IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

7 Pages: V « < 5 6 7  
Reply to this topicStart new topic
> Chuyện Đó Đây
NhaQue
post Mar 24 2016, 05:53 PM
Gửi vào: #121


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,635
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Nhà Sử Học Tạ Chí Đại Trường qua đời tại Sài Gòn




WESTMINSTER (NV) - Nhà sử học, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ông Tạ Chí Đại Trường, vừa qua đời tại Sài Gòn, thọ 81 tuổi. Người chị dâu của ông Tạ Chí Đại Trường, là bà Nguyễn Thị Minh Hiền, xác nhận với Người Việt tin này.

Theo bà Minh Hiền, ông Tạ Chí Đại Trường mất vào khoảng từ 4 giờ đến 4:30 sáng ngày 24 tháng Ba (giờ Việt Nam), tại tư gia ở Quận 5 của người anh ruột, là ông Tạ Chí Đông Hải.

Bà Minh Hiền cho biết ông Tạ Chí Đại Trường sinh năm 1935 (nhưng trên giấy tờ ghi 21 tháng Sáu, 1938), tại tỉnh Bình Định. Và vì ông có quốc tịch Hoa Kỳ nên gia đình phải khai báo để cơ quan hữu trách thực hiện khám nghiệm tử thi. Gia đình cho biết người quá cố sẽ được hỏa thiêu tại Việt Nam.

Bác Sĩ Ngô Thế Vinh, tác giả “Vành Đai Xanh” và “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng,” nói với Người Việt: “Tạ Chí Đại Trường là một nhà nghiên cứu sử học quan trọng, không chỉ với miền Nam, mà của cả Việt Nam.”

Theo Wikipedia, tên của ông, Đại Trường, được ghép từ hai địa danh của tỉnh Khánh Hòa là Đại Lãnh và Trường Giang (sông Cái). Ông là con trai Cử Nhân Hán Học Tạ Chương Phùng, một nhà cách mạng hoạt động trong phong trào toàn dân chống Pháp giành độc lập dân tộc thập niên 40 - 50.

Vẫn theo Wikipedia, năm 1964, Tạ Chí Đại Trường tốt nghiệp cao học Sử tại Đại Học Sài Gòn rồi nhập ngũ. Ông phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1964, cấp bực cuối cùng là đại úy. Trong thời gian chiến tranh, Tạ Chí Đại Trường bắt đầu sưu tập tiền cổ và tập trung nghiên cứu về đề tài này. Những bài viết của ông về tiền cổ trong thời gian sau đó được giới nghiên cứu sử học quốc tế đánh giá cao.

Năm 1964, trong thời gian học Cao Học, Tạ Chí Đại Trường cho ra đời một cuốn tiểu luận lịch sử Việt Nam giai đoạn 1771 đến 1802, trong đó ghi lại những sự kiện xoay quanh cuộc nội chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Tác phẩm này đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn Sử năm 1970 và được nhà xuất bản Văn Sử Địa in thành sách năm 1973 với tựa đề Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ năm 1771 đến 1802.


Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường. (Hình: Trần Triết/Người Việt)


Wikipedia viết, sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, cuốn sách với nội dung đặt lại vấn đề về nhà Tây Sơn đã khiến Tạ Chí Đại Trường gặp nhiều rắc rối. Lịch sử nội chiến bị cho là “hạ thấp Quang Trung, đề cao Gia Long” và bị cấm lưu hành tại Việt Nam trong một thời gian dài và chỉ được in lại trong nước từ cuối thập niên 2000.

Sau năm 1975 ông bị tù “cải tạo” đến năm 1981.

Tháng Tám năm 1994, Tạ Chí Đại Trường định cư tại Hoa Kỳ. Do điều kiện cuộc sống, phải tới 10 năm sau ông mới quay trở lại Việt Nam và khó có cơ hội tiếp xúc với tài liệu sử học trong nước, vì vậy Tạ Chí Đại Trường phải từ bỏ những đề tài chuyên biệt để tập trung nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung thông qua các tư liệu thu thập được qua nhiều nguồn ở Mỹ, kể cả từ các chợ sách ngoài trời.

Tại Mỹ ông bắt đầu cho in các tác phẩm chính của mình, như Những bài dã sử Việt (1996), vốn là tập hợp các bài viết ở Việt Nam của ông giai đoạn 1984-1986; hay cuốn Thần, Người và Đất Việt (1989, 2000). Cuốn Thần, Người và Đất Việt khi xuất hiện không chính thức ở Việt Nam được đánh giá cao, nhiều nhà sử học Việt Nam nhận xét rằng Tạ Chí Đại Trường là một chuyên gia sử học, dân tộc học đáng tin cậy.

Kể từ cuối thập niên 2000, sách của Tạ Chí Đại Trường mới được chính thức in và phát hành tại Việt Nam. Năm 2014, Tạ Chí Đại Trường được Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh trao giải thưởng Văn Hóa Phan Chu Trinh về ngành nghiên cứu.

Các tác phẩm của Tạ Chí Đại Trường đã được xuất bản tại Hoa Kỳ: Thần, Người và Đất Việt (1989, 2000), Những bài văn sử (1999), Những bài dã sử Việt (1996), Việt Nam nhìn từ bên trong (viết cùng Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, 1994), Một khoảng Việt Nam Cộng hòa nối dài (1993), Lịch sử nội chiến Việt Nam (1771-1802) (1991, in lại từ bản gốc năm 1973). (T.Đ.)


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 9 2016, 05:00 AM
Gửi vào: #122


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,635
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Nhớ Về Cầu Thủ Phạm Huỳnh Tam Lang

TS.Trần Văn Đạt



Anh Phạm Huỳnh Tam Lang là người đồng hương với tôi và cả hai cùng lên Sài Gòn học tại trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký năm 1955. Chúng tôi học cùng lớp Đệ Tam B2 (lớp 10) thì anh rời bỏ trường vì đam mê nghề bóng đá. 52 năm sau, tôi gặp lại anh tại nhà góc đường Nguyễn Hoàng & Cộng Hòa và nghe anh tâm sự rất nhiều về bóng đá, nhứt là cuộc chiến thắng vẻ vang giải vô địch Merdeka ở Malaysia năm 1966. Nhân giỗ Anh – ngày 2 tháng 6 – tôi viết ít lời để tưởng nhớ về một người bạn rất đặc biệt, mê chơi banh hơn ham học.

Vào hậu bán thế kỷ 20, đất Gò Công được nổi tiếng nhiều với ca sĩ Phương Dung “Con nhạn trắng Gò Công” vàCầu thủ vàng Tam Lang. Anh Phạm Huỳnh Tam Lang là cựu cầu thủ của đội tuyển quốc gia Việt Nam Công Hòa và cựu Huấn luyện viên của Câu lạc bộ bóng đá Cảng Sài Gòn. Anh là một cầu thủ trung vệ xuất sắc của làng bóng đá Việt Nam và Châu Á. Anh nổi tiếng là người trong sạch, luôn đề cao đạo đức của người cầu thủ và phàn nàn về phẩm chất xuống dốc trong giới bóng đá hiện nay! Thời vàng son của Phạm Huỳnh Tam Lang là lúc anh làm Thủ quân của đội tuyển Việt Nam đọat chức vô địch cúp Merdeka năm 1966 và chuyện tình lãng mạn một thời với cô đào “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết trong Đệ nhứt Cộng Hòa Việt Nam.

Cầu thủ Phạm Huỳnh Tam Lang_html_34cc3b3b

Hình 1:Tam Lang với cúp Merdeka, 1966

Tiểu sử
Tam Lang sinh ngày 14-2-1942 tại Gò Công, con của một gia đình trung lưu sống ở Thị xã Gò Công và mồ côi cha lúc còn 3 tuổi. Năm 1955, Tam Lang trúng tuyển vào học trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký (nay trường Lê Hồng Phong) ở Sài gòn, vì lúc đó chưa có trường Trung học công lập tại tỉnh nhà. Anh đam mê môn bóng đá từ thuở nhỏ. Khi lên Sài Gòn học, anh được Ông Nguyễn Văn Tư, một người có tên tuổi trong làng bóng đá Sài Gòn, hướng dẫn tập luyện chung với đội banh AJS (Association de la Jeunesse sportive) nổi tiếng bấy giờ. Sáng đi học chiều chơi banh và thi đấu cho đội tuyển trường Trung học Petrus Ký.

Năm 1957, Tam Lang được tuyển vào Đội tuyển học sinh trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, chơi banh cho đội Ngôi Sao Chợ Lớn lúc mới 15 tuổi.

Năm 1960, anh được chính thức tuyển vào đội banh thiếu niên quốc gia, cùng với Võ Bá Hùng, Phạm Văn Lắm, Nguyễn Văn Ngôn, Quan Kim Phụng… và sau đó là đội tuyển Miền Nam (1). Đó cũng là lúc Tam Lang chia tay với các đồng môn cuối niên học lớp Đệ Tam B2 (lớp 10 bây giờ) của trường Petrus Ký. Do quá ham mê nghệ thuật nhồi bóng trên thảm cỏ xanh, anh rời ghế nhà trường sớm hơn các bạn học cùng lớp.

Năm 1964, Anh thi đấu xuất thần trong trận thắng Israel 2-0 ngay trên sân đối phương ở lượt về vòng loại Thế Vận Hội – Olympic 1964 (1). Trước năm 1975, Tam Lang nổi tiếng trong các đội banh Cảnh Sát Đô Thành, Việt Nam Thương Tín, AJS và Cảng Sài Gòn. Anh sớm lấy vị trí trong đội hình chính thức và dần giữ vai thủ quân của đội tuyển miền Nam Việt Nam.

Trong một trận cầu giao hữu giữa đội banh Đệ Tam trường Trương Vĩnh Ký và đội học sinh Trung học Gò Công tại sân vận động tỉnh nhà, Tam Lang là học sinh Petrus Ký nhưng anh đá cho đội học sinh đất Gò. Tam Lang có lối chạy thần tốc và mạnh mẽ, từ vị trí trung vệ anh đưa banh lướt nhanh qua nhiều cầu thủ và thẳng tiến đến thành goal địch mau lẹ, ít ai theo kịp hoặc khó khăn ngăn cản anh. Lần đó, đội học sinh Đệ Tam Petrus Ký thua đậm! Trong giải Merdeka năm 1966, anh được giới truyền thông Malaysia khen ngợi là “Mũi tên vàng” của đội bóng VN, rất đúng với tài năng hiếm có của anh.

Sự nghiệp bóng đá
Có lẽ hào quang rực rỡ nhứt trong nghề bóng đá của Tam Lang là lúc đội banh tham dự và thắng vẻ vang cúp Merdeka ở Kualur Lumpur, Malaysia. Cùng năm đó, anh và Đỗ Thới Vinh được mời vào đội tuyển Ngôi Sao Châu Á(2) Xin nhắc lại giải vô địch Merdeka là một giải đấu bóng tròn danh tiếng, được thành lập năm 1957 để chào mừng Ngày Quốc Khánh của Malaysia, gồm những đội banh mạnh nhứt của châu Á. Các nước được mời tham gia là một danh dự lớn.

Tam Lang kể “Năm 1960, khi mới 18 tuổi, tôi được gọi vào đội tuyển miền Nam. Sớm chiếm được vị trí trong đội hình chính thức, nhưng chiếc băng đội trưởng thì chẳng bao giờ tôi nghĩ đến. Năm 1966, đùng một cái, trước giờ bay sang Malaysia, HLV Weigang họp đội và đề nghị bầu chọn đội trưởng mới thay cho tiền vệ nổi tiếng Nguyễn Ngọc Thanh. Cũng chẳng biết vì sao ngày ấy anh em lại tín nhiệm và dồn phiếu cho tôi giữ vai thủ quân (2).”

Cũng vào thời điểm này, mối tình của anh và Bạch Tuyết (Hình 2) bắt đầu khởi sắc trong chiều hướng tích cực. Trước đó, anh và vài người bạn như Lắm rỗ (Hải Quan) trong giới bóng đá thường đến hậu trường Rạp Quốc Thanh làm quen với Bạch Tuyết, Ngọc Giàu và vài cô đào khác. Trước 3 ngày đội banh lên đường sang Malaysia dự giải Merdeka, cả đòan bổng nhận được vé mời xem xuất hát của đòan Cải lương Dạ Lý Hương trình diễn tại rạp Quốc Thanh trên đường Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi). Trước giờ mở màn, Đại diện đoàn hát nói vài lời phi lộ và chúc đội bóng đá lên đường thành công rực rỡ, đem chuông đi đánh xứ người vẻ vang. Ngay sau đó, cô đào Bạch Tuyết xuất hiện từ cánh gà tiến đến gắn huy hiệu và choàng vòng hoa cho thủ quân Tam Lang với lời chúc tốt đẹp. Tam Lang kể: “lúc đó tôi như bị Bạch Tuyết thu hút hết hồn vía rồi”.

Năm 1966, đội banh Việt Nam Cộng Hòa vào chung kết với đội Miến Điện, oanh liệt thắng 1-0 đọat cúp vô địch Merdeka và mang vinh dự về đất nước. Tất cả Miền Nam lúc đó bừng sống trong bầu không khí sôi động vui mừng. Mọi người khi gặp nhau đều bàn chuyện cúp Merkeda, cầu thủ Tam Lang, Vinh, Thanh … Khi trở về nước, đoàn bóng đá được đón tiếp trọng thể từ sân bay Tân Sơn Nhứt đến phố Sài Gòn. Anh kể trong niềm hân hoan: “Chúng tôi mỗi người đứng trên một xe jeep mui trần diễn hành từ sân bay Tân Sơn Nhứt qua các phố đến Tòa Đô Chánh, với sự hoan nghênh chào đón của hàng ngàn người. Các cầu thủ còn được các mạnh thường quân và Tổng Cuộc Túc cầu tặng mỗi người một tấm lắc vàng ròng để kỷ niệm và ghi nhận thành tích lớn.” Từ đó, tên tuổi của Tam Lang đạt đến đỉnh cao không những trong nước mà còn ở Châu Á.

Với chiến thắng vẻ vang đó, tình yêu của anh và Bạch Tuyết như được chất xúc tác nuôi dưỡng, bùng phát ngày càng lớn hơn. Cuộc hẹn hò của họ kéo dài hơn. Anh bắt đầu đưa rước Bạch Tuyết mỗi đêm và thỉnh thoảng cũng có những cơn ghen si tình không kiềm chế được. Cuối cùng hai người tổ chức một đám cưới đơn giản ở Thủ Đức để ra mắt hai họ và bạn bè vào đầu năm 1967. Nhưng sau đó, do nghề nghiệp và cuộc sống quá khác biệt, nhứt là hai người không có con dù muốn lắm, nên phải chia tay nhau năm 1970. Tam Lang tâm sự anh quá mệt mỏi với công việc đưa đón hàng đêm đến một hai giờ sáng mới về tới nhà, vì Bạch Tuyết sau mỗi buổi hát xong, phải ở lại thay đổi quần áo, điểm trang và gặp gỡ trò chuyện với khán giả ngưỡng mộ đang chờ đón ở hậu trường.

Ít năm sau, Bạch Tuyết có chồng khác và có một cháu trai với Charles Đức, Tiến sĩ Kinh tế, quốc tịch Pháp (mất 2010); còn Tam Lang lúc làm việc ở Ngân hàng Việt Nam Thương Tín gặp cô Nguyễn Thị Minh Hồng rồi cưới làm vợ và có một cháu gái tên Anh Thư hiện làm việc trong ngành dược ở Úc Châu. Hai gia đình vẫn còn thân thiết và liên lạc nhau khi có cơ hội. Bạch Tuyết thú nhận trong một cuộc phỏng vấn: “Trong đời tôi, có hai người đàn ông mà tôi phải học. Đó là ba tôi, người luôn hiểu và hết lòng ủng hộ con cái. Và Tam Lang, người không sính coi hát nhưng yêu con người thật của tôi chứ không phải vì tôi là nghệ sĩ.”(4)

Tam Lang không những thành công là một cầu thủ bóng đá xuất sắc, còn là một Huấn luyện viên giỏi, tay nghề cao, rất nổi tiếng trong nước. Anh còn được giới truyền thông kính nể, thường gọi là “Tượng đài” Phạm Hùynh Tam Lang.

Sau 1975, anh quyết định ở lại quê hương vì nghĩ rằng nghề bóng đá của anh khó phát triển ở hải ngọai; vã lại, anh còn phải chăm sóc bà mẹ già yếu. Năm 2002, anh đi du lịch nước Mỹ trong 6 tuần lễ để thăm viếng bà con, bạn bè và đến nhiều thành phố như Atlantic city, Philidelphia, Virginia, Texas, San Francisco, San Jose, Santa Ana… Anh cũng đã đi thăm con gái ở bang Brisbane, Úc Châu trong hơn 3 tháng.

Năm 1981, sự nghiệp của Tam Lang bắt đầu chuyển hướng. Anh được chọn đi tu nghiệp huấn luyện viên bóng đá quốc tế (HLV) ở CHDC Đức. Khi hoàn tất khóa huấn luyện hơn hai năm, anh được cấp bằng hạng ưu. Sau khi trở về nước, anh giữ chức HLV Trưởng Cảng Sài Gòn và đã giúp đội banh này nổi tiếng, có một thời oanh liệt trong nước, giành bốn chức vô địch (1986, 1993-1994, 1997, 2001-2002) cùng hai danh hiệu vô địch Cúp quốc gia (1992, 2000) và nhiều cúp khác ở Sài Gòn và cấp tỉnh (3). Anh cũng được đề cử làm phụ tá HLV người nước ngòai và giữ nhiều chức HLV cùng đội tuyển trong các giải SEA Games và Tiger Cup. Chẳng hạn, năm 1997 Tam Lang chính thức giữ vai trò HLV phó đội tuyển quốc gia dưới thời Colin Murphy (HCĐ SEA Games 1997), Alfred Riedl (HCB Tiger Cup 1998, HCB SEA Games 1999, Tiger Cup 2000) rồi Dido (SEA Games 2001).

3. Giai đọan nghỉ hưu

Năm 2003, với tuổi đời 61 anh từ giã chức vụ HLV Cảng Sài Gòn, về làm cố vấn cho đội thanh niên Thành Phố của ông bầu Quách Thành Lai ở Trung tâm thể thao Thành Long (Đa Phước, Bình Chánh) trong chương trình đào tạo năng khiếu bóng đá Thành Phố. Ngoài ra, anh còn đóng góp chất xám trong các cuộc huấn luyện, cố vấn và giảng dạy các đội bóng trong nước, Tam Lang bảo “Dù ở đâu cứ nghe tiếng la hét trên sân cỏ là vui rồi!” Anh tâm sự muốn đào tạo một thế hệ cầu thủ trẻ giỏi để mong một ngày nào đó mang về đất nước thêm nhiều huy chương vàng. Nhưng lực bất tòng tâm!

Vào lứa tuổi thất thập cổ lai hi, phong độ ngày nào của Tam Lang đã suy giảm với tướng đi gập ghềnh do bệnh khớp xương thời kỳ khá nặng và trí nhớ cũng kém dần; nhưng tánh tình anh không thay đổi, vẫn điềm đạm, lời nói tuy không còn sang sảng ngày nào, nhưng nhỏ nhẹ khiêm nhường. Gương mặt anh luôn biểu hiện nét hiền hòa, hiếu khách, thỉnh thỏang tự trách mình lúc trẻ ham vui, thường không thể từ chối lời mời rượu của bạn bè nên bệnh Gout không trị dứt. Với ngày qua, bệnh trở nên nhiều hơn, các khớp xương bàn tay, cổ tay bị sưng to, làm cánh tay mặt ít nhiều đổi dạng và anh cảm thấy không thỏai mái trong người (Hình 4, 8-2011). Anh sống yên lặng trong một chung cư ở góc đường Trần Phú (Nguyễn Hòang cũ) và Nguyễn Văn Cừ (đường Cộng Hòa cũ) và qua đời do đột quỵ tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn ngày 2-6-2014, hưởng thọ 72 tuổi.

Anh Phạm Huỳnh Tam Lang đã gắn bó cả đời với sự nghiệp bóng đá sân cỏ trong 15 năm dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa và tiếp tục hơn 3 thập niên sau đó. Ở đâu anh cũng được mọi người kể cả giới chuyên môn và người hâm mộ kính trọng. Anh đã tạo dấu ấn đặc thù trong nền bóng đá Việt Nam qua nửa thế kỷ nhân sinh.



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Oct 16 2016, 09:45 PM
Gửi vào: #123


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,635
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Chuyện trò với Giáo sư Vũ Tường về cuộc hội thảo: ‘Kinh nghiệm kiến quốc trong thời chiến của Việt Nam Cộng hoà, 1955-1975’ tại UC Berkeley


Trùng Dương - Lời giới thiệu: Cuối tháng 4 vừa qua một Hội nghị Thượng đỉnh về Chiến tranh Việt Nam (The Vietnam War Summit) đã được tổ chức tại Thư viện Tổng thống Lyndon Baines Johnson ở Austin, Texas, kéo dài ba ngày, từ 26 đến 28. Vì là "thượng đỉnh" nên chương trình nghị hội gồm 10 chủ đề, hơn 60 diễn giả, với ba cuộc triển lãm, bên cạnh phần trưng bầy Bức Tường Hoà Giải (The Wall That Heals), phó bản thu nhỏ của bức The Vietnam Veterans Memorial tại Washington, D.C., và phần giới thiệu bẩy cuốn sách. Theo ký giả Triều Giang, chủ tịch Hội Bảo tồn Lịch sử và Văn hoá Người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American Heritage Association) trụ sở đặt tại Austin, và là người đã tham dự suốt ba ngày hội, ngoài số diễn giả đông đảo, người tham dự phải có vé mới được phép vào nghe, mà vé thì đã mau chóng bán hết.

Nhiều người tại Austin, nơi chương trình "thượng đỉnh" diễn ra, được mời đã từ chối vì cho là nghị hội có khuynh hướng khuynh tả, một dịp cho phe phản chiến bộc bạch tâm tình hơn là chủ ý đi tìm sự thật. Điểm qua danh sách tham dự viên và các đề tài thảo luận tại Web site của hội nghị, như thường lệ là sự vắng mặt của đại diện của đồng minh của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa; và dưới chủ đề After the War, không thấy đề cập tới hàng triệu người Việt miền Nam nạn nhân của cuộc chiến, như thể họ không hề hiện hữu và can dự. Hy vọng "dọi một tia sáng có thẩm quyền vào cuộc chiến, [và] những bài học và di sản của nó," do đấy, đã chỉ là một mục tiêu thiếu sót, bất quân bình.

Không khua chiêng gõ trống kiểu "thượng đỉnh" là việc chuẩn bị song song cho một chương trình hội thảo của một số giáo sư đại học Hoa Kỳ và Canada, trong đó có một số giáo sư trẻ gốc Việt. Cuộc hội thảo, có tên là “Nation-Building in War: The Experience of Republican Vietnam, 1955-1975,” cũng trong bối cảnh cuộc chiến tại Miền Nam, nhưng đặt trọng tâm vào các khía cạnh tích cực đã từng bị giới truyền thông và học giả Mỹ bỏ quên hay bỏ qua, điển hình là qua nội dung của Hội nghị Thượng đỉnh ở Austin.

“Các cuộc nghiên cứu về đề tài [cuộc nội chiến giữa Bắc và Nam Việt Nam và Cuộc Chiến tranh Lạnh giữa các siêu cường] phần lớn tập trung vào bối cảnh rộng hơn về quân sự trong khi bỏ qua công trình xây dựng quốc gia thực hiện bởi người Việt Miền Nam,” theo bản thông báo phổ biến gần đây của ban tổ chức. “Thực tế, khá nhiều sự việc đã diễn ra trong phạm vi chính trị, xã hội, văn hóa, và kinh tế hơn là quân sự. Một thiên kiến nữa của các công trình nghiên cứu này là nỗi ám ảnh bởi sự can thiệp từ bên ngoài và do đấy là sự lơ là đối với phía Việt [Miền] Nam. Trong khi Hoa Kỳ giữ một vai trò then chốt trong khả năng đứng vững của Miền Nam như một thực thể độc lập, những nỗ lực của Nam Việt Nam đã không được đánh giá đúng mức.”

Cuộc hội thảo nhằm rút tỉa những bài học tích cực về công trình kiến quốc trong thời chiến này sẽ diễn ra vào hai ngày 17 và 18 tháng 10 tới tại trường University of California ở Berkeley, nơi mệnh danh là “cái nôi” của phong trào phản chiến đối với cuộc chiến đang diễn ra tại Việt Nam vào thập niên 1960.

Nhằm tìm hiểu thêm, người viết tiếp xúc với Giáo sư Vũ Tường, giám đốc Chương trình Nghiên cứu Á châu thuộc Phân khoa Chính trị học tại Đại học Oregon, Eugene, và là một trong những người đứng ra tổ chức chương trình hội thảo. Sau đây là buổi chuyện trò với Giáo Sư Tường. Mời độc giả theo giõi. – TD

Chuyện trò với Giáo sư Vũ Tường

Trùng Dương: Xin chào Giáo sư Vũ Tường. Trước hết, xin giáo sư vui lòng cho biết qua về thân thế? Sinh ra và lớn lên tại đâu? Học tiểu học và trung học tại đâu? Giáo sư sang định cư tại Hoa Kỳ năm nào, theo diện gì? Theo học đại học nào, ngành gì? Tại sao chọn ngành học đó? Hiện giữ chức vụ gì?

Giáo sư Vũ Tường: Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn và sang Mỹ năm 1990 theo chương trình “HO” (Ba tôi ở tù “cải tạo” gần tám năm). Học “Đại học Tổng Hợp” ở Sài Gòn khoa Anh trước khi sang Mỹ. Sau đó học thêm ngành chính trị học ở Đại học Minnesota, cao học ở Đại học Princeton, và tiến sĩ cùng ngành ở Đại học California, Berkeley. Tôi chọn ngành chính trị học vì thấy đây là một lãnh vực cực kỳ lý thú và ở Việt Nam chưa từng nghe đến. Hiện tôi là giáo sư khoa Chính trị học và giám đốc chương trình Á châu học của Đại học Oregon (University of Oregon).

TD: Động lực nào đã khiến giáo sư và các bạn đồng nghiệp đứng ra tổ chức cuộc hội thảo này, và lại tại chính nơi vào thập niên 1960 đã được mệnh danh là “cái nôi” của phong trào phản chiến Mỹ - đây là một sự cố ý hay tình cờ?

GS.VT: Tôi nghiên cứu về chính trị và chiến tranh Việt Nam và đang in một công trình nghiên cứu tựa đề “Cách mạng Cộng sản ở Việt nam: Quyền năng và giới hạn của ý thức hệ” (Vietnam’s Communist Revolution: The Power and Limits of Ideology). Trong quá trình nghiên cứu đó, tôi cảm nhận giới học giả thế giới hiểu rất ít và thiên lệch về Việt Nam Cộng Hòa. Họ có xu hướng nhấn mạnh tính lệ thuộc ngoại bang và những vấn đề khó khăn của nó như tham nhũng và không dân chủ. Những điều này không sai, nhưng sẽ rất thô thiển nếu chỉ biết những điều này. Không khó để chỉ ra lý do của xu hướng trên: tư tưởng bài Mỹ và chống đế quốc của nhiều học giả khuynh tả, phong trào phản chiến ủng hộ Hà nội rất thịnh hành ở các trường đại học phương Tây trong chiến tranh Việt Nam, tâm lý xu phụ kẻ thắng trận và dè bỉu người thua trận của đám đông, sự tự do và cởi mở của xã hội miền Nam (do bị áp lực của đồng minh hay do bản chất chế độ) cho phép các yếu kém được phơi bày khá trần trụi (so với bức màn sắt ở miền Bắc), v.v... Những lý do trên làm cho một thời kỳ lịch sử của Việt Nam bị che dấu trong khi nó có thể có nhiều bài học có giá trị cho người Việt vào lúc này, khi họ muốn từ bỏ chế độ cộng sản.

Trong môi trường tự do học thuật, ở đâu có những hạn chế về tri thức, ở đó có những nỗ lực tìm tòi khám phá để đẩy rộng biên giới của sự hiểu biết. Trong nhiều thập kỷ, việc nghiên cứu về VNCH bị giới hạn vì chính trị và những khó khăn khác. Ngày nay điều kiện đã cởi mở hơn, cho phép các học giả trẻ không vướng mắc định kiến và do đấy có những khám phá mới. Ở Mỹ, giáo sư Keith Taylor của Đại học Cornell đã tổ chức thành công một Hội thảo về VNCH năm 2012. Mặc dù tôi chỉ đóng vai trò người tham dự, Hội thảo Cornell đã giúp tôi tạo lập mối quan hệ với một số nhân vật lãnh đạo của VNCH và khuyến khích tôi tổ chức một cuộc gặp mặt tương tự.

Lý do tại sao tổ chức ở Berkeley: Mặc dù Berkeley nổi tiếng là trung tâm phản chiến thời chiến tranh Việt Nam, trường Đại học Berkeley đã thay đổi nhiều. Các thế hệ thứ hai trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt có mặt ở đây rất đông. Giáo sư Peter Zinoman ở Berkeley là một sử gia hàng đầu về Việt nam; ông là người đã đóng vai trò rất lớn trong thập niên vừa qua trong việc đào tạo và hướng dẫn những sinh viên tiến sĩ nghiên cứu về Việt nam. Giáo sư Zinoman lớn lên sau chiến tranh như tôi, và ông ta không bị các định kiến của giới học giả phản chiến chi phối. Ông là một trong những giáo sư tôi gặp đầu tiên ở Berkeley, và tôi đã lấy lớp của ông cũng như được ông huấn luyện cách nghiên cứu của sử học (chuyên môn của tôi là khoa học chính trị, không phải sử). Việc tổ chức Hội thảo này chỉ là một phần nhỏ trong những quan hệ hợp tác giữa hai chúng tôi. Những lý do khác là Berkeley có khả năng đóng góp về tài chính, Hội thảo có ích cho những sinh viên của giáo sư Zinoman nghiên cứu về VNCH, và địa điểm ở California đơn giản và ít tốn kém cho việc đi lại của đa số diễn giả của VNCH.

TD: Về Hội thảo tại Berkeley tới đây, xin giáo sư cho biết mục đích, nội dung và dự kiến về những thành quả hy vọng đạt được qua hai ngày hội thảo là những gì? Giáo sư có gặp những trở ngại gì trong việc phối hợp tổ chức?

GS.VT: Hội thảo nhằm mục đích tìm hiểu thêm về kinh nghiệm xây dựng quốc gia dưới thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa ở miền Nam Việt nam, cả những ưu điểm và những yếu kém, thành công hay thất bại. Tôi tin rằng Hội thảo sẽ giúp mở rộng hiểu biết về VNCH mà hiện nay còn rất hạn hẹp và thiên lệch như tôi đã nói ở trên. Hội thảo cũng có thể gợi ra vài bài học bổ ích cho việc xây dựng một thể chế dân chủ, kinh tế tư nhân phát triển, và xã hội tự do ở Việt nam vào thời điểm này và trong tương lai. Đường hướng phát triển này đã hiện hữu trong cơ cấu chính trị, kinh tế, và xã hội của VNCH, nhưng bị khuynh đảo bởi cuộc chiến tàn bạo và bị chôn vùi trong bốn thập niên qua sau khi đất nước thống nhất bởi những người Cộng sản. Mục đích của Hội thảo trước nhất là vì học thuật. Chúng tôi không có mục đích chính trị, không phục vụ ý đồ của bất kỳ phe nhóm chính trị nào trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, càng không nhằm phê phán, tôn vinh, hay khôi phục chế độ VNCH.

Hội thảo gồm bẩy nhóm bài viết: năm nhóm bài viết của các nhân vật lịch sử thời VNCH và hai nhóm bài viết của các học giả nghiên cứu về giai đoạn đó. Trong số các nhân vật lịch sử, có các bộ trưởng, chính khách đối lập, sĩ quan cao cấp, văn nghệ sĩ, và các nhà giáo dục. Các vị này sẽ trình bày dựa trên kinh nghiệm bản thân và công tác của họ về chính sách của chính quyền, các hoạt động và phong trào chính trị, quân sự, văn hóa, nghệ thuật, và giáo dục. Những bài viết của học giả dựa trên nghiên cứu những tài liệu lưu trữ và phỏng vấn.

Trong khi tổ chức Hội thảo, chúng tôi được sự ủng hộ nhiệt tình của Giáo sư Zinoman và Tiến sĩ Sarah Maxim (bà là Phó Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á của Berkeley), và sự tin cậy cũng như ủng hộ của rất nhiều nhân vật lịch sử của VNCH. Nếu không có sự nhiệt tình giúp đỡ, giới thiệu, vận động, và đóng góp kiến thức, thời gian, và tài chính của các ông Nguyễn Đức Cường, Hoàng Đức Nhã, Trần Văn Minh, Phan Công Tâm, Trần Văn Sơn (đã quá vãng năm ngoái) và những cộng sự của họ, Hội thảo sẽ không thể ra đời.

Trở ngại chính là số nhân vật lịch sử thời VNCH không còn nhiều, phần lớn sức khỏe yếu do tuổi tác cao và tù đày nhiều năm dưới chế độ cộng sản, nhiều người e ngại nói trước công chúng nhất là bằng tiếng Anh, và cũng có vài vị nghi ngờ thiện chí của chúng tôi. Hai tháng trước ngày Hội thảo, hai nhân vật lịch sử đã nhận lời tham gia nhưng, tiếc thay, đột ngột quá vãng do tuổi cao và bệnh tật. Đó là Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, cựu Thứ trưởng Giáo dục, và ông Võ Long Triều, cựu Bộ Trưởng Thanh Niên và chủ nhiệm báo Đại Dân Tộc cũng như chính khách đối lập.

TD: Được biết thành phần diễn giả gồm hai loại, một là các học giả/giáo sư đại học, họ gồm những ai và các đề tài tham khảo là gì?

GS.VT: Các học giả bao gồm ba người là giáo sư Đại học, một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, và bốn nghiên cứu sinh tiến sĩ. Phần lớn họ đến từ các trường đại học lớn của Mỹ (Berkeley, Cornell, Dartmouth, Columbia). Có một người đến từ Canada. Có hai người gốc Việt. Đề tài của họ bao gồm chính trị, kinh tế và xã hội dân sự dưới thời VNCH. Ngoài diễn giả ra, có ba người trong Ban Tổ chức cũng là gốc Việt.

Đặc biệt trong ngày thứ hai của Hội thảo vào giờ ăn trưa có buổi ra mắt sách mới của Giáo sư Nathalie Huỳnh Châu Nguyễn từ Đại học Monash của Úc đến. Giáo Sư Nguyễn là người Úc gốc Việt và tác giả của nhiều tác phẩm nghiên cứu về cộng đồng người Việt hải ngoại. Tác phẩm mới nhất của bà sẽ được giới thiệu tại Hội thảo là “Quân nhân miền Nam Việt nam: Ký ức về chiến tranh Việt nam và thời hậu chiến” (South Vietnamese Soldiers: Memories of the Vietnam War and After).

TD: Được biết nhóm diễn giả thứ hai gồm những vị đã từng sinh hoạt, do đấy đã đóng vai trò nhân chứng, trong các cơ quan chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thuộc các ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp, và quân đội, và trong các ngành nghề liên quan đến kinh tế, giáo dục, văn hóa, và văn học, kể cả truyền thông, và nghệ thuật. Xin giáo sư cho biết thành phần thuyết trình viên này gồm những ai, và đề tài thuyết trình của họ là những gì?

GS.VT: Các thuyết trình viên của nhóm sau này gồm các diễn giả, nói về các đề tài chính trị, quân sự, kinh tế, kể cả nông nghiệp, thì có: Luật sư Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ trưởng Nội vụ thời Đệ nhất Cộng Hòa, sẽ nói qua hệ thống Skype, về “Tổng thống Ngô Đình Diệm và Đệ nhất Cộng Hòa (1954-1963); Ông Hoàng Đức Nhã, cựu Bộ trưởng Bộ Dân vận và Chiêu hồi, về “Nỗ lực hướng tới một nền hoà bình vững bền để tiếp tục kiến quốc: Thỏa hiệp Hòa bình tại Việt Nam và Hậu quả”; Giáo sư Vũ Quốc Thúc bàn về “Sự Ra đời của Hệ thống Ngân hàng Trung Ương,” cũng qua Skype, từ Pháp; Luật sư Cao Văn Thân, cựu Bộ trưởng Bộ Cải cách và Phát triển Nông nghiệp thời Đệ nhị Cộng Hòa, thuyết trình về “Cải cách Ruộng đất, Phát triển Nông thôn và Nông Nghiệp”; Ông Phạm Kim Ngọc, cựu Bộ trưởng kinh tế thời Đệ nhị Cộng Hòa, bàn về “Cải cách hoặc Tan rã”; và Ông Nguyễn Đức Cường, cựu Bộ trưởng Thương mại và Kỹ nghệ, nói về “Nền móng của Tự lực và Phát triển.” Về quân sự, có cựu Đại tá Trần Minh Công, chỉ huy trưởng Học Viện Cảnh sát Quốc gia nói về những thách thức đối với ngành Cảnh sát dưới một chế độ có định hướng dân chủ và trong thời chiến; và cựu Trung tá Bùi Quyền, Lữ Đoàn phó Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, trình bày cách nhìn của ông đối với cuộc chiến với tư cách một sĩ quan vào sinh ra tử ngoài mặt trận.

Riêng về các đề tài văn hóa, giáo dục, và văn học nghệ thuật thì có nữ Tiến sĩ Võ Kim Sơn, nguyên giảng sư Đại học Sư Phạm Sài Gòn, nói về “Việc điều hành hệ thống giáo dục công lập tại Nam Việt Nam”; Tiến sĩ Nguyễn Hữu Phước, nguyên Viện trưởng Phân khoa Đào tạo Giáo viên Tiểu học tại Saigon, đóng góp về đề tài “Triết lý Giáo dục và Phát triển Hệ thống Trường Kiểu mẫu của Việt Nam Cộng Hoà”; Nhà báo Phạm Trần, với trên 50 năm kinh nghiệm trong báo giới từ cả trước và sau 1975, nói về đề tài “Sống và làm việc trong vai trò ký giả dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà”; Nhà báo Vũ Thanh Thủy, cựu phóng viên chiến trường trước 1975 và hiện là giám đốc Đài Phát thanh Saigon Houston, nói về “Chiến tranh Việt Nam qua cái Nhìn của các Phóng viên Chiến trường người Việt”; Ông Huỳnh Văn Lang, giám đốc Viện Hối Đoái và bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Đảng Cần Lao Nhân Vị thời Đệ nhất Cộng Hoà, sáng lập viên Hội Văn hoá Bình dân và tạo chí Bách Khoa, và là một nhà kinh doanh thành công thời Đệ nhị Cộng Hoà, qua Skype, nói về “Xã hội của Những Kẻ Tự nguyện Lưu vong Muôn thuở”; Nhà văn Nhã Ca, tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết và đặc biệt cuốn hồi ký lịch sử “Giải Khăn Sô Cho Huế,” mà ấn bản Anh ngữ do Bà Olga Dror dịch được phát hành cách đây hai năm, kể về kinh nghiệm viết văn tại Miền Nam; và cuối cùng, nữ diễn viên Kiều Chinh trình bầy về “Nghệ thuật Điện ảnh Việt Nam Cộng Hoà, 1954-1975.”

TD: Được biết trong nhóm thuyết trình viên thứ hai vừa kể trên có ông Võ Long Triều vừa mới ra đi. Xin thành thật chia buồn cùng gia quyến của ông Triều và với riêng ban tổ chức hội thảo về sự ra đi bất ngờ này. Xin giáo sư cho biết qua về thân thế và đề tài mà ông Triều sẽ thuyết trình và ban tổ chức có định cho người trình bầy đại ý nội dung phần nói chuyện này của người quá cố?

GS.VT: Ông Võ Long Triều là người Bến Tre du học ở Pháp trong thập niên 1950 và tốt nghiệp ngành kỹ sư canh nông tại Đại học Paris-Grignon. Sau khi về nước, ông Triều làm việc ở Bộ Cải tiến Nông thôn và dạy học ở trường Cao đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn. Ông nhận chức Bộ trưởng Thanh niên và Thể thao trong Nội các chiến tranh của tướng Nguyễn Cao Kỳ năm 1966, nhưng từ chức một năm sau để phản đối việc lạm quyền của tướng Cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan. Ông bị động viên nhập ngũ sau đó và tốt nghiệp trường Sĩ quan Bộ binh Thủ Đức. Mặc dù chịu nhiều cản trở từ phía chính quyền, ông được bầu làm Dân biểu Quốc Hội của tỉnh Bến Tre khóa 1971-1975. Ông sáng lập, điều hành, và phụ trách mục bình luận trên nhật báo Đại Dân Tộc để tranh đấu cho lập trường chính trị của ông. Ông đi tù 11 năm dưới chế độ cộng sản, sau đó đi định cư ở Pháp và Mỹ. Ông tiếp tục hoạt động mạnh trên lãnh vực truyền thông ở hải ngoại trước khi qua đời vào tháng trước do bệnh tật.

Ban Tổ chức Hội thảo yêu cầu ông Triều trình bày về hai vấn đề. Một là phân tích đánh giá nền dân chủ đa nguyên của Đệ nhị Cộng Hòa qua kinh nghiệm dân biểu đối lập và chủ báo Đại Dân Tộc -- cụ thể là những tiến bộ và hạn chế, cũng như lý do của hạn chế; vai trò và tổ chức của đối lập chính trị thời Đệ Nhị Cộng Hòa; và bài học để xây dựng Việt nam dân chủ trong tương lai. Hai là phân tích, đánh giá khả năng và hạn chế của chính quyền VNCH từ thời chuyển tiếp (1963-67) cho đến Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-75) -- bao gồm khả năng kiểm soát và cai quản quốc gia về các mặt quân sự, kinh tế, chính trị, lý do thiếu khả năng hay có tham nhũng, lý do của thành tựu và yếu kém. Tiếc là ông Triều không còn nữa, và bài viết của ông hãy còn dở dang không thể đưa ra trình bày.

TD: Thế còn Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm cũng vừa qua đời – Xin thành kính phân ưu cùng gia đình GS về mất mát lớn lao này. Xin Giáo sư Tường cho biết về GS Liêm và phần thuyết trình của ông được không ạ?

GS.VT: Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm sinh ở Mỹ Tho, tốt nghiệp Tiến sĩ Giáo dục ở Đại học Iowa State University, là cựu hiệu trưởng trường Petrus Ký và thứ trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo dục và Thanh Niên dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa. Chúng tôi đặt hàng ông viết về sự phát triển và quan điểm chi phối việc tổ chức giáo dục đại học và chuyên nghiệp dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa, bao gồm: triết lý giáo dục, tổ chức đào tạo, quản trị đại học, ảnh hưởng của Pháp và Mỹ, những nỗ lực cải cách nếu có, sự phát triển của khu vực tư và khu vực công trong giáo dục và quan hệ giữa hai khu vực, và bài học cho tương lai. Trước khi mất, Giáo sư Liêm giới thiệu Tiến sĩ Võ Kim Sơn và Tiến sĩ Nguyễn Hữu Phước thay ông phụ trách bài viết về lãnh vực giáo dục.

TD: Trong thông báo về cuộc hội thảo này, ban tổ chức có nói là hy vọng thu thập tài liệu và phân tích những nỗ lực của Miền Nam về cả quân sự lẫn những khía cạnh khác của công trình xây dựng đất nước, đồng thời giúp cho giới học giả hiểu biết về các kinh nghiệm kiến quốc trong thời chiến, không chỉ ở Việt Nam và với sự trợ giúp từ bên ngoài. Ngoài ra, đáng kể hơn cả là việc ban tổ chức nhấn mạnh là, “Một cách đáng kể là kinh nghiệm thời Cộng Hòa về chính trị, kinh tế xã hội, và một sự phát triển văn hóa sinh động rất phùng thời cho Việt Nam hôm nay khi người dân trong nước đã bác bỏ Chủ nghĩa Cộng sản nhưng còn đang cố gắng xây dựng một chính quyền dân chủ, một xã hội công bằng, một nền văn hóa sinh động và một nền kinh tế phồn thịnh dựa trên nền tảng tư doanh.” Xin giáo sư khai triển thêm: có phải giáo sư đang nhìn thấy những đổi thay chính trị không thể không xẩy ra ở Việt Nam trong một tương lai gần, đặc biệt trong bối cảnh thảm họa môi trường đang diễn ra từ mấy tháng nay với vụ cá chết, biển độc, dân chài mất nguồn sinh sống, và dân chúng biểu tình khắp nơi, đặc biệt tại Miền Trung là nơi chịu nạn nặng hơn cả?

GS.VT: Ở Việt Nam hiện nay, tôi cho rằng thay đổi chính trị theo chiều hướng dân chủ hóa là không thể tránh khỏi. Giới trí thức và rất đông dân chúng ủng hộ việc này, và càng ngày phong trào càng mạnh. Vấn đề là khi nào sẽ chuyển hóa (trong vòng năm năm hay lâu hơn), và theo kiểu nào (ít hay nhiều bạo lực, thay đổi tạo động lực chuyển biến nhanh hay phải qua nhiều trắc trở). Câu trả lời dĩ nhiên tùy thuộc vào người trong cuộc và một phần vào tình hình quốc tế.

TD: Cũng trong giòng suy nghĩ trên, gần đây có hiện tượng đáng chú ý, đó là việc một số người trẻ trong nước có khuynh hướng vọng tưởng về thời Việt Nam Cộng Hòa với nhiều tiếc nuối. Có người tự xưng là hậu duệ của VNCH. Có người ngang nhiên treo cờ vàng ba gạch đỏ của thời VNCH trước nhà, như trường hợp của cậu Nguyễn Viết Dũng (đã đi tù về tội “phá rối trật tự” khi đi biểu tình chống đốn cây xanh ở Hà Nội và bị bắt), hoặc như cô Hồng Thái bất chấp hậu quả công khai lên YouTube bầy tỏ niềm tiếc nuối về một thời Cộng Hoà nhân bản và khai phóng mà thế hệ của cô đã không được hưởng. Trên YouTube ta được thấy một số clip thu hình các em vào Nghĩa trang Biên Hoà thắp nhang nến khấn vái với các anh linh của tử sĩ VNCH. Gần đây tôi được đọc một tài liệu dài trên một trang Web, có lẽ là của một người trong nước, viết về nền giáo dục dưới thời VNCH, với tựa đề mà thú thật tôi đọc không khỏi thấy sót xa: “Nhìn lại nền Giáo dục VNCH: Sự tiếc nuối vô bờ bến.” Thực ra thì nhiều người trẻ sinh sau 1975 và lớn lên trong lòng chế độ cộng sản đã từ lâu tìm đọc sách vở VNCH và biết tới những công trình văn hoá nghệ thuật của giai đoạn này. Tôi nhớ có một lần trao đổi e-mail với một em trong nước, hỏi tại sao cậu ta lại quan tâm tới văn học của thời Cộng Hoà thì cậu cho trả lời rất ngắn gọn, “Vì ở đó có sự thật.” Xin phép đã nói lan man …

Trở lại đề tài kiến quốc, theo giáo sư công trình cấp thiết nhất trong việc xây dựng đất nước là gì? Giáo sư đã có những suy tư gì có thể chia sẻ được với độc giả?

GS.VT: Một quốc gia tồn tại trong 20 năm với đầy đủ chính quyền và được công nhận bởi hàng chục nước khác dĩ nhiên phải để lại di sản nào đó. Có thể là di sản vật chất, ví dụ như Dinh Độc Lập hay Xa lộ Biên Hòa. Có thể là di sản tinh thần, ví dụ như thơ Bùi Giáng, nhạc Phạm Duy, hay tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc. Có những di sản tinh thần khó thấy hơn, ví dụ thái độ yêu tự do, tinh thần trọng tri thức và tranh luận, tâm lý cởi mở với thế giới bên ngoài, thói quen lễ phép của trẻ em, hay tư duy mạo hiểm của nhà sản xuất kinh doanh.

Không phải di sản nào cũng hay và tốt: đâu phải bản nhạc nào của Phạm Duy cũng hay? Cũng không phải mọi di sản tồn tại bất biến với thời gian: những di sản vật chất sẽ bị hủy hoại dần dần, và nhiều di sản tinh thần có thể chỉ còn trong ký ức những người lớn tuổi. Nhận diện và đánh giá những di sản của VNCH là việc làm có giá trị: trước mắt là về mặt lịch sử, sau đó là những bài học cụ thể (cả bài học tốt lẫn xấu) trong xây dựng dân chủ (ví dụ Hiến pháp Đệ nhị Cộng Hòa và cơ chế lưỡng viện), trong phát triển kinh tế (ví dụ chính sách phát triển nông thôn), và trong việc tổ chức một xã hội tự do phóng khoáng (ví dụ nền báo chí tư nhân hay các hiệp hội chuyên môn).

Tôi nghiên cứu về chính trị, và dĩ nhiên có xu hướng xem chính trị có vai trò chủ chốt. Theo tôi, việc cấp thiết nhất với Việt nam hiện nay là cải tổ chính trị sâu sắc và rộng lớn theo hướng dân chủ hóa. Giải quyết được điều này có thể giải phóng được rất lớn trí tuệ và năng lực người Việt Nam. Nếu sợ dân chủ sẽ dẫn đến hỗn loạn, hãy có lộ trình, nhưng không được lấy cớ hỗn loạn để trì hoãn. Bi (hài) kịch là nhiều vị lãnh đạo Việt nam tự đắc là chính quyền của họ dân chủ nhất thế giới. Nếu thế thì còn gì để nói nữa?

TD: Như Giáo sư đã nói qua ở trên thì đây không phải là cuộc hội thảo đầu tiên về kinh nghiệm kiến quốc của VNCH? Giáo sư và các bạn đồng nghiệp đã từng tổ chức một cuộc hội thảo tương tự nhưng thu hẹp hơn vào khuôn khổ thời Đệ nhị Cộng Hoà từ 1967 tới 1975 tại Đại học Cornell vào năm 2012? Xin giáo sư cho biết về cuộc hội thảo này? Chủ đề là gì? Nội dung gồm những gì? Thành phần tham dự gồm những ai? Thành quả ra sao? Phản ứng của giới học giả về những gì thu thập được từ cuộc hội thảo này thế nào? Ai muốn tìm hiểu và tham khảo các tài liệu đã thu thập được từ cuộc hội thảo này thì phải làm gì?

GS.VT: Hội thảo ở Cornell năm 2012 nhằm mục đích tạo cơ hội cho những nhân vật lãnh đạo và giới tinh hoa của VNCH có dịp nói lên quan điểm của họ mà trước nay người Mỹ ít được nghe. Trong Hội thảo đó, có phần trình bày của những vị như cựu Đại sứ Bùi Diễm, cựu Trung tướng Lữ Lan, Thẩm phán Phan Quang Tuệ, ông Trang Sĩ Tấn, ông Trần Văn Sơn, ông Hoàng Đức Nhã, v.v... Hội thảo chỉ chuyên về chính trị và quân sự nên không có sự hiện diện của các nhà giáo dục và văn nghệ sĩ như Hội thảo lần này ở Berkeley. Hội thảo rất thành công với sự có mặt trong cử tọa của nhiều nhà nghiên cứu về chiến tranh Việt nam ở miền Đông Hoa kỳ cũng như các giáo sư và sinh viên của Cornell. Phần lớn các bài trình bày đã được xuất bản trong quyển “Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975)”.

TD: Xin phép tiếp lời Giáo sư Tường để chia sẻ thêm với độc giả, và cũng cám ơn Giáo sư đã có nhã ý gửi cho đọc cuốn sách “Voices” kể trên. Thú thực, đọc qua các bài thuyết trình đã được khai triển thêm và chú thích trong tập sách gần 200 trang này, tôi đã học hỏi thêm nhiều điều và cũng không khỏi ngạc nhiên tự hỏi: là tại sao suốt thời gian lớn lên tại Miền Nam (tôi chỉ thực sự bước vào tuổi 20 vào giữa thập niên 1960), và mặc dù sinh hoạt trong giới văn học và báo chí mà tôi thực tình không biết một cách sâu xa những gì đề cập tới trong tập sách tuy mỏng mà đầy ắp thông tin đó. Những bài viết về từ công trình xây dựng và củng cố (sau một thời gian bị gián đọan vì khủng hoảng chính trị từ sau khi chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị xụp đổ, từ 1963 tới 1967) các cơ chế chính trị, đảng phái, kinh tế, các chương trình quân sự bình định và phát triển nông thôn, đặc biệt chương trình Người Cầy Có Ruộng phải nói là tương đối thành công dưới thời Đệ nhị Cộng Hoà, trong bối cảnh cuộc chiến ngày một gia tăng, khốc liệt, cùng với sự thâm nhập đánh phá, kể cả khủng bố, hàng ngũ quốc gia của cán bộ Cộng sản. Một trong những bài tôi đặc biệt thích thú, và cũng sót xa nữa, là bài “Từ việc trực diện các nhóm phản chiến tới công cuộc kiến quốc” của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, kể lại những đối phó của VNCH với bên ngoài, đặc biệt là trong bầu không khí vô cùng tiêu cực do ảnh hưởng của phong trào phản chiến từ Mỹ đối với cuộc chiến tại Việt Nam đã làm mờ nhạt chính nghĩa tranh đấu bảo về nền tự do và dân chủ còn rất non yếu của VNCH. Tôi cũng cảm nhận được sự chân thực, không khoe khoang, tô hồng qua những lời trần tình của các tác giả trong “Voices” khi kể lại kinh nghiệm kiến quốc của họ. Và tôi hy vọng độc giả tiếng Việt sẽ có dịp đọc bản dịch Việt ngữ của cuốn sách tài liệu này trong một tương lai không xa.2

Xin thành thật cám ơn GS Tường đã bỏ thì giờ chia sẻ qua buổi nói chuyện hôm nay. Tôi cũng muốn nhân cơ hội này gửi lời cám ơn nhà văn Bùi Văn Phú là người đã giới thiệu chúng ta với nhau và do đấy cho tôi dịp biết đến những công trình giáo sư và các bạn đồng nghiệp đang theo đuổi, để chia sẻ với độc giả Việt hôm nay. Xin chúc cuộc hội thảo tới tại Đại học Berkeley thành công tốt đẹp.

[TD, 2016/10]



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Dec 7 2016, 04:52 PM
Gửi vào: #124


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,635
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Kẻ Vô Ơn

1.

Nghe tôi nói đến “Hiếu Nhà Băng”, ông Thạc lộ vẻ ngạc nhiên:

– “Hiếu nhà băng” ở Zurich? Ông cũng quen hắn à?
– Quen. Nhưng chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy?
– Biết chứ. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy hắn có cái biệt danh khác – “Hiếu tồ”.
– Trái đất tròn thật. Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch trên sông Nil, lâu rồi, dễ cũng đến ba hoặc bốn năm. Quen nhau kiểu ấy thì chỉ loáng thoáng thế thôi, mãi đến năm ngoái gặp lại nhau ở Genève hai đứa mới có dịp tâm sự. Ông này tính tình cởi mở, dễ chịu lắm, tuy có hơi tồ tồ một chút thật, ông gọi là Hiếu tồ cũng không ngoa. Nghe ông nói mới biết, chứ tôi cứ tưởng ông ta là dân Bắc kỳ di cư rồi vọt qua đây sau tháng tư 75. Cái vụ thuyền nhân bi thảm là thế, thế giới chửi cho mất mả, vậy mà cũng có cái mặt hay của nó – người mình giờ ở đâu cũng có, dễ chỉ thua dân Trung Quốc. Người ta bảo ở đâu có gián ở đấy có người Trung Quốc.
– “Hiếu tồ” đi sang bên này khoảng 78 hay 79 chi đó.
– Thuyền nhân?
Ông gật đầu.
– Tức là có đi kháng chiến một đoạn, rồi dinh tê?
– Đại khái thế. Nghe nói bây giờ hắn giàu. Không phải giàu thường thường, mà giàu lắm.
Ông Thạc liếm đôi môi khô. Trong giọng nói của ông có một chút khó chịu, hoặc một chút ghen tị, hoặc cả hai.
– Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi thấy cần nói nhận xét của mình, tôi không thích cái sự khó chịu vì người khác giàu ở ông Thạc – Ăn vận xuyền xoàng, xe không sang – một cái BMW không còn mới. Đại khái thì cũng như mọi người khác, người bình thường, không vênh, cũng không hãnh. Nghe ông ấy kể thì đúng là trước khi về hưu ông ấy có làm việc ở một ngân hàng lớn. Phó giám đốc hay là chuyên viên gì đấy.
– Giám đốc đấy, ông ạ. Làm đến chức ấy thằng chó nào mà không giàu cơ chứ?
Ông Thạc đổi giọng ngậm ngùi:
– Ngẫm ra cái số con người ta thật lạ, lên voi xuống chó khôn lường, có giời biết trước. Tôi biết Hiếu lắm. Trước đây, hắn công tác cùng chỗ với tôi.
Đến lượt tôi ngạc nhiên:
– Tức là ông Hiếu còn ở bộ đội nữa?
– Chứ sao. Cấp dưới của tôi. Nhưng hồi ông đến công tác ở chỗ tôi thì hắn không còn đấy nữa. Đào ngũ rồi.
– Năm nào?
– Đầu năm 54.
– Chiến thắng đến nơi mà còn chuồn, rõ hoài, có phải không ông? Ông Hiếu có không muốn nhắc đến giai đoạn ấy cũng là phải thôi, chẳng vinh quang gì.
Tôi với ông Thạc quen nhau hồi ông còn làm trưởng phòng chính trị quân khu 3, tôi từ Việt Bắc về làm công tác tổng kết quân sự. Rồi tiếp quản thủ đô, mấy đợt rèn cán chỉnh quân, chúng tôi gặp nhau luôn. Ông về hưu với quân hàm đại tá. Người khác ở tuổi ông, có thâm niên quân đội như ông, thì đã lên tướng từ lâu.
Chuyện dân “tạch tạch xè”, đi kháng chiến bị phân biệt đối xử là chuyện thường tình, chẳng làm ai ngạc nhiên. Quen nhau lâu thế nhưng tình bạn giữa chúng tôi không thể gọi là thân thiết, có lẽ tại tính tình không hợp, hoặc tại cái gì đó không giải thích được, nhưng biết nhau hơn nửa thế kỷ mà vẫn giữ được quan hệ quen biết nhau thì cũng coi như có sự gần gụi.
Ông sang Đức ở với con gái, không hiểu nhờ ai mà biết địa chỉ của tôi, ông có biên thư hỏi thăm, thành thử có việc qua vùng ông ở, tôi rẽ vào thăm. Ông mừng lắm, ôm chặt, vỗ lưng tôi đồm độp, mắt nhòa đi. Ông đang trong cơn cô đơn, tôi đoán. Tâm trạng này,với từng cơn ác tính, có ở bất cứ người lớn tuổi nào trong cuộc sống xa quê. Hỏi thì ông bảo cuộc sống của ông tạm ổn, không có gì đáng phàn nàn.
Anh con rể người Đức là chuyên viên của hảng Siemens nổi tiếng, lương cao; cô vợ trông nom một cửa hàng hoa tươi, nhiều khách quen, có bề phát đạt. Ngoài ngôi nhà ở khang trang ở trung tâm Stuttgart, hai vợ chồng còn tậu được một nhà vườn. Ở nước Đức như thế là thuộc loại trung bình khá.
Khi mới sang, ông bố vợ ở chung với các con, ít lâu sau ông dọn ra ở nhà vườn. Ông bảo ở đây cũng đủ mọi tiện nghi, lại được ở một mình, dễ chịu hơn, chưa kể sáng sáng còn có việc làm – với cái cuốc, cái kéo tỉa cây, bình tưới, ông chăm sóc mấy giàn hoa leo, mấy luống rau thơm, ăn không ngồi rồi buồn chết đươc. Thỉnh thoảng, cuối tuần, hai vợ chồng dẫn mấy đứa cháu ngoại ra thăm ông.
Ông không biết một tiếng Đức nào, với ai ông cũng chỉ gật đầu mỉm cười thay lời chào. Anh con rể gật đầu chào lại, nhưng không cười. Hai đứa cháu trai nghịch như quỷ sứ, vừa ra đến nhà vườn là chúi ngay vào các trò chơi của chúng, la hét om sòm.
– Cái giống Đức tính lạnh, ông ạ, không như người mình – ông nhận xét. Giao thiệp với dân Đức không dễ, chẳng biết trong bụng chúng nó nghĩ gì. Thằng rể tôi đươc cái lễ độ, biết kính trọng bố vợ.
Ông tiếp tôi ở nhà vườn, xăng xái đi nấu cơm thết bạn. Tôi thấy ông đi đứng còn nhanh nhẹn, lưng không gù, giọng sang sảng, duy có nước da mai mái, dấu ấn của bệnh sốt rét kinh niên, làm ông hơi xấu mã. Hàm dưới đưa ra, má hóp lại. Ở tuổi bảy mươi sáu mà được như thế là tốt rồi. Trong phong thái, ông vẫn còn giữ được chút gì đó của một thời chinh chiến, khi ông còn là một cán bộ quân sự quen ra lệnh. Bây giờ không ra lệnh được cho ai thì ông ra lệnh con béc-giê giống Đức lúc nào cũng quanh quẩn bên chủ. Nó to như con bê, mà hiền khô. Dưới sự chỉ huy của ông nó biết ăn cơm nguội rưới tí nước thịt, y như một con vàng hoặc con vện Việt Nam.
Tôi muốn hỏi ông sang Đức sống lẻ loi thế này làm gì cho khổ, trong khi ở Việt Nam ông có bạn bè, có họ hàng. Tuổi già sống cô độc ở xứ người có vui gì. Lương hưu cấp tá giờ rất khá, hơn trước nhiều lắm, thừa đủ cho một cuộc sống không còn nhiều đòi hỏi. Ông cũng cho biết nhà nước bây giờ chiều cán bộ hưu lắm, nhất là đám có thâm niên cách mạng cao, không muốn họ gây chuyện nay kiến nghị mai phản đối, hoặc a dua với bọn hới mưng đòi dân chủ.
– Sang đây ông có gặp lại ông Hiếu không?
– Có. Mà không.
– Là thế nào?
– Tôi có trông thấy hắn ta, nhưng không gọi.
– Sao vậy? – tôi trợn mắt – Ông giận ông ấy? Giận cái chuyện đào ngũ ấy à? Vớ vẩn. Chuyện từ đời tám hoánh mà đến giờ còn để bụng thì ông quẫn rồi đấy. Bọn mình, thằng chó nào cũng vậy, gần đất xa trời cả rồi, mọi chuyện xửa xưa ông nghe tôi, cứ quăng tuốt đi, cho nó nhẹ. Ông âm lịch quá.
Ông Thạc nhún vai, môi dưới trề ra. Im lặng một lúc, ông thủng thẳng:
– Không phải tôi giận hắn cái chuyện ấy đâu, chuyện ấy tôi không tính, bộ đội hồi ấy đào ngũ nhiều, chẳng phải mình hắn … Hồi Cải cách ruộng đất bọn con cái địa chủ, phú nông, không trước thì sau, theo nhau chuồn bằng sạch. Không như chúng ta, đã đi với cách mạng là ta đi đến cùng. Chúng nó không thể kiên trì lập trường cách mạng là do bản chất giai cấp của chúng nó khác ta …
Tôi che miệng ngáp. Giời ạ, lại cái bài ca lập trường giai cấp cũ rích tưởng chừng không còn có thể nghe thấy ở bất cứ đâu, đùng một cái lại gặp nó giữa lòng nước Đức. Chán ơi là chán. Thậm chí tôi còn không còn thấy ngạc nhiên nữa.
Từ lâu rồi, chính cái ông bạn tôi này từng than thở với tôi rằng chúng tôi, có nghĩa là ông, và cả thế hệ ông nữa, bây giờ là cái vỏ chanh vắt kiệt bị quẳng vào thùng rác lịch sử, rằng cuộc cách mạng đầy lãng mạn là lẽ sống một thời trai trẻ của lớp người như ông đã biến mất, thay vào đó là một xã hội của những kẻ đi sau về trước, trong cái xã hội đó những người như ông chẳng là cái gì hết. Biết thì ông biết đấy, không phải ông ngu, ông không biết, nhưng trong tâm tư ông, trong cái vô thức vô duyên của ông, lại có cái gì đó chống lại cái biết của ông, khốn nạn vậy.
Những người như ông không ít. Trong họ cái quá khứ hào hùng nặng như cối đá, bất chấp sự biết ấy, sự ngộ nhận ấy, vẫn cứ tiếp tục tồn tại, nó sống không cần anh có biết đến nó hay không, nó hiện hữu thường trực như một bản năng được cấy ghép, âm thầm hiện hữu, thậm chí ta không nhận thấy nó, nhưng thỉnh thoảng nó lại trỗi dậy, thỉnh thoảng lại hung hăng lên tiếng. Trong cái xã hội do chính họ tạo ra, nhưng lại hình thành ngoài ý muốn của họ, theo một cách khác hẳn, họ chẳng còn gì để tự hào, họ thấy mình là đồ bỏ trong lòng xã hội ấy, thế là họ đành nhẫn nhục sống với những kỷ niệm, với những giáo điều đã chết và những hào quang không còn lấp lánh.
– Vậy thì vì cớ gì ông giận?
– Hắn là thằng vô ơn, ông ạ – ông thở dài. Tôi giận là giận cái sự vô ơn ấy. Hắn chịu ơn tôi, nhưng khi gặp tôi, hắn lờ. Tôi chỉ cần được nhìn thấy hắn mừng rỡ khi gặp lại tôi thôi, thế là đủ, thế là được, khốn nạn, nào tôi có mong gì hơn, nhưng không, khi gặp tôi, hắn lờ tịt.

2.

Ông Hiếu cười buồn khi nghe tôi kể chuyện tôi gặp ông Thạc.
– Tôi nhớ ông ấy chứ, quên sao được. Trí nhớ tôi không đến nỗi tồi. Tôi có nhìn thấy ông ấy thật. Và tôi đã không gọi, đúng thế. Chuyện ông ấy kể cho ông nghe không sai, ông ấy không bịa, đúng là ông ấy có làm ơn cho tôi thật. Nhưng là một thứ ơn mà người mang ơn không muốn nhớ đến …
Chúng tôi ở trong một biệt thự nhỏ và xinh xắn bên bờ hồ Bodensee, còn có tên là hồ Konstanz, chung biên giới với ba nước Đức, Áo, Thụy Sĩ. Hồ này rộng mênh mông, nó đứng thứ hai tính về diện tích các hồ thuộc vùng núi Alpes. Giá đất ở những nơi có địa thế đẹp ở ven hồ Konstanz đắt khủng khiếp, có thể so với giá đất ở Hà Nội. Ở những địa điểm có thể xây khách sạn, nhà nghỉ phải có nhiều tiền lắm lắm mới xây được một biệt thự riêng.
Tôi hiểu như thế nên rất ngạc nhiên thấy bên trong ngôi biệt thự chắc chắn là đắt tiền của ông Hiếu chẳng có gì sang trọng. Giữa phòng khách chình ình một cái chõng tre y như trong một quán nước ở đồng bằng sông Hồng; trên đó lỏng chỏng một cái ấm giỏ và mấy cái bát sành. Ghế ngồi là những thân gỗ mộc xù xì, nhưng có đệm dành cho khách không quen ngồi ghế gỗ. Tôi đã gặp cách bài trí theo lối cổ ở nhiều nhà người Việt ly hương, với những hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng, những sập gụ, tủ chè, tràng kỷ, cái nào cái nấy thuần bằng gỗ quý đặt trong nước làm … Cũng là nỗi nhớ quê hương, nhưng khác với nỗi nhớ của ông Hiếu, nó là nỗi nhớ trưởng giả hoặc mang hơi trưởng giả.
– Tại sao?
Ông Hiếu bắt đầu câu chuyện gợi trí tò mò của tôi vào một đêm khuya, cả hai đều khó ngủ. Chúng tôi ngồi bên nhau, an nhàn tựa lưng trên ghế dài đặt sát mép nước hồ. Ban đêm mặt hồ phẳng lặng như một tấm gương vô cùng lớn màu đen, với những đốm lửa nhấp nháy ở chân trời, rất xa, nơi có quần thể đông đúc khách sạn và nhà hàng.
– Ông Thạc chưa kể cho ông nghe?
– Chưa. Ông kể đi.
Ông Hiếu im lặng một lúc lâu. Hình như ông do dự, ông không muốn kể, có thể là ông không muốn gợi lại một quá khứ muốn quên. Ông chỉ kể khi tôi phải thúc giục vài lần nữa. Sau đây là câu chuyện tôi được nghe trong đêm ấy.

“Ông Thạc lúc bấy giờ đã là bí thư chi bộ, tôi là quần chúng. Chúng tôi đều là học sinh xuất thân, lý lịch của chúng tôi đơn giản, chúng tôi vào bộ đội như là lẽ đương nhiên – thanh niên thời chiến thì phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc.
Tôi với ông Thạc vừa là bạn, vừa có quan hệ cấp trên cấp dưới. Cái sự tôi ở trong diện cảm tình đảng, đang thời kỳ thẩm tra lý lịch để kết nạp cũng là do ông Thạc quan tâm nâng đỡ. Chứ tôi, nói thật với ông, chẳng thuộc diện được đảng chú ý, tôi thì cũng chẳng mặn mà gì cái sự vào đảng.
– Vào thời ấy mà không biết quý cái sự vào đảng thì, nói thế nào cho đúng nhỉ, – tôi nói – hoặc ông rất cấp tiến, hoặc ông hâm.
– Tôi không cấp tiến, cũng chẳng hâm – tôi lười, ông ạ – ông Hiếu cười khe khẽ. Người ta phấn đấu để được vào đảng, để được đề bạt, để được oai với người khác, tôi thì không. Còn chiến tranh thì mình làm lính, hết chiến tranh thì thôi, chẳng lẽ ở bộ đội cho đến hết đời à? Trong đảng họ nghĩ gì về tôi, tôi không biết. Mà họ nghĩ gì mới được chứ? Họ coi tôi bình thường, như mọi người lính không có gì đặc biệt. Tôi ở đơn vị chiến đấu suốt từ những ngày đầu kháng chiến cho tới khi quân khu lấy về làm ở phòng chính trị, dưới quyền ông Thạc. Tôi không thích làm lính ống quyển , nhưng quân lệnh như sơn, cứ là phải chấp hành.
– Ông có phạm kỷ luật gì trong thời gian ấy không?
– Không.
– Ông Thạc nói ông mang ơn ông ấy là ơn thế nào? – tôi rụt rè hỏi.
Ông Hiếu im lặng.
– Tôi đoán … ông phạm kỷ luật gì đó và ông ấy đã gỡ tội cho ông?
– Cái ơn còn lớn hơn. Tôi sẽ kể ông nghe.
Ông không kể ngay. Ông nhìn ra hồ. Khi có gió, mặt nước cũng lăn tăn một chút làm xao động những đốm lửa xa.
Tôi im lặng chờ. Cuối cùng rồi ông Hiếu cũng bắt đầu câu chuyện gợi trí tò mò của tôi:

3.

“Một hôm, ông Thạc gọi tôi ra chỗ vắng. Ông thì thào:
– Lâu nay cậu có tin tức gia đình không?
– Không. Cũng đến cả năm rồi không thấy thư từ gì hết. Chắc cũng chẳng có chuyện gì đâu, vùng tôi ít bị máy bay bắn phá – tôi nói. Ông cụ tớ cũng bận. Làm chủ tịch xã, lại còn kiêm nhiều việc trên huyện nữa. Tớ tính sau đợt chỉnh quân tới sẽ xin đi phép về thăm các cụ.
Ông Thạc có vẻ lúng túng. Có vẻ ông ấy phải chọn lời:
– Tớ nói chuyện này, nhưng cậu phải tuyệt đối bí mật nhá.
– Cậu biết tính tớ rồi, tớ không phải đứa bép xép.
Ông chớp chớp mắt rồi ghé sát vào tai tôi, giọng trầm trọng:
– Ông cụ bà cụ cậu bị lên địa chủ phản động rồi …
Tôi chết điếng.
Tôi không tin ở tai mình. Lúc bấy giờ ở vùng chúng tôi đóng quân đã qua bước giảm tô giảm tức, đang đi vào cải cách ruộng đất, nhưng đơn vị chúng tôi chỉ học tập chủ trương chính sách để ủng hộ chứ không trực tiếp tham gia công tác cùng các đội các đoàn. Trong học tập tôi được biết cải cách ruộng đất do đảng lãnh đạo là một cuộc cách mạng long trời lở đất, là sự đổi đời ở nông thôn, giai cấp nông dân vùng lên đánh đổ bọn cường hào gian ác. Thế nhưng, tôi cũng như nhiều đồng đội của tôi, cứ nghĩ rằng ở đây, hoặc ở đẩu ở đâu kia, mới có những tên địa chủ tàn bạo, ác độc, chứ những quân quỷ sứ ấy không thể có ở quê mình, đừng nói gì ngay trong nhà mình.
– Nghe đâu lại còn Việt Quốc hay Việt Cách gì đó nữa …
Tôi không còn nghe thấy gì nữa. Tôi gục xuống.
– Chắc cậu cũng chẳng biết hết những việc làm của ông cụ đâu … – tiếng ông Thạc văng vẳng bên tai tôi – nhưng chẳng có gì giấu được quần chúng được phát động …
– Làm gì có chuyện ấy được – tôi đứng phắt dậy, tôi kêu lên, rền rĩ. Ông cụ bà cụ tớ hiền như đất ấy mà, nào có biết đảng phái là cái gì.
– Địa phương gửi công văn đến, hỏi về cậu đấy.
– Hỏi về tớ?
– Phải. Tớ đã viết công văn trả lời sau khi hội ý toàn chi bộ, bảo đảm cậu là cán bộ tốt.
– Chuyến ấy xảy ra khi nào?
Ông Thạc thở dài:
– Ba tuần rồi.

Tôi nhớ lại: có một cái gì đó không bình thường trong ánh mắt của các đảng viên khi gặp tôi. Dường như họ tránh nhìn tôi. Trong sinh hoạt cơ quan, mọi chuyện chỉ có đảng viên được biết, quần chúng chỉ có thể đoán rằng có chuyện gì đó, xấu hoặc tốt, căn cứ thái độ của họ.
– Sao cậu không cho tôi biết?
– Nói sao được?! Nguyên tắc.
– Bây giờ cậu bảo tớ phải làm gì?
Ông Thạc suy nghĩ lung.
– Bây giờ cậu về nhà đi – ông nói. Đừng nói với ai cậu đi đâu, chuyện đó mặc tớ lo. Đây là công lệnh, bản sao công văn đơn vị gửi chi bộ địa phương, cứ cầm theo, phòng xa, có khi hữu dụng. Về đến nhà rồi, gặp được ông cụ bà cụ rồi thì trở lại ngay đơn vị. Đấy là tất cả những gì tớ có thể làm cho cậu.
Tôi nói:
– Ông Thạc đối với ông thật là tốt.
– Tôi không nói ông ấy xấu. – ông Hiếu đáp – Ông nghe nốt câu chuyện đã.

Tôi lập tức lên đường. Đi suốt đêm. Suốt ngày hôm sau. Vừa đặt chân vào nhà, tôi bị bắt ngay. Đám du kích ập đến, trói gô tôi lại. Chúng quát tháo, chúng chửi mắng, không cho tôi kịp mở miệng. Mà chúng nó là ai chứ? Toàn người quen kẻ thuộc cả, ông ạ, không hàng xóm láng giềng thì cũng người cùng thôn, cùng xã. Nghe chúng nói với nhau tôi mới biết mẹ tôi không chịu được hành hạ đã thắt cổ tự vẫn tuần trước, còn cha tôi sẽ bị bắn vào sáng hôm sau. Tôi lặng đi. Tôi không khóc được. Nước mắt chưa chảy đã cạn. Mẹ tôi là một nửa cuộc sống của tôi. Ngay cả khi sống xa nhà tôi vẫn cảm thấy mẹ ở bên tôi. Cha tôi khác, tôi yêu cha, kính trọng cha, nhưng không gần gụi cha như gần gụi mẹ.
Tôi không tưởng tượng được cái tai họa giáng xuống gia đình tôi lại lớn đến như thế, lại kinh khủng đến như thế. Đau đớn nhất là cái sự tôi là bộ đội chẳng giúp được gì cho các cụ. Không mảy may. Ngày nay ai cũng biết rõ rằng những khẩu hiệu “Người cày có ruộng,” “Đánh đổ bọn cường hào ác bá, nông dân giành lấy chính quyền,” “Nông dân là quân chủ lực của cách mạng” … chỉ là những lời lừa mị. Nhưng lúc ấy khác, lúc ấy chúng có một tác dụng ghê gớm.
Nông dân ào ào đi theo đội cải cách, hô những khẩu hiệu đùng đoàng ấy đến khản tiếng, đến rạc người. Có thể họ chân thành tin ở cuộc đổi đời mà đảng hứa hẹn, rồi đây họ sẽ trở thành những ông chủ bà chủ ở trong làng, họ sẽ có những gì mà những người sang trọng có, có thể là như thế. Điều tôi biết chắc là những con người khốn khổ hi vọng ở số quả thực sẽ được chia ngay lập tức sau khi bọn nhà giàu trở thành kẻ có tội với cách mạng – một thúng thóc, cái mâm đồng, cái phản gỗ, có khi là cả cái sập gụ cũng nên …

Sáng hôm sau, tôi bị điệu ra trường đấu. Dân chúng cả mấy xã tề tựu ở sân trường học của xã. Tôi đã nghe tiếng loa thúc giục mọi người đi dự cuộc đấu “tên phản động đầu sỏ, tên cường hào gian ác, tên địa chủ có nợ máu với nhân dân” từ khi còn tối đất. Trường học này đầy ắp những kỷ niệm thời thơ ấu của tôi và của những người bạn học mặt sát khí đằng đằng lăm lăm súng trường mã tấu đứng ở vòng ngoài.
Tôi nhìn thấy cha tôi, bị trói giật cánh khuỷu, bị lôi đi xềnh xệch, bước chân lảo đảo, giữa một đám đông xỉa xói, gào thét, những bộ mặt biến dạng với những đôi mắt đỏ ngầu, những cái miệng há to, nhớt dãi chảy xuống ngực áo, giữa rừng cánh tay vung lên hạ xuống theo những khẩu hiệu đòi trả nợ máu …
– Kinh khủng! Hồi ấy tôi đang theo học ở Liên Xô nên không được chứng kiến những gì xảy ra, chỉ được nghe kể lại, sau này …
– May cho ông, ông là người gốc thành phố, chứ dân nông thôn chúng tôi hồi ấy, chỉ cần hơi có máu mặt một tí là toi. Chẳng riêng gia đình tôi, người cùng cảnh ngộ với chúng tôi nhiều vô số kể … Tôi nói hơi có máu mặt, tức là những người có của ăn của để, chứ không nói những người có dư chút ít ruộng đất. Ở nông thôn miền Bắc nước ta, ông biết đấy, đâu có nhiều địa chủ lớn. Gọi là địa chủ, chứ đó chỉ là nông dân khá giả, do chăm chỉ làm ăn hoặc khéo sắp xếp thu vén mà hơn người. Hơn cũng chẳng nhiều, bất quá vài ba mẫu là cùng, mà lại là mẫu ta.
Ông Hiếu thở dài.
– Có cần kể cho ông nghe chi tiết cuộc đấu không?
Ông Hiếu đặt câu hỏi, rồi im lặng hồi lâu, như thể ông đang nhớ lại cảnh tượng hãi hùng mà ông không phải chỉ là người chứng kiến. Ông là người trong cuộc, người chịu đựng.
– Đại khái là có một cuộc đấu kéo dài, một cuộc xử án chớp nhoáng. Tất cả diễn ra trong những tiếng hô khẩu hiệu không ngớt. Rồi cha tôi bị điệu ra trước bức tường xa nhất của trường học, nơi vẫn còn cái khẩu hiệu do chính tay tôi viết năm 1945: “Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Minh vạn tuế!” Cha tôi bị bắn ở đó. Trước khi bị bắn, cụ chằm chằm nhìn tôi, nước mắt đầm đìa. Có vẻ cha tôi muốn nói điều gì đó với tôi nhưng không thể nói được – trong miệng cụ là một búi giẻ bẩn thỉu, từ đó nhểu xuống đất những giọt dãi …
– Cụ “đi” có nhanh không?
– Không – ông lắc đầu – Lúc đấu thì hùng hổ lắm, nhưng đến lúc phải cầm súng bắn người thì hình như không ai muốn, hoặc người nào cũng không muốn mình là người bắn viên đạn giết chết một mạng người, thành thử những người du kích được phân công hành quyết đều bắn trượt trong loạt đạn đầu tiên. Những “ông đội” “bà đội” phải hò hét, quát tháo liên hồi, giật lấy súng chỉ cách cho họ bắn họ mới bắn được. Có vài viên trúng, máu loang trên ngực cha tôi, nhưng cụ vẫn chưa nhận được viên đạn kết liễu. Một “ông đội” mắt long sòng sọc chạy xổ đến bên cọc, rút súng lục, bắn thêm một phát vào thái dương cụ mới “đi”. Tôi nhắm mắt lại, không muốn hình dung cảnh tượng gớm ghiếc đó.

4.

Chúng tôi ngồi bên nhau, im lặng rất lâu.
– Về sau này, khi nhớ lại những phút hãi hùng đó tôi mới hiểu ra vì sao trước khi đưa những người gọi là địa chủ phản động ra đấu chính thức, người ta bắt nông dân phải đấu lưng trước đã …
– Đấu lưng?
– Vâng, đấu lưng. Tức là người bị đấu phải quỳ, nhưng không được quay mặt lại đám đông đấu mình, còn những khổ chủ, những người được “đội” bồi dưỡng để đấu thì xỉa xói vào lưng người bị đấu mà kể khổ, kể tội … Chẳng qua nếu những người nông dân hiền lành thật thà mà nhìn vào mặt người hôm qua còn là họ hàng, làng xóm, tối lửa tắt đèn có nhau thì họ không nỡ lòng nào bịa đặt ra những tội lỗi không có, không thốt nổi thành lời những điều vu oan giá họa bất nhân, bạc ác như đội dạy được. Con người không phải dễ dàng trở thành quỷ. Phải dạy dỗ, phải huấn luyện, ông ạ. Và không phải bao giờ người ta cũng thành công. Có nhiều người thà chết chứ không chịu trở thành quỷ.
– Tôi tin có những người như thế.
– Điều đáng buồn là một khi đã thành quỷ rồi thì khó trở lại làm người lắm. Tôi có chú em họ, hồi cải cách ruộng đất còn nhỏ đã đi theo đội học đòi đấu tố, lớn lên thì vào đảng, rồi làm quan, ăn bẩn, cho đến khi về hưu không bị sứt mẻ gì, gọi là hạ cánh an toàn. Giàu có lắm, nhưng bị người trong họ ngoài làng xa lánh. Cũng có người cực chẳng đã phải nhờ vả chú ấy việc này việc khác, nhưng trong thâm tâm họ đều khinh bỉ. Chú ấy phân trần với tôi: “Thời thế nó thế thì phải thế, ai cũng phải làm phải ăn, em cũng không thể khác, người ta không hiểu em, chứ em có lòng dạ nào làm hại bà con.” “Nhưng họ khinh chú là phải chứ?” tôi hỏi. “Thì họ có cách nào khác, yêu em à?”, chú ấy bùi ngùi.
– Sau vụ ấy ông trốn vào thành?
Ông Hiếu tránh nhìn tôi.
– Vâng – ông nói khẽ. Tôi còn biết đi đâu?
– Tôi hiểu. Lúc ấy trong lòng tôi đầy mâu thuẫn thì dúng hơn. Tôi không muốn rời bỏ hàng ngũ kháng chiến. Nhưng tôi cũng không thể ở lại. Quên, chưa nói để ông biết, ông Thạc nhìn xa đã cấp cho tôi đủ giấy tờ cần thiết để tôi không bị lôi vào cuộc đấu tố cùng với gia đình. Đội cải cách đã tha cho tôi trở lại đơn vị.
– Nhiều người ở trong hoàn cảnh ông đã không “dinh tê.”
– Vâng, có người rồi còn trở thành cán bộ cấp cao nữa, tôi biết. Họ phải trả giá đắt cho sự thăng tiến ấy, bằng sự dối trá thường xuyên, bằng sự hàng phục tuyệt đối. Tôi không có đủ dũng khí, và lòng kiên trì nữa, để làm được như họ. Khi đã ở trong thành rồi, có nhiều lúc tôi lại muốn trở ra vùng kháng chiến. Có một sự giằng xé như thế đấy.
Sương xuống làm tôi rùng mình. Cả một vùng hồ Bodenzee lặng lẽ như không lúc nào nó lặng lẽ như thế.
– Ông có gia nhập quân đội Pháp không? Tôi muốn nói ông rồi có bị bắt lính và phải chiến đấu ở phía bên kia không?
– Không. Tôi trốn lính. Tôi không muốn cầm súng nữa, dù ở bên này hay ở bên kia. Nhưng cũng phải thú thực với ông: sau cái chết của cha tôi, cũng có lúc tôi có ý định đi với quân Pháp để đánh lại những kẻ đã mang lại thảm họa cho gia đình tôi. Tôi cũng căm thù lắm chứ. Nhưng tôi đã không làm điều đó nhờ một lời khuyên.
Chả là lúc mới về thành tôi ở nhờ trong một ngôi chùa. Khi biết ý định của tôi, sư cụ bảo: “Con tính sai rồi. Đi với cái Ác này để diệt cái Ác kia không được đâu. Chỉ có cái Thiện mới diệt được cái Ác thôi, con ạ.” Tôi nghe lời sư cụ, nhưng tôi không tìm thấy cái Thiện ở đâu cả.
– Tìm ra cái Thiện đích thực thật là khó.
– Vì không tìm ra nó, tôi chỉ biết làm một người dân bình thường. Nhưng đến năm 75 thì tôi hiểu – cái Ác đang thắng, nếu không làm được gì để chống nó thì chỉ còn cách tránh xa nó, tránh thật xa, xa chừng nào hay chừng ấy, có gọi là chạy trốn nó thì cũng đúng. Tuy chẳng có gì vinh quang trong sự chạy trốn ấy …
Chúng tôi đi ngủ. Đêm đã quá khuya.
Hôm sau, trong bữa điểm tâm, ông Hiếu đột ngột ra cho tôi một câu hỏi lạ tai:
– Ông có nghĩ rằng cải cách ruộng đất là một sai lầm như người ta thường nói không?
– Một sai lầm chứ. Đó là điều không thể chối cãi được. Chính đảng cộng sản vốn không bao giờ chịu nhận mình sai, cũng đã thừa nhận là thế. Người ta đã phải sửa sai ngay sau đó.
– Ông tin người ta có sửa sai?
Tôi có cảm giác ông Hiếu chỉ chờ tôi nói khẳng định để cười vào mũi tôi. Hẳn ông có cách nhìn khác đối với việc ấy. Tôi gật đầu.
– Họ có sửa sai. – tôi nói – Nhưng có sửa đến nơi đến chốn hay không lại là chuyện khác. Và còn phải sửa dài dài, bởi vì trang sử cải cách ruộng đất cho đến nay vẫn chưa khép lại được. Nghe nói mới đây thành phố Hà Nội vừa quyết định đền bù cho những gia đình có người bị giết trong cải cách ruộng đất.
– Đền bù thế nào?
– Một hay hai triệu đồng gì đó cho mỗi người bị chết oan.
Ông Hiếu cười khe khẻ:
– Tức là khoảng trên dưới một trăm đô la, theo tỷ hối hiện tại.
– Khoảng ấy.
Ông Hiếu trầm ngâm nhìn vào ly cà phê.
– Tôi thì không nghĩ đó là một sai lầm. Nói cho đúng, bây giờ tôi mới nghĩ được như thế. Trước kia thì không. Trước kia tôi không nghĩ ra. Một sai lầm có tính toán trước rằng kết quả nó sẽ là như thế nào, không thể gọi là một sai lầm – ông Hiếu thở dài. Người ta chỉ buộc lòng gọi nó là sai lầm khi mưu toan của họ bị bóc trần.
– Cái gì làm cho ông nghĩ như thế?
– Ông nhớ lại xem. Ông sẽ thấy điều này: ở bất cứ quốc gia nào, để tiến hành cải cách ruộng đất người ta phải điều tra tình hình ruộng đất trước đã. Nhưng ở miền Bắc trước cải cách ruộng đất, ông thấy không, đã không có một cuộc điều tra nào hết.
Tôi giật mình. Ý nghĩ ấy chưa từng đến với tôi.
– Ông có lý – tôi thừa nhận. Tôi hồi ấy ở một trong những cơ quan trung ương. Tôi không được biết có một báo cáo nào về chuyện ấy.
– Người ta tính những cái mà hồi ấy chúng ta không nghĩ tới. Người ta muốn thanh toán cho bằng hết những người đã ủng hộ cuộc kháng chiến trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước hiện đang giữ những chức vụ trong chính quyền kháng chiến để thay vào đó những người hoàn toàn mới. Những người mới này sẽ hoàn toàn là người của họ. Để làm gì? Để những kẻ được chia quả thực cướp được kia, những kẻ bỗng dưng có được địa vị ăn trên ngồi trốc kia sẽ hết mình với họ … Chỉ có chúng mới là những kẻ rất mực trung thành với họ.
– Tôi muốn hỏi thêm ông một câu.
– Ông hỏi đi.
– Tôi nghĩ ông Thạc muốn ông được gặp mặt cụ nhà lần cuối là một ý nghĩ tốt. Ông không nghĩ thế?
Ông Hiếu cười khe khẽ. Tiếng cười gằn nghe đầy cay đắng.
– Một ý nghĩ tốt chứ, tôi thừa nhận. Có khi nó còn tốt hơn cả những gì tôi nghĩ nữa. Ông ấy đã giúp tôi tỉnh ngộ. Tôi phải chịu ơn ông ấy. Nhưng tôi không cảm được cái ơn ấy trong lòng tôi. Có lẽ tôi tham lam chăng, khi tôi cho rằng trong những ngày ấy tôi cần một cái gì hơn thế. Một cái gì đó chứng tỏ ông ấy đứng về phía tôi, kẻ chịu đựng một bi kịch không đáng có. Một cái gì đó chứng tỏ ông ấy không đứng về phía những tên đao phủ. Cái gì đó ấy sẽ an ủi tôi nhiều hơn, sẽ cho tôi thêm một chút niềm tin đã mất vào con người …

5.

Ít lâu sau cuộc gặp gỡ với ông Hiếu, tôi lại gặp ông Thạc. Ông vừa về Việt Nam tham dự cuộc họp mặt truyền thống của quân khu. Ông vui hẳn lên, khác với lần chúng tôi gặp nhau ở Stutgart. Ông kể chuyện những đổi thay ở đất nước, chuyện Hà Nội khác trước đến không nhận ra, chuyện ông vừa được nhận thêm một huân chương vì những công trạng trong quá khứ …
– Ông đã gặp “Hiếu Nhà Băng” rồi hả? Hắn nói sao?
Tôi lúng túng:
– Ông ấy vẫn nhớ ông. Nhưng ông ấy không muốn gặp lại … Vì cuộc gặp lại ấy sẽ làm ông ấy nhớ đến những ngày ông ấy không muốn nhớ đến nữa.
– Cái thằng … Bây giờ mà không biết quên đi quá khứ, hướng tới tương lai là ngu, là xuẩn ngốc. Nó y như mấy thằng đang đòi dân chủ ấy, trong tụi nó có cả những thằng cánh ta ngày trước, tức là đã từng trong quân ngũ, chúng nó mắt nhắm tịt, ương như cua, không biết rằng nước ta bây giờ dân chủ lắm rồi, hơn hẳn ngày xưa rồi, ngày xưa không có nhiều dân chủ là do hoàn cảnh, là chuyện bất khả kháng, chứ bây giờ khác, bây giờ đảng ta vững mạnh, có lực lượng quân đội, công an hùng hậu, thì cho hay chưa cho, cho nhiều hay cho ít, là cái quyền của đảng, đảng không keo xỉn trong chuyện ấy, vấn đề là phải có tính toán; cho cái gì trước cho cái gì sau, cho bao nhiêu, cho vào lúc nào …
Tôi nhìn ông. Ông nói say sưa. Ông bốc. Trong ông ấn tượng của chuyến đi đầy tràn.
– Ông Hiếu gửi lời thăm ông. Tôi nói để mà nói.
– Thế hả? Nó chỉ gửi lời thăm thôi? Không nói thêm gì nữa?
– Không.
Ông Thạc sa sầm mặt.
– Cái thằng vô ơn đến thế là cùng. Để lúc nào tôi kể ông nghe đầu đuôi chuyện tôi đã làm gì cho hắn … Bây giờ chúng mình kiếm cái gì chén đã. Chắc ông đi đường cũng đói bụng rồi.
Tôi vội vã chìa tay ra:
– Xin lỗi, hôm nay tôi mắc một cái hẹn. Để bữa khác vậy.
Trong lòng bàn tay tôi là một vật mềm, nhũn nhẽo.
– Ờ ờ … Tiếc quá! Có bao chuyện muốn kể ông nghe.
– Tiếc quá!
– Nói tóm lại, thằng Hiếu là một thằng vô ơn, ông nhớ đấy, tôi nói với ông rồi đấy. Ông Thạc nói theo, khi tôi đã ra đến cửa.

Vũ Thư Hiên



--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jan 13 2017, 01:22 AM
Gửi vào: #125


Nh�Qu�
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,635
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





“Nhật ký trong tù” – đâu là sự thật?


Ngày 10/1, lần đầu tiên Bảo tàng Lịch sử quốc gia tổ chức trưng bày 18 bảo vật quốc gia Việt Nam để khách tham quan được khám phá những câu chuyện lịch sử, văn hóa của bảo vật quốc gia.
Bao gồm: Trống Hoàng Hạ: Chất liệu Đồng (Văn hóa Đông Sơn), cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm; Thạp Đào Thịnh (Đồng). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm; Cây đèn hình người quỳ (Đồng). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm…
Và đặc biệt có tập “Nhật Ký Trong Tù”. Đây được cho là tác phẩm do Hồ Chí Minh viết trong giai đoạn bị Tưởng Giới Thạch cầm tù (1942-1943).
Nhưng khi những bức ảnh được công bố trên trang VietNamNet, nhiều bạn đọc đã tinh mắt nhận ra rằng, trên tập Nhật Ký có ghi năm 1932-1933, những năm mà Hồ Chí Minh không nằm trong tù.

Đây là mốc thời gian hoàn toàn trái ngược với những gì nhà cầm quyền vẫn tuyên truyền từ trước tới nay.
Ngay sau khi phát hiện này được cộng đồng mạng chia sẻ, trang VietNamNet đã lặng lẽ xóa ảnh mà không có bất kỳ một đính chính nào.
Từ trước tới nay, có nhiều nguồn tin nói, Nhật Ký Trong Tù là của một người Trung Quốc làm, Hồ Chí Minh đã ‘chôm’ tác phẩm này. Sơ suất về năm tháng trong cuộc triển lãm ‘bảo vật quốc gia’ vừa qua phù hợp với giả thiết này.
ĐCV tổng hợp


--------------------


T? ví mình nh? chi?c n?m r?m
Không bì v?i nh?ng c? hoa th?m
Sanh t? l?p r? v??n xòe cánh
Ch?ng ??c mà hi?n khó th? h?n


NhàQuêHànhH??ng/NhàQuêTrungH?cBaTri/Tuy?nT?pTh?V?nHànhH??ng/Di?n?ànTinhKhôi
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

7 Pages: V « < 5 6 7
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 31st March 2020 - 10:41 PM