IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

13 Pages: V « < 11 12 13  
Reply to this topicStart new topic
> Sưu Tầm Đó Đây (Của Hoa Hạ)
hoaha
post Jul 25 2017, 09:19 PM
Gửi vào: #241


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Triết lư củ khoai
Source: Tràm Cà Mâu Posted on: 2017-07-24

Hạnh phúc của Thằng Bờm
Năm học lớp Đệ Ngũ bậc trung học, tương đương với lớp tám bây giờ, một hôm thằng bạn nhỏ ngồi cạnh tôi th́ thầm :
“Tại sao trong tiểu thuyết, mỗi khi có hai người ôm nhau, th́ tác giả có đề cập đến hạnh phúc ? Hạnh phúc là cái ǵ mầy có biết không?”.
Tôi liền tay dong tay rụt rè hỏi giáo sư đang dạy môn nghị luận luân lư :
“Thưa thầy, hạnh phúc là cái ǵ?”.
Hỏi mà run lắm, v́ lỡ ra hạnh phúc là chuyện bậy bạ, th́ e lảnh phạt đủ .
Thầy liền ra cho cả lớp một bài luận văn, b́nh giải câu : “May thay, ngoài hạnh phúc ra, đời c̣n có cái ǵ khác nữa.” Thầy c̣n ghi chú thêm câu viết bằng nguyên văn tiếng Pháp để học tṛ có thể hiểu rơ hơn. Thầy giảng rằng, hạnh phúc như là cái bóng, mà mọi người trên thế gian nầy đều luôn luôn theo đuổi, cố chạy theo nhưng không bao giờ bắt gặp được cả. Bỡi vậy, cho nên may mắn quá, cuộc đời nầy c̣n có nhiều thứ khác nữa, để bù đắp vào cái thiếu thốn hạnh phúc, mà con người như chẵng bao giờ t́m thấy, không bao giờ nắm được.
Chúng tôi hiểu mập mờ rằng, hạnh phúc là cái ǵ đó xa lắm, là như thứ ảo ảnh, mà con người thế gian ai cũng mơ ước, quay quắt đi t́m, và chẵng bao giờ t́m thấy. Tôi thầm nghĩ, thầy bắt chúng tôi b́nh luận làm chi cái thứ không có và khó khăn , để thêm tốn giấy mực, tốn th́ giờ. Thế là cả đám học tṛ nhi nhô đầu c̣n cắt tóc trọc, đau khổ nhăn nhó, nặn óc b́nh giải về hạnh phúc, cái thứ mà chúng mù mờ, chưa ư thức, chưa hiểu nổi vài ba phần trăm ư nghĩa. Thằng bạn ngồi sau lưng, thụi tôi hai cái đau điếng, để phạt cái tội hỏi thầy câu hỏi cắc cớ, làm cho cả lớp phải nhức đầu. Tôi biết tội, ngồi yên. Tôi cứ yên chí là hạnh phúc không có thật trên đời nầy, và không tội ǵ uổng công t́m kiếm. Dù sách vở, thơ văn, có nói nhiều đến hạnh phúc, tôi e rằng đó là chuyện mơ mộng ao ước hăo huyền, chuyện bánh vẽ của những người chuyên làm thơ văn.
Nhưng khi lớn lên, được đọc kinh Phật, kinh Thánh, và nhiều sách triết lư Âu Á như Khổng, Lảo ,Chu… và luôn cả kinh Koran và kinh đạo Bahai nửa, th́ tôi t́m cho tôi được một triết lư đơn sơ, mộc mạc, là cái món hổ lốn vắt ra từ tinh túy của các triết lư khác. Tôi tạm gọi là “Triết Lư Củ Khoai”. V́ nó đơn sơ như củ khoai, rẻ tiền , mộc mạc, và dễ t́m thấy như củ khoai trong đời nầy. Triết lư đó được đơm gọn lại trong một câu ngắn ngủi : “Nếu chỉ có một củ khoai thôi, th́ hăy nướng nó cho thật thơm mà đớp”. Ư nghĩa của câu đó cũ mèm, h́nh như ai cũng biết, và có nhiều câu nói tương tự . Cái triết lư đơn giản nầy giúp tôi thấy được rằng, hạnh phúc là cái rất cụ thể, rất gần gủi, bất cứ ai, và bất cứ lúc nào, cũng có thể t́m dược hạnh phúc rất dễ dàng. Ai cho rằng hạnh phúc là cái xa vời, th́ v́ họ chưa nắm hết phần tinh túy của các triết lư khác, hoặc chưa từng nghe một phần của triết lư củ khoai. Nhiều sách vở khác cũng có nói đến, nhưng người đọc vô t́nh hoặc cố ư làm ngơ, hoặc biết rất rơ nhưng chẳng bao giờ thực hành.
Năm 1975 tôi mang cái “triết lư củ khoai” vào nhà tù cọng sản. (Không dùng từ này) gạt rằng, đi học tập chính trị trong ṿng một tháng, cho “thông suốt đường lối của cách mạng” rồi về. Nghe dễ quá, nên bà con miền Nam mắc bẩy. Trong tù, ai cũng nôn nóng, chờ “học tập” cho xong, mà về với vợ với con, v́ việc nhà c̣n trăm chuyện lu bu lắm, cả tháng trời ai mà lo cho. Lo nhất là hai ba tuần đă qua rồi, mà chưa thấy bài vở, chưa thấy học tập chi cả. Không lẽ khóa học phải kéo dài thêm vài tuần? Trong tù, ngoài đau khổ v́ thiếu tự do, c̣n bị cái đói hành hạ, cái lạnh cắt da thịt từng đêm và nỗi khó nhọc hàng ngày khi làm lao động tay chân không quen mà t́nh trạng sức khỏe th́ quá suy yếu. C̣n phải đau khổ tinh thần v́ làm đi làm lại bản tự khai tự thú, phải tự bịa đặt tỗi lỗi gán cho ḿnh, để được cái gọi là “thành tâm cải tạo”. Nhưng nỗi mong chờ làm cho đám tù nhân phờ phạc mau hơn các nguyên nhân khác. Một hôm đi lao động bên ngoài ṿng trại , có anh lượm được bản nháp bức thư của một lính cọng sản, trong đó viết cho cha mẹ ngoài Bắc rằng, dạo nầy con canh gác tù rất nhàn nhả, bọn chúng toàn cả cán bộ cao cấp ngụy quyền. Anh tái mặt và đem lá thư về cho vài người bạn xem, có người xem xong phát khóc v́ biết ḿnh đang ở tù chứ không phải học tập chi cả.
Phần tôi, sau một tháng chưa được về, tôi lờ mờ hiểu rằng “có cái ǵ không ổn đây”. Tôi chuẩn bị tinh thần để đón nhận những ǵ không thể tránh được. Một hôm, sau buổi cơm chiều, tôi chỉ ngọn đồi bên kia nói với người bạn tù :
“Cứ xem như đó là nơi chôn chúng ta khi tóc bạc ĺa đời, và xem đây như là nơi chúng ta phải sống trọn đời c̣n lại. Hăy t́m và tạo những niềm vui nhỏ nhoi nhất mà chúng ta có được ở nơi nầy. Ráng t́m vui, buồn bả cũng vô ích, mà c̣n có hại cho sức khỏe.”
Nghe thế, người bạn tù của tôi gần khóc v́ sợ. Tôi đem triết lư củ khoai ra giảng giải.
Về sau, nhiều người bạn tù khác gai mắt bực tức v́ thấy chúng tôi vẫn tỉnh khô, vẫn thản nhiên vui vẻ cười đùa như không phải đang ở tù, như không phải đang cực nhọc, thiếu thốn, đói khát. Mặc dầu sức khỏe của chúng tôi sút kém rất mau, gầy g̣, răng vẫu, mắt sâu. Chúng tôi cứ xem những bữa ăn thiếu thốn kham khổ kia là cao lương mỹ vị, tận hưởng từng miếng nhai nuốt. Khi chúng tôi bắt được con nhái bén nhỏ, ướp chút muối, nướng cho thơm ngậy, tổ chức một bửa tiệc thưởng trăng, xé con nhái làm ba. Ba anh em tù bí mật ăn trong đêm tối bên hè nhà, nh́n trăng chênh chếch, cười với nhau sung sướng và ngâm nhỏ vài đoạn cổ thi. Ngoài những sinh hoạt công khai trong tù, chúng tôi c̣n tổ chức được các buổi văn nghệ bỏ túi, cấp tốc. Ba bốn tù nhân hẹn nhau ở đám cỏ cao bên cầu tiêu, một người canh chừng, mấy người kia hát “nhạc củ” cho nhau nghe đở ghiền, sửa lại lời hát các bản nhạc của cọng sản, dể châm biếm cười chơi. Anh nào làm được bài thơ đắc ư, đem ngâm nga cho bạn tù chia xẻ, thưởng thức. Những khi đi lao dộng khổ sai như cuốc rẫy, khiêng đất, tôi và anh bạn, hai đứa hai đầu gánh nặng, vừa làm việc vừa đánh cờ tướng không bàn: “Pháo hai b́nh năm, mă bảy tấn sáu, mă hai tấn ba, xa một tấn một .vân vân.” Măi suy nghĩ để chuyển quân trong bàn cờ, chúng tôi quên cả nhọc nhằn, cả hôi hám, cả nắng cháy, và quên luôn thời gian . Buổi lao động nhọc nhằn qua đi lúc nào mà không hay .
Chúng tôi chơi cờ không cao, nhưng chơi măi rồi thành quen, không cần bàn, mà vẫn quần nhau từ sáng đến khuya. Cả những đêm học tập chính trị chán ngắt, chúng tôi ngồi như chăm chú lắm, không ai biết chúng tôi đang chơi cờ không bàn, đang dàn trận, bắt quân, dứ, chiếu, đang chống đở cho khỏi bị chiếu bí. Chúng tôi say sưa với tṛ chơi , chấp cán bộ cọng sản nói dai, nói dài, nói dở, nói đến khuya. Chúng tôi c̣n tổ chức các cuộc đua kiến, đấu dế. Bắt dế bỏ vào hộp cho chúng “học tập cải tạo”, cho chúng cắn nhau. Những con ngất ngư sắp chết, chúng tôi thả ra và nói: “Nhờ học tập tốt và thành tâm cải tạo, nhờ ư thức giác ngộ cách mạng cao, và nhờ chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước, nay cho về đoàn tụ với gia đ́nh,” Chúng tôi nháy mắt cười với nhau. Chúng tôi tạo những cuộc giải trí nho nhỏ, những buổi văn nghệ bí mật để quên ngày tháng, và thấy lo buồn tan biến đâu cả.
Phương châm của chúng tôi là “không”, không mong ước, không hy vọng ǵ cả. Không hy vọng th́ khỏi thất vọng. Không mong ước th́ không bồn chồn nôn nao. Khi thấy vài người bạn tù được thả – theo lối làm kiểng của cọng sản – các anh khác buồn tủi, đau đớn thất vọng cho thân phận của ḿnh, th́ chúng tôi vẫn b́nh tỉnh ngồi đánh cờ, chẳng xôn xao, chẳng bàn tán chi cả. Chúng tôi biết, chưa đến phiên ḿnh, th́ có bàn tán xôn xao, đoán ṃ, suy diễn lạc quan hay bi quan, th́ chỉ thêm buồn khổ mà thôi å. Gạt hết ra ngoài tai cho yên ḷng. Chúng tôi tập b́nh thản tâm trí, và luôn t́m cơ hội tận hưởng những thứ hạnh phúc nhỏ nhặt nhất mà chúng tôi có thể có được. Những khi có được một chậu nước nhỏ để tắm, chúng tôi cử hành cái lể tắm, tận hưởng niềm sung sướng khi cảm giác của nước mát chảy trên da thịt, trên ḿnh mẩy, trên tóc tai, và hạnh phúc đến rên lên thành tiếng. Nước tắm trong tù quư như nước cam lồ. Chúng tôi chia cho nhau vài cọng rau hái được, và cảm được sâu xa nỗi hạnh phúc có thêm một miếng ăn trong tù, tận hưởng cái khoái khẩu, an ủi với cái t́nh bạn chân t́nh, v́ ai cũng đói. Đêm đêm trước khi ngủ, tôi nghe nhiều tiếng bạn tù thở dài năo ḷng ngao ngán. Có lẽ họ đang lo cho vợ con bên ngoài, giờ nầy không biết làm sao mà sinh sống, mà tồn tại trong một xă hội đổi thay từ gốc rể. Tôi biết rơ, ở trong tù lo ra cho bên ngoài, ở bên ngoài lo vào cho trong tù .Không có ích chi, cũng không giải quyết được việc ǵ. Không lo cho vợ con bên ngoài, không phải là vô t́nh bạc nghĩa, mà chỉ là không làm cái việc vô ích mà thôi. Để tránh suy nghĩ và lo âu, mỗi khi vào giường, tôi t́m cách giải một bàn cờ thế, hay làm vài ba câu thơ, cũng có khi ôn lại những kỷ niệm đẹp đẻ êm đềm trong quá khứ mà thấy lâng lâng, hoặc ôn lại các chuyện tiếu lâm mà cười một ḿnh trong bóng tối. Nhờ thế mà ngủ thiếp đi rất mau.
Chúng tôi tập coi thường những nhọc nhằn, khó khăn và đau dớn thể xác. Chấp nhận định mệnh khắt khe mà không cần than van. Tinh thần chúng tôi vững mạnh, sáng suốt. Chúng tôi cố gắng ư thức và hưởng thụ những hạnh phúc rất nhỏ từng ngày, từng giờ, từng phút, mà ít người cảm nhận . Triết lư củ khoai đă giúp tôi qua được những tháng ngày tù đày không quá nặng nề, khó chịu từ tinh thần dến vật chất.
Khi ra khỏi tù, sống trong chế độ cọng sản, người người cơ cực, thiếu thốn, sầu thảm, tinh thần bị đe dọa, sinh hoạt bị ḍm ngó, ŕnh ṃ. Trong cái gịng xă hội đó, chúng tôi cùng chung thân phận. Thân phận chúng tôi c̣n bạc bẻo, yếu kém hơn, thứ phó thường dân bên lề “xă hội chủ nghĩa tiên tiến”. Nhưng nhờ triết lư củ khoai, tôi vẫn t́m được hạnh phúc từng ngày. Hạnh phúc của mỗi sáng dậy sớm, pha một chén trà nóng, uống vào ḷng ấm áp, ngâm vài câu thơ, vặn đài phát thanh BBC, VOA nghe nho nhỏ. Để biết biến chuyển quốc tế, tin tức quốc nội mà cọng sản cố t́nh bưng bít, ngăn chặn, che dấu. Hạnh phúc khi trao đổi tin tức quốc tế, quốc nội với bạn bè, bà con và ước đoán t́nh h́nh. Hạnh phúc nhất là cởi trần nằm phơi gió hây hây ngoài công trường, có khi ngủ tới hai ba giờ chiều mới thức dậy. Tôi đem cái triết lư thô sơ đó truyền bá cho vài anh em thân thiết, và khen xă hội cọng sản đă đem đến cho con người sự làm biếng vô cùng tận. Làm biếng cũng là một h́nh thức hạnh phúc nho nhỏ. Thật lạ lùng, nhà nước cho đến cán bộ to nhỏ, miệng ai cũng lớn lối đại ngôn ca ngợi lao động siêng năng cần mẫn, mà tất cả mọi người đều biếng nhác, tà tà. Đúng là cha chung không ai khóc.
Trong xă hội cọng sản, con người không được sống yên ổn, nay chính sách nầy, mai chính sách khác, thay đổi lung tung, chẳng ai hoạch dịnh cho đời sống riêng ḿnh được cả. Chúng tôi vẫn t́m được nhiều hạnh phúc trong châm ngôn “không ước mơ, không hy vọng”. Phải dập tắt mọi ước mơ, mọi hy vọng để mà sống, nghe th́ như vô lư, nhưng thực vậy. Cứ thuận theo gịng khổ đau mà trôi nổi với tinh thần sáng suốt. Không than van, không kể lể, không bi ai. Khi có cơ hội bắt được niềm vui th́ cứ tận hưởng hết ḿnh chút hạnh phúc đang có. Chấp nhận nhưng không buông xuôi cho số mệnh. T́m lối thoát với tinh thần nhẹ nhàng, lạc quan, sáng suốt. Khi leo lên chiếc thuyền nhỏ bé để t́m đường đào thoát ra khỏi ṿng tay cọng sản , chúng tôi cứ tự nghĩ như ḿnh đang đi du lịch. Đề pḥng tối đa, nhưng không quá nhiều lo âu sợ sệt. Cũng có sợ, nhưng sợ ở một mức độ nhẹ nhàng, đến nỗi đôi lúc c̣n cảm thấy thản nhiên và sung sướng, v́ biết ḿnh đang trên con đường đào thoát. Có ǵ mà lo? Nếu bị bắt th́ ở tù lại, mà ở tù lâu th́ t́m cách vượt ngục. Chiếc thuyền nhỏ đi từ bến sông Sài G̣n về miền Tây, ra cửa Ghềnh Hào. Trên đường đi, chúng tôi gặp nhiều trạm kiểm soát bắn súng kêu vào xét hỏi giấy tờ. Thấy chúng tôi vui vẻ, b́nh tỉnh quá, công an cọng sản không ngờ chúng tôi đi vượt biên . Như những kẻ ham chơi, chúng tôi thoát ra được hăi phận quốc tế. Thuyền chết máy giữa biển mênh mông nhiều ngày, nhưng sao trong ḷng chúng tôi vẫn thấy vui, và c̣n cảm ơn Trời Phật đă giúp chúng tôi thoát được bàn tay cọng sản độc ác. Có chết cũng vui, thỏa nguyện. Được chết giữa biển trời tự do. Chúng tôi vẫn kể chuyện tiếu lâm, cười đùa và có khi c̣n cùng nhau ca hát.
Khi may mắn đến được trại tị nạn, thiên hạ ai cũng nóng ḷng, ăn không yên, ở không yên, mong được đi định cư sớm. Họ cứ đưa ra giả thuyết nầy, giả thuyết kia để tự gây nên nỗi lo lắng cho chính họ và cho bà con chung quanh. Lo lắng về một bệnh dịch có thể phát ra, và phái đoàn Liên Hiệp Quốc sẽ không dám dến phỏng vấn. Lo lắng quốc tế thay đổi chính sách tị nạn. Họ lo để mà lo, không có đường lối và phương sách giải quyết các mối lo âu đó.
Tôi bảo họ: “Hăy xem những ngày tháng nầy như đi cắm trại nghỉ hè dài hạn bên bờ biển, cơm nước có Cao Ủy Liên Hiệp Quốc nuôi báo cô, chỉ cần cái xà lỏn thôi là đủ lịch sự như mọi người, cứ vui vẻ nhẫn nại chờ ngày đi dịnh cư” . Không ai nghe lời tôi, ngày ngày họ họp nhau bàn tán, uyên bác suy diển, bày đặt đủ tin đồn để gây cho nhau lo âu thêm, rồi đêm về mất ngủ thở dài thở ngắn. Phần tôi, th́ lên đồi mắc vơng nằm ngủ mơ màng trong gió hiu hiu, thưởng thức tiếng chim ca, nh́n dám mây mỏng lơ lửng bay qua bầu trời xanh, khi nóng th́ nhào xuống biển nô giởn với sóng nước mát dượi, rồi nằm dài trên cát. Chán th́ chơi vài ván cờ tướng, nằm nghe nhạc “chùa” vẵng từ các lều lân cận có máy hát. Buổi chiều về cḥi, ăn một bụng no, uống ly trà, họp bạn bè, kể chuyện tiếu lâm, vui cười vang rân. Đêm nhóm vài cành thông khô đốt lửa ngồi quanh nhắc chuyện Việt Nam, chuyện cổ tích, chuyện vui lạ trong đời mỗi người. Nhiều người ngứa cổ, ca hát, ngâm thơ, cuộc vui kéo dài măi đến khuya như một thời thanh b́nh nào đó ngồi bên lửa trại. Tôi thấy tâm hồn ḿnh nhẹ nhàng thanh thản. Không bận tâm lo âu sinh kế, th́ giờ tự do không ai bó buộc, không có chuyện khẩn cấp phải làm, không ưu tư về tiền bạc, trong túi không có một xu, không bị công an ḍm ngó, đe dọa, khủng bố, và không có bổn phận, trách nhiệm ǵ cả. Thảnh thơi, vui thú. Cuộc đời có lẻ chưa bao giờ có được những ngày tháng thần tiên như vậy. Sẵn đó, mà có mấy ai cảm nhận được ?
Một anh bạn trẻ đă nghe lọt tai cái triết lư củ khoai, đă cùng tôi gọi cái đảo tị nạn là miền đất thần tiên vô ưu. Nhưng với đa số, th́ họ gọi dảo nầy là “Buồn Lo Bi Đát” đọc trại ra từ tên đảo là Pulau Bidong, họ cho là nơi chật chội, thiếu thốn, nóng nực, chờ mong, khổ sở, lo lắng. Tôi khó truyền bá cái triết lư củ khoai ra rộng rải, v́ người nghe sẽ cho tôi là thằng khùng. Không ai tin câu nói của tôi rằng: “Dù có nóng ḷng lo âu đến mấy, cũng không thể đi định cư sớm hơn một phút, mà dù tà tà vô lo đến đâu, cũng không chậm đi định cư hơn nửa giờ.” Tôi xem thời gian tại trại tị nạn như nửa năm đi cắm trại, c̣n sướng hơn là đi cắm trại. Trở về với thiên nhiên, quần xà lỏn, ở trần, đi chân đất, ngủ gốc cây, nằm trên cát biển, không lo âu sinh kế, và trong túi không có một đồng xu, mà cũng chẳng cần tiền bạc làm chi. Tôi chắc chắn trăm phần rằng, tôi là người sung sướng nhất đảo, v́ tôi nh́n thấy được điều sung sướng, tôi cảm nhận được cái hạnh phúc to lớn thực sự tôi đang có. C̣n đa số th́ không thấy, không cảm được.
Tôi đến Mỹ, lang thang đi t́m việc, lội tuyết ngập nửa ống chân, rả cẳng, gió buốt lạnh cắt da thịt. Trong ḷng vẫn vui, vẫn sung sướng, v́ biết ḿnh là kẽ may mắn, đang sống đời tự do. Đa số bà con bạn bè giờ nầy đang khắc khoải sống trong áp bức, xiềng xích gông cùm của cọng sản. Nhiều bạn bè đă ra đi, nhưng không đến, đă chết giữa biển khơi, chết trong rừng sâu, bị bắt bớ tù đày, hành hạ. Biết bao nhiêu triệu kẽ mong được lội bảo tuyết đi t́m việc như tôi mà không được. Tôi may mắn thế nầy, thế th́ sao mà ḷng không rộn ră niềm vui, ca hát cùng gió, cùng tuyết, cùng đất trời trắng phau phau .
Nhờ xông xáo, chỉ hơn mười ngày sau khi đến Mỹ, tôi t́m được một chân phụ bếp trong tiệm ăn Tàu. Làm việc hơn 15 tiếng mỗi ngày, làm không ngơi nghĩ. Cắt rau, gọt khoai, chặt thịt, xẻ cá, lạng tôm, chùi nồi, rửa bát, lau nhà, liền tay liền chân suốt ngày từ sáng sớm cho đến khuya mịt. Di chuyển, nhảy nhót trong cái khu bếp sực nức mùi dầu ăn, tôi nghĩ có lẽ những cao thủ vơ lâm khổ luyện bí kíp chờ ngày xuống núi tranh hùng trong các tiểu thuyết kiếm hiệp, cũng chuyên cần đến thế mà thôi. Trong ḷng tôi cũng tràn ngập vui sướng, hạnh phúc, v́ mới đến miền đất lạ chưa được bao lâu, mà đă tự lập và sinh sống được. Tôi cũng tự phục ḿnh, suốt đời ngồi văn pḥng, mà thích nghi được việc lao động rất dễ dàng . Ông chủ tiệm rất bằng ḷng cái vui vẻ, yêu đời, chăm chỉ của tôi. Một khuya trên đường về, tuyết phủ mênh mông, băng qua công viên tối, tôi trượt chân té ngữa nằm dài . Nh́n lên trời thấy trăng vằng vặc sáng với ngàn sao long lanh. Tôi thấy trời đất đẹp quá, cuộc đời đáng yêu vô cùng, và thân thể khoan khoái v́ cái xương sống được nằm trong thế nghỉ ngơi sau hơn mười mấy giờ lao động tay chân. Bao nhiêu mệt nhọc trong thân thể như chảy loảng tan biến, chạy thấm vào nền tuyết sau lưng. Tôi nằm yên rất lâu ngắm trăng, và ngâm vài câu cổ thi ca ngợi trăng sao. Giá như có ai thấy được cảnh nầy, chắc họ tưởng tôi điên khùng. Cái lần té nầy, làm tôi bong gân, không đi dược, phải nghỉ làm, nhờ đó mà tôi có th́ giờ, t́m ra được một công việc trong nghề cũ.
Khi đi làm việc, đôi khi gặp những cấp chỉ huy dốt nát, hoặc đồng sự kém cỏi mà lương cao hơn ḿnh, tôi không lấy đó làm điều bất măn, thắc mắc như nhiều người khác. V́ công ty th́ của tư nhân, họ muốn thuê ai, giỏi dốt , trả lương cao thấp là quyền của họ. Ḿnh chấp nhận làm việc, th́ rán làm tṛn bổn phận của ḿnh, làm tốt tối đa. Nếu không bằng ḷng với đồng lương, th́ cứ t́m nơi khác khá hơn. Vă lại, đất nước của họ, th́ ưu tiên chút đỉnh dành cho họ là phải. Ḿnh ganh tị th́ hóa ra là kẻ không biết điều . Tổ tiên họ đă đổ xương máu ra khai phá, để bị đâm chết, lột da đầu, bệnh hoạn. Biết bao nhiêu thế hệ đă đóng thuế, xây dựng nên những tiện nghi ngày hôm nay. Ḿnh là kẻ may mắn nhảy xổm vào chia phần. Th́ cũng cứ vui mà hưởng cái phần chưa được hoàn toàn b́nh đẳng đang có.
Qua những cảm nhận, so sánh hàng ngày, tôi dễ dàng t́m được cho ḿnh cái hạnh phúc của tâm hồn yên ổn. Ở sở, tôi gắng tạo cho ḿnh một môi trường vui vẻ, thân thiện, cởi mở. Để cảm thấy tám giờ trong ngày là thời gian dể chịu, vui, hạnh phúc, chứ không phải là thời gian "đi cày" khổ nhọc như nhiều người quan niệm. Ḿnh chấp nhận công việc để được lảnh lương, th́ dể trả lại, ráng sức làm việc. Tập yêu thích công việc, làm việc với tinh thần vui vẻ, dù công việc có lập đi lập lại nhàm chán, th́ cứ nghĩ rằng sướng quá, công việc quen tay, dễ dàng, khỏi phải suy nghĩ nhiều, khỏi phải lo âu sợ làm sai, khỏi phải năn nỉ hỏi ai. Cứ yên tâm mà làm tới. Thế th́ không phải sung sướng hạnh phúc sao ? Biến cái văn pḥng của sở làm, thành một nơi ấm cúng, vui vẻ, yêu thích, th́ đời ḿnh có giá trị, hạnh phúc phong phú hơn nhiều. Những khi gặp khó khăn trắc trở, gặp những thay đổi bất thuận lợi , tôi cứ b́nh tỉnh chấp nhận chuyện không may, và tự bảo rằng, cuộc đời nầy như một chuổi kết hợp giửa cái may mắn và xui xẻo, giửa hạnh phúc và đau khổ , giửa thuận lợi và trắc trở. Th́ cứ từ từ mà giải quyết, sẵn sàng chấp nhận cái kết quả xấu nhất. Thế là yên tâm, và đôi khi cũng nhờ cái yên tâm, mà công việc được thuận buồm xuôi mái hơn.
Sống ở đất nước lạ, ḷng hoài hương làm nhiều người thương nhớ không nguôi, làm đau nhức con tim. Tôi biến t́nh cảm đó thành một thứ an ủi dịu dàng, một thứ hạnh phúc êm đềm khi nhận được thơ nhà, thơ bạn bè. Những giúp đở nho nhỏ cho người cùng khổ bên quê nhà là một thứ an ủi cho những giây phút mệt nhọc khó khăn trong công việc nơi quê người.
Những buổi sáng, khi chuông đồng hồ rền rỉ đánh thức dậy đi làm, nhất là những sáng thứ hai ngày mùa đông rét mướt tối tăm, nhiều người cảm thấy quá mệt nhọc, quá khó chịu, và họ “giả như” hôm nay được nghỉ th́ sướng vô cùng. C̣n tôi, th́ mỗi sáng thức dậy với tràn ngập niềm vui, biết hôm nay ta sống thêm một ngày trong thế giới tự do, hôm nay ta c̣n công ăn việc làm, chưa thất nghiệp. Thế th́ ḷng đă phơi phới, sá chi đông giá lạnh lẻo tối tăm. Con đường đi đến sở, nhạc trong xe dịu dàng rải rắc khắp không gian. Có lần tôi bị thất nghiệp, buổi sáng thức dậy, tận sâu thẳm trong ḷng tôi vẫn lâng lâng niềm hạnh phúc lạ kỳ, với ư nghĩ rằng, nhờ thất nghiệp mà c̣n được ngủ nướng, muộn màng, nằm dă dượi, nh́n nắng ấm dịu dàng len qua song, trải lên chiếu giường. Chốc nửa, sẽ nằm đọc truyện, uống trà, nghe nhạc cổ điển êm dịu. Chiều đi câu bên hồ. Tối nay thức khuya xem phim muộn về đêm, khỏi phải sợ ngủ gục trong sở. Việc chi mà quá lo âu về kinh tế gia đ́nh, khéo co giản nhu cầu theo hoàn cảnh, th́ không việc ǵ phải lo. Vả lại, công việc làm, th́ cửa nầy đóng, cửa kia sẽ mở, đâu đến nỗi chết đói mà sợ.
Nhiều người hỏi tôi sao không mua nhà để được trừ thuế mà cứ sống trong nhà thuê chật chội. Tôi trả lời là tôi đang mua hạnh phúc. Hạnh phúc mua được rẻ hơn tiền đóng thuế. Mua cái nhà khi chưa vững chắc về tài chánh là mua cả khối lo lắng lớn lao vào thân, làm mất đi cái an b́nh quư báu của cuộc sống. Nhiều người, v́ mua nhà, sợ mất việc, cho nên hèn cả con người. Khi tôi đủ sức mua nhà mà không phải lo âu v́ nợ nần, th́ cũng có nhiều bạn bè bà con hỏi, sao dư khả năng để mua những căn nhà lớn hơn, khu sang trọng hơn, mà lại mua căn nhà nhỏ. Tôi nói với họ là tôi không có nhu cầu sang trọng, căn nhà nhỏ cũng đủ cho gia đ́nh tôi trú ngụ yên ấm. Nhà càng lớn, càng phải chăm sóc quét tước, chùi dọn nhiều, sưả chửa nhiều, mất th́ giờ hưởng thụ những thú vui khác của cuộc đời. Lại nợ nần nhiều thêm lo lắng, có hại đến hạnh phúc b́nh thường. Căn nhà nhỏ của chúng tôi, nếu chẳng may cả hai vợ chồng thất nghiệp, cũng chẳng có chút bối rối nào . Có thể, tôi không khôn ngoan trên nhản quan kinh tế, nhưng tôi chắc chắn không sai lầm chút nào trên quan điểm hạnh phúc nhân sinh. Vợ chồng chúng tôi thường nói với nhau, nếu bây giờ có thêm vài triệu đồng tiền mặt, th́ có lẻ đời sống chúng tôi cũng chẳng thay đổi ǵ hơn. Cũng không ăn dược nhiều hơn một miếng, cũng khong ngủ được một lúc hai giường. Thức ăn th́ ḅ, heo, gà, tôm, cua, cá, rau cải, bất cứ thứ nào cũng thừa khả năng mua. Không cần phải giàu lắm mới mua được. Ngồi ăn trong nhà hàng sang trọng đắt tiền, chắc chi ngon miệng hơn ngồi chồm hổm bên góc đường húp riêu.
Vợ tôi thường trách tôi bạn bè quá đông, bạn tốt cũng đông mà bạn xấu cũng đông . Tôi th́ thấy không ai hoàn toàn tốt, mà cũng không ai hoàn toàn xấu. Đă là con người th́ có xấu tốt lẫn lộn. Chơi với bạn th́ chỉ nên nh́n vào cái tốt bạn có, đừng để ư đến cái xấu . Ngay cả bản thân ḿnh, cũng đầy cả nết hư tật xấu mà chưa chừa được. Chắc chắn, cũng không ít người chê bai sau lưng ḿnh, nhạo báng ḿnh, mà ḿnh không biết đó thôi. Nếu họ có chê trách ḿnh, th́ họ cũng đúng phần nào dưới nhản quan của họ. Bởi vậy, tôi thường để vài giờ tự chế diễu ḿnh, ghi lên giấy những lố lăng, những kỳ cục, những khả ố của ḿnh. Để ḿnh thấy rơ mà tha thứ cho cho ḿnh, tha thứ cho người khác dễ dàng hơn.
Thế mà người gần gũi tôi nhất, thân thiết nhất, là vợ tôi, thường chống báng cái triết lư củ khoai nhiều nhất. Nhưng nàng đâu hiểu, những hạnh phúc b́nh thường tràn đầy mà gia đ́nh tôi thực sự có được, cũng nhờ cái triết lư củ khoai ấy. Thường thường ít ai thấy và cảm được những hạnh phúc mà họ đang có , chỉ khi mất đi rồi, mới nhận chân ra, và chép miệng tiếc thương. Nhiều khi vợ tôi làm những điều không phải, nói những lời khinh bạc, tôi không nổi giận la hét làm dữ như những người khác. Tôi thầm bảo, nhiều người đàn bà c̣n tệ hơn vợ ḿnh cả trăm lần, ḿnh phải chấp nhận cái tương đối để vui sống. Và lại, ḿnh có hoàn toàn đâu mà buộc người phối ngẫu của ḿnh phải hoàn toàn. Thế là mọi sự đều qua.
Điều tôi thường hay nghĩ đến là nếu. Nếu tất cả sự thực hôm nay là giấc mộng, sáng mai thức giấc, thấy ḿnh đang c̣n nằm trong nhà tù cọng sản, th́ thật có nhiều điều điều đáng ân hận và tiếc. Và nếu đời là một giấc mơ, th́ sao chúng ta không mơ cho thật đẹp .
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 15 2017, 08:40 AM
Gửi vào: #242


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Kính thưa Quư vị,

Internet có trang web, chuyên phỏng vấn những người nổi tiếng đă chết (Interviews with the Famously Departed). Nhà văn, nhà báo nổi tiếng thế giới, Art Buchwald (1925-2007), tác giả 30 tác phẩm, và hàng ngàn bài viết trên 550 nhật báo, tuần báo, tạp chí trên thế giới, Chủ bút nhật báo New York Herald Tribune ở Paris, từng được trao giải Pulitzer vào năm 1982, cũng là bậc thầy về phỏng vấn giả tưởng. Nhận xét về ông, bỉnh bút James Lein của báo The Minot Daily News đă viết: “Art Buchwald là bậc thầy của những bài phỏng vấn giả tưởng, phơi bầy cốt lơi của vấn đề, hay hơn so với hầu hết những bài phỏng vấn thật” (He was the master of fictional interviews that got to the heart of matters better than most actual news interviews). Noi gương tiền nhân, bài phỏng vấn giả tưởng cô Trần Kim Ngọc dưới đây, do trí tưởng tượng của người viết. Mọi kết luận đúng sai, có lư hay vô lư… hoàn toàn tuỳ thuộc quư độc giả.

Cũng xin thưa, để bảo đảm quyền tự do ngôn luận được cổ vơ và thực thi một cách trọn vẹn và hợp pháp, tất cả bài vở, ư kiến, h́nh ảnh, được SGT đăng tải và phổ biến qua mọi h́nh thức, đều được Công Ty Ledinh Lawyers Pty. Ltd. cố vấn, kiểm duyệt, chấp thuận và hoàn toàn chịu trách nhiệm. Mọi khiếu nại, tranh tụng, vui ḷng coi “Thông Báo Trách Nhiệm Pháp Lư” trên trang web Saigon Times (Tiếng Việt – Tiếng Anh).

Nếu Quư vị nhận được email này hơn một lần, xin thông cảm; nếu phiền ḷng, xin thứ lỗi và email về huunguyen@saigontimes.org.

Trân trọng,

Hữu Nguyên
LOGO CDM ORIGIN.jpg

***********

Phỏng vấn giả tưởng – Trần Kiều Ngọc:







SÀIG̉N TIMES: Thưa cô Trần Kiều Ngọc, trong buổi “Hội Thảo Nhân Quyền Việt Nam” vào tháng 6/2017 tại Canada (xin click vô đây coi video và click vô đây coi transcrip), cô đă tuyên bố: Chuyện chống (Không dùng từ này), đối với thế hệ của cô và các em cô, là chuyện xa vời, không hiểu được. Cô cũng xác nhận, việc của cô làm chỉ là chống cái ác, chứ không phải là chống cộng. Vậy xin cô một lần nữa xác nhận, có đúng cô đă nói như vậy hay không?

TRẦN KIỀU NGỌC: Đúng, con đă nói như vậy. Và con đă nói như vậy nhiều lần, ở nhiều nơi. Chính tại buổi hội thảo hôm đó, con cũng đă nhấn mạnh với mọi người, nếu mà anh chị em nào có thương mến con, mà thường theo dơi những buổi nói chuyện của con, th́ ông bà và anh chị em sẽ nhận thấy cái chuyện chúng con làm chỉ là chống cái ác, chứ không phải chống cộng.

SÀIG̉N TIMES: Nhưng cô phải đồng ư, lịch sử VNCH là lịch sử chống cộng?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con đồng ư!

SÀIG̉N TIMES: Lịch sử QLVNCH cũng là lịch sử chống cộng?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con đồng ư!

SÀIG̉N TIMES: Lịch sử của Người Việt Tỵ Nạn CS, trong đó có ba má của cô, cũng là lịch sử chống cộng trong hiện tại và mai hậu?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con đồng ư!

SÀIG̉N TIMES: Lịch sử của dân tộc VN trong suốt thời gian ngót thế kỷ qua cũng như trong hiện tại và mai hậu cũng là lịch sử chống cộng, đúng không cô?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con đồng ư!

SÀIG̉N TIMES: Và cô cũng phải đồng ư, lịch sử nhân loại trong suốt thế kỷ qua cũng như hiện tại cũng là lịch sử chống cộng?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con hiểu điều đó chứ. Con c̣n biết, hiện tại nhiều nước tuy bang giao với các quốc gia CS, nhưng họ vẫn coi chủ nghĩa CS là hiểm hoạ đối với văn minh của nhân loại. Bằng chứng, đài tưởng niệm tội ác CS mới được dựng tại Hoa Kỳ…

SÀIG̉N TIMES: Và mới đây, chính TT Mỹ Donald Trump đă nói: “Suốt thời gian gần sáu thập niên qua, dân tộc Cuba đă chịu đựng muôn vàn đau khổ dưới sự đô hộ của chủ nghĩa (Không dùng từ này). Cho tới ngày hôm nay, dân tộc Cuba vẫn c̣n bị cai trị bởi chính những kẻ sát nhân đă tàn sát hàng chục ngàn người Cuba” (For nearly six decades, the Cuban people have suffered under communist domination. To this day, Cuba is ruled by the same people who killed tens of thousands of their own citizens).

TRẦN KIỀU NGỌC: Dạ thưa chú, con có nghe và có đọc những lời của TT Mỹ nói, và con hiểu, câu nói đó hoàn toàn đúng đối với (Không dùng từ này) VN hiện nay. Và chẳng cần nghe TT Mỹ nói, ba má và chúng con cũng hiểu: Cho tới ngày hôm nay, dân tộc Việt Nam vẫn c̣n bị cai trị bởi chính những kẻ sát nhân đă tàn sát hàng triệu người Việt Nam”.

SÀIG̉N TIMES: Ủa, nếu có đă hiểu rơ sự nguy hại của chủ nghĩa (Không dùng từ này) như vậy, th́ tại sao cô lại tuyên bố, chỉ chống cái ác mà không chống CS, và chống CS là chuyện xa vời?

TRẦN KIỀU NGỌC: Hiểu là một chuyện, c̣n làm th́ phải cân nhắc lợi hại mà chú. Ba cháu đă nói, “thân bất do kỷ”, nghĩa là nhiều khi ḿnh không làm chủ được chính ḿnh. V́ vậy, có những việc con làm là bị bắt buộc phải làm. Chú cũng biết, người VN ḿnh, già trẻ lớn bé, ai mà chả hiểu tội ác CS. Nhưng thực tâm chống (Không dùng từ này), đâu có mấy người chú. Chẳng nói đâu xa, ngay ở hải ngoại này, hầu hết những người hô hào chống cộng, chỉ là những kẻ dùng b́nh phong chống cộng để moi tiền của đồng bào thôi chú… Bộ chú không mở to mắt ra để tỉnh ngộ thấy rơ chuyện trái khoái vừa diễn ra trong tuần qua sao?… Cháu th́ lúc nào cũng công khai tuyên bố, TUI KHÔNG CHỐNG CỘNG! TUI KHÔING CHỐNG CỘNG! Vậy mà khi cháu tổ chức Hội Nghị để đánh lừa thiên hạ, th́ không biết bao nhiêu người nổi tiếng chống cộng ở hải ngoại, kể cả mấy vị lănh đạo tôn giáo, cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, đều lũ lượt chạy theo đuôi cháu như vịt, tung hô, ca ngợi cháu không tiếc lời… làm cháu vừa buồn, vừa xấu hổ, muốn độn thổ luôn đó chú.

SÀIG̉N TIMES: Nghe cô nói vậy, thiệt tôi cũng buồn và xấu hổ…

TRẦN KIỀU NGỌC: Chú buồn, chú xấu hổ là phải. Trước kia c̣n bảo có thể tha thứ cho họ, v́ họ ngu dại không biết nên theo đuôi mấy thằng dư luận viên VC, mấy thằng VC nằm vùng, chạy theo hoan hô cháu. Đằng này, khi chuyện dối trá, điêu ngoa và bản chất không chống cộng của cháu đă được phơi bầy, ai ai cũng biết, vậy mà họ vẫn c̣n muối mặt chạy theo cháu đến tham dự Đại Hội và hoan hô cháu không chống cộng nữa đó… Chả trách ông Kim Âu ông ấy viết rất đúng…

SÀIG̉N TIMES: Kim Âu Diễn Đàn Chính Nghĩa Việt?

TRẦN KIỀU NGỌC: Dạ, ông ta đó chú…

SÀIG̉N TIMES: Ông ta viết sao?

TRẦN KIỀU NGỌC: Ông ta viết, “Điều quan trọng nhất là những cá nhân, tổ chức chống cộng, kiên quyết tẩy chay không tiếp xúc với thành phần như Trần Kiều Ngọc chẳng hạn. Hăy đuổi nó đi cho đỡ chối tai, gai mắt. Tôi lấy làm lạ tại sao những kẻ tuyên bố, tuyên cáo vỗ ngực chống cộng nhưng lại phủ phục, lót đường cho những tên vô lại như Cù Vũ Nợn, Hải Cụt, Mai Khôi, Trần Kiều Ngọc… để chúng bài tiết vào mặt mà cứ khen nức nở là thơm.Tất cả hăy tự xét lại bản thân một cách nghiêm chỉnh và cùng xác định một phương cách đối xử, đối phó đúng với từng trường hợp để khỏi tự làm nhục bản thân và tổ chức của ḿnh.”

SÀIG̉N TIMES: Đọc những ǵ ông Kim Âu viết, bộ chính cô không thấy nhục nhă, không thấy đáng bị cộng đồng đuổi đi hay sao?

TRẦN KIỀU NGỌC: Chèn đét ơi, nỗi nhục nhă của cháu thấm vào đâu so với nỗi nhục nhă của những người “chống cộng dzỏm” chạy theo đuôi cháu. Chính ba má của cháu cũng nói: “Mầy có tội, đúng! Nhưng tội của những thằng mang danh chống cộng, chạy theo mày, c̣n nặng gấp vạn lần”…

SÀIG̉N TIMES: [thở dài…] Ôi, thật chua chát!!!

TRẦN KIỀU NGỌC: Đúng là chua chát phải không chú? Nhưng… chú đừng có buồn. Chú phải vui mới phải…

SÀIG̉N TIMES: ???

TRẦN KIỀU NGỌC: Cháu nói, chú và cộng đồng phải vui v́ cháu mới phải…

SÀIG̉N TIMES: Trời!… Cô làm những chuyện tai hại tầy đ́nh như vậy mà cô bảo chúng tôi phải vui v́ cô?

TRẦN KIỀU NGỌC: Vậy chú có biết má cháo bảo sao không? Má cháu bảo, cháu có công rất lớn với cộng đồng…

SÀIG̉N TIMES: Cô có công lớn?

TRẦN KIỀU NGỌC: Má cháo bảo, nhờ có cháu, nên người Việt yêu nước khắp thế giới mới có cơ hội, nh́n rơ bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của những kẻ chống cộng dzỏm trong cộng đồng…

SÀIG̉N TIMES: [trầm ngâm…] Hừ… nghĩ kỹ th́ má cô nói có lư…. Nhờ cô, nên mọi người mới biết dưa có ḍi!!! Thiệt đúng là hoàng hôn của những thần tượng!!!

TRẦN KIỀU NGỌC: Chú có biết không, bây giờ, cháu mới thấy thật thấm thía và cảm động, khi đọc bài viết của BS Trần Mộng Lâm…

SÀIG̉N TIMES: Bài ǵ vậy cô?

TRẦN KIỀU NGỌC: “Trị Bệnh (UNG THƯ) Bằng Aspirine”…

SÀIG̉N TIMES: Bài đó chúng tôi có đăng trên web Sàig̣n Times… (Xin click vô đây)

SÀIG̉N TIMES: Dạ, thưa chú, đọc xong bài đó, cháu mới hiểu được lối nguỵ biện, đầu độc thế hệ trẻ và mọi người của BS Hoàng… khi giới thiệu cháu và tổ chức của cháu… chỉ chống cái ác, cái độc tài mà không chống cộng.

TRẦN KIỀU NGỌC: Nguyễn Văn Hoàng ở QLD?

SÀIG̉N TIMES: Dạ, ông ta đó chú. Chú có coi cái video cháu ra mắt tại Brisbane và video Trịnh Du phỏng vấn ông ta không? Nhiều người coi, nói với cháu, cặp mắt trắng dă của ông Hoàng láo liêng liên tục… Ba cháu bảo, những người nói chuyện mà mắt không nh́n thẳng người đối diện, chỉ láo liêng liên tục, là người nguỵ biện, tâm không chính. (C̣n tiếp…)

Hữu Nguyên https://saigontimes.org/

NHỮNG BÀI VIẾT VỀ TRẦN KIỀU NGỌC

Trần Kiều Ngọc Bài 1: TKN & Tṛ Hề Vua Mặc Áo Mới (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 2: VT TKN – Dối Trá, Giấu Đầu, Ḷi Đuôi! (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 3: Dẫu có sai lầm, nhưng xin ĐỪNG PHẢN BỘI! (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 4: Phỏng vấn LS Lê Đ́nh Hồ: TKN toan tính thâm nhập Sàig̣n Times từ lâu! (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 5: TRẦN KIỀU NGỌC thú nhận, “Con chỉ chống cái ác, chứ con không chống cộng! (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 6: TKN công khai thách thức: CON KHÔNG CHỐNG CỘNG! (xin click vô đây)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 19 2017, 05:57 AM
Gửi vào: #243


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ai là Tổng Thống Đầu Tiên Của Hoa Kỳ?
Trần Văn Giang
Nhân dịp kỷ niệm ngày ngày “4 Tháng 7” (4th of July), là ngày tuyên dương Độc Lập Hoa kỳ (Declaration of Independence) – lần đầu tiên vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, tôi hưởn, không có việc ǵ quan trọng phải làm nên đi ṿng ṿng trong sở làm hỏi thử một câu hỏi “Ai là Tổng Thống Đầu Tiên Của Hoa Kỳ?” này với khoảng 10 đồng nghiệp người Mỹ sinh đẻ tại Mỹ th́ tất cả 10 người Mỹ đồng nghiệp đều trả lời là “George Washington!” Tôi chỉ là một dân mít tị nạn cs sống tạm dung trên đất Mỹ mà lại vớ vẩn dám cắc cớ nói là “Không phải như vậy! George Washington không chưa hẳn là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ…” làm họ đều trố mắt ra. Một số lớn đồng nghiệp người Mỹ có vẻ không bằng ḷng, hỏi ngược lại: “Vậy thỉ ai là Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ?” Kể ra cũng có nhiều điều thích thú khi được trả lời câu hỏi ngược này… Dĩ nhiên đây là câu chuyện lịch sử Hoa kỳ hoàn toàn đứng đắn chứ không phải chuyện đùa bỡn cho nên tôi “nói phải có sách; và mách phải có chứng.”
blank
Trong lịch sử lập quốc Hoa kỳ, có một số mốc thời gian cần phải để ư. Hoa kỳ tuyên bố độc lập từ năm 4 tháng 7 năm 1776, nhưng măi đến ngày 30 tháng 4 năm 1789, George Wasington mới nhậm chức Tổng thống Hoa kỳ. Như vậy trong 13 năm dài rằng rặc này (1776-1789) nước Mỹ phải có nhiều người làm Tổng thống rồi chứ; và ai là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ? Câu trả lời là ông John Hanson. Ngay tức th́, tôi nghe thấy thắc mắc là: “Ông Hanson nào vậy ḱa?”

Vâng. Ông John Hanson mới chính là Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ. Nếy không tin th́ xin mời quư vị cứ thử “Googling” hay tra lại “Tự điển bách khoa” cái chủ để “John Hanson” để kiểm chứng lại lời nói của tôi xem sao! Thực ra quư vị sẽ thấy rất ít tài liệu nói về Tổng thống John Hanson. Lịch sử lập quốc Hoa kỳ dường như đă vô t́nh quên mất tên tuổi của ông John Hanson, vị Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ.

Quốc gia Hoa kỳ bắt đầu thành h́nh từ ngày 1 tháng 3 năm 1781 khi “Article of Confederation” (Người viết v́ không quen với các danh từ chuyên môn về luật pháp nên chỉ tạm dịch là “Hiến Chương Liên Minh?” – Liên Minh của 13 Tiểu bang đầu tiên Hoa kỳ) được ban hành. “Hiến chương” này được thảo và đệ tŕnh để phê chuẩn từ ngày 11 tháng 6 năm 1776, nhưng măi đến ngày 2 tháng 2 năm 1781 mới được tất cả 13 Tiểu bang (đầu tiên của Hoa kỳ) kư đồng thuận và được Quốc hội Hoa kỳ phê chuẩn.
.
Danh sách 13 Tiểu bang chấp thuận kư “Hiến Chương Liên Minh” là:
1 Virginia, kư thuận vào ngày December 16, 1777
2 South Carolina, February 5, 1778
3 New York, February 6, 1778
4 Rhode Island, February 9, 1778
5 Connecticut, February 12, 1778
6 Georgia, February 26, 1778
7 New Hampshire, March 4, 1778
8 Pennsylvania, March 5, 1778
9 Massachusetts, March 10, 1778
10 North Carolina, April 5, 1778
11 New Jersey, November 19, 1778
12 Delaware, February 1, 1779
13 Maryland, February 2, 1781
.
Theo Hiến chương này, các quyền sau đây sẽ dành một chính quyền trung ương (liên minh?):

- Tuyên bố chiến tranh.
- Thi hành các thủ tục ngoại giao với các quốc gia ở Âu châu.
- Điều đ́nh các vấn đề tranh chấp lănh thổ, ranh giới với các giống dân bản địa thuộc vùng bắc và Nam Mỹ.
.
Sở dĩ có sự tŕ trệ trong việc kư thuận của các Tiều bang (nhất là Tiểu bang Maryland - kư sau cùng) v́ các Tiểu bang sợ bị mất hết các quyền tự trị…

Sau khi “Hiến Chương Liên Minh” được phê chuẩn, quốc hội vào lúc đó thấy cần có một vai tṛ mới là “Tổng thống” để lănh đạo chính phủ liên minh. Ông John Hanson được quốc hội lập hiến bổ nhiệm làm Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ. Nên biết thêm, Trong chính cái quốc hội bổ nhiệm ông John Hanson làm Tổng thống này có cả George Washington là thành viên (Congressman) và lúc đó không có ai đứng ra tranh chức Tổng thống với ông John Hanson. Chính George Washington đă gởi thư chúc mừng John Hanson như sau:

“Tôi xin chúc mừng Tổng thống đă được bổ nhiệm để nắm một chức vụ quan trọng nhất của quốc gia Hoa kỳ.”
.
Khi làm Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ, John Hanson rất lúng túng v́ vai tṛ của Tổng thống chưa hề được “Hiến chương” định nghĩa cho rơ ràng. Những ǵ ông John Hanson làm trong vai tṛ Tổng thống đầu tiên này đă trở thành những tiền lệ cần thiết cho các vị Tổng thống kế vị sau này.

Ông John Hanson nắm chức vụ ngay sau khi cuộc chiến tranh dành độc lập từ Anh quốc vừa chấm dứt. Ngay lúc đó, quân đội “cách mạng” đ̣i phải được trả lương… Vừa mới dành độc lập xong th́ chính phủ đào đâu ra tiền để trả lương cho quân đội? Các thành viên của quốc hội sợ hăi quá trốn mất biệt hết; để cho Tổng thống John Hanson đứng đơn phương độc mă giải quyết vấn đề lương bổng này. TT John Hanson khéo léo khuyên quân đội hăy kiên nhẫn và sáng suốt v́ t́nh h́nh quốc gia chưa ổn định hoàn toàn; và chính TT John Hanson đă dũng cảm đoàn kết được quốc gia Hoa kỳ trong những ngày đầu tiên rất lủng củng hỗn độn sau khi dành được độc lập.
.
TT John Hanson đă làm được một số việc then chốt như sau:

- Ra lệnh cho tất cả các lực lượng quân sự ngoại quốc c̣n đóng trên đất Mỹ phải lập tức rút ra khỏi đất Mỹ; và cấm treo tất cả các cờ ngoại quốc trên đất Mỹ. Hai vấn đề này rất sôi nổi và căng thẳng, v́ ngay sau khi Kha Luân Bố (Columbus) t́m ra đất Mỹ th́ các quốc qia Âu châu, ít hay nhiều, đều muốn làm chủ một phần lănh thổ phong phú ở Bắc Mỹ… không dễ ǵ mà họ từ bỏ ngay các tham vọng đất đai.

- Thiết lập ra con dấu Tổng thống Hoa kỳ (Great Seal of United States) đóng trên các văn kiện ban hành của Tổng thống Mỹ.

- Lần đầu tiên lập ra Bộ Ngân quỹ Quốc gia (Treasury Department), Bộ Ngoại Giao (Foreign Affairs Department); Bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Chiến tranh (Secretary of War) đầu tiên.

- Chỉ định ngày thứ 28 của tháng 11 là ngày long trọng “Cám Ơn Thượng Đế - Thankgivings of God” của quốc gia Hoa kỳ. Sau này, chỉ c̣n gọi ngắn là ngày “Tạ Ơn – Thankgivings Day.”
.
Nên biết thêm, cái gọi là “Hiến chương Liên Minh” (Articles of Confederation) chỉ cho phép Tổng thống có nhiệm kỳ duy nhất 1 năm. Kể ra trong ṿng 1 năm, John Hanson đă làm khá nhiều chuyện ngoạn mục!

Sau TT John Hanson, theo “Hiến chương Liên Minh” (Articles of Confederation), có thêm tổng cộng bảy (07) Tổng thống nữa được Quốc hội tuyển chọn trước khi George Washington được chọn là Tổng thống Hoa kỳ, Bảy Tổng thống này lần lượt là:

Elias Boudinot (1782-83)
Thomas Mifflin (1783-84)
Richard Henry Lee (1784-85)
John Hancock (1785-86)
Nathan Gorman (1786-87)
Arthur St. Clair (1787-88)
Cyrus Griffin (1788-89)
.
Tại sao trong chúng ta, chẳng có ai nghe nói đến “Tám vị Tổng thống đầu tiên” của Hoa kỳ mà chỉ nghe nói đến “George Washington là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ.” Có chuyện ǵ xảy ra vậy hà?

Chẳng qua là, “Hiến Chương Liên Minh” không có hiệu quả! Các Tiểu bang vẫn c̣n nắm giữ quá nhiều quyền; và hầu như các Tiểu bang rất ít khi hoàn toàn đồng tâm thỏa thuận về một vấn đề ǵ! Kết quả chính quyền liên bang rất yếu không thi hành được việc ǵ ra hồn. Quan tâm này làm cho Quốc hội liên bang thấy rằng “Văn bản pháp lư căn bản” cần phải được viết / soạn lại: Đó là sự ra đời của “Hiến Pháp Hoa Kỳ” (The U.S. Constitution).

Ngày 4 tháng 3 năm 1789, “Hiến Pháp mới của Hoa kỳ,” thay thế chính quyền trung ương trước đây đă ấn định bởi “Hiến Chương Liên Minh” bằng một Chính phủ Liên bang mạnh mẽ hơn có một Tổng thống mạnh / nhiều quyền hạn (Chief Executive / President) và có lập thêm ngành Tư pháp (The Courts); và quan trọng nhất là quyền đánh thuế (taxing powers) của chính phủ Liên Bang…

George Washington được bổ nhiệm ngày 30 tháng 4 năm 1789 là vị Tổng Thống đầu tiên theo “Hiến Pháp Hoa kỳ,” vị Tổng thống có nhiều quyền hạn y như chúng ta thấy quyền hạn của 44 vị Tổng thống Hoa kỳ nối tiếp cho đến ngày hôm nay…

.
Lời cuối

Rơ rang George Washington không phải là Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ. Tính theo thứ tự thời gian, George Washington phải là Tổng thống thứ 9 của Hoa kỳ… George Washington chỉ là Tổng thống (tân thời) đầu tiên theo đúng định nghĩa của Hiến Pháp Hoa kỳ.

Lạ nhỉ? Tôi không thấy có ǵ là lạ cả. Chỉ có rất ít người biết chuyện này mà thôi.
.
_______
Phụ chú:

Qua ngày tháng, có một vài tranh luận cho rằng Tổng thống John Hanson là một người Mỹ gốc da đen. Sở dĩ có sự lầm lẫn này là bởi v́ trong lịch sử Hoa kỳ có hai ông trùng tên John Hanson cùng nổi tiếng, cùng là Thượng nghị sĩ: Một ông da trắng và một ông da đen.

Ông John Hanson da trắng làm Tổng thống sinh ở Mulberry Grove, Maryland ngày 13 tháng 4 năm 1721 và mất ngày 15 tháng 11 năm 1783.

C̣n ông John Hanson da đen, cũng được gọi là “Thượng Nghị Sĩ từ Quận Bassa,” liên quan đến vấn đề Hoa kỳ can dự vào chương tŕnh tái định cư người Mỹ da đen ở Liberia Phi chạu, trong khoảng thời gian 1856-1860. Căn cứ trên mốc thời gian này th́ ông John Hanson da đen không sống ở giai đoạn Hoa kỳ mới dành độc lập, và ông John Hanson da đen không thể nào là Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ được !!!


Trần Văn Giang
Viết ngày lễ Độc lập Hoa kỳ
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 23 2017, 09:11 PM
Gửi vào: #244


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Dương Hoài Linh
ĐẤT NƯỚC NÀY ĐĂ HẾT CỨU.


Không phải bây giờ tôi mới nói câu này mà nói ngay từ ngày đầu đặt chân vào FB. Đến bây giờ quan điểm vẫn không thay đổi. Đó không hề là một nhận định chán năn mà đó là một nhận định dựa trên sự nhận thức sâu sắc về tâm thức dân tộc này.

Một dân tộc chỉ có thể cứu được dù lâm vào hoàn cảnh bi đát đến tận cùng. Nhưng ư chí cầu sinh của họ vẫn c̣n rất mảnh liệt. Cho dù nước ngập ngang đầu, cái chết bủa vây tứ phía họ vẫn có thể chống chọi được khi sự phản kháng nằm trong tiềm thức.

Một dân tộc hết cứu khi sự sợ hăi ngự trị và biện minh cho tất cả mọi ư niệm cầu sinh.

Người ta gọi đó là sự ngụy biện.

Một minh chứng rơ ràng khi trong nước giăng đầy cờ đỏ , ảnh của tên "tội đồ dân tộc", cờ của một đảng chính trị cầm quyền bán nước trong nhiều cuộc đấu tranh.

Ngoài nước th́ các trí thức đi sâu vào mổ xẻ hai chữ "chống cộng" và "chống cái ác".

Thật là buồn cười khi cộng đây không chỉ là ###### mà c̣n là Trung Cộng. Một đất nước đă bị một thế lực ngoại bang xem như là một khu tự trị với 15 văn kiện bán nước. Một đất nước mà sự nô lệ của người dân , sự diệt chủng đă quá rơ ràng như ban ngày thế nhưng tầng lớp trí thức vẫn cứ đắn đo : "Có nên nhằm thẳng quân thù mà bắn hay không ?" Họ giờ đây đang không dám tuyên chiến thẳng thắn với kẻ thù v́ lo ngại rằng sẽ không tập hợp được sức mạnh của một dân tộc từ lâu vốn sống thừa v́ cái đầu chỉ chứa đầy ắp nỗi sợ hăi.

Và thay v́ nêu cao những mục tiêu về quyền con người, nhắm thẳng vào thể chế chính trị độc tài, phi nhân họ lại chọn cách lẩn trốn, nhân rộng đối thủ lên trong những triết lư tôn giáo , triết lư của muôn đời.

Ba năm nữa là đất nước Việt Nam đă chính thức trở thành một Tây Tạng thứ hai. Nhưng giờ đây cả dân tộc ấy vẫn đang loay hoay như đang ở thế kỷ trước. Họ sẵn sàng và có đầy đủ lư do để biện minh cho quan điểm của ḿnh nhưng họ không thể biện minh được một thực tế là giặc cộng đang xâm chiếm và diệt chủng toàn bộ dân tộc Việt Nam.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 30 2017, 12:01 PM
Gửi vào: #245


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Một mặt trận hai kẻ thù
Giặc cộng bán nước, tàu phù xâm lăng.

AI CÓ QUYỀN VIẾT SỬ VIỆT NAM?
vietnamwar1

Từ hậu bán thế kỷ 19 đến nay, có bao nhiêu cuộc chiến, trong đó các bên đă đổ máu, diễn ra trên đất nước Việt Nam?

Câu trả lời tùy thuộc vào người bạn hỏi là ai.
Nếu bạn hỏi một sử gia người Mỹ có thể ông hay bà sẽ trả lời, Chiến tranh Việt Nam (Second Indochina War hay Vietnam War) là cuộc chiến tranh chống CS bành trướng xuống vùng Đông Nam Á bắt đầu từ ngày 1 tháng 11, 1955 khi Nhóm Cố Vấn Quân Sự Hoa Kỳ (U.S. Military Assistance Advisory Group) được thành lập tại Sài G̣n và chấm dứt khi Thượng sĩ Max Beilke, người lính tác chiến cuối cùng bước lên chiếc C-130 tại phi trường Tân Sơn Nhất để về quê anh ở Minnesota ngày 29 tháng 3, 1973.
Đối với các sử gia Mỹ, cuộc xung đột quân sự tại Việt Nam là xung đột giữa Mỹ một bên và (Không dùng từ này) một bên. Việt Nam Cộng Ḥa chỉ là một phần phụ thuộc vào Mỹ.
Nếu bạn hỏi Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng (Không dùng từ này), ông ta sẽ trả lời cuộc chiến “chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để thiết lập chế độ xă hội chủ nghĩa, thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa CS trên toàn lănh thổ Việt Nam chính thức bắt đầu vào tháng Giêng, 1930 tại Cửu Long, Hương Cảng và chấm dứt vào sáng 30 tháng Tư, 1975.”
Đối với Nguyễn Phú Trọng, chính bí thư thứ nhất đảng Lao Động (CS) Lê Duẩn, trong tác phẩm Dưới Lá Cờ Vẻ Vang Của Đảng đă xác định cuộc chiến từ sau 1954 đến 1975 là chiến tranh của đảng (Không dùng từ này). Trong diễn văn đọc tại Sài G̣n đầu tháng 5, 1975 Lê Duẩn khẳng định “Vinh quang này thuộc về đảng Lao Động Việt Nam quang vinh, người tổ chức và lănh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.” Lê Duẩn không che dấu mục đích của đảng (Không dùng từ này) từ khi thành lập vào năm 1930 cho đến nay, tuy khác nhau về chiến lược của mỗi thời kỳ và hoạt động dưới nhiều tên gọi nhưng hoàn toàn nhất quán về tư tưởng và mục đích chính trị: Chiếm Việt Nam bằng bạo lực và cai trị Việt Nam bằng sắt máu.
Tuy nhiên, nếu bạn t́m được cách vào tù để hỏi Trần Huỳnh Duy Thức có thể anh sẽ trả lời khác. Cuộc chiến giành độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam bắt đầu vào ngày 1 tháng 9, 1858, khi quân Pháp dưới quyền Đô Đốc Charles Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng chính thức mở đầu cuộc chiến tranh v́ độc lập tự do và cuộc chiến đó vẫn c̣n đang tiếp diễn cho đến hôm nay.
Người viết tin anh Trần Huỳnh Duy Thức trả lời như thế, bởi v́ trong Con đường Việt Nam, anh khẳng định “sẽ không có sự độc lập nếu không có tự do. Và sẽ không có độc lập dân tộc nếu không có độc lập cá nhân. Điều này là chân lư.”
Đúng vậy, độc lập cá nhân có quan hệ hổ tương và nhân quả với độc lập dân tộc và do đó, cuộc chiến chống Thực Dân Pháp và cuộc đấu tranh chống độc tài CS là một cuộc vận động v́ độc lập, tự chủ, dân chủ, tự do liên tục của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Đó là con đường đầy máu nhuộm, đầy hy sinh nhưng rạng ngời chính nghĩa.
Bộ máy tuyên truyền của đảng CS nhuộm đỏ nhận thức người dân Việt Nam bằng lư luận chỉ có đảng (Không dùng từ này) mới là đảng duy nhất thật sự mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.
Không phải.
Đừng quên rằng, bảy mươi mốt năm trước khi đảng (Không dùng từ này) thành lập năm 1930, con đường chiến đấu v́ độc lập, tự do của toàn dân tộc Việt đă bắt đầu. Bắt đầu với máu của Đô Đốc Lê Đ́nh Lư bị trọng thương ở Đà Nẵng, bằng thanh gươm của Tổng Đốc Vơ Duy Ninh tự sát sau khi thành Gia Định thất thủ, được tiếp tục lót bằng sự hy sinh của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Trương Công Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Phan Đ́nh Phùng, Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đạm, Nguyễn Duy Hiệu, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám và vô số anh hùng dân tộc khác.
Đừng quên rằng, bốn mươi năm trước khi Hồ Chí Minh đặt chân trở lại Việt Nam lần đầu năm 1941, các tư tưởng dân chủ khai phóng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Duy Tân Nhật Bản đă được các nhà cách mạng Phan Châu Trinh, Trần Quư Cáp và các nhà cách mạng của phong trào Duy Tân truyền bá khắp ba miền. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do các nhà tân học miền Bắc như Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ đề xướng được đông đảo đồng bào ủng hộ. Phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu kêu gọi đă thúc giục hàng trăm người Việt yêu nước như Lương Ngọc Quyến, Hoàng Trọng Mậu lên đường sang Nhật theo học tại các trường đại học quân sự Nhật.
Đừng quên rằng, hai mươi năm trước khi đảng (Không dùng từ này) ra đời đă có rất nhiều đảng phái chính trị chống thực dân Pháp được thành lập như Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lănh đạo, đảng Lập Hiến của nhà cách mạng Bùi Quang Chiêu, Thiên Địa Hội của Phan Xích Long, Việt Nam Quốc Dân Đảng do nhà cách mạng Nguyễn Thái Học lănh đạo. Các tổ chức cách mạng đó có khác nhau về phương pháp thực hiện nhưng đều đặt cơ sở trên nền tảng dân tộc và hướng tới một chế độ Cộng ḥa. Hai nhà cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh chỉ khác nhau về đường lối tiến hành cách mạng chứ không khác nhau về mục đích và thể chế chính trị sau khi cách mạng dân tộc thành công. Ngay từ thời điểm đó, hai cụ Phan cũng đă khẳng định chế độ Cộng Ḥa là con đường thời đại và là chế độ mang lại tự do, dân chủ và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam. Cương lĩnh của Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lănh đạo vạch rơ mục tiêu của cách mạng là “đánh đuổi thực dân Pháp giành lại nước Việt Nam độc lập, thành lập Cộng Ḥa Dân Quốc Việt Nam.”
Đừng quên rằng, chín mươi năm trước khi Tạp chí (Không dùng từ này) ra đời 1955, mấy mươi tờ báo đă được phát hành khắp nước như Gia Định Báo (1865) Tiếng Dân (1876), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Đông Dương Tạp Chí (1913), Nam Phong Tạp Chí (1917), An Nam Tạp Chí (1926), Phụ Nữ Tân Văn (1929), Tiểu Thuyết Thứ Bảy (1934) và nhiều báo Pháp Ngữ. Dù khác nhau lập trường chính trị, lề lối điều hành nhưng tất cả đều nhằm thúc đẩy tiến tŕnh khai dân trí tại Việt Nam.
Đừng quên rằng, năm 1945, theo tài liệu chính thức của đảng (Không dùng từ này), tổng số đảng viên CS chỉ vào khoảng năm ngàn người trong khi con số người Việt yêu nước bị tù đày trên Côn Đảo qua nhiều thời kỳ, đă lên đến hai trăm ngàn người. Điều đó cho thấy, dù số lượng đảng viên CS có tăng dần, đại đa số những thế hệ Việt Nam chống Pháp là những người không (Không dùng từ này). Bức ảnh bi thương ba chiếc đầu Đặng Đ́nh Nhân, Nguyễn Trị B́nh và Nguyễn Văn Cốc đựng trong rọ sau khi bị chém ngày 8 tháng 7 năm 1908 trong vụ Hà Thành Đầu Độc là một trong vô số bằng chứng hùng hồn truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Nhưng tại sao CS thắng?
CS thắng chỉ v́ họ không từ chối bất cứ một thủ đoạn nào dù bất nhân đến bao nhiêu, không hề tính toán cân nhắc phải chết hay phải giết chết bao nhiêu người, miễn là đạt mục đích CS hóa Việt Nam. Song song đó, đảng CS áp dụng một chính sách tuyên truyền tẩy năo, lợi dụng ḷng yêu nước, bưng bít thông tin một cách tinh vi và tàn nhẫn nhất trong lịch sử loài người.
Một trong những ông tổ tuyên truyền thời hiện đại là Joseph Goebbels cũng đă phải bái phục bộ máy giết người và hệ thống tuyên truyền CS. Trong diễn văn khá dài đọc trước đại hội đảng Quốc Xă vào tháng Chín, 1935, Joseph Goebbels phân tích chủ trương tuyên truyền CS “bắt đầu với nguyên tắc cứu cánh biện minh cho phương tiện”, và tố cáo đó là “sự giả dối và vu khống, khủng bố con người và quần chúng, trộm cắp và đốt phá, đ́nh công, phá hoại, gián điệp…” Tuyên truyền CS, theo Goebbels nhằm “ám sát cá nhân, ám sát con tin, giết người tập thể là các phương pháp được CS ưa thích để loại bỏ đối kháng…” Joseph Goebbels nghiên cứu và tố cáo chính sách tuyên truyền tẩy năo, trấn áp, khủng bố CS nhưng trong thực tế y đă áp dụng hầu hết các biện pháp CS với một mức độ dă man không kém.
Các đảng phái quốc gia Việt Nam không làm được điều đó. Họ nhân ái quá. Họ Việt Nam tính quá. Chính v́ ḷng nhân ái và Việt Nam tính đó mà phần đông những nhà cách mạng độc lập và dân chủ đă chết, không chỉ dưới máy chém thực dân mà c̣n do CS thủ tiêu như Đức Huỳnh Giáo Chủ, Trương Tử Anh, Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp v.v..
Và hôm nay, một trăm năm mươi chín năm từ buổi sáng ngày 1 tháng 9, 1858 ở Đà Nẵng những Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga v.v.. lại tiếp tục con đường Phạm Hồng Thái, Lương Ngọc Quyến, Tôn Thất Thiệp đă đi, để viết nên trang sử độc lập tự do cho mỗi người Việt Nam và cho dân tộc Việt Nam.
Không ai có quyền viết sử Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách độc tài CS. Con đường có thể c̣n xa nhưng là con đường chính sử. Chuyến xe có thể phải chậm v́ chạy bằng máu của chính ḿnh nhưng là chuyến xe tự chủ, không nô lệ cho bất cứ một ngoại bang nào.
Trần Trung Đạo
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 13 2017, 09:21 AM
Gửi vào: #246


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Giải phóng để làm ǵ ???
Ku Búa

Ngày 30 tháng 4 sắp tới. Nhà nhà người người suy nghĩ nên đi đâu hay làm ǵ trong mấy ngày lễ này. Tôi không biết các bạn ở miền Bắc thế nào chứ ở trong Nam mọi người đều đau khổ và nguyền rủa cái ngày này. Tôi rất thấy làm lạ với cái thuật ngữ “giải phóng.” Giải phóng? Giải phóng ai, giải phóng khỏi cái ǵ ? Ai giải phóng ai ?

1. Giải phóng để làm ǵ khi đất nước tôi phải trải qua một cơn đói chưa từng có trong lịch sử.
2. Giải phóng để làm ǵ khi hàng triệu gia đ́nh bị tan nát và phá hoại.
3. Giải phóng để làm ǵ khi hàng trăm ngàn người lính vô tội phải đi tù.
4. Giải phóng để làm ǵ khi tài sản người dân tích lũy mấy đời mới có, bỗng nhiên bị cướp sạch.
5. Giải phóng để làm ǵ khi hàng triệu người phải bất chấp mạng sống để trốn chạy khỏi đất nước trên những con thuyền nhỏ bé; và hàng trăm ngàn người phải nhận đáy biển là mộ chí của ḿnh.
6. Giải phóng để làm ǵ khi dân tôi phải ăn bo bo và khoai ḿ để khỏi phải đói.
7. Giải phóng để làm ǵ khi người Việt Nam đi đâu cũng bị khinh thường và soi mói.
8. Giải phóng để làm ǵ khi cuộc chiến đă chấm dứt 42 năm rồi nhưng dân tộc vẫn bị chia rẽ.
9. Giải phóng để làm ǵ khi hàng trăm ngàn người lại đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc hay đi bán thân ḿnh dưới danh nghĩa “xuất khẩu lao động.”
10. Giải phóng để làm ǵ khi sau 11 năm thảm họa, đất nước phải bắt đầu trở lại dưới danh nghĩa “Đổi Mới.”
11. Giải phóng để làm ǵ khi cái lư tưởng của cuộc chiến chưa bao giờ thành công, cuối cùng th́ phải áp dựng lư tưởng của chế độ cũ để phát triển đất nước.
12. Giải phóng để làm ǵ khi du học sinh đi du học không muốn về và kiều bào th́ không muốn giữ quốc tịch.
13. Giải phóng để làm ǵ khi đi đâu cũng thấy người bán vé số và ăn xin.
14. Giải phóng để làm ǵ khi ngày nào cũng có dân oan than khóc v́ bị cướp đất hoặc đền bù với giá rẻ mạt.
15. Giải phóng để làm ǵ khi chính con cháu của những quân giải phóng lại muốn từ bỏ đất nước, vậy cái lư tưởng chiến đấu ngày xưa có nghĩa ǵ?
16. Giải phóng để làm ǵ khi chính những thành viên chính trị cũng đang chạy hồ sơ để mua quốc tịch nước ngoài.
17. Giải phóng để làm ǵ khi bây giờ công lư chỉ là diễn viên hài và luật pháp có thể được mua chuộc bởi đồng tiền.
18. Giải phóng để làm ǵ khi bây giờ lại kêu gọi các công ty tập đoàn nước ngoài vào nước đầu tư. Chứ không phải ngày xưa đă đánh đuổi họ đi sao?
19. Giải phóng để làm ǵ khi người Việt Nam chỉ coi đất nước là cái nhà trọ.
20. Giải phóng để làm ǵ khi gái Việt Nam bây giờ hám ngoại, dân th́ sính ngoại, cái ǵ thuộc về “Tây” cũng được sùng bái ở đất nước này.
21. Giải phóng để làm ǵ khi nhà nhà cho con em đi học tiếng Anh, trường quốc tế th́ nở rộ như nấm.
22. Giải phóng để làm ǵ khi giới trẻ chẳng quan tâm tới đất nước và bị ngu đần bởi hệ thống giáo dục.
23. Giải phóng để làm ǵ khi bây giờ người Bắc Nam vẫn c̣n chửi nhau là “Bắc Kỳ-Nam Kỳ.”
24. Giải phóng để làm ǵ khi bây giờ người dân phải ăn đồ hóa chất, ngửi không khí độc hại.
25. Giải phóng để làm ǵ khi đất nước này ngày càng bị ảnh hưởng và lệ thuộc ngoại bang?
26. Giải phóng để làm ǵ khi người dân không có tự do và công bằng.
27. Giải phóng để làm ǵ khi chính những chiến sĩ ngày xưa hy sinh tuổi xuân để giải phóng bây giờ chẳng được ǵ ngoài tấm bằng khen.
28. Giải phóng để làm ǵ khi người dân Việt Nam chỉ là công dân hạng hai trên chính đất nước của ḿnh.
29. Giải phóng để làm ǵ khi đất nước Việt Nam này lại thuộc về người khác mà không thuộc về người dân.
30. Và giải phóng để làm ǵ để bây giờ chẳng ai c̣n tin hay tự hào về cái gọi là giải phóng cả.

Như vậy th́ giải phóng để làm ǵ? V́ lư tưởng? Không thể nào. V́ tự do? Càng không thể. V́ dân tộc? Thật vô lư. V́ độc lập? Càng vô lư nữa. Giải phóng để làm ǵ để bây giờ đất nước Việt Nam ngày đang vỡ nát. Tôi chẳng thấy một điều thiết thực nào đến từ cái gọi là giải phóng cả. Vậy ai giải phóng ai và giải phóng để làm ǵ?

Ku Búa @ Cafe Ku Búa


Giải phóng để Việt Nam trở thành Trung cộng, nghĩa là Việt Nam mạnh nhất thế giới và biết nói tiếng Phổ thông quên mẹ nó tiếng VN, chứ để làm ǵ . Biết mà c̣n hỏi.!!!!!!!!!!!!!!!!!


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Oct 13 2017, 09:25 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 14 2017, 01:50 AM
Gửi vào: #247


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Những thiên tài không bằng cấp
Họ là những nhà khoa học, nhà văn, nhà chính trị lỗi lạc trong lịch sử nhân loại. Dù không có điều kiện để theo học bất cứ chương tŕnh đào tạo chính quy nào, nhưng bằng niềm đam mê, sự ham học, và ư chí nỗ lực không mệt mỏi của bản thân, họ đă vươn lên và toả sáng như những v́ tinh tú trên bầu trời lịch sử của nhân loại...

Huyền thoại “thiên tài không bằng cấp”

1. Frederick Douglass
Frederick Douglass

Một trong những tấm gương tự học nổi tiếng trong lịch sử là Frederick Douglass. Ông sinh năm 1818 trong một gia đ́nh nô lệ ở Maryland. Khi c̣n là một đứa trẻ ông đă tự mày ṃ học chữ khi gia đ́nh ông đang sống ở Baltimore, kể từ đó ông luôn tự t́m cơ hội trau dồi thêm kiến thức bằng cách đọc thật nhiều.

Vào năm 20 tuổi, ông thoát khỏi chế độ nô lệ và định cư ở Massachusetts. Tại đây ông vẫn tiếp tục con đường tự học, tự đào tạo và sau đó ông trở thành một trong những nhà văn, một người theo chủ nghĩa băi nô có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ.

2. Ando Tada
Ando Tada

Ando Tada là một kiến trúc sư nổi tiếng người Nhật dù ông chưa hề qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào. Ông đă từng kiếm sống bằng nghề tài xế, làm một vơ sĩ quyền Anh, và là một thợ mộc trước khi tự học để trở thành một kiến trúc sư. Ông đă từng một ḿnh thực hiện một chuyến đi từ Đông sang Tây để tự quan sát và học hỏi về nghệ thuật kiến trúc bằng cách đến thăm những công tŕnh nổi bật trên thế giới. Năm 1969, ông thành lập hăng kiến trúc Ando Tadao.

Công tŕnh nhà lô ở Sumiyoshi (Azuma House), hoàn thành năm 1972 là công tŕnh đầu tiên bộc lộ những đặc điểm kiến trúc của ông. Năm 1995, Ando được nhận giải thưởng Pritzker và 100.000 đô la Mỹ. Ông đă tặng số tiền đó cho những trẻ em mồ côi trong cuộc động đất Hanshin.

3. Janes Goodall
Janes Goodall

Tiến sĩ Janes Goodall, một trong những nhà hoạt động bảo vệ môi trường nổi tiếng thế giới, đồng thời là sứ giả hoà b́nh của Liên hiệp quốc, là một nhà nghiên cứu nổi tiếng người Anh trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dă. Năm 1960, khi ngoài 20 tuổi, bà đă đến Kenya, châu Phi để nghiên cứu về tập tính và đời sống của loài tinh tinh. Bà đă có 40 năm sống và làm việc ở châu Phi và những nghiên cứu của bà được nhiều người đánh giá là "đă ảnh hưởng đến toàn thế giới nói chung và thế giới động vật nói riêng". Điều thú vị về bà là phần lớn những công tŕnh nghiên cứu khoa học quan trọng của bà được thực hiện khi bà chưa qua một trường lớp đào tạo nào.

TS Janes Goodall đă được trao tặng nhiều danh hiệu cao quư và giải thưởng về bảo tồn động vật hoang dă; Đại sứ hoà b́nh của Liên hợp quốc năm 2002; Huy chương Benjamin Franklin v́ sự nghiệp khoa học năm 2003. Bà c̣n được biết đến với tên gọi "người phụ nữ của tinh tinh".

4. Michael Faraday
Michael Faraday

Michael Faraday là một nhà Hóa Học và Vật Lư người Anh đă có công đóng góp cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa. Là con thứ ba trong một gia đ́nh nghèo có bốn người con, cậu bé Faraday chỉ có được những kiến thức cơ bản nhất từ nhà trường, nhưng bù lại cậu là một đứa trẻ ham học và đă nổ lực tự học không mệt mỏi.

Năm 14 tuổi Faraday học việc ở một cửa hiệu sách, và trong suốt 7 năm học việc, ông đă đọc được rất nhiều sách, trong đó có sách của Isaac Watts, quyển mở mang trí tuệ, ông say mê tiến hành các nguyên lư và quan điểm trong quyển sách. Từ đó ông đă biểu lộ niềm đam mê khoa học, nhất là trong lĩnh vực điện năng.

Mặc dù Faraday được đào tạo ở trường rất ít và biết ít về toán cao cấp, nhưng ông là một trong những nhà khoa học có uy tín trong lịch sử khoa học. Ông là vị giáo sư hóa học đầu tiên và lỗi lạc nhất của Viện Hoàng Gia Anh Quốc, và đă giữ vị trí này trong suốt cuộc đời.



5. Hai anh em nhà Wright
Hai anh em nhà Wright, Orville và Wilbur Wright, là những người đầu tiên thử nghiệm thành công làm cho máy bay bay được. Chuyến bay đấu tiên trong lịch sử nhân loại được thực hiện vào ngày 17/12/1903 tại đồi Kill Devil, Kitty Hawk, bang Bắc Carolina, Mỹ. Mỗi anh em thực hiện hai chuyến bay vào ngày hôm đó. Lần bay đầu tiên, do Orville thực hiện kéo dài 12 giây và bay được khoảng 36.5mét (120 ft).

Lần bay cuối cùng, do Wilbur thực hiện kéo dài 59 giây và đi được 296 mét. Chiếc máy bay lúc đó được gọi là Flyer I. Nó có sải cánh khoảng 12 mét và nặng khoảng hơn 300kg, với động cơ xăng 12 mă lực. Hiện nay nó đang được đặt tại Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ tại Washington, D. C..

Điều đặc biệt là cả hai người đều chưa từng học qua trường đào tạo kỹ sư hay nhận được bất cứ bằng cấp chuyên môn nào. Thành công của họ đến từ niềm đam mê khoa học kỹ thuật cộng với nỗ lực t́m ṭi học hỏi không ngừng. Thiên tài của hai anh em nhà Wright đă biến giấc mơ từ ngàn xưa của loài người thành sự thật.



6. Srinivasa Ramanujan
Srinivasa Ramanujan là nhà toán học huyền thoại người Ấn Độ, nổi tiếng là người dù không được đào tạo bài bản về toán học lư thuyết nhưng đă có nhiều đóng góp quan trọng cho nhiều ngành toán học như giải tích, lư thuyết số, dăy vô hạn. Ông sinh ra và lớn lên tại Erode, Tamil Nadu, Ấn Độ và làm quen với toán học từ năm lên 10 tuổi.

Ông bộc lộ năng khiếu đặc biệt về toán khi được tặng một quyển sách lượng giác cao cấp của S L Loney. Năm 13 tuổi ông đă thành thục quyển sách này và bắt đầu t́m cách tự phát minh ra các định lư toán học. Năm 17 tuổi ông tự nghiên cứu về số Bernoulli và hằng số Euler-Mascheroni.

Trong quăng đời ngắn ngủi của ḿnh (1887-1920), Ramanujan đă độc lập công bố gần 3.900 kết quả nghiên cứu phần lớn thuộc lĩnh vực phương tŕnh và đồng nhất thức, mà ngày nay hầu hết đă được công nhận là chính xác. Tạp chí Ramanujan ra đời để công bố các nghiên cứu toán học có ảnh hưởng từ các công tŕnh của ông.



7. Mark Twain

Mark Twain, một tên tuổi lớn trong nền văn học Mỹ, tên thật là Samuel Langhorne Clemens. Gia cảnh của ông khá chật vật và túng thiếu; năm 12 tuổi, sau khi cha qua đời v́ căn bệnh viêm phổi, Mark Twain phải kiếm sống bằng nghề sắp chữ. Có thời gian ông phải bỏ học, theo nghề lái tàu để kiếm sống.

Sau đó, ông tiếp tục tự học ở các thư viện công cộng tại những thành phố mà ông sinh sống và bắt đầu dấn thân vào công việc của một nhà báo. Những cuộc hành tŕnh lênh đênh trên miền sông nước trước đó đă trở thành cảm hứng thôi thúc ông viết nên những kiệt tác như Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Cuộc sống trên sông Mississippi…

8. Steven Paul Jobs
Steven Paul Jobs

Steven Paul Jobs là một tỷ phú, là ông trùm kinh doanh và sáng chế người Mỹ. Ông là đồng sáng lập viên, chủ tịch, và cựu tổng giám đốc điều hành của hăng máy tính Apple; ông cũng từng là tổng giám đốc điều hành của xưởng phim hoạt h́nh Pixar (hăng sở hữu nhiều giải oscar cho phim hoạt h́nh hay nhất như Đi t́m Nemo, Gia đ́nh siêu nhân, Chú chuột đầu bếp, WALL-E, Up và Câu chuyện đồ chơi 3; sau đó ông trở thành thành viên trong ban giám đốc của công ty Walt Disney sau khi Disney mua lại Pixar.

Jobs sinh ra tại thành phố San Francisco, bang California, là con nuôi của Paul và Clara Jobs. Ông theo học trường trung học Cupertino và Homestead tại thành phố Cupertino, bang California. Năm 1972, Jobs tốt nghiệp trung học và đăng kí vào học tại cao đẳng Reed College ở Portland, bang Oregon, nhưng bị đuổi chỉ sau 1 học kỳ.

Mặc dù vậy ông vẫn tiếp tục dự thính các lớp học tại Reed, trong đó có một lớp học viết chữ đẹp. Trong thời gian “học ké” đó, ông phải ngủ dưới sàn nhà của những người bạn, đổi lon nước ngọt để lấy tiền ăn và nhận các suất ăn miễn phí mỗi tuần tại đền Hare Krishna. Sau này Jobs bày tỏ rằng: "Nếu tôi chưa từng tham dự những khoá học lẻ đó tại trường, Mac sẽ không bao giờ có có nhiều kiểu chữ hay phông chữ cách nhau tỉ lệ cân xứng như vậy".

9. A braham Lincoln


Là vị Tổng thống thứ 16 trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông sinh ra trong một gia đ́nh nghèo khổ, cha mẹ ông là những nông dân mù chữ. Ông không có điều kiện đi học chính thức. Thời gian theo học thực sự của ông có lẽ chỉ kéo dài 18 tháng do các giáo viên không chuyên nghiệp dạy. Kiến thức của ông chủ yếu có được từ việc tự học qua việc đọc mọi cuốn sách có thể mượn được, từ Kinh Thánh, đến các sách tiếu sử, và sách văn chương.

Ông thông thạo Kinh thánh, các tác phẩm của William Shakespeare, lịch sử Anh và lịch sử Mỹ, ngoài ra ông c̣n học được phong cách tŕnh bày giản dị trước thính giả. Ông dành nhiều thời gian đọc sách đến nỗi những người hàng xóm cho rằng ông cố t́nh làm vậy để khỏi phải làm những công việc chân tay nặng nhọc.

Lincoln nổi tiếng nhất với vai tṛ ǵn giữ Hợp chủng quốc và chấm dứt chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn Giải phóng và Sửa đổi thứ mười ba của Hiến pháp Hoa Kỳ về việc bác bỏ̉ chế độ nô lệ.

10. Henry Ford
Những thiên tài không bằng cấp

Nếu con bạn luôn t́m cách đối phó với việc học mà thay vào đó là ngồi lỳ lau chùi chiếc xe máy th́ đừng vội buồn. Biết đâu bé sẽ có thể trở thành Henry Ford của Việt Nam.

Henry Ford ngày nhỏ cũng lười học và say mê sửa chữa đồ cũ, hỏng. Máy móc có sức quyến rũ với ông một cách kỳ dị. Năm ông mười hai tuổi, ông đă bắt chước chế tạo được một máy nhỏ chạy bằng hơi nước. Năm hai mươi tám tuổi, khi là một công nhân điện ông quyết tâm theo đuổi chinh phục phát minh máy nổ của người Đức.

Thành công đă tới với người kiên tŕ bền bỉ, 5 năm sau chiếc xe hơi đầu tiên của thế giới chào đời. Tuy nó cao lồng cồng, không mui, không thắng và chạy dật lùi được, tốc độ tối đa 30 km/giờ.

Vài năm sau ông thành lập Công ty xe hơi Detroit rồi Công ty xe hơi Cadillac. Tuy không được học hành bài bản nhưng Henrry có đầu óc lănh đạo tuyệt vời. Bên cạnh việc những mẫu xe hơi liên tục được cải tiến nâng cao chất lượng và mẫu mă với nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, Henrry có chiến lược phát triển hoàn hảo.

Năm 1906 ông sản xuất được 8.400 chiếc xe; bốn năm sau, con số đó tăng lên 34.000; một năm sau nữa, nó tăng lên 78.000; và tới năm 1927 th́ mỗi ngày ông sản xuất được 7.000 chiếc xe, tính ra cứ 7 giây đồng hồ, có một chiếc xe hơi ở trong xưởng ông từ từ chạy ra để được gửi đi khắp thế giới.

11. Soichiro Honda
Những thiên tài không bằng cấp

Năm 1980, Soichiro Honda đă được tạp chí uy tín “People” vinh danh là “người đặc biệt nhất của năm”, c̣n thế hệ nay coi ông như một “huyền thoại Henry Ford của Nhật Bản”.

Từ tuổi thơ khốn khó đến địa vị Chủ tịch tập đoàn Honda hùng mạnh, chuyện nghề, chuyện đời của Soichiro Honda đă trở thành huyền thoại “thiên tài không bằng cấp”.

Khi mới 2 tuổi, cậu bé Soichiro đă bị thu hút và thích mày ṃ chiếc cối xay gió. Lớn thêm chút nữa, cậu tự “chế tạo” chiếc máy bay đồ chơi bằng tre có gắn “động cơ” làm bằng dây cao su. Cậu suốt ngày lấm lem mặt mũi do hay giúp đỡ cha ḿnh trong xưởng đến mức bạn bè đặt cho cậu biệt danh “chú chồn nhọ mũi”.

“Chú chồn nhọ mũi” không ham thích học hành, chỉ quan tâm đến những môn kỹ thuật và bảng điểm của cậu dở tệ. Năm 15 tuổi, Soichiro Honda bỏ học để lên Tokyo học nghề tại xưởng cơ khí ôtô Shokai, thắp lửa niềm đam mê cùng tốc độ măi cho tới sau này.

Bốn năm sau, Honda đă mở xưởng sản xuất của riêng ḿnh. Chỉ sau một thời gian ngắn, xưởng sản xuất “doanh nghiệp một thành viên” cho ra đời xe đạp gắn động cơ. Ngay lập tức, Sản phẩm len lỏi khắp các ngơ ngách ở Nhật Bản.

Từ đây, Honda Technical Research Institute của ông đă thành công và không ngừng phát triển. Đến năm 1948, Công ty Honda Motor Co. Ltd được thành lập và trở thành một tập đoàn số 1 thế giới về sản xuất xe máy, top 10 sản xuất ô tô.

12. Bill Gates
Những thiên tài không bằng cấp

Tại khuôn viên trường Harvard mang tên "Harvard Crimson" có một tấm biển ghi“Bill Gates là người bỏ học thành công nhất của Harvard", trong khi phần c̣n lại của thế giới vẫn gọi ông là "người đàn ông giàu nhất thế giới" trong hơn một thập kỷ qua. Bây giờ, mặc dù không giữ vị trí dẫn đầu, ông vẫn c̣n trong danh sách những người giàu có của thế giới.

Gates nhập học tại Harvard vào mùa thu năm 1973. Hai năm sau, ông ta đă bỏ học để thành lập công ty Microsoft với người bạn Paul Allen. Sau khi thành danh, Bill Gate mới quay trở lại trường để tiếp tục sự nghiệp học hành. Và trong năm 2007, cuối cùng ông cũng nhận được học vị Tiến sĩ danh dự từ trường cũ của ḿnh.

Khi được mời phát biểu tại buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên Havard, Bill Gates nói: "Tôi là một ví dụ xấu. Đó là lư do tại sao tôi được mời tới đây để nói chuyện tốt nghiệp của bạn.. Nếu gặp tôi trước khi nhập học, có thể số lượng sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp có mặt ở đây sẽ ít hơn nhiều.”

13. Frank Lloyd Wright
Những thiên tài không bằng cấp

Theo kiến trúc sư nổi tiếng nhất của Mỹ, Wright đă dành nhiều thời gian hơn vào việc thiết kế các trường cao đẳng, đại học hơn là tham dự các lớp học trong đó. Sau khi dành một năm học tại Đại học Wisconsin-Madison, ông bỏ học để đến Chicago và trở thành một người học việc của Louis Sullivan, "cha đẻ của chủ nghĩa hiện đại".

Trong sự nghiệp thiết kế và sáng tạo không ngừng nghỉ của ḿnh, Wright đă tạo ra hơn 500 công tŕnh kiến trúc kỳ vĩ, nổi tiếng nhất trong số đó là Fallingwater và New York City của Solomon R. Guggenheim Museum.

14. Buckminster Fuller
Những thiên tài không bằng cấp

Bị trục xuất khỏi Harvard hai lần, kiến trúc sư đồng thời là nhà phát minh vĩ đại người Mỹ Buckminster Fuller đă phải trải qua rất nhiều thăng trầm, biến cố. Một số ư tưởng kinh doanh ban đầu thất bại và trải qua nỗi đau đớn của việc mất đi cô con gái đầu ḷng, ông tưởng chừng như không thể gượng dậy.

Tuy nhiên, ở tuổi 32, cuộc sống của Fuller bắt đầu thay đổi. Những ư tưởng sáng tạo của ông như các thiết bị ghép năng động áp dụng cho nhà ở và cả xe ôtô nhận được sự hưởng ứng nhiệt t́nh từ công chúng. Đặc biệt là kết cấu xây ṿm h́nh tượng của ông đă đưa tên tuổi của ông lên tầm cao mới và được quốc tế công nhận.

15. Mark Zuckerberg
Những thiên tài không bằng cấp

Bỏ học ở Harvard, Mark Zuckerberg phát triển Facebook trong kư túc xá trường ḿnh. Bây giờ Facebook đă trở thành một trong những trang web phổ biến nhất trên thế giới mạng xă hội. Theo sự bùng phát của Facebook, Zuckerberg đă bỏ học để di chuyển địa điểm công ty của anh đến California.

Mark Zuckerberg đă chứng minh rằng quyết định của anh là sáng suốt. Theo Forbes, Zuckerberg là tỷ phú trẻ nhất thế giới, với trị giá tài sản năm 2010 là 4 tỷ USD. Tuy nhiên, mới đây Ông chủ Facebook nhận bằng tốt nghiệp Harvard sau 12 năm bỏ học.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 15 2017, 07:39 AM
Gửi vào: #248


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




SÚNG ĐẠN Ở MỸ
Tôi có hứa với bạn bè sẽ viết một bài về súng ở Mỹ. Đă có vài bạn nhắc. Đành phải giữ lời, v́ sợ bị đổi họ Trần thành họ Hứa, và tên cúng cơm thành Lèo! Kêu bằng cụ Hứa Lèo, quê chết!
Tôi không phải chuyên gia súng đạn, cũng không phải “lái súng”, cho nên kiến thức có giới hạn. Biết cái ǵ viết cái nấy, viết về súng cá nhân, chớ không động tới vũ khí chiến lược của Mỹ. Viết để chia sẻ hơn là một bài sưu tầm. Cứ coi như tôi viết chơi, cho bạn bè đọc chơi đỡ buồn vậy.
Trước khi viết về súng ống ở Mỹ, tôi muốn đưa ra một vài thống kê, lượm từ trang americangunfacts.com, để người đọc có khái niệm tại sao dân Mỹ có quyền trang bị súng, và đó là quyền hiến định, không dễ ǵ có một đảng phái, hay một chính phủ nào, có thể thay đổi được:
+ Dân số Mỹ khoảng 300 triệu, nhưng hiện có từ 270 đến 310 triệu khẩu súng đủ loại trong nhà người dân Mỹ. Điều này không có nghĩa là mỗi người dân Mỹ từ cụ già đến bé sơ sinh, đàn ông hay đàn bà, đều có súng. Tỷ lệ dân Mỹ có súng chỉ trên dưới 30%, nghĩa là có rất nhiều người có hơn một khẩu súng trong nhà (tôi có 3 cây).
+ Người Mỹ dùng súng để bảo vệ mạng sống 80 lần nhiều hơn là để giết người.
+ Phụ nữ Mỹ dùng súng để chống lại tội phạm tấn công t́nh dục 200.000 lần/năm.
+ Tỉ lệ súng tính theo dân số: Mỹ 88.8%, Yemen 54.8%, Switzerland 45.7%, Finland 45.3%
+ Số người chết v́ súng tính trên mỗi 100.000 người: số zách là Honduras với 91.6 người, thứ 2 là El Salvador 69.2 người, thứ 3 là Côte D’ivore 56.9 người, thứ 4 là Jamaica 52.2 người,…. USA xếp hạng thứ 103 lận, chỉ có 4.8 người chết v́ súng đạn trên mỗi 100.000 dân.
+ Nước Anh cấm súng, nhưng có tới 2034 tội phạm h́nh sự trên 100.000 dân, và hơn phân nửa là dùng dao trong nhà bếp để gây án. Trong khi Mỹ cho xài súng thả dàn, chỉ có 466 trường hợp xảy ra trên 100.000 dân. Từ khi cấm súng năm 1997, ở Anh, tội phạm tăng 77%, trung b́nh mỗi phút có 2 vụ tấn công.
+ Trong 9 nước Âu Châu cấm súng, th́ tỉ lệ tội phạm cao gấp 3 lần, so với 9 nước cho xài súng.
+ FBI thống kê tội phạm giảm đáng kể khi cho xài súng: Giết người giảm 8.5%, hiếp dâm giảm 5%, tấn công giảm 7%, cướp giảm 3%.
+ Mỗi vụ nổ súng giết người hàng loạt ở Mỹ, đều xảy ra ở những địa phương cấm sử dụng súng!
+ In 1982, Kennesaw, Georgia ra luật: bắt buộc chủ gia đ́nh phải có ít nhất một cây súng. Tội phạm đột nhập gia cư, trộm cướp, giảm 89%! Đến thời điểm hiện tại, tỉ lệ này vẫn là 85% thấp hơn so với trước năm 1982.
Đó là một vài thống kê đọc cho biết. Những thống kê tương tự, và những tư liệu khác, đă khiến nước Mỹ kiên quyết không huỷ bỏ Tu Chánh Án Số 2: Quyền sở hữu súng.
Second Amendment (Tu Chánh Án Số Hai) ban hành Dec 15, 1791, cho phép người dân sử dụng súng. Mọi công dân trưởng thành, đều có quyền mua súng (trừ những kẻ có tiền án tội phạm, hay bịnh tâm thần). Muốn mua mấy trăm cây súng cũng được! Luật lệ về súng đạn rất khác nhau, tuỳ theo từng Tiểu Bang. California tương đối gắt gao, so với Texas chẳng hạn. Alabama cho phép mang súng nơi công cộng mà không cần giấy phép. Có cả chục Tiểu Bang, như North Dakota, New Hampshire, West Virginia, Missouri, Idaho,… cũng dễ dăi như vậy, và khuynh hướng tự do mang súng ngày càng gia tăng ở Mỹ.
Một số người lo sợ là khi cho mang súng tự do, sẽ đem nước Mỹ trở lại thời kỳ các anh chàng cao bồi 3508, “ba nem không tém”: hôi ́nh, thúi quắc, cỡi ngựa, rút súng bằng bằng trong quán bar hay đường phố, hoặc thách đấu để thanh toán ân oán giang hồ với nhau. Quá lo xa! Luật lệ Mỹ chằng chịt như rễ của cánh rừng mắm Cà Mau, nhưng vô cùng nghiêm minh, cộng thêm tŕnh độ dân trí rất cao, th́ chuyện xă hội loạn như thời đó, là chuyện không bao giờ xảy ra.
Nếu thằng cu Ủn nổi cơn điên, dự tính đem quân “giải phóng” nước Mỹ khỏi sự kềm kẹp, bóc lột, của bọn tư bản “giăy hoài hỏng chịu chết”, th́ ngoài chuyện sợ ăn bom nguyên tử, sợ Trump gởi tặng vài chục quả Tomahawk, bay là là, chui ngay vào gầm giường lănh tụ, th́ thế nào hắn cũng không khỏi lạnh cẳng, khi nghĩ đến con số 300 triệu, 300 triệu chớ hỏng phải 300 khẩu súng dài ngắn, nằm trong nhà dân. Mỗi người dân Mỹ sẽ trở thành một chiến binh mà không cần bắt “nghĩa vụ quân sự”! Anh nào cũng lái Hummer H2 (Humvee), hay Jeep mui trần, đeo kiếng râm đen đậm, loại đặc trị “nh́n lén người nghèo thiếu vải”, một tay cầm AR 16, một tay AK 47, lưng quảy thêm khẩu shotgun, lầm lầm ĺ ĺ như Arnald Schwarzenegger trong phim Terminator. Sau khi đùng, đùng, đùng, đến hết đạn, th́ chào vĩnh biệt bằng một câu rất cool: “Hasta la vista, baby!” (See you later, Ủn! Hẹn gặp chú Ủn kiếp sau!)
Phe ủng hộ súng (đương nhiên dẫn đầu bởi những tên tài phiệt sản xuất súng) và phe chống xài súng, luôn căi nhau ỏm tỏi, cả trăm năm qua, mà chưa ngả ngũ. Chuyện ban hành nhiều luật lệ để kềm chế, kiểm soát việc sử dụng súng, th́ mỗi Tiểu Bang đều có, và đương nhiên là khác nhau rất xa. Nhưng chuyện cấm súng th́ chắc chắn sẽ không bao giờ xảy ra.
Một lư do hiển nhiên khác mà người Mỹ quan tâm: Khi cấm dân xài súng, th́ chẳng khác nào để súng lọt vào tay kẻ xấu, trong khi người lương thiện bị tước vũ khí, v́ kẻ xấu sẽ có trăm ngàn cách để có súng. Người dân lương thiện chừng đó sẽ làm bia cho chúng bắn. Người dân Mỹ không đời nào chịu bị tước vũ khí. Đó là quyền hiến định.
Những năm 1990, và cao điểm là khoảng 1995, bọn choai choai tội phạm gốc Việt lộng hành. Chúng đột nhập vào nhà, cơ sở làm ăn, thậm chí những buổi tiệc tùng đông người, dùng súng huy hiếp, khảo của, tàn ác như bọn cường sơn thảo cấu Lương Sơn Bạc.
Đột nhập lúc nhà vắng, chỉ là trộm. Đột nhập khi có người ở nhà, là cướp. Bọn này rất đáng sợ. Mua súng là để trị bọn chúng.
Người Việt có thói quen xài tiền mặt, cất giữ tiền, nữ trang quí giá trong nhà, và rất thích đeo hột xoàn vàng ṿng đến những nơi tiệc tùng. Người Mỹ ngược lại, gần như không xài tiền mặt, mà chỉ sử dụng chi phiếu hay thẻ tín dụng thôi. Người Mỹ cũng không cất giữ của cải trong nhà, v́ sợ hoả hoạn, sợ trộm cướp. Họ thường mướn safe box ở ngân hàng để cất giữ giấy tờ quan trọng và nữ trang. Đàn bà Mỹ thích đeo nữ trang giả hơn là vàng ṿng hột xoàn như đàn bà Á Châu. Cho nên người Việt là mục tiêu béo bỡ của bọn chúng thời đó. Người Việt chỉ cướp người Việt thôi..
Chúng có trăm mưu ngàn kế để đột nhập gia cư. Thí dụ, bạn đi làm về, quẹo vào garage th́ thấy một cái thùng giấy hay một vật ǵ đó để trên driveway. Phản ứng tự nhiên là bạn ngừng xe, mở cửa bước xuống, dẹp chướng ngại vật để lái xe vào. Vừa bước xuống xe th́ có đứa kè bên hong, chỉa súng vô be sườn, buộc bạn mở cửa cho đồng bọn vô nhà.
Khi đột nhập vào nhà, chúng trói gô cả nhà. Chúng dở banh thảm, cạy sàn nhà, rọc hết nệm giường, lật tung tủ lạnh,… không chừa chỗ nào! T́m không ra của ch́m, th́ bắt đầu màn tra khảo. Đánh đấm nạn nhân hộc máu mồm là chuyện thường. Cắt tai, xẻo thịt cũng thường! Chúng dám đem cả con nít bỏ vào ḷ nướng và mở lửa. Tôi c̣n nghe kể, bọn nó khảo cách ǵ cũng không khai, chúng bèn lột quần áo bà vợ để hiếp dâm, và không quên thông báo cho hai vợ chồng biết: chúng đang mắc bệnh AIDS! Mạng quí hay của quí? Phải khai thôi! Khi nói đến sự tàn ác, người Việt cũng có hạng lắm! Gia chủ thua chúng là cái chắc!
Tôi có người khách Mỹ, và sau này trở thành bạn. Anh ta là cảnh sát. Tôi cũng có một người bạn Việt làm cảnh sát. Họ biết luật pháp, nên chỉ dẫn và khuyên tôi nhiều thứ:
+ Đầu tiên họ khuyên mua súng, và nuôi chó. Lảng vảng trước nhà, mà nghe tiếng chó sủa rân trời, nhứt định chúng lùi bước t́m mục tiêu khác dễ ăn hơn. Không có tên cướp nào dù đang cầm súng trong tay, mà không nao núng khi biết mục tiêu đột nhập cũng có đồ chơi lại. Chúng ngu ǵ kiếm chuyện khó, nên chúng sẽ tháo lui.
+ Chúng sợ đàn bà cầm súng, v́ các bà nhát, run, bóp c̣ sản, đạn có khi ghim vào ḿnh chúng như chơi! Các bà nên có súng và học bắn súng.
+ Chúng sợ nhất là shotgun. Một, khi nghe tiếng lên đạn cái rốp, ḍn dă, khô khan đến lạnh xương sống, th́ ba hồn chín vía chúng cũng lên mây! Hai, đạn chài shotgun gồm rất nhiều viên bi nhỏ bên trong. Khi bắn sẽ túa ra, chắc chắn chạy đàng trời cũng dính chấu. Chết chắc.
+ Handgun hay súng trường, đạn chỉ có một đầu đạn bay ra khỏi ṇng. Xác suất trúng mục tiêu rất thấp, nhất là hand gun, rất khó bắn trúng mục tiêu. Trừ súng liên thanh (machine guns), xả nguyên một băng vài chục viên trong nháy mắt, thế nào cũng có vài viên trúng mục tiêu.
Nói về luật pháp, họ khuyên rất nhiều điều:
+ Không bắn th́ thôi, hễ quyết định bắn th́ phải bắn cố sát, bắn cho tử ẹo, chớ không bắn què gị. Xác chết th́ câm, thằng què c̣n miệng, nên c̣n ra toà nói ngược nói ngạo. Có khi nạn nhân như mày lại thành tội phạm, c̣n tội phạm như nó lại thành nạn nhân! Nên nhớ, nó đáng chết, chớ mày không đáng đi tù!
+ No mercy! Just destroy him before he kills you! Nó xâm nhập vô nhà mày, nhứt là nó có vũ khí, th́ cái rủi ro mày và người thân bị nó sát hại vô cùng cao. Phải tự vệ, và bảo vệ người thân. Không thương xót! Hăy tiêu diệt nó trước khi nó diệt ḿnh!
+ Khi bắn phải bắn từ phí trước. Bắn từ lưng là tù, bởi v́ toà nói rằng: Mầy cố sát chớ không phải tự vệ! Nó đă bỏ chạy, đâu c̣n nguy hiểm tới mày, mà mày cố t́nh giết nó? Cho dù nó đă đột nhập vô nhà, có vũ khí, thậm chí đă gây thương tích cho mày, một khi nó quay lưng bỏ chạy, th́ không được bắn nó.
+ Sau khi hạ gục nó, mày nhớ bắn một viên lên trần nhà. Toà không biết mày bắn viên đó trước hay bắn sau đâu. Cứ nói rằng mày đă bắn một phát chỉ thiên để doạ nó trước rồi, nhưng nó vẫn nhào tới, buộc ḷng mày phải hạ gục nó để tự vệ.
+ Nếu nó uy hiếp, khống chế được người thân của mày, mày có buông súng đầu hàng theo lệnh của nó không? Cái đó tuỳ theo quyết định của mày, nhưng nếu là cảnh sát, tụi tao không bao giờ buông súng đầu hàng, ngay cả khi nó chỉa súng vào đầu đồng đội. Rất dễ hiểu: Khi mày buông súng th́ đồng đội mày, và chính mày sẽ bị nó giết. Chết gọn cả hai.. Mày bắn giỏi, bắn chính xác, có thể mày hạ được nó mà cứu đồng đội trước khi nó bóp c̣, để cả hai cùng sống. Worst case là nó nhanh tay hơn, nổ súng giết đồng đội mày, th́ ít nhất mày cũng giết được nó, trừ đi một kẻ xấu cho xă hội, trả được thù cho đồng đội, và cứu được mạng mày luôn. Lời hơn, đúng không? Chọn nổ súng, chỉ có lời ít hay lời nhiều, chớ không có lỗ. Buông súng, lỗ cạn tàu ráu máng!
Nghe họ nói tôi mới hiểu tại sao khi cảnh sát bắn là bắn vô tử huyêt để tiêu diệt mục tiêu. Nghe họ nói mới biết thêm nhiều thứ, và tôi dạy các con tôi y như vậy. V́ tự vệ, nên buộc ḷng phải bóp c̣. Không bắn nó, nó sẽ giết ḿnh và người thân. Không tội t́nh ǵ trước pháp luật. Cũng không tội t́nh ǵ trước lương tâm và Thượng Đế.
Tôi cũng dạy các con: Nếu bị bắt cóc, nhứt định phải chống cự, vừa chạy vừa la. Chạy có thể bị nó giết, nhưng có cơ hội thoát hiểm, sống sót, dù chỉ vài phần trăm. C̣n không chạy, không chống cự, để nó bắt đi, th́ chết chắc 100%. Chọn vài phần trăm sống, hay chọn 100% chết? Đó là chọn lựa vô cùng khó khăn, đ̣i hỏi tháo vát, can trường, v́ sống và chết chỉ là đường tơ kẽ tóc..
Tôi chưa từng cầm súng. Nhưng tôi có cơ sở kinh doanh, mua bán ́ xèo, đương nhiên là có tiền mặt, buộc ḷng tôi phải t́m cách bảo vệ gia đ́nh và cơ sở làm ăn của ḿnh. Mua súng, xài súng, là chuyện bất đắc dĩ, nhưng phải làm ở thời điểm đó.
Tôi sắm 3 khẩu súng, hai súng ngắn (handguns) và một khẩu súng săn shotguns (xem h́nh gởi kèm). Các con tôi chưa xong high school, nhưng đứa nào cũng sử dụng súng thành thạo. Tôi và cậu con trai không cần nói. Nhưng ba cô con gái ốm yếu, nhát hít, vẫn bồng shotgun lên, nạp đạn, bắn đùng đùng. Ban đầu sợ. Bắn vài phát, không những hết sợ, mà c̣n thấy thích. Handguns nhẹ, ít giựt, nhưng bắn khó trúng bia hơn shotgun. Hằng tuần tôi chỡ các cháu đến trường bắn. Ai không có súng th́ họ cho mướn súng, chỉ cần mua đạn, mua bia, rồi bắn bao nhiêu cũng được. Ai có súng th́ đem tới, chỉ cần mua đạn, bắn tới chán th́ thôi.
Ở Mỹ, tiệm bán súng công khai, đầy dẫy, khắp nơi. Mua súng dễ như mua con cá, bó rau. Ở Cali, chỉ cần chọn súng, đặt cọc, điền một mẫu đơn rất ngắn gọn, để tiệm súng gởi cho chính quyền điều tra lư lịch. Nếu không có thành tích bất hăo, hay bịnh tâm thần, th́ từ hai tuần cho tới một tháng, bạn có thể đến trả nốt phần tiền c̣n lại, và mang súng về nhà.
Thời gian chờ đợi ngoài việc để chính quyền rà soát lư lịch h́nh sự, nó c̣n là thời gian giải nhiệt (cooling period). Tại sao gọi là thời gian giải nhiệt? Thí dụ, có một anh chàng bị con vợ nó cắm cho cái sừng nhọn hoắc, dài một săi, lủng xuyên sọ đầu. Hận người t́nh, hận thằng t́nh địch, hận đời, hận lung tung,… Phen này ông sắm súng để tiễn chúng bay vô địa ngục. Trong hai tuần hay một tháng chờ đợi, anh ta suy nghĩ miên man: Nó không c̣n yêu thương ḿnh, ép uổng ǵ? Giữ người ở, ai giữ người đi? Tại nó lăng loàn trắc nết theo trai, chớ một bàn tay làm sao vỗ thành tiếng, giết thằng kia chi cho thêm nghiệp chướng? C̣n đàn con, giết vợ rồi vô tù, ai lo cho chúng?... Cooling down, đổi ư. Đem súng về cất đó pḥng thân trộm cướp, chớ không phải thanh toán đôi gian phu dâm phụ nữa. Xă hội bớt đi một thăm cảnh.
Súng cũng rẻ mạt.. Từ vài trăm cho tới vài ngàn đều có. Ngày xưa mua AK 47 hay AR 16 cũng được. Từ ngày có những vụ dùng súng tự động bắn giết ở trường học, sở làm, th́ Cali và nhiều Tiểu bang cấm.
Để tôi viết sơ qua về ba cây súng tôi có, thuộc ba loại khác nhau – revolver, piston, và shotgun - cho người chưa từng đụng tới súng, biết khái quát. Ngoài ra c̣n nhiều loại khác như súng trường đi săn, súng liên thanh,… thuộc loại quá dữ, không cần thiết cho pḥng thân, nên tôi không nghĩ tới. Chỉ viết rất khái quát, ai muốn t́m hiểu th́ hỏi thằng Google nó tả tỉ mỉ hơn.
+ Cây revolver là súng có ổ đạn tṛn, thường gọi trái khế, chứa 5 hay 6 viên đạn. Đây là loại súng mà các tay cao bồi Mỹ thường xài, ai coi phim cũng biết. Trong phim thường thấy cái tṛ chơi quay trái khế: nhét chỉ 1 viên vô trái khế, quay cái rẹt, kê súng vô màng tang, nín thở bóp c̣, coi thằng nào tới số?
Revolver có hai loại. Loại single action, khi bắn phải dùng tay trái, hay ngón tay cái của tay cầm súng, bật ngược c̣ mổ ra sau, mới bóp c̣. Double action, chỉ cần bóp c̣, th́ c̣ mổ bật ra sau, sau đó giă vô viên đạn. Loại này con c̣ bóp rất nặng, nhưng tiện dụng, khá nguy hiểm, và ai cũng có thể bắn mà không cần biết phải lên đạn cách nào. Cứ bóp c̣ là nổ. Cây tôi sở hữu là double action, của hảng Smith & Wesson, dáng rất đẹp, giá hơn $400 (năm 1996). Cây này thuộc thứ dữ, Magnum, công phá rất mạnh, mua để ở nhà. Bắn giật khá mạnh. Chỉ sáu viên đạn. Đạn to, nhưng giá rất rẻ, khoảng 25 cents/viên. Các con tôi đều biết sử dụng thành thạo, trừ bà xă nhất định không muốn đụng tới súng đạn.
+ Cây Pistol mini, của hảng Beretta, giá cũng khoảng $400 USD. Có lẽ hảng Colt đầu tiên làm ra loại súng pistol này, nên người ta lấy tên của nó mà đặt. Colt 45 là loại trang bị cho sĩ quan VNCH. C̣n phe kia th́ thông dụng với K54. Khi bắn phải dùng tay kia kéo phần trên của ṇng súng ra sau, rồi buông ra, để nó đẩy viên đạn lên ṇng, mới bóp c̣. Gọi là lên đạn. Nó có khoá an toàn, nên loại này khá an toàn nếu nhà có con nít.
Tôi chọn khẩu súng này v́ nó rất nhỏ, gọn, với mục đích sẽ bỏ nó trong túi quần khi làm việc ở tiệm. Đạn bé tí tẹo, nhưng giá cả 50 cents/viên. Nó nhỏ gọn như đồ chơi con nít, bắn như không bắn, v́ nó nổ nhỏ, và giựt rất nhẹ. Đàn bà Mỹ thích nó, v́ nó gọn nhẹ, bỏ trong xách tay được. Cây này có 8 viên chớ không phải 6, như “súng lục” ở VN xưa kia: Một viên lên ṇng, 7 viên trong băng đạn. Tôi thường nhét sẵn một viên lên ṇng, và 7 viên trong băng. Như vậy khi bắn, khỏi cần lên đạn, chỉ bật khoá an toàn trong nháy mắt. Băng đạn nhỏ bằng hai ngón tay. Một băng nạp vô súng, một băng để sơ cua, th́ cũng có 15 viên để ứng chiến!
Hễ gặp khách có vẻ dân chơi, nhất là buổi tối, th́ tay trái tôi cầm phone, sẵn sàng ấn 911, c̣n tay phải thọt vô túi, ngón trỏ nằm sẵn ngay c̣ súng. Khi cần, không thèm móc ra, ngón cái nâng nhẹ lên mở khoá an toàn, và ngón trỏ bóp c̣ dễ dàng. Nếu là dân chuyên xài súng, thấy tôi thủ kiểu đó là nó biết ngay. Đương nhiên là chuồn lẹ, nếu không muốn ăn trọn 15 cục kẹo đồng!
+ Shotgun, giá chỉ trên hai trăm một chút. Dài như súng trường. Nặng. Đạn chài khoảng 70 cents/viên. Ỗ chứa được bốn viên đạn. Không tự động. Bắn một viên xong phải kéo phần tbên dưới ṇng súng cho văng vỏ đạn ra, sau đó đẩy ngược lên để lên đạn viên kế tiếp. Tiếng lên đạn rất to, nghe thót ruột. C̣n một loại bẻ cúp ṇng súng xuống để nhét đạn vào, không tiện dụng và có vẻ lỗi thời. Shotgun bắn cũng không giựt mạnh lắm. Súng này luôn để trong nhà. Thằng nào có gan cạy cửa, chỉ nghe lên đạn cái rốp là chạy không kịp quay đầu ngó lại.
Chính v́ cướp bóc lộng hành, tui phải thủ rất kỹ.. Ngoài việc mua súng, mỗi tối lái xe về, phải coi có đứa nào chạy theo không? Về tới nhà, nh́n xung quanh coi có xe lạ đậu gần nhà ḿnh không? Coi có thằng nào lảng vảng trước cửa? Trước khi tới nhà vài block đường, phải ngừng xe lại, mở cốp xe lấy đạn nạp vào súng. Biết là trái luật, nhưng vẫn làm. Luật Cali buộc khi chuyên chỡ súng, th́ súng phải bỏ trong hộp có khoá. Súng và đạn không được để gần nhau. Súng trong xe, th́ đạn phải trong trunk sau xe.
Người Việt hải ngoại đă trăi qua một giai đoạn hăi hùng. Cảnh sát và FBI vô cùng vất vả để tiêu trừ đám cặn bă này, nhưng dường như bó tay, v́ chúng quá đông, quá dữ, và quá liều mạng. Khi con ma nghiện nó hành, th́ chuyện ǵ chúng cũng làm để có tiền đi hút. Sau cùng, chính quyền đă t́m ra giải pháp: Trục xuất!
Đúng vậy! Trục xuất! Họ deal với VN, mỗi thằng du đăng tội phạm, bị trục xuất, họ trả cho vài chục ngàn đô (hay cả trăm ngàn, đại khái là rất nhiều tiền).
Đối với Mỹ, điều này lợi trăm bề. Một, dẹp được tệ nạn. Hai, chỉ tốn một số tiền nhỏ, tốn một lần cho VN, hơn là nhốt bọn chúng vào tù, nuôi dai dẳng, nuôi tốn gấp nhiều lần con số tiền trả cho VN.
Đối với VN họ cũng lợi trăm bề. Nhận một thằng, họ bỏ túi bộn bạc. Bỏ gọn lỏn vào túi! Đem nhốt chúng, đâu có tốn đồng xu nào, v́ bắt chúng làm khổ sai, bỏ đói xanh xương, sinh lợi nhiều gấp mấy lần tiền lẻ bỏ ra nuôi chúng.
C̣n đối với mấy thằng du đăng tội phạm, sợ té đái! Trục xuất là mất cơ hội vô quốc tịch, hay bị thu hồi quốc tịch. Muôn đời trâu ngựa ở bển! Phải nói, chúng sợ tù VN hơn là sợ bị bọn tù Mỹ đen đánh đập hay hiếp dâm chúng!
Trên thế giới có lẽ chưa có tù nào khủng khiếp bằng tù VN. Hỏi mấy ông tù HO, hay những người từng ăn cơm tù th́ biết. Người viết đâu có nói thêm, hay xuyên tạc chút nào. Đừng ném đá, tôi ném lại đó nghen!
Từ ngày đó, cướp có súng không phải chỉ bị phạt tù vài năm, mà là trục xuất cho nếm mùi tù thật sự của CS.. Thằng nào thằng nấy sợ teo, bu gi c̣n bằng hột đậu phộng lép! Cướp có súng từ bọn du đăng Việt, coi như tuyệt nọc!
Cám ơn chánh phủ Mỹ vô cùng sáng suốt, biết đường binh! Cám ơn “đảng ta”, “chính phủ ta”, có thuốc trị được cơn bịnh hiểm nghèo, giúp cho hàng triệu khúc ruột ngàn dậm thân yêu, được an cư lạc nghiệp! Chúng tôi yên tâm kinh doanh, mới có tiền gởi về bển chớ. Cũng rất công b́nh. Người Việt hải ngoại thật sự có được những năm tháng b́nh yên từ ngày đó đến nay.
Mua súng cũng giống như bạn phải sắm b́nh chữa lửa và cái thang dây để trong nhà, pḥng khi có hoả hoạn. Dù để hoài không xài tới, cũng đừng tiếc tiền mua. Bạn không bao giờ trông cho nhà cháy để có cơ hội dùng tới b́nh chữa lửa, hay dùng cái thang dây cho cả nhà leo xuống từ lầu hai, phải không? Nhưng nếu bạn không cụ bị những thứ đó, khi hữu sự, bạn chỉ có đứng nh́n thần hoả thiêu rụi cơ ngơi mồ hôi và nước mắt của ḿnh một cách vô vọng, hay bạn và người thân phải liều mạng nhảy lầu, tránh chết cháy, v́ không có thang dây.
Đâu có ai trông cho kẻ xấu đột nhập vô nhà ḿnh để đem súng ra phơ chúng! Nhưng cũng đâu có ai muốn kẻ xấu đột nhập vô nhà ḿnh, mà trong tay không một tấc sắt? Súng là giải pháp bảo vệ an toàn cho ḿnh và gia đ́nh. Dù ḿnh không mong có dịp xài tới nó, nhưng không có th́ không được. Tuy nhiên, nếu một xă hội vô pháp vô cương, và không có tŕnh độ dân trí cao (đi đường lỡ cọ quẹt một chút cũng xách mă tấu ra thanh toán), th́ súng sẽ là một hiểm hoạ không biết tới đâu mà lường!

Peter Chánh Trần

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 2 2017, 11:59 AM
Gửi vào: #249


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



The Vietnam War - Đôi điều cần phải nói
Author: Phạm Tín An Ninh Source: Hoàng Sa Paracel Posted on: 2017-10-01

Bộ phim tài liệu The Vietnam War được thực hiện bởi hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Norvick, hiện đang được phổ biến rộng răi trên truyền h́nh NRK (NaUy) và được một số báo chí thiên tả NaUy tán thưởng. Bộ phim này cũng đă được tŕnh chiếu tháng trước trên hệ thống truyền h́nh PBS tại Mỹ, tạo nên làn sóng tranh căi, nhiều phản bác hơn là ngợi khen, từ những người Mỹ lẫn người Việt, Người ta công nhận The Vietnam War có khá hơn nhiều so với Vietnam – The Ten Thousand Day War (của Michael Maclear) trước đây, tuy nhiên nó vẫn là một bộ phim tồi. Những người thực hiện vẫn tiếp tục đi theo lối ṃn định kiến của giới truyền thông Mỹ. Trong khi đa phần những người trong cuộc, từng tham dự và bị nhiều hệ lụy từ cuộc chiến ấy, dễ dàng nhận ra sự thiên lệch, thiếu chính xác của cuốn phim, từ trong tư tưởng, tài liệu, h́nh ảnh đến việc phỏng vấn và mục đích thực hiện.
1/- Trước hết, nên biết Ken Burns, người thực hiện The Vietnam War là ai?
Suốt trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Ken Burns là một thành viên đắc lực của phong trào phản chiến. Ông là một người theo phái tả, liberal và triệt để ủng hộ Đảng Dân Chủ.
Với một người như thế, tất nhiên Ken Burns luôn mang nặng thành kiến về cuộc chiến Việt Nam. Chính những người phản chiến như ông đă tạo nên một nhận định khá phổ biến “Cuộc chiến Việt Nam không thua tại Việt nam nhưng đă thua tại Hoa Kỳ”.
2/- The Vietnam War dựa theo những tài liệu, h́nh ảnh nào, do ai cung cấp?
Tất nhiên phần lớn dựa theo tài liệu, h́nh ảnh của Hoa Kỳ và của chính quyền Việt nam (Không dùng từ này) cung cấp. Ai cũng biết là các chính quyền CS không bao giờ tôn trọng sự thực, nên tất cả mọi tài liệu, h́nh ảnh đưa ra đều tô vẽ có lợi cho họ. VNCH không c̣n tồn tại, mọi tài liệu bị thất tán, phá hủy, không c̣n tiếng nói để chứng minh lẽ phải về họ, mặc dù chính họ mới là lực lượng chính trong cuộc chiến và đă phải nhận nhiều hệ lụy nhất chứ không phải Hoa Kỳ.
3/- The Vietnam War đă phỏng vấn những ai?
Có 3 thành phần:
- Những người Mỹ, một số cựu chiến binh tại Việt Nam, nhân viên của chính phủ, nhà báo. người có chồng, con tử trận tại Việt Nam, và có cả những người thuộc thành phần chủ chốt trong phong trào phản chiến trước đây.
- Những người Việt Nam trong nước. Hầu hết là những sĩ quan cao cấp, nhà văn nhà báo phục vụ chế độ CS. Ai cũng hiểu rằng, khi những nhà làm phim muốn tiếp xúc với họ đều phải qua chính quyền (Không dùng từ này) sắp xếp, chọn lựa hay tối thiểu là phải có sự cho phép, và tất nhiên phải nói những điều có lợi cho sự tuyên truyền của họ.
- Những người miền Nam (VNCH) đang sống tại Mỹ. Một số cựu sĩ quan, viên chức ngoại giao, và một vài người thành công ở Hoa kỳ.
Tuy nhiên trong suốt cuốn phim, ai cũng nh́n thấy là họ được nói rất ít. Một hai câu ngắn.Tất nhiên các nhà làm phim t́m họ để phỏng vấn, không phải chỉ để hỏi một đôi câu ngắn ngủn như thế, nhưng chắc chắn những lời nói của họ đă bị cắt bỏ, chỉ c̣n lại một vài câu có lợi theo quan điểm của người làm phim. Ngoại trừ bà Dương Vân Mai Elliott, là nhân vật được xuất hiện nhiều nhất và phát biểu lâu nhất. Bà là nhà văn, tác giả cuốn sách “The Sacred Willow” được đề cử giải Pulitzer trong đó nói về bốn thế hệ sống trong một gia đ́nh Việt Nam. Bà gốc người Bắc, thân phụ Bà làm việc cho Pháp. Năm 1954 cả gia đ́nh di cư vào Nam, ngoại trừ người chị cả ở lại cùng chồng tham gia kháng chiến. Năm 1960 bà được học bổng, sang Mỹ học về ngành ngoại giao. Năm 1964, khi 23 tuổi, bà lập gia đ́nh với người chồng Mỹ cùng ngành và sau đó cả hai vợ chồng cùng làm việc cho Rand Corporation ở Sài g̣n từ 1964 đến 1967. Với thân thế như vậy, nên bà Dương Vân Mai Elliott hiểu biết khá tường tận về t́nh h́nh chính trị và quân sự ở miền Bắc VN trước 1954, cũng như ở miền Nam sau 1954. Tuy nhiên về sau này, từ giữa thập niên 1960, dường như Bà đă có cái nh́n về cuộc chiến Việt Nam dưới lăng kính của một người Mỹ.
Một người đặc biệt nữa là Ông thẩm phán Phan Quang Tuệ. Ông là con trưởng của Ông Phan Quang Đán, người sáng lập Đảng Dân Chủ Tư Do, luôn quyết liệt chống đối chính phủ Ngô Đ́nh Diệm và tham gia cuộc đảo chánh bất thành 11.11.1960 (với vai tṛ ủy viên chính trị và cố vấn), nên bị bắt cầm tù. Thời đệ nhị Cộng Ḥa, ông ra tranh cử cùng liên danh với ông Phan Khắc Sữu, trong chức vụ Phó Tổng Thống, nhưng bị thua liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ. Do đó trong The Vietnam War, con trai ông, Phan Quang Tuệ, đă phát biểu tiêu cực về chế độ Ngô Đ́nh Diệm cũng như các chính quyền miền Nam sau này với ḷng hận thù, thay v́ với lương tâm của một người trí thức.
4/- Không chính xác từ cách gọi tên cho cuộc chiến.
Ken Burns gọi cuộc chiến Việt Nam là “nội chiến”. Điều này không đúng. Nếu là một cuộc nội chiến th́ đă không có 58.220 người Mỹ đă chết tại Việt Nam. Chính v́ sự méo mó này, mà trong suốt cuốn phim, không thấy đề cập nhiều đến các nước (Không dùng từ này), đặc biệt là Liên Xô và Trung Cộng luôn là những quan thầy của (Không dùng từ này) và hỗ trợ hết ḿnh để mang thắng lợi cho miền Bắc CS. Trong khi Hoa Kỳ đă nhảy vào Nam Việt nam và xem miền Nam như là một tiền đồn của Thế Giới Tự Do, nhằm ngăn chặn làn sóng đỏ (Không dùng từ này) bành trướng xuống Đông Nam Á. Hơn nữa, quân đội Nam VN (VNCH) chưa hề đưa quân tấn công ra Bắc, họ chỉ bảo vệ miền Nam để xây dựng một thể chế dân chủ tự do, không (Không dùng từ này). C̣n cái gọi là MTGPMN cũng chỉ là đám CS nằm vùng, được cài lại miền Nam sau 1954, hoặc xâm nhập từ miền Bắc sau này, được CSBV nặn ra nhằm lừa bịp quốc tế.
5/- Cách hành xử “kẻ cả” của Mỹ đối với một đồng minh, đă đưa đến sự thất bại tại Nam Việt nam.
Không có một vị lănh đạo và cả người dân miền Nam nào muốn có sự hiện diện cùa quân đội Hoa Kỳ trên đất nước của họ. Chính Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đă từng cực lực lên tiếng bác bỏ ư định của Hoa Kỳ, ngay từ thời Tổng thống J.F. Kennedy, muốn đưa quân vào Nam Việt nam. và cũng chính v́ việc này đă đưa đến cái chết thảm khốc của anh em ông Diệm vào ngày 1.11.1963. (Mỹ đă đưa ông Henry Cabot Lodge sang làm Đại sứ để dàn xếp một cuộc đảo chánh, và một sĩ quan cao cấp CIA, trung tá Lucien Conein, ngồi ngay trong sào huyệt của Dương Văn Minh cùng các tướng lănh phản bội ông Diệm, tại Bộ TTM/QLVNCH, để trực tiếp giám sát, theo dơi việc đảo chánh.)
Ông Diệm luôn phản đối việc Mỹ đưa quân sang Việt Nam, v́ ông nghĩ như thế sẽ làm mất chính nghĩa cho công cuộc đấu tranh của dân chúng miền Nam bảo vệ tự do, và có cớ để Liên Xô và Trung Cộng vào cuộc, ra lệnh và hỗ trợ miền Bắc đưa quân vào đánh Nam Việt nam.
Nên nhớ là nền cộng ḥa non trẻ của Ông Ngô Đ́nh Diệm được xây dựng tại miền Nam sau Hiệp định Genève 1954, trên những đống tro tàn, rác rưởi và nhiều phe nhóm bạo loạn của Pháp để lại, cùng lúc phải lo định cư cho hơn một triệu người dân di cư từ miền Bắc, trốn thoát chế độ CS. Nếu có đôi điều bất như ư cũng là lẽ tất nhiên. Nhưng đây lại là thời kỳ “vàng son” nhất mà người dân miền Nam được hưởng, giáo dục, kinh tế và cả quốc pḥng phát triển tốt đẹp. Với kế hoạch Ấp Chiến lược, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă tiêu diệt và loại gần hết đám CS nằm vùng tại Nam VN, do CS gài lại sau hiệp định Genève.
Và có lẽ Ông là người lănh đạo quốc gia duy nhất trên thế giới đă tha tội chết cho cả ba người từng giết hụt ḿnh: Hà Thúc Kư, Phạm Phú Quốc và Hà Minh Trí (người ám sát Ông tại Ban Mê Thuột)
So với Hồ Chí Minh, ông Ngô Đ́nh Diệm yêu nước, thương dân và đạo đức hơn gấp vạn lần. Ông sống độc thân, đạo hạnh, trong khi Hồ Chí Minh tự xưng ḿnh là “Bác” của toàn dân, bắt mọi người phải tôn thờ ca tụng ḿnh, nhưng đă từng sống với nhiều người đàn bà, ngay cả với vợ một đồng chí của ḿnh, và ra lệnh giết một cô con gái trẻ sau khi có con với ông ta và cô ấy tỏ ư muốn được công khai chấp nhận. Một tội ác điễn h́nh của ông ta, khi ban hành Chiến dịch Cải cách Ruộng Đất, giết dă man hàng vạn người dân vô tội, trong đó có cả bà Nguyễn Thị Năm, người bị xử tử đầu tiên, là một ân nhân đă từng cưu mang ông cùng những cán bộ cao cấp, và trợ giúp rất nhiều cho tổ chức của ông. Nhưng trong Tập 1 The Vietnam War, người làm phim đă hết sức ca ngợi Hồ Chí Minh và bôi bẩn h́nh ảnh ông Ngô Đ́nh Diệm một cách ác ư đến lố bịch.
Mỹ đă lợi dụng một vài bất đồng của Phật giáo, đi đêm và đứng đằng sau một số sư săi quá khích, tạo nên t́nh trạng bất ổn liên tục tại miền Nam. Nhưng thực chất, sau ngày mất miền Nam, đă lộ ra rất nhiều sinh viên Phật tử đứng đầu các cuộc tranh đấu chống Ngô Đ́nh Diệm vốn là những đảng viên hoặc đă hợp tác với (Không dùng từ này), như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh … tại Huế, và Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng, Lê Hiếu Đằng, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm … tại Sài g̣n. (Sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă bị lật đổ, dù không c̣n vịn vào lư do “đàn áp Phật giáo”, nhưng những người mượn danh Phật giáo này vẫn tiếp tục phản đối các chính quyền kế tiếp, gây bất ổn cho cả nước, đặc biệt tại Huế, miền Trung Việt nam.)
Làm như vậy, chỉ với mục đích để Hoa kỳ biện ḿnh cho việc đưa quân vào Nam Việt nam, cũng như việc tổ chức lật đổ và giết ông Diệm, người luôn phản đối việc Hoa Kỳ đưa quân vào Nam Việt nam, và chỉ yêu cầu được viện trợ trong thời gian miền Nam đang từng bước xây dựng nền cộng ḥa non trẻ. Hơn nữa, dù hùng mạnh và giàu có, nhưng quân đội Hoa Kỳ không thích hợp với h́nh thái chiến tranh tại Việt Nam, lúc ấy đa phần là du kích chiến.
Điều trịch thượng và “phi chánh trị” quái đản khác, từ khi đưa quân ào ạt vào Nam VN, Mỹ mặc nhiên xem cuộc chiến này là của họ. Trong tất cả các cuộc đàm phán, kư kết hiệp định, Mỹ tự cho ḿnh ngang hàng với Bắc Việt và xếp Nam VN ngang hàng với MTGPMN. Trong khi ai cũng biết rằng: MTGPMN chỉ là một nhóm tay sai do Hà Nội dựng lên để lừa bịp quốc tế. (Ngay sau khi vừa chiếm Nam VN, CS đă khai tử MTGPMN, tất cả những nhân vật trong chính phủ của MT này không nhận được bất cứ một chức vụ quan trọng nào, và bị loại dần ra khỏi guồng máy lănh đạo). Điều đặc biệt tệ hại hơn, Hiệp định Paris kư ngày 27.1.1973 là một áp đặt trắng trợn để ngay sau đó Hoa Kỳ phủi tay khi CSBV công khai ngang nhiên vi phạm.
6/- The Vietnam War quá bất công đối với QLVNCH, một quân đội đă bị bức tử, không c̣n tiếng nói.
Trong khi Mỹ có 58.220 quân nhân chết tại Việt Nam, th́ QLVNCH có đến trên 320.000 binh sĩ tử trận và khoảng hơn 1.200.000 bị thương. Trong Tết Mậu Thân 1968, CSBV đă tung nhiều sư đoàn đánh vào nhiều thành phố Nam VN, QLVNCH đă anh dũng chiến đấu và đập tan ư đồ của địch, gây tổn thất rất nặng nề cho CSBV. Người ta không hiểu v́ lư do ǵ, trong những ngày đầu trong trận Mậu Thân, ở nhiều nơi, Mỹ đă không tham chiến? Và mặc dù CSBV đă vi phạm thỏa ước hưu chiến trong ngày Tết nguyên đán, bất ngờ tổng tấn công vào nhiều thành phố lớn, vậy mà đă không có khả năng chiếm được bất cứ thành phố nào. Chỉ có Huế kéo dài 26 ngày, và CSBV đă giết dă man hơn 6.700 người dân vô tội. Có tiến bộ hơn nhiều phim trước, The Vietnam War có đề cập thoáng qua tội ác này của CSBV, nhưng chỉ nói có khoảng 2.800 người bị giết kèm theo lời xác nhận và bào chữa yếu ớt của một cựu cán binh CS.
Mùa Hè 1972, (Không dùng từ này) đưa một lực lượng quân sự hùng hậu, với xe tăng, đại pháo tối tân của Nga sô cung cấp, từ miền Bắc và Lào xâm nhập Nam VN, dùng nhiều sư đoàn thiện chiến, đánh vào Quảng Trị, Kontum và An Lộc. Lúc này các đơn vị chiến đấu Mỹ đă rút khỏi Nam VN, chỉ có QLVNCH đă chống trả mănh liệt, tạo những chiến thắng lẫy lừng, giữ vững được các tỉnh lỵ này và gây tổn thất rất lớn cho CSBV. Thời điểm này, Hoa Kỳ cũng đă cắt giảm khá nhiều viện trợ cho Nam VN. (Thêm một điều cần nói: QLVNCH luôn luôn được Mỹ viện trợ vũ khí, chiến cụ kém hiệu năng rất nhiều so với vũ khí, chiến cụ của CSBV được phe CS trang bị.). Một câu hỏi được đặt ra, trong Mùa Hè 1972 này, QLVN Cộng Ḥa đă chiến thắng lớn tại Kontum, An Lộc và cả Quảng Trị, nhưng trong The Vietnam War không hề được nhắc tới, thay vào đó lại là h́nh ảnh của một lực lượng thuộc Sư Đoàn 3 BB phải lui binh khỏi Quảng Trị?
Một cuộc chiến như thế, với những thành tích và sự hy sinh như thế, nhưng trong The Vietnam War, cả một quân đội miền Nam ấy gần như cái bóng mờ nhạt, nếu có đề cập, cũng chỉ là một vài h́nh ảnh tiêu cực.
- The Vietnam War chỉ đưa ra một vài trận đánh mà QLVNCH không may bị nhiều tổn thất: như Trận Ấp Bắc, Trận B́nh Giă… nhưng không hề nói đến những chiến thắng lớn mà Quân lực này đă anh dũng đạt được tại các trân chiến ác liệt như An Lộc, Kontum, Quảng Trị, v.v..., hay Tống Lê Chân (một tiền đồn nằm gần biên giới Việt-Miên, chỉ được pḥng thủ bởi 1 Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP, bị lực lượng CS, có khi lên đến cấp trung đoàn luân phiên tấn công vây hăm, pháo kích suốt ngày đêm. Măc dù nhiều tháng không được tiếp tế, tản thương, nhưng TĐ 92/ BĐQ đă anh dũng chiến đấu ṛng ră trong suốt 510 ngày (10.5.72 – 11.4.74), sự kiện này cả UBLHQS và UBQT tại Việt Nam đều biết). Một chiến tích đặc biệt khác mà cả quân sử Hoa Kỳ và hồi kư của Tướng Westmoreland đều có ghi nhận đầy đủ: TĐ 37 BĐQ của VNCH được tăng phái cho lực lượng quân đội Hoa Kỳ, bảo vệ tuyến Đông Bắc Phi trường Khe Sanh, mặc dù bị một lực lượng hùng hậu của Cộng quân tấn công và pháo kích liên tục, có những ngày không được tiếp tế, nhưng đơn vị này đă dũng cảm tử chiến với Cộng quân ṛng ră trong suốt 70 ngày đêm (21.2.68 – 08.4.68), giữ vững được pḥng tuyến và bảo vệ phi trường Khe Sanh, một cứ điểm quan trọng cho sự an toàn của cả một căn cứ nổi tiếng của Mỹ tại Việt Nam.)
- Đặc biệt Trận Ấp Bắc, đúng là đơn vị Nam VN đă không giải quyết được chiến trường, bởi nhiều lư do (trong đó có lỗi lầm của Mỹ), nhưng không phải đến bây giờ, trong The Vietnam War, các nhà đạo diễn mới cố thổi phồng sự tổn thất của Nam VN và không nói đến tổn thất của địch. Phóng viên chiến trường Neil Sheehan, tác giả cuốn “The Bright Shining Lie”, khi ấy đi theo cánh quân thiết giáp do Đại úy Lư Ṭng Bá chỉ huy, cũng đă viết rất nhiều điều phóng đại, không thực trong cuốn sách. Sau này, cựu Tướng Lư Ṭng Bá gặp lại anh ta tại Mỹ đă chỉ trích điều này, nên anh ta đă viết bài “After The War Over” để gởi tặng cựu tướng Lư Ṭng Bá, như một lời xin lỗi về nhiều điều anh đă viết không đúng trong trận Ấp Bắc. John Paul Vann, khi ấy là Trung tá cố vấn tại Sư đoàn 7BB, cũng đă từng nhận định và có những tuyên bố sai lạc về trận Ấp Bắc và cá nhân Đại úy Bá, sau này, năm 1972, khi làm cố vấn cho Quân đoàn II, cùng Tướng Lư Ṭng Bá tạo nên chiến thắng Kontum, ông Vann cũng đă chính thức xin lỗi Tướng Bá về những nhận định thiếu chính xác về trận Ấp Bắc trước kia.
Cũng đă có những nhận định là Mỹ cố tạo ra một h́nh ảnh thất bại của QLVNCH trong trận Ấp Bắc để có cớ đưa quân vào Nam VN.
Trong phim, khi được phỏng vấn, Tom Valley, một cựu TQLC Hoa Kỳ từng tham gia cuộc chiến Việt Nam đă buồn bă thốt lên: “Người Mỹ rất hiếm khi chịu nh́n nhận sự dũng cảm của họ (QLVNCH). Chúng ta tỏ ra khinh thường họ, phóng đại sự yếu kém của họ, chỉ v́ muốn khoe khoang tài năng của ta.” Lời nói này là chân thật, nhưng cũng chỉ mới đúng được một nửa.
- The Vietnam War đă cố t́nh đưa ra một số h́nh ảnh tuyên truyền quá quen thuộc nhằm gây bất lợi cho Nam VN. Cô bé Kim Phúc bị phỏng bởi bom Napalm ở Trảng Bàng, Tây Ninh, ngày 8.6.72, bị (Không dùng từ này) lợi dụng, tô vẽ cho cả một chiến dịch tuyên truyền, sau này cô đă xin tỵ nạn tại Canada. Trường hợp Tướng Cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan xử tử tên VC Bảy Lốp sau khi tên này đă tàn sát rất dă man cả một gia đ́nh từ bà già cho đến con nít. Và khi ấy tên VC này không hề mang quân phục hay bất cứ giấy tờ ǵ, th́ không thể gọi hắn ta là tù binh để phải hành xử theo luật tù binh chiến tranh được. Hắn ta được xử như một tên khủng bố nguy hiểm, ác độc. Tướng Loan đă được một toà án Hoa Kỳ miễn truy tố, với lư do này.
Phóng viên Eddie Adams, người chụp bức h́nh xử bắn được giải Pulitzer ấy, đă t́m đến gia đ́nh Tướng Loan xin lỗi, và khi được tin Tướng Loan mất, Eddie đă đích thân đến dự đám tang, khóc nức nở khi đọc bài điếu văn, trong đó có đoạn: “Ông là một vị anh hùng. Cả nước Mỹ nên khóc thương ông mới phải, tôi không muốn nh́n thấy ông ra đi như thế này, người ta không hiểu ǵ về ông ấy”. (The guy was a hero, America should be crying. I hate to see him go this way - Without people knowing anything about him). Trên ṿng hoa phúng điếu của Eddie Adams, có đính một danh thiếp ghi rơ ḍng thủ bút: "General! I'm so...sorry. Tears in my eyes" (Thưa Thiếu tướng, tôi rất ân hận. Lệ đă tràn đầy mắt tôi).Bản điếu văn của ông Eddie Adams sau đó được tuần báo Time đăng tải vào ngày 27 tháng 7 năm 1998
Bây giờ, The Vienam War lại đóng thêm những chiếc đinh oan nghiệt trên quan tài của của một người đă chết, đă từng bị sỉ nhục và khốn đốn v́ tấm ảnh mang một nửa sự thực, chỉ v́ ông là người của Nam VN!
Trong khi ấy, suốt cuốn phim 10 tập, dài đến 18 tiếng đồng hồ, người ta không t́m thấy h́nh ảnh của CSBV pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy ngày 9.3.74, làm chết 32 và gây thương tích cho 55 em học sinh. Người ta cũng không hề thấy cảnh trên 2.000 đồng bào, rời bỏ làng mạc bị CS chiếm, gồng gánh chạy về phía tự do, bị CS pháo kích tàn sát, nằm chết la liệt trên đoạn đường dài 9 km (QL 1 thuộc tỉnh Quảng Trị) được báo chí đặt tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Một h́nh ảnh rất đặc biệt mà đến nay nhiều báo chí tại Hoa Kỳ vẫn c̣n nhắc đến, một bé gái 4 tháng tuổi ôm bú vú người mẹ chết từ mấy ngày trước, đă được một binh sĩ TQLC/ VNCH cứu, mang về giao cho một viện mồ côi. Sau đó, cháu bé được một trung sĩ Mỹ nhận làm con nuôi, đưa sang Mỹ vào cuối năm 1972, và sau này trở thành một sĩ quan cao cấp trong Quân đội Hoa kỳ: Đại Tá Kimberly M. Mitchell! Người Mỹ đă ca ngợi cô đại tá Hải quân gốc Việt này, nhưng trong The Vietnam War không hề nhắc tới Đại Lộ Kinh Hoàng!
Khi The Vietnam War được thực hiện và tŕnh chiếu tại Hoa Kỳ, th́ không phải chỉ có Thủ tướng hay Chủ tịch nước mà ngay cả Tổng Bí thư Đảng CS Nguyễn Phú Trọng đă được chính phủ Mỹ tiếp đón tại Ṭa Bạch ốc, Việt Nam được Mỹ “dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí”, “b́nh thường hóa toàn diện” rồi trở thành “đối tác chiến lược” của Hoa Kỳ. Trong khi đó tại Việt Nam, Nghĩa trang Quân đội Biên Ḥa, nơi chôn cất hơn 16.000 binh sĩ Nam Việt Nam tử trận vẫn tiếp tực bị tàn phá, hoang phế, ngăn cấm thân nhân đến sửa sang, thăm viếng, và những thương binh VNCH vẫn tiếp tục bị CS lên án, kỳ thị, phân biệt đối xử.
The Vietnam War, với sự thiên lệch, giả dối chỉ khoét sâu thêm vết thương chưa lành trên thân phận của một đất nước từng tan nát bởi chiến tranh và đặc biệt của những người lính bất hạnh Nam VN, vốn là những ngươi bạn đồng minh của Hoa Kỳ!
28.10.2017

Phạm Tín An Ninh
(một người lính VNCH)

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 11 2017, 04:09 PM
Gửi vào: #250


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



NƯỚC MẮT NGUYỄN BẢO NGUYÊN KHÔNG CHẢY QUA SÔNG POTOMAC
Hôm 26 tháng 10, 2017, từ Nha Trang, cháu Bảo Nguyên, con gái của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh viết lá thư gởi bà Melania Trump, trong đó những đoạn đầy cảm động:
“Con có đọc trên mạng và biết gia đ́nh Bà sẽ tới thăm Việt Nam để dự đại hội APEC. Chỉ c̣n vài ngày nữa là đă tới ngày sinh nhật con và em con là Gấu, thế là một lần sinh nhật nữa mà không có mẹ bên cạnh chúng con. Chúng con yêu mẹ nhiều lắm và chỉ mong muốn mẹ về với chúng con. Xin Bà hăy giúp gia đ́nh con được đoàn tụ v́ con biết mẹ con chẳng làm ǵ sai cả và v́ chính Bà cũng đă trao tặng giải thưởng “Phụ nữ can đảm” cho mẹ con, con và gia đ́nh con xin thay mẹ cảm ơn Bà lần nữa…”
Báo chí và các hăng tin lớn thế giới như Reuters sau đó đă loan tin. Ṭa đại sứ Mỹ tại Việt Nam cũng ghi nhận lá thư, nhưng tuyệt nhiên không có đáp ứng chính thức nào từ Washington DC.
Trước ngày TT Trump công du Á Châu, không ít người Việt tin tưởng bà Melania Trump sẽ yêu cầu (Không dùng từ này) thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Chẳng những thế, có vài nguồn tin c̣n cho rằng bà Melania Trump sẽ vào tận nhà tù CS để thăm em.
Nước Mỹ xây dựng trên nền tảng dân chủ và luôn cổ vỏ cho các giá trị nhân quyền, dân chủ. Vâng, nhưng những giá trị đó luôn đứng sau quyền lợi của nước Mỹ. Chính sách đối ngoại của TT Trump gần một năm qua cho thấy ông là một nhà giao thương chuyên nghiệp (dealmaker) với mục đích tối hậu là quyền lợi của nước Mỹ (America First).
Trong tác phẩm The America We Deserve, Donald Trump chủ trương các biện pháp đối ngoại mềm dẻo với Nga và cứng rắn với Trung Cộng.
Sau khi đắc cử, ngày 3 tháng 12, 2016, TT Trump đă nhận điện thoại của TT Đài Loan Thái Anh Văn và điều đó mặc nhiên cho rằng chính sách của Hoa Kỳ từ năm 1979 nh́n nhận Đài Loan là một phần của Trung Quốc không c̣n giá trị. Chẳng những thế ông c̣n hứa trả đũa Trung Cộng về chính sách vận dụng tiền tệ có lợi quá nhiều cho Trung Cộng trước đây.
Những điều đó hôm nay đă thay đổi. Ưu tiên của TT Donald Trump là ổn định Bắc Hàn và làm ăn với Trung Cộng. Thương vụ 250 tỉ đô la vừa qua đă nói lên điều đó. Do đó, đừng ngạc nhiên khi Mỹ chấp nhận tṛ ngoại giao “đu dây” của (Không dùng từ này) đến khi nào tṛ “đu dây” c̣n phục vụ cho quyền lợi của Mỹ.
Giải Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm không phải do TT Trump lập ra mà đă được thành lập từ năm 2007 và đă trở thành truyền thống. Số phụ nữ được giải mỗi năm mỗi khác và do các nhân viên phụ trách giải đệ tŕnh. Năm 2017, con số lên đến mười ba vị. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là phụ nữ Việt Nam thứ hai được vinh danh.
Giống như các tuyên ngôn, tuyên cáo, áp lực quốc tế, lá thư của Nguyễn Bảo Nguyên là một việc nên làm, không phải v́ gởi cho bà Melania Trump mà là để gióng lên tiếng động về thực tế tù ngục tại Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu nghĩ rằng Mỹ sẽ đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện trên bàn hội nghị với (Không dùng từ này) là một điều không đúng với thực tế chính trị dưới thời Donald Trump, đừng nói chi là vào tận nhà tù thăm em. Không có bà Melania Trump lần này hay bà Hillary Clinton, bà Laura Bush nào trước đây vào nhà tù để thăm một tù nhân dưới chế độ (Không dùng từ này).
Nguyễn Ngọc Già, Cấn Thị Thêu, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài v.v... là người Việt Nam, và chỉ người Việt mới biết đau từ vết thương của đồng bào ḿnh đang rỉ máu trong nhà tù CS.
Nước mắt của Nguyễn Bảo Nguyên chỉ chảy trong Sông Cái ở Nha Trang chứ không chảy qua sông Potomac ở Washington DC xa lạ.
Trần Trung Đạo
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 20 2017, 10:54 AM
Gửi vào: #251


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,433
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ai phải chịu trách nhiệm trong việc "đốt" hàng chục ngàn tỷ tại Venezuela

Thời gian qua, khi những thông tin về việc đất nước đang tiến lên “Thiên đường XHCN” Venezuela đang có nguy cơ vỡ nợ, khiến cho giới lănh đạo Đ(Không dùng từ này) như ngồi trên đống lửa. Bởi v́ họ đă ôm “giấc mộng vàng”, khi liều mạng đầu tư vào đất nước này một số tiền lớn theo lời dụ ngọt của Tổng thống Venezuela - Hugo Chávez với hy vọng cùng người em vĩ cuồng này cùng dắt tay nhau đưa hai đất nước tiến lên XHCN.

Và hôm nay, việc Venezuela vỡ nợ đă trở thành hiện thực chứ không c̣n là nguy cơ nữa, th́ giới chóp bu (Không dùng từ này) im re, không dám hé răng.

Trước hết nói về đất nước Venezuela

Là một đất nước giàu có và thanh b́nh bậc nhất Nam Mỹ, Venezuela được đánh giá là quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới. Ước tính trữ lượng dầu của đất nước này là 297.570 triệu thùng, hơn cả Vương quốc dầu mỏ Trung Đông là Ả Rap Saudi (ước tính 267.910 triệu thùng).

Nhưng kể từ năm 1999, khi Hugo Chávez của Đảng Xă hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela (PSUV) lên làm tổng thống, đưa đất nước Venezuela đi theo ư thức hệ chính trị chủ nghĩa Bolivar và "chủ nghĩa Xă hội thế kỷ 21". Và từ năm 2013, khi Nicolas Maduro lên thay Hugo Chávez, do quản lư kinh tế yếu kém và tham nhũng tràn lan, đă đưa đất nước này ch́m vào cơn khủng hoảng triền miên.

Từ một đất nước có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới giờ đây đă phải đi nhập khẩu dầu mỏ, không cung cấp đủ điện sinh hoạt cho người dân, không nhập được nguyên liệu để nhà máy hoạt động, không mua nổi lương thực hay thuốc men, và thậm chí không có đủ việc làm để cho mỗi công chức có thể đi làm nhiều hơn 2 ngày một tuần, lạm phát đạt hơn 1.500% trong năm nay. Những hàng tiêu dùng cơ bản nhất, từ bánh ḿ đến giấy vệ sinh, đều thiếu thốn trầm trọng. Đến nỗi họ không c̣n tiền để in tiền.

Nhưng kinh tế chưa phải là điều tồi tệ nhất. Điều tồi tệ nhất là đây là một quốc gia thất bại, một nhà nước trên bờ vực sụp đổ. Trật tự xă hội Venezuela mong manh như một tờ giấy, hiện nước này có tỷ lệ giết người cao thứ hai thế giới, t́nh trạng cướp phá tràn lan không thể khống chế được(1).

Mô h́nh xây dựng XHCN của Hugo Chávez đúng là đă đưa đất nước Venezuela “Xuống Hố Cả Nút”. Đúng như mong muốn của ông ta.

Tai họa từ Đinh La Thăng và Nguyễn Tấn Dũng

Từ dự án “khủng” trên giấy.

Năm 2007, khi Hugo Chávez đang c̣n trong thời kỳ oanh liệt, ông Đinh La Thăng c̣n làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn dầu khí quốc gia VN (PVN) xin phép Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, xin được đàm phán với Công ty dầu khí quốc gia Venezuela về việc thành lập một liên doanh khai thác dầu giữa hai nước.

Tháng 6/2010, “Dự án khai thác và nâng cấp dầu nặng lô Junin 2” được chính thức ra mắt. Tổng mức đầu tư được loan báo lên tới 12,4 tỉ USD.

Ngoài tính chất “siêu dự án” về mặt quy mô vốn đầu tư, lô Junin 2, được PVN báo cáo Chính phủ nằm ở khu vực có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, cho phép khai thác công suất 1.400 tỉ thùng. Theo tỷ lệ vốn góp 40%, PVN có thể thu về 4 triệu tấn dầu/năm, dự kiến hoàn vốn sau 7 năm. Con số này tương đương 70% sản lượng dầu của Vietsovpetro, liên doanh dầu khí đầu tiên và lớn nhất tại VN.

Phần vốn mà VN phải đóng góp tương ứng với tỷ lệ tham gia 40% trong hợp đồng là 1,241 tỉ USD. Nếu tính cả “phí tham gia hợp đồng” (bonus) 584 triệu USD th́ tổng nhu cầu vốn của phía VN là 1,825 tỉ USD.

Chưa kể các chi phí đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD, chỉ riêng tiền mặt mà PVN trực tiếp trao cho Venezuela, một đi không trở lại, đă lên đến 532 triệu USD: 442 triệu tiền “bonus” (phí tham gia), 90 triệu tiền góp vốn ban đầu.

Tháng 4/2013, ban lănh đạo mới của PVN đă quyết định bỏ dự án này để “cứu” khoản tiền phải nộp lên đến 142 triệu USD, chấp nhận bỏ hơn 500 triệu USD, cho dù chưa thu được giọt dầu nào.

Lừa ma dối quỷ và qua mặt các bộ, ngành

Để thuyết phục sự chấp thuận của các bộ, ngành, PVN đă báo cáo rằng sản lượng của Junin 2 lên đến “200.000 thùng/ngày, tương đương 10 triệu tấn/năm”.

Bộ trưởng KH-ĐT Vơ Hồng Phúc đă phân tích các rủi ro tại thị trường Venezuela, đặc biệt là về tài chính, và đă yêu cầu “phải được cân nhắc hết sức thận trọng, đặc biệt khi nó được đầu tư bằng vốn nhà nước và vốn vay của DNNN”.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng bày tỏ lo ngại khi dự án chưa làm rơ được rủi ro tại quốc gia đầu tư, khả năng huy động vốn, trong đó làm rơ về thời gian ân hạn khoản vay.

Bộ Tài chính cũng cảnh báo về một loạt các yếu tố rủi ro về khoản góp vốn của VN khi chưa có đánh giá cụ thể, chưa cập nhật các chi phí, tỷ suất thu hồi vốn…

Không xin chủ trương của Quốc hội

Ngày 5/8/2010, Bộ trưởng Vơ Hồng Phúc đă có văn bản gửi PVN, yêu cầu phải khẩn trương hoàn tất hồ sơ dự án để tŕnh Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.

Ngày 10.8.2010, Bộ Tài Chính cũng có công văn khẳng định rằng, theo Nghị quyết 49/2010/QH12 th́ PVN phải lập hồ sơ tŕnh xin chủ trương Quốc hội. Nhưng tất cả những ư kiến trên đều bị Đinh La Thăng bỏ ngoài tai, và quyết đầu tư cho bằng được dự án này.

Mất hàng trăm triệu USD phi lư

PVN đă kư hợp đồng lập liên doanh với Venezuela vào ngày 29/6/2010, trước khi các cấp có thẩm quyền chính thức cho phép. Nhưng điều đáng nói là như công văn của Bộ Tài chính chỉ ra, trong hợp đồng này, PVN đă chấp nhận một điều khoản cực kỳ phi lư: Phía VN phải trả “phí tham gia” (bonus) cho Venezuela với mức 1 USD/thùng dầu. Trong ṿng 30 tháng, bất kể có dầu hay không, PVN vẫn phải nộp đủ phí này là 584 triệu USD bằng tiền mặt.

Trong khi “kết quả khoan và khai thác siêu sớm không đạt được như kỳ vọng nên bức tranh sản lượng toàn mỏ có khả năng không được như dự kiến”, ngày 12/5/2013, PVN vẫn phải nộp cho Venezuela 142 triệu USD (đợt 3).

15 ngày sau thời hạn này, nếu không nộp đủ tiền, “toàn bộ cổ phần” của PVN trong liên doanh sẽ “tự động bị chuyển” cho đối tác Venezuela; phía PVN/PVEF cũng sẽ “không được quyền thanh toán hoặc đền bù bất cứ đồng nào từ các khoản đă đóng góp, vay vốn hay đầu tư” ở Junin 2.

Năm 2013, ban lănh đạo mới của PVN đă phải quyết định đơn phương không thực hiện bản cam kết này v́ nếu có góp thêm 142 triệu USD cũng chưa chắc thu được thùng dầu nào, chấp nhận mất 442 triệu USD tiền “phí tham gia”, 90 triệu USD tiền góp vốn và các chi phí lớn khác mà đến nay vẫn chưa khắc phục xong hậu quả (2).

Toàn bộ những sai phạm trên đây, từ năm 2007 đến 2013 là thời kỳ ông Đinh La Thăng, và sau đó là ông Phùng Đ́nh Thực làm Chủ tịch Hội đồng quản trị PVN. Xuyên suốt trong thời kỳ này là chính phủ của TT Nguyễn Tấn Dũng.

Với một dự án lớn và được hứa hẹn một tương lai sáng ngời như vậy, dứt khoát ông Nguyễn Tấn Dũng phải thông qua Bộ Chính trị, mà người đứng đầu là TBT là Nông Đức Mạnh.

Ngoài việc nướng hàng chục ngàn tỷ vào dự án khai thác dầu tại Venezuela mà kết quả chẳng thu về được giọt dầu nào, theo Kết luận của UBKTTƯ, ông Đinh La Thăng c̣n làm thất thoát hàng mấy ngàn tỷ tại các dự án đắp chiếu thời ông làm Chủ tịch Tập đoàn PVN.

Đến thời ông làm Bộ trưởng GTVT, th́ hàng trăm dự án BOT mọc lên nhan nhản khắp cả nước không qua đấu thầu, làm trên những con đường cũ, chỉ “tráng men” cho có rồi lập trạm thu tiền, như kiểu đơm đó. Làm cho người dân từ Nam chí Bắc phản ứng dữ dội v́ những trạm BOT hút máu dân một cách trắng trợn và phi lư này.

Trong mấy chục năm cầm quyền của Đ(Không dùng từ này), có lẽ chưa có cặp đôi nào có thành tích xuất sắc trong việc “làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân” (chữ của nữ NS Kim Chi) như cặp đôi Nguyễn Tấn Dũng- Đinh La Thăng.

Nếu như hai trẻ em chưa đến tuổi thành niên Nguyễn Hoàng và Ôn Thành Tân đă bị TAND quận Thủ Đức xử 10 tháng tù và hơn 8 tháng tù v́ đói mà cướp 2 ổ bánh ḿ ngọt và 3 bịch me, trị giá 45 ngàn đồng. Th́ với Nguyễn Tấn Dũng và Đinh La Thăng, phải xử như thế nào để chứng tỏ nền Tư pháp XHCN là tiên tiến, văn minh và công bằng?
16/11/2017
Phương Trạch


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 20 2017, 10:55 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

13 Pages: V « < 11 12 13
Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 22nd November 2017 - 12:07 PM