IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

13 Pages: V « < 11 12 13  
Reply to this topicStart new topic
> Sưu Tầm Đó Đây (Của Hoa Hạ)
hoaha
post Jul 25 2017, 09:19 PM
Gửi vào: #241


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Triết lý củ khoai
Source: Tràm Cà Mâu Posted on: 2017-07-24

Hạnh phúc của Thằng Bờm
Năm học lớp Đệ Ngũ bậc trung học, tương đương với lớp tám bây giờ, một hôm thằng bạn nhỏ ngồi cạnh tôi thì thầm :
“Tại sao trong tiểu thuyết, mỗi khi có hai người ôm nhau, thì tác giả có đề cập đến hạnh phúc ? Hạnh phúc là cái gì mầy có biết không?”.
Tôi liền tay dong tay rụt rè hỏi giáo sư đang dạy môn nghị luận luân lý :
“Thưa thầy, hạnh phúc là cái gì?”.
Hỏi mà run lắm, vì lỡ ra hạnh phúc là chuyện bậy bạ, thì e lảnh phạt đủ .
Thầy liền ra cho cả lớp một bài luận văn, bình giải câu : “May thay, ngoài hạnh phúc ra, đời còn có cái gì khác nữa.” Thầy còn ghi chú thêm câu viết bằng nguyên văn tiếng Pháp để học trò có thể hiểu rõ hơn. Thầy giảng rằng, hạnh phúc như là cái bóng, mà mọi người trên thế gian nầy đều luôn luôn theo đuổi, cố chạy theo nhưng không bao giờ bắt gặp được cả. Bỡi vậy, cho nên may mắn quá, cuộc đời nầy còn có nhiều thứ khác nữa, để bù đắp vào cái thiếu thốn hạnh phúc, mà con người như chẵng bao giờ tìm thấy, không bao giờ nắm được.
Chúng tôi hiểu mập mờ rằng, hạnh phúc là cái gì đó xa lắm, là như thứ ảo ảnh, mà con người thế gian ai cũng mơ ước, quay quắt đi tìm, và chẵng bao giờ tìm thấy. Tôi thầm nghĩ, thầy bắt chúng tôi bình luận làm chi cái thứ không có và khó khăn , để thêm tốn giấy mực, tốn thì giờ. Thế là cả đám học trò nhi nhô đầu còn cắt tóc trọc, đau khổ nhăn nhó, nặn óc bình giải về hạnh phúc, cái thứ mà chúng mù mờ, chưa ý thức, chưa hiểu nổi vài ba phần trăm ý nghĩa. Thằng bạn ngồi sau lưng, thụi tôi hai cái đau điếng, để phạt cái tội hỏi thầy câu hỏi cắc cớ, làm cho cả lớp phải nhức đầu. Tôi biết tội, ngồi yên. Tôi cứ yên chí là hạnh phúc không có thật trên đời nầy, và không tội gì uổng công tìm kiếm. Dù sách vở, thơ văn, có nói nhiều đến hạnh phúc, tôi e rằng đó là chuyện mơ mộng ao ước hão huyền, chuyện bánh vẽ của những người chuyên làm thơ văn.
Nhưng khi lớn lên, được đọc kinh Phật, kinh Thánh, và nhiều sách triết lý Âu Á như Khổng, Lảo ,Chu… và luôn cả kinh Koran và kinh đạo Bahai nửa, thì tôi tìm cho tôi được một triết lý đơn sơ, mộc mạc, là cái món hổ lốn vắt ra từ tinh túy của các triết lý khác. Tôi tạm gọi là “Triết Lý Củ Khoai”. Vì nó đơn sơ như củ khoai, rẻ tiền , mộc mạc, và dễ tìm thấy như củ khoai trong đời nầy. Triết lý đó được đơm gọn lại trong một câu ngắn ngủi : “Nếu chỉ có một củ khoai thôi, thì hãy nướng nó cho thật thơm mà đớp”. Ý nghĩa của câu đó cũ mèm, hình như ai cũng biết, và có nhiều câu nói tương tự . Cái triết lý đơn giản nầy giúp tôi thấy được rằng, hạnh phúc là cái rất cụ thể, rất gần gủi, bất cứ ai, và bất cứ lúc nào, cũng có thể tìm dược hạnh phúc rất dễ dàng. Ai cho rằng hạnh phúc là cái xa vời, thì vì họ chưa nắm hết phần tinh túy của các triết lý khác, hoặc chưa từng nghe một phần của triết lý củ khoai. Nhiều sách vở khác cũng có nói đến, nhưng người đọc vô tình hoặc cố ý làm ngơ, hoặc biết rất rõ nhưng chẳng bao giờ thực hành.
Năm 1975 tôi mang cái “triết lý củ khoai” vào nhà tù cọng sản. (Không dùng từ này) gạt rằng, đi học tập chính trị trong vòng một tháng, cho “thông suốt đường lối của cách mạng” rồi về. Nghe dễ quá, nên bà con miền Nam mắc bẩy. Trong tù, ai cũng nôn nóng, chờ “học tập” cho xong, mà về với vợ với con, vì việc nhà còn trăm chuyện lu bu lắm, cả tháng trời ai mà lo cho. Lo nhất là hai ba tuần đã qua rồi, mà chưa thấy bài vở, chưa thấy học tập chi cả. Không lẽ khóa học phải kéo dài thêm vài tuần? Trong tù, ngoài đau khổ vì thiếu tự do, còn bị cái đói hành hạ, cái lạnh cắt da thịt từng đêm và nỗi khó nhọc hàng ngày khi làm lao động tay chân không quen mà tình trạng sức khỏe thì quá suy yếu. Còn phải đau khổ tinh thần vì làm đi làm lại bản tự khai tự thú, phải tự bịa đặt tỗi lỗi gán cho mình, để được cái gọi là “thành tâm cải tạo”. Nhưng nỗi mong chờ làm cho đám tù nhân phờ phạc mau hơn các nguyên nhân khác. Một hôm đi lao động bên ngoài vòng trại , có anh lượm được bản nháp bức thư của một lính cọng sản, trong đó viết cho cha mẹ ngoài Bắc rằng, dạo nầy con canh gác tù rất nhàn nhả, bọn chúng toàn cả cán bộ cao cấp ngụy quyền. Anh tái mặt và đem lá thư về cho vài người bạn xem, có người xem xong phát khóc vì biết mình đang ở tù chứ không phải học tập chi cả.
Phần tôi, sau một tháng chưa được về, tôi lờ mờ hiểu rằng “có cái gì không ổn đây”. Tôi chuẩn bị tinh thần để đón nhận những gì không thể tránh được. Một hôm, sau buổi cơm chiều, tôi chỉ ngọn đồi bên kia nói với người bạn tù :
“Cứ xem như đó là nơi chôn chúng ta khi tóc bạc lìa đời, và xem đây như là nơi chúng ta phải sống trọn đời còn lại. Hãy tìm và tạo những niềm vui nhỏ nhoi nhất mà chúng ta có được ở nơi nầy. Ráng tìm vui, buồn bả cũng vô ích, mà còn có hại cho sức khỏe.”
Nghe thế, người bạn tù của tôi gần khóc vì sợ. Tôi đem triết lý củ khoai ra giảng giải.
Về sau, nhiều người bạn tù khác gai mắt bực tức vì thấy chúng tôi vẫn tỉnh khô, vẫn thản nhiên vui vẻ cười đùa như không phải đang ở tù, như không phải đang cực nhọc, thiếu thốn, đói khát. Mặc dầu sức khỏe của chúng tôi sút kém rất mau, gầy gò, răng vẫu, mắt sâu. Chúng tôi cứ xem những bữa ăn thiếu thốn kham khổ kia là cao lương mỹ vị, tận hưởng từng miếng nhai nuốt. Khi chúng tôi bắt được con nhái bén nhỏ, ướp chút muối, nướng cho thơm ngậy, tổ chức một bửa tiệc thưởng trăng, xé con nhái làm ba. Ba anh em tù bí mật ăn trong đêm tối bên hè nhà, nhìn trăng chênh chếch, cười với nhau sung sướng và ngâm nhỏ vài đoạn cổ thi. Ngoài những sinh hoạt công khai trong tù, chúng tôi còn tổ chức được các buổi văn nghệ bỏ túi, cấp tốc. Ba bốn tù nhân hẹn nhau ở đám cỏ cao bên cầu tiêu, một người canh chừng, mấy người kia hát “nhạc củ” cho nhau nghe đở ghiền, sửa lại lời hát các bản nhạc của cọng sản, dể châm biếm cười chơi. Anh nào làm được bài thơ đắc ý, đem ngâm nga cho bạn tù chia xẻ, thưởng thức. Những khi đi lao dộng khổ sai như cuốc rẫy, khiêng đất, tôi và anh bạn, hai đứa hai đầu gánh nặng, vừa làm việc vừa đánh cờ tướng không bàn: “Pháo hai bình năm, mã bảy tấn sáu, mã hai tấn ba, xa một tấn một .vân vân.” Mãi suy nghĩ để chuyển quân trong bàn cờ, chúng tôi quên cả nhọc nhằn, cả hôi hám, cả nắng cháy, và quên luôn thời gian . Buổi lao động nhọc nhằn qua đi lúc nào mà không hay .
Chúng tôi chơi cờ không cao, nhưng chơi mãi rồi thành quen, không cần bàn, mà vẫn quần nhau từ sáng đến khuya. Cả những đêm học tập chính trị chán ngắt, chúng tôi ngồi như chăm chú lắm, không ai biết chúng tôi đang chơi cờ không bàn, đang dàn trận, bắt quân, dứ, chiếu, đang chống đở cho khỏi bị chiếu bí. Chúng tôi say sưa với trò chơi , chấp cán bộ cọng sản nói dai, nói dài, nói dở, nói đến khuya. Chúng tôi còn tổ chức các cuộc đua kiến, đấu dế. Bắt dế bỏ vào hộp cho chúng “học tập cải tạo”, cho chúng cắn nhau. Những con ngất ngư sắp chết, chúng tôi thả ra và nói: “Nhờ học tập tốt và thành tâm cải tạo, nhờ ý thức giác ngộ cách mạng cao, và nhờ chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước, nay cho về đoàn tụ với gia đình,” Chúng tôi nháy mắt cười với nhau. Chúng tôi tạo những cuộc giải trí nho nhỏ, những buổi văn nghệ bí mật để quên ngày tháng, và thấy lo buồn tan biến đâu cả.
Phương châm của chúng tôi là “không”, không mong ước, không hy vọng gì cả. Không hy vọng thì khỏi thất vọng. Không mong ước thì không bồn chồn nôn nao. Khi thấy vài người bạn tù được thả – theo lối làm kiểng của cọng sản – các anh khác buồn tủi, đau đớn thất vọng cho thân phận của mình, thì chúng tôi vẫn bình tỉnh ngồi đánh cờ, chẳng xôn xao, chẳng bàn tán chi cả. Chúng tôi biết, chưa đến phiên mình, thì có bàn tán xôn xao, đoán mò, suy diễn lạc quan hay bi quan, thì chỉ thêm buồn khổ mà thôi å. Gạt hết ra ngoài tai cho yên lòng. Chúng tôi tập bình thản tâm trí, và luôn tìm cơ hội tận hưởng những thứ hạnh phúc nhỏ nhặt nhất mà chúng tôi có thể có được. Những khi có được một chậu nước nhỏ để tắm, chúng tôi cử hành cái lể tắm, tận hưởng niềm sung sướng khi cảm giác của nước mát chảy trên da thịt, trên mình mẩy, trên tóc tai, và hạnh phúc đến rên lên thành tiếng. Nước tắm trong tù quý như nước cam lồ. Chúng tôi chia cho nhau vài cọng rau hái được, và cảm được sâu xa nỗi hạnh phúc có thêm một miếng ăn trong tù, tận hưởng cái khoái khẩu, an ủi với cái tình bạn chân tình, vì ai cũng đói. Đêm đêm trước khi ngủ, tôi nghe nhiều tiếng bạn tù thở dài não lòng ngao ngán. Có lẽ họ đang lo cho vợ con bên ngoài, giờ nầy không biết làm sao mà sinh sống, mà tồn tại trong một xã hội đổi thay từ gốc rể. Tôi biết rõ, ở trong tù lo ra cho bên ngoài, ở bên ngoài lo vào cho trong tù .Không có ích chi, cũng không giải quyết được việc gì. Không lo cho vợ con bên ngoài, không phải là vô tình bạc nghĩa, mà chỉ là không làm cái việc vô ích mà thôi. Để tránh suy nghĩ và lo âu, mỗi khi vào giường, tôi tìm cách giải một bàn cờ thế, hay làm vài ba câu thơ, cũng có khi ôn lại những kỷ niệm đẹp đẻ êm đềm trong quá khứ mà thấy lâng lâng, hoặc ôn lại các chuyện tiếu lâm mà cười một mình trong bóng tối. Nhờ thế mà ngủ thiếp đi rất mau.
Chúng tôi tập coi thường những nhọc nhằn, khó khăn và đau dớn thể xác. Chấp nhận định mệnh khắt khe mà không cần than van. Tinh thần chúng tôi vững mạnh, sáng suốt. Chúng tôi cố gắng ý thức và hưởng thụ những hạnh phúc rất nhỏ từng ngày, từng giờ, từng phút, mà ít người cảm nhận . Triết lý củ khoai đã giúp tôi qua được những tháng ngày tù đày không quá nặng nề, khó chịu từ tinh thần dến vật chất.
Khi ra khỏi tù, sống trong chế độ cọng sản, người người cơ cực, thiếu thốn, sầu thảm, tinh thần bị đe dọa, sinh hoạt bị dòm ngó, rình mò. Trong cái giòng xã hội đó, chúng tôi cùng chung thân phận. Thân phận chúng tôi còn bạc bẻo, yếu kém hơn, thứ phó thường dân bên lề “xã hội chủ nghĩa tiên tiến”. Nhưng nhờ triết lý củ khoai, tôi vẫn tìm được hạnh phúc từng ngày. Hạnh phúc của mỗi sáng dậy sớm, pha một chén trà nóng, uống vào lòng ấm áp, ngâm vài câu thơ, vặn đài phát thanh BBC, VOA nghe nho nhỏ. Để biết biến chuyển quốc tế, tin tức quốc nội mà cọng sản cố tình bưng bít, ngăn chặn, che dấu. Hạnh phúc khi trao đổi tin tức quốc tế, quốc nội với bạn bè, bà con và ước đoán tình hình. Hạnh phúc nhất là cởi trần nằm phơi gió hây hây ngoài công trường, có khi ngủ tới hai ba giờ chiều mới thức dậy. Tôi đem cái triết lý thô sơ đó truyền bá cho vài anh em thân thiết, và khen xã hội cọng sản đã đem đến cho con người sự làm biếng vô cùng tận. Làm biếng cũng là một hình thức hạnh phúc nho nhỏ. Thật lạ lùng, nhà nước cho đến cán bộ to nhỏ, miệng ai cũng lớn lối đại ngôn ca ngợi lao động siêng năng cần mẫn, mà tất cả mọi người đều biếng nhác, tà tà. Đúng là cha chung không ai khóc.
Trong xã hội cọng sản, con người không được sống yên ổn, nay chính sách nầy, mai chính sách khác, thay đổi lung tung, chẳng ai hoạch dịnh cho đời sống riêng mình được cả. Chúng tôi vẫn tìm được nhiều hạnh phúc trong châm ngôn “không ước mơ, không hy vọng”. Phải dập tắt mọi ước mơ, mọi hy vọng để mà sống, nghe thì như vô lý, nhưng thực vậy. Cứ thuận theo giòng khổ đau mà trôi nổi với tinh thần sáng suốt. Không than van, không kể lể, không bi ai. Khi có cơ hội bắt được niềm vui thì cứ tận hưởng hết mình chút hạnh phúc đang có. Chấp nhận nhưng không buông xuôi cho số mệnh. Tìm lối thoát với tinh thần nhẹ nhàng, lạc quan, sáng suốt. Khi leo lên chiếc thuyền nhỏ bé để tìm đường đào thoát ra khỏi vòng tay cọng sản , chúng tôi cứ tự nghĩ như mình đang đi du lịch. Đề phòng tối đa, nhưng không quá nhiều lo âu sợ sệt. Cũng có sợ, nhưng sợ ở một mức độ nhẹ nhàng, đến nỗi đôi lúc còn cảm thấy thản nhiên và sung sướng, vì biết mình đang trên con đường đào thoát. Có gì mà lo? Nếu bị bắt thì ở tù lại, mà ở tù lâu thì tìm cách vượt ngục. Chiếc thuyền nhỏ đi từ bến sông Sài Gòn về miền Tây, ra cửa Ghềnh Hào. Trên đường đi, chúng tôi gặp nhiều trạm kiểm soát bắn súng kêu vào xét hỏi giấy tờ. Thấy chúng tôi vui vẻ, bình tỉnh quá, công an cọng sản không ngờ chúng tôi đi vượt biên . Như những kẻ ham chơi, chúng tôi thoát ra được hãi phận quốc tế. Thuyền chết máy giữa biển mênh mông nhiều ngày, nhưng sao trong lòng chúng tôi vẫn thấy vui, và còn cảm ơn Trời Phật đã giúp chúng tôi thoát được bàn tay cọng sản độc ác. Có chết cũng vui, thỏa nguyện. Được chết giữa biển trời tự do. Chúng tôi vẫn kể chuyện tiếu lâm, cười đùa và có khi còn cùng nhau ca hát.
Khi may mắn đến được trại tị nạn, thiên hạ ai cũng nóng lòng, ăn không yên, ở không yên, mong được đi định cư sớm. Họ cứ đưa ra giả thuyết nầy, giả thuyết kia để tự gây nên nỗi lo lắng cho chính họ và cho bà con chung quanh. Lo lắng về một bệnh dịch có thể phát ra, và phái đoàn Liên Hiệp Quốc sẽ không dám dến phỏng vấn. Lo lắng quốc tế thay đổi chính sách tị nạn. Họ lo để mà lo, không có đường lối và phương sách giải quyết các mối lo âu đó.
Tôi bảo họ: “Hãy xem những ngày tháng nầy như đi cắm trại nghỉ hè dài hạn bên bờ biển, cơm nước có Cao Ủy Liên Hiệp Quốc nuôi báo cô, chỉ cần cái xà lỏn thôi là đủ lịch sự như mọi người, cứ vui vẻ nhẫn nại chờ ngày đi dịnh cư” . Không ai nghe lời tôi, ngày ngày họ họp nhau bàn tán, uyên bác suy diển, bày đặt đủ tin đồn để gây cho nhau lo âu thêm, rồi đêm về mất ngủ thở dài thở ngắn. Phần tôi, thì lên đồi mắc võng nằm ngủ mơ màng trong gió hiu hiu, thưởng thức tiếng chim ca, nhìn dám mây mỏng lơ lửng bay qua bầu trời xanh, khi nóng thì nhào xuống biển nô giởn với sóng nước mát dượi, rồi nằm dài trên cát. Chán thì chơi vài ván cờ tướng, nằm nghe nhạc “chùa” vẵng từ các lều lân cận có máy hát. Buổi chiều về chòi, ăn một bụng no, uống ly trà, họp bạn bè, kể chuyện tiếu lâm, vui cười vang rân. Đêm nhóm vài cành thông khô đốt lửa ngồi quanh nhắc chuyện Việt Nam, chuyện cổ tích, chuyện vui lạ trong đời mỗi người. Nhiều người ngứa cổ, ca hát, ngâm thơ, cuộc vui kéo dài mãi đến khuya như một thời thanh bình nào đó ngồi bên lửa trại. Tôi thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng thanh thản. Không bận tâm lo âu sinh kế, thì giờ tự do không ai bó buộc, không có chuyện khẩn cấp phải làm, không ưu tư về tiền bạc, trong túi không có một xu, không bị công an dòm ngó, đe dọa, khủng bố, và không có bổn phận, trách nhiệm gì cả. Thảnh thơi, vui thú. Cuộc đời có lẻ chưa bao giờ có được những ngày tháng thần tiên như vậy. Sẵn đó, mà có mấy ai cảm nhận được ?
Một anh bạn trẻ đã nghe lọt tai cái triết lý củ khoai, đã cùng tôi gọi cái đảo tị nạn là miền đất thần tiên vô ưu. Nhưng với đa số, thì họ gọi dảo nầy là “Buồn Lo Bi Đát” đọc trại ra từ tên đảo là Pulau Bidong, họ cho là nơi chật chội, thiếu thốn, nóng nực, chờ mong, khổ sở, lo lắng. Tôi khó truyền bá cái triết lý củ khoai ra rộng rải, vì người nghe sẽ cho tôi là thằng khùng. Không ai tin câu nói của tôi rằng: “Dù có nóng lòng lo âu đến mấy, cũng không thể đi định cư sớm hơn một phút, mà dù tà tà vô lo đến đâu, cũng không chậm đi định cư hơn nửa giờ.” Tôi xem thời gian tại trại tị nạn như nửa năm đi cắm trại, còn sướng hơn là đi cắm trại. Trở về với thiên nhiên, quần xà lỏn, ở trần, đi chân đất, ngủ gốc cây, nằm trên cát biển, không lo âu sinh kế, và trong túi không có một đồng xu, mà cũng chẳng cần tiền bạc làm chi. Tôi chắc chắn trăm phần rằng, tôi là người sung sướng nhất đảo, vì tôi nhìn thấy được điều sung sướng, tôi cảm nhận được cái hạnh phúc to lớn thực sự tôi đang có. Còn đa số thì không thấy, không cảm được.
Tôi đến Mỹ, lang thang đi tìm việc, lội tuyết ngập nửa ống chân, rả cẳng, gió buốt lạnh cắt da thịt. Trong lòng vẫn vui, vẫn sung sướng, vì biết mình là kẽ may mắn, đang sống đời tự do. Đa số bà con bạn bè giờ nầy đang khắc khoải sống trong áp bức, xiềng xích gông cùm của cọng sản. Nhiều bạn bè đã ra đi, nhưng không đến, đã chết giữa biển khơi, chết trong rừng sâu, bị bắt bớ tù đày, hành hạ. Biết bao nhiêu triệu kẽ mong được lội bảo tuyết đi tìm việc như tôi mà không được. Tôi may mắn thế nầy, thế thì sao mà lòng không rộn rã niềm vui, ca hát cùng gió, cùng tuyết, cùng đất trời trắng phau phau .
Nhờ xông xáo, chỉ hơn mười ngày sau khi đến Mỹ, tôi tìm được một chân phụ bếp trong tiệm ăn Tàu. Làm việc hơn 15 tiếng mỗi ngày, làm không ngơi nghĩ. Cắt rau, gọt khoai, chặt thịt, xẻ cá, lạng tôm, chùi nồi, rửa bát, lau nhà, liền tay liền chân suốt ngày từ sáng sớm cho đến khuya mịt. Di chuyển, nhảy nhót trong cái khu bếp sực nức mùi dầu ăn, tôi nghĩ có lẽ những cao thủ võ lâm khổ luyện bí kíp chờ ngày xuống núi tranh hùng trong các tiểu thuyết kiếm hiệp, cũng chuyên cần đến thế mà thôi. Trong lòng tôi cũng tràn ngập vui sướng, hạnh phúc, vì mới đến miền đất lạ chưa được bao lâu, mà đã tự lập và sinh sống được. Tôi cũng tự phục mình, suốt đời ngồi văn phòng, mà thích nghi được việc lao động rất dễ dàng . Ông chủ tiệm rất bằng lòng cái vui vẻ, yêu đời, chăm chỉ của tôi. Một khuya trên đường về, tuyết phủ mênh mông, băng qua công viên tối, tôi trượt chân té ngữa nằm dài . Nhìn lên trời thấy trăng vằng vặc sáng với ngàn sao long lanh. Tôi thấy trời đất đẹp quá, cuộc đời đáng yêu vô cùng, và thân thể khoan khoái vì cái xương sống được nằm trong thế nghỉ ngơi sau hơn mười mấy giờ lao động tay chân. Bao nhiêu mệt nhọc trong thân thể như chảy loảng tan biến, chạy thấm vào nền tuyết sau lưng. Tôi nằm yên rất lâu ngắm trăng, và ngâm vài câu cổ thi ca ngợi trăng sao. Giá như có ai thấy được cảnh nầy, chắc họ tưởng tôi điên khùng. Cái lần té nầy, làm tôi bong gân, không đi dược, phải nghỉ làm, nhờ đó mà tôi có thì giờ, tìm ra được một công việc trong nghề cũ.
Khi đi làm việc, đôi khi gặp những cấp chỉ huy dốt nát, hoặc đồng sự kém cỏi mà lương cao hơn mình, tôi không lấy đó làm điều bất mãn, thắc mắc như nhiều người khác. Vì công ty thì của tư nhân, họ muốn thuê ai, giỏi dốt , trả lương cao thấp là quyền của họ. Mình chấp nhận làm việc, thì rán làm tròn bổn phận của mình, làm tốt tối đa. Nếu không bằng lòng với đồng lương, thì cứ tìm nơi khác khá hơn. Vã lại, đất nước của họ, thì ưu tiên chút đỉnh dành cho họ là phải. Mình ganh tị thì hóa ra là kẻ không biết điều . Tổ tiên họ đã đổ xương máu ra khai phá, để bị đâm chết, lột da đầu, bệnh hoạn. Biết bao nhiêu thế hệ đã đóng thuế, xây dựng nên những tiện nghi ngày hôm nay. Mình là kẻ may mắn nhảy xổm vào chia phần. Thì cũng cứ vui mà hưởng cái phần chưa được hoàn toàn bình đẳng đang có.
Qua những cảm nhận, so sánh hàng ngày, tôi dễ dàng tìm được cho mình cái hạnh phúc của tâm hồn yên ổn. Ở sở, tôi gắng tạo cho mình một môi trường vui vẻ, thân thiện, cởi mở. Để cảm thấy tám giờ trong ngày là thời gian dể chịu, vui, hạnh phúc, chứ không phải là thời gian "đi cày" khổ nhọc như nhiều người quan niệm. Mình chấp nhận công việc để được lảnh lương, thì dể trả lại, ráng sức làm việc. Tập yêu thích công việc, làm việc với tinh thần vui vẻ, dù công việc có lập đi lập lại nhàm chán, thì cứ nghĩ rằng sướng quá, công việc quen tay, dễ dàng, khỏi phải suy nghĩ nhiều, khỏi phải lo âu sợ làm sai, khỏi phải năn nỉ hỏi ai. Cứ yên tâm mà làm tới. Thế thì không phải sung sướng hạnh phúc sao ? Biến cái văn phòng của sở làm, thành một nơi ấm cúng, vui vẻ, yêu thích, thì đời mình có giá trị, hạnh phúc phong phú hơn nhiều. Những khi gặp khó khăn trắc trở, gặp những thay đổi bất thuận lợi , tôi cứ bình tỉnh chấp nhận chuyện không may, và tự bảo rằng, cuộc đời nầy như một chuổi kết hợp giửa cái may mắn và xui xẻo, giửa hạnh phúc và đau khổ , giửa thuận lợi và trắc trở. Thì cứ từ từ mà giải quyết, sẵn sàng chấp nhận cái kết quả xấu nhất. Thế là yên tâm, và đôi khi cũng nhờ cái yên tâm, mà công việc được thuận buồm xuôi mái hơn.
Sống ở đất nước lạ, lòng hoài hương làm nhiều người thương nhớ không nguôi, làm đau nhức con tim. Tôi biến tình cảm đó thành một thứ an ủi dịu dàng, một thứ hạnh phúc êm đềm khi nhận được thơ nhà, thơ bạn bè. Những giúp đở nho nhỏ cho người cùng khổ bên quê nhà là một thứ an ủi cho những giây phút mệt nhọc khó khăn trong công việc nơi quê người.
Những buổi sáng, khi chuông đồng hồ rền rỉ đánh thức dậy đi làm, nhất là những sáng thứ hai ngày mùa đông rét mướt tối tăm, nhiều người cảm thấy quá mệt nhọc, quá khó chịu, và họ “giả như” hôm nay được nghỉ thì sướng vô cùng. Còn tôi, thì mỗi sáng thức dậy với tràn ngập niềm vui, biết hôm nay ta sống thêm một ngày trong thế giới tự do, hôm nay ta còn công ăn việc làm, chưa thất nghiệp. Thế thì lòng đã phơi phới, sá chi đông giá lạnh lẻo tối tăm. Con đường đi đến sở, nhạc trong xe dịu dàng rải rắc khắp không gian. Có lần tôi bị thất nghiệp, buổi sáng thức dậy, tận sâu thẳm trong lòng tôi vẫn lâng lâng niềm hạnh phúc lạ kỳ, với ý nghĩ rằng, nhờ thất nghiệp mà còn được ngủ nướng, muộn màng, nằm dã dượi, nhìn nắng ấm dịu dàng len qua song, trải lên chiếu giường. Chốc nửa, sẽ nằm đọc truyện, uống trà, nghe nhạc cổ điển êm dịu. Chiều đi câu bên hồ. Tối nay thức khuya xem phim muộn về đêm, khỏi phải sợ ngủ gục trong sở. Việc chi mà quá lo âu về kinh tế gia đình, khéo co giản nhu cầu theo hoàn cảnh, thì không việc gì phải lo. Vả lại, công việc làm, thì cửa nầy đóng, cửa kia sẽ mở, đâu đến nỗi chết đói mà sợ.
Nhiều người hỏi tôi sao không mua nhà để được trừ thuế mà cứ sống trong nhà thuê chật chội. Tôi trả lời là tôi đang mua hạnh phúc. Hạnh phúc mua được rẻ hơn tiền đóng thuế. Mua cái nhà khi chưa vững chắc về tài chánh là mua cả khối lo lắng lớn lao vào thân, làm mất đi cái an bình quý báu của cuộc sống. Nhiều người, vì mua nhà, sợ mất việc, cho nên hèn cả con người. Khi tôi đủ sức mua nhà mà không phải lo âu vì nợ nần, thì cũng có nhiều bạn bè bà con hỏi, sao dư khả năng để mua những căn nhà lớn hơn, khu sang trọng hơn, mà lại mua căn nhà nhỏ. Tôi nói với họ là tôi không có nhu cầu sang trọng, căn nhà nhỏ cũng đủ cho gia đình tôi trú ngụ yên ấm. Nhà càng lớn, càng phải chăm sóc quét tước, chùi dọn nhiều, sưả chửa nhiều, mất thì giờ hưởng thụ những thú vui khác của cuộc đời. Lại nợ nần nhiều thêm lo lắng, có hại đến hạnh phúc bình thường. Căn nhà nhỏ của chúng tôi, nếu chẳng may cả hai vợ chồng thất nghiệp, cũng chẳng có chút bối rối nào . Có thể, tôi không khôn ngoan trên nhản quan kinh tế, nhưng tôi chắc chắn không sai lầm chút nào trên quan điểm hạnh phúc nhân sinh. Vợ chồng chúng tôi thường nói với nhau, nếu bây giờ có thêm vài triệu đồng tiền mặt, thì có lẻ đời sống chúng tôi cũng chẳng thay đổi gì hơn. Cũng không ăn dược nhiều hơn một miếng, cũng khong ngủ được một lúc hai giường. Thức ăn thì bò, heo, gà, tôm, cua, cá, rau cải, bất cứ thứ nào cũng thừa khả năng mua. Không cần phải giàu lắm mới mua được. Ngồi ăn trong nhà hàng sang trọng đắt tiền, chắc chi ngon miệng hơn ngồi chồm hổm bên góc đường húp riêu.
Vợ tôi thường trách tôi bạn bè quá đông, bạn tốt cũng đông mà bạn xấu cũng đông . Tôi thì thấy không ai hoàn toàn tốt, mà cũng không ai hoàn toàn xấu. Đã là con người thì có xấu tốt lẫn lộn. Chơi với bạn thì chỉ nên nhìn vào cái tốt bạn có, đừng để ý đến cái xấu . Ngay cả bản thân mình, cũng đầy cả nết hư tật xấu mà chưa chừa được. Chắc chắn, cũng không ít người chê bai sau lưng mình, nhạo báng mình, mà mình không biết đó thôi. Nếu họ có chê trách mình, thì họ cũng đúng phần nào dưới nhản quan của họ. Bởi vậy, tôi thường để vài giờ tự chế diễu mình, ghi lên giấy những lố lăng, những kỳ cục, những khả ố của mình. Để mình thấy rõ mà tha thứ cho cho mình, tha thứ cho người khác dễ dàng hơn.
Thế mà người gần gũi tôi nhất, thân thiết nhất, là vợ tôi, thường chống báng cái triết lý củ khoai nhiều nhất. Nhưng nàng đâu hiểu, những hạnh phúc bình thường tràn đầy mà gia đình tôi thực sự có được, cũng nhờ cái triết lý củ khoai ấy. Thường thường ít ai thấy và cảm được những hạnh phúc mà họ đang có , chỉ khi mất đi rồi, mới nhận chân ra, và chép miệng tiếc thương. Nhiều khi vợ tôi làm những điều không phải, nói những lời khinh bạc, tôi không nổi giận la hét làm dữ như những người khác. Tôi thầm bảo, nhiều người đàn bà còn tệ hơn vợ mình cả trăm lần, mình phải chấp nhận cái tương đối để vui sống. Và lại, mình có hoàn toàn đâu mà buộc người phối ngẫu của mình phải hoàn toàn. Thế là mọi sự đều qua.
Điều tôi thường hay nghĩ đến là nếu. Nếu tất cả sự thực hôm nay là giấc mộng, sáng mai thức giấc, thấy mình đang còn nằm trong nhà tù cọng sản, thì thật có nhiều điều điều đáng ân hận và tiếc. Và nếu đời là một giấc mơ, thì sao chúng ta không mơ cho thật đẹp .
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 15 2017, 08:40 AM
Gửi vào: #242


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Kính thưa Quý vị,

Internet có trang web, chuyên phỏng vấn những người nổi tiếng đã chết (Interviews with the Famously Departed). Nhà văn, nhà báo nổi tiếng thế giới, Art Buchwald (1925-2007), tác giả 30 tác phẩm, và hàng ngàn bài viết trên 550 nhật báo, tuần báo, tạp chí trên thế giới, Chủ bút nhật báo New York Herald Tribune ở Paris, từng được trao giải Pulitzer vào năm 1982, cũng là bậc thầy về phỏng vấn giả tưởng. Nhận xét về ông, bỉnh bút James Lein của báo The Minot Daily News đã viết: “Art Buchwald là bậc thầy của những bài phỏng vấn giả tưởng, phơi bầy cốt lõi của vấn đề, hay hơn so với hầu hết những bài phỏng vấn thật” (He was the master of fictional interviews that got to the heart of matters better than most actual news interviews). Noi gương tiền nhân, bài phỏng vấn giả tưởng cô Trần Kim Ngọc dưới đây, do trí tưởng tượng của người viết. Mọi kết luận đúng sai, có lý hay vô lý… hoàn toàn tuỳ thuộc quý độc giả.

Cũng xin thưa, để bảo đảm quyền tự do ngôn luận được cổ võ và thực thi một cách trọn vẹn và hợp pháp, tất cả bài vở, ý kiến, hình ảnh, được SGT đăng tải và phổ biến qua mọi hình thức, đều được Công Ty Ledinh Lawyers Pty. Ltd. cố vấn, kiểm duyệt, chấp thuận và hoàn toàn chịu trách nhiệm. Mọi khiếu nại, tranh tụng, vui lòng coi “Thông Báo Trách Nhiệm Pháp Lý” trên trang web Saigon Times (Tiếng Việt – Tiếng Anh).

Nếu Quý vị nhận được email này hơn một lần, xin thông cảm; nếu phiền lòng, xin thứ lỗi và email về huunguyen@saigontimes.org.

Trân trọng,

Hữu Nguyên
LOGO CDM ORIGIN.jpg

***********

Phỏng vấn giả tưởng – Trần Kiều Ngọc:







SÀIGÒN TIMES: Thưa cô Trần Kiều Ngọc, trong buổi “Hội Thảo Nhân Quyền Việt Nam” vào tháng 6/2017 tại Canada (xin click vô đây coi video và click vô đây coi transcrip), cô đã tuyên bố: Chuyện chống (Không dùng từ này), đối với thế hệ của cô và các em cô, là chuyện xa vời, không hiểu được. Cô cũng xác nhận, việc của cô làm chỉ là chống cái ác, chứ không phải là chống cộng. Vậy xin cô một lần nữa xác nhận, có đúng cô đã nói như vậy hay không?

TRẦN KIỀU NGỌC: Đúng, con đã nói như vậy. Và con đã nói như vậy nhiều lần, ở nhiều nơi. Chính tại buổi hội thảo hôm đó, con cũng đã nhấn mạnh với mọi người, nếu mà anh chị em nào có thương mến con, mà thường theo dõi những buổi nói chuyện của con, thì ông bà và anh chị em sẽ nhận thấy cái chuyện chúng con làm chỉ là chống cái ác, chứ không phải chống cộng.

SÀIGÒN TIMES: Nhưng cô phải đồng ý, lịch sử VNCH là lịch sử chống cộng?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con đồng ý!

SÀIGÒN TIMES: Lịch sử QLVNCH cũng là lịch sử chống cộng?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con đồng ý!

SÀIGÒN TIMES: Lịch sử của Người Việt Tỵ Nạn CS, trong đó có ba má của cô, cũng là lịch sử chống cộng trong hiện tại và mai hậu?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con đồng ý!

SÀIGÒN TIMES: Lịch sử của dân tộc VN trong suốt thời gian ngót thế kỷ qua cũng như trong hiện tại và mai hậu cũng là lịch sử chống cộng, đúng không cô?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con đồng ý!

SÀIGÒN TIMES: Và cô cũng phải đồng ý, lịch sử nhân loại trong suốt thế kỷ qua cũng như hiện tại cũng là lịch sử chống cộng?

TRẦN KIỀU NGỌC: Con hiểu điều đó chứ. Con còn biết, hiện tại nhiều nước tuy bang giao với các quốc gia CS, nhưng họ vẫn coi chủ nghĩa CS là hiểm hoạ đối với văn minh của nhân loại. Bằng chứng, đài tưởng niệm tội ác CS mới được dựng tại Hoa Kỳ…

SÀIGÒN TIMES: Và mới đây, chính TT Mỹ Donald Trump đã nói: “Suốt thời gian gần sáu thập niên qua, dân tộc Cuba đã chịu đựng muôn vàn đau khổ dưới sự đô hộ của chủ nghĩa (Không dùng từ này). Cho tới ngày hôm nay, dân tộc Cuba vẫn còn bị cai trị bởi chính những kẻ sát nhân đã tàn sát hàng chục ngàn người Cuba” (For nearly six decades, the Cuban people have suffered under communist domination. To this day, Cuba is ruled by the same people who killed tens of thousands of their own citizens).

TRẦN KIỀU NGỌC: Dạ thưa chú, con có nghe và có đọc những lời của TT Mỹ nói, và con hiểu, câu nói đó hoàn toàn đúng đối với (Không dùng từ này) VN hiện nay. Và chẳng cần nghe TT Mỹ nói, ba má và chúng con cũng hiểu: Cho tới ngày hôm nay, dân tộc Việt Nam vẫn còn bị cai trị bởi chính những kẻ sát nhân đã tàn sát hàng triệu người Việt Nam”.

SÀIGÒN TIMES: Ủa, nếu có đã hiểu rõ sự nguy hại của chủ nghĩa (Không dùng từ này) như vậy, thì tại sao cô lại tuyên bố, chỉ chống cái ác mà không chống CS, và chống CS là chuyện xa vời?

TRẦN KIỀU NGỌC: Hiểu là một chuyện, còn làm thì phải cân nhắc lợi hại mà chú. Ba cháu đã nói, “thân bất do kỷ”, nghĩa là nhiều khi mình không làm chủ được chính mình. Vì vậy, có những việc con làm là bị bắt buộc phải làm. Chú cũng biết, người VN mình, già trẻ lớn bé, ai mà chả hiểu tội ác CS. Nhưng thực tâm chống (Không dùng từ này), đâu có mấy người chú. Chẳng nói đâu xa, ngay ở hải ngoại này, hầu hết những người hô hào chống cộng, chỉ là những kẻ dùng bình phong chống cộng để moi tiền của đồng bào thôi chú… Bộ chú không mở to mắt ra để tỉnh ngộ thấy rõ chuyện trái khoái vừa diễn ra trong tuần qua sao?… Cháu thì lúc nào cũng công khai tuyên bố, TUI KHÔNG CHỐNG CỘNG! TUI KHÔING CHỐNG CỘNG! Vậy mà khi cháu tổ chức Hội Nghị để đánh lừa thiên hạ, thì không biết bao nhiêu người nổi tiếng chống cộng ở hải ngoại, kể cả mấy vị lãnh đạo tôn giáo, cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, đều lũ lượt chạy theo đuôi cháu như vịt, tung hô, ca ngợi cháu không tiếc lời… làm cháu vừa buồn, vừa xấu hổ, muốn độn thổ luôn đó chú.

SÀIGÒN TIMES: Nghe cô nói vậy, thiệt tôi cũng buồn và xấu hổ…

TRẦN KIỀU NGỌC: Chú buồn, chú xấu hổ là phải. Trước kia còn bảo có thể tha thứ cho họ, vì họ ngu dại không biết nên theo đuôi mấy thằng dư luận viên VC, mấy thằng VC nằm vùng, chạy theo hoan hô cháu. Đằng này, khi chuyện dối trá, điêu ngoa và bản chất không chống cộng của cháu đã được phơi bầy, ai ai cũng biết, vậy mà họ vẫn còn muối mặt chạy theo cháu đến tham dự Đại Hội và hoan hô cháu không chống cộng nữa đó… Chả trách ông Kim Âu ông ấy viết rất đúng…

SÀIGÒN TIMES: Kim Âu Diễn Đàn Chính Nghĩa Việt?

TRẦN KIỀU NGỌC: Dạ, ông ta đó chú…

SÀIGÒN TIMES: Ông ta viết sao?

TRẦN KIỀU NGỌC: Ông ta viết, “Điều quan trọng nhất là những cá nhân, tổ chức chống cộng, kiên quyết tẩy chay không tiếp xúc với thành phần như Trần Kiều Ngọc chẳng hạn. Hãy đuổi nó đi cho đỡ chối tai, gai mắt. Tôi lấy làm lạ tại sao những kẻ tuyên bố, tuyên cáo vỗ ngực chống cộng nhưng lại phủ phục, lót đường cho những tên vô lại như Cù Vũ Nợn, Hải Cụt, Mai Khôi, Trần Kiều Ngọc… để chúng bài tiết vào mặt mà cứ khen nức nở là thơm.Tất cả hãy tự xét lại bản thân một cách nghiêm chỉnh và cùng xác định một phương cách đối xử, đối phó đúng với từng trường hợp để khỏi tự làm nhục bản thân và tổ chức của mình.”

SÀIGÒN TIMES: Đọc những gì ông Kim Âu viết, bộ chính cô không thấy nhục nhã, không thấy đáng bị cộng đồng đuổi đi hay sao?

TRẦN KIỀU NGỌC: Chèn đét ơi, nỗi nhục nhã của cháu thấm vào đâu so với nỗi nhục nhã của những người “chống cộng dzỏm” chạy theo đuôi cháu. Chính ba má của cháu cũng nói: “Mầy có tội, đúng! Nhưng tội của những thằng mang danh chống cộng, chạy theo mày, còn nặng gấp vạn lần”…

SÀIGÒN TIMES: [thở dài…] Ôi, thật chua chát!!!

TRẦN KIỀU NGỌC: Đúng là chua chát phải không chú? Nhưng… chú đừng có buồn. Chú phải vui mới phải…

SÀIGÒN TIMES: ???

TRẦN KIỀU NGỌC: Cháu nói, chú và cộng đồng phải vui vì cháu mới phải…

SÀIGÒN TIMES: Trời!… Cô làm những chuyện tai hại tầy đình như vậy mà cô bảo chúng tôi phải vui vì cô?

TRẦN KIỀU NGỌC: Vậy chú có biết má cháo bảo sao không? Má cháu bảo, cháu có công rất lớn với cộng đồng…

SÀIGÒN TIMES: Cô có công lớn?

TRẦN KIỀU NGỌC: Má cháo bảo, nhờ có cháu, nên người Việt yêu nước khắp thế giới mới có cơ hội, nhìn rõ bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của những kẻ chống cộng dzỏm trong cộng đồng…

SÀIGÒN TIMES: [trầm ngâm…] Hừ… nghĩ kỹ thì má cô nói có lý…. Nhờ cô, nên mọi người mới biết dưa có dòi!!! Thiệt đúng là hoàng hôn của những thần tượng!!!

TRẦN KIỀU NGỌC: Chú có biết không, bây giờ, cháu mới thấy thật thấm thía và cảm động, khi đọc bài viết của BS Trần Mộng Lâm…

SÀIGÒN TIMES: Bài gì vậy cô?

TRẦN KIỀU NGỌC: “Trị Bệnh (UNG THƯ) Bằng Aspirine”…

SÀIGÒN TIMES: Bài đó chúng tôi có đăng trên web Sàigòn Times… (Xin click vô đây)

SÀIGÒN TIMES: Dạ, thưa chú, đọc xong bài đó, cháu mới hiểu được lối nguỵ biện, đầu độc thế hệ trẻ và mọi người của BS Hoàng… khi giới thiệu cháu và tổ chức của cháu… chỉ chống cái ác, cái độc tài mà không chống cộng.

TRẦN KIỀU NGỌC: Nguyễn Văn Hoàng ở QLD?

SÀIGÒN TIMES: Dạ, ông ta đó chú. Chú có coi cái video cháu ra mắt tại Brisbane và video Trịnh Du phỏng vấn ông ta không? Nhiều người coi, nói với cháu, cặp mắt trắng dã của ông Hoàng láo liêng liên tục… Ba cháu bảo, những người nói chuyện mà mắt không nhìn thẳng người đối diện, chỉ láo liêng liên tục, là người nguỵ biện, tâm không chính. (Còn tiếp…)

Hữu Nguyên https://saigontimes.org/

NHỮNG BÀI VIẾT VỀ TRẦN KIỀU NGỌC

Trần Kiều Ngọc Bài 1: TKN & Trò Hề Vua Mặc Áo Mới (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 2: VT TKN – Dối Trá, Giấu Đầu, Lòi Đuôi! (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 3: Dẫu có sai lầm, nhưng xin ĐỪNG PHẢN BỘI! (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 4: Phỏng vấn LS Lê Đình Hồ: TKN toan tính thâm nhập Sàigòn Times từ lâu! (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 5: TRẦN KIỀU NGỌC thú nhận, “Con chỉ chống cái ác, chứ con không chống cộng! (xin click vô đây)

Trần Kiều Ngọc Bài 6: TKN công khai thách thức: CON KHÔNG CHỐNG CỘNG! (xin click vô đây)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 19 2017, 05:57 AM
Gửi vào: #243


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ai là Tổng Thống Đầu Tiên Của Hoa Kỳ?
Trần Văn Giang
Nhân dịp kỷ niệm ngày ngày “4 Tháng 7” (4th of July), là ngày tuyên dương Độc Lập Hoa kỳ (Declaration of Independence) – lần đầu tiên vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, tôi hưởn, không có việc gì quan trọng phải làm nên đi vòng vòng trong sở làm hỏi thử một câu hỏi “Ai là Tổng Thống Đầu Tiên Của Hoa Kỳ?” này với khoảng 10 đồng nghiệp người Mỹ sinh đẻ tại Mỹ thì tất cả 10 người Mỹ đồng nghiệp đều trả lời là “George Washington!” Tôi chỉ là một dân mít tị nạn cs sống tạm dung trên đất Mỹ mà lại vớ vẩn dám cắc cớ nói là “Không phải như vậy! George Washington không chưa hẳn là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ…” làm họ đều trố mắt ra. Một số lớn đồng nghiệp người Mỹ có vẻ không bằng lòng, hỏi ngược lại: “Vậy thỉ ai là Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ?” Kể ra cũng có nhiều điều thích thú khi được trả lời câu hỏi ngược này… Dĩ nhiên đây là câu chuyện lịch sử Hoa kỳ hoàn toàn đứng đắn chứ không phải chuyện đùa bỡn cho nên tôi “nói phải có sách; và mách phải có chứng.”
blank
Trong lịch sử lập quốc Hoa kỳ, có một số mốc thời gian cần phải để ý. Hoa kỳ tuyên bố độc lập từ năm 4 tháng 7 năm 1776, nhưng mãi đến ngày 30 tháng 4 năm 1789, George Wasington mới nhậm chức Tổng thống Hoa kỳ. Như vậy trong 13 năm dài rằng rặc này (1776-1789) nước Mỹ phải có nhiều người làm Tổng thống rồi chứ; và ai là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ? Câu trả lời là ông John Hanson. Ngay tức thì, tôi nghe thấy thắc mắc là: “Ông Hanson nào vậy kìa?”

Vâng. Ông John Hanson mới chính là Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ. Nếy không tin thì xin mời quý vị cứ thử “Googling” hay tra lại “Tự điển bách khoa” cái chủ để “John Hanson” để kiểm chứng lại lời nói của tôi xem sao! Thực ra quý vị sẽ thấy rất ít tài liệu nói về Tổng thống John Hanson. Lịch sử lập quốc Hoa kỳ dường như đã vô tình quên mất tên tuổi của ông John Hanson, vị Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ.

Quốc gia Hoa kỳ bắt đầu thành hình từ ngày 1 tháng 3 năm 1781 khi “Article of Confederation” (Người viết vì không quen với các danh từ chuyên môn về luật pháp nên chỉ tạm dịch là “Hiến Chương Liên Minh?” – Liên Minh của 13 Tiểu bang đầu tiên Hoa kỳ) được ban hành. “Hiến chương” này được thảo và đệ trình để phê chuẩn từ ngày 11 tháng 6 năm 1776, nhưng mãi đến ngày 2 tháng 2 năm 1781 mới được tất cả 13 Tiểu bang (đầu tiên của Hoa kỳ) ký đồng thuận và được Quốc hội Hoa kỳ phê chuẩn.
.
Danh sách 13 Tiểu bang chấp thuận ký “Hiến Chương Liên Minh” là:
1 Virginia, ký thuận vào ngày December 16, 1777
2 South Carolina, February 5, 1778
3 New York, February 6, 1778
4 Rhode Island, February 9, 1778
5 Connecticut, February 12, 1778
6 Georgia, February 26, 1778
7 New Hampshire, March 4, 1778
8 Pennsylvania, March 5, 1778
9 Massachusetts, March 10, 1778
10 North Carolina, April 5, 1778
11 New Jersey, November 19, 1778
12 Delaware, February 1, 1779
13 Maryland, February 2, 1781
.
Theo Hiến chương này, các quyền sau đây sẽ dành một chính quyền trung ương (liên minh?):

- Tuyên bố chiến tranh.
- Thi hành các thủ tục ngoại giao với các quốc gia ở Âu châu.
- Điều đình các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, ranh giới với các giống dân bản địa thuộc vùng bắc và Nam Mỹ.
.
Sở dĩ có sự trì trệ trong việc ký thuận của các Tiều bang (nhất là Tiểu bang Maryland - ký sau cùng) vì các Tiểu bang sợ bị mất hết các quyền tự trị…

Sau khi “Hiến Chương Liên Minh” được phê chuẩn, quốc hội vào lúc đó thấy cần có một vai trò mới là “Tổng thống” để lãnh đạo chính phủ liên minh. Ông John Hanson được quốc hội lập hiến bổ nhiệm làm Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ. Nên biết thêm, Trong chính cái quốc hội bổ nhiệm ông John Hanson làm Tổng thống này có cả George Washington là thành viên (Congressman) và lúc đó không có ai đứng ra tranh chức Tổng thống với ông John Hanson. Chính George Washington đã gởi thư chúc mừng John Hanson như sau:

“Tôi xin chúc mừng Tổng thống đã được bổ nhiệm để nắm một chức vụ quan trọng nhất của quốc gia Hoa kỳ.”
.
Khi làm Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ, John Hanson rất lúng túng vì vai trò của Tổng thống chưa hề được “Hiến chương” định nghĩa cho rõ ràng. Những gì ông John Hanson làm trong vai trò Tổng thống đầu tiên này đã trở thành những tiền lệ cần thiết cho các vị Tổng thống kế vị sau này.

Ông John Hanson nắm chức vụ ngay sau khi cuộc chiến tranh dành độc lập từ Anh quốc vừa chấm dứt. Ngay lúc đó, quân đội “cách mạng” đòi phải được trả lương… Vừa mới dành độc lập xong thì chính phủ đào đâu ra tiền để trả lương cho quân đội? Các thành viên của quốc hội sợ hãi quá trốn mất biệt hết; để cho Tổng thống John Hanson đứng đơn phương độc mã giải quyết vấn đề lương bổng này. TT John Hanson khéo léo khuyên quân đội hãy kiên nhẫn và sáng suốt vì tình hình quốc gia chưa ổn định hoàn toàn; và chính TT John Hanson đã dũng cảm đoàn kết được quốc gia Hoa kỳ trong những ngày đầu tiên rất lủng củng hỗn độn sau khi dành được độc lập.
.
TT John Hanson đã làm được một số việc then chốt như sau:

- Ra lệnh cho tất cả các lực lượng quân sự ngoại quốc còn đóng trên đất Mỹ phải lập tức rút ra khỏi đất Mỹ; và cấm treo tất cả các cờ ngoại quốc trên đất Mỹ. Hai vấn đề này rất sôi nổi và căng thẳng, vì ngay sau khi Kha Luân Bố (Columbus) tìm ra đất Mỹ thì các quốc qia Âu châu, ít hay nhiều, đều muốn làm chủ một phần lãnh thổ phong phú ở Bắc Mỹ… không dễ gì mà họ từ bỏ ngay các tham vọng đất đai.

- Thiết lập ra con dấu Tổng thống Hoa kỳ (Great Seal of United States) đóng trên các văn kiện ban hành của Tổng thống Mỹ.

- Lần đầu tiên lập ra Bộ Ngân quỹ Quốc gia (Treasury Department), Bộ Ngoại Giao (Foreign Affairs Department); Bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Chiến tranh (Secretary of War) đầu tiên.

- Chỉ định ngày thứ 28 của tháng 11 là ngày long trọng “Cám Ơn Thượng Đế - Thankgivings of God” của quốc gia Hoa kỳ. Sau này, chỉ còn gọi ngắn là ngày “Tạ Ơn – Thankgivings Day.”
.
Nên biết thêm, cái gọi là “Hiến chương Liên Minh” (Articles of Confederation) chỉ cho phép Tổng thống có nhiệm kỳ duy nhất 1 năm. Kể ra trong vòng 1 năm, John Hanson đã làm khá nhiều chuyện ngoạn mục!

Sau TT John Hanson, theo “Hiến chương Liên Minh” (Articles of Confederation), có thêm tổng cộng bảy (07) Tổng thống nữa được Quốc hội tuyển chọn trước khi George Washington được chọn là Tổng thống Hoa kỳ, Bảy Tổng thống này lần lượt là:

Elias Boudinot (1782-83)
Thomas Mifflin (1783-84)
Richard Henry Lee (1784-85)
John Hancock (1785-86)
Nathan Gorman (1786-87)
Arthur St. Clair (1787-88)
Cyrus Griffin (1788-89)
.
Tại sao trong chúng ta, chẳng có ai nghe nói đến “Tám vị Tổng thống đầu tiên” của Hoa kỳ mà chỉ nghe nói đến “George Washington là Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ.” Có chuyện gì xảy ra vậy hà?

Chẳng qua là, “Hiến Chương Liên Minh” không có hiệu quả! Các Tiểu bang vẫn còn nắm giữ quá nhiều quyền; và hầu như các Tiểu bang rất ít khi hoàn toàn đồng tâm thỏa thuận về một vấn đề gì! Kết quả chính quyền liên bang rất yếu không thi hành được việc gì ra hồn. Quan tâm này làm cho Quốc hội liên bang thấy rằng “Văn bản pháp lý căn bản” cần phải được viết / soạn lại: Đó là sự ra đời của “Hiến Pháp Hoa Kỳ” (The U.S. Constitution).

Ngày 4 tháng 3 năm 1789, “Hiến Pháp mới của Hoa kỳ,” thay thế chính quyền trung ương trước đây đã ấn định bởi “Hiến Chương Liên Minh” bằng một Chính phủ Liên bang mạnh mẽ hơn có một Tổng thống mạnh / nhiều quyền hạn (Chief Executive / President) và có lập thêm ngành Tư pháp (The Courts); và quan trọng nhất là quyền đánh thuế (taxing powers) của chính phủ Liên Bang…

George Washington được bổ nhiệm ngày 30 tháng 4 năm 1789 là vị Tổng Thống đầu tiên theo “Hiến Pháp Hoa kỳ,” vị Tổng thống có nhiều quyền hạn y như chúng ta thấy quyền hạn của 44 vị Tổng thống Hoa kỳ nối tiếp cho đến ngày hôm nay…

.
Lời cuối

Rõ rang George Washington không phải là Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ. Tính theo thứ tự thời gian, George Washington phải là Tổng thống thứ 9 của Hoa kỳ… George Washington chỉ là Tổng thống (tân thời) đầu tiên theo đúng định nghĩa của Hiến Pháp Hoa kỳ.

Lạ nhỉ? Tôi không thấy có gì là lạ cả. Chỉ có rất ít người biết chuyện này mà thôi.
.
_______
Phụ chú:

Qua ngày tháng, có một vài tranh luận cho rằng Tổng thống John Hanson là một người Mỹ gốc da đen. Sở dĩ có sự lầm lẫn này là bởi vì trong lịch sử Hoa kỳ có hai ông trùng tên John Hanson cùng nổi tiếng, cùng là Thượng nghị sĩ: Một ông da trắng và một ông da đen.

Ông John Hanson da trắng làm Tổng thống sinh ở Mulberry Grove, Maryland ngày 13 tháng 4 năm 1721 và mất ngày 15 tháng 11 năm 1783.

Còn ông John Hanson da đen, cũng được gọi là “Thượng Nghị Sĩ từ Quận Bassa,” liên quan đến vấn đề Hoa kỳ can dự vào chương trình tái định cư người Mỹ da đen ở Liberia Phi chạu, trong khoảng thời gian 1856-1860. Căn cứ trên mốc thời gian này thì ông John Hanson da đen không sống ở giai đoạn Hoa kỳ mới dành độc lập, và ông John Hanson da đen không thể nào là Tổng thống đầu tiên của Hoa kỳ được !!!


Trần Văn Giang
Viết ngày lễ Độc lập Hoa kỳ
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 23 2017, 09:11 PM
Gửi vào: #244


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Dương Hoài Linh
ĐẤT NƯỚC NÀY ĐÃ HẾT CỨU.


Không phải bây giờ tôi mới nói câu này mà nói ngay từ ngày đầu đặt chân vào FB. Đến bây giờ quan điểm vẫn không thay đổi. Đó không hề là một nhận định chán nãn mà đó là một nhận định dựa trên sự nhận thức sâu sắc về tâm thức dân tộc này.

Một dân tộc chỉ có thể cứu được dù lâm vào hoàn cảnh bi đát đến tận cùng. Nhưng ý chí cầu sinh của họ vẫn còn rất mảnh liệt. Cho dù nước ngập ngang đầu, cái chết bủa vây tứ phía họ vẫn có thể chống chọi được khi sự phản kháng nằm trong tiềm thức.

Một dân tộc hết cứu khi sự sợ hãi ngự trị và biện minh cho tất cả mọi ý niệm cầu sinh.

Người ta gọi đó là sự ngụy biện.

Một minh chứng rõ ràng khi trong nước giăng đầy cờ đỏ , ảnh của tên "tội đồ dân tộc", cờ của một đảng chính trị cầm quyền bán nước trong nhiều cuộc đấu tranh.

Ngoài nước thì các trí thức đi sâu vào mổ xẻ hai chữ "chống cộng" và "chống cái ác".

Thật là buồn cười khi cộng đây không chỉ là ###### mà còn là Trung Cộng. Một đất nước đã bị một thế lực ngoại bang xem như là một khu tự trị với 15 văn kiện bán nước. Một đất nước mà sự nô lệ của người dân , sự diệt chủng đã quá rõ ràng như ban ngày thế nhưng tầng lớp trí thức vẫn cứ đắn đo : "Có nên nhằm thẳng quân thù mà bắn hay không ?" Họ giờ đây đang không dám tuyên chiến thẳng thắn với kẻ thù vì lo ngại rằng sẽ không tập hợp được sức mạnh của một dân tộc từ lâu vốn sống thừa vì cái đầu chỉ chứa đầy ắp nỗi sợ hãi.

Và thay vì nêu cao những mục tiêu về quyền con người, nhắm thẳng vào thể chế chính trị độc tài, phi nhân họ lại chọn cách lẩn trốn, nhân rộng đối thủ lên trong những triết lý tôn giáo , triết lý của muôn đời.

Ba năm nữa là đất nước Việt Nam đã chính thức trở thành một Tây Tạng thứ hai. Nhưng giờ đây cả dân tộc ấy vẫn đang loay hoay như đang ở thế kỷ trước. Họ sẵn sàng và có đầy đủ lý do để biện minh cho quan điểm của mình nhưng họ không thể biện minh được một thực tế là giặc cộng đang xâm chiếm và diệt chủng toàn bộ dân tộc Việt Nam.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 30 2017, 12:01 PM
Gửi vào: #245


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Một mặt trận hai kẻ thù
Giặc cộng bán nước, tàu phù xâm lăng.

AI CÓ QUYỀN VIẾT SỬ VIỆT NAM?
vietnamwar1

Từ hậu bán thế kỷ 19 đến nay, có bao nhiêu cuộc chiến, trong đó các bên đã đổ máu, diễn ra trên đất nước Việt Nam?

Câu trả lời tùy thuộc vào người bạn hỏi là ai.
Nếu bạn hỏi một sử gia người Mỹ có thể ông hay bà sẽ trả lời, Chiến tranh Việt Nam (Second Indochina War hay Vietnam War) là cuộc chiến tranh chống CS bành trướng xuống vùng Đông Nam Á bắt đầu từ ngày 1 tháng 11, 1955 khi Nhóm Cố Vấn Quân Sự Hoa Kỳ (U.S. Military Assistance Advisory Group) được thành lập tại Sài Gòn và chấm dứt khi Thượng sĩ Max Beilke, người lính tác chiến cuối cùng bước lên chiếc C-130 tại phi trường Tân Sơn Nhất để về quê anh ở Minnesota ngày 29 tháng 3, 1973.
Đối với các sử gia Mỹ, cuộc xung đột quân sự tại Việt Nam là xung đột giữa Mỹ một bên và (Không dùng từ này) một bên. Việt Nam Cộng Hòa chỉ là một phần phụ thuộc vào Mỹ.
Nếu bạn hỏi Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng (Không dùng từ này), ông ta sẽ trả lời cuộc chiến “chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa CS trên toàn lãnh thổ Việt Nam chính thức bắt đầu vào tháng Giêng, 1930 tại Cửu Long, Hương Cảng và chấm dứt vào sáng 30 tháng Tư, 1975.”
Đối với Nguyễn Phú Trọng, chính bí thư thứ nhất đảng Lao Động (CS) Lê Duẩn, trong tác phẩm Dưới Lá Cờ Vẻ Vang Của Đảng đã xác định cuộc chiến từ sau 1954 đến 1975 là chiến tranh của đảng (Không dùng từ này). Trong diễn văn đọc tại Sài Gòn đầu tháng 5, 1975 Lê Duẩn khẳng định “Vinh quang này thuộc về đảng Lao Động Việt Nam quang vinh, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.” Lê Duẩn không che dấu mục đích của đảng (Không dùng từ này) từ khi thành lập vào năm 1930 cho đến nay, tuy khác nhau về chiến lược của mỗi thời kỳ và hoạt động dưới nhiều tên gọi nhưng hoàn toàn nhất quán về tư tưởng và mục đích chính trị: Chiếm Việt Nam bằng bạo lực và cai trị Việt Nam bằng sắt máu.
Tuy nhiên, nếu bạn tìm được cách vào tù để hỏi Trần Huỳnh Duy Thức có thể anh sẽ trả lời khác. Cuộc chiến giành độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam bắt đầu vào ngày 1 tháng 9, 1858, khi quân Pháp dưới quyền Đô Đốc Charles Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng chính thức mở đầu cuộc chiến tranh vì độc lập tự do và cuộc chiến đó vẫn còn đang tiếp diễn cho đến hôm nay.
Người viết tin anh Trần Huỳnh Duy Thức trả lời như thế, bởi vì trong Con đường Việt Nam, anh khẳng định “sẽ không có sự độc lập nếu không có tự do. Và sẽ không có độc lập dân tộc nếu không có độc lập cá nhân. Điều này là chân lý.”
Đúng vậy, độc lập cá nhân có quan hệ hổ tương và nhân quả với độc lập dân tộc và do đó, cuộc chiến chống Thực Dân Pháp và cuộc đấu tranh chống độc tài CS là một cuộc vận động vì độc lập, tự chủ, dân chủ, tự do liên tục của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Đó là con đường đầy máu nhuộm, đầy hy sinh nhưng rạng ngời chính nghĩa.
Bộ máy tuyên truyền của đảng CS nhuộm đỏ nhận thức người dân Việt Nam bằng lý luận chỉ có đảng (Không dùng từ này) mới là đảng duy nhất thật sự mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.
Không phải.
Đừng quên rằng, bảy mươi mốt năm trước khi đảng (Không dùng từ này) thành lập năm 1930, con đường chiến đấu vì độc lập, tự do của toàn dân tộc Việt đã bắt đầu. Bắt đầu với máu của Đô Đốc Lê Đình Lý bị trọng thương ở Đà Nẵng, bằng thanh gươm của Tổng Đốc Võ Duy Ninh tự sát sau khi thành Gia Định thất thủ, được tiếp tục lót bằng sự hy sinh của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Trương Công Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đạm, Nguyễn Duy Hiệu, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám và vô số anh hùng dân tộc khác.
Đừng quên rằng, bốn mươi năm trước khi Hồ Chí Minh đặt chân trở lại Việt Nam lần đầu năm 1941, các tư tưởng dân chủ khai phóng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Duy Tân Nhật Bản đã được các nhà cách mạng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và các nhà cách mạng của phong trào Duy Tân truyền bá khắp ba miền. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do các nhà tân học miền Bắc như Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ đề xướng được đông đảo đồng bào ủng hộ. Phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu kêu gọi đã thúc giục hàng trăm người Việt yêu nước như Lương Ngọc Quyến, Hoàng Trọng Mậu lên đường sang Nhật theo học tại các trường đại học quân sự Nhật.
Đừng quên rằng, hai mươi năm trước khi đảng (Không dùng từ này) ra đời đã có rất nhiều đảng phái chính trị chống thực dân Pháp được thành lập như Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo, đảng Lập Hiến của nhà cách mạng Bùi Quang Chiêu, Thiên Địa Hội của Phan Xích Long, Việt Nam Quốc Dân Đảng do nhà cách mạng Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Các tổ chức cách mạng đó có khác nhau về phương pháp thực hiện nhưng đều đặt cơ sở trên nền tảng dân tộc và hướng tới một chế độ Cộng hòa. Hai nhà cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh chỉ khác nhau về đường lối tiến hành cách mạng chứ không khác nhau về mục đích và thể chế chính trị sau khi cách mạng dân tộc thành công. Ngay từ thời điểm đó, hai cụ Phan cũng đã khẳng định chế độ Cộng Hòa là con đường thời đại và là chế độ mang lại tự do, dân chủ và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam. Cương lĩnh của Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo vạch rõ mục tiêu của cách mạng là “đánh đuổi thực dân Pháp giành lại nước Việt Nam độc lập, thành lập Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam.”
Đừng quên rằng, chín mươi năm trước khi Tạp chí (Không dùng từ này) ra đời 1955, mấy mươi tờ báo đã được phát hành khắp nước như Gia Định Báo (1865) Tiếng Dân (1876), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Đông Dương Tạp Chí (1913), Nam Phong Tạp Chí (1917), An Nam Tạp Chí (1926), Phụ Nữ Tân Văn (1929), Tiểu Thuyết Thứ Bảy (1934) và nhiều báo Pháp Ngữ. Dù khác nhau lập trường chính trị, lề lối điều hành nhưng tất cả đều nhằm thúc đẩy tiến trình khai dân trí tại Việt Nam.
Đừng quên rằng, năm 1945, theo tài liệu chính thức của đảng (Không dùng từ này), tổng số đảng viên CS chỉ vào khoảng năm ngàn người trong khi con số người Việt yêu nước bị tù đày trên Côn Đảo qua nhiều thời kỳ, đã lên đến hai trăm ngàn người. Điều đó cho thấy, dù số lượng đảng viên CS có tăng dần, đại đa số những thế hệ Việt Nam chống Pháp là những người không (Không dùng từ này). Bức ảnh bi thương ba chiếc đầu Đặng Đình Nhân, Nguyễn Trị Bình và Nguyễn Văn Cốc đựng trong rọ sau khi bị chém ngày 8 tháng 7 năm 1908 trong vụ Hà Thành Đầu Độc là một trong vô số bằng chứng hùng hồn truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Nhưng tại sao CS thắng?
CS thắng chỉ vì họ không từ chối bất cứ một thủ đoạn nào dù bất nhân đến bao nhiêu, không hề tính toán cân nhắc phải chết hay phải giết chết bao nhiêu người, miễn là đạt mục đích CS hóa Việt Nam. Song song đó, đảng CS áp dụng một chính sách tuyên truyền tẩy não, lợi dụng lòng yêu nước, bưng bít thông tin một cách tinh vi và tàn nhẫn nhất trong lịch sử loài người.
Một trong những ông tổ tuyên truyền thời hiện đại là Joseph Goebbels cũng đã phải bái phục bộ máy giết người và hệ thống tuyên truyền CS. Trong diễn văn khá dài đọc trước đại hội đảng Quốc Xã vào tháng Chín, 1935, Joseph Goebbels phân tích chủ trương tuyên truyền CS “bắt đầu với nguyên tắc cứu cánh biện minh cho phương tiện”, và tố cáo đó là “sự giả dối và vu khống, khủng bố con người và quần chúng, trộm cắp và đốt phá, đình công, phá hoại, gián điệp…” Tuyên truyền CS, theo Goebbels nhằm “ám sát cá nhân, ám sát con tin, giết người tập thể là các phương pháp được CS ưa thích để loại bỏ đối kháng…” Joseph Goebbels nghiên cứu và tố cáo chính sách tuyên truyền tẩy não, trấn áp, khủng bố CS nhưng trong thực tế y đã áp dụng hầu hết các biện pháp CS với một mức độ dã man không kém.
Các đảng phái quốc gia Việt Nam không làm được điều đó. Họ nhân ái quá. Họ Việt Nam tính quá. Chính vì lòng nhân ái và Việt Nam tính đó mà phần đông những nhà cách mạng độc lập và dân chủ đã chết, không chỉ dưới máy chém thực dân mà còn do CS thủ tiêu như Đức Huỳnh Giáo Chủ, Trương Tử Anh, Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp v.v..
Và hôm nay, một trăm năm mươi chín năm từ buổi sáng ngày 1 tháng 9, 1858 ở Đà Nẵng những Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga v.v.. lại tiếp tục con đường Phạm Hồng Thái, Lương Ngọc Quyến, Tôn Thất Thiệp đã đi, để viết nên trang sử độc lập tự do cho mỗi người Việt Nam và cho dân tộc Việt Nam.
Không ai có quyền viết sử Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách độc tài CS. Con đường có thể còn xa nhưng là con đường chính sử. Chuyến xe có thể phải chậm vì chạy bằng máu của chính mình nhưng là chuyến xe tự chủ, không nô lệ cho bất cứ một ngoại bang nào.
Trần Trung Đạo
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 13 2017, 09:21 AM
Gửi vào: #246


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Giải phóng để làm gì ???
Ku Búa

Ngày 30 tháng 4 sắp tới. Nhà nhà người người suy nghĩ nên đi đâu hay làm gì trong mấy ngày lễ này. Tôi không biết các bạn ở miền Bắc thế nào chứ ở trong Nam mọi người đều đau khổ và nguyền rủa cái ngày này. Tôi rất thấy làm lạ với cái thuật ngữ “giải phóng.” Giải phóng? Giải phóng ai, giải phóng khỏi cái gì ? Ai giải phóng ai ?

1. Giải phóng để làm gì khi đất nước tôi phải trải qua một cơn đói chưa từng có trong lịch sử.
2. Giải phóng để làm gì khi hàng triệu gia đình bị tan nát và phá hoại.
3. Giải phóng để làm gì khi hàng trăm ngàn người lính vô tội phải đi tù.
4. Giải phóng để làm gì khi tài sản người dân tích lũy mấy đời mới có, bỗng nhiên bị cướp sạch.
5. Giải phóng để làm gì khi hàng triệu người phải bất chấp mạng sống để trốn chạy khỏi đất nước trên những con thuyền nhỏ bé; và hàng trăm ngàn người phải nhận đáy biển là mộ chí của mình.
6. Giải phóng để làm gì khi dân tôi phải ăn bo bo và khoai mì để khỏi phải đói.
7. Giải phóng để làm gì khi người Việt Nam đi đâu cũng bị khinh thường và soi mói.
8. Giải phóng để làm gì khi cuộc chiến đã chấm dứt 42 năm rồi nhưng dân tộc vẫn bị chia rẽ.
9. Giải phóng để làm gì khi hàng trăm ngàn người lại đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc hay đi bán thân mình dưới danh nghĩa “xuất khẩu lao động.”
10. Giải phóng để làm gì khi sau 11 năm thảm họa, đất nước phải bắt đầu trở lại dưới danh nghĩa “Đổi Mới.”
11. Giải phóng để làm gì khi cái lý tưởng của cuộc chiến chưa bao giờ thành công, cuối cùng thì phải áp dựng lý tưởng của chế độ cũ để phát triển đất nước.
12. Giải phóng để làm gì khi du học sinh đi du học không muốn về và kiều bào thì không muốn giữ quốc tịch.
13. Giải phóng để làm gì khi đi đâu cũng thấy người bán vé số và ăn xin.
14. Giải phóng để làm gì khi ngày nào cũng có dân oan than khóc vì bị cướp đất hoặc đền bù với giá rẻ mạt.
15. Giải phóng để làm gì khi chính con cháu của những quân giải phóng lại muốn từ bỏ đất nước, vậy cái lý tưởng chiến đấu ngày xưa có nghĩa gì?
16. Giải phóng để làm gì khi chính những thành viên chính trị cũng đang chạy hồ sơ để mua quốc tịch nước ngoài.
17. Giải phóng để làm gì khi bây giờ công lý chỉ là diễn viên hài và luật pháp có thể được mua chuộc bởi đồng tiền.
18. Giải phóng để làm gì khi bây giờ lại kêu gọi các công ty tập đoàn nước ngoài vào nước đầu tư. Chứ không phải ngày xưa đã đánh đuổi họ đi sao?
19. Giải phóng để làm gì khi người Việt Nam chỉ coi đất nước là cái nhà trọ.
20. Giải phóng để làm gì khi gái Việt Nam bây giờ hám ngoại, dân thì sính ngoại, cái gì thuộc về “Tây” cũng được sùng bái ở đất nước này.
21. Giải phóng để làm gì khi nhà nhà cho con em đi học tiếng Anh, trường quốc tế thì nở rộ như nấm.
22. Giải phóng để làm gì khi giới trẻ chẳng quan tâm tới đất nước và bị ngu đần bởi hệ thống giáo dục.
23. Giải phóng để làm gì khi bây giờ người Bắc Nam vẫn còn chửi nhau là “Bắc Kỳ-Nam Kỳ.”
24. Giải phóng để làm gì khi bây giờ người dân phải ăn đồ hóa chất, ngửi không khí độc hại.
25. Giải phóng để làm gì khi đất nước này ngày càng bị ảnh hưởng và lệ thuộc ngoại bang?
26. Giải phóng để làm gì khi người dân không có tự do và công bằng.
27. Giải phóng để làm gì khi chính những chiến sĩ ngày xưa hy sinh tuổi xuân để giải phóng bây giờ chẳng được gì ngoài tấm bằng khen.
28. Giải phóng để làm gì khi người dân Việt Nam chỉ là công dân hạng hai trên chính đất nước của mình.
29. Giải phóng để làm gì khi đất nước Việt Nam này lại thuộc về người khác mà không thuộc về người dân.
30. Và giải phóng để làm gì để bây giờ chẳng ai còn tin hay tự hào về cái gọi là giải phóng cả.

Như vậy thì giải phóng để làm gì? Vì lý tưởng? Không thể nào. Vì tự do? Càng không thể. Vì dân tộc? Thật vô lý. Vì độc lập? Càng vô lý nữa. Giải phóng để làm gì để bây giờ đất nước Việt Nam ngày đang vỡ nát. Tôi chẳng thấy một điều thiết thực nào đến từ cái gọi là giải phóng cả. Vậy ai giải phóng ai và giải phóng để làm gì?

Ku Búa @ Cafe Ku Búa


Giải phóng để Việt Nam trở thành Trung cộng, nghĩa là Việt Nam mạnh nhất thế giới và biết nói tiếng Phổ thông quên mẹ nó tiếng VN, chứ để làm gì . Biết mà còn hỏi.!!!!!!!!!!!!!!!!!


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Oct 13 2017, 09:25 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 14 2017, 01:50 AM
Gửi vào: #247


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Những thiên tài không bằng cấp
Họ là những nhà khoa học, nhà văn, nhà chính trị lỗi lạc trong lịch sử nhân loại. Dù không có điều kiện để theo học bất cứ chương trình đào tạo chính quy nào, nhưng bằng niềm đam mê, sự ham học, và ý chí nỗ lực không mệt mỏi của bản thân, họ đã vươn lên và toả sáng như những vì tinh tú trên bầu trời lịch sử của nhân loại...

Huyền thoại “thiên tài không bằng cấp”

1. Frederick Douglass
Frederick Douglass

Một trong những tấm gương tự học nổi tiếng trong lịch sử là Frederick Douglass. Ông sinh năm 1818 trong một gia đình nô lệ ở Maryland. Khi còn là một đứa trẻ ông đã tự mày mò học chữ khi gia đình ông đang sống ở Baltimore, kể từ đó ông luôn tự tìm cơ hội trau dồi thêm kiến thức bằng cách đọc thật nhiều.

Vào năm 20 tuổi, ông thoát khỏi chế độ nô lệ và định cư ở Massachusetts. Tại đây ông vẫn tiếp tục con đường tự học, tự đào tạo và sau đó ông trở thành một trong những nhà văn, một người theo chủ nghĩa bãi nô có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất trong lịch sử nước Mỹ.

2. Ando Tada
Ando Tada

Ando Tada là một kiến trúc sư nổi tiếng người Nhật dù ông chưa hề qua một trường lớp đào tạo về kiến trúc nào. Ông đã từng kiếm sống bằng nghề tài xế, làm một võ sĩ quyền Anh, và là một thợ mộc trước khi tự học để trở thành một kiến trúc sư. Ông đã từng một mình thực hiện một chuyến đi từ Đông sang Tây để tự quan sát và học hỏi về nghệ thuật kiến trúc bằng cách đến thăm những công trình nổi bật trên thế giới. Năm 1969, ông thành lập hãng kiến trúc Ando Tadao.

Công trình nhà lô ở Sumiyoshi (Azuma House), hoàn thành năm 1972 là công trình đầu tiên bộc lộ những đặc điểm kiến trúc của ông. Năm 1995, Ando được nhận giải thưởng Pritzker và 100.000 đô la Mỹ. Ông đã tặng số tiền đó cho những trẻ em mồ côi trong cuộc động đất Hanshin.

3. Janes Goodall
Janes Goodall

Tiến sĩ Janes Goodall, một trong những nhà hoạt động bảo vệ môi trường nổi tiếng thế giới, đồng thời là sứ giả hoà bình của Liên hiệp quốc, là một nhà nghiên cứu nổi tiếng người Anh trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã. Năm 1960, khi ngoài 20 tuổi, bà đã đến Kenya, châu Phi để nghiên cứu về tập tính và đời sống của loài tinh tinh. Bà đã có 40 năm sống và làm việc ở châu Phi và những nghiên cứu của bà được nhiều người đánh giá là "đã ảnh hưởng đến toàn thế giới nói chung và thế giới động vật nói riêng". Điều thú vị về bà là phần lớn những công trình nghiên cứu khoa học quan trọng của bà được thực hiện khi bà chưa qua một trường lớp đào tạo nào.

TS Janes Goodall đã được trao tặng nhiều danh hiệu cao quý và giải thưởng về bảo tồn động vật hoang dã; Đại sứ hoà bình của Liên hợp quốc năm 2002; Huy chương Benjamin Franklin vì sự nghiệp khoa học năm 2003. Bà còn được biết đến với tên gọi "người phụ nữ của tinh tinh".

4. Michael Faraday
Michael Faraday

Michael Faraday là một nhà Hóa Học và Vật Lý người Anh đã có công đóng góp cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa. Là con thứ ba trong một gia đình nghèo có bốn người con, cậu bé Faraday chỉ có được những kiến thức cơ bản nhất từ nhà trường, nhưng bù lại cậu là một đứa trẻ ham học và đã nổ lực tự học không mệt mỏi.

Năm 14 tuổi Faraday học việc ở một cửa hiệu sách, và trong suốt 7 năm học việc, ông đã đọc được rất nhiều sách, trong đó có sách của Isaac Watts, quyển mở mang trí tuệ, ông say mê tiến hành các nguyên lý và quan điểm trong quyển sách. Từ đó ông đã biểu lộ niềm đam mê khoa học, nhất là trong lĩnh vực điện năng.

Mặc dù Faraday được đào tạo ở trường rất ít và biết ít về toán cao cấp, nhưng ông là một trong những nhà khoa học có uy tín trong lịch sử khoa học. Ông là vị giáo sư hóa học đầu tiên và lỗi lạc nhất của Viện Hoàng Gia Anh Quốc, và đã giữ vị trí này trong suốt cuộc đời.



5. Hai anh em nhà Wright
Hai anh em nhà Wright, Orville và Wilbur Wright, là những người đầu tiên thử nghiệm thành công làm cho máy bay bay được. Chuyến bay đấu tiên trong lịch sử nhân loại được thực hiện vào ngày 17/12/1903 tại đồi Kill Devil, Kitty Hawk, bang Bắc Carolina, Mỹ. Mỗi anh em thực hiện hai chuyến bay vào ngày hôm đó. Lần bay đầu tiên, do Orville thực hiện kéo dài 12 giây và bay được khoảng 36.5mét (120 ft).

Lần bay cuối cùng, do Wilbur thực hiện kéo dài 59 giây và đi được 296 mét. Chiếc máy bay lúc đó được gọi là Flyer I. Nó có sải cánh khoảng 12 mét và nặng khoảng hơn 300kg, với động cơ xăng 12 mã lực. Hiện nay nó đang được đặt tại Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ tại Washington, D. C..

Điều đặc biệt là cả hai người đều chưa từng học qua trường đào tạo kỹ sư hay nhận được bất cứ bằng cấp chuyên môn nào. Thành công của họ đến từ niềm đam mê khoa học kỹ thuật cộng với nỗ lực tìm tòi học hỏi không ngừng. Thiên tài của hai anh em nhà Wright đã biến giấc mơ từ ngàn xưa của loài người thành sự thật.



6. Srinivasa Ramanujan
Srinivasa Ramanujan là nhà toán học huyền thoại người Ấn Độ, nổi tiếng là người dù không được đào tạo bài bản về toán học lý thuyết nhưng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho nhiều ngành toán học như giải tích, lý thuyết số, dãy vô hạn. Ông sinh ra và lớn lên tại Erode, Tamil Nadu, Ấn Độ và làm quen với toán học từ năm lên 10 tuổi.

Ông bộc lộ năng khiếu đặc biệt về toán khi được tặng một quyển sách lượng giác cao cấp của S L Loney. Năm 13 tuổi ông đã thành thục quyển sách này và bắt đầu tìm cách tự phát minh ra các định lý toán học. Năm 17 tuổi ông tự nghiên cứu về số Bernoulli và hằng số Euler-Mascheroni.

Trong quãng đời ngắn ngủi của mình (1887-1920), Ramanujan đã độc lập công bố gần 3.900 kết quả nghiên cứu phần lớn thuộc lĩnh vực phương trình và đồng nhất thức, mà ngày nay hầu hết đã được công nhận là chính xác. Tạp chí Ramanujan ra đời để công bố các nghiên cứu toán học có ảnh hưởng từ các công trình của ông.



7. Mark Twain

Mark Twain, một tên tuổi lớn trong nền văn học Mỹ, tên thật là Samuel Langhorne Clemens. Gia cảnh của ông khá chật vật và túng thiếu; năm 12 tuổi, sau khi cha qua đời vì căn bệnh viêm phổi, Mark Twain phải kiếm sống bằng nghề sắp chữ. Có thời gian ông phải bỏ học, theo nghề lái tàu để kiếm sống.

Sau đó, ông tiếp tục tự học ở các thư viện công cộng tại những thành phố mà ông sinh sống và bắt đầu dấn thân vào công việc của một nhà báo. Những cuộc hành trình lênh đênh trên miền sông nước trước đó đã trở thành cảm hứng thôi thúc ông viết nên những kiệt tác như Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer, Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Cuộc sống trên sông Mississippi…

8. Steven Paul Jobs
Steven Paul Jobs

Steven Paul Jobs là một tỷ phú, là ông trùm kinh doanh và sáng chế người Mỹ. Ông là đồng sáng lập viên, chủ tịch, và cựu tổng giám đốc điều hành của hãng máy tính Apple; ông cũng từng là tổng giám đốc điều hành của xưởng phim hoạt hình Pixar (hãng sở hữu nhiều giải oscar cho phim hoạt hình hay nhất như Đi tìm Nemo, Gia đình siêu nhân, Chú chuột đầu bếp, WALL-E, Up và Câu chuyện đồ chơi 3; sau đó ông trở thành thành viên trong ban giám đốc của công ty Walt Disney sau khi Disney mua lại Pixar.

Jobs sinh ra tại thành phố San Francisco, bang California, là con nuôi của Paul và Clara Jobs. Ông theo học trường trung học Cupertino và Homestead tại thành phố Cupertino, bang California. Năm 1972, Jobs tốt nghiệp trung học và đăng kí vào học tại cao đẳng Reed College ở Portland, bang Oregon, nhưng bị đuổi chỉ sau 1 học kỳ.

Mặc dù vậy ông vẫn tiếp tục dự thính các lớp học tại Reed, trong đó có một lớp học viết chữ đẹp. Trong thời gian “học ké” đó, ông phải ngủ dưới sàn nhà của những người bạn, đổi lon nước ngọt để lấy tiền ăn và nhận các suất ăn miễn phí mỗi tuần tại đền Hare Krishna. Sau này Jobs bày tỏ rằng: "Nếu tôi chưa từng tham dự những khoá học lẻ đó tại trường, Mac sẽ không bao giờ có có nhiều kiểu chữ hay phông chữ cách nhau tỉ lệ cân xứng như vậy".

9. A braham Lincoln


Là vị Tổng thống thứ 16 trong lịch sử Hoa Kỳ. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo khổ, cha mẹ ông là những nông dân mù chữ. Ông không có điều kiện đi học chính thức. Thời gian theo học thực sự của ông có lẽ chỉ kéo dài 18 tháng do các giáo viên không chuyên nghiệp dạy. Kiến thức của ông chủ yếu có được từ việc tự học qua việc đọc mọi cuốn sách có thể mượn được, từ Kinh Thánh, đến các sách tiếu sử, và sách văn chương.

Ông thông thạo Kinh thánh, các tác phẩm của William Shakespeare, lịch sử Anh và lịch sử Mỹ, ngoài ra ông còn học được phong cách trình bày giản dị trước thính giả. Ông dành nhiều thời gian đọc sách đến nỗi những người hàng xóm cho rằng ông cố tình làm vậy để khỏi phải làm những công việc chân tay nặng nhọc.

Lincoln nổi tiếng nhất với vai trò gìn giữ Hợp chủng quốc và chấm dứt chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn Giải phóng và Sửa đổi thứ mười ba của Hiến pháp Hoa Kỳ về việc bác bỏ̉ chế độ nô lệ.

10. Henry Ford
Những thiên tài không bằng cấp

Nếu con bạn luôn tìm cách đối phó với việc học mà thay vào đó là ngồi lỳ lau chùi chiếc xe máy thì đừng vội buồn. Biết đâu bé sẽ có thể trở thành Henry Ford của Việt Nam.

Henry Ford ngày nhỏ cũng lười học và say mê sửa chữa đồ cũ, hỏng. Máy móc có sức quyến rũ với ông một cách kỳ dị. Năm ông mười hai tuổi, ông đã bắt chước chế tạo được một máy nhỏ chạy bằng hơi nước. Năm hai mươi tám tuổi, khi là một công nhân điện ông quyết tâm theo đuổi chinh phục phát minh máy nổ của người Đức.

Thành công đã tới với người kiên trì bền bỉ, 5 năm sau chiếc xe hơi đầu tiên của thế giới chào đời. Tuy nó cao lồng cồng, không mui, không thắng và chạy dật lùi được, tốc độ tối đa 30 km/giờ.

Vài năm sau ông thành lập Công ty xe hơi Detroit rồi Công ty xe hơi Cadillac. Tuy không được học hành bài bản nhưng Henrry có đầu óc lãnh đạo tuyệt vời. Bên cạnh việc những mẫu xe hơi liên tục được cải tiến nâng cao chất lượng và mẫu mã với nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, Henrry có chiến lược phát triển hoàn hảo.

Năm 1906 ông sản xuất được 8.400 chiếc xe; bốn năm sau, con số đó tăng lên 34.000; một năm sau nữa, nó tăng lên 78.000; và tới năm 1927 thì mỗi ngày ông sản xuất được 7.000 chiếc xe, tính ra cứ 7 giây đồng hồ, có một chiếc xe hơi ở trong xưởng ông từ từ chạy ra để được gửi đi khắp thế giới.

11. Soichiro Honda
Những thiên tài không bằng cấp

Năm 1980, Soichiro Honda đã được tạp chí uy tín “People” vinh danh là “người đặc biệt nhất của năm”, còn thế hệ nay coi ông như một “huyền thoại Henry Ford của Nhật Bản”.

Từ tuổi thơ khốn khó đến địa vị Chủ tịch tập đoàn Honda hùng mạnh, chuyện nghề, chuyện đời của Soichiro Honda đã trở thành huyền thoại “thiên tài không bằng cấp”.

Khi mới 2 tuổi, cậu bé Soichiro đã bị thu hút và thích mày mò chiếc cối xay gió. Lớn thêm chút nữa, cậu tự “chế tạo” chiếc máy bay đồ chơi bằng tre có gắn “động cơ” làm bằng dây cao su. Cậu suốt ngày lấm lem mặt mũi do hay giúp đỡ cha mình trong xưởng đến mức bạn bè đặt cho cậu biệt danh “chú chồn nhọ mũi”.

“Chú chồn nhọ mũi” không ham thích học hành, chỉ quan tâm đến những môn kỹ thuật và bảng điểm của cậu dở tệ. Năm 15 tuổi, Soichiro Honda bỏ học để lên Tokyo học nghề tại xưởng cơ khí ôtô Shokai, thắp lửa niềm đam mê cùng tốc độ mãi cho tới sau này.

Bốn năm sau, Honda đã mở xưởng sản xuất của riêng mình. Chỉ sau một thời gian ngắn, xưởng sản xuất “doanh nghiệp một thành viên” cho ra đời xe đạp gắn động cơ. Ngay lập tức, Sản phẩm len lỏi khắp các ngõ ngách ở Nhật Bản.

Từ đây, Honda Technical Research Institute của ông đã thành công và không ngừng phát triển. Đến năm 1948, Công ty Honda Motor Co. Ltd được thành lập và trở thành một tập đoàn số 1 thế giới về sản xuất xe máy, top 10 sản xuất ô tô.

12. Bill Gates
Những thiên tài không bằng cấp

Tại khuôn viên trường Harvard mang tên "Harvard Crimson" có một tấm biển ghi“Bill Gates là người bỏ học thành công nhất của Harvard", trong khi phần còn lại của thế giới vẫn gọi ông là "người đàn ông giàu nhất thế giới" trong hơn một thập kỷ qua. Bây giờ, mặc dù không giữ vị trí dẫn đầu, ông vẫn còn trong danh sách những người giàu có của thế giới.

Gates nhập học tại Harvard vào mùa thu năm 1973. Hai năm sau, ông ta đã bỏ học để thành lập công ty Microsoft với người bạn Paul Allen. Sau khi thành danh, Bill Gate mới quay trở lại trường để tiếp tục sự nghiệp học hành. Và trong năm 2007, cuối cùng ông cũng nhận được học vị Tiến sĩ danh dự từ trường cũ của mình.

Khi được mời phát biểu tại buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên Havard, Bill Gates nói: "Tôi là một ví dụ xấu. Đó là lý do tại sao tôi được mời tới đây để nói chuyện tốt nghiệp của bạn.. Nếu gặp tôi trước khi nhập học, có thể số lượng sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp có mặt ở đây sẽ ít hơn nhiều.”

13. Frank Lloyd Wright
Những thiên tài không bằng cấp

Theo kiến trúc sư nổi tiếng nhất của Mỹ, Wright đã dành nhiều thời gian hơn vào việc thiết kế các trường cao đẳng, đại học hơn là tham dự các lớp học trong đó. Sau khi dành một năm học tại Đại học Wisconsin-Madison, ông bỏ học để đến Chicago và trở thành một người học việc của Louis Sullivan, "cha đẻ của chủ nghĩa hiện đại".

Trong sự nghiệp thiết kế và sáng tạo không ngừng nghỉ của mình, Wright đã tạo ra hơn 500 công trình kiến trúc kỳ vĩ, nổi tiếng nhất trong số đó là Fallingwater và New York City của Solomon R. Guggenheim Museum.

14. Buckminster Fuller
Những thiên tài không bằng cấp

Bị trục xuất khỏi Harvard hai lần, kiến trúc sư đồng thời là nhà phát minh vĩ đại người Mỹ Buckminster Fuller đã phải trải qua rất nhiều thăng trầm, biến cố. Một số ý tưởng kinh doanh ban đầu thất bại và trải qua nỗi đau đớn của việc mất đi cô con gái đầu lòng, ông tưởng chừng như không thể gượng dậy.

Tuy nhiên, ở tuổi 32, cuộc sống của Fuller bắt đầu thay đổi. Những ý tưởng sáng tạo của ông như các thiết bị ghép năng động áp dụng cho nhà ở và cả xe ôtô nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ công chúng. Đặc biệt là kết cấu xây vòm hình tượng của ông đã đưa tên tuổi của ông lên tầm cao mới và được quốc tế công nhận.

15. Mark Zuckerberg
Những thiên tài không bằng cấp

Bỏ học ở Harvard, Mark Zuckerberg phát triển Facebook trong ký túc xá trường mình. Bây giờ Facebook đã trở thành một trong những trang web phổ biến nhất trên thế giới mạng xã hội. Theo sự bùng phát của Facebook, Zuckerberg đã bỏ học để di chuyển địa điểm công ty của anh đến California.

Mark Zuckerberg đã chứng minh rằng quyết định của anh là sáng suốt. Theo Forbes, Zuckerberg là tỷ phú trẻ nhất thế giới, với trị giá tài sản năm 2010 là 4 tỷ USD. Tuy nhiên, mới đây Ông chủ Facebook nhận bằng tốt nghiệp Harvard sau 12 năm bỏ học.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Oct 15 2017, 07:39 AM
Gửi vào: #248


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




SÚNG ĐẠN Ở MỸ
Tôi có hứa với bạn bè sẽ viết một bài về súng ở Mỹ. Đã có vài bạn nhắc. Đành phải giữ lời, vì sợ bị đổi họ Trần thành họ Hứa, và tên cúng cơm thành Lèo! Kêu bằng cụ Hứa Lèo, quê chết!
Tôi không phải chuyên gia súng đạn, cũng không phải “lái súng”, cho nên kiến thức có giới hạn. Biết cái gì viết cái nấy, viết về súng cá nhân, chớ không động tới vũ khí chiến lược của Mỹ. Viết để chia sẻ hơn là một bài sưu tầm. Cứ coi như tôi viết chơi, cho bạn bè đọc chơi đỡ buồn vậy.
Trước khi viết về súng ống ở Mỹ, tôi muốn đưa ra một vài thống kê, lượm từ trang americangunfacts.com, để người đọc có khái niệm tại sao dân Mỹ có quyền trang bị súng, và đó là quyền hiến định, không dễ gì có một đảng phái, hay một chính phủ nào, có thể thay đổi được:
+ Dân số Mỹ khoảng 300 triệu, nhưng hiện có từ 270 đến 310 triệu khẩu súng đủ loại trong nhà người dân Mỹ. Điều này không có nghĩa là mỗi người dân Mỹ từ cụ già đến bé sơ sinh, đàn ông hay đàn bà, đều có súng. Tỷ lệ dân Mỹ có súng chỉ trên dưới 30%, nghĩa là có rất nhiều người có hơn một khẩu súng trong nhà (tôi có 3 cây).
+ Người Mỹ dùng súng để bảo vệ mạng sống 80 lần nhiều hơn là để giết người.
+ Phụ nữ Mỹ dùng súng để chống lại tội phạm tấn công tình dục 200.000 lần/năm.
+ Tỉ lệ súng tính theo dân số: Mỹ 88.8%, Yemen 54.8%, Switzerland 45.7%, Finland 45.3%
+ Số người chết vì súng tính trên mỗi 100.000 người: số zách là Honduras với 91.6 người, thứ 2 là El Salvador 69.2 người, thứ 3 là Côte D’ivore 56.9 người, thứ 4 là Jamaica 52.2 người,…. USA xếp hạng thứ 103 lận, chỉ có 4.8 người chết vì súng đạn trên mỗi 100.000 dân.
+ Nước Anh cấm súng, nhưng có tới 2034 tội phạm hình sự trên 100.000 dân, và hơn phân nửa là dùng dao trong nhà bếp để gây án. Trong khi Mỹ cho xài súng thả dàn, chỉ có 466 trường hợp xảy ra trên 100.000 dân. Từ khi cấm súng năm 1997, ở Anh, tội phạm tăng 77%, trung bình mỗi phút có 2 vụ tấn công.
+ Trong 9 nước Âu Châu cấm súng, thì tỉ lệ tội phạm cao gấp 3 lần, so với 9 nước cho xài súng.
+ FBI thống kê tội phạm giảm đáng kể khi cho xài súng: Giết người giảm 8.5%, hiếp dâm giảm 5%, tấn công giảm 7%, cướp giảm 3%.
+ Mỗi vụ nổ súng giết người hàng loạt ở Mỹ, đều xảy ra ở những địa phương cấm sử dụng súng!
+ In 1982, Kennesaw, Georgia ra luật: bắt buộc chủ gia đình phải có ít nhất một cây súng. Tội phạm đột nhập gia cư, trộm cướp, giảm 89%! Đến thời điểm hiện tại, tỉ lệ này vẫn là 85% thấp hơn so với trước năm 1982.
Đó là một vài thống kê đọc cho biết. Những thống kê tương tự, và những tư liệu khác, đã khiến nước Mỹ kiên quyết không huỷ bỏ Tu Chánh Án Số 2: Quyền sở hữu súng.
Second Amendment (Tu Chánh Án Số Hai) ban hành Dec 15, 1791, cho phép người dân sử dụng súng. Mọi công dân trưởng thành, đều có quyền mua súng (trừ những kẻ có tiền án tội phạm, hay bịnh tâm thần). Muốn mua mấy trăm cây súng cũng được! Luật lệ về súng đạn rất khác nhau, tuỳ theo từng Tiểu Bang. California tương đối gắt gao, so với Texas chẳng hạn. Alabama cho phép mang súng nơi công cộng mà không cần giấy phép. Có cả chục Tiểu Bang, như North Dakota, New Hampshire, West Virginia, Missouri, Idaho,… cũng dễ dãi như vậy, và khuynh hướng tự do mang súng ngày càng gia tăng ở Mỹ.
Một số người lo sợ là khi cho mang súng tự do, sẽ đem nước Mỹ trở lại thời kỳ các anh chàng cao bồi 3508, “ba nem không tém”: hôi ình, thúi quắc, cỡi ngựa, rút súng bằng bằng trong quán bar hay đường phố, hoặc thách đấu để thanh toán ân oán giang hồ với nhau. Quá lo xa! Luật lệ Mỹ chằng chịt như rễ của cánh rừng mắm Cà Mau, nhưng vô cùng nghiêm minh, cộng thêm trình độ dân trí rất cao, thì chuyện xã hội loạn như thời đó, là chuyện không bao giờ xảy ra.
Nếu thằng cu Ủn nổi cơn điên, dự tính đem quân “giải phóng” nước Mỹ khỏi sự kềm kẹp, bóc lột, của bọn tư bản “giãy hoài hỏng chịu chết”, thì ngoài chuyện sợ ăn bom nguyên tử, sợ Trump gởi tặng vài chục quả Tomahawk, bay là là, chui ngay vào gầm giường lãnh tụ, thì thế nào hắn cũng không khỏi lạnh cẳng, khi nghĩ đến con số 300 triệu, 300 triệu chớ hỏng phải 300 khẩu súng dài ngắn, nằm trong nhà dân. Mỗi người dân Mỹ sẽ trở thành một chiến binh mà không cần bắt “nghĩa vụ quân sự”! Anh nào cũng lái Hummer H2 (Humvee), hay Jeep mui trần, đeo kiếng râm đen đậm, loại đặc trị “nhìn lén người nghèo thiếu vải”, một tay cầm AR 16, một tay AK 47, lưng quảy thêm khẩu shotgun, lầm lầm lì lì như Arnald Schwarzenegger trong phim Terminator. Sau khi đùng, đùng, đùng, đến hết đạn, thì chào vĩnh biệt bằng một câu rất cool: “Hasta la vista, baby!” (See you later, Ủn! Hẹn gặp chú Ủn kiếp sau!)
Phe ủng hộ súng (đương nhiên dẫn đầu bởi những tên tài phiệt sản xuất súng) và phe chống xài súng, luôn cãi nhau ỏm tỏi, cả trăm năm qua, mà chưa ngả ngũ. Chuyện ban hành nhiều luật lệ để kềm chế, kiểm soát việc sử dụng súng, thì mỗi Tiểu Bang đều có, và đương nhiên là khác nhau rất xa. Nhưng chuyện cấm súng thì chắc chắn sẽ không bao giờ xảy ra.
Một lý do hiển nhiên khác mà người Mỹ quan tâm: Khi cấm dân xài súng, thì chẳng khác nào để súng lọt vào tay kẻ xấu, trong khi người lương thiện bị tước vũ khí, vì kẻ xấu sẽ có trăm ngàn cách để có súng. Người dân lương thiện chừng đó sẽ làm bia cho chúng bắn. Người dân Mỹ không đời nào chịu bị tước vũ khí. Đó là quyền hiến định.
Những năm 1990, và cao điểm là khoảng 1995, bọn choai choai tội phạm gốc Việt lộng hành. Chúng đột nhập vào nhà, cơ sở làm ăn, thậm chí những buổi tiệc tùng đông người, dùng súng huy hiếp, khảo của, tàn ác như bọn cường sơn thảo cấu Lương Sơn Bạc.
Đột nhập lúc nhà vắng, chỉ là trộm. Đột nhập khi có người ở nhà, là cướp. Bọn này rất đáng sợ. Mua súng là để trị bọn chúng.
Người Việt có thói quen xài tiền mặt, cất giữ tiền, nữ trang quí giá trong nhà, và rất thích đeo hột xoàn vàng vòng đến những nơi tiệc tùng. Người Mỹ ngược lại, gần như không xài tiền mặt, mà chỉ sử dụng chi phiếu hay thẻ tín dụng thôi. Người Mỹ cũng không cất giữ của cải trong nhà, vì sợ hoả hoạn, sợ trộm cướp. Họ thường mướn safe box ở ngân hàng để cất giữ giấy tờ quan trọng và nữ trang. Đàn bà Mỹ thích đeo nữ trang giả hơn là vàng vòng hột xoàn như đàn bà Á Châu. Cho nên người Việt là mục tiêu béo bỡ của bọn chúng thời đó. Người Việt chỉ cướp người Việt thôi..
Chúng có trăm mưu ngàn kế để đột nhập gia cư. Thí dụ, bạn đi làm về, quẹo vào garage thì thấy một cái thùng giấy hay một vật gì đó để trên driveway. Phản ứng tự nhiên là bạn ngừng xe, mở cửa bước xuống, dẹp chướng ngại vật để lái xe vào. Vừa bước xuống xe thì có đứa kè bên hong, chỉa súng vô be sườn, buộc bạn mở cửa cho đồng bọn vô nhà.
Khi đột nhập vào nhà, chúng trói gô cả nhà. Chúng dở banh thảm, cạy sàn nhà, rọc hết nệm giường, lật tung tủ lạnh,… không chừa chỗ nào! Tìm không ra của chìm, thì bắt đầu màn tra khảo. Đánh đấm nạn nhân hộc máu mồm là chuyện thường. Cắt tai, xẻo thịt cũng thường! Chúng dám đem cả con nít bỏ vào lò nướng và mở lửa. Tôi còn nghe kể, bọn nó khảo cách gì cũng không khai, chúng bèn lột quần áo bà vợ để hiếp dâm, và không quên thông báo cho hai vợ chồng biết: chúng đang mắc bệnh AIDS! Mạng quí hay của quí? Phải khai thôi! Khi nói đến sự tàn ác, người Việt cũng có hạng lắm! Gia chủ thua chúng là cái chắc!
Tôi có người khách Mỹ, và sau này trở thành bạn. Anh ta là cảnh sát. Tôi cũng có một người bạn Việt làm cảnh sát. Họ biết luật pháp, nên chỉ dẫn và khuyên tôi nhiều thứ:
+ Đầu tiên họ khuyên mua súng, và nuôi chó. Lảng vảng trước nhà, mà nghe tiếng chó sủa rân trời, nhứt định chúng lùi bước tìm mục tiêu khác dễ ăn hơn. Không có tên cướp nào dù đang cầm súng trong tay, mà không nao núng khi biết mục tiêu đột nhập cũng có đồ chơi lại. Chúng ngu gì kiếm chuyện khó, nên chúng sẽ tháo lui.
+ Chúng sợ đàn bà cầm súng, vì các bà nhát, run, bóp cò sản, đạn có khi ghim vào mình chúng như chơi! Các bà nên có súng và học bắn súng.
+ Chúng sợ nhất là shotgun. Một, khi nghe tiếng lên đạn cái rốp, dòn dã, khô khan đến lạnh xương sống, thì ba hồn chín vía chúng cũng lên mây! Hai, đạn chài shotgun gồm rất nhiều viên bi nhỏ bên trong. Khi bắn sẽ túa ra, chắc chắn chạy đàng trời cũng dính chấu. Chết chắc.
+ Handgun hay súng trường, đạn chỉ có một đầu đạn bay ra khỏi nòng. Xác suất trúng mục tiêu rất thấp, nhất là hand gun, rất khó bắn trúng mục tiêu. Trừ súng liên thanh (machine guns), xả nguyên một băng vài chục viên trong nháy mắt, thế nào cũng có vài viên trúng mục tiêu.
Nói về luật pháp, họ khuyên rất nhiều điều:
+ Không bắn thì thôi, hễ quyết định bắn thì phải bắn cố sát, bắn cho tử ẹo, chớ không bắn què giò. Xác chết thì câm, thằng què còn miệng, nên còn ra toà nói ngược nói ngạo. Có khi nạn nhân như mày lại thành tội phạm, còn tội phạm như nó lại thành nạn nhân! Nên nhớ, nó đáng chết, chớ mày không đáng đi tù!
+ No mercy! Just destroy him before he kills you! Nó xâm nhập vô nhà mày, nhứt là nó có vũ khí, thì cái rủi ro mày và người thân bị nó sát hại vô cùng cao. Phải tự vệ, và bảo vệ người thân. Không thương xót! Hãy tiêu diệt nó trước khi nó diệt mình!
+ Khi bắn phải bắn từ phí trước. Bắn từ lưng là tù, bởi vì toà nói rằng: Mầy cố sát chớ không phải tự vệ! Nó đã bỏ chạy, đâu còn nguy hiểm tới mày, mà mày cố tình giết nó? Cho dù nó đã đột nhập vô nhà, có vũ khí, thậm chí đã gây thương tích cho mày, một khi nó quay lưng bỏ chạy, thì không được bắn nó.
+ Sau khi hạ gục nó, mày nhớ bắn một viên lên trần nhà. Toà không biết mày bắn viên đó trước hay bắn sau đâu. Cứ nói rằng mày đã bắn một phát chỉ thiên để doạ nó trước rồi, nhưng nó vẫn nhào tới, buộc lòng mày phải hạ gục nó để tự vệ.
+ Nếu nó uy hiếp, khống chế được người thân của mày, mày có buông súng đầu hàng theo lệnh của nó không? Cái đó tuỳ theo quyết định của mày, nhưng nếu là cảnh sát, tụi tao không bao giờ buông súng đầu hàng, ngay cả khi nó chỉa súng vào đầu đồng đội. Rất dễ hiểu: Khi mày buông súng thì đồng đội mày, và chính mày sẽ bị nó giết. Chết gọn cả hai.. Mày bắn giỏi, bắn chính xác, có thể mày hạ được nó mà cứu đồng đội trước khi nó bóp cò, để cả hai cùng sống. Worst case là nó nhanh tay hơn, nổ súng giết đồng đội mày, thì ít nhất mày cũng giết được nó, trừ đi một kẻ xấu cho xã hội, trả được thù cho đồng đội, và cứu được mạng mày luôn. Lời hơn, đúng không? Chọn nổ súng, chỉ có lời ít hay lời nhiều, chớ không có lỗ. Buông súng, lỗ cạn tàu ráu máng!
Nghe họ nói tôi mới hiểu tại sao khi cảnh sát bắn là bắn vô tử huyêt để tiêu diệt mục tiêu. Nghe họ nói mới biết thêm nhiều thứ, và tôi dạy các con tôi y như vậy. Vì tự vệ, nên buộc lòng phải bóp cò. Không bắn nó, nó sẽ giết mình và người thân. Không tội tình gì trước pháp luật. Cũng không tội tình gì trước lương tâm và Thượng Đế.
Tôi cũng dạy các con: Nếu bị bắt cóc, nhứt định phải chống cự, vừa chạy vừa la. Chạy có thể bị nó giết, nhưng có cơ hội thoát hiểm, sống sót, dù chỉ vài phần trăm. Còn không chạy, không chống cự, để nó bắt đi, thì chết chắc 100%. Chọn vài phần trăm sống, hay chọn 100% chết? Đó là chọn lựa vô cùng khó khăn, đòi hỏi tháo vát, can trường, vì sống và chết chỉ là đường tơ kẽ tóc..
Tôi chưa từng cầm súng. Nhưng tôi có cơ sở kinh doanh, mua bán ì xèo, đương nhiên là có tiền mặt, buộc lòng tôi phải tìm cách bảo vệ gia đình và cơ sở làm ăn của mình. Mua súng, xài súng, là chuyện bất đắc dĩ, nhưng phải làm ở thời điểm đó.
Tôi sắm 3 khẩu súng, hai súng ngắn (handguns) và một khẩu súng săn shotguns (xem hình gởi kèm). Các con tôi chưa xong high school, nhưng đứa nào cũng sử dụng súng thành thạo. Tôi và cậu con trai không cần nói. Nhưng ba cô con gái ốm yếu, nhát hít, vẫn bồng shotgun lên, nạp đạn, bắn đùng đùng. Ban đầu sợ. Bắn vài phát, không những hết sợ, mà còn thấy thích. Handguns nhẹ, ít giựt, nhưng bắn khó trúng bia hơn shotgun. Hằng tuần tôi chỡ các cháu đến trường bắn. Ai không có súng thì họ cho mướn súng, chỉ cần mua đạn, mua bia, rồi bắn bao nhiêu cũng được. Ai có súng thì đem tới, chỉ cần mua đạn, bắn tới chán thì thôi.
Ở Mỹ, tiệm bán súng công khai, đầy dẫy, khắp nơi. Mua súng dễ như mua con cá, bó rau. Ở Cali, chỉ cần chọn súng, đặt cọc, điền một mẫu đơn rất ngắn gọn, để tiệm súng gởi cho chính quyền điều tra lý lịch. Nếu không có thành tích bất hão, hay bịnh tâm thần, thì từ hai tuần cho tới một tháng, bạn có thể đến trả nốt phần tiền còn lại, và mang súng về nhà.
Thời gian chờ đợi ngoài việc để chính quyền rà soát lý lịch hình sự, nó còn là thời gian giải nhiệt (cooling period). Tại sao gọi là thời gian giải nhiệt? Thí dụ, có một anh chàng bị con vợ nó cắm cho cái sừng nhọn hoắc, dài một sãi, lủng xuyên sọ đầu. Hận người tình, hận thằng tình địch, hận đời, hận lung tung,… Phen này ông sắm súng để tiễn chúng bay vô địa ngục. Trong hai tuần hay một tháng chờ đợi, anh ta suy nghĩ miên man: Nó không còn yêu thương mình, ép uổng gì? Giữ người ở, ai giữ người đi? Tại nó lăng loàn trắc nết theo trai, chớ một bàn tay làm sao vỗ thành tiếng, giết thằng kia chi cho thêm nghiệp chướng? Còn đàn con, giết vợ rồi vô tù, ai lo cho chúng?... Cooling down, đổi ý. Đem súng về cất đó phòng thân trộm cướp, chớ không phải thanh toán đôi gian phu dâm phụ nữa. Xã hội bớt đi một thãm cảnh.
Súng cũng rẻ mạt.. Từ vài trăm cho tới vài ngàn đều có. Ngày xưa mua AK 47 hay AR 16 cũng được. Từ ngày có những vụ dùng súng tự động bắn giết ở trường học, sở làm, thì Cali và nhiều Tiểu bang cấm.
Để tôi viết sơ qua về ba cây súng tôi có, thuộc ba loại khác nhau – revolver, piston, và shotgun - cho người chưa từng đụng tới súng, biết khái quát. Ngoài ra còn nhiều loại khác như súng trường đi săn, súng liên thanh,… thuộc loại quá dữ, không cần thiết cho phòng thân, nên tôi không nghĩ tới. Chỉ viết rất khái quát, ai muốn tìm hiểu thì hỏi thằng Google nó tả tỉ mỉ hơn.
+ Cây revolver là súng có ổ đạn tròn, thường gọi trái khế, chứa 5 hay 6 viên đạn. Đây là loại súng mà các tay cao bồi Mỹ thường xài, ai coi phim cũng biết. Trong phim thường thấy cái trò chơi quay trái khế: nhét chỉ 1 viên vô trái khế, quay cái rẹt, kê súng vô màng tang, nín thở bóp cò, coi thằng nào tới số?
Revolver có hai loại. Loại single action, khi bắn phải dùng tay trái, hay ngón tay cái của tay cầm súng, bật ngược cò mổ ra sau, mới bóp cò. Double action, chỉ cần bóp cò, thì cò mổ bật ra sau, sau đó giã vô viên đạn. Loại này con cò bóp rất nặng, nhưng tiện dụng, khá nguy hiểm, và ai cũng có thể bắn mà không cần biết phải lên đạn cách nào. Cứ bóp cò là nổ. Cây tôi sở hữu là double action, của hảng Smith & Wesson, dáng rất đẹp, giá hơn $400 (năm 1996). Cây này thuộc thứ dữ, Magnum, công phá rất mạnh, mua để ở nhà. Bắn giật khá mạnh. Chỉ sáu viên đạn. Đạn to, nhưng giá rất rẻ, khoảng 25 cents/viên. Các con tôi đều biết sử dụng thành thạo, trừ bà xã nhất định không muốn đụng tới súng đạn.
+ Cây Pistol mini, của hảng Beretta, giá cũng khoảng $400 USD. Có lẽ hảng Colt đầu tiên làm ra loại súng pistol này, nên người ta lấy tên của nó mà đặt. Colt 45 là loại trang bị cho sĩ quan VNCH. Còn phe kia thì thông dụng với K54. Khi bắn phải dùng tay kia kéo phần trên của nòng súng ra sau, rồi buông ra, để nó đẩy viên đạn lên nòng, mới bóp cò. Gọi là lên đạn. Nó có khoá an toàn, nên loại này khá an toàn nếu nhà có con nít.
Tôi chọn khẩu súng này vì nó rất nhỏ, gọn, với mục đích sẽ bỏ nó trong túi quần khi làm việc ở tiệm. Đạn bé tí tẹo, nhưng giá cả 50 cents/viên. Nó nhỏ gọn như đồ chơi con nít, bắn như không bắn, vì nó nổ nhỏ, và giựt rất nhẹ. Đàn bà Mỹ thích nó, vì nó gọn nhẹ, bỏ trong xách tay được. Cây này có 8 viên chớ không phải 6, như “súng lục” ở VN xưa kia: Một viên lên nòng, 7 viên trong băng đạn. Tôi thường nhét sẵn một viên lên nòng, và 7 viên trong băng. Như vậy khi bắn, khỏi cần lên đạn, chỉ bật khoá an toàn trong nháy mắt. Băng đạn nhỏ bằng hai ngón tay. Một băng nạp vô súng, một băng để sơ cua, thì cũng có 15 viên để ứng chiến!
Hễ gặp khách có vẻ dân chơi, nhất là buổi tối, thì tay trái tôi cầm phone, sẵn sàng ấn 911, còn tay phải thọt vô túi, ngón trỏ nằm sẵn ngay cò súng. Khi cần, không thèm móc ra, ngón cái nâng nhẹ lên mở khoá an toàn, và ngón trỏ bóp cò dễ dàng. Nếu là dân chuyên xài súng, thấy tôi thủ kiểu đó là nó biết ngay. Đương nhiên là chuồn lẹ, nếu không muốn ăn trọn 15 cục kẹo đồng!
+ Shotgun, giá chỉ trên hai trăm một chút. Dài như súng trường. Nặng. Đạn chài khoảng 70 cents/viên. Ỗ chứa được bốn viên đạn. Không tự động. Bắn một viên xong phải kéo phần tbên dưới nòng súng cho văng vỏ đạn ra, sau đó đẩy ngược lên để lên đạn viên kế tiếp. Tiếng lên đạn rất to, nghe thót ruột. Còn một loại bẻ cúp nòng súng xuống để nhét đạn vào, không tiện dụng và có vẻ lỗi thời. Shotgun bắn cũng không giựt mạnh lắm. Súng này luôn để trong nhà. Thằng nào có gan cạy cửa, chỉ nghe lên đạn cái rốp là chạy không kịp quay đầu ngó lại.
Chính vì cướp bóc lộng hành, tui phải thủ rất kỹ.. Ngoài việc mua súng, mỗi tối lái xe về, phải coi có đứa nào chạy theo không? Về tới nhà, nhìn xung quanh coi có xe lạ đậu gần nhà mình không? Coi có thằng nào lảng vảng trước cửa? Trước khi tới nhà vài block đường, phải ngừng xe lại, mở cốp xe lấy đạn nạp vào súng. Biết là trái luật, nhưng vẫn làm. Luật Cali buộc khi chuyên chỡ súng, thì súng phải bỏ trong hộp có khoá. Súng và đạn không được để gần nhau. Súng trong xe, thì đạn phải trong trunk sau xe.
Người Việt hải ngoại đã trãi qua một giai đoạn hãi hùng. Cảnh sát và FBI vô cùng vất vả để tiêu trừ đám cặn bã này, nhưng dường như bó tay, vì chúng quá đông, quá dữ, và quá liều mạng. Khi con ma nghiện nó hành, thì chuyện gì chúng cũng làm để có tiền đi hút. Sau cùng, chính quyền đã tìm ra giải pháp: Trục xuất!
Đúng vậy! Trục xuất! Họ deal với VN, mỗi thằng du đãng tội phạm, bị trục xuất, họ trả cho vài chục ngàn đô (hay cả trăm ngàn, đại khái là rất nhiều tiền).
Đối với Mỹ, điều này lợi trăm bề. Một, dẹp được tệ nạn. Hai, chỉ tốn một số tiền nhỏ, tốn một lần cho VN, hơn là nhốt bọn chúng vào tù, nuôi dai dẳng, nuôi tốn gấp nhiều lần con số tiền trả cho VN.
Đối với VN họ cũng lợi trăm bề. Nhận một thằng, họ bỏ túi bộn bạc. Bỏ gọn lỏn vào túi! Đem nhốt chúng, đâu có tốn đồng xu nào, vì bắt chúng làm khổ sai, bỏ đói xanh xương, sinh lợi nhiều gấp mấy lần tiền lẻ bỏ ra nuôi chúng.
Còn đối với mấy thằng du đãng tội phạm, sợ té đái! Trục xuất là mất cơ hội vô quốc tịch, hay bị thu hồi quốc tịch. Muôn đời trâu ngựa ở bển! Phải nói, chúng sợ tù VN hơn là sợ bị bọn tù Mỹ đen đánh đập hay hiếp dâm chúng!
Trên thế giới có lẽ chưa có tù nào khủng khiếp bằng tù VN. Hỏi mấy ông tù HO, hay những người từng ăn cơm tù thì biết. Người viết đâu có nói thêm, hay xuyên tạc chút nào. Đừng ném đá, tôi ném lại đó nghen!
Từ ngày đó, cướp có súng không phải chỉ bị phạt tù vài năm, mà là trục xuất cho nếm mùi tù thật sự của CS.. Thằng nào thằng nấy sợ teo, bu gi còn bằng hột đậu phộng lép! Cướp có súng từ bọn du đãng Việt, coi như tuyệt nọc!
Cám ơn chánh phủ Mỹ vô cùng sáng suốt, biết đường binh! Cám ơn “đảng ta”, “chính phủ ta”, có thuốc trị được cơn bịnh hiểm nghèo, giúp cho hàng triệu khúc ruột ngàn dậm thân yêu, được an cư lạc nghiệp! Chúng tôi yên tâm kinh doanh, mới có tiền gởi về bển chớ. Cũng rất công bình. Người Việt hải ngoại thật sự có được những năm tháng bình yên từ ngày đó đến nay.
Mua súng cũng giống như bạn phải sắm bình chữa lửa và cái thang dây để trong nhà, phòng khi có hoả hoạn. Dù để hoài không xài tới, cũng đừng tiếc tiền mua. Bạn không bao giờ trông cho nhà cháy để có cơ hội dùng tới bình chữa lửa, hay dùng cái thang dây cho cả nhà leo xuống từ lầu hai, phải không? Nhưng nếu bạn không cụ bị những thứ đó, khi hữu sự, bạn chỉ có đứng nhìn thần hoả thiêu rụi cơ ngơi mồ hôi và nước mắt của mình một cách vô vọng, hay bạn và người thân phải liều mạng nhảy lầu, tránh chết cháy, vì không có thang dây.
Đâu có ai trông cho kẻ xấu đột nhập vô nhà mình để đem súng ra phơ chúng! Nhưng cũng đâu có ai muốn kẻ xấu đột nhập vô nhà mình, mà trong tay không một tấc sắt? Súng là giải pháp bảo vệ an toàn cho mình và gia đình. Dù mình không mong có dịp xài tới nó, nhưng không có thì không được. Tuy nhiên, nếu một xã hội vô pháp vô cương, và không có trình độ dân trí cao (đi đường lỡ cọ quẹt một chút cũng xách mã tấu ra thanh toán), thì súng sẽ là một hiểm hoạ không biết tới đâu mà lường!

Peter Chánh Trần

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 2 2017, 11:59 AM
Gửi vào: #249


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



The Vietnam War - Đôi điều cần phải nói
Author: Phạm Tín An Ninh Source: Hoàng Sa Paracel Posted on: 2017-10-01

Bộ phim tài liệu The Vietnam War được thực hiện bởi hai đạo diễn Ken Burns và Lynn Norvick, hiện đang được phổ biến rộng rãi trên truyền hình NRK (NaUy) và được một số báo chí thiên tả NaUy tán thưởng. Bộ phim này cũng đã được trình chiếu tháng trước trên hệ thống truyền hình PBS tại Mỹ, tạo nên làn sóng tranh cãi, nhiều phản bác hơn là ngợi khen, từ những người Mỹ lẫn người Việt, Người ta công nhận The Vietnam War có khá hơn nhiều so với Vietnam – The Ten Thousand Day War (của Michael Maclear) trước đây, tuy nhiên nó vẫn là một bộ phim tồi. Những người thực hiện vẫn tiếp tục đi theo lối mòn định kiến của giới truyền thông Mỹ. Trong khi đa phần những người trong cuộc, từng tham dự và bị nhiều hệ lụy từ cuộc chiến ấy, dễ dàng nhận ra sự thiên lệch, thiếu chính xác của cuốn phim, từ trong tư tưởng, tài liệu, hình ảnh đến việc phỏng vấn và mục đích thực hiện.
1/- Trước hết, nên biết Ken Burns, người thực hiện The Vietnam War là ai?
Suốt trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Ken Burns là một thành viên đắc lực của phong trào phản chiến. Ông là một người theo phái tả, liberal và triệt để ủng hộ Đảng Dân Chủ.
Với một người như thế, tất nhiên Ken Burns luôn mang nặng thành kiến về cuộc chiến Việt Nam. Chính những người phản chiến như ông đã tạo nên một nhận định khá phổ biến “Cuộc chiến Việt Nam không thua tại Việt nam nhưng đã thua tại Hoa Kỳ”.
2/- The Vietnam War dựa theo những tài liệu, hình ảnh nào, do ai cung cấp?
Tất nhiên phần lớn dựa theo tài liệu, hình ảnh của Hoa Kỳ và của chính quyền Việt nam (Không dùng từ này) cung cấp. Ai cũng biết là các chính quyền CS không bao giờ tôn trọng sự thực, nên tất cả mọi tài liệu, hình ảnh đưa ra đều tô vẽ có lợi cho họ. VNCH không còn tồn tại, mọi tài liệu bị thất tán, phá hủy, không còn tiếng nói để chứng minh lẽ phải về họ, mặc dù chính họ mới là lực lượng chính trong cuộc chiến và đã phải nhận nhiều hệ lụy nhất chứ không phải Hoa Kỳ.
3/- The Vietnam War đã phỏng vấn những ai?
Có 3 thành phần:
- Những người Mỹ, một số cựu chiến binh tại Việt Nam, nhân viên của chính phủ, nhà báo. người có chồng, con tử trận tại Việt Nam, và có cả những người thuộc thành phần chủ chốt trong phong trào phản chiến trước đây.
- Những người Việt Nam trong nước. Hầu hết là những sĩ quan cao cấp, nhà văn nhà báo phục vụ chế độ CS. Ai cũng hiểu rằng, khi những nhà làm phim muốn tiếp xúc với họ đều phải qua chính quyền (Không dùng từ này) sắp xếp, chọn lựa hay tối thiểu là phải có sự cho phép, và tất nhiên phải nói những điều có lợi cho sự tuyên truyền của họ.
- Những người miền Nam (VNCH) đang sống tại Mỹ. Một số cựu sĩ quan, viên chức ngoại giao, và một vài người thành công ở Hoa kỳ.
Tuy nhiên trong suốt cuốn phim, ai cũng nhìn thấy là họ được nói rất ít. Một hai câu ngắn.Tất nhiên các nhà làm phim tìm họ để phỏng vấn, không phải chỉ để hỏi một đôi câu ngắn ngủn như thế, nhưng chắc chắn những lời nói của họ đã bị cắt bỏ, chỉ còn lại một vài câu có lợi theo quan điểm của người làm phim. Ngoại trừ bà Dương Vân Mai Elliott, là nhân vật được xuất hiện nhiều nhất và phát biểu lâu nhất. Bà là nhà văn, tác giả cuốn sách “The Sacred Willow” được đề cử giải Pulitzer trong đó nói về bốn thế hệ sống trong một gia đình Việt Nam. Bà gốc người Bắc, thân phụ Bà làm việc cho Pháp. Năm 1954 cả gia đình di cư vào Nam, ngoại trừ người chị cả ở lại cùng chồng tham gia kháng chiến. Năm 1960 bà được học bổng, sang Mỹ học về ngành ngoại giao. Năm 1964, khi 23 tuổi, bà lập gia đình với người chồng Mỹ cùng ngành và sau đó cả hai vợ chồng cùng làm việc cho Rand Corporation ở Sài gòn từ 1964 đến 1967. Với thân thế như vậy, nên bà Dương Vân Mai Elliott hiểu biết khá tường tận về tình hình chính trị và quân sự ở miền Bắc VN trước 1954, cũng như ở miền Nam sau 1954. Tuy nhiên về sau này, từ giữa thập niên 1960, dường như Bà đã có cái nhìn về cuộc chiến Việt Nam dưới lăng kính của một người Mỹ.
Một người đặc biệt nữa là Ông thẩm phán Phan Quang Tuệ. Ông là con trưởng của Ông Phan Quang Đán, người sáng lập Đảng Dân Chủ Tư Do, luôn quyết liệt chống đối chính phủ Ngô Đình Diệm và tham gia cuộc đảo chánh bất thành 11.11.1960 (với vai trò ủy viên chính trị và cố vấn), nên bị bắt cầm tù. Thời đệ nhị Cộng Hòa, ông ra tranh cử cùng liên danh với ông Phan Khắc Sữu, trong chức vụ Phó Tổng Thống, nhưng bị thua liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ. Do đó trong The Vietnam War, con trai ông, Phan Quang Tuệ, đã phát biểu tiêu cực về chế độ Ngô Đình Diệm cũng như các chính quyền miền Nam sau này với lòng hận thù, thay vì với lương tâm của một người trí thức.
4/- Không chính xác từ cách gọi tên cho cuộc chiến.
Ken Burns gọi cuộc chiến Việt Nam là “nội chiến”. Điều này không đúng. Nếu là một cuộc nội chiến thì đã không có 58.220 người Mỹ đã chết tại Việt Nam. Chính vì sự méo mó này, mà trong suốt cuốn phim, không thấy đề cập nhiều đến các nước (Không dùng từ này), đặc biệt là Liên Xô và Trung Cộng luôn là những quan thầy của (Không dùng từ này) và hỗ trợ hết mình để mang thắng lợi cho miền Bắc CS. Trong khi Hoa Kỳ đã nhảy vào Nam Việt nam và xem miền Nam như là một tiền đồn của Thế Giới Tự Do, nhằm ngăn chặn làn sóng đỏ (Không dùng từ này) bành trướng xuống Đông Nam Á. Hơn nữa, quân đội Nam VN (VNCH) chưa hề đưa quân tấn công ra Bắc, họ chỉ bảo vệ miền Nam để xây dựng một thể chế dân chủ tự do, không (Không dùng từ này). Còn cái gọi là MTGPMN cũng chỉ là đám CS nằm vùng, được cài lại miền Nam sau 1954, hoặc xâm nhập từ miền Bắc sau này, được CSBV nặn ra nhằm lừa bịp quốc tế.
5/- Cách hành xử “kẻ cả” của Mỹ đối với một đồng minh, đã đưa đến sự thất bại tại Nam Việt nam.
Không có một vị lãnh đạo và cả người dân miền Nam nào muốn có sự hiện diện cùa quân đội Hoa Kỳ trên đất nước của họ. Chính Tổng thống Ngô Đình Diệm đã từng cực lực lên tiếng bác bỏ ý định của Hoa Kỳ, ngay từ thời Tổng thống J.F. Kennedy, muốn đưa quân vào Nam Việt nam. và cũng chính vì việc này đã đưa đến cái chết thảm khốc của anh em ông Diệm vào ngày 1.11.1963. (Mỹ đã đưa ông Henry Cabot Lodge sang làm Đại sứ để dàn xếp một cuộc đảo chánh, và một sĩ quan cao cấp CIA, trung tá Lucien Conein, ngồi ngay trong sào huyệt của Dương Văn Minh cùng các tướng lãnh phản bội ông Diệm, tại Bộ TTM/QLVNCH, để trực tiếp giám sát, theo dõi việc đảo chánh.)
Ông Diệm luôn phản đối việc Mỹ đưa quân sang Việt Nam, vì ông nghĩ như thế sẽ làm mất chính nghĩa cho công cuộc đấu tranh của dân chúng miền Nam bảo vệ tự do, và có cớ để Liên Xô và Trung Cộng vào cuộc, ra lệnh và hỗ trợ miền Bắc đưa quân vào đánh Nam Việt nam.
Nên nhớ là nền cộng hòa non trẻ của Ông Ngô Đình Diệm được xây dựng tại miền Nam sau Hiệp định Genève 1954, trên những đống tro tàn, rác rưởi và nhiều phe nhóm bạo loạn của Pháp để lại, cùng lúc phải lo định cư cho hơn một triệu người dân di cư từ miền Bắc, trốn thoát chế độ CS. Nếu có đôi điều bất như ý cũng là lẽ tất nhiên. Nhưng đây lại là thời kỳ “vàng son” nhất mà người dân miền Nam được hưởng, giáo dục, kinh tế và cả quốc phòng phát triển tốt đẹp. Với kế hoạch Ấp Chiến lược, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiêu diệt và loại gần hết đám CS nằm vùng tại Nam VN, do CS gài lại sau hiệp định Genève.
Và có lẽ Ông là người lãnh đạo quốc gia duy nhất trên thế giới đã tha tội chết cho cả ba người từng giết hụt mình: Hà Thúc Ký, Phạm Phú Quốc và Hà Minh Trí (người ám sát Ông tại Ban Mê Thuột)
So với Hồ Chí Minh, ông Ngô Đình Diệm yêu nước, thương dân và đạo đức hơn gấp vạn lần. Ông sống độc thân, đạo hạnh, trong khi Hồ Chí Minh tự xưng mình là “Bác” của toàn dân, bắt mọi người phải tôn thờ ca tụng mình, nhưng đã từng sống với nhiều người đàn bà, ngay cả với vợ một đồng chí của mình, và ra lệnh giết một cô con gái trẻ sau khi có con với ông ta và cô ấy tỏ ý muốn được công khai chấp nhận. Một tội ác điễn hình của ông ta, khi ban hành Chiến dịch Cải cách Ruộng Đất, giết dã man hàng vạn người dân vô tội, trong đó có cả bà Nguyễn Thị Năm, người bị xử tử đầu tiên, là một ân nhân đã từng cưu mang ông cùng những cán bộ cao cấp, và trợ giúp rất nhiều cho tổ chức của ông. Nhưng trong Tập 1 The Vietnam War, người làm phim đã hết sức ca ngợi Hồ Chí Minh và bôi bẩn hình ảnh ông Ngô Đình Diệm một cách ác ý đến lố bịch.
Mỹ đã lợi dụng một vài bất đồng của Phật giáo, đi đêm và đứng đằng sau một số sư sãi quá khích, tạo nên tình trạng bất ổn liên tục tại miền Nam. Nhưng thực chất, sau ngày mất miền Nam, đã lộ ra rất nhiều sinh viên Phật tử đứng đầu các cuộc tranh đấu chống Ngô Đình Diệm vốn là những đảng viên hoặc đã hợp tác với (Không dùng từ này), như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh … tại Huế, và Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng, Lê Hiếu Đằng, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm … tại Sài gòn. (Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm đã bị lật đổ, dù không còn vịn vào lý do “đàn áp Phật giáo”, nhưng những người mượn danh Phật giáo này vẫn tiếp tục phản đối các chính quyền kế tiếp, gây bất ổn cho cả nước, đặc biệt tại Huế, miền Trung Việt nam.)
Làm như vậy, chỉ với mục đích để Hoa kỳ biện mình cho việc đưa quân vào Nam Việt nam, cũng như việc tổ chức lật đổ và giết ông Diệm, người luôn phản đối việc Hoa Kỳ đưa quân vào Nam Việt nam, và chỉ yêu cầu được viện trợ trong thời gian miền Nam đang từng bước xây dựng nền cộng hòa non trẻ. Hơn nữa, dù hùng mạnh và giàu có, nhưng quân đội Hoa Kỳ không thích hợp với hình thái chiến tranh tại Việt Nam, lúc ấy đa phần là du kích chiến.
Điều trịch thượng và “phi chánh trị” quái đản khác, từ khi đưa quân ào ạt vào Nam VN, Mỹ mặc nhiên xem cuộc chiến này là của họ. Trong tất cả các cuộc đàm phán, ký kết hiệp định, Mỹ tự cho mình ngang hàng với Bắc Việt và xếp Nam VN ngang hàng với MTGPMN. Trong khi ai cũng biết rằng: MTGPMN chỉ là một nhóm tay sai do Hà Nội dựng lên để lừa bịp quốc tế. (Ngay sau khi vừa chiếm Nam VN, CS đã khai tử MTGPMN, tất cả những nhân vật trong chính phủ của MT này không nhận được bất cứ một chức vụ quan trọng nào, và bị loại dần ra khỏi guồng máy lãnh đạo). Điều đặc biệt tệ hại hơn, Hiệp định Paris ký ngày 27.1.1973 là một áp đặt trắng trợn để ngay sau đó Hoa Kỳ phủi tay khi CSBV công khai ngang nhiên vi phạm.
6/- The Vietnam War quá bất công đối với QLVNCH, một quân đội đã bị bức tử, không còn tiếng nói.
Trong khi Mỹ có 58.220 quân nhân chết tại Việt Nam, thì QLVNCH có đến trên 320.000 binh sĩ tử trận và khoảng hơn 1.200.000 bị thương. Trong Tết Mậu Thân 1968, CSBV đã tung nhiều sư đoàn đánh vào nhiều thành phố Nam VN, QLVNCH đã anh dũng chiến đấu và đập tan ý đồ của địch, gây tổn thất rất nặng nề cho CSBV. Người ta không hiểu vì lý do gì, trong những ngày đầu trong trận Mậu Thân, ở nhiều nơi, Mỹ đã không tham chiến? Và mặc dù CSBV đã vi phạm thỏa ước hưu chiến trong ngày Tết nguyên đán, bất ngờ tổng tấn công vào nhiều thành phố lớn, vậy mà đã không có khả năng chiếm được bất cứ thành phố nào. Chỉ có Huế kéo dài 26 ngày, và CSBV đã giết dã man hơn 6.700 người dân vô tội. Có tiến bộ hơn nhiều phim trước, The Vietnam War có đề cập thoáng qua tội ác này của CSBV, nhưng chỉ nói có khoảng 2.800 người bị giết kèm theo lời xác nhận và bào chữa yếu ớt của một cựu cán binh CS.
Mùa Hè 1972, (Không dùng từ này) đưa một lực lượng quân sự hùng hậu, với xe tăng, đại pháo tối tân của Nga sô cung cấp, từ miền Bắc và Lào xâm nhập Nam VN, dùng nhiều sư đoàn thiện chiến, đánh vào Quảng Trị, Kontum và An Lộc. Lúc này các đơn vị chiến đấu Mỹ đã rút khỏi Nam VN, chỉ có QLVNCH đã chống trả mãnh liệt, tạo những chiến thắng lẫy lừng, giữ vững được các tỉnh lỵ này và gây tổn thất rất lớn cho CSBV. Thời điểm này, Hoa Kỳ cũng đã cắt giảm khá nhiều viện trợ cho Nam VN. (Thêm một điều cần nói: QLVNCH luôn luôn được Mỹ viện trợ vũ khí, chiến cụ kém hiệu năng rất nhiều so với vũ khí, chiến cụ của CSBV được phe CS trang bị.). Một câu hỏi được đặt ra, trong Mùa Hè 1972 này, QLVN Cộng Hòa đã chiến thắng lớn tại Kontum, An Lộc và cả Quảng Trị, nhưng trong The Vietnam War không hề được nhắc tới, thay vào đó lại là hình ảnh của một lực lượng thuộc Sư Đoàn 3 BB phải lui binh khỏi Quảng Trị?
Một cuộc chiến như thế, với những thành tích và sự hy sinh như thế, nhưng trong The Vietnam War, cả một quân đội miền Nam ấy gần như cái bóng mờ nhạt, nếu có đề cập, cũng chỉ là một vài hình ảnh tiêu cực.
- The Vietnam War chỉ đưa ra một vài trận đánh mà QLVNCH không may bị nhiều tổn thất: như Trận Ấp Bắc, Trận Bình Giã… nhưng không hề nói đến những chiến thắng lớn mà Quân lực này đã anh dũng đạt được tại các trân chiến ác liệt như An Lộc, Kontum, Quảng Trị, v.v..., hay Tống Lê Chân (một tiền đồn nằm gần biên giới Việt-Miên, chỉ được phòng thủ bởi 1 Tiểu Đoàn 92 BĐQ/BP, bị lực lượng CS, có khi lên đến cấp trung đoàn luân phiên tấn công vây hãm, pháo kích suốt ngày đêm. Măc dù nhiều tháng không được tiếp tế, tản thương, nhưng TĐ 92/ BĐQ đã anh dũng chiến đấu ròng rã trong suốt 510 ngày (10.5.72 – 11.4.74), sự kiện này cả UBLHQS và UBQT tại Việt Nam đều biết). Một chiến tích đặc biệt khác mà cả quân sử Hoa Kỳ và hồi ký của Tướng Westmoreland đều có ghi nhận đầy đủ: TĐ 37 BĐQ của VNCH được tăng phái cho lực lượng quân đội Hoa Kỳ, bảo vệ tuyến Đông Bắc Phi trường Khe Sanh, mặc dù bị một lực lượng hùng hậu của Cộng quân tấn công và pháo kích liên tục, có những ngày không được tiếp tế, nhưng đơn vị này đã dũng cảm tử chiến với Cộng quân ròng rã trong suốt 70 ngày đêm (21.2.68 – 08.4.68), giữ vững được phòng tuyến và bảo vệ phi trường Khe Sanh, một cứ điểm quan trọng cho sự an toàn của cả một căn cứ nổi tiếng của Mỹ tại Việt Nam.)
- Đặc biệt Trận Ấp Bắc, đúng là đơn vị Nam VN đã không giải quyết được chiến trường, bởi nhiều lý do (trong đó có lỗi lầm của Mỹ), nhưng không phải đến bây giờ, trong The Vietnam War, các nhà đạo diễn mới cố thổi phồng sự tổn thất của Nam VN và không nói đến tổn thất của địch. Phóng viên chiến trường Neil Sheehan, tác giả cuốn “The Bright Shining Lie”, khi ấy đi theo cánh quân thiết giáp do Đại úy Lý Tòng Bá chỉ huy, cũng đã viết rất nhiều điều phóng đại, không thực trong cuốn sách. Sau này, cựu Tướng Lý Tòng Bá gặp lại anh ta tại Mỹ đã chỉ trích điều này, nên anh ta đã viết bài “After The War Over” để gởi tặng cựu tướng Lý Tòng Bá, như một lời xin lỗi về nhiều điều anh đã viết không đúng trong trận Ấp Bắc. John Paul Vann, khi ấy là Trung tá cố vấn tại Sư đoàn 7BB, cũng đã từng nhận định và có những tuyên bố sai lạc về trận Ấp Bắc và cá nhân Đại úy Bá, sau này, năm 1972, khi làm cố vấn cho Quân đoàn II, cùng Tướng Lý Tòng Bá tạo nên chiến thắng Kontum, ông Vann cũng đã chính thức xin lỗi Tướng Bá về những nhận định thiếu chính xác về trận Ấp Bắc trước kia.
Cũng đã có những nhận định là Mỹ cố tạo ra một hình ảnh thất bại của QLVNCH trong trận Ấp Bắc để có cớ đưa quân vào Nam VN.
Trong phim, khi được phỏng vấn, Tom Valley, một cựu TQLC Hoa Kỳ từng tham gia cuộc chiến Việt Nam đã buồn bã thốt lên: “Người Mỹ rất hiếm khi chịu nhìn nhận sự dũng cảm của họ (QLVNCH). Chúng ta tỏ ra khinh thường họ, phóng đại sự yếu kém của họ, chỉ vì muốn khoe khoang tài năng của ta.” Lời nói này là chân thật, nhưng cũng chỉ mới đúng được một nửa.
- The Vietnam War đã cố tình đưa ra một số hình ảnh tuyên truyền quá quen thuộc nhằm gây bất lợi cho Nam VN. Cô bé Kim Phúc bị phỏng bởi bom Napalm ở Trảng Bàng, Tây Ninh, ngày 8.6.72, bị (Không dùng từ này) lợi dụng, tô vẽ cho cả một chiến dịch tuyên truyền, sau này cô đã xin tỵ nạn tại Canada. Trường hợp Tướng Cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan xử tử tên VC Bảy Lốp sau khi tên này đã tàn sát rất dã man cả một gia đình từ bà già cho đến con nít. Và khi ấy tên VC này không hề mang quân phục hay bất cứ giấy tờ gì, thì không thể gọi hắn ta là tù binh để phải hành xử theo luật tù binh chiến tranh được. Hắn ta được xử như một tên khủng bố nguy hiểm, ác độc. Tướng Loan đã được một toà án Hoa Kỳ miễn truy tố, với lý do này.
Phóng viên Eddie Adams, người chụp bức hình xử bắn được giải Pulitzer ấy, đã tìm đến gia đình Tướng Loan xin lỗi, và khi được tin Tướng Loan mất, Eddie đã đích thân đến dự đám tang, khóc nức nở khi đọc bài điếu văn, trong đó có đoạn: “Ông là một vị anh hùng. Cả nước Mỹ nên khóc thương ông mới phải, tôi không muốn nhìn thấy ông ra đi như thế này, người ta không hiểu gì về ông ấy”. (The guy was a hero, America should be crying. I hate to see him go this way - Without people knowing anything about him). Trên vòng hoa phúng điếu của Eddie Adams, có đính một danh thiếp ghi rõ dòng thủ bút: "General! I'm so...sorry. Tears in my eyes" (Thưa Thiếu tướng, tôi rất ân hận. Lệ đã tràn đầy mắt tôi).Bản điếu văn của ông Eddie Adams sau đó được tuần báo Time đăng tải vào ngày 27 tháng 7 năm 1998
Bây giờ, The Vienam War lại đóng thêm những chiếc đinh oan nghiệt trên quan tài của của một người đã chết, đã từng bị sỉ nhục và khốn đốn vì tấm ảnh mang một nửa sự thực, chỉ vì ông là người của Nam VN!
Trong khi ấy, suốt cuốn phim 10 tập, dài đến 18 tiếng đồng hồ, người ta không tìm thấy hình ảnh của CSBV pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy ngày 9.3.74, làm chết 32 và gây thương tích cho 55 em học sinh. Người ta cũng không hề thấy cảnh trên 2.000 đồng bào, rời bỏ làng mạc bị CS chiếm, gồng gánh chạy về phía tự do, bị CS pháo kích tàn sát, nằm chết la liệt trên đoạn đường dài 9 km (QL 1 thuộc tỉnh Quảng Trị) được báo chí đặt tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Một hình ảnh rất đặc biệt mà đến nay nhiều báo chí tại Hoa Kỳ vẫn còn nhắc đến, một bé gái 4 tháng tuổi ôm bú vú người mẹ chết từ mấy ngày trước, đã được một binh sĩ TQLC/ VNCH cứu, mang về giao cho một viện mồ côi. Sau đó, cháu bé được một trung sĩ Mỹ nhận làm con nuôi, đưa sang Mỹ vào cuối năm 1972, và sau này trở thành một sĩ quan cao cấp trong Quân đội Hoa kỳ: Đại Tá Kimberly M. Mitchell! Người Mỹ đã ca ngợi cô đại tá Hải quân gốc Việt này, nhưng trong The Vietnam War không hề nhắc tới Đại Lộ Kinh Hoàng!
Khi The Vietnam War được thực hiện và trình chiếu tại Hoa Kỳ, thì không phải chỉ có Thủ tướng hay Chủ tịch nước mà ngay cả Tổng Bí thư Đảng CS Nguyễn Phú Trọng đã được chính phủ Mỹ tiếp đón tại Tòa Bạch ốc, Việt Nam được Mỹ “dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí”, “bình thường hóa toàn diện” rồi trở thành “đối tác chiến lược” của Hoa Kỳ. Trong khi đó tại Việt Nam, Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, nơi chôn cất hơn 16.000 binh sĩ Nam Việt Nam tử trận vẫn tiếp tực bị tàn phá, hoang phế, ngăn cấm thân nhân đến sửa sang, thăm viếng, và những thương binh VNCH vẫn tiếp tục bị CS lên án, kỳ thị, phân biệt đối xử.
The Vietnam War, với sự thiên lệch, giả dối chỉ khoét sâu thêm vết thương chưa lành trên thân phận của một đất nước từng tan nát bởi chiến tranh và đặc biệt của những người lính bất hạnh Nam VN, vốn là những ngươi bạn đồng minh của Hoa Kỳ!
28.10.2017

Phạm Tín An Ninh
(một người lính VNCH)

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 11 2017, 04:09 PM
Gửi vào: #250


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



NƯỚC MẮT NGUYỄN BẢO NGUYÊN KHÔNG CHẢY QUA SÔNG POTOMAC
Hôm 26 tháng 10, 2017, từ Nha Trang, cháu Bảo Nguyên, con gái của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh viết lá thư gởi bà Melania Trump, trong đó những đoạn đầy cảm động:
“Con có đọc trên mạng và biết gia đình Bà sẽ tới thăm Việt Nam để dự đại hội APEC. Chỉ còn vài ngày nữa là đã tới ngày sinh nhật con và em con là Gấu, thế là một lần sinh nhật nữa mà không có mẹ bên cạnh chúng con. Chúng con yêu mẹ nhiều lắm và chỉ mong muốn mẹ về với chúng con. Xin Bà hãy giúp gia đình con được đoàn tụ vì con biết mẹ con chẳng làm gì sai cả và vì chính Bà cũng đã trao tặng giải thưởng “Phụ nữ can đảm” cho mẹ con, con và gia đình con xin thay mẹ cảm ơn Bà lần nữa…”
Báo chí và các hãng tin lớn thế giới như Reuters sau đó đã loan tin. Tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam cũng ghi nhận lá thư, nhưng tuyệt nhiên không có đáp ứng chính thức nào từ Washington DC.
Trước ngày TT Trump công du Á Châu, không ít người Việt tin tưởng bà Melania Trump sẽ yêu cầu (Không dùng từ này) thả Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Chẳng những thế, có vài nguồn tin còn cho rằng bà Melania Trump sẽ vào tận nhà tù CS để thăm em.
Nước Mỹ xây dựng trên nền tảng dân chủ và luôn cổ vỏ cho các giá trị nhân quyền, dân chủ. Vâng, nhưng những giá trị đó luôn đứng sau quyền lợi của nước Mỹ. Chính sách đối ngoại của TT Trump gần một năm qua cho thấy ông là một nhà giao thương chuyên nghiệp (dealmaker) với mục đích tối hậu là quyền lợi của nước Mỹ (America First).
Trong tác phẩm The America We Deserve, Donald Trump chủ trương các biện pháp đối ngoại mềm dẻo với Nga và cứng rắn với Trung Cộng.
Sau khi đắc cử, ngày 3 tháng 12, 2016, TT Trump đã nhận điện thoại của TT Đài Loan Thái Anh Văn và điều đó mặc nhiên cho rằng chính sách của Hoa Kỳ từ năm 1979 nhìn nhận Đài Loan là một phần của Trung Quốc không còn giá trị. Chẳng những thế ông còn hứa trả đũa Trung Cộng về chính sách vận dụng tiền tệ có lợi quá nhiều cho Trung Cộng trước đây.
Những điều đó hôm nay đã thay đổi. Ưu tiên của TT Donald Trump là ổn định Bắc Hàn và làm ăn với Trung Cộng. Thương vụ 250 tỉ đô la vừa qua đã nói lên điều đó. Do đó, đừng ngạc nhiên khi Mỹ chấp nhận trò ngoại giao “đu dây” của (Không dùng từ này) đến khi nào trò “đu dây” còn phục vụ cho quyền lợi của Mỹ.
Giải Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm không phải do TT Trump lập ra mà đã được thành lập từ năm 2007 và đã trở thành truyền thống. Số phụ nữ được giải mỗi năm mỗi khác và do các nhân viên phụ trách giải đệ trình. Năm 2017, con số lên đến mười ba vị. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh là phụ nữ Việt Nam thứ hai được vinh danh.
Giống như các tuyên ngôn, tuyên cáo, áp lực quốc tế, lá thư của Nguyễn Bảo Nguyên là một việc nên làm, không phải vì gởi cho bà Melania Trump mà là để gióng lên tiếng động về thực tế tù ngục tại Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu nghĩ rằng Mỹ sẽ đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện trên bàn hội nghị với (Không dùng từ này) là một điều không đúng với thực tế chính trị dưới thời Donald Trump, đừng nói chi là vào tận nhà tù thăm em. Không có bà Melania Trump lần này hay bà Hillary Clinton, bà Laura Bush nào trước đây vào nhà tù để thăm một tù nhân dưới chế độ (Không dùng từ này).
Nguyễn Ngọc Già, Cấn Thị Thêu, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài v.v... là người Việt Nam, và chỉ người Việt mới biết đau từ vết thương của đồng bào mình đang rỉ máu trong nhà tù CS.
Nước mắt của Nguyễn Bảo Nguyên chỉ chảy trong Sông Cái ở Nha Trang chứ không chảy qua sông Potomac ở Washington DC xa lạ.
Trần Trung Đạo
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 20 2017, 10:54 AM
Gửi vào: #251


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ai phải chịu trách nhiệm trong việc "đốt" hàng chục ngàn tỷ tại Venezuela

Thời gian qua, khi những thông tin về việc đất nước đang tiến lên “Thiên đường XHCN” Venezuela đang có nguy cơ vỡ nợ, khiến cho giới lãnh đạo Đ(Không dùng từ này) như ngồi trên đống lửa. Bởi vì họ đã ôm “giấc mộng vàng”, khi liều mạng đầu tư vào đất nước này một số tiền lớn theo lời dụ ngọt của Tổng thống Venezuela - Hugo Chávez với hy vọng cùng người em vĩ cuồng này cùng dắt tay nhau đưa hai đất nước tiến lên XHCN.

Và hôm nay, việc Venezuela vỡ nợ đã trở thành hiện thực chứ không còn là nguy cơ nữa, thì giới chóp bu (Không dùng từ này) im re, không dám hé răng.

Trước hết nói về đất nước Venezuela

Là một đất nước giàu có và thanh bình bậc nhất Nam Mỹ, Venezuela được đánh giá là quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới. Ước tính trữ lượng dầu của đất nước này là 297.570 triệu thùng, hơn cả Vương quốc dầu mỏ Trung Đông là Ả Rap Saudi (ước tính 267.910 triệu thùng).

Nhưng kể từ năm 1999, khi Hugo Chávez của Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela (PSUV) lên làm tổng thống, đưa đất nước Venezuela đi theo ý thức hệ chính trị chủ nghĩa Bolivar và "chủ nghĩa Xã hội thế kỷ 21". Và từ năm 2013, khi Nicolas Maduro lên thay Hugo Chávez, do quản lý kinh tế yếu kém và tham nhũng tràn lan, đã đưa đất nước này chìm vào cơn khủng hoảng triền miên.

Từ một đất nước có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới giờ đây đã phải đi nhập khẩu dầu mỏ, không cung cấp đủ điện sinh hoạt cho người dân, không nhập được nguyên liệu để nhà máy hoạt động, không mua nổi lương thực hay thuốc men, và thậm chí không có đủ việc làm để cho mỗi công chức có thể đi làm nhiều hơn 2 ngày một tuần, lạm phát đạt hơn 1.500% trong năm nay. Những hàng tiêu dùng cơ bản nhất, từ bánh mì đến giấy vệ sinh, đều thiếu thốn trầm trọng. Đến nỗi họ không còn tiền để in tiền.

Nhưng kinh tế chưa phải là điều tồi tệ nhất. Điều tồi tệ nhất là đây là một quốc gia thất bại, một nhà nước trên bờ vực sụp đổ. Trật tự xã hội Venezuela mong manh như một tờ giấy, hiện nước này có tỷ lệ giết người cao thứ hai thế giới, tình trạng cướp phá tràn lan không thể khống chế được(1).

Mô hình xây dựng XHCN của Hugo Chávez đúng là đã đưa đất nước Venezuela “Xuống Hố Cả Nút”. Đúng như mong muốn của ông ta.

Tai họa từ Đinh La Thăng và Nguyễn Tấn Dũng

Từ dự án “khủng” trên giấy.

Năm 2007, khi Hugo Chávez đang còn trong thời kỳ oanh liệt, ông Đinh La Thăng còn làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn dầu khí quốc gia VN (PVN) xin phép Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, xin được đàm phán với Công ty dầu khí quốc gia Venezuela về việc thành lập một liên doanh khai thác dầu giữa hai nước.

Tháng 6/2010, “Dự án khai thác và nâng cấp dầu nặng lô Junin 2” được chính thức ra mắt. Tổng mức đầu tư được loan báo lên tới 12,4 tỉ USD.

Ngoài tính chất “siêu dự án” về mặt quy mô vốn đầu tư, lô Junin 2, được PVN báo cáo Chính phủ nằm ở khu vực có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, cho phép khai thác công suất 1.400 tỉ thùng. Theo tỷ lệ vốn góp 40%, PVN có thể thu về 4 triệu tấn dầu/năm, dự kiến hoàn vốn sau 7 năm. Con số này tương đương 70% sản lượng dầu của Vietsovpetro, liên doanh dầu khí đầu tiên và lớn nhất tại VN.

Phần vốn mà VN phải đóng góp tương ứng với tỷ lệ tham gia 40% trong hợp đồng là 1,241 tỉ USD. Nếu tính cả “phí tham gia hợp đồng” (bonus) 584 triệu USD thì tổng nhu cầu vốn của phía VN là 1,825 tỉ USD.

Chưa kể các chi phí đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD, chỉ riêng tiền mặt mà PVN trực tiếp trao cho Venezuela, một đi không trở lại, đã lên đến 532 triệu USD: 442 triệu tiền “bonus” (phí tham gia), 90 triệu tiền góp vốn ban đầu.

Tháng 4/2013, ban lãnh đạo mới của PVN đã quyết định bỏ dự án này để “cứu” khoản tiền phải nộp lên đến 142 triệu USD, chấp nhận bỏ hơn 500 triệu USD, cho dù chưa thu được giọt dầu nào.

Lừa ma dối quỷ và qua mặt các bộ, ngành

Để thuyết phục sự chấp thuận của các bộ, ngành, PVN đã báo cáo rằng sản lượng của Junin 2 lên đến “200.000 thùng/ngày, tương đương 10 triệu tấn/năm”.

Bộ trưởng KH-ĐT Võ Hồng Phúc đã phân tích các rủi ro tại thị trường Venezuela, đặc biệt là về tài chính, và đã yêu cầu “phải được cân nhắc hết sức thận trọng, đặc biệt khi nó được đầu tư bằng vốn nhà nước và vốn vay của DNNN”.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng bày tỏ lo ngại khi dự án chưa làm rõ được rủi ro tại quốc gia đầu tư, khả năng huy động vốn, trong đó làm rõ về thời gian ân hạn khoản vay.

Bộ Tài chính cũng cảnh báo về một loạt các yếu tố rủi ro về khoản góp vốn của VN khi chưa có đánh giá cụ thể, chưa cập nhật các chi phí, tỷ suất thu hồi vốn…

Không xin chủ trương của Quốc hội

Ngày 5/8/2010, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đã có văn bản gửi PVN, yêu cầu phải khẩn trương hoàn tất hồ sơ dự án để trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.

Ngày 10.8.2010, Bộ Tài Chính cũng có công văn khẳng định rằng, theo Nghị quyết 49/2010/QH12 thì PVN phải lập hồ sơ trình xin chủ trương Quốc hội. Nhưng tất cả những ý kiến trên đều bị Đinh La Thăng bỏ ngoài tai, và quyết đầu tư cho bằng được dự án này.

Mất hàng trăm triệu USD phi lý

PVN đã ký hợp đồng lập liên doanh với Venezuela vào ngày 29/6/2010, trước khi các cấp có thẩm quyền chính thức cho phép. Nhưng điều đáng nói là như công văn của Bộ Tài chính chỉ ra, trong hợp đồng này, PVN đã chấp nhận một điều khoản cực kỳ phi lý: Phía VN phải trả “phí tham gia” (bonus) cho Venezuela với mức 1 USD/thùng dầu. Trong vòng 30 tháng, bất kể có dầu hay không, PVN vẫn phải nộp đủ phí này là 584 triệu USD bằng tiền mặt.

Trong khi “kết quả khoan và khai thác siêu sớm không đạt được như kỳ vọng nên bức tranh sản lượng toàn mỏ có khả năng không được như dự kiến”, ngày 12/5/2013, PVN vẫn phải nộp cho Venezuela 142 triệu USD (đợt 3).

15 ngày sau thời hạn này, nếu không nộp đủ tiền, “toàn bộ cổ phần” của PVN trong liên doanh sẽ “tự động bị chuyển” cho đối tác Venezuela; phía PVN/PVEF cũng sẽ “không được quyền thanh toán hoặc đền bù bất cứ đồng nào từ các khoản đã đóng góp, vay vốn hay đầu tư” ở Junin 2.

Năm 2013, ban lãnh đạo mới của PVN đã phải quyết định đơn phương không thực hiện bản cam kết này vì nếu có góp thêm 142 triệu USD cũng chưa chắc thu được thùng dầu nào, chấp nhận mất 442 triệu USD tiền “phí tham gia”, 90 triệu USD tiền góp vốn và các chi phí lớn khác mà đến nay vẫn chưa khắc phục xong hậu quả (2).

Toàn bộ những sai phạm trên đây, từ năm 2007 đến 2013 là thời kỳ ông Đinh La Thăng, và sau đó là ông Phùng Đình Thực làm Chủ tịch Hội đồng quản trị PVN. Xuyên suốt trong thời kỳ này là chính phủ của TT Nguyễn Tấn Dũng.

Với một dự án lớn và được hứa hẹn một tương lai sáng ngời như vậy, dứt khoát ông Nguyễn Tấn Dũng phải thông qua Bộ Chính trị, mà người đứng đầu là TBT là Nông Đức Mạnh.

Ngoài việc nướng hàng chục ngàn tỷ vào dự án khai thác dầu tại Venezuela mà kết quả chẳng thu về được giọt dầu nào, theo Kết luận của UBKTTƯ, ông Đinh La Thăng còn làm thất thoát hàng mấy ngàn tỷ tại các dự án đắp chiếu thời ông làm Chủ tịch Tập đoàn PVN.

Đến thời ông làm Bộ trưởng GTVT, thì hàng trăm dự án BOT mọc lên nhan nhản khắp cả nước không qua đấu thầu, làm trên những con đường cũ, chỉ “tráng men” cho có rồi lập trạm thu tiền, như kiểu đơm đó. Làm cho người dân từ Nam chí Bắc phản ứng dữ dội vì những trạm BOT hút máu dân một cách trắng trợn và phi lý này.

Trong mấy chục năm cầm quyền của Đ(Không dùng từ này), có lẽ chưa có cặp đôi nào có thành tích xuất sắc trong việc “làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân” (chữ của nữ NS Kim Chi) như cặp đôi Nguyễn Tấn Dũng- Đinh La Thăng.

Nếu như hai trẻ em chưa đến tuổi thành niên Nguyễn Hoàng và Ôn Thành Tân đã bị TAND quận Thủ Đức xử 10 tháng tù và hơn 8 tháng tù vì đói mà cướp 2 ổ bánh mì ngọt và 3 bịch me, trị giá 45 ngàn đồng. Thì với Nguyễn Tấn Dũng và Đinh La Thăng, phải xử như thế nào để chứng tỏ nền Tư pháp XHCN là tiên tiến, văn minh và công bằng?
16/11/2017
Phương Trạch


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Nov 20 2017, 10:55 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 27 2017, 12:24 PM
Gửi vào: #252


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Nổi tiếng với đủ ba yếu tố: Tâm, tầm và tài, những “người chèo đò” vĩ đại này mãi mãi được sử sách Việt Nam lưu danh.

1. Thầy giáo Chu Văn An (1292-1370)

Ngược dòng thời gian trở về hơn 600 năm trước để cùng tìm hiểu về một người thầy lỗi lạc mà nhân dân đời đời ngưỡng mộ – thầy Chu Văn An, người đã có công lớn trong việc xây dựng Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Cả cuộc đời thầy đã “làm thầy giỏi của một thời đại, để đạt tới thầy giỏi của muôn đời”, dạy dỗ Vua Trần Hiển Tông và đào tạo ra những vị quan có tài và thanh liêm cho triều đình nhà Trần.

Trong thời gian đứng đầu Quốc Tử Giám, thầy Chu Văn An có nhiều đóng góp trong việc hoàn thiện chương trình truyền dạy tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam và được lưu danh là “ông tổ của đạo Nho ở Việt Nam”. Thầy là người tài cao đức trọng, giữ chức Tư nghiệp đầu tiên và trong một thời gian dài, cũng là người đầu tiên được đưa vào thờ tại Văn Miếu.

Thầy Chu Văn An từng thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở quê nhà (làng Huỳnh Cung bên sông Tô Lịch (Hà Nội). Thầy nổi tiếng có học vấn sâu rộng, tư cách thanh cao, không cầu danh lợi, danh tiếng lan xa, học trò theo học rất đông.

Thầy Chu Văn An luôn đối xử bình đẳng và công bằng với các lứa học trò từ bậc cao nhất cho đến lớp học trò bình thường ở nông thôn. Thầy cũng rất nghiêm nghị và gương mẫu. Những học trò cũ đã làm quan to như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát lúc về thăm thầy vẫn phải khép nép giữ gìn, và nếu có điều gì chưa đúng phép, thầy vẫn nghiêm khắc dạy bảo. Điều này càng khiến thầy được học trò kính mến hơn.

Thầy Chu Văn An được tôn là Vạn thế sư biểu – người thầy chuẩn mực của Việt Nam muôn đời

Thầy được tôn là Vạn thế sư biểu – người thầy chuẩn mực của Việt Nam muôn đời. Trần Nguyên Đán đã đánh giá về những đóng góp của thầy như sau: Nhờ có Chu Văn An mà “bể học xoay làn sóng, phong tục trở lại thuần hậu”.

Sự liêm khiết, chính trực và công tâm của Thầy giáo Chu Văn An cũng nhắc nhở những thế hệ nhà giáo luôn vì sự tiến bộ của giáo dục, sự nâng cao dân trí mà không ngừng phấn đấu để làm phong phú và dồi dào nguồn nguyên khí quốc gia. Không phải chỉ 6 thế kỷ qua, mà hàng thiên niên kỷ sau, có lẽ người ta vẫn không thôi nhớ đến người thầy vĩ đại đã dành cả cuộc đời chở đạo, những công lao và tiếng thơm về thầy đã khắc sâu trong tâm tưởng mỗi con dân Việt từ thủa ấu thơ.

2. Thầy giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)

Một cây đại thụ tỏa rợp bóng ở thế kỷ XVI – Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là một danh nhân văn hóa, một nhà thơ lớn, một bậc hiền triết, một nhà tiên tri đại tài mà còn là một nhà giáo vĩ đại, một bậc sư biểu được người đời tôn vinh, ngưỡng mộ.

Thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đỗ Giải Nguyên đời nhà Mạc (1527-1592). Làm quan được 8 năm, năm 1542, thầy dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan về ở ẩn lập Am gọi Bạch Vân Am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học.

Hơn 40 năm lui về Bạch Vân am dạy học là hơn 40 năm thầy dồn hết tâm huyết đào tạo nhiều tri thức lớn cho đất nước. Học trò của thầy đều là những nhân tài xuất chúng, văn võ song toàn như Phùng Khắc Khoan, Lý Hữu Khánh, Nguyễn Quyện… Danh tiếng và tài năng của thầy và trường Bạch vân bên dòng Tuyết Giang vang dội khắp nơi.. Thầy được các môn sinh tôn là “Tuyết Giang phu tử” – Một danh xưng tôn kính cho những bậc sư biểu đức độ.

“Tuyết Giang phu tử” – Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà tiên tri số 1 Việt Nam.

Đồn rằng, do được truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” nên thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông về lý học, tướng số, có thể tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Với những câu “sấm truyền”, thầy được người đời suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam. Giai thoại cùng với những lời sấm tiên tri của thầy vẫn còn được truyền tụng tận đến ngày hôm nay và ứng nghiệm đến bất ngờ.

Lúc sinh thời, thầy đã dùng tài lý số của mình “cứu vãn” cho triều nhà Mạc tồn tại được một thời gian khá dài. Tương truyền rằng, lúc nhà Mạc sắp mất liền sai người đến hỏi thầy. Thầy đã đưa ra lời sấm cho nhà Mạc rằng: “Cao Bằng tàng tại, tam đại tồn cô”. Nghĩa là nếu chạy lên Cao Bằng thì sẽ tồn tại được 3 đời. Quả nhiên, nhà Mạc lên Cao Bằng thì tồn tại được thêm 3 đời.

Thầy cũng đưa ra lời sấm cho nhà Nguyễn, mà nhờ đó nhà Nguyễn mới tiến vào Nam mở rộng bờ cõi để đất nước ta có hình thái như ngày hôm nay.

Còn với triều đại thứ 3 cùng tồn tại khi ấy là nhà Trịnh, thời điểm vua Lê Trung Tông mất không có người nối dõi, Trịnh Kiểm định soán ngôi nhà Lê nhưng chưa dám quyết nên đã sai người tới hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thầy cũng chỉ nói: “Giữ chùa thờ phật thì ăn oản”, ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn. Trịnh Kiểm nghe theo liền sai người đi tìm tôn thất nhà Lê đưa lên ngôi. Họ Trịnh mượn tiếng nhà Lê nhưng thực chất nắm quyền điều hành chính sự, hai bên cùng tồn tại tới hơn 200 năm. Vì thế mà có câu: Lê tồn, Trịnh tại.

Có đôi câu đối ở đền thờ Bạch Vân am “Kế tuyệt, phù suy Chư Cát Lượng/ Tri lai, tàng vãng Thiệu Nghiên Phu” (Nối được cái đã đứt, đỡ được cái đã suy như Chư Cát Lượng/Tìm hiểu việc đã qua, dự đoán việc mai sau như Thiệu Nghiên Phu). Tiếng tăm của thầy không chỉ nổi ở trong nước mà còn vang đến tận Trung Hoa, khiến giới học giả ở đó cũng ngưỡng mộ xưng tụng: “An Nam lý số hữu Trình Tuyền”.

3. Thầy giáo Lê Quý Đôn (1726-1784)

Lê Quý Đôn nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê ở Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Ngay từ nhỏ thầy đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, thầy theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy thầy đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, thầy thi Hương đỗ Giải Nguyên. 27 tuổi đỗ Hội Nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn.

Sau khi đã đỗ đạt, thầy được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê – Trịnh. Thầy là người học rộng, tài cao, am thông nhiều lĩnh vực như: khoa học tự nhiên, địa lý, khoa học xã hội, văn chương, sử học,… luôn được vua, quan và nhân dân kính nể.

Thầy Lê Quý Đôn không chỉ là một nhà bác học mà còn là người thầy xuất sắc ở nước ta hồi thế kỷ XVIII. Thầy từng mở trường dạy học, có nhiều học trò theo học, và còn lưu được ân tình đằm thắm đối với học sinh. Thầy phụ trách các kỳ thi, lo lắng quan tâm tới việc đào tạo và tuyển dụng các nhân tài.

Thầy Lê Quý Đôn không chỉ là một nhà bác học mà còn là người thầy xuất sắc ở nước ta hồi thế kỷ XVIII

Trái với những nho sĩ chỉ biết nhồi nhét những lý luận kinh điển xa xôi mà coi thường, thậm chí không biết gì đến các môn học khác thì thầy cho rằng cần phải học tập toàn diện. Thầy cũng đã nêu lên một số ý kiến về phương châm học tập, chủ trương học phải biết nắm lấy cái chính: “Không thể vu vơ theo việc ngọn ở ngoài mà không tìm tòi đến chỗ gốc ở trong. Nếu không thể mà cứ vật gì cũng xét cho đến cùng, cho đủ cả thì chẳng hoá ra vì đường có nhiều lối rẽ mà đến nỗi lạc mất dê ư?”

Thầy cũng căn dặn rằng học hành phải có óc suy luận, không chỉ phụ thuộc vào sách vở: “Sách không hết lời, lời không hết ý… Phải hiểu ngầm ý của thánh nhân ở ngoài lời sách mới được”. (Dịch kinh phu thuyết).

Thầy còn khuyên: “Dù ngu dốt đến đâu, cũng nên kính giấy, tiếc chữ, dù keo bẩn đến đâu cũng tìm mua sách vở”. Thầy cho rằng biết học thì không thể biện lẽ thiếu thì giờ.

Hình ảnh thầy Lê Quý Đôn tận tụy truyền dạy phương pháp học tập tiến bộ và kiến thức cho học trò đã là tấm gương sáng cho nhiều thế hệ noi theo. Thầy giáo Lê Quý Đôn thực sự xứng đáng với danh hiệu Người thầy mẫu mực và luôn được người đời tôn kính.
Hiểu Minh
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 7 2017, 11:42 AM
Gửi vào: #253


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Cái tôi !

Từ Thức (VNTB) - Tại sao cái tôi, cái ‘’égo‘’ của người Việt lớn thế? Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ: tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế?

Một lần ngồi nhậu với 5 ông , có cảm tưởng ngồi với 5 giải Nobel văn chương. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói "ông", vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.

In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo. Làm vài bài thơ, câu trên (vần hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Beaudelaire, Nguyễn Du tái sinh. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.

Một ông bạn in một tấm danh thiếp khổ lớn, dầy đặc những chức tước, trong đó có "nhà nghiên cứu". Những người quen không biết ông ta nghiên cứu cáí gì, lúc nào. Tôi đáng nhận là nhà nghiên cứu hơn, vì thỉnh thoảng vẫn vào Google tìm mẹo trị mắc xương cá, hay cách nấu canh hẹ tầu hũ.

Nghĩ cũng lạ, cái TÔI to tổ bố ở một xứ như VN. VN, xứ của văn hoá Phật giáo, một tôn giáo coi cái ngã là hư cấu, cái tôi không có thực. Nơi chịu ảnh hưởng Lão giáo, những người đã ra suối rửa tai khi nghe thiên hạ nhắc tới tên mình. Nơi người công giáo thực hành đạo nhiệt thành, và Công giáo coi vị tha, nghĩ tới người khác, là đức tính hàng đầu.

Không lẽ người Việt không hiểu tôn giáo mình đang theo?

Có ai đã gặp một người Nhật vỗ ngực: tôi, tôi, tôi. Nói chuyện với người Nhật, trong những cơ hội hơi chính thức, chưa gì họ đã mang giấy bút ra ghi chép. Làm như những điều bạn nói là khuôn vàng, thước ngọc.

Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong tự điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn. Nhiều lần tôi gân cổ cãi với bạn bè, về nhà nghĩ: không chừng nó có lý. Tại sao không nhìn nhận ngay? Bởi vì cái tôi nó lớn quá.

Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng: ông nội này mất gốc rồi.

Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm ông ta, xúc phạm Chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo, chụp mũ.

Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm? Trong cái kiêu hãnh lố bịch của người "mang dép râu mà đi vào vũ trụ" có cái tự ti của những người vẫn mang dép râu ở thế kỷ 20, 21.

Trong y học, égocentrisme là một cái bệnh, pathologie. Và trong 9 trên 10 trường hợp, những người có mặc cảm tự cao, tự đại (complexe de supériorité) là để che đậy tự ti mặc cảm (complexe d’infériorité).

Những người có thực tài rất khiêm nhượng, vì họ không so sánh với người khác. Họ so sánh mình với mình, so sánh mình hôm nay với mình hôm qua, so sánh tác phẩm mới với tác phẩm cũ của chính mình. Và thường thường thất vọng.

Khi một nghệ sĩ thoả mãn với tác phẩm của mình, anh ta hết là nghệ sĩ. Anh ta không tìm tòi nữa, anh ta về hưu. Như một công chức, một tài xế xe đò về hưu.

Thomas Edison nói nếu hài lòng với đèn dầu, tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra điện. Người Việt ta dễ thoả mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ "tự sướng" quá. Hậu quả là cái gì của ta nó cũng nho nhỏ. Cùng lắm là xinh xắn, dễ thương, nhưng đồ sộ, vĩ đại thì không có. Không thể có. Tham vọng nhỏ, thành quả nhỏ.

Pablo Picasso khi thành công, được ca tụng ở "période rose" (thời kỳ hồng), nếu thỏa mãn, sẽ không có "période bleue" (thời kỳ xanh). Nếu thoả mãn với "période bleue" sẽ không có tranh trừu tượng, đưa hội họa đi vạn dặm. Một giai thoại: Picasso mời bạn bè ăn tiệm. Cuối bữa ăn, gọi tính tiền. Chủ tiệm nói xin miễn chuyện tiền bạc, được tiếp Picasso là hân hạnh rồi. Pablo vẽ vài nét trên tấm khăn phủ bàn, tặng chủ tiệm. Ông này nói xin maître ký tên. Picasso trả lời: tôi chỉ trả bữa cơm, không muốn mua tiệm ăn.

Nếu Picasso là người Việt, sẽ thấy đời mình đã quá đủ để thoả mãn: vua biết mặt, chúa biết tên, chữ ký đáng ngàn vàng, chỉ việc ngồi hưởng và chiêm ngưỡng dung nhan mình. May mắn cho hội họa, ông ta là người Tây Ban Nha, hỳ hục tìm tòi cho tới chết.

Mỗi lần nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn chương.

Họ khiêm nhượng, ngập ngừng, do dự, gần như cáo lỗi sắp sửa nói những điều tào lao.

Le Clézio, Nobel 2008, khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay. Modiano, Nobel 2014, tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói: thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông ta thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải. Ông ta nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ.

Những năm đầu ở Pháp, có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris. Bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy, bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông mời vào nhà, uống trà, hỏi chuyện về Phật giáo mà ông nói đọc nhiều, nhưng có điều không hiểu. Thí dụ ông muốn so sánh khái niệm về Niết bàn của Phật giáo với thiên đàng của Thiên Chúa giáo.

Ông là một người công giáo thuần thành, nhưng muốn tìm hiểu về những tôn giáo khác.

Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV, chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất 7 lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.

Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu, như Pierre Boulez, Iannis Xenakis hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opéra "Saint-Francois d’Assise" của ông được trình diễn trên khắp thê giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven.

Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo... Tiền bản quyền nhạc đem tặng - một cách kín đáo - các hội từ thiện, hay giúp trùng tu nhà thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót.

Ai biết hai ông bà già, lễ độ, gần như vụng về, xếp hàng mua ổ bánh mì, là những nhân vật chiếm chỗ lớn trong bất cứ một tài liệu nào về âm nhạc cổ điển cận đại, tuần trước còn là thượng khách của hoàng gia Thụy Điển.

Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien - chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn – VN sẽ là một dân tộc trưởng thành. Trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục leo lên nóc nhà, gào: tại sao tôi tài giỏi quá như vậy. Khi gào mỏi, leo xuống, đóng áo thụng vái nhau.

Đó cũng là một trò vui, nếu hậu quả không nghiêm trọng. Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn. Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau, vì cái TÔI nó lớn quá. Lớn hơn cả vận mệnh dân tộc.


Tu Thuc
(Paris, tháng 10. 2017)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 8 2017, 10:36 PM
Gửi vào: #254


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Bài viết của BS Đức hay quá. Nên đọc lúc về già

1- Lúc về già mình sẽ tuyệt đối không được chủ quan nghĩ rằng còn khoẻ, còn sung sức để nghĩ và làm những việc như hồi thanh niên.
Lúc về già mình sẽ không tham gia hội đoàn hay bất cứ công việc gì liên quan đến chính quyền. Không phải mình thiếu trách nhiệm, chỉ đơn giản vì thời điểm đó sức khỏe, trí tuệ xuống dốc rồi, tụi trẻ nó làm giỏi hơn. Đầu hai thứ tóc đi tranh việc với một đứa nó làm tốt hơn mình là sao?

2- Lúc về già mình sẽ không bao giờ đến cơ quan cũ nếu như chưa nhận được một lời mời trân trọng, vào những dịp đặc biệt...
Nếu đến mình cũng chỉ cúi đầu lễ phép chào lớp trẻ rồi chuyện phiếm với đồng niên, đồng nghiệp. Mình phải tự dặn mình rằng có nói gì chúng cũng chẳng nghe, vì mọi điều mình nói đã lỗi thời, cho dù bên dưới chúng chăm chú nhìn, đầu gật gật, rồi vỗ tay rất dài. Và dĩ nhiên chúng nó có báo cáo báo cò mình cũng chẳng nên quan tâm, tò mò tìm hiểu, vì đã lâu mình không cập nhật hay update, đâu còn hiểu được thời thế.

3- Lúc về già mình sẽ không sống chung với bất cứ đứa nào, chỉ sống với...vợ. Nếu cứ thương con cái, sống với chúng nó thể nào cũng đến lúc mình ở trọ trong chính ngôi nhà của mình. Con không có tiền mua nhà thì thuê, không đủ tiền thuê mình hỗ trợ, quyet không ở chung, trai gái dâu rể gì cũng vậy hết, một tuần đến thăm nhau 1 lần vào ngày cuối tuần là đủ.

4- Lúc về già... rất già, mình sẽ phải đặt chỗ ở một trung tâm dưỡng lão nào đó. Tiền ít ở chỗ xoàng, tiền nhiều ở chỗ tươm. Chọn Trung tâm có chăm sóc y tế tốt để không bắt con cháu phục dịch lúc yếu đau. Chúng nó còn phải đi làm. Lúc đi về phía bên kia mặt trời cũng tại Trung Tâm luôn. Con cháu chỉ cần đến nhà tang lễ làm thủ tục theo nghi thức, không khóc cũng không sao, vui càng tốt. Chẳng có lý do gì để khóc. Đó là quy luật của tạo hoá. Bất cứ cái gì tồn tại nguyên vẹn lâu quá chỉ tổ làm cho xã hội trì trệ.

5- Lúc về già mình sẽ chỉ nói hai chữ "ngày xưa" (đúng hơn là những câu chuyện hoài niệm) với bạn đồng niên, tuyệt đối không nói với lũ trẻ, vì chúng sẽ cho mình bị dở hơi. Với tụi trẻ chỉ nói "ngày mai" và chỉ trả lời khi chúng hỏi. Kinh nghiệm và vốn sống (mà nhiều người cho là báu vật) đối với mình khi đó chỉ để chiêm nghiệm. Cùng lắm là biến nó thành những câu chuyện trào phúng để tự cười cợt mình, cũng chẳng làm ai bực mình.

6-Lúc về già, mình sẽ cố không nghĩ khác những điều mình đã nghĩ như ở trên. Chẳng biết có làm được không?

Càng lớn tuổi chúng ta càng nhận ra:

* Mang một chiếc đồng hồ $30 hay $300 cũng cùng chỉ một giờ

* Mang một chiếc túi/bóp $30 hay $300 cũng cùng đựng bấy nhiêu tiền

* Uống một chai rượu $15 hay $300 cũng say giống nhau

* Ở trong căn nhà 100 mét vuông hay 1000 mét vuông nỗi cô đơn cũng giống nhau

* Lái chiếc xe $8000 hay $80,000 cũng phục vụ ta cùng mục đích chuyên chở

* Hạnh phúc nội tâm không đến từ vật chất trong thế gian này

* Có những bạn bè, anh chị em, những người nói chuyện, cười đùa, hát xướng tán gẫu với ta đó mới là hạnh phúc ...

6 vị Bác sĩ tốt nhất trong đời:

* Ánh nắng mặt trời
* Nghỉ ngơi
* Thể dục
* Ăn uống điều độ
* Tự tin
* Bạn bè

Hãy giữ 6 vị này cho mọi thời điểm trong đời để tận hưởng một cuộc sống khỏe mạnh

Càng có tuổi chúng ta càng thấy ít đi những điều đáng phải sắp hàng chờ đợi ...
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 17 2017, 11:23 AM
Gửi vào: #255


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



SƠ LƯỢC NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM
Hồ Đình Vũ

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó...riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy ?

Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.

Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác - để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

1.- Tên do địa hình, địa thế
Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, Tỉnh Bến Tre: ‘’Gió đưa gió đẩy, / về rẫy ăn còng, / về bưng ăn cá, / về giồng ăn dưa…’’

- Giồng:
Là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát: ‘’trên đất giồng mình trồng khoai lang…’’
Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một Quận (Huyện). Lại nhắc đến một câu hát khác: ‘’Ai dzìa Giồng Dứa qua truông Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…’’ Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Lương đến Cầu Long Định, ở bên phải Quốc Lộ 4 là Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn). Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì ?

– Truông: Là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. Ở vùng Dĩ An có Truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có Truông nhà Hồ.
‘’Thương em anh cũng muốn vô Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang’’. Tại sao lại có câu ca dao này ? Ngày xưa Truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, Tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.

- Phá:
Là lạch biển, nơi hội ngộ của các con sông trước khi đổ ra biển nên nước xoáy,sóng nhiều thường gây nguy hiểm cho thuyền bè. Phá Tam Giang thuộc Tỉnh Thừa Thiên, phía Bắc của Phá Tam Giang là sông Ô Lâu đổ ra biển, phía Nam là sông Hương đổ ra Cửa Thuận An.

- Bàu:
Là nơi đất trũng, mùa mưa nước khá sâu nhưng mùa nắng chỉ còn những vũng nước nhỏ hay khô hẳn. Khác với đầm, vì đầm có nước quanh năm. Ở Sài Gòn, qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền chừng 1 km về hướng Hóc Môn, phía bên trái có khu Bàu Cát. Bây giờ đường xá được mở rộng, nhà cửa xây rất đẹp nhưng mùa mưa vẫn thường bị ngập nước. Ở Long Khánh có Bàu Cá, Rạch Giá có Bàu Cò.

- Đầm:
Là chỗ trũng có nước quanh năm, mùa mưa nước sâu hơn mùa nắng, thường là chỗ tận cùng của một dòng nước đổ ra sông rạch hoặc chỗ một con sông lở bờ nước tràn ra hai bên nhưng vẫn dòng nước vẫn tiếp tục con đường của nó. Ở Cà Mau có Đầm Dơi, Đầm Cùn. Ở Quận 11 Sài Gòn có Đầm Sen, bây giờ trở thành một trung tâm giải trí rất lớn.

- Bưng: Từ gốc Khmer là bâng, chỉ chỗ đất trũng giữa một cánh đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa thì ngập khá sâu và có các thứ lác, đưng...mọc. Mùa mưa ở bưng thường có nhiều cá đồng. ‘’…về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa’’.Ở Ba Tri, Tỉnh Bến Tre, có hai bưng là Bưng Trôm và Bưng Cốc.

- Láng:
Chỗ đất thấp sát bên đường nước chảy nên do nước tràn lên làm ngập nước hoặc ẩm thấp quanh năm. Ở Bình Chánh (giáp ranh Sài Gòn-Long An) có Láng Le, được gọi như vậy vì ở láng này có nhiều chim le le đến kiếm ăn và đẻ. Vùng Khánh Hội (Quận 4 Sài Gòn) xưa kia được gọi là Láng Thọ vì có những chỗ ngập do nước sông Sài Gòn tràn lên. Người Pháp phát âm Láng Thọ thành Lăng Tô, một địa danh rất phổ biến thời Pháp thuộc.

- Trảng:
Chỗ trống trải vì không có cây mọc, ở giữa một khu rừng hay bên cạnh một khu rừng. Ở Tây Ninh có Trảng Bàng, địa danh xuất phát từ một cái trảng xưa kia có nhiều cỏ bàng vì ở vùng ven Đồng Tháp Mười. Ở Biên Hòa có Trảng Bom, Trảng Táo.

- Đồng:
Khoảng đất rất rộng lớn bằng phẳng, có thể gồm toàn ruộng, hoặc vừa ruộng vừa những vùng hoang chưa khai phá. Một vùng trên đường từ Gia Định đi Thủ Đức, qua khỏi ngã tư Bình Hòa, trước kia toàn là ruộng, gọi là Đồng Ông Cộ. Ra khỏi Sài Gòn chừng 10 km trên đường đi Lái Thiêu có Đồng Chó Ngáp, được gọi như thế vì trước kia là vùng đất phèn không thuận tiện cho việc cày cấy, bị bỏ hoang và rất vắng vẻ, trống trải. Ở Củ Chi có Đồng Dù, vì đã từng dược dùng làm nơi tập nhảy dù. Và to, rộng hơn rất nhiều là Đồng Tháp Mười.

- Hố: Chỗ đất trũng, mùa nắng khô ráo nhưng mùa mưa có nơi nước lấp xấp. Ở Củ Chi có Hố Bò, vì bò nuôi trong vùng thường đến đó ăn cỏ. Biên Hòa có Hố Nai, là nơi những người Bắc Đạo Công Giáo di cư năm 1954 đến lập nghiệp, tạo thành một khu vực sầm uất.

2.- Tên bắt nguồn từ tiếng Khmer

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hóa đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hóa một cách tài tình.

- Cần Thơ:
Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt ‘’cần’’ và ‘’thơ’’.
Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa. Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hóa, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer ‘’kìntho’’, là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá ‘’lò tho’’.
Từ quan điểm vững chắc rằng ‘’lò tho’’ là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hóa tiếng Khmer ‘’kìntho’’, người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer ‘’kìntho’’.

- Mỹ Tho:
Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, ‘’mỹ’’ và ‘’tho’’, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là ‘’Srock Mỳ Xó’’ (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock, chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

- Sóc Trăng: Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer ‘’Srock Khléang’’. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng. Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn.
Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang Tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt). Đến thời ông Diệm, lại gọi là Tỉnh Ba Xuyên, châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

- Bãi Xàu: Là tên một quận thuộc Tỉnh Sóc Trăng. Đây là một Quận ven biển nên có một số người vội quyết đoán, cho rằng đây là một trường hợp sai chính tả, phải gọi là Bãi Sau mới đúng.
Thật ra, tuy là một vùng bờ biển nhưng Bãi Xàu không có nghĩa là bãi nào cả. Nó xuất phát từ tiếng Khmer ‘’bai xao’’ có nghĩa là cơm sống. Theo truyền thuyết của dân địa phương, có địa danh này là vì nơi đây ngày trước, một lực lượng quân Khmer chống lại Nhà Nguyễn đã phải ăn cơm chưa chín để chạy khi bị truy đuổi.

- Kế Sách: Cũng là một Quận của Sóc Trăng. Kế Sách nằm ở gần Cửa Ba Thắc (một cửa của sông Củu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hóa tiếng Khmer ‘’k’sach’’.

Một số địa danh khác:
- Cái Răng
(thuộc Cần Thơ) là sự Việt hóa của ‘’k’ran’’, tức cà ràn, là một loại bếp lò nấu bằng củi, có thể trước kia đây là vùng sản xuất hoặc bán cà ràn.

- Trà Vinh xuất phát từ ‘’prha trapenh’’ có nghĩa là ao linh thiêng.

- Sông Trà Cuông ở Sóc Trăng do tiếng Khmer ‘’Prek Trakum’’, là sông rau muống (trakum là rau muống).

- Sa Đéc xuất phát từ ‘’Phsar Dek’’, phsar là chợ, dek là sắt.

- Tha La, một địa danh nổi tiếng ở Tây Ninh (Tha La xóm đạo), do tiếng Khmer ‘’srala’’, là nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng của tu sĩ Phật Giáo.

- Cà Mau là sự Việt hóa của tiếng Khmer ‘’Tưck Khmau’’, có nghĩa là nước đen.

3.- Địa danh do công dụng của một địa điểm hay do một khu vực sinh sống làm ăn
.
Đây là trường hợp phổ biến nhất trong các địa danh. Theo thói quen, khi muốn hướng dẫn hay diễn tả một nơi chốn nào đó mà thuở ban đầu chưa có tên gọi, người ta thường hay mượn một điểm nào khá phổ biến của nơi đó, như cái chợ cái cầu và thêm vào một vào đặc tính nữa của cái chợ cái cầu đó; lâu ngày rồi thành tên, có khi bao trùm cả một vùng rộng lớn hơn vị trí ban đầu.

- Chợ:
Phổ biến nhất của các địa danh về chợ là chợ cũ, chợ mới, xuất hiện ở rất nhiều nơi. Sài Gòn có một khu Chợ Cũ ở đường Hàm Nghi đã trở thành một địa danh quen thuộc. Chợ Mới cũng trở thành tên của một Quận trong Tỉnh An Giang. Kế bên Sài Gòn là Chợ Lớn, xa hơn chút nữa là Chợ Nhỏ ở Thủ Đức. Địa danh về chợ còn được phân biệt như sau;
- Theo loại hàng được bán nhiều nhất ở chợ đó từ lúc mới có chợ, như: Chợ Gạo ở Mỹ Tho, Chợ Búng (đáng lý là Bún) ở Lái Thiêu, Chợ Đệm ở Long An, Chợ Đũi ở Sài Gòn.

- Theo tên người sáng lập chợ hay chủ chợ (độc quyền thu thuế chợ), như: Chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hom, chợ Bà Quẹo, chợ Bà Rịa.
- Theo vị trí của chợ, như: Chợ Giữa ở Mỹ Tho, chợ Cầu (vì gần một cây cầu sắt) ở Gò Vấp, chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn.

- Xóm: Là một từ để phân biệt một khu vực trong làng hay một địa phương lớn hơn, về mục tiêu sản xuất, thương mại hay chỉ đơn thuần về vị trí. Đơn thuần về vị trí, trong một làng chẳng hạn, có Xóm Trên, Xóm Dưới, Xóm Trong, Xóm Ngoài, Xóm Chùa, Xóm Đình...Về các mục tiêu sản xuất và thương mại, ngày nay cách phân biệt các xóm chỉ còn ở nông thôn mà không còn phổ biến ở thành thị.
Những địa danh còn sót lại về xóm ở khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn: Vùng phụ cận chợ Bà Chiểu có Xóm Giá, Xóm Gà. Gò Vấp có Xóm Thơm. Quận 4 có Xóm Chiếu. Chợ Lớn có Xóm Than, Xóm Củi, Xóm Vôi, Xóm Trĩ (Trĩ là những nhánh cây hay thân cây suôn sẻ to cỡ bằng ngón chân cái, dài chừng 2 mét, dùng để làm rào, làm lưới hay làm bủa để nuôi tằm).

- Thủ là danh từ chỉ đồn canh gác dọc theo các đường sông, vì khá phổ biến thời trước nên ‘’thủ’’ đã đi vào một số địa danh hiện nay hãy còn thông dụng, như: Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Ngữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Long An), Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Đức, Thiêm, Ngữ, Thừa có lẽ là tên những viên chức được cử đến cai quản các thủ này và đã giữ chức vụ khá lâu nên tên của họ đã được người dân gắn liền với nơi làm việc của họ. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó ngày xưa có một cây dầu mọc lẻ loi.

- Bến ban đầu là chỗ có đủ điều kiện thuận tiện cho thuyền ghe ghé vào bờ hoặc đậu lại do yêu cầu chuyên chở, lên xuống hàng. Sau này nghĩa rộng ra cho cả xe đò, xe hàng, xe lam... Cũng như chợ, bến thường được phân biệt và đặt tên theo các loại hàng được cất lên nhiều nhất. Một số tên bến đặt theo cách này đã trở thành tên riêng của một số địa phương, như: Bến Cỏ, Bến Súc, Bến Củi ở Bình Dương. Bến Đá ở Thủ Đức. Bến Gỗ ở Biên Hòa. Ngoài ra bến cũng còn có thể được đặt tên theo một đặc điểm nào ở đó, như một loại cây, cỏ nào mọc nhiều ở đó, và cũng trở thành tên của một địa phương, như: Bến Tranh ở Mỹ Tho, Bến Lức ở Long An (đáng lý là lứt, là một loại cây nhỏ lá nhỏ, rễ dùng làm thuốc, đông y gọi là sài hồ).

4.- Một số trường hợp khác
Có một số địa danh được hình thành do vị trí liên hệ đến giao thông, như ngã năm, ngã bảy, cầu, rạch…thêm vào đặc điểm của vị trí đó, hoặc tên riêng của một nhân vật có tiếng ở tại vị trí đó. Ở Sài Gòn có rất nhiều địa danh được hình thành theo cách này: Ngả Tư Bảy Hiền, Ngã Năm Chuồng Chó, Ngã Ba Ông Tạ...

Ở Trà Vinh có Cầu Ngang đã trở thành tên của một Quận.
Trường hợp hình thành của địa danh Nhà Bè khá đặc biệt, đó là vị trí ngã ba sông, nơi gặp nhau của 2 con sông Đồng Nai và Bến Nghé trước khi nhập lại thành sông Lòng Tảo. Lúc ròng, nước của hai con sông đổ ra rất mạnh thuyền bè không thể đi được, phải đậu lại đợi con nước lớn để nương theo sức nước mà về theo hai hướng Gia Định hoặc Đồng Nai. ‘’Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.’’
Tương truyền có ông Thủ Huồng là một viên chức cai quản ‘’thủ’’ ở vùng đó, tham nhũng nổi tiếng. Có lần nằm mơ thấy cảnh mình chết bị xuống âm phủ phải đền trả những tội lỗi khi còn sống. Sau đó ông từ chức và bắt đầu làm phúc bố thí rất nhiều; một trong những việc làm phúc của ông là làm một cái bè lớn ở giữa sông trên đó làm nhà, để sẵn những lu nước và củi lửa.

Những ghe thuyền đợi nước lớn có thể cặp đó lên bè để nấu cơm và nghỉ ngơi. Địa danh Nhà Bè bắt nguồn từ đó.
Miền Nam là đất mới đối với người Việt Nam, những địa danh chỉ mới được hình thành trong vài thế kỷ trở lại đây nên những nhà nghiên cứu còn có thể truy nguyên ra nguồn gốc và ghi chép lại để lưu truyền. Cho đến nay thì rất nhiều địa danh chỉ còn lại cái tên mà ý nghĩa hoặc dấu vết nguyên thủy đã biến mất theo thời gian.

Thí dụ, Chợ Quán ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, bây giờ chỉ biết có khu Chợ Quán, Nhà Thờ Chợ Quán, Nhà Thương Chợ Quán...chứ còn cái chợ có cái quán đố ai mà tìm cho ra được. Hoặc Chợ Đũi (có một số người tưởng lầm là Chợ Đuổi vì người buôn bán hay bị nhân viên công lực rượt đuổi) ban đầu chuyên bán đũi, là một thứ hàng dày dệt bằng tơ lớn sợi, bây giờ mặt hàng đó đã biến mất nhưng địa danh thì vẫn còn.
Ngoài ra, đất Sài Gòn xưa sông rạch nhiều nên có nhiều cầu, sau này thành phố được xây dựng một số sông rạch bị lấp đi, cầu biến mất, nhưng người dân vẫn còn dùng tên cây cũ ở nơi đó để gọi khu đó,như khu Cầu Muối. Và cũng có một số địa danh do phát âm sai nên ý nghĩa ban đầu đã bị biến đổi nhưng người ta đã quen với cái tên được phát âm sai đó nên khi ghi chép lại, vẫn giữ cái tên đã được đa số chấp nhận, như Bến Lức, chợ Búng (Lứt là tên đúng lúc ban đầu, vì nơi đó có nhiều cây lứt; còn chợ Búng nguyên thủy chỉ bán mặt hàng bún, sau này bán đủ mặt hàng và cái tên được viết khác đi).

Phần trên đã nói tới nhiều địa danh của miền Nam, bây giờ là phần bổ túc.

Gặp đâu ghi đó. Có những địa danh có thể đã được đề cập ở phần trên nhưng cũng vẫn ghi lại, vì tôi mới đọc được trong những cuốn sách khác.

1.- Thủ Đức:
Ai chẳng một lần nghe nói đến nem Thủ Đức. Người ta nhắc đến cái địa danh Thủ Đức, Xuân Trường như là một nơi danh thắng để giai nhân, tài tử, tao nhân mặc khách đến đây thưởng thức phong quang. Theo lời truyền khẩu của các vị bô lão ở địa phương: Khi xưa, có vị thủ đồn đầu tiên ở nơi này tên là Đức. Đến sau, ông Tạ Dương Minh đứng ra qui dân lập chợ buôn bán, nhớ đến công vị thủ đồn tên Đức, nên lấy tên và chức tước của ông mà đặt cho chợ, gọi là chợ Thủ Đức nay đã thành danh. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

2.- Gò Vấp: Gò Vấp là tên một quận của Tỉnh Gia Định. Gọi là Gò Vấp có ý nghĩa gì ? Chúng tôi đã dụng công ra tìm những sử sách và hỏi thăm các vị bô lão, nhưng chẳng tìm hiểu được gì đích xác. Tuy nhiên, theo truyền thuyết, cũng có thể tin được, địa danh mang tên Gò Vấp, vì lúc trước nơi ấy là một ngọn đồi trồng cây Vấp (theo tiếng Chàm gọi là Krai, tiếng Việt là Vấp hay Lùn). Thứ cây Vấp là thứ cây mà dân Chàm coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh) Cây Vấp (tên khoa học là Mesua Ferrea L.)

3.- Đồng Ông Cộ:
Đồng bào ở Tỉnh Gia Định từ xưa tới nay thường nghe nói đến tên ‘’Đồng Ông Cộ’’ nhưng không hiểu rõ cụm từ này do ai đặt ra mà được truyền tụng mãi đến ngày nay.
Ở miền Nam chúng ta, địa phương nào cũng có nhiều huyền thoại, giai thoại truyền khẩu trong dân gian, lâu ngày trở thành một địa danh. Chúng tôi, người tình nguyện vạch bóng thời gian,ghi lại những sự việc xảy ra từng vùng, từng địa phương, để hiến quý bạn đọc hiểu rõ nguồn gốc từ thuở xa xưa nơi địa phương chính mình. Theo một vài vị bô lão cố cựu sinh quán tại Gia Định, thuật lại sự tích ‘’Đồng ông Cộ’’ cho chúng tôi biết như sau.

Đất Gia Định ngày xưa rộng lớn hoang vu, dân chúng ở rải rác từng nhóm theo ruộng gò nổng, rừng chòi dày đặc, đường sá chưa được khai mở, lối đi vất vả khổ cực. Khu đất ‘’Đồng ông Cộ’’ này ngày xưa thuộc vùng sát cận trung tâm Tỉnh Gia Định. Nó ăn từ chợ (ngã ba trong) dài tới Cầu Hang; vòng ra đường Nguyễn Văn Học, phía bên này Cầu Bình Lợi nó ăn sâu luôn phía trong có hơn 10 cây số, rồi vòng ra khu Hàng Xanh phía lò heo cũ Gia Định chạy dài tới ngã năm Bình Hòa.

Toàn thể khu vực rộng lớn như vậy, thuở xưa không có lấy một con lộ cái quan nào để dân chúng xê dịch. Dân cư trong vùng, sinh sống về nghề ruộng nương, rẫy bái, làm nghề hạ bạc (đánh cá) dọc theo sông Cầu Bình Lợi, Cầu Băng Ky bây giờ. Những khoảng đất không được khai phá thì toàn là rừng chồi cây lùm mọc rậm rạp. Về sau, Tây lấy Gia Định rồi thì mở mang quốc lộ đi Thủ Đức và khu sát rìa quốc lộ, ăn sâu vô hằng 5-7 cây số (từ phía Gia Định lên nằm bên tay mặt), được Tây khai phá làm rừng cao su. Toàn thể một khu đồng ruộng mênh mông như vậy, hơn phân nửa đất đai toàn là rừng rậm, dân cư lại ít nên không có nhiều đường mòn để xê dịch. Dân chúng di chuyển bằng ngựa cũng không tiện chớ đừng nói chi đến dùng xe bò hoặc xe trâu.

Đây khác hơn mọi nơi là chỗ đó ! Mỗi khi dân cư trong vùng này muốn ra tỉnh, lúc đó là thành Gia Định, có việc cần kíp, hoặc rước thày trị bệnh, hoặc tải hàng rẫy, gạo thóc ra chợ bán, hoặc mua đổi các thứ cần thiết đem về dùng…thật là muôn vạn khó khăn.

Chỉ có những trai tráng khỏe mạnh mới có thể di chuyển nổi hằng mấy chục cây số đường lồi lõm không khác lên thác xuống ghềnh, khu đất này lại nhiều chỗ dốc lên, dốc xuống, đồi nổng v.v...Rất ít chỗ được khai phá, thành giồng như xuyên rừng vậy. Mà hễ mỗi lần đi như vậy thì ruộng nương, rẫy bái ở nhà lại không ai khai phá, làm lụng sản xuất. Lại mỗi lần đi ra thành thì lại mất ít nhất 2 ngày - 1 ngày đi, 1 ngày về mua bán, đổi chác.

Một ngày, bỗng dưng người ta thấy trước cổng nhà của một ông Phú Hộ với nhà ngói 3 gian, 2 chái, 1 dãy nhà bếp, nền đúc cao treo tấm bảng lớn đề mấy chữ: ‘’Đảm nhận ‘Cộ’ người và hàng hoá đi khắp nơi’’. Đồng thời với tấm bảng treo lên, ông Phú Hộ trong vùng gọi là ông Ba Phú Hộ truyền thâu dụng tất cả thanh niên vạm vỡ trong toàn khu, hay bất cứ nơi nào,muốn có chuyện làm, ngoài nghề ruộng rẫy.

‘’Cộ người và hàng’’ ! Đó là một lối tải người và hàng hóa giản tiện hơn cả võng hay kiệu. Ông Ba Phú Hộ bèn cho dân đan những tấm vạc bằng tre, hai đầu có 4 lóng tre ló ra giống như cái băng ca nhà thương khiêng bệnh, để người đầu trước người đầu gác lên hai vai, khách thì ngồi ở vạc tre khúc giữa thòng chân lủng lẳng để người ‘’Cộ’’ đi. Hàng hóa thì lại để ở khoảng giữa, thay vì tấm vạc tre đương thì nó là một miếng ván dày để có thể chất nhiều đồ mà không bị oằn chính giữa. Người sử dụng muốn mướn chỉ cần cho ông Ba Phú Hộ hay trước, cho biết nhà rồi thì sáng sớm, khi gà vừa gáy là có dân phu mang ‘’Cộ’’ đến tận nhà mà rước người, hoặc ‘’Cộ’’ hàng đi ra thành Gia Định. Từ đó, dân cư bắt đầu xê dịch dễ dàng, không nhọc mệt, bận tâm, hay tốn hao người mỗi khi tải hàng đi ra thành. Rồi thì, thời gian trôi qua, địa danh xuất hiện theo miệng người cư ngụ trong vùng. Khi hỏi: - Ở đâu ? Bèn đáp: - Ở trong đồng ông Ba ‘’Cộ’’ !
Ông Ba ‘’Cộ’’ đây có nghĩa là ông Ba Phú Hộ ‘’Cộ’’ người và hàng hóa. Dần dần, hàng trăm năm sau vùng này được mở mang, nhưng là một vùng rộng lớn, dân chúng quy tụ về càng ngày càng đông lại không có địa danh, nên người ta nhớ ơn ông Ba ‘’Cộ’’ lập thành vùng này thành địa danh gọi là ‘’Đồng ông Cộ’’ cho đến ngày nay.

Cộ - danh từ:
Xe quệt. (td. trâu kéo cộ, một cộ lúa) - động từ: kéo đi, mang chở, khuân lấy (td. cộ lúa từ đồng về nhà) ăn. (td. nồi cơm lớn quá mức tụi tôi đâu có cộ nổi) đảm đương (td. nhiều việc quá liệu mình có cộ nổi khổng) (Theo cuốn Tự Điển Phương Ngữ Nam Bộ.) (Xe quệt, là loại xe dùng trâu hoặc bò để lết trên mặt đất. Khung xe bằng tre đặt trên 2 cây trượt. Đầu 2 cây trượt được gông vào càng xe. Người ta dùng dây chão buộc càng xe vào vai của trâu hoặc bò. Đây là phương tiện vận chuyển đường dài chủ yếu dùng trong mùa vụ nông nghiệp, thích ứng với địa hình phức tạp.)

Xe-cộ là danh từ kép, trong trường này, chữ cộ phải là danh từ để đứng chung với chữ xe. Cái xe và cái cộ cùng là danh từ chỉ một vật dùng để chuyển tải (người hoặc hàng hóa). Giống như danh từ kép chợ-búa, chợ và búa là hai danh từ đồng nghĩa, nhưng chữ búa là từ cổ đã biến mất không ai dùng nữa, chỉ còn tồn tại trong từ kép chợ-búa. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

4.- Đồng Tháp Mười:
Chú thích năm 1970. Theo tôi, thuyết dưới đây của ông Lê Hương có phần đáng tin hơn cả. Trong bài Địa Danh, Di Tích, Thắng Cảnh trong vùng người Việt gốc Miên, tập san Sử Địa số 14, 15 năm 1969, ông viết:

- ‘’Tháp mười là một trong những ngôi tháp làm bằng đá do Vua Jayavarman VII xây cất khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bà La Môn Lockecvera là vị thần chuyên trị bệnh cho nhân loại. Bên cạnh tháp có những căn nhà sàn gỗ lợp bằng đá mỏng, bằng ngói hay bằng lá thốt nốt để người bịnh nằm dưỡng bệnh do nhân viên y tế hoàng triều coi sóc. Những ngôi tháp được xây dựng dọc theo các con đường lớn trong nước mà ngôi nằm trong đồng Tháp Mười, tính từ địa điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ mười.
Thời gian trôi qua, tàn phá tất cả các công trình kiến trúc của cổ nhân, dãy nhà gỗ tiêu tan, chỉ còn một tượng sư tử đá và một linh phù (linga) cũng bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn (sanscrit) ghi tên Tháp thứ mười.

Trong năm 1932, nhà khảo cổ Pháp Parmentier đã đi vào Đồng Tháp bằng ghe và xuồng để đọc những chữ khắc vào đó và phát giác ra ngôi tháp...’’ (trích trong cuốn Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê)

5.- Bến Tre:
Trường hợp hình thành tên gọi Bến Tre thật đặc biệt, vì đó là sự gán ghép giữa tiếng Khmer và tiếng Việt. Xưa kia người Khmer gọi nơi đó là Srok Treay - srok là xứ, treay là cá. Sau người Việt thay chỗ người Khmer đến sinh sống làm chủ chốn đó, biến chữ srok thành Bến nhưng chữ treay không dịch là cá mà phát âm theo tiếng Khmer thành Tre. Quả tình nơi đó không có tre mà thật nhiều tôm cá.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 22 2017, 10:13 PM
Gửi vào: #256


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,485
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Ông Trọng đưa Việt Nam đến gần Trung Quốc ra sao
Tác Giả: Bùi Tín -20/12/20170



Tổng kết tình hình năm 2017, các nhà bình luận quốc tế bàn tán sôi nổi về mối quan hệ Việt – Mỹ và mối quan hệ Việt – Trung trong năm qua.

Nhiều người khen bài diễn văn được chuẩn bị khá kỹ, nội dung xúc tích, thái độ thẳng thắn của tổng thống D. Trump, sự đề cập đến Hai bà Trưng của ông. Nổi bật lên là mối quan tâm của nhân dân và tuổi trẻ Đà nẵng, Hà Nội đổ ra đường đông đảo đón chào nồng nhiệt tổng thống Hoa Kỳ.

Trong khi đó thái độ của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại có vẻ khác hẳn.

Hẳn là ông không bằng lòng với ông D. Trump khi ông không coi ông Trọng là nhân vật số 1 của chế độ, chỉ gặp vài phút chào hỏi xã giao, không hội đàm, không quốc yến, không nói chuyện thân mật, không bắt tay chặt chẽ, cũng chẳng mời ông Trọng sang thăm Hoa Kỳ.

Trái lại, ông Trọng dồn tất cả nhiệt tình và sự long trọng cho cuộc đón tiếp ông Tập ở thủ đô Hà Nội. Thảm đỏ trải dài từ cầu thang máy bay xuống, ra đến tận xe lễ tân cắm cờ Trung Quốc. Bỏ hoa tươi cực lớn. Lễ đón tại Phủ Chủ tịch có 21 phát đại bác và dàn Quân nhạc, duyệt hàng quân danh dự gồm hải, lục, không quân. Không thiếu một điều gì.

Rồi chuyện đặc biệt thân tình là ông Trọng dẫn ông Tập ra ngôi nhà sàn của ông Hồ, lên trên gác, hội kiến trong cuộc trà đàm thân mật, để rồi ông Trọng xum xoe nhún nhường « Trà Việt ngon nhưng không bằng trà Trung Quốc », gây nên sự chê cuời của không ít blogger tự do.

Đáng chú ý là trong hội đàm, hai bên đã nhận định mối quan hệ mật thiết Việt – Trung đã được nâng lên tầm cao mới, toàn diện, bao trùm các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, thương mại, đầu tư, giao thông vận tải, giáo dục, đào tạo, khoa học kỹ thuật, quan hệ đảng, quan hệ nhân dân… với 50 cơ chế hợp tác và 19 văn kiện mới được ký kết. Chưa bao giờ mối quan hệ 2 bên nồng hậu, bền chặt như thế!

Cung Hữu nghị Việt – Trung hoành tráng được khai mạc giữa thủ đô Hà Nội. Mối quan hệ thương mại lên tới đỉnh cao 98 tỷ đôla / năm. Dân Tàu có mặt khắp mọi nơi, mọi lãnh vực…

Các vụ truy tố tội tham nhũng gần đây đều có dấu hiệu trừng trị nặng những người có hơi hướng chống Trung Cộng bành trướng, có vẻ như theo chỉ lệnh của ông Hoàng Đỏ Tập Cận Bình qua các cận thần của ông vừa sang Hà nội.

Ông Đinh La Thăng không được lòng ông Tập khi định phạt và đuổi nhà thầu Trung Quốc trong vụ xây đường cao tốc Cát Linh – Hà Đông bầy nhầy, tốn kém.

Ông Nguyễn Tấn Dũng cũng khó lọt lưới chuyến này, do họ Tập thù dai, để bụng lời chê bai rất nặng của ông Dũng: « Không thể đánh đổi chủ quyền đất nước cho một tình hữu nghị viển vông! ».

Trước đây ông Đại tướng Đỗ Bá Tỵ, Tổng tham mưu trưởng, bị mất chức, đưa về làm phó cho bà Kim Ngân, coi như bịlột lon, chỉ vì dám tuyên bố « phải cảnh giác với giặc phương Bắc », thêm một cái « tội » từng trực tiếp chỉ huy cuộc chiến chống Trung quốc xâm lược tại chiến trận Vị Xuyên nóng bỏng nhất.

Cho đến ông Thiếu tướng Trương Giang Long ở học viện Công an dám công khai khẳng định « chưa bao giờ Trung Quốc từ bỏ dã tâm thôn tính nước ta » cũng bị cho về hưu sớm…

Với một lọat việc làm theo ý và theo chỉ lệnh của Thiên triều như thế, nhà bình luận Trương Nhân Tuấn ở Pháp cho rằng ông Nguyễn Phú Trọng rõ ràng đã công khai phản bội Tổ quốc, theo đúng đạo luật Tố tụng hình sự hiện hành ởViệt Nam.

Xem ra ông Nguyễn Phú Trọng không mảy may quan tâm những lời cảnh báo ấy, lời cảnh báo được không ít đảng viên đồng tình, được đông đảo nhân dân tán thưởng.

Ông vừa bước thêm những bước mới cực kỳ nghiêm trọng theo hướng phản quốc, không thể chống chế nổi.

Theo thông báo chung về cuộc hội đàm giữa 2 ông tổng bí thư Trọng – Tập gần đây nhất, 2 bên đã thỏa thuận:

– « Sẽ hợp tác giúp nhau trong đào tạo cán bộ cấp cao ngạch đảng giữa 2 bên; đặc biệt là trong đào tạo cán bộ cấp cao 2 ngành quốc phòng và ngoại giao;

– Sẽ hợp tác giúp nhau đào tạo cán bộ giữa các tỉnh ủy Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao bằng, Hà Giang của đảng (Không dùng từ này) VN với khu ủy khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây của đảng CS Trung Quốc ».

Các điều thỏa thuận trên đây mang ý nghĩa gì?

Tuy gọi là hợp tác giúp nhau song phương, nhưng trên thực tế chỉ là quan hệ 1 chiều. Việt Nam nhỏ bé (90 triệu dân), đảng (Không dùng từ này) VN ít ỏi (4 triệu đảng viên) so với 1 tỷ 300 triệu dân và 90 triệu đảng viên Trung Quốc – chỉ bằng 1 tỉnh nhỏ của Trung Quốc, thì trên thực tế chỉ là một sự hòa nhập tự nguyện của đảng (Không dùng từ này) VN vào đảng CS Trung Quốc, sự sáp nhập trên thực tế của 4 tỉnh biên giới vào khu tự trị dân tộc Choang của tỉnh Quảng Tây/Trung Quốc. Cán bộ cao cấp quốc phòng và ngoại giao sẽ do phía Trung Quốc đào tạo và tuyển lựa, áp đặt một chiều cho phía Việt Nam.

Điều trên đây có nghĩa là ông Nguyễn Phú Trọng đã tự mình xóa bỏ biên giới quốc gia Việt Nam thuộc 4 tỉnh Quảng ninh, Cao Bằng , Lạng Sơn, Hà Giang, tự xóa bỏ chủ quyền tuyển lựa tướng lĩnh, cán bộ ngoại giao cấp cao để hiến dâng cho Trung Cộng một mảng chủ quyền sinh tử và cơ bản nhất.

Và việc hệ trọng này không hề có bàn bạc trong Bộ Chính Trị, trong Ban chấp hành Trung Ương cũng như trong Quốc Hội, nhân dân càng không có tiếng nói gì ! Dân 4 tỉnh biên giới nói trên trên đã bị bán đứng cho bọn bành trướng. Hơn nữa các điều thỏa thuận trên còn có nghĩa là từ nay các chức vụ cấp cao trong đảng nói chung, các cấp Tỉnh ủy viên, Bí thư tỉnh ủy, các Thứ trưởng, Bộ trưởng, Vụ trưởng, Viện trưởng… trong toàn quốc đều phải có ý kiến xét duyệt thẩm định của phía Trung Quốc. Nền độc lập bị hiến dâng tự nguyện.

Như thế là giao cả bộ máy cai trị của đảng và Nhà nước vào tay của lãnh đạo đảng CS Trung Quốc, nước Việt Nam tựnguyện làm chư hầu, không có gì khác hơn.

Rất mong các Ủy viên Bộ chính trị, các Ủy viên Ban chấp hành Trung ương, các đại biểu Quốc hội, các nhà luật học, luật sư, bà con người Việt chúng ta, các tổ chức xã hội dân sự… lên tiếng nói rõ nhận định và thái dộ của mình với vấn đềtrọng đại này của đất nước.

Bùi Tín (VOA)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

13 Pages: V « < 11 12 13
Reply to this topicStart new topic
3 Người đang đọc chủ đề này (3 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 23rd February 2018 - 01:22 AM