. Nhưng anh vẫn yêu thích ở nông trại, một trời một cõi như của riêng mình.

Tôi cũng say sưa nghe John kể, như đi lạc vào một cảnh trong phim ảnh, vì nó xa lạ với tôi, chứ tôi chẳng đời nào thích sống ở những nơi khỉ ho cò gáy như thế.
Tôi luôn mơ nước Mỹ với những thành phố nhộn nhịp phồn hoa như New York , tôi sẽ dạo bước trên những vỉa hè có những cửa hàng sang trọng. Cuộc sống sẽ là một chuỗi ngày vui..
Hai năm sống ở Liberal thì cha mẹ tôi quyết định sẽ dọn đi tiểu bang khác, vì tương lai của mấy chị em tôi, để chúng tôi được sống ở thành phố lớn, học ngôi trường lớn và có cộng đồng người Việt Nam đông hơn. Tôi qúa chán thành phố Liberal nhỏ bé này rồi, và đã đợi chờ quyết định này của cha mẹ từ lâu.

Ngay chiều hôm đó, tôi hí hửng chạy sang nhà John để báo tin vui này. Đó là một buổi chiều mùa hè đầy nắng. Tôi quen thuộc thò tay mở chốt cánh cổng bằng rào gỗ ngoài sân, và đi bộ trên con đường dài mà hai bên là vườn dưa hấu đang độ chín. May qúa John có nhà, mà mấy khi John đi vắng đâu, anh thích ở nhà giúp cha mẹ làm vườn, ngoài những khi thỉnh thoảng theo cha mẹ đi truyền đạo trong thành phố vào dịp cuối tuần.
Trời nắng nên tôi và John không hẹn mà cùng bước về phía những cây táo trồng quanh mảnh sân trước, như chúng tôi thường đến đó ngồi hái trái ăn và tán chuyện gẫu.

Tới một cây táo to lớn, cành rậm rạp mang nhiều trái, John ngồi xuống trước rồi đến tôi. Hôm nay tôi chẳng cần hái những trái táo mà lên tiếng khoe ngay:
- Anh John, gia đình tôi sắp rời khỏi thành phố này rồi.
Mặt Johm hoảng hốt như vừa nghe một tin kinh khủng lắm:
- Sao? Em sẽ đi…có thật không?
- Thật đấy, bố tôi nói cuối tuần này sẽ dọn đi. Ngày mai cha mẹ tôi sẽ sang từ gĩa cha mẹ anh. Bây giờ tôi cũng sang để chào tạm biệt anh.
Giọng John vẫn bàng hoàng:
- Có bao giờ em trở lại đây không?
Thấy gương mặt buồn lo của John, tôi tội nghiệp hứa liều:
- Chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm John và cha mẹ của John chứ.
John bỗng vụt đứng dậy:
- Hãy dợi anh ở đây, anh sẽ trở lại ngay.
John chạy bay vào nhà và lại chạy bay ra chỗ cây táo, không để tôi phải đợi lâu, anh đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ có ghi sẵn tên John và số điện thoại nhà anh, mà chắc là anh vừa ghi vội, giọng anh tha thiết như năn nỉ:
- Em hãy giữ lấy số điện thoại này, khi nào đến nơi ở mới thì liên lạc với anh. Em hứa đi!
Tôi cảm động, một lần nữa tôi hứa liều:
- Vâng, khi có nơi ở mới tôi sẽ gọi cho anh.
- Đừng thất lạc nhau nhé. Em hứa đi!
- Vâng, không bao giờ !
***********

Nhưng khi đến California thì tôi bận rộn với cuộc sống mới, và những lời hứa vội vàng với John bỗng chỉ là một trò đùa, tôi vứt đi mảnh giấy mà anh đã kỳ vọng trao vào tay tôi, đã dặn dò tôi và chắc là đã chờ đợi mỏi mòn kể từ ngày tôi rời thành phố nhỏ!
Nối lại nhịp cầu liên lạc với John làm gì trong khi ở cái tuổi 17 tôi mơ hồ hiểu John đã yêu thích tôi, mà tôi dù có cảm tình với anh thì tôi cũng không thể nào lấy anh, vì mộng ước của anh và tôi hoàn toàn trái ngược. Đành rằng gia đình anh là người ơn của gia đình tôi, họ hiền lành đạo đức, John sẽ là người chồng, người cha tốt như tấm gương của cha mẹ anh, nhưng tôi không thể lấy người chồng ít học, làm nông trại và tôi chỉ quanh quẩn sống với chồng trong mấy chục acre đất hoang vu, chốn đồng khô cỏ cháy với mấy con gà, con bò như anh đã vẽ ra..
Tôi đã từng nghe chuyện nhà nông khốn khổ, trồng 1 acre bắp chỉ bán được khỏang 80 đồng theo gía sỉ, hay những vụ cam trúng mùa ở Florida, gía cam bán ra mà như cho không, chỉ 50 cent cho một thùng cam to, và những vụ khoai tây trúng mùa ở Idaho cũng xuống gía rẻ bèo như thế.
Giấc mơ tuổi mới lớn của tôi là giàu sang phú qúy, lấy người chồng có địa vị, học cao hiểu rộng.
Ở thành phố mới tôi đã miệt mài học hành, chính bản thân tôi cũng sẽ vươn cao. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đi làm và kén chọn người chồng tương lai. Tôi đã bỏ qua nhiều cơ hội lập gia đình vì chê họ không xứng đáng với tôi, cho đến khi gặp người chồng hiện tại. Năm ấy tôi đã 30 tuổi, chồng tôi là một người thành đạt trong học vấn và trong kinh doanh. Tôi đã đạt được ước mơ và vui hưởng trong hạnh phúc trong vài năm đầu.
************ .
Tôi quyết định thuê xe để lái từ thành phố Wichita đến thăm thành phố Liberal, nói cho đúng hơn để thăm lại gia đình ông bà Smith và John của ngày xưa xem họ thế nào?
Sau 4 giờ lái xe, tôi đã trở về nơi chốn cũ.
Thanh phố nhỏ, đường kính lớn khỏang hai miles thì có gì là khó mà không tìm ra ngôi nhà của ông bà Smith nơi cuối phố, dù tôi đã xa cách hơn 20 năm rồi. Tôi hỏi thăm người ta nói nhà ông bà truyền giáo Smith vẫn ở chỗ cũ.
Khi tôi xuống xe, đứng ngẩn ngơ nơi cánh cổng rào gỗ năm xưa, bỗng thấy ngậm ngùi, có thể cánh cổng gỗ đã từng hư cũ, từng thay đổi, làm lại cái khác, và cái chỗ mở chốt cửa không phải là miếng gỗ mà tay tôi đã từng chạm vào năm xưa, nhưng vẫn giống thế, và như thể vẫn chờ đợi tôi chạm tay vào.
Tôi run run thò tay vào mở chốt cửa, lại ngậm ngùi hơn vì ngẫu nhiên bây giờ đang là mùa hè, hai bên lối đi của mảnh sân vẫn trồng dưa hấu, lá xanh rậm rạp, và xung quanh vẫn là những cây đào, cây lê, cây táo… Thế giới đổi thay bao nhiêu thứ mà nhà ông bà Smith dường như không hề thay đổi.
Tôi đi vội trên con đường dài, hồi hộp nhìn chăm chăm vào ngôi nhà trước mặt đang đóng cửa, không còn tâm trí nào nhìn ngắm vườn dưa hấu xem có nhiều trái hay không. Rồi tôi gõ cửa và chờ đợi.
Mãi sau mới có tiếng mở cửa, hiện ra trước mặt tôi là bà Smith, bà đã gìa đi -dĩ nhiên- Sau vài phút ngỡ ngàng nghe tôi tự giới thiệu thì bà đã nhận ra tôi, bà mời tôi vào nhà, rưng rưng nước mắt bà trách móc:
- Thì ra là cô, tại sao mãi hôm nay cô mới trở lại đây? John đã chờ đợi cô mấy năm trời.
Tôi xúc động và nước mắt cũng rưng rưng như bà Smith:
- Tôi xin lỗi, tôi vô cùng xin lỗi vì đã không thực hiện điều đã hứa với John
- Cô đâu có biết, ngay khi gia đình cô đi được một tuần là John đã chờ đợi cô gọi phone về từng ngày. Nó luôn tin tưởng cô sẽ gọi phone cho nó và một ngày nào cô sẽ trở về Liberal.
Bà Smith gục đầu xuống và khóc nấc lên, kể tiếp:
- Nó đau khổ và héo hon cho đến khi hoàn toàn tuyệt vọng…
Tôi vuốt ve cánh tay bà an ủi như an ủi cho chính mình, tôi cao giọng hỏi thăm:
- Số phận tôi và John không thể gần nhau thôi mà. Bây giờ anh ấy ra sao?
- Sau đó John lấy vợ, Christine là con gái một nhà truyền giáo bạn thân của vợ chồng tôi, cô gái hiền lành ngoan ngoãn và rất yêu John, đã làm lành vết thương lòng của John. Nhà vợ chồng nó cũng ở gần đây.
- Thế anh ấy không muốn sống ở nông trại như anh ước mơ sao?
Bà Smith lau nước mắt, thoáng một niềm vui:
- Đó chỉ là ước mơ của một thằng bé tuổi vị thành niên, một thằng bé nhà quê, mà suốt thời thơ ấu sống nơi trang trại. Khi John và Christine yêu nhau, cả hai cùng vào đại học. Họ đã tốt nghiệp y khoa và đang hành nghề bác sĩ ngay tại thành phố Liberal này.
Tôi ngạc nhiên và vui mừng reo lên:
- Không ngờ John học gỉoi và có chí đến thế!
- Tôi tin là nhờ có tình yêu của Christine.
- Với nghề nghiệp bác sĩ cả hai vợ chồng John có thể đi đến những thành phố lớn lập nghiệp dễ dàng, nhưng sao họ vẫn ở lại nơi đây?
- Chúng tôi đã quen sống ở thành phố nhỏ, từ ngày ông Smith mất đi, John càng không muốn xa mẹ. Nhưng nó dù bận hành nghề, vẫn không quên phụ giúp tôi gieo trồng và làm vườn mỗi khi mùa Xuân về. Đó là niềm yêu thích của John.
Tôi đứng dậy chào tạm biệt bà Smith. Bà bỗng nắm cánh tay tôi, lo lắng dặn dò:
- Phải đấy, cô nên về ngay đi, và xin cô hãy hứa với tôi một điều.
Tôi nói với tất cả chân tình:
- Tôi xin hưá bất cứ điều gì tôi có thể.
- Cô hãy đi và đừng bào giờ trở về đây nữa, bao nhiêu năm qua, vết thương lòng của John đã lành. Tôi tin là John đã quên cô, nó đang sống yên vui hạnh phúc bên vợ con. Nhưng nếu cô xuất hiện sẽ gợi lại nỗi đau cũ. Cô hãy hứa lại một lần nữa cho tôi yên lòng
Tôi chậm rãi nói từng lời rõ ràng cho bà Smith nghe rõ:
- Tôi xin hứa đây là lần cuối cùng đến đây. Thôi, xin chào bà
Tôi đi ra cửa, buớc trên con đường thân quen của thuở tôi 17 tuổi lòng đầy tham vọng, và John 18 tuổi hãy còn ngây thơ và ngốc nghếch, muốn tán tỉnh tôi mà đưa ra một ước mơ nghèo nàn, đơn giản.
Tình yêu chân thật của anh John nhà quê chẳng mấy khi đi đâu xa khỏi cái tiểu bang Kansas với những cánh đồng lúa mì mênh mông, chỉ là một trò cười đối với tôi.
Nhưng hôm nay, ở cái tuổi không còn trẻ nữa, khi mái tóc không còn xanh nữa, sau những vật chất phù hoa tôi đã nếm biết bao vị đắng, trải qua bao phũ phàng của tình nghĩa vợ chồng. Và sau cuộc trò chuyện với bà Smith, tôi chợt nhận ra một tình yêu hồn nhiên trong sáng của John dành cho tôi, và cái hạnh phúc mà bây giờ vợ của John đang hưởng tôi biết là vững chắc, đẹp đẽ biết bao nhiêu, điều mà tôi không hề có.
Khi ra đến ngoài cổng, tôi quay lại khép cánh cổng rào bằng gỗ. Tôi biết mình vừa khép lại một qúa khứ, một bầu trời xanh, và mất nó vĩnh viễn.

Nguyễn Thị Thanh Dương



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kienhoa
post May 9 2010, 06:18 PM
Gửi vào: #13


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 114
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 22



Sưu Tầm

CHIẾC VÍ CỦA TÌNH YÊU


Một chiều đông lạnh buốt. Trên đường về nhà, tình cờ tôi nhặt được một chiếc ví bằng da màu nâu đã cũ sờn, có sợi dây nơ màu đỏ. Bên trong ví không có bất cứ giấy tờ tùy thân nào mà chỉ có vỏn vẹn 3 đô la và một hong thư nhàu nát. Những chữ duy nhất có thể đọc được trên bì thư là địa chỉ của người gửi.

Tôi liền mở lá thư ra, hy vọng sẽ tìm được chút ít manh mối về chủ nhân của chiếc ví. Hàng chữ ghi ngày tháng đập vào mắt tôi đầu tiên. Bức thư này được viết cách đây đã hơn năm mươi năm!

Lá thư được viết với nét chữ con gái mềm mại, trên nền giấy xanh điểm xuyết vài bông hoa nhỏ phía góc trái. Đó là thư chia tay gửi cho một người tên Michael. Cô gái nói rằng cô không thể gặp anh ta nữa vì gia đình ngăn cản, nhưng dù vậy, cô vẫn sẽ luôn yêu anh. Cuối thư ký tên là Hannah.

Nội dung thư khá xúc động, nhưng chẳng có chi tiết gì rõ ràng, ngoại trừ cái tên Michael, để xác định chủ nhân của chiếc ví. Tôi gọi điện cho tổng đài để xin số điện thoại dựa vào địa chỉ ghi trên bao thư.

Sau khi nghe tôi trình bày, người trực tổng đài ngần ngừ một lát rồi nói: “Chủ nhà ở địa chỉ trên có đăng ký số điện thoại, nhưng rất tiếc tôi không thể cho anh số điện thoại được”. Cô lịch sự đề nghị rằng chính cô sẽ gọi điện cho người ở địa chỉ đó, giải thích câu chuyện và hỏi xem họ có muốn tiếp chuyện với tôi hay không. Vài phút sau, cô quay lại và chuyển máy cho tôi.

Tôi hỏi người phụ nữ ở đầu dây bên kia về người phụ nữ tên Hannah. Bà ta vội đáp, “Ồ, chúng tôi mua căn nhà này cách đây đã 30 năm. Hình như gia đình ấy có cô con gái tên là Hannah, nhưng cách nay vài năm Hannah đã đưa mẹ vào viện dưỡng lão.”

Tôi gọi điện đến viện dưỡng lão và được biết bà cụ đã qua đời, nhưng họ có biết số điện thoại của người con gái.

Tôi lại tiếp tục gọi đến số điện thoại được cho và biết rằng Hannah hiện cũng đang ở trong một viện dưỡng lão.

“Thật là ngốc!” – Tôi tự nghĩ. “Sao mình lại cất công đi tìm chủ nhân của một chiếc ví chỉ có 3 đô la và một bức thư cũ mèm những năm mươi năm trước kia chứ?”

Tuy nhiên, tôi vẫn gọi đến nhà dưỡng lão nơi có lẽ cô Hannah, giờ đây đã là bà Hannah, đang ở. “Vâng, bà Hannah đang ở với chúng tôi,” đó là câu trả lời tôi nhận được.

Mặc dù đã 10 giờ đêm, nhưng tôi vẫn lái xe đến viện dưỡng lão. Sau khi giải thích với cô y tá trực đêm, tôi được cô đưa lên tầng ba của tòa nhà, giới thiệu tôi với bà Hannah. Bà cụ trông thật phúc hậu với mái
tóc bạch kim, gương mặt tươi tắn và đôi mắt sáng tinh anh.

Tôi kể cho bà nghe chuyện mình nhặt được chiếc ví và cho bà xem bức thư. Vừa trông thấy phong thư màu xanh điểm vài cánh hoa nhỏ nơi góc trái, bà Hannah hít một hơi dài và nói, “Đây là lần liên lạc cuối cùng của bà với Michael!”.

Bà quay đi một lúc như chìm trong suy tưởng, rồi nhẹ nhàng nói, “Bà yêu anh ấy biết bao. Nhưng khi ấy, bà chỉ mới mười sáu tuổi và gia đình bà cho rằng bà còn quá trẻ để yêu. Chao ôi, anh ấy mới tuyệt vời làm sao!”.

Rồi bà tiếp tục, “Michael Goldstein là một người tuyệt vời. Nếu cháu tìm thấy anh ấy, hãy nói rằng bà luôn nghĩ đến anh. Và…,” ngập ngừng một lúc lâu, gần như cắn chặt môi, bà nói tiếp, “nói rằng bà vẫn yêu anh ấy. Cháu biết không,” bà khẽ mỉm cười, đôi mắt ngân ngấn nước, “bà chưa từng kết hôn. Bà nghĩ rằng không ai có thể sánh bằng Michael cả…”

Tôi xúc động nhưng phải chào tạm biệt bà Hannah vì đêm đã khuya. Xuống tới tầng một, tôi gặp người bảo vệ ở ngay trước cửa thang máy. Anh ta hỏi, “Bà cụ có giúp gì được cho anh không?”

Tôi trả lời rằng bà đã cho tôi thêm được một manh mối, “Ít nhất tôi biết được họ của ông ấy. Nhưng tôi nghĩ chắc phải gác chuyện này sang một bên ít lâu. Cả ngày nay tôi đã cố tìm cho được chủ nhân của chiếc ví này.”

Tôi lấy chiếc ví ra cho anh ta xem. Vừa trông thấy chiếc ví, anh bảovệ la lên, “Khoan đã! Đây là chiếc ví của ông Goldstein. Tôi có thể nhận ra nó bất cứ đâu nhờ vào sợi dây nơ này. Ông cụ thường hay làm
mất ví. Ít nhất ba lần tôi tìm thấy chiếc ví trong hội trường này.”
- Ông Goldstein là ai vậy? – Tôi hỏi mà có cảm giác tay mình run lên.

- Ông sống ở tầng tám. Chắc chắn đây là ví của Michael Goldstein. Chắc ông cụ đã làm rơi nó trên đường đi dạo.

Tôi cám ơn anh bảo vệ rồi chạy vội đến phòng y tá để kể cho cô y tá trực ban những gì anh bảo vệ vừa bảo. Chúng tôi trở lại thang máy lên tầng tám. Tôi thầm cầu nguyện ông Goldstein vẫn còn thức.

Chúng tôi bước vào căn phòng duy nhất còn sáng đèn. Một người đàn ông đang ngồi đọc sách. Cô y tá đến hỏi ông có làm mất chiếc ví hay không. Ông Goldstein ngước lên với vẻ ngạc nhiên, rồi lần tìm túi sau của minh và nói, “Ồ, nó lại bị mất rồi!”

- Chàng trai này đã tìm thấy chiếc ví và chúng cháu nghĩ có lẽ là của ông.

Tôi trao cho ông Goldstein chiếc ví, vừa trông thấy nó, ông cụ mỉm cười nhẹ nhõm rồi nói: “Đúng nó rồi! Chắc ông đánh rơi nó chiều nay.Này chàng trai trẻ, ông muốn thưởng cho cháu một món gì đó.”

- Không cần đâu thưa ông. – Tôi đáp và nắm lấy tay ông cụ – Nhưng cháu muốn kể với ông một việc. Cháu đã đọc bức thư bên trong với hy vọng tim thấy chủ nhân của chiếc ví.

Đột nhiên nụ cười trên gương mặt ông cụ tắt ngấm.

- Cháu đã đọc lá thư đó à?

- Không chỉ đọc lá thư, cháu còn biết được bà Hannah hiện đang ở đâu nữa.

Ông xúc động nắm chặt tay tôi:

- Hannah? Cháu biết Hannah ở đâu à? Cô ấy khỏe không? Còn xinh đẹp như trước không? Làm ơn, làm ơn cho ông biết đi!

- Bà ấy khỏe… vẫn xinh đẹp như khi ông biết bà. – Tôi đáp khẽ.

- Cháu cho ông biết nơi ở của cô ấy được không? Sáng mai ông muốn gọi điện cho cô ấy. – Giọng ông run run, gần như thầm thì. – Cháu biết không, ông yêu Hannah đến nỗi khi nhận được lá thư này, ông có cảm giác cuộc đời mình cũng chấm dứt từ đó. Ông chưa từng kết hôn. Ông chỉ yêu một mình cô ấy thôi…

- Ông đi với cháu nhé. – Tôi nói.

Chúng tôi đi thang máy xuống tầng ba. Sảnh đã tắt đèn, chỉ còn một hai ngọn đèn thắp sáng dẫn lối chúng tôi đến phòng sinh hoạt chung. Nơi đó, Hannah vẫn ngồi một mình xem tivi.

Cô y tá bước lại gần chỗ của bà.

- Bà Hannah. – Cô nói nhỏ, chỉ tay về phía Michael đang đứng đợi ở cửa. – Bà có biết người này không?

Chỉnh lại gọng kính, bà nhìn một chút nhưng không nói lời nào. Michael khẽ lên tiếng, dường như chỉ là thì thầm:

- Hannah, anh là Michael đây. Em còn nhớ anh không?

Bà thở mạnh:

- Michael ư? Em không tin nổi! Michael! Đúng là anh rồi! Michael của em!

Ông bước chầm chậm tới chỗ của bà, và họ ôm chầm lấy nhau.

Ba tuần sau, tôi nhận được một cuộc điện thoại từ viện dưỡng lão. “Chủ nhật này anh có thể sắp xếp để đến đây dự lễ cưới không? Ông Michael và bà Hannah sẽ trao nhẫn cưới cho nhau!”

Một đám cưới tuyệt vời! Tất cả mọi người ở viện dưỡng lão đều tham dự. Bà Hannah mặc một chiếc áo đầm dài màu be nhạt, gương mặt ngập tràn hạnh phúc. Cụ Michael mặc một bộ vét màu xanh đậm, hãnh diện sánh bước bên cô dâu của mình.

Một kết thúc thật đẹp cho câu chuyện tình kéo dài gần sáu mươi năm!


Thái Hiền – Theo The Wallet





--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Sep 16 2010, 07:19 PM
Gửi vào: #14


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Chuyện Tình Lộng Ngọc

(Trích từ Email 16-09-2010 của thầy Huỳnh Chiếu Đẳng)



Tân Nhạc Chuyện Tình Lộng Ngọc/NhậtTrường-HọaMi



Cổ Nhạc Lộng Ngọc/ThanhNga-ThanhSang ca



LỘNG NGỌC VÀ TIÊU SỬ


Đời Chu Tương Vương (651-617 trước D.L.), Tần Mục Công làm bá chủ các nước ở tây phương. Nhà vua có một người con gái. Lúc mới sinh, gặp có kẻ dâng viên ngọc phác, Tần Mục Công sai thợ giũa, thành một viên ngọc sắc biếc và đẹp lắm.

Đến khi cô gái đầy tuổi tôi, trong cung bày đồ toái bàn, nàng nhặt ngay viên ngọc, rồi ngắm nghía mãi, mới đặt tên nàng là Lộng Ngọc.

Lớn lên, Lộng Ngọc nhan sắc đẹp tuyệt trần. Tính trời thông minh, nàng có tài thổi ống sinh hay lắm, không học ai mà thành âm điệu. Tần Mục Công sai thợ làm ống sinh bằng ngọc để cho nàng thổị Nàng thổi ống sinh ấy, tiếng trong như tiếng chim phượng.

Tần Mục Công cưng lắm, lập cái lầu để cho nàng ở, tên là Phượng Lâu. Trước lầu có xây một đài gọi là Phượng Đài. Năm Lộng Ngọc lên 15, Tần Mục Công muốn tìm một người giai tế, Lộng Ngọc thề: nếu có người nào có tài thổi ống sinh họa được với nàng thì mới chịu lấy làm chồng.

Tần Mục Công sai sứ đi tìm, nhưng không có ai cả.

Một hôm, Lộng Ngọc ngồi trên lầu, vén rèm ngắm cảnh. Bấy giờ trời quang mây tạnh, vừng trăng sáng tỏ như gương, nàng truyền cho thị nữ đốt một lò hương rồi đem ống sinh ra thổi. Bỗng nghe tiếng tiêu từ đâu họa lại, lúc gần lúc xa. Lộng Ngọc lấy làm lạ, dừng ống sinh lại không thổi nữa, lắng tai nghe giọng tiêu ấy chỉ còn dư âm văng vẳng. Lộng Ngọc ngẩn ngơ, lưỡng lự thao thức canh chầy, đoạn đặt ống sinh ở đầu giường rồi nằm ngủ.

Giữa lúc ấy, nàng bỗng thấy trên trời về phía tây nam, cửa mở rộng, hào quang ngũ sắc rực rỡ như ban ngày, có một chàng thiếu niên, mũ lông áo bạc, cưỡi con chim phượng từ trên trời sa xuống, đứng trước Phượng Đài. Chàng bảo nàng:

- Ta đây là chủ núi Họa Sơn, Ngọc Hoàng Thượng Đế cho ta kết duyên với nàng. Đến ngày Trung Thu này thì đôi ta gặp nhau. Ấy là duyên số đã định sẵn như vậy.

Nói xong, chàng đưa tay rút ống ngọc tiêu bên mình, rồi đứng tựa lan can mà thổi. Con chim phượng đứng bên cũng giương cánh ra vừa hót vừa múa. Tiếng phượng hót cùng với tiếng tiêu xướng họa hòa nhau như một theo điệu cung thương, nghe rất thâm trầm. Lộng Ngọc mê mẩn tâm thần hỏi: Khúc tiêu này là khúc tiêu gì? Chàng thiếu niên đáp: Đây là khúc "Họa sơn ngâm". Nàng lại hỏi: Khúc này có học được không? Chàng đáp: Khi cả hai kết duyên rồi thì có gì không học được. Đoạn chàng bước đến gần đưa tay cầm lấy tay nàng...

Lộng Ngọc giật mình tỉnh dậy. Sáng lại, nàng thuật lại điềm chiêm bao cho cha nghe. Tần Mục Công liền sai người cứ theo hình dáng người trong mộng đó dò tìm đến núi Họa Sơn. Có người nông phu chỉ rằng: Từ rằm tháng bảy vừa qua, có một chàng trẻ tuổi lạ mặt đến làm nhà ở đỉnh núi, hằng ngày thường xuống chợ mua rượu uống, chiều lại thổi chơi một khúc ngọc tiêu, ai nghe cũng rất lấy làm thích.

Người của Tần Mục Công mừng rỡ tìm đến, trông thấy chàng thiếu niên mũ lông áo bạc, cốt cách thần tiên, vái chào hỏi tên họ. Chàng xưng là Tiêu Sử. Người của nhà vua thuật lại sự tình và yêu cầu Tiêu Sử về triềụ Sau mấy lần từ chối không được, Tiêu Sử cùng theo về triều ra mắt Tần Mục Công. Tần Mục Công thấy Tiêu Sử dung mạo thanh nhã, có vẻ bằng lòng, cho ngồi bên cạnh, hỏi:

- Ta nghe nhà ngươi có tài thổi ống tiêu tất có tài thổi ống sinh nữa.

Tiêu Sử đáp:

- Tôi chỉ biết thổi ống tiêu, chứ không biết thổi ống sinh.

Vua bảo:

- Ta định tìm một người có tài thổi ống sinh, nay nhà ngươi chỉ biết thổi ống tiêu, vậy không thể làm rể ta được.

Đoạn bảo người đưa Tiêu Sử ra.

Lộng Ngọc sai nội thị tâu với Tần Mục Công: Tiêu với sinh cũng là một loài, người ta có tài thổi ống tiêu thì sao không bảo dạo chơi một khúc để cho người ta được phô tài.

Tần Mục Công lấy làm phải, truyền Tiêu Sử thổi nghe.

Tiêu Sử mới thổi qua một khúc thì thấy có gió mát hây hẩy. Đến khúc thứ nhì thì mây che bốn mặt. Đến khúc thứ ba thì có đôi bạch hạc múa lượn trên không, đồng thời có đôi khổng tước bay đến rồi các giống chim đua nhau kêu hót..., một lúc mới tan. Tần Mục Công rất lấy làm bằng lòng. Lộng Ngọc đứng bên rèm trông thấy vui tương nói: "Người ấy thật đáng làm chồng ta!"

Tần Mục Công lại hỏi Tiêu Sử:

- Nhà ngươi có biết ống sinh và ống tiêu có từ đời nào không?

Tiêu Sử thưa:

- Ống sinh làm ra từ đời Nữ Oa; ống tiêu làm ra từ đời Phục Hi.

Tần Mục Công bảo kể rõ nguyên ủỵ Tiêu Sử nói:

- Nghề tôi vốn ở ống tiêu, vậy tôi xin kể nguồn gốc ống tiêu. Ngày xưa vua Phục Hi ghép ống trúc làm ống tiêu, chế theo hình chim phượng. Tiếng thổi cũng giống tiếng chim phượng. Thứ lớn ghép liền 23 ống, dài 1 thước 4 tấc gọi là Nhã Tiêu; thứ nhỏ ghép liền 16 ống, dài 2 thước 1 tấc gọi là Tụng Tiêu. Cả hai thứ gọi chung là Tiêu Quản. Còn một thứ không đáy gọi là Đổng Tiêu. Về sau vua Huỳnh Đế sai Linh Luân lấy trúc ở Côn Khê chế làm ống địch, ống này có 7 lỗ, cầm ngang mà thổi, tiếng cũng giống chim phượng, trông rất giản tiện. Người đời sau thấy ống Tiêu Quản phiền phức quá nên chỉ dùng ống địch. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch. Bởi vậy, ống tiêu ngày nay không giống ống tiêu ngày xưa.

Tần Mục Công lại hỏi:

- Sao nhà ngươi thổi ống tiêu mà lại có các giống chim bay đến?

Tiêu Sử thưa:

- Ống tiêu dẫu mỗi đời mỗi khác nhưng tiếng thổi bao giờ cũng giống tiếng chim phượng. Chim phượng là chúa các giống chim, vậy khi nghe tiếng chim phượng tất nhiên các giống chim đều kéo nhau đến cả. Ngày xưa vua Thuấn chế ra khúc nhạc tiêu thiều mà chim phượng còn bay đến, huống chi là các giống chim khác.

Tiêu Sử ứng đối lưu loát. Tần Mục Công rất lấy làm bằng lòng, sai quan Thái Sử chọn ngày để làm lễ thành hôn.

Tiêu Sử kết hôn cùng Lộng Ngọc, được phong làm Trung Đại Phu. Tuy làm quan nhưng Tiêu Sử không dự gì đến quyền chính, ngày ngày vui chơi ở Phượng Lâụ Lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống mấy chén rượu. Lộng Ngọc học được phép tiên của chồng cũng không ăn cơm. Tiêu Sử lại dạy vợ thổi tiêu.

Ở nhau được non nửa năm, nhân một đêm trăng sáng vằng vặc, vợ chồng đem tiêu ra thổi. Bỗng thấy một con phượng xuống đậu bên tả, và một con rồng xuống phủ phục bên hữu. Tiêu Sử bảo Lộng Ngọc:

- Ta vốn là tiên ở thượng giới, Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy sử sách trần gian nhiều chỗ tán loạn, vậy nên giáng sinh ta xuống họ Tiêu ở nhà Chu để san định lại. Người nhà Chu thấy ta có công về việc sử sách mới gọi ta là Tiêu Sử, đến nay đã hơn trăm năm rồi. Ngọc Hoàng cho ta làm chủ ở núi Họa Sơn, vì ta cùng nàng có tiền duyên nhau, nhờ khúc ngọc tiêu mà được cùng nhau tác hợp, nhưng cũng không nên ở mãi chốn trần gian này. Nay rồng và phượng đã đến đón, vậy chúng ta cùng nhau đi.

Lộng Ngọc định vào từ biệt cha. Tiêu Sử ngăn:

- Không nên! Đã là thần tiên thì chớ nên vì chút tình riêng mà quyến luyến.

Đoạn Tiêu Sử cưỡi rồng, Lộng Ngọc cưỡi phượng cùng bay lên trời.


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Oct 24 2010, 06:23 PM
Gửi vào: #15


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Vài Chuyện Hay, Cảm Động, Cực Ngắn

(ST sưu tầm và gởi)

Nhớ Mẹ



Dưới quê học hành khó khăn nên mới lớp 2, thằng Út đã được gởi lên thành phố ở với chị Hai.
Lâu lắm mẹ mới ra thăm. Lần nào chị Hai cũng nhằn vì mẹ cứ nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày, lại vứt bã trầu lung tung. Lần nào cũng vậy.
Đưa mẹ ra bến xe về quê xong, chị Hai về thấy nhà vắng ngắt. Tìm mãi mới thấy thằng Út đứng khóc sau kẹt cửa, tay cầm mấy cái bã trầu khô.
An Hạ

Euro

Euro lần trước nhằm lúc má đang bệnh.
Nhà có mỗi cái ti vi là đáng giá, ba đem cầm để thuốc thang cho má. Hễ đến giờ trực tiếp, ba vừa lo canh thuốc vừa lắng nghe tiếng bình luận câu được câu mất ở ti vi nhà hàng xóm.
Nhưng một năm sau, ba lại ra đi trước má.
Euro lần này, tuy không hiểu thế nào là bóng đá nhưng đêm nào cũng vậy, đến giờ má lại thức mở ti vi và ngồi khóc một mình.
Đặng Quang Vinh

Nỗi Niềm

Cái điệp khúc ấy má tôi nhắc hoài mỗi khi soạn tủ:
- Ba con không thích má cho ai quần áo cũ. Ổng nói: "Thà cho họ một số tiền, anh không thích hương áo em lại đưa cho người khác mặc."
Giờ, hương xưa còn giữ lại, người xưa đã đi xa...
Chiều nay, má đẩy sang tôi mớ quần áo cũ. Tôi chọn một bộ cho chị bán cơm ở vỉa hè, để rồi sau đó bao lần phải ngoảnh mặt đi mỗi khi thấy chị ấy tất tả ngược xuôi trên hè phố trong thấp thoáng bóng dáng của má tôi.
Kim Thúy

Tính Cách

Mẹ tôi buôn bán, chai lỳ trước cái cân cơm áo nhưng mẫn cảm trong nghệ thuật. Những nước mắt tình buồn phim ảnh, những sụt sùi số phận cải lương, bà đều hồn nhiên "ăn theo" một cách ngon lành. Có lần, cha tôi giỡn:
- Coi chừng trôi ti vi...
- Còn sách ông chưa viết ra đã hóa đá - Mẹ tôi trả miếng - Thế cũng mang danh nhà này, nhà nọ.
Một hôm, đang bữa ăn, bỗng nhiên mẹ tôi chạy vụt ra đường chận đường con bé bán trứng vịt lộn.
- Mày biến đâu tài thế. Hì! có chui xuống đất rồi cũng gặp tao - Bà vừa nói vừa giằng mủng trứng, đếm lấy trừ nợ.
- Dì ơi, cho con khất, mẹ con còn ốm!
- Nhà này cũng đang ốm đây - Mẹ tôi cười bù - Khỏi bẻm mép.
Con bé chưng hửng, lã chã nước mắt nhìn cải mủng không, rồi bưng lên, xiêu vẹo bước đi...
Cha tôi cám cảnh, quay mặt, rút mùi soa chấm mắt.
Lâu sau, ti vi phát vở kịch "Cô bé nghèo bán trứng bị xiết nợ". Lúc ấy, mẹ tôi lại khóc, còn cha tôi thì cười.
Nguyễn Thị Hoài Thanh

Mùa thi



Ngày tôi thi tú tài, ba đạp xe hơn chục cây số, chờ tôi ngoài trường thi cả buổi, cốt để hỏi:
- Con làm bài tốt không?
Sợ ba nhọc lòng, tôi nói:
- Ba chờ ngoài này, có khi con lại lo, không làm bài được.
Buổi thi cuối, ra cổng không thấy ba, hỏi chú Bảy còi:
- Ba con có đến không?
Chú đưa tay chỉ cây bàng phía xa mươi mét bảo:
- Ổng ở đằng kia, tao biểu đến ổng không chịu.
Võ Thành An

Giỗ Ông

Sớm mồ côi, từ nhỏ anh em nó sống cùng Nội trên rẻo đất còm của người chú. Năm ngoái, sau trận bão lớn ông Nội quy tiên. Chú lấy lại căn chòi, khuyên:
- Mười bốn, lớn rồi, nên tự lập.
Anh em nó dắt díu nhau tha hương, lên thành phố sống ở dưới gầm cầu.
Trưa, phụ hồ về mệt, đói, giở nồi cơm, nhão như cháo, nó mắng:
- Đồ hư.
Con em mếu máo:
- Em nấu để giỗ ông.
Nó ngẩn người, chợt nhớ hôm nay tròn năm, ngày ông mất. Hồi ở quê, thường ngày ông thích cơm nhão. Thế mà...
Ôm em vào lòng, nó gọi trong nước mắt:
- Ông ơi!
Lê Nguyên Vũ

Con Gái

Ngoại hấp hối, cả nhà dắt díu nhau về quê thăm Ngoại. Ngoại mất. Từ thành phố, anh Ba đang dở mùa thi cũng vội về chịu tang.
Chị Hai lấy chồng quê ngoại, nhà cách có vài quãng đồng mà lại không về được. Bố chép miệng xót xa:
- Con gái là con người ta.
Mẹ gục đầu nức nở. Hơn hai mươi năm theo chồng xa xứ, đây mới là lần đầu tiên mẹ được về với Ngoại. Mẹ cũng là con gái…
Lữ Gia

Lòng Mẹ

Nhà nghèo, chạy vạy mãi mới được suất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách duy nhất để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan, xứ người chẳng phải thiên đường, Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng. Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ.
Ngày về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ.
Đêm. Chỉ còn mẹ. Hết nắn tay nắn chân Thanh rồi mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn ngào khi nghe mẹ nói:
- Dối mẹ làm gì. Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con!
Hải Âu



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Oct 29 2010, 05:02 AM
Gửi vào: #16


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Bài do ST chuyển

Tôi đi học



"Hàng năm. lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường".

Đứa học trò nào mà không biết những dòng chữ đó của Thanh Tịnh thì kể như là vô văn hóa đối với thầy Xuân, dạy vật lý hồi lớp 7. Nhưng vào cái thuở ấy, thầy Xuân, Thanh Tịnh chưa có nếm cái mùi "tôi đi học" ở Úc.

Đệ có ông chú từ lúc trẻ đã làm thông dịch viên cho tình báo Mỹ, sống bằng tiếng Anh. Còn nhớ những ngày tháng 3, tháng 4 năm 1975, ông được giao nhiệm vụ nghe đài phát thanh liên tục. Khi đài phát thanh Mỹ phát bản nhạc (tên gì quên rồi) thì đó là lệnh rút nhân viên tình báo về nước và ông chú có nhiệm vụ trực đài cùng thông báo tin này. Khi ông ra sân chơi tennis thì đệ ngồi nghe đài cho ông. Rành tiếng Mỹ như vậy mà một hôm, sau khi sống ở Mỹ 20 năm, ông sang Úc chơi. Khi ra quầy trả tiền, cô bán hàng chỉ gọn lỏn nói cái giá tiền, nhưng cô ta lập đi lập lại cả 5 lần, ông chú ngẩng mặt ra chẳng hiểu gì cả. Ông già của đệ đứng kế bên nói:

- 5 đồng 30 xu!

Ai ở ngoại quốc có nghe người bình dân Úc nói mà hiểu là chít liền.

Đệ thì sao?

Mùa thu năm ấy, lá ngoài đường không rụng nhiều, nhưng lòng đệ hoang mang buổi khai trường y khoa lần đầu tiên. Lúc đó đệ 25, 26 tuổi, sang Úc được một năm. Giữa hai giờ lecture, một con nhỏ trong lớp nhào lên bục thông báo xí xô xí xào gì đó. Kết quả tấm hình chụp nguyên lớp không có mặt đệ, đơn giản là vì đệ đâu có biết nó kêu đi chụp hình kỷ niệm. Rồi cái màn thông báo bằng miệng giữa lớp tiếp diễn, đệ không biết đã sót bao nhiêu chuyện trên đời.

Đến một hôm, cũng trong tuần đầu tiên tựu trường, có giờ Zoology, học về động vật không có xương sống. Giảng đường này cũng là phòng thí nghiệm, sinh viên sẽ đứng sau những cái bench, vừa nghe giảng, vừa mổ ruồi, gián, muỗi, nhền nhện vân vân. Tiết học bắt đầu sau giờ lunch. Đệ biết mình lụp cụp lạc cạc, nên 5 phút trước giờ học đã mò đường đến giảng đường cho chắc ăn, vì đại học rộng như cái sở thú Saigon, đi lạc là bỏ mummy luôn.

Té ra mình đến sớm, chẳng có ai hết. Vậy thì ngồi chờ.

Chờ đến giờ học, ủa, cũng hỏng có ai hết.

Chờ thêm 5 phút, vắng tanh như chùa bà Đanh. Chỉ có mình ên quê cô đơn.

Chết mummy, nhất định là có biến cố gì đây rồi. Thông minh có thừa, đệ biết là hồi nãy con nhỏ tóc vàng đẹp như tiên đó đã nói cái gì đó mà đệ bù trất, Chắc là giờ học hủy bỏ hay dọn phòng.

Đệ quày quả đi rảo mấy vòng, rốt cuộc 20 phút sau tìm được đám bạn chung lớp ở một giảng đường khác.

Chu mẹt ui, cái giảng đường chi mà nó "hoành tráng" dài thoòng loòng, khi đệ vô thì chỉ còn một chỗ ở cái bench cuối lớp. Ông giảng sư nói bằng microphone. Tiếng Úc mà nghe qua cái loa rè của giảng đường thì cũng giống như nghe tiếng Ấn độ.

Nếu là môn hóa học thì đệ nhắm mắt khỏi lo vì đã học qua đại học môn này ở VN rồi, nhưng cái món học về muỗi mòng, lăng quăng, trùng gián, sán lãi này thì trào đờm. Từ đầu năm đến cuối năm không nghe được một chữ! Đệ còn nhớ, lúc đó tutor (vị phụ giảng) đi xuống cái bench của đệ, hỏi một câu. Câu trả lời là chữ "photosynthesis", quá trình quang hợp, mà đệ rặng muốn tét... luôn.

Kế bên là thằng Úc. Tụi Úc được cái nó không hề biết giấu nghề, sẵn sàng chỉ dẫn. Nhưng mà nghe thằng Úc nó nói thì cũng như nghe tiếng Tây Tạng luôn. Thôi thì thằng Úc làm sao, đệ làm vậy, hiểu chi cho mệt. Nó bóc con gián trong lọ ra, đệ cũng bóc con gián ra. Nó đè ngữa con gián, mổ bụng cái rẹt. Đệ cũng chơi một đường dao ngàn thuở đẹp, "biết đúng sai cũng là dư", theo no'. Nó bỏ con gián vô thau nước, ruột con gián bung phình ra, Đệ cũng bỏ con gián vô thau nước, ruột bung tứ tung. Không biết nó học được cái gì, đệ thì biết được ruột con gián có không khí nên tỉ trọng nhẹ hơn nước, nổi lềnh bềnh...

Nó lấy cái nhíp kẹp con muỗi chết ra, đệ cũng làm như rứa. Nó săm soi con muỗi, đệ cũng bày đặt ngắm nghía người bạn sốt rét. Không biết nó học được cái gì, đệ thì không học được cái gì ráo!



Cả năm như vậy, kỳ thi gần kề, đệ té đái. Chết mẹ, kiểu này mà đi thi thì chỉ có nước đội sổ. Trong lớp y khoa 230 đứa, cách chấm điểm của nó gọi là theo thống kê, dùng standard deviation. Không phải đạt 50% là đậu, Đó là loại chấm điểm tranh cao thấp, không phải chấm theo điểm trên 10 như ở VN và mình sẽ rớt nếu điểm mình thấp hơn các sinh viên trong lớp. Trong lớp có 4 đứa VN, 3 đứa kia sang Úc từ lúc nhỏ xíu. Đám Mã Lai, Hongkong thì tiếng Anh như gió, chỉ mỗi có mình đệ là quái kiệt kỳ lô, ai nói gì nói, mình chẳng cần hiểu. Hiểu chít liền sao?!

Đệ bèn mượn note của một cô em VN trong lớp, photocopy sanh tử. Kèm theo đó là đọc quyển sách 400 trang cồm cộm của môn không xương sống này. Mỗi trang trung bình mất 45 phút để đọc và để hiểu (lật tự điểm mất mummy nó hết nửa tiếng rồi). Đọc hết một bài thì cụp cái xương sống luôn.

Ấy vậy mà hai tuần sau, nói thiệt chăm phần chăm nghe, con muỗi bay qua nhanh quá thì đệ không biết chớ nó đậu lại là đệ biết muỗi đực hay cái cái liền. Bà con đừng tưởng đệ vạch quần nó xuống coi, đệ nhìn bộ ria của nó kìa.

Cứ sừng sững tiến như con rùa bò, đến năm thứ 6 thì một hôm đệ đi thi thử môn BS đa khoa. Đi thi thử là vì trước khi thi thiệt, người ta tổ chức một buổi tổng dợt, vì cách thi này quái dị hơn bình thường. Cứ chuông reo là đổi phòng thi, mỗi phòng khoảng 5-10 phút hoặc 20 phút, tùy theo ca dài hay ngắn. Sau khi thi thử xong, ông giáo sư kêu tập họp sinh viên vô phòng, rút kinh nghiệm.

Ông nói:

- Có những sinh viên giảng cho bệnh nhân quá nhiều, không cần thiết. Có sinh viên thì khám quá kỹ, sẽ không đủ thời gian, Riêng nguyên nhóm có một đứa, nói không ai hiểu. Bệnh nhân không hiểu mà giám khảo cũng không hiểu, Lát nữa khi ra về thì sinh viên ấy sẽ ở lại với tôi.

Thấy mụ nội rồi. Sinh viên y khoa đều được tuyển từ 1% giỏi nhất từ trung học lên, thường thì mỗi trường chỉ có được một, hai đứa top vô y khoa, làm gì có cái màn nói mà người ta không hiểu. Đệ thuộc loại vô y khoa từ lớp bình dân học vụ, nghĩa là cũng đủ điểm vô y khoa nhưng không học lớp trung học bình thường mà năm đầu sang Úc, đệ theo lớp bình dân học vụ, lớp đêm của các "lão" học sinh. Vậy thì còn ai trồng khoai đất này?

Ông thầy tuyên bố bế mạc. Ổng đứng ngay cánh cửa, nhìn từng sinh viên ra về. Đệ vốn biết thân, bày đặt loi nhoi đi ra trước bị chận lại là xệ kéo lên không kịp, nên ngồi đó chờ ra chót. Đám sinh viên từ từ nối đuôi ra khỏi phòng, đệ đi cuối. Còn khoảng chừng 5 đứa cuối đi ra thì ông thầy chận một thằng Mã Lai gốc Tàu lại, nói:

- Em ở lại đây với tui chút nha.

KEKEKE, đệ đi ra luôn, Té ra thằng nói tiếng Ấn Độ hỏng phải là mình.

Mười mấy năm sau..

Đệ ngồi khám bệnh. Anh chàng bệnh nhân khai bệnh rẹt rẹt, tiếng Anh re re như thác đổ. Lạ lùng, mười mấy năm nay ai nói đệ cũng hiểu hết, nhưng thằng cha này thì chịu thua.

Quý bà con biết tại sao không?

Tại vì ông nội này người Ấn Độ thiệt, 100%, Bây chừ thì đệ hiểu được tiếng Anh của Úc rồi, nhưng hiểu được tiếng Anh của Ấn Độ thì... chít liền.

hoang4eb@gmail.com




--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Nov 26 2010, 09:45 PM
Gửi vào: #17


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Vết Sẹo !


Mẹ ruột chúng tôi mất sau khi sinh em trai út của tôi. Chị Như, chị hai tôi, lúc đó mới lên mười. Tôi, đứa con gái thứ hai, lên tám ốm quặt quẹo. Sau nữa, thằng Thành, năm tuổi, tròn như củ khoai ngơ ngác đi tìm mẹ suốt ngày. Hai năm sau cha tôi tục huyền với người phụ nữ con nhà gia thế, một phụ nữ đẹp mới 27 tuổi. Chúng tôi gọi người này là “má”.
Cha đi làm từ sáng đến tối, giao phó toàn bộ việc chăm nom con cái cho má tôi. Má làm trăm thứ việc không mấy khi ngơi tay. Chị em tôi no đủ, sạch sẽ, nhà cửa chúng tôi gọn gàng, bữa cơm dọn lên lúc nào cũng nóng sốt.

Cha tôi chung sống với má sau được ba năm thì đau nặng rồi mất. Lúc sắp ra đi, cha không còn nói được chỉ nhìn má tôi rồi khóc. Má lúc đó trẻ quá, đẹp quá lại chẳng phải má ruột của chúng tôi...

Cha vừa nằm xuống được mươi ngày đã có người đến đòi xiết nhà, xiết đồ. Gia đình nhà má khăng khăng bắt má về gả chồng. Rồi một ngày kia má kêu bán nhà, trả hết nợ rồi lặng lẽ dắt díu chúng tôi đi. Đó là năm 1978. Chúng tôi ở đậu nhà người chị họ xa của má, gọi là dì tư Tím. Dì làm nghề ướp cá, bán cá, dì góa bụa và nghèo khó. Căn nhà của dì không khác hơn cái chòi canh dưa là mấy, vậy mà còn chứa thêm má và bốn đứa chúng tôi. Dì tư Tím đem biếu ba con gà mái dầu cho một người quen để xin cho má một chân hộ lý trong bệnh viện đa khoa.

Hằng ngày, má dậy từ 3g30 sáng, vào bệnh viện nấu nước, châm nước cho những bệnh nhân dậy sớm rửa mặt, pha sữa, pha trà để kiếm thêm chút tiền còm mua sách vở cho chị em tôi đi học. Sáu giờ má tất tả về nhà lo cho chúng tôi ăn sáng và đến trường. Bảy giờ má trở lại bệnh viện lau cầu thang, lau sàn, cọ rửa nhà vệ sinh, thay trải giường cho người bệnh, gom rác đem đi đốt… Sau năm giờ chiều, má còn nhận giặt thuê quần áo cho những bệnh nhân khá giả. Đến tám giờ tối má mới về đến nhà, mệt rã rời.

Hôm nào mưa gió má về sớm hơn. Má mua về cho chị em tôi mỗi đứa một trái bắp nướng hay một túi đậu nành rang thơm giòn. Mấy chị em nằm bên má trên một manh chiếu rách, nghe má kể chuyện đời xưa. Thằng út Tài sợ lạnh cứ ôm chặt má mà khen sao má ấm quá. Thằng Thành nhõng nhẽo đòi má gãi lưng. Cũng có khi má dạy chúng tôi những bài hò, bài vè để cả nhà thành một “dàn đồng ca” rất ăn ý, rất vui nhộn, mặc ngoài kia gió thổi mưa tuôn…

Mỗi năm vào ngày giỗ mẹ tôi, má làm một mâm cơm tươm tất. Rồi má thắp mấy nén nhang thơm, gọi hết bốn chị em tôi lại bên bàn thờ mà nói: “Đây là mẹ ruột của các con, người đã sinh ra và nuôi nấng các con. Tuy mẹ các con mất rồi nhưng ở trên trời mẹ các con vẫn luôn phù hộ cho các con mạnh khỏe”. Vào ngày giỗ ba, má cũng làm như vậy. Ngày ấy cũng như mãi tới bây giờ cũng vậy, tôi vẫn tin ba mẹ tôi ở trên trời nhìn thấy chúng tôi.
Có một sáng người ta đưa má về. Chân má bị phỏng nước sôi do một bệnh nhân chạy vấp vào má.. Vết phỏng rất lớn. Do ăn uống thiếu thốn, sức đề kháng yếu nên chỗ phỏng trên chân má rất lâu không lành, cứ sưng lên đau nhức. Má mất ngủ nhiều, ốm rạc như con cò. Chị hai khóc, năn nỉ má cho đi đổ nước thay má mà má không cho đi. Rồi má nén đau, cố lê chân đi làm trở lại. Về sau vết bỏng ở chân má làm sẹo, một sẹo lồi nhăn nhúm chạy từ cổ chân đến hết mu bàn chân trái. Dáng má đi không còn tự nhiên nữa.

Dì tư Tím mua được một căn nhà ở gần chợ, bán rẻ căn nhà lá cho má con tôi. Năm đó chị hai tôi thi đậu vào Trường cao đẳng Sư phạm Cần Thơ. Thương má cực nhọc, chị định bỏ học đi làm thuê. Má cương quyết không cho. Chưa bao giờ má cương quyết như vậy. Thắp nén nhang trên bàn thờ ba, má khấn (cốt cho chị hai nghe): “Con gái lớn của mình định bỏ học. Khi về nơi chín suối, em biết nhìn anh sao đây…”.

Chị hai khóc, xin lỗi má rồi chấp nhận đi học. Hai năm sau tôi cũng vào đại học và cũng được má sắp soạn vali quần áo cho tôi rồi đưa đi. Mở cái vali ra nhìn mà thương má đứt ruột: ngoài quần áo, má còn bỏ vào kim chỉ, dầu gió, tem thư, bông băng thuốc đỏ, thuốc cảm…

Dường như má có thể gói trọn sự thương yêu của má vào trong từng thứ một. Bốn năm, chị em tôi ra trường lênh đênh tìm việc thì cũng là lúc thằng Thành vào Đại học Luật TP.HCM và năm sau nữa là thằng Tài vào Đại học Y Cần Thơ. Làm sao đong được sự vất vả, cực nhọc của má lúc ấy. Lưng má còng đi, tóc đã lốm đốm bạc, da tay chai sần.

Nhiều năm trôi qua má lần lượt dựng vợ gả chồng cho ba đứa con lớn.. Thằng Tài vẫn ở với má và chưa có gia đình riêng. Giờ nó là bác sĩ ngoại khoa của bệnh viện mà xưa má làm hộ lý. Nó tâm sự rằng hễ đi trực đêm mà nghe tiếng rao “nước sôi đây” là giật mình thảng thốt tưởng như tiếng má, nghẹn thắt cả lồng ngực.

Những ngày rảnh rỗi, chị em tôi dẫn lũ con về với má cho má vui. Đám trẻ quấn quít với má không rời nửa bước. Đứa nhổ tóc sâu, đứa bóp tay, đứa bóp chân cho bà. Một lần bé Du con tôi xoa vào vết sẹo trên chân má mà nói: “Bà ngoại ơi, con bị phỏng tay có một chút đã đau ghê. Ngoại phỏng nhiều vậy chắc là khiếp lắm…” Má tôi cười: “Lâu quá, ngoại quên mất rồi”.

Một chiều mưa tôi về thăm má, nằm bên má tâm sự chuyện chồng con. Mưa ầm ào, mưa tầm tã, tôi kêu lạnh má liền kéo mềm đắp cho tôi, tôi thì lại đắp cho má y như lúc tôi còn nhỏ ngủ chung với má vậy. Chân tôi lạnh tôi tìm hơi ấm nơi chân má. Tôi chạm vào vết sẹo trên cổ chân má, cái vết sẹo đã thành thân thuộc với tôi vậy mà tự nhiên tôi rơi nước mắt.

Nghĩ lại, tôi có chồng có con, vợ chồng tôi luôn quấn quít đầm ấm…Còn má, má chỉ được hạnh phúc làm vợ trong ba năm lẻ. Trong những năm tháng dằng dặc sau này, chắc cũng có lúc má khát khao một hạnh phúc riêng tư, cũng có lúc má cô đơn, mệt mỏi mà không có ai chia sẻ. Má ơi, sự lựa chọn của má sao nghiệt ngã quá vậy!

Đã bao lần má kể cho các con tôi nghe những câu chuyện cổ tích về công chúa, về hoàng tử, về các cô tiên xinh đẹp…Một ngày kia con tôi lớn lên, tôi sẽ kể cho các con tôi nghe về “Bà Tiên” của chị em tôi, bà tiên tóc bạc, dáng đi hơi khập khiễng vì một vết sẹo dài…Truyện cổ tích má viết cho chúng tôi bằng cả sự nhọc nhằn, sự đau đớn, bằng nước mắt, mồ hôi và bằng cả cuộc đời của má.


LÊ THÚY BẢO NHI


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Feb 2 2011, 01:00 AM
Gửi vào: #18


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8




Bữa tiệc đêm trong nhà vệ sinh

Chị là Oshin – người giúp việc nhà cho một ông chủ ngoại ngũ tuần, rất giàu có. Đêm xuống, xong việc, vội vàng về với đứa con trai nhỏ 5 tuổi suốt ngày ngóng đợi trong căn nhà tồi tàn..
Hôm ấy, chủ nhà có lễ lớn, mời rất nhiều bạn bè quan khách đến dự tiệc đêm. Ông chủ bảo : Hôm nay việc nhiều, chị có thể về muộn hơn không? Thưa được ạ, có điều đứa con trai nhỏ quá, ở nhà tối một mình lâu sẽ sợ hãi. Ông chủ ân cần: Vậy chị hãy mang cháu đến cùng nhé.
Chị mang theo con trai đến. Đi đường nói với nó rằng : Mẹ sẽ cho con đi dự tiệc đêm. Thằng bé rất háo hức. Nó đâu biết là mẹ làm Oshin là như thế nào kia chứ! Vả lại, chị cũng không muốn cho trí tuệ non nớt của nó phải sớm hiểu sự khác biệt giữa người giàu kẻ nghèo. Chị âm thầm mua 2 chiếc xúc xích.
Khách khứa đến mỗi lúc mỗi đông. Ai cũng lịch sự. Ngôi nhà rộng và tráng lệ… Nhiều người tham quan, đi lại, trò chuyện. Chị rất bận không thường xuyên để mắt được đến đứa con nhếch nhác của mình. Chị sợ hình ảnh nó làm hỏng buổi lễ của mọi người. Cuối cùng chị cũng tìm ra được cách : đưa nó vào ngồi trong phòng vệ sinh của chủ… đó có vẻ như là nơi yên tĩnh và không ai dùng tới trong buổi tiệc đêm nay. Đặt 2 miếng xúc xích vừa mua để vào chiếc đĩa sứ, chị cố lấy giọng vui vẻ nói với Con : Đây là phòng dành riêng cho con đấy, nào tiệc đêm bắt đầu! Chị dặn con cứ ngồi yên trong đó đợi chị đón về. Thằng bé nhìn “căn phòng dành cho nó” thật sạch sẽ thơm tho, đẹp đẽ quá mức mà chưa từng được biết. Nó thích thú vô cùng, ngồi xuống sàn, bắt đầu ăn xúc xích được đặt trên bàn đá có gương, và âm ư hát… tự mừng cho mình.
Tiệc đêm bắt đầu. Người chủ nhà nhớ đến con trai chị, gặp chị đang trong bếp hỏi. Chị trả lời ấp úng: Không biết nó đã chạy đi đằng nào… Ông chủ nhìn chị làm thuê như có vẻ giấu diếm khó nói. Ông lặng lẽ đi tìm… Qua phòng vệ sinh thấy tiếng trẻ con hát vọng ra, ông mở cửa, ngây người: Cháu nấp ở đây làm gì ? Cháu biết đây là chỗ nào không ? Thằng bé hồ hởi : Đây là phòng ông chủ nhà dành riêng cho cháu dự tiệc đêm, mẹ cháu bảo thế, nhưng cháu muốn có ai cùng với cháu ngồi đây cùng ăn cơ!
Ông chủ nhà thấy sống mũi mình cay xè, cố kìm nước mắt chảy ra, ông đã rõ tất cả, nhẹ nhàng ngồi xuống nói ấm áp: Con hãy đợi ta nhé. Rồi ông quay lại bàn tiệc nói với mọi người hãy tự nhiên vui vẻ, còn ông sẽ bận tiếp một người khác đặc biệt của buổi tối hôm nay. Ông để một chút thức ăn trên cái đĩa to, và mang xuống phòng vệ sinh. Ông gõ cửa phòng lịch sự… Thằng bé mở cửa… Ông bước vào: Nào chúng ta cùng ăn tiệc trong căn phòng tuyệt vời này nhé. Thằng bé vui sướng lắm. Hai người ngồi xuống sàn vừa ăn ngon lành vừa chuyện trò rả rích, lại còn cùng nhau nghêu ngao hát nữa chứ… Mọi người cũng đã biết. Liên tục có khách đến ân cần gõ cửa phòng vệ sinh, chào hỏi hai người rất lịch sự và chúc họ ngon miệng, thậm chí nhiều người cùng ngồi xuống sàn hát những bài hát vui của trẻ nhỏ… Tất cả đều thật chân thành, ấm áp!
Nhiều năm tháng qua đi… Cậu bé đã rất thành đạt, trở nên giàu có, vươn lên tầng lớp thượng lưu trong xã hội. Nhưng không bao giờ quên giúp đỡ những người nghèo khó chăm chỉ. Một điều quan trọng đã hình thành trong nhân cách của anh: Ông chủ nhà năm xưa đã vô cùng nhân ái và cẩn trọng bảo vệ tình cảm và sự tự tôn của một đứa bé 5 tuổi như thế nào…

( Nguyên Tác: Chu Hải Lượng –)



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Feb 28 2011, 06:19 AM
Gửi vào: #19


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,621
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8




Vượt Biển Một Mình

Nguyễn Trần Diệu Hương


Tác giả, hiện cư trú và làm việc tại vùng San Jose, kể chuyện một mình vượt biển giữa thập niên 80’ và trở thành cô giáo cho những thiếu niên không thân nhân tại trại tị nạn.

Ngày 30 tháng Tư 1975, Saigon sụp đổ. Những gia đình đang ở trong các cư xá sĩ quan, cư xá công chức bị đuổi ra khỏi nhà. Cùng chung số phận, gia đình chúng tôi bị đuổi khỏi mái nhà thân yêu trong cư xá, nơi chúng tôi có một thời nhỏ dại êm ả. Mẹ đưa chúng tôi về căn nhà riêng Ba Mẹ đã xây nên bằng công sức của Ba Mẹ, nhưng nhà này cũng bị tịch thu. Sau hai lần mất nhà, chúng tôi lớn lên như câu ca dao "Còn cha gót đỏ như son, mất cha lăn lóc như lon sữa bò." Ba chúng tôi còn sống, nhưng đang bị đầy ải trong trại cải tạo ở núi rừng âm u đầy chướng khí của miền Bắc. Những ngày u ám đó in hằn vào đầu óc của chúng tôi, khiến chúng tôi trưởng thành sớm hơn tuổi của mình, vì chỉ được xã hội cho nếm mùi cay đắng.

Đầu thập niên tám mươi, trước những bế tắc không lối thoát, Mẹ thu xếp gởi anh chị em chúng tôi, từng đứa, vượt đại dương để đến một vùng đất tự do, ở đó không có khủng bố tinh thần, ở đó không có trại cải tạo giam giữ những người hoàn toàn lương thiện, và ở đó chúng tôi sẽ được học hành thành người. Cũng như rất nhiều người vợ lính khác, Mẹ đảm đang, xuôi ngược nuôi chúng tôi, nuôi Ba trong các trại tù cải tạo từ Bắc vào Nam. Tất cả những điều đó đẩy chúng tôi đến đường cùng, không còn lựa chọn nào khác hơn là phải đưa chính mạng sống của mình đánh cuộc với định mệnh, với đại dương. Còn nhớ thời đó, người dân miền Nam Việt Nam vẫn truyền miệng một câu ngạn ngữ của thời đại "Một là con nuôi mẹ, hai là mẹ nuôi con, ba là con nuôi cá." Cứ thế một hai ba Mẹ lo cho con một mình vượt biển. Khả năng vượt thoát chỉ là một phần ba. Ròng rã gần mười lăm năm dài, từ cuối năm 1975 đến đầu năm 1990, hàng trăm ngàn thuyền nhân (hay theo như cách gọi của UNHCR United Nations High Commissions for Refugees, Cao Uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc là "Boat People") đã đến được bờ bến tự do. Cùng lúc, hàng trăm ngàn thuyền nhân khác gởi thân vào lòng đại dương.

Chưa qua khỏi tuổi thơ, nước mất, nhà tan, chúng tôi, không có thời mới lớn, tự động bước vào tuổi trưởng thành trước những khó khăn của Mẹ, vượt quá nỗi khổ của bà Tú Xương ở thế kỷ mười chín, vừa nuôi chồng trong tù cải tạo, vừa nuôi một bầy con dại còn ở Tiểu học hoặc ở những năm đầu Trung học. Từng đứa một, khi có điều kiện, Mẹ gởi chúng tôi ra đi.

Đến phiên tôi, Mẹ chỉ đưa được tôi ra bến xe liên tỉnh để đi Vũng Tàu. Cả hai mẹ con đều đội nón lá rộng vành để che những giọt nước mắt lã chã rơi không ngừng. Mẹ khóc nhiều hơn những lần đưa các anh em trai của tôi ra đi, vì tôi là con gái duy nhất trong nhà, thân gái dậm trường. Ngồi trên xe đò từ Saigon về Vũng Tàu, trong một góc xe đò, tôi úp nón lên mặt, để che đôi mắt sưng đỏ vì khóc của mình.

Gần một tuần lênh đênh trên đại dương, chỉ có trời và nước, xanh thẫm ban ngày, đen kịt ban đêm, không có cả một cánh chim, tôi nhớ Ba, nhớ Mẹ quay quắt, nhưng vẫn hài lòng với chọn lựa của mình. Hai ngày đầu, như mọi người trong lòng thuyền, tôi bị say sóng, nôn ra cả mật xanh, mật vàng. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi hiểu thế nào là "mửa mật". Vậy mà chỉ hai ngày sau, quen dần với cảm giác bập bềnh của con thuyền nhỏ trước lực đẩy của nước ở đại dương, tôi tỉnh táo lại hoàn toàn với đầy đủ sinh lực của "tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu" mặc dù đã hai ngày không ăn uống. Khi thuyền ra hải phận quốc tế, chúng tôi được lên khoang thuyền hít thở không khí trong lành đầy vị mặn của đại dương, hình như có thoang thoảng mùi vị của tự do.

May mắn hơn những người tị nạn khác, chúng tôi đi bình yên, không gặp một thuyền nào khác. Trời êm biển lặng vào tháng sáu đầu mùa hè đưa chúng tôi đến thẳng đất liền của Mã Lai sau năm ngày sáu đêm lênh đênh trên biến.

Lên tới đất liền, cùng với chú lái tàu, tôi phải vận dụng vốn liếng tiếng Anh hạn chế đã tích lũy trong những tháng năm chuẩn bị vượt biên để giải thích cho nhân viên Cảnh sát Mã Lai biết chúng tôi là ai, tại sao chúng tôi đặt chân đến đây. Đó chỉ là lần đầu, một khởi đầu kéo dài mãi cho đến bây giờ, phải giải thích tương tự cho rất nhiều người khác nhau thuộc nhiều chủng tộc hiểu tại sao chúng tôi phải bỏ quê hương ra đi để sống đời lưu vong.

Những giờ phút đầu tiên trên đất liền, chúng tôi lại bị "say đất". Quen với trạng thái bồng bềnh, trôi nổi trên mặt nước; khi trở lại mặt đất bằng phẳng, mỗi lần đặt bước chân xuống, tôi có cảm giác mặt đất chao đảo như còn trên mặt sóng nhấp nhô. Sau hai ngày bận rộn với đủ thứ giấy tờ khai báo với cảnh sát địa phương Mã Lai, chúng tôi được đưa ra trại Pulau Bidong, trại tị nạn chính thức của Cao ủy tị nạn Liên Hiệp quốc đặt trên lãnh thổ Malaysia để thành một người tị nạn chính thức có số căn cước thuyền nhân, chờ được phỏng vấn định cư ở một nước thứ ba. Lần này, hành trình từ đất liền ra đảo Pulau Bidong vững chắc hơn trên một thuyền khá lớn của UNHCR, có tên là "Blue Dart", khoảng cách lại ngắn, nên chúng tôi không bị say sóng.

Trại tị nạn Pulau Bidong đã dược xây dựng tương đối đầy đủ khi chúng tôi đến đảo vào giữa thập niên 80, có đủ trường Tiểu học, Trung học cho trẻ em, trường huấn nghệ (Vocational School) cho người lớn, có thư viện, có cả Chùa, Nhà thờ trên "đồi tôn giáo", có Bệnh viện với cái tên khá ngộ nghĩnh và dễ nhớ là "Sick Bay". Chúng tôi được đón tiếp với những thùng mì ăn liền vĩ đại hãy còn bốc khói, giống hệt như những thùng mì Liên Hiệp Quốc phân phàt cho nạn nhân của thiên tai Tsunami ở South Asia cuối năm 2004.

Lần đầu tiên ăn đồ cứu trợ, sống bằng lòng nhân đạo của người khác, một thân một mình ở trại tị nạn của một đất nước khác, nước mắt tôi lăn dài, nghĩ đến Ba vẫn đang mỏi mòn trong ngục tù cải tạo ở núi rừng âm u đầy chướng khí của miền Bắc vẫn thiếu ăn, thiếu mặc; nghĩ đến Mẹ đang vò võ một mình ở nhà, chắc là vẫn đang cầu nguyện cho bầy con đã tứ tán mỗi đứa một quốc gia, một phương trời khác nhau, ở tuổi chưa đến hai mươi.

Tưởng là mình đã rất can đảm khi dám chấp nhận cảnh "thân gái dặm trường", không ngờ, ở trại tị nạn Pulau Bidong, đến khu vực Cô nhi (Minor Refugees Residential Section), dành cho các em dưới mười sáu tuổi đến trại tị nạn một mình, tôi thấy em nhỏ nhất chỉ mới sáu tuổi.

Ở đó, có Hanh, chỉ mới mười một tuổi, thông minh, đầy cương nghị, có Bố đang bị "học tập cải tạo" - như Ba tôi - được Mẹ gởi đi vượt biển một mình trên một thuyền bị hải tặc, mọi người đói lả gần ba ngày trước khi đến được trại tị nạn. Ở trại tị nạn, cậu bé tuy mới mười một tuổi nhưng có sự khôn ngoan và nét chửng chạc cúa một người ngoài hai mươi học hành chăm chỉ, hết học Anh Văn lại quay qua học Toán, quanh quẩn cả ngày ở trường Trung học trên đảo Pulau Bidong.

Ở đó, có Huyên, một em gái mới mười ba tuổi, cả gia đình mất tích trên biển khi thuyền bị lật. Như một phép màu, Huyên bám được một thùng plastic rỗng, trôi nổi bồng bềnh giữa đại dương gần nửa ngày, trước khi được một tàu tị nạn khác đi ngang vớt lên. Người ta đã thấy cô bé Việt Nam nhỏ bé mắt nhắm nghiền, gần như hôn mê bất tĩnh. thân xác mỏng manh như chiếc lá khô, hai tay vẫn còn bám chặt cái thùng nhựa rỗng bồng bềnh trên đại dương.

Ở đó, có Việt, rất thâm trầm, dù mới mười lăm tuổi, nhà cửa bị tịch thu, Ba bị giam ở khám Chí Hòa vì "tội nhà giàu", Mẹ gởi em ra đi với nhà hàng xóm để thoát khỏi tương lai đen tối của giai cấp "tư sản mại bản".

Còn biết bao các em khác nữa. Mười một tháng sau đó ở Pulau Bidong, với vốn liếng Anh ngữ từ những năm ở trường Trung học, và những sách vở của thư viện trên đảo, tôi đã có cơ hội giúp cho UNHCR và cả các phái đoàn Mỹ, Canada, Úc trong việc thông dịch mỗi khi họ đến phỏng vấn thuyền nhân.

Mãi đến bây giờ, tôi vẫn còn cảm giác xót xa khi nhớ lại những lần thông dịch cho những ngưồi đàn bà, con gái Việt Nam bị làm nhục bởi hải tặc trên đường vượt biển, em nhỏ nhất chỉ mới mười hai tuổi. Hồiđó, Cao ủy trưởng Alan ở Pulau Bidong chỉ định tôi chuyên làm công việc thông dịch đàn bà con gái trong các cuộc phỏng vấn các thuyền vượt biển bị hài tặc. Đó là một công việc rất tế nhị và đầy xót xa.Đến một độ nào đó, nỗi đau vượt quá sức chịu đựng, người ta mất cảm giác. Nhiều người nữ thuyền nhân, mặt còn đầy nỗi kinh hoàng nhưng kể lại từng chi tiết ô nhục mà chính mình phải gánh chịu với giọng đều đều, thản nhiên, lạnh lùng như nói chuyện trời mưa, trời nắng, trong khi chính tôi và cô May, Cao ủy của UNHCR đã giọt ngắn giọt dài. Mỗi lần dịch hay viết xong một hồ sơ tàu tị nạn bị cướp, tay áo tôi ướt đẫm vì nước mắt. Tôi vẫn tự hỏi thủ phạm trực tiếp cho nỗi đau này là hải tặc Thái Lan, thủ phạm gián tiếp thực sự là ai?

Đó là khoảng thời gian rất bận rộn với công việc thông dịch ban ngày giúp cho nhân viên Cao ủy Tị nạn. Ban đêm, tôi còn dạy thiện nguyện cho các em , chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, ở trường Trung học trên trại Tỵ nạn. Trường chỉ dạy hai môn Anh văn và Toán. Sách học là những quyển sách đơn giản tương đương trình độ của bộ "English for Today" quyển I đến quyển III. Trước ngày ra đi, tôi chỉ mới học xong quyển IV ở Việt Nam , nhưng nhờ làm việc, tiếp xúc nhiều với các nhân viên UNHCR, và bằng long thương yêu các em chân thành như em ruột của chính mình, tôi mang hết kiến thức và hiểu biết của mình truyền lại cho các em, mặc dù tôi chưa hề được qua một trường lớp nào về Sư phạm. Chúng tôi, những người dạy thiện nguyện ở trường Trung hoc, vẫn đùa với nhau là mình đã theo một "trường phái sư phạm mới", lối dạy "mèo nhỏ tha chuột lớn".

Có lần, giải nghiã cho các em một từ mới, "dignity" - có nghĩa là phẩm giá - tôi không biết làm thế nào để giảng cho các em hiểu, đành viết lên bằng câu thí dụ "We lost everything, but never lose our dignity". Viết đến đó, tự dưng nước mắt tôi lăn dài, các em ở tuổi mười bốn, mười lăm lúc đó cũng khóc theo. Những giọt nước mắt đó vẫn còn đọng trong tâm khảm tôi cho đến bây giờ, cùng có niềm tin ở một thế hệ trẻ lưu vong có đầy đủ đầu óc và trái tim Chắc chắn, các em học sinh lúc đó, trên bước đường tha hương sau này, sẽ nhớ và hiểu nghiã chữ "dignity" hơn ai hết, và các em sẽ sống xứng đáng với lòng kỳ vọng của thân sinh các em, khi Ba Mẹ các em đã phải đứt ruột gởi con ra biển một mình.

Mỗi tuần hai lần, tàu "Blue Dart" của UNHCR cho nước ngọt, mì gói, gạo và thực phẩm tươi gồm gà và rau cải, đôi khi còn có dưa hấu hay thơm, vào cho thuyền nhân. Hầu hết chúng tôi đến trại tị nạn chỉ với một bộ quần áo dính trên người. Chúng tôi được phát áo quần từ một kho áo quần "second hand", tương tự như áo quần cũ bán trong Goods Will ở Mỹ. Áo quần thường rộng thùng thình, quá khổ, nhưng chúng tôi tự sửa lại đúng với kích thước của mình. Cao ủy tị nạn Liên Hiệp quốc đã rất là chu toàn trong việc bảo vệ và chăm lo cho những người tị nạn chính trị, Đến lúc được chuyển qua trại chuyển tiếp Bataan ở Philippines để được hướng dẫn về đời sống văn minh của Mỹ trước khi chính thức đến Mỹ như một người tị nạn, chúng tôi được huấn luyện chương trình buổi sáng, buổi chiều làm "Teacher Aid" cho các giảng viên người Phi. Ở đó, đầy đủ hơn, và lạc quan hơn vì chúng tôi biết chắc chắn ngày mình được định cư ở Mỹ. Và cũng ở đó, tôi có thì giờ tự học nhiều hơn cho chính mình, chuẩn bị một thời kỳ gian nan khác, một khởi đầu từ con số không ở quê hương thứ hai. Một vài lần được về chơi ở Manila (thủ đô của Philippines), những chuyến du lịch đặc biệt bằng xe bus dành riêng cho các "Teacher Aid", chúng tôi vẫn ngậm ngùi thương cho sự lạc hậu của đất nước mình ngay cả khi so sánh với các nước Á châu khác như Philippines.

"Nỗi buồn nhược tiểu" đó càng tăng cao khi trên đường bay qua Mỹ, tôi được dừng chân hai ngày ở Tokyo - Nhật, thủ đô của nước Á châu giàu mạnh nhất sau khi nếm bài học xương máu với hai cột khói trắng hình nấm khổng lồ ở Hiroshima và Nagasaki cuối thế chiến thứ hai. Tokyo văn minh sáng rực ánh đèn ban đêm tương phản với Saigon lạc hậu tranh tối, tranh sáng, Nước mắt tôi lại chảy xuống cho sự thụt lùi của quê hương đã bị bỏ lại sau lưng.

Tôi đến Mỹ một tuần trước lễ Giáng sinh, cùng một thuyền nhân Việt Nam khác, hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng được giao từ UNHCR, giúp đoàn người tị nạn gồm 85 người kể cả một vài người Lào và Cambodia cũng trốn chạy khỏi quê hương như chúng tôi. Giữa những hành khách Mỹ tự tin, cao to, với nhiều hành lý cồng kềnh về nước đoàn tụ với gia đình nhân dịp Giáng sinh và Tết dương lịch, rất dễ nhận ra những người tị nạn nhỏ bé, mảnh mai mắt mở to vui mừng lẫn ngơ ngác, chỉ có hai bàn tay trắng với những túi xách của UNHCR và IOM (International Organization for Migration), chỉ có giấy tờ nhập cư vào Mỹ và giấy tờ tùy thân.

Được chuẩn bị đầy đủ với gần 6 tháng học về "American Culture Orientation" ở trại chuyển tiếp Bataan, Philippines, với trình độ Anh văn tương đối sau một năm tiếp xúc và làm thông dịch viên cho nhân viên Cao ủy Tỵ nạn LHQ, tôi không đến nỗi bị lâm vào cảnh "mán về thành", nhưng thật sự đời sống ở Mỹ khác xa với đời sống ở quê nhà như mặt trời với mặt trăng, như ngày với đêm.

Hình ảnh của Ba với mái tóc bạc trắng ở tuổi năm mươi trong lao tù cải tạo, hình ảnh Mẹ với đôi mắt buồn trong những ngày chuẩn bị gởi chúng tôi ra đi là nguồn nghị lực không bao giờ cạn, tiếp sức cho chúng tôi trong thời gian chân ướt chân ráo ở quê hương thứ hai.

Từ nhiều trại tị nạn ở nhiều nước khác nhau: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, anh chị em chúng tôi đến Mỹ trong nhiều thời gian khác nhau, được trùng phùng, như trăm sông đổ về biển, và mang sức sống của tuổi hai mươi lao vào đất nước của tự do và cơ hội. Một người bạn cũ của Ba, qua Mỹ từ năm 1975, đang làm ở tổ chức thiện nguyện USCC, giúp tôi có được trợ cấp một lần là 650 dollars dành cho người tị nạn mới đến , bác viết cho tôi một reference letter và từ đó " I'm on my own way". Bác cũng giới thiệu cho tôi đến tìm việc làm ở một vài nơi. Trời thương, "thánh nhân đãi kẻ khù khờ", tôi được nhận vào làm full time ở một công ty lớn chỉ hai tuần sau ngày đến Mỹ. Lúc đó là đầu tháng giêng, giữa mùa Đông ở Mỹ, trời lạnh buốt, buổi sáng tôi thức dậy từ sáu giờ ba mươi, trời còn tối, ra đứng chỗ xe bus ở đầu đường, trời lạnh cóng, dưới 40 độ Fahrenheit, tôi phải mặc ba bốn lớp áo, nhưng áo quần cũ chị em chúng tôi đã mua từ Goods Will để vừa với túi tiền của mấy chị em lưu lạc quê người, chỉ có hai bàn tay trắng, với lòng tin của Ba Mẹ đặt ở mỗi chúng tôi. Một tuần sau, chịu không nổi cái lạnh gần đông đá, từ 32 đến 39 độ Fahrenheit của mùa đông thứ nhất ở Mỹ, tôi dùng cái paycheck đầu tiên của mình thuê người dạy lái xe và dốc hết tiền trợ cấp một lần cho người mới đến mua một cái Toyota Celica đã mười bốn tuổi, để đi học và đi làm. Đời sống lúc đó, còn nhỏ, là một hình tam giác với ba đỉnh là nhà, trường học và sở làm không hề có giải trí, không có cả thời gian để buồn và nhớ nhà. Đến Mỹ muộn màng, sau gần mười năm miền Nam sụp đổ, biết thân phận mình là "trâu chậm", chúng tôi lao đầu vào học, không dám để phí thêm một giờ phút nào. Mùa hè, học phí cao hơn, tôi chỉ ghi danh theo học một lớp, và làm part time cho một trạm bán xăng ở gần nhà Nghĩa là lúc đó, tôi đi làm full time, đi học full time quanh năm. Nhiều lúc quá mệt mỏi, tôi lại tự nâng đỡ tinh thần mình bằng câu nói cửa miệng của người Mỹ "No pain, no gain", và nhớ đến kỳ vọng của Ba Mẹ đã đặt ra cho chúng tôi. Buồn nhất là những lần bất chợt nghe được những câu hát rất đúng với tâm trạng của mình: "Ai trở về xứ Việt, nhắn giùm tôi người ấy ở trong tù .....", nghĩ đến Ba, nước mắt tôi vẫn lăn dài, và tự bảo lòng mình phải cố gắng học giỏi hơn để Ba Mẹ vui hơn, đủ nghị lực sống trong đời sống bị khủng bố tinh thần thường
xuyên ở quê nhà.

Có lần được phát biểu cảm tưởng với thời gian ba phút trong một lần nhận học bổng, tưởng là sẽ cảm ơn đủ tất cả mọi người và hứa với "scholarship foundation" sẽ cố gắng nhiều hơn, nhưng tôi chỉ nói được gần hai phút: - Xin cảm ơn tất cả thầy cô đã có công dạy dỗ tôi, xin cảm ơn Hội đồng trao tặng học bổng cho tôi. Xin tri ân đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang và cung cấp một đời sống tự do, no đủ cho tất cả những người tị nan, lưu vong. Vinh dự hôm nay xin được dành riêng cho tất cả những người đã nằm xuống cho chúng tôi có được ngày hôm nay, và xin đặc biệt danh riêng cho Ba tôi, người vẫn còn đang bị đày ải trong lao tù (Không dùng từ này) vì đã ở trong một quân đội bảo vệ tự do, xin được dành riêng cho Mẹ tôi, người đã rất chu toàn trong việc nuôi dậy con cái một mình.

Một phút còn lại, tôi không nói được vì cử tọa trước mặt đã mờ đi sau màn nước mắt, mùi vị đắng cay sau năm 75 ở quê nhà vẫn kéo về với đầy nỗi xót xa, ngay cả trong giờ phút ngọt ngào nhất. Một thầy giáo người Mỹ gốc Ba Lan đã tị nạn (Không dùng từ này) từ cuối thập niên 60, dạy tôi từ năm đầu Đại học, hiểu rất rõ tâm trạng của một người tị nạn, đã lên diễn đàn giúp tôi hoàn tất lời phát biểu. Lần đó, tôi được đặc cách đề cử trực tiếp cho học bổng niên khoá kế tiếp, mà không phải qua những thủ tục bình thường. Món tiền tuy không lớn, cũng đủ để trang trải chi phí sách vở, học phí, ăn ở cho một năm học, là một yểm trợ vật chất lớn lao cho tôi trong ba năm đầu chân ướt chân ráo ở quê người. Có những điều hằn sâu trong ký ức, lúc nào cũng tưởng như mới vừa xẩy ra, như chuyện say sóng đến độ "mửa mật" của những ngày lênh đênh trên đại dương vẫn ám ảnh tôi không nguôi. Cho nên, có lần được chọn là "Employee of the year" được tặng vé cho một chuyến đi cruise trên biển một tuần cho hai người, nhớ lại cảm giác đắng nghét ở miệng, cảm giác mất thăng bằng của những ngày mới đặt chân lên đất liền, tôi đã nhường lại phần thưởng đó cho "the runner up" trước con mắt ngạc nhiên của mọi người làm cùng chỗ. Đó không phải là điều duy nhất người bản xứ không hiểu những người tị nạn, những người Mỹ gốc Việt lưu vong. Họ cũng không hiểu tại sao rất nhiều người Việt Nam nhỏ bé ốm yếu vẫn đội mưa đội gió hàng giờ giương cao những tấm biểu ngữ "Human Right for VietNam", "Freedom for VietNam" ở một góc đường nào đó trong đời sống lạnh lùng, đầy tất bật của đất nước Hoa kỳ.

Sau khi đã ổn định, - đã có một "career" đàng hoàng thay cho cái "job" để kiếm sống - có thời tôi đi dạy thiện nguyện cho một trường Việt ngữ ở điạ phương, học sinh là các em teenagers. Dù cùng tuổi nhưng học trò của tôi bây giờ vô tư, ngây thơ, khác xa các em trong trại tị nạn chững chạc, trưởng thành trước tuổi. Ở trường Việt ngữ, ngoài bài giảng từ sách của trường, thì giờ còn dư, chúng tôi giảng trích đoạn từ tác phẩm "Mùa hè đỏ lửa" của nhà văn Phan Nhật Nam, từ bài thơ bất khuất "Nếu ai hỏi" của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện để các em hiểu rõ hơn giá trị của tự do, và biết yêu thương cha mẹ hơn, biết ơn cha mẹ các em đã hy sinh rất nhiều để các em có được ngày hôm nay.

Đời sống ở Mỹ vốn tất bật, nhưng một phút bình lặng nào đó của tâm hồn, dù đang bị kẹt xe trên một xa lộ xe cộ tất tả ngược xuôi hay đang ở trong một cuộc họp ở sở, đầu óc tôi vẫn lang thang về với quê nhà, và buồn thay, bao giờ cũng vậy, mùi vị đắng nghét như đang bị "mửa mật", mùi vị chua cay của một thời vẫn hiện về, rõ ràng, mồn một như chuyện hôm qua.

Và có một lần "chuyện hôm qua" càng rõ nét hơn. Đến thăm Massachusetts Institute of Technology (MIT) nổi tiếng về chuyên ngành Toán và Kỹ thuật, đang ngồi chờ người bạn ở cafeteria của trường, bỗng một sinh viên người Á châu đi qua, đi lại trước mặt tôi nhiều lần. Sau cùng, anh ta dừng lại, lịch sự hỏi bằng tiếng Mỹ:

- Xin lỗi, chị có phải là cô Thuyên ở trường Trung học Pulau Bidong năm 1988 không?

Tôi trả lời bằng tiếng Việt:

- Đúng rồi, em có thể nhắc cho tôi nhớ em là ai không?

Người thanh niên vui mừng, rồi bằng một thứ tiếng Việt rõ ràng và lễ độ, anh ta trả lời:

- Em là Hanh đây chị, em học cùng lớp với Huyên và Việt ở Pulau Bidong. Chị nhớ em không?

Hanh vẫn nhận ra tôi sau mười lăm năm không gặp, nhưng tôi thì không thể nhìn ra được anh thanh niên cao lớn chững chạc trước mặt mình là cậu bé đen nhẻm, chững chạc, chăm học ở trại tị nạn năm xưa, Hanh lúc đó đang ở năm cuối của chương trình Tiến sĩ Toán, như ước mong ngày nào em đã trình bày trong một giờ thực tập nói tiếng Anh ở lớp học nhỏ xíu, mái lợp tôn thô sơ giữa đảo Pulau Bidong. Hanh kể cho tôi nghe về chuyện em đến Mỹ một mình ở tuổi mười hai, cùng với một nhóm ngườI Việt Nam tị nạn đặt chân đến Mỹ ở phi trường San Francisco, Hanh đổi máy bay về Massachusetts. Đi một mình, dưới mười lăm tuổi, nên Hanh được một cô Stewardess đích thân dắt lên máy bay trước.

Ra đón cậu bé tị nạn Việt Nam ở phi trường Logan Boston - là đại diện của một tổ chức thiện nguyện và cha mẹ nuôi của Hanh. Đó là một gia đình ngươi Mỹ gốc Tiệp Khắc, qua Mỹ tị nạn từ thập niên 60s. Dù chưa bao giờ có ý định xin con nuôi, nhưng thấy Hanh là một cậu bé mới mười một tuổi vượt biển một mình, không có thân nhân, nên họ muốn đưa Hanh về nuôi. Cả hai ông bà đều dạy Trung học. Ông dạy Toán, bà dạy Home Economics (tương tự như môn Nữ công gia chánh ở Việt Nam). Người con duy nhất đi học xa, ông bà vẫn làm việc thiện nguyện ở một Nhà thờ Tin lành vào cuối tuần. Khi thấy tên Hanh, một em nhỏ tị nạn Việt Nam mới mười một tuổi, không có thân nhân ở Mỹ, được nhà thờ tìm người bảo trợ, họ xin nhận Hanh làm con nuôi. Vẻ chín chắn cùng sự khôn ngoan trước tuổi của Hanh đã chinh phục được lòng thương yêu của bố mẹ nuôi người Mỹ từ lúc đầu. Vì cả hai ông bà đều là nhà giáo, Hanh lại có căn bản về cả tiếng Anh lẫn học lực, lại chăm chỉ học hành nền em được vào thẳng lớp bảy như các học sinh bản xứ mà không gặp trở ngại nào.

Lên Trung học, Hanh tốt nghiệp thủ khoa Trung học. Với sự hướng dẫn quý báu của cha mẹ nuôi, với thành tích học tập xuất sắc trong bốn năm Trung học, cậu bé Hanh tị nạn năm xưa nhận được học bỗng toàn phần của MIT, trong niềm hãnh diện của cha mẹ nuôi ở Mỹ lẫn cha mẹ ruột ở Việt Nam. Giữa thập niên 90s của thế kỷ hai mươi, ba mẹ sinh thành cùng hai em của Hanh được qua Mỹ theo chương trình nhân đạo HO. Vậy là Hanh có đến hai ông bố, hai bà mẹ, và hai gia đình cùng ở tiểu bang Massachusetts, trong hai thành phố kế cận nhau. Không muốn làm mất lòng gia đình nào, và để được tập trung học tập, Hanh vào nội trú trong MIT. Mổi thứ bảy về với cha mẹ ruột, ăn món ăn Việt Nam do mẹ nấu, nghe ba kể về những đọa đày ông phải gánh chịu trong các trại "cải tạo". Và mỗi chủ nhật, về lại căn phòng thân thuộc mà cha mẹ nuôi đã dành cho Hanh từ ngày cậu bé Việt Nam, da còn đậm màu nắng gió của trại tị nạn, chân ướt, chân ráo đến Mỹ. Căn phòng dù không còn được dùng thường xuyên, nhưng trong closet vẫn còn treo hai bộ áo quần kỷ niệm của Hanh, một bộ Hanh mặc khi mới đến Mỹ được người bảo trợ ra đón, và bộ kia là bộ áo quần đầu tiên Hanh được bố mẹ nuôi mua cho. Ở một góc bàn học, vẫn còn cái lọ thủy tinh có cắm hai lá cờ nhỏ, một sọc trắng đỏ với năm mươi ngôi sao của Mỹ, một màu vàng với ba sọc đỏ của Việt Nam. Trên tường vẫn còn hình Hanh năm mười tám tuổi, chững chạc trong áo mũ và dây choàng thủ khoa (valedictorian) ngày tốt nghiệp Trung học.

Một chi tiết rất cảm động trong câu chuyện của cậu bé tị nạn ở Pulau Bidong năm xưa là hồi mới đến Mỹ, mỗi lần được cho kẹo chocolate, Hanh chỉ ăn một phần nhỏ và để dành hầu hết kẹo để gởi về Việt Nam cho hai em và cho các bạn. Điều "bí mật" đó bị phát hiện khi hai ông bà Mỹ thấy cậu con nuôi ăn uống rất chừng mực từ tốn nhưng luôn luôn xin được mua thêm chocolate. Kẹo "để dành" thường được Hanh gói cẩn thận trong những túi nylon dán kín để trong một góc tủ áo quần. Halloween đầu tiên ở Mỹ, đi học về, làm xong bài vở, trời vừa sụp tối, Hanh xin phép ba mẹ nuôi cho đi xin kẹo. Cậu bé miệt mài đi bộ một mình trong thời tiết se lạnh đầu mùa thu ở miền Đông Bắc trên bốn năm con đường, gõ cửa từng nhà xin kẹo. Kêt quả rất khả quan, sáng hôm sau Hanh gởi được một thủng kẹo mười hai lbs (khoảng 5kg) về Việt Nam mà cước phí còn cao hơn cả tiền mua kẹo. Có nguồn gốc là người Tiệp Khắc, một thời đã phải sống dưới chế độ (Không dùng từ này), bố mẹ nuôi của Hanh hiểu ngay mọi chuyện. Và ông bà càng quý Hanh, cậu bé Việt Nam tuổi còn nhỏ nhưng tấm lòng đã rất lớn.

Đến phiên tôi, tôi cũng kể cho Hanh nghe giòng đời đã đẩy đưa tôi từ trại tị nạn năm xưa đến California như thế nảo. Có nằm mơ, tôi cũng không tưởng tượng nổi mình gặp lại được cậu học trò đen nhẻm vì vị mặn của gió biển ở Mã Lai, có đôi mắt sáng nhưng lúc nào cũng buồn ở trường Trung học trên đảo Bidong ngày nào. Ước gì tôi cũng gặp được Huyên và Việt, cũng như đã hội ngộ rất bất ngờ với Hanh ở một góc trường MIT ở miền Đông Bắc nước Mỹ. Nhưng dù chưa hay không có dịp tái ngộ với Huyên và Việt, tôi vẫn tin hai em đã rất thành công như Hanh, chứng minh mình có thể làm được nhiều điều, chẳng hạn như chuyện học hành, mà có một thời ở trong nước, sau tháng 4/75, nhà cầm quyền không cho phép mình làm.

Tất cả chúng tôi dều giống nhau ở chỗ phải xa nhà, bỏ đất nước ra đi một mình, dù lúc nào trong tâm tưởng của chúng tôi cũng có một vị trí trang trọng cho quê hương chôn nhau cắt rốn đã phải bỏ lại sau lưng. Chúng tôi đã phải mang cả sinh mạng của mình ra đánh cuộc với định mệnh, với đại dương; một cái giá không một khoản tiền nào, dù lớn đến đâu có thể mua được. Những được mất với cuộc đời hãy còn ở trước mặt, nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ cố gắng không ngừng để xứng đáng với cái giá mình phải đánh đổi.

Chia tay Hanh hôm đó, tôi mang theo câu nói của Hanh với khuôn mặt rất nghiêm trang, già trước tuổi, và vẫn với đôi mắt buồn xa vắng như lần đầu tiên tôi gặp em ở trường Trung học trên đảo tị nạn:
- Điều em vui nhất là đã đền đáp được phần nào ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ ruột và ân tình cưu mang của bố mẹ nuôi. Em vẫn cố gắng hết mình, cố gắng đến hết cuộc đời để luôn làm cho cả Ba Mẹ lẫn Mommy, Daddy của em vui Điều duy nhất không chắc em có làm được hay không, là "gánh sơn hà" mà đôi lúc Ba em và các bác, các chú cùng thời vẫn nửa đùa nửa thật là đã trao lại cho thế hệ của mình.

Hanh dừng một chút rồi hỏi một câu mà đến bây giờ tôi vẫn chưa biết cách trả lời:

- Gánh sơn hà nặng lắm một mình em hay cả hai chị em mình không thể nào gánh nổi! Chị ơi, làm thế nào để cả thế hệ của mình đủ sức gánh nổi sơn hà hả chị?

Câu hỏi đó cứ quanh quẩn trong tôi và chắc là phải còn lâu, lâu lắm, tôi mới biết được câu trả lời chính xác Nhưng tôi tin là chỉ cần một phần mười của một thế hệ Việt Nam (cả ở hải ngọai lẫn trong nước) biết đoàn kết, có nhiệt tâm gánh vác non sông với chí khí của Trần Quốc Toản, với lòng yêu nước của Nguyễn Thái Học và với đầu óc của Lê Quý Đôn thì gánh sơn hà sẽ nhẹ nhàng như cái cặp đi học rất thân thuộc của một thời đèn sách.

(Viết cho Lan Hương, Tiến, Tuấn và những thuyền nhân "đi biển" một mình).




--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Aug 17 2011, 02:37 AM
Gửi vào: #20


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 550
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



Cây Bút Của Ba Tôi

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


Trước 1975, tác giả từng viết nhiều truyện ngắn trên bán nguyệt san Tuổi Hoa, và các truyện dài xuất bản bởi Tủ Sách Tuổi Hoa. Sau 30/4/1975, Cam Li không viết nữa, chỉ chuyên làm công việc nghiên cứu khoa học. Định cư tại San Jose từ 2003, sáu năm sau cô góp nhiều bài viết giá trị . Bài mới nhất của tác giả dành cho mùa lễ Father’s Day 2011.

Nếu phải làm một bài luận văn với nhập đề lung khởi cho đề tài “Ba tôi”, tôi sẽ viết như sau:

“Tôi nghĩ ai cũng có thể viết một chút về “cha tôi”, ngay cả những người con chưa hề thấy mặt cha mình. Một đứa bạn thân của tôi, không biết cha mình là ai, cũng đã tự nhìn vào gương và viết những cảm nghĩ về cha của nó thật cảm động. Riêng tôi, không cần tưởng tượng, tôi cũng thấy cha tôi mỗi ngày. Khi ở Việt Nam, tôi biết ba tôi là một nhà giáo…”

Còn nếu phải nhập đề trực khởi, tôi sẽ vào đề ngay như thế này:

Đó là vào năm 2003, khi cha con tôi được bác tôi bảo lãnh qua Mỹ.
Vâng, đó là vào năm 2003.

Chỉ “bị” ở không có một tháng mà cha con tôi đã cuồng chân cuồng tay lên rồi! Sau vài đợt được nhà bác tôi đưa đi chơi vài nơi trong và ngoài tiểu bang, ba tôi nhất quyết đi tìm việc làm. Với chiếc xe Honda Accord cũ kỹ bác tôi cho, ba tôi đã đi khắp các siêu thị để xin việc. Thật không may, cha con tôi qua Mỹ đúng vào thời điểm mà theo cách nói của mọi người lúc đó là “kinh tế xuống”. Ba tôi thường trở về nhà với gương mặt uể oải. Bác tôi khuyên ba đừng vội vàng làm chi, từ từ rồi kiếm việc, bác có sức bảo bọc hai cha con. Bác nói thì nói thế, chứ hai cha con tôi cũng nhìn thấy hoàn cảnh của nhà bác, đông người, khá chật vật trong hoàn cảnh kinh tế hiện tại. Tiền điện, tiền nước, tiền chợ búa, tiền bảo hiểm… cũng làm nhức đầu lên rồi! Đến lượt tôi cũng muốn đi làm. Tôi đâu có thể ở chơi không một năm trong khi chờ chính phủ trợ cấp cho đi học. Vâng, phải đến năm tới thì tôi mới được đi học miễn phí. Cho nên tôi quyết tìm việc làm để có tiền. Cũng đơn giản là để hai cha con có thể tự lập, ra thuê nhà ở riêng, khỏi làm bận lòng bác tôi.

Và tôi cũng mang bộ mặt thất vọng về nhà sau những lần đi tìm việc. Đến đâu tôi cũng nhận được những cái lắc đầu kèm theo một nụ cười và tiếng “sorry”. Ôi! Nếu là thời gian cách nay năm mười năm thì, cũng theo lời của bác nói, cha con tôi qua là có thể xin đi làm hãng dễ dàng. “Làm hãng”, nói chung là làm tại các hãng điện tử, bây giờ cũng sa sút rồi! Cái thung lũng hoa vàng, “silicon valley” nơi chúng tôi cư ngụ, cũng như một miếng bọt biển đã no nước rồi!

Đến một ngày tôi may mắn tìm được một chân bán hàng trong tiệm McDonald’s khá xa nhà một chút, tôi hoan hỉ đáp xe bus đi làm, để ba dùng chiếc xe cũ chạy việc. Cha con tôi có chút niềm vui là công việc bán thời gian của tôi đem lại một ít “tiền còm” để xài. Đêm đêm ba lái xe đi đón tôi, hai cha con về nhà khi gia đình bác đã ngủ say. Chúng tôi rón rén vào phòng đóng cửa lại và bàn bạc về những chuyện sắp tới. Ba cứ khuyên tôi đừng buồn, hãy cố gắng. Ba không biết rằng tôi cũng mong ba đừng buồn, hãy yên tâm. Ở bên nhà, ba đi dạy, còn tôi mới bước vào đại học. Ba chọn đi theo “diện” bảo lãnh do bác tôi lo. Trước khi đi, ba cũng đã “vận động” tôi nhiều lắm. Ba nói qua Mỹ không phải là đến xứ thiên đường, mà mọi việc đều phải bắt đầu lại hết. Tôi sẽ phải gián đoạn việc học hành một ít lâu. Ba sẽ không đi dạy, không làm thầy nữa. Tôi nghe hết. Và mọi việc đều xảy ra đúng như chúng tôi tiên liệu. Do đó chúng tôi không buồn hay thất vọng, chỉ là hơi sốt ruột một chút.

*
Có một hôm, tôi thấy ba ngồi miệt mài gõ chiếc máy computer cũ bác cho cha con tôi. Ba gõ cả buổi, quên mất đêm đã khuya. Tôi mắt nhắm mắt mở nhắc chừng, ba tôi mới nghỉ tay. Hôm sau ba cho tôi xem, đó là một truyện ngắn. Tôi đọc, rồi như có một sức hấp dẫn lạ kỳ, tôi đọc ngấu nghiến. Tôi hỏi ba:
- Truyện này… của ba?
- Phải.
- Ba mới viết?
- Không, ba viết lâu rồi, hồi… xửa xừa xưa.
Tôi trợn tròn mắt:
- Thật không ba?
- Thật.
- Hay quá! Sao con không hề biết?
- Vì ba không nói.
- Sao bây giờ ba mới gõ ra?
- Ba nhớ lại, gõ ra, để… ba đăng báo.
- A! Con hiểu rồi! Vậy khi xưa ba có đăng chưa?
- Ba đăng rồi! Có nhiều người đã đọc.
Tôi vỗ tay reo lên:
- Hay quá! Ba là văn sĩ.
- Văn sĩ cái gì! Chỉ là viết cho vui.
- Không ba ơi! Con thấy hay lắm! Có ý nghĩa lắm! Vậy là ngày xưa ba viết bài đăng báo?
- Ừ.
- Ba có in sách không?
- Có.
- Vậy sao … con không nghe ba nói bao giờ?
Ba ngập ngừng:
- Vì ba đã ngưng viết trước khi con ra đời.
Tôi trố mắt không hiểu. Nhưng ba như không muốn nói nhiều. Ba lảng qua chuyện khác.

*

Tôi trở thành “thầy cò” cho ba tôi. Thật vui, bởi vì tôi vừa được đọc truyện do ba tôi nhớ lại và gõ, vừa được tin tưởng giao cho nhiệm vụ này. Chữ nào ba tôi gõ nhanh quá bị sai thì tôi sửa lại. May quá, tôi cũng khá giỏi môn chánh tả khi còn ở bậc tiểu học. Nhưng tôi lại là đứa học trò dở môn văn khi lớn lên. Nói chính xác hơn, là tôi ghét môn văn. Mà học trò thì ai cũng biết rằng hễ mình ghét môn nào tất mình sẽ trở thành người học dở môn ấy.

Ba tôi đăng báo. Mà là báo “ảo”, báo trên internet. Báo internet thì không có chút “tiền còm” nào hết. Ba nói khi “xửa xừa xưa”, ở Việt Nam ấy, cái thời chữ nghĩa còn được trân trọng ấy, tác giả có bài đăng báo sẽ nhận một số tiền gọi là “tiền nhuận bút”. Chà, chữ này đối với tôi nghe rất lạ đây! Nhưng ba giải thích với tôi tại sao ba say sưa “gõ” truyện của ba như vậy. Thứ nhất là vì ba còn đang thất nghiệp, thời gian trống chẳng để làm gì. Thứ hai là ba cảm thấy mừng khi một số người Việt ở đây muốn gầy dựng lại các nhóm văn học đã bị thất tán cùng với bài vở. Ba đồng lòng với ý hướng ấy nên ba làm. Thế thôi! Tôi thấy ba cũng có lý.

Có một điều khiến tôi chạnh lòng lắm. Số là do một hôm tôi buột miệng hỏi ba:
- Vậy má ngày xưa có biết ba đã viết văn không?
- Có.
- Má có đọc, có thưởng thức văn của ba không?
- Không. Má không thưởng thức.

Tôi hết hồn, nín khe luôn. Tôi biết ba má tôi cùng tuổi, học cùng lớp cùng trường, tức là sống cùng thời. Nhưng tôi tự an ủi ngay: “Không cùng tư tưởng, chịu thôi!”

Tôi hãnh diện có cha là một người viết tiểu thuyết. Dù là đứa học trò dở văn, ghét môn văn, tôi vẫn cảm nhận được những gì ba tôi gửi gắm trong văn. Ba nói tôi đừng gọi ba là nhà văn hay văn sĩ hoặc tiểu thuyết gia gì hết, hãy cứ gọi là “người viết” đủ rồi. Tôi “dạ” và nghĩ rằng ba thật “ngộ!”. Văn của ba tôi không cầu kỳ, không bí hiểm, không dùng sáo ngữ. Ba không viết những chuyện xa xôi trên mây trên gió. Tôi đọc và hiểu hết cái tình ba tôi gửi vào những nhân vật tiêu biểu cho thời tuổi trẻ của ba. Tôi thấy nó sống động lắm, gần gũi lắm. Tôi đã hình dung được khung cảnh xã hội của ngày đó ra sao. Tôi cũng đã hình dung ra ba tôi thời đi học, thời đi dạy, thời đi lính là như thế nào rồi!

Nhưng có một điều làm tôi chạnh lòng hơn nữa. Đó là ba đã ngưng viết đến gần ba mươi năm. Ba chỉ nói ra cái “sự kiện” đó mà không kèm lời giải thích. Tôi có hỏi “vì sao” thì ba chỉ nói:
- Sau này ba sẽ nói cho con nghe. Bây giờ, lo đi làm McDonald’s đi, năm tới đi học. Con sẽ học để bước vào “dòng chính”. À mà ba cũng sẽ đi học vào năm tới chứ! Muốn bước vào “dòng chính” thì phải đi học. Chính phủ giúp mà! Cái chuyện viết lách của ba chỉ là cho vui, đừng để tâm đến nhiều. Nó đã thuộc về quá khứ.
Tôi tạm yên tâm. Tôi thấy tôi đã hiểu được ba tôi nhiều hơn trước. Tôi, cái thằng con trai học giỏi nhưng hời hợt lắm!

*
Ba vẫn chưa có việc làm! Cái nghề nhà giáo dạy Toán của ba không dùng được. Ba muốn đi dạy lại thì năm tới ba sẽ bắt đầu đi học lại. Ngành nào cũng vậy mà! Hiện tại Ba vẫn muốn có một công việc nào đó, việc gì cũng được, để kiếm tiền. Hai cha con ước mơ có thể ra mướn nhà. Đi đâu ba cũng nghe câu “kinh tế xuống”. Ba thở dài ngao ngán.

Ba lại gõ, say sưa gõ. Không biết ở đâu mà truyện của ba tôi nhiều thế. Rồi đến một ngày ba khoe tôi một bài viết mới. Tôi reo lên:
- Ba đã viết lại!

Tôi không thể tả được niềm vui của tôi, lẫn một ngạc nhiên thật lớn. Ô, tôi, cái thằng hời hợt đến thế, vẫn cảm nhận được cái vui của người cha. Rồi nghĩ đến má tôi, tôi lại nao lòng. Ba má đã không sống với nhau từ khi tôi tròn mười tuổi. Ba đã thiếu ít nhất một người không đồng cảm.

Một ngày, có người bạn của bác tôi ghé chơi. Bác giới thiệu mọi người với nhau. Hóa ra không phải một cuộc ghé chơi tình cờ, mà là có chủ ý của ông khách. Bác tôi để cho ông bạn nói chuyện riêng với ba. Khi ông ấy về rồi, ba kể cho tôi nghe.
- Con biết không, ông ấy tình cờ đọc và biết ba “còn sống”.
- Ba “còn sống”?
- Phải. Ông ấy nói có lần người ta đồn ba đã chết. Lâu rồi!
- Hả??? Ông ấy đã quen ba sao?
- Không, chỉ biết ba qua sách báo ngày xưa thôi! Nói ngắn gọn là ông ấy đọc trên inernet biết ba còn sống và đã viết lại, rồi tình cờ qua chuyện trò với bác con, ông ấy biết ba là em của bác, ông ấy đến để nhờ ba một việc.
- Việc gì ba?
- Ông ấy nói muốn giúp ba có công việc làm kiếm tiền.
- A! Vậy ba có bằng lòng không? Việc gì?
- Viết.
- Vậy thì hợp với ba quá rồi! Có tiền nhuận bút không ba?
- Có, mà lại rất nhiều nữa.
- Vậy ba viết đi! Ông ấy làm báo nào?
- Không, ông ấy không làm báo, mà ông ấy nhờ ba viết chuyện đời của ông ấy.
- Vậy lại càng hợp với ba nữa! Ba đã nói với con là các nhân vật trong truyện của ba là có thật, ít nhất cũng thật vài mươi phần trăm.
- Nhưng con à, ba có cái sự sáng tạo của riêng ba. Cuộc đời của ai đó chỉ là chất liệu cho ba viết mà thôi! Ba phải nhào nặn câu chuyện theo ý ba. Và trong mỗi câu chuyện, không chỉ hoàn toàn là chuyện của một người, mà là kết hợp nhiều cuộc đời, nhiều cảnh sống.
- Thì ba cứ nói với ông ấy là ba sẽ kết hợp…
- Ông ấy muốn ba viết và nói rõ đó là cuộc đời của chính ông ấy.
- Con không hiểu ba ơi!
- Đây này! Ông ấy nhờ ba viết một quyển hồi ký cho ông ấy, ghi tên tác giả là ông ấy, rồi ông ấy trả tiền “nhuận bút” cho ba. Nói tóm lại là… ông ấy “thuê” ba viết.
- Nghĩa là ba phải ẩn danh?
- Đúng.

Tôi thộn mặt ra. Điều này tôi chưa bao giờ nghĩ đến. Ba im lặng. Chắc ba cũng chưa bao giờ nghĩ đến. Ba nếu có nghĩ thì chắc sẽ nghĩ đến một ngày nào ba viết hồi ký cho chính ba. Sóng êm biển lặng hay giông tố bão bùng cũng vẫn chỉ là cuộc đời của ba.
Bác tôi cũng đã nghe ba kể lại cuộc nói chuyện giữa ba và ông bạn của bác. Khác với tôi, bác có ý kiến tích c
ực hơn. Bác nói:
- Chú mầy biết không, ở đâu cũng vậy, có những người có khả năng viết văn giỏi và họ viết hồi ký giùm cho người khác. Nào phải ai cũng viết được cho hay, cho hấp dẫn đâu! Ngay đến các cựu tổng thống hay những người nổi tiếng, dù cuộc đời và sự nghiệp của họ lẫy lừng đến đâu mà nếu viết không hay thì cũng phải nhờ người sửa câu sửa chữ cho. Điều đó đâu có gì trái. Anh nghĩ chú mầy cứ làm đi! Giúp cho người ta và ít ra mình cũng sử dụng được cái văn tài của mình. Viết bài đăng internet khơi khơi làm gì có tiền!

Ba lặng thinh suy nghĩ. Xem ra ba có vẻ xiêu lòng. Bác tôi còn nói thêm:
- Cha mẹ mình đã dạy, làm việc gì bằng công sức của mình, kiếm tiền nuôi thân, đều không xấu. Chú giúp ông ấy viết hồi ký cũng như chú đi dạy Toán, khác gì đâu! Hoặc cũng giống như anh, đầu tiên qua đây đi cắt cỏ, đi rửa xe… anh không thấy gì là buồn cả. Mà công việc này lại nhàn nữa, chỉ mỏi cái bàn tay gõ, còn hơn đi làm lao động nặng nhọc. Chú nên nhận lời.
- Vâng.
- Anh hẹn cho ông ấy nói chuyện với chú để bàn về nội dung cuốn hồi ký nhé! Kệ, tội nghiệp người ta, có cuốn hồi ký để lại cho con cháu đọc để hiểu cái thời ngày xưa ra sao… cũng là xứng đáng lắm!

*
Khuya nay đón tôi về, ba kể:
- Ông bạn của bác con hẹn ba ra tiệm phở “Âu”, ông bàn chuyện viết và hứa trả tiền cho ba rất khá, đủ để cha con mình thuê nhà nửa năm. Ông còn nói hễ sách càng dày thì tiền càng tăng.
- A! Thật vậy hả ba? Rồi sao nữa? Ba đã biết được ý chính của cuốn sách ba sắp viết chưa?
- Ông ấy kể hết cho ba nghe rồi.
- Vậy ba phải viết đúng một trăm phần trăm cuộc đời của ổng há ba?
- Không.
- Ủa, sao vậy ba? Hồi ký mà!
- Vì là hồi ký… nên ông ấy muốn ba thêu dệt càng nhiều chuyện hấp dẫn càng tốt.
- Cái gì? Sao kỳ vậy ba?
- Ông ấy kể cho ba nghe một số chi tiết có thật xảy ra trong cuộc đời của ông ấy, nói ba dựa vào đó mà viết ra cho lâm ly bi thiết, nói rằng ông ấy gặp hoạn nạn ghê gớm ra sao, rồi ông ấy chống chọi một cách anh dũng thế nào, rồi ông ấy trở nên một người hùng trong mắt mọi người… Chưa hết, chuyện tình cảm của ông cũng phải như tiểu thuyết, như phim, phải thơ mộng, phải đẫm lệ, sao cho người đọc thấy được những cuộc tình đi qua đời ông rất đẹp, rất lãng mạn. Nói chung, như là… Doctor Zhivago vậy.
- Thì như vậy… là một cuốn tiểu thuyết!
- Không, không phải tiểu thuyết. Là một quyển hồi ký, đời thật của một người.
- Như vậy là không thật! Hồi ký thì phải hoàn toàn là sự thật. Thêu dệt là có tội. Tội đánh lừa người đọc. Ủa, mà ba ơi, sao ông ấy lại phải tốn nhiều tiền để làm như vậy?

Ba thở dài, tiếng thở dài này tôi chưa từng nghe:
- Ông ấy nói ông ấy kiếm tiền đã quá mệt mỏi. Bây giờ ông ấy đã có tiền. Ông ấy không cần tiền nữa. Ông ấy cần danh.

*
Ba tôi gặp ông bạn của bác tôi ở tiệm phở “Âu”. Lại tiệm phở “Âu”! Nhưng lần này là do ba hẹn. Ba bảo tôi có rảnh thì ra chơi luôn. Nhân buổi sáng là lúc tôi không có giờ làm việc ở McDonald’s nên tôi cũng ra đó. “Ông khách” của ba tôi đến. Ông vui vẻ kéo ghế, định gọi thức ăn thì ba ngăn lại, nói rằng ba đã gọi rồi. Người bồi bàn đem ra một tô phở. Ông khách ngạc nhiên thì ba nói ngay:
- Xin mời anh. Anh cứ tự nhiên dùng. Hai cha con tôi đã ăn sáng rồi ạ!
- Nhưng tôi sẽ trả tiền hết mà!
- Dạ không sao đâu. Xin anh cứ dùng đi!
- Thôi được. Nhưng tôi rất nôn nóng muốn biết chú cần thêm chi tiết gì nữa trước khi khởi sự viết giùm tôi cuốn hồi ký.
- Dạ thưa anh, tôi sẽ không viết đâu ạ!
Đôi mắt ông khách trợn tròn, ông lắp bắp:
- Chú… chú nói sao? Tại sao?
Ba đáp:
- Thưa anh, tôi thấy tôi không hợp với việc này ạ! Xin anh tìm người khác.
- Nhưng chú phải nói cho tôi biết lý do tại sao… Chú chê tiền à?
Ba lắc đầu, thản nhiên nói trong khi đứng dậy:
- Xin lỗi anh, tôi không giải thích được thêm gì nữa đâu!
- Tôi không hiểu…
- Vâng, anh sẽ không hiểu ạ!
- Tôi… tôi…
- Xin anh tự nhiên dùng. Tô này tôi đã trả tiền. Họ sẽ trừ vào tiền lương của tôi. Xin phép anh, tôi đi làm việc.

Ba quay đi và nhận cái “tạp-dề” từ tay người quản lý tiệm phở, đeo vào. Ba nhìn tôi, nhoẻn miệng cười:
- Thế con có muốn ăn phở không? Ba sẽ bưng cho con một tô…
Tôi cười theo:
- Dạ con muốn. Ba sẽ trừ vào tiền lương của ba chứ?
- Đương nhiên.

Thật tình là tôi muốn reo lên như người hâm mộ reo mừng chiến thắng của đội banh mà mình yêu mến. Tôi nén xúc động, ngồi đường hoàng nơi bàn như một thực khách chờ thức ăn. Và ba tôi kìa! Ba đang mang ra cho tôi một tô phở. Bước chân ba hơi khập khiểng một chút. Nhưng đó là những bước chân vững chắc nhất có thể dìu dắt tôi trong suốt cuộc đời này. Bước chân của một người đã gửi lại trong đất một phần thân thể. Người đó không muốn phản bội lại những gì mình đã hoài mộ. Tôi hiểu ra tại sao ba đã không viết trong một thời gian khá lâu, gần ba mươi năm. Bởi vì ba có một cây bút không thể bẻ cong. Ngày xưa cũng vậy, bây giờ cũng vậy. Người thầy giáo của tôi! Người lính của tôi! Ba yêu quý của tôi!

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh




--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

4 Pages: V  1 2 3 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 12th November 2019 - 07:32 AM