IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> My Nhan
hoaha
post Jul 29 2011, 08:34 PM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Mỹ Nhân.

Có những cái ĐẸP đuợc thăng hoa trở thành chuẩn nghệ thuật cho niểm khát vọng muôn đời của con nguời măi huớng tới CHÂN - THIỆN - MỸ. Cái đẹp của các đại mỹ nhân đă đi vào văn học nghệ thuật và những giai thoại xung quanh các nàng c̣n măi truyền tụng đến ngàn thu.

Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc


Đệ Nhất Phu Nhân bà Ngô Đ́nh Nhu

Bà Ngô Đ́nh Nhu tên thật là Trần Lệ Xuân, là một gương mặt then chốt và là một người phụ nữ duy nhất có quyền chấp chánh trong chính quyền đệ nhất Việt Nam Cộng ḥa . Bà là dân biểu, chủ tịch Hội Phụ nữ Liên đới, thường được gọi là "Bà Cố vấn" và được coi là Đệ nhất Phu nhân (First Lady) của Việt Nam Cộng ḥa từ năm 1955 đến năm 1963 v́ Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm không lập gia đ́nh.

Bà cũng là nguyên nhân gây sụp đổ nền cai trị VNCH, trong cuộc phỏng vấn của báo New York Times, bà đă trả lời một cách đanh thép, vượt sức tưởng tượng của mọi người, chứng tỏ ḿnh là người có quyền lực trong chính quyền.

Trong sự kiện Phật Đản năm 1963, ngày 3 tháng 8 năm 1963, trong cuộc nói chuyện với phụ nữ bán quân sự,
Bà lên tiếng rằng: "hoạt động của Phật giáo là một h́nh thức phản bội xấu xa...".

Về sự tự thiêu của Ḥa thượng Thích Quảng Đức, bà nhiều lần công khai phát biểu: "Vỗ tay hoan nghênh các vụ tự thiêu, nếu ai có thiếu xăng dầu th́ tôi sẽ cho" và gọi vụ tự thiêu là "nướng sư" (nguyên văn: I would clap hands at seeing another monk barbecue show).

"Tôi c̣n thách mấy ông sư thêm mười lần nữa. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật giáo là phớt tỉnh, không cần biết tới".

Các hành động, phát biểu thiếu cân nhắc và quá khích của bà góp phần đổ thêm dầu vào lửa dẫn đến cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, chấm dứt nền Đệ nhất Cộng ḥa của Việt Nam Cộng ḥa.

Cái chết của Ḥa thượng Thích Quảng Đức cũng là 1 đề tài đang tranh cải trong Phật Giáo, v́ trong đạo Phật tội lớn nhất của con người là tự hủy hoại thân thể ḿnh. Đây là cái chết mờ ám, đang cần được xác minh.

Bà c̣n là người khởi xướng kiểu áo dài cổ thuyền, khoét sâu (mà dân chúng vẫn gọi nôm na là "áo dài bà Ngô Đ́nh Nhu") tạo ra một làn sóng thời trang áo dài hở cổ mới mà những người cổ học lên tiếng phê phán.



Thái Hậu Dương Vân Nga


Dương Vân Nga là vợ của vua Đinh Tiên Hoàng, sau trở thành Hoàng hậu của vua Lê Đại Hành. Bà đóng vai tṛ đặc biệt quan trọng trong sự chuyển giao giữa nhà Đinh và nhà Tiền Lê. V́ làm hoàng hậu, sử sách cũng nhắc tới bà với tên Dương hậu hay Dương thái hậu.

Vốn là con ông Dương Thị Hiển quê ở vùng Như Quan, Ninh B́nh, rồi trở thành vợ Đinh Bộ Lĩnh, nên sau khi chồng bị ám hại, để lại đứa con 6 tuổi kế nghiệp Hoàng Đế, Dưong Vân Nga đă phải cáng đáng những khó khăn vượt quá sức ḿnh. Sự nghiệp thống nhất đất nước vừa được hoàn thành, bị đe doạ to nhiều phía. Bên ngoài phong kiến phương Bắc sửa soạn đại binh xâm lược. Bên trong, các triều thần phân biệt tranh chấp gay gắt có nguy cơ nổ ra nội chiến lớn. Là người có tầm nh́n xa thấy rộng, Dương Vân Nga nhận rơ chỉ có Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn là người có khả năng giải quyết t́nh h́nh nghiêm trọng ấy.

Khi đề cao vơ công văn trí của Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn, những anh hùng của công cuộc thống nhất đất nước không thể không kể đến sự cống hiến của Dương Vân Nga đối với đất nước. Có thể xem Dương Vân Nga là cái đầu nối giữa Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn, người làm cho công cuộc thống nhất đất nước do Đinh Bộ Lĩnh khởi xướng được Lê Hoàn hoàn tất.

Điểm đáng phục ở bà là bà biết bỏ xuống những vật mà ḿnh nhất lên một ḿnh ko nổi, bà thà mất ngôi vị trị v́ c̣n hơn là để đất nước trong t́nh trang giặc trong th́ loạn giặc ngoài nḥm ngó.

Tên thật là Lê Thị Yến., xuất thân từ gia đ́nh nông dân, người làng Thổ Lỗi, Bắc Ninh. Tương truyền bà đứng tựa gốc lan trong khi mọi người trong làng nô nức ra xem đoàn xa giá của vua Lư Thánh Tông đi qua. Nhà vua cảm sắc đẹp và thái độ dửng dưng lạ lùng của bà, bèn tuyển về cung làm Ỷ Lan (dựa gốc lan) phu nhân.

Sau khi vào cung Ỷ Lan không lấy việc trau chuốt nhan sắc, mong chiếm được t́nh yêu của vua mà quan tâm đến hết thảy mọi công việc trong triều đ́nh. Ỷ Lan khổ công học hỏi, miệt mài đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa sách nên chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người đều kinh ngạc trước sự hiểu biết uyên thâm về nhiều mặt của Ỷ Lan. Triều thần khâm phục Ỷ Lan là người có tài.

Năm 1066, Ỷ Lan sinh hạ hoàng tử Càn Đức. Nhà vua v́ đặc biệt quư Nguyên phi Ỷ Lan. Địa vị của Ỷ Lan trong hoàng tộc càng trở nên vững vàng.

Năm Kỷ Dậu (1069), vua Lư Thánh Tông thân chinh cầm quân đi đánh phương Nam, đă trao quyền nhiếp chính không phải cho Hoàng hậu Thượng Dương, cũng không phải cho Tể tướng Lư Đạo Thành, mà giao cho Ỷ Lan. Nguyên phi Ỷ Lan được tin cẩn trao quyền điều khiển chính sự ở triều đ́nh, nghĩa là gần như cho bà làm vua khi vua vắng mặt.

Vua đánh giặc lâu không thắng bèn giao binh quyền cho Lư Thường Kiệt, đem một cánh quân nhỏ quay về, dọc đường nhà vua nghe quan lại và dân ca ngợi Nguyên phi có tài trị nước, ḷng lấy làm xấu hổ mà nói: "Nguyên phi là đàn bà mà c̣n làm được như thế, ta là nam nhi mà chẳng làm được ǵ hay sao?". Nói rồi quyết chí cho quân quay lại đánh tiếp và thắng trận.

Năm 1072, vua Lư Thánh Tông đột ngột qua đời, thái tử Càn Đức lên ngôi mới có 7 tuổi, đó là Lư Nhân Tông. Triều Lư không tránh khỏi rối ren. Nhưng khi Ỷ Lan trở thành hoàng thái hậu nhiếp chính và Lư Thường Kiệt nắm quyền nguyên soái th́ nước Đại Việt lại khởi sắc, nhanh chóng thịnh cường.

Ỷ Lan đă thi hành những biện pháp dựng nước, yên dân, khiến cho thế nước và sức dân mạnh hẳn lên. Bởi vậy, năm 1077 khi Tống triều cử Quách Quỳ, Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược, với toàn quyền điều khiển triều đ́nh, Ỷ Lan đă huy động cả dân tộc cầm vũ khí đánh bại quân thù.

Về già, Ỷ Lan để tâm làm việc thiện, xây chùa và nghiên cứu về đạo Phật. Ỷ Lan là người sùng phật. Tính đến năm (1115), bà đă cho xây cất 150 chùa, đền.

Sử cũ có lời định đoán rằng, hẳn là bà sám hối về việc bức hại Dương thái hậu và 72 thị nữ nên mới làm như vậy (Đấy là lỗi lớn của bà, sử không bỏ qua và chính Ỷ Lan cũng tự lấy làm tiếc).

Đương thời, cảm ơn đức cao dày của bà, nhân dân đă tôn vinh bà Ỷ Lan là "Quan âm nữ". Bà là một trong những danh nhân có tài trị nước xuất chúng của dân tộc, một phụ nữ sáng danh của lịch sử nước nhà.



Vơ Tắc Thiên (Nhất Đại Nữ Hoàng)


Nữ hoàng Vơ Tắc Thiên đại đế cổ văng kim lai duy chỉ có 1 người này. Vơ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cũng có các tiểu nữ hoàng khác từng ngồi trên bảo tọa của hoàng đế, nhưng các quan điểm hiện nay chỉ xem Vơ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất, bởi v́ bà lên ngôi hoàng đế bằng chính thực lực của bản thân, không phải là tượng gỗ nghe theo sự điều khiển của kẻ khác


Vơ Tắc Thiên đă trải qua các vị trí tài nhân, chiêu nghi, hoàng phi, hoàng hậu, hoàng thái hậu, hoàng đế, thái thượng hoàng, nhưng cuối cùng trước khi qua đời đă quay lại với vị trí hoàng hậu của nhà Đường. Việc bà nổi lên nắm quyền cai trị bị các nhà sử học Khổng giáo chỉ trích mạnh mẽ nhưng các nhà sử học từ sau thập kỷ 1950 đă có cái nh́n khác về bà.

Lư thuyết chính trị Trung Quốc truyền thống không cho phép một phụ nữ được lên ngôi, Vơ hậu quyết định dẹp yên chống đối và đưa các quan lại trung thành vào triều. Thời cai trị của bà để dấu ấn về sự xảo quyệt tài t́nh và chuyên quyền hung bạo. Dưới thời cai trị, bà lập ra Cảnh sát mật để đối phó với bất kỳ chống đối nào có thể nổi lên, với cái tên khét tiếng Lai Tuấn Thần, Chu Hưng, nhưng đồng thời cũng có những hiền tài như Địch Nhân Kiệt.

Đến cuối đời, khi cái chết gần kề, Vơ Tắc Thiên cũng không truyền lại ngôi vị cho con cháu mà trả lại thiên hạ cho nhà Đường và để lại cho người đời tấm bia vô danh và nhiều tranh luận về công tội giữa các nhà sử học.


Tây Thi (Trầm Ngư)

Tây Thi sinh ở Giang Nam Việt quốc, là nguời đứng đầu tứ đại mỹ nhân Trung Quốc, như một đoá hoa đẹp c̣n ngậm sương mai.nàng như b́nh minh xuất hiện trên bầu trời đời Xuân Thu loạn lạc, làm tan loăng màu sắc u xám kéo dài trong lịch sử, tô điểm rực rở cho cả thời đại. Khi cô giặt áo bên bờ sông, bóng cô soi trên mặt nuớc sông trong suốt làm cô thêm xinh đẹp. Cá nh́n thấy ảnh cô, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó,nguời trong vùng xưng tụng cô là “Trầm Ngư”. Chính nhan sắc Tây Thi đă làm cho những tên tuổi vốn đă sáng lạng như Phạm Lăi, Câu Tiễn, Phù Sai, Ngũ Tử Tư, Văn Chủng càng đuợc khắc hoạ thêm đậm nét trong sử sách, rạng ngời trong thi hoạ Trung Quốc măi đến ngày nay. Nàng là người đă có công trong việc giúp Phạm Lăi, Việt Vương Câu Tiễn diệt vua Ngô Phù Sai. Nhưng cuối cùng, nàng chọn cái chết với vua Ngô cho vẹn toàn trung nghĩa.




Điêu Thuyền (Bế Nguyệt)

Điêu Thuyền bái nguyệt ở hậu hoa viên đột nhiên có một con gió nhẹ thổi đến, một vầng mây trôi che khuất mặt trăng. Đúng lúc đó, cha nuôi Vương Doăn buớc ra nh́n thấy. Từ đó ông thuờng nói với mọi nguời rằng con gái ḿnh đẹp đến nổi trăng sáng nh́n thấy cũng phải trốn vào sau lưng mây. V́ vậy, Điêu Thuyền đuợc mọi nguời xung tụng là “Bế Nguyệt”.

Điêu Thuyền là một vầng ánh sáng cuốn hút bao nổi đam mê, lúc nào cung rạng ngời giữ giáo gươm, khói lửa đời Tam Quốc, hiện đến như một tiên nga giáng trần, đẹp và trong trắng. Có ngờ đâu, với nhan sắc thiên phú ấy, Điêu Thuyền lại trở thành nạn nhân của một mỹ nhân liên hoàn kế để phải hứng chịu bao phủ phàn, tủi nhục bên cạnh những vinh quang, phú quư bọt bèo. Sự ḱnh chống, tranh giành giữa đám nguời vị lợi danh như Đổng Trác, Lữ Bố,Tào Tháo, Viên Thuật....

Trong "Thánh Thán Ngoại Thư", Mao Tôn Cương viết về Điêu Thuyền như sau:

"18 lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lữ Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền thắng nổi. Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến truờng, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nuớc mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời t́nh tứ ngọt ngào làm chiến luợc mưu cơ. Xem thế th́ cái bản lănh của "nữ tuớng quân" quả là tuyệt cao cuờng, đáng sợ thay!"


Vương Chiêu Quân (Lạc Nhạn)

Vương Chiêu Quân là cô gái đẹp thời Hán Nguyên Đế tại vị. Khi đó nam bắc giao binh, vùng biên giới không đuợc yên ổn. Hán Nguyên Đế v́ an phủ Hung Nô phía bắc, tuyển Chiêu Quân kết duyên với Thiền Vu Hô Hàn Tà để luỡng quốc bảo tŕ hoà hảo vĩnh viễn. Trong một ngày thu cao khí sảng, Chiêu Quân cáo biệt cố thổ, đăng tŕnh về phương bắc. Trên đuờng đi, tiếng ngựa hí chim hót như xé nát tâm can của nàng; cảm giác bi thương thảm thiết khiến tim nàng thổn thức. Nàng ngồi trên xe ngựa gảy đàn, tấu lên khúc biệt ly bi tráng. Nhạn bay về phương nam nghe thấy tiếng đàn, nh́n thấy thiếu nữ mỹ lệ trên xe ngựa, quên cả vỗ cánh và rơi xuống đất. Từ đó, Chiêu Quân đuợc gọi là “Lạc Nhạn”. Câu chuyện về nàng trở thành một đề tài sáng tác phổ biển của thi ca, nghệ thuật. Chiêu Quân đi vào lịch sử như một nguời đẹp ḥa b́nh. Sự quên ḿnh của nàng góp phần mang lại ḥa b́nh trong 60 năm giữa Trung Hoa và Hung




Dương Quí Phi (Từ Hoa)


Trong lịch sử Trung Hoa, thời Đại Đuờng của hoàng đế Lư Long Cơ trở nên nổi bật không chỉ là thời thịnh trị, thái b́nh, phát triển về mọi mặt mà nó c̣n lưu danh kim cổ gắn liền với tên tuổi nguời đẹp Dương Ngọc Hoàn. Sau khi nàng tiến cung, Ngọc Hoàn tự niệm cố hương, nàng đến hoa viên thuởng hoa, lệ rơi vào hoa, hoa chợt thu ḿnh, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, đó là loại Hàm Xú Thảo (cây mắc cỡ). Lúc này, có một cung nga nh́n thấy, nguời cung nga đó đi đâu cũng nói cho nguời khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi nguời gọi Dương Ngọc Hoàn là “Từ Hoa”.

Sau một vài biến cố trong cung, nàng lại trở thành suối nguồn tươi trẻ mà vua Đuờng Minh Hoàng khao khát, dệt nên mối t́nh vương giả, kéo dài gần 20 năm khiến nguời đời phải trầm trồ. Để rồi cuối cùng, bí ẩn các chết đầy bi kịch của Dương Ngọc Hoàn tại đồi Mă Ngôi, trong biến loạn An Lộc Sơn măi gieo vào ḷng nguời sự thương cảm và tiếc nhớ không nguôi....
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Aug 9 2011, 02:09 AM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35







Tác giả:
Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hăn
Bài số 3314-12-28544vb6072911

Tác giả đă góp một số bài viết đặc biệt về chuyện đời tị nạn, và được đề cử vào danh sách chung kết Viết Về Nước Mỹ 2011. Bút hiệu gồm 2 người: Minh-Đạo là một vị cao niên 86 tuối, viết lách cho... vui, trong khi Nguyễn Thạch Hăn, cư dân Houston, Texas sinh năm 1945, là một cựu sĩ quan Pháo Binh VNCH, hiện làm việc trong một công ty Energy tại thành phố Houston. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

***

Lúc gần đây báo chí và các đài TV Việt ngữ bán tán xôn xao về ông Phó Thủ Tướng Đức gốc Việt. Tôi thật sự cảm động muốn khóc, không phải v́ ông là người có tài, đẹp trai, ăn nói khôn ngoan hay làm lớn mà v́ nếu cha mẹ nuôi không mang ông về Đức, chắc hôm nay ông cũng đă là kẻ lang thang đầu đường xó chợ ở một nơi nào đó trên đất nước Việt Nam.
Bạn tôi muốn kể cho quư vị nghe về một đứa trẻ bụi đời, lang thang đầu đường xó chợ trên đất Hoa Kỳ, nhờ mẹ nuôi Việt Nam mang về chăm sóc, dậy dỗ đă trở nên người hữu dụng.
Tôi lượm được thằng Michael ở bên xa lộ 45 South Trên đường từ Houston đi Clear Lake. Dạo đó vào khoảng năm 1982, tôi mới ra trường và bắt được một job thơm phức làm cho cơ quan NASA ở Houston trong Mision Control Center, do một ông bạn học cùng lớp giới thiệu. Cuộc đời tôi gặp bao nhiêu là may mắn bất ngờ, đúng là trời cho. Cho nên tôi vẫn nhớ ơn ông Trời, cố gắng học làm người tử tế, dù có chịu thiệt tḥi một chút cũng cam ḷng.
Số là hôm đó tôi đi làm trễ, vừa từ xa lộ rẽ vô NASA road 1, thấy một thằng nhóc đi bộ lang thang bên lề đường, vai mang túi sắc to tướng, kiểu túi sắc quân đội, như ngày xưa tôi nhận được khi mới vào trường Vơ Bị. Nhóc đưa ngón tay cái lên ngoắc ngoắc xin quá giang. Tôi vội dừng xe lại hỏi:
-Mầy muốn quá giang hả?
-Yes, Sir!
Hắn vội vă quăng cái “sắc” quần áo ra sau xe truck, với tay mở cửa và nhảy phóc lên ngồi cạnh tôi. Mùi mồ hôi bốc lên nồng nặc. Không chịu nổi, tôi phải quay vội cửa kiếng xe xuống. Tôi hỏi chàng “Trẻ Tuổi Bụi Đời”:
-Mày muốn đi đâu?
-Đi đâu cũng được!
-Nhà mày ở đâu?
-Tôi không có nhà, mới từ OMAHA quá giang xe xuống đây.
Tôi nghĩ trong bụng:’Gặp thứ thiệt rồi”.
-Tao phải đi làm bây giờ, thôi tao thả mày xuống Clear Lake Park, ở đó có đủ cả pḥng vệ sinh và chỗ che mưa nắng đến trưa tao kiếm cái ǵ cho mày ăn.
Bà xă tôi hay cằn nhằn về vụ cho mấy tay “bụi đời” quá giang xe. Kể ra th́ cũng nguy hiểm, chẳng may gặp anh chàng khùng nào đó coi mạng người như cỏ rác, vậy là giống như trứng giao cho ác! Nhưng tôi quan niệm khác, sống chết có số, ngày xưa lúc c̣n xông pha trận mạc, ḿnh đâu có tránh đạn được, toàn là đạn tránh ḿnh thôi. Cho nên mỗi khi lái xe một ḿnh, gặp người xin quá giang, nếu thuận tiện tôi vẫn “dzớt” như thường. Kể như đền ơn những người từng cho tôi quá giang hồi mới chân ướt chân ráo bước chân đến đất Mỹ này. Hồi đó, mỗi ngày đi làm phải lội bộ hàng mấy cây số trên đường đầy tuyết. Nếu gặp xe nào cho quá giang thôi mừng hết lớn.
Từ sở làm đến hồ Clear Lake chỉ mất vài phút lái xe, tôi vẫn hay ra đó ăn trưa, dỡn với mấy con chim hải âu bằng cách liệng lên cao một miếng bánh ḿ sandwitch thế là cả đám nhào xuống kiếm mồi, bu lại chung quanh, tôi chỉ vung tay ra cũng túm được một chú. Đôi khi buồn ngủ quá bèn đánh một giấc như “Những Ngày Xưa Thân Ái”.
Buổi trưa tôi mua 2 phần ăn rồi lái xe đi kiếm “Chàng Bụi Đời”. Đậu xe vào parking, nh́n ra mấy bàn picnic sát bờ hồ, thằng nhóc ngồi đó đang chăm chú xem cuốn album cũ nát. Thấy tôi đến, nhóc vội đứng lên chào và rất mừng rỡ, có lẽ v́ túi đồ ăn khá lớn tôi mang đến. Hắn đưa cho tôi cuốn album và giải thích:
-Tôi thấy sau kiếng xe của ông có gián cái huy hiệu nhảy dù, chắc ông là người Việt Nam?
-Sao mày biết?
-Ba tôi cũng từng chiến đấu ở ViệtNam, trên mũ cũng có cái huy hiệu giống như cái ông gián sau xe. Đây ông xem có đúng không?
Hắn vừa nói vừa chỉ vào tấm h́nh chụp một chàng lính Mỹ mặt non choẹt, trên dưới 25 tuổi, đầu đội mũ đỏ của lính nhảy dù ViêtNam thời xưa, cổ áo mang hai bông mai vàng đàng hoàng. Nếu không có cái mặt Mỹ ai dám bảo không phải là lính nhảy dù VN?
Tôi nh́n tấm h́nh thấy quen quen, đúng là thằng Doug Salvatore, Trung Úy trong ban Cố Vấn của tiểu đoàn tôi. Sở dĩ tôi nhớ tên anh ta v́ hắn hiền khô it nói, rất thích đội chiếc mũ đỏ nhẩy dù lệch hẳn qua một bên, gặp ai trong tiểu đoàn bất kể cấp bậc, cũng dơ tay chào miệng lẩm nhẩm “hảy đù kú gắn” . Ai cũng cười hiểu rằng hắn muốn nói “Nhảy Dù cố gắng”, Doug cũng cười theo. Hắn hiền khô it nói, nhưng mỗi khi nhờ ǵ hắn đều giúp đỡ tận t́nh, từ việc gọi hải pháo, phi vụ oanh kich, máy bay tải thương đến xin vật liệu xây cất doanh trại. Mấy chiếc xe của tiểu đoàn hết b́nh điện muốn nổ máy, kêu hắn đến là xong ngay, đẩy xe chạy băng băng một chút xíu, thả chân số là nổ máy liền. Hắn có thêm một biệt danh khác là “cargo 5 tấn”, ư nói mạnh như xe vận tải 5 tấn. Thỉnh thoảng hắn c̣n mua tặng tôi cả đồ trong PX nữa. Lính trong tiểu đoàn gọi hắn là “Đất”. Biệt danh đó cũng gần giống với tên thiệt. Mỗi lần gọi “Đất” hắn chỉ nhe răng ra cười. Sau này biết được ư nghĩa của chữ “Đất” hăn càng thích thú hơn, Một lần tôi hỏi hắn, sao tên của bạn là Salvatore, hơi giống như Salvadore vậy, thế bạn có phải gốc Nam Mỹ không? Hắn nói chẳng có liên quan ǵ cả, tổ tiên hắn đến từ Tây Ban Nha.
Hắn đă cứu tiểu đoàn tôi nhiều lần trong các cuộc hành quân thời “Mùa Hè Đỏ Lửa” nhờ xin được kịp thời những phi vụ yểm trợ vũ băo từ đệ thất hạm đội hay từ căn cứ Utapao bên Thái Lan.
Trong trận giải cứu An-Lộc, tuyến pḥng thủ của đại đội bị chọc thủng. Tôi bị một mảnh cối vào bụng, cắt hết nửa lá gan, máu ra lênh láng. Thằng Đất một tay bắn M16, một tay kéo tôi vào gốc cây cao xu. Hắn xin trực thăng tải thương vào bênh viện dă chiến Mỹ, nếu không tôi chắc đă đi luôn rồi. Tôi mang ơn cứu tử của Đất từ ngày ấy. Sau trận An Lộc, hắn về Mỹ. Tôi mất liên lạc với hắn từ ngày tan hàng. Bây giờ lại gặp con hắn ở đây, đúng là số Trời. Tôi mừng rỡ ôm lấy thằng bé, hỏi cuống quưt:
Tao là bạn của Doug, ba mày bây giờ ở đâu?
Hắn rớm nước mắt:
-Ba tôi chết cách nay 5,6 năm rồi.
-Kể tao nghe đi, sao vậy?
-Ổng bị đụng xe trên xa lộ bởi một người say rượu, chết ngay tai chỗ.
-Má mày đâu mà để mày đi lang thang như vầy?
-Má tôi có chồng khác, tôi không thể sống với cha ghẻ nên bỏ nhà ra đi.
-Mầy đi má mầy có biết không?
-Cả nhà c̣n ngủ, nào ai biết.
-Mầy c̣n nhớ số phone nhà không.
-Tôi có đây, nhưng giá nào tôi cũng không về đâu.
-Tao đâu có nói là bắt mầy về nhà, chỉ là gọi cho má mày yên tâm thôi, để bả khỏi báo cảnh sát, mầy hiểu không?
-Dạ hiểu.
-Thôi được rồi, quăng đồ đạc lên xe rồi đi theo tao.
Tôi dẫn thằng bé lại Motel 6 và book cho nó một đêm, thủng thẳng tính kế giúp đỡ. Dù sao nó cũng là con của ngướ bạn đă có ơn cứu mạng với tôi, tôi quyết tâm cứu lại con bạn.
Có câu của Phật dạy “xây 7 cái ǵ ǵ đó, cũng không bằng cứu cho một người” Biết đâu cha nó đă dẫn nó lại cho tôi? Tôi dặn thằng bé, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo đàng hoàng, chờ tôi sẽ tới đón nó trong ṿng 2 tiếng đồng hồ nữa.Tôi lái xe về sở, nói chuyện hoàn cảnh của thằng nhóc với xếp và mấy người bạn làm cùng nhóm, xin xếp cho nghỉ vài ngày để giúp đỡ nó. Mỗi người khuyên một câu, đại khái nói tôi phải cẩn thận với mấy đứa trẻ bụi đời. Chúng nó có cả ngàn chuyện rắc rối, hút sách, đánh lộn, cướp giựt, có khi nó c̣n thưa ngược lại là ḿnh lới dụng làm chuyện bậy bạ v…v…Tôi đă quyết tâm cứu nó nên bỏ ngoài tai tất cả những lời khuyên chân thành đó. Tôi chở thằng nhóc vào sở và giới thiệu với mọi người, đồng thời gọi điên thoại cho mẹ nó, cho biết nó đang đứng cạnh tôi và muốn nói chuyện với bà.
Tôi tránh ra một nơi để hai mẹ con nói chuyện được tự nhiên. Một lúc sau trở lại, nhóc nói mẹ nó muốn đươc tiếp chuyện tôi. Bả ngỏ ư trao toàn quyền cho tôi và cầu xin tôi giúp cháu, bởi v́ đời sống trong nhà bà như ở địa ngục, cha ghẻ con ghẻ không ngày nào là không gây gỗ nhau. Tôi chấp nhận lời khẩn cầu của bà, yêu cầu bà viết cho tôi tờ giấy, giao thằng Mike cho tôi, hứa không kiện tung ǵ cả và phải có thị thực chữ kư đàng hoàng. Tôi cho bà địa chỉ nhà tôi, số điện thoại sở và phone nhà, cần ǵ cứ gọi cho tôi biết. Tôi nghĩ, có thể sẽ gặp rất nhiều rắc rôi sau này, nhưng chấp nhận vậy. Xưa kia tôi đă từng chấp nhận biết bao rủi ro nguy hiểm khi ra trận, bây giờ có chút đỉnh nhằm nḥ ǵ?
Tôi phân vân không biết có nên nói thiệt với bà xă không? Chắc phải nói rồi, nhưng dẫn nó về nhà chắc là bả không thể nào chấp nhận được.Đành phải gởi thằng nhỏ lại bà chị. Chị có một quán ăn VN. Khi c̣n ở quê nhà, chị cũng mở nhà hàng nho nhỏ, từng nuôi nhiều tay anh chị trong quán cho nên du đăng không đứa nào giám phá phách hay đ̣i đóng hụi chết!. Tính t́nh chị phóng khoáng cởi mở, mấy đứa du thủ du thực đều nể mặt.
Buổi chiều, tôi dẫn thằng nhóc lại nhà hàng, kêu cho nó một dĩa cơm đồ biển thật to, thằng nhóc chỉ ăn một loáng là hết sạch, như thể đă nhịn ăn cả tháng rồi. Dặn nó ăn xong cứ ngồi đó. Đợi văn khách, tôi gặp chị, nói rơ hoàn cảnh của nó xin chị mở rộng tay cứu giúp nó, chỉ có chị mới giúp được nó thôi. Xin chị cho nó một chỗ ở tạm, c̣n mọi thứ khác tôi sẽ lo. Chị hơi lưỡng lự một chút, thở dài:
-Thôi được, sau khi đóng cửa tiêm, cậu chở nó về nhà, chúng ta sẽ nói chuyện với nó.
Tôi mừng rỡ quá xá, cám ơn chị rối rít, tôi quay đi để che gịng lệ tuôn trào, chị lúc nào cũng quan tâm và che chở bao bọc tôi. Cha mẹ mất sớm, chị săn sóc và nuôi nấng tôi như mẹ, lúc nhỏ tôi vẫn sống với chị cho đến khi nhập quân ngũ. Những lần bị thương thập tử nhất sinh chị vẫn là người bên cạnh tôi. Lớn lên mỗi khi gặp rắc rối trong cuộc đời, tôi đều chạy đến chị. Thật là Ông Trời đă cho tôi một bà chị để thay thế mẹ. Chị góa chồng từ năm 1970, ở vậy nuôi ba đứa con trai. Tôi và gia đ́nh chị đă may mắn thoát được trong những giờ phút cuối cùng của miền nam, nhưng đứa con thứ nh́ của chị đă ra đi vĩnh viễn trên đường vượt biên, trong lúc con tàu c̣n lênh đênh trên đại dương. Qua Mỹ, hai chị em xin được việc làm trong một nhà hàng tàu. Chị phụ nấu bếp, c̣n tôi làm chân “chạy bàn”. Chị bắt tôi phải đi học, chỉ cho làm cuối tuần thôi. Nhiều khi thấy chị vất vả quá, tôi xin chị cho tôi nghỉ học để phụ giúp gia đ́nh nhưng chị cương quyết từ chối. Chị nhắc nhở tôi đó là bổn phận của chị đă được cha mẹ giao phó trước khi nhắm mắt, phải lo cho tôi ăn học đến nơi đến chốn, thành gia thất đàng hoàng, nếu không sau này làm sao nh́n mặt các người nơi suối vàng. Mỗi năm, vào ngày dỗ cha mẹ. chị bắt tôi phải thề trước vong linh các người là không được bỏ học dù bất cứ ḥan cảnh nào, cho nên tôi cố gắng học, vật lộn với tiếng anh tiếng u, những phương tŕnh đại số và toán giải tích. Những thứ đó chỉ c̣n lờ mờ trong trí óc cằn cỗi của tôi sau bao nhiêu năm lăn lộn ngoài chiến trường. Nhiều khi làm bài không kịp phải ngủ đêm ngay tại trường trong các pḥng học. Có lần mệt mỏi quá, tôi đă ngủ gục khi lái xe về nhà, rơ ràng tôi đă thắng xe lại khi đến đèn đỏ, thế mà vẫn tông vào đít xe trước mặt. Báo hại phải năn nỉ chủ xe rồi bỏ tiền túi ra thường. Đă bao lần tôi muốn bỏ cuộc nhưng tôi tự nhủ “Nhảy dù cố gắng!” nhưng phần lớn vẫn là không muốn phụ ḷng mong ước của chị. Ngày tôi ra trường, khi nh́n thấy tôi được gọi tên lên lănh bằng, chị là người la to nhất hơn cả mấy đứa nhóc. Chị xung sướng hơn cả tôi, tôi ra trường, nhưng mảnh bằng là của chị, công lao là của chị. Hai chị em ôm nhau chụp h́nh kỷ niệm mà nước mắt chị ướt trên ngực áo tôi. “Thế là tâm nguyện của chị đă thành, chỉ c̣n việc cưới vợ cho cậu nữa là xong” chị nói với tôi như thế trong buổi tiệc ăn mừng. Tôi đă già đầu rồi, bao nhiêu năm chiến trận, đă từng chỉ huy hơn một đại đội nhảy dù, thế mà chị vẫn nghĩ tôi c̣n con nít.
Trở lại chuyện thằng nhóc, 10 giờ tối, tiêm bắt đầu dọn dẹp đóng cửa. Tôi dẫn nhóc lại giới thiệu với chị và xin phép chị chở thằng nhóc về nhà trước.
Tôi cắt nghĩa qua loa về phong tục tập quán của người Việt, kính trọng người lớn tuổi hơn ḿnh, nhất là người già cả, thế nào là tiên học lễ hậu học văn, kính trên nhường dưới.
Những điều căn bản đạo đức của người Việt không t́m thấy trong sách giáo khoa ở trên đất Mỹ này. Nhóc hứa với tôi từ nay sẽ chăm chỉ học hành không la cà hút sách nữa. Nghe vậy tôi cũng yên ḷng. Tôi thấy thương nó như chính con tôi vậy.

Buổi tối, cả nhà quây quần trong pḥng family room. Thằng nhỏ được mang ra tŕnh diện:
-Đây là Mike, c̣n đây là bà Ánh, hai người con của Bà là Dũng và Trí.
Cả nhà bắt tay nhau và nói lời chúc tụng xă giao. Bà chị tôi dặn thằng Mike:
-Từ nay con gọi ta là Má Ba, mặc dù tên của ta là Ánh, ta đă nhận con là con, ta sẽ đối sử với con như hai đứa con của ta, con có chịu không?
Thằng nhóc nói lư nhí:
- Yes Má Ba.
-Con bao nhiêu tuổi?
-Dạ 13.
-Thằng Trí 16 là anh Hai, Thằng Mike ta đặt tên VN là Mai là anh Ba, thằng Dũng trẻ nhất 12 tuổi là Út cũng gọi là thằng Tư nghe chưa. Tất cả đều dạ ran, Thằng Mike chẳng hiểu đầu đuôi ra sao tôi phải cắt nghĩa cho nó hiểu.
- Con lớn nhất của Má Ba nick name goi là Number two, nó được gọi là number three, trên thằng Tư một bực. Nó thắc mắc sao không có number one. Má Ba trả lời đó là luật lệ. C̣n luật nữa là ở nhà chỉ nói tiêng Việt thôi. Bắt Đầu từ ngày mai, thằng Mai cũng phải nói tiêng Việt. Má Ba cho một đặc ân, trong mấy tháng đầu, nếu thằng Mai không biết tiếng Việt cho phép thằng Hai và thằng út nhắc nhở.
Chị tôi nói tiếp:
-Ngày mai cậu Út dẫn thằng Mai đi xin học, về nhà phải học và làm bài tới 9 giờ tối, sau đó muốn coi TV hay làm ǵ khác tùy ư, 10 giờ tối phải đi ngủ. Chủ nhật phải đi lễ sớm, thằng Mai phải ghi danh học Việt Ngữ ở trường Nhà Thờ như hai đứa kia. Thằng Út lên dọn pḥng cho thằng Mai ngủ.
Tôi cười nói với chị:
- Toàn là “phải” này “phải” kia y như bà “xếp” của em vậy. Thằng Mai “phải” nghe lời Má Ba nghe chưa!
Nhóc vội vàng trả lời: “Yes, Sir!”
Chị lườm tôi:
-Mấy đứa này phải dặn kỹ càng như vậy mới được, c̣n không vào lỗ tai này ra lỗ tai kia mất cậu ơi!
Hướng về thằng Mai chị tôi hỏi:
-Sao mày bụi đời.
Thằng Mai rớm nước mắt, ngập ngừng một lúc mới thốt nên lời:
-Má Ba ơi, con rất cô đơn và buồn khổ, lớn lên không cha. Cha ghẻ của con là một người cọc cằn, khó tánh và nghiện rượu, trong nhà căi lộn sảy ra hàng ngày. Tất cả giận giữ của mẹ và cha ghẻ đều đổ lên đầu con. Cuối cùng con phải bỏ nhà ra đi.
-Rồi mày ở đâu, làm sao mà sống?
-Con phải ngủ dưới gầm cầu hay trốn vào mấy căn nhà bỏ trống. Ăn cắp đồ, lục thùng rác hay bán cần xa ma túy để kiếm sống.
Chị xoa đầu thằng nhóc và khuyến khích nó rồi dẫn tôi đến thắp nhang bàn thờ cha mẹ, hứa sẽ chăm nuôi thằng Mai như con chị. Chị nói với tôi có lẽ Chúa mang thằng Mai cho chị, để an ủi chị những lúc thương nhớ thằng con đă bỏ chị ra đi. Thế là chị lại có ba đứa con như xưa. Tôi thấy chị lau vội hai giọt nước mắt vừa lăn trên má.

*

Bà chị tôi áp dụng luật lệ giang hồ và rất nghiêm khắc với mấy đứa con. Anh rể tôi qua đời từ khi mấy đứa c̣n rất nhỏ. Anh là một Phật tử thuần thành, vẫn hay đi Chùa vào những dịp lễ lớn. Chị là con chiên của Chúa, hai người khác đạo nhưng vẫn sống với nhau ḥa thuận, đạo ai nấy giữ, mấy đứa con th́ vừa cho đi nhà thờ vừa cho đi chùa. Sau khi anh mất chị ở vậy, làm ăn vất vả để nuôi con ăn học. Qua Mỹ, Tôi và chị đi làm công một thời gian, hai chị em để giành được một số vốn nhỏ rồi mở tiệm ăn VietNam. Bạn bè Mỹ của mấy đứa cháu đến nhà chơi phải nói tiếng Việt và ăn đồ ăn ViêtNam. Có lần chi giải thích với mấy đứa con:
-Chúng mày tới nhà bạn phải nói tiếng Mỹ, tiếng của cha mẹ chúng nó phải không? Ăn đồ ăn của cha mẹ chúng nó phải không? Vậy th́ chúng nó cũng phải nói tiếng Việt và ăn đồ ăn của tao, thế mới công b́nh chứ.
Mấy đứa con hết ư luôn.
Mấy đứa nhóc Mỹ ăn đồ ăn VN riết rồi đâm ghiền, món ǵ cũng không từ, nước mắm, mắm tôm cũng mê luôn. Chúng gọi mắm tôm là mắm “con chuột”.
Chỉ một thời gian ngắn, thằng Mai đă có thể nói chuyện thông thường hằng ngày bằng tiếng Việt. Nó lớn lên trong t́nh thương gia đ́nh của chị tôi, nó rất hănh diện có một mái nhà ấm cúng và một người mẹ thương yêu chăm sóc cho nó . Ngày thường cả ba đứa nhỏ đều đi học. Ngày Chủ Nhật, sáng đi lễ nhà thờ rồi theo học lớp Việt ngữ tại đó, chiều đi lên chùa học vơ VOVINAM và họp Hướng Đạo. Ngày này qua tháng nọ, thằng Mai đă thành một đứa nhỏ Việt Nam từ cách ăn nói lễ phép, đi thưa về tŕnh hẳn hoi, biết khoanh tay chào người lớn tuổi, biết cầm hai tay dâng đồ ăn cho Má Ba, biết quỳ lạy trước bàn thờ cha mẹ tôi. Ngày Tết cũng biết mừng tuổi chị tôi, biết cầm cờ vàng đi biểu t́nh ngày quốc hận. Nó ḥa đồng với tụi nhóc VN chẳng khó khăn ǵ. Gặp người Việt họ vẫn tưởng Mai là đứa con lai, ai cũng khen ngoan và lễ phép, có đâu ngờ rằng nó là thằng Mỹ con chính hiệu con nai vàng! Nếu mấy đứa con nít Việt Nam lớn lên trên đất Hoa Kỳ bị gọi là “Chuối” , ngoài da vàng, nhưng trong đầu óc đă Mỹ hóa hoàn toàn! Th́ phải gọi thằng Mai là bánh bao, ngoài th́ trắng trong th́ hầm bà lằng đủ thứ.
Mai và thằng út học chung một lớp, đi đâu cũng có nhau, anh em rất thân thiết. Nó hay săn sóc hỏi thăm sức khỏe chị tôi, bắt chước thằng Út rót nước mời chị mỗi khi chị đi làm về, đôi khi c̣n nấu những món ăn nhà quê của người bản xứ mời chị ăn. Má con càng ngày càng thắm thiết. Chị cũng rất thương nó, có khi c̣n hơn cả mấy đứa con ruột của chị. Chị vẫn hay than thở với tôi “Tội nghiệp thằng Mai, có mẹ cũng như không.”

*
Một hôm chị nhờ tôi vô trường xem có chuyện ǵ sảy ra cho thằng Mai và thằng Út, v́ nhà trường yêu cầu chị đón chúng nó về nhà. Hai đứa đă đánh lộn với một đám học sinh khác trên xe bus và bị bị đuổi học hai ngày. Chị tôi chửi cho một trận nên thân và phạt đứng úp mặt vào tường 2 giờ và dặn lần sau không được đánh lộn nữa.
-Tại sao hai đứa mày đánh lộn, chị hỏi.
Thằng Mai giành phần:
-Tại mấy đứa học sinh trên xe bus chọc ghẹo thằng Út ăn hiếp nó, goi nó là “chink choong” hay “Ê Chinese go home”. Con đă nói thằng Út với con là anh em, chúng nó không chịu để yên thằng Út. Thế là đánh nhau.
-Lần sau phải thưa nhà trường, không được đánh lộn nghe không?, tao bảo không nghe, tao không chửi bằng tiếng Việt nữa đâu. Tao sẽ ra trước cửa nhà chửi chúng mày bằng tiếng Mỹ cho tất cả hàng xóm nghe cho xấu hổ cả lũ.
Từ đó thằng Mai không giám đánh lộn nữa.

*
Mai và Út ra High School cùng một lượt, rồi ghi danh vào UT (University of Teaxas at Austin) cùng với anh Hai của chúng. Tôi mua cho hai đứa một chiếc xe Toyota nhỏ để thỉnh thoảng về thăm nhà. Tôi nhận phần trợ cấp tài chánh cho ba đứa nhỏ thêm vào số tiền trợ cấp của chính phủ, để tiếp tục chương tŕnh đại học. Chị tôi cuối tuần nào cũng lái xe lên Áustin để tiếp tế đồ ăn cho mấy nhóc. Chị một đời làm thân c̣ lặn lội bờ ao, nay tóc đă bạc quá nửa, con cái đă đi hết, nhà cửa thật trống vắng. Tôi mời chị qua ở chung với tôi, nhưng chị một mực từ chối, tôi phải biểu mấy đứa nhỏ nhà tôi qua thăm hỏi chị luôn. Đôi khi chúng ngủ luôn lại nhà chị và coi chị như mẹ chúng.
Một hôm tôi nhận được cú điện thoại của thằng Mai gọi về:
-Cậu Út ơi, cứu con với.
-Mày làm sao vậy?
-Con đang ở City Jail! Cậu đừng cho Má Ba hay nghe, bả biết được, chửi con th́ cả hàng xóm đều biết, con xấu hổ lắm không giám về nhà đâu.
-Mày biết xấu hổ sao c̣n làm bậy.
-Con bị oan Cậu ơi.
-Mấy thằng trong tù, đứa nào mà chẳng kêu oan.
-Cậu không tin con, chứ ai tin con bây giờ?
-Nói tao nghe thử oan nỗi ǵ.
-Con gọi điên thoại trong nhà tù, chỉ được gọi giới hạn thôi. Cậu lên đây bail con ra rồi con sẽ giải thích cho Cậu nghe, Cậu phải tin con mới được.
Tôi sợ thằng Mai dính vào cần xa ma túy th́ tiêu đời, tôi vội hỏi nó:
-Mày buôn bán ma túy phải không?
-Đâu có nào, con bị cánh sát gài bẫy, nói là con solicit prostitutes.
Tôi thở ra nhẹ nhơm, chỉ là tội thường phạm thôi, chắc chỉ bị cảnh cáo hay làm public service vài giờ là cùng.
-Thôi được, mai tao sẽ lên đó lănh mày về
Sáng hôm sau lên đến nơi, Mai đă dược chuyển về nhà tù của County rồi. Tôi phải nhờ văn pḥng “Bail Bond” để lănh nó ra, trả hết 500 Đô tiền bail và $250 tiền lệ phí cho văn pḥng. Sau khi nạp tiền bail, thằng Mai được thả ra chờ ngày ra ṭa. Tôi hỏi Mai:
-Mày nói cho Cậu nghe, làm sao mà cảnh sat bắt mày?
-Cậu ơi, oan con thiệt mà. Sáng hôm qua con đi đổ xăng, thấy có con nhỏ bị hư xe, con tới coi giúp nó, cuối cùng là chẳng có hư ǵ cả chỉ là hết xăng thôi.
-Nó ăn mặc sexy lắm phải không?
-Sao Cậu biết?
-Th́ nó muốn làm mờ mắt mày để nó nói ǵ th́ mày cũng OK, tao c̣n lạ ǵ chuyện đó.
-Cậu c̣n chọc quê con nữa! Con nhỏ nói nó đi bụi đời v́ không ở nhà được với cha ghẻ, mấy hôm nay sài hết tiền rồi, chẳng c̣n xu teng nào trong túi. Con nghĩ tới hoàn cảnh của con ngày xưa nên muốn giúp nó, giống như Cậu đă giúp con vậy.
-Thế tao giúp mày tao có bị cảnh sát bắt không?
-Cậu đừng la con nữa mà. Nó nói cái ǵ nhỏ lắm con nghe không rơ con nghĩ là nó muốn xin tiền để đổ xăng. Dù nó không xin th́ con cũng cho mà, thế là con đưa cho nó 20 Đô. Con nhỏ vừa cầm tiền là đám cảnh sát ch́m nhào tới c̣ng tay con liền. Con hỏi tại sao họ bắt con, họ nói là con mắc tội mua dâm. Con nói chỉ là cho tiền con nhỏ đổ xăng thôi, không tin cứ hỏi con nhỏ kia th́ rơ, đám cảnh sát nói mai mốt ra Ṭa mà căi.
-Con nhỏ đó cũng là cảnh sát ch́m để gài bẫy mày thôi, mầy xập bẫy rồi làm sao ra được.
-Con xin con nhỏ nói vài lời công bằng cho con, nó chỉ cười cười thôi. Con muốn đục cho nó mấy cái quá đi.
-May mà mày không đục nó, chỉ nặng tội thêm, thôi được đi kiếm cái ǵ ăn đă, tội mày cũng nhẹ, để tao nhờ luật sư lo cho. Lần sau muốn giúp ai phải cẩn thận. Mày phải lựa lời nói cho Má Ba biết, kẻo mai mốt bả biết được th́ liệu hồn đó.
-Vậy tối nay con sẽ gọi cho Má Ba, Cậu nhớ nói giúp con một tiếng nghe, không thôi bả chửi con sặc máu đó.
-Người ta nói “oánh sặc máu” chứ chửi sặc máu sao được mày!
-Th́ con nói vậy Cậu hiểu rồi, Má con chửi cũng sặc máu đó Cậu ơi!
-Biết dzậy sao c̣n làm bậy.
-Con oan mà Cậu.
Tôi nhờ văn pḥng bail bond giới thiệu một luật sư, giá 300 Đô lệ phí.
V́ chưa có tiền án, thằng Mai chỉ bị phạt 2 ngày làm công tác công đồng thôi.

*
Mai và Út ra trường cùng một lượt. Chị Ba và tôi cùng đi dự lễ măn khóa, Chị rất mừng, ôm hai đứa con mà mắt đỏ hoe nói với chúng:
-Các con ơi, đây là sự thành công lớn nhất trong đời Má, tất cả các con đă thành tài và nên người.
Mẹ ruột của Mai v́ bịnh nặng không thể đến được, ba ghẻ của nó cũng không muốn đến. Thằng Út được hăng Boeing ở Seattle nhận vào làm, Út ở chơi với Mẹ hai tuần rồi đi nhận việc. Thằng Mai đă có ư ở nhà với chị tôi, nên ngỏ ư:
-Má à, đă từ lâu con nghĩ, anh hai và thằng Út đều đi làm ở xa, con muốn ở lại nhà để săn sóc Má, cho nên con đă nạp đơn vào trường Baylor College of Medecine ở Houston. Khóa Fall sắp tới sẽ nhập học. Con xin Má cho con về thăm Mẹ con ở OMAHA rồi trở lại ngay. Từ nay con sẽ măi măi ở nhà với Má và chăm sóc cho Má suốt đời.
Chị tôi rất cảm động khi nghe những lời chân t́nh đó, không cầm nổi nước mắt, ôm thằng Mai khóc vùi:
-Má rất cám ơn con đă lo cho Má, con không cần phải làm vậy, Má tự lo được mà.
-Má không sinh ra con nhưng đă cứu vớt con từ băi x́nh lầy và ban cho con đời sống mới đầy ắp t́nh thương, chau chút cho con từng miếng cơm manh áo. Không kể những ngày đau ốm bênh hoạn, Má luôn luôn ở bên con, cầu nguyện cho con chóng khỏi. Tha thứ cho con bao lỗi lầm.
-Thiên Chúa đă mang con giao cho Má, Má chỉ làm bổn phận của một ngừơi mẹ như bao nhiêu người mẹ khác trên thế gian này.
Mẹ ruột thằng Mai bị ung thư phổi, qua đời chẳng bao lâu sau đó. Tôi và thằng nhóc bay về Omaha đưa đám, đó là lần cuối cùng nó gặp lại mẹ và cha ghẻ. Ông nay cũng đă già lắm rồi, những chuyện cũ hầu như không nhắc lại nữa, nhưng khoảng cách th́ vẫn c̣n đó. Khó cho ai mở đầu một cuộc ḥa giải, mặc dầu cả hai đều muốn. Tôi phải làm một nhịp cầu để hai người bắt đầu đối thoại và tha thứ cho nhau. Chỉ là những hiểu lầm thôi. Ngày chia tay, Ông Già và thằng Mai ôm nhau khóc vùi, những giận hờn đều trôi theo gịng nước mắt.

*
Mấy năm qua thật mau, Thằng Mai ra trường và nội trú tại Texas Children Hospital trong khu vực Medical Center ở Houston.
Nó muốn trở thành một Bác sĩ con nít để săn sóc cho trẻ em, nhất là những trẻ em bụi đời. Thằng Mai bây giờ đă là một Bác Sĩ, nhưng với tôi nó vẫn chỉ là thằng nhóc bụi đời. Nhóc được rất nhiều trường hoc và Juvenile Probation Center mời đi nói chuyện về đè tài “Run Away From Home” Trẻ Em Bụi Đời.. Nó trở thành một thần tượng của đám con nít vô gia đ́nh. Nhưng không phải đứa nào cũng may mắn như nó, phải có một cơ duyên và một quyết tâm sắt đá mới vượt qua bao thử thách. Đường đời có bao nhiêu ngă rẽ, được mấy khúc phẳng phiu?
Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hăn
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
huongmy
post Jul 23 2012, 11:41 AM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 494
Tham gia: 19-March 06
Thành viên thứ: 87



Nơi có những cây tùng xanh biếc

Tác giả: Trần Thùy Mai


Ando Chie cúi xuống, nhúng ngón tay vào chậu nước. Nước ấm vừa đủ tắm. Nàng kéo màn che cửa sổ. Ngoài kia, một cây anh đào vừa nở, những nhành hoa rủ xuống trắng hồng.
- Xin ngài vào tắm kẻo nước nguội.
Giọng nàng nhỏ nhẹ và lễ phép.
Ngoài ba mươi tuổi, Chie mạnh khỏe và bầu bĩnh trong bộ kimono giản dị màu lam. Là người giúp việc cho hoàng thân Cường Để, cô đến ở đây đă hai năm theo sự bố trí của đại tá Wanatabe.
Năm ấy hoàng thân đă ngoài năm mươi tuổi, dáng vóc nho nhă nhưng khuôn mặt gầy đượm buồn. Ông chăm chú viết, những chữ Nho chân phương rất đẹp trên giấy trắng. Thấy Chie, ông ngẩng lên, vẻ mặt ngần ngừ:
- Lại tắm. Ta mới tắm hôm kia...
Chie mỉm cười. Ông hoàng Việt Nam này rất lười tắm gội. Người Nhật vốn rất sạch sẽ. Bao giờ cũng thế, Chie rất cương quyết với ông.
Chie đến gần, đặt tay lên nút áo ông. Chiếc áo năm thân màu nguyệt bạch với rất nhiều khuy vải. Ở Nhật đă hai mươi năm, ông vẫn mặc áo Việt. Những chiếc áo ông đem theo từ Việt Nam đă cũ nát từ lâu, chiếc áo này là do Chie phỏng theo áo cũ để may cho ông, kiểu áo Việt trên nền lụa Nhật.
Nhưng hôm nay, ông hoàng dường như trái tính hơn mọi ngày. Ông chùn lại, xua tay, ánh mắt đầy nghi kỵ:
- Để ta yên!
Từ lúc Chie mới đến đây, ông vốn đă không tin nàng. Ông không cho nàng sắp xếp thư từ giấy tờ trên bàn ông, dù chúng thường rất lộn xộn. Mỗi lần đau ốm, ông cố giấu không cho nàng săn sóc.
Chie là người do quân đội Nhật cử đến. Ông nghi kỵ nàng nhưng không thể từ khước nàng. Ông khư khư không cho nàng chạm tới đống thư từ, nhưng lại quá cần nàng thu dọn giường nằm bề bộn, pha cho ấm trà buổi sáng, khâu lại áo xống, cả ánh mắt cương quyết của nàng mỗi lần bắt ông đi tắm...
Nhưng hôm nay nh́n vẻ mặt ông, Chie lẳng lặng không nài ép ǵ nữa. Nàng quay ra một lúc rồi trở vào với khay trà. Nàng đă quen, những lúc căng thẳng thế này chỉ có một ấm trà Tàu mới có thể làm ông dịu lại.
Bước qua ngạch cửa, nàng khựng lại. Kỳ ngoại hầu Cường Để, hoàng đích tôn đời thứ năm của vua Gia Long đang bưng mặt khóc.
Ando Chie vội vă đặt khay xuống án thư, chạy đến đỡ lấy mái tóc chớm bạc đang rũ rượi gục về phía trước. Tấm thân gầy mỏng của người đàn ông như muốn sụp xuống trong tay nàng.
- Điện hạ... hoàng tử...
Chie cứ nghĩ ông sẽ đẩy nàng ra. Nhưng lần này Cường Để chỉ ngẩng lên, mắt nh́n sững vào khoảng không trước mặt. Nàng nhẹ nhàng chặm những giọt nước ứa ra quanh đôi mắt thất thần. "Có chuyện ǵ...?".
Cường Để không kiềm chế được, khóc nấc lên: "Bác Phan mất rồi!".
Tại Tokyo một buổi chiều tháng tư, Cường Để nhận được thư báo. Phan Bội Châu, người đă t́m đến ông khi ông mới hai mươi mốt tuổi, đă tôn ông làm minh chủ của phong trào Đông du chống Pháp. Người đă đón ông sang Nhật để tính chuyện phục quốc lâu dài. Việc Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải đă là một đ̣n quá mạnh đối với ông. Từ ngày ấy, ông không thôi cảm thấy lạc lơng, hoang mang; cảm giác thối chí thỉnh thoảng lại ám ảnh ông, ông phải hết sức chống lại.
Bây giờ Phan Bội Châu đă mất. Hơn ba mươi năm lưu vong trên đất Nhật, bao nhiêu ư chí, nghị lực của ông dường như được truyền từ sức mạnh tinh thần của con người này. Vậy mà giờ đây người ấy không c̣n nữa. Số phận đă bỏ rơi ông giữa một thế giới mênh mông xa lạ, trong cảnh tiến thoái lưỡng nan.
Không phải là chuyện có thể chia sẻ với Ando Chie, nhưng biết nói cùng ai ở nơi lữ thứ này. Phong trào Đông du đă tan ră, Trần Đông Phong đă tự vẫn, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Siêu đă trốn đi, chỉ c̣n ḿnh ông trơ trọi giữa trời cùng đất tuyệt.
Chie cố gắng an ủi ông, dù không biết người chết là ai. Nàng d́u ông vào giường, đắp chăn, buông màn cho ông.
"Để mặc ta" - Cường Để nói, xua tay, quay mặt vào góc tối.
Chie gật đầu, nàng ém màn vào dưới nệm, bước lùi mấy bước.
"Chie, đừng đi!".
Ông ta bíu lấy tay nàng. Chie cảm thấy tất cả nỗi cô đơn, hoảng loạn của người đàn ông. Nàng cúi xuống, lồng tay vào chăn, ôm lấy ông vỗ về, bất giác nàng cũng rơi nước mắt.
"Thiếp thương điện hạ lắm". Chie nói, những tiếng rất giản dị, nàng biết rơ Cường Để không giỏi tiếng Nhật, và nàng cũng không biết lời an ủi nào hơn. Nhưng linh cảm dạy cho nàng biết phải làm ǵ: nàng ghé nằm bên ông và ấp ủ ông bằng thân thể ấm áp của ḿnh.
***
Đêm ấy trời mưa, khi trời sáng Chie cuốn màn, mở hé cửa sổ, nàng nh́n thấy những cành anh đào sũng nước. Nàng đặt chậu nước nóng cạnh giường, nhúng chiếc khăn bông trắng muốt rồi vắt thật ráo. Người đàn ông của nàng đă tỉnh giấc. Nàng cúi xuống, mỉm cười dịu dàng, lau mặt cho ông.
Kỳ ngoại hầu nắm lấy tay nàng, vẻ mặt ông lộ vẻ biết ơn. Chốc lát, ông quên người đàn bà này là người của quân đội Nhật. Ba mươi năm lưu lạc trên đất nước này, ông đă nhiều lần được chở che. Ông Innukai và Kashiwabara đă bảo bọc ông, thuyền trưởng tàu Yayomaru đă hết ḷng che chở ông thoát khỏi sự truy lùng của mật thám Pháp. Đó là chuyện hai mươi, ba mươi năm trước. Lúc đó ông c̣n trẻ, chí khí c̣n hăng hái; gần mười năm nay, từ khi Innukai bị ám sát rồi, ông quá chật vật với cuộc sống, cô đơn, mệt mỏi. Phải nhận sự bảo trợ của lục quân Nhật là bất đắc dĩ, ông không thể không dựa vào người Nhật, nhưng ông biết Nhật và Pháp có thể bắt tay với nhau bất kỳ lúc nào. Ando Chie có phải là tai mắt của quân Nhật không? Ai biết đâu được. Dù sao lúc này bên ông chỉ c̣n có nàng thôi. Giờ phút này nàng đang dịu dàng lau mặt ông. Cảm giác được chăm sóc làm ông bùi ngùi ứa lệ.
Chie chuyển dần chiếc khăn nóng xuống cổ và ngực ông, nàng nhẹ nhàng mở khuy áo để lau vai và lưng. Bỗng Cường Để buột miệng:
- Về Việt Nam ! Ước ǵ ta được về Việt Nam !
Chie khựng lại một giây, rồi nàng hiểu, nhẹ vỗ vào lưng ông như dỗ dành:
- Rồi ngài sẽ về, nhất định có ngày ngài sẽ về mà.
Ông hoàng lưu vong cảm thấy ấm ḷng, ông siết chặt tay nàng như muốn cảm ơn. Trong lúc đó Chie lại thấy ḷng âm thầm một nỗi buồn. Ông sẽ đi, sẽ xa nàng, chắc chắn sẽ có ngày ấy...
Cuối tháng, đại tá Wanatabe gặp Ando Chie ở Bộ Tư lệnh lục quân. Như thường lệ, Chie nói với ông về tất cả những sinh hoạt của Cường Để. Wanatabe hỏi:
- Cô có thấy ông ta tiếp khách khứa từ xa tới không?
- Không ạ.
- Ông ta có nhận thư từ, tin tức ǵ từ Việt Nam ?
- Không ạ.
Chie trả lời, chắc chắn đến nỗi Wanatabe không hỏi thêm ǵ nữa. Ông ta nh́n Chie từ đầu đến chân như muốn đánh giá lại quan hệ giữa nàng và người ngoại quốc lưu vong ấy. Chie đỏ mặt, nàng hiểu cái nh́n của đại tá. Chắc chắn là ông ta rất khuyến khích việc nàng lên giường với người đàn ông kia, điều đó rất có lợi cho công việc. Chỉ có điều, ông ta không biết hôm qua nàng đă ủ ấm cho Cường Để, không phải với tư cách một nhân viên của lục quân Nhật, mà với tất cả tấm ḷng của một người đàn bà.
Năm năm sau.
Chiến tranh khốc liệt trên khắp đất nước hoa anh đào. Những trận bom Mỹ dội xuống. Những ngôi nhà bằng gỗ và giấy cháy phừng phừng trong các góc phố Tokyo .
Đang mùa lá đỏ nhưng chẳng c̣n ai nghĩ đến lễ hội mùa thu... Chỉ c̣n những đoàn người tản cư dắt díu nhau chạy. Ando Chie gói quần áo vào hai chiếc tay nải. Vội vàng, nhưng nàng không quên những chiếc áo lụa năm thân, áo dài the, khăn xếp, và cả bộ b́nh trà Tàu nhỏ xíu.
- Ông ơi!
Chie gọi. Hoàng thân giật ḿnh, quay ra. Hôm nay ông mặc Âu phục chỉnh tề. Trong cảnh chộn rộn của Tokyo , vẻ chỉnh tề của ông trông thật lạc lơng.
"Ḿnh đi thôi, ông ạ. Mọi người đều tản cư về quê, chiều nay là chuyến chót".
Hoàng thân hốt hoảng:
- Nhưng ta c̣n phải chờ máy bay... Biết đâu ngày mai máy bay sẽ tới.
Chie nh́n ông, xót xa. Cuối tháng bảy, nội các Suzuki Kantaro đă tổ chức bữa tiệc linh đ́nh đưa ông về nước. Sau ba mươi hai năm xa quê, cái tin được về nước làm ông bàng hoàng. Trong bữa tiệc linh đ́nh tại khách sạn Đế Quốc, ông hân hoan từ giă hết các chính khách đă ủng hộ ông...Măi đến lúc sắp ra sân bay Haneda, cầm gói thức ăn đi đường từ tay Chie, ông mới nh́n thấy vẻ buồn trong mắt nàng. "Đừng buồn Chie, ta về nước rồi sẽ tính chuyện đón nàng sang".
Chie mỉm cười. Ở Việt Nam , ông c̣n có người vợ cả và hai con nay đă lớn. Người vợ mà ông đă xa cách từ năm hai lăm tuổi. Ông sắp về với người đàn bà ấy. Nàng cảm thấy buồn, nhưng nàng mừng cho ông.
Ngày hôm ấy ông đi, rồi đến tối mịt lại quay về. Ông kể, trên sân bay, nhân viên Bộ Tham mưu lục quân Nhật và kư giả báo chí tề tựu để tiễn chân ông...Nhưng máy bay từ Sài G̣n không đến đón. Ông quay về, ngă vật trên giường, mắt mở trừng trừng nh́n lên cao...Chie tháo giày cho ông, lau mặt cho ông. Nàng nhỏ nhẹ bảo ông: "Ông ạ, đừng buồn, chắc máy bay bị trở ngại ǵ đó thôi, mai lại đến ấy mà!".
Từ đó hôm nào nàng cũng quấn sushi cho ông đem theo... Hôm nào ông cũng ra phi trường Haneda, hôm nào ông cũng trở về. Hơn năm hôm sau, nhân viên lục quân lẫn kư giả không c̣n ai đến nữa, chỉ c̣n ông ngày ngày một ḿnh ngồi đợi. Lủi thủi tới, rồi lủi thủi về.
Và hôm nay, ngày cuối tháng bảy, bom B29 của Mỹ đă trút xuống Tokyo , ông vẫn c̣n nghĩ đến chuyện đến phi trường chờ đợi. Chie bảo ông:
- Ḿnh phải đi thôi ông ạ! Phải chạy về quê, nếu không là chết.
- Đúng rồi, nàng cứ đi, ta ở lại, biết đâu...
Chie nắm lấy tay ông. Bàn tay ông gầy quá. Với mọi người, ông là một hoàng thân, được các cơ quan tiếp đón, các kư giả săn tin, được các nghị sĩ bảo trợ...C̣n với nàng, đây là một người đàn ông tha hương, lạc lơng, túng thiếu, cô độc... Lúc này, nàng nhất định phải cứng rắn với ông, như những lúc bắt ông phải đi tắm vậy; nàng khoác tay nải lên vai ông và đẩy ông đi. Cường Để gượng lại, phản đối, nhưng khi bị đẩy đến cửa, ḍng người tay xách nách mang chạy loạn đập vào mắt ông, và ông hiểu ngay điều ǵ đang xảy ra.
Đêm đó trên chiếc xe ḅ lắc lư trong ḍng xe qua vùng ngoại ô, ông nh́n thấy Tokyo bốc cháy, lửa rực đỏ dưới những lằn máy bay Mỹ vút ngang. Căn nhà mà lục quân Nhật cấp cho ông đă cháy rụi.
Tháng tám, bom nguyên tử dội xuống Nagasaki và Hiroshima , Nhật Bản đầu hàng. Không c̣n ai đủ sức nghĩ đến vị hoàng tử lưu vong. Chỉ có một người đàn bà thầm lặng mỗi ngày làm thuê cho một xưởng than ở vùng quê để nuôi một người chồng lớn tuổi. Ando Chie lúc này không c̣n là nhân viên của lục quân Nhật nữa. Buổi sáng, nàng thức dậy nấu nước nóng cho chồng rồi tất tả đi; nàng vẫn thế, dù làm ở xưởng than nhưng lúc nào về nhà cũng rất sạch sẽ, c̣n chồng nàng vẫn vậy, rất lười tắm và suốt ngày ngồi chép những trang sách chữ Hán đă cũ nhàu.
Nhiều người hỏi sao ông chồng nàng chẳng làm việc ǵ mưu sinh, Chie chỉ cười. Ông ấy là một ông hoàng. Dù rất nghèo và chẳng hề có quyền uy. Ông chẳng làm được ǵ cho nàng cả, nhưng nàng yêu thương ông với tất cả sự tŕu mến xót xa. Trong lúc ông th́ đau đáu chỉ muốn về quê hương - nghĩa là rời xa nàng. Nhưng nếu ông không có giấc mơ hồi hương, liệu ông có c̣n là người đàn ông mà nàng thương yêu không?
***
Năm năm sau. Cơ hội về nước lại đến. Ando Chie lại chuẩn bị hành lư cho Cường Để lên đường.
Nước Nhật đă trở lại thanh b́nh. Trước ngày Cường Để về nước, bạn bè làm tiệc tiễn đưa. Kư giả Báo Asahi cũng đến dự. Cụng ly mừng, nhà báo ngỏ ư muốn đưa tin chuyến trở về của vị hoàng thân sau gần bốn mươi năm biệt xứ.
Chuyến đi lần này bằng đường biển, từ cảng Kobe đáp tàu Hải Minh đến Bangkok rồi theo đường bộ qua Campuchia về Tây Ninh. V́ sao phải về nước qua cửa khẩu Tây Ninh? V́ Việt Nam đang thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, Pháp vẫn c̣n đóng quân ở Nam kỳ. Nhưng Tây Ninh nằm trong lănh địa của Giáo chủ Phạm Công Tắc. Với sự bảo trợ của Phạm Công Tắc, ông có thể lên bờ an toàn.
Kư giả Asahi dặn ḍ:
- Khi ngài tới nơi rồi, xin điện ngay cho tôi biết.
Cường Để ngẫm nghĩ:
- Trong nước hiện đang chiến tranh, tin tức khó gửi. Có lẽ cứ tính theo hải tŕnh, đến trung tuần tháng bảy th́ bỉ nhân đă đến quê nhà, quư ông có thể đưa tin được rồi.
Ando Chie đưa ông đến bến cảng. Mùa thu, khí trời se lạnh. Tiếng quạ kêu vang sau những tàn cây lá đỏ. Ông đi rồi, Chie trở lại căn hộ hai pḥng ở phố Ogikubo. Con đường bỗng dài hơn bao giờ hết. Ông hứa sẽ có ngày đón nàng sang Việt Nam . Lúc đó nàng chỉ bảo: "Bao lâu cũng được". Đến bây giờ, một ḿnh trên con đường về nhà, nàng mới thấm thía cả khoảng trống chơ vơ trước mặt, rằng có thể nàng sẽ măi măi một ḿnh trên đoạn đường c̣n lại...
Nàng tiếp tục khâu những con búp bê vải - những con búp bê đă nuôi sống nàng và ông từ lúc về lại Tokyo .
Đến tối, chủ nhà, bà Hashimoto gơ cửa hỏi thăm nàng. Bà đem vào cho nàng một gói bánh dẻo.
"Trông em xanh quá. Tôi pha cho em một chén trà nóng nhé?".
Chie uống chén trà từ tay bà chủ nhà tốt bụng. Trà nóng làm nàng hồi tỉnh. Nh́n hộp bánh dẻo xinh xắn, nàng nhớ đến chồng. Ông ấy vẫn thích loại bánh này. Nhưng dùng trong khi uống trà Tàu - ông vẫn không quen với trà Nhật.
Bây giờ ông ấy đi đến đâu rồi nhỉ? Bà Hashimoto vuốt tóc nàng, dẫn nàng sang pḥng làm việc của chồng bà, giáo sư Hashimoto Masukichi. Trên vách, giữa những tủ sách đồ sộ là tấm bản đồ châu Á. Bà chỉ cho Chie xem chỗ nào là Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam . Chie chăm chú nh́n. Chồng nàng đang ở trên vùng biển xanh xanh kia, ngoài khơi cái khối màu hồng rất lớn mà bà Hashimoto bảo là nước Trung Hoa.
"Em đừng buồn, rồi ông ấy sẽ đạt chí nguyện, sẽ trở lại đón em sang, em phải gắng giữ sức khỏe nhé!" - Bà Hashimoto an ủi.
Chie mỉm cười, nàng cúi đầu thật thấp tỏ ḷng cảm ơn bà chủ. Chiều hôm ấy nàng đến chùa Senso, bên chiếc đỉnh lớn nghi ngút khói nhang giữa sân chùa, nàng vớt nhẹ khói hương ủ vào nơi lồng ngực. Lần trong tay áo, nàng lấy ra số tiền nhỏ, đủ cúng dường để xin một lời nguyện cầu.
Vị sư già hỏi nàng cầu nguyện ǵ để ghi vào tấm thẻ gỗ trắng ngà. Nàng cúi đầu ngẫm nghĩ. Nàng muốn cầu nguyện những ǵ, chồng nàng sẽ có quyền uy, sẽ thành lănh tụ, sẽ giàu sang, sẽ đón nàng về cùng hưởng cuộc sống cao sang? Cầu cho chồng nàng sẽ không quên nàng? Sẽ... Thực ḷng nàng muốn ǵ?
Chie ngập ngừng một lát rồi se sẽ đọc cho vị sư già chép vào thớ gỗ:
- Tôi là Ando Chie...Cầu cho chồng tôi là Cường Để vượt sóng gió về đến quê nhà b́nh yên, sum họp với gia đ́nh.
Vị sư già ngẩng nh́n nàng. Ông đă viết giúp cho thiện nam tín nữ hàng ngàn lời nguyện. Ông nh́n Ando Chie một lát như muốn hỏi điều ǵ, nhưng rồi lại thôi, cúi xuống cắm cúi viết.
Khi trở về nhà, nàng thấy giáo sư Hashimoto đang chờ trước cổng. "Ando, có tin mừng cho cô đây". Ông đưa nàng tờ nhật báo Asahi. "Hoàng tử Việt Nam đă về đến quê nhà sau 32 năm ly hương". Chie mừng rơi nước mắt. Chiều hôm đó nàng làm món ḿ Nhật và sushi cá hồi, mời ông bà Hashimoto để tỏ ḷng biết ơn.
Ông bà về rồi, c̣n lại một ḿnh Chie trong căn hộ vắng lặng. Một đoạn đời đă chấm dứt, đoạn đời mới bắt đầu, một chặng đường dài hun hút mà nàng sẽ phải đi một ḿnh.
Nàng giở tờ báo Asahi, đọc lại bài viết, rồi lật dần ra những trang sau: những mục t́m nhà, t́m việc.
Cuối tháng bảy, bỗng bà Hashimoto đập cửa căn hộ của Ando Chie, hốt hoảng:
- Ando, người ta vừa điện đến cho ông nhà tôi. Cô phải ra ngay cảng Yokohama !
Chie cuống quưt, hai chân run cầm cập, lưỡi líu lại. Nhưng người phụ nữ Nhật dường như được trời phú cho một nghị lực phi thường, nàng kiềm chế thật nhanh cơn hoảng hốt, cầm lấy chiếc ô, chạy ra cửa.
Bà Hashimoto tốt bụng đă kịp thuê giúp nàng một chiếc xe ngựa.
Trên cảng Yokohama về chiều, có một ông già ngồi trên chiếc ghế dài, ngẩn ngơ nh́n quanh với đôi mắt vô hồn, mặc kệ bao nhiêu người qua lại. Chie chạy lại gần. Sao mới có một tháng mà chồng nàng đổi thay đến thế, y phục nhàu nát, khuôn mặt gầy tọp rám nắng, mái tóc bạc xỉn đi và bê bết bụi.
- Ông ơi...
Chie cầm lấy tay chồng. Bàn tay ông gầy trơ xương, nhưng vẫn là bàn tay của ông, ông đang ở đây, bên nàng. "Ông ơi, sao ông lại về được?". Chie hỏi, nhưng người đàn ông ngẩn ngơ nh́n mông lung, vẻ mặt sững sờ tuyệt vọng, dường như không c̣n nhận ra ǵ chung quanh nữa. Ông chỉ không ngớt lẩm bẩm: "Không về được! Không về được nữa! Không về nữa!".
Với Chie, về là về Nhật Bản, với ông, về là về Việt Nam .
Hơn một tháng Chie ra sức chăm sóc, Cường Để mới dần dần hồi tỉnh lại. Ông kể với nàng: tàu Hải Minh bị trục trặc bánh lái nên đă ghé Thượng Hải một tuần. Trong khi đó, Báo Asahi đă đưa tin, và mật vụ Pháp biết được rằng chuyến tàu phải cập cảng Bangkok, đă điện cho Bộ Ngoại giao Thái. V́ quan hệ giao thương với Pháp, Chính phủ Thái đă không cho Cường Để nhập cảnh Thái Lan, buộc ḷng phải theo tàu quay về Nhật Bản.
Cường Để không bao giờ c̣n trở lại như trước kia nữa. Tuyệt vọng, suy sụp, ông đă hoàn toàn là một ông già trái tính trái nết, đau ốm triền miên. Đôi khi, căm hận số phận, ông ném bất cứ cái ǵ vớ được vào vách. Chie phải cất bộ đồ trà ông đem theo từ Việt Nam thật kỹ, mỗi sáng pha trà xong nàng đứng chờ ông uống xong, đem cất ấm chén rồi mới dám dời mắt.
Cuối mùa thu có hai người khách ở Việt Nam sang ghé thăm. Họ là hai chính khách đang có thế lực, hứa sẽ t́m cách đưa Cường Để về nước.
Khách về rồi, Chie dọn tách chén trên bàn, định bưng đi. Chợt ông níu tay nàng:
- Nàng ơi, nàng có tin ta c̣n về nước được không?
Chie đặt khay xuống, quay lại cầm cả hai bàn tay ông, vỗ về:
- Thiếp tin.
- Ta cũng tin vậy. Nghe nói chẳng bao lâu nữa người Pháp sẽ rút khỏi Đông Dương...
Chie lau những giọt mồ hôi đang ứa ra trên trán người đàn ông. Dạo này ông yếu quá, chỉ một cơn xúc động cũng đủ làm mồ hôi toát ra dầm dề.
Mấy hôm sau ông bồn chồn đến mất ngủ, lúc nào khỏe lại lật giở những thư từ, sách vở đă cất giữ từ bốn mươi năm trước, cả bức Thư huyết lệ của người Việt Nam mà ông viết khi mới ngoài ba mươi tuổi.
Ba mươi năm đă qua, sứ mệnh cứu nước không c̣n nằm trong tay thế hệ ông nữa rồi. Nhưng những bức thư cũ này sẽ măi măi là kỷ niệm rực rỡ nhất của đời ông.
- Nàng cất kỹ những giấy tờ này cho ta. Khi ta về nước, đồng bào nhất định sẽ hỏi đến.
Chie đặt chén thuốc xuống bàn rồi đỡ lấy những tờ giấy cũ vàng tên tay ông.
Bây giờ ông đă tin nàng thật sự, ông giao cho nàng những tờ giấy này, đối với ông nó c̣n quư hơn cả bạc vàng.
- Uống thuốc đi ḿnh - Chie nhắc. Cường Để gật đầu, không đợi Chie nài ép dỗ dành như mọi lần, ông bưng chén thuốc đắng ngắt uống cạn.
Gương mặt đang rạng rỡ của ông bỗng nhăn nhúm lại, một cơn đau đang âm ỉ dưới sườn non chợt nhói lên.
Chie đỡ cái bát, tay kia vỗ nhẹ lên lưng chồng như muốn xoa dịu phần nào cái buốt nhói trong cơ thể ông. Tuần trước, bác sĩ Bệnh viện Nihon Ika Daigaku đă nói cho nàng biết, Cường Để đă mắc bệnh ung thư gan, ông chỉ c̣n sống nhiều lắm là ba tháng nữa.
Chie giữ kín tin dữ không cho ai hay. Nàng biết đây là lúc nàng phải mạnh hơn bao giờ hết.
Cường Để cố uống thuốc cho mau khỏi bệnh. Ông xem đi xem lại bức thư của mấy người Việt vừa ghé thăm tháng tám năm ngoái, bức thư hứa sẽ t́m cách vận động cho ông hồi hương. Mỗi lần đọc thư ông thấy khỏe hẳn lên như vừa uống một thang thuốc bổ.
Nhưng đến đầu tháng tư, sau nhiều cơn đau hành hạ, Cường Để cũng nhận ra rằng mệnh của ḿnh đă hết.
Ông cố mở đôi mắt mệt mỏi, gắng nh́n thật kỹ những ǵ chung quanh: khung cửa sổ nhỏ, những chiếc áo Việt may bằng lụa Nhật treo trên vách, chiếc chậu đồng dưới chân giường, những vật dụng thường ngày của cuộc sống lưu vong tạm bợ, giờ phút này ông nh́n chúng với ánh mắt bịn rịn vô cùng.
Mắt ông dừng lại nơi khuôn mặt Chie đang nh́n xuống, vẻ thầm lặng và nhẫn nhục đầy yêu thương. Ông quờ quạng nắm lấy tay nàng: Ḿnh ơi, ḿnh có phải là Phật Bà Quan Âm của tôi không?
Đó là lần đầu tiên ông nói lời tri ân với nàng sau bao nhiêu năm chung sống. Nhưng nàng không hiểu ǵ cả, v́ ông không biết là ḿnh không dùng tiếng Nhật. Như một bản năng, mấy hôm nay ông chỉ nói toàn tiếng Việt.
Chie vẫn cúi nh́n, vẫn vẻ mặt âu yếm xót xa, nàng áp sát ḿnh xuống thân thể c̣m cơi của ông, tay nắm lấy cả hai tay ông như muốn bảo: Đừng sợ, có thiếp đây, dù đi đến đâu ngài cũng không cô độc.
Cường Để dần thiếp đi.
Lúc ấy là năm giờ 5 phút sáng mồng 6 tháng 4 năm 1951. Một ḿnh Ando Chie úp mặt khóc lặng lẽ trên thi thể ông.
Ngoài cửa sổ, hoa anh đào đang nở. Hôm ấy là ngày đầu của lễ hội hoa anh đào trên đất Nhật.
***
Cửa mở ra, hai người đàn ông theo Ando Chie bước vào căn hộ. Đập vào mắt họ là những tấm h́nh của Kỳ ngoại hầu Cường Để trên vách. Vị hoàng thân trẻ măng hai mươi lăm tuổi ngày mới đến Nhật. Hội chủ Hội Đông du Phục Quốc, sinh viên trường Đại học Waseda, h́nh chụp với Thủ tướng Innukai, h́nh chụp với kư giả Asahi trong bữa tiệc long trọng tại khách sạn Đế Quốc...Tất cả là những trang đời đẹp nhất của Cường Để. C̣n h́nh ảnh buồn thảm những ngày chờ đợi trên sân bay Haneda, những ngày chạy loạn nghèo túng cơ cực, ngày về tang thương trên cảng Yokohama... Những h́nh ảnh ấy giờ đây chỉ c̣n trong kư ức Chie mà thôi.
Hai tay bưng b́nh tro, Ando Chie trao di cốt Cường Để cho hai con của ông. Nàng cúi mặt thầm nghĩ: Thế là ngài sắp về nhà, giấc mơ cả đời của ngài giờ đây mới thành tựu. Ngài lên đường b́nh an, lần này thiếp không phải gói sushi cho ngài mang đi nữa rồi.
Người con trai cả của Cường Để đỡ lấy b́nh tro di cốt của cha. Mặt ông đầy nước mắt. Ông ngạc nhiên thấy người đàn bà Nhật này vẫn b́nh thản, nét mặt trang nghiêm dịu dàng chỉ hơi phảng phất buồn. Nhưng người con trai thứ hai đứng cách đó vài bước thấy rất rơ đôi bàn tay của Chie sau khi trao xong b́nh tro. Đôi bàn tay ấy bấu chặt vào nhau, những móng tay quắp vào da thịt, rồi chúng run rẩy bấu víu lấy đôi tay áo kimono, và đến lượt thớ vải giằng co như sắp bị xé rách ra.
Khi hai người đàn ông đi rồi, Chie khép cửa, quỳ xuống sàn. Nàng lấy trong ống tay áo ra một mẩu xương và một nhúm tro nhỏ. Chie đă giữ lại cho ḿnh một phần thân thể của chồng.
Nàng biết ḿnh không làm trái với ư nguyện ông. Dù chẳng hiểu ông nói ǵ khi sắp mất nhưng nh́n vào mắt ông nàng biết, ông rất muốn ở lại với nàng. H́nh như vào giờ phút ấy ông nhận ra ḿnh sắp đi vào một cơi xa thăm thẳm, ở nơi ấy ông sẽ gọi cả trần gian này là quê nhà. Và ở quê nhà đó, một trong những ǵ giản dị và thân thương nhất chính là Chie...
Ando Chie mất bốn mươi năm sau, trước khi mất bà để lại di chúc muốn được chôn cùng với nắm tro tàn của Kỳ ngoại hầu Cường Để. Nhưng cho đến nay lọ hài cốt của bà vẫn c̣n trong pḥng mộ tập thể của nghĩa trang Zoshigaya, nơi có những cây tùng xanh biếc và tiếng quạ kêu man mác buồn trong những buổi sáng mùa xuân.



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 18 2012, 11:58 PM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




Hăy chuẩn bị tinh-thần và chấp nhận đối-diện với sự thật. Chạy Trời không khỏi nắng.

Nỗi khổ sống già
Văn Mỹ Lan



Nói chuyện với Ngọc Bích xong tôi thẫn thờ. Từ cổ chí kim, từ vua chúa cho đến thứ dân, ai cũng mong được trường sinh bất lăo nhưng liệu thọ quá có phải là điều hay ho cho bản thân và cho người thân không?... Tới mừng thôi nôi cháu ngoại Bích Ngọc, không thấy Quế Hương, bạn cố tri của Ngọc, tôi hỏi:
- Sao bữa nay không thấy Quế Hương tới dự thôi nôi cháu bà vậy?
- Dự sao được, mấy bữa nay bả te tua rồi?
- Sao vậy?
- Ừa, th́ mấy bữa nay ông già bệnh. Chắc cũng sắp đi rồi.
- Th́ trên trăm tuổi rồi. Ông đă như thân cây mục, cũng nên để ông thay đổi h́nh hài khác đi chứ. Nhưng c̣n anh cả đâu? Nghe đâu anh cả chăm ông cụ mà.
- Ổng xụm luôn rồi. Mà nói tới ông anh cả của bả mới tội, ổng gần tám mươi rồi mà không được hưởng tuổi già, được sống gần con cái ở Quy nhơn mà phải ở đây lo cho ông già hơn trăm tuổi mới khổ chứ.
- Nhà Quế hương đông mà, sao lại bắt ông già trẻ chăm ông già già?
- Th́ tại v́ ổng là anh cả với lại mấy người kia ở nước ngoài hết rồi. Phần cũng tại ổng nghèo nhất, không có tiền lo cho cha th́ phải lănh phần chăm sóc ông cụ chứ. Mấy người kia chu cấp tài chánh. Đứa bỏ công, người bỏ của mà.
Nói tới anh em ở nước ngoài của Quế Hương tôi mới nhớ là lâu lâu ông cụ làm mệt, Quế Hương gọi các anh chị ḿnh về. Khi về tới nơi th́ ông cụ khỏe lại. Cứ thế trong hai năm các anh chị của Quế Hương phải tức tốc về tới bốn lần mà ông cụ cũng chưa đi. Trong thời buổi kinh tế khó khăn, có hai người anh của Quế Hương lại dám bỏ việc hoài nên bị mất việc luôn, nhưng bổn phận làm con mà, biết sao giờ?

Không có Quế Hương tôi mất bạn tung hứng nên truy Ngọc:
- Nhưng sao tự nhiên Quế Hương lại te tua?
- Th́ ông già hơn tám mươi phải chăm ông già hơn một trăm, nên ông già già chưa khỏe th́ ông già trẻ đă sụm rồi. Vậy nên bây giờ Quế Hương phải chăm cả hai ông chứ sao.
Tự nhiên Bích Ngọc cười khùng khục:
- Nhớ bữa hổm ông anh cả than với tui, ổng nói : "Trời ơi, hỏng biết chừng nào ông già chết cho tui khỏe vài năm trước khi theo ông bà tổ tiên đây!”
- Nói ǵ thảm vậy?
- Bà nói “thảm” là ai thảm?
- Thảm cho cả hai. Bởi vậy mai mốt tốt nhất đừng có chúc ông bà sống lâu trăm tuổi rồi rên nha.

Nói chuyện với Ngọc Bích xong tôi thẫn thờ. Từ cổ chí kim, từ vua chúa cho đến thứ dân, ai cũng mong được trường sinh bất lăo nhưng liệu thọ quá có phải là điều hay ho cho bản thân và cho người thân không? Tuổi già lú lẫn, h́nh hài nhăn nhúm, sức khỏe suy giảm. Tôi nhớ khi c̣n nhỏ, dù được cả nhà dạy phải biết kính yêu bà cố nhưng đứa cháu nhỏ của tôi dứt khoát không thấy thoải mái với bà. Có lẽ khi nó có ư thức chút th́ bà đă nhăn nheo xấu xí quá rồi, h́nh ảnh của bà không giống với bà tiên trong truyện cổ tích nữa. Khi đó, bản thân bà không tự chăm sóc được nên bao người lớn quanh nó phải dành sự chăm sóc cho bà nhiều hơn cho nó và nó th́ luôn bị mắng mỏ v́ ồn ào, v́ phá phách làm bà không nghỉ ngơi được. Dạy dỗ ǵ th́ nó cũng thấy ḿnh thiệt tḥi v́ bà nên nó cứ mơ hồ, miễn cưỡng ghi nhận công lao dưỡng dục xa xưa của bà… Thế nên gia đ́nh ḍng họ cứ trách móc nó không ngoan, không biết ông bà, bây giờ nó là đứa cháu vô t́nh, không biết cội nguồn mai mốt chắc là đứa con bất hiếu.

Tôi nhớ có lần đến tiệm làm tóc, con bé làm móng cho tôi khoe:
- Bà cố của con năm nay 115 tuổi rồi, bà được cả chủ tịch tỉnh đến thăm đó cô.
- Bà con thọ quá há. Vậy bây giờ ai lo cho bà?
- Dạ, ông ngoại tám của con nuôi.
- Vậy ai nuôi ông ngoại?
- Dạ mấy cậu mấy d́ nuôi.
- Mấy cậu mấy d́ khá không?
- Dạ nghèo lắm.
- Có bà thọ đến vậy chắc thích lắm hả?
Nó trầm ngâm một hồi rồi nói:
- Dạ thích chứ cô. Ḍng họ con ai cũng thích bà thọ để khoe, chỉ có ông ngoại tám của con th́ không thích lắm. Ông nói: ”Phụ tiền bạc chăm lo cho ông bà là chuyện dễ, trực tiếp chăm lo bệnh hoạn, chịu đựng tính khí của người già mới là khó”.

Câu chuyện của con bé làm móng làm tôi nhớ tới câu chuyện buổi sáng khi tôi đi bộ cùng các bạn trong cùng khu phố, đề tài vô t́nh nói về tuổi già và về việc phụng dưỡng cha mẹ già. Chị Xuân nói:
- D́ của em năm nay tám mươi sáu tuổi rồi mà c̣n làm dâu đó.
- Vậy bà mẹ chồng chắc thọ lắm.
- Bà đă hơn trăm tuổi. Mấy chục năm trước khi chú em đi bộ đội về hưu, thấy bà đă hơn tám mươi bèn quyết đem bà về nuôi, nghĩ mẹ chắc cũng không c̣n sống bao lâu nữa, ráng gần gũi phụng dưỡng mẹ vài năm nhưng tới giờ đă gần hai mươi năm bà vẫn ăn khỏe và vẫn đ̣i hỏi cơm dâng nước hầu, trà thuốc mỗi ngày làm d́ em oải muốn chết.



- Nhưng cha mẹ già th́ ḿnh phải phụng dưỡng chứ sao!

- Th́ đó là bổn phận mà, có điều d́ của em cũng đă hơn tám mươi, con dâu d́ thuộc thế hệ mới, nó không chịu hầu d́ mà d́ th́ không dám không hầu mẹ chồng.
- Đó là bất hạnh thế hệ của d́ đó. Người ta gọi thế hệ 5X là thế hệ trắng tay, hồi nhỏ th́ sợ cha mẹ, khi cha mẹ lớn tuổi th́ tự cho ḿnh có bổn phận phải phụng dưỡng. Đối với con cái th́ không dám uy quyền, nếu không nói là dốc hết sức mà lo cho con nhưng lại không dám mong con cái lớn lên sẽ chăm lo cho ḿnh, sợ làm phiền nó…

Câu chuyện của chị Xuân làm tôi nhớ tới có lần tôi gặp hai bà lăo ở New Jersey. Bà lăo người Việt cứ theo nài nỉ tôi nhờ tôi nói giúp với cha xứ mà tôi thân, để cha nói với con cái bà cho bà được vào Viện dưỡng lăo người Việt. Lư do là vào ngày thường, con cháu bà đứa đi học, đứa đi làm. Tối về th́ đứa nào về pḥng đó. Suốt ngày bà ở nhà một ḿnh buồn quá, bà ước ao có tiếng nói đồng hương hay tiếng nói của con người cho đỡ cô quạnh. Tôi nói lời thỉnh nguyện của bà với cha xứ, cha xứ nói đó là chuyện riêng của gia đ́nh con chiên, cha không muốn can thiệp.

Rồi cũng trong những ngày đó, cũng tại khu phố đó, tôi lại tiếp xúc với một bà lăo gần tám mươi người Mỹ, chân cũng đă run, mắt cũng đă mờ rồi mà lại sống một ḿnh. Bà ham chuyện lắm nhưng khi hỏi bà ở một ḿnh có buồn không, sao không ở chung với con cháu cho vui. Bà nói dứt khoát:
- Con tôi nó có cuộc đời của nó. Tôi không muốn và không thể trói buộc cuộc đời nó vào cuộc đời tôi v́ tôi sống già.
- Nhưng đó là bổn phận của con cái đối với cha mẹ lúc về chiều mà.
- Giáng sinh, sinh nhật tôi có khi nó dẫn vợ con về thăm. Vậy là đủ. C̣n b́nh thường mỗi năm nó chỉ có một số ngày phép, tôi không cho phép ḿnh bắt nó về thăm hoài mà để nó thoải mái đưa gia đ́nh đi đây đi đó. Đ̣i hỏi ở con là ích kỷ.
Đúng là Tây Ta có khác. Tây nuôi con, khi con vừa lớn đủ, Tây thả cho con vào đời, mong con như cánh chim trời, có sức bay càng xa càng tốt. Tây vui khi dơi theo cánh chim bay. Ta nuôi con, ngày nào c̣n khả năng, ta vẫn c̣n muốn giang đôi cánh ra để ấp ủ chăm lo cho con dù cho con có lớn đến bao nhiêu tuổi. Rồi cũng v́ cách nuôi dưỡng yêu thương không bờ bến đó, khi già, ta mong con cũng quay lại ḍm ngó đến ta dù chỉ bằng một phần nào t́nh yêu thương mà ta đă cho. Ta nắm níu nhau qua lại, ta làm ấm ḷng nhau cũng có mà phiền lụy nhau cũng nhiều.

Trở lại chuyện con bé làm móng, tôi hỏi:
- Bà con đẹp lăo không, hôm nào cô đưa chú tới chụp h́nh bà nhá.
- Dạ bà không khỏe lắm đâu cô, bà của con ḷa rồi, chỉ nằm một chỗ thôi.

Nghe con nhỏ trả lời tôi lại nhớ tới một bà lăo người dân tộc ở Bảo Lộc đă 103 tuổi, da bà đen nhẻm, từng centimet da thịt hiện lên những nếp thời gian trông hay ho và đẹp đẽ lạ lùng. Toàn thể con người trần trụi của bà như một món đồ cổ xưa. Ánh mắt của bà trắng dại đưa ta ngược về cả thế kỷ trước. Nói chuyện với con cháu bà lăo mới thấy họ kính yêu và quan tâm đến bà vô cùng, nó nói:
- Hôm trước bà con bệnh, cả nhà con bỏ hết nương rẫy về chăm bà.

Nghe con nhỏ nói về bà với cái giọng thiết tha làm tôi thầm cảm mến em, người dân tộc không cần học Khổng Mạnh cũng biết kính yêu ông bà. Em khoe tiếp:
- Bà em nuôi cả nhà đó cô.
- Nuôi cả nhà? Bà già vậy th́ có sức đâu mà làm nuôi cả nhà?
- Dạ, tại cô không biết, già thiệt già th́ không cần làm ǵ cũng có tiền mà cô. Nhà nước cho mỗi tháng vài trăm ngàn. Lâu lâu mấy cô chú vô chụp ảnh chừng vài giờ cũng được cả trăm ngàn. Chưa kể khách nước ngoài đến chụp ảnh th́ c̣n cho cả giấy xanh, bán được nhiều tiền lắm. Cả nhà con kiếm tiền không bằng một ḿnh bà đâu.
- Vậy nếu bà không kiếm được nhiều tiền th́ có yêu quí bà không?
- Có chứ cô. Vẫn yêu quí bà chớ nhưng nếu bà bệnh tốn tiền quá th́ không mong bà sống lâu đâu. Bà sống đủ rồi th́ thôi, để dành ngô khoai nuôi trẻ nhỏ.

Lời con bé người dân tộc làm tôi ngẫm nghĩ hoài "Sống đủ rồi…”. Thế nào là sống đủ, ai có quyền định cái chữ đủ ở đây. Phải chăng sống khỏe như bà lăo người dân tộc th́ sống hoài vẫn chưa đủ, c̣n sống mù ḷa yếu đuối như bà cố của con bé làm móng là quá đủ. Nhưng đủ hay không đủ th́ ai có quyền quyết định, kể cả bản thân của người đó.

Tôi có quen biết một đôi vợ chồng nay đă ngoài bốn mươi rồi mà không dám có con cái ǵ, ở vậy nuôi chó và chăm hai bà mẹ hai bên với một người giúp việc.
Bà mẹ bên vợ bị bệnh tiểu đường nằm bẹp trên giường không tự lo cho bản thân được. Đă vậy bà lại c̣n mất trí nhớ, bà chẳng c̣n nhớ được ai trừ con chó nhỏ vẫn quấn quít bên bà và đứa con gái đang ngày đêm chăm lo. Khi bức bối là bà la hét. Mỗi đêm hai vợ chồng phải thức dậy giúp bà tiểu tiện và tiêm thuốc cho bà. Bà mẹ bên chồng vẫn c̣n đi lại được nhưng cũng đă đă ngoài tám mươi. Tôi đă chính mắt thấy anh chồng đút cơm cho mẹ ḿnh với một đôi mắt yêu thương. Hai vợ chồng này chưa hề biết đi đâu chơi xa là ǵ. Đến ngày tết, ngày lễ c̣n thê thảm hơn v́ người làm nghỉ hết, hai vợ chồng phải đích thân lo toan mọi bề cho hai bà mẹ. Tôi nh́n t́nh cảnh của họ mà cảm kích, thương cho sự hiếu thảo hiếm hoi c̣n sót lại trong thời buổi này. Tôi nhớ có một người bạn thấy xót cho sự thiệt tḥi cực khổ của đôi vợ chồng trẻ bèn xúi dại người chồng:

- Bà mẹ vợ của mầy sống đời thực vật lại không c̣n nhận biết ai nữa. Để bà sống th́ khổ bà mà khổ luôn tụi bây, mầy để bà đi cho rồi…
- Người ngoài bao giờ cũng thấy khác, cảm khác, c̣n người thân trong cuộc th́ không thể dứt ruột ra mà làm vậy được đâu.

Trông người lại nghĩ đến ḿnh. Giờ bản thân cũng đă nghỉ hưu, đă xếp vào hàng “bà bà” rồi, cái ngày ḿnh già nua yếu đuối lẩm cẩm đang sầm sầm bước tới, không biết sức khoẻ ḿnh rồi sẽ ra sao, con cái sẽ đối xử thế nào. Nữa đây khi đă già, đă yếu, đă chết được rồi mà trời chưa cho đi th́ có dám tự xử không hay lại kéo lầy nhầy những ngày tàn héo úa.

Đọc báo thấy tổ chức Y tế cứ nói hoài những bệnh của người già, quỹ hỗ trợ người già, nước này đang già, nước ta cũng sắp già rồi... tưởng tượng nếu mai này ra đường thấy ai cũng nhăn nheo, đi đứng chậm chạp, nói năng lập cập mà sống hoài không chịu đi… th́ loài người có nên tiếp tục nghiên cứu để con người trường sinh bất tử chăng?

Văn Mỹ Lan
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 2 2012, 09:22 AM
Gửi vào: #5


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Anh Việt Khang mến,

Thuở c̣n đi học Anh văn, cô giáo tôi thường bắt thuyết tŕnh các đề tài có tính triết lư. Đề tài mà tôi phải làm là “luận anh hùng”.

Thời nay ngựi ta có vẻ lạm dụng chữ anh hùng này. Bơi lội giỏi cũng làm anh hùng, anh hùng thể thao. Cuốc đất giỏi cũng là anh hùng, anh hùng lao động. Cũng may là chúng ta chưa có anh hùng "hối lộ", nếu không th́ các quan nhớn ở VN đă là anh hùng cả rồi.

Vào cái dạo đó, tôi nghĩ "anh hùng" là người làm được chuyện mà người b́nh thường không dám làm, v́ một mục tiêu cao thượng. Ăn cướp, buôn ma túy cũng là làm chuyện người thường không dám làm, nhưng không cao thượng. Như vậy, anh hùng bao gồm hai đặc tính, cao thượng và can đảm. Hôm nay tôi lật tự điển ra xem, không ngờ họ cũng định nghĩa tương tự như vậy.

Có bao nhiêu nhạc sĩ đặt những bài ca cho dân tộc? Không nhiều. Phần lớn là những bài khóc lóc thảm thiết v́ t́nh chỉ đẹp khi c̣n dang dở. Cũng đồng thời là cảm xúc, nhưng cái khắc khoải của anh dành cho cả dân tộc. Do đó, hành động của anh là cao thượng.

Trong số những nhạc sĩ đặt những bài nhạc cho dân tộc, có bao nhiều người sáng tác ngay trong ḷng địch? Thưa, con số này chỉ đếm được trên đầu ngón tay. So với lăo tiền bối Phạm Duy, xin về VN để xênh xang khoác lác, so với lăo bà lăo ông ca sĩ, xin về VN để kéo vài hơi nhựa cuối đời, th́ nhạc phẩm và giọng ca của anh là niềm hănh diện cho giới theo kiếp đàn ca. Sự can đảm của anh thật tuyệt vời.

Thế nhưng tinh thần đó mà không có tài nghệ này, đặt một bản nhạc mà người ta nghe rồi phải uống thuốc sổ, th́ cũng không được. Có được một bản nhạc đi vào ḷng hàng triệu triệu người như anh sáng tác thật là hơn hẳn sự b́nh thường.

Cái phi thường của anh đă được những tên thái thú tham nhũng đáp lại bằng cùm gông.

Phạm Duy, các lăo ca nhạc sĩ VN về nước để được hưởng ánh đèn màu của sân khấu.

C̣n anh, ngày mai ra ṭa, anh sẽ đứng dưới ánh cực quang của hai vầng nhật nguyệt.

Phạm Duy chạy từ Bắc vào Nam, từ Nam sang Mỹ, rồi lại quay về khúm núm trước nhũng tên thái thú hèn hạ, đểu cáng. Thật là đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.

C̣n anh, anh là một cánh hoa nở trong địa ngục.

Ngày mai (30/10/12) anh ra ṭa, tôi không cầu chúc cho anh may mắn, bởi v́ tôi nghĩ anh không cần cái gọi là sự khoan hồng đạo đức đểu của VC. Điều anh cần là tự do, độc lập cho dân tộc.

Cho nên ngày mai anh ra ṭa, trong ḷng tôi và hàng triệu người khác sẽ đốt lên một ngọn lửa phản kháng. Ngọn lửa không cháy bằng xăng dầu, bằng hơi đốt, mà cháy bằng ḍng máu anh hùng của Việt Khang.

Nguyễn văn Hoàng

.
Tuyệt vời
H.H
Mấy ông quan VNCH, mấy ông quan kách mệnh xă nghĩa, rồi ai cũng sẽ theo ông theo bà . Chỉ có Việt Khang là sống măi trong ḷng người có lương tri .
Quan xưa thân béo to tṛn
Quan nay thân béo to tṛn thế thôi !
Quan nào không tắm cũng hôi
Cởi mủ lột áo th́ rồi như nhau !!!


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 2 2012, 09:28 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 2 2015, 07:48 AM
Gửi vào: #6


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ngọc Nát - Vương Mộng Long

Giữa năm 1978, toán bốn người cựu sĩ quan của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Ḥa, tù cải tạo ở Trại 4, Xă Cẩm-Nhân, Yên-Bái, vượt ngục lần thứ nh́, nhưng bị thất bại. Đại Úy Lê Bá Tường chết trong rừng. C̣n lại Thiếu Tá Đặng Quốc Trụ, Đại Úy Trần Văn Cả và tôi (Thiếu Tá Vương Mộng Long) bị bắt đưa về tạm giam ở Đoàn 776 Yên-Bái.

Ngày đầu, một vệ binh c̣n rất trẻ tên Lời đă thẳng tay nện một báng súng A.K vào mặt tôi, một cái răng găy. Tên vệ binh Cộng-Sản trẻ tuổi này đă nặng tay với tôi, v́ hắn vừa t́m thấy trong ba-lô của tôi một bài thơ “phản động”. Chưa hả giận, hôm sau y trở lại. Tôi bị quật thêm một báng súng vào ngực, găy một cái xương sườn.

Qua ngày thứ tư th́ chúng tôi bị đưa xuống phà để về Trại 9 bên hồ Thác Bà, Xă Cẩm-Nhân, Yên-Bái.

Hai bạn đồng hành của tôi, Thiếu Tá Trụ và Đại Úy Cả bị nhốt trên nhà kho của trại. Tôi không rơ họ bị đối xử ra sao. C̣n tôi là người cầm đầu cuộc vượt ngục này, nên bị tách riêng, giam trong nhà kỷ luật, sát với hàng rào khu cưa xẻ thợ mộc. Tôi bị cùm cả hai chân, c̣ng cả hai tay.

Khi ấy đang mùa hè, trong hầm nóng nực, muỗi như trấu, bất kể đêm, ngày. Da mặt, da cổ, da tay chân của tôi trở nên sần sùi v́ muỗi đốt.

Tôi được phát hai cái ống nứa lồ ô dựng gần chân nằm. Một ống nứa để đại tiểu tiện, một để chứa nước uống. Tay bị c̣ng, chân bị cùm, vấn đề đi đại, tiểu tiện quả là một cực h́nh. Nhưng v́ bụng đói liên miên, nên vấn đề đại tiện cũng khó xảy ra thường xuyên.

Cũng do biên bản bàn giao lại từ Đoàn 776, nên từ hôm về Trại 9, ngày nào tôi cũng trải qua một trận đ̣n hội chợ, kéo dài trên, dưới hai tiếng đồng hồ. Tôi bị bắt đứng giữa pḥng trực trại, bốn góc pḥng là bốn vệ binh. Tôi bị đánh chuyền tay từ góc này sang góc khác, xoay tṛn quanh pḥng. Má bên trái vừa lănh một cú đấm chưa kịp cảm thấy đau th́ má bên phải đă lănh cú đấm tiếp theo. Những đợt máu mũi phọt ra ồng ộc tràn trên má và trên ngực tôi chỉ làm cho những tên vệ binh trẻ tuổi hăng tiết thêm.

Trọng lượng thân tôi thời này c̣n chừng trên ba mươi kư lô là cùng. Những cú đấm móc tận lực làm cho tôi có cảm tưởng như là đang “bay” từ góc nhà này, sang góc nhà khác. Sau mỗi tiếng “hự!” máu tôi lại trào ra như xối. Không biết máu từ mồm tôi hay từ phổi tôi phun qua hai lỗ mũi thành ṿi? Mặt tôi bầm tím sưng vù, đôi mắt híp lại, nh́n một vật hóa hai. Sau khi bị hàng chục cú đá cật lực vào bụng dưới, cứt đái trong bụng tôi cứ tự do tuôn ra quần. Tôi cố nín, cũng không nín được.

Lănh những trận đ̣n thù như thế này, tôi mới thấm ư câu hăm he của tên sĩ quan an-ninh Trại 9, “chúng ông sẽ đánh cho mày té đái, văi phân”.

Nhiều lần tôi bị đánh mửa mật xanh, mật vàng mà vẫn chưa được tha; đến lúc tôi mềm như sợi bún, vệ binh mới kéo tôi ra vứt ngoài cửa pḥng trực. Có hôm cả giờ sau trực trại mới cho người kè tôi về nhà giam.

Chắc nhiều bạn tù thấy cảnh tôi nằm rũ như cái xác không hồn nơi góc sân phơi sắn khô, nên một người được tha về Ban-Mê-Thuột đă đến nhà ông bà nhạc của tôi kể lại rằng tôi trốn trại và bị vệ binh đánh chết rồi!

Khi nhận tin này, ông anh vợ của tôi lo quá, vội đề nghị với bà mẹ vợ tôi, “Đừng nói cho con Loan hay tin chồng nó chết. Nghe tin này nó không sống nổi đâu! Nó mà chết th́ đàn con nó sẽ bơ vơ…”

Những ngày không bị dẫn lên “khung” để lănh đ̣n, tôi nằm chờ thời gian trôi qua.

Một tia nắng xuyên khe mái nứa, in một đốm sáng trên nền nhà. Nh́n vị trí đốm nắng di chuyển, tôi biết giờ giấc. Chấm nắng bắt đầu xuất hiện trên vách nhà hướng Tây vào lúc kẻng giải lao thứ nhứt của trại (khoảng chín giờ sáng) rồi từ từ di chuyển dần về hướng đông. Khi tiếng kẻng báo giờ điểm danh chiều (khoảng năm giờ chiều) th́ chấm nắng tới giữa vách hướng Đông, thế là hết một ngày!

Hàng ngày, tù nhân của nhà bếp đem cho tôi một bát sắn khô nấu nhăo nhoét. Anh ta phải để bát sắn nơi cửa buồng giam; tiếp xúc với người đang bị cùm là điều cấm kỵ!

Khi người tù đưa cơm rời bước, đàn gà của trại vội tranh giành nhau những mẩu sắn trong tô. Tới giữa trưa, tên bộ đội trực trại mới đến mở cửa hầm giam cho tôi ăn bữa cơm tù độc nhất trong ngày. Nhiều khi, tô sắn tới tay, tôi chỉ thấy một mớ bầy hầy đất cát và vài cọng sắn khô cỡ ngón tay. Tôi đói tới run chân, run tay, đói ngủ không được.

H́nh như không có “chế độ” ẩm thực nào áp dụng cho những trường hợp tù cải tạo vượt trại. Có hôm tôi được một củ sắn lớn cỡ cườm tay, dài một gang. Cũng có ngày tôi được hai củ khoai lang luộc nặng chừng nửa kư. Thường xuyên, thực đơn cho tù trốn trại là một tô cháo sắn phơi khô rắc muối.

Từ lâu lắm rồi, không nghe ai nhắc tới hai chữ “nhân quyền”. Trong thời gian tôi bị cùm ở trại này th́, cứ cách hai hay ba tiếng đồng hồ, một tên bộ đội đi tuần tra lại ghé kiểm soát t́nh trạng khóa, chốt, c̣ng, cùm một lần. Trong bóng tối, để chắc chắn rằng tôi c̣n sống, anh ta thường “tiện tay” khện cho tôi một cái bạt tai hay một báng súng để nghe tôi la lên oai oái v́ đau.

Đêm nào nghe thấy tiếng chân nhiều người đi tuần, ḷng tôi lại phập phồng,… biết đâu?… rất có thể, người ta sẽ ập vào, hè nhau đè tôi xuống, bịt miệng, khóa tay tôi, tṛng một sợi dây tḥng lọng vào cổ tôi, rồi lôi thân tôi lên xà nhà, như cách đây hai năm họ đă làm, để giết một anh tù vượt ngục bên Trại 4. Những cái chết như thế sẽ được thông báo là “tù tự tử”, thật đơn giản.

Một ngày, khi vệt nắng vừa chấm chân vách tường hướng Tây, từ bên sân của đội cưa xẻ, sát hàng rào có tiếng người nhắn sang, tôi nhận được đó là tiếng thằng bạn thân Vũ Văn Bằng,

” Long ơi! Thợ mộc được lệnh đóng ba cái áo quan. Chắc tụi mày sẽ bị xử bắn. Trưa mai tao sẽ đem cơm cho mày. Mày có nhắn ǵ cho gia đ́nh th́ nói với tao, tao sẽ thư cho gia đ́nh tao, rồi chuyển cho gia đ́nh mày. Tao cứ tưởng tụi mày đă đi thoát, không ngờ…”

Rồi nó nấc lên, nghẹn ngào…

Thằng Bằng cũng là dân Bắc-Kỳ Di Cư như tôi. Chúng tôi thân thiết sáu năm cùng lớp Trung Học Trần Quí Cáp. Sau khi tốt nghiệp Tú Tài 1, nó t́nh nguyện đi Khóa 63 A Sĩ-Quan Không-Quân.

Thiếu Tá Vũ Văn Bằng là Trưởng Pḥng Quân-Báo Sư Đoàn 6 Không-Quân. Mỗi lần từ tiền đồn về thăm Pleiku, tôi thường gặp nó.

Nằm trong cùm, nghe tiếng khóc của người bạn đồng môn, ḷng tôi chạnh nhớ ngôi trường đă đào tạo tôi thành người.

Tiếng thày hiệu trưởng Tăng Dục, ngày đầu Đệ Thất, c̣n đâu đây,

“Trường chúng ta được hân hạnh mang tên Trần Quí Cáp. Cụ Trần là một vị anh hùng ái quốc. Thày mong muốn các em chăm chỉ học hành, để sau này thành đạt, ra giúp nước, làm rạng danh cho trường.”

Hôm ấy có một vị khách, vốn là một giáo viên, bạn của thày hiệu trưởng, tới thăm và nói chuyện. Vị khách này là thân sinh ra anh Phạm Phú Nhàn, người ngồi bên cạnh tôi.

Ông khách mở đầu bài diễn văn bằng một câu mà tôi nhớ cả đời,

“Tụi mi nhớ đây! Thà làm một viên ngọc nát, chứ không làm một viên ngói lành. Nếu tụi mi không chăm chỉ học hành th́ suốt đời tụi mi chỉ là những cục cứt xái mà thôi!”

Sau đó ông già dài ḍng kể về lư lịch và cuộc đời người anh hùng ái quốc Trần Quí Cáp, qua đấy, chúng tôi biết cụ Trần v́ yêu quê hương, yêu đồng bào, nên đă bị cầm tù, bị đưa lên đoạn đầu đài.

Tôi lớn lên, tự hào và hănh diện là một đứa con của cụ Trần. Tôi cứ nhớ măi hai danh từ “viên ngọc nát”‘ và “cục cứt xái” mà ông bố anh bạn học của tôi đă đem ra ví von trong câu truyện khuyên nhủ tụi nhỏ.

Tháng Năm năm 1908 cụ Trần Quí Cáp đă bị đưa ra pháp trường, xử trảm ngang lưng. Ngày đó khóc bạn, cụ Phan Bội Châu đă viết,

“Ngọc toái bất ngơa toàn, tam tự ngục hàn, sơn hải khấp
Hồng khinh nhi thái trọng, thiên thu luận định, nhật tinh huyền.” (Phan Bội Châu)

Dịch:

Ngọc nát vẫn hơn ngói lành, nhà tù ba chữ, núi biển khóc
Thái Sơn nặng, lông hồng nhẹ, bàn luận ngh́n năm, c̣n thấy sao trời sáng.

Bảy chục năm sau, tháng Năm năm 1978, một người v́ yêu đất nước, yêu đồng bào cũng đang nằm chờ giờ ra pháp trường.

Hai người, tôi và cụ Trần Quí Cáp, tuy sinh ra không cùng thế kỷ, nhưng đă phạm cùng một tội: “Tội mất nước” (Phan Bội Châu)

Thế mới biết, những người yêu nước có thể bị giết, nhưng tinh thần ái quốc của một dân tộc th́ bất diệt.

Trưa nay nghe tiếng khóc của thằng bạn, tôi thở dài,

“Thôi thế cũng là xong! Cứ coi như một lần ra trận…”

Mười hai năm lửa đạn, vào sinh ra tử, tôi đă không ngừng cố gắng để hoàn thành phần nào ước vọng của thày tôi ngày đầu Đệ Thất. Là đệ tử của cụ Trần Quí Cáp, tôi đă noi gương cụ, cống hiến trọn đời tôi cho tổ quốc.

Tiếc thay, đất nước tôi đă tới thời mạt vận, nên tôi đành chấp nhận những tai ương giáng xuống số phận ḿnh.

Đêm hôm đó tôi thức trắng. Tôi nằm im, nhắm đôi mắt lại, mường tượng ra trong trí, từng khuôn mặt của những người thân. Trước h́nh ảnh mỗi người, tôi lẩm nhẩm nhắn nhủ lời vĩnh biệt. Lần lượt, tôi chia tay với mẹ tôi, rồi tới vợ tôi, cùng ba đứa con gái.

Đến lúc phải tưởng tượng ra khuôn mặt thằng con út th́ óc tôi quay ṃng ṃng. Tôi không làm sao vẽ ra trong trí khuôn mặt của thằng con. Nó sinh ra ba tháng sau ngày Miền Nam sụp đổ, lúc đó tôi đă ở trong tù rồi.

Trưa hôm sau thằng Bằng năn nỉ anh bạn tù trưởng bếp để nó thay anh ta đem phần ăn một ngày sắn khô cho tôi. Nó đứng ngoài cửa buồng giam, miệng cười hô hố,

– Long ơi! Chiều hôm qua, sau khi đóng xong ba cái áo quan, về lán tao không ngủ được. Tao buồn, tao thương mày, tao khóc suốt đêm. Sáng nay tao mới biết, Trại 7 có năm thằng chết đuối v́ bị ch́m mảng khi đi chặt nứa. Nhưng Trại 7 chỉ có hai cái áo quan, nên tụi tao phải đóng thêm ba cái nữa. Thế mà tao cứ ngỡ là áo quan để dành cho ba đứa tụi mày…

Thằng Bằng chưa dứt lời đă có tiếng vệ binh quát tháo,

– Anh kia! Đem cơm cho “phạm” xong là phải đi ngay. Lớ ngớ ở đây tôi cho một báng súng bây giờ.

Lúc đó vệt nắng nằm ngay giữa nền nhà, đúng Ngọ! Anh bạn Thiếu Tá Vũ Văn Bằng vừa báo cho tôi một tin vui. Như vậy là, ít nhứt tôi cũng c̣n sống thêm một, vài ngày nữa!

Nhưng vừa cảm thấy vui đó, ḷng tôi lại chùng xuống ngay. Bởi v́, suy nghĩ lại, th́ đó cũng là một tin rất buồn, v́ tôi vừa mất năm đồng đội. Mai đây, ở một nơi xa xôi nào đó, trong Nam, sẽ có năm gia đ́nh đau khổ vô cùng khi được báo tin này.

Chuyện ra pháp trường của tôi đă không xảy ra. Hôm sau chúng tôi bị chuyển trại. Ba người bị trói quặt hai tay ra đàng sau. Thêm vào đó là một sợi thừng được buộc vào cánh tay phải của tôi, luồn qua lưng anh Trụ, tới cánh tay trái của anh Cả. Đi hướng nào, chúng tôi cũng bị dính chùm.

Hai khẩu A.K kèm chúng tôi rời Trại 9 vào giờ tù tập họp đi lao động. Những khuôn mặt hốc hác v́ đói khát của đồng đội đang hướng về phía chúng tôi. Có đôi bàn tay gầy guộc đưa lên má vội vàng quệt nước mắt.

Chúng tôi bị dẫn đi một ṿng quanh chợ Cẩm-Nhân để cho dân địa phương coi mặt. Cũng may, lần này dân chúng chỉ đứng nh́n theo ba người tù bị trói một cách ṭ ṃ, không có ai chạy theo ném đá hay đả đảo, sỉ nhục chúng tôi như thời 1976.

Năm 1976, sau khi bị bắt v́ tội vượt ngục lần đầu từ Trại 3, tôi và Thiếu Tá Đặng Quốc Trụ đă bị trói ngoặt cánh khuỷu, rồi bị dẫn riệu qua đây để dân địa phương bày tỏ ḷng căm thù “Ngụy Quân ác ôn”. Chúng tôi bị ném đá sưng đầu, sưng cổ.

Cùng thời gian đó, toán bị bắt bên kia sông Hồng, về qua đây cũng bị dân đánh đập tơi bời, Thiếu Tá Hồ Văn Ḥa găy xương sườn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm sưng vù hai má, Thiếu Tá Trần Tấn Ḥa dập mũi.

Riêng toán đi từ Trại 4 là bị “chiếu cố” kỹ càng nhứt: Đại Úy Nguyễn Tấn Á bị đánh bằng đ̣n gánh, xệ vai trái, Thiếu Tá Chu Trí Lệ bị quật lọi cẳng chân, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Đông bị đấm ḷi mắt. Không những thế, ba anh này c̣n bị nhốt trong chuồng trâu, bị dân quân nắm tóc, dúi mặt vào hố phân trâu ḅ nhiều đợt, xém chết ngạt.

Trong hai năm bị giam giữ ở đây, chúng tôi có nhiều dịp đi lao động “vần công” với các hợp tác xă nông nghiệp của dân địa phương. Qua những lần tiếp xúc ấy, người dân có lẽ đă nhận ra rằng, những sĩ quan Việt-Nam Cộng-Ḥa không phải là những kẻ “ác ôn” như họ từng nghe chế độ Bắc-Việt tuyên truyền. Dần dà, dân chúng nơi này đă nh́n chúng tôi với đôi mắt khác xưa. Càng ngày, dân trong vùng càng tỏ ra thân thiện với chúng tôi hơn.

Rời chợ Cẩm-Nhân, vệ binh dẫn chúng tôi nhắm hướng Lũng Ngàn: thế là chúng tôi về lại Trại 4!

Tháng Tám năm 1976 tôi đă bị cùm ở buồng giam Trại 4 hơn ba tháng trời. Rồi cũng từ nơi này, đầu năm 1978, tôi lại xuất phát cuộc vượt ngục lần thứ hai.

Nay bị đưa trở lại nơi đây để chấp cung th́ quả là điều đáng sợ đối với tôi.

Cũng như ở bên Trại 9, hai bạn tôi bị nhốt trên ban chỉ huy. C̣n tôi bị cùm riêng trong nhà kỷ luật nơi góc trái cổng trại, sát hàng rào, bên bờ suối.

Vừa đặt chân vào pḥng giam, tôi đă nh́n thấy một cái cùm mới cáo cạnh. Cái cùm chân này tinh vi và chắc chắn hơn cái cũ nhiều.

Trước đây, năm 1976, chân người bị cùm có thể duỗi dài thoải mái, hai chân sát đất trong buồng giam.

Lần này cùm làm bằng hai tấm ván ghép, mỗi tấm được khoét hai nửa ṿng tṛn vừa cổ chân. Sau khi gác hai cổ chân tù nhân lên hai h́nh bán nguyệt của tấm ván dưới, cai tù sẽ kéo sập tấm ván trên xuống và khóa chốt. Thế là, tù nhân chỉ c̣n cách nằm ngửa, vắt hai chân lên cao 45 độ. Chân người bị phạt sẽ ḷi ra ngoài ô cửa sổ đầu hồi. Lính canh không phải đi tới cửa buồng giam, mà chỉ cần bước qua cổng chính là đă nh́n thấy đôi chân người có tội rồi.

Sau này tôi mới biết, cái cùm đó được hoàn thành chỉ vài ngày trước khi chúng tôi bị giải về đây. Người vẽ kiểu cùm là viên Thượng Úy Việt-Cộng tên Xuyên, Chính Trị Viên của Trại 4. Người tù thợ mộc được giao nhiệm vụ đóng cái cùm lại là một cựu Hải Quân Thiếu Tá VNCH, bạn cùng lớp Trần Quí Cáp của tôi.

C̣ng tay là một cặp khoen sắt rèn số 8 vừa sát với cổ tay. Khóa của nó là loại khóa cửa, lớn bằng bàn tay, nặng chừng một kư lô. Cái khóa này đè trên ngực làm cho tù nhân khó thở vô cùng.

Ngay buổi chiều đầu tiên, tôi đă bị tên vệ binh Lê Văn Tưởng tới “hỏi thăm sức khỏe”.

Vệ binh Lê Văn Tưởng và vệ binh Hồ Ngọc Thắng, biệt danh “Thắng Bo” là hai hung thần của Trại 4. Thấy bóng dáng hai tên này từ đàng xa, anh em bạn tù đă run rồi.

Tên Tưởng ló đầu bên cửa sổ đầu hồi, đôi mắt chớp chớp, miệng cười cười,

– Anh Long ơi! Mạnh khỏe chứ?

– Thưa anh bộ đội, tôi vẫn khỏe.

– Người ta đồn, nửa đường, máy bay lên thẳng của Mỹ đến đón, nhưng các anh thích đi bộ cho khỏe chân, nên mới bị bắt lại, có đúng không?

– Tôi không biết chuyện này anh bộ đội ạ!

– Ḿnh “nhớ” anh muốn chết! Anh có “nhớ” ḿnh không?

Tôi lặng thinh.

– Anh đi vắng mấy ngày? Anh nhỉ?

– Tôi trốn sáu mươi bốn ngày.

Tên bộ đội gỡ cái băng đạn A.K ra khỏi súng, nhoài người qua cửa sổ,

– Sáu mươi tư ngày! Kỷ lục đấy!

Hắn dơ cao cái băng chứa đầy đạn A.K gơ xuống hai chân đang bị cùm của tôi, rồi lớn tiếng dơng dạc đếm,

– Một!…Hai! …Ba!… Bốn!…

Sống của cái băng đạn giáng trên xương ống quyển làm cho tôi thót tim. Tôi la lên,

“Ối!… Ối!…Ối! …”

Thấy tôi đau líu lưỡi, Tưởng cười khoái trá. Nó cười bằng miệng, và cười cả bằng đôi mắt,

– Anh Long đi vắng sáu mươi tư ngày. Tôi khổ v́ anh sáu mươi tư ngày. Tôi sẽ gơ chân anh sáu mươi tư lần để anh nhớ! Mười hai! Mười ba! Mười…

Tôi đau đến chảy nước mắt, đau nhảy nhổm, đau quằn quại, giẫy đành đạch.

Vệ binh Lê Văn Tưởng vẫn tỉnh bơ, mặt không đổi sắc, tay nó dơ lên, giáng xuống, đều đều…

Ống chân tôi sưng lên, rồi tóe máu. Mắt tôi bắt đầu hoa, tai tôi ù như sắp điếc đặc.

Đau quá, tôi điên tiết, ngồi bật dậy. Tôi dơ hai tay có cái c̣ng lên cao, nện một phát thẳng cánh, trúng cổ tay thằng mất dạy.

Bất ngờ bị một cú đau điếng, nó buông rơi băng đạn. Mặt nó đổi sắc thành màu tím. Nó nghiến răng, rít lên,

– Tiên sư cha nhà mày! Ông cho mày biết tay. Từ nay mày chỉ c̣n nước ḅ thôi, hết đi được nữa rồi! Con ơi!…

Nó cúi xuống rút con dao găm đeo trên dây lưng. Một tay nó cầm bàn chân phải của tôi, tay kia dí mũi dao vào nhượng chân. Chỉ một giây đồng hồ nữa là gân nhượng chân tôi bị cắt! Tôi sẽ thành phế nhân!

– Ngừng tay ngay!

Tiếng quát của ai đó làm cho tên khát máu chùn tay, mũi nhọn của con dao găm vừa chạm lớp da khuỷu chân tôi th́ ngừng lại.

Người vừa quát là cán bộ Vấn.

– Đồng chí có nhiệm vụ ǵ ở đây? Sao lại định cắt gân chân người ta?

– Thủ trưởng ơi! Thằng này hỗn láo quá! Nó chửi tôi. Tôi phải dạy nó một bài học.

Cán bộ Vấn nghiêm giọng,

– Chuyện ǵ cũng phải báo cáo với cấp trên. Đồng chí không được tự tiện.

Hung thần họ Lê đi ṿng sang cửa chính, khom ḿnh lượm cái băng đạn. Nó lườm lườm nh́n tôi với đôi mắt căm hờn,

– Tiên sư cha mày! Số mày c̣n may lắm đấy!

Tôi cũng nghiến răng, trợn mắt, nh́n ngay mặt nó,

– Tổ mẹ mày! Đồ con chó!

Cán bộ Vấn ra lệnh,

– Đồng chí Tưởng ra khỏi đây ngay! Từ nay, nếu không phải phiên trực, tôi cấm đồng chí léo hánh tới đây.

Chờ cho tên Tưởng qua khỏi cổng, cán bộ Vấn mới bước tới sát cửa pḥng giam, nhỏ giọng nói với tôi,

– Chuyện đâu c̣n có đó. Anh Long yên chí nằm nghỉ đi, đừng lo nghĩ ǵ cả.

Viên Trung Úy Cộng-Sản tên Bùi Văn Vấn này là dân Hải-Dương. Anh ta làm quản giáo ở đây từ ngày mới lập trại.



—–o—–

Đêm tháng Năm, muỗi vo ve…

Ngoài rào có tiếng chân người lội lơm bơm dưới nước; chắc đó là ông già Khê người dân tộc Tày? Đêm nào già Khê cũng đi cắm cần câu cá dọc theo con suối.

Nhà của già Khê nằm sát rào Trại 4. Trước khi trốn trại, mỗi lần tôi đi ngang qua rào, ông cụ tốt bụng này thường dúi cho tôi một gói ớt hiểm, kèm với lời dặn ḍ,

“Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, nhớ mỗi ngày làm một quả ớt hiểm để chống sốt rét, ngă nước!”

Có ánh đèn pin loang loáng, rồi tôi nghe già Khê lớn tiếng hỏi người nào đó,

– Làm ǵ mà ngồi đây thế? Thấy hết hồn… tưởng ma!

Người kia trả lời,

– Suỵt! … Suỵt!… Cháu… ngồi …chơi…

Tiếng người này nhỏ nhí, nhưng tôi vẫn nghe được đó là tiếng vệ binh Đèo Văn Thắng. Trại 4 có hai vệ binh tên là Thắng. Đèo Văn Thắng người Cao-Bằng, hiền như bụt nên chúng tôi gọi là “Thắng Phật”. Tính nết “Thắng Phật” trái ngược hẳn với “Thắng Bo” Hồ Ngọc Thắng người Bắc-Thái rất độc ác dữ dằn. Gặp điều không vừa ư, “Thắng Bo” đánh tù không nương tay. Chữ “Bo” là từ chữ “Porteur” tiếng Pháp, có nghĩa là “phu khuân vác”. Biệt danh của hai vệ binh tên Thắng đều do anh em tù Trại 4 đặt ra, và truyền miệng với nhau.

Già Khê lại lớn tiếng thắc mắc,

– Ngồi chơi mà chong súng như canh kẻ trộm? Có báo động hử?

– Không…không…cháu ngồi chơi mà…

– Ừ! thôi nhá! Có rảnh vào nhà rít điếu thuốc lào rồi hăy về…

– Vâng…vâng…

Sau đó tôi nghe mấy tiếng “Thịch! Thịch! Thịch!…” trên nền đất, có lẽ già Khê đang dậm dậm gót chân vài cái cho ráo nước?

Rồi tiếng chân bước xa dần, đêm trở lại với mớ âm thanh hỗn độn của ếch nhái, côn trùng…

Tôi đang thiu thiu sắp ngủ th́ có bóng người bước vào. Người đó vỗ nhè nhẹ bên hông tôi,

– Dậy! Dậy mau! Ban chỉ huy trại thấy anh tiến bộ nên xét tha cho anh về lán đấy!

Tên vệ binh cúi xuống lấy ch́a khóa mở c̣ng tay cho tôi, rồi y đi ṿng ra ngoài đầu hồi tháo chốt cái cùm chân.

Bất ngờ nghe lệnh được tha về đội lao động, tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ.

Tôi chưa đứng vững, tên bộ đội đă thúc giục,

– Đi mau! Anh lên “khung” gặp trực trại, kư giấy tha rồi về lán cho sớm!

Tôi thấy ngoài trời tối đen như mực, nên chùn bước,

– Tối thế này làm sao thấy đường mà đi? Mọi đêm, các anh dẫn tôi đi đâu cũng có cái đèn băo mà?

– Hôm nay chỉ lên kư cái giấy thôi, cần ǵ đèn với đóm?

Linh tính báo cho tôi biết, h́nh như có điều ǵ không ổn, nên tôi vội ngồi bệt xuống bực cửa,

– Tôi không đi đâu! Muốn tôi đi, phải có đèn, đi không đèn th́ vệ binh gác trên cḥi sẽ bắn tôi chết!

Tên bộ đội thấy tôi ngồi ́ ra trước thềm, bèn rút túi, lấy ra một khúc nến. Y bật quẹt đốt nến lên, trao cho tôi,

– Đây! Đèn đây, anh cầm lấy rồi đứng lên đi đi!

Tôi ù ĺ,

– Nếu anh đưa cái đèn băo, tôi sẽ cầm đi ngay. Cây nến này ra gió là tắt liền, tôi không đi đâu!

Tức quá, nó quát ầm lên,

– A! Cứng đầu hả? Anh không đi, tôi điệu anh đi!

“Huỵch! Huỵch!”

Bị hai cái báng súng đánh vào vai, đau lắm, nhưng vẫn không nao núng, tôi cứ ngồi ôm chặt cây cột cửa không chịu buông.

Sau cùng, thằng vệ binh đành quàng khẩu súng ngang vai để hai tay nó được tự do nắm cổ áo tôi, lôi ra cửa. Biết ḿnh không đủ sức vật nhau để cướp súng, tôi đành ôm cánh tay kẻ thù, nhe răng cắn tới tấp. Đau quá, nó đành buông tôi ra. Tay xoa chỗ bị cắn, miệng nó chửi,

– Đồ chó cắn càn!

Tôi la lên,

– Anh muốn bắn tôi phải không? Bắn th́ bắn bây giờ đi! Tôi không ngu mà bước ra cổng cho anh bắn đâu! Tôi biết tỏng… ṭng… tong… âm mưu của anh rồi!

H́nh như câu nói đó làm cho tên vệ binh chạm nọc, nó ấp úng,

– Ấy! Ấy! Tôi không bắn anh đâu! Mà sao anh biết? Ơ …ơ …ơ…

Bộ dạng bối rối của thằng cai tù kèm với câu “Mà sao anh biết?…” khiến tôi suy ra ngay,

“Đúng rồi! Tụi nó gài cho ḿnh không đèn đóm đi ra cổng để giết ḿnh! Mấy thằng bộ đội chong súng ngoài kia đang ngồi phục kích chờ bắn ḿnh chứ đâu phải ngồi chơi?”

Thấy chết đến nơi, tôi đánh nước liều, chơ mồm về hướng các lán tù, tôi gào lên,

– Anh em ơi! Người ta giết tôi! Anh em ơi! Chúng nó bắt tôi đi ra khỏi rào để bắn tôi! Anh em ơi! Cứu tôi với!

Ngay từ lúc đôi bên giằng co, đă có vài người tù ở Lán 1 và Lán 5 ló đầu ra theo dơi. Nghe tiếng tôi kêu cứu, họ cũng hét ầm lên,

– Không được giết người! Không được giết người!

– Chúng nó giết tù! Anh em ơi! Chúng nó giết tù! Anh em ơi!

Tiếng la lớn nhứt tôi nghe được, rơ ràng là tiếng của Đại Úy Phạm Xuân Độ.

Gặp cảnh bất ngờ, tên bộ đội đứng ngẩn người, không biết xử trí ra sao.

Bỗng có ba tiếng súng chỉ thiên phát ra từ cḥi gác ngoài cổng trại. Rồi một tốp bộ đội ôm A.K chạy túa vào sân. Tên trưởng toán vệ binh thét lớn,

– Tù làm loạn hả? Vào lán! Đóng cửa lại! Đứa nào lớ ngớ ngoài hiên chúng ông bắn bỏ mẹ! Nghe chưa?

Có tiếng lên đạn, “Cà róch!… Cà rách!…”

Tôi bị tống năm, sáu báng súng vào ngực, vào lưng, rồi bị đẩy vào nhà kỷ luật trở lại. Hai phút sau, c̣ng, cùm khóa xong. Vệ binh tản mát dần. Cảnh vật lại yên tĩnh như không có ǵ xảy ra.

Trại tù đèn tắt tối thui, nhưng tôi yên tâm nhắm mắt ngủ, v́ tôi tin tưởng rằng qua khe vách liếp của các lán tù, thế nào cũng có vài đôi mắt đang theo dơi sự an nguy của tôi.

Sáng hôm sau, trước khi nghe tiếng kẻng xuất trại lao động, có bốn, năm người bị gọi lên tŕnh diện cán bộ an ninh của trại, trong số này có anh Phạm Xuân Độ. Đại Úy Biệt Động Quân Phạm Xuân Độ là một người đàn em trong đơn vị tôi. Tôi và Độ thân nhau như anh em ruột.

Khi đi ngang qua nhà giam, Độ lớn tiếng, cốt cho tôi nghe,

“Thái Sơn ơi! Đàn em không bỏ đại ca đâu! Đại ca ơi!”

Tôi ngồi nh́n theo bóng chú Độ, ḷng bồn chồn, thấp thỏm không yên.

Chừng một tiếng đồng hồ sau, nhóm tù dính líu tới vụ lộn xộn đêm qua được thả về. Ngang qua chỗ tôi ngồi, Độ lại phát thanh bổng,

“Thái Sơn ơi! Chỉ có một tờ kiểm điểm, không nhằm nḥ ǵ.”

Nghe vậy, tôi mới thấy ḷng nhẹ nhơm, hết lo âu.

Mấy cái báng súng đêm trước đă khơi động những chấn thương cũ trong thân thể tôi. Tôi chợt thấy ngực ḿnh đau nhói một cách kỳ lạ.

“Bục!…Bục!…Ục!…Ục!…”

Ruột gan tôi như đang lộn lạo, sôi sùng sục. Có một vật ǵ tṛn tṛn, mềm mềm như cái bong bóng đang t́m đường chui qua cổ họng tôi để thoát ra ngoài.

“Ộc!…Ộc! Phè!…Phè!…” Máu từ ngực tôi vọt qua hai hàm răng, văng tung tóe trên đùi và trên nền ván gỗ.

Tôi ói máu liên tục. Lúc này, trước mắt tôi chỉ c̣n những đốm sao chớp chớp, lập ḷe. Rồi tất cả tối sầm lại, đen đặc. Tôi gục đầu hôn mê trên chiếc c̣ng tay…

“Lai tỉnh đi Long! Long ơi!… Lai tỉnh đi Long!…”

Tôi mở mắt ra, thấy ḿnh đang nằm thoải mái trên nền đất nhầy nhụa, hôi tanh, tay không c̣ng, chân không cùm. Ông thầy thuốc Nam của trại một tay bóp miệng cho tôi thở, tay kia không ngừng giựt giựt mớ tóc mai bên thái dương tôi.

Cán bộ Nghiễm trực trại, đang đứng trước cửa theo dơi. Thấy tôi mở mắt tỉnh lại, y buột miệng,

– Tưởng đi luôn rồi chứ!

Sau đó y ra lệnh cho tên lính gác,

– Dẫn nó ra suối!

Thế rồi, sau nhiều ngày ủ ḿnh trong bộ quần áo kaki đầy máu me, cứt đái hôi thối, tôi được đi tắm. Sức yếu, hai chân lại đau, tôi đi không nổi, đành phải ḅ. Tới cổng, tôi níu vào hàng rào đứng lên, cố gắng lần ṃ từng bước. Có hai anh bạn đánh liều chạy tới đỡ, d́u tôi đi. Thấy thế, vệ binh cũng làm ngơ.

Trong lúc tôi đi vắng, một anh bạn tù bị bắt làm công tác vệ sinh nhà giam với một thúng tro.

Tới suối, tôi tụt hết quần áo, lết nhanh xuống ḍng nước mát. Hai tên lính canh đă gh́m súng ngồi sẵn trên bờ. Cán bộ Nghiễm ra điều kiện,

– Anh Long có mười phút tắm gội. Cấm không được lặn!

Tôi bỏ ngoài tai lời đe dọa, cứ gục đầu xuống uống đầy một bụng nước, rồi lặn ngụp, ṿ đầu ṿ tai. Những con cá ḷng tong bu vào gặm nhấm lớp da phủ vảy máu mủ chưa khô trên ống quyển. Lúc đầu, răng cá làm cho những vết thương chân của tôi thật là đă ngứa. Sau đó máu tươm ra, tôi bắt đầu cảm thấy xót, thấy đau.

Buổi chiều, trực trại sai hai bạn tù kè nách đưa tôi lên pḥng làm việc. Tôi phải viết hai tờ tự kiểm, phải thành tâm hối hận về hành động trốn trại vừa qua để xin ban chỉ huy trại khoan hồng.

Tôi nại cớ hai tay bị cùm, bị đánh, đă tê dại, không cầm bút được. Thế là một anh bạn gốc Không Quân đang ngồi tỉa bắp trên kho bị điệu vào ghi chép tờ tự khai cho tôi. Tôi nói anh bạn muốn viết ǵ th́ viết, rồi tôi nhắm mắt kư bừa, không cần đọc lại. Lúc nộp hai tờ tự kiểm cho cán bộ, h́nh như anh ta đă ghi lộn họ Vương của tôi thành họ… Nguyễn th́ phải?

Trong thời gian chờ cán bộ của Nha Quân-Pháp Bộ Quốc-Pḥng Cộng-Sản từ Hà-Nội về chấp cung, tôi không được đi ra ngoài. Mọi sinh hoạt tiêu, tiểu đều ở ngay chỗ nằm. Hằng ngày, ông thầy thuốc Nam của trại có nhiệm vụ đi vứt cứt đái cho tôi. Biết tôi bị nội thương, ông ta lén dấu cho tôi vài viên xuyên tâm liên. Ông thầy thuốc này cũng là tù cải tạo. Tù mắc bịnh ǵ ông ta cũng cho uống xuyên tâm liên! Từ thời ông ta đảm nhận công tác y tế của trại, tôi chưa thấy ai chết v́ xuyên tâm liên cả.

Ngày Chủ Nhật, trại được nghỉ lao động. Hai cổng trước sau đều bị khóa. Tên lính gác trên cḥi cao ngồi ngủ gà ngủ gật. Các bạn tù túa ra sân, người th́ tay chân bận bịu với ca cóng trong việc nấu nướng, kẻ tụ họp đánh cờ, vài anh khác mải mê tập thể dục, dưỡng sinh. Có bóng người lạng qua cửa nhà cùm.

“Vèo!…Vèo!…Độp!…Độp!…” vài cục đường thẻ và mấy củ khoai lang luộc được quăng vào nhà kỷ luật.

Hai củ khoai bay tuốt vào góc pḥng, ngoài tầm tay với. C̣n hai cục đường v́ nhẹ, nên rơi nơi bục cửa, tôi chụp lẹ, rồi đưa ngay vào mồm.

Oái oăm làm sao! Cục đường trong miệng lại nằm kẹt ngay chỗ cái răng đă bị tên Lời đập găy, tôi đau điếng người! Cả hàm răng tê tái, cứng đờ, cục đường nằm trong họng măi không chịu tan.

Hai ông bạn tù vừa ném đồ ăn cho tôi, một ông là Hải Quân Thiếu Tá Trần Văn Căn, bạn cùng lớp Trần Quí Cáp, người thứ nh́ là Đại Úy Vương Thành Lân Khóa 19 Vơ-Bị.

Lâu ngày mới thấy chất ngọt, nước dăi trong mồm tôi tiết ra ào ào, nuốt không kịp.

Tới trưa hôm đó mới khổ! Tôi chưa kịp cởi quần đă bị “Tào Tháo” đuổi, bắt tại chỗ! Tay c̣ng, chân cùm, tôi đành nằm chịu trận.

Chờ măi, tôi mới thấy bóng dáng ông thầy thuốc Nam trước cửa nhà bếp. Tôi lên tiếng gọi, rồi mắc cỡ, nói với ông ta rằng v́ bị trúng gió, tôi đă “bĩnh” ra quần.

Ông lang sốt sắng chạy vội lên gặp cán bộ trực trại. Tôi được “chiếu cố” cho ra suối tắm rửa lần nữa.

Hai ngày sau, vào lúc xế chiều, cán bộ Vấn xuất hiện. Đứng chân trong, chân ngoài ngạch cửa, anh ta dặn ḍ,

– Ngày mai có người từ trên Bộ xuống chấp cung. Tính mạng của anh coi như an toàn rồi đấy! Tôi cũng mừng cho anh. Có điều là cần kín miệng.

Nói vừa xong câu, anh ta vội vàng xoay lưng, bước đi.



Chín giờ sáng ngày hôm sau, tôi ngồi đối mặt với một thượng úy của Nha Quân-Pháp Cộng-Sản. Công tác chấp cung xảy ra đúng ba ngày.

Ngày thứ nhứt…

Tay nhấn cái nút “Play” màu trắng, đồng thời với cái nút “Record” màu đỏ của chiếc cassette để trên bàn, tên cán bộ bắt đầu cuộc thẩm vấn,

– Trong thời gian ở Trại 4 này, cán bộ và chiến sĩ của trại có làm điều ǵ trái với chính sách của đảng và nhà nước khiến cho anh và các trại viên khác bất măn không?

Tôi thoáng nghĩ,

“Phủ bênh phủ, huyện bênh huyện, ḿnh có nói ra những hà khắc, bất nhân của cán binh trại này, chưa chắc hắn ta đă làm được điều ǵ thay đổi. Mà không chừng, tố cáo những ǵ ḿnh chứng kiến, có khi c̣n mang vạ vào thân…”

Hai bàn tay xếp trên đùi, tôi tránh đôi mắt người đối diện,

– Thưa cán bộ, tôi thấy rằng ở trại nào th́ chế độ cũng như nhau. Tôi không có điều ǵ để khiếu nại cả.

– Vậy th́, nguyên nhân nào đă khiến anh vượt trại?

– Tôi trốn trại là để đi t́m tự do.

– Sao lại phải đi t́m? Bao giờ học tập xong, anh sẽ được trả tự do thôi!

Ngẩng đầu lên, thấy vẻ mặt người sĩ quan Cộng-Sản không có nét ǵ là giận dữ, tôi đánh bạo,

– Thưa cán bộ. Cán bộ có thể cho tôi biết, đến bao giờ th́ khóa học của tôi mới chấm dứt?

Thừ người ra một phút, viên thượng úy nhịp nhịp cái bút ch́ trên mặt bàn,

– Cái ấy cũng tùy, một năm, vài ba năm, tùy nơi các anh…

Lúc đó mắt tôi chợt nh́n thấy trong góc pḥng một cái giá súng, trên đó dựng bốn khẩu A.K của vệ binh. Một ư nghĩ thoáng qua,

“Hai giây đồng hồ để nhảy từ đây tới cái giá súng. Một giây chụp khẩu A.K. Một giây kéo cơ bẩm. Hai giây vượt qua cửa sổ. Một phút sau có mặt trong vườn sắn. Lính canh trên cḥi gác không thể quan sát được phía sau vườn sắn. Phải tốn ít nhất là năm phút, vệ binh mới tập họp xong. Chỉ cần năm phút phù du ấy là ta đă lên tới Lũng Ngàn rồi!”

Tiếng gơ nhịp bút ch́ chợt ngừng th́nh ĺnh. Tôi liếc mắt thấy vẻ mặt hơi thất sắc của tên cán bộ. H́nh như hắn ta đă thấy mắt tôi đang dán vào cái giá súng?

Y vụt xô ghế, đứng dậy,

– Thôi anh về nghỉ, ngày mai ta làm việc tiếp.

Tôi chột dạ, nhưng cũng không tỏ vẻ bối rối. Phải chống hai tay lên ghế lấy đà, tôi mới từ từ đứng lên được. Lúc này tôi chợt sực tỉnh: sức tôi yếu quá! Tôi đứng c̣n khó khăn, nói chi tới chuyện chạy, nhảy, leo trèo?

Ngày thứ nh́…

Bước vào pḥng trực, tôi không c̣n thấy cái giá súng A.K trong góc nhà nữa. Bên ngoài cửa sổ thấp thoáng bóng vệ binh ôm súng, rảo bước đi qua, đi lại.

Chờ cho tôi ngồi xuống ghế, viên sĩ quan quân pháp chỉ tay vào một cái bịch giấy dày cộm trên bàn,

– Tôi đă có toàn bộ hồ sơ quân bạ của anh Long ở đây. Đầy đủ hết! Từ bản tướng mạo công vụ, cho tới từng cái giấy phạt, giấy khen, huy chương, khai sinh, giá thú … không thiếu bất cứ thứ ǵ. Nếu không tin, anh có thể tự tay kiểm tra lại, xem tôi nói có đúng không?

Rồi y rút ra đưa cho tôi mấy tờ huy chương và bản tướng mạo công vụ của tôi. Thoáng nh́n thôi, tôi đă biết đó là thứ thật.

Thấy tôi có vẻ không hứng thú với việc đọc mớ giấy tờ kia, hắn từ tốn cất chúng vào bao trở lại, rồi gật gù,

– Hôm nay chương tŕnh sẽ là nghe vài cuộn băng.

Cuộn băng thứ nhứt dài nửa giờ ghi lại phiên ṭa ngoài trời, cách đây không lâu, xử một anh tù cải tạo tên Phê (?) trốn trại ở đâu dưới Vĩnh-Phú hay Thanh-Hóa ǵ đó. Tiếng loa vang vang lời kết tội phát ra từ miệng một “cải tạo viên”, có lẽ là trật tự hay thi đua,

“Tên ngụy quân này đă ngoan cố vượt trại, không chịu học tập! Đề nghị xử tử!”

Hàng chục người khác nhao nhao tán đồng,

“Đồng ư! “…”Nhất trí!”…”Đồng ư!”…”Nhất trí!”…

Một người nữa phát biểu,

“Thằng này đă cướp súng bắn lại cán bộ! Phải xử tử nó ngay!”

Đám đông lại thét gào,

“Xử tử!”…”Xử tử!”…”Xử tử!”…

Một ư kiến khác,

“Chúng tôi không an tâm học tập khi tên ác ôn này c̣n sống và tiếp tục quấy rối chúng tôi…”

Khán giả dường như đă say máu,

“Xử tử nó đi!”…”Xử tử nó ngay!”…”Xử tử nó!”…”Xử tử!”…

Đa nghi cách mấy tôi cũng không thể nói cuộn băng này là giả tạo được! Rơ mồn một, đấy là tiếng nói, tiếng la, tiếng hét của đồng đội tôi. Tôi không thể nghe lầm: Đồng đội của tôi đang tranh nhau đ̣i giết bạn ḿnh!

Là một tù nhân sắp ra ṭa lănh án, tôi không mảy may sợ hăi cái chết, nhưng những tiếng la hét của những người đồng ngũ lại làm cho tôi đau đớn vô cùng.

Cuộn cassette dài có nửa giờ, vậy mà tôi cảm như ḿnh đang trải qua một cuộc tra tấn dài vô tận. Ngón đ̣n cân năo đă có hiệu quả! Ḷng đau như cắt, hai lá nhĩ lùng bùng, đầu tôi choáng váng như muốn nổ tung v́ những tiếng thét đầy man rợ,

“Xử tử!”…”Xử tử!”…”Xử tử!”…”Xử tử!”…

Cuộn băng ghi âm chấm dứt không có đoạn kết của phiên ṭa. Viên thượng úy xoi mói nh́n vào mặt tôi, như t́m đọc phản ứng của tôi, rồi y bồi theo một câu, như phát đạn ân huệ,

– Anh Phê bị xử bắn rồi đấy anh Long ạ!

Thấy tôi ngồi lặng thinh, hắn ta nói nhỏ,

– Tôi không cần hỏi thêm anh về lai lịch hay thành tích nữa làm ǵ. Chúng tôi có đủ tài liệu và hồ sơ để xác định tội trạng của anh rồi. Tuy nhiên, tôi cũng mạnh miệng bảo đảm rằng, tội của anh chưa đến mức bị xử tử h́nh. Tin tôi đi!

Sau khi được uống một bát nước lạnh, tôi tiếp tục ngồi nghe cuộn băng thứ nh́, cuộn băng ghi lời phát biểu của hai vị đại tá bị Cộng Quân bắt tại mặt trận Ban-Mê-Thuột.

Cuộn băng chót là một buổi học tập, phê b́nh, kiểm thảo của một nhóm sĩ quan cấp tướng và đại tá.

Qua hai cuộn ghi âm vừa rồi, tôi nhận ra giọng nói của những vị tôi đă từng dưới quyền, đă từng thân thiết. Vẫn giọng nói xưa, nhưng những lời tôi nghe được lại như từ miệng ai đó, tôi chưa từng gặp, chưa từng tiếp xúc bao giờ!

Trong cơn băo tố cuồng điên, con thuyền quốc gia của dân tộc tôi ch́m nhanh quá! Giữa biển khơi không thấy bến bờ, những người sắp chết đuối thấy vật ǵ bồng bềnh trước mắt, cứ ngỡ rằng đấy là một cái phao, đâu ngờ đó chỉ là đám bọt nước mà thôi!

Thực t́nh, từ ngày mất nước, tôi chưa bao giờ có ư oán trách bất cứ ai, kể cả các cấp chỉ huy và bạn đồng ngũ của tôi. Tôi chỉ thấy xót thương cho bạn bè ḿnh, và buồn cho số phận của chính ḿnh.

Người cán bộ xếp dọn đồ nghề, rồi nói câu chấm dứt buổi thẩm cung,

– Thôi! Mai ta tiếp tục anh Long nhé!

Tôi khập khiễng trên đoạn đường từ ban chỉ huy trại về buồng giam, sau lưng là một họng A. K.

Ngày chấp cung thứ ba…

Viên thượng úy xoa xoa hai bàn tay vào nhau,

– Hôm nay chủ đề trao đổi giữa chúng ta sẽ là: “Quốc-Gia và Cộng-Sản.” Tôi sẽ không đánh đập anh đâu. Đừng e ngại, sợ sệt, cứ việc phát biểu một cách công tâm. Tôi cho phép, và khuyến khích anh nói thật ḷng ḿnh, về những ǵ anh cho là sai, là đúng của hai chế độ. Mục đích chuyến công tác của tôi lần này chỉ có thế!

Tôi ngồi ngẩn mặt ra. Thật là ngoài mức tưởng tượng! Tôi đă một lần nếm mùi cái “kinh nghiệm thương đau” của kẻ bị tra khảo v́ tội trốn trại rồi, nên tôi biết, trong thời gian chấp cung, tù vượt ngục nào cũng bị đánh cho tới ḅ lê, ḅ càng, cả tháng sau, thân ḿnh c̣n ê ẩm.

Tôi nghĩ lần này cũng lại bị đánh, bị buộc tội trối chết, rồi phải tỏ ra ăn năn, hối lỗi những việc ḿnh đă làm, sau cùng là kư bản cam kết, hứa hẹn sẽ không c̣n tái phạm nữa…vân vân.

Ấn nút cho máy ghi âm chạy, thẩm vấn viên hất hàm,

– Theo anh, cuộc chiến tranh vừa qua chính nghĩa thuộc về phe Quốc-Gia hay Cộng-Sản?

Tôi đáp liều,

– Mỗi bên tham chiến có lư lẽ riêng để bênh vực cho chủ trương của phía ḿnh. Người Cộng-Sản có lư của họ, c̣n chúng tôi, có lư của chúng tôi.

Người hỏi cung lắc đầu, nghiêm giọng,

– Anh hăy nói thẳng ra ư kiến của cá nhân anh. Phải là “ư kiến tôi thế này, ư kiến tôi thế kia!” Không được nói quanh quanh, nói chung chung kiểu…”chúng tôi thế này, chúng tôi thế kia…”

Tôi nuốt nước bọt rồi trả lời thẳng thừng,

– Tôi chiến đấu có chính nghĩa v́ tôi là người tự vệ, Miền Bắc là kẻ xâm lược.

Hắn ta vội át giọng tôi,

– Anh nói sai rồi! Chúng tôi mới có chính nghĩa v́ chúng tôi chiến 
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 2 2015, 07:52 AM
Gửi vào: #7


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



– Anh nói sai rồi! Chúng tôi mới có chính nghĩa v́ chúng tôi chiến đấu để giải phóng Miền Nam thoát ách cai trị của ngoại bang.

– Không có ngoại bang nào cai trị Miền Nam cả. Việt-Nam Cộng-Ḥa là một nước độc lập.

Y hét lên,

– Độc lập giả tạo! Thực chất Ngụy-Quyền Miền Nam chỉ là tay sai của đế quốc Mỹ.

– Việt-Nam Cộng-Ḥa là một quốc gia đồng đẳng với các nước khác trên thế giới. Miền Nam có chính phủ riêng, hiến pháp luật lệ riêng. Tổng Thống và Quốc Hội nước Việt-Nam Cộng-Ḥa là do dân bầu lên, có nhiệm kỳ hiến định hẳn hoi, sao lại gọi là tay sai được?

Tôi ngừng lại, chờ xem ư kiến của người đối diện ra sao th́ thấy y đă tắt máy.

Ngồi im một lát như để tĩnh tâm, rồi thật chậm răi, hắn ta ôn tồn trở lại,

– Tôi sẽ không đấu lư với anh nữa. V́ nếu căi nhau th́ anh sẽ ở vào thế yếu, c̣n tôi ở thế mạnh, không được công bằng. Từ bây giờ tôi chỉ đặt câu hỏi. Anh được tự do trả lời theo ư anh! Như vậy có được không?

Thấy tôi gục gục đầu, hắn nhấn nút cho máy quay, rồi tiếp tục,

– Anh nói rằng Miền Nam là tự do, vậy hăy diễn tả cái tự do đó thể hiện ra sao ngay trong cuộc đời của chính anh.

– Tôi lớn lên trong một chế độ mà trong đó, chúng tôi muốn nói ǵ th́ nói, nghe ǵ th́ nghe, đọc ǵ th́ đọc. Không bị ai nhồi nhét tư tưởng này, tư tưởng kia vào đầu. Ngay như tôi là một thiếu tá, mà suốt mười hai năm quân ngũ tôi chưa bị bắt buộc phải vào dự một buổi học tập chính trị nào cả. Những hiểu biết về Cộng-Sản, hay Tự-Do là do cái vốn kiến thức thu thập từ thực tế và tự t́m hiểu qua báo chí, sách vở. Không ai ép buộc tôi phải tôn thờ chủ nghĩa này, đả phá chủ nghĩa kia.

– Nếu nói rằng Miền Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng, th́ tại sao lại có những cuộc biểu t́nh, xuống đường của Cha, Cố, Giáo Dân cũng như của Tăng Ni, Phật Tử?

– Chính v́ có tự do nên mới xảy ra những chuyện xuống đường, phản kháng, nếu không có tự do th́ toàn dân sẽ câm như hến.

– Anh có là một thành viên của đảng Dân-Chủ không? Nếu một người lính mà không là đảng viên đảng Dân-Chủ th́ có bị thiệt tḥi ǵ không?

– Thú thật tôi không để ư đến vụ đảng phái. Tôi không gia nhập đảng nào. Tôi cũng chưa thấy đảng nào công khai gây ảnh hưởng trong đơn vị tôi bao giờ.

– Trong thời gian qua, anh đă có dịp tiếp xúc với dân chúng Miền Bắc, anh có nhận xét ǵ về nếp sống của dân chúng Miền Bắc không?

Thấy có dịp giải tỏa ấm ức, tôi hứng chí nói một mạch,

– Miền Bắc và Miền Nam khác hẳn nhau. Ở trong Nam, người dân có thể sống theo ư ḿnh muốn. C̣n Miền Bắc là một xă hội có quy củ, có khuôn phép. Từ vấn đề cơm, áo, gạo, tiền, nhà cửa, ruộng vườn, cái ǵ cũng có tiêu chuẩn cả. Cái ǵ cũng tem phiếu, sổ sách. Hàng c̣n nằm trong kho quốc doanh có một giá, tới lúc tuồn ra ngoài, nó thành giá khác, đắt gấp chục lần. Lao động xă hội chủ nghĩa th́ người này dựa vào người kia. Làm việc hợp đồng, vần công chỉ là chuyện lăng phí nhân lực. Tôi đă thấy có một mảnh ruộng cỡ nửa sào, mà ào xuống mười người, với mười con trâu, và mười cái cày. Họ làm việc chừng một giờ đồng hồ, mà chấm công là một ngày. Thời giờ c̣n lại, mạnh ai nấy đi canh tác riêng để cải thiện. Lư thuyết là không có quyền tư hữu, tất cả là tài sản chung, nhưng trên thực tế, ai cũng lo mưu cầu lợi ích riêng, v́ ai cũng thiếu thốn cả. Có lẽ v́ thế mà mấy chục năm nay Miền Bắc vẫn nghèo, không khá lên được.

Tôi thấy kỹ thuật thẩm vấn của người Cộng-Sản có vẻ na ná với kỹ thuật khai thác của Đức Quốc-Xă thời Thế Chiến thứ 2 trong những tài liệu mà tôi đă đọc qua. Thoạt đầu, với đôi ba câu hỏi bâng quơ, tù binh được nói thoải mái thả giàn vài phút. Sau đó, thẩm vấn viên mới ra tay, bằng những câu hỏi dồn dập, tới tấp, loanh quanh, lẩn quẩn một vấn đề, làm cho óc người bị thẩm vấn rối tung lên, không biết đâu mà chống đỡ.

Với những câu hỏi ngoắt ngoéo, viên thượng úy Cộng-Sản đă cố gắng moi móc những ǵ tôi cất dấu trong đầu về cuộc đời tôi, từ thuở mới di cư, đến khi ngập ngũ, rồi tới ngày ră ngũ.

Trong thời chiến, tôi đă qua lớp T́nh-Báo Tác-Chiến Singapore, rồi nhiều năm, đảm nhận chức Trưởng Pḥng Quân- Báo của Bộ Chỉ-Huy Biệt Động Quân, Quân-Khu 2, Việt-Nam Cộng-Ḥa. Tôi đă thẩm vấn rất nhiều tù binh, và đă hoàn tất nhiều bản cung từ.

Do đó, tôi đủ bản lănh để luồn lách, tránh né những bí mật liên quan tới sinh mạng những người đă cộng tác với tôi thời trước, như tên tuổi các mật báo viên trong mạng lưới mật báo của Pḥng 2 Biệt Động Quân Quân-Khu 2, danh sách các cán binh chiêu hồi đă hướng dẫn các chuyến xâm nhập vào ḷng địch của tôi trong thời gian 1972- 1973.

Chỉ sau vài câu hỏi trùng lặp, tôi đă nghiệm ra ngay chủ đề của cuộc “thi vấn đáp” trường chinh hôm ấy là nhằm khai thác tin tức liên quan tới “Vai tṛ của Chính-Trị và Tôn-Giáo trong Quân-Đội Việt-Nam Cộng-Ḥa” Về cả hai lănh vực trên đây, quả t́nh, tôi chỉ là một tay ấm ớ, nên người tra hỏi chẳng biết được ǵ.

Cứ thế, trừ đi cỡ sáu, bảy phút cho hai lần đi tiểu, và khoảng mười phút cho bữa ăn trưa với một củ khoai lang luộc, tôi phải trả lời hàng trăm câu hỏi trong thời gian dài từ sáng sớm tới xế chiều. Tôi không nhớ có bao nhiêu cuộn băng mới đă được thay, mấy lần pin mới được lắp vào máy.

Chấm dứt ngày làm việc cuối cùng, không chỉ người bị chất vấn, mà ngay cả người đặt câu hỏi cũng thấy mồ hôi vă ra đầy mặt.

Người cán bộ châm điếu thuốc lá, rít một hơi, rồi trao nó cho tôi,

– Anh Long ạ! Tôi đă thực hiện công tác phỏng vấn này với một ông sư, một ông cha, một nghị sĩ, một dân biểu, hai cấp tướng, hai cấp đại tá, và ba người cầm đầu đảng phái chính trị. Mỗi anh có nhân cách riêng khi đối diện với tôi. Cũng những câu hỏi ấy nhưng mỗi người trả lời khác nhau. Mỗi anh có lư lẽ riêng. Anh là người tuổi nhỏ nhất và có địa vị thấp nhất mà tôi đă gặp trong công tác này đấy! Bây giờ tôi có một câu hỏi riêng tư với anh. Câu hỏi cuối cùng. Anh có vui ḷng trả lời tôi không?

Tôi rít một hơi thuốc dài, nuốt ực vào, ém khói trong phổi, thấy tỉnh táo dần,

– Vâng! Tôi sẽ trả lời cán bộ.

– Nào! Anh hăy thành thật, tuyệt đối thành thật, trả lời tôi: Quan niệm của anh ra sao đối với sự sống và sự chết?

Tôi nh́n thẳng vào đôi mắt người đối diện, ḍ chừng. H́nh như hắn ta không có âm mưu ǵ chứa ẩn trong câu hỏi. Tôi hắng giọng, rồi nhỏ nhẹ trả lời, rơ ràng từng tiếng một,

-Thưa cán bộ. Tôi nghĩ, đời tôi bây giờ có sống cũng chẳng thấy vui thú ǵ, th́ nếu chết, tôi cũng coi như là trở về cùng cát bụi. Tôi không có điều ǵ phải hối hận hay vướng bận cả.

Viên thượng úy Cộng-Sản đứng lên, bàn tay y xiết bàn tay tôi một cái rất nhẹ, rồi buông ra ngay. Y nói với tôi, nhưng có vẻ như nói một ḿnh,

-Tiếc thay! Anh lớn lên ở Miền Nam. Nếu ngày đó anh không di cư, th́ có lẽ, giờ này, những người tầm cỡ như tôi, muốn gặp mặt anh cũng là một điều khó khăn.



Buổi trưa sau ngày hoàn tất hồ sơ thẩm vấn, đầu óc thật thoải mái, tôi nằm im, đón nghe trong gió vọng về những âm thanh quen: tiếng ve sầu rên rỉ trên Lũng Ngàn, tiếng chân trâu kéo gỗ nặng nề qua đoạn đường quanh, tiếng xẻng cạo chảo bên nhà bếp. Gần tôi nhứt là tiếng “kẽo! kẹt!” của loài mọt gỗ đang đục khoét cái cột giữa nhà.

Tôi ngửa cổ nh́n lên nóc tranh, trước mắt tôi là cảnh một con ruồi xanh đang cố gắng một cách tuyệt vọng t́m cách thoát khỏi cái màng lưới nhện. Thân phận tôi giờ đây ví như thân phận con ruồi xanh trên kia, không hơn, không kém. Nhện và ruồi là hai động vật khác loài. Chúng giết nhau để sinh tồn. C̣n tôi và những người đang giam cầm tôi lại cùng chủng loại.

Tuần lễ sau, vào giờ cơm chiều, cán bộ Vấn bước vào, ngồi trên bệ cửa, rút bao Cửu-Long ra, bật lửa châm cho tôi một điếu. Chờ tôi hút xong điếu thuốc lá thơm, anh ta mới mở lời,

– Bà mẹ anh ngày xưa đẹp nhất làng Trác-Châu đó! Anh có biết không?

Tôi trố mắt,

– Cán bộ có lớn tuổi hơn tôi nhiều đâu? Làm sao mà cán bộ biết điều này?

– Ngày anh bị đưa về cùm lần đầu ở trại này, tôi đă đọc qua lư lịch của anh rồi. Tôi biết tên bố mẹ anh và tất cả họ hàng bên ngoại của anh nữa. Nhà tôi ở sát rào nhà cụ Ngăi, ông ngoại của anh. Thời c̣n là con gái, bà cụ sinh ra tôi là bạn thân của bà cụ nhà anh. Mẹ tôi nói hồi đó mẹ anh có làn da trắng như trứng gà bóc. Mẹ anh không lấy người trong làng, lại đi lấy người làng bên. Sau khi bố anh bị giết, mẹ con anh đă bỏ xứ, ra đi biệt tăm. Không ngờ sau đó gia đ́nh anh di cư vào Nam, và anh đă làm tới chức thiếu tá. Dù ǵ th́ chúng ta cũng là người cùng làng…

Tới lúc đó, tôi mới hiểu lư do v́ sao viên sĩ quan Cộng-Sản này lại nương tay với ḿnh.

Cán bộ Vấn thọc tay vào túi, lôi ra một cái phong b́. Mở phong b́, móc cái ảnh cỡ 6×9 cm đưa cho tôi, anh ta nói nhỏ,

– Anh Long có thơ. Nhưng tôi không được phép đưa thơ cho anh. Tôi “diếm” cho anh cái ảnh của vợ con anh. Nhớ giữ kín đừng cho ai biết.

Nói xong câu này, Vấn nhét vào tay tôi một điếu thuốc nữa, rồi đứng lên, lững thững đi về hướng nhà bếp.

Có lẽ cái thư chứa tấm h́nh đă tới trại trong thời gian tôi tại đào. Trong h́nh là vợ tôi bế thằng con út ngày nó vừa biết lật. Nay chắc thằng bé đă biết nói, biết chạy rồi?

Ấp cái ảnh vợ con vào ḷng, tôi nghe rơ ràng, tim ḿnh đang thổn thức…

Tôi được nh́n thấy mặt bố tôi lần cuối cùng (1946), ngày tôi lên bốn tuổi. C̣n thằng con tôi, không biết suốt đời, nó có dịp nào nh́n thấy mặt bố nó hay không?

Từ lúc đó cho tới tối mịt, cứ lâu lâu, tôi lại dở cái ảnh ra xem.

Vằng vặc trăng trôi…

Tôi nằm quay mặt về hướng Tây. Cửa chính của pḥng giam không bao giờ đóng. Ngoài kia ánh nguyệt chan ḥa.

“Tưng!… Tửng!… Từng!… Tưng!…”

có tiếng đờn ghi ta vọng cổ bay sang từ Lán 1. Tiếp đó là một câu ḥ (hay sàng xê) năo nuột,

“Đêm nay trăng sáng…(á!) lung linh, em ngồi trông trăng.
Ḷng nhớ thương anh, mà ḷng… (ừ!) buồn mông mênh.
Ḿnh cách xa nhau rồi…(à!) Ḿnh mất nhau muôn đời.
Đêm ngồi trông trăng, mà mắt lệ …(ư! à!) tuôn rơi…”

Tôi không phân biệt được giọng ḥ này là của ông trung tá con rể bà Bút Trà, hay là của ông đại úy con rể cụ dân biểu Hoàng Kim Quy?

Ánh trăng lùa tiếng đờn tràn qua cửa pḥng giam.

“Từng!” …”Tưng!”…”Tứng!”…”Tứng!” …”Tưng!”…

Nhịp đờn bỗng rối rít hẳn lên, quện vào tiếng hát, xoắn lại như con chốt, rồi vút lên thật cao,

” Trời ơi! … Bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn
Nên Vơ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu … Hà…

…Tưng! Từng!…Tưng! Tửng!…Từng! Tưng!… Ư…ưng… ư…ưng…”

Giữa đêm trăng lạnh, vô t́nh, khúc “Vơ Đông Sơ” đă như mũi dao nhọn, xoáy vào tim người nghe…

Ngày xưa tôi là chúa ghét vọng cổ. Cứ thấy mấy anh kép cải lương “miệt rừng” trong đơn vị vừa cất giọng, “Biên cương lá rơi, Thu Hà em ơi!” … tôi lại bấm bụng cười thầm, lỉnh nhanh đi chỗ khác.

Vậy mà giờ đây, giọng ca của mấy ông nghệ sĩ tay ngang cũng làm cho tim tôi xốn xang. Tôi nằm trằn trọc hoài mà không nhắm mắt được. Đêm sao quá dài…

Từ đầu tháng Sáu, sau giờ ăn trưa mỗi ngày, tôi được mở c̣ng cùm vài phút để đi vệ sinh. Chuyện ỉa đái của tôi xảy ra ngay trong ṿng rào mà vệ binh cũng phải kè kè đi kèm. Khi tới đầu Lán 11, v́ sợ thối nên tên bộ đội đành dừng lại, ôm súng đứng canh, cách nhà cầu chừng sáu chục thước. Mắt nó cứ lom lom theo dơi những người tù trên đường ra nhà xí. Nó soi mói, kiểm soát kỹ càng những ống vầu chứa nước họ xách theo để rửa đít. Nó sợ bạn tù lén lút liên lạc tiếp tế cho tôi!

Bọn cai tù không thể ngờ rằng, trước khi tôi được mở cùm, đă có hai ba anh bạn tới ẩn ḿnh trong cầu tiêu rồi. Họ tranh nhau nhét vào miệng tôi, cục đường, củ khoai, và cả những viên thuốc bổ. Tôi chỉ được phép ở trong chuồng xí có năm phút. Trong năm phút, tôi vừa ăn, vừa đại tiểu tiện, vừa nói chuyện với bạn bè.

Hàng ngày, bạn tù chia phiên nhau giúp đỡ cho ba người đang bị phạt. Các anh Thiếu Tá Hoàng Văn An, Đại Úy Vương Thành Lân, Đại Úy Nguyễn Hữu Quang, Đại Úy Phạm Xuân Độ, và Đại Úy Đỗ Dũng là những người tôi gặp mặt thường xuyên, ngoài ra c̣n nhiều bạn khác nữa. Họ lo cho tôi vào giữa trưa, và lo cho anh Trụ, anh Cả vào lúc xế chiều. Nếu hôm nào cả trại phải đi lao động suốt ngày, th́ các anh trực lán sẽ làm công tác cứu trợ.

Thời gian này người tù mang cơm cho nhà kỷ luật là Nguyễn Hữu Quang, bạn cùng khóa Vơ-Bị của tôi. Những khi có dịp thuận tiện, anh Quang thường lén lút ém thêm phần ăn cho người bị giam.

Cũng may những chuyện này không đổ bể. Chứ cai tù mà biết được th́ các bạn tôi chỉ có nước vào cùm!

Trong cảnh hoạn nạn, tôi đă không bị bạn bè bỏ rơi. Những sự trợ giúp ấy đă khiến tôi tăng thêm sức lực cả về thể chất lẫn tinh thần. “Khốn khó có nhau, là huynh đệ chi binh!” phải gặp cơn nguy biến mới thấy cái cao đẹp của t́nh đồng đội.

Những tháng tiếp theo, tôi và hai anh bạn bị đưa đi ṿng ṿng, lần lượt nhốt trong các trại tù quanh vùng Cẩm-Nhân, Yên-B́nh. Mỗi khi tới trại mới, ba “cải tạo viên” vượt ngục lại trở thành những cái bao cát cho bọn vệ binh của trại đó thực tập vơ nghệ.

Cuối cùng chúng tôi bị dẫn vào Trại 2 trong Tích-Cốc, nhốt chung với một tay “Papillon” của trại này. Anh ta nằm trong căn b́a của nhà kỷ luật, cách tôi một tấm phên.

Ghé mơm sát cái lỗ nhỏ dưới chân vách, tôi hỏi nhỏ,

– Này! Tên ǵ? Cấp ǵ?

– Thường! Đại úy!

– Đi lúc nào?

– Sau các cha một tháng.

– Mấy người?

– Bốn.

– Ba ông nội kia đâu?

– Thoát rồi!

– C̣n cha? Sao lại nằm đây?

– Ḿnh bị sa ruột, giữa đường đành bỏ cuộc, bị dân quân bắt, dẫn về giao lại cho trại, rồi bị tống vào đây.

– Đă bị chấp cung chưa?

– Rồi!

– Có bị đánh không?

– Tơi bời! Đau lắm các cha ơi!

Mấy ngày sau, người đưa cơm của Trại 2, vốn là một đại úy Biệt Động Quân th́ thầm với tôi rằng,

“Một toán vệ binh của Trại 2 đă kêu gọi được ba người bạn của anh Thường ra đầu hàng rồi. Nhưng ngay sau đó, chúng bắn chết hết ba người này, rồi đổ hô là họ bỏ chạy lúc ban đêm!”

Nghe chuyện này, tôi nhớ lại cái đêm trời tối đen như mực cách đó không lâu, nếu tôi nghe lời tên vệ binh, bước ra khỏi cổng để lên ban chỉ huy kư giấy cho về đội lao động, th́ tôi đă bị bắn chết rồi!

Cuối năm 1978 có tin Trung-Cộng sắp đánh Việt-Cộng, ba chúng tôi lại bị c̣ng dính vào nhau đưa lên xe, vượt sông Lô, qua đèo Khế, ghé Tân-Trào, rồi chạy một lèo về Trại Phú-Sơn 4, Thái-Nguyên.

Tại đây, vừa được tháo c̣ng ra, tôi đă bị tống vào đội trừng giới số 12 toàn là dân vượt ngục, chuyên làm ḷ gạch. Đồng cảnh ngộ, nên anh em trong đội này đă thương yêu, đùm bọc lẫn nhau như người thân trong một nhà.

Tháng Ba năm 1979 quân Tầu ào qua biên giới, chúng tôi lại bị c̣ng từng cặp, đưa lên Molotova, chạy một mạch qua thủ đô Hà-Nội về tuốt miệt Hà-Nam, Phủ-Lư.

Trong lúc chờ phà vượt sông Hát, đoàn xe bị dân chúng ném đá tơi bời. Tù chỉ c̣n nước ôm đầu, úp mặt xuống sàn xe. Th́ ra dân chúng tưởng chúng tôi là tù binh Trung-Quốc!

Đến khi biết trên xe là tù cải tạo Việt-Nam Cộng-Ḥa th́ dân chúng lại đua nhau ném chúng tôi lần nữa! Chúng tôi lại lo ôm đầu, úp mặt. Nào ngờ, lần này đầu cổ, tóc tai lănh toàn là xôi, đường, kẹo bánh, xu hào, cải bắp!

Quư hóa hơn mọi món quà mà chúng tôi nhận được ngày hôm đó là, lần đầu kể từ khi bại trận, chúng tôi lại được nghe hai tiếng “Hoan hô!” từ miệng của đồng bào tôi.

Dù chỉ có vài tiếng “Hoan hô!” rụt rè phát ra trong đám đông thôi, đă khiến đôi mắt tôi cay xè. Nh́n sang bên, tôi thấy mặt anh bạn chung c̣ng cũng nhạt nḥa nước mắt…

Từ ấy, cứ vài năm một lần, tôi lại bị chuyển sang trại mới, cuối cùng là Z30 D Hàm-Tân. Tới năm 1988 tôi được tha.

Nhớ lại, một ngày mùa đông năm 1965, tôi đă quỳ xuống giữa vũ đ́nh trường Lê-Lợi Trường Vơ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam để tuyên thệ rằng sẽ đem xương máu ḿnh bảo vệ tổ quốc, phục vụ đồng bào. Sau khi đứng lên, tôi trở thành một sĩ quan Biệt Động Quân. Qua bao nhiêu năm xông pha nơi chiến trường, rồi trầm luân trong tù ngục, tôi vẫn ghi tạc trong ḷng một lời khuyên,

“Thà làm một viên ngọc nát, chứ không làm một viên ngói lành!”

Vương Mộng Long
Seattle, tháng 3 năm 2012

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 11 2015, 11:50 AM
Gửi vào: #8


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tuổi già của tôi
Duy Trác

Năm ngoái, khi sang Houston tôi mới biết gia đ́nh anh chị Duy Trác mất tất cả mười mấy người thân trên biển cả. Nh́n và nghe anh chị và hai cháu tŕnh bầy, yêu cầu đại chúng trong pháp hội góp lời cầu nguyện văng sinh cho hương linh, v́ chị Duy Trác và gia đ́nh vẫn c̣n mơ thấy thân nhân, khó ai cầm được nước mắt. Đây là tâm sự của anh Duy Trác từ dạo ấy, xin mời đọc.- Nhân-Yến.

Năm 1992 gia đ́nh tôi tới Mỹ, một quốc gia tự do và nhân đạo, với 13 nhân khẩu. Không ngờ, vốn chỉ là một ca sĩ tài tử và đă bị chính quyền (Không dùng từ này) giam cầm và cấm hát suốt 17 năm, tôi vẫn được một trung tâm ca nhạc tiếng tăm mời sang Paris tổ chức một buổi hội ngộ với thính giả và thu những băng nhạc nghệ thuật.

Các thính giả đă vào cả hậu trường chào mừng tôi, buồn vui, mừng tủi. Tôi chỉ c̣n nhớ, và nhớ măi một câu chào, như mâu thuẫn và thật ḷng: 'Bác (hay chú) chẳng thay đổi ǵ cả,chỉ già đi nhiều thôi.'

Ồ! Tôi đă già đi! Chắc chắn rồi. Nhưng tôi đă không có th́ giờ nghĩ đến. Làm sao có th́ giờ nghĩ đến khi không biết ngày nào hết cảnh lao tù để về chung sức với vợ nuôi nấng 6 đứa con, 5 đứa cháu và một mẹ già đau yếu. Nhất là nỗi đau mất 3 đứa con và 7 đứa cháu trên biển cả. Nỗi đau quá lớn khiến mẹ đă té ngă và trở thành phế nhân với nửa người bất động.

Trong đời sống của mỗi con người, ai cũng có 3 giai đoạn: tuổi thơ, tuổi thanh xuân và tuổi già.

Riêng tôi tuổi thơ hầu như không có. Cha mẹ mất sớm, bị những người lớn tuổi trong đại gia đ́nh hành hạ; năm 12 tuổi tôi đă bỏ đi sống một ḿnh.

Tôi c̣n nhớ, hồi đó ở vùng kháng chiến Việt Bắc tôi thi vào trường Sư Phạm; với học bổng 18 kg gạo, 180 đồng tiền thức ăn, và 1 chai dầu dùng để thắp đèn học đêm. Nghỉ hè, trường không phát học bổng, tôi phải đi hái trà và đạp trà thuê. Cuối ngày lănh tiền đủ đong được chút gạo, hái rau rừng làm thức ăn. Với đủ mọi h́nh thức kiếm tiền lương thiện, tôi đă phấn đấu học hành, làm việc với châm ngôn do ḿnh đặt ra: không hận thù những người đă hành hạ ḿnh và phải cố gắng học cho thành tài. Cả hai châm ngôn này, tôi đă thực hiện đầy đủ và chân thành. Bỏ vùng Việt Bắc, trở về Hà Nội rồi di cư vào Nam, tôi đă cố gắng hoàn tất việc học, trở thành luật sư đồng thời lập gia đ́nh năm 1961.

Ngẫm nghĩ lại, tuổi thơ không có, tuổi thanh xuân cũng không được bao nhiêu. Sau khi gia nhập Luật Sư Đoàn được 2 năm và lập gia đ́nh được hơn 1 năm, vào năm 1962 tôi được gọi nhập ngũ. Dĩ nhiên, phục vụ đất nước trong thời chiến tranh là nghĩa vụ thiêng liêng của con dân một nước. Nhưng rời bỏ gia đ́nh , bỏ lại vợ và con thơ để làm nghĩa vụ người trai trong 13 năm rưỡi rồi tiếp theo là 11 năm tù đày trong các trại tù (Không dùng từ này); th́ hỡi ôi tuổi thanh xuân của tôi đă mất hút tự bao giờ mà tôi cũng không c̣n nhớ được nữa.

Ra tù và sang đến Mỹ năm 1992 th́ tôi đă ở vào tuổi 56. Các thính giả có bảo là già đi nhiều th́ cũng phải thôi. Tiếp tục vật lộn với đời sống để nuôi gia đ́nh nên mối ưu tư về tuổi già, về những chăm sóc cho tuổi già được sống hợp lư, tốt đẹp cũng không phải là điều dễ dàng. André Maurois đă viết: 'Năm, sáu chục năm trời nếm trải những thành công và thất bại, hỏi ai c̣n có thể giữ được nguyên vẹn những điểm sung măn thời trẻ? Đi vào hoàng hôn của cuộc đời như đi vào vùng ánh sáng đă điều ḥa, ít chói chang hơn, mắt khỏi bị lóa bởi những màu sắc rực rỡ của bao ham muốn. Và như vậy già là một tất yếu của ṿng đời, một chuyện đương nhiên khi người ta tính tuổi, cớ sao phải lảng tránh? Có trẻ th́ có già, đó là nhịp điệu của vũ trụ, đâu cần phải khổ đau v́ già? Trái lại, phải làm sao để có một tuổi già hạnh phúc.'

Trong thời gian tôi theo học tại trường Luật, có một người bạn đă gửi cho tôi một tấm thiệp giáng sinh trên đó có ghi toàn văn bản dịch của bài thơ “TUỔI TRẺ (YOUTH)” của Samuel Ullman. Lời lẽ bài thơ thật là sâu sắc, đầy tinh thần lạc quan, nó ảnh hưởng sâu sa đến tôi trong mấy chục năm nay.

Mặc dầu nó được viết ra từ năm 1918, lúc tác giả đă 78 tuổi nhưng ư tưởng thật mới mẻ. Xin trích một vài câu tiêu biểu: 'Không một ai lại già cỗi đi v́ những năm tháng trôi qua. Chúng ta già nua bởi v́ ruồng bỏ lư tưởng của ḿnh. Năm tháng có thể làm nhăn nhúm làn da của chúng ta, nhưng sự từ bỏ tinh thần hăng say, phấn khởi mới làm tâm hồn chúng ta héo hắt.'

Tướng Douglas Mc Arthur rất tâm đắc với bài thơ này và ông đă cho trưng bày bài thơ ngay tại pḥng làm việc của ông ở Tokyo, khi ông đang là Tư Lệnh Quân Đội Đồng Minh đặc trách công việc giải giới và phục hồi nước Nhật sau chiến tranh. Rồi vào năm 1946, tạp chí Reader's Digest ấn bản tiếng Nhật đă phổ biến toàn văn bài thơ bất hủ này bằng Nhật ngữ. Nhân dân Nhật đă hân hoan đón nhận cái tín hiệu đầy lạc quan, tích cực và năng động của bài thơ không vần này. Cũng từ đó họ đă hăng say dấn thân vào việc tái thiết đất nước, khiến nước Nhật lấy lại được vị thế cường quốc về kinh tế, chính trị cũng như văn hoá như ta thấy ngày nay.

Sau đây là nguyên văn bài thơ:

YOUTH
By Samuel Ullman (1840-1925) Youth is not a time of life; it is a state of mind; it is not a matter of rosy cheeks, red lips and supple knees; it is a matter of the will, a quality of the imagination, a vigor of the emotions; it is the freshness of the deep springs of life.

Youth means a temperamental predominance of courage over timidity of the appetite, for adventure over the love of ease. This offen exists in a man of sixty more than a body of twenty. Nobody grows old merely by a number of years. We grow old by deserting our ideals.

Years may wrinkle the skin, but to give up enthusiasm wrinkles the soul. Worry, fear, selfdistrust
bows the heart and turns the spirit back to dust.

Sixty or sixteen, there is in every human being's heart the lure of wonder, the unfailing child-like appetite of what's next, and the joy of the game of living. In the center of your heart and my heart, there is a wireless station; so long as it receives messages of beauty, hope, cheer, courage and power from men and from the infinite, so long are you young.

When the aerials are down, and your spirit is covered with snows of cynicism and the ice of pessimism, then you are grow old, even at twenty, but as long as your aerials are up, to catch the waves of optimism, there is hope you may die young at eighty.

Năm 1992 tôi tới Mỹ với một tấm thân tàn v́ bệnh hoạn, đói khổ và tù đầy. Nếu không nhờ nền y tế tối tân và siêu việt của quốc gia này, tôi không c̣n sống tới ngày hôm nay. Từ bệnh cao huyết áp, tiểu đường, nghẽn mạch máu tim, cao mỡ v.v.., tôi đă phải vào bệnh viện 5 lần, thông tim 4 lần, stroke nhẹ 2 lần. Tôi phải liên tục dùng thuốc trong mười mấy năm nay, tốn kém của nhà nước bao nhiêu tiền của.

Tôi đă cố gắng tập thể dục, ăn uống kiêng cữ, và nhất là t́m một môn luyện tập thân thể theo phương pháp đông phương thích hợp với tuổi già.

Đấy là nguồn gốc cái duyên mà tôi t́m đến với môn Taichi.

Một lần trong một buổi phát thanh của đài VOVN, phỏng vấn các vị lănh đạo TAEKWONDO thế giới, tôi đă hỏi ngắn gọn về môn Taichi th́ nhận được những lời ngợi khen nồng nhiệt và có ư kiến rằng môn tập này mang ư nghiă sử dụng nguyên lư âm dương như một vơ công. Muốn có được những lợi lạc của phương pháp Taichi th́ cần có ư niệm về khí công. Một trong những điều căn bản cần nắm vững là phải biết thư giăn bản thân. V́ Taichi hầu như chỉ được tập luyện qua những động tác chậm, cho nên ở bất cứ tuổi nào người ta cũng có thể luyện tập một cách dễ dàng.

Một lợi điểm phụ thuộc là có được khả năng tự vệ. Đấy cũng là quan điểm của vơ phái Taekwondo. Các tài liệu khoa học theo tạp chí Science Daily gần đây có nêu 2 lợi điểm nổi bật trong việc tập thể dục theo phương pháp Taichi:

- Một là chữa các dạng viêm khớp

- Hai là gia tăng sức đề kháng nơi những người lớn tuổi

1/ Taichi giúp chữa viêm khớp:

Một công tŕnh mới đây của viện nghiên cứu The George Institute International Health cho thấy Taichi có lợi rơ rệt đối với các chứng viêm khớp. Một số các nhà nghiên cứu đang tiến hành một cuộc thử nghiệm để xem phương pháp thể dục đó có hiệu quả ǵ đối với chứng đau nhức ở phần dưới của lưng hay không.

2/ Taichi giúp gia tăng sức đề kháng ở người lớn tuổi:

Tập thể dục theo Taichi đă được ít nhiều Tây hóa của một môn vơ thuật Trung Hoa từ hơn 2000 năm trước với những nét đặc trưng như vận động chậm răi trong tư thế trầm tư. Phương pháp này có khả năng tăng cường sức đề kháng nơi người cao niên chống các loại vi khuẩn gây nên các chứng nổi mần, nổi ngứa rất khó chiụ trên da, mà thuật ngữ y học tiếng Anh gọi là Shingles, theo như một nghiên cứu mới nhất của Đại học UCLA ở California .

Tôi không phải là một nhà nghiên cứu mà chỉ là một ông già nhiều bệnh, đi t́m một môn tập có thể giúp ḿnh giải thoát được phần nào những tật bệnh đă hành hạ ḿnh từ bao năm nay. Do một cơ duyên t́nh cờ, tôi đă đến với hội TỪ BI PHỤNG SỰ. Hội do Thầy HẰNG TRƯỜNG sáng lập với mục đích phục vụ tha nhân về mặt tinh thần và thể lực. Trụ sở chính của hội đặt tại California, nhưng Thầy HẰNG TRƯỜNG đă huấn luyện được hàng trăm huấn luyện viên hiện sinh sống tại nhiều thành phố lớn có đông người Việt cư ngụ. Hội mở ra các lớp tập mang tên CÀN KHÔN THẬP LINH, phối hợp giữa 2 môn Taichi và Yoga. Yoga cũng là một môn tập rất lâu đời cuả người Ấn Độ mà lợi ích to lớn cuả nó th́ ai cũng đă biết rơ. Sự phối hợp nhịp nhàng và chặt chẽ giữa Taichi và Yoga đă khiến những bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH trở nên hiệu quả một cách tuyệt hảo. Thế là bao mong ước của tôi về môn Taichi không những đă được đáp ứng mà c̣n được đáp ứng một cách hoàn mỹ nữa nhờ có thêm Yoga.

Tôi theo tập lớp Càn Khôn Thập Linh này đă được hơn 2 năm và giờ đây những bệnh tật của tôi, không quá lạc quan là đă hết hẳn, nhưng h́nh như đă nằm yên để cho những ngày già của tôi được an b́nh.

Ông Bác sĩ người Mỹ ở bệnh viện tim khám bệnh thường xuyên cho tôi 3 tháng 1 lần, nay đă hẹn 1 năm nữa mới phải trở lại. Có lần tái khám, ông ấy mỉm cười nói: 'Chẳng lẽ tôi hẹn ông 2 năm mới khám lại th́ kỳ quá!'

Bây giờ các bệnh máu cao, mỡ cao, đường cao đều đă xuống. Hoạt động của tim cũng điều ḥa. Có một điều này nữa, tôi không nói dối đâu. Tất cả các bằng hữu, người quen biết hay các fans âm nhạc khi gặp tôi đều có cùng một nhận xét là tôi trẻ ra nhiều, thậm chí c̣n trẻ hơn ngày tôi mới sang Mỹ năm 1992 nữa.

Tất cả các bạn già cùng tập Càn Khôn Thập Linh với tôi đều có kết quả như tôi, nhiều hay ít mà thôi.

Ngày mới tập, mỗi thế tôi chỉ làm được 5, 7 lần là đă thấy mệt. Nay tôi có thể “múa” được 15, 20, thậm chí 25 lần mà vẫn thấy thoải mái. Thấm nhuần và mở rộng các quán tưởng của mỗi thế tập c̣n khiến người ta thấy yêu đời, yêu người, mở ḷng ḿnh ra vũ trụ, ra thế giới bên ngoài, nhân ái với hết thảy mọi loài nữa.

Qua bài viết này, trước hết tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Thầy Hằng Trường, người đă bỏ bao công sức, bao thời gian, đi đến những vùng rất xa xôi trên đất nước Trung Hoa để t́m ṭi, học hỏi mà sáng chế ra những thế tập qua tên gọi của những con vật tượng trưng cho sự nhẫn nại, sự hiền hoà, sự vượt khó v.v…Bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH quả đă mang lại sức khỏe, sự tươi vui … cho những người t́m đến nó.

Lời cảm ơn tiếp theo tôi xin gửi đến toàn thể anh chị em Huấn Luyện Viên của hội TỪ BI PHỤNG SỰ đă chia sẻ với chúng tôi những kiến thức quí báu, đă hy sinh thời giờ, ngay cả tiền bạc để mang lại cho chúng tôi những bài tập bổ ích, những pḥng tập thoải mái mát mẻ.

Để kết thúc bài viết này tôi xin giới thiệu bài thơ vui, rất vui (do một người bạn gửi cho), dành cho những người tuổi hạc như tôi vậy.

SỬA LẠI GIÂY ĐỜN
Thanh Mai

60 chưa phải là già
60 là tuổi mới qua dậy th́
65 hết tuổi thiếu nhi
70 là tuổi mới đi vào đời
75 là tuổi ăn chơi
80 là tuổi yêu người yêu hoa
90 mới bắt đầu già
Đêm đêm vẫn cứ mặn mà yêu đương
100 có lệnh diêm vương
Cứ ở trên ấy yêu đương thỏa ḷng
Bao giờ đạn hết lên ṇng
Từ từ nằm xuống là xong một đời


Duy Trác
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 13 2015, 09:41 AM
Gửi vào: #9


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Hội Từ Thiện Arpan
- Chào anh Nguyễn B́nh. Nhận email của anh, tôi ngạc nhiên lắm. Có thật là anh đă đến một vùng đất mà nơi đó không hề có dấu tích của các phương tiện tối thiểu của cuộc sống, mà theo như anh viết, anh đă sống những chuỗi ngày thật b́nh yên nơi ấy? - Ḿnh hiện là nha sĩ tại Orange County. Năm nay là lần đầu tiên ḿnh tham gia làm công tác thiện nguyện với hội Arpan. Mấy năm trước th́ ḿnh thường đi với SAPVN. Nhờ vậy mà ḿnh có dịp đi qua nhiều nước lắm, thấy và học được nhiều điều hay, cũng như tích lũy cho ḿnh rất nhiều kinh nghiệm sống...
- Anh có thể nói sơ về hội Arpan?
- Arpan Global Charity là một tổ chức y tế từ thiện quốc tế được thành lập năm 2005. Theo tiếng Ấn Độ th́ Arpan có nghĩa là “cho tặng”. Đây là một tổ chức thiện nguyện gồm các bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, y tá cùng các thiện nguyện viên. Hằng năm Arpan đều được các nước kém hay đang phát triển mời đến để giúp đỡ các ca chẩn đoán và khám bệnh, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm với các giới chuyên môn tại nước ấy. Mọi thành viên, nhưḿnh chẳng hạn, phải tự túc vé máy bay. Nước "mời" ḿnh đến chỉ lo về vấn đề ăn ở.
- Nếu ai muốn tham gia cộng tác với Hội Arpan th́ liên lạc ở đâu?
- Bạn có thể vào website: http://www.arpanglobal.org/. Các chuyến đi sắp tới của hội sẽ là chuyến đi Lagos tại nước Nigeria vào tháng 10-2012 hay đi Ecuador vào năm tới 2013.
- Thế trong email anh có nói về vùng đất nào đó với cái tên lạ lắm. Anh B́nh có thể nói rơ hơn được không ?
- À, ḿnh vừa đi Ấn Độ về. Chuyến đi của ḿnh dài 2 tuần. Tuần đầu ḿnh đi theo hội Arpan đến thành phố Deesa thuộc miền Đông Ấn Độ. Năm nay th́ hội đến đây theo lời mời của bệnh viện Mahadma Gandhi Lincoln Memorial. Tuần lễ thứ nh́ th́ ḿnh tự mua vé bay qua Calcutta, một thành phố rất nhỏ ở miền Tây Ấn Độ.
- Anh B́nh kể cho mọi người về hai tuần "du lịch" kỳ thú này được không anh?

T́nh nguyện viên làm ǵ?
- Tuần lễ đầu tiên tụi ḿnh chia xẻ kinh nghiệm với các nha sĩ Ấn Độ, trả lời các câu hỏi nếu có, và giúp khám, chẩn đoán những trường hợp phức tạp. Các bác sĩ trong đoàn th́ thực hiện các ca mổ xương cho các trẻ em bị ung thư xương. Các dược sĩ th́ hướng dẫn cách tổ chức một hiệu thuốc như thế nào để phân phát thuốc mau lẹ và hiệu quả nhất. Sau đó cả đoàn đi thăm cô nhi viện các trẻ em bị bệnh AIDS, thăm nơi nuôi dưỡng trẻ em tàn tật, bại liệt và đến thăm các trung tâm chăm sóc người già bị bỏ rơi cùng các trẻ mồ côi. - Thế anh có nhận xét ǵ về những người chuyên môn (bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, y tá) tại Deesa?
- Họ rất giỏi. Không phải ḿnh cứ nghĩ rằng Ấn Độ là nước nghèo mà thành phần “professional” của họ có tŕnh độ thấp đâu. Họ luôn luôn trau dồi học hỏi thêm qua internet nên tŕnh độ họ khá lắm. Chỉ có điều là họ c̣n thiếu dụng cụ và tỉ lệ thành phần này, so với số lượng dân, c̣n quá ít.
- Thành phố Deesa th́ sao?
- Deesa là một thành phố nhỏ ở miền Đông Ấn Độ. Cứ tưởng tượng như một thị xă ở miền Tây Việt Nam ḿnh vậy. Nhưng họ được trang bị một số dụng cụ khá đầy đủ hơn Việt Nam. Năm 2009, ḿnh có về Việt Nam khám, chẩn đoán và điều trị cho đồng bào miền Tây ở mấy trạm xá nhà quê. Ḿnh c̣n nhớ, mới chạng vạng 4 giờ chiều là không c̣n thấy ǵ cả, v́ trời tối, mà không điện nước, cả lửa cũng không, thử hỏi làm sao tiệt trùng dụng cụ? Nên đành đi về vậy. C̣n ở Deesa th́ khá hơn, có các phương tiện đó.
- Ngoài đường phố th́ thế nào?
- Đường nào cũng có 2 lối (lane) cho xe chạy. Thành phố có một bệnh viện lớn với một bác sĩ gia đ́nh thường trực. Mỗi tuần th́ có vài bác sĩ chuyên môn từ các thành phố lớn về đây khám và chữa trị các trường hợp đặc biệt.
- Thế c̣n tuần lễ thứ hai tại Calculta?

Giấc mơ của Mẹ...
- Đúng ra th́ ḿnh chỉ tháp tùng theo hội Arpan có một tuần mà thôi. Nhưng chuyện là thế này, ông anh ḿnh bị bệnh. Ḿnh nghe nói nhiều về thành phố Calcutta - nơi có ngôi mộ Mẹ Teresa, nên mới mua vé bay qua đó, mục đích là đến viếng mộ Mẹ và cầu nguyện cho anh. Thật sự mà nói, tuần lễ thứ hai đă để lại rất nhiều ấn tượng trong ḷng ḿnh. Nhắc đến Ấn Độ th́ phải nói tới hai ngôi mộ lớn. Thứ nhất là ngôi mộ Taj Mahal để tưởng niệm một bà hoàng hậu rất được đức vua sủng ái từ ngàn năm trước của đất nước này. Đây được xếp loại là một trong các kỳ quan của thế giới. Thứ hai là mộ của Mẹ Teresa ở thành phố Calcutta thuộc miền Tây Ấn Độ. Ḿnh theo đạo Công giáo, và có được nghe câu chuyện về giấc mơ của Mẹ. Có một đêm Mẹ Teresa nằm mơ. Mẹ thấy Đức Chúa Trời hiện đến và giao cho Mẹ một trọng trách là t́m đến và giúp đỡ những kẻ nghèo nhất trong những người cùng khổ (The poorest of the poor). Thức dậy Mẹ đă suy nghĩ rất nhiều và sau cùng đă chọn thành phố Calcutta v́ nơi đây là miền đất của những người nghèo khổ nhất, bất hạnh nhất và bị bỏ rơi nhất tại Ấn Độ. Mẹ Teresa đă sáng lập ra hội từ thiện Missionary Sisters of Charity. Ban đầu th́ hội chỉ gồm các nữ tu, nhưng sau này th́ đă có thêm sự đóng góp củacác thiện nguyện viên trên toàn thế giới. Ḿnh đến đây ban đầu chỉ có ư định cầu nguyện cho người anh, nhưng ngay hôm đầu tiên ḿnh lại quyết định tham gia công tác thiện nguyện một tuần - thử xem sao. Thật buồn cười, khi mới đến, ḿnh tự giới thiệu ngay, ra vẻ oai vệ lắm: "Tôi tên B́nh Nguyễn. Nha sĩ, tôi đến từ Mỹ". Ḿnh cứ tưởng các nữ tu và mọi người sẽ xuưt xoa khi nghe ḿnh đến từ Mỹ, lại là nha sĩ nữa chứ. Ai dè. Không một ai quan tâm điều đó. Họ nhỏ nhẹ hỏi rằng ḿnh dự định sẽ ở đây bao lâu, để họ tiện phân công việc... - Tại sao thời gian lưu lại là cần thiết khi sắp xếp công việc hở anh?
- Ḿnh được giải thích như thế này. Có những bé gái nhỏ bị hiếp dâm chẳng hạn, chắc chắn là tâm hồn các bé bị hoảng loạn và lo sợ cùng cực. Cho nên những người giúp chăm sóc cho bé phải là người nữ, và phải ở đó từ một tháng trở lên, chứ cứ vài ba ngày mà lại thay đổi người th́ ảnh hưởng đến tâm thần các cháu bé lắm. Có tiếp xúc một thời gian đủ dài với cùng một bệnh nhân th́ mới tạo được sự ổn định thần kinh và giúp gây t́nh thân trong ḷng các em, như thế việc điều trị mới dễ có kết quả.
- Thế anh B́nh ở một tuần th́ công việc của anh là ǵ?
-Mỗi sáng thức dậy th́ ai ai cũng được phát một lát bánh ḿ, một trái chuối nhỏ và một ly nước. Rồi ai nấy đều được giao công việc giặt đồ. "Đồ" ở đây bao gồm quần áo dơ, tă dính cứt của các người bệnh. Khi đó ḿnh bị “shock” lắm, v́ không ngờ nha sĩ ở Mỹ qua mà lại bị giao đi giặt tă cứt. Nhưng sau đó ḿnh hiểu ra rằng với các nữ tu th́ trước mặt Thượng Đế, mọi người đều b́nh đẳng như nhau.

Những người cùng khổ...
Người nghèo nơi đây nhiều lắm, đa số là các trẻ cô nhi, tật nguyền, bại liệt, mắc bệnh Down, nói chung là thành phần bị gia đ́nh, xă hội ruồng rẫy, bỏ rơi và các “sơ” (soeurs - theo tiếng Pháp) lượm về chăm sóc. Bên đây người ta gọi thành phần này là “untouchable”, có nghĩa là “không ma nào thèm đụng tới nữa”, là thành phần “vứt đi”, tức là họ đă hoàn toàn sống bên lề ŕa của xă hội. Ḿnh c̣n nhớ ngày đầu tiên "bị" phải giặt đồ, lại không hề có máy giặt, mà phải giặt hoàn toàn bằng tay, ḿnh gớm quá, kinh hăiquá đi. Ḿnh xắn ống quần lên, giậm hai bàn chân lên đống đồ dơ bẩn trong thau, mà miệng th́ cứ ợ lên ợ xuống v́... nhợn. Mới vừa giậm mấy cái thôi th́ nước trong thau đă đen thùi lùi như... nước cống. Ḿnh hăi quá, nhảy ra khỏi thau, lật đật đổ nước ra,múc nước mới vô, giậm giậm vài cái nữa th́ hỡi ôi... lại đen ng̣m và hôi ŕnh. Chính vào giây phút đó, ḿnh muốn khóc. Thượng Đế ơi, tại sao có những miền đất mà con người ta nghèo đến vậy và cơ cực đến vậy? Nơi đây, các sơ ai cũng chỉ có hai bộ đồ luân phiên để mặc, một đôi dép, vậy thôi. Không nhà, không tiền, không điện thoại, không cell, không computer, không laptop, không son phấn, không cả cái bàn, cái ghế để ngồi. Họ giống nhau ở một điểm duy nhất là "không có ǵ để lo, để nắm, để giữ, hay để sợ mất". Các nữ tu cũng như ḿnh vậy, họ cũng phải giặt mấy thau tả dính đầy cứt đái, nhưng họ khác ḿnh, v́ họ làm điều "dơ bẩn" đó từ năm này qua năm khác, mà họ không ợ lên ợ xuống, họ không giậm bằng chân mà thản nhiên ngồi xuống dịu dàng dùng hai bàn tay ṿ giặt. Mỗi sáng ai cũng đều làm công việc đó trong ṿng 2 tiếng đồng hồ. Mất khả năng tự lo...
Sau đó ḿnh được phân công đút các em ăn sáng. Hàng ngàn trẻ tật nguyền bại liệt được các thiện nguyện viện d́u hay bế ra một chỗ trống rất rộng, giúp các em ngồi trên dăy ghế gỗ thật dài và mớm thức ăn cho các em.Riêng khu vực ḿnh làm th́ có hơn 40 em, gái trai đều có, mù, câm điếc, tàn tật, nói chung những ǵ bất hạnh nhất mà chúng ta có thể nghĩ ra th́ nơi đây ḿnh đều thấy tận mắt. Hầu hết các em đều không c̣n tự lo cho ḿnh được. Công việc nghe qua th́ đơn giản, nhưng thật ra lại không dễ chút nào. Có khi cần hơn một tiếng đồng hồ để đút cho các em ăn xong một bát cháo nhỏ xíu. Nơi đây nghèo lắm, đồ ăn của các em không ǵ ngoài khoai và rau nấu nát nhừ ra như cháo. Nhiều em trông thật tội, đầu cổ cứ ngoẹo sang một bên, có em bại liệt cả cột sống, cả người nhũn hết ra, và không c̣n điều khiển nổi một cơ phận nào trên cơ thể. Một tay ḿnh vịn nâng đầu em lên, tay kia th́ ḿnh vừa nhấp nhấp đụng vào cằm, vào miệng, thậm chí có khi đụng nhẹ vào lưỡi để khích thích các em nuốt. Nhiều trẻ không c̣n khả năng nuốt, ḿnh phải vừa đút, vừa xoa cổ lên xuống, rồi vuốt ngực cho thức ăn dễ trôi xuống, và cuối cùng xoa bụng để giúp tiêu hóa. Có lần, một em bé ọe ra trên tay ḿnh, nhăo nhoẹt. Nhưng lúc ấy ḿnh không cảm thấy ghê nữa, mà trong thâm tâm, ḿnh lại cám ơn Thượng Đế là ḿnh c̣n biết nuốt, biết nhai, biết ăn và c̣n cái hạnh phúc cảm nhận được thế nào là món ăn ngon hay dở.

Tâm tư thay đổi...
Ngày một, ngày hai trôi qua, ḿnh bắt đầu nhận ra nhiều điều thay đổi trong tâm ḿnh. Mỗi sáng, ḿnh đứng nh́n ḍng người dài ngoằn đang xếp hàng để được phân chia công tác. Có một hôm ḿnh ṭ ṃ đứng đếm, trên 200 người mỗi ngày. Họ từ khắp nơi đổ về đây để làm từ thiện. Ḿnh hỏi thăm, th́ có người đến từ Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Chile, Brazil, Mỹ, Canada, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật, vân vân... và họ thuộc đủ mọi tôn giáo khác nhau. Ai ai cũng đều tự móc tiền túi ra để mua vé đến nơi này làm việc thiện. Ḿnh đă tự hỏi rằng: "Tại sao? Công việc của các nữ tu trong Hội của Mẹ Teresa có ǵ mà hấp dẫn đến vậy? Hội chưa hề bao giờ quảng cáo, kêu gọi đóng góp, xin tiền... hay ǵ ǵ cả. Thế mà mọi người vẫn biết đến và t́m về".
Mỗi Thứ tư đều có ngày “hướng nghiệp” (orientation day). Thành phố Calcutta có 7 cơ sở, nói cho oai chứ thật ra là 7 căn nhà được phân loại ra theo thành phần cần giúp đỡ: những bệnh nhân sắp chết, những người mắc bệnh AIDS, những trẻ em không có khả năng tự lo, những trẻ tật nguyền nhưng c̣n biết chút chút, vân vân...

Bí quyết sống vui?
Tối về ḿnh không ngủ được, cứ tự hỏi tại sao trên đời có nhiều người bất hạnh đến thế và lại có nhiều người hy sinh đến vậy? Động lực nào đă giúp các sơ luôn luôn mỉm cười mỗi ngày và vui sống? Ṭ ṃ lắm, nên ḿnh đă sống và làm theo y hệt công việc của một nữ tu hằng ngày. Bảy ngày trôi qua đă giúp ḿnh t́m ra đáp số. Có những đến 3 phần tạo nên câu trả lời đầy đủ nhất:
1. Nguyện cầu trong cuộc sống: Mỗi sáng sớm, các sơ đều tập trung tại nhà chính để đọc kinh và cầu nguyện. Các thiện nguyện viên đều vậy. Họ đến, không phân biệt tôn giáo, im lặng, ngồi bệt dưới đất và cùng nhau cầu nguyện. Họ cầu nguyện hết sức chân thành và liên tục trong 2 tiếng đồng hồ. Mỗi chiều sau khi xong công việc, các sơ lại họp nhau nơi đây và tiếp tục cầu nguyện trong một tiếng rưỡi đồng hồ, rồi mới đi ngủ. Ḿnh đă tham dự những buổi cầu nguyện như vậy, và lần nào ḿnh cũng đều xúc động. Ḿnh biết là ở trên cao, Mẹ Teresa luôn mỉm cười khi các con của Mẹ đă và đang tiếp tục làm tṛn nhiệm vụ Mẹ giao. Và ḿnh hiểu ra rằng nhờ có sự che chở ban phước lành của Ơn Trên, các sơ mới làm được những điều vĩ đại ấy.
2. Sự đơn giản: Bạn cứ thử h́nh dung ra một buổi hội họp với hơn 200 người trong ṿng 2 tiếng đồng hồ mà không hề có một tiếng phone reo? Con người ở đây sống với sự đơn giản tuyệt đối. Không cell phone, không máy fax, không wifi, không computer, không laptop, không internet, cũng không cần texting hay iPod. Họ không có cả cái ghế để ngồi. Ghế của họ là sàn đất, không xi măng, không gỗ, không thảm.Bởi thế suy nghĩ của họ đơn giản hơn chúng ta nhiều lắm. Không tính toán, không lo toan, không ích kỷ, không ganh tỵ hẹp ḥi, không thù hằn đố kỵ. Và v́ vậy đầu óc họ cũng thảnh thơi hơn chúng ta nhiều lắm. Không sợ mất nhà, mất tiền, mất job, không sợ tai tiếng thị phi, không sợ cả cái chết dù ngày mai có đến.
3. Niềm vui tự có: Lúc mới tới đây ḿnh gớm công việc giặt đồ quá đi. Đă có lúc muốn bỏ về. Nhưng khi tiếp xúc với các em, ḿnh mới nhận ra là ḿnh hạnh phúc hơn nhiều người lắm. Ḿnh không phải nghèo (the poor), c̣n họ lại là những người nghèo khổ nhất (the poorest). Họ không ăn được, không tự đái ỉa được, không tự lo được, th́ c̣n ǵ là cuộc sống. Vậy mà đă có em bé nh́n ḿnh cười. Nụ cười vô tư và dễ thương làm sao. Ḿnh cười, nhưng tim ḿnh thắt lại, và ḷng ḿnh chùng hẳn đi. Liệu em có hiểu biết ǵ không, có cảm nhận được ǵ không khi tặng ḿnh nụ cười vô tư ấy? Có một buổi chiều khi làm xong hết việc, sắp đi về ngủ th́ t́nh cờ ḿnh trông thấy một bông hoa nở bên một khe lạch. Ḿnh chạy lại xem ngay, và mừng rỡ đứng ngắm thật lâu bông hoa lạ kia. Hạnh phúc và niềm vui tự đâu cứ tràn về. Ḿnh happy quá, v́ ḿnh c̣n đôi mắt để nh́n, để ngắm, c̣n đôi chân để chạy lại xem, c̣n hai tai để nghe tiếng nước chảy tí tách. Và ḿnh chợt hiểu ra rằng niềm vui không phải là những tṛ game trên máy tính, không phải là những bữa ăn buffet anh ách cả bụng, cũng không phải là những text message cứ trao đổi nhau mỗi ngày xoành xoạch. Đừng tính toáncho cái tôi của ḿnh nhiều quá. Khi không t́m th́ niềm vui sẽ tự đến. Bảy ngày đă mang đến cho ḿnh biết bao là niềm vui nho nhỏ...

Vui cứ đến mỗi ngày nho nhỏ
Như từng nụ hoa đỏ mọc bên hồ
Vui cứ đến tự bao giờ chẳng rơ
Như suối nguồn trămng ách chảy trăm nơi...

Không xin - Không từ chối...
Ḿnh xin kể một kỷ niệm gây “shock” nữa đây. Hôm cuối cùng sắp sửa về, v́ quá xúc động trước những điều tai nghe mắt thấy, ḿnh và người bạn t́m đến gặp một nữ tu, nói lời từ biệt rồi ngỏ ư muốn đóng góp chút tiền cho hội. Sơ chỉ tay về phía mộ Mẹ Teresa và bảo tụi ḿnh đến bỏ tiền vào thùng đó (nơi mộ Mẹ có một thùng nhỏ bằng gỗ, không hề khóa, để mọi người tùy hỉ đóng góp). Ḿnh nói to: "Con giúp một ngàn đô!" (mà trong ḷng đinh ninh rằng sơ tưởng ḿnh tặng món tiền nhỏ nên mới bảo bỏ vào cái thùng ấy, chứ cả ngàn đô th́... lỡ ai rinh thùng đó đi luôn th́ sao?). Sơ gật đầu và vẫn chỉ tay về hướng ấy. Ḿnh lập lại lần nữa to hơn: “One thousand dollars!”. Sơ gật đầu, mỉm cười cúi chào rồi... tiếp tục rảo bước. Ḿnh ngạc nhiên cùng cực, không lẽ nơi đây không ai tham và ăn cắp? Sau đó trên chuyến bay về lại Mỹ, ḿnh có dịp tṛ chuyện với một thiện nguyện viên người Nga. Cô cho biết cô đă đến Calcutta đây là lần thứ ba. Khi ḿnh kể lại món quà “một ngàn đô”, cô cười và giải thích: “Hội Missionary Sisters of Charity do Mẹ Teresa sáng lập có một câu phương châm, đó là: Không xin. Không từ chối (Ask for nothing. Refuse nothing). Nghĩa là: Chúng tôi không quảng cáo, không kêu gọi đóng góp. Nhưng nếu bạn có ḷng, th́ chúng tôi nhận tất cả những ǵ bạn tặng: tiền bạc, thời gian, công sức, một lời cầu nguyện, hay ngay cả một nụ cười”. Giờ nhớ lại, ḿnh vẫn c̣n thấy ngượng cho danh tự xưng “nha sĩ từ Mỹ” mà ḿnh tự khoe với mọi người, cũng như về món quà “to tát một ngàn đô” mà ḿnh “sợ mất giùm cho các nữ tu”.
Có dịp tṛ chuyện với các thiện nguyện viên đến từ khắp nơi, ḿnh đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Một cô bé đến từ Trung Quốc, chừng hơn hai mươi tuổi, nói rằng cô đến đây là lần thứ hai.Ḿnh ṭ ṃ hỏi lại: "Cô sống tại một nước (Không dùng từ này) chưa đủ khổ hay sao mà c̣n t́m đến đây giúp đỡ?". Cô cười: “Có đến nơi này, tôi mới biết là không nơi đâu nghèo khó và cùng cực như ở Calcutta và cũng không nơi đâu có thể t́m thấy những con người hơn cả vĩ đại như các nữ tu nơi này”.

Việt Nam- Ấn Độ: Giống và khác?
- Câu chuyện quá hay. Nếu như so sánh giữa Việt Nam và Ấn Độ, th́ anh B́nh có thấy điểm ǵ giống và khác nhau không?
- Nhiều lắm. Cho phép ḿnh nói về điều hay lẫn điều chưa hay nhé. Ḿnh đă về Việt Nam, rồi lại qua Ấn Độ, nên ḿnh chỉ có sự so sánh rất cá nhân như thế này. Tại Ấn Độ, giới chuyên môn như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ rất thiếu, v́ dân số đông quá, nhưng phải nói rằng họ rất giỏi v́ họ ham t́m ṭi, học hỏi trên mạng, tham dự các khóa huấn luyện, chia sẻ kinh nghiệm với các giới chuyên môn từ các nước tiên tiến như Mỹ, Canada... hằng năm đều qua Ấn. Việt Nam ḿnh th́ thành phần professional tràn đầy, nhưng phẩm chất th́ chưa được như Ấn. Ở xứ sở này, dường như không có nạn ăn cắp, móc túi, c̣ mồi, hay ép giá. Người Ấn Độ có vẻ hiền lành hơn, không thừa nước đục thả câu mà bắt nạt du khách. Ḿnh đă về miền Tây Việt Nam, rồi nay đi thăm miền Tây lẫn miền Đông Ấn Độ, nói thật, đi ngoài đường tại thành phố Deesa hay Calcutta cho ḿnh cái cảm giác b́nh an hơn ở Việt Nam nhiều lắm, mặc dầu ḿnh rành tiếng Việt, trong khi không biết một chữ tiếng Ấn và người dân Ấn th́ hầu như chỉ có một thiểu số rất ít biết bập bẹ tiếng Anh. Xứ Ấn rất nóng, nhưng ḿnh không thấy ai ở trần hay mặc quần đùi ra đường, trong khi ở Việt Nam th́... (cười) đầy ra đấy. Phụ nữ tuy không che mặt như ở các nước Hồi giáo nhưng ăn mặc rất cổ điển và hết sức kín đáo.
C̣n điều chưa hay, bạn cứ tưởng tượng xem các đường phố Việt Nam bây giờ chen chúc và kẹt xe như thế nào, th́ ở Ấn Độ, ḿnh hăy nhân lên gấp 10 lần như vậy. Người đâu mà đông khủng khiếp. Nếu ai có than phiền rằng dân Việt Nam chạy ẩu, bất chấp luật giao thông, đậu xe bừa băi bất kể nơi nào, th́ dân Ấn tệ gấp 10 lần hơn thế. Ai cằn nhằn rằng sao bây giờ ở Việt Nam rác rến đầy đường th́ xin thưa, Ấn Độ dơ gấp 10 lần hơn vậy.
C̣n hai điểm nổi bật nhất mà ai đến Ấn Độ dù không cần để ư cũng nhận ra ngay. Thứ nhất phải nhắc tới Ḅ. Ḅ đâu mà đầy đường đầy sá. Quay tới quay lui bốn hướng nơi đâu cũng thấy ḅ. Chúng đi nhan nhản khắp nơi, và xe cộ, người đi đường phải tránh chúng. Nghe nói ḅ là loài thú được người dân Ấn tôn thờ. Thứ hai phải nhắc tới Người. Dường như bên này "Nam nữ thọ thọ bất tương thân", nên không bao giờ nh́n thấy một người nam đi sát một người nữ,dù là vợ chồng hay cha con, th́ nói chi đến chuyện nắm tay hay hôn hít. Ngược lại ở Việt Nam th́ đầy những cảnh các cô nắm tay dung dăng dung dẻ, hay các cậu bá vai, ôm eo cười giỡn, Chính mắt ḿnh thấy hai người đàn ông nằm sát rạt trên một chiếc xe lam, đắp chung cái mền và họ ngủ kḥ sung sướng. Có lẽ đó là do phong tục tập quán khác nhau ở hai nước.
C̣n về vật giá th́ trung b́nh một người dân lao động đi làm cả ngày quần quật cũng chưa kiếm nổi 5 Mỹ kim, trong khi một nhà trọ cho các du khách th́ giá khoảng 15 Mỹ kim một ngày? Một Mỹ kim bằng 53 rupee.

Hạnh phúc xả ly...
- Thế chuyến đi Ấn Độ vừa qua đă giúp anh B́nh điều ǵ?
- Hai tuần ở hai thành phố nhỏ nơi miền Tây và miền Đông Ấn Độ đă tặng cho ḿnh một kinh nghiệm sống tuyệt vời. Lúc rời Mỹ, tôi cứ tưởng ḿnh tới đó để "dạy cho người ta, ban phước cho người ra, bố thí cho người ta". Hai tuần trôi qua,ḿnh mới nhận ra là ḿnh may mắn đă "học được rất nhiều từ người ta, được người ta ban phước và được người ta bố thí". Các nữ tu và những con người cùng khổ nhất trong những người nghèo khổ đă tặng cho ḿnh một món quà vô giá: giúp ḿnh hiểu thế nào là Hạnh Phúc Xả Ly.Con người ta thường cho rằng hạnh phúc là "Có": có tài sản, có quyền lực, có danh vọng, có địa vị...Khi chưa có th́ muốn có, và làm đủ mọi cách để mà có. Khi có rồi th́ sợ mất hay lại muốn đ̣i có cái khác cao hơn, mắc hơn, xịn hơn. Nếu không có th́ buồn phiền, bất măn, khổ sở.

Hạnh phúc: Có và Không!
Nhưng với các nữ tu nơi đây th́ "không có" là một hạnh phúc. Họ nghèo hơn chúng ta nhiều lắm, v́ tài sản của họ chỉ là hai bộ đồ và hai bàn tay trắng. Nhưng họ giàu hơn chúng ta biết bao, bởi họ thật sự có trái tim và tấm ḷng.Và những người bất hạnh cũng vậy. Với họ, sống được thêm một ngày đă là một niềm vui. Có những em bé mồ côi khi ḿnh tắm cho, em ôm lấy ḿnh bi bô câu ǵ đó, rồi em cười hạnh phúc. Có những ông cụ gầy giơ xương khi được phát trái chuối th́ bẻ ngay một mẫu cho vào miệng móm mém nhai một cách ngon lành. Có những bà cụ già bị bỏ rơi, khi ḿnh kéo tấm chăn lên ngực th́ bà nhắm mắt ngủ ngay một giấc thật ngon. Ở quốc gia này, chẳng thấy ai cần đến thuốc an thần hay thuốc trị trầm cảm. Phải chăng sự đơn giản đă giúp tâm hồn người dân nơi đây thanh thản hơn chúng ta?
Đi hai tuần trở về, ḿnh nghiệm ra một điều rằng: Trong cuộc sống, có những thứ “Cho đi” là “Đón nhận”.Phải chăng hạnh phúc khi “Không” chính là “Có”? Nắm giữ cho nhiều rồi khi nhắm mắt th́ Có cũng thành Không...

Quà tặng cuộc sống...
- Cuối cùng th́ anh B́nh c̣n điều ǵ muốn chia sẻ?
- Về lại Mỹ, ḿnh có suy nghĩ khác đi. Ḿnh sắp xếp lại thời khóa biểu cho công việc, gia đ́nh và cho chính bản thân. Dành thêm thời gian quan tâm đến người khác, và tự cho phép ḿnh có những giây phút thảnh thơi - một ḿnh, với thiên nhiên, hay... chẳng làm ǵ cả. Ḿnh tập bỏ bớt các sự ham muốn, sự bám víu vật chất bên ngoài. Bớt ngồi chít chát meo, bớt đổi iPad, iPhone mỗi lúc ra mặt hàng mới. Ḿnh cũng bớt cưng chiều các con quá đáng như xưa, dành thời gian dạy dỗ các con về giá trị thật của hạnh phúc và con người. Ḿnh kể về hai chuyến đi này chỉ mong mọi người hiểu rằng: Ở một nơi thật xa -những góc rất khuất của cuộc đời, vẫn có những con người - tuy bất hạnh nhưng thảnh thơi hơn chúng ta nhiều lắm,tuy tay trắng nhưng lại giàu có hơn chúng ta biết bao.Nếu có thể, hăy tự thưởng cho ḿnh hay cho con cháu một vé đi Ấn Độ, thay v́ tự mua một chiếc xe mới, hay tặng cho con một cái laptop đắt tiền. Chỉ một tuần thôi, chắc chắn sẽ thay đổi hoàn toàn cái nh́n của chúng ta về cuộc sống và hạnh phúc trong đời. Chắc chắn đây là món quà mà ḿnh sẽ tặng cho các con khi chúng 18 tuổi.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 2 2015, 01:08 PM
Gửi vào: #10


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Bé trai Derby hơn 9 tuổi là một cậu bé bị bỏ rơi và lớn lên ở cô nhi viện. Cậu bé mong muốn được t́m thấy mẹ. T́nh yêu của Derby đối với người mẹ trong mơ của ḿnh và con đường t́m mẹ đặc biệt của em đă làm cảm động người dân nước Đức.


Con đường t́m mẹ đặc biệt của Derby


Tháng 2/1994, ở phía Bắc nước Đức tuyết trắng phủ dầy đặc, trại trẻ mồ côi Yite Luo nằm bên ven sông Rhine, tĩnh lặng trong gió tuyết. Sáng sớm hôm ấy, nữ tu sĩ Terri, 50 tuổi ra ngoài làm việc. Lúc vừa ra đến cổng, bà láng máng nghe thấy có tiếng trẻ con khóc. Bà liền t́m theo tiếng khóc th́ phát hiện một bé trai tóc vàng được đặt trong một bụi cây ở cạnh cổng trại. Nữ tu sĩ này đă đưa cậu bé về trại trẻ nuôi dưỡng và đặt tên cho cậu là Derby.
Bảy năm ở cô nhi viện, cậu bé Derby lớn lên khỏe mạnh và ngoan ngoăn. Cậu bé có tấm ḷng lương thiện, nhưng tính cách lại có chút u buồn. Một ngày thời tiết nắng ráo, các nữ tu sĩ đă dẫn bọn trẻ đi qua một rừng cây để đến một đồng cỏ xanh ở ven bờ sông dạo chơi. Những người ở trong thị trấn gần rừng cây đều chỉ vào những đứa trẻ này và nói: “Những đứa trẻ này đều là bị cha mẹ bỏ rơi, nếu con mà không nghe lời, mẹ cũng sẽ đem bỏ con vào cô nhi viện đấy!”
Nghe thấy những lời nói này, Derby cảm thấy vô cùng đau ḷng. Cậu bé không nhịn được liền hỏi nữ tu sĩ:“Mẹ ơi! Tại sao cha mẹ con lại không cần con? Có phải là họ ghét con không?” Giọng nói của cậu bé tràn đầy bi thương không hề giống với lời nói của những đứa trẻ khác cùng độ tuổi.
Nữ tu sĩ nghe xong giật ḿnh hỏi Derby: “Tại sao con lại nghĩ như vậy?”
Derby trả lời: “Tại v́ con nghe thấy mọi người đều nói như vậy, chúng con đều là những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi!”
Nữ tu sĩ an ủi cậu bé: “Mặc dù mẹ chưa từng gặp mặt mẹ của con, nhưng mẹ tin rằng nhất định mẹ của con rất yêu thương con. Trên đời này không có người mẹ nào là không yêu thương con của ḿnh cả. Năm đó mẹ của con để con lại, chắc chắn là v́ một lư do bất đắc dĩ nào đó thôi”.
Derby nghe xong lặng im không nói lời nào, nhưng từ đó trở đi cậu bé thay đổi rất nhiều. Cậu thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nh́n ra ḍng sông Rhine. Cậu hy vọng những ḍng nước đang chảy trên sông Rhine có thể đem t́nh cảm của cậu đến với mẹ.
t́m mẹ, nước Đức, derby, cậu bé mồ côi, cảm động, 10 việc tốt,
Derby thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nh́n ra ḍng sông Rhine. Ánh mắt của em không khỏi mong mỏi, khát khao t́m thấy mẹ. (Ảnh: Internet)
Vào “ngày của mẹ” năm 2003, không khí ấm áp của ngày lễ lại một lần nữa dấy lên khát vọng mănh liệt được gặp mẹ của Derby. Ngày hôm đó, các kênh truyền h́nh đều đưa tin về các hoạt động ăn mừng, đăng tải những h́nh ảnh về t́nh mẹ con. Có một cậu bé 6 tuổi, mồ hôi chảy đầm đ́a trên người đang giúp mẹ cắt cỏ. Mẹ của cậu bé nh́n cậu bé mà cảm động rơi nước mắt. Derby khi xem tới h́nh ảnh này đă nói với nữ tu sĩ: “Con cũng muốn được làm việc giúp mẹ! Mẹ ơi! Mẹ có biết cha mẹ của con đang ở đâu không ạ?”
Nữ tu sĩ trầm tư, không nói được lời nào, bởi v́ suốt mấy năm qua bà không hề nhận được tin tức ǵ của cha mẹ cậu bé cả. Đột nhiên, Derby chạy ra ngoài đường, cậu cứ chạy, trên đường có rất nhiều người mẹ nhưng lại không có ai là mẹ của cậu bé cả. Derby đau khổ và gào khóc.
Mấy tháng sau, khi Derby được 9 tuổi, cậu bé rời khỏi cô nhi viện để đến học tập ở một ngôi trường gần đó. Một lần lên lớp, thầy giáo kể cho học sinh nghe một câu chuyện: “Thời xưa, có một vị hoàng đế rất yêu thích chơi cờ vây, v́ vậy ông liền quyết định ban thưởng cho người phát minh ra tṛ chơi này. Kết quả, người phát minh này lại mong muốn ban thưởng cho anh ta mấy hạt gạo. Tại ô thứ nhất trên bàn cờ đặt một hạt gạo, ô thứ hai đặt hai hạt gạo, tại ô thứ 3 số hạt gạo gấp lên 4 lần…Theo đó suy ra, đến khi bỏ đầy bàn cờ th́ số hạt gạo đă là 18 triệu tỷ hạt”.
Cậu chuyện này làm cho hai con mắt của Derby lập tức sáng lên. Cậu nghĩ nếu như cậu giúp một người, sau đó yêu cầu người đó giúp 10 người khác…Với cách này, Derby hy vọng một ngày nào đó biết đâu người được yêu cầu trợ giúp lại là mẹ cậu. Ư nghĩ này đă khiến Derby vui mừng khôn tả. Từ đó về sau, mỗi lần cậu làm một việc tốt giúp một người nào đó, lúc người đó cảm ơn cậu, cậu đều nói: “Xin cô (chú…) hăy giúp đỡ 10 người khác ạ! Đó là cách cảm ơn lớn nhất đối với cháu!”. Những người này sau khi nghe xong, đều vô cùng cảm kích trước tấm ḷng lương thiện của cậu bé. Tất cả họ đều thực hiện lời hứa của ḿnh, mỗi khi họ giúp ai đó họ lại đề nghị người kia giúp đỡ 10 người khác. Cứ như vậy, toàn bộ người dân ở thành phố đó đều âm thầm thực hiện lời hứa của ḿnh.
Sức mạnh của “10 việc tốt”
Derby không thể ngờ ḿnh lại có thể giúp đỡ ông Rick, một người dẫn chương tŕnh nổi tiếng của Đức.
Rick là một người dẫn chương tŕnh nổi tiếng của Đức. Mặc dù ông đă 50 tuổi nhưng với ngôn ngữ hài hước hóm hỉnh của ḿnh, ông vẫn thu hút sự yêu mến của khán giả. Các chương tŕnh của ông gần như đều vạch trần hết những bí mật của những người nổi tiếng. Tuy nhiên, có lẽ là do áp lực từ hăng truyền h́nh và sự cạnh tranh trong công việc, hơn nữa phải chứng kiến quá nhiều mảng tối của xă hội nên vào năm 2003, ông mắc bệnh trầm cảm và không thể tiếp tục được công việc.
Tháng 10/2003, ông đă xin đài truyền h́nh cho ông được nghỉ dưỡng một năm. Ông hy vọng trong thời gian nghỉ ngơi, ông có thể thả long để sức khỏe được tốt hơn lên. Một thời gian ngắn sau, ông Rick đă tới thành phố mà Derby đang sinh sống để tham quan. Ông đă bị vẻ đẹp của ḍng sông Rhine thu hút. Một lần khi trời chạng vạng tối, đang đi trên bờ sông dạo chơi th́ bệnh tim của ông đột nhiên tái phát. Ông chưa kịp lấy thuốc từ trong túi ra uống th́ đă ngă ngất xỉu trên mặt đất. Cậu bé Derby lúc ấy đang câu cá trên bờ sông phát hiện ra ông bị ngất xỉu nên đă gọi điện cho xe bệnh viện đến đưa ông đi cấp cứu.
Nhờ được cấp cứu kịp thời, ông Rick đă qua khỏi, ông nắm lấy đôi tay của Derby và nói: “Cháu bé, ông phải làm sao để cảm ơn cháu đây? Nếu như cháu cần tiền, ông có thể cho cháu rất nhiều tiền!”.
Derby nghe xong liền lắc đầu nói: “Nếu như ông có thể giúp đỡ 10 người khác khi họ cần sự giúp đỡ, như vậy chính là ông đă cảm ơn cháu rồi ạ!”.
Ông Rick cảm thấy khó hiểu liền hỏi cậu bé: “Cháu cái ǵ cũng đều không cần sao?”. Derby cười và lắc đầu.
Ông Rick liền bị cậu bé kỳ lạ này thu hút. Ông đă để lại cách liên lạc cho Derby và đưa cậu bé trở về trường. Trước khi ông Rick rời đi, Derby lại dặn ḍ ông một lần nữa: “Cháu xin ông nhất định hăy làm đủ “10 việc tốt” ạ!” Ông Rick nh́n qua đôi mắt đang rực sáng của cậu bé, trong ḷng ông cảm thấy ấm áp thế là ông nghiêm túc gật đầu.
Từ đó về sau, ông Rick cảm thấy sống vui vẻ hơn và chăm chú giúp đỡ 10 người khác. Mỗi lần giúp đỡ được một người, trong ḷng ông lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhất là những lúc họ nói lời “cảm ơn” với ông, ông cảm thấy bản thân ḿnh có giá trị hơn rất nhiều.
Chưa đến nửa kỳ nghỉ phép, ông Rick đă trở lại đài truyền h́nh làm việc. Khi ông quay lại làm việc, tất cả mọi người đều ngạc nhiên v́ sự thay đổi chóng mặt của ông. Ông trở nên vui tươi, lạc quan và ḥa đồng với mọi người hơn.
Ngày 01/12/2003, ông Rick lần đầu tiên lên sóng truyền h́nh sau kỳ nghỉ dài. Tại đây ông đă nói với khán giả: “Trước đây, tôi đă nói rất nhiều những câu chuyện của người khác, hôm nay tôi sẽ kể câu chuyện của chính ḿnh”. Ông xúc động kể về sức mạnh của “10 việc tốt” trong ṿng một tiếng đồng hồ. Cuối cùng, ông nói: “Có lẽ, không ai tin đây là chuyện thật, nhưng chuyện này đă tiếp thêm rất nhiều động lực sống cho tôi. Xin các bạn cũng hăy giúp đỡ 10 người khác khi họ cần giúp, tôi tin rằng bạn cũng sẽ cảm nhận được loại cảm giác kỳ diệu này!”
Thông qua truyền h́nh, chương tŕnh của ông Rick được phát sóng trên khắp nước Đức. Mọi người đều rất xúc động về câu chuyện này. Đă có rất nhiều người gọi điện cho ông Rick nói rằng họ sẵn ḷng làm “10 việc tốt” này. Thậm chí c̣n rất nhiều khán giả yêu cầu được nghe Derby nói chuyện trên truyền h́nh bởi v́ họ muốn gặp cậu bé lương thiện này.
Tháng 1/2004, Derby đă đến đài truyền h́nh chia sẻ về câu chuyện của ḿnh. Tại hiện trường, có người đă hỏi cậu: “Tại sao cậu lại có suy nghĩ như vậy?”. Derby cảm thấy do dự, cậu cắn môi đứng lặng một lúc, rồi mới cất tiếng kể rơ chuyện đời ḿnh. Rất nhiều người đă vô cùng xúc động và bật khóc trước t́nh yêu vô bờ bến của cậu bé dành cho mẹ ḿnh.
Ông Rick đă ôm chặt lấy thân thể gầy yếu của Derby và nói: “Mẹ của cháu nhất định yêu cháu vô cùng, cháu nhất định sẽ t́m được mẹ!”
T́nh yêu của hàng ngàn người mẹ
Sau sự t́nh ấy, toàn bộ người dân biết chuyện này đă đề ra chiến dịch “10 việc tốt”. Trước đây, mọi người đều lạnh lùng th́ giờ đây lại đối xử với nhau rất có t́nh. Mọi người đều mong rằng người mà ḿnh đang giúp chính là mẹ của cậu bé Derby kia.
Derby đă trở nên rất nổi tiếng và đài truyền h́nh cũng giúp cậu t́m mẹ, nhưng mẹ của Derby măi vẫn không thấy xuất hiện…
Tháng 2/2004, một sự việc bất hạnh và đau ḷng đă xảy ra với Derby. Nơi Derby sinh sống là một khu phố nghèo. Sau khi Derby nổi tiếng, các tay xă hội đen nghĩ rằng cậu bé có nhiều tiền. Đêm ngày 16/02/2004, trên đường trở về trường học, Derby đă bị một nhóm lưu manh vây quanh, nhưng bọn họ không t́m thấy tiền trên người cậu bé, nên đă đâm trọng thương cậu bé.
Cậu bé Derby bị đâm thủng bụng và gan, cậu nằm trên vũng máu măi đến hai tiếng đồng hồ sau mới được cảnh sát tuần tra phát hiện. Họ đưa cậu bé vào bệnh viện cấp cứu. Tại bệnh viện, trong lúc hôn mê, Derby một mực gọi “Mẹ! Mẹ! Mẹ!…” măi không thôi.
Đài truyền h́nh tiếp sóng trực tiếp t́nh trạng của Derby. Tất cả mọi người đều cầu nguyện cho cậu. Mấy chục sinh viên đến quảng trường Alexanderplatz, nắm tay nhau thành một ṿng tṛn và kêu gọi: “Mẹ! Mẹ!…” Những tiếng gọi này làm cảm động những người qua đường, họ liền gia nhập vào nhóm đứng xếp thành h́nh trái tim. Số người tham gia càng lúc càng đông lên, trái tim cũng càng lúc càng lớn hơn.
Điều cảm động hơn nữa là có hàng trăm người mẹ đă gọi điện đến đài truyền h́nh xin được giả làm mẹ của Derby. Cô Rita, một giáo sư tại trường đại học Munich đă khóc nức nở và nói: “Derby là một đứa trẻ tốt như vậy, được giả làm mẹ của cậu bé, tôi cảm thấy vô cùng tự hào”. Một phụ nữ khác 35 tuổi gọi điện đến nói: “Tôi từ nhỏ đă không có mẹ. Tôi cũng vô cùng khát khao được gặp mẹ. Tôi có thể hiểu được tâm t́nh của Derby”.
Có hàng trăm người mẹ đă gọi điện đến để xin được làm mẹ của Derby, nhưng mẹ của Derby th́ chỉ có một. Cho nên, đài truyền h́nh đă thảo luận và chọn cô Judy làm mẹ của Derby. Bởi v́ cô ấy sống cùng thành phố với cậu bé, hơn nữa giọng nói của cô ấy cũng giống với giọng của cậu bé, như vậy sẽ càng có cảm giác thân thiết hơn.
Sáng sớm ngày 17/02/2004, sau một thời gian dài bị hôn mê, cậu bé Derby đă mở mắt. Cô Judy đă ôm một bó hoa loa kèn đẹp xuất hiện ở đầu giường của Derby. Cô nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Derby và nói: “Con trai Derby yêu quư! Mẹ chính là mẹ của con đây!”. Derby dường như nh́n thấy ánh mặt trời, đôi mắt cậu đột nhiên sáng rực lên, cậu đă rất ngạc nhiên và hỏi:“Mẹ thực sự là mẹ của con sao?”. Cô Judy dùng hết sức ngậm lấy nước mắt và gật gật đầu. Tất cả mọi người có mặt ở đây cũng mỉm cười nh́n Derby và gật đầu. Hai ḍng nước mắt nóng chảy ra từ đôi mắt của Derby: “Mẹ ơi, con đă t́m mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”
Cô Judy gật đầu và nghẹn ngào nói: “Con trai yêu quư của mẹ, con hăy yên tâm đi, mẹ sẽ không bao giờ rời xa con nữa…!”. Trên khuôn mặt tái nhợt của Derby nở một nụ cười. Cậu c̣n muốn nói nhiều hơn nữa nhưng đă không c̣n sức lực nữa rồi…
Đây là ngày cuối cùng của Derby ở trên cơi đời này, cậu bé luôn nắm thật chặt bàn tay của mẹ mà không buông ra, cậu cũng không muốn nhắm mắt lại v́ muốn được nh́n thấy mẹ nhiều hơn… Tất cả mọi người đều ̣a khóc, cảm thấy như trái tim ḿnh đang vỡ tan ra.
Hai giờ sáng ngày 18/02/2004, Derby đă nhắm mắt lại, vĩnh viên rời xa thế gian nhưng đôi bàn tay của cậu bé vẫn c̣n nắm chặt bàn tay của mẹ.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 8 2016, 02:47 AM
Gửi vào: #11


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tháng Tư... ngu!

(bài của HUY PHƯƠNG) rất đáng đọc và suy ngẫm

Trước hết, tôi xin tự kiểm điểm cái ngu của bản thân ḿnh trước, trong hàng ngh́n cái ngu của thiên hạ, v́ ngu mà phải mất nước, “lỗi tại tôi mọi đàng” hay “tôi làm tôi mất nước.” Là một cán bộ chiến tranh chính trị trung cấp, hết làm tâm lư chiến, rồi chính huấn, tức là huấn luyện chính trị cho hàng ngh́n tân binh tại một trung tâm huấn luyện lớn nhất nước, mà khi nghe (Không dùng từ này) vào đến Sài G̣n, không chịu t́m đường chạy, v́ cứ nghĩ ḿnh gốc nhà giáo, ḥa b́nh rồi, đi 'học” mấy ngày rồi về dạy học lại!

Ông Nghĩa Nguyễn (trái), một cựu binh sĩ VNCH, cùng con trai dự lễ tưởng niệm binh sĩ Việt-Mỹ tại Washington, DC, ngày 30 Tháng Tư, 2005.
Tôi ngu v́ đă suy diễn hay hiểu sai thời gian đi “học tập,” nên chỉ đem theo 10 gói ḿ ăn liền Vifon, để ăn sáng trong 10 ngày, ngày thứ 11 đă ăn cơm nhà rồi!
Ủy Ban Quân Quản Sài G̣n-Gia Định ra thông cáo tất cả các quân nhân cấp úy phải tŕnh diện đi “học tập cải tạo,” mang theo tiền ăn trong 10 ngày, cấp tá mang theo tiền ăn cho một tháng. Sau này có người đi tù 17 năm ṛng ră, chúng ta “chửi” (Không dùng từ này) lừa dối, nhưng xem kỹ lại các văn bản, không thấy đoạn nào nói, cấp úy chỉ đi tù 10 ngày, cấp tá một tháng, mà chỉ nói “đóng tiền ăn.” Chẳng qua, v́ chúng ta hay suy luận, và ngây thơ, khờ dại nên mắc mưu sự khôn lanh, xảo quyệt của kẻ thù, đó chính là v́ chúng ta ngu!
Sau này, ra Bắc, chính tai tôi đă nghe một quản giáo cai tù nói rằng: “Đưa các anh ra biển th́ cũng từ từ, trước hết là gần bờ, sau mới dần dần đưa các anh ra xa hơn, nếu không các anh chóng mặt, say sóng, chịu làm sao nổi!”
Tôi đoan chắc anh em chúng ta, nhất là quư vị tướng lănh, nếu biết được những ngày tù không bản án, mà có người ra đi biền biệt 17 năm trời, chịu bao nhiêu khổ ải, nhọc nhằn, nhục nhă, th́ một nửa trong chúng ta đă tự sát tại nhà mà chết, hoặc chạy vào rừng để rồi cũng chết v́ súng đạn của ######. May hay rủi, v́ ngu mà chúng ta mới sống đến ngày hôm nay.
Khi đến các địa điểm tŕnh diện, không ai nghĩ “đi tù” mà chỉ nghĩ “đi học.” Tại trường Trưng Vương, là nơi tŕnh diện từ cấp phó giám đốc trở lên, hai vị, một từng là phó thủ tướng VNCH, dân biểu, một vị đă là thượng nghị sĩ, đi học c̣n mang theo gối ôm, và khi xếp hàng vào cổng, có vị đă giành đi trước, v́ có giấy giới thiệu của Ủy Ban Quân Quản Sài G̣n-Gia Định. Sau đó, bộ đội (Không dùng từ này) mới ra lệnh: “Ai có giấy giới thiệu th́ đứng qua một bên!” Giấy giới thiệu đây là giấy gọi “tŕnh diện” cho các viên chức cấp cao, c̣n đối với cấp nhỏ th́ chỉ có thông cáo chung trên báo chí, đài phát thanh.
Những ai c̣n đứng lấp ló ngoài cửa chưa chịu vào, c̣n nghi ngại ḍ la th́ những chiếc xe mang tên nhà hàng Soái Ḱnh Lâm, Đồng Khánh... mang thức ăn vào quư vị dùng bữa tối, hẳn đă đánh tan mối hoài nghi về thiện ư của người thắng trận.
Đến khi lên xe Molotova, phủ bạt kín rồi, chúng tôi vẫn c̣n lạc quan tin lời (Không dùng từ này) được đưa đến chỗ đầy “đủ tiện nghi,” (chắc là có đủ điện nước, máy lạnh, sân bóng chuyền...) để học tập và khi biết đoàn xe ra đến xa lộ Biên Ḥa, th́ việc di chuyển lên Đà Lạt như cầm chắc trong tay. Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Chỉ Huy Tham Mưu, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị là những nơi lư tưởng nhất để “học tập.” Khi đến nơi ở tù rồi, (Không dùng từ này) đưa tù vào một cái nhà kho, một trại gia binh hay một cánh rừng th́ vẫn tin tưởng vào số ngày trong thông cáo, chờ ngày ra sân vận động Cộng Ḥa làm lễ măn khóa: “Quỳ xuống hỡi những cải tạo viên - Đứng lên hỡi những công dân Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!”
Câu chuyện những người trên con tàu Việt Nam Thương Tín, Tháng Năm, 1975, sang đến đảo Guam rồi, lại đốt “barrack,” tuyệt thực đề đ̣i “về với tổ quốc,” là một bài học xót xa cho những người trong cuộc, có người phải trả giá bằng 17 năm tù. Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh kể chuyện, anh em “tù cải tạo” tại trại tù K2, Nghệ Tĩnh, gọi những người này bằng biệt danh “đội q...!”
Tại trại 15 NV. Long Thành, một nhạc sĩ đă hồ hởi sáng tác những bản nhạc được cai tù bắt cả trại hát: “Trồng rau, trồng đậu, trồng t́nh thương trong tâm hồn người...” Ra tới Bắc Thái lại thêm một bài “Ngày vui đă tới!” nhưng mà “ngày về” th́ xa lắc xa lơ!
Thậm chí khi lên con tàu chở súc vật Sông Hương lưu đày ra Việt Bắc rồi, có người vẫn lạc quan “biết đâu nó chở tù miền Nam ra Đệ Thất Hạm Đội Hoa kỳ hay đi thẳng qua Guam để giao cho Mỹ!” Tàu chạy hơn một ngày một đêm rồi mà vẫn nghĩ là cập bến Đà Nẵng chứ không ai nghĩ là lên cảng Hải Pḥng.
Ở trong nhà tù vẫn c̣n người tin tưởng “học tập, lao động” tốt th́ được “Cách Mạng” cứu xét cho về với gia đ́nh sớm, nên làm trối chết, kiệt sức, đấu tố anh em... để lấy điểm với cán bộ, cũng như đau xót cho quư bà ở nhà, dắt díu con cái đi vùng “kinh tế mới” cho chồng sớm được tha! Sau 10 “bài học tập,” tới buổi “thu hoạch” th́ cứ nghĩ là viết hay th́ được tha về, viết dở th́ ở lại “học” tiếp.
Trước ngày 29 Tháng Ba, 1975, khi Cộng Quân chưa vào Đà Nẵng, một số người thuộc phe ḥa hợp ḥa giải tin tưởng thời cơ đă đến nên đă sắp đặt đưa Bác Sĩ Phạm Văn Lương lên làm thị trưởng Đà Nẵng, tin sau đó được đài BBC loan báo. Trong lần phỏng vấn bà quả phụ Phạm Văn Lương tại Nam California, bà xác nhận với chúng tôi Bác Sĩ Phạm Văn Lương chưa bao giờ là thị trưởng Đà Nẵng, nhưng có chuyện là khi có nguồn tin này, một vị trung tá đă đến gặp ông xin làm tài xế cho ông, để nhờ ông che chở, lánh nạn. Sao có người “ngu” đến mức như thế!
Ngày 5 Tháng Tư, 1975, Bác Sĩ Phạm Văn Lương cùng nhiều y sĩ khác bị đưa vào nhà tù Kỳ Sơn, và một năm vào ngày 3 Tháng Tư, 1976, Bác Sĩ Lương đă uống thuốc ngủ cùng 10 viên cloroquine để tự tử.
Trong những ngày cuối cùng của miền Nam, Tướng Dương Văn Minh vẫn c̣n tin tưởng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Nhưng cuối cùng, tiếng than cuối cùng tuyệt vọng của “Tổng Thống” Dương Văn Minh là: “Thầy giết tôi rồi!”
Có những người làm lớn hoặc từng “làm rung rinh nước Mỹ” mà c̣n ngây thơ như vậy, th́ đừng trách chi một thằng lính như tôi tin tưởng vào lời của “cách mạng” đem đủ 10 gói ḿ ăn liền, là... ngu!
Quân tử, ngay thẳng, ngây thơ mà đối đầu với tiểu nhân, xảo trá, độc ác th́ không chết cũng bị thương. Tôi đâm ra nghi ngờ rằng, khó “đem đại nghĩa để thắng hung tàn,” và thời nay thấy nhan nhản chuyện “cường bạo áp đảo cả chí nhân!”

Huy Phương


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 8 2016, 02:52 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 11 2016, 01:40 PM
Gửi vào: #12


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




Dường xưa chốn cũ


Hồi trước, ở Sài g̣n, cánh đây lâu lắm, tṛm trèm ….nửa thế kỷ…tất cả cái loại xe hơi, hai đèn trước, đều phải có “mắt mèo” nghĩa là phải sơn màu vàng lên 1/3 bên trên mặt kiếng của đèn trước, ư là …hỏng cho bác tài pha đèn ban đêm, làm chói mắt người hay xe chạy ngược chiều !
Bởi vậy, bác tài có muốn …chơi ác pha đèn, cũng … bó tay !!!

Khúc đường gần bịnh viện đều có bảng “cấm nhận kèn” để bịnh nhân khỏi giựt ḿnh !
Xe đậu trong đường Sàigon đều phải tuân theo bảng đậu “ngày chẵn lẻ” …

Tất cả xe tắc-xi đều sơn trùng một màu xanh hoặc vàng xanh, ư là để “khách bộ hành” biết nó từ đàng xa để …quơ tay đón và cũng .. có ư là nếu, hỏng …phải xe tắc xi, mà là xe du lịch tư nhân lại đi ”dù” rước khách …kiếm chúc cháo là biết liền, cũng dĩ nhiên, xe nào “nhảy dù” như vậy, bị bắt là bị phạt, lớ quớ c̣n bị tịch thu bằng lái !

Xe tắc xi phải có đèn hộp “bắt chết luôn” trên mui xe, về đêm, hộp đó có đèn cháy sáng để khách biết mà …dơ tay đón …để cho khỏi lộn với xe du lịch !
Xe buưt cũng phải sơn một màu đặc trưng riêng để dể phân biệt với xe đ̣ …
Ví dụ Xe Buưt Vàng th́ …sơn màu vàng đặc trưng …khác thiên hạ …
Bến xe nầy ở gần Bà Quẹo …mà bà con gọi là Bến-Tô-Bít-Vàng …
Kế bến xe buưt vàng nầy có hăng cơm xấy Hồng Hoa (?) làm cơm xấy cho lính …
Xe cộ phải đàng hoàng, cái nào ra cái đó, lộn xộn …hỏng nên thuốc !

Bắt đầu 18 – 20 tuổi …. mới cho thanh niên lái xế hộp 4 bánh du lịch …để lấy le, sau đó vài ba năm, bác tài …trẻ mới lên được 1 “hạng”, rồi cày vô lăng …vài năm nửa, mới cho …mó tới xe tải, rồi “chạy xe” thêm vài niên, mới “đủ ngày” để lấy dấu E để lái xe đ̣, nghĩa là khi bác tài lái …mấy chục tánh mạng hành khách, th́ bác tài …vô tuổi trung niền rồi, nên …hết máu thanh niên, háo thắng, ưa nóng gà …chạy ẩu !!!
Chớ không có cái chuyện “giao trứng cho ác” được !

Ở ngă tư đèn đỏ, có vạch sơn trắng, tất cả xe cộ đều ngừng sau vạch đó, xe nào cáng mức sơn, mà nhè ông đạp xích lô thấy được… ổng chửi cho tắt bếp, quê lắm nhen !!!

Nhà bán thuốc tây, th́ bảng hiệu đề Nhà Thuốc Tây hoặc Nhà Thuốc Gác (đó là danh từ chung) chớ khộng ai lấy Tên Riêng (danh từ riêng) để đề bảng hiệu bán thuốc tây !
Hai bảng hiệu nầy luôn luôn là bảng màu xanh đậm và chữ trắng, nó c̣n có hộp đèn chữ thập xanh gắn thêm, để đêm hôm, người mua thuốc …đứng ở xa, cũng thấy !

Tiệm nào bán thuốc bắc th́ có chữ “đường” ở sau, Ví dụ: Vĩnh Sanh Đường, Nhị Thiên Đường, Thiên Ḥa Đường …

C̣n chùa th́ có chữ “tự”…dính ở sau, ví dụ : Huỳnh Kim Tự, Thới Ḥa Tự, Long Vân Tự, Linh Sơn Cổ Tự …

Tiệm bán vàng th́ bảng hiệu chỉ có 2 chử, chử đầu luôn luôn là chử “kim”, ví dụ : Tiệm vàng ….Kim Hưng, Kim Liên, Kim Sen, Kim Hoàng, Kim Phát …

Địa Danh ít khi dùng chữ Thái (kỵ húy vua Thành Thái ?) mà dùng chử Thới : Ví dụ : Thới B́nh (Cà Mau), núi Châu Thới ( Biên Ḥa), B́nh Thới (quận 11), Tân Thới Hiệp (chỗ tập lính QT) Thới Tam Thôn, Thới Ḥa (Vinh Lộc) Thới Nhứt, Thới Nh́, Thới Tam, Thới Tứ (Hóc Môn), Xuân Thới Sơn (chỗ đương trạc, giỏ tre …)

Nhà dân cất dọc đường lớn, xa lộ, người ta luôn luôn tự động cất nhà thụt lùi vô trong, ở xa lộ, cách Xa Lộ ít nhứt là 50 mét ! Lư do là để cho an toàn chuyện xe cộ, thứ 2 nếu có mở rộng đường xá th́ khỏi phải dời nhà …
Nhà mà dời đi, dời lại là điều ông bà xưa kiêng kỵ, nên, hỏng ai ham lú mặt ra đường!
Dọc đường cái trống trơn, hỏng ai …dám gan, tới chỗ đó … tự nhiên cất nhà …
Nếu gan cùng ḿnh, cất nhà đại …th́ cứ cất, đợi cất xong, bên Điền Địa hỏi Bằng Khoán đất, hỏng có, th́ “coi như”…gia chủ xách tụng đi ăn mày …ở ṭa bố !
C̣n những tên cất nhà, mà lấn từng tất đất, bà con nói nhẹ rằng “thằng đó hết xài”!
Thằng nào “hết xài” …th́ nó, chỉ c̣n nước …đội quần mà đi, nhục lắm !!! …

Ở Sàigon, cái vụ học hành, có ba thứ trường để học :
Trường Công Lập, Trường Tư Thục và Trường Hàm Thụ .
Trường Hàm Thụ là trường… mà … hỏng ai tới trường !
Bất kể ai, v́ hoàn cảnh ǵ đó không tới trường học trực tiếp được, th́ cũng có cách học để tiến thân, đó là “học trường hàm thụ”. Nghĩa là, cứ …đi làm sở, làm sùng tà tà hay làm việc nhà nấu cơm hoặc cày sâu cuốc bẩm đồng sâu nước mặn…
Nếu muốn tiến thủ trong cuộc đời ……th́ ghi danh học Trường Hàm Thụ, trường sẽ gởi Bưu Điện bài học, bài làm tới nhà và làm bài xong, gởi bưu điện tới cho trường chấm bài, rồi trường gởi bài tiếp …
Cứ thế …cứ thế …
Chỉ tới ngày thi, th́ thí sinh phải đi thi mà thôi …
Bởi vậy, anh em nào có tinh thần cầu tiến, cứ học, nếu thi đậu th́ đáng nể lắm !!!
Trường Tư Thục th́ học sinh phải “đóng tiền trường” hàng tháng và bằng Tú Tài cũng giống y như học sinh Trường Công Lập …
Trường Công Lập là …trường công, học sinh không đóng tiền trường suốt 7 năm Trung Học …

Đặc biệt, trường Công Lập nam nử … lại cho học riêng, như :
Trường Công Lập Nữ Trung Học: Lê văn Duyệt, Gia Long, Trương Vương …vv…
Trường Công Lập Nam Trung Học: Hồ Ngọc Cẩn, Chu Văn An, Vơ Trường Toản, Pétrus Kư, Lư Thường Kiệt, Quốc Gia Nghĩa Tử …vv…
Ở trường công nam, Nam Sinh mặc đồng phục Quần xanh áo trắng …bỏ áo vô thùng, trên miệng túi áo, có ghi tên trường hẳn hẹ…nên đố thằng nào…dám hó hé!

Ở trường công nữ, Nữ Sinh đồng phục là mặc áo dài trắng, quần trắng …
Có …thời khắc “mấy nhỏ áo dài trắng” …bắt chước mấy cô Ca Sỹ Sàig̣n, bận áo dài vạt “lửng” …c̣n tay áo th́ kiểu “rặc lăn” …là …tay áo dài nối vô thân áo…
Thiệt … quả là báo đời ….một phen !!!
Mấy anh chàng Nam Sinh trường công v́ học chung “ṭn-là đực rựa”… nên nhiều thằng ḍm …quí nàng áo dài … vạt lửng …bước đi với tà áo (cố t́nh) thước tha yễu điệu, tụi đực rực …áp nhau thấy, tụi nó ….rụng rúng bầy bầy !!! H́ h́ …
Bởi vậy, mới có chuyện, mấy “tay tổ” trường công nam, cúp cua vô Lăng Ông Sở Thú Tao Đàn …để “trồng cây si” mấy nàng áo trắng, thây kệ chuyện, bị …cồng-sing !!!
Và … thấy tiếp ….ở Sàig̣n năm xưa …

Cây xăng nào cũng có “ṿi bơm bánh xe gắn máy, xe hơi” đứng ở giữa hai trụ xăng …
Đang chạy xe, thấy bánh xe mềm, tấp vô cây xăng, dựng xe trước “cây bơm”, lấy tay “quây” cây kim hơi, về số 5 (5 năm kư hơi) …rồi ung dung ngồi xuống, mở nấp ṿi, ịnh đầu bơm hơi vô ṿi ruột xe…để cho nó tự bom, cây kim bơm hơi, quơ quơ nghe cạch cạch cạch, tới khi, nghe kêu cái teng, đủ hơi, là máy bơm tự động ngừng bơm …
Bơm xe như vầy, nghe …nó phẻ cách ǵ, chớ 2 tay “thụt ống bơm” …mệt lắm !!!
Nhưng …úi chà …cứ bom cây xăng riết, ruột xe Honda ṭn – là …nước không hà !
Biết được ruột xe có nước là do vô vá xe tại tiệm sửa xe “Sĩ Solex” kề bên trường Lê văn Duyệt và bên kia đường… có rất nhiều ruộng rau muống xanh um !

Trên đường Phan Đ́nh Phùng Sàig̣n 3, kề bên chợ Vườn Chuối có đường xe lửa chạy ngang và bên kia đường rầy, có căn nhà 3 từng, đó là nhà “cho mướn sách” Cảnh Hưng, cho mướn sách là cho đọc giả … mượn sách về nhà đọc, nhưng phải “đóng tiền thế chưn” bằng 1/2 giá tiền sách in ở trang b́a, khi đem trả sách, Cảnh Hưng trừ tiền mướn vô tiền thế chưn, tiền mướn, cứ 1 cuốn 1 đồng 1 ngày …răng rắc !
Mấy nhà bán sách và tác giả có sách xuất bản …hỏng vui với Cảnh Hưng ….
Nhà Cảnh Hưng chứa sách để cho mướn …hỏng biết mấy chục ngàn cuốn, v́ sách nằm trong kệ …đen nghẹt, bít kín từng trệt và 2 từng lầu …
Ông Cảnh Hưng …tướng tá …hơi nhỏ con nhưng vui tánh, học tṛ khoái lắm !
Thằng học tṛ nào mê Kiếp Hiệp, muốn luyện chưởng hay …muốn đột nhập “cái ban ..vài ba túi” …th́ tới đây …t́m bí kíp !!!
Ông Cảnh Hưng …biết tẩy học tṛ hết ráo nhen, thấy mặt, ổng cười h́ h́, liền cho mượn cả tuần mới trả, với 2 đồng một tuần… là cái …giá-ghẽ-ghề…
Bởi vậy, học tṛ “mê đọc sách” Cảnh Hưng… quá xá cở là vậy đó đa !!!
Phụ việc ông Cảnh Hưng là bốn năm đứa nhỏ, chuyện môn, chạy đi lấy sách …theo sự “chỉ chỗ” của ông chủ hay lấy sách đọc giả trả, rồi đem sách để “chỗ cũ” …
Ông Cảnh Hưng có trí nhớ …siêu phàm tàn canh gió lốc …
Khi ai tới mướn sách, chỉ cần nói tên sách, là ông Cảnh Hưng, nói liền, thí dụ :
– Bộ Tam Quốc Chí có 3 cuốn, nhưng khách đang mướn cuốn 1 và 2 …
– Ủa ? Ông chủ có cả chục bộ lận mà ?
– Th́ ờ …người ta mượn hết ráo rồi, giờ c̣n cuốn 3 …Cuốn 1 và 2 mai trả …
– …vậy đi …lấy tui cuốn 3 …cũng được !
Ông Cảnh Hưng ra lịnh :
– Tèo, mầy lên từng 2 kệ số 7 ngăn 6 lấy cuốn 3 bộ Tam Quốc Chí cho ông Hai !
Học tṛ Đệ Lục nghe ông Cảnh Hưng … nhớ từng vị trí cuốn sách nằm ở đâu trong rừng sách từ trên lầu xuống tới đất…thấy mà xám hồn luôn !!!
Ông Cảnh Hưng có quen với nhiều nhà xuất bản, như Yên Sơn (Phú Nhuận) chẳng hạn, khi đang sách in, ông … được ưu tiên “thộp” một mớ …đem về cho mướn trước, khi nào in đủ số, sách … mới phát hành ! Bởi vậy, coi sách “nóng hổi” là vậy !
Mỗi loại sách, Cảnh Hưng có ít lắm 15 bộ mới đủ cho mướn …
Đặt biệt, những cuốn sách hồi xưa, xa lắc, xa lơ…xuất bản từ hồi ….bà cố hỉ cố lai 8 đời vương ông hoănh…nhà Cảnh Hưng cũng có !!!
Như cuốn Tôi Kéo Xe của Tam Lang hay cuốn Con Trâu của Trần Tiêu in năm 1940 hoặc cuốn Chồng Con in năm 1941 !!!
Biết “rơ” như vậy là do Cô dạy Việt Văn cho “thuyết tŕnh” ở lớp những Tiểu Thuyết xưa, mà sách…xưa ơi là xưa, th́ chỉ có ở nhà Cảnh Hưng !!!
Thế là học tṛ Đệ Lục tức tốc mượn về, để …mần thuyết tŕnh trong lớp …
Sách cho mướn, được bao thêm b́a giấy xi măng, trên đó, viết chi chít ngày mượn …
Ngoài ra, học tṛ muốn mượn “cuốn nào hây hây”, th́ …hỏng hiểu “do đâu”, ông Cảnh Hưng liền nói tuốt luốt một lèo cho nghe, cái nội dung cuốn “sách hây” hoặc là bất kể cuốn nào mà học tṛ c̣n …mù mờ, nghe xong, thế là học tṛ mượn liền !
Ông Cảnh Hưng c̣n …quảng cáo cuốn sách …thứ dữ … “chỉ tao mới có” …
Sách nầy thuộc loại “cái ban môn phái” mà học tṛ khi ấy…đang muốn luyện thử !
Đó là cuốn Lục Tàn Ban (quên tên tác giả)
Đây là cuốn sách viết về … cái bang bảy tám túi, coi … hay hết kỵ luôn :
Lục Tàn là 6 nhân vật (tàn tật) gồm: Thằng đui, thằng điếc, thằng mất 2 gị, thằng mất 1 tay, thằng mất 1 chưn, thằng cụt 2 tay
Thằng đui làm … Ban Trưởng Lục Tàn !!! (ối trời …*&%#?><…) Sáu ông cố tàn nầy …luyện chưởng, luyện gồng, luyện nghe, luyện thấy, luyện chạy …thuộc hàng cao thủ vơ lâm …để trả thù cho sư phụ bị sát hại năm xưa … Giới giang hồ cho rằng “môn phái” đó bị tiêu diệt, khi 6 đệ tử sau cùng bị thương nặng trong rừng, không ai cứu chữa và ai cũng tưởng …chết hết rồi ! Mấy thằng học tṛ Đệ Lục coi say mê Lục Tàn Ban luôn !!! Có thằng c̣n “luyện thử” …cách ḍm xuyên màn đêm của cao thủ Lục Tàn Ban !!! Bởi vậy, thằng nào …non tay ấn, luyện nhản riết, tới độ mang kiếng cận dầy cui, chớ ở đó mà đổ thừa “tại bị”… rồi nói dóc là “tao lo học” tới cận thị !!! Ba-xạo quá nha mấy cha !!!

Trên đường Phan Đ́nh Phùng, sáng sáng có xe lấy rác, có gắn cái chuông kêu len ken Cuối hẻm 376 là đ́nh Phú Thạnh, là chỗ con nít ưa tụ tập, thả diều, bắn đạn … Trước nhà số 380 Phan Đ́nh Phùng Sàig̣n 3 có “phong tên” nước công cộng … Ở đó có đông người “chuyên gánh nước mướn” được bà con các hẻm xung quanh “mướn” gánh nước mỗi sáng sớm, gánh từng đôi nước về nhà … Mấy bà (cô) gánh nước khoái đọc cuốn tiểu thuyết Rặng Trâm Bầu của Lê Xuyên ! Nước phong tên ở đây được chảy từ cái sa-tô-đô cũng nằm ở đường Phan Đ́nh Phùng …và và…nếu ai …hà tiện, th́ khi khát nước, cứ lại phong-tên kḥm lưng mở ṿi uống …chùa …Bà con gọi là “uống nước khum” … Cùng phe gánh nước mướn ở phong-tên, cũng có mấy người “ở đợ” nhưng được gọi nghe cho …nhẹ hơn là “con sen”, sáng sớm cũng ra gánh nước về nhà cho chủ… Lúc đó và sau đó, Tân Nhạc với điệu Boléro thịnh hành trên khắp nẻo đường và có nhiều bản nhạc “hợp với tâm trạng – hoàn cảnh” nên Ca Sỹ thứ thiệt hát là rung động trái tim, nên được mấy bà chị gánh nước khoái, cứ nhè mấy bản đó hát măi, tiếng ca “nhảo nhẹt” mà hát …hoài hoài hỏng biết chán, bà con nghe riết phát nhàm … Dần dà, cộng thêm mấy chị… ma-ri-sến ”làm sở Mỹ”, rồi dân vũ nữ quán Bar, pḥng trà …thuộc loại quá “date” …cũng hát những bản điệu Boléro thịnh hành ! Ma Ri Sến thất nghiệp cũng về gánh nước và cũng hát “bản tủ” như mấy chị kia … Cứ hát riết, phát ngấy, bà con gọi giọng hát đó là …giọng rên … ma ri sến !!! Mấy chị …sáng sớm vừa chờ nước vô thùng vừa hát tân nhạc véo von, chỉ có vài bài tủ, mấy chị cứ hát riết nghe …phát mệt … (Đă vậy, nó c̣n “cộng hưởng” rồi “trùng tên” với …cái vụ con gái rơi của ngài thượng sĩ – tổng thống da đen Bocasa bên châu phi, tên cô là Mary…. Cô Mary gái lai đen nầy ở vùng Ngă Năm chuồng chó, ngài tông-tông Bocasa nhờ báo Trắng Đen t́m dùm, thế là cô Mary…trở thành ngọc ngà châu báu …) Và “miệng thế gian” …đặt cho chết tên cho giọng ca …mới nổi, giọng ma-ri-rến ! Giọng marisến …làm mệt lỗ tai …thính giả ! Hát “bản nhạc tủ” miết, làm cho nó …lờn, tới độ, bà con nằm nhà hay đi ngang …nghe … th́ biết là tiếng hát của con Sến nào !!! Khi ở nhà bà chủ, tên là Con Sen, sau đó, nàng ra Vũng Tàu làm “ma ri sến” …ở mấy cái Bar Thiên Thai, Ạc-ăng-Sen …ở Băi Trước … V́ vậy, giọng ca con sen hay con sến … đều như nhau … Và bà con … giận, khi nghe hoài mấy bản nhạc “tủ”, nên nói : – Mấy con nhỏ đó … là sến nướng … nên ca hoài !!! – Mấy con sến đó … ca đi ca lại miết, nghe mệt thấy mẹ !!!

Ở đầu đường Phan Đ́nh Phùng, có nhà số 3 đó là Đài Phát Thanh Sàig̣n … Ngă tư Phan Đ́nh Phùng – Lê Văn Duyệt có ṭa đại sứ Miên, bên kia đường là cây xăng rất lâu đời và ở ngă tư nầy, năm 63 ḥa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu … Cũng ở ngă tư nầy, có tiệm cơm tàu, ở đây có món “cơm thố” …ngon bá chấy !!! Cơm thố được hấp trong cái xửng tre có cả chục ngăn, thố là chén nhỏ rí, chừng 3 muỗng cơm, v́ vậy, ăn xong, thố chất 1 chồng 15 cái … cao như núi !!! Một số …dân chơi cầu 3 cẳng, loại tứ hải giai huynh đệ …tới ăn cơm thố ở đây, ư là, để khoe chồng thố cao nghệu…để “lấy le” với thiên hạ …đó nha bà con !!!

Phang Đ́nh Phùng … cụng vô đường Lư Thái Tổ … ngay tại ngă ba … Ở ngă ba nầy, có Pḥng Trà Lệ Liễu và chủ Pḥng Trà là chị Ba Liễu ! Quán “Chị ba Liễu” là chổ gặp mặt mỗi chiều tối của rất nhiều Nhạc Sỹ – Ca Sỹ Sàigon trước khi đi hát Pḥng Trà hay Hát Rạp hoặc quán Bar … Đây là “quán ruột” của Thanh Kim, Đệ Nhất Danh Cầm Hạ Uy Di… DK, HC, MLQ, GL … hát ở Pḥng Trà Lệ Liễu cho khách (rất đông) thưởng thức … Thí dụ : DK ca bài Ai Ra Xứ Huế th́ chị ba Liễu “trả công” là 1 ngàn 8 … Có “chàng – lính” bận đồ trận bốn túi, đội Bê Rê đen, v́ là em (đệ tử) của Thanh Kim, nên chàng ta … xâm ḿnh, bậm gan, đổ lỳ, dám …thót lên sân khấu Lệ Liễu để hát bài Đường Xưa Lối Cũ và bài Tàu Đêm Năm Cũ …(cũ mèm không hà) Chàng hát …một cách khơi khơi, trong khi Nghệ Sỹ thứ thiệt ngồi lủ khủ ở đó … Chàng lính trận nầy, v́ ỷ có Thanh Kim …lo, nên hỏng lo trật nhịp, chàng ta cất tiếng …véo von liên tiếp hai bài tân nhạc, th́ Chị Ba Liễu …coi bộ…nghe được được, chị …tức tốc tiến ra sân khấu, liền …móc bóp, xỉa cho chàng 9 trăm đồng …gọi là “lính góp vui”, rồi Chị Ba c̣n …xúi …(quá đă) – Đêm nào, nếu rảnh …em tới hát nhen !!! Lính mà …hát vậy, được đó …!!! – Dà dà …$$%%$$ !!! (vô mánh) Anh chàng lính nầy, về đơn vị …móc xấp tiền, dứ dứ lên trời …hét : – Bữa nay, tao đăi anh em cả làng một chầu …cơm tấm – cà phê – thuốc lá !!! – Chắc c̣n …dư bộn tiền đó ông thầy !!! – Th́ th́ …Băm 3 mí lỵ tôm khô củ kiệu …cho sạch nhách luôn !!! – Hoan hô thẩm quyền !!! – Hé hé ….cho xin chữ kư đi ông …kḥ kḥ … Pḥng trà Lệ Liễu là chổ Nghệ Sỹ Sàig̣n …tụ lại nói dóc, trước khi đi hát … Và cũng là chỗ “tụ tập” của những tay tổ đờn vọng cổ Văn Vỹ, Năm Cơ, Ngọc Sáu … Khi Ca Sỉ hát xong tới khua, trước khi về nhà, lại tụ nhau ở quán Cháo Đêm sau hàng cây … dái ngựa cổ thụ ở đường Hồng Thập Tự, quán cháo cũng gần đường xe lửa từ bên đường Phan Đ́nh Phùng chạy qua …

Cũng ở đường Phan Đ́nh Phùng, ngay trong ṿng chợ Vườn Chuối là nhà của Soạn Giả Nguyễn Phuong, khi ấy anh Nguyễn Phương có đứa con gái nhỏ cỡ trên 10 tuổi và nó cùng với Ba Má …đặt lời thoại cho vở cải lương !!! Cô gái nhỏ cùng ba má ngồi 3 góc trong pḥng, đóng làm 3 nhân vật …nói chuyện, rồi đánh máy luôn, đó là ”làm thoại” để Nguyễn Phương “lấy câu trẻ con” soạn tuồng cải lương …Đó là cách Nguyễn Phương đang soạn tuồng và… bị bắt tại trận …h́ h́ … Nguyễn Phương là Đạo Diển cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga và mỗi tuồng cải lương được đánh máy sáu bảy bản để cho anh em “nhắc tuồng” đứng sau màn nhung hay cánh gà …đọc câu cho Đào Kép đứng ở ngoài sân khấu …nói hay ca !!! (cứ tưởng Đào Kép học thuộc ḷng hết vở tuồng, hỏng có đâu nhen !!!) Nguyễn Phương là trưởng ban kịch Tân Dân Nam , chuyên kịch trên đài truyền h́nh Sàig̣n chiều thứ bảy hàng tuần, gồm có hề TV, TT, NĐT ..vv … và bà vợ của Nguyễn Phương là chị của phu nhân tướng CVV… Bởi vậy, do đó, Nguyển Phương… mới “tó” được cái giấy phép ngon lành… là mượn tàu Hải Quân để đóng phim xi-la-ma !!! Đó là phim “Hải Vụ 709” định quay ở Rạch Giá … Nhưng v́ t́nh h́nh chiến sự ác liệt ở đó, nên phim Hải Vụ 709 bị đ́nh chỉ… kéo dài và sau cùng phải băi bỏ, nếu không, th́ anh chàng Thủ Đức sẻ làm… tài tử xi-nê mà lại đóng vai Trung Úy Hải-Quân… nhảy xuồng đổ bộ rồi! Uổng thiệt nhen…

Cũng thời gian đó, ban Tân Dân Nam đang “dợt tuồng” kịch truyền h́nh, đó là vở “Ai Là Thủ Phạm” tại nhà anh Nguyễn Phương … Lúc đó chàng (v́ là lính) được Nguyễn Phương giao đóng vai Cảnh Sát Trưởng … Úi chà chà … Nguyễn Phương biểu chàng ta phải “tập” trước … cách c̣ng tay thủ phạm ăn trộm kim cương, em NĐT đóng vai thủ phạm … C̣ng tay … mà phải “tập” ư là … để chàng … c̣ng … mà hỏng đau tay NĐT !!! Tới khi lên sân quay 2 tại đài Truyền H́nh Sàig̣n … ngài Cảnh Sát Trưởng, bước vô, làm mặt ngầu, liền móc c̣ng (hân hạnh) c̣ng tay NĐT … ngay tức khắc nhen !!! Bàn tay NĐT đẹp như chính NĐT, chàng lính cầm 2 tay người đẹp, tra vô c̣ng số 8 … mà chàng ta thấy … quá đau ḷng !!! H́ h́ … Trên truyền h́nh, anh chàng lính, chỉ … lộ diện trên màn ảnh nhỏ của Đài Truyền H́nh Sàig̣n chỉ được có …30 giây cuối cùng của vở kịch … thôi hà ! Soạn Giả Nguyễn Phương chuyên môn hút Thuốc G̣ khi soạn tuồng và điếu nào cũng bự tổ nái, đốt cháy liên tục, khói bay mờ mịt như đống un buổi chiều tà ! Và trên bàn viết thường có … rờ vẹt … ba bốn khúc Thuốc G̣ loại “nặng” đô, đó là … pḥng khi, nửa đêm soạn tuồng … mà hết thuốc hút !

Từ ngă tư Phan Đ́nh Phùng – Lê Văn Duyệt chạy lên tí nữa là Ngă 6 Sàigon, ngay “bùng binh” ngă 6 nầy, có xe lửa chạy qua và là chổ bắt đầu của đường Yên Đổ, ở đây, trên đầu đường Yên Đổ,có khu Kiều Lộ (sửa, tráng dầu đường hư…) . Nằm chung trong khuôn viên khu Kiều Lộ … là Sở Phú De đó đa !!! Phú De là chổ … nhốt chó chạy rong, bị “xe bắt chó” bắt được trong đường phố ! Ai mất chó, cứ vô Phú De t́m là y như rằng …nó ngự ở đó và bỏ tiền chuộc chó về ! Bởi đó, hồi xưa, DA trong báo CO có viết bài Phú De Giao Chỉ, đọc nghe nhức xương Trong khu Kiều Lộ nầy có cái … cưa tay, bự chà bá, dùng xẻ gổ lóng … Ở đây có Kỹ Sư Bê và Hồ Lợi và Hồ Lợi là dân chơi tài tử … chánh cống bà lang trọc. Trong văn pḥng khu Kiều Lộ của Hồ Lợi … có tùm lum… đờn c̣, gáo, xến, ghi ta thùng, ghi ta phím lỏm… treo tá lả trên tường, để nhân viên nào … quởn mà khoái đờn vọng cổ th́ cứ vô … tập vợt thả giàn và … Hề Minh và danh cầm Thanh Kim, Tạo Minh Đời … vv… xuất thân từ đây ! Hề Minh là danh hề diễu có tiếng trên bầu trời Cải lương một thời …. Tạo Minh Đời cười được 18 giọng riêng biệt và c̣n có khiếu một ḿnh vừa nói giọng ông nội, giọng cháu nội trai, gái, giọng con gái … rất hay, giống y giọng … như trong “gia đ́nh bác tám” … nhất là giọng chó mèo cắn lộn …là nghe hay hết phản luôn ! Nhứt là …mở đầu câu …a…bê…cê … ca …nháy giọng xe lửa đề pa … của bản Chuyến Xe Lửa Mồng Năm của Trần văn Trạch … y chang Trần văn Trạch ! …. nhưng “hỏng có thời” nên anh Đời không nổi tiếng như anh Minh và anh Kim … Thanh Kim là Đệ Nhất Hạ Uy Di Cầm chuyên đờn 6 vọng cổ … nhưng né … ló mặt trước bàn dân thiên hạ truyền h́nh, Thanh Kim chỉ đờn cho gánh hát và chơi tân nhạc cho quán Bar và Pḥng Trà và học tṛ Thanh Kim là TKH … – Anh Kim, sao anh chỉ “thâu dỉa” mà hỏng thấy anh lên sân khấu hay truyền h́nh ? – Tao … xí-giai thấy bà … miệng rộng tàn hoạt, cười hô hố, tướng tá như đấu ḅ ! – Th́ … có sao đâu … – Tao … trốn …để khán thính giả tưởng tao … đẹp trai đó mầy … hỏi hoài !!!
suy tầm
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 16 2016, 03:50 AM
Gửi vào: #13


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tôi Nằm Bệnh Viện
BS Đặng Ngọc Thuận

Uống bậy 2 viên thuốc, phải nhập viện. Uống đúng 2 viên thuốc, được xuất viện. Bệnh nhẹ hóa ra bệnh nặng, nguy hiểm chết người. Nguyên do chỉ v́ ỷ ḿnh cũng biết thuốc men nên chủ quan tự chữa trị. Câu chuyện của tôi thật ra chỉ giản dị có thế, song muốn nhân dịp này kể lại quư vị nghe những ǵ tôi đă trải nghiệm khi nằm trong bệnh viện như một bệnh nhân, chứ không phải trên cương vị một bác sĩ chữa trị cho bệnh nhân nằm tại viện.

Kể ra cũng là một điều lạ v́ đă 82 tuổi đầu tôi chưa phải nằm bệnh viện bao giờ. Rồi măi sau gần 10 năm hưu trí tôi phải nhập viện cấp cứu. Một lần cách đây gần 25 năm tôi có bị một cơn bệnh“gút” (do tiếng Pháp goutte và tiếng Anh gout) khá đau ở ngón chân cái song uống thuốc giảm đau, đi khập khiễng mấy ngày th́ khỏi ngay và không bao giờ bị lại nữa, mặc dầu tôi không uống thuốc ngừa Allopurinol v́ thuốc này rất hại thận mà tôi vốn bị suy thận kinh niên không biết lư do (idiopathique) từ rất lâu, nhiều năm rồi.
Xin lưu ư suy thận (insuffisance rénale) chứ không phải yếu thận v́ theo y học cổ truyền âm dương hụ hợ th́ có nghĩa là bất lực (impuissance)

Đầu tháng 03/2016, tôi thấy đau ở đầu gối bên trái và thầm nghĩ là tuổi già cũng bị ṃn khớp như ai, cứ năng đi bơi mỗi sáng ở YMCA chắc rồi cũng bớt thôi. Nhưng khác với dự đoán, đầu gối ngày một đau thêm, đau như cắt da cắt thịt (hèn chi tiếng Việt gọi bệnh này là thống phong) và nhất là cứ sưng vù lên, cho dù uống bao nhiêu Tylenol cũng vậy. Đến ngày chủ nhật 13 tháng 03 th́ quá đau phát khóc, tôi lục lạo trong tủ thuốc thấy 2 viên Codéine, bèn lấy ra nuốt chửng luôn 2 viên một lúc. Nào ngờ tuổi đă cao, thận lại yếu đâu c̣n sức chịu đựng loại thuốc ma túy giảm thống khá mạnh này. Tôi hết đau song lăn ra ngủ ly b́ suốt hai đêm một ngày, không ăn không uống.

Nhà tôi mới đầu cũng mừng v́ thấy tôi hết đau lại ngủ ngon hơn bao giờ hết, nhưng sang ngày thứ ba 15 tháng 03 th́ bà ấy phát hoảng phải nhấc điện thoại cầu cứu cháu lớn làm nghề bác sĩ chuyên ngành cấp cứu. Cháu ở xa chúng tôi đến hơn một giờ lái xe nhưng vội chạy lại ngay v́ như cháu nói trong điện thoại :
- Bố vốn yếu thận mà 2 ngày không ăn c̣n được chứ không uống th́ nguy hiểm lắm đấy ! Con sẽ đến ngay xem t́nh trạng bố ra sao.
Khi thấy tôi nằm ngay đơ say sưa ngủ, gọi cũng chỉ trả lời nhát gừng th́ cháu nói ngay, chẳng cần khám xét hỏi han ǵ thêm :

- Không xong rồi, bố bị khô nước phải đưa đi bệnh viện tiếp nước biển ngay mới được. Để lâu bố sẽ bị hôn mê, không phải v́ bệnh “gút” mà v́ tắc thận (renal failure). Mẹ chỉ cần xem môi bố khô như muốn tróc ra th́ biết bố thiếu nước đến độ nào!

Cháu bàn với nhà tôi :
- Đưa bố vào bệnh viện ở Montreal, con e sẽ phải chờ đợi lâu lắc lắm. Chi bằng mẹ để con chở bố vô bệnh viện con làm, tuy xa song con nói các bạn đồng nghiệp của con và nhân viên điều dưỡng của bệnh viện sẽ lo ngay cho bố tức thời và kỹ lưỡng. Mẹ sẽ thấy ở tỉnh nhỏ dân t́nh rất hiền ḥa tử tế, chứ không hỗn tạp lôi thôi như ở thành phố đâu !

Quả thật đến bệnh viện, tôi được đưa ngay vào pḥng hồi sinh và chuyền nước biển vô tĩnh mạch, sau khi cô điều dưỡng viên đă rút đến 5-6 ống máu để mang đi thử nghiệm tức khắc. Bà Anne M. bác sĩ phụ trách hồi sinh vừa khám bệnh tôi vừa gắng hỏi chuyện, tôi thều thào nói câu được câu không, song khi tôi tiết lộ tiền căn có bệnh “gút” th́ bà ấy quả quyết là tôi bị cơn “gút” tái hành, rất phù hợp với thử nghiệm lượng acide urique trong máu quá cao. Thế nhưng cơ nguy là vấn đề thiếu nuớc làm “khô thận” và đó là hậu quả của 2 viên Codéine tôi đă uống tẩm bậy tầm bạ trong cơn bĩ cực lại không muốn phiền đến con cái !

Bà Anne M. đon đả trấn an tôi :
- Tôi sẽ cho ông nhập viện lên pḥng nằm v́ phải tiếp nước cho đủ mới cho ông uống Colchicine bài trừ acide urique được. Tạm thời ông chỉ được uống Tylenol liều cực mạnh giảm đau mà không hại thận. Lên trại sẽ có bác sĩ Bernard B. là bác sĩ điều trị trực tiếp của ông. Tôi cũng sẽ hội ư với bác sĩ Sylvie F. chuyên môn về thận góp ư về trường hợp của ông. Sylvie biết ông nhiều v́ từng theo dơi chứng suy thận của ông.

Sở dĩ bà ta biết được hồ sơ bệnh lư của tôi là nhờ hệ thống điện tử DSQ (Dossier-Santé, Québec) nối liền các cơ sở y tế toàn tỉnh bang để các nhân viên có phận sự có thể tham khảo bất cứ ngày giờ nào. Tôi lại thều thào :
- Sao bà không cho chụp h́nh cái đầu gối khốn khổ này của tôi ?
Bà Anne thẳng thắn trả lời :
- V́ tôi không thấy có chỉ định y học (indication médicale). Bệnh ông đă được chẩn đoán chính xác, không cần chụp tia phóng xạ, song ông đă muốn th́ tôi chiều ư. Chụp h́nh rồi có khả năng ông bị chọc kim vô khớp xưong lấy nước (ponction articulaire) và bị nhiễm trùng th́ phiển phức lắm .Tuy nhiên lên trại các bác sĩ sẽ họp bàn lại. Có thể bác sĩ Isabelle D. chuyên môn về phong thấp sẽ được tham khảo.

Do đó tôi được đưa đi chụp h́nh trước khi chuyển lên trại gặp bác sĩ Bernard B. một con người rất điềm đạm song cởi mở và thân thiện. Tôi lại nhắc đến nỗi thắc mắc đầu gối sưng to và đau quá, uống Tylenol chẳng ăn nhằm ǵ. Ông ta ôn tồn trấn an :
- Vấn đề này, tôi sẽ mời bà bác sĩ Isabelle D. chuyên khoa phong thấp lên tham vấn giải quyết cho ông. Duy có điều theo lời dặn của bạn tôi là François con trai ông, tôi khuyên ông hăy tạm quên “cái y học của ông” đi và để chúng tôi làm “cái job” của chúng tôi là săn sóc ông thật kỹ càng, có lư luận phân tích, theo đúng sách vở.
Ôi nghĩ mà buồn một phút cho thân phận người y sĩ già nua đă về vườn mà c̣n cố bám lấy cái nghiệp vào thân. Song thật t́nh tôi không giận họ v́ thấy rơ họ tay nghề thật giỏi, ngay thẳng và có thiện tâm giúp đỡ ḿnh. Kể cả khi bà Sylvie F. là bác sĩ chuyên khoa thận từng theo dơi và biết rơ chứng suy thận của tôi, đến thăm tôi bên giường bệnh, thẳng thừng chỉnh tôi:
- Tôi nghe François nói ông ăn uống bê bối lắm (grand amateur de la malbouffe) nhất là mỗi ngày uống cả lít Coca-Cola. Đă thế tôi gửi ông đi tham vấn dinh dưỡng viên, ông cũng chẳng thèm nghe lời. Để tôi nói cô dinh dưỡng viên đến gặp ông ngay đây, cấm chỉ mọi thức ăn bậy (junk foods). C̣n cái đầu gối sưng th́ để Isabelle toàn quyền v́ bề nào hiện nay chuyện thiếu nước của ông không cho phép ông uống Colchicine ngay được. Thuốc này gây tháo dạ, ỉa chẩy ghê gớm lắm, làm ông càng thiếu nước thêm.

Chiều tối hôm ấy, bác sĩ Isabelle D. đến thăm bệnh tôi hết ngắm nghía mấy tấm phim lại nắn bóp cái đầu gối của tôi. Lúc sau bà ấy mới tuyên bố, vẻ mặt đắn đo suy nghĩ :
- Ông đau là phải v́ trong khớp xương của ông tràn đầy nước. Tôi nghĩ phải chọc kim rút nước ra cho ông đỡ đau và chính tôi mang nước ấy đi soi kính hiển vi xem có tinh thể urate (cristaux d’urate) không v́ đó là bằng chứng cụ thể nhất của bệnh “gút”. Sau đó tôi sẽ cho cấy trong 48 tiếng đồng hồ nước ấy xem có vi trùng nào mọc không. Nếu không tôi mới dám chích Dépo-Medrol chống viêm dài hạn. Sở dĩ phải vậy v́ nếu đầu gối ông đă nhiễm trùng th́ Dépo-Medrol sẽ càng làm nhiễm trùng hơn, có thể đưa đến “choáng” v́ nhiễm trùng máu (choc septicémique), nguy hiểm lắm. Tôi nghĩ sáng mai Sylvie và Bernard có thể bắt đầu cho ông uống Colchicine và ông sẽ được xuất viện, hoàn toàn b́nh phục trước cuối tuần này.
Tôi hiểu ư bà ấy là không muốn nối dáo cho giặc, gà què chữa thành gà toi.
Thật đáng cảm phục thiện chí của người thầy thuốc, tận tâm giải thích cho bệnh nhân nghe, hành động dám lănh trách nhiệm, với tinh thần hợp tác cùng équipe trị bệnh. Bà ấy c̣n trấn an tôi :
- Tôi sẽ chích thuốc tê rồi mới dùng kim lớn chọc vô đầu gối để lấy nước ra. Ông sẽ không cảm thấy ǵ cả, mà ông có sợ đau không ?
Tôi ra mặt dũng cảm :
- Kim chích của bà th́ nhằm nḥ ǵ với cái đau của bệnh “gút”. Người Việt chúng tôi gọi bệnh đó là “thống phong” mà ! Hơn nữa bà phải biết là tôi ở tù CS 4 năm, vượt biên lênh đênh trên biển đói khát cả mấy tuần lễ mới được cứu sống. Đời tôi đau khổ đă nhiều, bà ạ !
Bà ta mỉm cười khẽ nói :
- Ôi mà thời bĩ cực đă qua rồi (le pire est fait) v́ giờ này ông đang ở Canada, ông không biết hay sao ?
Rồi bà thong thả đi kiếm đồ nghề rút nước trong đầu gối tôi ra, rất nhẹ nhàng chính xác song được đến mấy chục cc đầy 2 ống xét nghiệm bằng thủy tinh. Đầu gối tôi xẹp trông rơ và tôi tức khắc thấy nhẹ hẳn người, co chân lên đến phân nửa mà không đau đớn ǵ. Tôi cám ơn rối rít và tôi cảm nhận bà ta cũng tự tin, khoan khoái v́ thấy công việc ḿnh làm có hiệu nghiệm cho con bệnh. Trước khi ra khỏi pḥng, bà nói :
- Tôi sẽ tự tay xét nghiệm ống nước này xem có tinh thể urate không. C̣n ống nước kia th́ để nhân viên pḥng xét nghiệm cấy lên môi trường cho vi trùng mọc, nếu có.
Nửa giờ sau bác sĩ Isabelle D. trở lại, vui vẻ báo tin mừng là chính mắt bà đă thấy cả đống tinh thể urate bao quanh bởi cả chục sư đoàn bạch cầu đang t́m cách tiêu diệt giặc urates bằng cách ‘‘ăn sống nuốt tươi chúng”. Và bà hẹn 2 ngày sau sẽ trở lại tiêm Dépo-Medrol cho tôi, nếu kết quả thử nghiệm cấy trên môi trường không phát hiện ra vi trùng.

Quả thật sáng hôm sau bác sĩ điều trị Bernard B. đến thăm bệnh tôi và báo tin cho tôi biết là sau khi hội ư với bác sĩ Sylvie F. họ đồng ư bắt đầu cho tôi uống Colchicine, song cũng v́ t́nh trạng suy thận của tôi, chỉ cho uống 2 viên chia làm 2 buổi sáng mà thôi.
Chứng nào tật nấy, tôi lại lên tiếng hỏi:
- Xin lỗi ông cảm phiền cho tôi hỏi một câu, một câu mà thôi.
Ông ta vội trả lời :
- Không, ông cứ hỏi chứ ! Đó là quyền của ông và bổn phận chúng tôi ở đây, cái job chính là phải làm sáng tỏ mọi thắc mắc của bệnh nhân.
- Hôm qua ông khuyên tôi hăy quên cái y học của tôi đi, song thật t́nh tôi không biết hay đă quên Colchicine thuộc loại thuốc ǵ và cơ chế tác động của nó thế nào ?
Bernard nở một nụ cười thật tươi và giảng cho ông bác sĩ già‘‘gần đất xa trời’’ hay Colchicine là một loại thuốc chống viêm rất xưa, đặc biệt hữu hiệu cho viêm khớp do tinh thể urate bị bạch cầu nuốt trọn (phagocytose) và đóng tụ tại chỗ. Song tác dụng của Colchicine khá chậm, nhiều khi phải cả tuần khớp xương mới bớt sưng. Ấy là chưa kể Colchicine c̣n khá độc cho cả gan lẫn thận, nhất là đại trường v́ thường gây ỉa chảy rất dữ dội
- Chính những lư do ấy làm chúng tôi rất ngần ngại kê toa Colchicine song ông buộc phải uống th́ đầu gối mới thật sạch tinh thể urate. Nay t́nh trạng tổng quát của ông đă khá nhiều do dung dịch Normal Saline truyền vô tĩnh mạch và do Isabelle đă rút bớt nước trong khớp ra. Vậy hôm nay ông hăy chuẩn bị ‘‘Tào Tháo sắp đuổi ông đấy’’ ! Tạm dịch tự do : ‘‘Vous allez avoir Mr Choléra courant après vous’’
Ôi thật là khủng khiếp cái nhà ông Tào Tháo Canađiên này ! Thoạt đầu tôi mắc đi cầu lắm lắm mà sao rặn măi không ra, sau tôi mới sực nhớ ra (nhờ cái y học vừa lỗi thời vừa cổ lỗ sĩ của tôi) là Codéine gây táo bón không thua ǵ Colchicine gây tháo dạ. Quả nhiên tôi phải lấy 2 ngón tay moi ra một cục phân cứng ngắc như đá sỏi, đóng chốt ngay cửa hậu môn. Cửa vừa được mở ra th́ ôi thôi sâm banh tuôn ra như suối Lồ Ồ.

May thay viên Colchicine thứ 2 bớt hành tôi nhiều và chiều hôm ấy đúng như lời hứa, bác sĩ Isabelle D. trở lại tươi tỉnh loan tin kết quả cấy vi trùng âm tính và bà ta sẵn sàng tiến hành việc tiêm nhiễm (infiltration) đầu gối tôi thuốc chống viêm dài hạn Dépo-Medrol, nếu tôi đồng thuận. Dĩ nhiên tôi gật đầu lia lịa v́ chịu hết nổi Colchicine rồi mà đầu gối c̣n đau khôn xiết.
Vẫn bằng động tác nhẹ nhàng hôm trước, bà bơm vào đầu gối tôi một lọ Dépo-Medrol rồi thản nhiên đứng bên giường chờ phản ứng của tôi. Chừng 5-10 phút sau, bà nói tôi thử co chân lại xem sao. Thật như phép lạ nhờ thuốc tiên, tôi gập hẳn đầu gối lại không chút đau đớn !
- Vậy th́ sáng mai tôi nói Bernard thử máu kiểm soát rồi nếu b́nh thường trở lại th́ ông có thể yên tâm xuất viện ngay chiều mai được.

Đuợc lời như cởi tấm ḷng v́ nằm bệnh viện dù được săn sóc tử tế kỹ lưỡng thế nào, tôi vẫn có cảm giác như tù giam lỏng. Đấy là c̣n nhờ có nhà tôi sáng lái xe đi tối lái về, luôn luôn ở bên tôi, lo lắng nâng đỡ ông chồng bị cơn ‘‘gút’’ nó hành hạ. Vậy mà con tôi kể rằng có nhiều bệnh nhân bản xứ hẳn ḥi khỏi bệnh rồi mà đuổi cũng không chịu về. Quả thật nếu chẳng may ḿnh phải ăn xă hội, th́ nằm viện no cơm ấm cật, có người chăm sóc tắm rửa lại chẳng tốn đồng xu cắc bạc nào th́ tội ǵ mà không kéo dài ngày nào hay ngày đó.

Thế mà sáng hôm sau nóng ruột hết đứng lại nằm chờ măi cũng không thấy ông thầy Bernard đến cho tin tức. Nhà tôi phải an ủi, theo cách của bà ấy :
- Anh phải hiểu là người ta c̣n trăm công ngh́n việc khác nữa chứ bộ cả cái bệnh viện này chỉ có anh là bệnh nhân hay sao ? !
Nhưng rồi xế trưa th́ chàng cũng đến, mặt không mấy vui :
- Máu của ông tốt rồi đấy. Duy có chất potassium th́ c̣n hơi cao, những 5.8 mmol. Tôi đoán là bà Sylvie F. cho ông uống thuốc lợi tiểu ở nhà nhưng vô đây ông bị khô nước, bà ấy đă cắt bỏ nên chất điện ly K (électrolyte K) mới tăng như vậy. Tôi sẽ cho thử lại stat (tiếng nhà nghề là có kết quả ngay), nếu chất K đă giảm so với hồi sáng th́ tôi mới dám cho ông về, song ông phải uống lại thuốc lợi tiểu ngay sáng mai.

Một giờ sau, Bernard trở lại mặt tươi như hoa :
- Đây này, potassium xuống c̣n 5.3. Dấy thật là một dấu hiệu tốt. Tôi yên tâm để ông xuất viện ngay bây giờ với toa thuốc ra viện, thuốc cũ căn cứ vào DSQ và thuốc mới cho hợp với t́nh trạng mới của ông. Và ông nhớ 2 tuần nữa đi thử máu lại rồi lấy hẹn với bác sĩ Sylvie F. vả bác sĩ Isabelle D. để họ theo rơi bệnh ông. À mà chút quên, boss François của tôi nhắn ông phải đi khám lại bà Marie-Chantale M. về mặt tâm thần đấy nhé !
Cái ông con trưởng nam của tôi này dường như cho tôi già rồi phát khùng, Alzheimer hay sao mà cứ có dịp là nhắn nhe hết người này đến người kia nhắc tôi phải đi khám psychologist với chẳng psychiatrist. Riêng tôi thấy điên khùng ǵ đâu, chỉ thấy ḿnh có quên quên nhớ nhớ, hơi gàn một chút, hay phát ngôn bừa băi, không giống ai nhất là về tư duy. Song việc ǵ tôi cũng muốn khôi hài hóa, để khỏi nằm dài trên giường thẫn thờ nhớ chuyện ngày xưa mà khóc thầm. Nói có bà xă tôi làm nhân chứng !

Nếu tôi chấm dứt bài viết của tôi ở đây th́ tôi mắc lỗi rất lớn với những nhân viên bệnh viện tôi nằm. Chỉ đáng tiếc là tôi không nhớ hết tên họ mọi người v́ cách sắp xếp nhân viên của bệnh viện dựa trên équipes chứ không theo trại bệnh. Thành thử nay họ làm trại này, mai lại đi trại khác. Ngoại trừ bà điều dưỡng trưởng (thường là một infirmière bachelière nghĩa là có tŕnh độ đại học) th́ phụ trách điều khiển thường trực một trại. Dẫu sao xin ghi lại đây vài kỷ niệm vui vui đáng nhớ trong 4 ngày tôi được điều dưỡng tại trại 6 Ouest. Cũng phải kể những điều rất hay và lư thú tôi đă học được nơi họ

Ở khu Cấp Cứu tôi nằm trên băng ca và khi chuyển trại, một người y công đă đứng tuổi song vóc dáng khá lực lưỡng, đẩy tôi vô thang máy đưa lên trại ở lầu thứ 6. Đến cửa pḥng ông ta hỏi tôi có vô pḥng một ḿnh được không
Tôi nghĩ ḿnh có mang theo cây gậy nên nghĩ là chống mà đi cũng xong. Nhưng khi thấy tôi quá loạng choạng th́ chẳng nói chẳng rằng ông ta bế xốc tôi lên, bồng tôi đặt lên giường và hết lời xin lỗi trước khi bỏ đi.

Bà trưởng trại đến gặp tôi mang theo một cái marchette và nói tôi khoan dùng cây gậy đồng thời hứa sẽ can thiệp để khu vật lư trị liệu cử nhân viên (physiothérapeute) lên chỉ dẫn tôi cách đi đứng. Cô trưởng toán điều dưỡng cũng đến, vui vẻ đo áp huyết, bắt mạch và lấy thủy. Tôi hỏi xin cô ấy một hộp Kleenex th́ cô ấy lớn tiếng gọi :
- Yvonne, mang cho ông Đặng một họp mùi xoa (mouchoirs). Lẹ lên đấy!
Tôi khen cô ấy nói đúng tiếng Pháp th́ cô ấy mỉm cười mà nói :
- Yvonne gốc Pháp nên tôi không nói tiếng Québécois (Kleenex) mà dùng chữ mouchoirs để trêu chọc nó.

Học đi đứng tôi phải thú thực có được chỉ dẫn mới biết cách xử dụng canne và marchette đúng phương pháp, khoa học. Cô sinh viên physiothérapeute nḥ bé và nhỏ nhẹ, lễ phép chẳng kém ǵ một cô gái VN. Dưới sự trông chừng của huấn luyện viên, cô chỉ tôi cách cầm canne : Nếu đau bên mặt, phải cầm canne bên trái và nghịch lại. Lên thang phải bước từng bậc : Khi lên, chân lành bước trước, chân đau theo sau. Khi xuống, chân đau xuống trước, chân lành xuống sau. Như thế chân lành phải chịu đựng nhiều sức nặng của thân thể và người bệnh đỡ đau. Cô mách cho cách nhớ thật ngộ nghĩnh khiến tôi phải bật cười :
- V́ người tốt (chân lành) lên thiên đàng, c̣n kẻ xấu (chân đau) xuống địa ngục ! Nhớ thế th́ ông không bao giờ lầm lẫn cả.

Các học viên phục vụ bệnh nhân bao giờ cũng có huấn luyện viên đứng cạnh chỉ dẫn và giám sát. Thí dụ như trước bữa ăn nào cũng lấy máu ở đầu ngón tay để thử lượng đường. Đây là công việc của người y tá, song nếu là một học viên th́ đương nhiên có huấn luyện viên đứng cạnh trông chừng. Sau bữa ăn, lại có nhân viên khu dinh dưỡng đến quan sát khay đồ ăn, ghi nhận ḿnh ăn được bao nhiêu. Một lần thấy khay ăn của tôi sạch trơn, anh ta ngạc nhiên hỏi tôi ăn hết khay sao. Thấy tôi gật đầu, anh ta khẽ liếc nh́n nhà tôi nhưng rồi lặng lẽ bỏ đi. Chắc là anh chàng nghi nhà tôi ‘‘ăn chạc’’mà quả có thế thật.

Câu chuyện sau cùng và cũng là điều hay nhất cho tôi là cô dinh dưỡng viên ngồi đàm luận với tôi suốt cả tiếng đồng hồ. Cô nói là bà bác sĩ Sylvie F. căn dặn cô ấy phải nói cặn kẽ cho tôi ăn uống phải đàng hoàng, đúng cách, đúng bệnh. Tóm tắt gần như tôi phải ăn chay trường !
- Lư do chính ông phải nhập viện không phải v́ bệnh ‘‘gút’’ mà v́ suy thận. Vậy trước hết là ông phải tránh ăn chất đạm, nhất là thịt đỏ và phải uống ít nhất 3 lít nước một ngày, nước suối tốt nhất rồi đến nước trái cây vắt chứ như Coca-Cola th́ tuyệt đối cấm. Trừ phi ông mong được lọc thận hay ghép thận ! Mà tuổi ông , người ta không ghép cho đâu. Ưu tiên dành cho người trẻ, c̣n làm việc, c̣n đóng thuế cho nhà nước.

Bệnh ‘‘gút’’ nguyên do tại lượng acide urique trong máu quá cao v́ thận phế thải không kịp. Thế nhưng acide urique ở đâu mà ra ? Do chất purines trong thực phẩm ta ăn vào biến hóa thành sản phẩm cuối cùng (end product) là acide urique. Purines có trong cả động vật lẫn thực vật, song điều lạ là acide urique từ purines động vật mới gây nhiều cơn ‘‘gút’’ hơn là từ thực vật. Cho nên măng tây, bắp cải rất nhiều purines nhưng ta không cần tránh nhiều. Trái lại thịt rừng, phá lấu, tôm cua, đồ biển rất là độc địa cần kiêng tối đa. Nói về đồ uống th́ bia là cấm kỵ chứ rượu mạnh, rượu chát không đến nỗi nào. Đặc biệt ít ai biết là nước trà độc hơn cà phê và tốt nhất là tisane.

Cô ta chỉ nói về suy thận và thống phong song tôi c̣n bị biết bao nhiêu chuyện ‘‘cao’’ nữa : Nào là áp huyết, nào là cholestérol, nào là glucose … khiến tôi phải kiêng đủ mọi thứ (thịt, muối, mỡ, đuờng, đồ biển) c̣n ǵ mà sống … cho ra sống nữa ! Cho nên trước khi ngă bệnh tôi chủ trương ăn cho sướng rồi chết nhưng chết đâu phải dễ. Chỉ một cơn ‘‘gút’’ cũng đủ làm ḿnh ngất ngư mà đâu có chết được.

Ra viện tôi đổi hẳn cách sống, kiêng cữ rất kỹ như nhà tu ăn chay trường và tuyệt đối một giọt Coca cũng không uống ! Để rồi xem sao ?
Đặng Ngọc Thuận
Đầu Xuân 2016
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 2 2016, 02:30 PM
Gửi vào: #14


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chín nén nhang cho gia đ́nh Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh, bút kư tháng Tư

Chẳng c̣n mấy chốc chúng ta lại đốt ḷ hương cũ 41 năm tháng Tư Đen và tưởng niệm những Người đă tuẫn tiết trong ngày tang tóc của đất nước Việt Nam .

Trung tá Đặng Sĩ Vinh Bộ Tư Lệnh CSQG
sau khi Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng đă
cùng vợ & 7 người con tự sát vào lúc 2 giờ ngày 30- 4 -1975 tại tư gia
Cuối tháng Tư năm nay, ba mươi năm sau ngày Sàig̣n sụp đổ. Đối với tôi, ở tuổi 11 vào năm 1975, tôi c̣n nhỏ. Xă hội quanh tôi cũng nhỏ: gia đ́nh, vài đứa bạn tiểu học, hàng quán quanh nhà, chợ Ông Tạ, nhà thờ An Lạc, nhà thờ Nam Thái, trường Bắc Hải… Vậy thôi! Thế nhưng cái xă hội nhỏ và đơn giản của tôi phải mang một dấu ấn sắc, nhọn, nhầy nhụa, dă man. Ba mươi năm sau “ngày ấy”, tôi viết lại câu chuyện này để một lần nh́n vào dấu sẹo trong tâm hồn ḿnh. Viết để lư giải về nó một cách b́nh tĩnh và trưởng thành hơn. Viết để nói với những người đă đem đến cho tôi kinh nghiệm kinh khủng đó. Nói chung, viết là lối giải tỏa tâm lư ẩn ức của người viết.

Ngày 30/4/1975, lời tuyên bố đầu hàng đă truyền đi. Lá cờ tai họa đă bay trên Dinh Độc Lập. Bố tôi từ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị về nhà. Mắt ông đỏ tia máu. Trước nhà tôi, những người lính cởi trần ngồi lề đường khóc. Họ chửi rủa rằng họ bị phản bội, bị bỏ rơi. Họ nói đến chuyện tự tử để không thẹn với hồn thiêng sông núi. Có cái ǵ đó khủng khiếp khi những người đàn ông khóc. Hàng xóm súm lại an ủi họ.

Trời chang chang nắng đổ. Súng ống quân phục đầy đường từ Ngă Tư Bẩy Hiền vào Lê Văn Duyệt. Tiếng súng do bọn thanh thiếu niên hoang loạn bắn từ vũ khí vương văi trên hè phố nổ rền suốt mấy giờ liền. Đến khoảng 2 giờ chiều chỉ c̣n lác đác tiếng súng ở xa. Nỗi hoang mang tiếp tục gia tăng khi người ta bắt đầu nh́n thấy những người lính miền Bắc đeo ba-lô, đi dép râu, mặt mũi lơ láo, lạ lẫm bắt đầu đi vào con đường hẻm. Bất th́nh ĺnh, trong cái oi bức, ngột ngạt của không gian, trong cái căng thẳng kinh hoàng của đầu óc, có những tiếng súng nhỏ vang lên trong một căn nhà.

Những tiếng súng ấy nhỏ và không vội vă như người ta bắn qua lại khi giao tranh. Những tiếng súng ấy b́nh tĩnh, cách nhau đều đặn. Chúng vang lên một cách chắc chắn, chắc chắn như quyết định của người nổ súng. Đó chính là tiếng súng mà Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh đă nổ để kết liễu mạng sống của cả gia đ́nh gồm vợ với bảy người con và chính bản thân ông.

Tôi nhớ, trước đó, khoảng cuối năm 1974, Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh bán căn nhà trong Cư Xá Sĩ Quan Bắc Hải và dọn về ngôi nhà nhỏ xinh cách nhà tôi khoảng mười căn. Ngôi nhà màu xanh lá cây, cổng gạch trắng, không có garage đậu xe, mang số 98/39 đường Phạm Hồng Thái, Gia Định, thuộc Ấp Ḥa B́nh, quận Tân B́nh. Đường hẻm lớn này thường được gọi là Hẻm Con Mắt, Khu Ông Tạ. Ngôi nhà nay là 98/39 Cách Mạng Tháng Tám, quận 5, Tân B́nh.
Trung Tá Vĩnh thường mang xe sang gởi tại sân nhà ông Năm Châu xế cửa. Đó cũng là nơi tôi nh́n thấy Trung Tá lần cuối khi ông c̣n sống.

Bà Trung Tá Vĩnh tên tục là Trần Ánh Nguyệt, chị kế của phu nhân lăo thi sĩ Hà Thượng Nhân. Ông bà từng làm chủ một nhà in. Ông tốt nghiệp khóa 3 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức năm 1953. Năm 1954, theo vận nước, ông bà Vĩnh vào Sài G̣n.
Ông bà có tất cả bảy người con. Người con cả, anh Đặng Trần Vinh, sinh năm 1948. Hai cô con gái út là một cặp sinh đôi, khoảng 15 tuổi vào năm 1975.
Trung Tá Vĩnh tùng sự tại Pḥng Nh́ Bộ Tổng Tham Mưu và sang làm việc tại Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia từ cuối thập niên 1960. Theo thi lăo Hà Thượng Nhân, ông Vĩnh là người rất hiền từ. Một số quí vị đă có dịp làm việc với ông Vĩnh cũng đồng ư như vậy. Theo các vị này, ông Vĩnh không hề cau có, căi cọ với ai bao giờ. Ông điềm tĩnh và nhân hậu.
Trong kư ức tuổi thơ của tôi, ông Vĩnh lúc ấy 56 tuổi mà c̣n phong độ. Gặp bố tôi, ông trao đổi một vài câu chuyện với giọng thật hiền ḥa, thân thiện. Anh Vinh, con ông lúc ấy 27 tuổi. Hai cô em gái sinh đôi của anh thường đùa nghịch cười rúc rích. Họ đồng tuổi với chị Trang của tôi. Da trắng, tóc dài, đen nhánh, buộc bằng nơ đỏ và xanh dương.

Âm thanh và h́nh ảnh của gia đ́nh Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh, nếu chỉ có thể trong tôi, đă không trở thành kư ức kinh hoàng. Kư ức đó chỉ một thời gian ngắn sau, đă bằng những tiếng súng chuyển thành kinh hoàng.

Bố tôi nói buổi trưa ngày 30/4/1975, khi nghe tiếng súng: “Chắc bác Vĩnh tự tử rồi!”. Mắt ông vẫn đỏ tia máu. Tôi dư biết ông có khẩu súng lục và một trái lưu đạn trong ngăn kéo trên lầu. Bố tôi không nói ǵ nữa. Ông ngồi đó mà không ăn trưa, hai mắt lừ lừ.
Tôi không tin lời bố tôi nói. Một đứa 11 tuổi chưa đủ khả năng để lượng định những áp lực tinh thần đang đè nặng trên vai kẻ sĩ trong lúc đất nước rơi vào tay giặc. Thật sự, dù có tin, tôi cũng không nghĩ đến cái chết của người khác vào lúc đó. Nhưng tôi sợ cái chết của bác Vĩnh và cả nhà sẽ khiến bố tôi quyết định cùng gia đ́nh chọn cái chết hơn là sống với chế độ (Không dùng từ này).
Mẹ tôi lo ngại, lén lấy súng lục và lựu đạn của bố gói trong bao vải ném xuống kinh Nhiêu Lộc. Mẹ tôi chỉ nói ngắn gọn với bố: “Anh muốn làm ǵ cũng phải bàn với cả nhà, nhất là với mẹ, người sinh ra anh trên đời này”. Bà tôi thấy vậy cũng sợ, bắt chúng tôi bốn đứa âm thầm thay phiên nhau canh chừng bố. May thay sau đó bố tôi đă thoát được những ám ảnh từ gia đ́nh bác Vĩnh.
Những tiếng súng trong căn nhà Trung Tá Vĩnh vang lên như vậy rồi lặng đi. Măi đến ngày hôm sau, hàng xóm mới phá cửa vào nhà. Tôi chạy theo, hối hả chen vào, để rồi chết lặng khi thấy ḿnh đứng cách những xác chết không đầy một thước. Bố tôi nói không sai. Gia đ́nh bác Vĩnh tự tử thật. Ngoài pḥng khách, bác treo bộ quân phục đại lễ oai nghi. Nơi trong pḥng, quạt máy trên trần vẫn chạy. Những tấm nệm lấy từ trên lầu xuống được xếp ngay ngắn. Xác của bảy người con bác Vĩnh cũng ngay ngắn. Họ nằm cạnh nhau trên nệm, đầu quay ra cửa. Anh Vinh lớn nhất nằm phía ngoài cùng, bên phải. Hai cô gái sinh đôi nằm ngoài cùng bên trái. Bác Vĩnh gái nằm quay ngang dưới chân các con. Mỗi người có một vết đạn duy nhất ở thái dương. Những vũng máu đông đặc. Bác Vĩnh trai nằm trong tư thế như không được ai sắp xếp cho.

Từ nơi tôi đứng có thể nh́n thấy bàn ăn. Thức ăn c̣n đầy trong đĩa, trong bát. Những ly nước trên bàn c̣n một nửa. Mỗi ly đều có một lớp đầy cặn màu trắng. Bác Vĩnh có để lại một lá thư cho ông Đặng Sĩ Toản, anh trai của bác. Trong một lá thư ngắn khác, bác có lời xin lỗi hàng xóm v́ quyết định của gia đ́nh bác có thể làm phiền ḷng họ. Bác c̣n xin họ giúp báo tin cho thân nhân của bác để lo chôn cất. Bác cho biết bác c̣n một ít tiền để trong ngăn kéo.

Ngay buổi tối hôm bác Vĩnh cùng gia đ́nh ra đi, bọn du thủ du thực trong ấp đă cạy cửa vào lục lọi khắp trong nhà bác và lấy hết tiền bạc cùng những ǵ chúng t́m thấy trước khi thân nhân đến nơi.
Hàng xóm đă làm theo lời bác yêu cầu. Họ báo với ông Đặng Sĩ Toản. Ông Toản báo với bà Hà Thượng Nhân. Chính bà Hà Thượng Nhân đă cùng chị là bà Chấn, chị dâu là bà Tâm, em gái là bà Viên, làm tang lễ vội vàng tiễn đưa gia đ́nh bác Vĩnh ra nghĩa trang Chí Ḥa ngày hôm sau.

Quanh xóm tôi, người ta đoán gia đ́nh bác Vĩnh đă uống thuốc ngủ hoặc một chất độc v́ nh́n thấy nhiều cặn màu trắng trong những ly nước. Người ta đoán bác Vĩnh là người cuối cùng ra khỏi cuộc đời v́ xác bác nằm không ngay ngắn.

C̣n tôi, tôi lạnh người trong nhiều năm mường tượng về giây phút cuối cùng của gia đ́nh bác Vĩnh. Tôi thắc mắc đủ điều. Ai là người xướng ra đề nghị cả gia đ́nh cùng tuẫn tiết? Tôi cứ cho rằng chỉ có thể là bác Vĩnh hay anh Vinh. Nhưng bác Vĩnh hay anh Vinh? Người hiền như bác Vĩnh sao đi đến quyết định như vậy? Bác Vĩnh hay anh Vinh có bàn thảo với bác Vĩnh gái trước không? Có nói ǵ với những người c̣n lại trong gia đ́nh không? Nói thế nào? Nếu có nói, làm sao có thể thuyết phục người khác cùng chết với ḿnh? Thuyết phục bằng nỗi sợ (Không dùng từ này)? Thuyết phục bằng t́nh gia đ́nh sống chết có nhau? Thuyết phục bằng lư tưởng không đội trời chung với (Không dùng từ này)? Nếu bác Vĩnh là người ra đi cuối cùng, bác nghĩ ǵ vào giây phút ấy?

Sau này, người ta lấy nhà bác Vĩnh làm hợp tác xă, rồi phường đội, v.v… Những ai ngủ tại đó không bao giờ dám tắt đèn. Tôi nghĩ bác Vĩnh hiền thế, dọa họ làm chi. Tôi lại ước bác Vĩnh hay các anh chị con bác trở lại thế gian này khóc lóc như những vong hồn thác oan. Với riêng tôi, nếu có thể, h́nh ảnh gia đ́nh bác không ám ảnh tôi. Th́ ít nhất họ cũng thường t́nh: chết mà không muốn chết nên hiện về phá phách. Nhưng không, chẳng có ai hiện về. Chín thành viên gia đ́nh bác Vĩnh tự tử mà như bằng ḷng với chọn lựa của ḿnh. Họ chết cái chết can đảm và chính trực.

Nhưng tại sao người chính trực phải chết thảm cả gia đ́nh? Tiếng súng của gia đ́nh bác Vĩnh từ đó cho tôi cái nh́n trần tục hơn về xă hội chung quanh. Lư giải về người hiền người ác không chỉ có trong cổ tích trời giúp kẻ hiền lương. Nếu trời luôn giúp kẻ hiền, sao cả gia đ́nh bác Vĩnh chỉ c̣n một đường chết? Niềm tin của tôi không có chỗ dựa vững chăi: Thượng Đế tạo ra con gà, con thỏ xinh xinh, rồi lại tạo ra con cọp, con cáo làm ǵ? Tôi xét đoán về người đối diện một cách dè dặt hơn, bởi có ai đoán nổi quyết định của bác Vĩnh? Bác Vĩnh hiền c̣n dám thế, người hung hăn sẽ bán cả trời khi uất hận!

Tôi gơ cửa nhà ông bà Hà Thượng Nhân t́m một giải tỏa cho nỗi ám ảnh của ḿnh. Tôi viết như viết tâm sự của ḿnh khi kể lại chuyện thương tâm của gia đ́nh Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh. H́nh ảnh anh Vinh và hai chị sinh đôi cùng bốn anh chị em c̣n lại mặt trắng bệch, mắt nhắm nghiền, máu chảy thành vũng từ thái dương, tóc bay lơ thơ dưới quạt trần, từ nay xin là những đau thương của quá khứ. Chính từ những đau thương ấy, xin cho hiện tại được chăm chút trân trọng hơn. Xin cho tương lai được coi là quan trọng hơn hết khi kính mến những hy sinh, khổ sầu của người đă chết v́ vận nước.

Xin thắp một nén nhang cho mỗi người trong gia đ́nh trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh. Xin gửi lời người đă khuất cầu nguyện cho đất nước, và cho chính tôi được nhẹ nhàng.

Hà Nhân
(Bút kư của Nguyễn Hà Tường Anh)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 27 2016, 04:12 AM
Gửi vào: #15


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Tâm sự của một Bác sĩ trẻ triệu phú khi sắp từ giă cuộc đời


Dù bạn bao nhiêu tuổi, dù bạn làm nghề ǵ cũng nên đọc bài này.

Đây là lời tâm sự của một bác sĩ Triệu phú ngành phẫu thuật thẩm mỹ. Bạn sẽ thay đổi khi đọc những ḍng chữ này. Quỹ thời gian không c̣n là bao mà.
Bác sĩ Richard Teo Keng Siang, 40 tuổi, triệu phú ngành giải phẫu thẩm mỹ ở Singapore, phát hiện bị ung thư phổi giai đoạn cuối khi ở đỉnh cao nhất của tiền tài, danh vọng.

Từ nhỏ, bác sĩ Richard Teo luôn đứng đầu trường trong mọi môn học, từ khoa học đến thể thao. Khi vào ngành y, ông chọn giải phẫu thẩm mỹ v́ lợi nhuận của nó vượt qua các ngành nghề khác. Ông trở thành một triệu phú chóng vánh.

Tháng 3/2011, bác sĩ Richard Teo được chẩn đoán bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Ông qua đời cuối năm 2012. Câu chuyện cảm động và những lời chia sẻ của ông trước khi mất vài ngày đă và đang được thanh niên khắp nơi theo dơi, lan truyền trên các trang mạng xă hội, được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Dưới đây là trích đoạn những tâm sự của bác sĩ Richard Teo về tiền tài, danh vọng, hưởng thụ… với sinh viên tại khóa Nha khoa D1 ở Singapore, tháng 11/2011, 8 tháng sau khi bị chẩn đoán ung thư :

“Tôi lớn lên trong một gia đ́nh có mức sống dưới trung b́nh. Tôi học được từ mọi người xung quanh và môi trường sống rằng có thành công th́ mới hạnh phúc. Thành công có nghĩa là giàu có. Với suy nghĩ này, tôi luôn ganh đua ngay từ nhỏ.

Không chỉ học ở trường giỏi, tôi cần thành công trong mọi lĩnh vực, từ các hoạt động tập thể đến chạy đua. Tôi cần đoạt được cúp, phải được giải cao nhất. Tôi vào trường y và trở thành bác sĩ. Chắc một số em biết rằng trong ngành y, phẫu thuật mắt là một trong những chuyên khoa khó vào nhất. Tôi đă vào được và đạt học bổng nghiên cứu của ĐH quốc gia Singapore.

Trong khi nghiên cứu, tôi có hai bằng phát minh, một về dụng cụ y khoa và một về tia lasers. Nhưng tất cả thành tựu này không mang lại cho tôi sự giàu có. Sau khi học hoàn tất, tôi thấy theo đuổi ngành phẫu thuật mắt mất quá nhiều thời gian trong khi ra ngoài làm tư kiếm được nhiều tiền hơn. Tôi quyết định bỏ ngành phẫu thuật mắt giữa chừng và nhảy qua mở trung tâm giải phẫu thẩm mỹ trong tỉnh.

Một người có thể không vui vẻ khi trả 20 USD cho một bác sĩ tổng quát nhưng không ngần ngại trả 10.000 USD để hút mỡ bụng, 15.000 USD sửa ngực… Do vậy, thay v́ chữa bệnh, tôi quyết định trở thành người sửa sắc đẹp.

Công việc làm ăn rất khấm khá. Bệnh nhân đến rất đông. Tôi mướn một, hai, ba rồi bốn bác sĩ. Chỉ trong ṿng năm thứ nhất, chúng tôi đă lên hàng triệu phú. Nhưng chẳng thể nào là đủ v́ tôi trở nên mê muội. Tôi bắt đầu bành trướng sang thị trường Indonesia để làm phẫu thuật cho những người giàu ở đó. Họ phung phí tiền bạc một cách dễ dàng. Làm tiền ở đó quá dễ…

Tôi làm ǵ với mớ tiền dư thừa? Cuối tuần tôi tiêu khiển ra sao? Thông thường tôi đến tụ tập tại câu lạc bộ đua xe hơi. Thỉnh thoảng tôi dự đua xe ở Sepang, Malaysia. Tôi mua một chiếc Ferrari 430. Sau khi có xe, tôi mua nhà, khu nghỉ mát. Tôi nghĩ phải ḥa nhập với những người giàu có, nổi tiếng và bắt đầu giao tiếp với mỹ nhân, người giàu sang và danh tiếng, như hoa hậu thế giới hay người sáng lập mạng Internet, ăn uống ở mọi nhà hàng kể cả nhà hàng nổi tiếng của đầu bếp Michelin.

Tôi đă có được mọi thứ trong cuộc sống, đến tột đỉnh của sự nghiệp. Đó là tôi của một năm trước đây. Khoảng tháng 3 năm ngoái, đột nhiên tôi bị đau lưng. Tôi nghĩ chắc tại ḿnh hay vận động mạnh. Tôi đến Bệnh viện đa khoa Singapore và nhờ bạn học chụp cộng hưởng từ để xem có phải bị trật đốt sống hay không. Rồi tôi thực hiện PET scans và được phát hiện đang ở giai đoạn 4 của ung thư phổi. Tôi được cho biết, ngay cả với hóa trị, tôi cũng chỉ c̣n được 3-4 tháng tối đa. Tôi chán nản, tuyệt vọng.

Điều mâu thuẫn là mọi thứ tôi có – sự thành công, cúp thưởng, xe cộ, nhà cửa – tất cả những thứ tôi nghĩ mang hạnh phúc – khi tôi xuống tinh thần, tuyệt vọng, không mang đến cho tôi niềm vui. Tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari ngủ. Chúng không mang lại một sự an ủi nào trong những tháng cuối cùng của cuộc đời tôi. Điều thật sự mang lại cho tôi niềm vui trong mười tháng cuối cùng là tiếp xúc với người thân, bạn bè, những người chân thành chăm sóc tôi, cười và khóc cùng tôi. Họ có thể nh́n thấy sự đau đớn, chịu đựng mà tôi phải trải qua.

Để tôi chia sẻ với các em một câu chuyện khác. Khi tôi bằng tuổi các em, tôi ở khu King Edward VII. Tôi có một người bạn khá lạ lùng tên là Jennifer. Khi chúng tôi đi bộ, nếu thấy một con ốc sên trên đường, cô ta sẽ nhặt nó lên và đặt lại trong thảm cỏ. Tôi thắc mắc tại sao phải làm thế, sao phải bẩn tay chỉ v́ một con ốc sên? Sự thật là cô ta đă cảm được rằng con ốc có thể bị đạp nát chết nếu nằm đó. Đối với tôi, nếu không tránh đường th́ đáng bị đạp nát, chỉ là luật tự nhiên thôi. Đối ngược nhau quá, phải không?

Tôi được huấn luyện thành bác sĩ để có từ tâm, đồng cảm nhưng tôi không có. Là một bác sĩ trực trong bệnh viện chuyên trị ung thư NUH (National University Hospital), tôi từng chứng kiến bao nhiêu người chết. Tôi đă thấy họ đau đớn và chịu sự tàn phá của cơ thể v́ cơn đau. Tôi cũng đă chứng kiến bệnh nhân nhấn nút morphine tiêm vào máu từng giờ từng phút v́ không chịu nổi sự đau đớn dày ṿ. Nhiều bệnh nhân phải dùng oxygene để thở hơi thở cuối cùng. Nhưng đó là công việc. Khi xong việc tôi chỉ muốn chạy ngay về nhà v́ nghĩ là đă hoàn tất công việc hằng ngày.

Tôi thực sự không hiểu họ đau đớn như thế nào cho đến khi tôi là bệnh nhân. Nếu được làm lại từ đầu với cương vị một bác sĩ, tôi sẽ đổi khác. V́ tôi đă trải qua cơn đau đớn mà bệnh nhân vấp phải nên tôi rất hiểu họ chịu đựng sự dày ṿ của đau đớn như thế nào.

Ngay khi các em vào năm thứ nhất, bắt đầu hành tŕnh để trở thành nha sĩ giải phẫu, cho phép tôi thử thách các em hai điều.

Hiển nhiên, tất cả các em ở đây sẽ bắt đầu đi làm tư. Các em sẽ thành giàu có. Tôi bảo đảm với các em rằng, chỉ trồng răng, các em kiếm được bạc ngàn, mớ tiền không tưởng được. Và thật ra, không có ǵ sai trái với thành công, giàu có. Điều phiền toái duy nhất là nhiều người chúng ta, như bản thân tôi, không thể kiềm chế được.

Tại sao tôi nói như vậy? Bởi v́ càng tích tụ, càng có nhiều, tôi lại muốn nhiều hơn. Càng ham muốn, tôi càng trở nên mê muội. Tôi trở nên mê muội đến nỗi chẳng c̣n việc ǵ thành vấn đề đối với tôi nữa. Bệnh nhân chỉ là một nguồn lợi tức và tôi vắt cạn từng xu từ họ.

Nhiều khi chúng ta quên mất ḿnh cần phục vụ ai. Chúng ta lầm lạc đến nỗi chẳng phục vụ ai ngoài chính ḿnh. Điều đó đă xảy ra với tôi. Trong khi khám bệnh, đôi khi chúng ta khuyên bệnh nhân chữa trị bệnh không hẳn có, không rơ rệt và ngay cả khi không cần thiết.

Ngay tại thời điểm này, tôi biết ai là bạn tôi, chân thành lo lắng cho tôi và ai chỉ muốn làm tiền tôi bằng cách bán buôn “hy vọng” cho tôi. Chúng ta đánh mất lương tâm v́ chúng ta chỉ muốn kiếm tiền.

Tệ hại hơn, tôi có thể kể cho các em nghe, vài năm vừa qua, chúng tôi đă nói xấu đồng nghiệp, hạ thấp họ xuống để nâng ḿnh lên. Điều đó đang xảy ra trong ngành y và ở mọi nơi. Tôi thử thách các em không để đánh mất lương tâm ḿnh. Tôi trả giá đắt cho bài học này. Và tôi hy vọng các em sẽ không bao giờ phải như vậy.

Thứ hai là đa số chúng ta khi bắt đầu công việc đều chưa có “cảm giác” đối với bệnh nhân. Cho dù trong bệnh viện hay nhà thương tư cũng có vô số bệnh nhân để chữa trị. Tôi chỉ muốn bệnh nhân rời pḥng làm việc của tôi càng sớm càng tốt. Đó là sự thật và trở thành một công việc b́nh thường hằng ngày.

Tôi đă thực sự hiểu bệnh nhân nghĩ về ḿnh thế nào chăng? Thực ra là không. Nỗi lo sợ và lo âu của bệnh nhân và những thứ khác mà họ đă trải qua. Thực ra tôi cũng không biết đến khi tôi lâm trọng bệnh và đó là một sai lầm to nhất của hệ thống y khoa tân tiến. Chúng ta được huấn luyện để trở thành những chuyên gia y cũng như nha khoa nhưng chúng ta lại không hiểu bệnh nhân cảm nhận chúng ta như thế nào.

Tôi không đ̣i hỏi các em phải xúc động, v́ như vậy cũng không chuyên nghiệp, mà chỉ hỏi chúng ta có thật sự cố gắng t́m hiểu nỗi đau đớn của họ không? Phần lớn là không, tôi có thể chắc chắn như vây. Do đó, tôi thử thách các em luôn đặt ḿnh vào cương vị của bệnh nhân.

Bởi v́ sự đau đớn, nỗi lo lắng, sợ hăi rất thực với họ mặc dù không thực đối với các em. Ngay hiện giờ, tôi đang chữa hóa trị lần thứ 5. Tôi có thể cho các em biết nó rất kinh khủng. Hóa trị là thứ các em không muốn ngay cả kẻ thù của ḿnh phải trải qua v́ bị hành, đau đớn, ói mửa. Cảm giác khủng khiếp.

Và bây giờ, với chút năng lực c̣n lại, tôi t́m đến các bệnh nhân ung thư khác v́ tôi thật sự hiểu được họ đau đớn, chịu đựng như thế nào. Hơi muộn màng và ít ỏi.

Các em có cả tương lai sáng lạn phía trước với tất cả tài năng và nhiệt huyết. Tôi thử thách các em, ngoài bệnh nhân của ḿnh, hiểu thêm rằng có nhiều người ngoài kia đang thật sự đau đớn, thật sự khó khăn, đừng nghĩ rằng chỉ có người nghèo mới phải khổ.

Điều này không đúng. Những người nghèo khó vốn sẵn không có ǵ, họ dễ dàng chấp nhận. Do đó, họ hạnh phúc hơn các em và tôi. Nhưng có nhiều người đang đau khổ về tâm thần, thể xác, t́nh cảm, vật chất… Chúng ta lựa chọn làm lơ hoặc chúng ta không muốn biết đến sự hiện hữu của họ.

Do đó đừng quên, khi các em được thành danh, hăy với tay đến những người cần sự giúp đỡ. Bất cứ việc ǵ các em làm đều có thể mang đến sự khác biệt lớn cho họ. Bây giờ tôi ở vị trí của người tiếp nhận, tôi hiểu rơ, thấy khác khi có người thật sự chăm lo, khuyến khích ḿnh. Nhờ vậy mà tôi vẫn có thể nói chuyện với các em hôm nay.

Mọi người đều biết rằng sẽ có ngày phải chết, chúng ta ai cũng biết như vậy. Nhưng sự thật, không ai tin, v́ nếu tin chúng ta đă sống một cách khác. Khi tôi phải đối diện với cái chết, tôi lột bỏ mọi thứ, chỉ tập trung vào thứ thiết yếu. Thật trái ngược rằng, chỉ khi sắp chết th́ ḿnh mới biết nên sống như thế nào. Tôi biết điều này nghe qua thật mơ hồ, nhưng đó là sự thật và tôi đang trải qua.

Đừng để xă hội bảo ban các em cách sống. Đừng để môi trường bắt các em phải làm ǵ. Điều này đă xảy ra cho tôi. Tôi tưởng như vậy là hạnh phúc. Tôi hy vọng các em suy nghĩ lại và sẽ tự quyết định cuộc sống của chính các em. Không phải do người khác bảo ban mà là các em quyết định, sống cho ḿnh hay mang đến sự tốt đẹp cho đời sống của người khác.

Hạnh phúc thật sự không có được khi chỉ sống cho ḿnh.
Sự thật không như tôi đă tưởng.
Tôi xin tóm lược, trong cuộc sống, chúng ta biết sắp xếp thứ tự trước sau càng sớm, càng tốt. Đừng giống như tôi. Tôi không c̣n cách nào khác và đă phải trả giá đắt cho bài học…”.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 28 2016, 09:41 AM
Gửi vào: #16


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Nồi Chè Của Ông Tướng.

Tác giả: Khôi An

Năm nay, Fathers Day của nước Mỹ là 19 tháng 6, trùng với Ngày Quân Lực VNCH trước 1975, xin mời đọc bài mới của Khôi An, chuyện ông Tướng mà cũng là chuyện Người Cha. Tác giả từng phải rời bố mẹ vượt biển năm 1983 khi c̣n tuổi học tṛ và là một kỹ sư có hơn hai mươi năm làm việc cho Intel tại tại miền Bắc California. Dự Viết Về Nước Mỹ từ 2008, cô đă nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2013. Sang năm 2015, thêm giải Việt Bút Trùng Quang, dành cho những nỗ lực bảo vệ, phát huy văn hóa Việt trên đất Mỹ.

Không hiểu chị tôi đă nghe tin về ông bằng cách nào.

Thời đó, đầu thập niên tám mươi, mọi phương tiện truyền thông đều thuộc về nhà nước (Không dùng từ này), quanh năm suốt tháng báo chỉ đăng tin “nước ta đang trong thời kỳ quá độ…” Kiểu dùng chữ như vậy mọi người phải chịu đựng măi nên đỡ thấy quái đản. Người đọc cứ tự điền vào chỗ trống thành “nghèo quá độ”, “đói quá độ” hay “láo quá độ”… tùy theo câu.

Vậy mà, một buổi tối, đột nhiên chị tôi nói “Em có biết Tướng Lê Minh Đảo không? Ông tướng đánh trận Xuân Lộc đó. Nghe nói ổng mới chết trong tù rồi! Tội quá, ổng c̣n trẻ lắm!”

Trước ngày miền Nam thất thủ tôi không biết ông Lê Minh Đảo. Sau đó, tôi có nghe loáng thoáng người lớn rỉ tai nhau về trận đánh ác liệt bảo vệ ngơ vào Sài G̣n trong những ngày đầu tháng Tư, 1975 tại Xuân Lộc. Tôi cảm phục những người chiến đấu đến cùng, nhưng điều đó sớm ch́m vào những hỗn độn của cuộc đổi đời. Vả lại tôi c̣n nhỏ quá, chẳng biết nghĩ ǵ hơn.

Cũng như thế, tối hôm đó, sau khi nghe chị tôi nói, chúng tôi chỉ biết nh́n nhau trong niềm xót thương lặng lẽ.

Một thời gian sau, tôi lại nghe một người bạn nói “Ông Lê Minh Đảo c̣n sống. Ổng chỉ bị mù thôi.”

Ở trong tù mà bị mù th́ chắc c̣n khổ hơn chết. Tôi thở dài – trẻ con Việt Nam sớm biết thở dài – rồi thầm đọc một lời cầu nguyện. Cho ông và những người tù chính trị đang bị đọa đày.
*

Đến năm 1993, khi đang ở Mỹ, nghe tin Tướng Lê đă sang theo diện HO và mắt vẫn sáng, tôi ngạc nhiên và vui lắm. Mừng cho ông cuối cùng cũng có những ngày b́nh an sau gần hai thập niên tù ngục.

Nhiều năm sau, khi internet cung cấp mọi tin tức mà ngày trước không dễ kiếm, tôi đă lên mạng t́m xem mặt Tướng Lê và nghe ông nói. Tôi muốn biết về ông. Không phải qua những lời kể, mà bằng cảm nhận của chính tôi.

Và tôi đă gặp được đoạn phim buổi nói chuyện của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo với Việt Dzũng. Buổi phỏng vấn khá dài nhưng tôi nhớ nhất là khi ông nói về sự hy sinh của người lính. Giọng ông hơi lạc đi khi nhắc đến t́nh bạn của hai người lính trẻ và sự đơn sơ, không hận thù trước bờ sinh tử của họ.

Phút nghẹn ngào của Tướng Lê đă làm tôi bồi hồi. Tôi ngỡ tim ông đă cứng và nước mắt ông đă kiệt sau mấy chục năm ngang dọc trên chiến trường và mười bảy năm trong tù. Tôi ngỡ ông sẽ nói nhiều về những chiến công và những đóng góp của ông trong hai mươi năm ǵn giữ miền Nam. Nhưng ông nói về các điều khác, như cái chết của người lính trẻ và sự hy sinh của chiến binh. Hơn hai mươi năm đă qua, ông vẫn tự trách ḿnh, môi ông run run khi nói “…chúng tôi cũng không lo được cho họ một cách đầy đủ…” Có lẽ chưa bao giờ ông ngưng buồn về chuyện đó. Tài làm tướng của ông đă làm tôi phục. Nhưng vết thương mấy chục năm trong ḷng ông mà tôi vừa chứng kiến đă làm tôi quư mến ông.

Đầu tháng Tư, 2015 tôi viết lại chuyện của những sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ bốn mươi năm trước. Họ tụ tập tại một chung cư cũ kỹ ở Houston, khắc khoải nh́n về miền Nam đang vuột mất. Người sinh viên năm xưa cứ nhắc đi nhắc lại niềm hy vọng bùng lên khi đám người Việt trẻ theo dơi sự anh dũng của những chiến sĩ Xuân Lộc, dù bị dồn tới chân tường.

V́ thế, tôi t́m xem lại những khúc phim của tháng Tư xưa. Tôi thấy lại khói lửa điêu tàn. Tôi gặp lại các chiến sĩ anh hùng. Và Tướng Lê Minh Đảo, mắt nảy lửa, nghiến răng thề quyết chiến.

Rồi tôi giật ḿnh, nhận ra rằng những người trai dũng mănh ấy nay đă già, và tôi cũng đang già. Mai này khi chúng tôi ra đi, đàn con gốc Việt c̣n biết ǵ về quê cha đất tổ? Phải chăng điều đó tùy thuộc vào những ǵ chúng tôi làm hôm nay?

Thế hệ trẻ cần nghe những điều thật từ những người thật. Sẽ tốt biết bao nếu họ được gặp gỡ những nhân vật lịch sử như Tướng Lê Minh Đảo.

Thế là tôi lần ṃ đi t́m Tướng Lê.

Tôi không có mối quen biết xa gần nào với ông, cũng chẳng có chức tước ở bất cứ hội đoàn nào. Vậy mà tôi thấy chuyện mời ông đến vùng Thung Lũng Điện Tử thật tự nhiên, nhẹ nhàng. Có lẽ tôi linh cảm rằng vị tướng, người sau hơn hai mươi năm vẫn khóc cho lính, rất quan tâm tới lớp trẻ.

Sau hai tuần hỏi thăm nhiều người, cuối cùng tôi may mắn có được sự giúp đỡ tận t́nh của một người chị làm báo. Tôi được một cái hẹn nói chuyện với Tướng Lê. Mười giờ sáng, một ngày đầu tháng Tư, 2015.

Gần tới giờ hẹn, tôi thấy hơi hồi hộp. Thật t́nh tôi sẽ buồn chút thôi nếu Tướng Lê từ chối sang California nói chuyện. Nhưng tôi sẽ buồn nhiều nếu thực tế quá khác với những cảm nghĩ ở trong ḷng.
*

Ông đến San Jose chiều 27 tháng Tư, 2015 trên chuyến bay từ Arizona. Từ xa, tôi thấy ông trong chiếc áo sơ mi kiểu Hawaii màu vàng nhạt có hoa xám, đang dáo dác nh́n quanh.

“Thưa Bác! Con là Kh.A.”

Ông cười. Chúng tôi bắt tay nhau. Giản dị như đă quen từ trước.

Ông cho biết đă lên máy bay ngay sau khi dự buổi lễ kỷ niệm bốn mươi năm miền Nam bị cưỡng chiếm với cộng đồng Việt-Mỹ ở Pheonix, Arizona. Tôi hỏi ông có mệt không, ông nói “Không sao đâu. Bác giờ như một kho sách cũ, chỉ lo không đủ giờđể trao lại kiến thức cho những người đi sau…”

Tối hôm đó, chúng tôi mời ông ghé chơi nhà một người bạn. Khi bước vào nhà, trên salon có một cây đàn guitar kiểu mới, chỉ có khung sắt mà không có thùng đàn. Tôi thấy mắt ông ngời lên một sự thích thú gần như trẻ thơ. Ông bước nhanh tới, nâng cây đàn lạ mắt, vuốt nhẹ lên những sợi dây.

Khi chúng tôi mời ông đánh một bài, ông x̣e bàn tay ra nh́n, cười nhẹ rồi nói:

- Ở tù bị thương, hư tay rồi. Giờ lại già nữa, đánh kém lắm.

Chúng tôi không nài ép, chỉ lẳng lặng nh́n ông vừa nói chuyện vừa lơ đăng lướt tay trên cần đàn. Một lúc sau, như hứng khởi, ông hát

“Trùng dương dâng sóng, biển khơi như thét gào. Cuốn đi cánh hoa đào dạt trôi nơi nao… “

Bài hát đó ông sáng tác trong tù, ngày nghe tin người bạn cùng trại mất hết vợ con trên đường vượt biển.
“C̣n sống tôi c̣n khóc, tôi c̣n thương quê hương tôi …”(*)

Giọng ông nhẹ và buồn. Tôi nghe, và nghĩ rằng ông đang nói những điều tận đáy ḷng.
*

Sáng 29 tháng Tư, Tướng Lê bắt tay vào chuẩn bị cho buổi nói chuyện ngay sau ly cà phê sớm. Ông sắp xếp ư nghĩ, soạn phần trả lời cho các câu hỏi các sinh viên đă gởi đến, và ghi xuống một loạt các quyển sách nói về chiến tranh Việt Nam để giới thiệu đến các sinh viên.

Măi tới giờ ăn trưa tôi mới có dịp nói chuyện với ông. V́ có quá nhiều điều muốn hỏi, tôi buột miệng:

- Bác ơi, có bao giờ Bác hối hận đă làm cho các con Bác kẹt lại với (Không dùng từ này) sau ngày mất miền Nam không? Các con Bác có bao giờ trách Bác không?

Nói xong, tôi hơi bối rối v́ đă hỏi một câu khá nặng nề trong lúc ông đang nghỉ ngơi. Nhưng ông trả lời ngay:

- Đó là một quyết định rất đau ḷng, nhưng Bác chưa bao giờ hối hận. Bác ra lệnh cho anh em binh sĩ quyết đánh, gia đ́nh của họ đều ở lại, có lẽ nào Bác lo cho con Bác ra đi? Bác có thể thu xếp cho gia đ́nh ḿnh, nhưng làm sao thu xếp được cho mọi gia đ́nh của những người đang tin vào Bác? Nếu Bác cho vợ con đi trước, lính của Bác biết là giờ chót Bác có thể lên máy bay đi bất cứ lúc nào. Như vậy họ c̣n tin tưởng để đánh hay không? Như vậy Bác có công bằng với họ hay không? Bác chấp nhận định mệnh của Bác và gia đ́nh, nếu có phải chết th́ chết cùng nhau. Bác muốn đối xử công bằng để sau này con bác không phải xấu hổ với con em của những người từng nghe lời Bác mà liều chết. Bác muốn con bác sau này không phải nh́n Bác mà nghĩ ông già ḿnh ngày xưa từng gạt lính.

Trầm ngâm vài giây, rồi ông tiếp:

- Năm 1979, lúc Bác đang bị (Không dùng từ này) đày đọa, nghe tin gia đ́nh đi thoát hết sau năm lần vượt biên bị tù, Bác trút được gánh nặng khủng khiếp trong ḷng. Bác tạ ơn trời đă cho Bác ân huệ được lương tâm yên ổn, được trọn vẹn mọi bề. Từ đó, Bác không c̣n phải lo lắng, đau khổ cho số phận của vợ con trong nanh vuốt của kẻ thù nữa. Bác không sợ kẻ thù dùng các con thơ để khống chế ḿnh nữa. Bác được tự do.

C̣n các con Bác, tụi nó cũng hiểu và không trách Bác. Trong bốn năm kẹt lại, tụi nó đă học được rất nhiều. Những kinh nghiệm sống đó làm cho chúng biết thương người, biết khiêm nhường, biết quư những điều tưởng như là tầm thường. Các con của Bác có thể tự hào rằng ḿnh đă hiểu biết về (Không dùng từ này) và đă vượt thoát khỏi ngục tù của họ. Đó là một tài sản mà Bác nghĩ các con Bác nên hănh diện đă có được.

Tôi uống một ngụm trà, nuốt xuống cái nghèn nghẹn ở cổ. Tôi nghĩ, trước khi tử chiến ở Xuân Lộc, nếu ông lo cho gia đ́nh đi th́ đó cũng là chuyện thường t́nh. Không ai trách được ông. Nhưng Tướng Lê không phải là người làm những chuyện thường t́nh...

Thời vừa bị chiếm, mạng sống của người miền Nam rất nhỏ, thêm dịch bệnh hoành hành làm trẻ con chết rất nhiều. Nếu chỉ một trong chín người con ông có mệnh hệ nào, nỗi dằn vặt sẽ ám ảnh ông suốt đời. Nhưng Thượng Đế đă ǵn giữ gia đ́nh ông vẹn toàn. Cám ơn Thượng Đế, Tướng Lê cần và xứng đáng với ơn huệ của ngài.

Hôm sau, ngày 30 tháng 4, 2015, ông và người thông dịch miệt mài chuẩn bị cho buổi nói chuyện lúc 6 giờ chiều. Trưa đến, tôi nhắc ông đi ăn nhưng ông dùng dằng măi vẫn chưa đứng lên được. Thấy vậy tôi đành khuân về mấy ổ bánh ḿ thịt nguội. Ông gặm bánh ḿ, uống beer và cười nói vui vẻ, hài ḷng v́ buổi nói chuyện được chuẩn bị chu đáo.

Cuôc gặp gỡ với sinh viên diễn ra thành công và cảm động. Tướng Lê đă nhắn nhủ lớp trẻ bằng những điều ông đúc kết suốt nửa cuộc đời trong chiến tranh cộng với mười bảy năm trong tù ngục. Những chia sẻ của ông thiết tha, sâu sắc nhưng cũng rất thực tế, phù hợp với tâm hồn và đời sống của giới trẻ.

Buổi họp kết thúc khá trễ nên chúng tôi chỉ ghé tiệm kem ăn tráng miệng rồi về.

Măi đến đêm, tôi mới chợt nhận ra rằng bữa ăn “đàng hoàng” nhất của Tướng Lê ngày hôm đó là ổ bánh ḿ. V́ ông đă không đụng đến đĩa thức ăn do các em sinh viên mời lúc chiều, ông nói muốn tập trung để nói chuyện với các em.
*

“Con gián làm mồi câu tốt lắm, con à.”

Buổi chuyện tṛ của tôi và Tướng Lê ngày hôm sau bắt đầu bằng câu chuyện đời thường như thế. Ông kể thời ông ở Cần Thơ, ông thường bắt gián ở đằng sau một tiệm ăn ở gần nhà rồi đem ra bến Ninh Kiều câu cá.

Biết rằng lúc đó ông đă lên tới cấp Tá, tôi hỏi:

- Chắc Bác câu cá cho vui hả Bác?

- Câu cá về ăn chớ! Nhà Bác đông con, lương của Bác th́ khá so với lính, nhưng chẳng dư dả ǵ đâu, con. Lính ḿnh hồi đó cực lắm con à, một tháng lương mua được một tạ gạo. C̣n lương Bác cũng chỉ tạm đủ lo cho vợ con.

Hoàn cảnh lính và những hy sinh của gia đ́nh lính th́ không nói sao cho xiết, con à. Gần một triệu người đă chết và bị thương trong cuộc chiến, c̣n số người chịu mất mát sau lưng họ th́ không biết đếm bằng cách nào! Bác cứ nghĩ con người ta ai cũng bằng xương bằng thịt, nếu Bác chết trận, mười người trong gia đ́nh Bác đau đớn bao nhiêu th́ những cái chết trong gia đ́nh lính cũng đau bấy nhiêu. Hồi ở Chương Thiện, có một người lính đi phục kích, vợ con bị địch câu pháo trúng vô nhà, chết hết. Anh ta về, ngồi gục mặt trước đống gạch nát, Bác đứng đó mà chỉ biết đặt tay lên vai anh ta, không t́m được lời nào an ủi. Vậy mà hai bữa sau, anh ta trở lại đơn vị, tiếp tục đánh giặc…

Cái nhíu mày của ông làm tôi nghĩ ruột ông đang thắt lại, nên tôi chuyển qua đề tài khác:

- Thời Bác ở trong quân đội, di chuyển nhiều nơi, cả nhà đều đi theo hả Bác?

Nụ cười nhẹ làm những vết nhăn trên trán ông dăn ra.
- Ờ! Bác bận rộn quá nên đi đâu Bác cũng cố gắng đem gia đ́nh theo để được ở gần càng nhiều càng tốt. Khi nào có dịp nghỉ, Bác dắt vợ con đi chơi. Nhưng sau này, Bác ở đóng quân ở Long B́nh th́ tụi nhỏ đi học ở Sài G̣n, cuối tuần nếu Bác không đi hành quân th́ mới được gặp. Có một lần Bác dắt tụi nhỏ đi coi chiếu bóng về, tụi nó than đói bụng. Ở tỉnh lỵ đâu có hàng quán ban đêm, Bác lại không muốn sai lính nên tự nấu chè cho tụi nó ăn. Nấu nước sôi, đập vô một củ gừng, quậy đường cát, rồi xé bánh tráng bỏ vô. Bánh tráng mà ḿnh hay ăn đồ cuốn đó. Bánh tráng coi mặn mặn vậy mà nấu chè ngon lắm! Bữa nào con làm thử đi!

Ông vừa nói vừa gật đầu để thêm phần… thuyết phục. Tôi tṛn mắt nh́n ông. Chỉ là một kỷ niệm vui, không màu mè, bóng bẩy, nhưng ông làm tôi cảm động lẫn ngạc nhiên. Một vị Tư Lệnh tự nấu chè cho con ăn khuya? Nồi chè mà tôi không cần thử cũng biết là không thể ngon. Nhưng nó làm tôi thương người cha ở trong ông, và tự hào v́ quân lực VNCH đă có một vị chỉ huy như ông. Ôi, nồi chè của ông Tướng!

Càng nói chuyện với ông, tôi càng thấy ông rất “không thuờng t́nh”. Ông không dè dặt, thận trọng như thường thấy ở những người từng chứng kiến nhiều mưu mô, tráo trở. Ông không có cái trầm ngâm, chán chường của một người nếm quá nhiều đau thương. Ông nhiệt t́nh, hăng hái, và thật. Như thể cuộc đời ông chưa từng bị dập vùi, như thể ông c̣n rất trẻ và c̣n tin tưởng rất nhiều vào con người.

Và, ông hoàn toàn không có cái xa cách của người xem ḿnh là quan trọng. V́ thế, tôi đă hỏi ông một câu mà trước khi gặp ông tôi không nghĩ là ḿnh dám hỏi:

- Bác ơi, ngày 30 tháng Tư 1975, sau khi miền Nam thất thủ, Bác có bao giờ nghĩ đến chuyện tự sát hay không?

- Lúc đó, mỗi người có một quyết định riêng, không ai đúng ai sai. Riêng Bác, Bác không có ư định tự tử. Các con Bác đă mất quá nhiều, Bác không muốn chúng phải mất cha. Nếu bị giặc Cộng giết, Bác chấp nhận nhưng Bác không tự ḿnh làm điều đó với các con. Hơn nữa, Bác không có cái uất ức, đau khổ của một bại tướng v́ Bác chưa bao giờ nghĩ là ḿnh thua. Ḿnh chỉ tạm thời khó khăn v́ những thế lực quốc tế đẩy ḿnh tới đó, nhưng Bác muốn sống để xem mọi sự xoay vần tới đâu.
*

Nếu chỉ được dùng một từ để diễn tả Tướng Lê, tôi sẽ chọn “lăng mạn”.

Những quyết định cực kỳ cứng rắn, những hành động hết sức can đảm của ông đều bắt nguồn từ những t́nh cảm sâu xa. Chỉ có người rất lăng mạn mới đủ tin yêu để làm những điều phi thường như ông đă làm. Ông để vợ con cùng ở lại đương đầu với Cộng quân là v́ ông yêu sự “công bằng” mà ông đă nhắc đến mấy lần trong câu trả lời ngắn.Ông tử chiến v́ ông hết ḷng tin vào sứ mạng ǵn giữ miền Nam. Ông không sợ chết v́ ông không muốn phụ ḷng những người lính đă nằm xuống và những người lính đă dựa vào ông mà đứng lên từ những căn nhà cháy ra tro của họ.

Cống hiến của ông cho đời giống như những viên kim cương, tuyệt sáng và tuyệt cứng. Nhưng chúng đă được hun đúc từ phần lơi là những t́nh cảm tinh tuyền, và những giọt nước mắt. Sẽ không có kim cương nếu không có phần lơi đó.

Lịch sử Việt Nam có Tướng Phạm Ngũ Lăo gạt nước mắt, chia tay mẹ già đi đánh giặc. Có Tướng Trần Khánh Giư bỏ gánh than, từ giă đời ở ẩn để trở về cứu nước. Có biết bao chuyện nhờ dân gian ghi lại mà ngày nay chúng ta được biết.

Cho nên, tôi muốn ghi lại nồi chè bánh tráng của Tướng Lê Minh Đảo. Ghi lại lúc ông chấp nhận để các con ông cùng chung số phận với gia đ́nh lính. Ghi lại ḷng thương yêu và quư trọng vô bờ của ông với binh sĩ và vợ con của họ. Về lời ông nói, đùa mà rất thật “nếu trời cho sống đến hơn trăm tuổi, tôi vẫn muốn cống hiến thời giờ và sức lựccho Việt Nam tới phút cuối.”

Năm nay Tướng Lê đă tám mươi ba. Vinh, nhục, yêu, ghét, thăng hoa, đày đọa … ông đều đă trải. V́ thế, tôi viết bài này không phải cho ông. Mà để lưu lại vài mẩu chuyện về Ông Tướng Lăng Mạn cho mai sau. Để góp một chút tin yêu bởi v́ làm người Việt Nam rất buồn. Để cho chính tôi nhớ gương của Tướng Lê, lạc quan trong khó khăn và cố gắng làm những điều tốt đẹp nhất trong khả năng của ḿnh, hầu mong mai sau con cháu không phải ngần ngại nhận ḿnh là Việt.

Khôi An
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 30 2016, 01:03 AM
Gửi vào: #17


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Có ai c̣n nhớ cái… mọng dừa?
Sống Mới 26/06/2016

Đối với người dân được sinh ra ở miền Tây Nam Bộ, cây dừa đă gắn bó với cuộc sống lao động của người dân quê tự bao đời. Biết bao món ăn lấy nguyên liệu từ trái dừa ta được lan truyền giới thiệu đến khắp bạn bè trong và ngoài nước. C̣n đối với đám trẻ quê, cái mọng dừa (c̣n gọi là phổi dừa) đă gắn liền với biết bao kỷ niệm thân thương trên quê hương có tán dừa rợp bóng.
Không biết tự bao giờ, h́nh ảnh cây dừa đă ăn sâu vào trong tiềm thức đối với người b́nh dân miền Tây, dừa như một biểu trưng đặc biệt cho vùng đất và con người sinh sống ở nơi này. Thân dừa tuy không thể đóng đồ như nhiều loại gỗ quư khác nhưng có thể làm cột, làm kèo giúp người dựng nhà, dựng cửa. Lá dừa dùng để làm chổi quét nhà hay dùng để nhóm bếp, thổi lửa, nấu cơm. Trái dừa quê tuy mộc mạc nhưng thịt rất béo dùng làm nguyên liệu để chế biến thành những đặc sản đặc trưng của vùng quê miệt Cửu Long này.
Dừa lên tược càng cao th́ mọng dừa càng lớn
Ai đă từng đến miền Tây, chắc hẳn không thể nào quên được vị ngọt của nước dừa ta, uống vào mà nghe mát rượi tận đáy ḷng. Quả dừa c̣ có một bộ phận rất đặc biệt mà bất kỳ đứa trẻ nào sinh ra ở miền Tây cũng đều biết, đó là cái mọng dừa. Khi trái dừa khô nảy mầm (c̣n gọi là lên mọng) th́ bên trong sọ dừa có nổi lên một “u” tṛn chính giữa có màu trắng hơi vàng. Thỉnh thoảng, bọn “con nít” chúng tôi ra vườn để lục t́m trái dừa nằm khuất trong đám cây, kẹt lá rồi mang về nhờ mẹ bổ ra lấy mọng mà ăn. Mọng dừa xôm xốp, ngọt ngon kích thích vị giác người dùng nhất là đối với lũ trẻ chúng tôi.
Cái mọng dừa tṛn vo, ngon nhất là bằng quả trứng
Bất kỳ một trái dừa nào đến đúng thời điểm đều cho ra cái mọng nhỏ nhắn, xinh xinh. Thế nhưng, không phải lúc nào chúng tôi cũng được thưởng thức cái món quà đặc biệt mà trái dừa mang lại. Bởi, nếu dừa mới khô th́ sẽ được mang đi bán, c̣n dừa dành làm giống th́ lúc đó mọng dừa đă già đi và ăn sẽ mất ngon. Có chăng, đó là những trái dừa khô rụng xuống nơi kín đáo không được phát hiện, lâu ngày sẽ cho ra cái mọng tṛn to, lúc đó chúng tôi ra vườn nhặt dừa bổ đôi lấy cái mọng để dùng.
Mọng dừa có mùi vị ngọt lành, ăn hoài mà không biến chán
Nhớ lại những ngày đói kém, những khi rảnh rỗi, bọn “con nít” chúng tôi thường tụm năm tụm ba đi đến các vườn dừa để t́m dừa khô bổ ra lấy mọng mà ăn. Mọng dừa bổ đôi có màu trắng tinh bắt mắt, ăn vào nghe ngọt mát biết chừng nào! Mọng dừa là kết tinh của vị ngọt nước dừa xen lẫn với cái vị béo của cơm dừa nên ăn ngon hết ư, khó có thức quà nào có thể sánh kịp.
Thế rồi, dừa khô c̣n sót trong vườn cũng hết, chúng tôi bèn leo lên cây để hái dừa rồi giấu kỹ trong bụi cây hoặc chôn dừa xuống đất. Lâu lâu, lại đến những nơi ấy để lục lọi t́m lại những quả dừa “ăn trộm” rồi bổ mọng để ăn. Đă qua bao năm, tôi vẫn không sao quên được những lúc cùng chúng bạn ngồi dưới bóng dừa ăn mọng, tiếng cười nói xôn xao vang vang cả xóm.
Thời gian lặng lẽ trôi đi, cuộc sống cứ măi xoay vần, đôi khi con người ta quên bẵng đi những điều gọi là kỷ niệm. Tôi cũng vậy, lớn lên đi học, đi làm, những kư ức về quê hương vô t́nh trôi măi về quá khứ để giờ nhắc lại mà buồn đến nao ḷng. Nhớ lắm mùi vị ngọt mát, thanh tao của cái mọng dừa giữa những trưa hè đầy nắng. Giọng đùa lao xao của đám trẻ quê mà giờ chắc chỉ c̣n lại trong miền kư ức xa xôi, thăm thẳm.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 4 2016, 09:29 AM
Gửi vào: #18


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Xe không chạy trên sông sao gọi xe đ̣?

Có lần tôi hỏi nhà văn Sơn Nam khi gặp ông ở quán cà phê vỉa hè trước Nhà Văn hóa quận G̣ Vấp cách nay hai mươi năm. Trong chiếc áo sơ mi cụt tay, khuôn mặt ốm nhăn nheo màu bánh ít, mắt đăm chiêu sau cặp kiếng dày, ông thủng thỉnh trả lời theo kiến giải của ḿnh. Đồng bằng Nam bộ sông nước chằng chịt, ngày xưa phương tiện đi lại chủ yếu bằng đ̣ ghe, cho đến thập niên ba mươi, người Pháp thành lập vài hăng xe chở khách đi miền Tây. Thời ấy đường bộ chưa phát triển, xe đến bến khách phải chuyển tiếp bằng đ̣ ghe nên người ta gọi là xe đ̣ cho tiện.

Xe đ̣ lỡ Sài G̣n – Hốc Môn năm 1969
Nghe vậy thôi, sau này tôi t́m hiểu thêm chút ít, biết rằng người Bắc gọi xe đ̣ là xe khách hoặc xe ca, c̣n người Trung lại gọi xe đ̣ giống như người Nam. Một số người giải thích v́ hầu hết các chủ nhà xe đi miền Trung là người Sài G̣n nên “xe đ̣” trở thành phương ngữ chung cho tiện. Và rồi câu chuyện sôi nổi hơn khi nhà văn nhắc tới kỷ niệm thời học sinh trung học từng đi xe đ̣ từ Rạch Giá về Cần Thơ mà ông có nhắc lại trong tập “Hồi kư Sơn Nam”: “…Tiền xe từ Rạch Giá đến Cần Thơ là một đồng hai (120km) nhưng nhỏ tuổi như tôi chỉ tốn có 6 cắc. Tôi lên xe ngồi để người phụ xế sắp đặt chỗ ngồi cho gọn, khép nép, chung quanh xe là nhiều người rao hàng để hành khách ăn buổi sáng v́ buổi trưa mới đến bến Cần Thơ. Tôi c̣n nhỏ, ba tôi cho riêng tôi 2 cắc, rất tủi thân v́ trong khi ấy gia đ́nh khá giả dám trả 1 đồng hai (hai chỗ dành cho trẻ con rộng răi hơn) lại dành cho con một cái bánh bao to để ăn dọc đường. Xe khách bóp kèn inh ỏi, chạy ṿng quanh để t́m kiếm khách…”.

Xe đ̣ dài Thuận Hiệp đi Sài G̣n – Cà Mau
Nhưng điều thú vị nhất là ông kể hồi thời kỳ đầu xe đ̣ do người Pháp làm chủ toàn là loại xe nhỏ chở khách chừng hơn hai mươi người. Nhưng chỉ một thập niên sau, người Việt ḿnh giàu có tham gia mở công ty lập hăng, nhập cảng máy, khung gầm từ châu Âu châu Mỹ, đóng thùng thành xe đ̣ loại lớn chở hơn năm chục hành khách, cạnh tranh ác liệt trong giai đoạn đường bộ được mở rộng và phát triển ở các tỉnh miền Tây và Đông Nam Bộ. Giao thông kết nối khắp nơi, nhu cầu đi lại của người dân càng nhiều, tạo thành thời vàng son của xe đ̣. Chiến tranh Đông Dương nổ ra, Nhật vào chiếm miền Nam, xăng dầu khan hiếm, bị giám sát chặt chẽ, ngành xe đ̣ suy giảm, một số hăng xe hoạt động cầm chừng và phải thay đổi nhiên liệu cho xe hoạt động. Sơn Nam kể: “Xe ô tô chở khách phải dùng “ga”, hiểu là than củi tràm, bỏ vào cái thùng tṛn đặt bên hông xe phía sau. Trước khi cho xe nổ máy th́ quạt cho than tràm cháy, hơi ga ấy bị đốt, gây sức ép cho máy xe chạy, gọi “Autogène”, theo mô h́nh của Kỹ sư Thịnh Hưng Ngẫu chế tạo ở Sài G̣n”.

Xe đ̣ Sài G̣n đến Vĩnh Long năm 1970 đường sá c̣n trải đá
H́nh ảnh chiếc xe đ̣ nhỏ chạy bằng than đốt trong cái thùng phía sau xe được lặp lại từ năm 1975 đến 1985, chắc người Sài G̣n tuổi trung niên trở lên đều biết rơ. Tôi từng đi loại xe sử dụng nhiên liệu này, mỗi lần chui vào cửa xe phía sau là đều phải cẩn thận với cái thùng than cháy nóng được treo dính ở đuôi xe. Thường th́ người ta chỉ cải tiến xe đ̣ lỡ – tức là loại xe Renault cũ x́ từ giữa thập niên 50. Tuy giới lái xe gọi đó là xe đ̣ hỏa tiễn nhưng nó chạy chậm hơn xe chạy xăng hoặc dầu. Có lúc xe chạy ́ à ́ ạch khi than cháy không hết, lơ xe phải dùng thanh sắt mở ḷ đốt cời than. Hoặc thỉnh thoảng gặp đường vồng xóc, than văng ra khỏi cửa thông không khí, rớt xuống đường cháy đỏ rực. Vô phúc cho chiếc xe đạp nào chạy phía sau tránh không kịp, cán phải cháy lốp xe. Xe đ̣ hỏa tiễn chạy những đường ngắn như Sài G̣n – Long Khánh, Chợ Lớn – Cần Giuộc – G̣ Công, Sài G̣n – Long An, c̣n xe đ̣ dài vẫn chạy bằng xăng dầu, nhưng không c̣n nhiều như trước.

Trên mui phía đầu xe thường có thùng phuy nước dùng để làm nguội máy, kế tiếp là nơi chở hàng hóa, xe gắn máy, xe đạp cho khách buôn chuyến và khách đi tỉnh xa.

Xe đ̣ Sài G̣n – Tây Ninh năm 1965
Tôi c̣n nhớ măi lần đầu được đi xe lô về quê bên ngoại ở Càn Long, Trà Vinh. Năm đó tôi chín tuổi, đi cùng với người anh bà con. Xe lô có băi xe ở Bến Bạch Đằng và Bến Chương Dương. Băi xe lô hay nhiều băi bến xe đ̣ khác khắp nơi trong thành phố Sài G̣n-Chợ Lớn đều nằm hai dăy dọc theo đường phố. Pḥng vé là một cái quầy hay cái bàn gắn tấm biển to đề tên từng hăng xe, chạy lộ tŕnh nào. Riêng xe lô không cần bán vé, khách đến băi xe c̣n chỗ trống cứ lên, đủ người th́ bác tài chạy. Loại xe này gọi đúng tên là “Location”, sơn màu đen, kiểu xe ô tô chở chừng bảy tám người nhưng bác tài cố nhét thêm hành khách.

Xe lô chạy nhanh hơn xe đ̣ v́ không bắt khách dọc đường, không lên xuống hàng hóa cồng kềnh, lại có khi qua cầu tạm không cần bắt hành khách xuống cuốc bộ. Để gió lùa vào cho hỉ hả đám hành khách ngồi chật cứng như nêm, lại thêm giỏ xách túi bị, va li lỉnh kỉnh, bác tài mở cửa sau bung lên cột chặt lại, người ngồi phía sau ngó ra phố phường. Xe chạy ra khỏi Phú Lâm, nh́n cảnh đồng lúa xanh tươi hai bên đường, ḷng cảm thấy phơi phới mặc dầu lâu lâu tôi phải nhấc mông trở cẳng v́ bị ngồi bó gối.

Xe đ̣ nhỏ chạy bằng than sau năm 1975
Nói là đi xe lô th́ hành khách không cần xuống bộ qua cầu tạm, chứ lần đó tôi vẫn phải xuống cuốc bộ như bao chuyến xe đ̣ khác. Tôi mới ca cẩm, xe lô cái nỗi ǵ, có mà “lô ca chân” theo lời hát của một tuồng cải lương trên truyền h́nh. Sau năm 1968, cuộc chiến ngày càng ác liệt, cầu đường nhiều nơi bị “mấy ổng” gài ḿn phá hủy, có nơi phải dựng cầu tạm, đầu cầu có đặt trạm kiểm soát của quân cảnh hay cảnh sát. Đường về Trà Vinh chỉ hơn 160 cây số mà qua mấy chục cây cầu, lại phải chờ phà Mỹ Thuận. Đi xe lô cho được nhanh mà về đến nơi phải mất năm sáu tiếng đồng hồ, huống hồ chi hành khách đi miệt Hậu Giang, Cà Mau xuống ở bến xe c̣n phải đón đ̣ về nhà ở vùng U Minh, Miệt Thứ mất cả ngày đường. Chỉ có xe thư tức là xe đ̣ làm nhiệm vụ giao nhận thư từ bưu phẩm chuyển cho bưu điện tỉnh mới được ưu tiên, không phải lụy phà hay bị cảnh sát xét hỏi. Bây giờ xe đ̣ tiến bộ hơn nhiều, xe có máy lạnh, ghế nằm thoải mái cho khách đường xa, duy chỉ không có pḥng vệ sinh trong xe, lại c̣n tặng thêm nước uống, khăn ướt lau mặt. Xe chạy nhanh nhờ có cầu qua hai con sông Tiền và sông Hậu, tôi ngồi xe Mai Linh chạy một lèo về tới chợ Cà Mau chỉ mất sáu tiếng đồng hồ. Nếu không kể đến loại xe dù bắt khách dọc đường, th́ xe đ̣ là phương tiện đi đường xa tương đối rẻ tiền.

Bến xe đ̣ Petrus Kư năm 1950
Trước năm 1975, Xa cảng miền Tây là bến tập trung các xe đ̣ về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh đó lại có bến xe Chợ Lớn đi về Cần Giuộc, G̣ Công, Lư Nhơn, về sau bến xe này gộp lại với Xa cảng miền Tây mở rộng thành Bến xe miền Tây nằm trên đường Kinh Dương Vương quận B́nh Tân. C̣n bến Miền Đông dành cho xe đi các tỉnh miền Trung và phía Bắc trên đường Petrus Kư trước kia th́ gộp lại với hai bến xe nhỏ là Nguyễn Cư Trinh đi lộ tŕnh cao nguyên và Nguyễn Thái Học đi Long Hải – Vũng Tàu – Phan Thiết, rồi sau đó vài năm chuyển về bến xe Văn Thánh, và cuối cùng yên vị tại Bến xe miền Đông trên đường Đinh Bộ Lĩnh hiện nay. Nhưng nghe đâu hai bến xe này sẽ phải dời ra xă Tân Túc huyện B́nh Chánh và Suối Tiên Q. 9 để có diện tích rộng hơn, đáp ứng được cho nhu cầu ngày càng tăng. Sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến Bến xe An Sương, bến này đúng ra có xe đi Tây Ninh – B́nh Phước – Bù Đăng, Bù Đốp vùng Tây Trường Sơn, nhưng cũng có xe đi vài tỉnh thành của cả ba miền, do hai bến xe miền Đông và miền Tây nhỏ hẹp.

Bến xe đ̣ trên đường Nguyễn Cư Trinh trước 1975
Ai cũng có kỷ niệm lần đầu đi xe đ̣. Mỗi chuyến xe chuyên chở nỗi niềm hoài niệm. Có người nhớ chuyện tiền vé như nhà văn Sơn Nam. Có người ḷng phơi phới nh́n thấy phong cảnh đồng lúa xanh tươi chạy dài bên quốc lộ như tôi. Cũng có người nhớ mùi mồ hôi, mùi xăng dầu giữa nắng gió miền Trung. Nhớ bến băi ồn ào í ới ngày xưa. Và cũng có người tuổi đời chồng chất, nhớ cảnh xuống xe qua cầu xe lửa Bến Lức, Tân An thuở xa lắc xa lơ.

Trang Nguyên
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 10 2017, 05:53 PM
Gửi vào: #19


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,411
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



TÂM SỰ NAM CA SĨ DUY TRÁC

TUỔI GIÀ CỦA TÔI


Khi sang Houston tôi mới biết gia đ́nh anh chị Duy Trác mất tất cả mười mấy người thân trên biển cả. Nh́n và nghe anh chị và hai cháu tŕnh bầy, yêu cầu đại chúng trong pháp hội góp lời cầu nguyện văng sinh cho hương linh, v́ chị Duy Trác và gia đ́nh vẫn c̣n mơ thấy thân nhân, khó ai cầm được nước mắt. Đây là tâm sự của anh Duy Trác từ dạo ấy, xin mời đọc.
Nhân-Yến.

Duy Trác là một ca sĩ thành danh ở Sài G̣n từ những năm trước 1975. Tuy chỉ là một ca sĩ nghiệp dư, nhưng nhiều người xem Duy Trác như một trong những giọng ca nam lớn nhất của tân nhạc Việt Nam.
Duy Trác tên thật là Khuất Duy Trác, quê ở Sơn Tây, xuất thân trong một gia đ́nh Nho giáo truyền thống. Nghề nghiệp chính của ông là luật sư, trước đó là thẩm phán ngành Quân Pháp. Ngoài ra ông c̣n tham gia viết báo và cũng là một dịch giả. Duy Trác bắt đầu đi hát từ những năm c̣n là sinh viên, khoảnh cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960.

Tuy giọng ca của ông được rất nhiều người mến mộ, nhưng trước 1975 ở Sài G̣n, Duy Trác gần như không bao giờ tŕnh diễn ở pḥng trà hay các chương tŕnh nhạc hội. Ông chỉ hát trên đài phát thanh và thu âm cho các hăng băng đĩa, v́ vậy nhà văn Duyên Anh đă đặt cho ông biệt danh “chàng ca sĩ cấm cung”.

Duy Trác cũng có sáng tác một vài bài hát như Tiếng hát đêm Noel, Sài G̣n chỉ vui khi các anh về… Sau 1975, Duy Trác có đi cải tạo nhiều năm tới 1988. Năm 1992 ông rời Việt Nam định cư tại Houston, Hoa Kỳ. Tại đây ông có tham gia tŕnh diễn ở một vài chường tŕnh ca nhạc và phát hành hai CD riêng : C̣n tiếng hát gửi người và Giă từ.

Trong CD Giă từ ông đă nói lời từ biệt với âm nhạc. Từ đó Duy Trác không c̣n hát và hiện nay ông hợp tác với đài phát thanh VOVN – Tiếng nói Việt Nam tại Houston phụ trách một vài chương tŕnh.

Tâm sự của Duy Trác

Năm 1992 gia đ́nh tôi tới Mỹ, một quốc gia tự do và nhân đạo, với 13 nhân khẩu. Không ngờ, vốn chỉ là một ca sĩ tài tử và đă bị chính quyền cấm hát suốt 17 năm, tôi vẫn được một trung tâm ca nhạc tiếng tăm mời sang Paris tổ chức một buổi hội ngộ với thính giả và thu những băng nhạc nghệ thuật.

Các thính giả đă vào cả hậu trường chào mừng tôi, buồn vui, mừng tủi. Tôi chỉ c̣n nhớ, và nhớ măi một câu chào, như mâu thuẫn và thật ḷng: ‘Bác (hay chú) chẳng thay đổi ǵ cả, chỉ già đi nhiều thôi.’

Ồ ! Tôi đă già đi ! Chắc chắn rồi. Nhưng tôi đă không có th́ giờ nghĩ đến. Làm sao có th́ giờ nghĩ đến khi không biết ngày nào hết cảnh lao tù để về chung sức với vợ nuôi nấng 6 đứa con, 5 đứa cháu và một mẹ già đau yếu. Nhất là nỗi đau mất 3 đứa con và 7 đứa cháu trên biển cả. Nỗi đau quá lớn khiến mẹ đă té ngă và trở thành phế nhân với nửa người bất động.

Trong đời sống của mỗi con người, ai cũng có 3 giai đoạn: tuổi thơ, tuổi thanh xuân và tuổi già. Riêng tôi tuổi thơ hầu như không có. Cha mẹ mất sớm, bị những người lớn tuổi trong đại gia đ́nh hành hạ; năm 12 tuổi tôi đă bỏ đi sống một ḿnh.

Tôi c̣n nhớ, hồi đó ở vùng kháng chiến Việt Bắc tôi thi vào trường Sư Phạm; với học bổng 18 kg gạo, 180 đồng tiền thức ăn, và 1 chai dầu dùng để thắp đèn học đêm. Nghỉ hè, trường không phát học bổng, tôi phải đi hái trà và đạp trà thuê. Cuối ngày lănh tiền đủ đong được chút gạo, hái rau rừng làm thức ăn. Tr ca nhacVới đủ mọi h́nh thức “kiếm tiền lương thiện”, tôi đă phấn đấu học hành, làm việc với châm ngôn do ḿnh đặt ra: không hận thù những người đă hành hạ ḿnh và phải cố gắng học cho thành tài. Cả hai châm ngôn này, tôi đă thực hiện đầy đủ và chân thành. Bỏ vùng Việt Bắc, trở về Hà Nội rồi di cư vào Nam, tôi đă cố gắng hoàn tất việc học, trở thành luật sư đồng thời lập gia đ́nh năm 1961.

Ngẫm nghĩ lại, tuổi thơ không có, tuổi thanh xuân cũng không được bao nhiêu. Sau khi gia nhập Luật Sư Đoàn được 2 năm và lập gia đ́nh được hơn 1 năm, vào năm 1962 tôi được gọi nhập ngũ. Dĩ nhiên, phục vụ đất nước trong thời chiến tranh là nghĩa vụ thiêng liêng của con dân một nước. Nhưng rời bỏ gia đ́nh, bỏ lại vợ và con thơ để làm nghĩa vụ người trai trong 13 năm rưỡi rồi tiếp theo là 11 năm tù đày trong các trại tù; th́ hỡi ôi tuổi thanh xuân của tôi đă mất hút tự bao giờ mà tôi cũng không c̣n nhớ được nữa.

Ra tù và sang đến Mỹ năm 1992 th́ tôi đă ở vào tuổi 56. Các thính giả có bảo là già đi nhiều th́ cũng phải thôi. Tiếp tục vật lộn với đời sống để nuôi gia đ́nh nên mối ưu tư về tuổi già, về những chăm sóc cho tuổi già được sống hợp lư, tốt đẹp cũng không phải là điều dễ dàng.

Trong thời gian tôi theo học tại trường Luật, có một người bạn đă gửi cho tôi một tấm thiệp giáng sinh trên đó có ghi toàn văn bản dịch của bài thơ “TUỔI TRẺ (YOUTH)” của Samuel Ullman. Lời lẽ bài thơ thật là sâu sắc, đầy tinh thần lạc quan, nó ảnh hưởng sâu sa đến tôi trong mấy chục năm nay.

Mặc dầu nó được viết ra từ năm 1918, lúc tác giả đă 78 tuổi nhưng ư tưởng thật mới mẻ. Xin trích một vài câu tiêu biểu : ‘Không một ai lại già cỗi đi v́ những năm tháng trôi qua. Chúng ta già nua bởi v́ ruồng bỏ lư tưởng của ḿnh. Năm tháng có thể làm nhăn nhúm làn da của chúng ta, nhưng sự từ bỏ tinh thần hăng say, phấn khởi mới làm tâm hồn chúng ta héo hắt.’

Tướng Douglas Mc Arthur rất tâm đắc với bài thơ này và ông đă cho trưng bày bài thơ ngay tại pḥng làm việc của ông ở Tokyo, khi ông đang là Tư Lệnh Quân Đội Đồng Minh đặc trách công việc giải giới và phục hồi nước Nhật sau chiến tranh. Rồi vào năm 1946, tạp chí Reader’s Digest ấn bản tiếng Nhật đă phổ biến toàn văn bài thơ bất hủ này bằng Nhật ngữ. Nhân dân Nhật đă hân hoan đón nhận cái tín hiệu đầy lạc quan, tích cực và năng động của bài thơ không vần này. Cũng từ đó họ đă hăng say dấn thân vào việc tái thiết đất nước, khiến nước Nhật lấy lại được vị thế cường quốc về kinh tế, chính trị cũng như văn hoá như ta thấy ngày nay.

Năm 1992 tôi tới Mỹ với một tấm thân tàn v́ bệnh hoạn, đói khổ và tù đầy. Nếu không nhờ nền y tế tối tân và siêu việt của quốc gia này, tôi không c̣n sống tới ngày hôm nay. Từ bệnh cao huyết áp, tiểu đường, nghẽn mạch máu tim, cao mỡ v.v.., tôi đă phải vào bệnh viện 5 lần, thông tim 4 lần, stroke nhẹ 2 lần. Tôi phải liên tục dùng thuốc trong mười mấy năm nay, tốn kém của nhà nước bao nhiêu tiền của.
Tôi đă cố gắng tập thể dục, ăn uống kiêng cữ, và nhất là t́m một môn luyện tập thân thể theo phương pháp đông phương thích hợp với tuổi già. Đấy là nguồn gốc cái duyên mà tôi t́m đến với môn Taichi.

Một lần trong một buổi phát thanh của đài VOVN, phỏng vấn các vị lănh đạo TAEKWONDO thế giới, tôi đă hỏi ngắn gọn về môn Taichi th́ nhận được những lời ngợi khen nồng nhiệt và có ư kiến rằng môn tập này mang ư nghiă sử dụng nguyên lư âm dương như một vơ công. Muốn có được những lợi lạc của phương pháp Taichi th́ cần có ư niệm về khí công. Một trong những điều căn bản cần nắm vững là phải biết thư giăn bản thân. V́ Taichi hầu như chỉ được tập luyện qua những động tác chậm, cho nên ở bất cứ tuổi nào người ta cũng có thể luyện tập một cách dễ dàng. Một lợi điểm phụ thuộc là có được khả năng tự vệ. Đấy cũng là quan điểm của vơ phái Taekwondo. Các tài liệu khoa học theo tạp chí Science Daily gần đây có nêu 2 lợi điểm nổi bật trong việc tập thể dục theo phương pháp Taichi :

Một là chữa các dạng viêm khớp

– Hai là gia tăng sức đề kháng nơi những người lớn tuổi

1/ Taichi giúp chữa viêm khớp : Một công tŕnh mới đây của viện nghiên cứu The George Institute International Health cho thấy Taichi có lợi rơ rệt đối với các chứng viêm khớp. Một số các nhà nghiên cứu đang tiến hành một cuộc thử nghiệm để xem phương pháp thể dục đó có hiệu quả ǵ đối với chứng đau nhức ở phần dưới của lưng hay không.

2/ Taichi giúp gia tăng sức đề kháng ở người lớn tuổi : Tập thể dục theo Taichi đă được ít nhiều Tây hóa của một môn vơ thuật Trung Hoa từ hơn 2000 năm trước với những nét đặc trưng như vận động chậm răi trong tư thế trầm tư. Phương pháp này có khả năng tăng cường sức đề kháng nơi người cao niên chống các loại vi khuẩn gây nên các chứng nổi mần, nổi ngứa rất khó chiụ trên da, mà thuật ngữ y học tiếng Anh gọi là Shingles, theo như một nghiên cứu mới nhất của Đại học UCLA ở California .
Tôi không phải là một nhà nghiên cứu mà chỉ là một ông già nhiều bệnh, đi t́m một môn tập có thể giúp ḿnh giải thoát được phần nào những tật bệnh đă hành hạ ḿnh từ bao năm nay.

Do một cơ duyên t́nh cờ, tôi đă đến với hội TỪ BI PHỤNG SỰ. Hội do Thầy HẰNG TRƯỜNG sáng lập với mục đích phục vụ tha nhân về mặt tinh thần và thể lực. Trụ sở chính của hội đặt tại California, nhưng Thầy HẰNG TRƯỜNG đă huấn luyện được hàng trăm huấn luyện viên hiện sinh sống tại nhiều thành phố lớn có đông người Việt cư ngụ. Hội mở ra các lớp tập mang tên CÀN KHÔN THẬP LINH, phối hợp giữa 2 môn Taichi và Yoga. 9 Duy Trac 5Yoga cũng là một môn tập rất lâu đời cuả người Ấn Độ mà lợi ích to lớn cuả nó th́ ai cũng đă biết rơ. Sự phối hợp nhịp nhàng và chặt chẽ giữa Taichi và Yoga đă khiến những bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH trở nên hiệu quả một cách tuyệt hảo. Thế là bao mong ước của tôi về môn Taichi

không những đă được đáp ứng mà c̣n được đáp ứng một cách hoàn mỹ nữa nhờ có thêm Yoga.

Tôi theo tập lớp Càn Khôn Thập Linh này đă được hơn 2 năm và giờ đây những bệnh tật của tôi, không quá lạc quan là đă hết hẳn, nhưng h́nh như đă nằm yên để cho những ngày già của tôi được an b́nh. Ông Bác sĩ người Mỹ ở bệnh viện tim khám bệnh thường xuyên cho tôi 3 tháng 1 lần, nay đă hẹn 1 năm nữa mới phải trở lại. Có lần tái khám, ông ấy mỉm cười nói : ‘Chẳng lẽ tôi hẹn ông 2 năm mới khám lại th́ kỳ quá !’

Bây giờ các bệnh máu cao, mỡ cao, đường cao đều đă xuống. Hoạt động của tim cũng điều ḥa. Có một điều này nữa, tôi không nói dối đâu. Tất cả các bằng hữu, người quen biết hay các fans âm nhạc khi gặp tôi đều có cùng một nhận xét là tôi trẻ ra nhiều, thậm chí c̣n trẻ hơn ngày tôi mới sang Mỹ năm 1992 nữa.

Tất cả các bạn già cùng tập Càn Khôn Thập Linh với tôi đều có kết quả như tôi, nhiều hay ít mà thôi. Ngày mới tập, mỗi thế tôi chỉ làm được 5, 7 lần là đă thấy mệt. Nay tôi có thể “múa” được 15, 20, thậm chí 25 lần mà vẫn thấy thoải mái. Thấm nhuần và mở rộng các quán tưởng của mỗi thế tập c̣n khiến người ta thấy yêu đời, yêu người, mở ḷng ḿnh ra vũ trụ, ra thế giới bên ngoài, nhân ái với hết thảy mọi loài nữa.

Qua bài viết này, trước hết tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Thầy Hằng Trường, người đă bỏ bao công sức, bao thời gian, đi đến những vùng rất xa xôi trên đất nước Trung Hoa để t́m ṭi, học hỏi mà sáng chế ra những thế tập qua tên gọi của những con vật tượng trưng cho sự nhẫn nại, sự hiền hoà, sự vượt khó v.v…Bài tập Càn Khôn Thập Linh quả đă mang lại sức khỏe, sự tươi vui … cho những người t́m đến nó.
Video : Càn Khôn Thập Linh tập 1- 2 & 3

http://youtu.be/A4ttu71oJ70
http://youtu.be/MG0vR9jM9ro
http://youtu.be/Zi5rlAmnZ3Q

Xuân Mai


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 21st October 2017 - 07:20 PM