IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> Luật Thơ- Tản mạn về thi pháp, ( Tác giả Phạm Doanh )
TrucGiang
post Feb 5 2009, 08:27 PM
Gửi vào: #1


Advanced Member
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 474
Tham gia: 31-March 06
Thành viên thứ: 90



Lời nói đầu:

Loạt bài này không mang tính cách nghiên cứu văn học, chỉ nêu lên những căn bản về thi pháp hay cách làm thơ cho những người bắt đầu làm thơ. Đối với những người đã làm thơ lâu thì bài viết sẽ không mang lại gì mới mẻ, vì nó không đi sâu vào chi tiết.

Trước khi đi vào các thể thơ thường gặp, ý kiến riêng của Pham Doanh về luật thơ là:

Chúng ta không nên có chủ trương làm thơ là phải theo luật. Cái chính là hồn thơ ý thơ ***g trong từ ngữ trong sáng, tạo hình và âm điệu nhẹ nhàng, trầm bổng và lưu loát. Vần luật là thứ yếu . Chỉ khi nào ta muốn làm theo thể loại nào thì nên biết cấu trúc và quy tắc về âm thanh vần điệu của thể đó. Còn không làm theo thể nào thì là thơ tự do. Dù thơ tự do hay theo luật nếu tạo được rung cảm trong người đọc thì đạt được tinh thần của thơ.

Sở dĩ các niêm luật của các thể loại thơ được người làm thơ chú ý và hướng theo vì bản thân nó qua bao nhiêu đời đã có một nền tảng vững chắc về âm thanh vần điệu, làm định hướng cho những người mới làm thơ.

Nhưng các loại thơ nhiêu khê phát sinh từ Đường Luật, vốn đã chặt chẽ về hình thức và bố cục, lại còn bày vẽ thêm về các lối gò chữ khác như :

- đọc xuôi đọc ngược
- Câu cuối đoạn này làm câu đầu đoạn khác
- Hai chữ cuối một câu cuối làm đầu câu tiếp
- mỗi câu đều mang một con số
- cho 5 vần đặt ra trước để bài thơ phải xử dụng
- Mỗi câu phải chứa một địa danh

vân vân.

Tất cả những gò bó đó chỉ là Sơn Đông Mãi Võ, chỉ cốt khoe chữ nghĩa hay đi nhiều (ngày xưa ít phương tiện đi lại nên làm một bài thơ "Mỗi câu phải chứa một địa danh" thì các cụ cho là người kiến thức rộng), chứ không phải thơ theo cái tinh thần phóng khoáng của người có tâm hồn thơ .

Chúng ta nên biết luật nhất là những người mới làm thơ cần có định hướng; luật là hình thức, là hướng dẫn để bài thơ ít ra có một khuôn khổ nhất định, có âm điệu căn bản.
Nhưng thà không đúng luật 100 phần trăm mà ý thơ, chữ dùng, âm điệu và vần hay còn hơn đúng luật mà ý thơ hạn chế, lời thơ ngây ngô, hoạt kê . Thí dụ như theo luật thơ Đường Luật, phải gò bó vào sự đối của bốn câu 3&4 và 5&6. Có những người làm thơ từ chương coi trọng sự đối từng chữ như giáo điều, họ có thể cho một bài có các câu như sau là bài thơ Đường Luật hay vì các câu đối thật chỉnh dù ý thơ và chữ dùng chẳng có gì đặc biệt.

...
Trước ngõ hai ông ngồi ngắm biển
Sau vườn ba cụ đứng xem non
Đã già vẫn tưởng chưa già lắm
Hết trẻ còn mơ mãi trẻ son
...

hay

...
Tôi đã ba mươi còn thích đẹp
Ông chưa sáu chục vẫn yêu đời
Cả làng dân bảo đồ say khướt
Nguyên xóm họ đồn lũ chịu chơi
...


Thí dụ hai câu đúng luật lục bát:


"Cô kia ngồi trước cửa nhà
Thấy xe nước mía từ xa đã cười"

Loại thơ này chỉ làm vè cho vui, nếu chỉ cần đúng luật thì không lẽ


"Thằng Tây nó giống cột đèn
Vừa cao vừa lớn, lại đen thùi lùi"

cũng là thơ chăng?

Nên hiểu ý thơ đẹp , chữ dùng hay và âm điệu trầm bổng là rượu còn luật thơ là bình. Cứ khăng khăng giữ đúng cái bình thật tròn trịa mà đựng rượu dở thì chẳng thà đựng rượu ngon trong một bình bẹp tí về hình thức còn hơn.

Biết luật mà không bị gò bó vào luật là hình thái cao của thơ.


Phạm Doanh


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
TrucGiang
post Feb 5 2009, 08:57 PM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 474
Tham gia: 31-March 06
Thành viên thứ: 90



Các Từ ngữ trong thi pháp

Hôm nay Phạm Doanh xin phiếm đàm về các từ "Âm Thanh Vần Điệu"

1. Âm:
là gốc của một chữ sau khi bỏ các phụ âm ở đầu chữ và các dấu. Như vậy âm bắt đầu bằng một hay nhiều nguyên âm và có thể kết thúc bằng một hay nhiều phụ âm.

Các chữ: Chương, Trương, Ngượng, Vưởng, Hướng, Đường đều có cùng một âm nhưng khác thanh.

2. Thanh: là sự khác nhau trong độ cao thấp của một âm.
Trong tiếng Việt các chữ có thể mang 6 thanh là không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng chia làm hai nhóm có thanh bằng và thanh trắc.

Thanh bằng hay theo tiếng Hán Việt là Bình Thanh gồm các chữ không dấu và có dấu huyền như câu "chiều hôm qua em đi về" chỉ có toàn bình thanh.
Nếu cẩn thận hơn ta có thể chia thành Trung Bình Thanh (có nơi gọi là Thượng Bình Thanh) là các chữ không dấu, và Trầm Bình Thanh (hay Hạ Bình Thanh) gồm các chữ có dấu huyền.

Thanh trắc hay Trắc Thanh gồm các chữ có dấu sắc, hỏi , ngã và nặng. Như câu "Bữa trước chẳng có bão nặng" chỉ có toàn thanh trắc.
Sự phân biệt giữa Thượng Trắc Thanh: sắc, hỏi, ngã; và Hạ Trắc Thanh: nặng, không có gì quan trọng để đáng đi sâu vào .

3. Vần: Hai chữ được gọi là vần với nhau khi chúng có cùng âm và chung một nhóm thanh. Cụ thể là

"anh, đành, thanh, vành, mành" gọi là vần với nhau, cũng như

"đáng, nạng, mãng, đảng, đạng" vần với nhaụ


Thơ thí dụ

Ao ước từ xưa mãi đến giờ
Đông hành tìm kiếm chút nguồn thơ
Yêu hoa anh biết từ muôn kiếp
Hoa muộn vì ai cứ ngẩn ngơ

Nguyên Đỗ


Các chữ "giờ, thơ" và ngơ" trong câu 1,2,4 là vần với nhau vì cùng âm "ơ" và cùng là thanh bằng. ( Chữ "Chớ" tùy cùng âm mà khác nhóm thanh nên không vần với ba chữ trên).


4. Điệu

Ngoài "Âm", "Thanh" và "Vần" là 3 yếu tố chính của thơ "Vần" chúng ta còn để ý đến "Điệu" là sự trầm bỗng trong câu thợ Đây là cái mà không có luật nào giúp ta được, thí dụ trong thơ 7 chữ, luật chỉ đòi hỏi "Nhị tứ lục" phân minh, tức là các chữ 2,4,6 phải đúng bằng trắc, còn "Nhất tam ngũ bất luận", các chữ 1,3,5 tự do .
Nhưng chính cái tự do này là cái khó. Có bài đúng tất cả về luật bằng trắc nhưng đọc lên chẳng êm tai chút nào, như bài này Phạm Doanh tự đặt ra làm thí dụ


Chiều nay chẳng biết vì sao buồn
Có phải tại trời mưa bão cuồng?
Ngọn gió thổi ngang phía trước đó
Nước mưa làm ngập hai con đường


Bài này tuy đúng tuyệt đối về bằng trắc của Thất Ngôn Tứ Tuyệt nhưng đọc nghe ngang ngang chẳng êm tai chút nào . Nếu ta sửa lại như sau


Chiều nay chẳng biết tại sao buồn
Có phải vì trời giông bão tuôn ?
Ngọn gió thổi ngang về phía trước
Nước mưa làm ngập cả con đường


Thì rõ ràng trầm bổng hơn nhờ thay đổi các chữ mà theo luật thì bằng hay trắc gì cũng được. (ở đây ta không để ý đến chữ dùng hay ý chẳng có gì đáng gọi là thơ)

Cũng như

Đôi ta chia cách tại trời
Nên em phải chịu một đời đau buồn

nghe ngang tai, được sửa lại thành

Đôi ta chia cách tại trời
Nên em phải chịu một đời đau thương

Tóm lại muốn có âm điệu hay nên đọc nhiều thơ người khác và thơ mình. Khi làm xong đừng bằng lòng với nó ngay mà nên đọc đi đọc lại, đọc ra thành tiếng luôn. Nếu nhờ ai biết ngâm thì càng tốt, xem âm điệu có êm tai, có du dương không, nhiều khi cùng là thanh trắc mà chữ dấu nặng đọc lên lại khắc với dấu sắc, v.v.


Phạm Doanh


Đại cương về các thể thơ thường gặp

THƠ LỤC BÁT

Lục Bát là 1 trong 2 thể loại thơ chính tông của Việt Nam. Thơ Lục Bát khác hơn Ngũ Ngôn hoặc Thất Ngôn của Hán văn ở chổ Ngũ Ngôn và Thất Ngôn chỉ có CƯỚC VẬN (vần ở cuối câu), còn Lục Bát có cả CƯỚC VẬN & YÊU VẬN (Vần ở giữa câu, Yêu vận còn gọi là vần LƯNG).

Thơ Lục Bát đã thấm nhuần vào tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơ trong ca dao, đồng dao và các bài ru con. Thơ LB rất giản dị về quy luật, dễ làm nhưng hay hay không thì hoàn toàn tùy thuộc vào người viết, dùng lời hay đễ diễn dạt ý đẹp trong cung điệu êm đềm.

Thơ LB theo như tên gọi gồm các cặp hai câu có sáu chữ và tám chữ, số câu trong bài không giới hạn. Thông thường thì bắt đầu bằng câu sáu chữ và chấm dứt ở câu tám. Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính cách lơ lửng, hiểu ngầm, hay hầu đạt tính cách đột ngột.

1. LỤC BÁT THÔNG THƯỜNG

Luật bằng trắc
-----------------

x B x T x B(v)
x B x T x B(v) x B(v)

B= bằng, T = trắc, x = sao cũng được

a. Chữ cuối của câu nào cũng là vần Bằng.
b. Chữ thứ 6 của câu 6 vần với chữ thứ 6 của câu 8 tiếp theo
c. Chữ thứ 8 của câu 8 vần với chữ thứ 6 của câu 6 tiếp theo
d. Chữ thứ 6 và thứ 8 của câu tám nên thay đổi, hễ chữ này không dấu thì chữ kia có dấu hyền hay ngược lạị

(Thí dụ của Nhất Lang)
ĐÚNG:
Đêm nay trăng tỏ sao MỜ,
Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em QUA
hay
Đò ngang vĩ tuyến còn MƠ em VỀ.

SAI:
Đêm nay trăng tỏ sao MỜ,
Đò ngang vĩ tuyến còn CHỜ em VỀ.
hay
Đò ngang vĩ tuyến còn MƠ em QUA

Luật "Nhất Tam Ngũ bất luận, Nhị Tứ Lục phân minh " cũng áp dụng với thơ này, tức là các chữ lẻ bằng hay trắc gì cũng được trong khi chữ chẵn phải đúng luật.

Thơ Thí dụ

Khi buồn tôi nghĩ chuyện vui
khi vui tôi nghĩ vừa thôi kẻo buồn
đợi người ấy biết yêu đương
đời tôi cũng đã nửa đường đắng caỵ

TVB
________________________________________

VIỄN KHÁCH

nửa khuya chợt thức trăng về
nhìn ra sông núi bốn bề quạnh hiu
dòng đời mỏi bước cô liêu
gối đêm trung thổ, đợi chiều thảo nguyên
nghẹn ngào giọt lệ đỗ quyên
nỗi đau cố xứ nặng triền sóng xô
sương gieo ngàn sợi mơ hồ
thời gian rụng cánh lá khô lạnh lùng.

Mạc Phương Đình
3-03-03

Ngoại lệ: Nhiều khi chữ thứ hai có vần trắc thay vì vần bằng nếu câu sáu có nhịp 3,3 hay câu tám có nhịp 4,4 (Ca dao)

"Mai CỐT cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười
......
Đau ĐỚN thay phận đàn bà
.....
Nguyễn Du
"

"Cá không ăn muối cá ươn
Con CÃI cha mẹ, trăm đường con hư" (Ca dao)

"Công Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa MẸ như nước trong nguồn chảy ra" (Ca dao)

2. LỤC BÁT BIẾN THỂ

x B x T x B(v)
x x x B(v) x T x B(v)

Chú ý: Chữ thứ 6 của câu 6 vần với chữ thứ 4 của câu 8 tiếp theo

Thường thì thể này chỉ có cho ca dao ngắn 2 hoặc 4 câu là nhiều vì không trôi chảỵ

"Cưới vợ thì cưới liền TAY
Chớ để lâu NGÀY, lắm kẻ dèm pha"

"Con thơ tay ẳm tay BỒNG
Tay dắt mẹ CHỒNG, đầu đội thúng bông"
(Ca dao)

3. LỤC BÁT ĐOẠN CÚ

Trong biến thể này các câu 6,8 được cắt thành từng phần tùy theo ý tưởng, hay ngắt ở các chữ lẻ (3 hay 5). Thể này tương đối mới và chỉ thấy nhiều từ thập niên 60's.

Nhưng ngắt câu cũng không phải lúc nào cũng được.

Thí dụ

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (Nguyễn Du)

Các câu này ý tưởng đi liên tục, khó mà ngắt cho khác được , thí dụ nếu ngắt câu như sau thì đọc lên sẽ không lưu loát

Trăm năm trong
cõi người ta,
Chữ tài
chữ mệnh
khéo là ghét nhau
Trải qua
một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy
mà đau đớn lòng (sai thơ Nguyễn Du)


Muốn làm Lục Bát đoạn cú thì nên vững vàng với Lục bát chính thức trước, sau khi đã thấm nhuần âm điệu của Lục Bát chính quy, người làm thơ sẽ dễ biết tạo âm điệu mới trong cách ngắt câu đễ diễn đạt ý tưởng của mình.


THÍ DỤ LỤC BÁT ĐOẠN CÚ

Ngọt ngào trên mắt môi hồng

Ngồi đây
trong lặng lẽ này
Nhẹ nhàng một chiếc lá bay qua thềm
Tơ trùng lắng giọt sương đêm
Hồi chuông xứ đạo
vọng lên cung trầm
Ngân nga rồi nhỏ,
nhỏ dần
Trong đêm tịch mịch thấy gần anh hơn
Ngẩng đầu
đón nhận nụ hôn
Ngọt mềm trên mắt môi hồng,
anh cho ...
(Phạm Doanh)

--------------------------------------

Ru em theo tiếng dương cầm Chopin

Ngủ đi!
Em!
Giấc ngoan hiền
Tiếng à ơi
vọng lên miền
trung du
Xoay tròn,
từng chiếc,
lá thu
Bay theo những áng mây mù
quanh ta
Mang sầu thương đến trời xa
Tóc thơm,
xoã gối lụa là,
là đây
Em ơi, ngủ nhé,
ngủ say!
Có anh bên cạnh
những ngày cuối năm
Anh nằm xuống,
mắt ngang tầm
Ru em theo tiếng
dương cầm
Chopin.
(Phạm Doanh)

_________________________________________________

Hoàng Hôn Biển Vắng

Quả cầu lửa,
Bỏng chân trời,
Bạc đầu hoa sóng ngàn khơi vỗ bờ.
Rì rào gió mặn vu vơ,
Dã tràng se cát xây nhà uyên ương.
Biển,
Mênh mông đến muôn trùng,
Dấu chân trên cát,
Ngập ngừng,
Lẻ loi .
Xõa tung tóc rối bờ vai,
Hải âu hòa giọng u hoài,
Cô liêu .
Hồn chơi vơi với thủy triều,
Hóa thân bọt biển dập dìu,
Lênh đênh.
Tan vào con sóng đầu ghềnh,
Nghe hiu quạnh,
Vút lên không,
Vỡ òa .

04/2001

NTT

___________________________________________

ƠN EM ƠN TRỜI


Đường xa
Đôi bánh lăn lăn
Chiếc sên thẳng cứng
Dùng dằng nghiến răng

Mưa reo
Nước chảy
Phăng phăng
Anh gò lưng đạp
Em đằng sau ôm

Che chung
Một tấm nhựa còm
Tình chung
Hai quả
Tim ... nhom nhóm lò

Ơn trời
Gió lớn sấm to

Ơn em
Chịu khó ngồi cho anh đèo

Chu Hà
__________________________________________

Nếp Gấp Thời Gian

Tàn xuân
Hoa rụng bên tường
Thoảng
Trong cơn gió
Còn
Vương hương nồng
Tiếng tiêu
Vọng
Giữa thinh không
Âm ba lạc
Tận
Mênh mông cõi sầu
Giòng đời
Cuốn vội về đâu ?
Đường hoa xưa
Đã phai mầu thời gian
Ngã nào
Rẽ lối ly tan ?
Nẻo nào
Đưa đến
Địa đàng an nhiên ?
U hoài
Trong
Nỗi niềm riêng
Hằn sâu
Nếp gấp
Ưu phiền qui tâm
Gọi tên
Những sớm phù trầm
Tóc rơi
Từng sợi
Lặng câm phận buồn.

ngamngui
Mar 4, 2003

---------------------------------------------

Các điều nên tránh trong thơ nói chung và Lục Bát nói riêng

- Tránh trùng ngữ: 1 chữ lập đi lập lại

Thí dụ bài thơ không đạt:

"Hôm nay tôi thấy tôi buồn
Tại tôi hay tại cảnh buồn với tôi
Từ em chối bỏ tình tôi
Chỉ còn tôi với mình tôi nỗi buồn"

Bốn câu này dù đúng quy luật bằng trắc và có âm điệu êm tai nhưng dùng chữ "tôi" và "buồn" mỗi chữ 3 lần làm vần nên không phải là thơ hay được, đó là chưa nói đến tổng cộng 7 chữ "tôi". Dĩ nhiên không bắt buộc phải tránh điệp ngữ 1 cách tuyệt đối, có khi điệp ngữ được dùng cố ý để tạo sắc thái của đoạn thơ nhưng càng bớt được càng tốt.

- Tránh trùng vận: 1 vần nên tránh dùng lại (khởi vận) dù khác chữ ít nhất trong vòng 4 câu (trong vòng 10 thì tốt hơn) , bad example (vần "an" và "ay" bị dùng
lại):

Thí dụ thơ không đạt:

"Nước non trùng điệp mây ngàn
Người ôm một nỗi điêu tàn trong tay
Mênh mông kỷ niệm về đây
Ngày xưa hoa bướm ngày nay muộn màng
Người về quên chuyện thế gian
Còn chăng là giấc mơ vàng đắm say
"

v.v.

hay là

Thí dụ thơ không đạt:

"Nước non trùng điệp mây ngàn
Người ôm một nỗi điêu tàn trong tay
Mênh mông kỷ niệm về đây
Chỉ mơ ước được ngày nay xum vầy
Dù tình xa tít chân mây
Hỏi người có hiểu tình này gió bay
"
v.v.

Vần "ay" ("ây") dùng liên tiếp 3 lần: "tay", "vầy" và "bay", các chữ "đây", "nay" "mây" và "nay" thì không phạm luật vì phải đi theo (tùng vận) các chữ mở vần (khởi vận")

Tóm lại để tránh một vần bị dùng lại thì chữ thứ 8 không nên cùng vần với chữ thứ 6 của cùng câu

"Dừng chân trong nỗi hoang mang
Xuống con thuyền nhỏ về ngang thôn LÀNG"

Trong câu sau, chữ LÀNG hỏng vì bắt hai câu tiếp theo lại cùng vần "ANG" đã có .

Trong khi luật tránh trùng ngữ có tính cách tổng quát, luật tránh trùng vận, điệp vận dĩ nhiên không áp dụng cho các thể thơ chỉ có cước vận (vần ở cuối câu) như ngũ ngôn, thất ngôn etc.

Phạm Doanh


Thơ Song Thất Lục Bát (STLB)

Song Thất Lục Bát cùng với Lục Bát là của riêng Việt Nam ta. Những luật thơ này không có mượn gì của người Trung Hoa như thơ Đường Luật. Trước khi làm thơ STLB ta nên biết nhiều và làm quen với thơ Lục Bát.

Cấu trúc của SONG THẤT LỤC BÁT
---------------------------------------------------------

Mỗi đoạn trong bài STLB gồm 4 câu 7,7,6,8. Số đoạn trong bài không hạn chế.

x x x x B x T(v)
x x B x T(v) x B(v)
x B x T x B(v)
x B x T x B(v) T B(v)

(v) = vần
B = bằng, T = trắc
x = là chữ không tính, bằng hay trắc gì cũng được

Như ta thấy luật bằng trắc của thơ Lục Bát hoàn toàn được áp dụng cho 2 câu 6,8.

Vần của mỗi đoạn 4 câu là

7/1(T) ===> 5/2(T),
7/2(cool.gif ===> 6/3(cool.gif===> 6/4(cool.gif

nghĩa là
chữ thứ 7 (trắc) câu 1 vần với chữ thứ 5 câu 2,
chữ thứ 7 (bằng) câu 2 vần với chữ thứ 6 câu 3,
chữ thứ 6 (bằng) câu 3 vần vơí chữ thứ 6 câu 4.

Để nối 2 đoạn với nhau thì có thêm luật

8/4(cool.gif ===> 5/1 (cool.gif (thông thường)
hoặc
8/4(cool.gif ===> 3/1 (cool.gif (ngoại lệ)

nghĩa là chữ cuối câu 4 phải vần với chữ thứ 5 (hay 3) của câu đầu đoạn mới, thiếu điều này các đoạn thơ trong bài sẽ bị rời rạc không thành một chuỗi. Trong thơ thí dụ là những chữ có (*).


Điều đáng ngạc nhiên là Thơ Song Thất Lục Bát tuy rất đặc sắc nhưng lại ít người làm và ít thơ haỵ Có lẽ đây là thể loại khó làm hay vì có âm điệu cổ, khúc mắc như leo núi của hai câu song thất lại hòa với âm điệu mây ngàn, du dương như nằm võng của hai câu lục bát.

Kiệt tác về STLB vẫn là "Chinh Phụ Ngâm Khúc", đến nay vẫn không có thi phẩm nào sánh được .

Mong các bạn vượt qua được những ngần ngại lúc đầu mà làm quen với thể thơ độc đáo nàỵ

THƠ THÍ DỤ CỦA SONG THẤT LỤC BÁT
-------------------------------------------------------------------
( Các chữ viết HOA là VẦN vói nhau, chữ có (*) là vần nối hai đoạn)

Chinh Phụ Ngâm Khúc

Thuở trời đất nổi cơn gió BỤI
Khách má hồng nhiều NỖI truân CHUYÊN
Xanh kia thăm thẳm từng TRÊN
Nào ai gây dựng cho NÊN nỗi NÀY(*)

Trống Trường Thành lung LAY(*) bóng NGUYỆT
Khói Cam Tuyền mờ MỊT khúc MÂY
Chín tầng gươm báu trao TAY
Nửa đêm truyền hịch đợi NGÀY xuất CHINH (*)

Nước thanh BÌNH(*) ba trăm năm CŨ
Áo nhung trao quan VŨ từ ĐÂY
Sứ trời sớm giục đường MÂY
Phép công là trọng, niềm TÂY xá gì
...


-----------------------------------------------------------------

Bình khô đập chén cả cười với nhau

Hôm nay ánh trăng vàng lơ LỬNG
Gió nhẹ lay hờ HỮNG cành CÂY
Đắng cay lời cuối là ĐÂY
Ngày mai xa cách cho ĐẦY nhớ THƯƠNG(*)

Ta cùng em quỳnh TƯƠNG(*) chén CẠN
Nhớ bao ngày bầu BẠN bên NHAU
Cung đàn gieo tiếng oán SẦU
Yêu chi cho lắm mà ĐAU thế NÀY(*)

Thôi em nhé! chia TAY(*) nhau NHÉ!
Một người đi làm KẺ phiêu BỒNG
Một người áo cưới theo CHỒNG
Còn đây chén ngọc rượu NỒNG cho NHAU(*)

Trăng mười tám bắt đầu khuyên khuyết
Thương cuộc tình, và tiếc ngày xanh
Từ nay chiếc lá xa cành
Anh về miền gió cát đành quên thôi

Thôi cứ để chôn vùi kỷ niệm
Nhắc làm chi những chuyện u hoài
Coi như tích Nhị Độ Mai
Giấc mơ thoáng nhẹ, dâú hài cỏ hoang

Bâù rượu cạn xoay ngang cười ngất
Em hỏi ta dám bất chấp đời ?
Thôi, mai đám cưới em rồi
Trả em nguyên vẹn về người lạ xa

Đêm nay ánh trăng tà lạnh lắm
Sưởi cho nhau canh vắng thế thôi
Em về bên phía kia đôì
Còn ta diện bích, mộng đời u minh

Ta chẳng tiếc cuộc tình dang dở
Chỉ nghe tim đã vỡ tan rôì
Coi như duyên nợ lứa đôi
Cầm bằng sông nước cuốn trôi mịt mùng

Cùng một nỗi niềm, chung tâm sự
Uống cho đầy tư lự đêm nay
Lâu rồi chẳng có dịp say
Rôì đây như khói mây bay cuối trời

Ừ thôi nhé ta rời phố vắng
Đếm tháng ngày cho trắng bàn tay
Mơ hồ nửa tỉnh nửa say
Tên người ta gọi vơi đầy hồn hoang

Còn đâu đó hương thoang thoáng nhẹ
Tiếng kinh hòa tiếng kệ điêu tàn
Trách trời cắt đứt tơ vàng
Tình vừa chớm mộng đoạn tràng lên ngôi

Uống cho hết, trả cho đời
Bình khô đập chén cả cười với nhaụ

Pham Doanh

(Đoạn cuối chỉ có hai câu Lục Bát để gây ấn tượng)

______________________________________________


U Hoài Của Sóng

Ai có hiểu u hoài của sóng
Cứ vỗ bờ vang vọng triền miên
Thét to để trút ưu phiền
Gối đầu thổn thức bên triền cát ai

Ai có hiểu u hoài của sóng
Cả một đời ước vọng bình yên
Sóng trườn lên bãi cát hiền
Vỗ về, an ủi ... lời nguyền chẳng phai

Ai có hiểu u hoài của sóng
Vẫn vỗ bờ vang vọng ngàn năm
Thủy triều giật sóng xa xăm
Bạc đầu sóng vỗ tìm thăm lại bờ

Sóng biết cát vẫn chờ, vẫn đợi
Sóng vẫn tìm cơ hội về bên
Cho mình - ta lại đẹp duyên
Đan tay, đầu gối đầu, miên man tình

NTT
___________________________________________

Niềm Riêng

Có những niềm riêng hoài ấp ủ
Mặt tươi cười, lòng phủ rong rêu
Chôn vào đáy mộ tình yêu
Là con tim bạc với nhiều xót xa !

Còn gì nữa để mà thương tiếc
Nợ nhân tình oan nghiệt chi đâu !
Vương mang là những khổ sầu
Cuối đường gục ngã đời nhau còn gì !

Người vội vã bước đi vội vã
Như ngại ngần ..xa lạ, chưa quen
Phố xưa ..vàng vỏ ánh đèn
Cho ta ngần ngại cài then giấc nồng !

Đơn chiếc bóng, phòng không lạnh lẽo
Bạn chung tình bạc bẽo như vôi !
Người nào cũng thế mà thôi
Cuối cùng rồi cũng phai phôi hẹn thề !

Giữa đường về, riêng ta đứng lại
Giấu nỗi niềm ngần ngại bấy lâu
Vào trong nỗi nhớ ban đầu
Để rồi mang xuống đất sâu một mình !

Thanh Trân

_______________________________________________

Sầu đời

Mộng chẳng thật vì đời là thế
Kiếp con người như thể phù vân
Cớ sao ta phải ngại ngần
Con cờ lỡ bước chẳng cần thối lui

Cuộc trần thế có bùi ngùi thương cảm
Số phận mình ai cản được đâỷ
Thôi đành nhắm mắt xuôi tay
Sông kia sẽ cạn đời này cũng qua

Đừng toan tính chạy xa trần thế
Phải đọa đày không kể riêng ai
Trường giang nước chảy miệt mài
Chỉ là số kiếp sao ai bận lòng

Có cay đắng trong vòng tục lụy
Sao cố tình suy nghĩ vẩn vơ
Dòng đời phiêu bạt hững hờ
Bâng khuâng ta dệt vần thơ quên đời

Hãy quên hết cho vơi sầu thảm
Tạm xa rời lãnh đạm tình xưa
Thời gian một thoáng đong đưa
Trăm năm một cõi như vừa thoáng qua

Hoàng Dung

_____________________________________________

Hoài vương kỷ niệm

Cuộc đời mãi ru lầm mộng mi.
Người dối gian hay chỉ đùa chơi
Ngập ngừng hứng giọt mưa rơi
Ngồi thương dĩ vãng, một thời đắm say

Em đã đến từng ngày dệt mộng
Thuở hẹn hò trông ngóng tin nhau
Trăng Thu đẹp sáng trên cao
Soi đường dương thế, ngọt ngào bến yêu

Tình xưa đó như chiều nắng nhạt
Nhẹ vu vơ nào khác bóng mây
Ru ta nỗi nhớ ngất ngây
Hoài vương kỷ niệm, đong đầy nắng Thu

Em xa vắng mịt mù lạc lối
Tôi ngồi đây kết nối vần thơ
Đêm nay ngồi ngắm trăng tơ
Cạn ly rượu đắng, vu vơ mỉm cười

Minh Long


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
TrucGiang
post Feb 5 2009, 09:09 PM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 474
Tham gia: 31-March 06
Thành viên thứ: 90



Thơ Tám Chữ

Thơ tám chữ phát sinh từ thập niên 30-40 trong phong trào thơ mới tiền chiến. Tiêu biểu là các bài thơ của Hồ Dzếnh và Xuân Diệu .

Cách làm thơ tám chữ

Có ngươì hỏi cách làm thơ tám chữ
Xin trả lời dễ lắm chứ ai ơi
Nghĩ làm sao thì cứ viết nên lời
Vì vần điệu không bó như thơ khác

Cốt là nghe êm êm theo tiếng nhạc
Mỗi một vần chỉ phải một lần thôi
Hết hai câu lại được đổi âm rồi
Bằng bằng hết lại đến phiên trắc trắc

Cần âm điệu nghe sao đừng khúc mắc
Đừng cho năm, sáu chữ một âm đều
Nên đổi thay bằng trắc thật là kêu
Không nhất thiết câu đầu tiên phải trắc

Vần thứ nhất câu 2 & 3 bắt cặp
Rôì 4 & 5, 6 & 7 tiếp tục đi
Câu cuối cùng cũng chẳng bó buộc gì
Vì chấm dứt mà không cần vần tiếp

Thơ có hay còn nhờ ngôn ngữ đẹp
Như bài này thí dụ cốt cười thôi
Viết lông bông đùa một chút cho vui
Để cho biết đó là thơ tám chữ.

Về vần luật thì thơ tám chữ thường làm theo lối liên vận hoặc cách vận.
Về âm điệu thì phổ thông nhất là nhịp 3,2,3 hay 3,3,2 trong mỗi câu.

Liên vận dễ làm hơn vì cứ hai câu lại đổi một vần. Câu đầu bình thường không bắt vần, chỉ để dẫn vào bài, từ câu hai trở đi mới cặp vần, cứ hai câu bằng rồi đến hai câu trắc. Cách chia thành từng đoạn 4 câu trong thể liên vận chỉ là hình thức vì câu đầu đoạn sau vẫn cần vần với câu cuối đoạn trước

Thơ tám chữ liên vận
____________________________________________

Bóng nhạn cuối chân đèo

Ôi giấc ngủ hoang vu làm mệt quá
Vời vợi em, bóng nhạn cuối chân đèo
Ta bám trên từng mỏm đá cheo leo
Ta với hụt, bàn tay đầy mộng mị

Rơi hun hút trong khoảng không kinh dị
Ta cong người ôm lấy vạn vì sao
Em ở đâu? chẳng thấy một câu nào
Có tìm mãi, có gọi hoài cũng thế

Người yêu hỡi, tên em lời kinh kệ
Ê a hòa trong điệp khúc ru hời
Ta bật cười, ta cắn chảy máu môi
Ta mở mắt, vẫn chỉ là đêm tối

Con thuyền vỡ lênh đênh ngàn bão nổi
Một kiếp người nào háo mãi luân lưu
Dù lang thang linh hồn vẫn lao tù
Trong khắc khoải, trong cơn mê đày đọa

Ôi giấc ngủ hoang vu làm mệt quá
Vời vợi em, bóng nhạn cuối chân đèo
.....

Phạm Doanh

Thơ cách vận tám chữ đòi hỏi câu lẻ vần với câu lẻ và câu chẳn vần với câu chẳn. Như vậy một đoạn 4 câu cần hai vần, nhưng ngược lại các đoạn không cần nối vần với nhau .

Sáng hôm nay , tiếng chuông nào báo thức
ta giật mình, bật dậy, chực ra đi
lòng cứ tưởng sương, nắng nào thúc giục
thì ra mưa đang gõ, rất thầm thì

đã lâu lắm, ta không ra khỏi nhà
kể từ lúc em đi , vắng, vườn hoa
con mèo nhỏ còn ưu tư nhớ bạn
huống hồ chi, trống rỗng, trải trong ta

đêm hôm qua, trằn trọc cơn bão cũ
sáng hôm nay, thấy mưa trước sân nhà
mưa này sao trông giống con nước lũ
xô đẩy hồn người vào cuộc phong ba

sáng hôm nay, cơn mưa nào cào xướt
dậy, ra sân, ngồi, nhớ hết mưa xưa
ký ức nào, ôm nỗi buồn khóc mướt
ôi, giọt mưa, sao cứ mãi cợt đùa

vào ra một mình, thở dài thườn thượt
chiếc ghế em ngồi, đong đưa nỗi sầu
ngày và tháng, dường, trôi mau phía trước
ta dường như, trôi ngược lại về sau

cây chanh kiểng, mang về, bỏ nằm góc
(bảo rằng, ngó chừng ta, kẻ vô tình)
em đâu biết, chanh cũng nghìn giọt lệ
cũng như người, khô lệ, chết, lặng thinh

ta đứng đó, buổi sáng nhìn mỉm cười
chờ em đến, như ngày đợi lâu, đêm
ngày với đêm, vô tình chơi cút bắt
em nỡ lòng, quanh quẩn, giỡn, trong tim

em không đến, làm sao ta biết được
đời sống này, hạnh phúc có hay khong ?
mưa đã đến, cọng cỏ xanh mọng nước
riêng trời ta, mây xám vẫn mênh mông.

Nnguong
Những biến dạng của thơ tám chữ cách vận:

1. Trong 1 đoạn 4 câu thì câu 1 vần với câu 2 và câu 4

đã lâu lắm, ta không ra khỏi nhà
kể từ lúc em đi , vắng, vườn hoa
con mèo nhỏ còn ưu tư nhớ bạn
huống hồ chi, trống rỗng, trải trong ta

2. hoặc chỉ cần câu 4 vần với câu 2; còn hai câu lẻ mang vần trắc là đủ.

cây chanh kiểng, mang về, bỏ nằm góc
(bảo rằng, ngó chừng ta, kẻ vô tình)
em đâu biết, chanh cũng nghìn giọt lệ
cũng như người, khô lệ, chết, lặng thinh

Như thí dụ trong bài trên của Nnguong

Phạm Doanh


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
TrucGiang
post Feb 5 2009, 09:43 PM
Gửi vào: #4


Advanced Member
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 474
Tham gia: 31-March 06
Thành viên thứ: 90



Trước khi đi vào thơ Đường Luật Phạm Doanh sẽ nói đến :

Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt và Thất Ngôn Bát Cú.

Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt (TNTT) về hình thức thì có thể nói đơn giản như sau:

Luật (1.) Mỗi đoạn có 4 câu, bảy chữ mỗi câu; không giới hạn số đoạn.
Luật (2.) Chữ cuối câu 1,2,4 phải cùng một vần và thường thì là thanh bằng. Các đoạn không bắt buộc phải cùng một vần.
Luật (3.) Chữ 2,4,6 trong mỗi câu phải đúng luật bằng trắc, chữ 1,3,5 sao cũng được cốt là nghe hoà hợp trong cả câu.

"Nhất tam ngũ bất luận,
Nhị tứ lục phân minh"

[b]Luật (4.)
Luật bằng trắc rất dễ, chỉ cần nhớ là trong hai câu đầu các chữ 2,4,6 thay đổi nhau

(4.1)

B,T,B
T,B,T

(4.2) rồi phản chiếu (mirror) 2 câu, sẽ có luật của 4 câu cho các chữ 2,4,6

B,T,B
T,B,T
------ mirror
T,B,T
B,T,B

Nếu kết hợp cả 4 luật trên thì ta sẽ có

TNTT loại 1 (chữ thứ hai câu đầu thanh Bằng)

x,B,x,T,x,B,B
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B

Chữ in đậm vần với nhau, còn x thì sao cũng được

Nếu hoán vị các chữ 2, 4, 6 thì sẽ có

TNTT loại 2 (chữ thứ hai câu đầu thanh Trắc)

x,T,x,B,x,T,B
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,t
x,T,x,B,x,T,B

Thí dụ thơ thuần tuý Thất ngôn tứ tuyệt đúng 4 câu

Phong Kiều Dạ Bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Trương Kế

* Dịch Thơ:

Đêm Đậu Thuyền Bến Phong Kiều

Trăng tà , tiếng quạ kêu sương
Lửa chài , cây bến, sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Tản Đà

Các biến dạng của TNTT


Biến dạng 1) [/b]

x,B,x,T,x,B,x
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B

Hay

x,T,x,B,x,T,x
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,t
x,T,x,B,x,T,B


x: sao cũng được

Thí dụ: trong "Bài Thơ Cuối Cùng" của TTKH đoạn 1 và đoạn 5 chữ cuối câu đầu không vần với câu 2 và 4. Thí dụ này cho ta thấy sự tương đối của luật, không cần đúng tất cả mà vẫn hay.

Bài Thơ Cuối Cùng
by TTKH

Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ ?
Một mùa thu cũ, một lòng đau ...
Ba năm ví biết anh còn nhớ,
Em đã câm lời, có nói đâu !

Đã lỡ, thôi rồi ! chuyện biệt ly,
Càng khơi càng thấy lụy từng khi
Trách ai mang cánh "ti-gôn" ấy,
Mà viết tình em, được ích gì ?

Chỉ có ba người đã đọc riêng,
Bài thơ "đan áo" của chồng em.
Bài thơ "đan áo" nay rao bán,
Cho khắp người đời thóc mách xem...

Là giết đời nhau đấy, biết không ?
....Dưới dàn hoa máu tiếng mưa rung,
Giận anh, em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương : điệu cuối cùng !

Từ đây, anh hãy bán thơ anh,
Còn để yên tôi với một mình,
Những cánh hoa lòng, hừ ! đã ghét,
Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơị..
Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp,
Đi nhớ người không muốn nhớ lời !

Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây
Nếu không yên được thì tôị..chết
Đêm hỡi ! làm sao tối thế nầy ?

Năm lại năm qua cứ muốn yên
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín,
Lại chính là anh ? anh của em !

Tôi biết làm sao được hỡi trời ?
Giận anh, không nỡ ! Nhớ không thôi !
Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt...
Sợ quá đi, anh..."có một người" !...

TTKH

Biến dạng 2)

x,B,x,T,x,B,T
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B

hay

x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,T
x,T,x,B,x,T,B

Nghĩa là câu 1 vần với câu 3 (thanh Trắc) và câu 2 với câu 4 (thanh Bằng)

Thí dụ:

Giấc mộng trong đêm

Ta thấy ta đứng trên triền núi
Phiá xa xa mây phủ giăng đèo
Bên vách đá phẳng lì trơ trụi
Bàn chân trên mỏm đá cheo reo

Ta đập trán lên tường sám hối
Giăng hai tay chấp nhận kiếp nghèo
Nghe cơ thể biến thành rắn mối
Bám đỉnh trời dốc ngược mà leo

Bên vực kia lũ người biết lỗi
Đang hành hưong từng bậc thang trèo
Tiếng ê a cầu xin xóa tội
Trong tiếng gầm của lũ cọp beo

Từng xác người rơi vào vũng tối
Gió vi vu gió hú qua đèo
Ta nhắm mắt nghe ngàn tiếng gọi
Và nghe hồn chết rã rời theo.

Phạm Doanh


Nói thêm về TNTT, thể thơ này xuất phát từ thời Đường bên Trung Hoa. Như bài trước có nói là thể thơ này có hai loại tuỳ theo chữ thứ hai câu đầu là thanh Bằng hay Trắc:

TNTT loại 1 (chữ thứ hai câu đầu thanh Bằng)

x,B,x,T,x,B,B
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B

Nếu hoán vị các chữ 2, 4, 6 thì sẽ có

TNTT loại 2 (chữ thứ hai câu đầu có thanh Trắc)

x,T,x,B,x,T,B
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,t
x,T,x,B,x,T,B

Các nhà thơ Trung Hoa xưa thường dùng TNTT để diễn đạt 1 ý ngắn gọn nên 1 bài thơ chỉ thuần tuý 1 đoạn 4 câu và đặc biệt họ hay dùng loại 1 còn thi nhân Việt Nam cận và hiện đại tiếp nhận thể thơ này lại hay dùng loại 2 và một bài có nhiều đoạn để diễn đạt một vấn đề, một tâm tình như các bài của TTKH hay Đinh Hùng. Không biết có phải tại vì tâm hồn Trung Hoa xúc tích còn tâm hồn Việt Nam đa cảm hơn hay không?

Thơ TNTT Trung Hoa:

Đề tích sở kiến xứ.

Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ?
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Thôi Hộ

Năm ngoái, ngày này, dưới cánh song,
Hoa đào cùng với má ai hồng.
Mặt người nay biết đi đâu vắng,
Chỉ thấy hoa cười trước gió đông.



Lô Sơn

Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu
Đắc đáo hoàn lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều

Tô Đông Pha

Sóng nước Hương Giang khói Ngự Bình
Chưa thăm mang hận cả bình sinh
Thăm rồi về lại lòng không đổi
Vẫn sóng Hương Giang khói Ngự Bình

Phạm Doanh dịch (dùng địa danh Việt Nam)



Vạn lý Triều Châu nhất trục thần ,
Du du thanh thảo hải biên xuân .
Thiên nhai mạc đạo vô hồi nhật ,
Thượng lĩnh hoàn phùng hướng bắc nhân .

Vương Kiến

* Dịch thơ:

Tiễn Khách Đi Đày

Khách đày vạn dặm Triều Châu
Mênh mông góc biển cỏ sầu thương xuân
Ngày về đừng nói rằng không
Cùng người lên bắc tương phùng đầu non

Xích Bích Kiều dịch


Vong ưu hoa

Phồn hồng lạc tận thủy thê lương ,
Trực đạo vong ưu dã vị vương .
Sổ đóa ân hồng tự xuân tại ,
Xuân sầu đặc thử hệ nhân trường

Ngô Dung

Hoa vong ưu

Nghĩa:

Đám hoa rụng hết, bắt đầu sự buồn bã
Nói với hoa đừng buồn sao ta không hết (buồn)
Vài đóa vẫn hồng, như vẫn còn xuân
Nhưng xuân buồn gieo sầu vào lòng ngượi



Tặng biệt

Hựu tương thư kiếm xuất cô chu ,
Tận nhật đình nhiêu kết viễn sầu .
Mạc đạo giang ba thoại ly biệt ,
Giang ba nhất khứ bất hồi lưu .

Lý Xương Phù


Dịch thơ :

Làm tặng biệt ly

Thuyền đơn thư kiếm khởi hành
Dừng chèo ngày hết kết quanh những buồn
Chia phôi lời sóng run run
Một đi sóng sẽ đi luôn , không về

Phan Lang

Chiêu Quân trủng

Tằng vi Hán đế nhãn trung nhân ,
Kim tác cuồng Hồ mạch thượng trần .
Thân tử bất tri đa thiểu tải ,
Trủng hoa do đới Lạc Dương xuân .

Tưởng Cát


Dịch thơ :

Mộ Chiêu Quân

Là người trong mắt vua Hán
Đất Hồ nay làm bụi đường
Bao năm đi vào cõi chết
Hoa mộ vẫn xuân Lạc Dương

Phan Lang


Thể Thất Ngôn Bát Cú (TNBC - không phải thể Đường Luật)

Lưu ý: xin đọc về thể thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt (TNTT) trước khi đọc bài này.

Từ Thất Ngôn Tứ Tuyệt (TNTT) chuyển sang Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) rất dễ nếu ta nhập 2 đoạn TNTT vào nhau với điều kiện:

1. Hai đoạn cùng 1 loại (chữ thứ hai câu đầu cùng là Bằng hay Trắc)
2. Chữ cuối câu số 5 là thanh Trắc
3. Các chữ cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 vần với nhau

Như vậy ma trận bằng trắc của TNBC như sau:

- TNBC loại 1 (chữ thứ hai câu đầu thanh Bằng)

x,B,x,T,x,B,B
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,T (điều kiện 2)
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B

Nếu hoán vị các chữ 2, 4, 6 thì sẽ có

TNBC loại 2 (chữ thứ hai câu đầu có thanh Trắc)

x,T,x,B,x,T,B
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,t
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T (điều kiện 2)
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,t
x,T,x,B,x,T,B


Thí dụ TNBC loại 1: (chữ thứ hai câu đầu có thanh Bằng)


Ghé Bến Trần Gian

Người say muôn thuở ghé qua chơi,
Nhựa níu, men chào, tóc lả lơi.
Trau chuốt, ân cần... thôi uổng quá!
Dạ phàm đâu buộc cánh chơi vơi.
Cuộc đi: khói, rượu, thơ, tình, mộng,
Ăm ắp đầy then, chẳng mượn đời,
Hứng sẵn, neo thuyền ghi chút cảm,
Buông về, cao rộng mấy trùng khơi.

Vũ Hoàng Chương

Dựng
Tay tiên gió táp mưa sa
(Nguyễn Du)

Đàn rưng rưng lệ phách dồn mưa
Tiếng hát tàn rơi hận thuở xưa
Bụi nhuốm Thiên Thai nhòa hứng rượu,
Đời sau say giúp mấy cho vừa!
Cô đơn, men đắng sầu trăng bến
Đất trích Tầm Dương quạnh tiễn đưa.
Nhịp đổ càng mau nghe ríu rít
Tê rời tay ngọc lúc buông thưa.

Vũ Hoàng Chương


Chiều lãng mạn

Chiều nay gió nhẹ chuyển hơi lành
Giọt nắng đùa trong khóm lá xanh
Nắng hạ nồng trên làn tóc xõa
Hương thơm quyện lấy cả hồn anh
Em nằm ôm gối, vờ như ngủ
Anh hát đồng dao điệu dỗ dành
Nói khẽ bên tai lời trăng gió
Thẹn thùng em dụi sát vào anh.

Phạm Doanh


Thí dụ TNBC loại 2: (chữ thứ hai câu đầu có thanh Trắc)

Một Phút Ngừng Say

Bấc trĩu hoa đèn nhựa úa nâu
Phải say nằm khóc mộng ban đầu
Bước chân song sóng vòng tay mở
Dạo ấy người ơi xa lắm đâu
Chớm nụ tiếc cho tình quá ngát
Mà thương trời bể quá cao sâu
Tiếc thương lẻn khói vào tâm trí
Mưa gió tàn đêm lộng quán sầu

Vũ Hoàng Chương



Cứ mỗi mùa thu

Cứ mỗi mùa thu lại nhớ nhà
Gợi bao kỷ niệm cõi hồn ta
Dừng chân trên bước đường phiêu lãng
Đếm lá vàng bay ảo mộng nhòa
Ngày ấy lòng còn sôi nhiệt huyết
Đến đâu cũng chẳng thấy trầm kha
Nhưng thời gian chất bờ vai nhỏ
Đọng lại bàn tay giọt nắng tà.

Phạm Doanh

Như có nói từ bài đầu, các nguyên tắc hay luật lệ của mọi thể thơ đều là tương đối, chỉ nhằm mục đích định hướng cho người mới làm thơ. Khi đã quen thuộc và thấm nhuần âm điệu của các thể thơ, người làm thơ có thể tự do sáng tạo mà không cần gò bó vào các luật lệ trong thơ.

Sau đây là những bài thơ cũng bẩy chữ tám câu mà không theo các luật trên một cách tuyệt đối:

Bước chân trên tuyết


Hằn dấu giầy trên tuyết trinh nguyên
Bước chân vương nặng nỗi ưu phiền
Ánh trăng bàng bạc trăng hoang dại
In bóng trên đường bóng đổ nghiêng
Sương khói mờ trên đầu ngọn cỏ
Mong manh như những cuộc tình duyên
Đưa tay hứng nhẹ vài bông tuyết
Ai người chia xẻ nỗi niềm riêng ? (Câu 8 không giống về bằng trắc với câu 5)

Phạm Doanh


Canh giấc

Anh ngồi bên cạnh giấc mơ em
Chăn ấm nệm thơm gối trắng mềm
Tóc xõa che nửa vùng mộng mị
Nhấp nhô gò ngực nhịp êm êm
Chăn đắp ngang tầm người nhỏ nhắn
Lộ bờ vai nhỏ dưới trăng đêm
Làm anh ngẩn ngơ, làm say đắm
Trong đời nào ước muốn gì thêm

Phạm Doanh


Trong khi một bài thơ theo thể TNTT có thể có 1 đoạn hay nhiều đoạn 4 câu thì TNBC thường chỉ có đúng 8 câu, gói trọn 1 ý.

Phạm Doanh


Thơ Đường Luật:

Khi đã quen thuộc với thể thơ Thất Ngôn Bát Cú thì chuyển sang thơ Đường Luật thật dễ dàng.
Thơ Đường Luật không phải là thơ Đường hay Đường Thi; Thơ Đường hay Đường Thi là những bài thơ làm thời nhà Đường Trung Hoa mà điển hình là 300 bài thơ bất hủ trong bộ Đường Thi Tam Bách Thủ.
Đường Thi có rất nhiều thể, Ngũ ngôn, Thất ngôn hay không có số chữ nhất định trong câu. Một trong những thể thơ được ưa chuộng và truyền tụng là thể Đường Luật mà chúng ta sắp đề cập tới

Vì thế không những các bài thơ Đường Luật đời này mà kể cả những bài thơ Đường Luật xưa hằng trăm năm như của Bà Huyện Thanh Quan và ngay đến các bài thơ đời nhà Tống nhà Minh bên Trung Hoa cũng không gọi là Đường Thi được mà chỉ gọi là thơ Đường Luật nếu theo thể thức bên dưới.

Luật Thơ Đường Đơn Giản hóa

Thơ đường luật về hình thức là thơ "Thất ngôn bát cú" với thêm một điều kiện là hai câu 3&4 và 5&6 phải đối nhau về ý và về tự loại, nghĩa là chữ nào câu trên là verb/noun/adjective thì chữ ở vị trí đó của câu dưới cũng là verb/noun/adjective

Thí dụ

Thù nhà trả hết tròn câu hứa
Nợ nước đền xong cả cuộc đời


Thù nhà ---> nợ nước (compound noun)
trả ---> đền (verb)
hết ---> xong (adverb)
tròn ---> cả (adverb)
câu hứa ---> cuộc đời (compound noun)


Bến vắng thuyền neo, neo đợi khách
Sông sâu sóng vỗ, vỗ ru đời

Bến ---> Sông (noun)
vắng ---> sâu (adjective)
thuyền ---> sóng (noun)
neo, neo ---> vỗ, vỗ (verb, repeated)
đơị ----> ru (present participle)
khách ----> đời (noun)

Luật Bằng Trắc của Đường Luật giống hệt như Thất Ngôn Bát Cú cũng có hai loại cho vần Bằng (trong bài sau sẽ nói đến hai loại cho vần Trắc ở chữ cuối câu 1,2,4,6,8 )

- loại 1 (chữ thứ hai câu đầu thanh Bằng)

x,B,x,T,x,B,B
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,T
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B

Nếu hoán vị Bắng, Trắc các chữ 2, 4, 6 thì sẽ có

loại 2 (chữ thứ hai câu đầu có thanh Trắc)

x,T,x,B,x,T,B
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,T
x,T,x,B,x,T,B
x,T,x,B,x,T,T
x,B,x,T,x,B,B
x,B,x,T,x,B,T
x,T,x,B,x,T,B


Về nội dung trong bố cục của thơ Đường Luật, mỗi một câu đều có chức năng của nó:

hai câu đầu (1,2) là đề bài . Câu 1 là phá đề, câu hai là thừa đề (chữ thừa có nghĩa là nối theo câu phá để vào bài).

hai câu 3,4 còn gọi là Thực hay Trạng dùng để giải thích đầu bài cho rõ ràng. hoặc cũng có thể dùng để đưa thêm chi tiết bổ nghĩa .

hai câu 5,6 (Luận) bàn bạc hay bàn luận cho rộng nghĩạ cũng có thể dùng như câu 3,4 đưa thêm chi tiết.

hai câu cuối 7,8 (Kết) tóm ý nghĩa của toàn bài và thắt ý lại .


Thí dụ loại 1

Thí Dụ

Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng vì chưng một tấm chồng,
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.

Nguyễn Khuyến


Nghiệm

Ngôi chùa mái đỏ ngự trên đồi
Nhìn xuống dòng sông nước chảy xuôi
Bến vắng thuyền neo, neo đợi khách
Sông sâu sóng vỗ, vỗ ru đời
Thiền sư tĩnh tọa suy tiền hậu
Cư sĩ trầm ngâm nghiệm khứ hồi
Chuông đổ mang mang chiều nhạt nắng
Cho người quên bớt phận đơn côi.

Phạm Doanh

___________________________________________


Cảm Tác

Chiều nay gió lạnh mờ hơi sương
Run rẩy cành trơ tuyết ngập đường
Nhớ thuở cơ hàn nơi xứ lạ
Thương thời lận đận lúc tha hương
Mây bay gió thoảng khơi tâm sự
Tuyết phủ sương mờ gợi vấn vương
Đất khách quê người xin gởi gắm
Nửa hồn còn lại kiếp lưu phương .

Gia Phong
___________________________________________

Ải Nam Quan

Hết rồi ơi hỡi ải Nam Quan
Lệ đổ lòng đau hận ngút ngàn
Gió Bắc vênh vang cười chiến thắng
Rừng Nam thổn thức khóc suy tàn
Buôn dân một Đảng mê quyền vị
Bán đất dăm tên hám bạc vàng
Chưa đánh đã nhường ôi nhục nhã
Tủi hờn Sông Núi kiếp nô bang

Thông Già


Thí dụ loại 2

Vết tử thương

Người chiến binh kia ngã xuống rồi
Vết thương trên ngực máu còn tươi
Thù nhà trả hết tròn câu hứa
Nợ nước đền xong cả cuộc đời
Nhìn lá quốc kỳ bay phất phới
Biết quân kháng chiến thắng nơi nơi
Một hơi thở cuối trong lồ ng ngực
Mắt nhắm, lòng yên, nhẹ nét cười .

Phạm Doanh


Thoảng Ngát Tri Âm

Bạn hãy cùng ta cạn chén đầy
Hàn huyên tâm sự mấy lời say
Thả trôi cay đắng đầy bi lụy
Buông lỏng ngậm ngùi lúc quắt quay
Muợn nguyệt đề thơ ngày hội ngộ
Nhờ mây vẽ cảnh phút men cay
Lỡ mai tóc bạc không về cội
Vẫn ngát tri âm những chuỗi ngày

Triệu Minh

__________________________________________________ _

Nếu dễ dãi thì trong hai câu đối 3&4 và 5&6 không bắt buộc phải từng chữ đối chọi với nhau, mà cả nhóm chữ thành 1 loại cũng được, như ba chữ tạo thành nhóm danh từ thì đối với 3 chữ câu kế cũng tạo thành nhóm danh từ, chứ không bắt buộc từng chữ trong nhóm phải đối chọi nhau. Cần nhất là đối ý thôi. Dĩ nhiên là hoàn chỉnh tất cả là hay nhất, nhưng như đã nói, bình đẹp không bằng rượu ngon.

__________________________________________________ __



Những hình thái khác của thơ Đường Luật:
Có 8 câu bảy chữ nhưng các cụ xưa đã bày thêm rất nhiều thể loại (hơn 20) như


Thủ nhất thanh ( nhất đồng )
Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhaụ

Tám Mừng

Mừng đón xuân về, muôn sắc hoa,
Mừng xuân,xuân mới, mới thêm rạ
Mừng nghe nhựa sống, như còn trẻ,
Mừng thấy đời tươi, chửa muốn già.
Mừng khỏe đôi chân, đi đứng vững,
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xạ
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi,
Mừng được trường xuân hưởng thái hoà.

1986 Lạc Nam

Song điệp
Tất cả 8 câu đều có 2 điệp từ :

Chuyện Đời

Vất vất vơ vơ, cũng nực cười,
Căm căm cúi cúi có hơn ai .
Nay còn chị chị anh anh đó ,
Mai đã ông ông mụ mụ rồị
Có có không không, lo hết kiếp
Khôn khôn dại dại, chết xong đời.
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy,
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi.
Nguyễn Công Trứ

Tính danh
Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh. Giống như Điển Thi, câu nào cũng dẫn 1 điển ở bên Tàu. Xưa kia các cụ đồ nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học, rộng kiến thức.

Lỗi Thề

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Đường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành(2) rở nhớ thương.
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương(4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8 ) mưa gió nẻo cầu sương.

Toại Khang

Láy ba (Vĩ Tam Thanh): Sạch sành sanh-dửng dừng dưng - sát sàn sạt . . .

Ngẫu Hứng

Tiếng gà bên gối tẻ tè te,
Bóng ác trông lên hé hẻ hè.
Cây một chồi cao von vót vót,
Hoa năm sắc nở lóe lòe loẹ
Chim tình bè lứa kia kìa kịa,
Ong, nhĩa vua tôi nhé nhẻ nhè.
Danh lợi mặc người ti tí tị,
Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe.

Vô Danh


Tựu trung là những xảo thuật để chứng tỏ người viết giỏi về từ ngữ. Theo thiển ý chỉ có tính cách lạ, như Sơn Đông mãi võ trong làng thơ, còn về giá trị thơ thì không có bao nhiêu. Tài liệu này về Những hình thái khác của thơ Đường Luật do tham khảo của Bồ Tùng Linh trong site

http://www.honque.com/HQ002/bienkhao.html




Vài nhận định về sự đối câu trong thơ Đường Luật.


Có những ý kiến cho rằng 2 cặp câu 3,4 và 5,6 của thơ Đường Luật phải đối một cách tuyệt đối, nghĩa là từng chữ câu trên thuộc tự loại nào thì chữ cùng vị trí trong câu dưới cũng phải đúng tự loại đó .

Nhiều tác giả chú trọng quá nhiều vào hình thức đối của thơ Đường nên gò từng chữ miễn sao cho đúng luật hiểu theo cái nhìn chật hẹp, nên viết những câu đối thật chặt chẽ về hình thức mà trống rỗng về nội dung cũng như gượng ép trong cách dùng chữ.

Họ có thể cho những câu như sau là hay vì chỉnh trong vấn đề đối:

Cô gái sau sân ngồi rửa bát
Chàng trai trước cửa đứng lau xe

Đối trong thơ Đường Luật là đối ý trước tiên rồi mới đến đối tự loại. Và đối từng cụm từ chứ không phải từng chữ. Ý tưởng nghèo nàn, chữ dùng thô thiển thì dù có đối chỉnh cách mấy cũng không có chút giá trị nào, loại Đường Luật nặng về hình thức này giống như 1 chiếc hộp gỗ thật vuông vức thật thẳng góc cạnh nhưng gỗ là gỗ tạp và chứa đựng trong lòng nó nội dung nghèo nàn. Sao bằng được một chiếc hộp gỗ góc cạnh có thể không thẳng hoàn toàn nhưng là gỗ quý và chứa đựng món hay vật lạ.

Ngay cả trước đây hơn một thế kỷ các nhà Nho nổi tiếng như Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến sống trong thời đại từ chương, gò bó về luật thơ, đi thi chỉ cần sai một chút là hỏng mà cụ đậu đầu cả 3 kỳ thi Hương, Hội và Đình. Bậc Trạng Nguyên như thế mà còn không cố chấp về luật đối trong thơ ĐL thì chúng ta trong quan niệm phóng khoáng ngày nay lại cố bám vào từng chữ hay sao. Có khi còn bắt lỗi là cùng là động từ nhưng transitive verb (cần túc từ) không được đối với intransitive verb (không cần túc từ) hay trạng từ chỉ thời gian không đi với trạng từ chỉ không gian, 1 câu là câu hỏi thì câu kia cũng phải là câu hỏi.

Sau đây là các thí dụ của bất chấp luật đối cứng ngắc của Yên Đổ Nguyễn Khuyến, ông bất chấp chứ không phải ông không biết luật.

Vịnh Tiến Sĩ Giấy

Rõ chú hoa man khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu ?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.


Ví dụ này càng cho thấy cái "không đối" theo như những lập trường cố chấp, Bán và mua trong câu trên là động từ còn Bảng và bia là danh từ; ngay cả tiếng và danh là danh từ cũng không đối với vàng và đá là tĩnh từ. Nhưng đối là đối cả ý, cả câu chứ làm sao mà Nguyễn Khuyến không biết luật được. Cái luật mà người ta khăng khăng bám vào chỉ là cái cố chấp vô lối thôi. Dĩ nhiên là nếu mình muốn đối tuyệt đối thì cũng không sao, nhưng mang lập trường đó mà phê bình thơ người khác một cách hàm hồ thì thật là thiển cận biết bao.

Ở đây không phải là người không làm nổi câu đối nên nguỵ biện, chỉ là thấy những người học được một số luật rồi bám vào đó coi như là kinh điển tuyệt đối đúng là biết một mà chẳng biết hai. Chính họ là những người hay sửa sai và chê bai người khác là làm thơ sai luật vì đối không chỉnh.

Không phải chỉ mình Nguyễn Khuyến mới "thất luật", 2 câu sau đây của Tú Xương cũng sẽ không làm vừa lòng các vị bảo hoàng hơn vua:

Chí cha chí chát khua giày dép,
Ðen thủi đen thui cũng lụa là.

Khua là động từ có đi với cũng là trạng từ không? Thưa được vì
đối ý, đối câu mà hay thì từng chữ một không cần đúng.


Và hãy đọc Nguyễn công Trứ

Tự cao

Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
Dở duyên với rượu khôn từng chén
Trót nợ làm thơ phải thuộc bài
Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó
Ðàn còn phiếm trúc tính tình đây
Ai say ai tỉnh ai thua được
Ta mặc ta mà ai mặc ai

Nguyễn Công Trứ


Cả hai cặp 3,4 và 5,6 đều không đối từng chữ . Nếu khăng khăng thì hoá Nguyễn công Trứ không biết luật sao ?, "từng chén" chắc chắn không đối với "thuộc bài" và "xe ngựa" không cùng tự loại với "tính tình" , đó là chưa kể "với" versus "làm" . Nhà Nho như Nguyễn công Trứ há lại phạm 3 lần lỗi trong bốn câu hay sao ?

Ra đường đáng giá người trinh thục
Trong bụng sao mà những gió trăng,

Người và những trong con mắt của người cố chấp thì chắc chắn là không đối rồi.

Hay là bài thơ nổi tiếng của vua Lê Thánh Tông

Đề Miếu Bà

Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng...


Chúng ta thấy rõ ràng là trong hai cặp đối nhau, không phải tất cả các chữ cùng vị trí đều cùng tự loại cả, (tắt / cho), (đừng / lụy) , (nghe / đến) , (đôi / mượn), (vầng / đến) ngay cả (nhật nguyệt / đàn tràng) hay (trẻ / nàng) đều không đối theo quan niệm cứng ngắt hẹp hòi. Nếu bắt lỗi thì 4 câu của vua Lê Thánh Tông trong bài thơ truyền tụng lại đã phạm 6, 7 lỗi. Nhà vua là người uyên bác lại đứng đầu một thi đàn chẳng lẽ không biết luật.

Những sự phóng khoáng không để bị quy luật hạn hẹp của sự đối gò bó mình được thấy trong rất nhiều nhà thơ cổ xưa và hiện đại.

Những người hay phán xét thơ người khác qua lăng kính đó thì chỉ tìm xem đối từng chữ mà không thấy được những vần thơ có giá trị.

Thi bá Vũ Hoàng Chương chắc hẳn là thông suốt luật đối của thơ Đường Luật, nhưng ông cũng chẳng cần giữ nó một cách tuyệt đố như trong bài

VỊNH TRANH GÀ LỢN

Sáng chưa sáng hẳn , tối không đành
Gà lợn om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe Rồng ngân váng khúc tân thanh

VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Trong hai câu

Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh

Tai và hoạ của câu ba đối với đỏ và xanh của câu bốn, nhưng tai và hoạ là danh từ còn đỏ và xanh là tĩnh từ. Nhưng bài thơ vẫn rất đạt, rất hay.

Tóm lại đối chỉ là 1 khía cạnh hình thức của thơ ĐL, mà ý tưởng, vần điệu và từ ngữ là những khía cạnh khác. Đánh giá một bài thơ ĐL không phải là trước tiên nhìn coi từng chữ có đúng tự loại hay không mà là âm điệu có êm đềm, thánh thót hay trầm bỗng, ý tưởng đặc sắc và từ ngữ trong sáng hay độc đáo và nhất là cả bài thơ có để lại cho người đọc một ấn tượng một rung động nào không.

Không lẽ

Ban ngày chó sủa trên đầu phố
Buổi tối mèo kêu dưới cuối phường

ngày/tối chó/mèo sủa/kêu trên/dưới phố/phường

là câu đối tuyệt hảo hay sao?

Phạm Doanh


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
2 Người đang đọc chủ đề này (2 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 7th June 2020 - 06:46 AM