IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

9 Pages: V « < 6 7 8 9 >  
Reply to this topicStart new topic
> NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI, (TÔN GIÁO)
BenTreHome
post Jun 2 2014, 08:10 AM
Gửi vào: #141


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



THỜ PHẬT LỄ PHẬT

Toàn Không


Trên thế giới, bất luận dân tộc nào, thời đại nào, hễ người có công đức với xã hội quốc gia đều được ca ngợi tôn thờ; đối với Tôn giáo cũng tương tự nhưng có tính cách thiết tha và thường trực hơn, vì các vị giáo chủ là những bậc như gương sáng cho mọi người noi theo và có công ơn lớn đối với nhân loại. Trong các vị giáo chủ, đức Phật là bậc được tín đồ tôn sùng nhất trong sự thờ cúng lễ lạy, chúng ta sẽ phân tích về sự thờ Phật và lễ Phật.

I) - Thờ Phật


1) - Tại sao đức Phật đáng tôn thờ?
Phật là bậc hoàn toàn giác ngộ, trí tuệ sáng suốt biết hết mọi sự trong vũ trụ, và đầy đủ đức hạnh cao qúy; Ngài là bậc siêu phàm vượt thánh, có đủ Từ Bi Trí Dũng. Ngài dùng tâm bình đẳng để dẫn dắt chúng sanh ra khỏi biển khổ luân hồi sinh tử, biến người ác thành người thiện. Đức Phật để lại những giáo thuyết cao siêu không huyền hoặc, chân thật, thực hành được và kết qủa viên mãn; Ngài đã độ cho người ngu thành người trí, người không giải thoát được giải thoát, làm mắt cho người mù, làm bậc đại y vương cho người bệnh hoạn, Trời, Người, Thần, Thiên ma, Qủy Ma đều tôn kính đức Phật là bậc tối thắng; Ngài là bậc có một không hai trên thế gian này, bởi vậy chúng ta thờ Ngài.
2) - Thờ Phật như thế nào?
Thờ Phật là để tôn kính Ngài là bậc gương mẫu, là ngọn đèn trí tuệ soi đường chỉ lối Chân Thiện Mỹ cho chúng ta noi theo. Chúng ta không thờ Ngài với mục đích thấp kém như cầu xin được cái này hay cái kia một cách bất chính, thí dụ như học sinh lười biếng cầu xin được thi đậu, người trộm cướp cầu xin không bị bắt, kẻ buôn bán lừa dối cầu xin giàu có; nếu thờ Ngài với mục đích cầu xin sai lạc như thế chúng ta đã phỉ báng Ngài. Chúng ta chỉ cầu Ngài gia trì cho chúng ta sự sáng suốt, tính nhẫn nại chịu đựng, lòng khoan dung độ lượng, và tâm an bình mà thôi.
3) - Thờ đức Phật nào?
Đức Phật nào cũng có vô lượng thọ, c ũng có vô lượng quang bao la cùng khắp, công đức phúc trí vô lượng vô biên; nên thờ một đức Phật là thờ tất cả các đức Phật mười phương. Ngày nay vẫn còn trong thời kỳ giáo hóa của Phật Thích Ca nên thờ Ngài là chính, nếu người tu Tịnh Độ trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà để cầu vãng sinh, thờ thêm Phật A Di Đà. Nếu muốn thờ ba đời Chư Phật, thêm đức Di Lặc, gọi là tam thế Phật.
4) - Trưng bày bàn thờ như thế nào?
Nên sắp xếp thờ chung một bàn thờ, nếu thờ ba vị Phật phải đặt Phật Thích Ca ở giữa, nếu thờ hình phải bằng nhau không cao thấp, nếu là tượng phải đặt ngang hàng không trước sau trên dưới; thờ ông bà tổ tiên phải ở hai bên hoặc bên dưới. Chỗ thờ không để tạp vật, chỉ có bình hoa, lư hương, chân đèn, đĩa qủa, chuông mõ; những vật này thỉnh thoảng phải lau chùi. Chỗ thờ thường ở gian giữa hoặc chỗ chính của căn nhà, nếu nhà lầu, nên đặt ở tầng trên.
Lần đầu thỉnh hình hay tượng Phật về nên làm lễ “An vị Phật”. Chủ nhà phải tắm rửa sạch sẽ thân, tâm phải vui vẻ không có những tham sân buồn rầu, nếu mời thiện tri thức đến hộ niệm một thời kinh như Kinh “Bát Đại Nhân Giác” (Kinh tám điều hiểu biết của người đại trí tuệ)
Bắt đầu từ ngày an vị Phật, tất cả mọi người trong nhà ra vào qua lại trông thấy đức Phật nên nhớ nghĩ đến đức hạnh của Ngài mà tự chỉnh đốn thân tâm mình, chỉnh đốn lại các cách cư xử với nhau và với người ngoài đúng với ý nghĩa quy y Tam Bảo, hành trì Ngũ Giới, bố thí nhẫn nhục, Từ Bi Hỷ Xả để xứng với gia đình có thờ Phật.

II) - Lễ Phật

1) - Lễ Phật có nguồn gốc ra sao?
Thời đức Phật còn tại thế, các đệ tử của Phật từ vua quan đến dân chúng mỗi lần đến gặp đức Phật đang ngồi, đều qùy xuống, hai tay chống đất, đầu cổ cúi, trán sát gần chân Phật để tỏ sự tôn sùng lòng ngưỡng mộ vô bờ bến đối với bậc tối thượng tôn; cử chỉ ấy biểu lộ sự khiêm tốn khuất phục đối với đức đại Giác siêu phàm. Ngày nay mặc dù đức Phật đã nhập Niết Bàn, nhưng toàn thể tín đồ xem như Ngài vẫn còn tại thế và hình dung như Ngài ngồi trước mặt chứng giám cho tấm lòng thành kính thiết tha của mình; khi lễ Phật, hai chân qùy xuống, hai tay chống đất và cúi đầu sát đất (có sách viết hai bàn tay để ngửa), dĩ nhiên là trước khi lễ phải sửa soạn thân tâm như đã viết ở trên.
a)- Về Sự (sự việc làm): Bắt đầu, đốt hương (một hay ba cây hương tùy ý), đứng thẳng, hai tay chắp lại kẹp hương ở giữa để ở trước ngực, mắt nhìn Phật, tâm nghĩ tưởng đến các tướng tốt, đức hạnh cao cả của Ngài và tỏ bày nguyện vọng chân chính của mình bằng cách thầm nghĩ tưởng trong đầu hay nói thầm hoặc nói thành tiếng, xong vái ba vái ( hai tay chắp trước ngực vái), cắm hương vào lư, đánh ba tiếng chuông chậm rãi không to không nhỏ (nếu có chuông), rồi lạy ba lạy (cách thức lạy như đã viết ở trên), xong xá ba xá (hai tay chắp dơ cao tới đầu xá xuống tới ngực).
Lễ như thế: gọi là “chính lễ” hay “thân tâm cung kính lễ”, thân sạch sẽ tề chỉnh nghiêm trang, tâm hân hoan thành kính chính đại quang minh; nếu không như thế mà chỉ để cầu danh ham lợi, gọi là tà lễ.
b/- Về Lý (nghĩa lý): Có bốn loại nghĩa lý cao siêu:
1- Trí thanh tịnh lễ: Cảnh giới chư Phật đều tùy tâm hiện, nên lễ một đức Phật tức là lễ tất cả chư Phật, lễ một lễ là lễ cả Pháp giới, vì Pháp thân của Phật dung thông.
2- Nhập Pháp giới lễ: Người hành lễ phải tự quán thân tâm mình cùng tất cả các pháp (vạn vật) từ hồi nào tới giờ đều không rời Pháp giới (bản tính của chúng sinh).
3- Chính quán lễ: Người hành lễ lạy Phật tại tâm mình, vì mọi chúng sanh đều có Phật tánh chân giác, trí tuệ bình đẳng.
4- Thật tướng bình đẳng: Người hành lễ thấy người và mình là một, thánh phàm nhất như (như nhau), thể dụng không hai (Nguyên chất hàm ở trong gọi là Thể, công dụng làm ra ngoài gọi là Dụng), thể tánh vắng lặng (Thể tính: nguyên chất bản nguyên về tinh thần); khi lễ Phật phải phát tâm vui vẻ, nhất tâm hành lễ, ý vắng lặng không nghĩ muôn việc.
2) - Lễ vật cúng Phật
a)- Về Sự: Lễ vật chỉ cần hương đèn, hoa qủa, nước trong là đủ. Lễ vật cúng Phật chỉ là tượng trưng cử chỉ tôn kính của người Phật tử, sự cúng dường này tạo cảm tưởng gần gũi và kết duyên lành với Phật.
cool.gif- Về Lý: Có năm món diệu hương cúng Phật:
1- Giới hương: Chúng ta phải giữ giới đầy đủ để lễ Phật.
2- Định hương: Chúng ta phải định tĩnh tâm, không để ý nghĩ suy tưởng làm loạn đông tâm.
3- Huệ hương: Chúng ta phải lưu tâm ba món sáng tỏ: “Văn” là tìm nghe lời hay ý đẹp, “Tư” là suy tư những lời hay ý đẹp xem thế nào là phải trái chân tà, và “Tu” là quyết tâm thực hành những điều phải, trừ bỏ điều tà sai.
4- Giải thoát hương: Quyết trừ ngã chấp, trừ chấp cái ta, quán vô ngã để trừ đau khổ, trừ thức phân biệt cái ta là mình để thoát khỏi sinh tử luân hồi.
5- Giải thoát tri kiến hương: Đoạn dứt chấp ngã là giải thoát, nhưng chưa được vô ngại, phải trừ chấp pháp (chấp mọi vật là có thực) nữa mới được vô ngại, bằng cách quán Bốn Đại (đất, nước, gió, lửa) không thật, như nước đối với loài cá là nhà, gỗ đối với loài mọt là nhà và thức ăn v.v…, những cái ta tưởng thật nhưng không phải thật chỉ là giả dối, đối đãi với nhau sinh ra mà thôi.
3) - Cúng Pháp bảo:
Pháp bảo là giáo pháp do Phật giảng dạy, cũng gọi là Phật pháp; Phật pháp là phương thuốc hiệu nghiệm thần diệu trừ được bệnh khổ đau của chúng sanh. Muốn cúng Pháp bảo, phải tìm tòi nghe giảng, học hỏi nghiên cứu giáo lý Kinh Luật Luận của Phật giáo, khi ấy sẽ có năm công đức là điều chưa từng biết được biết, biết rồi liền áp dụng, từ bỏ các đều nghi ngờ, không còn tà kiến suy nghĩ sai lầm, sự hiểu biết được sâu rộng. Lúc có kiến thức sâu rộng, phải nghĩ tới việc ấn tống Kinh sách, phiên dịch hay sáng tác diễn giảng để phổ biến Phật pháp đến quảng đại chúng sanh, như thế là cúng Pháp bảo; người cúng pháp còn phải trừ kiêu mạn, hành chính pháp trừ tham dục, đoạn dứt đường ác đến chỗ lành.
4) - Cúng Tăng bảo:
Chư Tăng Ni là những người học giáo lý của Phật, là người bạn lành, người thầy sáng, vì thế chúng ta kính trọng, gần gũi Tăng Ni để học hỏi giáo lý và đường lối thực hành. Nếu chúng ta đã thành tâm thờ Phật, cũng nên trọng Tăng Ni vì các vị này đã truyền giáo lý của Phật đến mọi người, lẽ nào ta lại làm ngơ không biết đến.
Một vài người có bằng cấp cao tỏ ra kiêu căng ngã mạn, coi nhẹ các vị tu hành, họ cho rằng các vị tu hành không có ăn học bao nhiêu; các người có bằng cấp này chưa hiểu được Phật pháp cao siêu mà người tu hành học được, có biết bao nhiêu các nhà Khoa học trí thức trên thế giới ca ngợi cung kính Phật pháp. Hơn nữa, người xuất gia rời bỏ đời sống nhục dục, ăn chay sống cuộc đời đạm bạc để học hành Phật pháp, đây là việc làm không phải dễ đâu; vị Tăng Ni nào có đủ giới đức, chúng ta không phân biệt chùa nào, Tăng Ni xứ nào phái nào, ta đều cung phụng, vì Tăng Ni là ruộng phúc của tất cả chúng sanh, như thế là cúng dường Tăng bảo.

III) - Lợi ích của Thờ Phật lễ Phật:

Như trên đã viết, chúng ta thờ Phật lễ phật là bậc gương mẫu hoàn toàn để học hỏi noi theo, hiện tại gia đình được ảnh hưởng tốt lành của Phật, trên dưới hòa thuận, sống êm ấm. Khi có bàn thờ Phật, lễ bái hàng ngày, sống nhu hòa gương mẫu, con cháu được ảnh hưởng tốt của sự sống đạo vị hiền lương ấy.
Chư Phật có vô lượng công đức, nên người lễ Phật sẽ được năm công đức sau đây:
1- Được đoan chính, trang nghiêm chính đại, vì khi lễ nhìn hình Phật rồi phát tâm hoan hỉ, do nhân duyên này sẽ được đẹp đẽ đoan chính.
2- Được giọng nói tốt, khi lễ Phật ba lần xưng danh hiệu: “ Nam mô Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, do nhân duyên này được giọng nói trở nên tốt.
3- Được đầy đủ, khi lễ cúng Phật, rồi học hạnh từ bi của Phật phát tâm bố thí, do nhân duyên này được đầy đủ.
4- Khi lễ Phật, học lời Phật dạy lià bỏ nghĩ ác, chú tâm lạy Phật, do nhân này sẽ được sống lâu khỏe mạnh.
5- Được sinh lên cõi Trời, khi lễ Phật khởi lòng tin Tam Bảo, làm các việc lành, do nhân này sẽ sinh lên cõi Trời.
Trong Tạp A Hàm, quyển 3 Kinh số 835 trang 177, đức Phật dạy bốn chúng tại tịnh xá Kỳ Hoàn trong vườn Cấp Cô Độc thuộc nước Xá Vệ về bốn “Bất Hoại Tịnh” (Bốn niềm tin sắt đá) đối với Phật, Pháp, Tăng, và Giới. Đức Phật nói: “Người có bốn bất hoại tịnh còn hơn Chuyển Luân Thánh Vương (Đại Vương nhân đức), vì khi chết Chuyển Luân Thánh Vương được sinh cõi Trời, nhưng khi hết tuổi thọ ở cõi Trời rồi, không thoát khỏi ba đường dữ là Địa ngục, Ngạ qủy, Súc sinh. Còn người có lòng tin thanh tịnh đôi với Phật, Pháp, Tăng, Giới, được sinh cõi Trời, sau khi hết tuổi thọ ở cõi Trời, được sinh trở lại nhân gian lại có đời sống thọ và sung sướng.
Trong thế giới này, mặc dù người phàm mắt tục không thấy được Chư Thiên Thần Hộ Pháp nhưng lúc nào các vị này cũng hộ trì cho người thờ cúng Phật và tu trì Phật pháp; lại nữa, Ma Qủy khi thấy chúng ta thờ Phật đều phải tránh xa không dám đến gần quấy phá.
Khi gặp hoạn nạn, gặp nguy khốn, gặp tai biến, sợ hãi, nhớ nghĩ đến Phật, niệm danh hiệu: “Nam mô Giáo Chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” xin Phật gia trì cho khỏi sợ hãi, tăng thêm nghị lực và sức chịu đựng.
Khi lâm chung, chúng ta đã huân tập nghiệp lành trong suốt thời gian sống như thế, sẽ cảm ứng lòng từ bi của chư Phật và chư Bồ Tát, nên dễ dàng được siêu thoát về nơi an lạc vĩnh hằng.,.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jun 7 2014, 06:17 AM
Gửi vào: #142


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



THẾ NÀO
LÀ MỘT PHẬT TỬ?


Toàn Không


Phật tử là con Phật, người Phật tử tôn kính đức Phật làm đạo Sư của mình. Có hai loại Phật tử: Phật tử xuất gia và Phật tử tại gia. Phật tử xuất gia xa rời gia đình, sống không gia đình, ở trong chùa am, tịnh thất v.v… Phật tử xuất gia được thể hiện bề ngoài là cạo râu tóc, mặc quần áo của người tu để học hỏi Phật pháp, tu hành và dẫn dắt chúng sinh trên đường học hỏi và tìm kiếm chân lý. Phật tử tại gia là: những người sống tại nhà, công nhận Phật giáo là Tôn giáo của mình; trong bài này chúng ta chỉ bàn về loại Phật tử tại gia, và người như thế nào được gọi là một Phật tử tại gia?
Tuy nói là Phật tử tại gia, nhưng nếu phân tích ra, chúng ta thấy có nhiều loại: Có người cả đời chẳng bao giờ tới chùa, có người chỉ tới chùa khi có lễ Cầu Siêu cho bạn thân hay bà con chết. Có người lâu lắm mới tới chùa một lần, có người chỉ tới chùa trong các dịp lễ lớn như lễ Phật Đản, lễ Vu Lan. Lại có người tới chùa hàng tháng hoặc hàng tuần v.v...
Đạo Phật không câu chấp về sự có mặt tại chùa của người Phật tử tại gia, Đạo Phật thể hiện sự tự do bằng hai chữ “tùy tâm”, tùy hoàn cảnh, tùy duyên của mỗi người, không có sự gò bó bắt buộc;người Phật tử có quyền đến chùa mà mình ưa, nghĩa là có thể tùy hỉ tới bất cứ chùa nào không kể xa gần. Đứng về phương diện tổ chức, chúng ta thấy Phật giáo qúa lỏng lẻo, ai tới chùa nhiều thì tốt, còn ai không tới chùa cũng được, không có chuyện nhắc nhở bằng cách này hay cách khác v.v…
Cũng vì những lẽ đó, mà trình độ hiểu biết giáo lý về Phật giáo của người Phật tử rất thiếu sót và không đồng đều, không thể nào so sánh sự hiểu biết của người Phật tử nói chung về triết thuyết Phật giáo với sự hiểu biết của tín đồ Tôn giáo khác về giáo điều Tôn giáo của họ được. Nghĩa là người Phật tử không hiểu biết nhiều về Tôn giáo của mình trong khi tín đồ Tôn giáo khác họ hiểu giáo điều Tôn giáo của họ rất tường tận; tuy nhiên, cũng có một số Phật tử nghiên cứu thâm sâu giáo thuyết Phật giáo của mình chứ chẳng phải tất cả mọi Phật tử đều có trình độ yếu kém về Phật pháp.
Sở dĩ các Tôn giáo khác họ đào tạo được tín đồ của họ là vì tổ chức chặt chẽ, hàng tuần đều phải có mặt tại cơ sở Tôn giáo của họ; nếu người nào quên, được nhắc nhở bằng nhiều cách khác nhau, nhất là các thế hệ trẻ lại càng được để ý chăm sóc kỹ lưỡng.
Về Kinh sách, các đạo khác thường chỉ có một hai quyển Kinh chính và một số sách giải thích Kinh nên tương đối không phức tạp, người học dễ ghi nhớ; trong khi Phật giáo có 12 bộ Kinh, Luật, Luận và biết bao nhiêu sách, lại cao siêu khó hiểu, nhất là phần lớn các Kinh được dịch từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ. Lại chữ quốc ngữ, nhiều khi không có những từ ngữ tương tự thích hợp, không có đủ chữ để diễn tả ý Kinh nên dịch giả phải dùng chữ Hán Việt; người Phật tử phần lớn không được học chữ Nho, Hán tự, khi đọc Kinh sách gặp các chữ ấy không hiểu, lúng túng, phát nhức đầu, chán nản, nhiều người bỏ luôn không đọc nữa.
Tại các chùa, thường ban đầu chùa nào cũng có thuyết giảng giáo lý mỗi tuần, mới đầu cũng có nhiều người tới nghe; nhưng vì bận công ăn việc làm nên khi đến khi không, thành ra sự hiểu biết chỉ lõm bõm một vài vấn đề. Sau một thời gian, số Phật tử đến nghe giảng càng ngày càng thưa dần, nên cuối cùng ngưng luôn, chỉ còn có thuyết giảng trong các dịp có đại lễ mà thôi, nên kết qủa chẳng được là bao.
Như trên đã nói, Kinh sách của Phật giáo rất nhiều so với các Tôn giáo khác, người nghiên cứu nhiều hết lời ca ngợi, ngay cả những người không theo đạo Phật nhưng có nghiên cứu tìm hiểu Kinh sách của đạo Phật một cách khách quan đều khen ngợi đạo Phật là đạo trí tuệ. Như một số các nhà trí thức, khoa học, Bác học Tây phương đã từng ca tụng đạo Phật mà ai cũng đã biết; vậy mà nhiều người Phật tử chỉ hiểu Tôn giáo của mình một cách đại khái, có khi nói những điều ngược lại đường lối của đạo Phật mà chẳng biết chẳng hay.
Chúng ta thấy rõ ràng rằng một số người Phật tử không hiểu nhiều về đạo của mình, nên cần tự chấn chỉnh bằng cách tìm đọc Kinh sách; hoặc năng tới chùa, xin được nghe giảng giáo lý để trám cái lỗ trống thiếu hiểu biết Giáo lý của Phật từ bao lâu nay.
Đến đây, chúng ta thử phân tích thế nào mới là một Phật tử, đúng ra, chỉ gọi là Phật tử khi nào đã quy y Tam Bảo. Vậy những ai từ hồi còn nhỏ đến giờ chưa hề quy y, mà tưởng rằng không cần quy y vẫn đương nhiên là Phật tử, nên đến một chùa nào mà mình thấy rằng vị Thầy ở chùa ấy có đầy đủ đức hạnh để xin quy y Tam Bảo; chúng ta phân tích xem thế nào là quy y Tam Bảo?

I) - QUY Y TAM BẢO

Thế giới này, con người sống trong dục vọng mê mờ, nước mắt con người trong khổ đau nhiều hơn nước biển cả; chúng ta muốn thoát khỏi chỗ bùn nhơ, nhưng chúng ta không thể tự thấy được con đường sáng sủa để thoát khỏi; vậy ai là người có đủ phương pháp thần diệu và lòng vị tha để chỉ đường cho chúng ta đi? Đấng cao cả từ bi có đầy đủ năng lực ấy là Đức Phật. Chỉ có giáo pháp của Ngài mới cứu được con người ra khỏi vô thường đau khổ mà thôi; vậy còn ngần ngại gì mà chẳng chịu quy y Tam Bảo?

1) - Quy y là gì?
Quy có nghĩa là trở về, y có nghĩa là nương tựa, được che chở, ví như người con bỏ nhà đi hoang, bây giờ trở về nương tựa cha mẹ để được che chở, quy y còn có nghĩa là phục tùng kính vâng.

2) - Tam Bảo là gì?
Tam Bảo là ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng, vàng bạc châu báu dù qúy giá cũng không thể cứu con người khỏi khổ của sống già bệnh chết; còn Phật Pháp Tăng có đủ năng lực dẫn dắt con người ra khỏi sinh tử luân hồi, bởi vậy mới nói Phật Pháp Tăng là Tam Bảo, ba ngôi qúy báu là vậy.
1- Phật là gì? Phật do chữ Phạn Buddha phiên âm ra, có nhiều người gọi là Bụt, là Giác giả, nghĩa là bậc sáng suốt hoàn toàn giác ngộ. Phật là người thấu suốt tất cả hai phần “Tính” (Tánh, thể tánh) và “Tướng”(hình dạng) của hết thảy vạn vật trong vũ trụ.
2- Pháp là gì? Do chữ Phạn Darma dịch ra, là phương pháp đối xử, tu hành mà đức Phật đã nói ra để diệt trừ mê muội, khổ đau, và chứng qủa giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Ba tạng Kinh điển “Luật, Kinh, Luận” của Phật giáo gọi chung là Pháp.
3- Tăng là gì? - Tăng hay Tăng già do chữ Phạn Sanga phiên âm ra, là hòa hợp chúng, một đoàn thể tu hành từ bốn người trở lên sống chung hòa thuận cùng giữ giới luật của Phật để tu hành và hướng dẫn chúng sinh trên đường học đạo.

3) - Tại sao phải quy y?
1- Tại sao phải quy y Phật?
Đức Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, hiểu biết hết thảy vạn vật vũ trụ, từ bi vô lượng, phước huệ vô biên, đức hạnh viên mãn. Ngài đã giác ngộ hoàn toàn, có kinh nghiệm bản thân giải thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, nên Ngài là vị dẫn đường đúng nhất vĩ đại nhất, trên thế gian này không có người nào hơn Ngài. Do đó chúng ta quy y Phật. Quy y Phật có nghĩa là quy y Phật ba đời (qúa khứ, hiện tại, và tương lai), song lấy một vị Phật đã xuất thế để chứng minh.
2-Tại sao lại quy y Pháp?
Chỉ có phương pháp của đức Phật nói ra từ sự thấy biết và kinh nghiệm của bản thân mới thật sự chân thật, thật sự đầy đủ công năng đưa con người ra khỏi bể khổ, trầm luân, đến bờ giải thoát cũng như Ngài vậy. Giáo pháp của Ngài chân thật bất hư, có một không hai trên thế gian này, nếu ai thực hành theo đúng đều được kết qủa mỹ mãn, và đã có biết bao người đã tới đích sau khi áp dụng thực hành theo giáo pháp của Ngài. Đó là bằng chứng hùng hồn đích thực cho người Phật tử chúng ta suy gẫm, và đó là lý do tại sao chúng ta quy y Pháp.
3- Tại sao lại quy y Tăng?
Tăng là người hy sinh gia đình tiền của danh vọng thế gian để học hỏi giáo lý của Phật và tu hành. Tăng cũng là những người tình nguyện thay Phật để hướng dẫn chúng sanh về giáo lý và thực hành những điều lợi ích trên bước đường tìm chân lý giải thoát. Đó là lý do tại sao chúng ta quy y Tăng.

4) - Tam Bảo gồm những gì?
Tam Bảo gồm có ba bậc:
1- Đồng thể Tam Bảo:
- Đồng thể Phật bảo: Tất cả chúng sinh cùng có thể tánh sáng suốt như Chư Phật.
- Đồng thể Pháp bảo: Tất cả chúng sinh cùng có đức tính bình đẳng từ bi như Chư Phật.
- Đồng thể Tăng bảo: Tất cả chúng sinh cùng có thể tánh thanh tịnh như Chư Phật.
2- Xuất thế Tam Bảo:
- Xuất thế Phật bảo: Các đức Phật mười phương đều ra khỏi sự ràng buộc của thế gian và đều tự tại vô ngại.
- Xuất thế Pháp bảo: Tất cả chính Pháp của Phật đều đưa chúng sanh thoát khỏi ràng buộc của thế gian.
- Xuất thế Tăng bảo: Tất cả các vị Thánh Tăng (đã đạt đạo) đều đã ra ngoài ràng buộc của thế gian và đều tự tại vô ngại.
3- Thế gian trụ trì Tam Bảo:
- Thế gian trụ trì Phật bảo: Là hình ảnh, tượng, xá lợi của Phật.
- Thế gian trụ trì Pháp bảo: Là các Kinh, Luật, Luận của Phật.
- Thế gian trụ trì Tăng bảo: Là hàng Tăng Ni tu hành chân chính, nghiêm trì giới luật đầy đủ.

5) - Có mấy loại quy y?
Quy y được chia làm hai loại:
1-Quy y bên ngoài: Cũng gọi là Sự (sự việc làm), Quy y rồi về bề ngoài phải làm những gì?
- Đối với Phật: Cung kính Phật là người đã vì chúng sanh mà giảng giải giáo lý trong suốt cuộc đời của Ngài. Lễ bái Phật với tâm tôn kính, nguyện noi theo bước chân của Ngài trên bước đường giải thoát.
- Đối với Pháp: Nguyện học đọc tụng giáo lý cao siêu của Phật và áp dụng triệt để.
- Đối với Tăng: Thực hành quy y Tăng Ni, vâng nghe những lời chỉ bảo chân chính, hễ thấy người tu hành chân chính thì kính nể qúy trọng, xem như vị đó là đại diện của Phật.

2-Quy y bên trong: Cũng gọi là Lý (nghĩa lý), nếu chỉ quy y bên ngoài (Sự) mà quên không quy y bên trong (Lý), chúng ta chưa thực hành đúng với nghĩa Tam Quy. Bên trong chúng ta cũng có đủ Tam Bảo, chúng ta cần thực hành Tam Tự Quy Y: Tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng. Nói vậy, chứ chúng ta không nên kiêu ngạo ngã mạn về cái bản ngã đầy đủ các đức tánh của mình.
- Tự quy y Phật: Là quay về với bản tính chân như đầy đủ công đức, trở về với Phật tánh tràn đầy trí tuệ sáng suốt của mình; quy y Pháp thân (Phật tánh) chứ không quy y sắc thân (thân mình), tuy nhiên sắc thân là chỗ nương tựa của Pháp thân. Phật dạy mỗi người đều có Phật tánh, vì mê muội nên bị vọng tưởng che lấp, nhưng Phật tánh vẫn còn đó chứ không bao giờ mất, khi hết vô minh, Phật tánh hiện ra.
- Tự quy y Pháp: Là quy y cái vô dục, vâng làm theo Pháp tánh quang minh chính đại của mình như trì giới nhẫn nhục, từ bi hỷ xả, bình đẳng trí tuệ v.v…, là tự quy y Pháp.
- Tự quy y Tăng: Hướng về công đức qủa vi Thánh, tánh thanh tịnh của mình xưa nay vẫn có, cũng như Tăng già hiện thân thanh tịnh hòa hợp bên ngoài, có hòa hợp mới thanh tịnh được, nên tự quy y hòa hợp thanh tịnh là vậy.

6) - Nghi thức quy y:

(Còn Tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jun 13 2014, 11:28 AM
Gửi vào: #143


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



THẾ NÀO
LÀ MỘT PHẬT TỬ?


(Tiếp theo)
Toàn Không


6) - Nghi thức quy y:

Phải được thực hiện do một vị Tăng tại chùa, chư Tăng hướng dẫn, trong đó trước tiên phải sửa soạn bằng cách tắm rửa thơm tho, quần áo sạch sẽ cho thân thể bên ngoài, không tham sân buồn phiền bên trong. Khi quy y, mỗi người được vị Tăng ban cho một tên hiệu gọi là “Pháp danh”, phần chính của quy y là phát nguyện như sau:
- Đệ tử suốt đời quy y Phật,
- Đệ tử suốt đời quy y Pháp,
- Đệ tử suốt đời quy y Tăng.
Sau khi phát nguyện, người Phật tử đã gieo hạt giống Bồ Đề và sẽ thoát khỏi ba cảnh Địa Ngục, Ngạ Qủy (ma qủy), Súc Sinh, vì thế người quy y nói:
- Đệ tử quy y Phật rồi khỏi đọa Địa Ngục.
- Đệ tử quy y Pháp rồi khỏi đọa Ngạ Qủy.
- Đệ tử quy y Tăng rồi khỏi đọa Súc Sinh.
Sau chót, người quy y tự nguyện nói:
- Đệ tử quy y Phật rồi, nguyện trọn đời không quy y Trời, Thần, Qủy, Vật.
- Đệ tử quy y Pháp rồi, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo tà giáo.
- Đệ tử quy y Tăng rồi, nguyện trọn đời không quy y ác nhân ác đảng.

7)- Lợi ích của quy y:

Có hai lợi ích của việc quy y:
1- Không đi lạc đường: Mọi người đều ngụp lặn trong biển khổ sinh tử triền miên, nếu không có sự hướng dẫn sáng suốt, chúng ta còn quay cuồng mãi mãi trong luân hồi không có ngày ra khỏi. Cái ánh sáng ấy là đức Phật, phương tiện là Pháp (Kinh sách), và người hướng dẫn là chư Tăng. Có những sự qúy báu như thế mà chúng ta không chịu nắm lấy, chẳng khác người sắp chết đuối thấy cái bè trôi qua lại không chịu bám vào.
2- Dễ giữ lời hứa: Có người nói:”Kính Phật trọng Pháp tin Tăng là đủ, cần gì phải quy y nữa?”; sự thực, về phương diện tâm lý, một lời nguyện trước sự chứng tri của Phật, Tăng, trong khung cảnh quy y làm cho người quy y khó mà quên được vậy, nên cần phải quy y.
Quy y còn đi đôi với Ngũ giới, gọi là Tam Quy Ngũ Giới. Nếu một Phật tử đã quy y rồi mà không biết Ngũ giới thì thiếu sót, và chưa thật sự là người Phật tử; nói đúng hơn, cũng như một người đã bước chân vào cổng chùa, nhưng đứng đó không tiến bước vào chùa, chúng ta sẽ phân tích xem thế nào là Ngũ Giới.

II) - NGŨ GIỚI.

Ngũ giới là năm giới, năm điều ngăn cấm, phải giữ của người Phật tử tại gia; sở dĩ đức Phật đặt ra năm giới, vì Ngài mong muốn cho người Phật tử tại gia hưởng được qủa báo tốt đẹp. Người Phật tử không thể chỉ thọ Tam Quy mà không trì Ngũ Giới, người quy y là đã bước một nấc thang đầu tiên, nếu không giữ giới có nghĩa là dừng lại tại đó, không tiến bước tới nữa. Năm giới này không những để tiến bước trên đường giải thoát, mà còn đem lại trật tự, an vui, hòa bình cho gia đình, xã hội.
Người Phật tử tại gia đã quy y, giữ từ một tới năm giới sau đây:
1- Không sát sinh, 2- Không trộm cướp, 3- Không tà dâm, 4- Không nói dối, 5- Không uống rượu.
Đức Phật không bắt buộc người Phật tử phải tuân theo triệt để, cũng không hăm dọa nếu không tuân theo phải bị chịu hình phạt, có giữ giới hay không là tùy thuộc mỗi người tự liệu lấy; Đạo Phật khác với các Tôn Giáo khác một phần là ở điểm này. Năm giới là năm thành trì ngăn chặn cho chúng ta đừng đi vào đường ác, là năm hàng rào cản cho chúng ta khỏi rơi vào vực sâu tội lỗi.
Để hiểu rõ tường tận: chúng ta lần lượt phân tích từng giới một.

1)- Không sát sinh:

Không sát sinh bao gồm không giết hại từ con người đến súc vật lớn như voi, ngựa, trâu, bò v.v…, cho đến các loài nhỏ bé như côn trùng, sâu bọ, kiến v.v… Không những không giết hại mà còn không làm tổn thương đau đớn con người và các loài, người Phật tử cũng không bảo người khác, bày mưu kế cho người khác làm các việc hành hạ, giết hại chúng sanh các loài; khi thấy người khác đánh đập, sát hại con người và súc vật, sinh lòng thương xót và khuyên can ngăn cản.
Sự giữ giới không sát sinh nhằm mục đích bảo vệ công bằng, mọi chúng sanh đều muốn sống sợ chết, mọi chúng sanh đều có Phật tánh như nhau. Giữ giới sát sinh là nuôi dưỡng lòng từ bi, người có lòng nhân không nỡ sát hại người hay vật. Giữ giới sát sinh tránh được nhân qủa báo ứng, vì nợ máu sẽ phải trả bằng máu không ở kiếp này thì ở kiếp sau, như vậy nghiệp oán xoay vần không có ngày chấm dứt.
Từ trước đến nay, loài người đã giết hại rất nhiều bằng đủ thứ phương tiện như làm lưới, câu v.v… bắt cá dưới nước; làm bẫy, cung tên, súng đạn giết loài cầm thú trên không, dưới đất, và nhất là dùng đủ thứ mưu mẹo để giết hại con người.

Lợi ích của giữ giới không sát sinh:
- Bố thí đức không sợ hãi đối với mọi chúng sinh.
- Khởi tâm từ bi đối với chúng sinh.
- Dứt được tính nóng nảy giận dữ, oán kết tự trừ.
- Thân thường ít bệnh tật, lại được sống lâu dài.
- Thường được hàng Quỷ Thần bí mật bảo vệ.
- Khi ngủ thường không có ác mộng.
- Không đọa đường ác, khi chết sinh lên cõi trời.
Người giữ giới sát sinh luôn luôn có tâm an ổn, nét mặt hiền hòa. Nếu mọi người trên thế giới đều không sát sinh, thế giới không còn chiến tranh giết hại nữa.

2)- Không trộm cướp:

Không trộm cướp có nghĩa là không cho không lấy, từ nhà cửa, ruộng vườn, của cải, tiền bạc cho đến các vật tư hữu nhỏ bé. Cũng gọi là trộm cướp, khi lấy của tư hay của công, của công ty hay của nhà nước; khi cưỡng ép người ta bằng vũ lực hay quyền hành; khi dùng những thủ đoạn lừa gạt, mưu mẹo v.v… để đoạt chiếm sở hữu, tiền bạc như quịt nợ, giật hụi, đầu cơ tích trữ, cân non đong thiếu, trốn khai lậu thuế, v.v… cũng như trộm cướp không khác. Tóm lại tất cả các việc gian tham, lấy của bất chính đều là trộm cướp, người Phật tử không được bày mưu kế cho người khác trộm cướp; khi thấy người khác làm các việc trộm cướp, phải khuyên bảo can gián.
Giữ giới không trộm cướp là: giữ được sự công bằng bình đẳng giữa người với người, mỗi người đều có quyền sở hữu riêng tư, xã hội không công bằng khó tồn tại lâu dài được. Không trộm cướp còn thể hiện lòng từ bi, vì một người phải cực khổ để làm ra tiền nuôi thân, gia đình, và dành dụm phòng khi đau yếu hoặc tuổi già; nếu bị mất sẽ đau khổ vô cùng, tuyệt vọng có khi đi đến tự tử.
Chúng ta nhiều khi cũng buồn khổ vì mất của, xét người khác cũng vậy; chúng ta không muốn ai trộm cướp của mình, không nên trộm cướp của người, đó là lẽ công bằng; người trộm cướp, cho dù có thoát khỏi lưới pháp luật, nhưng lương tâm lúc nào cũng lo sợ, và nhân qủa nghiệp báo ở kiếp sau không thể tránh khỏi.

Lợi ích của giữ giới không trộm cướp:
Có những lợi ích:
- Tiền của có hoài, giặc, nước, lửa và con phá không làm tan mất hết được.
- Nhiều người yêu mến, khen ngợi, tiếng lành đồn xa.
- Không bị lừa gạt, không lo tổn hại, ở chỗ đông người không sợ.
- Thường sẵn lòng bố thí, khi qua đời được sinh lên cõi trời.
- Người không gian tham, đời này sống yên ổn, đi đâu cũng có người tin cậy, nếu sinh làm người, được phúc báo giàu sang.
Về xã hội: nếu mọi người đều không gian tham trộm cướp, nhà không cần đóng cửa then cài nữa.

3)- Không tà dâm:

Không tà dâm là không dụ dỗ hay dùng thủ đoạn để cướp vợ người khác, không ép buộc người khác phải thỏa mãn tình dục với mình, không hãm hiếp đàn bà, con gái. Người Phật tử không được xui bảo, bày mưu cho người khác làm việc tà dâm, cũng không vui, mà còn phải khuyên can, lên án khi thấy người làm điều tà dâm; mặc dù Phật chỉ cấm tà dâm, nhưng giữa vợ chồng cũng phải giữ lẽ, điều độ, biết tiết dục, để cho thân được khỏe, tâm được trong sạch nhẹ nhàng.

Lợi ích của giữ giới không tà dâm:
Giữ giới không tà dâm có lợi ích:
- Mọi căn điều hòa, sức khỏe thuận lợi.
- Xa lià mọi phiền toái, bậc trí khen ngợi.
- Vợ chồng con cái không ai xâm phạm.
Không tà dâm để bảo vệ sự công bình, bảo vệ hạnh phúc cho gia đình mình và gia đình người; không tà dâm còn tránh được oán thù và qủa báo xấu, vì không có sự oán thù nào mãnh liệt cho bằng sự oán thù do lừa dối tình hay phụ tình gây ra.
Nếu mọi người đều giữ giới không tà dâm, gia đình được đầm ấm, xã hội có luân thường đạo lý, không có những sự thù hằn chết chóc vì tà dâm nữa; người tu phải trừ cả dâm dục trong tư tưởng mới mong chứng qủa được.

4)- Không nói dối:

Nói dối là nói láo, nói không đúng sự thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có làm cho người nghe hành động sai vô cùng tai hại. Không nói dối còn bao gồm cả ba điều khác của miệng là không nói lời hai lưỡi, đòn càn (xóc) hai đầu, làm cho hai người khác ghét nhau, thù nhau. Kế tiếp là không được nói lời thêu dệt, thêm bớt, có ít xít ra nhiều, nói châm chọc, nói bóng bẩy làm cho người nghe buồn phiền; còn không được nói lời độc ác, thô tục, cộc cằn như nguyền rủạ chửi mắng thậm tệ làm cho người nghe sợ hãi đau khổ; người Phật tử không được xui bảo người khác nói các điều như trên, và khi thấy người khác nói những lời không đẹp ấy thì phải không vui, và khuyên can chê bai người ấy.
Trong Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, Phật bảo Tôn Giả A Nan, Thị giả của Phật rằng: “Người ta sinh ra ở đời, họa từ trong miệng mà sinh ra, nên phải giữ gìn cửa miệng hơn cả lửa mạnh, vì lửa mạnh có đốt cháy cũng chỉ đốt cháy một đời này mà thôi, còn như nói ác sẽ đốt cháy trong vô số kiếp. Lửa chỉ đốt cháy nhà cửa, của cải của thế gian, còn lời nói ác đốt cháy bảy thứ của cải của Thánh nhân; vì thế, này A Nan, chúng sanh họa từ trong miệng mà sinh ra, miệng lưỡi thực là búa sắc tự bổ vào mình, là cái họa để tự diệt mình”.
Phật tử cần giữ giới này vì đạo Phật là đạo của sự thật nên phải tôn trọng sự thật, vì nuôi dưỡng lòng từ bi, người Phật tử phải tránh sự dối trá lừa gạt để không gây cho người khác sợ hãi, buồn phiền, đau khổ. Đây cũng là để bảo tồn sự trung tín trong xã hội, mọi người tin cậy, đoàn kết giữ cho xã hội được ổn cố, vì nếu xã hội không ai tin ai, mọi công việc từ nhỏ đến lớn đều thất bại.

Lợi ích của giữ giới không nói dối:
Nếu giữ được không nói dối, sẽ có lợi ích:
- Miệng thường thơm, không bị các bệnh về miệng.
- Được mọi người tin cậy, nể phục, vâng theo.
- Không bị lừa dối, tâm thường được vui vẻ thoải mái.
- Nói không lầm lẫn, có trí tuệ, không ai chế phục được.

5)- Không uống rượu:

Giới cấm này mới nghe thấy có vẻ không quan trọng, nhưng xét kỹ thấy thật quan trọng, chính vì uống rượu say mà có thể gây phạm bốn giới cấm nêu trên là sát sinh, cướp của, nói dối, tà dâm. Như thời đức Phật Ca Diếp có người uống rượu say mà phạm gian với vợ người khác, rồi bắt gà của người ta giết làm thịt ăn, đến khi người ta hỏi lại chối là không làm gì cả. Cũng không được ép người khác uống rượu đến say mê mẩn, mửa tháo, và khi thấy người khác nghiện rượu, nên tùy lúc mà khuyên can. Giới cấm uống rượu còn bao gồm cả việc dùng các thứ ma túy, vì nó cũng làm cho tinh thần người sử dụng mất sáng suốt minh mẫn.
Mặc dù tội say rượu chưa phải là túc nghiệp (chưa đầy đủ nghiệp), nhưng vẫn phải chịu qủa báo cuồng loạn, mất trí, hay điên dại ở kiếp sau.

Lợi ích của giữ giới không uống rượu:
Người không uống rượu có các lợi ích:

- Tránh được sự hao tốn tiền bạc.
- Thân ít bệnh tật, tuổi thọ cao.
- Trí tuệ tăng trưởng.
- Sinh con cái khoẻ mạnh thông minh.
- Gia đình yên vui, tránh được mọi sự bất hòa.
Trong Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, Phật còn lưu ý người Phật tử tại gia giữ năm giới không làm các nghề như:
1- Không làm nghề nuôi, buôn bán súc sinh, nếu có nuôi súc vật, sau khi thụ Ngũ giới được phép bán nhưng không được bán cho nhà đồ tể.
2- Không làm nghề chế tạo, buôn bán cung tên đao kiếm, súng đạn mìn bom, v.v…, nghĩa là tất cả các thứ dùng vào việc giết người, khủng bố, chiến tranh đều không nên làm, không khen ngợi mà phải lên án phản đối.
3- Không làm nghề sản xuất, buôn bán các loại rượu và các loại ma túy.

III )- Kết luận về QUY Y NGŨ GIỚI:

Nếu Tam Quy là nền tảng thì Ngũ Giới là năm bậc thang của người Phật tử tại gia bước dần lên đường lành, trong bước đầu, nếu người Phật tử giữ đủ năm giới thì tốt, nếu vì sự ràng buộc chưa thể giữ cả năm giới, có thể giữ một vài giới mà mình thấy thực hành được, rồi sau sẽ phát nguyện giữ thêm các giới khác; nếu không giữ được giới nào, sao gọi được là người Phật tử? Có những người không phải là Phật tử còn có thể giữ được ba giới không trộm cướp, không nói dối, không uống rượu, huống chi là một Phật tử muốn vượt lên trên đời tầm thường của thế nhân. Một Phật tử không giữ được giới nào, chưa phải là người Phật tử.
Người giữ giới sẽ được an vui khỏe mạnh sống lâu, kiếp sau sẽ được sinh lên cõi trời muốn gì được nấy. Hoặc sinh lại cõi người ở nơi tốt lành, có địa vị giàu sang, ít bệnh, sống lâu, không hoạn nạn, gia đình hạnh phúc yên vui, v.v…
Người không theo đạo Phật hay chưa phải là Phật tử cũng nên giữ năm giới được nhiều chừng nào tốt chừng ấy. Năm giới nói trên chỉ là bài học thông thường không chỉ để áp dụng riêng cho Phật tử, mà nó còn hữu ích cho tất cả mọi người nếu biết áp dụng để có cuộc sống an vui tiến bộ. Nếu xã hội nào áp dụng triệt để năm giới này, xã hội đó văn minh và gương mẫu nhất thế giới vậy.,.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jun 25 2014, 11:52 AM
Gửi vào: #144


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



BỐ THÍ

Toàn Không



I). Thế nào là bố thí?

Bố là chia bày ra, thí là trao tặng, cho.
Bố thí là đem năng lực vật chất như của cải tiền bạc của mình hiến dâng chia tặng cho người, hoặc đem trí tuệ như giảng nói các điều hay lẽ phải trong đời sống, đem các chân lý do Phật dạy giải thích lại cho người. Bố thí được xem như phương tiện đối trị tính bỏn sẻn tham lam ích kỉ, và thể hiện lòng bác ái từ bi. Đây là: những việc làm để nuôi dưỡng công đức cho người bố thí.
Bố thí được dùng chung cho mọi người, nó bao gồm sự giúp đỡ những kẻ nghèo đói bệnh tật hoạn nạn, những người cần sự giúp đỡ về một phương diện nào đó, như hành động bố thí thức ăn, tiền bạc vật dụng phẩm vật cho các vị Khất sĩ, các tịnh thất, chùa; ngược lại Tăng Ni giải thích các lời Phật dạy và hướng dẫn tu hành cho các Phật tử tại gia cũng gọi là bố thí. Đối với người tu hành, vì được kính trọng nên bố thí được gọi là cúng dường, cúng dàng Phật, cúng Tam Bảo, cúng dường trai Tăng, cúng chùa v.v…Tất cả các hành động bố thí cúng dàng đều được xem là để nuôi dưỡng phúc đức.

II). Có mấy loại bố thí?

Có ba loại bố thí: Tài thí, Pháp thí, và Vô úy thí; để hiểu rõ tường tận của việc bố thí, chúng ta lần lượt phân tích từng loại.

1). Tài thí: Gồm tiền bạc của cải vật dụng cho đến cái qúy nhất là thân mạng, có hai loại:
1- Nội tài: Là những vật chí thân qúy báu như thân mạng, các bộ phận của mình đem bố thí cho người khác như xông vào lửa cứu người sắp chết cháy, nhảy xuống nước cứu người sắp chết đuối, lấy thân mình che đỡ cho người sắp bị bắn hay bị đâm. Hoặc cho người một bộ phận của mình mà người đang cần đến như cho người một qủa thận chẳng hạn, nghĩa là người bố thí sẵn sàng chịu chết, chịu tật nguyền, chịu khổ để cứu người.
Bố thí nội tài là: một cử chỉ cao đẹp nhất mà chỉ người có “từ tâm” (tâm thương người) mới làm được, nếu còn xem thân mạng mình là qúy, không thể thực hiện được loại bố thí này.
2- Ngoại tài: Là vật thường dùng của mình như tiền bạc, xe cộ, nhà cửa, ruộng vườn, đồ đạc, quần áo, đồ ăn, thức uống v.v…, đem một trong những thứ ấy tặng cho người, gọi là bố thí ngoại tài.
Về ngoại tài: có một vấn đề được nêu ra, đó là cách tạo dựng nên sản nghiệp. Có người tạo sản nghiệp bằng những nghề chân chính, nhưng cũng có người tạo nên bởi những nghề không chân chính như lừa đảo cờ bạc, lợi dụng sức khổ cực của người khác, hay tranh giành cướp đoạt dối trá, v.v… để làm giàu một cách phi pháp bất chính. Nếu sự tìm cầu tạo dựng của không quang minh chính đại, mà chỉ là của bất nhân bất chính do sự làm bất hợp pháp mang lại, sự bố thí không được coi là trọng, mà là thấp hèn, vô ích. Tiền của mang ra bố thí phải là tiền của do công khó nhọc của chính mình, làm việc một cách hợp pháp, hợp lý, mới được kể là trọng.
Chúng ta hãy trích một đoạn bài Tụng của đức Phật trong Trung A Hàm quyển 3 trang 80:
. . . Nếu kiếm của hợp pháp,
Đã lo được tự thân,
Cung cấp và tự dùng,
Bố thí và tạo phước,
Cả hai đều có đức.

2). Pháp thí: Pháp là vạn vật, pháp cũng là các lời dạy của Phật, các Kinh Luật Luận của Phật cũng gọi là pháp. Đem các lời hay lẽ phải, những chân lý qúy báu ra chỉ cho người, như đem các lời dạy của Phật ra chỉ lại cho người được hiểu. Hoặc thực hành các lời dạy của Phật để làm gương cho người khác bắt chước noi theo và cải tà quy chính, đều là bố thí pháp cả.
Pháp thí có một giá trị lớn hơn tài thí, vì tài thí chỉ giúp cho người một thời gian hay một đời là cùng, còn pháp thí ảnh hưởng nhiều đời nhiều kiếp; ngoài ra, pháp thí còn giúp cho cả kẻ sang người hèn, kẻ nghèo lẫn người giàu, nên bố thí pháp lợi ích rộng lớn hơn bố thí tài.

3)- Vô úy thí: Vô úy là không sợ, bố thí vô úy là cho người khác sự không sợ hãi, hết sợ hãi; tại sao phải bố thí vô úy?
Bởi vì trong đời sống của con người có đủ thứ sợ hãi. Khi còn bé nhỏ sợ theo bé nhỏ như sợ thua bạn bè, sợ không làm vừa lòng cha mẹ, v.v… Khi lớn lên sợ không thành danh, sợ không chọn được người bạn đời như ý v.v… Khi về già sợ bệnh này bệnh kia, sợ chết v.v…. Mỗi người từ nhỏ tới lớn đều có trăm nghìn lo sợ, do đó, nếu có sự bố thí vô úy, người được thí vui mừng biết mấy, như trút được gánh nặng nghìn cân vậy. Tỉ dụ như người đang bị tai nạn, có người đến cứu giúp làm người này hết lo sợ, bớt lo sợ.
Muốn bố thí vô úy, trước tiên người bố thí phải không còn sợ một điều gì; muốn được vậy, muốn không còn sợ bất cứ điều gì trong lòng, người ấy phải tìm đọc để hiểu lý sống của Phật giáo một cách tường tận và áp dụng thực hành đầy đủ rồi, đâu còn gì để sợ nữa; như khi biết rõ các vật đều là hư giả không thật, cái ngã tức cái thân ta cũng không thật không qúy, tham để làm gì? Không tham tức không còn ham muốn nữa, khi không còn ham muốn sẽ không tìm cách giữ gìn hay chiếm đoạt, như vậy có gì phải lo sợ? Tiền bạc của cải không ham nên không sợ mất, danh lợi địa vị không màng nên không sợ thiếu, sinh mạng thân mình xem như giả tạm nên không sợ chết, do đó sống rất bình tĩnh tự tại trước mọi đổi thay thăng trầm của cuộc đời. Do vậy, người vô úy sẵn sàng can thiệp vào các việc cứu người khác gặp nguy hiểm mà người thường không thể làm được.

III). Bố thí như thế nào?

Sự bố thí xảy ra rất nhiều, có người giàu có bỏ ra rất nhiều tiền của để bố thí cho trẻ em xấu số như tàn tật câm điếc hoặc bệnh nan y. Có người lập nhà thương thí, trường học miễn phí, nhà dưỡng lão cho người già nghèo, trại cô nhi cho trẻ em không cha không mẹ. Có người bỏ cúng thật nhiều tiền của giúp Tăng Ni xây chùa, đúc chuông, tạo tượng, hành đạo v.v…Lại có người lập qũy, gây qũy để giúp cho những người nghèo khó, có người nhảy xuống nước để cứu người sắp chết đuối, hoặc có người xông vào lửa cứu người sắp chết thiêu v.v… Tất cả những hành động ấy đều là bố thí cả, nhưng xét về tâm lý và động lực thúc đẩy bên trong, có hai trường hợp được nêu lên ở đây:

1). Bố thí chấp tướng: Nghĩa là bố thí với dụng tâm bên trong để cầu danh cầu lợi như bố thí để được đăng báo khen tiếng tốt về mình hay tổ chức của mình. Với dụng tâm ganh đua như mình bố thí nhiều hơn người kia, hoặc tổ chức của mình bố thí nhiều hơn tổ chức kia. Hoặc giúp đỡ các em tật nguyền bênh nan y hoạn nạn cô nhi là để sau này lớn lên các em sẽ biết ơn và là công cụ, người của mình hay thuộc tổ chức, tôn giáo của mình. Hoặc nhảy xuống sông cứu người để được người “đẹp” ngợi khen cảm phục v.v….
Những hành động đẹp đẽ ấy được che đậy giấu kín bên trong như thế không còn giá trị nữa, về phúc đức của những hành động với động lực bên trong mờ ám không sạch như thế, kết qủa như làn gió mát thổi qua, như mây trôi trong hư không sẽ tan biến mất vào hư vô không còn gì cả.
Lấy thí dụ của Trưởng giả Cấp Cô Độc thời Phật tại thế đã mang tiền của ức tỉ ra để xây Đạo tràng Kỳ Viên cúng Phật với một tâm không chấp trước, khi qua đời Trưởng giả đã được qủa báo sinh lên cõi Trời Đạo Lợi. Còn Vua Lương Vũ Đế bên Trung Hoa, năm 528 Dương lịch, Tổ thứ 28 là Ngài Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ qua Trung Hoa. Khi gặp, Vua hỏi Tổ Bồ Đề về việc vua đã cho dựng lập được 72 chùa, đúc chuông, tạo tượng, tu sửa cầu cống, bồi đắp đường lộ v.v… thì có những công đức gì? Khi nghe Vua hỏi một cách tự hào khoe khoang chấp tướng như thế, nên Tổ trả lời là “không có công đức”; Vua hỏi tiếp “Tại sao lại không có công đức?”, Tổ trả lời “Công đức đó chỉ được ở qủa vị Trờị Người mà thôi”. Vua lại hỏi “Làm thế nào mới gọi là chân công đức?”, Tổ đáp “Trí thanh tịnh thể vốn vắng lặng, tròn đầy, trong sáng, nhiệm mầu, công đức như vậy chẳng thể lấy thế gian pháp (của cải, tiền bạc…) mà cầu được”, Vua lại hỏi “Vậy người trước Trẫm đây là ai?”, Tổ đáp “Không có ai cả”. Vua nghe câu trả lời chót của Tổ sinh ra nghi ngờ cho rằng Tổ chẳng phải người hiểu đạo, vì sự học hỏi và tu học của Lương Vũ Đế còn thấp, không hiểu được câu trả lời của Tổ Bồ Đề. Vì Tổ đã đắc đạo rồi, biết rõ cái “vô ngã” nên đã trả lời như thế, nhưng Vua không hiểu, tự ái, vì cái ngã (cái ta) của Vua qúa to lớn, do đó Vua đã bực (nổi sân giận). Vì sự giận này, Vua không hỏi nữa, và sau sai người đem thuốc độc trộn trong thức ăn của Tổ, nhưng Tổ không chết. Sau gần một tháng, Tổ đã rời bỏ Kinh đô đi đến ngồi quay mặt vào vách 9 năm nhập định tại chùa Thiếu Lâm, như thế công đức bố thí của Vua Lương Vũ Đế tuy nhiều, nhưng không biết có đủ bù cái nghiệp đầu độc một bậc Thánh chăng?

2). Bố thí vô tướng: Là bố thí với tâm trong sạch, người bố thí với tâm từ bi quảng đại, bố thí với tâm bình đẳng không phân biệt người này người kia, nòi giống chủng tộc, tôn giáo v.v…Bố thí không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì, người bố thí khi cho không cần biết người nhận là ai, không cần cho người nhận biết mình là ai; khi nào mà người cho không còn thấy mình cho và kẻ nhận nữa, mới thật sự là bố thí rộng lớn, dù sự bố thí rất nhỏ nhặt cũng vẫn được gọi là bố thí rộng lớn tức là bố thí “Ba La Mật”.
Chữ “Ba La Mật” ở đây có nghĩa là rốt ráo, bố thí Ba La mật nghĩa là bố thí đến cùng tận, vô cùng rộng lớn; nhiều người khi bố thí còn chấp cho rằng ta là người cho, người làm ơn, kẻ kia là người thọ nhận, người chịu ơn. Vì còn dính mắc nơi tướng, chấp có ngã (ta) có nhân (người), nên không được gọi là Ba La Mật. Người bố thí không thấy có ta là người làm ơn, không thấy người kia là kẻ thọ ơn, lại còn không thấy vật kia là vật cho nữa, mới được gọi là bố thí Ba La Mật, vì không còn một tí gì dính mắc tới sự tướng nữa; đây mới thực sự là bố thí cao cả trong sạch sẽ đưa người bố thí được phúc báo vô lậu thanh tịnh và đây cũng là việc làm của các vị Bồ Tát vậy.
Đối với người tu, phải quán sát tất cả chúng sinh và mình cùng đồng một bản thể mới không còn thấy ta có bố thí và người được thọ thí, thí dụ như một người đang làm việc gì, bỗng tay trái bị thương, tay phải vội vàng lấy bông băng và thuốc bó chỗ vết thương của tay trái lại, lúc đó tay phải không có một tí nào kiêu hãnh về việc làm ấy, vì sao thế? Vì tay phải tự nhận biết rằng nó và tay trái cùng đồng một thân thể, nên nó không thấy mình (tay phải) là người ban ơn giúp đỡ và tay trái là kẻ thọ ơn; bố thí đến độ không cảm nhận được một tí nào là ơn như thế mới là bố thí Ba La Mật.

(CÒn Tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jun 26 2014, 11:31 PM
Gửi vào: #145


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



BỐ THÍ

(Tiếp theo)
Toàn Không


IV)- Bố thí của trưởng giả Cấp Cô Độc

Trưởng giả Cấp Cô Độc đã tự bỏ ra tỷ ức tiền bạc để xây cất đạo tràng cúng dường đức Phật và chúng Tăng, ông còn làm rất nhiều việc bố thí cúng dường khác trong suốt đời ông như cung cấp vật thực, quần áo, thuốc men, vật dụng cần thiết cho cả chúng Tăng và các người nghèo túng bệnh hoạn. Chúng ta đọc một đoạn trích phỏng theo bộ Tăng Nhất A Hàm, quyển hai, trang 17 như sau:
Khi đức Phật trở lại đạo tràng Kỳ Hoàn nước Xá Vệ, một hôm trưởng giả Cấp Cô Độc đến viếng đức Phật, sau khi vái chào và hỏi thăm sức khỏe của Phật, Trưởng giả ngồi qua một bên để nghe pháp.
Lúc ấy đức Phật hỏi Trưởng giả: “Trưởng giả, ông có thường bố thí cho người nghèo thiếu không?”
Trưởng giả thưa: “Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Con hằng bố thí cho người nghèo thiếu, bố thí rộng rãi tại bốn cửa thành, tại chợ, tại nhà, cấp các thứ cần thiếu cho người, con đã làm như thế rất nhiều lần. Bạch Thế Tôn, có lúc con nghĩ rằng muốn bố thí cho tất cả loài chim rừng, súc vật trong rừng. Con cũng không nghĩ: “đây nên cho, kia không nên cho”; cũng không nghĩ: “Đây nên cho nhiều, kia nên cho ít”. Con hằng nghĩ: “Tất cả chúng sanh đều do ăn mà còn tính mạng, có ăn sẽ sống, không ăn thì chết”.
Đức Phật bảo: “Lành thay, lành thay! Trưởng giả! Ông đã đem lòng Bồ Tát, chuyên ròng một ý bố thí rộng rãi; đúng là các chúng sinh đều do ăn mà sống, không ăn liền chết. Này Trưởng giả, Ông sẽ thu hoạch được qủa báo lớn, tiếng đồn mười phương, được pháp vị cam lộ. Sở dĩ như thế vì Bồ Tát thường đem tâm bình đẳng bố thí, chuyên ròng một lòng nghĩ tới các loài chúng sinh, họ do ăn mà còn, có ăn liền được cứu tế, không có ăn sẽ chết”. Đức Phật nói kệ diễn tả lại ý trên:
Hãy nên bố thí khắp,
Trọn không tâm luyến tiếc,
Ắt sẽ gặp điều lành,
Được đến bờ bên kia”
Rồi đức Phật dạy tiếp: “Khi bố thí dù nhiều hay ít, dù tốt hay xấu, nên chí thành dụng tâm vui vẻ, lòng tin nhân quả chẳng dứt. Lúc muốn bố thí: hãy vui vẻ ban cho, không khởi tưởng dính mắc, tự tay bố thí, chớ sai người khác; phát nguyện bố thí, sau mới cầu quả báo, sẽ được phúc vô cùng”.

V)- Trưởng giả Bạt Đề và Bà Nan Đà được độ

Theo quyển 2 Tăng Nhất A Hàm, từ trang 32 đến 48, có nói trường hợp đức Phật và các Thánh Tăng độ cho hai người keo kiết biết mở lòng nhân và gây nghiệp lành như sau:
Khi đức Phật ngự tại thành La Duyệt, vườn Ca Lan Đà cùng 500 Tỳ Kheo (Tăng). Lúc ấy có bốn đại đệ tử của đức Phật là các Tôn giả Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, A Na Luật, và Tân Đầu Lư cùng bàn luận riêng với nhau: “Chúng ta nên xem xét trong thành có ai không tạo công đức, hãy đến độ cho họ để làm cho họ được lợi ích”.
Sau khi bàn thảo: mọi người đều đồng ý có hai người giàu có mà phước cũ đã sắp hết, nhưng họ không trồng cội phúc mới. Hai người này rất giàu có, vàng bạc châu báu, kho chứa của cải vô số, nhưng họ có tà hiến không tin vào sự làm phước lành tránh ác; họ cho rằng bố thí chỉ là phí của chẳng được lợi lộc gì, chẳng tin qủa báo thiện ác đời này đời sau. Họ không tin có nghiệp báo luân hồi, và cho rằng chết là hết chẳng còn gì mà phải bận tâm bố thí tạo phúc v.v…
Hai người giàu có ấy lại là hai chị em, mỗi người ở một nơi; cả hai chị em đều có dinh thự qúy giá, nhà có nhiều lớp hàng rào bao quanh kiên cố, rào cao cổng kín, lại có người canh giữ cẩn thận. Họ không cho một người hành khất nào được vào bên trong để xin ăn, lại còn cho làm lướt sắt ở bên trên, chim cũng không chui lọt xuống được, để phòng người lạ trèo rào vào nhà v.v…
Các Tôn giả bàn: “Chúng ta nên đến nhà trưởng giả Bạt Đề trước và phân chia ai đến trước ai nên đến sau.

1)- Trưởng giả Bạt Đề được độ:

Sáng hôm sau, trưởng giả Bạt Đề đang ăn sáng, ăn bánh, tôn giả A Na Luật ôm bình bát từ dưới đất nhà Trưởng giả đứng lên, chui lên, bước tới gần rồi chìa bát về phiá Trưởng giả. Trưởng giả thấy người khất thực hết sức buồn không nói lời nào, bỏ một miếng bánh vào bát, Tôn giả được bánh, bèn ra về; khi ấy Trưởng giả nổi giận, ra cổng bảo người giữ cổng:
- Ta đã ra lệnh không cho người vào, sao lại có người vào như thế?
Người canh cổng thưa:
- Cửa nẻo chắc chắn, canh giữ kỹ càng, đâu có ai vào được, không hiểu người ấy làm sao vào được, lạ thế?
Trưởng giả im lặng không nói, đi vào nhà ăn bánh tiếp; Tôn giả Đại Ca Diếp ôm bát đến, cũng từ dưới đất chui lên, đi vào đưa bát trước mặt Trưởng giả. Trưởng giả hết sức buồn bực, không nói không rằng, bỏ một miếng bánh vào bát; Ngài Ca Diếp được bố thí liền ra về, Trưởng giả càng thêm bực tức, ra bảo người canh cổng:
- Trước ta đã ra lệnh không cho bất cứ ai vào nhà, cớ sao để cho hai Sa Môn (hai Tăng) vào nhà khất thực?
Các người giữ cổng thưa:
- Chúng tôi không thấy người nào vào từ cổng này, mà cũng chẳng thấy Sa Môn nào từ cổng này ra, không biết họ đi bằng ngả nào? Lạ qúa!
Trưởng giả nói la lớn:
- Các Sa Môn trọc đầu khéo dùng huyển thuật mê hoặc người, lừa gạt, họ chẳng có hạnh chân chính đâu.
Bà vợ Trưởng giả đã thấy hai vị Tôn giả, lại nghe chồng nói như thế thì không đồng ý, bà bèn ra bảo chồng:
- Ông nên giữ mồm miệng, chớ nên nói Sa Môn dùng huyển thuật mê hoặc người, vì sao? Các Sa Môn có đức độ, có đại oai thần, họ đến nhà là có lợi cho ông, Ông có biết người đến trước và người đến sau là ai không?
- Tôi không biết.
- Người đến trước là con vua Hộc Tịnh nước Ca Tì La Vệ, tên A Na Luật, vị này rời Vương gia đi học đạo đắc A La Hán, là người có Thiên nhãn bậc nhất. Còn vị thứ hai là con của Phạm chí Ca Tỳ La giàu có nhiều tiền của tính không hết, có 999 con trâu cày, ở trong thành La Duyệt này ai mà chẳng biết. Phạm chí ấy có con tên Tỳ Ba La Da Đàn Na, cưới vợ cho con là Bà Đà, người đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Nếu đem vàng chở bằng xe bốn ngựa đến rước cô ấy cũng bị dẹp ra chỗ khác. Thế mà vị thứ hai này bỏ vợ ngọc nữ báu ấy để xuất gia học đạo, và đã đắc A La Hán hành hạnh đầu đà đi khất thực; nay ông được lợi ích lớn mới được các vị ấy đến độ cho ông, ông không nên nói bậy như thế, chớ nên phỉ báng bậc Thánh hiền.
Trưởng giả sau khi nghe vợ nói lai lịch của hai Sa Môn và giải thích, nên không còn bực tức nữa trở vào ăn tiếp. Một lúc lâu sau, tôn giả Mục Kiền Liên ôm bát bay lên không trung đến nhà Trưởng giả, biến thành nhỏ tí chui qua lưới sắt mà xuống, khi qua rồi thân hình trở lại như thường, nhưng ngồi kết già lơ lửng trên không ngoài cửa. Trưởng giả thấy thế, sợ hãi nói:
- Ngài là Trời hay Thần Càn thát Bà?
- Tôi chẳng phải Trời cũng chẳng phải Thần.
- Ông là Qủy hay là La Sát ăn thịt người?
- Tôi chẳng phải Qủy cũng chẳng phải La Sát, tôi là đệ tử Phật, tên là Mục Kiền Liên.
- Ông có điều gì muốn nói với tôi?
- Tôi muốn thuyết pháp cho ông nghe.
Khi ấy Trưởng giả liền nghĩ: “Các đạo sĩ suốt đời để ý đến ăn uống, nếu nói về ăn ta sẽ không muốn nghe” Tôn giả Mục Kiền Liên biết tâm ý của Trưởng giả liền nói kệ:
Như Lai thuyết hai thí,
Pháp thí và tài thí,
Nay sẽ thuyết pháp thí,
Chuyên tâm nhất ý nghe.
Trưởng giả nghe nói sẽ thuyết pháp thí, vui mừng nói:
- Mong Ngài nói cho: tôi nghe rồi sẽ được hiểu biết.
- Trưởng giả nên biết, Như Lai thuyết năm đại thí, nên nhớ thực hành suốt đời.
Trưởng giả lại nghĩ: “Vừa rồi nói pháp thí, nay lại nói năm đại thí là thế nào?” Tôn giả biết tâm suy nghĩ của Trưởng giả, nên vội nói tiếp:
- Như Lai: nói hai thí là pháp thí và tài thí, bây giờ tôi chỉ nói về pháp thí chứ không nói về tài thí.
Trưởng giả nghe vậy yên tâm hỏi:
- Cái gì là năm đại thí?
- Không được sát sinh, đây gọi là đại thí, suốt đời không nên làm; không trộm cướp, đây gọi là đại thí, suốt đời nên tránh phạm. Không tà dâm vợ người, không nói dối, không uống rượu, đây gọi là đại thí, suốt đời nên gìn giữ vâng làm, đó là năm đại thí; nếu Trưởng giả ưng làm năm đại thí này sẽ được lợi lộc vô cùng không biết đâu mà nói hết được.
Trưởng giả Bạt Đề nghe những lời ấy rồi hết sức hân hoan nghĩ:

(Còn Tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jul 4 2014, 11:33 AM
Gửi vào: #146


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



BỐ THÍ

(Tiếp theo)

Toàn Không


Trưởng giả Bạt Đề nghe những lời ấy rồi hết sức hân hoan nghĩ: “Ngày nay ta chẳng kham sát sinh, của cải mình đâu thiếu mà phải trộm cướp lấy của người khác, vợ mình nết na thông minh lại đẹp đẽ đâu cần lang chạ với đàn bà khác. Ta cũng chẳng ưa nói láo xưa nay, và ngày nay lớn tuổi ta chẳng nghĩ đến rượu có hại cho sức khỏe huống là nếm ư? Tất cả năm việc này đều hợp với ta, có thể làm được, chỗ diễn thuyết lại chẳng cần mất bảo vật mà được lợi lộc như thế; Phật Thích Ca thuyết pháp qủa là hay, hợp với ta”, nghĩ như thế nên Trưởng giả nói:
- Năm đại thí này tôi có thể vâng nhận làm được.
Rồi Trưởng giả lại nghĩ: “Ta nên mời Tôn giả Mục Kiên Liên ăn cơm”, nên liền nói:
- Ngài nên hạ cố xuống đây ngồi.
Tôn giả liền hạ xuống ngồi, Trưởng giả tự mang các thức ăn thức uống ra mời Tôn giả ăn uống. Ăn xong, Trưởng giả lại nghĩ: “Ta nên tặng Tôn giả một tấm vải dạ trắng”, liền đứng lên vào nhà kho muốn lựa tấm xấu lại cầm nhầm tấm tốt, Trưởng giả liền bỏ xuống lựa tấm khác lên cũng nhầm tấm tốt như thế ba lần. Tôn giả biết tâm niệm Trưởng giả liền nói kệ vọng vào:

Thí cùng tâm tranh đấu,
Phúc này bậc Hiền bỏ,
Lúc cho không đấu tranh,
Mới gọi tùy tâm cho.

Trưởng giả nghe hiểu nghĩ: “Tôn giả biết ý ta”, ông liền thôi lựa chọn, cầm tấm dạ trắng mang ra dâng Tôn giả. Tôn giả nói kệ chú nguyện cho Trưởng giả:

Quán sát thí đệ nhất,
Biết có người Hiền Thánh,
Trong thí là tối thượng,
Ruộng lành sinh hoa trái.

Tôn giả Mục Kiền Liên chú nguyện xong, nhận tấm dạ cho Trưởng giả được phúc vô cùng; Tôn giả thuyết giảng cho Trưởng giả nghe về thí luận, giới luận, luận sinh cõi Trời, dục là bất tịnh. Tôn giả nói về khổ, nguyên nhân gây ra khổ, làm sao diệt khổ, và con đường Tám đạo phẩm Hiền Thánh: Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mang, chính tinh tấn, chính niệm, và chính định sẽ đưa đến giải thoát an lạc đời đời. Trưởng giả thâu nhận hết không còn nghi ngờ, ông tự quy y Phật, Pháp, Tăng, và xin thọ ngũ giới. Trưởng giả thưa:
- Từ nay về sau, xin Thế Tôn và bốn chúng nhận lời thỉnh của con mãi mãi, con sẽ cung cấp y phục, thức ăn, thuốc men không luyến tiếc.
Tôn giả Mục Kiền Liên thuyết pháp xong ra về, các Tôn giả nói với tôn giả Tân Đầu Lư: “Chúng tôi đã độ cho trưởng giả Bạt Đề xong, bây giờ đến lượt Hiền giả”.

2)- Bà Nan Đà được độ:

Hôm sau, lúc ấy bà Nan Đà đang làm bánh sữa, Tôn giả Tân Đầu Lư ôm bát vào thành La Duyệt, đi khất thực từ đầu thành, dần dần đến nhà bà Nan Đà. Tôn giả từ dưới đất nhà bà vọt lên, đến gần chỗ bà đang làm bánh đứng chìa bát khất thực; bà Nan Đà thấy Tôn giả tự nhiên ở đâu mà vào nhà được, nên đâm ra bực tức nói:
- Tỳ kheo nên biết, dù ông có lòi mắt ra hay tự treo ngược trên không, ta cũng không cho.
Tôn giả liền dùng sức thần thông treo ngược lên và hai mắt lòi ra ngoài. Bà thấy thế càng tức giận hơn nói dữ:
- Dù ông có phun ra khói, toàn thân bốc cháy hay toàn thân ra nước, ta cũng không cho.
Tôn giả dùng sức tam muội cho toàn thân ra khói, rồi toàn thân bốc cháy, sau toàn thân phun ra nước; Bà thấy rồi, giận dữ càng tăng nói ác:
- Dù ông có chết trước mặt ta ngay tức thì, ta cũng chẳng cho ăn.
Tôn giả liền nhập Diệt tận định nằm chết quay ra đất, chỉ ngáp một cái rồi không còn cử động nữa; chờ một lúc lâu không thấy Tôn giả đứng lên, bà liền tới coi hơi thở, mạch tim đập, tất cả đều không còn. Bà đâm ra hoảng, sợ hãi cuống quýt, bà nghĩ: “Sa Môn này là con dòng họ Thích nhiều người biết, Quốc Vương, Đại Thần đều biết, nếu họ biết ông này chết ở nhà mình, chắc là ta không tránh khỏi gặp rắc rối phiền toái”. Bà liền nói:
- Sa Môn, Sa Môn, sống lại đi, tôi sẽ cho ăn, tôi hứa là sẽ cho ăn, mau tỉnh lại đi.
Không thấy cử động, bà đâm ra hoảng, càng sợ hãi hơn, và lay gọi nói như thế đến ba lần mới thấy Sa môn mở mắt cử động. Bà lại nói:
- Tôi hứa là sẽ cho ăn, đứng dậy đi.
Tôn giả Tân Đầu Lư tỉnh lại, đứng lên, bà nghĩ “Cái bánh này lớn qúa, làm cái nhỏ hơn cho ông ta”, rồi nói:
- Chờ một lúc, tôi sẽ làm cho ông một cái bánh.
Bà lấy một chút bột làm cái bánh nhỏ, nhưng bánh lại phồng to hơn cái bánh trước, rồi bà lại làm cái khác; cũng vậy, cái sau lại lớn hơn cái trước, bà làm đi làm lại nhiều lần, vẫn thấy cái sau lớn hơn cái trước! Cuối cùng bà định lấy cái đầu tiên để cho, nhưng các bánh lại dính chặt vào nhau không tách ra được; bà biết là Tôn giả dùng sức oai thần nên như thế, bà nói:
- Tỳ Kheo! Ông cần ăn thì tự lấy mà ăn, cớ sao làm phiền nhiễu như thế?
Tôn giả Tân Đầu Lư nói:
- Thí chủ nên biết, tôi chẳng cần ăn, chỉ muốn nói với bà.
- Tỳ Kheo muốn răn dạy điều gì?
- Thí chủ nên biết: “Nay ta đem số bánh này đến chỗ đức Phật, Thế Tôn, nếu Ngài có dạy điều gì, chúng ta sẽ cùng vâng làm”.
- Việc này rất phải.
Bà tự bưng bánh theo sau Tôn giả đến chỗ đức Phật ngự, cúi đầu lễ Phật. Tôn giả Tân Đầu Lư thưa:
- Bà Nan Đà: chị của trưởng giả Bạt Đề, cúi xin Thế Tôn thuyết pháp cho bà được lợi lạc.
Đức Phật bảo:
- Bà hãy đem bánh thí cho Như Lai và các Tỳ Kheo.
Bà vâng lời, đem dâng Phật và hết lượt các Tỳ kheo, xong bà thưa:
- Thưa Ngài, bánh còn dư,
- Bà thí cho Như Lai và chúng Tỳ Kheo lần nữa.
Bà lại thí lần nữa, xong bà lại thưa:
- Thưa Ngài, bánh vẫn còn dư.
- Bà đem ra ngoài bố thí cho người đi đường.
Bà đem bánh ra ngoài, gặp ai cũng tặng, một lúc lâu bà trở vào thưa:
- Bạch Ngài, bánh vẫn còn thừa.
- Bà đem bánh ấy bỏ chỗ đất sạch hay bỏ vào nước sạch, vì Như Lai không thấy Sa Môn, Phạm Chí, Bà La Môn, Trời, Qủy, Thần, Người có thể tiêu được bánh còn lại ấy.
Bà Nan Đà liền đem ra ngoài bỏ bánh còn lại vào chỗ nước trong sạch, tức thời lửa bùng lên; bà thấy thế ôm lòng sợ hãi, trở lại chỗ Phật cúi lạy rồi ngồi qua một bên; Đức Phật thuyết pháp, bà nghe dần dần được tín tâm, không sợ hãi hết nghi ngờ do dự, phát tâm vui vẻ tin Tam Bảo, thọ trì Ngũ Giới và phát tâm bố thí rộng rãi v.v…

VI)- Bố thí được phúc đức gì?

Người bố thí tài có dịp chiến thắng lòng bỏn sẻn tham lam ích kỉ, và nới rộng lòng bác ái từ bi của mình, người này có ngay tâm vui vẻ vì thấy mình làm được việc hữu ích cứu giúp người. Người bố thí đời này an vui, danh tiếng, kính ngưỡng, sinh cõi trời, đời sau gặp nhiều sự giúp đỡ nếu sinh trở lại cõi người.
Người bố thí pháp cũng là để tự nhắc nhở mình những điều Phật dạy, noi theo và tinh tấn tu hành để giải thoát. Sự lợi ích của bố thí pháp còn bao gồm cả những sự chỉ dạy phương pháp, nghề nghiệp chân chính cho người để tự nuôi sống, tăng tiến trong cuộc sống; hay chỉ bảo những điều hay lẽ phải của thế gian để chỉ bày cho người những lợi ích trong đời sống đạo đức.
Người bố thí vô úy là để có dịp thử thách lòng vị tha và sự chấp ngã của mình, người nhận bố thí do sự che chở đùm bọc vỗ về an ủi nên vô cùng sung sướng, ví như họ được uống nước cam lộ của người tặng vậy.
Người bố thí sẽ có nhiều công đức khi bố thí đúng lúc, không vụ lợi, tự tay, tự nguyện vì lợi người, không mong báo đáp bất cứ hình thức nào; người bố thí còn phải biết bố thí cho bậc chân tu, bậc Thánh, và nguyện đem công đức này bố thí cho tất cả chúng sanh.
Những cách bố thí với tâm trong sạch đúng với ý nghĩa của bố thí Ba La Mật như thế, người bố thí đã bước được một bước đầu tiên quan trọng trong Lục Độ là bố thí, rồi tiếp đến là nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn, thiền định và trí huệ để bước qua bờ giải thoát an vui đời đời.,.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jul 14 2014, 05:31 AM
Gửi vào: #147


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



SÁM HỐI



1). Sám hối là gì?

Sám chữ Phạn là Samma, Sám là ăn năn lỗi trước, Hối là chừa phạm lỗi sau.
Sám hối là biết lỗi cũ sai lầm nên ăn năn hối hận và nguyện sau này không tái phạm tội lỗi như thế nữa.

2). Tại sao phải sám hối?

Chúng ta tạo tội rất nhiều trong đời sống, chúng ta cứ tiếp nối hết đời này sang đời kia như xâu chuỗi dài vô tận. Trong mỗi đời từ sinh tới chết tạo tội thêm mãi từ cái lỗi nọ cho tới cái lỗi kia trong mười điều ác. Ba điều về thân “sát sinh, trộm cướp, tà dâm”, bốn điều về miệng “nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói ác”, và ba điều về ý “tham lam, sân giận hận thù, si mê tà kiến”; những lầm lỗi này tạo thành sức mạnh gọi là “nghiệp lực”, nghiệp lực đưa chúng ta vào đường khổ não tức phải gánh qủa báo của tội lỗi.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, đức Phổ Hiền Bồ Tát nói: “Nếu tội lỗi của chúng sanh có hình tướng, tất cả hư không cũng không chứa hết”; tội lỗi gây ra bởi chúng sanh từ vô thủy đến nay biết bao nhiêu, kể sao cho xiết.
Đức Phật dạy: “Tất cả chúng sanh trong sáu cõi (Trời, Thần, Người, Ngạ qủy, Súc sinh, Địa ngục) không loài nào hoàn toàn trong sạch, không giống nào dứt hết tội lỗi”. Riêng đối với con người, chúng ta thấy lòng “tham, sân, si” che khuất tất cả, nó làm tăng trưởng lòng dục vọng, từ ý nghĩ lời nói đến hành động thường hay gây tội lỗi; muốn xóa bỏ tội lỗi, Phật giáo có cách tẩy trừ nó bằng cách sám hối, nhưng khi sám hối rồi, không còn tái phạm nữa mới đúng với ý nghĩa của sám hối.

3). Tội lỗi từ đâu đến?

Tội lỗi của chúng sanh bởi chủng tử di truyền, chẳng hạn tính tham lam, mới sinh ra không ai dạy bảo thế mà những đứa bé đã biết; cũng không ai dạy bảo hờn giận, vậy mà gặp điều trái ý là chúng la khóc giận hờn; những tính xấu ấy khó dứt trừ, trong Kinh gọi là “Bản hữu chủng tử”, nghĩa là hột giống có sẵn từ lâu đời rồi. Những hột giống này lại làm duyên sinh ra các tội lỗi khác, gọi là “Phân biệt phiền não” hay “Khởi thủy chủng tử” là hạt giống mới nhiễm do ảnh hưởng thời đại, tập quán, phong tục, thói quen chi phối như nóng giận thì chửi bới đánh lộn, giết hại sinh vật để cúng lễ v.v….

4). Chuộc tội của thế gian ra sao?

Người thế gian khi có tội lỗi ông bà làng nước thường dùng lợn (heo) gà tiền bạc để xin lỗi tạ tội, cũng có khi “đoái công chuộc tội” như khi phạm tội với triều đình, quân ngũ. Có đạo dùng máu súc vật để rửa tội đối với thần linh, có khi tắm ở sông ở suối mà họ cho là linh thiêng, có khi cúng phẩm vật để xin thần linh tha tội; lại có khi chủ trương hành xác, tự đánh đập xác thân mình để được tha tội lỗi đã làm v.v…
Tất cả các cách chuộc tội như trên đều sai lầm, vì tội lỗi thuộc tâm lý không hình tướng, rất vi tế sâu xa, làm sao có thể lấy vật chất như máu, nước, phẩm vật hay hành hạ xác thân để làm cho sạch tội lỗi được?

5). Sám hối của Phật giáo ra sao?

Đức Phật dạy rằng: “Tội lỗi do tâm của người tạo ra, cũng phải từ tâm mà sám hối. Kẻ gieo giống xấu phải ăn trái dở, người trồng giống qúy được ăn qủa ngon, không ai có quyền thưởng phạt làm khác đi được cả”.
Thật rõ ràng chí lý hợp với khoa học thực nghiệm. Vậy muốn hết tội chúng ta phải từ tâm sám hối theo phương pháp của Phật giáo mà thực hành, có hai cách:

A- Về Sự (Sự việc làm): Có ba phương pháp:

1- Lập giới đàn sám hối: Thỉnh thanh tịnh Tăng (Chân tu, Thánh Tăng) chứng minh, người sám hối phải thành thật tỏ bày tội lỗi một cách thành khẩn, có tâm ăn năn và nguyện không tái phạm nữa; rất tiếc, ngày nay khó tìm được Thánh Tăng.

2- Quán tưởng sám hối: Phương pháp này cao hơn, dùng cho những người tu có trình độ cao, hoặc ở chỗ không có Tăng thanh tịnh. Người sám hối phải thành tâm lễ bái hình tượng Phật hoặc Bồ Tát, rồi trình bày tội lỗi đã phạm, nguyện ăn năn hối lỗi và không tái phạm. Làm như thế đến khi nào thấy được hào quang, thấy Phật hay Bồ Tát đến xoa đầu mới thôi (không phải sám hối một vài lần đâu).

3- Hồng danh sám hối (Lễ lạy niệm danh hiệu các vị Phật): Phương pháp này do Pháp sư Bất Động bên Trung Hoa soạn: Bốn niệm lạy đầu là mười phương chư Phật, mười phương tôn Pháp, mười phương Hiền Thánh, và mười danh xưng của Phật. Cộng với 53 niệm lạy danh hiệu Phật (Từ Phổ Quang Phật đến Nhất Thiết Pháp Tràng Mãn Vương Phật) trong Kinh “Năm Mươi Ba Vị Phật”. Cộng với 35 niệm lạy danh hiệu Phật (từ Thích Ca Mâu Ni Phật đến Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Sa La Thụ Vương Phật) trong Kinh “Quán Dược Vương Dược Thượng”. Cộng với một niệm lạy đức Phật A Di Đà là 93 niệm lạy, thêm vào kệ “Phổ Hiền Đại Nguyện”; sám hối này mỗi lần vừa niệm, vừa lạy cộng hết thảy thực hành 108 niệm lạy.

Đức Phật Tì Bà Thi cách nay 91 kiếp về trước nói: “Nếu ai niệm lạy danh hiệu 53 vị Phật, nhiều kiếp không bị đọa vào ba đường ác”.

Còn 35 vị Phật sau, Kinh Bảo Tích nói: “Nếu chúng sanh nào phạm tội ngũ nghịch, thập ác, đến nhiều kiếp không thể sám hối, chỉ lễ lạy niệm 35 vị Phật này, bao nhiêu tội lỗi đều tiêu diệt hết”.

Công đức vô biên của chư Phật không thể nghĩ bàn như vậy, nên hầu hết các chùa thường làm theo phương pháp sám hối này. Cách sám hối Hồng Danh khá mất nhiều thời gian, nhưng dễ nhất, và kết qủa vững chắc; lại bảo vệ sức khoẻ cho người sám hối (giống như tập thể thao) vì các động tác miệng niệm tên các vị Phật, thân đứng lên qùy xuống lễ lạy 108 lần. (Có thể: đến chùa dự các buổi sám hối hoặc thỉnh sách “Nghi thức Hồng Danh Sám Hối” về hành trì trước bàn thờ Phật tại nhà).

B- Về Lý (Nghĩa lý): Có cách “Vô sinh sám hối”, rất cao và khó thực hành, chỉ bậc thượng căn mới thực hành được, có hai phương pháp:

1- Quán Tâm vô sinh: Là quán tự tâm mình hiện tiền không sinh, như trong Kinh Kim Cang nói: “Tâm qúa khứ không có, tâm hiện tại chẳng có, tâm tương lai cũng không”. Quán trong ba thời ấy đều không thấy tâm, không có tâm thì vọng niệm tức vọng tâm không có, nếu vọng tâm không có, tội lỗi cũng không; Kinh nói: “Tội lỗi từ tâm sinh cũng từ tâm diệt, nếu tâm không sinh, tội kia cũng chẳng còn, thế mới thật là sám hối”.
2- Quán Pháp vô sinh: Là quán sát thật tướng (chân tánh) của các pháp (muôn vật) không sinh, chữ “thật tướng” là cái tướng ấy không sinh chẳng diệt, không thêm chẳng bớt, không bị thời gian thay đổi, không bị không gian chuyển dời, xưa nay vẫn thế, nên gọi là thật tướng; cũng gọi là chân như Phật tánh, khi biết được thật tướng rồi thì giả tướng chẳng còn, tội lỗi là giả tướng không gá vào đâu mà tồn tại được nữa.

6). Làm sao dứt trừ việc gây tội lỗi?

Trong các cách sám hối cả Sự lẫn Lý vừa trình bày ở trên, tùy theo căn cơ và hoàn cảnh của mỗi người mà áp dụng; không nên bỏ mặc tới đâu thì tới như người vô trí, cũng không nên sám hối lấy lệ mà phải có lòng thành khẩn chí cương quyết để dứt tuyệt nọc xấu. Chúng ta còn phải phát hạnh lành như thực hành bố thí, nhẫn nhục, trì giới, Từ Bi Hỉ Xả để dẹp tham sân; như thế tính tốt phát triển và tính xấu không có đất nẩy nở được nữa.

7). Lợi ích của sám hối:

Trong các phương pháp sám hối của Phật giáo, xem ra không phải dễ dàng thực hành, nhưng người chí tâm thực hiện sẽ đạt được lợi ích cụ thể sau đây:
1- Làm cho tâm tính con người được trong sạch, tiêu diệt hết lỗi lầm đời hiện tại, mà cũng trừ hết tội ác của các đời qúa khứ.
2- Phát triển tính thành thật hạnh thanh cao của bậc Thánh hiền.
3- Dứt tội sinh phúc và thẳng tiến đến giải thoát an vui.
Nhờ các phương pháp sám hối của Phật giáo, con người có thể cải hóa lòng mình, làm cho đời sống cá nhân hạnh phúc tốt đẹp, đời sống xã hội được hòa bình yên ổn hơn lên.,.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jul 17 2014, 11:51 AM
Gửi vào: #148


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



NHẪN NHỤC


1). Nhẫn nhục là gì?

Nhẫn là nhịn chịu, nhục là tổn thương sỉ nhục.
Nhẫn nhục là chịu nhịn những điều sỉ nhục xấu hổ, nhục nhã, chịu đựng tổn thương trước những cảnh, sự việc không vừa lòng, nghịch ý, trái tai gai mắt; nhẫn nhục là nhận chịu những điều người khác làm cho mình khổ não, trong tâm mình không những không tức giận mà còn không nghĩ tưởng tới việc sẽ báo oán trả thù.

2). Tại sao cần phải nhẫn nhục?

Nhiều người vì được nuông chiều được nể nên tưởng mình là hay là nhất, càng ngày càng tỏ ra “khinh người”, rồi đâm ra nói năng hành động qúa trớn. Có kẻ vì si mê có tính “cả vú lấp miệng em” át giọng người khác, cho người khác là ngu là dốt không bằng mình. Lại có người ngu si điên đảo cho rằng “ta đây là nhất” không ai bằng mình nên lấn lướt, hống hách. Tất cả những người như thế đều là người vô minh, dù người đó có bằng cấp này nọ (thực ra, người có học ít khi có những hành động lỗ mãng) đều là người vô minh cả; bởi vậy khi bị những người ấy sỉ nhục, mắng nhiếc, đánh đập tàn nhẫn, chúng ta nên coi việc đối xử như thế là do không hiểu sự thật, cần phải kiên nhẫn giải thích sự việc
Nhưng có người vì không dằn được cơn tức giận mà sinh ra đỏ mặt tía tai, quát tháo ầm ĩ, đá bàn quăng ghế, buông ra những lời cộc cằn chửi rủa tục tằn, hành hạ đánh đập người một cách tàn nhẫn. Có kẻ nổi cơn thịnh nộ đâm, chém, bắn người khác gây ra án mạng mà phải ân hận suốt đời. Lại có những việc rất nhỏ nhặt trong gia đình hay ngoài xã hội chỉ vì một câu nói không đáng kể hay một cử chỉ nhỏ nhặt, mà người không kiên nhẫn đã gây ra biết bao buồn phiền đau khổ cho người và cho mình. Ở đây có thể nói người không kiên nhẫn đối với các việc nhỏ nhặt là người nóng nảy, vì nhân một việc bé xé ra to, nên là người tạo ác.
Nhẫn nhục được gắn liền với chữ “bình tĩnh, kiên nhẫn, chịu đựng”, những người nóng nảy hay mất bình tĩnh, mất kiên nhẫn; họ không tự chủ được những nghịch cảnh khó khăn nan giải, nên nói năng hành động vội vàng nông nổi thiếu suy nghĩ. Trong gia đình mà mọi người đều không kiên nhẫn sẽ đưa đến mất hạnh phúc và dễ tan vỡ; đối với xã hội mọi người đều không kiên nhẫn sẽ đưa tới xáo trộn và không vững bền.
Người học đạo cũng vậy, khi gặp nghịch cảnh không nhẫn nhục sẽ làm cho tâm luôn luôn dao động, có khi còn bị đọa vì không nhẫn nhục mà làm các việc ác; do đó tại sao chúng ta phải học và thực hành nhẫn nhục là vậy.

3). Các loại nhẫn nhục: Có ba loại:

1- Thân nhẫn:
Là sự chịu đựng của thân trước các nghịch cảnh không vừa ý, như nóng lạnh, bệnh tật, đói khát, chỗ ở nơi nằm không được tiện nghi, hoặc bị hành hạ đánh đập thân thể; trước những nghịch cảnh như thế, người nhẫn nhục không hé răng mở miệng phàn nàn hay chống cự đánh trả, mà chỉ bình tĩnh giải thích sự việc và chịu đựng.
2- Khẩu nhẫn:
Là sự im lặng của miệng trước các nghịch cảnh không vừa ý, như có người chửi mắng, nói lời vu oan, đâm thọc, không nói có, có nói không, nói thêm bớt, nói bóng nói gió, nói thêu dệt v.v… Trước những lời nghịch tai như thế, người nhẫn nhục chỉ nói lời giải thích chân thật ôn hòa. Nếu không được nghe thì giữ yên lặng, chứ không nổi giận dùng những lời ác mà đối chọi lại, hoặc gây thành chuyện lớn, sinh cãi nhau, đánh lộn, giết chóc v.v...
3- Ý nhẫn:
Là sự nhẫn nhục của tâm ý, trong lòng người nhẫn nhục trước nghịch cảnh của thân không có ý nghĩ than trời trách đất về sự nóng lạnh bệnh tật, không than thân trách phận về sự thiếu thốn; người nhẫn nhục trước cảnh bị hành hạ xác thân hay bị vu oán giá họa, nhục mạ đủ điều, cũng đều nhẫn cả. Chỉ giải thích một cách chân thật, không hề có ý nghĩ tức giận, trong lòng không nổi lên oán hận căm hờn sẽ trả thù sau này v.v…
Trong ba loại nhẫn nhục, ý nhẫn là quan trọng nhất, vì có khi thân chịu đựng được những bất nghi, đau đớn, nhưng miệng còn thì thầm lẩm bẩm ca cẩm nguyền rủa; có khi miệng không nói năng chi cả, nhưng vẫn tức giận trong lòng rằng ”ngày nay ta không thể ăn tươi nuốt sống ngươi, ngày sau ta sẽ trả thù này”. Bên trong ý thức không nhẫn nhục được thì thế nào cũng có ngày sự giận dữ thù hằn sẽ hiện ra, không ở hành động, cũng ở lời nói; khi lòng tức giận hận thù được lắng xuống trước mọi nghịch cảnh, sự nhẫn nhục mới thật sự là kiên cố rộng lớn (Ba La Mật).

4). Nhẫn nhục như thế nào?

Có hai thứ nhẫn nhục:
1- Nhẫn nhục chấp tướng:
Là nhẫn nhục vì danh lợi, vì có người khen, vì sợ uy quyền, vì chưa đúng lúc, chưa có đủ đều kiện trả thù, vì coi rẻ khinh bỉ đối thủ v.v…Đó là nhẫn nhục chấp tướng, chưa phải là nhẫn nhục thực sự, vì còn do dục vọng tham, sân, si, mạn thúc đẩy chi phối.
2- Nhẫn nhục vô tướng:
Là khi nhẫn nhục không chấp vào tướng như nêu ở trên, người nhẫn nhục luôn luôn tự hỏi: “Ta có làm điều gì sai quấy không? Nếu có, ta bị sỉ nhục là phải, ta không nên tức giận mà phải cám ơn; nếu ta không làm điều gì sai quấy, sau này sẽ được chứng minh, vì vàng bao giờ cũng là vàng, không thể vàng mà là đồng được; hoặc ta không làm điều gì quấy, những sự sỉ nhục ấy chẳng dính liú gì tới ta, nên ta không cần khổ tâm suy nghĩ đến”.
Nhẫn nhục còn là: không muốn hơn thua, được mất, vinh nhục, khen chê, đây là tám thứ gió bão quật ngã mọi người; không tranh đua chèn ép người khác để đạt mục đích. Không tranh cãi phải trái, đúng sai, hay dở, tốt xấu, tranh chấp này nọ; không muốn đời là bãi chiến trường thù hận, thế giới là một lò lửa ngụt cháy; người nhẫn nhục còn tiến tới có lòng từ bi hỉ xả rốt ráo.
Người tu hành muốn hành hạnh nhẫn nhục kiên cố (Ba La Mật), phải quán chúng sinh và mình cùng đồng một bản thể mới không thấy ta bị nhục và người làm nhục mình, thí dụ như tay phải làm việc cầm con dao hay cái búa, cắt đồ vật hay đóng đinh, rủi cắt hay đập phải ngón của bàn tay trái làm chảy máu hay sưng vù lên đau đớn. Bị thương tổn như thế, nhưng tay trái tự nhận tay phải cùng với mình (tay trái) đồng một thân thể, nên tay trái không thấy tay phải làm nhục làm hại mình; nhẫn nhục như thế mới là nhẫn nhục rốt ráo Ba La Mật.

5). Đức Phật dạy nhẫn nhục:

Chúng ta hãy lược trích một đoạn Kinh, đức Phật dạy người tu hành về nhẫn nhục trong Trung A Hàm quyển 4 trang 286, 290, 291 như sau:
Khi nghe, có năm cách nói: “Nói đúng lúc hay không đúng lúc, nói chân thật hay giả dối, nói dịu dàng hay hung ác, nói hòa hợp hay đâm thọc, nói có nghĩa hay vô nghĩa”, với năm cách nói này nếu người tu hành khi nghe mà tâm bị biến đổi, có thể miệng phát ra lời ác, người tu hành bị suy thoái. Khi ấy người tu phải khởi tâm từ mẫn đối với người kia, tâm tương ưng với Từ trải khắp một phương, thành tựu an trú; cũng vậy, hai, ba, bốn phương, phương trên phương dưới, bao trùm tất cả, không tranh cãi, không sân không oán. Đối với tâm Bi, Hỷ, Xả cũng vậy, không tranh, không sân oán, biến mãn tất cả thế gian rộng lớn trùm khắp, thành tựu an trú.
Cũng vậy . . . . . .
(Còn Tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jul 25 2014, 05:17 AM
Gửi vào: #149


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



NHẪN NHỤC

Toàn Không
(Tiếp theo)


Cũng vậy, nếu người tu bị người khác dùng tay đấm, đá ném, gậy đánh, dao chém, mà tâm biến đổi, hay miệng phát lời ác, hay đánh trả, người tu tất bị suy thoái. Hãy học sao cho tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời ác, không đánh trả, mà hướng đến người ấy, duyên nơi người ấy khởi tâm từ mẫn, không tranh, không kết, không oán, rất rộng lớn vô lượng vô biên, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ, khéo tu tập như thế.
Cũng như vậy, nếu có giặc, cướp lấy lưỡi cưa bén cắt xẻ tay chân người tu hành, nếu tâm biến đổi, hay miệng phát ra lời ác, hay đánh giết trả, người tu tất suy thoái; hãy học sao cho tâm không biến đổi, không phát ra lời thô ác, không đánh giết trả, mà hướng đến người ấy khởi tâm từ mẫn. Tâm tương ưng với Từ trải khắp một phương, hai, ba, bốn năm, sáu phương, bao trùm tất cả, không tranh, không kết, không oán, rộng lớn bao trùm khắp thế gian, thành tựu an trú; hãy khéo tu tập như thế, liền được giải thoát.

6). Vài trường hợp điển hình:

1- Một câu chuyện liên quan tới nhẫn nhục của chính đức Phật mà Kinh sách ghi đã xẩy ra trong mùa an cư thứ chín của đức Phật. Khi ấy đức Phật mới 44 tuổi, trung niên, cường tráng, với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, lại càng thêm uy nghi đẹp đẽ hấp dẫn. Đức Phật an cư ba tháng tại Kosambi, Ngài quán sát thế gian biết được một người Bà La Môn đã đủ cơ duyên nên Ngài đến nơi ông ta đang tế thần Lửa. Vị Bà La Môn thấy dung mạo tuyệt vời của đức Phật, ông nghĩ ngay đến người con gái diệu của ông, vì mấy năm liên tiếp ông có ý tìm kiếm một chàng rể xứng đáng nhưng chưa có người nào vừa ý cả; bởi vậy sau khi thăm hỏi chuyện trò thích ý, ông yêu cầu đức Phật ở lại chờ không lâu ông trở về nhà lấy tặng một món qùa đặc biệt. Đức Phật biết ý ông, nên đi đến một chỗ gần đấy nhưng cố ý để lại dấu vết chân, Ông Bà La Môn trở lại không thấy đức Phật, nhưng nhận ra vết dấu chân trên đất nên dẫn vợ, con gái trẻ đẹp với quần áo lộng lẫy, trang điểm mỹ lệ đi theo vết chân. Khi gặp mặt, ông giới thiệu vợ con, và tỏ ý muốn gả con gái cho đức Phật, đức Phật vừa từ chối vừa muốn độ cho Bà La Môn nên nói:
“Tôi đã thấy ái dục, bất mãn tham vọng là con của Ma Vương, tôi không ham muốn thích thú trong nhục dục của ái tình trần tục, thể xác đầy dục lạc là gì? Nó là khổ, là ràng buộc của sinh tử luân hồi, tôi không bao giờ muốn rờ đến nó, dù chỉ sờ bằng chân”.
Nghe những lời ấy, cả hai ông bà Bà La Môn đều chứng ngộ A Na Hàm là bậc chứng thứ ba trong Tứ Thiền, nhưng cô con gái Magandhiya thì trái lại, cô tức giận trong lòng; Cô cho rằng “Như thế là nhục mạ cô, chửi mắng cô”. Lòng tự ái của người con gái trong một gia đình giàu có quyền thế địa vị, trẻ đẹp. Chỉ mấy năm sau, cô trở thành thứ hậu của vua Udena, dựa trên thế lực đã có; Cô sai thuộc cấp mua chuộc, sai bảo người chửi mắng, nhục ma đủ điều, xua đuổi đức Phật ra khỏi thành ấy. Mỗi ngày đi khất thực đều bị hết toán người này đến toán người khác rỉa rói chửi rủa, họ nói: “Ông là tên ăn trộm, Ông là tên khờ dại, Ông là người ngu si, Ông là tên điên cuồng, Ông là con bò, là con lừa, là con lạc đà, Ông là con thú vật khờ dại v.v… Khi chết ông sẽ đọa Địa ngục, khi chết ông sẽ đọa chỗ nghèo khổ v.v…Ông hãy cút đi khỏi nơi đây, ở đây mọi người không muốn nhìn mặt ông , mọi người đều ghét ông không ưa ông v.v….”
Các Tỳ Kheo (Tăng) đệ tử của đức Phật thấy nhiều người dữ dằn dùng lời thô tục chửi rủa Ngài như vậy chịu đựng không nổi nên thưa:
- Người ta: chửi rủa và nhục mạ chúng ta qúa thậm tệ, xin Thế Tôn dời đi nơi khác”.
Đức Phật nói:
- Bây giờ chúng ta đi đâu?
- Thưa Thế Tôn, nên đi đến thành khác.
- Nếu ở thành đó người ta cũng chửi mắng và nhục mạ thì ta đi đâu?
- Thưa Thế Tôn, lại đi đến thành khác.
- Các Thầy: không nên nói vậy, nơi nào gặp chuyện khó khăn chính nơi ấy ta phải giải quyết cho ổn thỏa; chỉ khi nào giàn xếp xong xuôi ta mới có quyền đi nơi khác, nhưng ai chửi rủa nhục mạ ta?
- Thưa Thế Tôn, rất nhiều người chửi mắng nhục mạ.
Đức Phật giảng giải: “Như voi ra trận phải bị làn tên từ bốn phiá bắn tới, cũng như thế, ta phải chịu đựng những lời nguyền rủa chửi mắng từ mọi phiá, vì phần đông sống không có đạo đức, sống không giới đức. Nhiều voi ngựa được dẫn tới chỗ vua để lựa con thuần thục tốt nhất để cưỡi; giữa đám đông đảo người tụ hội, người xứng đáng nhất là người chịu đựng được những lời chửi mắng nguyền rủa; dù những con ngựa con voi trang trọng quý báu, nhưng người thuần thục giới đức trang nghiêm là hơn hết tất cả”.
Và đức Phật bảo:
- Các Thầy: không nên lo ngại, vì họ chỉ chửi mắng trong bảy ngày, ngày thứ tám họ sẽ ngừng, vì mọi chuyện khó khăn đến với Như Lai không bao giờ quá bảy ngày.
Đúng như lời đức Phật đã nói: đến ngày thứ tám, khi đức Phật đi khất thực, không còn thấy một người nào có hành động lỗ mãng với Ngài nữa.
Chúng ta thấy sự nhẫn nhục chịu đựng của đức Phật thật là có một không hai, đây mới thật là nhẫn nhục kiên cố; bảy ngày vào thành khất thực, bảy ngày đều bị hết toán người này đến toán người khác chửi bới nhục mạ xua đuổi thậm tệ suốt từ lúc bắt đầu vào thành cho đến lúc khất thực xong trở về nơi ngự; nếu như chúng ta gặp trường hợp như vậy sẽ xử trí ra sao?

2- Một câu chuyện nhẫn nhục khác của một đệ tử Phật mà Kinh sách đã ghi lại như sau:
“Thời ấy, một hôm Tôn giả Purna đến đảnh lễ rồi xin Phật cho phép Tôn giả được đi đến xứ Chronapraranta để giáo hóa, dân vùng này có tính hung dữ và tạo nhiều tội ác, đức Phật thấy thế nên hỏi Tôn giả:
- Thầy nguyện đem giáo pháp của Ta đến xứ ấy, nhưng nếu họ không nghe mà còn dùng lời hung ác nhục mạ, thầy nghĩ sao?
- Thưa Thế Tôn, con cho họ là người tốt, vì họ chỉ sỉ nhục mà không đánh đập con.
- Nếu họ hành hạ đánh đập thầy thì sao?
- Thưa, con nghĩ là họ còn có lòng tốt, vì họ đã không giết con.
- Nếu họ dùng dao giết hoặc dùng gậy đánh thầy cho tới khi chết mới thôi, thầy nghĩ sao?
- Thưa đức Thế Tôn, con nghĩ họ là ân nhân của con, vì họ đã giúp con bỏ được thân thối tha dơ bẩn này.
Đến đây, Tôn giả Purna được Phật khen và chấp thuận:
- Thầy nhẫn nhục như vậy mới có thể qua xứ ấy.
Tôn giả Purna qua xứ Chronaprananta giáo hóa một thời gian, hầu hết dân xứ ấy đều quy y Phật Pháp Tỳ Kheo (Tăng), vì Ngài đã hành nhẫn nhục từ bi hỉ xả từ trong đến ngoài của ý khẩu thân”.

7). Lợi ích của nhẫn nhục:

Đối với cá nhân, người nhẫn nhục tâm được an ổn, sự nghiệp bền vững, mọi người gần gũi, đối với gia đình được xum họp, bạn bè gắn bó, xã hội yên ổn thanh bình. Vì nhận thấy sự lợi ích của nhẫn nhục nên Phật đã dạy:
Người hơn gây oán hận,
Kẻ thua lòng không yên,
Hơn thua đều buông bỏ,
An ổn ngủ ngon lành.
Sự quyết tâm thực hành nhẫn nhục nhất là những người đã từng bị lửa hận làm cho tan nát cõi lòng, lại càng nên thực hành nhẫn nhục. Người có tu hành phải để ý từng tí từng li về hạnh nhẫn nhục từ thân đến khẩu và nhất là ý. Không buông lung mặc cho ý muốn phát lúc nào thì khởi lúc ấy, không để cho tham sân si điều khiển sẽ có được tâm an bình. Được tâm an bình rồi, việc tu hành mới có thể tinh tấn, khi đã tinh tấn tới mức, lo gì không đạt đạo

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Jul 31 2014, 11:10 PM
Gửi vào: #150


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



CÁCH CƯ XỬ
CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ


Toàn Không


I). Nhân duyên

Khi đức Phật đi giáo hóa đến ngự tại động Thất Diệp thuộc núi Kỳ xà Quật gần thành La Duyệt, một hôm con một Trưởng giả tên Thiện Sinh, sáng sớm tắm rửa xong, ra khỏi thành vào vườn cây, dùng hương lễ lạy sáu phương. Lúc ấy, đức Phật đang ở tại động Thất Diệp, Ngài quán sát chúng sinh, thấy vậy, Ngài liền đến chỗ ấy (bằng thần thông) ngay khi Thiện Sinh vừa lễ lạy xong; khi gặp, Ngài nói với thanh niên rằng:
- Này con của Trưởng giả, tên gì? Vì sao sáng sớm đã đến vườn này lễ lạy các phương như thế?
Khi đó, Thiện Sinh thưa:
- Tên con là Thiện Sinh. Con lễ lạy do cha con trước khi qua đời có dặn rằng: “Nếu con có muốn lễ bái, trước hết phải tắm rửa sạch sẽ, sau đó dùng hương lễ lạy sáu phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới”. Con không hiểu ý nghĩa, nhưng vì con vâng theo lời dạy của cha con, nên thường đến đây lễ bái.
Đức Phật bảo:
- Có tên của những phương này, chứ không phải không có; trong pháp Hiền thánh của Ta, có đầy đủ ý nghĩa, không phải lễ sáu phương mà đầy đủ cung kính đâu.
Thiện Sinh thưa:
- Cúi xin Ngài hãy vì con nói cách thức lễ sáu phương của pháp Hiền thánh.
Đức Phật bảo:
- Hãy lắng nghe, hãy chú ý nghe, suy gẫm, ghi nhớ về vấn đề này, Ta sẽ nói cho.
- Thưa vâng, con đang muốn nghe.

II). Pháp Hiền thánh cho Phật tử:

Đức Phật giảng dạy:
- Nếu người nào biết bốn nghiệp: Sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói dối là làm ác; nếu người nào biết bốn chỗ tham dục, sân hận, ganh ghét, tà kiến là ác hạnh. Người ấy không làm ác, tránh ác hạnh, kính lễ sáu phương, chẳng những đời này được phúc lành, đời sống vững chãi, mà đời sau hưởng quả báo tốt đẹp vô cùng; người ấy được bậc trí khen ngợi, danh dự ngày thêm lớn như mặt trăng ngày rằm tròn sáng; còn người không biết tránh bốn nghiệp làm ác, bốn hạnh ác, dù có lễ lạy sáu phương thế nào đi nữa, cũng vẫn tổn giảm như mặt trăng cuối tháng.

1). Sáu nghiệp tổn hại

Lại nữa, nếu người nào có sáu nghiệp tổn hại là:
1- Đam mê rượu chè sẽ sinh bệnh, hay gây gỗ, tiếng xấu đồn xa, trí tuệ giảm, gia sản tiêu mòn.
2- Người nào ham mê cờ bạc, gia tài không thể giữ được.
3- Người nào say mê kỹ nữ, tiền của tiêu tán.
4- Người làm bạn với người ác dễ sinh khinh lờn, dụ người nhà khác mưu lợi về mình.
5- Người nào phóng đãng không giữ được của cải, không giữ được thân mình, thường sinh dối trá.
6- Người nào lười biếng không chịu làm việc, sản nghiệp không bền.
Ngược lại: biết tránh sáu nghiệp tổn hại của cải, gọi là người biết sống. Khi tránh xa sáu nghiệp mất mát tài sản như thế, được người trí khen ngợi.

2). Bốn hạng oan gia

Đức Phật dạy tiếp:
- Này Thiện Sinh, có bốn hạng thân cận oan gia nên biết rõ, nên tránh, đó là:
1- Hạng kính sợ (uý phục) là hạng người trước cho sau đoạt lại, cho ít lấy lại nhiều, vì sợ nên làm quen, vì lợi nên làm thân.
2- Hạng môi mép (mỹ ngôn) là hạng người lành ác đều thuận theo, tránh xa khi thấy người khác gặp nạn, âm thầm săn đón lúc thấy có lợi, bài xích chê bai khi thấy bất lợi cho mình.
3- Hạng giả vờ kính thuận là hạng người trước dối trá, sau dối trá, hiện tại dối trá; thấy có một tí lỗi đã vội tránh xa, thấy có lợi thì săn đón thân thích.
4- Hạng bạn ác là hạng chỉ là bạn lúc uống rượu, đánh bạc, du hí, dâm dật, mưu đồ việc ác.

3). Bốn hạng nên thân cận

Ngược lại, có bốn hạng người nên thân cận, nên gặp, đó là:
1- Hạng người tự biết tránh xa làm xằng bậy, ngăn cản khi thấy người khác làm ác, chỉ bày cho người những điều ngay thẳng, có lòng giúp đỡ, cứu hộ người.
2- Hạng người có lòng thương xót, là người vui mừng khi thấy người khác được lợi, lo buồn khi thấy người gặp nạn, khen ngợi khi thấy người có đức tính tốt, ngăn cản khi thấy người khác nói ác.
3- Hạng làm lợi ích người, không cho người khác phóng dật, bê tha, buômg thả để khỏi hao tài tốn của, nói năng khiến người khác không sợ hãi.
4- Hạng người đồng sự là người không nề gian khổ cực nhọc vì người khác, không tiếc của vì người khác, khuyên bảo người khi ở chỗ vắng, giúp người khỏi sự lo lắng.

III). Ý nghĩa lễ sáu phương:

Đức Phật giảng tiếp: Phải biết rõ sáu phương là những gì? Đó là:

1). Phương Đông là cha mẹ.

Bổn phận làm con: phải kính thuận với cha mẹ, gánh vác công việc cho cha mẹ, cung phụng hiếu dưỡng, không để cha mẹ lo lắng thiếu thốn; khi làm điều gì phải thưa với cha mẹ biết, cha mẹ làm điều gì không được chống báng, cha mẹ làm việc lành không được ngăn cản.
Ngược lại: bổn phận làm cha mẹ, phải ngăn cản không cho con nghe điều ác, không cho con làm điều ác, chỉ dạy con làm điều lành. Tạo cho con làm nghề chính đáng. Thương con thắm thiết, đối xử bình đẳng giữa các con, tùy thời cung cấp sự cần thiết của con. Tạo cơ hội thuận lợi cho con thành người chân chính.
Nếu con kính thuận cha mẹ, cha mẹ thương yêu thắm thiết con cái như thế, phương Đông sẽ được yên ổn tốt đẹp, không còn gì đáng lo ngại nữa.

2). Phương Nam là thầy dạy.

Học trò kính trọng thầy dạy, tôn trọng quý trọng thầy, học hỏi, chăm chỉ nết na nghe lời thầy; không phá phách, không chống đối, ghi nhớ kỹ không quên những điều thầy dạy bảo, chăm sóc giúp đỡ khi thầy cần đến.
Đối với thầy phải dạy có phương pháp (sư phạm), làm cho học trò hiểu được lời dạy; dạy những điều mới lạ chưa biết, làm sáng tỏ điều hiểu biết của học trò. Bậc thầy phải: giới thiệu bạn lành bạn tốt cho học trò của mình, đem hết sự hiểu biết cuả mình truyền dạy lại không giấu giếm; bậc thầy còn phải công bằng, đạo đức, làm gương tốt, không lươn lẹo, không bất công thiên vị.
Nếu học trò kính trọng cung phụng thầy, nết na chăm chỉ học hành; bậc thầy thương yêu dạy bảo đúng với nhiệm vụ làm thầy, phương Nam được yên ổn không còn lo sợ nữa.

3). Phương Tây là vợ chồng.

Chồng đối với vợ phải nhã nhặn thanh tao, oai nghiêm đĩnh đạc, ăn mặc đúng lúc tùy thời, nói năng phải đạo; không tỏ vẻ khinh vợ, giao phó việc nhà, trung thành với vợ, và vui vẻ với quyến thuộc của vợ.
Vợ đối với chồng nói lời hoà nhã, thức ngủ tuỳ thời, kính nhường tuỳ thuận, vui vẻ dịu hiền, nói năng khiêm cung; giữ gìn của cải và siêng năng làm tròn phận sự trong nhà, vui vẻ với quyến thuộc của chồng, và trung thành với chồng.
Nếu vợ chồng: lấy lễ nghĩa đối với nhau, đồng thuận như thế, phương Tây được yên ổn, không còn lo sợ.

4). Phương Bắc là anh em, bà con, bạn bè.
(Còn tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Aug 9 2014, 01:17 PM
Gửi vào: #151


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



CÁCH CƯ XỬ
CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ


(Tiếp theo)

Toàn Không


4). Phương Bắc là anh em, bà con, bạn bè.

Làm người phải lấy sự giúp đỡ lẫn nhau, từ tiền bạc, đến công sức; nói lời nhu hòa xây dựng, làm việc lợi ích cho nhau; chung làm chung hưởng, không hề dối trá khinh khi. Ngoài ra, anh em, bà con, bạn bè còn phải bảo vệ bao bọc lẫn nhau, can ngăn phung phí hao tài tốn của. Tùy thời khuyên bảo lẫn nhau, khen ngợi việc làm lành; quảng đại, khoan hồng, sẵn sàng làm việc phải cho nhau. Thấy ai có việc liền ra tay giúp đỡ, không đợi cầu khẩn.
Ngược lại, anh em, bà con, bạn bè được giúp đỡ có bổn phận hết lòng gìn giữ cho khỏi hao tổn tài sản. Bảo vệ lại lúc cô đơn, hoặc sa ngã khủng hoảng, và luôn luôn nhã nhặn khiêm tốn.
Nếu anh em bà con bạn bè với nhau biết thân giao kính thuận như thế, phương Bắc được yên ổn, không còn lo sợ.

5). Phương Dưới là người dưới quyền, người giúp việc, làm công:

Người trên, người cai trị, người chủ chỉ bảo phân công tùy khả năng mà giao công việc thích hợp, đúng lúc cho ăn, tùy thời thưởng công lao. Khi bệnh cho dưỡng sức, thuốc thang điều trị đầy đủ; không bắt làm qúa sức, qúa giờ; ân cần hỏi han giúp đỡ khi gia đình người làm, cấp dưới gặp hoạn nạn.
Ngược lại, người làm, kẻ dưới phải làm việc đúng giờ, phụng sự đầy đủ, làm việc cẩn trọng có thứ tự; không tham lam, của không cho không được lấy, khen ngợi công đức người chủ, bậc trên; không nói xấu sau lưng mà phải giữ gìn danh giá cho chủ, cấp trên, không phá hoại tài vật của chủ.
Nếu: chủ cấp trên đối với người làm cấp dưới, và người làm cấp dưới đối với chủ cấp trên được như thế, phương Dưới được ổn cố, không còn lo sợ.

6). Phương Trên là bậc trưởng thượng, bậc tu hành:

Phàm là người phải biết tôn kính các bậc trưởng thượng, các bậc tu hành đức độ. Phải biết nói điều thiện, biết làm điều thiện, đúng thời cung kính, đúng thời bố thí, nói năng lễ độ kính trọng.
Ngược lại: bậc trưởng thượng, bậc tu hành phải dạy bảo điều lành, dạy giữ tâm lành, ngăn cản không cho làm ác. Dạy điều lành chưa từng được nghe, làm cho hiểu điều đã nghe chưa hiểu. Hết lòng thương mến, chỉ bảo điều hay lẽ phải.
Nếu: mọi người đều làm được như thế, phương Trên được yên ổn, không có điều gì lo sợ nữa; này Thiện Sinh, như thế mới đầy đủ ý nghĩa lễ sáu phương.
Bấy giờ, Thiện Sinh chắp tay cúi đầu vái và nói:
- Thưa đức Thế Tôn, hay quá, thật phúc đức cho con biết bao, thật quá sự tưởng tượng mong ước của con; Ngài đã dẫn giải lời dạy đầy đủ về lễ sáu phương, lại dạy pháp Hiền thánh chưa từng được nghe, khiến con như người bị té ngã vập mặt xuống đất được nâng dậy. Những gì che đậy bưng bít không thấy được mở ra thấy rõ ràng, như người đang mê được tỉnh ngộ, như trong nhà tối mù mịt được thắp ngọn đèn sáng thấy hết mọi vật. Đức Thế Tôn cũng như thế, Ngài dùng vô số phương tiện khai thị (mở mắt) cho kẻ phàm phu ngu muội như con, vì con làm mà không hiểu nghĩa lễ sáu phương là như thế nào. Nay con đã hiểu ngọn ngành, con xin hứa ghi nhớ và thực hành tất cả những điều Ngài dạy. Con xin được quy y Ngài, quy y giáo pháp của Ngài, và quy y đại chúng Tăng đoàn của Ngài kể từ ngày hôm nay cho đến hết đời.

Kết luận: Chúng ta thấy lời giảng dạy của đức Phật rõ ràng minh bạch như mặt trời giữa buổi trưa, không một gợn mây, sáng trưng, đức độ toàn vẹn. Đây không phải chỉ cho hàng Phật tử, mà cho toàn thể nhân loại học hỏi, noi theo, và áp dụng vậy.

IV). Trau dồi kiến thức bằng Ngũ Minh
Ngoài ra, người Phật tử còn phải trau dồi trí tuệ một cách chu đáo bằng “Ngũ minh” là năm trí tuệ trong sáng, đó là:

1). Y Phương Minh (Trí tuệ về Y Học): Người Phật tử nên học về phương pháp chữa bệnh, chữa cả về thân bệnh và tâm bệnh; chữa bệnh về tinh thần là cần thiết, nhưng những phương thuốc chữa thân bênh không phải là không quan trọng. Người Phật tử nên học về thuốc để có thể thực hành công tác xã hội, rất thích hợp cho lòng Từ Bi; nếu là thầy thuốc hay Bác sĩ, người Phật tử đã có trong tay một phương tiện hành đạo quan trọng. Đem sự an ủi đến cho người bệnh, đó là thể hiện một phần nào tinh thần cứu tế, cứu đời tích cực.

2). Công Xảo Minh (Trí tuệ về công nghệ, kỹ thuật, khoa học): Người Phật tử cần học tập công nghệ, kỹ thuật cao, để có phương tiện hành đạo rộng lớn. Cần phải có đủ điều kiện kinh tế để cứu giúp người nghèo đói tật nguyền, người Phật tử dùng phương tiện công xảo kỹ thuật để phục vụ con người, chứ không phải dùng nó để gây đau khổ cho con người và các loài sinh vật.

3). Nhân Minh: Đây là “Luận lý học” của Phật giáo. Người Phật tử cần phải học phương pháp luận lý, học lập thuyết vững vàng, dựa trên giáo lý một cách rõ rang; luận lý này chủ trương lập thuyết bằng “Nhân”, tức là bằng cách suy cứu đến “lý do”. Lập luận có “thuận”, có “nghịch”, và phải có đầy đủ ba thành phần, đó là:
1- Tôn: Là chủ trương của mình.
2- Nhân: Là lý do thành lập chủ trương ấy.
3- Dụ: Là sự kiện đem ra để chứng minh.
Thí dụ: - Chủ trương (Tôn): Em A bị đói.
- Lý do (Nhân) : Em A không ăn.
- Sự kiện chứng minh (Dụ): Phàm ai không ăn đều bị đói.
Phàm ai không ăn đều bị đói, em A không ăn nên em A bị đói. Đây là lập luận “thuận” (Đồng dụ), trái lại:
Phàm ai ăn đều không bị đói, em B, em C, D v.v… ăn, nên đều không bị đói, đây là lập luận “nghịch” (Dị dụ).
Chúng ta thấy “Luận lý nhân minh” giống nhưng tinh vi và đầy đủ hơn “Luận lý học hình thức” (Syllogism), vì nó có đầy đủ tính cách diễn dịch và quy nạp (Diễn dịch: Do một nguyên lý chung mà suy đoán ra những sự thực riêng. Quy nạp: Suy luận từ sự thực riêng mà suy cứu ra nguyên tắc chung).
Ba phần phải có liên lạc mật thiết với nhau: Chủ trương (Tôn) và Lý do (Nhân) phải thuận với nhau; biết “Nhân Minh” kỹ càng, có thể phán đoán “Chân, Ngụy” dễ dàng, không bị mắc kẹt vào các câu hỏi khó và giải đáp được dễ dàng.

4). Thanh Minh (Ngôn ngữ học): Đây là môn học về văn tự, tiếng nói, văn học. Người Phật tử không những có kiến thức về ngôn ngữ mẹ đẻ, hiểu giáo lý, biết trước tác, diễn giảng; người Phật tử còn phải học hỏi ngoại ngữ nữa, để phiên dịch, trao đổi văn hóa với các nước khác.

5). Nội Minh (Nội điển Kinh sách): Người Phật tử cần phải có kiến thức về Nội Kinh điển Phật giáo: Nghiên cứu Kinh sách đầy đủ, rồi đem giáo pháp truyền lại cho người khác và thực hành.
Người Phật tử không nên để tình trạng “mê tín dị đoan” lẫn vào đạo, mà nhiều người lầm tưởng đó là của Phật giáo; người Phật tử phải hiểu rõ Kinh điển của Phật giáo một cách tường tận để ngăn chặn những sai lầm như vàng mã, đồng bóng, cúng sao cúng hạn, dời mồ coi mả, giết hại sinh vật để cúng ma vái quỷ v.v...
Nên nhớ, sự thờ cúng Tổ Tiên, Ông Bà chỉ là tượng trưng sự tưởng nhớ các bậc tiền nhân sinh thành; các vị đã có công gây dựng tiền đồ cho thế hệ về sau. Chúng ta thờ cúng để tỏ lòng tôn kính, tưởng nhớ, biết ơn, và noi theo v.v…. Chúng ta không thể lễ lạy van vái để xin ban ân huệ này nọ được. Sự thờ cúng Tổ tiên không khéo biết có thể rơi vào mê tín mà chúng ta không biết không hay; đó là ý nghĩa của việc thờ cúng Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ v.v…. mà người Phật tử cần phải biết rõ.
Tóm lại, người Phật tử nào đạt được “Ngũ Minh” nhiều chừng nào, người ấy có trí tuệ đức độ nhiều chừng ấy, và đạt gần quả vị giải thoát hơn.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Aug 23 2014, 12:57 PM
Gửi vào: #152


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



MÊ TÍN DỊ ĐOAN

Toàn Không


I). Thế nào là mê tín?

Mê tín là u mê không hiểu biết chân chính, tin những điều không đúng sự thật, tin mù quáng; phần nhiều là những việc về tinh thần, nhưng cũng ảnh hưởng về vật chất, mê lầm tưởng đó là sự thực; từ sự tin sai lầm đưa tới nói năng hành động sai lầm. Như tin bà đồng bà cốt, tin bói quẻ, tin thầy bùa thầy chú, v.v…, những loại tin này không có một chút căn bản, không thể chứng minh được, nên được liệt vào hạng mê tín dị đoan.

II). Nguồn gốc mê tín:

Mê tín là cái bệnh có từ khi có loài người đến bây giờ, có khi mê tín cách này, có khi mê tín thế khác, như thời xưa tin có thần cây đa, thần giếng nước, thần sông, thần đầu làng, v.v…Ngày nay sự mê tín này đã giảm nhiều, nhưng lại có những loại mê tín mới khác rất thịnh hành trong đời sống hàng ngày.
Sự mê tín, không phải tự nhiên mà có, nó có nguồn gốc do sự mong cầu mà ra, do sự sợ hãi mà ra. Chúng ta thử phân tích hai loại nguồn gốc này:

1). Mê tín do sự sợ hãi:

Khi xưa thờ đủ thứ vì sự sợ hãi của con người trước thiên nhiên như thiên tai bão tố, lũ lụt ngập tràn, sấm chớp chát chúa kinh hoàng, lốc xoáy tàn phá cuốn lôi, đêm tối mịt mù. Tất cả đã làm cho con người chết chóc, tai ương, nhà tan cửa nát v.v…, thành ra sợ hãi. Con người đã nghĩ ra có thần nọ, qủy kia tức giận gây nên sự tệ hại ấy, và họ phải cúng vái để xin được yên ổn.
Ngày nay, sự sợ hãi trên bớt nhiều, nhưng sự sợ hãi khác kín đáo hơn và sâu xa hơn vẫn hoành hành ở mọi nơi, không cứ ở Á Châu có mê tín , mà ở Âu , Mỹ, Úc, Phi Châu đều có mê tín, nhưng với hình thức khác nhau thôi. Như đối với dân Việt Nam, khi một gia đình liên tiếp trong một số năm có hai ba người bị tại nạn, bệnh hoạn chết, là có người đưa ra câu hỏi tại sao gia đình ấy lại có tai họa như vậy, có thể gia đình này có chuyện gì nên mới xảy ra như thế, chắc là động mồ động mả? Có lẽ có ma quỷ ám, chắc là có người dùng bùa ếm hại, hay là có thần linh nào dáng họa cho gia đình ấy? v.v… Người ta nghĩ ra đủ thứ nghi vấn, kể cả những người trong gia đình ấy cũng có suy nghĩ giống như thế; rồi họ bàn ra tán vào từ cửa miệng người này qua cửa miệng người khác, họ đề nghị chỗ nọ linh thiêng nên đến đó lễ bái cho tai qua nạn khỏi; chỗ kia có thầy bói thầy tướng, ông đồng bà cốt, thầy bùa thầy ngải hay nên đến hỏi han để trị cho dứt tai họa.
Trong một gia đình có một người mắc bệnh nan y, khám phá ra quá trễ, Bác sĩ hết cách cứu chữa, như bệnh Ung thư, bệnh AIDS. Người bệnh, gia đình người bệnh, bạn bè bà con hoang mang, sợ hãi, buồn khổ. Có người mách chỗ linh thiêng đến lễ bái, chỗ đến xin bùa chú hộ mạng, họ đều làm theo, nhưng bệnh nào tật ấy, tới ngày chết vẫn chết.
Có người làm việc nguy hiểm, lo sợ không biết sẽ ra sao, nên đến lăng miếu xin xăm xin quẻ, nếu được tốt mới làm, nếu gặp quẻ xấu thì thôi; hoặc có người coi bói coi tướng, thầy nói vận hạn xấu phải cúng sao giải hạn, đi lễ chỗ này chỗ nọ; hoặc có gia đình bị chết hai ba người liên tiếp thì hoảng hốt đi đón thầy bùa thầy ngải về ếm. Lại có người thương cha thương mẹ chết khổ, coi bói toán, hỏi đồng cốt chỉ cho nơi âm ti cha mẹ thiếu thốn khổ cực nên phải đốt nhà lầu, xe cộ, quần áo, tiền bạc giấy để cha mẹ nơi cõi âm ti được hưởng, không còn nghèo thiếu nữa. v.v…
Tất cả những trường hợp trên đây đều do sự lo sợ mà sinh ra mê tín dị đoan.

2). Mê tín do mong cầu:

Con người có đủ thứ mong cầu, có mong cầu có thể đạt được, nhưng có những mong cầu không thể đạt, quá tầm tay. Những mong cầu quá tầm tay của mình, thường hay tìm cách này, nghĩ cách khác để cố làm sao đạt được. Dù đạt được hay không, cũng cố tìm cách, do đó dễ đi vào mê tín.
Như người có con đi thi hay làm ăn buôn bán, bèn mua hương hoa quả và chút tiền đến lễ Phật tại một ngôi chùa nọ cúng lễ cầu Phật phù hộ cho con thi được đậu hay buôn may bán đắt, như vậy thấy rõ lòng tham, bỏ ra một ít lại muốn được nhiều; khi cầu được việc thì mừng vui khen ngợi. Lần khác có việc cầu lại làm giống như thế, nhưng nếu không được như mong đợi, sinh tâm mất tin tưởng, đi tìm chùa khác hay đền, lăng, miếu có người nói linh thiêng, từ đó đưa người Phật tử dần dần đến mê tín.
Một người khi đang làm ăn buôn bán bình thường, nhưng lại muốn biết tương lai có khá hơn không, lại nghe người ta nói có ông đồng bà cốt nào đó nói rất trúng. Họ liền đến hỏi han, chỉ bỏ ra một chút tiền mà biết được việc làm ăn của mình thì hay biết mấy, nên chỗ ông đồng bà cốt người ra kẻ vào tấp nập.
Có người đồn ông nọ, bà kia coi bói coi bài, coi tướng tử vi hay lắm, nói đúng mọi chuyện; chỉ phải bỏ ra ít tiền mà biết được tương lai, thật hay biết bao; những người đang làm việc cho chính quyền, những người dân cử v.v…muốn biết tương lai công danh sự nghiệp đến coi cho biết hậu vận, nên thầy bói thầy tướng sống khoẻ.
Lại có người buôn bán lặt vặt muốn mau giàu, có học sinh hoặc sinh viên muốn đậu, muốn được vào ngành mong muốn, không tin vào sự làm ăn, không tin vào khả năng học hành của mình. Nghe nói lăng nọ, miếu kia thiêng lắm liền đến lễ bái cầu xin, xin xăm xin quẻ hỏi thăm thần thánh, làm cho kẻ buôn thần bán thánh hưởng lợi tiền cúng thoải mái. Tất cả những việc làm trên thiếu căn bản giải thích, đều là mê tín dị đoan cả.

III). Cách trị mê tín:

Là con người, không ai không có sợ hãi, không ai không có mong cầu, càng sợ hãi, mong cầu nhiều chừng nào, càng dễ rơi vào mê tín nhiều chừng ấy; ngay cả những người chống đối mê tín cũng chưa chắc họ là người không mê tín hoàn toàn, vì sao? Vì khi chưa gặp việc thì họ nói hay, nhưng khi gặp việc kinh hoàng sợ hãi, cầu mong tai qua nạn khỏi không được đến nỗi tuyệt vọng rồi, dù người có kiến thức rộng, người có bằng cấp này nọ, cũng vẫn rơi vào mê tín. Thí dụ: trong một gia đình hai vợ chồng đã lớn tuổi, có một người con duy nhất ở tuổi tráng niên khoảng trên ba chục tuổi, bỗng nhiên người con này mắc bệnh nan y vô phương cứu chữa; sự việc xẩy ra như thế, làm cho mọi người trong gia đình lo sợ khủng khiếp, bối rối khổ sở vô cùng. Khi đó có người mách bảo, người vợ đi coi thầy bói thầy tướng, đi hỏi ông đồng bà cốt, đi lễ lăng nọ miếu kia, người chồng vẫn im lặng thuận theo không mở miệng nói năng chi hết. Bởi vì sự sợ hãi, sự mong cầu muốn cho người con được tai qua nạn khỏi, nên mê tín dễ hoành hành. Tưởng rằng đó là cái phao cho người sắp chết đuối bám vào; do đó, sự mê tín là một bệnh, nó đã nằm sẵn trong mỗi con người, khi gặp sự việc sợ hãi mong cầu xẩy ra, nó mới xuất hiện.
Muốn trị bệnh mê tín, phải có thần dược của Phật pháp mới trị được, nếu thực hành lời dạy của Phật sẽ trừ được bệnh mê tín như sau:

1). Cách diệt trừ mê tín thứ nhất:

Học hỏi tìm tòi thuyết nghiệp báo nhân quả cho rõ ràng suốt thong, người đời thường nghi ngờ nhân quả vì họ không nhìn thấy trước mắt, họ lại mong cầu quả không tương xứng với nhân. Họ mơ ước có quả ngoài tầm tay của họ, nên đã đưa đẩy họ đi đến mê tín. Nếu mọi người biết rõ ràng như thật rằng nhân nào quả ấy, mọi sự thành công hay thất bại đều do nguyên nhân tốt hay xấu tạo nên, và cứ tạo nhân lành sẽ được hưởng quả tốt mai hậu. Nếu mọi người hiểu được rằng cái quả tốt hay xấu mà họ có ngày nay là do đã gây tạo ra từ trước, tin như vậy, sẵn sàng nhận lãnh, không mong cầu, không lo sợ, và bình tĩnh nhận quả. Quả tốt không kiêu hãnh, quả xấu không sầu khổ, sống tự tại an nhiên làm các điều tốt lành.
Mọi sự trên đời không phải ngẫu nhiên mà có, không phải do một thần linh nào ban phát hay thưởng phạt mà do nhân chúng ta đã tạo ra từ trước; khi nhân duyên đầy đủ quả thành hình, không phải cầu xin lạy van mà có quả tốt đến, không phải xua đuổi nài xin mà quả xấu chạy đi.
Bởi vậy, bậc tri thức sợ gây nhân ác chứ không sợ quả xấu, còn phàm phu sợ quả xấu mà quên sợ gây nhân ác; cầu xin được ban phúc lành, nhưng chúng ta lại quên thi ân bố đức cho người khác. Cầu mong quả tốt, nhưng chúng ta lại không muốn gây nhân lành; sợ quả xấu, nhưng chúng ta lại hay suy nghĩ, nói năng, và làm những việc không đẹp không hay, thì cầu vô ích, lo sợ lại càng buồn khổ thêm.
Nếu hiểu rõ nghiệp báo nhân quả rõ ràng rồi, chúng ta can đảm nhận quả khổ không sợ hãi buồn phiền, mình làm mình chịu, còn cầu xin cái gì, đâu cần hỏi han ai nữa; được như vậy, mê tín dị đoan sẽ tiêu tan.

2). Cách diệt trừ mê tín thứ hai:

(Còn tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Aug 24 2014, 04:12 AM
Gửi vào: #153


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



MÊ TÍN DỊ ĐOAN

(Tiếp theo)
Toàn Không


2). Cách diệt trừ mê tín thứ hai:

Nếu học Phật pháp căn bản đầy đủ rồi, chúng ta sẽ thấy rõ từ người đến vật đều do nhân duyên kết hợp mà thành. Vạn vật do nhân duyên hợp lại mà có, hết nhân duyên thì tan rã; những thứ ấy đều không có chủ thể, nghĩa là một mình nó không thể tự tồn tại được, mà sự còn của nó phải dựa nhờ vào thứ khác mới tồn tại được. Thân tâm chúng ta do sáu đại “đất, nước, gió, lửa, không, thức” hòa hợp với nhau mới sống còn được, thiếu một trong sáu thứ này thì thân xác tan rã; tất cả vạn vật đều như thế cả, chúng không có tự thể của chúng, nếu mỗi thứ có tự thể thì không cần các thứ khác vẫn sinh tồn mới đúng.
Bản thể của mọi vật: đều không có tự thể của nó, nên nó là không, thân tâm không phải là ta, mọi vật mọi người không phải là của ta, là vô ngã, tất cả không thật, hư dối, nên không cần mong cầu, không lo sợ. Không mong cầu không sợ hãi đâu còn tham sống sợ chết, đâu cần hỏi thầy bói thầy tướng, đâu cần nhờ vả ông đồng bà cốt, đâu cần khấn lạy van xin qủy thần; dùng trí tuệ này dẹp tan mê tín như mặt trời giọi sương mai, như vậy chúng ta không còn bị trói cột bởi tà kiến dị đoan, và sống được yên ổn tự tại vậy.

3). Cách trừ mê tín thứ ba:

Người Phật tử đã học biết “nghiệp báo nhân quả” rồi, người Phật tử đã học biết “vạn vật do nhân duyên hòa hợp mà có, không, vô ngã, vô thường” rồi; người Phật tử còn phải học biết những gì để áp dụng tu hành, tu nhân gì được sinh về đâu. Tu như thế nào được sinh lại cõi Người, sinh lên cõi Trời, hoặc không tu lại làm ác như thế nào bị đọa Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, và tu như thế nào được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi?

1- Làm sao được tái sinh lại cõi Người?

Đức Phật đã dạy người Phật tử tại gia thụ Tam quy “Phật Pháp Tăng”, giữ Năm giới “Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không rượu chè say sưa”. Chỉ có vậy thôi, chúng ta nếu muốn được trở lại làm người kiếp sau, phải ráng gìn giữ theo lời đức Phật đã dạy như thế.

2- Làm sao đươc sinh lên cõi Trời?

Đức Phật dạy người nào muốn được sinh lên cõi Trời, sống sung sướng lâu dài, phải thực hành đầy đủ mười điều lành (thập thiện). Đó là ba điều về thân “Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm”, bốn điều về miệng là “Không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời thêu dệt, không nói lời độc ác”, và ba điều về ý là “Không tham lam ích kỷ, không sân hận đố kỵ, không ngu si tà kiến”.

3- Làm thế nào bị đọa vào cõi dữ?

Ba cõi dữ là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh; Đức Phật dạy: “Người nào làm một trong mười điều ác (thập ác), Mười điều ác là: “sát sanh, trôm cướp, tà dâm, nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói ác, tham lam, sân hận giân thù, ngu si tà kiến”; nếu không có nhân lành khác làm triệt tiêu việc ác ấy, chắc chắn sẽ đọa vào một trong ba cõi dữ.

4- Làm sao thoát khỏi sinh tử luân hồi?

Đức Phật dạy vô số pháp môn tu, Phật tử nào tu, chỉ cần áp dụng thực hành một pháp môn là đủ để thoát khỏi sinh tử triền mien; nhưng trên nguyên tắc căn bản, tất cả mọi người tu hành đều phải tôn trọng mười điều lành trong khi tu hành, mới mong đạt được mục đích mong muốn.
Thí dụ, người niệm Phật A Di Đà tu pháp môn Tịnh độ, để được sinh về cõi cực lạc của đức Phật A Di Đà khi qua đời. Trong khi tu niệm phải thực hành đầy đủ tất cả những gì quy định cho pháp môn Tịnh độ, còn phải giữ gìn mười điều lành nữa, chứ không phải chỉ cần niệm Phật mà không cần để ý đến mười điều lành; những người tu các pháp môn khác cũng tương tự như vậy, mới có kết quả chắc chắn được.
Như vậy, chúng ta đã biết rõ ràng và yên tâm tu tập pháp lành, và bóng dáng của người Phật tử lúc đó có một cuộc sống tươi mát tự tại. Việc gì đến chúng ta sẵn sàng nhận cho dù tốt hay xấu, cũng không làm tâm ta rộn lên, và như vậy sự mê tín chắc chắn không còn một tí ảnh hưởng nào trong tâm người Phật tử nữa.

IV). Đối phó nguy nan trong đời sống:

Người Phật tử gặp hoạn nạn phải làm gì? Thí dụ trong gia đình mọi người đang sống yên vui, bỗng nhiên có một người bị bệnh nguy hiểm, phải làm sao? Trước hết mọi người trong gia đình phải bình tĩnh, nhận định phân tích, tìm nhà thương, Bác sĩ chuyên môn giỏi về bệnh ấy, để khám xét định bệnh cho rõ ràng. Mọi người nên an ủi người bệnh cho vững tinh thần, không lo sợ sẽ ảnh hưởng tốt cho việc chữa trị. Phải nghe lời Bác sĩ trong việc thuốc thang, ăn uống, kiêng cữ. Phải nhận ra việc bị bệnh là do nguyên nhân gì? Nguyên nhân gần như hút thuốc, uống rượu, ăn uống v.v…Nguyên nhân xa như đã có người trong huyết thống bị bệnh ấy v.v…Điểm căn bản của Phật giáo cần phải hiểu biết nghiệp báo nhân quả từ nhiều đời nhiều kiếp tích chứa đến ngày nay mới phát ra. Nhận biết như thế, sẽ yên tâm, bớt đi sự lo lắng, vì có lo lắng cũng không lợi ích gì hơn là một mặt chữa trị, một mặt làm việc lành, như phóng sinh, bố thí, ăn chay, niệm Phật Dược Sư Lưu Ly Quang, để có thể đưa tới việc gặp thầy gặp thuốc. Nếu bệnh khám phá ra quá trễ, không thể qua khỏi nguy nan, người bệnh phải hiểu lẽ vô thường, có nhân duyên hòa hợp mới có đời sống, hết nhân duyên sẽ tan rã thành không, vô ngã, thân chẳng phải là ta, chẳng có cái gì là của ta; người bênh suy nghĩ như vậy, quán chiếu như vậy sẽ đi vào định tâm, được giải thoát. Nếu không làm được như thế, bệnh nhân nên chuyển qua niệm Phật A Di Đà, để khi chết được nhẹ nhàng sinh về cõi cực lạc.
Trong khi bệnh như thế, tuyệt đối không nghe người nói lời tà mị, đi coi thầy coi bói, hỏi đồng hỏi cốt, đeo bùa mang phép, giết hại sinh vật cúng ma vái qủy; lại càng không nên nghe lời dụ dỗ của người khác bỏ đạo Phật theo họ sẽ được vị thần linh nào đó có phép cứu khỏi bị chết; đó chỉ là những lời lừa bịp không khác gì thầy bói, thầy tướng, đồng cốt, cùng là một thứ mê tín như nhau, nhưng dưới một hình thức khác mà thôi. Những người đang trong hoạn nạn lo sợ cái chết gần kề dễ bị lừa dối đã từng xảy ra; thương thay những kẻ làm việc dối gạt người sẽ bị quả báo đọa địa ngục khi chết, không sao tránh khỏi!
Nên nhớ, trong Bát Chính Đạo, về phần Chính Mệnh, đức Phật khuyên người Phật tử không nên hành nghề tà thuật, bùa chú v.v…để sinh sống là bởi lý do đó.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Aug 31 2014, 11:30 AM
Gửi vào: #154


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĐỜI LÀ VÔ THƯỜNG

Toàn Không


1). Vô thường là gì?

Vô thường là thay đổi, không cố định, nay thế này mai thế khác không chắc chắn, Vô thường là tính chất căn bản của đời sống; tất cả mọi sự vật sinh ra có điều kiện đều có tính chất của bốn giai đoạn “thành, trụ, hoại, diệt” (thành: dựng lên, trụ: ổn cố, hoại: suy tàn, diệt: không còn) hay “sinh, già, bệnh, chết”. Từ tính vô thường đưa đến các đặc tính khác là “Khổ”, “Vô ngã” (không có ta), “Không”; chúng đều là căn bản của đạo Phật, là chân lí trong cuộc đời, là sự thực hiển nhiên không một ai có thể bác bỏ được.
Nhiều người không dám nói đến vô thường, khổ, vô ngã, không, vì họ sợ sự thật; Đạo Phật trái lại, luôn luôn nói về sự thật, phân tích sự thật, vạch trần sự thật; Đạo Phật nói về “Vô thường, khổ, vô ngã, không”, không phải để than trời trách đất rằng tại sao lại như thế, tại sao không cho “thường hằng (sống mãi), sung sướng, thân bất hoại (không tiêu diệt), luôn luôn hiện hữu”?
Đạo Phật nhận chân sự thật để tìm giải pháp đối phó, chứ không phải ngồi đó mà than khóc như nhiều người hiểu lầm cho rằng Phật giáo “Thụ động (hành động trong khuất phục), yếm thế (chán đời)”; chính những người không hiểu sự thật, khi sự việc xảy ra rồi ngồi đó mà than trời trách đất, khóc than, van xin khẩn cầu, đó mới là thụ động yếm thế.

2). Tính chất của vô thường:

Vô thường: có thực chất là thay đổi, nhưng có hai loại thay đổi là thay đổi tốt đẹp khá hơn lên, và thay đổi thoái hóa tồi tệ hơn, chúng ta thử phân tích hai tình trạng của sự thay đổi này.

1 - Tình trạng thay đổi tốt hơn:

Thay đổi tốt hơn khá hơn, tiến bộ gây sự thỏa mãn vui thích mà chúng ta gọi là lớn lên, thành công, giàu lên, thăng tiến, kết qủa v.v…Như khi ta trồng một cây con còn nhỏ, sau ít năm vun tưới chăm nom, cây lớn lên sinh hoa kết qủa. Tới mùa qủa chín ta có qủa ăn, mọi người ăn đều khen nức nở: “Cây thật qúy qúa, trái ăn ngon qúa!”; đây là vô thường tiến bộ, ta thấy có sự vui.
Một cái xe cũ hư, ta đem sửa cho tốt lại, đó là sự thay đổi của cái xe từ xấu qua tốt. Chúng ta chỉ phải bỏ ra một số tiền trả cho sự sửa chữa sơn phết lại là có xe tốt đẹp chạy; đây là sự thay đổi từ xấu qua tốt, mang lại sự tiện nghi vui vẻ.
Một căn nhà ọp ẹp tồi tàn, chúng ta phá đi, bỏ tiền bạc ra, gia đình góp sức công, mướn người xây dựng căn nhà mới đẹp đẽ tiện nghi; chúng ta có một sự thay đổi rất vui vẻ sau khi hoàn tất ngôi nhà.
Một đứa bé mới ngày nào còn nhỏ tí, nay đã thành người trung niên cường tráng có vợ con đầy nhà, công danh sự nghiệp thoải mái, nhà cao cửa rộng, với một sự thay đổi thăng tiến mọi mặt vui vẻ như thế.
Một người buôn bán xưa kia chỉ là người bán rong ngoài đường, nay đã trở thành đại thương gia, có nhiều cửa hàng lớn, có nhiều dịch vụ làm ăn buôn bán; một sự thay đổi tiến bộ làm cho người ấy hãnh diện vui mừng.
Một người tu hành trước kia là Sa Di, sau hơn hai chục năm bây giờ đã là Thượng Tọa, cai quản một ngôi chùa; tất cả đều là thay đổi tiến bộ, vô thường mà vui chứ không khổ, không buồn chán; vô thường này là được thêm, khá hơn, tốt đẹp hơn; tuy nhiên trong cái vui này vẫn có cái cực, cái khổ, cái buồn lẫn lộn, tại sao thế?
Vì khi trồng cây phải mất công tưới chăm sóc nên cực, sửa xe phải kiếm tiền để có tiền trả công sửa nên kém vui. Làm nhà mới thay nhà cũ phải tốn nhiều tiền, vất vả trong mấy tháng trời mới xong, nhiều khi nghĩ “thà ở nhà cũ cho rồi, ham nhà mới cực qúa chịu không nổi, đã phóng lao phải theo lao, biết làm sao được”. Đứa bé ngày nào nay thành người trung niên đầy đủ như thế, nhưng có biết đâu rằng biết bao chịu đựng gian nan khổ cực thức khuya dậy sớm học hành chăm chỉ, bon chen thi tài thi sức tranh đua mới có được ngày nay. Người buôn bán lại càng khổ cực trăm bề, cực nhọc đêm ngày, mánh mung đủ cả mới có được như ngày nay; người tu hành cũng thế, phải thức khuya dậy sớm, chịu sự chỉ giáo của các bậc huynh trưởng, thầy dậy, nhiều người không hiểu thì cảm thấy khổ.

2 - Tình trạng thay đổi xấu hơn:

Sự thay đổi xấu hơn, tồi tệ hơn, mà chúng ta gọi là tụt dốc không có phanh thắng, không có cách gì kìm giữ lại được, sư thay đổi ngoài sự kiểm soát của ta; những sự thay đổi này thường làm cho ta thất vọng, không vui; như cây đang được ăn qủa mỗi mùa biết bao nhiêu trái to lớn ngon ngọt, chỉ được một số năm Nay đã cằn cỗi không còn nhiều qủa, không còn to trái, không còn ngọt như xưa nữa, nên không còn phấn khởi, không còn ca ngợi cây ấy mà có một tí không vui.
Như cái xe mới sửa, đi không được bao lâu lại hư thứ khác không sử dụng được nữa, phải sửa nữa hoặc bằng cách mua xe mới thay thế. Do đó lòng chẳng được vui mà thấy thất vọng buồn lo; chạy đầu này đầu nọ để có tiền xây cất nhà mới, tốn của tốn công biết bao nhiêu, vừa ở được ít năm đã thấy nước sơn cũ đi, tường nứt, cánh cửa khép không được vì sức nặng của cửa làm cho trễ xuống v.v…, nên chẳng còn thấy vui với căn nhà nữa.
Đứa bé năm nào nay mới bốn năm chục đã thấy trên đầu có một vài sợi tóc bạc báo hiệu sắp sửa già; ấy thế mà còn phải làm việc cực khổ hơn nữa để lo cho gia đình, làm sao để được vững mạnh, dựng vợ gả chồng cho con cái v.v…nên rất là cực khổ từ thể xác lẫn tâm thần.
Người buôn bán đang thịnh vượng, rủi vì duyên cớ nào đó bị phá sản, gia tài tiêu tan, sự nghiệp bỗng chốc thành mây khói, thật là khổ; tất cả những sự thay đổi xấu tồi tệ hơn, đều gây cho ta cảm giác không vui không thích, buồn phiền khổ não.

3). Tại sao vô thường thì khổ?

1 - Trường hợp điển hình:

Chúng ta nêu ra một trường hợp điển hình trong muôn nghìn trường hợp điển hình đã xảy ra trong xã hội:
Có một bà cụ, gia đình bình thường vừa đủ ăn, chỉ trong vòng mười năm từ 1997 đến 2007 có bốn người con chết và một người nằm liệt giường như sau: Người con trai trưởng đột nhiên bị tai nạn thảm khốc chết để lại một con trai bốn tuổi với người con dâu. Một năm sau người con gái lớn của bà cụ có chồng chết không con, về ở với bà cụ. Rồi người con dâu bị bệnh nan y, chạy thầy chạy thuốc, bệnh viện nhà thương đủ cả, nhưng rút cục hơn một năm đau ốm thì qua đời khi đứa cháu nội mới bảy tuổi côi cút không cha không mẹ. Sau lại có người con trai thứ mắc bệnh nan y trong ba năm thuốc thang thì chết để lại một đứa cháu nội bốn tuổi với người con dâu của người con thứ. Năm 2007, người con gái lớn nằm biệt giường phải đi lọc thận mỗi tuần ba lần! Làm sao có tiền trả nhà thương bác sĩ? Chỉ còn cách bán bớt tài sản chứ không còn cách nào khác, thật là một cảnh khổ trần gian, bà cụ nay đã gần 90 tuổi rồi, nếu không nghĩ đến vô thường và nhận chân cuộc đời, làm sao sống nổi?!

2 - Đức Phật nói về vô thường:

(Còn tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Sep 17 2014, 11:34 AM
Gửi vào: #155


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



ĐỜI LÀ VÔ THƯỜNG

(Tiếp theo)

Toàn Không


2 - Đức Phật nói về vô thường:

Trong Tạp A Hàm, quyển 3 Kinh số 953, 955, 956 từ trang 387 đến 392 ghi: Một thời Phật ngự tại tinh xá Kỳ Hoàn vườn Cấp Cô Độc thuộc nước Xá Vệ, bấy giờ đức Phật bảo các Tỳ kheo:
Chúng sinh từ vô thủy xoay vần, không biết cội gốc của khổ, ví như trời mưa to, bong bóng vừa sinh liền diệt, như có người xoay bánh xe luân chuyển sáu đường, thường xoay chuyển không ngừng. Chúng sinh xoay vần trong sáu cõi cũng thế, hoặc Địa ngục, Ngạ qủy, Súc sinh, Thần, Trời, Người, luôn luôn chuyển đổi không ngừng; chúng sinh bị vô minh che lấp, bị ái dục buộc cổ từ vô thủy sinh tử tử sinh, sự sống, cái chết cứ thế xoay vần, chẳng biết cội gốc của khổ.
Tất cả “hành” (lời nói, ý nghĩ, việc làm) là vô thường, chẳng thường hằng, chẳng an định, là “pháp” (bản tính) biến đổi; vậy nên chán lià hành, ly hành, cầu giải thoát.
Thời xa xưa, núi Tỳ Phú La thuộc nước Xá Vệ này gọi là núi Trường Trúc, có dân cư ngụ dưới chân núi gọi là xóm Đề Di La, lúc ấy con người sống trung bình bốn vạn tuổi (cách nay khoảng bốn triệu năm); thời ấy có đức Phật hiệu Câu Lưu Tôn xuất hiện ở thế gian, thuyết pháp, giáo hóa v.v… Nhưng sau tên gọi núi Trường Trúc đã biến mất, người dân, tên xóm Đề Di La cũng không còn, Phật Câu Lưu Tôn đã nhập Niết Bàn từ thuở ấy.
Thời sau đó, núi Tỳ Phú La này gọi là núi Bằng Ca, khi ấy nhân dân sống dưới chân núi gọi là ấp A Tỳ Ca, lúc ấy tuổi thọ con người trung bình ba vạn tuổi (cách nay khoảng ba triệu năm); thời ấy có đức Phật Câu Na Hàm xuất hiện ở thế gian, diễn nói kinh pháp, chỉ bày rõ ràng v.v…Nhưng tên núi Bằng Ca đã biến mất, tên ấp A Tỳ Ca không còn, và nhân dân thuở ấy cũng đã chết từ lâu, đức Phật Câu Na Hàm cũng đã nhập Niết Bàn.
Sau nữa, cũng thời qúa khứ xa, núi Tỳ Phú La này gọi là núi Túc Ba La Thủ, dân cư ngụ dưới chân núi gọi là thôn Xích Mã, lúc ấy con người sống trung bình hai vạn tuổi (cách nay khoảng hai triệu năm). Thời ấy có đức Phật hiệu Ca Diếp xuất hiện ở thế gian diễn thuyết giáo lý ban đầu, chặng giữa, sau cùng đều vi diệu thanh tịnh. Nhưng tên núi Túc Ma La Thủ đã không còn, người thôn Xích Mã đã biến mất từ lâu, đức Phật Ca Diếp cũng đã nhập Niết Bàn.
Ngày nay, núi này tên Tỳ Phú La đã đổi tên nhiều lần trải dài theo thời gian như thế, nhân dân quanh núi sinh sống được gọi là thành Vương Xá thuộc nước Ma Kiệt Đà. Tuổi thọ con người trung bình còn có một trăm tuổi (thời này có người sống tới 120. 130, 140). Người dân rồi cũng chết đi, Như Lai chẳng bao lâu cũng sẽ nhập Niết Bàn, mọi thứ đều biến đổi, vô thường cả; chẳng thường hằng, chẳng bình an, vì thế nên tu chán lià, ly dục, giải thoát là cứu cánh chân thật; hãy suy nghĩ về vô thường, đem hết tâm nghĩ vô thường liền được đoạn tận ái dục, đoạn tận vô minh, kiêu mạn sẽ được dẹp hết, được giải thoát khỏi khổ.

3 - Khổ từ đâu phát sinh?

Tất cả con người mắc phải bệnh chấp, muốn cái gì mình ưa mình thích còn mãi mãi. Cái gì đẹp, cái gì hay, cái gì đem lại quyền lợi, hạnh phúc, lâu bền, cái gì có liên quan liên hệ tới ta, khi không còn nữa, mất đi, ta cảm thấy buồn khổ. Đây là lòng tham cái sở hữu của mình, nếu những sự mất mát như thế của người khác, ta có đau buồn không; cái xe của người khác hư, ta có buồn không, thân nhân của người khác chết, ta có buồn không? Chỉ những gì liên quan tới mình khi mất mới buồn, đó là do chấp ngã, chấp ta, chấp cái của ta, nên khi vô thường đến ta bị kéo lôi theo rồi đâm ra buồn khổ.
Đối với cơ thể con người cũng vậy, luôn luôn có sự thay đổi từ thân xác đến tâm thần. Mỗi phút mỗi giây các tế bào trong cơ thể tăng trưởng và chết đi không ngừng; khi lớn tuổi tế bào tăng trưởng ít đi, trong khi tế bào chết gia tăng, đó là vào thời kỳ suy tàn; khi ta nghe ai nói già liền phản đối không chịu, la mắng người nói là mình già, nhưng sự thực nó hiển hiện trên khuôn mặt dáng người, làm sao có thể chối cãi được với vô thường thay đổi; khi còn trẻ làm đủ thứ việc không thấy mệt, khi lớn tuổi, làm việc chút ít đã thở mệt, rồi tự trách sao yếu qúa như thế? Đâu biết mỗi ngày ta xích dần lại chỗ chết một tí, thế mà nghe nói đến chữ “chết” thì hoảng sợ, vì không hiểu thể xác luôn luôn biến đổi.
Ngay cả: tâm niệm, nhớ nghĩ cũng biến đổi sinh diệt liên tục không dừng trong mỗi giây phút; ý nghĩ này sinh ra rồi mất đi, tưởng nhớ khác hiện lên tiếp nối, sinh ra, mất đi như dòng nước chảy không cùng tận.
Mọi người cứ tưởng tâm niệm trước sau như một, nên thấy ai thay lòng đổi dạ, họ oán trách, giận hờn, phản kháng đủ điều; có biết đâu rằng hoàn cảnh, điều kiện thay đổi, nên tâm tính người chuyển đổi theo; không nên tin tưởng rằng dù ở hoàn cảnh nào, tâm tính người vẫn như xưa, đó là tin tưởng sai lầm, nên mới có khổ.

4 - Làm sao vô thường đến ít khổ?

Nếu sáng suốt nhận định thân là thay đổi, vô thường, tâm tính là chuyển biến không ngừng, có mất mát, bệnh hoạn, già chết, cũng không có gì phải sợ phải buồn; lòng người có thay đổi, ta cũng không thấy có gì là lạ cả, như thế sẽ sống yên ổn.
Những ai đã từng xa lâu năm nơi chôn nhau cắt rốn, khi trở lại thăm quê cũ người xưa, đều sẽ thấy sự thay đổi không còn nhận ra đâu vào đâu cả; nếu không có người dẫn đường chỉ lối, chắc chắn là đi lạc không nhiều thì ít. Vì tất cả đều thay đổi với thời gian, nhà cũ biến mất hoặc siêu vẹo điêu tàn, nhà mới cất lên, đường sá khác hẳn; người xưa đâu mất, người nay mới lớn lên, chẳng nhận ra ai, đó là sự biến đổi, vô thường vật chất.
Nếu cố bám víu vào những hình ảnh xưa kia, chúng ta sẽ buồn, nên hiểu rằng vạn vật đều đổi thay, chúng ta không còn cảm thấy lạc lõng và không còn buồn nữa.
Bản thân muôn vật: đều biến chuyển đổi mới, thấy rõ như vậy là thấy sự thật; nghĩ rằng mọi vật là nguyên vẹn không thay đổi là không đúng, là cố chấp; bởi vậy phải học hỏi, quán sát để thấy các sự vật đúng như thật của nó.
Mọi vật từ người vật đến cỏ cây đều có tăng trưởng, tốt đẹp rồi cằn cỗi. Mọi vật đều thay đổi, không có cái gì cố định bền vững mãi mãi, vì bản chất nó là vô thường, không có chủ thể của nó, tức là vô ngã, như thân người do lục đại là đất, nước, gió, lửa, không, thức hợp lại mà thành. Một trong những thứ đó biến hoại là thân ta biến hoại theo, không thể giữ lại được.
Thân ta mũi thở tim bóp, máu lưu thông, các tế bào, các bộ phận đều làm phận sự của nó, nếu chúng dừng lại là ta chết.
Ngay cả hệ thống mặt trời cũng đang làm nhiệm vụ của nó là quay theo giải ngân hà, các hành tinh quay quanh mặt trời, các mặt trăng quay quanh các hành tinh. Dù trái đất này vững chắc như thế, cũng không phải là nó trường tồn bất biến, tới một ngày nào đó, nó cũng phải theo luật vô thường là thành, trụ, hoại, diệt.
Nếu sáng suốt nhận định mọi sự ở đời đều là vô thường, ta sẽ ít buồn khổ.

5 - Tóm kết đời vô thường:

Do biết vạn vật vô thường, nên chúng ta chấp nhận những đổi thay của cuộc đời, như vậy là người hiểu biết sự vật một cách chân thật. Đây là người có chính kiến, thấy rõ mọi sự việc do nhân duyên sinh nên có, hết nhân hết duyên nên phải diệt, nên là không. Chẳng có cái gì có thực thể bản chất riêng biệt của nó mà tồn tại được, thấy rõ như vậy, mọi sự đổi thay, chuyển biến, ta sẵn sàng chấp nhận, và như vậy không có sự bất mãn trước sự thay đổi, không bất mãn, không bực tức thì không đau khổ.
Sở dĩ chúng ta buồn khổ là vì sợ mất cái này, sợ mất cái kia, sợ thân này ốm đau, sợ thân này già xấu, sợ chết; biết mọi vật là đổi thay vô thường rồi, có mất, có bệnh, có già, có xấu, có chết, cũng là lẽ thường ở đời, có gì mà phải sợ, phải lo, phải buồn khổ? Mọi người đều chung cùng số phận của nghiệp báo, làm lành hưởng lành, làm ác chịu qủa dữ, có phải chỉ riêng ta đâu mà buồn khổ?
Cái hơn là ta biết được sự thực ở đời là vô thường như thế, biết có nhân có qủa, ta cố gắng làm những việc phúc đức để gieo trồng qủa lành; còn người không biết thì khác, họ sợ hãi khi thấy chung quanh họ biến đổi, nhất là thân thể họ biến đổi lại càng lo sợ bấn loạn tâm thần, nên càng sầu não buồn khổ hơn

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Sep 18 2014, 01:20 AM
Gửi vào: #156


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



GIÚP NGƯỜI
VỪA MỚI QUA ĐỜI


Toàn Không


Theo một số sách viết không chủ trương có khoảng thời gian từ khi chết đến lúc tái sinh, nghĩa là sau khi chết tái sinh liền vào một trong sáu cõi; nhưng theo Kinh sách Tây Tạng lại viết: “Sau khi chết, có trạng thái của “Thân Trung Ấm”, tức là có người sau khi chết tái sinh liền, có người tái sinh sau 1, 2, 3, 4 . . . ngày cho đến chậm nhất là 49 ngày”, như vậy có trái nhau không? Chúng ta thấy đức Phật đã đề cập nhiều đến những người có ác nghiệp nặng đọa Địa ngục nhanh như phóng thanh kiếm xuống nước, những người làm thiện, có tu sinh lên Trời nhanh như tên bắn, đúng là liền sau khi lâm chung tái sinh ngay. Nhưng chúng ta không thấy đức Phật đề cập đến trường hợp của người bình thường, vì vấn đề này vô ích, mất thời giờ nên đã không được đức Phật đề cập tới, như vậy, việc này chỉ để giải thích thêm chi tiết cho việc tái sinh, không có gì gọi là trái ngược cả. Ngoài ra, tìm kiếm trong Kinh điển, chúng tôi thấy trong Tạp A Hàm, quyển 2, Kinh số 640, trang 606 dòng thứ 15, trang 607 dòng thứ 10, đức Phật có nói tới chữ “Thân Trung Ấm”. Do đó, chúng tôi đưa bài “Giúp người vừa mới qua đời” vào sách này để người đọc thêm lợi lạc.

Theo quyển “Vấn Đề Sinh Tử”, dịch từ cuốn “Thân Trung Ấm” (Bardo Thodol) do Tổ Liên-Hoa Tây-Tạng (Padma Sambhava) dùng Thần thông nhìn nhiều người từ lúc vừa mới chết tới hết 49 ngày mà viết ra vào thế kỷ thứ 8 Dương lịch; sau được Ngài Lạt-Ma Rigzin Karma Lingpa tìm thấy và truyền tới ngày nay. Sau đây là những điểm căn bản cần thiết để giúp cho người quá cố.
Người chết trải qua 3 giai đoạn: lúc lâm chung, lúc tiếp dẫn, và lúc tái sinh.

I). Giai đoạn 1: Lâm chung. Ba ngày đầu

1). Đối với những người đặc biệt.
Đối với những người đã tạo nghiệp đặc biệt, đều chuyển ngay sau khi qua đời, có 2 loại người:
1- Người Tu hành: Trường hợp các vị Thiền-Sư đạt đạo, các vị tu Tịnh Độ, v.v…biết trước ngày giờ lâm chung. Các vị này nhập vào đại định hòa hợp cùng Pháp thân Phật thoát khỏi vòng sinh tử, hoặc được Phật A Di Đà đến tiếp dẫn.
2- Người phạm tội Ngũ nghịch, đại ác: Những người này đọa sinh ngay tức khắc xuống Địa-ngục sau khi chết.

2). Đối với những người bình thường.
Giai đoạn lâm chung kéo dài từ lúc tim ngừng đập cho đến hết 3 ngày. Sau khi chết, thần thức thấy:
1- Thấy thân thể nặng nề, lạnh lẽo: Vì do đất, nước, gió, lửa bắt đầu tan rã (Thân thể phân hóa).
2- Thấy ánh sáng chói lòa.
Ánh sáng này là Pháp Thân Phật, hiện ra trong chớp mắt hoặc lâu tới một giờ tùy theo phúc duyên của người chết. Nếu Thần thức tỉnh táo nhận ra Pháp Thân Phật, Thần thức sẽ nhập ánh sáng chói lòa và thoát vòng sinh tử. Nhưng đối với người không tu, không dễ nhìn ra Pháp Thân Phật, hoặc có thấy được cũng vì vô minh mà sinh tâm sợ hãi, né tránh. Nếu cơ hội qua mất, tiếp theo là:
3- Thấy tối tăm.
Khi ánh sáng chói lòa biến mất, thì mù mịt tối đen, Thần thức (hay Hương linh) của người chết lúc này như trong đêm tối u mê; sau đó Thần thức tỉnh lại, thấy thân nhân tụ tập nói chuyện, buồn rầu, khóc than v.v..., lúc này Thần thức chưa biết là đã chết. Thần thức liền nói chuyện hỏi han, nhưng như chẳng ai để ý và nói chuyện cùng Thần thức, có khi Thần thức cảm thấy bực bội vì sự việc như thế; trải qua thời gian khá lâu như thế, Thần thức mới hiểu ra là đã chết rồi.

3). Các điều cần để ý làm:
1- Ngay từ khi vừa tắt thở, tim ngừng đập, nên có người nhắc nhở Thần thức (Nếu có Tăng, Ni hoặc thân nhân hiểu đạo mà người chết tin cẩn trước kia thì càng tốt), nói với người chết rằng:
- Cụ ... (tên người chết) nay đã chết rồi, Cụ ... hãy bình tĩnh, mạnh dạn ra đi; Cụ ... đừng luyến tiếc những gì đã qua, Cụ ... nhớ rằng có sinh thì có chết là lẽ đương nhiên. Khi có nhân duyên thì hội tụ, khi hết nhân duyên thì tan rã; không có gì phải sợ hãi khi thân không còn nữa và tan hoại, Cụ ... hãy bình tĩnh chấp nhận ra đi, Cụ... hãy nhớ niệm Phật A-Di-Đà để xin Phật đến tiếp dẫn. Sau đó chúng ta niệm Phật để Thần thức niệm theo; “Nam mô tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, Nam Mô . . .”.
2- Thỉnh mời Chư Tăng Ni trong việc hành lễ. Chúng ta nên dùng tư tưởng trong sạch, an tĩnh, lòng từ bi dẫn dắt Thần thức đến cõi an vui, đó là những giọt nước trong mát khiến Thần thức cảm thấy dễ chịu.
3- Thân nhân người chết nên quy y Tam Bảo, ăn chay, đọc Kinh, cúng dàng, bố thí, phóng sinh, ấn tống Kinh sách Phật, v. v.... các việc làm này nên kéo dài trong suốt 49 ngày, nhất là niệm Phật, tụng Kinh; sau đó hồi hướng phúc đức này cho người chết. Nói: “Tôi nguyện (làm việc gì?) và xin hồi hướng công đức cho Thần thức (tên người chết) được về nơi an lành”, phúc đức này tạo điều kiện cho Thần thức dễ siêu thoát.
4- Thân nhân không nên than khóc và kể lể chuyện luyến ái. Thần thức nghe thấy sẽ khổ sở, quyến luyến, hoang mang và không còn sáng suốt bình tâm để siêu thoát; Thần thức sẽ phải ở lâu trong Thân Trung Ấm, và phải chịu nhiều cảnh sợ hãi.
5- Không nên gây tiếng động ồn ào hoặc có mặt người không thiện cảm với người chết trước kia đến gần, sẽ làm cho hoang mang khó chịu, vì Thần thức rất nhạy cảm.
6- Tuyệt đối không giết súc vật để làm ma cho người chết, vì đây là gây nghiệp dữ, xấu cho cả người chết lẫn người sống.

II). Giai đoạn 2: Tiếp Dẫn.

A). Từ ngày thứ 4 đến hết ngày 17

Sau khi tim ngừng đập hết 3 ngày, Thần thức bắt đầu Thân Trung Ấm, nghĩa là “ấm” trước đã hết, “ấm” sau chưa sinh có thân chuyển hóa nơi khoảng giữa gọi là Thân Trung Ấm, thân này có thể kéo dài tới ngày thứ 49 sau khi chết. Giai đoạn hai ở vào thời gian tiếp dẫn của chư Phật, kéo dài 14 ngày, tùy theo phúc duyên, nghiệp cảm đã tạo ra trong suốt đời người quá cố, Thần thức có thể rời Thân Trung ấm.

1). Các việc cần làm.

1- Niệm Phật: Hộ niệm cho Thần thức nương theo lời niệm Phật để khi Phật tới dễ dàng hòa nhập tiếp dẫn.
2- Tụng Kinh A-Di-Đà: Để nhắc nhở thần thức chú tâm nhận sự tiếp dẫn của Phật A-Di-Đà về cõi An Lạc.
3- Tụng Kinh Cầu Siêu: Trợ duyên cho Thần thức, lời Kinh nhắc nhở về vô thường, để Thần thức dễ siêu thoát.
4- Nhắc nhở Thần thức: Những lúc không niệm Phật tụng Kinh, chúng ta thường xuyên nên nhắc nhở Thần thức về các hiện tượng xảy ra trong giai đoạn 14 ngày này để cho Thần thức biết, hiểu và hành động theo lời chúng ta nhắc nhở là:
- Thần thức không nên thích ánh sáng mờ nhạt, vì đó là các cảnh xấu, nơi không tốt.
- Thần thức không nên sợ hãi ánh sáng chói lòa, vì đó là hào quang Phật, nên hòa nhập.
Tùy theo đức Phật nào xuất hiện mà khuyên bảo Thần thức theo lịch trình dưới đây.

2)- Lịch trình 14 ngày tiếp dẫn. Có các đức Phật:

01- Ngày thứ tư (Sau 3 ngày tức sau 72 giờ tính từ lúc tim ngừng đập):
Đại Nhật Quang Như-Lai ( Phật Vairocana) hiện ra ngồi trên Sư-tử với thân sắc sáng trắng rực rỡ chói lòa. Đồng thời cũng có ánh sáng trắng êm dịu của cõi Trời tươi đẹp với thành quách, cung điện . . . . Nếu Thần thức biết nương vào hào quang rực rỡ sẽ thoát khỏi luân hồi về nơi cực lạc; ngược lại nếu nương theo ánh sáng trắng êm dịu, sẽ sinh cõi Trời. Vì thiếu phúc, vì ít làm lành lánh ác, không chịu tu lúc còn sống, nên hầu hết sợ ánh sáng trắng, đó là chưa nói đến ánh sáng trắng chói lòa, Thần thức sợ hãi quay mặt đi chỗ khác, hoặc không dám nhìn, nên qua ngày kế tiếp.
02- Ngày thứ năm: Bất Động Như-Lai ( Phật Akshobhya) hiện ra ngồi trên lưng Voi với toàn thân sắc lam sáng chói, đồng thời Thần thức cũng thấy màu khói đen tối của Địa ngục. Khuyên Thần thức niệm “Nam mô Phật” và đến nương vào hào quang chói sáng màu lam sẽ được giải thoát khỏi sinh tử được về cõi vĩnh hằng. Khuyên Thần thức đừng đến gần màu đen tối sẽ vào Địa-ngục khổ sở, nếu ngần ngại, Thần thức bước sang ngày sau.
03- Ngày thứ sáu: Bảo Sinh Như-Lai (Phật Ratnasambhava) hiện ra ngồi trên mình Ngựa, với toàn thân sắc vàng chói lòa. Đồng thời thần thức cũng thấy ánh sáng màu lam nhạt của cõi Người. Khuyên Thần thức niệm “Nam mô Phật” và đến nương hào quang vàng rực rỡ được giải thoát khỏi luân hồi về nơi cực lạc; ngược lại, Thần thức chọn cảnh màu lam tái sinh lại cõi Người; nếu vẫn chưa đi, bước sang ngày tiếp.
04- Ngày thứ bảy: Vô Lượng Quang Như-Lai (Phật Amitabha) hay Phật A-Di-Đà hiện ngồi trên mình Công, tỏa ánh sáng màu đỏ chói, có Bồ-Tát Quán Thế-Âm và Đại Thế-Chí hai bên; đồng thời Thần thức cũng thấy màu vàng nhạt của cõi Ngạ Qủy. Khuyên Thần thức niệm “Nam mô A Di Đà Phật” và tiến đến nương hào quang đỏ chói thì siêu thoát khỏi sáu cõi được về nơi Tịnh Độ An Lạc. Khuyên Thần thức đừng đến gần màu vàng nhạt sẽ bị đọa làm Ngạ-Qủy (Ma Qủy); nếu chưa chịu đi, Thần thức bước qua ngày kế.
05- Ngày thứ tám: Bất Không Thành Tựu Như-Lai (Phật Amoghasiđhi)

(Còn tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Oct 1 2014, 09:31 PM
Gửi vào: #157


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



GIÚP NGƯỜI
VỪA MỚI QUA ĐỜI


(Tiếp theo)
Toàn Không


05- Ngày thứ tám: Bất Không Thành Tựu Như-Lai (Phật Amoghasiđhi) hiện ra ngồi trên thần Điểu, với toàn thân sắc màu lục sáng chói. Đồng thời Thần thức cũng thấy màu đỏ nhạt của cảnh giới Thần. Khuyên Thần thức niệm “Nam mô Phật” và đến nương hào quang màu lục sáng chói sẽ giải thoát khỏi sinh tử, được đến cõi Phật vĩnh cửu. Nếu Thần thức đến gần màu đỏ nhạt vào cõi Thần. Nếu vẫn chưa quyết đi, Thần thức bước sang ngày sau.

06- Ngày thứ chín: Tất cả 5 vị Phật kể trên cùng hiện ra với hào quang 5 màu rực rỡ nêu trên. Đồng thời, Thần thức cũng lại thấy 6 cảnh giới khác nhau với màu nhạt dễ chịu là: sắc trắng cõi Trời, sắc đỏ cõi Thần, sắc lam cõi Người, sắc vàng cõi Ngạ Qủy, sắc lục cõi Súc Sinh, sắc xám đen cõi Địa Ngục. Khuyên Thần thức niệm “Nam mô Phật” và đến hòa nhập vào các hào quang sáng chói của Phật sẽ thoát khỏi trầm luân được về cõi Phật đời đời an lạc. Khuyên Thần thức đừng đến gần các màu mờ nhạt đen tối sẽ bị đọa vào nơi xấu; nếu chưa đi, bước qua ngày tiếp.

07- Ngày thứ mười: Chư vị Bồ-Tát hiện ra trong ánh sáng chói lòa để tiếp dẫn, đồng thời thần thức cũng thấy màu lục u tối của cõi Súc Sinh. Khuyên Thần thức niệm “Nam Mô Phật” và đến gần ánh sáng chói lòa sẽ được Bồ Tát tiếp đón về cõi Phật thoát khỏi luân hồi. Khuyên Thần thức đừng đến gần màu lục nhạt sẽ bị vào cõi xấu Súc Sinh; nếu chưa đi, bước sang ngày kế.

Từ đây: bắt đầu những cảnh dữ tợn làm cho Thần thức sợ hãi.

08- Ngày thứ mười một: Phật Heruka hiện ra thân sắc sáng trắng, có 3 đầu, 6 tay, 4 chân; mặt giữa màu nâu, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Khuyên Thần thức đừng sợ hãi Phật 3 đầu 6 tay 4 chân, đây là nghiệp quả sinh ra, hãy quy y Phật và niệm “Nam mô Phật” để được Phật tiếp dẫn sẽ thoát khỏi sinh tử; nếu không chịu làm, bước qua ngày sau.

09- Ngày thứ mười hai: Phật Vajra-Heruka hiện ra thân sắc xanh dương sáng (nước biển), cũng 3 đầu, 6 tay, 4 chân; mặt giữa màu xanh đậm, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Khuyên Thần thức không nên sợ hãi Phật 3 đầu 6 tay 4 chân, đây là nghiệp qủa sinh ra, hãy quy y Phật và niệm “Nam mô Phật” để được tiếp dẫn về cõi Phật sẽ thoát khỏi trầm luân; nếu không, thần thức bước qua ngày tiếp.

10- Ngày thứ mười ba: Phật Ratna-Heruka hiện ra toàn thân màu vàng, cũng 3 đầu, 6 tay, 4 chân; mặt giữa màu đỏ, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu lam. Khuyên Thần thức đừng sợ hãi Phật 3 đầu 6 tay 4 chân, đây là nghiệp quả sinh ra, hãy quy y Phật và niệm “Nam mô Phật” để được tiếp dẫn về cõi Phật thoát khỏi sáu cõi, nếu không, bước qua ngày kế.

11- Ngày thứ mười bốn: Phật Padma-Heruka hiện toàn thân sắc đỏ sáng, có 3 đầu, 6 tay, 4 chân; mặt giữa màu đỏ, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu lam. Khuyên Thần thức đừng sợ hãi Phật 3 đầu 6 tay 4 chân, đây là nghiệp quả sinh ra, hãy niệm “Nam mô Phật” để được tiếp dẫn về cõi Phật thoát khỏi luân hồi; nếu không bước qua ngày sau.

12- Ngày thứ mười lăm: Phật Karma-Heruka hiện toàn thân màu xanh lục sáng có 3 đầu, 6 tay, 4 chân; mặt giữa xanh lá cây, mặt bên phải màu trắng, mặt bên trái màu đỏ. Khuyên Thần thức đừng sợ hãi Phật 3 đầu 6 tay 4 chân, đây là nghiệp quả sinh ra, hãy quy y Phật và niệm “Nam mô Phật” để được tiếp dẫn về cõi Phật thoát khỏi sinh tử; nếu không, bước qua ngày tiếp.

13- Ngày thứ mười sáu: Tám vị Trời trấn giữ 8 hướng xung quanh để tiếp dẫn:
-Trời Kerima: sắc trắng trấn giữ hướng Đông.
-Trời Pramoha: sắc đỏ trần giữ hướng Tây.
-Trời Tseurima: sắc vàng trấn giữ hướng Nam.
-Trời Petali: sắc đen trấn giữ hướng Bắc.
-Trời Pukkase: sắc đỏ trấn giữ hướng Đông Nam.
-Trời Ghamari: sắc xanh đậm trấn giữ hướng Tây Nam.
-Trời Tsandhali: sắc vàng nhạt trấn giữ hướng Tây Bắc.
-Trời Smasha: sắc xanh dương trấn giữ hướng Đông Bắc.
Khuyên Thần thức đừng sợ, hãy niệm “Nam mô Phật” để được tiếp dẫn về nơi an lành, nếu không sẽ bước qua ngày kế.

14- Ngày thứ mười bảy: Tất cả chư Phật, chư Bồ-Tát, chư Thiên (nêu trên) đồng xuất hiện để tiếp dẫn Thần thức về các cõi Phật. Khuyên Thần thức niệm “Nam mô Phật” và đến nương ánh sáng của Phật, sẽ được tiếp dẫn về cõi Phật vĩnh hằng. Nếu lúc còn sống, người không hiểu, không tin Phật pháp hoàn toàn, đến khi chết đi, Thần thức thấy cảnh này sẽ bối rối, nghi ngại, sợ hãi, không dám nhìn, huống là nương theo ư? Bỏ qua cơ hội về cõi vĩnh hằng, tiếc thay; do đó Thần thức bước qua giai đoạn thọ sinh.
Chúng ta không biết Thần thức của người chết đã siêu thoát hoặc tái sinh hay chưa, nên chúng ta tiếp tục nhắc nhở Thần thức giai đoạn thọ sinh dưới đây.

III). Giai đoạn 3: Thụ sinh (tái sinh).

Từ ngày 18 đến ngày 49 (Trong 32 ngày).
Thời gian thọ sinh vào 6 cõi (Trời, Thần, Người, Ngạ-Qủy, Súc-sinh, và Địa-ngục) lâu mau tùy theo nghiệp của mỗi người đã tạo trong khi còn sống. Thần thức không biết là mình đang tiến gần đến chỗ phải thọ sinh, giai đoạn này rất rùng rợn, Thần thức sẽ thấy:

1). Thần thức gặp Diêm-Vương.

Diêm vương có mặt dữ dằn (tợn), Thần thức thấy Diêm Vương sinh ra khiếp sợ hãi hung, Diêm Vương tra hỏi các việc làm ác của người chết. Rồi bị qủy tốt tra tấn hành hạ, làm cho Thần thức đau đớn, khổ sở, chết đi sống lại v.v... (Thần thức: bị tra tấn đau đớn, khiếp sợ cũng như trong ác mộng).
Đến đây, ngoài việc niệm Phật, tụng Kinh, nhắc nhở Thần thức bình tĩnh, không sợ hãi, nhất tâm (một lòng) niệm Phật. Chúng ta còn cần trợ lực cho người chết bằng cách cho Thần thức biết là hiện tại Thần thức đang bước vào giai đoạn bắt buộc phải thọ sinh. Những cảnh của Thân Trung Ấm chỉ là chiêm bao, Diêm-Vương ngục tốt chính là do nghiệp duyên biến hiện ra. Bây giờ Thần thức không còn xác thân hữu hình nữa, Thần thức không nên sợ hãi trước cảnh tra tấn; Thần thức phải luôn luôn niệm “Nam mô Phật”, thì ác mộng sẽ tan biến.
Rồi Thần thức thấy nhiều cảnh khủng khiếp như:
- Gặp lửa cháy dữ dội.
- Gặp cuồng phong bão lụt khủng khiếp.
- Gặp các loại ác thú đuổi bắt v.v...

2). Thần thức thọ sinh:

Tùy theo nghiệp duyên của mỗi người, Thần thức sẽ thấy một trong những cảnh tướng khác nhau sau đây mà phải thọ sinh chậm nhất là ngày thứ 49:
1- Có Thần thức thấy VƯỜN CÂY ĐẸP ĐẼ liền sinh vào cõi Thần.
2- Có Thần thức thấy: CẢNH SÚC VẬT, RỪNG RÚ rồi thọ sinh vào Súc sinh.
3- Có Thần thức thấy: ĐI TRONG HOANG ĐỊA U MINH, liền sinh vào loài Ma-qủy.
4- Có Thần thức thấy: LỬA CHÁY NGÚT TRỜI, liền sinh vào Địa-ngục.
5- Có Thần thức thấy: hai NAM NỮ ĐANG VUI ĐÙA, rồi thọ sinh vào cõi Người.
6- Có Thần thức thấy: THÀNH QUÁCH CUNG ĐIỆN ĐẸP ĐẼ, liền sinh cõi Trời.

3)- Điều cần biết:.

1- Cõi Trời: cảnh đẹp có nhiều hồ, nhiều cây cối, nơi đó là cảnh Trời không có Phật pháp.
2- Cõi Trời: cảnh đẹp có thành quách, nhiều cung điện lộng lẫy, nơi đây có Phật pháp đang lưu hành như cõi Đạo Lợi, Đâu Suất thuộc Dục giới, cõi Phạm Thiên thuộc Sơ thiền Sắc giới.

Lời bàn:

Chúng ta không có Thần Thông, do đó không biết rõ ràng từng ngày mà Thần thức đang trải qua, và cũng không biết lúc nào Thần thức đi khỏi, nên chúng ta phải theo dõi chương trình 49 ngày cho Thần thức. Nhưng giai đoạn thứ hai, tiếp dẫn, từ ngày thứ tư đến hết ngày thứ 17, chúng ta có thể căn cứ vào lịch trình các đức Phật xuất hiện để nhắc nhở, hướng dẫn người chết.
Từ lâu, các Chùa thường làm lễ cầu siêu mỗi tuần một lần trong 7 tuần cho người qúa cố, sự việc này rất tốt, nhưng còn thiếu sự hướng dẫn Thần thức. Thiết tưởng, thân nhân của người qúa cố nên biết mà trám vào bằng niệm Phật, hướng dẫn nhắc nhở thần thức các ngày không có niệm Phật, tụng Kinh cầu siêu tại Chùa, như vậy người qúa cố sẽ hưởng được nhiều lợi lạc.
Mong rằng, những ai lưu luyến thương xót người thân, và muốn cho người ra đi có được kiếp sau ở nơi tốt đẹp. Những ai mong cho người thân thương ra đi sẽ không phải đầy ải vào cõi khổ sở Địa-ngục, Ngạ-qủy, Súc-sinh; thì đây là cẩm nang tóm gọn, theo đó chúng ta có thể giúp người ra đi một cách thiết thực. Một điểm nữa là chính người Phật-tử chúng ta, mỗi người cũng nên biết cẩm nang này và ghi nhớ cho chính bản thân mình sau này vậy.

Toàn Không
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Oct 2 2014, 10:16 AM
Gửi vào: #158


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



Nghiệp báo nhân quả

Toàn Không


I).Nghiệp báo nhân quả là gì?

Nghiệp chữ Phạn là Kamma, nghiã là hành động từ ý nghĩ, lời nói đến việc làm, tất cả đều sinh bởi ý muốn, có tác ý; do đó nghiệp là tư tưởng, lời nói, việc làm có tác ý, nếu không có ý muốn sẽ không có nghiệp.
Báo là trả lại, kết quả, như trả ân, báo phục: Ân trả ơn, oán báo thù.
Nhân là hột giống, mất đi tái lại, theo cũ lập lại.
Quả là hậu quả của ý nghĩ, lời nói, hành động. Nghiệp ví như cái nhân cái hột, qủa ví như mầm, cây, lá, hoa, trái; tất cả những hành động từ thân, khẩu, ý đều tạo nghiệp; tuy nhiên, những hành động không thiện không ác không tạo nghiệp, và những hành động không tác ý, không có ý muốn cũng không tạo nghiệp.
Nghiệp báo nhân quả thuộc về tâm thức, nó vô hình không thấy được, nhưng nó điều khiển cả vật chất lẫn tinh thần; nghiệp quả trong phạm vi vật chất như giàu nghèo, thọ yểu v.v…; trong phạm vi tinh thần như vui sướng, buồn khổ, v.v...
Một nghiệp tốt mang lại kết quả tốt, có thể ở kiếp hiện tại hay ở kiếp tương lai, cũng vậy, một nghiệp xấu mang lại kết quả xấu, ở ngay kiếp này hay ở kiếp mai sau; muốn thoát khỏi luân hồi, phải thoát khỏi nghiệp báo nhân quả, muốn thoát khỏi nghiệp quả, phải từ bỏ nghiệp xấu. Muốn từ bỏ nghiệp xấu phải trừ hết ái dục, ái dục là vi tế ngủ ngầm của tham sân si, tức là sạch hết “Vô minh”, sạch hết vô minh tức được giải thoát.
Có người chủ trương quá mức rằng dù có ý muốn hay không, dù có tác ý hay không, khi đã gây tội, đều có tội ngang nhau không hơn không kém; lập luận này đưa đến sự phi lý. Họ đưa ra quan điểm lý luận rằng như khi một người vô tình chạm tay vào lửa và một người cố ý cho tay vào lửa đều bị cháy bỏng như nhau. Lập luận này không đúng, nếu một bào thai vô tình quay đạp trong bụng làm cho người mang thai đau đớn, cũng có tội hay sao? Một người lái xe vô tình gây tai nạn làm chết người khác, tội cũng ngang với kẻ giết người hay sao?

II). Nguồn gốc nghiệp quả

Tham sân si vi tế là ái dục ngủ ngầm khó thấy. Hết tham sân si vi tế là hết ái dục, hết ái dục là hết vô minh. Chỉ có bậc đại Bồ Tát và Chư Phật mới hết vô minh hoàn toàn, thành ra chỉ có Phật và đại Bồ Tát mới hết tạo nghiệp, ngoài ra các hàng tu hành khác đều còn tạo nghiệp vi tế, dù vị ấy cảm thấy hết tham sân si.
Mọi người phải chịu trách nhiệm về những hành động từ ý nghĩ, lời nói đến việc làm của mình, muốn sướng hay khổ hoàn toàn do mình tự tạo chứ không do một ai khác có quyền định đoạt sướng khổ cho mình; vì vậy, muốn không bị tham sân si tà kiến thúc đẩy tạo nghiệp, chúng ta phải biết làm chủ lấy mình, không để những tư tưởng ý kiến vô căn cứ lung lạc ý chí của chúng ta.
Mỗi chúng sinh đều có quyền làm chủ lấy mình, khi họ quyết định tạo nghiệp thiện hay ác, nghiệp đã tạo rồi, họ không còn quyền định đoạt số phận của mình được nữa, mà nghiệp quả sẽ định tương lai cho họ được tốt hay xấu; ngoại trừ họ tạo một nghiệp khác mạnh mẽ trái ngược lại mới có thế sửa đổi được nghiệp đã gieo ấy.
Một trong muôn nghìn nguồn gốc của tạo nghiệp là ngòi bút. Ngòi bút dạy bảo người làm điều tốt, nhưng ngòi bút cũng hướng dẫn người làm ác, cổ súy việc làm ác mà nhiều khi khó đo lường được hậu qủa của nó. Ngòi bút còn độc hơn một thanh kiếm, hại hơn một khẩu súng, kiếm và súng chỉ giết được một số người, còn bút làm hại vô số người, giết vô số người. Ngòi bút đưa đến sự bất mãn cho cả một tập thể, gây sự đấu tranh cho cả một dân tộc, hay cả một nước v.v…
Tại sao ngòi bút lại có thể che đậy được chân ngụy? Vì ngòi bút khi bị tham sân si, tình cảm quyền lợi chi phối thì trí tuệ bị che lấp; lúc đó ngòi bút sẽ là vũ khí gây tai hại cho biết bao người, ngòi bút ở đây tệ hại hơn súng đạn gươm đao rất nhiều là vậy, trường hợp này người viết sẽ lãnh trách nhiệm về nghiệp báo nhân quả của họ.
Nhiều người mặc dù là trí thức, nhưng vì không nhận kỹ sự đúng sai của thiện ác, bị quan điểm thiên lệch, bè phái cố chấp, danh vọng địa vị v.v… đã dùng ngòi bút gieo rắc sai lầm cho nhiều thế hệ; ngòi bút của những người này phát nguồn từ sự hận thù, từ ái dục, là thuốc độc ghê gớm nhất để giết chết điều thiện, đào hố sâu chia rẽ bởi kích động dục vọng của con người. Nếu họ dùng ngòi bút để kêu gọi tình thương yêu giữa người và người, giữa quốc gia và quốc gia, thì thế giới này đã không xảy ra khủng bố chiến tranh hết ở nơi này lại đến nơi kia, làm cho con người đã khổ lại càng khổ hơn. Thật đáng thương cho những người không chịu suy xét kỹ càng trước khi viết, nhưng những người tin theo, hùa theo ngòi bút của họ lại càng đáng thương hơn, vì họ đi vào con đường tối tăm mà họ không hay không biết, để rồi cùng lãnh hậu quả của nghiệp báo mai hậu.
Những người viết văn, nhà thơ, họa sĩ, người dựng kịch, phim ảnh, truyền thanh, thuyền hình, người làm chính trị v.v…có người đời sống khỏe mạnh thung dung, có người trở nên giầu có, nổi tiếng, là do bố thí bằng tài vật của họ, hoặc họ dùng phương tiện văn hóa để viết lên, diễn tả, nói lên những điều đạo đức; như những tác phẩm chuyển hóa lòng người trở thành thánh thiện đạo đức, sẽ đưa dần tác giả đến hạnh phúc. Nếu thiếu một trong hai điều trên, người cầm bút sẽ chôn vùi đời mình trong nghèo túng, bệnh tật, hoạn nạn, khổ sở; như những tác phẩm sai lạc, ích kỷ, hận thù, tà kiến v.v… Tác giả: của những loại tác phẩm này đi dần vào khổ từ tâm hồn đến thể xác; vì vậy muốn tạo được những tác phẩm lợi ích tốt đẹp, người viết, người dựng kịch, làm phim, vạch đường lối v.v… phải gột rửa, trau giồi tâm hồn mình trước khi viết, làm.
Một nghiệp báo không phải do một nhân duy nhất, mà nó sẽ theo nghiệp nào mạnh nhất để trổ quả; như chỉ sai đường cho một người và chặt chân một người, tội chặt chân nặng hơn phải chịu quả báo Địa ngục. Sau khi hết hạn Địa ngục, được sinh làm người bị tật về chân như đi cà nhắc hay bị què; còn nếu chỉ dẫn đường lối sai lầm, hoặc biết sai mà vẫn làm, hoặc giam giữ chúng sanh trong tối tăm, hoặc nói những điều tà kiến làm người khác hiểu sai, sẽ bị tật về mắt. Nếu phá cầu, phá đường, lấp lối, giam cầm người, vật, bẻ gẫy hoặc chặt chân súc vật, sẽ bị tật về chân, đi đứng khó khăn v.v…
Những người săn bắn, sập bẫy, câu cá, thường bị đọa làm con vật hoặc con cá, nếu đủ phúc không bị đọa, sẽ làm người hay bị lừa gạt; hình ảnh những con vật bị bắn, bị bẫy, bị nhử mồi là những hình ảnh mà những người ấy sẽ gặt quả tương ưng. Như bị lừa, bị vấp ngã, sa hố, bị tai nạn, bị giặc lừa vào chỗ chết v.v…

III). Phân loại nghiệp quả

1). Hình thức của nghiệp: Có hai thứ:

a)- Vật chịu nghiệp: Có hai sự thực
- Về vật chất: Sự thực vật chất như cái ghế, cái nhà, con bò, con chim, cái xe v.v… Sự thực này biểu hiện rõ ràng, tức bản chất của nó.
- Về vi thể: Sự thực không biểu hiện khó thấy, trừu tượng, như phân tích cái ghế, cái nhà, con bò, con chim, cái xe, ta chỉ thấy những nguyên tử, tế bào, và năng lực tính chất kết hợp lại mà thành những thứ ấy; sự thực không biểu hiện là sự thực cuối cùng, tức bản thể của mỗi sự vật.
Khi một sinh vật như người, con bò, con chim hiện hữu, luôn luôn biến đổi không ngừng, không thể tồn tại y hệt trong hai khoảnh khắc kế tiếp nhau, nghiã là ở khắc sau khác với khắc trước đó. Do đó không có một thực thể đơn thuần đồng nhất, không có một người cố định, mà chỉ có hành động, có tri giác, có thức, mà không có người hành động, không có người tri giác, không có người ý thức. Tác ý hay ý muốn là động cơ phát xuất hành động nghĩ nói làm, là kẻ tạo nhân, cảm giác thụ hưởng là kẻ nhận quả. Ngoài hai cái đó không có người gây nhân hay kẻ nhận quả. Cũng như một người do năm Uẩn (Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức) hợp lại, khi quả lành hay quả dữ xuất hiện, ta nói là may mắn hay xui xẻo.

cool.gif- Các loại nghiệp: Có hai loại nghiệp:
- Biệt nghiệp: Là nghiệp chỉ gây ra bởi một cá nhân, và khi nhận quả cũng chỉ một mình cá nhân ấy nhận lãnh.
- Cộng nghiệp: Nhiều người cùng nhau gây nhân cùng lúc, đến khi nhận quả mọi người cùng nhau nhận lãnh. Cộng nghiệp còn gọi là nghiệp chung, do cộng nghiệp mà những người cùng chung trong một điều kiện, một nước, một địa phương, một xóm, một tập thể, một chuyến máy bay, một chuyến xe phải chịu chung một bất hạnh, hay được một may mắn. Dĩ nhiên trong cộng nghiệp vẫn có biệt nghiệp riêng của mỗi người, như xe bị tai nạn có người chết, có người bị thương, nhưng cũng có người không hề hấn gì v.v…

2)- Hành động thiện ác gây nghiệp báo.

a)- Hành động thiện tạo quả lành: Sinh lên cõi Trời, cõi Thần hoặc cõi Người được giàu sang, địa vị quyền uy, mạnh khỏe sống lâu. Các hành động thiện như:
- Bố thí, có lòng quảng đại giúp đỡ người về mọi phương diện.
- Trì giới, tránh làm ba điều ác về Thân, bốn điều ác về miệng, và ba điều ác về ý.
- Phục vụ tôn kính người đáng được phục vụ, đáng được tôn kính.
- Vui vẻ hoan hỷ vui mừng khi thấy người khác được phúc báo tốt đẹp.
- Học hỏi các điều hay lẽ phải trong Phật pháp, tu hành và giáo hóa chúng sinh.
- Giữ gìn vẹn toàn chính kiến không để quên và không để ái dục vô minh lung lạc.
- Nhớ nghĩ đến chúng sanh và hồi hướng phúc đức cho tất cả chúng sinh.

cool.gif- Hành động ác gây nghiệp dữ:

(Còn tiếp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Oct 9 2014, 09:52 PM
Gửi vào: #159


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



Nghiệp báo nhân quả

Toàn Không


cool.gif- Hành động ác gây nghiệp dữ:
Các hành động ác như:
- Sát sinh: Giết hại tùy theo là bậc chân tu hay người thường, hoặc tùy theo sinh vật lớn hay nhỏ mà bị quả báo nặng hay nhẹ khác nhau. Sau khi chết đọa sinh vào Địa ngục, Súc sinh, hay trở lại làm người bị chết yểu, bệnh tật, hoạn nạn, chia ly, lo sợ, buồn rầu v.v…
- Trộm cướp: Lấy của không cho mà lấy từ tiền bạc, của cải, đến vật dụng v.v… tùy theo nặng nhẹ bị quả báo tương ưng, khi chết sinh vào cõi dữ. Nếu được tái sinh làm người phải làm việc khó nhọc, nghèo hèn, thất vọng, mất mát của cải, hạnh phúc gia đình bị tan vỡ, nghi kị bất hòa, cãi nhau, đánh nhau, không sao ngóc đầu lên được.
- Tà dâm: Hãm hiếp, dùng thủ đoạn lường gạt ái tình, trộm cướp hạnh phúc của người, gian dâm. Nếu được tái sinh làm người có vợ (chồng) không chung thủy, gia đình không hạnh phúc, có nhiều kẻ thù v.v…
- Nói dối, nói hai lưỡi, nói thiêu dệt, nói ác, có nói không, không nói có, lừa gạt người. Cùng một việc nói với người này thế này, nói với người kia thế khác; nói thêm bớt không đúng sự thật, nói bóng nói gió đâm thọc; chửi bới tục tằn, nguyền rủa thậm tệ. Nếu được tái sinh làm người hay bị vu oan, nói không ai tín nhiệm tin cẩn, hay bị bệnh ở miệng, miệng hôi. Thân quyến xích mích, bạn bè xa lánh, và có nhiều người chống đối. Lại phải nghe những lời tục tằn thô lỗ độc ác v.v…
- Uống rượu: Uống rượu say có thể gây cả bốn nghiệp trên, hiện đời dễ mắc bệnh, chết sớm, gia đình mất hạnh phúc đi đến nghèo, con cái yếu đuối kém thông minh, kiếp sau làm người ngu dốt, mất trí, điên dại.
- Tham lam đố kị: Tham lam đủ thứ, thèm muốn lợi danh của người khác, luôn luôn chấp lòng ganh tị với kẻ khác. Nếu sinh làm người, sẽ là người không có ảnh hưởng, nói gì, làm gì cũng không có người theo, và ái dục tăng trưởng mạnh làm cho người ấy càng đi sâu vào tội lỗi, gây thêm nghiệp ác.
- Sân hận: Thô lỗ, cục cằn, luôn giận dữ, nhăn nhó, khó chịu. Người có tính sân giận hay gây gỗ, tìm đủ cách để bắt bẻ người, gây thù kết oán; thường sau khi chết làm loài qủy dữ, nếu được tái sinh làm người có thân hình xấu xí, mặt mũi khó coi, tính nết không ai ưa, và tính sân hận càng tăng trưởng gây thêm nghiệp xấu.
- Ngu si tà kiến: Người không chịu học hỏi tìm hiểu nghiên cứu, không chịu gần người có tài có đức để học hỏi các điều phải trái lành ác; vì vậy hiểu biết sai lầm, những điều sai cho là đúng, những điều đúng cho là sai; như không tin nhân quả nghiệp báo, không tin luân hồi sinh tử. Sau khi chết đọa vào cõi dữ, nếu được làm người sẽ là người tâm thần mê mẩn, ngu ngu khờ khờ, hoặc bệnh hoạn liên miên.
- Kiêu ngạo ngã mạn: Không tôn trọng người đáng tôn kính, tự tôn tự đại, khinh người, coi trời bằng vung, coi mọi người như cỏ rác, và không biết phục thiện; khi chết đọa vào ác đạo, khi được trở lại cõi người nghèo nàn khốn khổ, bị người khinh rẻ, không dám ngẩng đầu lên.
- Keo kiết bủn xỉn: Dù giàu dù nghèo mà suốt đời keo kiết từng đồng, không cho dù với chút ít, từ phẩm vật, của cải, tiền bạc, đến lời chỉ bảo lợi ích. Người ấy: sống keo kiết ích kỷ, và không có lòng thương người nghèo nàn khốn khổ; người ấy sau khi chết sinh vào cõi dữ, tái sinh vào nhân gian làm người nghèo hèn không của cải.

3)- Kinh Nhân Qủa:

Để hiểu rõ về nhân qủa, chúng ta lược trích một đoạn Kinh đức Phật giảng dạy vua Ba Tư Nặc nước Xá Vệ như sau:
Một hôm vua Ba Tư Nặc đến viếng đức Phật tại đạo tràng Kỳ Hoàn, sau khi cúi đầu lễ dưới chân Phật, Vua ngồi vào chỗ, liền hỏi thăm sức khỏe và hỏi Phật:
- Thưa Thế Tôn, các người qúy phái (Bà la môn) sau khi chết rồi sẽ trở lại sinh vào dòng qúy phái không, và các người dòng vua chúa quyền bính (Sát lợi), dòng nông công thương (Thủ đà la), dòng tôi tớ nô lệ (Chiên đà la) cũng thế chăng?
- Đại Vương, đâu được như vậy, Đại Vương nên biết có bốn hạng người, đó là:
1- Người từ tối vào tối: Có người sinh vào nhà nghèo túng, làm các nghề hạ tiện, thân thể xấu xa, chết yểu, bị người sai làm các việc hạ tiện, đó gọi là tối. Ở trong chỗ tối, người ấy lại thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác; do nhân ác, khi chết sẽ sinh vào cõi dữ; ví như người dùng máu rửa máu, như thế là người từ tối vào tối.
2- Người từ tối vào sáng: Có người sinh vào nhà ty tiện nghèo hèn, làm nghề hạ tiện, đó gọi là tối; nhưng người ấy ở chỗ tối thân làm lành, nói lời chân thật, ý nghĩ điều tốt. Do nhân duyên lành, khi chết sinh vào chỗ tốt, lên trời hoặc vào nhà giàu sang quyền qúy. Ví như người từ ngựa bước lên voi, như người từ tối vào sáng.
3- Người từ sáng vào tối: Có người được sinh vào nhà giàu có tiền của, thân đẹp đẽ, được ăn học, có tôi tớ sai bảo, đó gọi là sáng. Ở trong chỗ sáng này, thân làm việc ác, miệng nói những lời dối trá, ý nghĩ điên đảo ác độc; do nhân duyên bất thiện, khi chết sinh vào cõi dữ địa ngục; ví như người từ nhà lầu xuống ở bờ ở bụi, như từ sáng vào tối.
4- Người từ sáng vào sáng: Có người sinh vào chỗ giàu sang, lắm tiền nhiều của, thân hình đẹp đẽ, có người sai bảo, ăn học tới nơi tới chốn, đó gọi là sáng. Ở trong chỗ sáng này lại thân làm việc thiện, nói lời ngay thẳng chính trực phải đạo, ý nghĩ cứu giúp chúng sinh. Do nhân lành, khi chết hóa sinh lên cõi trời; ví như người từ nhà lầu đến nhà lầu cao đẹp hơn, như người từ sáng vào sáng.

IV)- Báo ứng của nghiệp:

1)- Tác động của nghiệp báo.

Căn cứ trên tác động của nghiệp quả, chia ra bốn loại:
1- Nghiệp hiện hành tái tạo: Nghiệp có năng lực mạnh lúc chết, liền sau khi chết phải thụ sinh vào cõi lành hay cõi dữ tùy theo nghiệp. Thường thường, tư tưởng cuối cùng của một người ảnh hưởng bởi phẩm hạnh của người ấy trong suốt đời sống, nhưng cũng có khi hoàn cảnh ngoại lai ảnh hưởng đến người ấy lúc lâm chung, làm cho tư tưởng người ấy biến đổi. Tư tưởng cuối cùng ấy tạo điều kiện cho sự tái sinh kế tiếp, trong trường hợp này, đời sống hàng ngày không ảnh hưởng đến sự tái sinh, nhưng nó vẫn không mất, và sẽ xuất hiện vào lúc khác; những sự thay đổi này đã giải thích vì sao trong một gia đình, các người con tính nết không giống nhau.
2- Nghiệp trợ duyên: Nghiệp hiện hành tái tạo khi có nghiệp quá khứ chen vào để trợ lực hay duy trì gọi là nghiệp trợ duyên.
3- Nghiệp phản duyên: Nghiệp hiện hành tái tạo khi có nghiệp quá khứ chen vào để làm suy giảm hay cản trở, gọi là nghiệp phản duyên.
4- Nghiệp tiêu diệt: Khi nghiệp hiện hành tái tạo bị nghiệp quá khứ mạnh và ngược chiều, có thể tiêu diệt hoàn toàn nghiệp hiện hành đáng lẽ trổ quả, nên còn được gọi là nghiệp vô hiệu lực.

2)- Thời gian báo ứng:

Thời gian nhân trổ qủa có ba loại:
1- Hiện nghiệp: Nghiệp hiện tại lại chia ra hai loại:
- Quả lành trổ trong kiếp hiện tại: Có những quả lành trổ ngay trong kiếp hiện tại, ví như học sinh chăm học, đi thi đậu vậy.
- Quả dữ trổ trong kiếp hiện tại: Có những quả dữ trổ ngay trong kiếp hiện tại, ví như làm ác giết người, trộm cắp, bị bắt bỏ tù giam giữ.
2- Hậu nghiệp: Những nghiệp trổ trong các kiếp về sau. Hậu nghiệp này ai ai cũng có, và chúng ta không thể biết được nhiều nghiệp hay ít nghiệp, nghiệp nặng hay nhẹ; chỉ có Phật và các vị đắc đạo có “Sinh tử thông” mới thấy được nghiệp báo nhân quả.
3- Nghiệp vô hạn định: Quả trổ sinh bất cứ lúc nào từ hiện tại cho đến mãi về sau, ngoại trừ khi giải thoát nhập Niết Bàn mới hết.

3)- Nghiệp căn cứ trên sự báo ứng:

Căn cứ trên sự báo ứng chia ra làm bốn loại:
1- Nghiệp nặng: Nhiệp nặng dù lành hay dữ cũng phải trổ quả ngay sau khi chết đến cõi tốt hay cõi xấu. Một nghiệp nặng là hành động tạo tác nghiêm trọng, nó gây nghiệp chắc chắn trổ quả trong hiện tại hoặc kiếp kế tiếp; như người tu thiền định, tham thiền đắc quả, hoặc người phạm tội giết cha mẹ v.v…
2- Nghiệp gần: Nghiệp gần là nghiệp gần lúc lâm chung sẽ dẫn dắt đi thọ sinh nếu không có một nghiệp nặng quan trọng nào. Vì lẽ đó, thường phải nhắc nhở người sắp qua đời nhớ nghĩ các việc lành, tạo công đức lành, như bố thí, đọc kinh, trì chú, niệm Phật, tham thiền v.v…; như vậy, có khi người đáng lẽ phải tái sinh vào cõi xấu lại được sinh vào chỗ tốt; mặc dù người này được sinh vào chỗ tốt, nhưng người ấy vẫn còn nghiệp xấu chờ trổ qủa vào bất cứ lúc nào chín mùi.
3- Nghiệp thường: Nghiệp thường là những hành động hàng ngày, những thói quen suy nghĩ hàng ngày ảnh hưởng đến lúc sắp chết. Các thói quen này đã ăn sâu vào tiềm thức, thành những thói quen tự nhiên mà ta ít để ý, nhưng sự thực nó đã tiềm ẩn trong tâm thức. Khi sắp chết, nếu không có một nghiệp đặc biệt nặng nào, ta thường nhớ lại những hành vi hình ảnh quen thuộc ấy, và nó sẽ dẫn dắt ta tái sinh; như người đi săn, người đi câu, người đồ tể, v.v… nhớ tới hình ảnh săn bắn, nhử mồi, sập bẫy, giết súc vật v.v…và nó sẽ dẫn người ấy vào cõi dữ.
4- Nghiệp tích trữ: Nghiệp tích trữ gồm tất cả những nghiệp không thuộc ba loại nghiệp vừa kể, nó giống như một nhà kho chứa các tạp nghiệp đủ thứ.

4)- Nghiệp cư ngụ ở đâu?

(Còn Tiêp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
BenTreHome
post Oct 18 2014, 06:48 AM
Gửi vào: #160


Advanced Member
***

Nhóm: Tech_Member
Bài viết đã gửi: 2,106
Tham gia: 21-November 07
Thành viên thứ: 622



Nghiệp báo nhân quả

(Tiếp theo)
Toàn Không


4). Nghiệp cư ngụ ở đâu?
Nghiệp được tích chứa trong thức thứ tám là A Lại Đa Thức. Nghiệp là sự thu nhận tất cả các kinh nghiệm trải qua, là sự thu nhận những cảm giác, những thụ cảm, những hành động từ ý nghĩ, lời nói đến việc làm đều được ghi lại đầy đủ. Mặc dù vậy, nó không ở một nơi nào nhất định, nó vô hình vô tướng, nó nằm trong tâm thức luôn luôn biến đổi không ngừng như dòng nước chảy luân lưu bất tận, nó chỉ phát hiện ra khi đủ nhân đủ duyên thích ứng. Cũng ví như một trái cây xuất hiện trên cây đúng mùa, tùy chỗ mà hiện qủa, không nhất định trước ở chỗ nào cả; nghiệp có năng lực chuyển từ kiếp này qua kiếp khác, và còn mãi mãi trong nhiều kiếp nếu trổ quả chưa hết; nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc cấu tạo tâm tính, trí thông minh, thiên tài của con người.

5). Cách trả nghiệp quả:
Cách trả nghiệp báo nhân quả không nhất thiết phải là người mình hại kiếp sau người đó hại lại mình, mà có thể là một người khác hại mình; tỉ du như ông X hại ông Y, kiếp sau ông X bị ông Z hại lại giống như ông X đã hại ông Y. Cũng có thể trở thành người trong gia đình bà con như cha mẹ, con cái, vợ chồng, họ hàng, bạn bè v.v…để trả ơn báo oán.
Vì quyến luyến yêu thương hết mức trong tình chồng vợ, một người lại có nghiệp làm Súc sinh sẽ dễ dàng tái sinh làm một trong những con vật trong gia đình ấy; một người quyến luyến súc vật, mê thích súc vật đến độ không rời những con vật ấy được, lại có nghiệp vào Súc sinh, sẽ dễ dàng sinh vào loài mà người ấy đã ưa thích quyến luyến, làm bạn sống chung với chúng; nếu không có nghiệp phải vào loài Súc sinh thì không sao, đừng lo.
Nên nhớ, có sự khác biệt giữa lòng quyến luyến với lòng từ bi, lòng quyến luyến là do ái dục điều khiển, như tình yêu vợ chồng, cha mẹ, con cháu, anh em, bạn bè, bà con, nhân tình v.v…Nó sẽ không còn hay mất luôn khi có sự thay đổi. Còn lòng từ bi là do lòng mong muốn cho vui hết khổ, thương cứu chúng sinh hết khổ được vui. Nó sẽ tồn tại mãi mãi như tình thương đối với kẻ cô đơn tật nguyền nghèo khổ khốn cùng.

V). Hiện tượng cái chết.

1). Tại sao chết?
Theo thế gian chết là do bệnh già chết, bị tai nạn chết, bị giết chết, tự tử mà chết, rủi ro mà chết v.v… Nhưng theo Phật giáo chết là do:
- Nghiệp hết khi năng lực tái tạo đã cạn thì sinh hoạt của cơ thể chấm dứt.
- Hết tuổi thọ như già chết, tuổi thọ dài ngắn tùy loài.
- Nghiệp xấu như sát sinh làm cho chết yểu, bị giết hay bị tai nạn chết đột ngột. v.v…

2). Hiện tượng khi chết: Có ba hiện tượng:
1- Hấp hối: Nghiệp sắp hết, lúc đó người có ý nghĩ hoặc tốt hoặc xấu mà trong suốt đời người ấy đã hành động, đều hiện ra tất cả. Cái nghiệp nào mạnh hiện rõ ràng nhất trước mắt, nó hiện đi hiện lại rất nhiều lần; nếu không có nghiệp nặng thì nghiệp gần nhất hiện ra, nghiệp gần nhất cũng không có thì nghiệp thường làm hàng ngày, hoặc nghiệp tích trữ, nghiệp kiếp trước hiện ra. Nghiệp hiện ra đây: cả nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu trong lúc hấp hối sắp chết, nhưng đa phần đối với người không tu thường thì nghiệp tốt rất ít, phần lớn là nghiệp xấu đầy rẫy, bởi vậy cần phải tu hành là điều cần thiết nhất.

2- Hiện tượng: Hiện tượng ở đây dưới hình thức sáu trần là “sắc, thanh, hương, vi, xúc, và pháp” mà người ấy trong đời sống hàng ngày đã từng trải qua trong các hoạt động, nghề nghiệp. Như con vật bị bắn, bị bẫy, con cá bị mắc lưỡi câu đang giẫy chết; con vật bị chặt đầu, mổ bụng đối với người săn bắn, câu cá, đồ tể. Như cảnh giết chóc, lấy tiền của, dâm dục v.v…đối với người giết người, trộm cướp, tà dâm, v.v…

3- Biểu hiện cảnh giới: Lúc hấp hối, người ấy cũng thấy cảnh giới mà người ấy sắp sinh vào. Như thấy cảnh giới đẹp có cung điện nguy nga lộng lẫy cõi Trời, nét mặt tươi sáng. Thấy cảnh đẹp cõi Thần, nét mặt tươi; thấy nét mặt bình thản, trở lại cõi người; sắp vào cõi Súc sinh có nét mặt sợ hãi; sắp vào cõi Ngạ quỷ có nét mặt buồn; sắp vào cõi Địa ngục có nét mặt vừa sợ vừa buồn.
Còn có thể biết sinh về đâu nếu ta thấy điểm nóng cuối cùng của người hấp hối chết nằm tại đỉnh đầu về cõi Cực Lạc, nằm tại trán sinh cõi Trời, nằm tại ngang hai mắt sinh cõi Thần, nằm tại vùng tim ngực sinh lại cõi Người, nằm tại bụng rốn sinh vào Ngạ quỷ, nằm tại đầu gối sinh vào Súc sinh, nằm tại bàn chân sinh vào Địa ngục.
Nếu ta quan sát nét mặt người hấp hối và sờ các điểm ấm vùng nêu trên, ta có thể biết được. Nhưng điều quan trọng là hướng dẫn người hấp hối như đọc Kinh, trì Chú, niệm Phật để dẫn tư tưởng người ấy theo hướng tốt lành.
Khi ngưng thở là hết một đời, và một đời sống mới kế tiếp sẽ khởi sự bắt đầu, nên chết không phải là hết, chết không phải là tiêu diệt hoàn toàn; dù một kiếp chấm dứt, cái tiềm lực làm sống vẫn còn, nhưng không phải hoàn toàn giống với chúng sanh đã chết. tuy nhiên không phải hoàn toàn khác, vì chung một luồng nghiệp. Cũng giống như châm lửa từ một ngọn đèn sang một ngọn đèn khác, ngọn đèn sau không phải là ngọn đèn trước, nhưng không có ngọn đèn trước thì không có ngọn đèn sau vậy; người chết và người tái sinh cũng giống như vậy.

VI). Các thuyết liên quan tới cái chết.

Mỗi người khi sinh ra không giống nhau về mọi phương diện từ thể xác đến tinh thần, từ vật chất đến đạo đức, sự thăng trầm của cuộc đời lại muôn phần sai khác; nguyên nhân của sự khác biệt đó rất sâu xa khó hiểu, vượt khỏi tầm hiểu biết của người bình thường, nên họ không biết phải trả lời thế nào, không biết phải giải quyết ra sao. Nên đã có một số lý thuyết được đề ra như sau:

1). Thuyết ngẫu nhiên:
Một số người giải thích sự khác biệt giữa mọi người là do sự ngẫu nhiên may rủi. Họ cho rằng mọi người đều có sự may rủi ngẫu nhiên mà có sự khác biệt giữa người sinh vào gia đình giàu sang qúy phái hay vào gia đình nghèo nàn bần tiện, do sự ngẫu nhiên mà người này đẹp đẽ thông minh, người kia xấu xí đần độn v.v…
Nếu công nhận sự ngẫu nhiên rủi ro thì dễ dãi quá, không có một sự lý luận của bậc trí thức, vì có tính cách buông xuôi; nếu cho là ngẫu nhiên may rủi, tức không công nhận có đời sống trước, không công nhận có đời sống sau, tức không công nhận nhân quả. Đời sống chỉ bắt đầu từ lúc sinh ra và đời sống chấm dứt chẳng còn gì khi thở ra lần cuối, như vậy, những người này sẽ sống vội vã để thụ hưởng và là những kẻ giành giật làm cho xã hội mất đi sự công bằng, tạo nên khủng hoảng xã hội, và tội ác sẽ đầy rẫy khắp nơi không thể nào dập tắt được.
Hơn nữa, nếu công nhận ngẫu nhiên may rủi, không thể giải thích được về trí tuệ của những người có cùng một sở thích sống trong cùng một hoàn cảnh, mà tính khí người này lại khác với người kia, tại sao vậy? Và thuyết ngẫu nhiên may rủi không thể giải thích được trường hợp “Thần đồng” cùng trong môi trường sống của một xã hội nhưng lại xuất chúng về tài năng.

2). Thuyết khổ hạnh:
Có người chủ trương chỉ có khổ hạnh mới trừ hết tội lỗi đã gây ra, họ dùng những cách hành hạ xác thân như tự đánh đập mình, chỉ đứng một chân, phơi nắng chống tay chổng chân lên trời, nằm trên sỏi trên gai, ăn cỏ v.v… Họ cho rằng chỉ có khổ hạnh mới diệt hết được nghiệp đã gây và được giảt thoát an vui, nhưng những người này không biết nghiệp quá khứ họ đã làm gì gây tội. Họ cũng không biết cần phải tu loại khổ hạnh nào trong bao lâu để dứt khổ và được giải thoát, họ đã thực hành dựa trên sự không biết, nên chẳng biết kết quả sẽ ra sao; họ cũng không biết rằng nghiệp báo nhân quả thuộc tinh thần mà họ đầy đọa xác thân thuộc vật chất, thì làm sao gột rửa được nghiệp báo?

3). Thuyết có một Thượng Đế:

(Còn Tiêp)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

9 Pages: V « < 6 7 8 9 >
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 3rd April 2020 - 11:16 AM