Bản in cho chủ đề

Nhấn vào đây để xem chủ đề ở nguyên bản

BenTreHome Forums _ THAM LUẬN - BIÊN KHẢO _ VềPHẬT (Của HOAHẠ)

Gửi bởi: hoaha Aug 13 2005, 09:58 AM

QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VỀ PHỤ NỮ
Như Hạnh
Bình đẳng giới tính (sexual equality) và nữ quyền thuộc về những vấn đề quan trọng nhất của thời đại mớị Trong đa số các nền văn hóa (không cứ là văn hóa Đông phương) giới chịu các bất công trong những bất bình đẳng về giới tính thường là nữ giớị Do đó tranh đấu về bình đẳng giới tính thường là đồng nghĩa với tranh đấu cho nữ quyền.

Bình đẳng về giới tính một cách tổng quát xoay chung quanh các vấn đề chính mà tôn giáo cũng có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp như: khái niệm về đàn ông và đàn bà và khả năng tâm linh của họ; quyền được học hỏi và thực hành các giáo lý; cơ hội về các vai trò trong tổ chức; địa vị, sự kính trọng, và quyền hành trong gia đình; bình đẳng trong các vấn đề luật pháp như ly dị; quyền được hưởng những phương tiện giáo dục; quyền được theo đuổi nghề nghiệp; quyền lợi chính trị, vân vân.

Như đã đề cập khái niệm của tôn giáo về bản tính của người đàn ông và nhất là người đàn bà có rất nhiều ảnh hưởng đối với tình trạng hiện thực của người phụ nữ trong đời sống tôn giáo và xã hộị Ngày nay vì ưu thế của văn minh Tây phương, đa số mọi người (kể cả người Đông phương) nuôi dưỡng những thái độ rất nông cạn về văn hóa và tôn giáo Đông phương. Một trong những thái độ này là tôn giáo và văn hóa Đông phương "đè nén" phụ nữ. Văn hóa và tôn giáo Tây phương trái lại chấp nhận bình đẳng giới tính.

Thật ra thì "đè nén" phụ nữ hầu như là một đặc tính chung của văn hóa nhân loạị Cũng đúng thật rằng phong trào nữ quyền là một hiện tượng mới và bắt nguồn ở Tây phương. Điều này chứng tỏ rằng những hạt giống bình đẳng giới tính cũng có hiện diện trong văn hóa tôn giáo và trong tâm thức của người phụ nữ. Nhưng các điều kiện thuận tiện cho tranh đấu nữ quyền phát triển ở Tây phương nhờ ở các thay đổi về mặt trí thức, kinh tế, chính trị, xã hộị Những ai theo dõi vấn đề này đều nhận thấy rằng tranh đấu nữ quyền hiện nay không còn là một hiện tượng thuần túy Tây phương nữạ Những người phụ nữ tự giác (self-conscious) ở khắp các nền văn hóa đã bắt đầu đóng góp đáng kể cho việc xác nhận quyền lợi, phẩm tính, và vai trò tích cực/lãnh đạo của người phụ nữ trong đủ mọi phương diện của đời sống.

Bài viết ngắn này nhắm trình bày một cách tổng quan những thái độ căn bản của truyền thống Phật Giáo có liên quan đến các vấn đề then chốt về bình đẳng giới tính và nữ quyền như đã nêu ra ở trên. Phật Giáo có một lịch sử lâu dài hơn hai ngàn năm trăm năm và trải rộng ra trong nhiều nền văn hóa khác nhaụ Cho nên lập trường của Phật Giáo về bất cứ một vấn đề gì cũng hết sức là đa dạng. Nói cách khác, quan điểm và thái độ của người Phật tử còn chịu cả ảnh hưởng của các nền văn hóa/tôn giáo trong các quốc gia mà Phật Giáo có mặt như Ấn Giáo, Nho Giáo, Thiên Chúa Giáo, vân vân.

Đức Phật thuyết giảng suốt gần nửa thế kỷ. Giáo lý của ngài bao gồm các vấn đề từ triết lý, vũ trụ quan, tâm lý học, nhận thức luận, chính trị, xã hội, kinh tế, đạo đức, bình đẳng giới tính vô cùng sâu rộng, vượt qua trí tưởng tượng của một Phật tử Việt Nam bình thường. Để có thể đóng góp một cách thiết thực cho nhân loại, để biến cộng đồng Phật Giáo thành một cộng đồng khả kính, người Phật tử phải có nhiệm vụ tìm hiểu, suy niệm về các khía cạnh phong phú của Phật Pháp cũng như tạo điều kiện và phương tiện để thực hiện những lời dạy của Đức Phật trong đời sống. Phật Giáo không phải chỉ là cúng kiếng cầu phước lễ báị Thái độ ù lì, thụ động, và giáo điều là những gì hoàn toàn tương phản với Phật Giáọ

Xin trở lại với vấn đề phụ nữ. Sự hiện diện và đóng góp của giới phụ nữ trong cộng đồng Phật Giáo Việt Nam là điều rất hiển nhiên. Trong các sinh hoạt tôn giáo chúng ta thường thấy sự hiện diện của phụ nữ đông đảo hơn là nam giớị Rủi thay, đây lại là một lý do để một số người hạ thấp Phật Giáọ Rất nhiều người nói rằng "đến chùa chán lắm, toàn là đàn bà." Đây là một câu nói sặc mùi kỳ thị giới tính (sexist) cũng như hoàn toàn vô nghĩa lý. Thứ nhất, không bao giờ nghe ai nói "đến chùa chán lắm toàn là đàn ông." Thứ nhì, cái phẩm chất của một tôn giáo tùy thuộc khả năng và đức độ của giới lãnh đạo cùng với trình độ hiểu biết và cách hành sử của các tín đồ của tôn giáo ấỵ Phẩm chất của một tôn giáo tuyệt nhiên không phải chỉ được qui định bởi sự tham gia của giới tính. Cũng tựa như giá trị của một trường đại học là ở nơi tài nguyên, thư viện, trường sở, khả năng của ban giảng huấn, và trình độ của sinh viên. Không có bằng cớ khách quan nào chứng minh rằng một trường đại học có nhiều nữ sinh hơn nam sinh là một trường có phẩm chất kém và ngược lạị

Nói chung, hiện nay sự hiện diện của phụ nữ trong các cộng đồng Phật Giáo khắp thế giới rất là hiển nhiên. Những phụ nữ này không chỉ tham gia với tư cách là những tín đồ hay thí chủ mà còn là các tu sĩ và thầy dạỵ Nhưng kinh điển và truyền thống Phật Giáo mô tả người phụ nữ ra saỏ Trong lúc mà hầu hết các tôn giáo bị xem là có tính cách phụ hệ (patriarchal), lập trường của Phật Giáo như thế nàỏ Giáo lý Phật Giáo có thể đóng góp những gì cho sự bình đẳng giới tính, cho nữ quyền?

Phụ nữ trong Ấn Giáo cổ thời:
Phật Giáo khởi thủy trong bối cảnh văn hóa Ấn Giáọ Trên mặt tư tưởng Phật Giáo chia sẻ với Ấn Giáo một số khái niệm nền tảng tuy rằng Đức Phật đưa ra những lối giải thích khác. Điểm dị biệt chính là ở chỗ Đức Phật không chấp nhận những cơ chế nghi lễ căn bản của Ấn Giáo đặt trên nền tảng của hệ thống giai cấp. Điều này cũng đóng góp cho quan điểm của Đức Phật về nhân phẩm và vị trí của người phụ nữ. Do đó, muốn hiểu thái độ của Đức Phật về vai trò của người phụ nữ, chúng ta cần có một khái niệm căn bản về vai trò của người phụ nữ trong Ấn Giáọ

Ấn Giáo cổ thời dựa trên kinh Veda (khoảng 2000-1500 trước công nguyên) là một thế giới quan nhấn mạnh về nghi lễ tế tự. Theo tư liệu có được, chúng ta biết rằng trong các thần linh được thờ phượng có một số nữ thần; và trong số các tác giả của những thánh thi có một số là phụ nữ. Phụ nữ tương đối được kính trọng và được quyền tham dự vào đời sống tâm linh. Nhưng bởi vì Ấn Giáo cổ thời nhấn mạnh vào nghi lễ và tín niệm rằng nghi lễ là bí quyết kiểm soát vũ trụ, cho nên dần dà (vào khoảng từ 1000-700 trước Công nguyên) xuất hiện những kinh văn với những chỉ dẫn phức tạp về việc thực hành nghi lễ.

Sự đào luyện các chuyên viên về nghi lễ càng trở nên cần thiết. Chương trình đào luyện này đòi hỏi nhiều thời gian và ở những trung tâm xa nhà với các chuyên giạ Cho nên chỉ các đàn ông trong giai cấp tu sĩ mới được hưởng đặc quyền nàỵ Một trong các nghi lễ quan trọng nhất của Ấn Giáo là tang lễ. Con trai được xem là thiết yếu trong việc thi hành tang lễ để giúp vong linh người cha đạt được cõi trờị Chính vì thế mà nẩy sinh ra các nghi lễ để ngăn chặn việc sinh con gái, bởi vì con gái bị xem như gánh nặng cho gia đình cho đến khi đi lấy chồng --- nhiệm vụ chính yếu của người phụ nữ. Vai trò của người phụ nữ là làm vợ và sinh đẻ (làm mẹ). Người vợ phải hoàn toàn phục tùng chồng và cha mẹ chồng. Mặc dù trong các kinh Upanisads (khoảng 700-200 trước Công nguyên), các kinh thư nhấn mạnh kinh nghiệm huyền bí (mystical) và khổ hạnh, chúng ta thấy có đề cập đến một vài phụ nữ khổ tu, thế nhưng khổ tu vẫn được xem là đặc quyền của nam giớị Một tâm lý thường tình là các nhà khổ hạnh (hầu như của tất cả mọi tôn giáo) đều xem phụ nữ là những "cám dỗ" cần tránh xạ

Đến khi Phật Giáo và Kỳ-na Giáo (Jainism) xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, như một thành phần của nỗ lực củng cố cơ chế Ấn Giáo, các tu sĩ Ấn Giáo bắt đầu soạn thảo ra các kinh thư (được gọi chung là dharma-sastras, đại khái là các sách về qui luật tôn giáo) qui định đời sống xã hội dựa trên các phép tắc mà họ soạn rạ Do đó, địa vị của phụ nữ càng bị thấp đị Theo những kinh thư kia, nhất là các bộ có ảnh hưởng nhất xuất hiện vào khoảng 100 năm trước Công nguyên, phụ nữ không được phép đọc kinh Veda, không được thi hành nghi lễ hay tế tự ngoại trừ với tư cách phụ trợ cho đàn ông.

Nếu bảo rằng những kinh thư này (hay là Ấn Giáo nói chung) chỉ toàn đưa ra những quan điểm tiêu cực có tính cách kỳ thị phụ nữ thì cũng không công bình lắm. (Bởi vì suốt lịch sử Ấn Giáo, cho đến hiện nay, lúc nào cũng có sự hiện diện của các nữ thần và các thầy dạy đạo (guru) phái nữ được tôn sùng bởi các tín đồ thuộc cả nam lẫn nữ giới). Một cách hết sức vắn tắt, các kinh thư này hàm chứa những quan điểm đa dạng về phụ nữ. Chẳng hạn, cũng có nhiều đoạn nhấn mạnh về tầm quan trọng của người phụ nữ trong gia đình, khuyến khích chồng phải kính trọng vợ, các nghi lễ không thể được thi hành hoàn hảo nếu không có sự trợ giúp của người vợ, vân vân. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng theo quan điểm chung của các kinh thư này thì địa vị của người phụ nữ vẫn hoàn toàn dưới nam giớị Đại khái là người phụ nữ luôn luôn cần được "bảo vệ" bởi cha, chồng, hay con trưởng. Không bao giờ nên để cho người phụ nữ được độc lập. (Ở đây chúng ta không khỏi liên tưởng đến quan niệm "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" của nhà Nho). Nói tóm, các nhiệm vụ của người phụ nữ chỉ là phục dịch chồng và chăm sóc nhà cửạ Người phụ nữ phải luôn luôn vâng lời và kính trọng chồng dù là người chồng bê tha hoang đàng. Người đàn ông có quyền ly dị vợ, người phụ nữ lại không hề được phép ly dị chồng. (Đức Phật, trái lại, luôn luôn nhấn mạnh sự hỗ tương. Người vợ có bổn phận đối với chồng. Người chồng cũng có những bổn phận tương đương đối với vợ).

Thái độ của Phật Giáo

Lúc Phật Giáo xuất hiện thì khái niệm nghiệp (karma) đã mang những tầng lớp ý nghĩa đa dạng và sâu đậm hơn là ý nghĩa "hành động nghi lễ" trong Ấn Giáo cổ thờị Một trong ý nghĩa của khái niệm "nghiệp" mà Phật Giáo nhấn mạnh là trách nhiệm cá nhân của con người về hành động của mình. Nói tóm, theo quan điểm của Phật Giáo thì định mệnh của một người sau khi chết (hay trong kiếp sau) là do nơi "nghiệp" (có nghĩa là các hành động có ý chí và các hậu quả của các hành động này, tức là nghiệp riêng) của người ấy cùng với sự trợ lực của các "nghiệp" có tương quan với những người khác (tức là nghiệp chung), chứ không giản dị được qui định bởi sự thực hành tang lễ đặc biệt dựa trên vai trò của con trai trưởng như trong Ấn Giáo cổ thờị Có lẽ phần nào vì quan điểm này (biểu lộ đa dạng trong các nền văn hóa khác nhau) cùng với các dữ kiện kinh tế, xã hội, cho nên đến tận ngày hôm nay đa số người ta vẫn vui mừng khi sinh con trai hơn là con gái, hay là cảm thấy chưa trọn vẹn nếu chưa có con traị

Từ quan điểm của Phật Giáo cái nhu cầu phải có con trai ít ra không còn là một thiết yếu nghi lễ nữạ (Do đó, chúng ta nên lưu ý rằng trong các quốc gia mà phần đông dân số theo Phật Giáo, chẳng hạn như Việt Nam, cái tinh thần trọng con trai hơn con gái có thể được giải thích như sau: một là vì nhu yếu chung của các xã hội nông nghiệp, cần con trai để có nhiều bắp thịt cầy bừạ Hai là ảnh hưởng của Nho Giáo, một thế giới quan chúa trọng nam khinh nữ. Người đàn bà vì lý do gì không biết không sinh được con trai bị xem là một món hàng khiếm khuyết, cũng là cái cớ để ông chồng mừng rỡ đi lấy vợ khác "kiếm đứa con trai". Cái thái độ "phải có con trai" này tuyệt nhiên không quan hệ gì với thế giới quan Phật Giáo cả). Một ví dụ cụ thể trong kinh Phật là khi vua Pasenadi buồn vì vợ ông là hoàng hậu Mallika -- người sau này dẫn dắt chồng vào Phật Giáo -- sinh con gái, Đức Phật đã trách nhà vua rằng buồn phiền vì vợ sinh con gái là một thái độ hết sức sai lầm, bởi vì một người con gái có trí tuệ và đức hạnh không những không kém mà còn ưu việt hơn con traị

Nói tóm lại, với sự xuất hiện của Phật Giáo, người phụ nữ được nhiều kính trọng hơn và được xem là những cá nhân (chứ không phải chỉ là những món đồ sở thuộc đàn ông). Họ được nhiều độc lập hơn, tự do hơn để tự theo đuổi nếp sống mà họ lựa chọn. Phật Giáo Nguyên Thủy không xem người phụ nữ giản dị như một công cụ sinh đẻ, và mục tiêu duy nhất của người phụ nữ không phải chỉ là hôn nhân. Người phụ nữ có quyền chọn không lập gia đình (mà người khác không nên dè bỉu) và được quyền trở thành tu sĩ, nghĩa là theo đuổi đời sống tâm linh. Một tập tục của Ấn Giáo là sati, hiện vẫn còn lưu hành trong một số cộng đồng tín đồ, theo đó thì cách hành sử cao thượng nhất của người vợ khi chồng chết là chịu chết theo chồng trên giàn hỏạ Góa phụ không được phép tái giá và bị xem là "điềm gở." Phật Giáo trái lại cho phép góa phụ được tái giá.

Có một số tôn giáo xem hôn nhân như một nhiệm vụ tôn giáo, một thánh lễ (sacrament). Hôn nhân có nghĩa là người đàn ông và người đàn bà được Thượng Đế kết hợp, cho nên chết sống gì cũng cứ phải ở với nhaụ Ly dị là một tội lỗị Thái độ của Ấn Giáo cũng thế, hôn nhân là một nhiệm vụ tôn giáo, không phải là cơ hội để "lãng mạn." (Ví dụ như đi quân dịch là một nghĩa vụ trong một quốc gia có chiến tranh. Những người đi quân dịch đâu cần thiết phải thật sự yêu nghề lính. Người ta không có quyền viện cớ là không yêu nghề lính để không làm nghĩa vụ này hay là giải ngũ sớm hơn hạn định!) Chính vì thế mà trong xã hội Ấn Độ có cái tập tục hôn nhân được dàn xếp bởi gia đình chứ không phải do hai người liên hệ tự quyết định. (Nếu xem hôn nhân là một nhiệm vụ tôn giáo thì tập tục này chưa hẳn đã là chậm tiến!)

Phật Giáo xem hôn nhân như một khế ước (contract) giữa người đàn ông và người đàn bà. (Vì thế mà hôn lễ không phải là một nghi lễ tôn giáo trong truyền thống Phật Giáọ Gần đây có một số Phật tử làm hôn lễ trong chùạ Điều này cũng không có gì là sai quấy, nhưng chúng ta phải hiểu rõ lý lẽ đằng sau). Do đó, Phật Giáo tuy không khuyến khích (bởi vì Phật Giáo nhấn mạnh từ bi, tôn trọng sự hài hòa xã hội, hiểu rằng ly dị không phải là một biến cố vui mừng) nhưng cho phép ly dị . Hơn nữa, Phật Giáo còn cho quyền đàn bà ly dị đàn ông.

ỊB. Horner, một trong hai vị phụ nữ tiên phong trong việc truyền Phật Giáo qua Tây phương, một người có công lớn với Phật Giáo, tóm lược những điểm chính của quan điểm bình đẳng giới tính trong các kinh điển của Phật Giáo nguyên thủy như sau:

Đức Phật đạt giác ngộ là vì sự hữu ích cho các tăng, ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ; ngài đã dạy Pháp cho tất cả bốn nhóm này -- trong thuật ngữ Phật Giáo gọi là "tứ chúng". (Đó là nhìn từ khuôn khổ nội tại của lịch sử Phật Giáọ Từ một viễn cảnh rộng hơn, chúng ta có thể nói rằng Đức Phật đạt giác ngộ vì lợi ích cho chúng sinh thuộc tất cả mọi giới tính, cho cả người xuất gia lẫn người tại gia).

Đức hạnh hay thói xấu của "tứ chúng" có ảnh hưởng tương tự đối với sự tồn tại hay diệt vong của trí tuệ và tu tập Phật Giáọ Nói cách khác, một vị tăng, ni, nam cư sĩ, hay nữ cư sĩ, có trí tuệ, giới luật, tự tin, thực hành Pháp đều có thể làm rạng rỡ cho cộng đồng Phật Giáọ

Phụ nữ có cùng những giới hạn và khả năng tâm linh giống như đàn ông.

Ni có thể phát triển tâm linh giống như tăng.

Đức Phật nói rằng mục tiêu của ngài là làm sao cho tăng, ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ hiểu thấu, phân tích, và giải thích Pháp một cách rành mạch.

Đức Phật luôn luôn dạy những giáo lý tương tự cho cả đàn ông lẫn đàn bà, đôi khi ngài còn nỗ lực một cách đặc biệt để dạy giới phụ nữ.

Đức Phật công nhận rằng phụ nữ có thể đạt được các thành quả tâm linh caọ Bằng chứng là trong nhóm các tín đồ của Đức Phật có hàng trăm phụ nữ đạt được những thành quả tâm linh khác nhaụ

Đức Phật nói rằng đời sống tâm linh thiết lập bởi ngài sẽ không hoàn hảo nếu không có phụ nữ tu tập giáo pháp.

Phụ nữ và việc xuất gia

Phật Giáo là một trong những tôn giáo đầu tiên có giáo đoàn cho ni giới (đại khái là nữ tu sĩ). Giáo đoàn này được thành lập năm năm sau khi Đức Phật thành đạọ Hầu như người Phật tử nào cũng biết nguồn gốc của giáo đoàn ni giới này là từ bà Maha-prajapati Gotami, dì và cũng là kế mẫu của Đức Phật. Sau khi Đức Phật thành đạo, bà Gotami trở thành một trong những đệ tử đầu tiên của ngàị Bà đi theo Đức Phật khắp mọi nơi cần mẫn tu học, nổi tiếng là người có trí tuệ và đức hạnh rất caọ Có rất đông phụ nữ luôn luôn theo bên cạnh Gotami để học đạọ

Theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy thì bà Gotami đến gặp Đức Phật để xin được chấp nhận cho phụ nữ xuất giạ Bà xin ba lần, ba lần đều bị từ chốị Thế rồi Gotami và nhóm phụ nữ theo bà cạo đầu, đắp y vàng để tỏ ý thành khẩn và quyết tâm đến xin Đức Phật. Lần này họ gặp cả Ananda, thị giả của Đức Phật. Ananda nói hộ cho Gotami ba lần, lại cũng đều bị từ chốị Ananda thay đổi "chiến thuật" và hỏi Đức Phật rằng nếu phụ nữ xuất gia tu tập những lời của chính Đức Phật dạy, họ có khả năng thành tựu tâm linh hay không. Đức Phật trả lời có và cho phép Gotami và nhóm phụ nữ theo bà được xuất gia trở thành tu sĩ. Đối thoại giữa Ananda và Đức Phật khẳng định một điểm quan trọng là Đức Phật luôn luôn công nhận rằng phụ nữ cũng có khả năng tâm linh chẳng khác gì nam giớị

Việc Đức Phật thoạt đầu ngần ngại không chấp thuận lời yêu cầu của Gotami không thể được giải thích là ngài có thái độ kỳ thị giới tính. Những lý do mà Đức Phật từ chối lúc đầu hết sức là phức tạp. Chỉ xin đưa ra một lý do: Đó là 2500 năm trước đây, thuở sơ khởi Đức Phật và các đệ tử của ngài sống như những nhà tu khổ hạnh "không nhà". Lang thang trong rừng, đêm đến ngủ dưới gốc câỵ Rừng rú lại đầy dã thú và đạo tặc, không thuận lợi lắm cho giới phụ nữ. Kinh điển Phật Giáo còn ghi lại một số trường hợp các vị ni bị đạo tặc hãm hiếp. Một số kinh điển cũng ghi rằng sau khi chấp thuận cho Gotami xuất gia, Đức Phật đặt thêm tám giới luật đặc biệt cho ni giớị Những giới luật này đại khái đặt địa vị của họ dưới tăng giớị Cũng có kinh ghi lại lời "tiên tri" rằng vì có phụ nữ gia nhập giáo đoàn mà Phật Pháp sẽ bị "giảm thọ" mất 500 năm. Trong khuôn khổ của bài viết ngắn này, không tiện đi sâu vào chi tiết, tôi chỉ xin vạch ra rằng đó là những thêm thắt sau này của các tác gia Phật Giáo có đầu óc kỳ thị giới tính.

Tuy rằng Đức Phật không hẳn là nhà sáng lập tôn giáo duy nhất và đầu tiên chấp nhận cho phụ nữ xuất gia, nhưng đó là một hành động rất cách mạng vào thời đó. ỊB. Horner nhận định rằng những gì mà Đức Phật làm cho giới phụ nữ "rạng rỡ như một ngọn đèn sáng trong lịch sử của tự dọ" Điều mỉa mai là ỊB. Horner và giới phụ nữ có đầu óc tiến bộ hôm nay có thể cảm kích hành động của Đức Phật, nhưng truyền thống Ấn Giáo lại chỉ trích ngài là phá hoại trật tự xã hộị Bởi vì theo quan điểm này vai trò cao cả nhất của phụ nữ là làm vợ và làm mẹ. Cho phép phụ nữ độc lập theo đuổi đời sống tâm linh thì còn ai để phục dịch đàn ông, rửa chén, nấu bếp, sinh đẻ?

Trong kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy có bộ Therigatha, ghi lại một số bài thơ, kệ tụng về kinh nghiệm tâm linh của những người phụ nữ Phật Giáo ưu tú đầu tiên. Những bài kệ tụng này vẫn được tụng đọc, nghiên cứu như những gương sáng cho các thế hệ Phật tử đời saụ Những người phụ nữ Phật Giáo đầu tiên này thuộc đủ tầng lớp: Từ những người quí tộc có học, cho đến các nhà tu khổ hạnh, góa phụ, nội trợ, những người bị chồng hất hủi, cho đến cả các kỹ nữ. Mỗi người một kinh nghiệm riêng, mỗi người một hoàn cảnh riêng, một tâm tư riêng, nhưng họ đều chia sẻ một điểm chung: tin nơi Phật Pháp và khả năng tâm linh của chính mình như là người phụ nữ.

Vị trí của phụ nữ trong truyền thống Phật Giáo

Những thái độ tích cực căn bản của Phật Giáo về phụ nữ trên thực tế cũng được phản ánh trong các quốc gia Phật Giáọ Trong tất cả các quốc gia Phật Giáo không có sự cách biệt (segregation) giới tính. Trong nhiều tôn giáo lớn hiện nay phụ nữ vẫn không được phép gia nhập tăng lữ giới (priesthood). Trong một số xã hội, phụ nữ thậm chí còn bị cấm không cho vào các nơi thờ phượng. Trong các quốc gia Phật Giáo người phụ nữ có quyền công khai đi lại và tham gia vào mọi sinh hoạt tôn giáo và xã hội chứ không bị kiểm soát gò bó chẳng hạn như trong các quốc gia Hồi Giáọ Theo một số bộ luật truyền thống của Tích Lan (một quốc gia Phật Giáo) đàn bà được phép ly dị và lấy chồng sau khi ly dị. Góa phụ cũng được phép tái giá và không có sự kỳ thị đối với góa phụ.

Tuy thế chúng ta cũng không thể chối bỏ được sự hiện diện của các thành tố phụ hệ và thái độ kỳ thị giới tính trong các xã hội Phật Giáo ngày naỵ Điều này là bởi vì đặc tính phụ hệ của các xã hội mà Phật Giáo du nhập (không có nghĩa là các xã hội mà Phật Giáo không du nhập thì không như thế). Đức Phật nói rằng đàn ông và đàn bà bình đẳng. Thế nhưng đa số các xã hội Đông phương vốn phụ hệ cho nên các cộng đồng Phật Giáo của những xứ này cũng bị rập theo khuôn mẫu đó. Do đó, quan điểm triết lý chung của Phật Giáo là phụ nữ và nam giới là bình đẳng và họ đều có khả năng tâm linh như nhau, trên thực tế vẫn có những kỳ thị giới tính.

Điều này cho chúng ta thấy rằng lý tưởng và thực tại không phải bao giờ cũng đi đôi với nhaụ Đức Phật công nhận phụ nữ bình đẳng với nam giớị Thế nhưng trên thực tế, xã hội có cho người phụ nữ quyền bình đẳng hay có đủ điều kiện và phương tiện để người phụ nữ thực hiện lý tưởng này hay không lại là một chuyện khác. Quyền bình đẳng của phụ nữ không phải chỉ giản dị được thực hiện bằng một lập trường triết lý hay tâm linh mà còn tùy thuộc vào những điều kiện xã hội, chính trị, văn hóa, tập tục, và tâm lý con người nữa, và nhất là nỗ lực tích cực hữu thức của người Phật tử. Nói tóm lại, những lý tưởng Phật Giáo không phải tự nhiên được thành tựu (do quyền năng của chư Phật, Bồ-tát) mà phải do chính các Phật tử thực hiện những lý tưởng ấỵ Để có thể làm được như thế, người Phật tử phải nỗ lực tạo ra những điều kiện và phương tiện thuận lợị Cũng tựa như những phát minh khoa học, nếu như không hội đủ hoàn cảnh thuận tiện, thiếu những hỗ trợ tài chính, những phát minh ấy cũng chỉ mai một đi trong ngăn tủ của nhà khoa học mà thôị

Do đó, tuy rằng Đức Phật cho phụ nữ thụ giới xuất gia hoàn toàn (nghĩa là trở thành tu sĩ). Giáo đoàn ni giới được truyền từ Ấn Độ sang Tích Lan vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Truyền thống này kéo dài khoảng một ngàn năm và trong thời gian này truyền qua Trung Quốc. Nhưng vào khoảng thế kỷ thứ mười hay mười một sau Công nguyên, giáo đoàn ni giới Tích Lan, vì chiến tranh và các rối loạn chính trị, không còn khả năng truyền giới nữa vì không có đủ số ni để làm việc nàỵ Thế rồi cũng không có nỗ lực để tái thiết lập truyền thống này nữạ

Ngày nay truyền thống truyền giới toàn phần cho phụ nữ chỉ còn ở các xứ theo Phật Giáo Đại Thừa như Đài Loan, Đại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa, và Việt Nam chứ không còn ở các quốc gia theo truyền thống Nguyên Thủy (hay Theravada mà các Phật tử Việt Nam thường gọi một cách không chính xác là "Tiểu Thừa"). Ở các quốc gia này phụ nữ chỉ được thụ giới "bán phần" thôị Ngay cả ở Tây Tạng, phụ nữ không thể vượt qua được giai đoạn "tập sự" (thuật ngữ Phật Giáo gọi là sa-di ni).

Một số phụ nữ ở các quốc gia này thường lý luận rằng họ chỉ muốn trở thành Phật tử chứ không cần phải là phụ nữ Phật tử. Vấn đề bình đẳng hay giới tính hoàn toàn không liên hệ gì đến sự thành tựu tâm linh. Họ chỉ quan tâm đến tâm linh chứ không tranh giành "bình đẳng" hay địa vị gì cả. Lý luận này thoạt nghe có vẻ như bày tỏ một thái độ không chấp trước. Phân tích kỹ chúng ta sẽ thấy nó không không vững vì những lý do như sau:

Một là trên thực tế vẫn có rất nhiều phụ nữ muốn được thụ giới xuất gia làm nị Lối suy nghĩ của những phụ nữ này hết sức là chính xác, bởi vì một giáo đoàn Phật Giáo mà thiếu sự hiện diện của phụ nữ là một giáo đoàn không thể hiện được một xã hội bao gồm cả "tứ chúng" như lý tưởng mà Đức Phật đề rạ Hai là lý luận trên biểu lộ một thứ thái độ chịu đựng tiêu cực kết quả của một tâm thức bị đè nén. Phụ nữ trong một số cộng đồng Phật Giáo kể cả cộng đồng Phật Giáo Việt Nam thường được khuyến khích nuôi dưỡng những hình ảnh tiêu cực về chính mình. Đại khái như sinh ra là đàn bà là kết quả của những nghiệp xấụ Lối tu tập duy nhất dành cho đàn bà là tụng niệm, cầu xin, chịu đựng, phục dịch, để hi vọng kiếp sau được sinh làm đàn ông.

Nhưng như chúng ta đã thấy, người phụ nữ bị đè nén, kỳ thị, và luôn luôn phải chịu đựng những thiệt thòi là hậu quả của những khía cạnh chậm tiến bất công của một số xã hội Đông phương. Chúng ta không thể dùng triết lý Phật Giáo ra để biện bạch hay chấp nhận tệ trạng nàỵ Điều may mắn là đa số các phụ nữ hiện thời, nhất là các phụ nữ Tây phương theo Phật Giáo (đa số có giáo dục cao), hiển nhiên không chấp nhận nuôi dưỡng những hình ảnh tiêu cực về người phụ nữ. Trái lại, họ tiếp tục tìm hiểu, giải thích quan điểm Phật Giáo về phụ nữ và tạo điều kiện để thực hiện quan điểm này trong đời sống. Điều này chứng tỏ như Đức Phật đã nói những người Phật tử có trí tuệ, giới luật, tự tin làm rạng rỡ cho Phật Giáọ Chúng ta có thể nói thêm rằng, ngược lại những người Phật tử thụ động, thủ cựu, bạc nhược chỉ làm cho Phật Giáo chậm tiến thôị

Những nghiên cứu về Phật Giáo hiện đại cho thấy rằng trên toàn thế giới, giới phụ nữ trong Phật Giáo (cả tu sĩ lẫn cư sĩ) không còn cam tâm chấp nhận những bất công nữạ Họ tham gia tích cực vào nhiều phạm vi sinh hoạt. Sự đóng góp của họ nằm trên mọi lãnh vực từ học thuật, tu tập cho đến các họat động xã hộị Họ không ngừng khai phá lại xác định lại vai trò của người phụ nữ trong Phật Giáọ Họ không hài lòng chỉ làm những người đi theo mà còn đảm nhận cả vai trò lãnh đạọ Họ đã đem lại những thay đổi cho nhiều thái độ và lối suy nghĩ.

Kết Luận

Nếu như chúng ta có thể dùng một loại suy, như đã sử dụng ở trên, một cộng đồng tôn giáo cũng như một đại học. Người Phật tử Việt Nam thử đặt câu hỏi là chúng ta có thư viện phong phú không? ban giảng huấn có khả năng không? trình độ sinh viên có cao không? Quan sát những thực tại Phật Giáo Việt Nam khó lòng cho phép chúng ta trả lời là có.

Không thể nói là trong giới phụ nữ Phật Giáo Việt Nam không có người có học caọ Nhưng mà khi quay về Phật Giáo thì, cũng y như nam giới, đa số không có ý chí tìm hiểu để vượt qua một vài khái niệm lỗi thời giam nhốt Phật Giáo vào trong một mớ nghi lễ mòn mỏị Tệ hại nhất là ngay cả những phụ nữ có học và độc lập cũng chấp nhận những những hình ảnh rất tiêu cực về phụ nữ. Nhiều người thậm chí còn xem việc khinh thường vị trí và thân xác đàn bà là một đức hạnh.

Những thái độ trên chỉ là hậu quả của sự hiểu biết hạn hẹp, thiếu sót về Phật Giáo của chính những Phật tử. (Đề tài này sẽ được phân tích trong những bài viết khác). Cộng đồng Phật Giáo Việt Nam cần tạo điều kiện để huấn luyện cho người phụ nữ hiểu thêm về Phật Giáo cũng như vai trò và tiềm năng của họ như những người phụ nữ Phật Giáọ

Trong số những phụ nữ đang đóng góp rất tích cực trong các cộng đồng Phật Giáo thế giới hiện nay bao gồm các phụ nữ thuộc rất nhiều quốc gia từ Đông sang Tâỵ Có điều đáng tiếc là hình như chưa thấy có người nào thuộc cộng đồng phụ nữ Phật tử Việt Nam cả.

Gửi bởi: hoaha Jun 20 2006, 04:37 AM

SẮC ÐẸP VÀ KHÔN NGOAN
TT. Lokanatha - TT Thích Giải Thông dịch theo bản tiếng Anh The light of truth



Chủ nhật vừa qua tôi hết sức vui mừng vì đã thuyết bài Pháp đầu tiên tại Singapore. Ðương nhiên khi nhìn thấy số thính chúng nhiệt tình mộ đạo như vậy và khi trông thấy giảng đường chật kín, có số người còn đứng tràn ra ngoài, tôi vô cùng phấn khởi, sau đó tôi bắt đầu tìm hiểu nguyên nhân nào đưa đến một số thính chúng tham dự đông đảo nồng nhiệt như vậy.

Tôi tự nghĩ có lẽ một số đến để xem một nhân vật kỳ lạ nào chăng, giống như chúng ta đến sở thú để xem một con quái vật Bởi vì rõ không sai, tôi hẳn là một đối tượng hơi khác thường vì ngày xưa tôi vốn là một tín đồ Thiên chúa giáo La Mã. Nước Ý có gần 60 triệu dân và tôi lại là một Phật tử duy nhất trong số đó. Tôi còn nhớ rõ, có lần có một vị Giáo sĩ đến thăm tôi và nói: bạn là người Phật tử duy nhất trong số 60 triệu dân Ý, đỉều này chứng tỏ rằng tôn giáo của bạn không chân chính. Tôi ngạc nhiên hết sức với câu nói này! Chỉ vì tôi là Phật tử duy nhất trong số 60 triệu dân Ý mà ông ta nói Ðạo Phật tôi không chân chính. Ðó chẳng qua là logic biện chứng, lý luận kiểu này thì nếu Phật Giáo chân chính thì những người dân Ý đều trở thành Phật tử hết.
Lúc tôi đi xuất gia, mẹ tôi không biết tôi đi đâu, bởi vì tôi không bao giờ nói với bà rằng tôi trở thành một Phật tử. Tôi rời nước Pháp và qua Ấn Độ suốt năm không hề viết cho mẹ một lá thư! Tại sao tôi đi xuất gia quy Phật mà lại không xin phép? Bởi vì Thái tử Tất Ðạt Ða sau này thành Phật, Ngài cũng rời bỏ cha mẹ đi tu mà không xin phép. Chúng ta lẻ loi một mình trong biển trầm luân và mỗi người cũng hộ trì đạo lộ của chính mình, không cần tìm cầu sự giúp đỡ của người khác. Phật Giáo dạy lòng tự tin và độc hành. Chúng ta phải kiên trì dũng cảm bước đi trên đường Ðạo. Tôi có điều hối tiếc duy nhất là cha mẹ tôi đã qua đời mà không phải là Phật tử.

Nếu cha mẹ tôi qua đời là những người con Phật thì tôi rất hài lòng và sung sướng biết bao. Tôi tiếc rằng họ qua đời mà không tiếp nhận được của tôi một cơ hội bố thí Pháp?món quà cao quý nhất trong tất cả món quà. Ðó là món quà Chân lý, vì vậy tôi quyết định trở thành Sứ Giả Như Lai với ý hướng truyền Phật Pháp đến mọi người trên thế giới.

Mẹ tôi qua đời cách đây 22 năm và nếu bà tái sinh thì bà phải là 22 hay 21 tuổi. Cha tôi nếu tái sinh tuổi khoảng 16 tưổi, đủ để hiểu Phật Pháp, bởi vậy khi tôi thuyết giảng có lẽ cha mẹ tôi đã tái sinh có thể nghe lời tôi giảng và trở thành Phật tử và nhờ vậy có thể chuyển hóa được cha mẹ ngay từ hôm nay hay ở tương lai lâu xa.

Chúng ta không nên vui hưởng chân lý cho riêng mình mà nên tạo cho cha mẹ cơ hội chia sẻ được món quà Chân lý cao siêu, vì nó là món quà tối thắng trong tất cả các món quà.

Theo luật Phật thì chúng ta không được phép xuất gia nếu trước tiên không được sự đồng ý của cha mẹ, nhưng Thái Tử tất Ðạt Ða từ bỏ gia đình mà không xin phép. Ngài đã chỉ đường cho tôi, Ngài cho phép tôi. Tuy nhiên cũng cần nhớ rằng cha mẹ tôi chỉ cho tôi đời sống vật chất thôi, nhưng chúng ta nương nhờ Phật, người đã ban cho chúng ta đời sống tinh thần. Bởi vì người cha tinh thần là người cha cao thượng hơn tất cả. Sách Pháp của Ngài?quyển Kinh Pháp Cú đã hoàn toàn đưa đến sự thay đổi cuộc đời của tôi. Ðức Phật đã tịch diệt cách đây 2500 năm. Giáo Pháp của Ngài đã thấm nhuần trong tôi. Ðó là một sự cố ngẫu nhiên thanh tịnh . Nếu tôi không đọc quyển Kinh Pháp Cú đó, có thể tôi không mong gì trở thành đệ tử của Phật được. Vì vậy khi Ðức Phật hứa khả, tôi đã hân hoan vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai và ngồi tòa Như Lai.
Nếu tôi không được duyên phước thì giờ đây tôi đã bị kéo lôi vào cảnh đời bi thảm khổ đau. Vậy mà tự nhiên dù không xin phép cha mẹ tôi đã tự kéo mình ra khỏi trần gian đầy máu lửa. Mỗi người chúng ta đều phải tự cứu mình. Không ai có thể cứu được nghiệp báo của người khác. Vì thế điều khôn ngoan là nên tự cứu lấy mình. Có kinh nghiệm thực học, thực tu mới thực hiện được lý tưởng này. Không ai tự trì hoãn con đường giải thoát của mình để hy sinh cho người khác. Vì con đường tối diệu nhất để cứu khổ nhân gian là phải toàn hảo bản thân. Chừng nào ta chưa viên mãn tu tập thì không thể làm được điều thiện nào cho cõi đời. Một y sĩ trước nhất phải tự biết cứu chữa mình đã!

Lần trước tôi chưa giảng xong một điểm trung yếu trong giáo Pháp như vầy: Một hôm Ðức Phật đặt vài hạt cát trên đầu móng tay của Ngài và nói: ?Này các Sa Môn! Cát trên móng tay ta và cát trên địa cầu bao la này, cát nào nhiều hơn?? Các vị Sa môn trả lời: ?Bạch Ðức Thế Tôn số cát trên móng tay của Ngài không đáng gì so với số cát trên địa cầu bao la này!?. Ðức Phật liền dạy: ?Cũng vậy, này các Sa Môn, số chúng sanh đã qua đời và tái sanh vào cảnh giới người, cảnh giới trời đều không đáng gì so với số chúng sanh đã chết đi từ đời này và được tái sanh vào cảnh giới súc sanh hay ngạ quỷ?.

Như quý vị đã biết, trong Ðạo Phật không có địa ngục, không có sự trừng phạt đời đời. Trong Ðạo Phật luôn luôn có cơ hội và người ta không bao giờ đánh mất cơ duyên đó. Bởi vì trần gian này luôn luôn có sự công bằng và sự công bằng thì không bao giờ thua cuộc. Cho nên khi nghe rằng chúng sanh bất diệt, vì lòng từ bi cứu khổ họ có thể tái sinh trong cảnh giới ngạ quỷ, tôi quyết tâm trở thành Sứ Giả Như Lai. Ðiều này đã đến với tôi do sự tình cờ, tôi trở thành người con của Phật, tôi nghĩ tại sao mọi người lại không chia sẻ điều may mắn mà quý vị đang thọ hưởng vào thời điểm này. Ðó là điều vị kỷ, chỉ lo cho phận mình an hưởng chân lý tối hậu của chư Phật, không san sẻ cho số đông người khác chưa từng dược duyên may như vậy. Cũng vì lẽ đó mà nay chúng tôi mới vân du sang Mỹ để chuyển hóa đạo lý Phật Pháp cho toàn thế giới sớm giác ngộ.

Ðức Phật đã khai thị tứ Diệu Ðế còn gọi là Tứ Thánh Ðế là bốn trụ cột của Ðạo Phật. Giống như cái bàn cần có bốn chân. Nhờ vậy Phật Giáo đứng vững trên bốn chân lý cao quý đó. Chúng ta có 45 tập trong toàn bộ Kinh Phật. Phần thứ nhất đề cập về Giới Luật, phần thứ hai gồm các bài giảng và phần thứ ba thuộc Tâm lý học. Bốn Thánh Ðế là tinh hoa của Phật Giáo và riêng 45 tập này chỉ là những luận giải về Tứ Thánh Ðế. Vì vậy nếu quý vị hiểu rõ Bốn Thánh Ðế tức là quý vị đã hiểu toàn bộ Phật Giáo. Tôi đã giải thích Pháp Tứ thánh Ðế trong bài giảng đầu tiên, nay tôi sẽ tiếp tục thử nêu lên câu hỏi: Chánh kiến là gì?
Chánh kiến là hiểu biết Bốn Thánh Ðế. Chánh kiến là hiểu biết ba đặc tính của vũ trụ là vô thường, khổ và vô ngã. Vô ngã nghĩa là không có linh hồn. Trong Phật Giáo không có linh hồn. Cái để thay thế linh hồn ta gọi là ý thức (tâm thức). Tâm không bao giờ giống nhau trong hai niệm tưởng liên tục. Trên thực tế các nhà tâm lý hiện đạt đã tiến đến điểm chính xác mà Ðức Phật đã đạt được cách đây 2500 năm. Kiến giải cho thấy rằng không hề có cái Ngã nào bất diệt hay cái TA trường cửu, hay linh hồn bất biến, mà chỉ có ý thức hằng biến, không bao giở giống nhau trong hai niệm tưởng liên tục.

Vì các nhà tâm lý học hiện đại đã thừa nhận rằng không có một linh hồn bất diệt lại càng dễ hơn cho tôi khi qua đến các bang để thuyết giảng về Ðạo Phật, bởi vì đất canh tác đã chuẩn bị sẵn sàng. Họ đã nhất trí rằng không có linh hồn thường hằng. Vì thế họ sẽ hiểu được triết lý Vô Ngã của Ðức Phật. Tất cả các pháp đều vô thường (biến đổi). Tất cả các pháp đều đưa đến đau khổ. Tất cả các trạng thái ý thức (tâm linh) đều vô ngã (không có thực thể). Chánh kiến là hiểu biết nguồn gốc và sự hủy diệt của vạn pháp, tiến trình như sau:

1) Vô minh là nhân của Hành.
2) Hành là nhân của Thức.
3) Thức là nhân của Danh Sắc.
4) Danh sắc là nhân của Lục xứ.
5) Lục xứ là nhân của Xúc.
6) Xúc là nhân của Thọ.
7) Thọ là nhân của Ái.
8) Ái là nhân của Thủ.
9) Thủ là nhân của Hữu.
10) Hữu là nhân của Sanh.
11) Sanh là nhân của Lão.
12) Lão là nhân của bệnh, sầu, bi, khổ, ưu não.

Vô minh là nhân của sinh và khổ, vô minh là nguồn gốc của vạn pháp. Diệt trừ vô minh là tiêu trừ vạn pháp, diệt trừ vô minh đưa đến chấm dứt sinh và khổ.
Vô minh là kẻ tạo ra trần gian này. Mara hay Ma vương là kẻ sáng tạo thế gian. Mara có nghĩa là kẻ cám dỗ. Mara không phải là ma quỷ như Phật Giáo thường nói đến mà Mara là Trời khát ái. Vị đó là trời. Loại trời nào? Ðó là Trời khoái lạc, sáu giác quan. Thế giới là động chứ không phải tịnh. Ðây là bài học hóa lý và toán. Thế giới không bao giờ giống nhau trong hai niệm tưởng liên tục.

Mỗi người đang tạo ra thế giới cho riêng mình hàng triệu lần trong mỗi khoảnh khắc phút giây. Tất cả đang bừng cháy, tất cả đang bốc lửa. Cái gì đang cháy? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Chúng đang bừng cháy với ngọn lửa tham, sân, si, sinh tử và phiền não. Do vậy toàn thế giới này đang bốc cao ngọn lửa si mê. Tại sao? Vì sáu giác quan đang bừng cháy. Nếu ta có khả năng dập tắt được ngọn lửa của sáu giác quan hay làm cho chúng được thanh tịnh bằng cách tu tập điều phục bản ngã, không đổ thêm dầu mới vào ngọn lửa, tự nhiên nó sẽ tắt lịm. Vậy thì ta phải làm gì? Ta phải tưới nước (cam lồ) vào lửa, nó sẽ bị dập tắt Bấy giờ bạn sẽ tận hưởng niềm an lạc vô biên gọi là Niết Bàn tối thượng.

Có người nói rằng thế giới mà chúng ta đang ở hôm nay đã được tạo nên trong 6 ngày. Phật tử chúng ta cảm nhận rằng đời là đau khổ?Dukkha? nó không dành cho 6 ngày để tạo nên thế giới này. Chúng ta đang tạo ra thế giới trong từng mỗi phút giây. Như tôi đã từng nói trước đây, thế giới đang biến đổi. Và vì nó đang biến đổi nên ta nói nó đang được tạo nên và đang bị hủy diệt trong từng mỗi phút giây. Vì biến đổi có nghĩa là sinh diệt liên tục, chết rồi tái sinh như ngọn lửa. Chừng nào chất liệu tham ái còn hiện hữu thì ngọn lửa vẫn tiếp tục bừng cháy. Hãy nhớ rằng, thế giới chỉ là một tiến trình, một tiến trình đang hình thành, đang trở nên. Và tiến trình đó cứ tiếp tục cho đến khi nào nguyên nhân của nó còn đủ duyên hiện hữu. Khi nhân đã bị dập tắt thì thế giới không hình thành. Dập tắt trần gian (đau khổ) này quả là thiện pháp và tạo ra trần gian (khổ lụy) này là bất thiện pháp. Bởi vì một khi chúng ta tận diệt được sự đau khổ của hiện hữu thì chúng ta mới hưởng được sự an lạc Niết Bàn tối thượng.

Chúng ta càng thích thỏa mãn con mắt, chúng ta lại càng muốn nhìn nữa cho mãn nguyện. Chúng ta càng muốn thỏa mãn lỗ tai, chúng ta càng muốn nghe thêm nữa, càng thích thỏa mãn cái lỗ mũi, càng muốn ngửi hoài. Không bao giờ mãn nguyện. Chúng ta không bao giờ hài lòng khi thấy, nghe, ngửi...Khi ta vui hưởng nhiều chừng nào tốt chừng nấy thì sự hưởng thụ ấy lại càng trở nên một xiềng xích khổ đau.

Nếu bạn bắt đầu thọ thực, món ăn ngon nhất trên trần gian này, nhưng một khi no bụng rồi mà buộc ăn thêm lại là một thứ khổ đau nữa. Thái Tử Tất Ðạt Ða sống êm ấm trong hoàng cung, Ngài tận hưởng những lạc thú trong 29 năm đầu. Sau thời gian hưởng thụ đầy đủ các khoái lạc trong kiếp người, cuộc sống càng vui sướng càng làm cho Thái Tử chán nản và trầm tư về thân phận chúng sanh. Và vì vậy Thái Tử đã xuất gia, tìm thấy một nguồn khoái lạc khác của Niết Bàn tối hậu. Bởi vì đó là niềm an lạc hạnh phúc cao thượng nhất. Có điều là ta không bao giờ tạo ra được Niết Bàn. Những gì ta phải tìm là tận diệt tiến trình biến đổi bằng sự tu tập trui rèn trí tuệ, dập tắt tham ái. Trí tuệ loại trừ sự sinh và cống hiến Niết Bàn tối diệu.

Ta thường nêu câu hỏi: mục đích của cuộc đời là gì? Là thanh tịnh bản ngã, làm trong sạch tâm thức. Cuộc đời coi như thất bại nếu tâm thức không được tịnh hóa. Cuộc đời được gọi là thành công nếu tham ái được tận diệt. Họ nói: này các bạn thanh niên, điều gì đưa đến lợi lạc cho con người nếu người đó chiếm được toàn thế giới mà lại đánh mất phẩm chất của mình? Thành công hay thất bại, vinh quang hay ô nhục được đánh giá bằng sự được hay mất nhân cách của mình. Bởi vì đạo hạnh của con người khiến cho người đó có tất cả ngoài ra không có cách nào khác hơn được.

Người ta vẫn cho rằng người thành công trong đời là người tạo ra được một triệu đô la, nhưng trong Phật Giáo thì không phải vậy. Nến vị đó tạo được một triệu đô la mà đánh mất phẩm chất đạo hạnh của mình thì vị đó là người loạn trí nhất trên đời. Mặt khác, nếu một người không đạt đươc một triệu dô la mà đạt được phẩm chất đạo hạnh, vị đó mới được đánh giá là người đắc thắng trong đời. Thắng không phải là sự đo lường bằng của cải đã tích lũy mà là sự kết tập vun bồi đạo hạnh, nhân cách con người. Cho nên đừng bận tâm về tiền tài mà nên quan tâm về đạo hạnh. Chính nó là nguồn tâm thức an lạc trợ duyên cho giác linh trong lúc lâm chung tử biệt.

Bởi vậy trước khi muốn làm điều gì ta phải tự vấn mình: điều mà ta sắp thực hiện đây sẽ làm tăng hay giảm phẩm chất đạo hạnh? Nếu câu đáp là có tác hại, làm suy giảm, thì ta nên tránh. Nếu câu trả lời là làm tăng trưởng nhân cách đạo hạnh thì ta cứ dũng cảm tiến hành. Bạn không có gì phải lo sợ về những hành động làm tăng trưởng phẩm chất đạo hạnh của mình, mà chỉ sợ làm suy giảm phẩm hạnh cao quý vốn có của ta. Bởi vì như tôi đã nói khi trước, thành công hay thất bại chỉ được đánh giá bằng toàn bộ phẩm chất đạo hạnh của con người. Mục đích cuộc sống con người không có gì ngoài sự thăng hoa, phát huy nhân cách, đạo hạnh của mình. Ðừng nghĩ rằng mục đích của đời người là sống thỏa mãn sáu giác quan, mà chủ yếu là thành tựu tài sản tinh thần có nghĩa là sự phát huy phẩm hạnh cao cả nhất cho đến khi nó tràn dâng khắp nơi.
Ðức Thế Tôn đã là tấm gương mẫu mực về đạo hạnh siêu thế, phẩm hạnh vô song của Ngài đã tràn dâng tỏa khắp mọi nơi làm tịnh hóa thế giới 25 thế kỷ qua và vẫn tiếp tục tịnh hóa thế giới trong nhiều thế kỷ tiếp theo để đi đến đỉnh cao rạng rỡ nhất và hào quang chân lý soi sáng khắp nhân gian; con người được một cơ duyên hy hữu nỗ lực toàn hảo đời mình.

Ðức Thế Tôn quả là một bậc y sĩ vĩ đại nhất trần gian này, bởi vì Ngài đã khai thị sinh lộ (con đường), cứu nguy ba chứng bệnh nan giải của chúng sanh là Tham(Lodha), Sân(Dosa), và Si(Moha). Ngài cho ba loại thuốc:

1) Bố thí: diệt trừ tham.
2) Giới hạnh: diệt trừ sân.
3) Thiền định: diệt trừ si (vô minh).

Con đường đưa đến sự giàu có là gì? Diệt trừ lòng tham bằng cách bố thí. Hãy cho! Cho là nhận. Không cho là không nhận. Hành động và phản ứng đều bằng nhau và đối diện. Người sinh ra bị nghèo khổ là vì kiếp trước họ quá keo kiệt. Người sinh ra được giàu sang là vì trong kìếp trước họ vốn rộng lượng, ưa bố thí. Thế nên chớ có ganh tị với người giàu sang, bề thế sự nghiệp; khi vị đó đang lái một chiếc xe hơi lộng lẫy đắt giá. Hãy bố thí, vì khi làm như vậy bạn cũng sẽ trở thành giàu có trong tương lai. Mua một vé số sẽ không dễ gì làm cho bạn trở nên giàu có. Bố thí là con đường chắc chắn phú quý mai sau. Con người thông thường có tinh thần cờ bạc, tất cả đều thích tạo một cơ may bất ngờ. Họ tin rằng họ có thể trở nên giàu sang qua một đêm giản dị bằng cách mua một vé số 1 hay 2 đô la, nhưng rồi họ chỉ gặp toàn sự bực mình vì không bao giờ trúng số cả. Vì vậy ta không thể nào trở nên giàu có chỉ nhờ mua một vé số, nhưng đảm bao nhất vẫn là vé số do Ðức Phật ban cho, nghĩa là bố thí sẽ được đáp ơn. Cho là nhận. Nên nhớ rằng bố thí giống như trồng một hạt giống trên đất, nếu bạn gieo hạt giống tốt trên đất lành cây sẽ lên tươi tốt và trái quả sum xuê. Nếu hạt giống tốt gặp đất lại không tốt, quả trái sẽ ít hơn. Vì vậy nếu bạn bố thí cho người nào không xứng đáng nhận vật bố thí đó dĩ nhiên bạn không thể kỳ vọng một mùa gặt huy hoàng.

Nhưng nếu bạn thành tâm cúng dường Ðức Phật, Chư Bồ Tát Thánh Tăng, bạn chắc chắn sẽ nhận được phần thưởng cao quý nhất. Thế nên bố thí khéo thì đương nhiên sẽ gieo trồng được những hạt giống siêu xuất trên mảnh đất phì nhiêu thuận duyên nhất để thu hoạch vụ mùa công đức cao thượng. Ðức Phật là người bố thí trí tuệ, ban cho tri kiến, là người bố thí thật sự nhằm diệt trừ tham ái. Bởi vì dù bạn bố thí cho ai đi nữa, dù bạn gieo một hạt giống trên đất cát đá, ít nhất hành động bố thí này chính là sự xả bỏ và nhờ bố thí, ban cho như vậy bạn mới tiêu trừ được tham ái. Hãy nhớ rằng chiến tranh đặt biệt đều bắt nguồn từ lòng tham. Chính lòng tham vô tận này không thể nào dập tắt được. Càng thu hoạch ta càng muốn thu hoạch thêm. Càng kiếm được tiền ta càng muốn kiếm tiền thêm. Càng tước đoạt của ai ta càng muốn tước đoạt thêm. Ta không bao giờ thỏa mãn. Khi một người chinh phục toàn thế giới, sau đó ông ta lại muốn chinh phục mặt trăng, sau cùng lại muốn chiến thắng cả mặt trời. Chẳng bao giờ thỏa mãn lòng tham muốn ngự trị, nhưng có một điều mãn nguyện là hình thành được chứng nghiệm đối nghịch?là sự từ bỏ.

Khi ta từ bỏ các vật vô thường dễ tan vỡ trên trần gian này, ta sẽ được món quà Niết Bàn thường trụ bất diệt. Khi từ bỏ sự vật dễ hư hoại (pháp vô thường) trên trần thế này ta sẽ được món quà Niết Bàn bất diệt. Nếu tham ái được khắc phục, ta sẽ hưởng được tâm thức an lạc như Ðức Phật đã chứng đạt. Khi còn ở hoàng cung, Ngài không thể dập tắt được ngọn lửa tham ái của chính mình, Ngài cũng không thể diệt trừ được những khao khát lạc thú. Chính khi Ngài cương quyết viễn ly, đoạn tuyệt mọi cám dỗ, Ngài mới chấm dứt được tất cả mê vọng.

Trong Kinh phân biệt vật cúng dường có đoạn ghi: ?Ở đây này Anan phước quả đạt được do đem của thí cho một con vật gấp 100 lần công đức; đem cho một thường dân không có đạo hạnh được 1000 lần công đức; đem cúng dường một Thánh Tăng đang tu tập thánh Ðạo thì được vô lượng công đức không thể nghĩ bàn. Huống gì những cấp bậc tu tập cao hơn thì công đức không thể có lời nào diễn tả nổi. Huống gì là Thánh giả đã tìm ra chân lý như Ðức Phật?bậc Giác Ngộ tối thượng lại càng không thể kể hết công đức của người thí chủ cúng dường đó.?

Ðiều này ý muốn nói nếu bạn đem một ly nước bố thí cho một con chó, bạn sẽ nhận lại 100 ly nước về sau. Nếu bạn đem một ly nước bố thí cho một người dân thường, bạn sẽ nhận 1000 ly nước về sau. Nếu bạn đem một ly nước cúng dường cho một vị Thánh hay vị Alahán thì phần hồi hướng sẽ vô tận. Thế nên đây là một bảo hiểm về mặt tinh thần cao thượng nhất, bởi vì bố thí hay cúng dường một ly nước mà bạn có thể nhận lại rất nhiều ly nước. Vì lẽ đó ta nên đầu tư vào cuộc xổ số tinh thần hơn là cuộc xổ số thông thường không mấy hy vọng.

Làm thế nào để trở nên đẹp đẽ? Phương cách gì để có được sắc đẹp? Hãy diệt trừ sân hận bằng tình thương. Thực hành 5 học giới là đầy đủ tình thương.

1) Không sát hại và tàn bạo sinh vật (tránh ác) mà phóng sanh cứu mạng (làm lành).
2) Không lấy của không cho (tránh ác) mà cứu khổ (làm lành).
3) Không được có những thèm khát nhục dục hay tà dâm (tránh ác) mà khuyên giữ đạo lý thủy chung (làm lành).
4) Không nói láo, nói chuyện tầm phào, chia rẽ, ác khẩu (tránh ác) mà nói đúng thực tế, nói đoàn kết, ôn hòa, nhã nhặn, có văn hóa (làm lành).
5) Không uống ruợu và các chất say tương đương kể cả ma túy, cờ bạc, đàng điếm (tránh ác) mà thận trọng giữ gìn thân thể tráng kiện, tâm trí minh mẫn để khỏi mê mờ vi phạm các giới khác (làm lành).

Khi còn là một tín hữu của Thiên Chúa Giáo La Mã, tôi được dạy 10 điều răn và hiện nay khi tìm kiếm trong 10 điều răn tôi vẫn không thấy có điều răn nào dạy: ?các con không nên uống rượu?.
Vì vậy tôi hết sức vui mừng được trở thành một Phật tử mà chỉ thọ trì có 5 giới thay vì 10 điều răn. Xét ra 5 giới còn hoàn hảo và cô đọng hơn 10 điều răn: Trong Phật Giáo không có điều răn nào; bởi vì không có ai ra lệnh cho chúng ta cả. Ðức Phật chỉ khuyên bảo chúng ta thọ trì 5 học giới chứ không có lệnh nào hay khuyến cáo nào. Chúng ta hoàn toàn tự do. Chúng ta được đối xử như những triết gia chứ không phải con nít.

Giống như những triết gia, chúng ta hiểu biết điều gì đúng, điều gì sai. Một khi bạn được chỉ cho thấy con đường chân chính của mình, nếu bạn có kinh nghiệm, bạn sẽ giữ gìn chánh đạo mà không sợ bị cưỡng ép bằng bất cứ một đe dọa hình phạt nào. Vì vậy vốn có khuynh hướng khoa học và triết học, tôi đương nhiên trở thành người con Phật; bởi vì tôi không muốn bị xử lý như một đứa trẻ nít mà là một người lớn. Trong Phật Giáo chúng ta đứng vững trên đôi chân của chính mình, chúng ta thực hành lòng tự tin. Ðức Phật là bậc Ðạo Sư chỉ đường, còn chúng ta là những hành giả đi trên con đường đó.

Con đường nào đưa đến sắc đẹp? Hãy mở rộng lòng yêu thương, lòng yêu thương ban cho sắc đẹp. Lòng yêu thương là mỹ phẩm đắt giá nhất. Sự sân hận đưa đến xấu xí. Xấu xí là cơn giận dữ kinh niên. Một thử nghiệm thực tế để chứng minh điều này. Hãy chọn một người đẹp tlai, đánh bất ngờ đằng sau lưng anh ta một cú đấm thật mạnh. Hãy xem lập tức gương mặt anh ta trở nên giận dữ và xấu xí làm sao. Cùng lúc đó bạn thấy sự giận dữ làm anh ta xấu xí. Cơn giận làm thô kệch dị tướng con người.

Bạn thấy đó, lập tức giận dữ biến sắc đẹp thành xấu xí qua thử nghiệm này?có điều hơi nguy hiểm, bởi vì nếu bạn cố thử nghiệm đối với anh ta, thì anh ấy cũng có thể làm một cuộc thử nghiệm như vậy với chính bạn. Vì thế, thay vì tạo một thử nghiệm thực tế, bạn có thể áp dụng lời của tôi là thử nghiệm vào chính bản thân mình. Chúng ta hãy tràn ngập lòng yêu thương nếu bạn muốn được sắc đẹp, bởi vì lòng yêu thương là mỹ phẩm tuyệt hảo nhất.

Sau chiến tranh, hầu hết chúng ta đều bị suy liệt mọi mặt. Do sự kiện đó mà người ta tiêu phí quá nhiều, thay vì sử dụng tiền của để xây dựng trường đại học và những viện nghiên cứu trọng yếu, họ lại thích sử dụng đồng tiền để mua vũ khí. Thế nên những gì chúng ta phải làm là phải cố gắng thực hiện cuộc thử nghiệm đối diện. Nghĩa là cổ vũ lòng yêu thương, bởi vì nếu ta sinh ra bị xấu xí, cho dù gương mặt ta có khó nhìn thế nào đi nữa, nếu ta rèn luyện lòng yêu thương vô lượng thì lòng đại tứ bi này sẽ ban cho ta vẻ duyên dáng thầm kín phát lộ bên ngoài và tỏa ra toàn bộ chân tướng với vẻ duyên dáng nơi khuôn mặt. Chúng ta có thể gặp một người đẹp trai nhất, vậy mà nhiều khi ta không bị lôi cuốn, bởi vì vẻ đẹp của anh ta có thể bị méo mó, thô kệch do lòng tự phụ kiêu căng về vẻ đẹp cúa mình. Ta có thể thấy một người xấu xí mà tràn đầy lòng yêu thương vô tận, bạn thấy anh ta thật hấp dẫn làm sao, và lôi cuốn được mọi người.

Chúng ta có thể chọn những tấm gương sống động trong lịch sử. Nếu bạn nhìn về lịch sử Hy Lạp, hiền giả Socrate là người thông thái nhất Hy Lạp nhưng không minh triết nhất thế giới như Ðức Phật dù cả hai cùng thời đại. Thật là kinh khủng làm sao trước Thiên Chúa giáo 600 năm, chúng ta lại có những bộ óc siêu phàm như Ðức Phật ở Ấn Ðộ, Khổng Tử, Lão Tử ở Trung Quốc, Socrates, Platon và những vị khác ở Hy Lạp. Dù sao trí tuệ của Phật là trí tuệ tâm linh còn trí tuệ của Socrates có khuynh hướng vật chất. Tuy nhiên trí tuệ của Socrates tỏa ra lòng thương vô hạn nên nhờ vậy đã thu hút được nhiều người.

Hiện nay bạn cứ nhìn vào tấm gương của thánh Gandhi tại ấn Ðộ, tuy Ngài không đủ duyên để sinh ra có khuôn mặt đẹp như bạn biết rõ đó, nhưng với tinh thần Ahimsa bất bạo động của Ngài và bằng Giáo Pháp của Ðức Phật, Ngài đã đạt được vẻ duyên dáng kỳ lạ, vẻ đẹp đã làm cho Ngài lôi cuốn được dân Ấn Ðộ và những người khác trên thế giới.

Vì lẽ đó chúng ta chớ nên tin vào những mỹ phẩm hóa trang, chúng chỉ tạo nên những sắc đẹp giả dối, không phải là vẻ đẹp chân thật. Chúng ta chỉ có thể trau dồi sắc đẹp bằng mỹ phẩm do chính Ðức Phật ban tặng. Mỹ phẩm này vô giá nhưng đưa đến sắc đẹp chân thật mà người ta gọi là vẻ duyên dáng ở phương đông nhưng cũng gọi là vẻ quyến rũ ở phương tây.

Con đường đưa đến tuệ giác thì sao? Tu thiền định sẽ đoạn diệt vô minh. Cố gắng hiểu biết ba đặc tính của vạn pháp. Không có cái ngã nào biệt lập. Ðoạn diệt lòng vị kỷ sẽ trở nên vô ngã. Người ta sinh ra bị ngu dốt là do kiếp trước họ không bao giờ quan tâm đến tri kiến. Họ luôn luôn kết thân với bạn bè thiếu trí tuệ, kể cả ngay lúc bất chợt gặp một vị Thánh Tăng họ cũng không bao giờ băn khoăn đặt câu hỏi để nhờ quý Ngài khai thị các nghi vấn của mình.

Còn người sinh ra được khôn ngoan là nhờ kiếp trước họ luôn luôn tìm cầu tri kiến bằng cách tham học với các bậc Thánh Tăng. Cái gì đúng, cái gì sai, điều gì lầm lỗi, điều gì vô tội, điều gì nên tu tập và điều gì không nên; hành động nào đưa đến hạnh phúc an lạc; hành động nào đưa đến bất hạnh và đau khổ. Hãy tìm, bạn sẽ thấy rằng bằng cách kiên trì tìm cầu tri kiến bạn sẽ đạt được tuệ giác.

Khi tham, sân, si đã đoạn diệt thì pháp hạnh bố thí, trì giới, thiền định đưa đến kết quả vô tham, vô sân, vô si gọi là Niết Bàn tối thượng. Khi ta đến diện kiến một nhà Sư, ta không phải đến để nhìn mặt vị đó mà phải nhìn thấy được tâm thức của vị đó. Nhưag cách nhìn tâm người không phải chỉ giữ im lặng để chiêm ngưỡng mà phải hỏi Ðạo, vấn Pháp để tìm ra nguyên nhân của những sự việc nan giải và cần cầu Pháp học để có thể đoạn diệt điều ác.

Phải nhớ rằng Chân lý là tài sản cao quý nhất. Một người có thể giàu sang, nhiều tiền bạc nhưng nếu vị đó kém trí tuệ thì vẫn là kẻ bần cùng thua kém; ngược lại một người có thể nghèo kém tiền của nhưng lại là hàng trí giả, vị đó vẫn là bậc giàu sang được trọng nể.

Trong vài phút qua mà quý vị có thể học được làm thế nào để trở nên giàu có?bằng sự rộng lòng bố thí; trở nên sắc đẹp bằng tấm lòng chan hòa yêu thương và trở nên khôn khéo bằng sự tinh tấn tìm cầu Chân lý. Vì vậy tôi cứ tưởng tượng rằng sau khi học được cách trở nên giàu có, sắc đẹp và khôn khéo trong một thời gian ngắn, bạn sẽ hưởng được tiền của xứng đáng đó. Dù sao bạn cũng cần nhớ rằng điều đó không đủ để gọi là biêt cách làm giàu, làm đẹp, làm cho khôn ngoan hơn người nếu bạn không có toa thuốc và lại không uống theo toa đó. Ðương nhiên thuốc sẽ không có giá trị gì nếu bạn chỉ cầm thuốc và ngắm nghía mãi thay vì uống liền.

Trong Phật Giáo món ăn mà ta phải dùng là thực phẩm tâm linh và tinh thần, bởi vì toàn thế giới đang đau khổ vì thiếu thực phẩm tinh thần, đó là nguyên nhân của chiến tranh. Chúng ta phải thường dùng món ăn tinh thần hàng ngày. Thử nghĩ nếu chúng ta chỉ mất một bữa ăn thường thôi thì chắc chắn chúng ta sẽ la hét quạu quọ đủ thứ, còn khi mất một bữa ăn tinh thần thì chúng ta lại hoàn toàn hài lòng.

Một hôm khi đang thuyết giảng trong một trường học, một số nam sinh chợt nhớ có trận đấu bóng đá đang diễn ra. Chúng liền rời khỏi buổi giảng đang nửa chừng để tham dự trận đấu. Sau khi chúng đi khỏi tôi mới nói với số thính giả còn lại rằng trận đấu của chúng ta là trận đấu tâm linh và chúng ta phải học cách nào để đá tung quả bóng Vô Minh để tận hưởng niềm an vui toàn thắng Niết Bàn. Chúng ta dùng thức ăn vật chất trong sạch thì tại sao ta lại không dùng món ăn tinh thần tinh khiết. Nếu bạn ngỏ lời với hiệu sách và hỏi sách nào bán giá cao nhất, ông ta sẽ trả lời rằng loại sách càng bẩn thỉu thì giá bán càng cao nhất. Nói cách khác, người ta thích món ăn loại văn chương ghê tởm chớ không thích loại đúng đắn. Vì vậy chúng ta nên dùng món ăn tinh khiết cho tâm thức. Món đó là ?Kinh sách Phật?. Nếu bạn ham đọc sách Phật , tâm ý bạn sẽ được thuần hóa, minh triết. Nếu bạn đọc loại văn chương uế nhiễm thì tâm thức bạn sẽ trở nên hôi tanh như đống rác. Nhân nói chuyện về thức ăn khiến tôi nhớ đến mẩu chuyện như sau: xưa có hai vợ chồng và đứa con cùng vượt qua sa mạc, khi tất cả đến nửa đường sa mạc thì bỗng lương thực khô cạn, và trong lúc tuyệt vọng không biết giải quyết cách nào, người chồng liền đề nghị với vợ: ?Này hiền thê ! Trong tình thế nguy nan này, một người chết thì tốt hơn cả ba đều chết: Thế nên đây là cơ hội duy nhất chúng ta ăn thịt đứa con của chúng ta, có vậy chúng ta mới sống và vượt qua nửa đường sa mạc còn lại. Nếa không làm vậy thì cả ba đều chết?. Và rồi với nước mắt đầm đìa thương tiếc, họ giết và ăn thịt đứa con. Không phải họ ăn thịt con để được to mậ0 hay dễ nhìn hoặc để trở thành một võ sĩ hay nhà đô vật, mà chỉ vì muốn vượt qua sa mạc, duy trì mạng sống chứ không mong gì hơn.

Tương tự Ðức Phật đã dạy: này các Sa Môn, trong mỗi đĩa thức ăn ta dùng đều có cái chết. Tất cả đều là xương thịt của con cái mà chúng ta đành đắm lệ nhai nuốt để phương tiện vượt qua biển khổ luân hồi mong tới được bờ bên kia giải thoát. Thế nên chúng ta chỉ ăn để sống chứ không phải sống ăn.

Không phải ăn vì lòng tham dục mà chỉ ăn để có sức khỏe vững bước trên đường Chánh đạo. Tại La Mã có số người ăn nhậu từ sáng đến tối, họ luôn luôn có mặt trong các quán rượu và ăn uống bội thực đến nỗi phải ói mữa tại phòng tắm và rồi sau đó phải hối hả trở lại bàn nhậu và khởi sự trở lại một lần nữa. Thật bi thương khổ lụy.

Ðó là nguyên nhân đưa đất nước đến chỗ suy sụp. Thế nên nếu bạn không muốn đất nước mình đi xuống, bạn nên có ý thức ăn để sống chứ không phải sống để ăn, bởi vì thức ăn giống như món y dược có công năng làm tỉnh lặng chứng bệnh đói khát của chúng sanh.

Nhân đây tôi muốn nói qua về món ăn tinh thần đầu tư chất xám. Quý vị hãy dũng mãnh cố gắng thiết lập một trường Bồ Ðề ở Singapore. Chúng ta nên cổ vũ thực hiện cho được một cơ sở giáo dục Phật học (trường Bồ đề). Bởi vì nếu chúng ta gởi con em vào trường ngoại đạo là mở đường cho họ có dịp bắt cóc tâm thức các con em chúng ta. Họ rất muốn nắm giữ tâm hồn trẻ thơ nhỏ dại và dễ uốn nắn. Tôi dám chắc rằng nếu như người ta cố ăn trộm thân xác con em mình thì quý vị sẽ đau khổ rất nhiều, nhưng nếu họ ăn trộm tâm linh con em mình thì quý vị lại điềm nhiên, chớ không hề nhận ra đó là một đại họa của gia đình, cho họ hàng, xóm làng, đất nước, quê hương.

Nếu quý vị yêu thương con em và tín ngưỡng của mình thì quý vị phải làm sao thấy được con em của mình thông suốt nền giáo dục Phật học, có vậy tôn giáo của quý vị mới phát triển, con em của mình mới có một tương lai Phật học sáng chói, bởi vì trẻ em sẽ tránh sát hại súc vật và từ bỏ uống rượu.

Ở Tây phương người ta nói bắn giết thú vật là một hình thức thể thao và những ai giết giỏi nhiều con vật được gọi là nhà thể thao quán quân. Vì vậy quý vị nên cho con em mình theo học ở các trường Phật học. Ở Penang (Mã Lai) có nhiều trường Phật học nổi tiếng. Tôi vô cùng phấn khởi khi đề cập đến các học sinh ở trường đó. Vì thế hãy nhớ rằng chân lý chỉ thấm nhuần khi nào nó phát triển. Khi nó ngừng không phát triển, nó sẽ ứ đọng và suy tàn. Tín ngưỡng sẽ bế tắc và diệt vong nếu nó không phát huy. Phương pháp làm cho nó trưởng thành và sống mãi là thấy các con em của quý vị mãi mãi là Phật tử thuận thành. Tôi sắp sang hoằng Pháp bên Mỹ để nâng cao số Phật tử trên khắp thế giới, đáp lại với số nhà truyền giáo nước ngoài đã đến đây. Tôi còn nhớ ngày xưa Java là một nước Phật Giáo. Quý vị có thể đọc nhiều sách trong đó có đề cập nhiều ngôi chùa kỳ diệu lừng danh thế giới. Ðừng cho phép tín ngưỡng của quý vị bị suy tàn do đặt tâm hồn mềm yếu non trẻ của con em quý vị trong tay những người không phải là Phật tử. Họ giống như những nhà điêu khắc dùng đất sét uốn nắn theo mẫu hình của họ. Khi nào thấy rằng các con em của chúng ta được huấn luyện theo đường lối của Phật Giáo nghiêm túc thì Ðạo Phật của chúng ta mới hy vọng phát huy rộng khắp thế giới. Trong những năm Phật lịch 2500 trở đi, Phật Giáo như một cái dù che kín vũ trụ thoát khỏi ngọn lửa đau khổ. Khổ đau và khoái lạc chỉ là một; chúng không tách rời nhau, chính Phật Giáo đã khai thị con đường giải thoát như vậy.

TT Thích Giải Thông-Phỏng dịch theo bản tiếng Anh The light of truth của Giảng sư LOKANATHA Do The Singapore Maha Bodhi School xuất bản


Gửi bởi: hoaha Jun 20 2006, 10:49 PM

LTS: Khi chọn đăng bài viết dưới đây, chúng tôi chỉ căn cứ trên công phu nghiên cứu và sự hiểu biết sâu rộng của tác giả về nhiều mặt. Chúng tôi không dám đồng ý hay phản bác các điều được phô diễn trong bài mà chỉ mong đưa lên trang báo một công trình suy tư về một đề tài rất mới và rất đa diện. Xin quý độc giả thưởng lãm và đóng góp ý kiến nếu cần.

Cả thế giới rúng động khi công ty nghiên cứu sinh học American Advanced Technology (AAT) loan tin là họ đã clone (tạo sinh) được một phôi bào (embryo) của người.

Không những chỉ có giới thẩm quyền thuộc các tôn giáo độc thần lớn tiếng kết tội các khoa học gia muốn cuớp quyền Thượng Đế, giới khoa học gia, các nhà lập pháp cũng như chánh quyền các nước Tây Phương vội vã lên tiếng chống đối. Thượng viện Anh đã triệu tập một phiên họp khẩn cấp để thông qua một dạo luật chống cloning, trong đó những người nào thi hành thí nghiệm cấy một phôi bào của người, khác hơn là phôi bào đã được kết hợp tự nhiên bởi một tinh trùng và một trứng, có thể bị kêu án 10 năm tù. Tổng Thống Bush tuyên bố là cloning phôi bào người là một việc làm trái đạo dức và thúc dục Thượng Viện thông qua dự luật cấm cloning người. Tuy nhiên Thuợng Viện nói là họ không vội vã trong việc cấm cloning và sẽ điều tra xem kỹ thuật này có giúp ích gì trong việc chữa các chứng bịnh hiểm nghèo cho dân chúng không. Các phản ứng tại Âu Châu cũng tương tự. Pháp, Đức, Gia Nã Đại và Ý đều lên tiếng chống đối việc tạo con người trong phòng thí nghiệm.

Tuy nhiên các nhà khoa học di truyền nói là quần chúng phải phân biệt giữa hai kỹ thuật cloning. Kỹ thuật Cloning thứ nhất là tái tạo một cá thể con người (productive cloning) và một kỹ thuật khác là tạo những tế bào để thay thế các tế bào bi hư hại (theurapetic cloning) trong cơ thể. Các nhà khoa học nói là các tế bào này chỉ là mầm sống sơ khởi, chưa phải là một cá thể người, do đó không liên hệ dến các vấn đề đạo đức về hủy diệt sự sống. Các phôi bào do AAT cấy được chỉ mới sinh ra chừng 6 tế bào khác, tuy nhiên chúng có đầy đủ các yếu tố di truyền của người cung cấp tế bào.

Vatican dĩ nhiên nghiêm khắc lên án thí nghiệm tái tạo người cũng như thí nghiệm tái tạo các tế bào phôi sinh (stem cell) để chữa bịnh. Các chánh phủ Tây Phương mặc dù lên án productive cloning nhưng vẫn cho phép theurapetic cloning các tế bào phôi sinh dể áp dụng vào việc chữa bịnh.

Phó giám đốc trung tâm nghiên cứu Advanced Cell Technology, Tiến sĩ Robert Lanza, nói là công trình này có những tiềm năng lớn lao trong việc chữa các chứng nan y và cấm đoán việc thử nghiệm này sẽ ngăn chặn những khám phá y học cần thiết để chữa trị những chứng bịnh hiểm nghèo, như ung thư, tiểu đường và các chứng run rẩy (Parkinson) ở các người già. Các khoa học gia ở trung tâm ACT tiếp 1 người hiến tế bào để thử nghiệm là Bác sĩ Judson Someville, hiện đang bị tê liệt và ngồi trên xe lăn vì một tai nạn xe đạp 11 năm trước đây. Bác Si Someville đã hiến tặng các tế bào ở bắp chân phải để các nhà khoa học cấy một phôi bào vào. Các tế bào này khi sinh truởng vẫn còn giữ toàn vẹn nhiễm thể của ông. Nếu các tế bào này sinh trưởng, chúng có thể được thay thế cho các tế bào hư hại và bác sĩ Someville có thể đi lại được bình thường. Bác sĩ Someville sắp sữa lập gia đình một lần nữa và có hai cô con gái. Ông nói nếu thí nghiệm thành công, ông hy vọng một ngày nào đó ông có thể đi dạo bình thường với 2 cô con gái. Bác sĩ Someville là một người sùng đạo Tin Lành và là một đảng viên đảng Cộng Hòa, một đảng trên nguyên tắc kịch liệt chống đối kỹ thuật cloning, cho dù chỉ là cloning chữa bịnh. Bác si Someville nói là ông không ngần ngại gì khi tham gia vào chương trình này và ông không thấy có một sự xung đột gì với niềm tin tôn giáo của mình.

So với các tôn giáo Độc thần Tây Phương, Phật Giáo với lý thuyết duyên khởi là một tôn giáo không bị những tiến bộ khoa học bỏ rơi và những khám phá mới càng chứng tỏ thị kiến của đức Phật về sự sống và về vũ trụ rất gần gũi với thị kiến khoa học.

Lập trường của Phật Giáo, hay ít nhất là của một số Phật Tử, về khoa di truyền học như thế nào? Sau đây là bài viết của Christina Desser.

Một học giả Phật Giáo nổi tiếng ở Mỹ nói đùa: "Nếu cloning được Đức Phật thế giới này sẽ bỗng chốc biến thành tịnh độ". Đây là một lời nói đùa, nhưng không phải là không phản ảnh lý tưởng của Phật Giáo; ai cũng có thể là Phật sẽ thành và giống như nhãn quan của Bồ Tát Thường Bất Khinh, ai cũng là một bồ tát hóa thân. Tuy nhiên lời nói bông đùa đó phản ảnh một chút lạc quan ngây thơ về những tiến bộ vuợt bực của khoa sinh học di truyền cũng như những ảnh hưởng không ai lường trước được về những khám phá của khoa này.

Chúng ta đang bị mê hoặc bởi những lợi ích có thực hay tưởng tượng: một thế giới không còn bịnh tật, những khám phá làm vơi khổ đau của con người, đúng như lý tưởng của đạo Phật. Thực phẩm tăng thêm nhiều chất lượng, được sản xuất dồi dào và không lo còn có ai bị đói. Y tế sẽ được cải thiện và nếu chúng ta lựa chọn những gene tốt, cũng như lựa toàn hạt lúa giống tốt, khả năng trí thức của con người sẽ tăng tiến không giới hạn. Không phải thế giới chỉ có một vài thiên tài làm đảo lộn lịch sử, hoặc chỉ có một thiên tài độc nhất kiểu Phạm Công Thiện, mà thiên tài mọc đầy rẫy như cúc vạn thọ. Những ai nghi mình là thiên tài sẽ lấy làm khó chịu vì trong tương lai không còn ai giữ độc quyền tri thức. Đó là chưa kể chúng ta có thể khuynh đảo các gene gây bịnh già và biến giấc mộng trường sanh bất tử của Lão Trang thành sự thật. Nghĩa là con người có khả năng chấm dứt dòng tiến hóa từ hàng triệu năm nay và kết thúc với một chủng loại siêu việt! Những mơ ước của chúng ta vô tận. Từ thập niên trước những điều mơ ước chỉ là những giấc mộng con, không ai ngờ chỉ có hơn 10 năm, những giấc mộng này bỗng chốc thành sự thật. Đó là một viễn tượng của một hình ảnh niết bàn hay thế giới tịnh độ của Phật Giáo Đại Thừa có thật ở đây, bây giờ.

Chúng ta chào mừng các tiến bộ này với cả hai tay và hy vọng như chúng ta đón mừng những phát minh khoa học khác. Tuy nhiên những áp dụng vào canh nông, y tế và sinh sản con người sẽ làm đảo lộn tất cả mọi trật tự và khoa sinh học di truyền sẽ ảnh huởng đến tất cả mọi khía cạnh của đời sống. Trong thời gian qua, việc cấy gene vào các chủng loại khác (transgenic) đã được áp dụng để biến đổi bắp, lúa mì, gạo và các mùa màng khác; việc chế tạo các vũ khí sinh học di truyền được tiến hành một cách thầm lặng nên không ai chú ý; chế biến năng lượng; sản xuất các dược liệu và các phương pháp điều trị y khoa. Khi phối hợp với kỹ thuật tái tạo (productive cloning) chúng ta có thể thay đổi các nhiễm thể di truyền của thế giới hữu tình. Mặc dù khoa sinh học di truyền bắt dầu viết lại pho lịch sử tiến hóa của nhân loại, phần lớn chúng ta cũng còn lờ mờ về các áp dụng này. Trong khi tôn giáo Tây Phương còn chăm chú vào những vấn đề như phá thai, các liên hệ sinh lý thái quá, các bạo hành cơ thể, chủng tộc và phái tính, khoa sinh học di truyền trẻ trung đã có những tiến bộ nhanh chóng về canh nông và y tế và hậu quả của các áp dụng này chưa được giới Phật Tử để ý tới một cách đúng mức.

Quan diểm Phật Giáo về các vấn đề này ra sao? Khoa học di truyền có phải một đáp ứng nhân đạo cho những đau khổ của con người? Hay đó chỉ là một hình thái vô minh nguy hiểm phát sinh từ tham, sân và si để kích thích hành dộng con người?

Các cơ quan nghiên cứu khổng lồ trên mặt trận canh nông như Monsanto, Novarris, DuPont và các nhà khoa học đang biến đổi gene của hạt giống - cổ vỏ cho khoa di truyền, dựa trên những lý do nhân đạo. Các người này nói là khoa di truyền cần thiết vì nông phẩm sẽ được sản xuất dồi dào hơn và không còn ai bị đói ăn nữa. Khoa di truyền sẽ giúp làm giảm lượng thuốc xịt sâu rầy. Khoa di truyền giúp việc bào chế các dược phẩm mới cũng như các thuốc chủng ngừa cho dân nghèo. Tuy nhiên những hành động của họ, của các công ty này chứng tỏ những lời tuyên bố đầy nhân đạo này không đúng sự thật. Việc cung cấp thức ăn cho người nghèo không thể nào đủ lời để cho các công ty lớn này theo đuổi công trình nghiên cứu về di truyền học. Hiện chỉ mới có một loại nông phẩm được chế biến để làm tăng dinh dưỡng có tên là Gạo Vàng (Golden Rice) do các nhà khoa học được tài trợ duy nhất bởi công ty này. Cho tới ngày hôm nay có người nghi ngờ về hiệu năng của vụ mùa có gene bị chế biến này.

Ngoài các vụ biến dổi gene của các nông phẩm, có những thú vật được chuyển gene (transgenic) như dê, bò, chuột và heo. Cơ quan kiểm soát thực phẩm và dược phẩm của Mỹ sắp sửa chấp thuận cho phép chương trình nuôi cá hồi (salmon) có gene được biến đổi để cá có khả năng lớn thật nhanh và do đó các công ty nuôi cá sản xuất được nhiều, và dĩ nhiên là có lời nhiều. Ở Trung Quốc một loại cá chép được đổi gene có lẽ đã được tung ra thị trường. Các nhà khoa học chuẩn bị thả vào thiên nhiên một loại bọ đã bị đổi gene. Loại bọ này khi làm tình với các con bọ cái khác sẽ sinh ra một loại trứng bị hư và do đó sẽ tiêu diệt các loại bọ trước đây đã tàn phá mùa màng bông vải. Tuy nhiên điều nguy hiểm là những con bọ đổi gene không thể nào thu hồi lại được. Trong khi những loại thảo mộc, bọ và cá có gene bị biến đổi sẽ thay đổi quá trình tiến hoá của môi sinh thiên nhiên, những con người được tạo sinh (cloned) và có gene biến đổi sẽ vĩnh viễn làm thay đổi quá trình tiến hóa của con người. Những điều mà mới đây mà chúng ta nghĩ chỉ là khoa học giả tưởng, bây giờ đã thành sự thực. Hơn 50 năm trước Hitler mơ ước tạo được một chủng loại Aryan toàn hảo và giấc mơ đó chỉ được điện ảnh hoá qua phim The Boys From Brazil do Gregory Peck đóng vai chánh, bây giờ có thể thực hiện một cách dễ dàng, nếu luật pháp cho phép! Trên thực tế giáo phái Raelians hy vọng có thể tạo sinh (cloning) một đứa con đã chết của hai tín đồ trong một phòng thí nghiệm bí mật.

Một thí nghiệm tạo sinh khác do tiến sĩ Panayiotis Zaros của viện nghiên cứu Mỹ Andrology và Trung Tâm Kentucky Centre for Reproductive Medicine đã thực hiện. Tiến sĩ Zaros đã có những nổ lực tạo sinh người cho các cặp vợ chồng không có con cái. Nhà khoa học này hy vọng rằng việc tạo sinh người sẽ thành công trong vòng một năm. Nhiều người muốn tạo sinh vì nhiều lý do khác nhau. Hoặc là họ muốn làm sống lại một người thân yêu đã chết. Hoặc là họ muốn mình trường sanh bất tử. Hoặc là họ không có con nối dõi.

Trên quan điểm đạo đức Phật Giáo, việc tạo sinh nẩy ra nhiều vấn đề rắc rối. Có phải chăng ý muốn cho người thân sống lại là một hình thái bám chặt vào cái thân như diện ảnh mà Đức Phật đã cảnh cáo? Có phải chăng việc tạo sinh chính mình là một hình thức chấp ngã đi ngược lại với nguyên tắc vô thường trong tất cả kinh điển Phật Giáo? Những cặp vợ chồng không có con cái muốn có người nối dõi qua hình thức tạo sinh cũng là một hình thức chấp ngã và kéo dài các vòng luân hồi vô tận!

Những cặp vợ chồng có khả năng có con cái muốn có con theo ý mình (design baby) sau khi đã gạn lọc những gene hạ đẳng và cấy vào những gene tốt và do đó sẽ tạo ra một chủng tộc thượng đẳng mà Hitler ngày xưa đã mong muốn? Những người chống đối việc chuyển gene để tạo ra design babies nói là trong tương lai gần, sẽ có hai "giống" người khác nhau. Một giống tự nhiên "trời sinh sao thì cứ để vậy" và một "giống" người đã được chuyển gene thượng đẳng. Nhà sinh vật tế bào Lee Silver cho rằng nếu cloning và kỹ thuật chuyển gene được luật pháp bật dèn xanh, xã hội Mỹ trong tương lai sẽ có hai "giống" người. Giống người được chuyển gene chiếm 10% trong xã hội Mỹ và họ sẽ nắm tất cả các địa vị đầu não trong các lĩnh vực truyền thông, kinh tế và kiến thức (đại học), trong khi 90% còn lại sẽ làm những nghề hạ tiện.

Tới một lúc nào đó hai giống người này không còn liên hệ với nhau nữa và những cuộc hôn nhân "dị giống" sẽ không bao giờ xảy ra nữa, tương tự như tình trạng giữa người và vuợn, hai bên sẽ không thể nào có những liên hệ sinh lý nữa. Lục đạo của Phật Giáo sẽ trở thành "thất đạo", bảy nẻo luân hồi! Và tình trạng này cũng không khác gì xã hội đẳng cấp của Ấn Độ là bao. Thay vì dùng thần quyền dể biện minh cho đẵng cấp như các giáo sĩ Bà La Môn, giống người thượng đẳng sẽ dùng gene toàn bích để biện minh tại sao họ là những người sinh ra để lãnh đạo, ăn trên ngồi trước. Khoa học giả tuởng? Viễn tượng một xã hội có hai "giống" người khác biệt, một có gene toàn bích, một giống người tự nhiên, gần hơn mọi người nghĩ nhiều!

Tất cả những thí nghiệm tạo sinh (cloning) thường được thi hành bí mật trong các phòng thí nghiệm và hiện nay không ai biết là khả năng tạo sinh của các nhà khoa học đến mức nào rồi. Sẽ có những hậu quả không thể nào lường được cho con người và các chủng loại khác.

Những công ty lớn đang nghiên cứu việc biến đổi gene không thèm dể ý đến những hậu quả đến môi sinh của chúng ta. Trên thực tế không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra khi việc chuyển đổi và hỗn hợp các gene giữa những chủng loại khác nhau được thực hiện. Về sự chuyển gene giữa các cây cỏ khác nhau, Steve Jones, giáo sư khoa di truyền ở đại học Luân Đôn tin rằng sự ô nhiễm gene sẽ không thể nào tránh được. Các gene đã được chuyển đổi trong thực vật sẽ lẫn lộn với các gene khác và có thể gây ra những hậu quả cực kỳ nguy hại. Nếu như côn trùng có gene làm tuyệt giống tràn lan, thình lình tất cả các côn trùng đều biến mất. Không có côn trùng thì môi sinh không thể tồn tại, không có thụ phấn, không kết hoa hay quả. Nếu môi sinh trong tình trạng mất thăng bằng thì thế giới và nhân loại sống còn nữa không? Cái này có thì cái kia có. Cái này không còn thì cái kia không còn, chưa bao giờ thuyết duyên khởi của Phật Giáo trở nên minh bạch và dễ hiểu như thế!

Khi nghiên cứu về những vấn đề này Phật Tử sẽ suy nghĩ như thế nào? Michel Houellebecq tác giả quyển tiểu thuyết giả tuởng Elementary Particles (Vi Trần?) cho rằng Phật Giáo có thể đồng ý với cloning, hay ít ra là cũng không phản đối. Một trong những nhân vật trong truyện phát biểu: Rồi đây con người như chúng ta biết hiện nay sẽ biến mất, nhường chỗ cho một cho một chủng loại mới trung lập về phái tính, không đàn ông mà cũng không phải là đàn bà, vượt lên trên cá nhân, phân biệt cá thể và tiến hoá. Không cần nói là những tôn giáo chủ trương mặc khải phản dối quyết liệt những kỹ thuật này. Chỉ có Phật Giáo là tuy có im lặng và nghi ngờ, tuy nhiên tất cả những lời dạy của Đức Phật dều dựa trên đệ nhất đế, khổ đế, và phần lớn đề cập đến sinh lão bịnh tử, và nếu Đức Phật quán niệm về những vấn đề này, Ngài không nhất thiết phản bác kỹ thuật cloning.

Tôi (tác giả) nghĩ là quan điểm của Houllebecq không đại diện cho chánh kiến, tuy nhiên có dịp nào những tu sĩ và học giả Phật Giáo có dịp thảo luận về vấn dề này, có nhiều ý kiến thích thú mới sẽ nẩy sinh và có thể đưa chúng ta sang một buớc ngoặc bất ngờ. Trong một thế giới mà con người có khả năng (hay nghĩ mình có khả năng) kiểm soát quá trình tiến hoá của chính chủng loại của mình và môi sinh quanh mình, quan niệm về nghiệp của Phật Giáo có thay đổi không? Chúng ta có quyền gì thay đổi quá trình tiến hoá của các thế hệ tương lai? Kỹ thuật tạo sinh - sinh sản mà không cần có liên hệ sinh lý - có giúp chúng ta tránh khỏi bị ràng buộc những ham muốn về sinh lý? Kỹ thuật tạo sinh có củng cố quan niệm chấp ngã và ái ngã nhiều hơn hay là phân hóa ngã của chúng ta thành những cái ngã con con (mini-me?s) và làm cho chúng ta mau giải thoát hơn? Hay là những kỹ thuật tân tiến này khiến chúng ta càng ôm chặt cái ngã "duy ngã độc tôn vô thượng" của mình và muốn kéo dài tuổi già đau khổ của mình mà Đức Phật đã tiên kiến? Quá trình thành trụ hoại diệt có còn đúng không và duyên khởi sẽ dóng vai trò nào?

Kỹ thuật thay đổi, biến hoá và đùa bỡn với đời sống hiện nay trong khoa học di truyền là những khám phá có ý nghĩa trọng đại trong lịch sử nhân loại, cũng giống như lúc con người khám phá ra lửa và tách nhỏ các hạt nhân nguyên tử. Phải có một nền đạo đức mới để hướng dẫn những quyết định về chánh trị và kinh tế để cùng đi tới với khoa học tạo sinh, bởi vì chúng ta không thể ngăn cản những tiến bộ của khoa học và kỹ thuật và thái dộ cấm đoán của Vatican chỉ phản ảnh cho một thái độ tiêu cực và vô bổ. Nghiên cứu những vấn đề này có thể làm sáng tỏ hơn về vai trò của đạo đức Phật Giáo cũng như có thể góp phần một phần nào vào việc thiết lập những nguyên tắc đạo đức mới cho toàn thể nhân loại.

Nếu Phật Tử, nhất là những người xuất gia, chỉ loay hoay với những mối lo âu hình thức lặt vặt như tạo phước điền, tụng kinh Pháp Hoa mấy thời, niệm Phật giải thoát, chỉ tự biến mình thành những ông thầy cúng, thầy tụng, hoàn toàn biệt lập với đời sống và biến đạo Phật thành những giáo phái kiểu Vô Thượng Sư chuyên đi lừa bịp các tín đồ nhẹ dạ. Có thể trích ra một thiền ngữ thích hợp cho hình thức tu này là, mái ngói nghìn kiếp, ngói vẫn còn là ngói, chẳng bao giờ ngói trở thành gương.

(Viết theo Christina Desser, Tricycle số Kỷ Niệm Mười Năm, Mùa Thu 2001.)


Ý kiến :

A DI ĐÀ PHẬT.
CHÚNG TA BIẾT RẰNG NHÂN QUẢ LUÔN ĐI ĐÔI VỚI NHAU, NHÂN THIỆN RA QUẢ THIỆN... THẬT RA NẾU CÁC NHÀ KHOA HỌC MÀ CÓ THỂ CLONE ĐƯỢC ĐỨC PHẬT THÌ NHỮNG LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT SẼ KHÔNG CÒN Ý NGHĨA, BỞI VÌ CHÚNG TA SẼ KHỎI MẤT CÔNG TU HÀNH LÀM CHI CHO MỆT ĐỂ THÀNH PHẬT, MÀ CỨ CLONE CHÍNH MÌNH LÀM PHẬT CHO LẸ, ĐỐT GIAI ĐOẠN, MÀ KHỎI SỢ TỘI LỖI ĐÃ LÀM TRONG QUÁ KHỨ VÌ MÌNH ĐÃ THÀNH PHẬT RỒI...VIỆC NÀY NẾU CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC THÌ ĐỨC PHẬT CŨNG ĐÃ NÓI CHO CHÚNG TA BIẾT TỪ KHUYA RỒI, MÀ TA ĐÃ NGHE QUA CHƯA ? HAY CÓ VỊ HÒA THƯỢNG NÀO LÀM ĐƯỢC CHƯA ? ĐỂ THÀNH PHẬT THÌ CHÚNG TA PHẢI BỎ CÔNG TU HÀNH DỮ DỘI CHỨ KHÔNG DỄ DÀNG NHƯ NHIỀU NGƯỜI TƯỞNG ĐÂU, CÒN NHỚ LÀ MÌNH ĐÃ SỐNG NHIỀU ĐỜI NHIỀU KIẾP MÀ VẪN CHƯA THÀNH PHẬT MÀ CÒN PHẢI TRẢI THÊM KHÔNG BIẾT BAO NHIÊU ĐỜI NỮA, CHẮC QUÝ VỊ CŨNG CÓ THẤY QUA NHỮNG QUYỂN SÁCH DẠY TA LÀM SAO TU TRONG ĐỜI NÀY SẼ THÀNH PHẬT HAY LƯU XÁ LỢI , CÓ THẬT DỄ VẬY KHÔNG ? CHỈ VIỆC NHỎ NHƯ BỎ THAM SÂN SI MÀ TA CŨNG CHƯA LÀM ĐƯỢC THÌ ĐỪNG NÓI CHI CHUYỆN LỚN LAO KHÁC NGHE MẮC CỞ QUÁ.
CON ĐƯỜNG ĐỂ THÀNH PHẬT ĐÃ ĐƯỢC ĐỨC PHẬT CHỈ DẠY VÀ ĐỨC PHẬT ĐÃ LÀM GƯƠNG CHO CHÚNG TA THẤY RỒI, NGOÀI RA KHÔNG CÓ CÁCH NÀO ĐỐT GIAI ĐOẠN CẢ, ĐỨC PHẬT CŨNG MUỐN TẤT CẢ CHÚNG MAU THÀNH PHẬT CHỨ CHẲNG LẺ ĐỨC PHẬT DẠY MÌNH LÀM CÁCH KHÓ KHĂN TRONG KHI CÓ CÁCH KHÁC CŨNG KẾT QUẢ MÀ LẠI NHANH GẤP TRĂM NGÀN LẦN MÀ ĐỨC PHẬT LẠI BIẾT MÀ DẤU MÌNH HAY SAO ?
MONG QUÝ ĐẠO HỮU CỨ LÀM THEO LỜI ĐỨC PHẬT DẠY MÀ PHẢI NỔ LỰC THỰC HÀNH HƠN NỮA MỚI MONG NHANH CHÓNG THÀNH PHẬT.
XIN CHÚC QÚY PHẬT TỬ THÂN TÂM THƯỜNG LẠC.
NAM MÔ ĐƯƠNG LAI HẠ SANH DI LẠC TÔN PHẬT

Lập trường của Phật Giáo, hay ít nhất là của một số Phật Tử, về khoa di truyền học như thế nào? Sau đây là bài viết của Christina Desser.

Một học giả Phật Giáo nổi tiếng ở Mỹ nói đùa: "Nếu cloning được Đức Phật thế giới này sẽ bỗng chốc biến thành tịnh độ".

Michel Houellebecq tác giả quyển tiểu thuyết giả tuởng Elementary Particles (Vi Trần?) cho rằng Phật Giáo có thể đồng ý với cloning, hay ít ra là cũng không phản đối.

Nếu Phật Tử, nhất là những người xuất gia, chỉ loay hoay với những mối lo âu hình thức lặt vặt như tạo phước điền, tụng kinh Pháp Hoa mấy thời, niệm Phật giải thoát, chỉ tự biến mình thành những ông thầy cúng, thầy tụng, hoàn toàn biệt lập với đời sống và biến đạo Phật thành những giáo phái kiểu Vô Thượng Sư chuyên đi lừa bịp các tín đồ nhẹ dạ. Có thể trích ra một thiền ngữ thích hợp cho hình thức tu này là, mái ngói nghìn kiếp, ngói vẫn còn là ngói, chẳng bao giờ ngói trở thành gương.

Cloning mà nói rằng tạo ra được đức Phật, thực là lầm lẫn giữa cái xác thân luân hồi với sự giải thoát. Phát biểu như vậy, liệu có thể cho là học giả về đạo Phật hay không? Hay học nhiều mà vẫn không hiểu bao nhiêu? Tác giả bài viết bàn về đạo Phật lại trích dẫn câu này, trích dẫn những "khoái lạc" của cuộc sống như là cứu cánh, vậy giá trị của bài viết có được là mấy?
Mục đích của bài viết là muốn kêu gọi Phật tử chống lại kỹ thuật cloning và di truyền. Nếu là Phật tử, không ai là không biết luật nhân quả. Cloning, biến đổi gene, vv... là gieo nhân. Quả của việc gieo nhân này là như thế nào, chúng ta không biết. Trong 12 nhân duyên, đây là bước khởi đầu: vô minh.
Chê trách Phật tử chỉ biết tụng kinh và làm điều thiện mà không có phản ứng với những chuyện cloning, di truyền vv... tác giả đi vào bước thứ hai: hành, mà không biết rằng, không "hành" mới đi ra khỏi cái chuỗi của 12 nhân duyên.

Gửi bởi: bentre Jun 21 2006, 07:32 AM

QUOTE(hoaha @ Jun 21 2006, 01:19 AM)
Cloning mà nói rằng tạo ra được đức Phật, thực là lầm lẫn giữa cái xác thân luân hồi với sự giải thoát. Phát biểu như vậy, liệu có thể cho là học giả về đạo Phật hay không? Hay học nhiều mà vẫn không hiểu bao nhiêu? Tác giả bài viết bàn về đạo Phật lại trích dẫn câu này, trích dẫn những "khoái lạc" của cuộc sống như là cứu cánh, vậy giá trị của bài viết có được là mấy?
Mục đích của bài viết là muốn kêu gọi Phật tử chống lại kỹ thuật cloning và di truyền. Nếu là Phật tử, không ai là không biết luật nhân quả. Cloning, biến đổi gene, vv... là gieo nhân. Quả của việc gieo nhân này là như thế nào, chúng ta không biết. Trong 12 nhân duyên, đây là bước khởi đầu: vô minh.
Chê trách Phật tử chỉ biết tụng kinh và làm điều thiện mà không có phản ứng với những chuyện cloning, di truyền vv... tác giả đi vào bước thứ hai: hành, mà không biết rằng, không "hành" mới đi ra khỏi cái chuỗi của 12 nhân duyên.
*



Cloning mà nói rằng tạo ra được Đức Phật thì thật là ngu xuẩn (thế mà cũng tự xưng là học giả). Xin thưa rằng Cloning chỉ tạo một phiên bản Copy về vật chất, thể xác mà thôi, còn trí tuệ - thần thức - nghiệp báo thì làm sao Cloning được ???
Một sinh vật hay một chúng sinh, ngoài phần Xác còn phải có phần Tâm linh, phần này do một thần thức tự nguyện (vì Nghiệp báo dẫn đường) gia nhập vào phần Xác, nên mới tạo được một sinh vật (một chúng sinh) đầy đủ.
Kết luận: không thể Cloning Thần thức.

Gửi bởi: hoaha Jul 4 2006, 12:50 PM


Cáo tật thị chúng (cáo bệnh để dạy chúng đệ tử )

Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Bài Kệ nguyên gốc chữ Hán,đã được phiên âm Hán Việt như trên, bản dịch của Ông Ngô tất Tố là sớm nhất và được biết đến nhiều nhất :

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai .

Tôi vì yêu thích bài kệ này của Thiền sư Mãn Giác ,nên cũng vô phép mạo muội phỏng dịch như sau :

Xuân đi trăm hoa rãi
Xuân về trăm hoa khai
Việc đời trôi trước mắt
Trên đầu già tóc phai
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng cả
Tiền đình đêm trước một cành mai
Hoa Hạ .

Bài kệ của Thiền sư mãn giác còn được dịch ra tiếng Anh với tựa đề"REBIRTH" (tái sanh) .
Hoa Hạ

Gửi bởi: hoaha Jul 5 2006, 01:48 AM

Cám ơn Ách Mìn,NhaQue,Bentre . tongue.gif biggrin.gif
Hoa Hạ

Gửi bởi: nguyễn thanh nhàn Jul 5 2006, 06:07 AM


Tre và Măng
Kính bạn hoaha,

Cám ơn bạn đã gửi riêng cho tôi bài Cáo Tật Thị Chúng
Người xưa có câu:
Sĩ Dĩ Lễ
hoặc
Sĩ Vị Tri Kỹ Giả Tử
Nữ Vị Tri Kỷ Giả Dung
Tạm dịch nghĩa là Tráng sĩ vì người hiểu trọng mình mà ngạo nghễ sang Tần
Khách má hồng vì người hiểu mình mà chăm chút phấn son, nên tôi cố suy nghĩ về bài thơ của Thiền Sư Mẫn Giác mà đóng góp với bạn
Trước đây nữa tiếng đồng hồ tôi chưa biết bạn là nam hay nữ vì bút hiệu "hoa ha" dễ phân vân, tôi phải đọc lại những bài bạn viết thấy vài chuyện tiểu lâm như bài bà già rụng răng tôi mới hiểu hai chữ không dấu có nghĩa là hạ hoả .

Bài thơ của Thiền sư Thích Mẫn Giác quá cao thâm trác tuyệt.
Trác tuyệt từng câu từng chữ
Cao thâm vì ngắn gọn mà bao hàm tất cả triết lý ÁĐông.

Từ xưa đến nay bao nhiêu người dịch, trước khi cầm bút đã khớp (khiếp) vì không tin mình diễn tả nổi thành thử không dám thoát ý thoát lời, hoá ra đem cái khó chữ nho chuyển qua thành cái khó của chữ quốc ngữ. Tôi dám nghĩ giới trẻ dạo sau khi đọc bài này sau khi đã dịch thành chữ quốc ngữ cũng thấy trong cái hiểu của mình có một cái gì chưa suông sẽ. Ý của ngài cao thâm, ẩn dụ của ngài quá hàm xúc, đại bác bắn ở núi này tiếng nổ cách xa sau hai ngọn núi khác không thấy đã đành, tiếng vọng cũng không gợi ý đuợc phương huớng.
Đạo Phật truyền qua nhiều đời bằng những đại thiền sư uyên bác, đến đời Lục Tổ Huệ Năng lại là người dốt, tưởng đạo đã cùng đường nhưng ngài học đạo bằng cái tâm không bằng cái chữ. Đạo là đường, với tổ Huệ Năng cầu sập không có ý nghĩa là đuờng cùng.
Người tu thiền có câu phương châm : "Tòng Sư Sát Sư. Tòng Phật Sát Phật". Nghĩa thuần túy là phải dẹp tạp niệm mới đạt cảnh giới thiền. Nghĩa thường hiểu là muốn thoát khỏi giáo điều thì phải đừng nô lệ vào kinh điển.

Thí dụ hai câu thơ
Xuân tàm đáo tử ti phuơng tận
Bạch lạp thành hôi lệ thuỷ can
Có người dịch ngược thứ tự nên nghe suông sẽ
Ngọn nến hồ tàn còn ướt lệ
Con tằm đến thác vẫn vương tơ

Trong bài thư của thiền sư có chữ Lão Tùng, tùng là loại cây cao. Đức Khổng Tử dạy học trò đi ngang cây cao thì phải ngã nón chào. Cái cây thì kệ cái cây, bộ trên cây có ma sao mà sợ quá vậy? Không phải. Cây cao là người trưởng thượng. Lão Tùng là người cụp thùng thiếc. Mạc vị xuân tàn. Xuân tàn là hết xí quách. Câu chót Nhất Chi Mai trác tuyệt theo cái nghĩa và không ai dám thay đổi. giống như đi chụp hình studio, người mẫu không dám nhúc nhích. bởi vì nhúc nhích thì bóng và sắc sai lệch mất tính sắc xão của đường và nét. Bởi vậy câu kết của thiền sư qua bao nhiêu lời dịch làm giới trẻ không giãi thích được sự mâu thuẫn của lẽ trời đất. Tại sao xuân tàn mà đêm hôm trước lại có nở một cành mai. Mai này lặt lá muộn hay sao?.

Thành thử bài thơ này về tới ruộng tức là xứ Bê`1ntre của mình theo ý tôi phải đổi thứ tự hai câu đầu và dịch thoát ý bằng một hình ảnh khác như thế này mới được nhiều người hiểu:

Xuân đến trăm hoa khai
Xuân tàn trăm hoa rụng
Rõ ràng đời trôi mãi
Đầu bạc tuổi đã già.
Đừng sợ mình quá vãng
Măng mọc thế tre tàn.

Văn dĩ tái đạo, văn dùng để chuyên chở ý nghĩa, văn hay quá mà người đọc không hiểu cũng như không có văn.

Về triết lý thâm sâu, anh em nào có nghiên cứu tử vi hoặc phong thuỷ hoặc khoa học huyền bí đông phương sẽ nhớ đến vòng sao Trường Sinh diễn tả sự tuần hoàn trong đời người. Có tất cả 12 sao mỗi sao an một cung gồm: Trường Sinh, Mộc Dục , Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Tháng Giêng đóng tại cung Dần. Cung Dần Mão thuộc Mộc. Hoa lá cành bắt đầu xum xuê vào tháng giêng, nhưng Trường Sinh của Mộc an tại cung Hợi, cung Hợi thuộc tháng mười âm lịch, tức là mầm mống của mùa xuân bắt đầu từ giữa mùa đông.
Xuân tàn của đời người là một mùa đông. Khi một thế hệ già nua chưa đi vào dĩ vãng thì một tương lai khác đã bắt đầu.

Lại nữa có câu
Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt.
Hướng dương thảo mộc tảo phùng xuân
Nghĩa là:
Nhà cửa xây bên bờ sông bờ hồ bờ biển trước tiên người ở ngắm đuợc vầng trăng không bị che khuất.
Trên cùng một thân cây, sau mùa đông trơ lá nhánh nào gie về phía mặt trời mọc, nhánh đó phía đó sẽ đâm chồi trước. Sự thăng tiến phải tuỳ thuộc vào môi trường và cơ hội.

Cành Mai đã ra duy nhất một cái bông mà đại thiền sư Mẫn Giác báo cho mọi người biết chuyện xảy ra đêm qua là cành quay mặt về huớng đông

Nguyễn Thanh Nhàn

Gửi bởi: hoaha Jul 5 2006, 09:41 PM

Kính huynh Thanh Nhàn,

Huynh cứ xem Hoahạ là hai vợ chồng, khi mà con gái đã lấy chồng rồi thì mang họ chồng, còn như đàn ông muốn mang họ vợ thì phải "nhập tụ" . Vậy huynh hiểu Hoa Hạ là gái là đúng 50% vì hiện Hoa Hạ mang họ chồng. Muội thấy tên Hạ Hỏa do huynh nghĩ dùm cho tiểu muội ,muội rất tâm đắc,có điều muội xin phép huynh cho phép muội đổi lại là Hoa Hè lữa! nghe cũng rất nóng hổi ! còn hạ hỏa thì muội đã tro tàn, củi lạnh từ lâu rồi, bi giờ vợ chồng muội sống với nhau như thế càng thấm thiết hơn và càng yêu quý nhau hơn, nếu lở mà ông xã muội hui nhị tỳ trước , chắc HH buồn rầu héo hon mà đi theo ổng không biết chừng, như vậy khi huynh đọc thơ của muội làm, mà huynh nghĩ là của mông sừ Hoa hạ thì cũng không sao cả , vì muội với ổng tuy hai mà một . Nhờ huynh hôm nay muội thỏa chí với tên Hoa Hè Lữa, để biết mình cũng còn có chút hơi ấm với cuộc đời nhộn nhịp này ! .

Còn bài kệ của Thiền sư Mãn Giác là bài Kệ tuyệt chúng, dạy cho chúng xuất gia và cả chúng tại gia . Nó cao thâm uyên bác, đối với kẽ trí ngu như muội thì cãm thấy hay một cách khác , cũng thấm vào lòng như được mưa rào , nhưng vì muội là cỏ lá nên thấm nhuần được chút xíu, tuy mưa rào thì cổ thụ hay cỏ lá gì cũng đều thắm như nhau, nhưng cổ thụ thì thấm theo cổ thụ , còn cỏ lá thì thấm theo cỏ lá không thể nào lấy trí phàm phu của HH mà dịch nổi Kệ của Thiền Sư MG cho thoát nghĩa được ! . Tiểu muội đọc bài kệ của TSMG thích quá, đâm ngông cuồng, nên phỏng dịch theo ý mình , như vậy xem như là bài kệ này là của mình, nghĩa là nói lên tính khí tầm thường của mình thôi . Bài Kệ của Đại Sư như Tùng bách ,còn sự phỏng dịch của Tiểu muội như cỏ lá núp dưới bóng mát của Tùng Bách mà được hưởng sự thanh thoát giữa buổi trưa hè rực lữa !
Nhờ sự giải thích của huynh Thanh Nhan muội đã sáng tỏ thêm, xin mạo muội sữa lại bài kê phỏng dịch của muội như sau :

Xuân đi trăm hoa rãi
Xuân đến trăm hoa khai
Cuộc đời trôi đi mãi
Đầu già tóc bạc phai
Đừng nghĩ xuân tàn hoa rụng thải
Tiền đình đêm trước điễm cành mai

Theo ngu ý của muội mùa xuân đến thì trăm hoa đua nở, Hết mùa xuân thì hoa mai hoa đào lần héo rụng, cũng như vậy cuộc đời cứ trôi, người thì theo năm tháng mà lão, bệnh, chết, nhưng mà đừng tưởng rằng xuân tàn thì hoa rụng hết, hãy xem kìa, đêm qua ở tiền đình còn có một cành mai, ngụ ý chưa chắc thời gian đi rồi sẽ mất hết như định luật thành, trụ, dị, diệt, mà hạ thủ công phu tu tập thì sẽ thấy hoa chân tâm nở vượt cả thời gian và không gian! Thời gian cứ trôi, đời người cứ theo định luật thành, trụ, hoại, không mà duyên hợp huyễn có, còn tâm đạo thì mãi tồn tại với hư không và năm tháng


Một lần nữa muội cám ơn huynh đã giải thích cho muội hiểu thêm sự thâm sâu truyệt tác của bài Kệ ! và muội cũng rất đồng ý với huynh là học đạo bằng tâm thành, chứ không bằng chử nghĩa đối đãi, nên muội cũng rất thích câu chuyện của Ngài Triệu Châu hỏi Ngài Nam Tuyền :

Hỏi:Thế nào là đạo?
Đáp:Tâm bình thường là đạo.

Khi Tổ Huệ năng được truyền y bát là vì Tổ chỉ có ĐẠO đi vào tâm, còn 498 vị kia và Ngài Thần Tú thì đã có Phật Pháp vào tâm , nên Tổ Huệ Năng mới được truyền Y Bát, và đó là đời cuối cùng Chư Tổ truyền y bát ! về sau thì hình như chỉ truyền tâm ấn không còn truyền Y Bát nữa . Đây là sơ lược sáu vị tổ của Thiền tông Trung hoa do Đại sư Hám Sơn Tán Thán:

TÔN GIẢ BỒ ÐỀ ÐẠT MA
(Bodhidharma)

Sư tâm thậm cấp
Kỳ lai thái Tảo
Nhất ngữ bất đầu
Thử tâm bất liễu
Lãnh tọa Thiếu Lâm
Hạnh đắc Thần Quang
nhất tí đọa lạc
Kỳ đạo đaị xương

Tâm sư thật gấp
Đến đây quá sớm
Một lời chẳng hợp
Tâm này chẳng xong (rõ)
Ngồi lạnh Thiếu Lâm
May được Thần Quang
Một tay rơi rụng
Ðạo này thịnh hưng.

ÐẠI SƯ HUỆ KHẢ

Hàng hải đặc lai
Ða thiểu khổ tâm
Chấn Ðán quốc lý
Kỳ đắc nhất nhân
Mích bất khả đắc
Như thủy nhậm khí
Dĩ thử truyền gia
Thị vi đệ nhị.

Vượt thuyền riêng đến
Biết bao khổ tâm
Trong nước Trung Hoa
Chỉ được một người
Tìm không thể được
Như nước tùy bình
Lấy đây trao truyền
Đấy là đện nhị

ÐẠI SƯ TĂNG XÁN

Thông thân thị bịnh
Bất tri lai xứ
Hốt phùng y vương
Mãnh tỉnh kỳ cố
Tâm không cốt cương
Thả tiện hành cước
Ngộ hữu lực giả
Nhất đảm phó thác.

Suốt thân là bệnh
Chẳng biết từ đâu
Chợt gặp y vương
Tỉnh hẳn duyên cớ
tâm rổng xương cứng
Lại đi hành cước
Gặp người có sức
Một gánh giao cho

ÐẠI SƯ ÐẠO TÍN

Thiếu niên xuất gia
Lợi căn tiệp tật
Lục thập dư niên
Hiếp bất chí tịch
Học lữ vân trăn
Hà đãi tiểu nhi
Dĩ hữu túc ước
Quán giả bất tri.

Tuổi trẻ xuất gia
Lợi căn nhâm lẹ
Hơn sáu mươi năm
hông không dính chiếu
Người học tu tập
Đâu tiếp trẻ con
Vì có hẹn xưa
Người xem chẳng biết

ÐẠI SƯ HOẰNG NHẪN

Lai lịch bất minh
Xuất thân kháp hảo
Nhất kiện vi hoàn
Lưỡng gia đô liễu
Phá đầu sơn trung
Hoàng Mai lộ thượng
Vãng lai tự do
Cụ đại nhân tướng.

Lai lịch chẳng tỏ
Xuất thân đúng lúc
Một việc chưa xong
Hai nhà đều rõ
Trong núi phá Đầu
Trên đường Hoàng Mai
Đủ tướng đại nhân
Qua lại tự do

ÐẠI SƯ HUỆ NĂNG

Tiều phủ tài phao
Dĩ thạch trụy yêu
Linh căn cửu thực
Tùng thử trừu điều
Nguyên xuất Tào Khê
Hoành lưu đại địa
Trực chí vu kim
Vô xứ bất thị.

Búa Tiều vừa ném
Lấy đá cột eo
Linh căn trồng lâu
Từ đây nảy nhánh
Nguồn từ Tào Khê
Trôi khắp đại địa
Thẳng đến bây giờ
Không đâu chẳng phải

Khi được huynh giải thích thì tư nhiên muội sáng tỏ thêm và mới hiểu thêm chí hướng của bậc Trí giác là như lời ngài Tuyên Hóa đã dạy :

"Dù lạnh rét, không phan duyên"
"Dù đói chết không xin xỏ"
"Dù nghèo kiệt không cầu cạnh"
"Tùy thuận ngoại duyên, song không thay đổi chí hạnh"
"Không đổi chí hướng, nhưng vẫn tùy thuận ngoại duyên"
"Thế mới giữ vững ba đại tông chỉ:"
"Xả mình vì Phật sự,"
"Cứu người là bổn phận,"
"Sửa mình làm việc Tăng."
"Hễ gặp việc gì thấy lý việc ấy."
"Hiểu Đạo Lý gì, thực hiện lý ấỵ"
"Vậy mới truyền thừa mạch huyết Tổ Sự"
Cố Đại Lão Hòa Thượng Thượng Tuyên Hạ Hóa .


Một lần nữa thật cám ơn huynh, kính chúc huynh và gia đình an lạc như ý !

Hoa Hè Lữa tiểu muội

Gửi bởi: nhuoctran Aug 14 2006, 01:38 AM

[QUOTE][quote=hoaha,Jul 5 2006, 02:41 PM]
Kính huynh Thanh Nhàn,

Huynh cứ xem Hoahạ là hai vợ chồng, khi mà con gái đã lấy chồng rồi thì mang họ chồng, còn như đàn ông muốn mang họ vợ thì phải "nhập tụ" . Vậy huynh hiểu Hoa Hạ là gái là đúng 50% vì hiện Hoa Hạ mang họ chồng. Muội thấy tên Hạ Hỏa do huynh nghĩ dùm cho tiểu muội ,muội rất tâm đắc,có điều muội xin phép huynh cho phép muội đổi lại là Hoa Hè lữa! nghe cũng rất nóng hổi ! còn hạ hỏa thì muội đã tro tàn, củi lạnh từ lâu rồi, bi giờ vợ chồng muội sống với nhau như thế càng thấm thiết hơn và càng yêu quý nhau hơn, nếu lở mà ông xã muội hui nhị tỳ trước , chắc HH buồn rầu héo hon mà đi theo ổng không biết chừng, như vậy khi huynh đọc thơ của muội làm, mà huynh nghĩ là của mông sừ Hoa hạ thì cũng không sao cả , vì muội với ổng tuy hai mà một . Nhờ huynh hôm nay muội thỏa chí với tên Hoa Hè Lữa, để biết mình cũng còn có chút hơi ấm với cuộc đời nhộn nhịp này ! .

Còn bài kệ của Thiền sư Mãn Giác là bài Kệ tuyệt chúng, dạy cho chúng xuất gia và cả chúng tại gia . Nó cao thâm uyên bác, đối với kẽ trí ngu như muội thì cãm thấy hay một cách khác , cũng thấm vào lòng như được mưa rào , nhưng vì muội là cỏ lá nên thấm nhuần được chút xíu, tuy mưa rào thì cổ thụ hay cỏ lá gì cũng đều thắm như nhau, nhưng cổ thụ thì thấm theo cổ thụ , còn cỏ lá thì thấm theo cỏ lá không thể nào lấy trí phàm phu của HH mà dịch nổi Kệ của Thiền Sư MG cho thoát nghĩa được ! . Tiểu muội đọc bài kệ của TSMG thích quá, đâm ngông cuồng, nên phỏng dịch theo ý mình , như vậy xem như là bài kệ này là của mình, nghĩa là nói lên tính khí tầm thường của mình thôi . Bài Kệ của Đại Sư như Tùng bách ,còn sự phỏng dịch của Tiểu muội như cỏ lá núp dưới bóng mát của Tùng Bách mà được hưởng sự thanh thoát giữa buổi trưa hè rực lữa !
Nhờ sự giải thích của huynh Thanh Nhan muội đã sáng tỏ thêm, xin mạo muội sữa lại bài kê phỏng dịch của muội như sau :

Xuân đi trăm hoa rãi
Xuân đến trăm hoa khai
Cuộc đời trôi đi mãi
Đầu già tóc bạc phai
Đừng nghĩ xuân tàn hoa rụng thải
Tiền đình đêm trước điễm cành mai

Theo ngu ý của muội mùa xuân đến thì trăm hoa đua nở, Hết mùa xuân thì hoa mai hoa đào lần héo rụng, cũng như vậy cuộc đời cứ trôi, người thì theo năm tháng mà lão, bệnh, chết, nhưng mà đừng tưởng rằng xuân tàn thì hoa rụng hết, hãy xem kìa, đêm qua ở tiền đình còn có một cành mai, ngụ ý chưa chắc thời gian đi rồi sẽ mất hết như định luật thành, trụ, dị, diệt, mà hạ thủ công phu tu tập thì sẽ thấy hoa chân tâm nở vượt cả thời gian và không gian! Thời gian cứ trôi, đời người cứ theo định luật thành, trụ, hoại, không mà duyên hợp huyễn có, còn tâm đạo thì mãi tồn tại với hư không và năm tháng
Một lần nữa muội cám ơn huynh đã giải thích cho muội hiểu thêm sự thâm sâu truyệt tác của bài Kệ ! và muội cũng rất đồng ý với huynh là học đạo bằng tâm thành, chứ không bằng chử nghĩa đối đãi, nên muội cũng rất thích câu chuyện của Ngài Triệu Châu hỏi Ngài Nam Tuyền :

Hỏi:Thế nào là đạo?
Đáp:Tâm bình thường là đạo.

Khi Tổ Huệ năng được truyền y bát là vì Tổ chỉ có ĐẠO đi vào tâm, còn 498 vị kia và Ngài Thần Tú thì đã có Phật Pháp vào tâm , nên Tổ Huệ Năng mới được truyền Y Bát, và đó là đời cuối cùng Chư Tổ truyền y bát ! về sau thì hình như chỉ truyền tâm ấn không còn truyền Y Bát nữa . Đây là sơ lược sáu vị tổ của Thiền tông Trung hoa do Đại sư Hám Sơn Tán Thán:

TÔN GIẢ BỒ ÐỀ ÐẠT MA
(Bodhidharma)

Sư tâm thậm cấp
Kỳ lai thái Tảo
Nhất ngữ bất đầu
Thử tâm bất liễu
Lãnh tọa Thiếu Lâm
Hạnh đắc Thần Quang
nhất tí đọa lạc
Kỳ đạo đaị xương

Tâm sư thật gấp
Đến đây quá sớm
Một lời chẳng hợp
Tâm này chẳng xong (rõ)
Ngồi lạnh Thiếu Lâm
May được Thần Quang
Một tay rơi rụng
Ðạo này thịnh hưng.

ÐẠI SƯ HUỆ KHẢ

Hàng hải đặc lai
Ða thiểu khổ tâm
Chấn Ðán quốc lý
Kỳ đắc nhất nhân
Mích bất khả đắc
Như thủy nhậm khí
Dĩ thử truyền gia
Thị vi đệ nhị.

Vượt thuyền riêng đến
Biết bao khổ tâm
Trong nước Trung Hoa
Chỉ được một người
Tìm không thể được
Như nước tùy bình
Lấy đây trao truyền
Đấy là đện nhị

ÐẠI SƯ TĂNG XÁN

Thông thân thị bịnh
Bất tri lai xứ
Hốt phùng y vương
Mãnh tỉnh kỳ cố
Tâm không cốt cương
Thả tiện hành cước
Ngộ hữu lực giả
Nhất đảm phó thác.

Suốt thân là bệnh
Chẳng biết từ đâu
Chợt gặp y vương
Tỉnh hẳn duyên cớ
tâm rổng xương cứng
Lại đi hành cước
Gặp người có sức
Một gánh giao cho

ÐẠI SƯ ÐẠO TÍN

Thiếu niên xuất gia
Lợi căn tiệp tật
Lục thập dư niên
Hiếp bất chí tịch
Học lữ vân trăn
Hà đãi tiểu nhi
Dĩ hữu túc ước
Quán giả bất tri.

Tuổi trẻ xuất gia
Lợi căn nhâm lẹ
Hơn sáu mươi năm
hông không dính chiếu
Người học tu tập
Đâu tiếp trẻ con
Vì có hẹn xưa
Người xem chẳng biết

ÐẠI SƯ HOẰNG NHẪN

Lai lịch bất minh
Xuất thân kháp hảo
Nhất kiện vi hoàn
Lưỡng gia đô liễu
Phá đầu sơn trung
Hoàng Mai lộ thượng
Vãng lai tự do
Cụ đại nhân tướng.

Lai lịch chẳng tỏ
Xuất thân đúng lúc
Một việc chưa xong
Hai nhà đều rõ
Trong núi phá Đầu
Trên đường Hoàng Mai
Đủ tướng đại nhân
Qua lại tự do

ÐẠI SƯ HUỆ NĂNG

Tiều phủ tài phao
Dĩ thạch trụy yêu
Linh căn cửu thực
Tùng thử trừu điều
Nguyên xuất Tào Khê
Hoành lưu đại địa
Trực chí vu kim
Vô xứ bất thị.

Búa Tiều vừa ném
Lấy đá cột eo
Linh căn trồng lâu
Từ đây nảy nhánh
Nguồn từ Tào Khê
Trôi khắp đại địa
Thẳng đến bây giờ
Không đâu chẳng phải

Khi được huynh giải thích thì tư nhiên muội sáng tỏ thêm và mới hiểu thêm chí hướng của bậc Trí giác là như lời ngài Tuyên Hóa đã dạy :

"Dù lạnh rét, không phan duyên"
"Dù đói chết không xin xỏ"
"Dù nghèo kiệt không cầu cạnh"
"Tùy thuận ngoại duyên, song không thay đổi chí hạnh"
"Không đổi chí hướng, nhưng vẫn tùy thuận ngoại duyên"
"Thế mới giữ vững ba đại tông chỉ:"
"Xả mình vì Phật sự,"
"Cứu người là bổn phận,"
"Sửa mình làm việc Tăng."
"Hễ gặp việc gì thấy lý việc ấy."
"Hiểu Đạo Lý gì, thực hiện lý ấỵ"
"Vậy mới truyền thừa mạch huyết Tổ Sự"
Cố Đại Lão Hòa Thượng Thượng Tuyên Hạ Hóa .


Một lần nữa thật cám ơn huynh, kính chúc huynh và gia đình an lạc như ý !

Hoa Hè Lữa tiểu muội

*

[/quote]


Kính anh Nhàn và Hoa hạ,
Mãi đến hôm nay mới mở được Cáo Tật Thị Chúng, về ý và lời thì mình không còn có gì để nói vì đã quá xúc tích đầy đủ, nhưng mình cũng đưa ra những ý kiến ý mối cho vui, mong rằngkhông ai nghĩ mình vạch lá tìm sâu nha.
Anh Nhàn dùng thành ngữ" tòng sư sát sư, tòng Phật sát Phật" tôi nghĩ chữ "phùng" thì đúng hơn, phùng có nghĩa là gặp như "Tửu phùng tri kỹ thiên bôi thiểu" ( cái này hỏi mấy ông nhậu thì rõ).
Còn câu "Xuân tàm đáo tủ ti phương tận.
Bạch lạp thành hôi lệ thủy can".
nguyê văn hình như là "Lạp chúc thành hôi lệ thuỷ can"
" chúc" đây có nghĩa là đuốc như "hoa chúc" (đuốc hoa).
"Đừng tưỡng xuân tàn hoa rụng hết.
Đêm qua sân trước một cành mai."
Theo nhiều người giải thích cuối mùa xuân hoa đều rụng hết, nhưng đêm qua còn một cành mai mới nở, tôi không nghĩ là còn tới một cành hoa mới nở, vì một cành thì có nhiều bông không làm cho người ta ngạc nhiên bằng chỉ còn võn vẹn có một cái bông hay một cánh hoa, tất cả hoa rụng hết đêm qua chỉ còn mỗi một cái còn laị, có thể cánh hoa nầy không phải mới nở đêm qua ( mà trước đó) mà vì lý do gì đó nó còn sót lại trên cành mới là một cánh hoa đặc biệt khiến người ta chú ý.
Cuối mùa thì tất cả hoa đều đã mãn khai để sẳn sàng rơi xuống có lý đâu còn một cái nụ để đêm qua mới nở.
Vài ý kiến tào lao góp vui với qúy bạn. Chúc tất cả thân tâm thường lạc. Thân kính. Nhược Trần.

Gửi bởi: huongmy Aug 14 2006, 02:37 PM

Thưa Nhược Trần,

Xuân tàn thì hoa rụng, đó là lẽ tuần hoàn của trời đất, vậy mà Thiền Sư Mãn giác lại bảo :

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Cũng như mấy người vượt biên , khi gặp sóng to gió lớn tàu sắp chìm, thì nghĩ chắc là phải nạp thân mạng cho Hà Bá, nhưng trong phút tuyệt vọng này, mọi người đều đồng thanh niệm : "Nam Mô Quán Thế âm Bồ Tát" và ...?!

Cám ơn Nhược Trần đã góp ý, nhưng có những điều vượt khỏi tầm hiểu biết thường tình của chúng ta ! .Theo ngu ý của HM, có cãm đương nhiên có ứng ! còn giải thích tại sao lại có những hiện tượng khác thường, thì HM xin chịu phép, không thể nào giải thích được !

Chúc Nhược Trần thân tâm thường an lạc và nhớ gọi phone cho chị Hoa Hạ, khi rảnh rổi nhé ! biggrin.gif
Hương Mỹ





Gửi bởi: hoaha Apr 1 2010, 08:20 PM

''Hãy Cố Yêu Người Mà Sống

Lâu Dần Đời Mình Cũng Qua ...''




Phim 2012 qua cái nhìn của người học Phật

Bộ phim 2012, hay có thể hiểu là Đại họa năm 2012, do Roland Emmerich đạo diễn, Công ty Sản xuất và Phát hành phim Columbia Pictures phát hành và bắt đầu trình chiếu ở nhiều nước trên thế giới từ ngày 11-11-2009. Đây là một bộ phim rất được nhiều người quan tâm với nhiều lời bình luận khác nhau, có cả tích cực lẫn tiêu cực. Mặc dù mới phát hành gần đây, nhưng bộ phim đã đem lại doanh thu rất lớn cho nhà sản xuất.

Phim diễn tả sự hủy diệt của trái đất do những thảm họa động đất và sóng thần gây nên. Bộ phim này lấy nguồn cảm hứng từ tác phẩm Những dấu vân tay của Thượng đế (Fingerprints of the Gods) của tác giả Graham Hancock. Và nó còn căn cứ vào lịch của người Mayan, theo lời dự đoán trong lịch này thì thế giới sẽ bị hủy diệt hoàn toàn vào ngày 21-12-2012.

Theo như những tình tiết trong phim 2012,nguyên nhân dẫn đến ngày tận thế của trái đất là sự tập hợp thành hàng của những thiên thể trong hệ mặt trời, điều này tạo nên những tia bức xạ ngắn trong ánh nắng của mặt trời và nó khiến cho trung tâm điểm của trái đất bị hỗn loạn, dẫn đến hàng loạt các trận động đất kinh hoàng diễn ra ở khắp nơi. Kéo theo đó là nhiệt độ của trái đất tăng lên đột ngột khiến băng ở hai cực tan nhanh, rồi sóng thần, lũ lụt diễn ra trên khắp địa cầu. Trước sức tàn phá kinh hoàng của những thiên tai, toàn bộ thế giới bị hủy diệt, những công trình đồ sộ, những tòa nhà kiên cố, ngay cả tượng Nữ thần Tự do, một biểu tượng của nước Mỹ cũng bị sụp đổ, và thậm chí ngay cả những đỉnh núi cao của dãy núi Hymalaya, mái nhà của thế giới, cũng bị nhận chìm trong dòng nước cuồn cuộn của những cơn sóng thần kinh hoàng. Qua đó, chúng ta có thể cảm nhận một cách sâu sắc về sự vô thường của cuộc sống. Tất cả mọi sự vật hiện tượng trong thế giới này có sinh ra thì sẽ có lúc bị mất đi, bị tàn hoại, dù cho những thứ đó có kiên cố đến mức nào, dù người ta có yêu quý và tự hào về nó đến đâu đi nữa cũng không thể nào nắm giữ, bảo tồn mãi mãi. Ngay cả mạng sống của mình còn chưa giữ được thì nói gì đến việc bảo vệ những vật bên ngoài thân. Vô thường là định luật chung của kiếp sống. Chính vô thường mà mọi sự vật hiện tượng hình thành và phát triển để rồi đi đến giai đoạn tàn hoại. Chúng ta không thể nào thay đổi được định luật này. Điều duy nhất chúng ta có thể làm là tìm cách kéo dài khoảng thời gian tồn tại và phát triển của các sự vật, hiện tượng.

Những tác nhân chính dẫn đến sự tàn hoại của môi trường tự nhiên và suy nhược sức khỏe ở con người là do sự khai thác, phá hủy thế giới tự nhiên của con người; do khí thải công nghiệp, chất thải y học của loài người vượt quá sức chịu đựng của trái đất; do sự giết hại các loài động vật dẫn đến sự mất cân bằng trong hệ sinh thái, khiến những trận thiên tai kinh hoàng xảy ra. Ở đây, bộ phim 2012 đã đóng vai trò như là một tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người trong vấn đề bảo vệ môi sinh, môi trường, bảo vệ thiên nhiên. Chúng ta cần phải dừng lại việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách vô tội vạ, chấm dứt nạn phá rừng, hạn chế việc giết hại sinh vật, xử lý các chất thải, khí thải một cách hợp lý để giữ cho hệ sinh thái ở mức cân bằng. Nếu không thì chính chúng ta rút ngắn vòng đời của chúng ta, chính chúng ta bức tử trái đất, khai tử thế giới loài người.

Khi được các nhà khoa học dự báo ngày đại họa sẽ xảy đến cho trái đất, những nhà cầm quyền đã bắt đầu một cuộc chay đua với thời gian. Họ đã lập kế hoạch kiến tạo những con tàu đặc biệt để làm phương tiện di tản cho nhiều người thoát qua nạn đại hồng thủy, họ gọi những chiếc tàu đặc biệt này là Ark. Từ “Ark” này được lấy từ sự tích ông Noah đã dùng chiếc thuyền Ark để gia đình ông và các loài vật khác đi tránh nạn đại hồng thủy trong kinh Cựu ước. Theo như trong phim, người ta tạo ra những con tàu đặc biệt này để những nhà lãnh đạo, những nhà khoa học hàng đầu và những người đặc biệt có thể lên những con tàu đặc biệt ấy để di tản. Vì sự kiện này mà nhiều nhà khoa học đã bị ám sát trước khi đại họa xảy ra vì họ tìm cách thông báo cho công chúng biết về đại họa và tiết lộ bí mật về kế hoạch kiến tạo và địa điểm của những con tàu. Ở đây, chúng ta nhận thấy một điều hết sức quan trọng, đó là trong nghịch cảnh, trong những lúc nguy kịch nhất mới thấy rõ lòng người. Những lúc nguy kịch ấy, những điều xấu xa nhất cũng như những điều tốt đẹp, cao cả nhất của con người mới thể hiện rõ, đó là thời điểm trọng đại để người ta thể hiện lòng vị tha quảng đại hay là sự ích kỷ to tướng của mình.

Chính trong thời điểm quyết định sự sống còn của bản thân, nhiều người đã bỏ mặc sự sống chết của người khác, giẫm lên trên sinh mạng của người khác để giành lấy cơ may sống sót cho riêng mình. Trong khi đó cũng có không ít người đã cứu giúp người khác với tất cả khả năng của mình cho đến giây phút cuối cùng, thậm chí họ đã không màng đến sự sống chết của bản thân. Điển hình cho lòng vị tha, hy sinh quảng đại này là Tổng thống Wilson, người đã quyết định ở Thủ đô Washington D.C. để thông báo cho mọi người biết những thiên tai kinh hoàng sắp xảy ra và cũng là để chia sẻ nỗi đau thương, mất mát với mọi người trong khi người con gái và những quan chức thân cận của ông nài nỉ ông lên đường đi đến những con tàu đặc biệt để di tản, và cuối cùng ông đã bị chết trong cơn sóng thần ghê rợn. Bên cạnh đó còn có Jackson Curtis, người đã bất chấp mọi nguy hiểm để đưa người vợ cũ và hai con của mình đi di tản. Và cũng chính Jackson đã bất chấp cả tính mạng, lặn xuống khoang tàu, gỡ những vật vướng kẹt ở các bánh răng để có thể đóng kín cửa con tàu lại, cứu mạng cho tất cả mọi người ở trên tàu. Vì nếu Jackson không làm điều đó thì con tàu không chạy được, nó sẽ bị chìm, tất cả mọi người và cả Jackson đều phải chết.

Chúng ta hãy nghĩ xem, vì mục đích gì mà chúng ta muốn tiếp tục duy trì sự sống của nhân loại? Và nếu chúng ta đánh mất nhân phẩm, đánh mất thiện tâm của mình, thờ ơ trước sự đau khổ, chết chóc của người khác thì chúng ta sống có ý nghĩa gì nữa không? Để làm một con người văn minh, để xứng đáng là một con người thì chúng ta phải có lòng nhân đạo, và đối xử với nhau một cách văn minh, đầy tình người. Điều này đã được Adrian Helmsley, một nhà địa chất học và là người quan trọng trong nội các của chính phủ Mỹ, nhấn mạnh rằng: “Ngay khi chúng ta không còn tranh đấu cho lợi ích của người khác, thì lúc đó chúng ta đã đánh mất đi nhân phẩm của mình”. Và ngay tại thời điểm quan trọng nhất, quyết định đến sự sống còn của số đông, đó là lúc đưa ra quyết định có nên mở cửa những con tàu Ark để cho rất nhiều người đang đứng trên bờ có thể lên tàu hay không, thì hầu hết mọi người nắm quyền lãnh đạo ở trên tàu đã tán đồng quyết định mở cửa tàu. Điều này muốn nói lên rằng, điều quý nhất ở con người đó là lòng nhân đạo, là tình người, chính điều này đã nâng con người lên một tầm cao mới, khác biệt với các loài động vật, nếu con người còn tồn tại mà mất hết nhân tính thì cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Sự xuất hiện hình bóng những vị Tăng sĩ người Tây Tạng ở trong phim cũng đã làm cho bộ phim thêm phần sâu sắc và giá trị. Trong đó, vị Rinpoche uyên bác đã nhắc lại lời dạy cốt tủy của bản kinh Kalamas với người đệ tử tên Nima khi vị đệ tử này nói lên sự hoài nghi về sự im lặng ghê rợm của núi rừng vào thời điểm đó: “Đừng tin vào bất cứ một điều gì, đơn giản chỉ vì con đã nghe người ta nói”. Và vị Rinpoche này đã lặp lại sự tích cổ trong nhà thiền, ngài đã rót cho Nima một ly trà cho đến khi nó tràn ra ngoài, và nói với Rima rằng: “Giống như ly trà này, tâm con đã đầy những định kiến, và phán xét. Muốn thấy được ánh sáng trí tuệ, thì trước tiên con phải làm cho ly nước của con trống rỗng đã”. Vâng, chúng ta không nên vội tin những lời đồn đại, bởi vì có nhiều thông tin bịa đặt, không xác thực, và bị phóng đại rất nhiều. Chúng ta nên học cách kiểm chứng các nguồn thông tin. Điều này sẽ giúp ta tránh được sự lo sợ, hoang mang không đáng có. Và chúng ta nên gạt bỏ những ý kiến chủ quan, những định kiến của mình, cởi mở lòng mình để học hỏi và tiếp thu ý kiến của người khác. Một điều đáng chú ý nữa là câu trả lời của Rima khi người gác cổng bến cảng yêu cầu anh ta không được dẫn theo những người khách lạ: “Tôi là đệ tử của một vị Rinpoche vĩ đại, tôi không thể làm điều đó. Tất cả chúng ta đều là con dân của bà mẹ trái đất”. Quả đúng như vậy, tất cả chúng ta là con dân của trái đất này, chúng ta phải biết bảo vệ và đùm bọc lẫn nhau, phải đối xử thân thiện với nhau. Chúng ta là anh em của nhau. Và biết đâu trong vòng luân hồi sanh tử, chúng ta đã từng là cha mẹ, anh em, bà con ruột thịt của nhau. Có ai nhẫn tâm bỏ mặc sự sống chết của người thân, của cha mẹ mình?

Hình ảnh một vị lão Tăng người Tây Tạng, ngài Rinpoche, sống trong một ngôi chùa hẻo lánh trên đỉnh Hymalaya ngồi tĩnh tại uống trà, trong khi mọi người đang chạy loạn, nước đang dâng lên cuồn cuộn, và khi nước ngập đến đỉnh Hymalaya, chuẩn bị nhận chìm ngôi chùa của mình, vị lão Tăng này đã đi đến bên Đại hồng chung, đánh lên những tiếng chuông hùng hồn và chốc lát sau thì tất cả đều chìm trong biển nước. Sức mạnh tâm linh, hay sự định tĩnh của những người tu hành đã thể hiện một cách ấn tượng. Dù phải đối diện với sự thật phũ phàng thế nào đi nữa, tâm họ vẫn luôn bình tĩnh, minh mẫn. Dù cái chết cận kề, họ vẫn không âu lo, vì họ hiểu sâu sắc định luật vô thường của kiếp sống. Và với họ, sự chết không có gì đáng sợ, bởi họ không luyến tiếc bất cứ thứ gì ở đời nữa. Chính vì thế mà trong những giây cuối cùng của sự sống, ngài Rinpoche đã đủ định tĩnh đánh lên những tiếng chuông Đại hùng, để cảnh tỉnh nhân sinh và đánh thức nhân tâm.

Và trong đoạn cuối của bộ phim, tác giả một lần nữa đề cao tính nhân văn, tình thương yêu của con người, mà cụ thể ở đây là tình cảm gia đình, tình thương yêu của cha mẹ và con cái, khi người con gái của Jackson hỏi lúc nào thì họ về nhà, Jackson đã đáp lại rằng: “Chúng ta sẽ tìm một nơi nào đó để sống, ở đâu mà các thành viên trong gia đình được sống bên nhau, thương yêu nhau thì đấy chính là quê nhà”. Tình thương yêu chính là mái ấm che chở và nuôi lớn con người. Thiếu tình thương yêu thì con người bị cô đơn, lạc lõng.

Một điểm không kém phần quan trọng trong phim 2012 là câu kết của nó trong video clip quảng cáo cho bộ phim: “Sự kết thúc là một sự khởi đầu” (The end is just the beginning). Quả vậy, tất cả mọi sự vật hiện tượng đều vận động và biến đổi, chúng không hoàn toàn triệt tiêu mà chỉ là sự chuyển biến. Sự kết thúc của cái này sẽ tạo nên sự khởi đầu cho một cái kia. Đây cũng chính là ý nghĩa về sự tái sinh mà đạo Phật thường nhắc đến. Tất cả mọi thứ, dù hữu hình hay vô hình, có tâm thức hay không có tâm thức đều luôn vận động và biến đổi. Điều này không có gì huyền bí, siêu hình cả. Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng cũng cho thấy: “Năng lượng không mất đi và cũng không tự sinh ra, nó chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác”. Trong phim 2012, khi những người di tản, thoát được nạn đại hồng hủy, họ đã bắt đầu một cuộc sống mới, và lịch sử lại bắt đầu tính từ năm thứ nhất.

Về ngày tận thế, trong Phật giáo không có những lời dự đoán nào, ngoài việc Đức Phật luôn nhấn mạnh rằng mọi vật đều vô thường, trái đất của chúng ta cũng không ngoại lệ; tuy vậy, chúng ta không nghĩ thế giới sẽ bị hủy diệt vào đúng ngày 21-12 -2012 như trong phim diễn tả.

Sự sống rất mong manh. Chúng ta có thể chết bất cứ lúc nào chứ không nhất thiết là đến năm 2012. Một khi chúng ta ý thức rõ sự vô thường của cuộc sống thì chúng ta sẽ biết quý trọng từng phút giây của sự sống và sử dụng chúng hữu hiệu hơn. Có lẽ đây cũng là thông điệp chính mà phim 2012 muốn gởi đến tất cả khán giả

Quảng Trí

Gửi bởi: hoaha Apr 11 2010, 03:02 AM

Chẳng có ai tin

Thị giả của Phật Tổ Thích Ca là Ngài A-Nan được lệnh xuống trần xem thời mạt pháp như thế nào . Chẳng bao lâu, Ngài đã trở về trình bạch:

- Bạch Đức Thế Tôn! Hình như sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, ở dưới trần còn có nhiều Phật khác xuất hiện.

- A-nan, sao con lại nói vậy ?

- Bạch Thế Tôn! Thứ nhất là có nhiều hình tượng Phật diện mạo khác nhau, dĩ nhiên là khác xa Thế Tôn, được thờ cúng khắp nơi . Hai là có nhiều kinh điển, pháp môn đều nhận là giáo lý của Thế Tôn nhưng khác xa giáo pháp mà con đã được nghe và thuộc nằm lòng do chính Thế Tôn thuyết giảng. Ba là có nhiều tông phái khác nhau tự xưng là truyền thừa chính thống từ Thế Tôn, nhưng hoàn toàn mâu thuẫn với nhau .... Chính vì vậy, con chắc rằng có nhiều Phật đã xuống trần sau khi Thế Tôn nhập diệt.

- A-nan, chớ có nói vậy . Sau Như Lai, chỉ có Phật Di-Lặc mà thôi .Nhưng Bồ Tát Di-Lặc chưa đến thời giáng thế . Vậy nếu có ai xưng Phật, chắc chắn là Phật giả . Con mau xuống trần đính chính kẻo chúng sinh lầm lạc.

- Bạch Thế Tôn! Con không thể đi được, vì từ lâu họ đã gán cho con là tiểu thừa rồi, chẳng còn ai tin con nữa!

- Thôi A-Nan, thời mạt pháp nghiệp dĩ như vậy thì cứ là như vậy .

LỜI GÓP Ý:

Giáo Pháp của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni được chính Ngài tiên tri là trải qua ba thời kỳ trước khi hoại diệt. Thời kỳ đầu là thời kỳ chánh pháp (Khoảng 500 năm), sau đó đến thời kỳ Tượng Pháp(khoảng 1,000 năm), và cuối cùng là thời Mạt pháp (cho đến khi hoại diệt).

Chánh pháp ví như thân gốc, Tưuợng pháp ví như những cành lớn và Mạt pháp ví như nhiều nhánh ngọn nhỏ của cây . Những cành lớn trông giống như thân gốc, nhưng không phải là thân gốc nên gọi là Tượng (tương tự). Nhánh ngọn chia phân sai biệt từ những cành lớn nên gọi là Mạt (ngọn).

Nhánh ngọn càng ngày càng chi ly làm cho cành lá xum xuê rồi đâm ra quên gốc, tưởng mình là quan trọng đệ nhất, nên không những khing chê nhánh ngọn khác mà còn khinh chê cả thân gốc vốn hằng ngày âm thâm cung cấp nhựa sống cho mình.

Những nghệ nhân chơi cây kiểng thường cắt bớt những nhánh ngọn dư thừa để bảo toàn gốc rễ . Nhà vườn cũng thường tỉa bớt những cành nho cành táo để nhựa tập trung đơm hoa kết trái .

Nhánh lá làm cho cây xum xuê, nhưng đồng thời cũng làm cho cây bị tổn hại . Vì vậy nếu nhánh lá biết rõ thân phận và sứ mạng của mình để bớt tự kiêu ngã mạn đi một tí thì tốt đẹp biết chừng nào .

Sư Viên Minh

Gửi bởi: hoaha Apr 15 2010, 09:49 PM

Một vị sư - Một đóa sen


Mùa hè năm ấy có lẽ là một mùa hè nóng bức oi ả nhất của thập niên tám mươi tại miền Bắc. Trại giam Ba Sao, Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh như nằm yên dưới sức nóng như thiêu đốt, ngay cả về đêm cái nóng như vẫn còn âm ỉ, mọi thứ như tỏa ra hơi nóng – những bức tường, những sàn lót gạch hung hung đỏ, cái sân tráng xi măng trước mặt, ngay cả cái ván lót trên sàn nằm cũng toát ra hơi nóng. Những người tù nhân chính trị chế độ cũ như trong một lò ngục tối trên trần gian, ban ngày thì lao động khổ sai đổ mồ hôi không phải đổi lấy bát cơm mà đổi lấy ít thức ăn độn như khoai hay sắn hay bo bo mà vẫn không đủ no, ban đêm thì cố giỗ giấc ngủ trong cái nóng như nung như đốt ấy trong cái cả nh nằm xếp hai từng như cá đóng hộp trong buồng giam. Mồ hôi lại đổ ra cho đến khi mệt lả người đi thì giấc ngủ chập chờn mới đến.

Cái nóng kinh người đã kéo dài cả tháng nay và đồng ruộng đã nứt nẻ, các em bé chăn trâu mà Trung và các bạn gặp trên đường đi lao động cũng môi khô và chui vào các bụi cây trú nắng. Các giếng nước cũng từ từ khô cạn đưa đến nạn thiếu nước trầm trọng cho cả dân chúng những làng bên ngoài lẫn những người tù khốn khổ trong trại.

Buổi trưa hôm đó cũng như mọi ngày sau khi lao động về, ăn xong phần ăn trưa ít ỏi, các người tù cố nằm giỗ giấc ngủ ngắn để lấy sức lao động buổi chiều thì thấy một vị sư già đang ngồi ngoài sân nắng trong thế kiết già cả nửa tiếng đồng hồ và mặt ngước nhìn thẳng lên trời. Những khi hạn hán thì thầy vẫn cầu nguyện như thế và sau đó chiều tối hay trước nửa đêm thể nào mưa giông cũng kéo đến. Đêm nay cũng thế, Trung cố giỗ giấc ngủ để mà mai còn sức trả cái nợ lao động nhưng không làm sao nhắm mắt được, mồ hôi trên người cứ nhỏ từng giọt như làm cho sức khỏe của anh cạn dần đi theo đêm. Anh nhớ tới thằng bạn thân nằm bên cạnh nói với anh hồi chiều rằng chỉ ước ao ông Trời cho một trận mưa chứ đã tù cả chục năm rồi cũng chẳng mơ ước xa xôi gì ngày trở về nữa.

Thế rồi, như một phép lạ những làn gió mát từ đâu từ từ thổi đến, len lỏi vào những khung cửa sổ, luồng dưới những cánh cửa buồng giam và từ xa xa vài lằn chớp nhoáng lên bên trời. Chẳng bao lâu sau thì những giọt mưa, ôi những giọt mưa cam lồ của Trời ban xuống như thêm sức mạnh cho những người tù biệt xứ lưu đày. Các buồng giam không ai bảo ai đều thức dậy và tung mùng ra để được hít thở những giây phút mát rượi của làn gió lùa vào trại giam.

Vô tình Trung nhìn xuống nơi vị sư già giam cùng buồng với anh, thầy vẫn như còn đang ngồi thiền trong mùng, mặt quay vào tường trong thế kiết già. Trung chợt hiểu và các bạn anh cũng hiểu rằng chính nhờ thầy cầu nguyện mà đã có trận mưa đêm nay. Vị sư già đó chính là Trung Tá Quyền Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH – Thượng Tọa Thích Quang Long, một người tù xuất chúng đã làm cho kẻ thù phải cúi đầu kính nể. Giang sơn của thầy cũng là một tấm chiếu, hai bộ quần áo tù, và một cái chăn đỏ Trung Quốc như mọi người và nằm một dãy với các Đại Đức Tuyên Úy khác.

Anh nhớ đến thầy Khuê, một vị Tuyên Úy Phật Giáo và Tam Đẳng Huyền Đai Nhu Đạo võ đường Quang Trung, một vị Đại Đức mà anh rất mến thương và kính trọng, đã từng nói với anh rằng nếu nói về đạo Phật, về sự tu hành thì hãy lấy thầy Long mà làm gương; đừng vì một vài vị Tuyên Úy đã không nghiêm giữ được giới răn mà hiểu lầm về đạo Phật mà mất đi niềm tin.

Anh nhớ lại câu chuyện lúc mới bước chân vào trại giam Long Thành sau khi Sài Gòn sụp đổ và hầu như mọi người đều không biết bấu víu vào đâu, niềm tin vào các tôn giáo cũng bị lung lay thì một sự việc đã xảy ra làm mọi người đều kính trọng thầy, nhất là khi biết hai tòa đại sứ bạn đã đến đón thầy đi di tản trước đó nhưng thầy đã khẳng khái chối từ và thanh thản bước chân vào trại giam.

Trong thời gian mới bị giam giữ, một hôm thầy được gọi ra làm việc để gặp hai vị sư quốc doanh là Thượng Tọa Thích Minh Nguyệt và Thích Thiện Siêu. Hai vị này ra sức thuyết phục và chiêu dụ thầy để thầy ủng hộ phong trào “Phật giáo yêu nước”, và nói sẽ bảo lãnh cho thầy ra khỏi tù ngay để nhờ thầy góp công góp sức xây dựng phong trào Phật Giáo Yêu Nước này. Hai vị sư này chính là người mà Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã bắt giam trước năm 1975 vì hoạt động cho (Không dùng từ này). Thích Minh Nguyệt đã bị đày ra Côn Đảo, còn Thích Thiện Siêu thì thường được gọi là ông Từ Đàm vì tu ở chùa này ngoài Huế. Sau đó chính Thượng Tọa Thích Thanh Long là người đã đ� �ng ra bảo lãnh cho họ ra khỏi tù để ăn năn hối cải mà trở về lại con đường tu hành vì họ đã bị lộ hình tích. Không ngờ ông trời trớ trêu để có ngày họ lại đến trại Long Thành và đối đầu với thầy trong hoàn cảnh đặc biệt này của đất nước.

Thầy nhìn hai vị sư quốc doanh kia và từ tốn chậm rãi nhưng thật cương quyết thầy nói:
“Các ông đã dựng nên cái phong trào “Phật Giáo yêu nước” ấy thì các ông cứ tiếp tục công việc mà các ông đã làm, còn tôi là một Tuyên Úy trong quân đội và tôi sẽ theo chân các Phật tử trong các trại giam, họ đi đến đâu thì tôi cũng sẽ đi đến đấy với họ cho tới cùng. Thôi các ông về đi”.

Và sau đó thầy chấp nhận việc chuyển trại ra Bắc mở đầu cho một quãng đời biệt xứ lưu đày.

Những ai có may mắn gặp thầy trong trại giam thầy đều kính trọng vị sư già này, người mà lúc nào cũng như mỉm cười, hòa nhã, giản dị, khiêm tốn và giúp đỡ tất cả mọi tù nhân mỗi khi thầy có phương tiện.

Năm 1976, thầy cùng một số Tuyên Úy chuyển trại từ Nam ra Bắc và bị giam giữ tại trại 1 Sơn La hay còn gọi là trại Mường Thái là nơi mà trước kia Pháp đã từng giam giữ những tù nhân bị án lưu đày. Năm sau thì thầy có tên trong số những tù nhân di chuyển về trại Yên Hạ, trại giam này nằm dưới thung lũng và bao vây chung quanh bởi những dãy núi đá vôi, thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Trại Yên Hạ là nơi chuyên giam giữ những tử tội hình sự cướp của giết người mà đã được nhà nước “khoan hồng” tha cho tội chết.

Chỉ hơn một năm sau thì các tù nhân này dần dần kiệt sức vì lao động khổ sai, thiếu dinh dưỡng, thiếu ăn nhất là thiếu chất mỡ và đường, và vì khí độc từ dãy núi đá vôi phả vào từ chung quanh. Bởi thế chỉ sau một thời gian ngắn chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, ai nấy đều gầy như bộ xương còn biết đi. Khi đi lao động hay đi trở về trại, người ta chỉ thấy những bộ quần áo tù phấp phới bay mà chẳng thấy da thịt đâu. Thế rồi sau bốn năm trời giam cầm và lưu đày, một số những người tù lần đầu tiên được nhận một gói nhỏ tiếp tế cực kỳ quí giá từ gia đình trong Nam gửi ra, một số khác thì vẫn chưa nối lại được sợi dây với gia đình trong Nam. Trong gói nhỏ mà các Phật tử gởi cho thầy Long có 15 cục đường móng trâu, lúc đó ai mà c ó được 5 cục đường như thế thì đã là thần tiên rồi, nhưng thầy từ từ đem ra phân phát hết 15 cục đường quí giá đó cho những người cùng buồng. Ưu tiên những tù nhân nào mà đã kiệt lực thì được một cục, những người đau ốm khác thì mỗi người được nửa cục mà thôi, còn riêng thầy thì không có một miếng đường nào hết. Những người tù này khi nhận được cục đường từ tay thầy phân phát đã không cầm được nước mắt trước tấm lòng vị tha, quảng đại vô biên của một vị sư mà tâm đã định và huệ đã ngời sáng.

Thầy cũng không thoát được những vụ hỏi cung, một hình thức tra tấn tinh thần những người tù khốn khó này trong trại giam. Một tên cán bộ từ Hà Nội vào với mái tóc hoa râm có vẻ là một viên chức cao cấp thuộc Bộ Nội Vụ đã hỏi cung thầy trong ba ngày liên tiếp. Hắn vứt cho thầy tờ giấy để tối về khai báo những tội lỗi đã chống đảng, nhà nước và nhân dân trước kia khi hoạt động ở Sài Gòn cho Nha Tuyên Úy Phật Giáo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Sáng hôm sau, khi kêu ra làm việc tiếp tục, thầy đã nộp bản khai báo cho hắn, vừa xem xong thì hắn đùng đùng nổi giận ném tờ khai xuống bàn và quát tháo:

“Anh khai báo thế này hả? Tại sao anh lại chép Chú Đại Bi vào đây? anh muốn tù rục xương ra không?”.

Vẫn thái độ bình tĩnh và từ tốn của một vị cao tăng thầy chậm rãi trả lời:

“Thì đây chính là những gì mà tôi đã làm và đã tụng niệm khi xưa, có thể thôi!”.

Hắn với vẻ mặt hầm hầm liệng cho thầy một tờ giấy khác để khai báo lại một cách thành khẩn để được sớm khoan hồng. Sáng ngày hôm sau, thầy nộp cho hắn một tờ thứ hai và trên tờ đó thầy chép lại thật nắn nót bài Kinh Bát Nhã. Đến đây thì hắn nổi điên lên và mạt sát thầy thậm tệ và đe dọa rằng thầy sẽ tù mọt gông và đừng mong sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Thầy ung dung trả lời rằng:

“Các ông cứ việc giam giữ tôi bao lâu cũng được, tôi chỉ xin các ông hãy thả hết những người tù chính trị chế độ cũ mà các ông đang giam giữ mà thôi”.

Từ đó đến sau, chúng ít khi kêu thầy ra hỏi cung nữa cho đến mãi năm 87, trước khi có một đợt thả lớn tại trại Ba Sao Nam Hà thì trong các vị Tuyên Úy bị hỏi cung có tên thầy. Nhưng đặc biệt lần này chúng gọi thầy bằng thầy chứ không gọi là anh như trước nữa, tuy nhiên chúng vẫn dụ dỗ thầy nhận tội để được khoan hồng. Thầy trả lời rằng các ông cứ thả hết các ông đại đức tuyên úy ra đi vì họ chẳng có tội lỗi gì hết tất cả đều do tôi và họ đều làm theo chỉ thị của tôi hết, muốn gì thì cứ giữ tôi ở lại đến bao lâu cũng được. Chúng đành chào thua và chỉ vài tháng sau thì thầy có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại cùng với tất cả các đại đức và những vị mục sư linh mục khác trong các Nha Tuyên Úy quân đội.

Thầy ở tù mười hai năm, một năm trong Nam và mười một năm lưu đày trong những trại giam được dựng lên nơi rừng thiêng núi độc miền Bắc.

Về miền Nam, thầy trở lại chùa Giác Ngạn trên đường Trương Minh Ký cũ ở Sài Gòn để lại lo Phật sự, cúng kiến giúp đỡ các gia đình Phật tử. Khi đi đâu tụng kinh thầy vẫn đơn sơ trong chiếc áo nâu sòng và phe phẩy chiếc quạt đã sờn rách và môi luôn nở nụ cười hiền hậu giống như một ông già nhà quê chất phát hiền lành.

Chùa Vĩnh Nghiêm có vời thầy ra nhưng thầy vẫn ở lại Giác Ngạn – ngôi chùa mà thầy góp công xây dựng lên và trụ trì cho tới khi mất nước – cho tới khi thầy viên tịch vài năm sau đ

Ai là tác giả ?!

Gửi bởi: hoaha May 3 2010, 11:49 PM

Xin Bồ-Tát Làm Tiêu Ðộc Cho Toàn Cầu

Hòa Thượng Tuyên Hóa

http://www.dharmasite.net/bdh75/XinBoTatLamTieuDocChoToanCau.htm

Giảng Ngày 4 Tháng 9 Năm 1982, Nhân Dịp Địa Tạng Thất Tại Vạn Phật Thành

Dùng Cam Lồ Và Nước Pháp Tẩy Trừ Độc Khí Trên Thế Giới. Ðộc Tiêu Một Phần, Thế Giới Bình An Thêm Một phần.



Tại sao ta đả Ðịa Tạng Thất? Bởi vì hiện tại thế giới có quá nhiều tai nạn, nên chúng ta cần Ngài Ðịa Tạng Bồ-tát dùng sức bổn nguyện làm tiêu mọi tai nạn.


Ðịa Tạng Bồ-tát rất tôn trọng đạo hiếu, bởi vì Ngài đời đời kiếp kiếp luôn là người con hiếu thảo với cha mẹ. Ðây không phải là chuyện dễ dàng, bởi vì chính từ sự khốn khổ gian nan mà Ngài tu luyện thành đạo. Cha mẹ Ngài không tin Tam-bảo, nhưng Ngài phải thuận ý họ, dùng mọi thứ thiện xảo phương tiện để khuyến dụ các vị đó sinh lòng chính tín nơi Tam-bảo. Nơi nào Ngài tới, Ngài đều làm hạnh Bồ-tát, chẳng lộ hình tướng, không chấp trước. Không có hình tướng là bởi vì Ngài không kể công, không tự mình khen đức hạnh. Cũng giống như khi cứu độ chúng sinh, Ngài lại nói rằng là chúng sinh tự độ, không muốn chúng sinh cám ơn Ngài, đảnh lễ Ngài.
Khi Ngài ở địa vị Bồ-tát, Ngài không nghĩ rằng mình cao minh hơn các vị Bồ-tát khác; hoặc là mình có thệ nguyện vĩ đại, có lòng từ bi rộng lớn hay có thần thông quảng đại hơn hết. Ngài không có những tư tưởng đó. Mọi việc làm của Ngài, nhất cử nhất động, nhất ngôn nhất hạnh đều coi như vô sự: Việc mình đem hết sức hết lòng ra làm mà không thấy mình có làm, không sinh lòng kiêu hãnh, cũng không làm kẻ khác chú ý. Ngài chỉ nghĩ rằng đó là bổn phận của Ngài, Ngài không kể lể công trạng, vì thế Ngài cảm động được tất cả chúng sinh, khiến họ tán thán xưng dương ca ngợi Ngài, thậm chí cả Phật cũng khen ngợi Ngài nữa. Phật không tùy tiện khen ngợi kẻ khác, chỉ khi nào có kẻ xứng đáng thì Phật mới khen mà thôi. Bởi vì Ðịa Tạng Bồ-tát không kể công, Ngài cũng không tuyên truyền công đức của mình nên cảm ứng đạo giao. Cảm ứng đạo giao đó không phải do dùng thủ đoạn, hay mánh khóe mà được. Nó tới một cách tự nhiên. Người tu Ðạo chúng ta phải học tinh thần thệ nguyện vô biên của đức Ðịa Tạng:



Ðịa ngục vị không, thệ bất thành Phật.

Chúng sinh độ tận, phương chứng bồ-đề.


Nghĩa là:


Ðịa ngục chưa trống, thề chưa thành Phật.

Chúng sinh độ hết, mới chứng bồ-đề.

Hàng năm chúng ta đả thất, bởi vì muốn thế giới tiêu trừ độc khí. Hiện tại không khí rất ô nhiễm, vũ trụ đầy các thứ khí độc, mà tất cả những phương pháp đều không thể trừ được nó, chỉ có cách là chúng ta phải chí tâm thành khẩn, cầu chư Phật Bồ-tát phóng quang, tiêu trừ những thứ độc khí đó, làm khí độc vô hình vô ảnh đó tiêu tan đi. Nên ở Vạn Phật Thánh Thành, mọi việc làm, đều có quan hệ đến sự an nguy của toàn thế giới. Ở trong đạo tràng này, quý-vị còn không thành tâm, thì thế giới ắt tăng thêm nguy hiểm hơn!

Nhân loại tạo ra quá nhiều ác nghiệp và sức người khó tiêu trừ chúng được. Hôm nay nhân ngày vía Ngài Ðịa Tạng Bồ-tát, chúng ta đồng tâm, hết sức chí thành niệm "Ðịa Tạng Vương Bồ-tát"; kỳ vọng rằng có thể cảm động được lòng từ bi của Bồ-tát, khiến Ngài giúp thế giới được tới chỗ bình an vô sự. Có được cảm ứng nầy hay không, đều do sự thành tâm của quý-vị cả. Sức của một người thì không đủ, phải cần sức lực của đại chúng. Cho nên nói: Ðại chúng chí thành, hợp tâm hợp lực, cùng nhau cầu đảo cho thế giới hòa bình.

Bây giờ trong tâm quý-vị đã hiểu rằng, thế giới đầy tai ách này chẳng có hòa bình. Bởi vậy hiện tại các đạo tràng trên thế giới đều cầu đảo sự hòa bình. Ðầu tiên cả là do Phật-giáo Giảng Ðường, Kim Sơn Thánh Tự đề xướng, sau đó những nơi khác ở Hương Cảng, Ðài Loan đều làm theo; đó cũng chứng minh rằng thế giới đang lâm vào tình trạng rất khó khăn nguy hiểm. Tuy nhiên, chơn chính cầu đảo cho hòa bình thế giới thì có đạo tràng ở Vạn Phật Thánh Thành. Tại sao vậy? Bởi vì ở đây tổ chức pháp-hội gì, đều không hy vọng có đại thí chủ tới cúng dường tiền bạc, mỗi năm tổ chức một cách âm thầm; cứ tới ngày giờ là tổ chức. Chẳng cần biết là có trai chủ hay không; cứ theo thường lệ mà tiến hành, coi đó là bổn phận của mình, không tự hào, không mảy may tính toán chuyện lợi hại gì. Mình chỉ hy vọng rằng Phật sẽ phóng quang gia bị sớm tiêu trừ tất cả những độc khí trên thế giới. Quán Âm Bồ-tát dùng nước cam lồ, quán đỉnh khiến chúng sinh tai tiêu bệnh trừ, tội diệt phước sinh. Ðịa Tạng Bồ-tát dùng nguyện lực quảng đại của Ngài làm chúng sinh ly khổ đắc lạc, tiêu tan hết tai nạn ách chướng. Niệm Quán Âm Bồ-tát, niệm Ðịa Tạng Bồ-tát tức là giúp cho thế giới được tiêu độc, nhưng không cần dùng thuốc sát trùng, chỉ cần dùng nước cam lồ pháp thủy để tiêu trừ độc khí trên thế giới. Tiêu đi một phần thì thế giới có thêm một phần bình an. Khi độc khí không còn nữa, lúc đó chúng sinh sẽ được hưởng phước, nhân loại sẽ được an lành!

Gửi bởi: hoaha May 19 2010, 01:48 AM

Thằng ăn cắp


Ở một làng nào đó bên xứ Ấn Độ, có một thương gia nghèo. Ðời sống khó khăn, nạn cường hào ác bá quá đỗi lộng hành khiến bác ta sống không nổi, phải bỏ đi một xứ xa sinh sống. Sống nơi đất khách quê người lâu ngày, lòng riêng vẫn tủi. Lại thêm tuổi đà xế bóng, tính ganh đua, lòng ham muốn cũng mỏi mòn. Một hôm chạnh nhớ cố hương, bác quyết định trở về. Bán hết tài sản lấy tiền mua vàng, gói vào một túi vải giấu trong túi hành lý khoác vai, bác lên đường về quê hương.


Trong vùng quê người thương gia, giữa một cánh đồng, dân trong vùng xây một ngôi chùa nhỏ để các nông phu buổi trưa ghé vào lễ Phật và nghỉ ngơi. Một cây bồ đề lâu năm che bóng rợp xuống một sân nhỏ lát gạch, một cái giếng khơi, nước mát và trong vắt, cũng là nơi cho khách bộ hành ghé chân nghỉ ngơi, giải khát, hoặc đôi khi ngủ qua đêm trong chùa. Chùa không có người coi. Phật tử trong chùa đều là nông dân. Lúc rảnh việc thì tự ý tới làm công quả quét tước, dọn dẹp, chăm sóc cho đám cây cỏ sân chùa lúc nào cũng hương khói quanh năm.


Sau nhiều ngày lặn lội đường xa, người thương gia về gần đến làng cũ. Trời đã xế trưa, nắng gắt. Ði ngang qua chùa, bác ghé vào nghỉ chân dưới gốc bồ đề. Ra giếng nước giải khát, rửa ráy sạch sẽ xong, bác vào chùa lễ Phật. Trong chùa vắng lặng. Bác thắp hương quỳ trước bàn thờ Phật. Ngước nhìn lên, nét mặt đức Thế Tôn vẫn trầm mặc như xưa nay, hơn mười năm qua không có gì thay đổi. Cảnh vật như đứng ngoài thời gian. Lễ xong, người thương gia rời chùa. Thấy bóng chiều đã ngả, đường về còn khá xa, bác liền rảo bước, bỏ quên túi hành lý trong chùa.
Buổi chiều hôm đó, một nông dân nghèo khổ trở về làng sau một ngày làm việc ngoài đồng. Ngang qua chùa, ngày nào cũng vậy, bác ghé vào lễ Phật trước khi trở về nhà. Lễ xong, bác trông thấy một túi vải to để gần bàn thờ. Bác ta nghĩ thầm: “Không biết túi vải của ai đi lễ đã bỏ quên. Nhỡ có người tham tâm lấy mất thì tội nghiệp cho người mất của. Âu là cứ mang về nhà rồi bảng thông báo để trả lại cho người ta.”


Về đến nhà, bác nông dân gọi vợ con ra, trỏ vào túi vải, nói:
- Ðây là vật người ta bỏ quên trong chùa. Nay mình cứ tạm kiểm kê rõ ràng, đầy đủ, mai mốt có người đến nhận đúng thì trả lại cho người ta.
Giở ra xem, thấy có gói vàng to, người nông dân nghiêm giọng dặn vợ con:
- Vàng của người ta là một vật rất nguy hiểm. Nó làm nảy lòng tham. Mọi điều bất chính, bất lương, mọi sự đau khổ cũng từ đó phát sinh. Mẹ con mày chớ có dúng tay vào mà khốn!
Bác cất cẩn thận vào rương, khóa lại.


Người thương gia rảo bước về gần đến làng, nhìn xa xa ráng chiều êm ả, những làn khói bếp vương vấn trên rặng tre quen thuộc. Cảnh xưa vẫn còn trong trí bác so với nay như không có gì thay đổi sau hơn mười năm xa cách.
Vừa đến cổng làng, người thương gia mới sực nhớ đã bỏ quên túi hành lý ở chùa. Lo sợ, hốt hoảng, bác vội quay lại con đường cũ, vừa chạy vừa kêu:
- Khổ thân tôi! Thế là tôi mất hết cả sản nghiệp dành dụm từ hơn mười năm nay! Bao nhiêu công lao trôi sống trôi biển cả rồi! Khổ thân tôi chưa!
Người đi đường ai thấy cũng ngạc nhiên.


Tới chùa thì cảnh vẫn vắng tanh, bên trong chỉ có một cụ già đang lễ Phật. Người thương gia vội túm lấy cụ già, hốt hoảng hỏi:
- Túi đồ của tôi đâu? Vàng của tôi đâu?
Cụ già ngạc nhiên:
- Túi đồ nào của bác? Vàng nào của bác?
- Thì cái túi hành lý tôi để quên hồi xế trưa trong chùa này!
Cụ già vẫn bình thản:
- Quả thật lão không thấy túi đồ của bác. Lão đã sống thanh đạm cả đời, nỡ nào trong chốc lát vứt bỏ lương tâm mà tham của người. Bác cứ bình tĩnh. Của mất, có duyên còn có ngày lấy lại, vô duyên thì của cầm trong tay cũng mất. Túi đồ của bác đã thất lạc, bác lại mất luôn cả cái tâm công chính, đỗ vấy cho người là cớ làm sao?


Gần đây có một xóm làng, buổi chiều nông dân thường lễ Phật trước khi về nhà. Bác thử tới đó hỏi xem. Thói thường, thấy vàng là tối mặt lại. Nhưng cũng còn tùy. Cũng còn có nhiều người tốt.
Người thương gia nghe ra, nhận thấy mình vô lý, bèn xin lỗi cụ già rồi theo lời chỉ dẫn, tiếp tục đi tìm. Tới làng, ông ta hỏi nhiều người mà không ai biết. Nghĩ rằng sản nghiệp dành dụm trong mười năm của mình nay phút chốc như chiếc lá vàng rơi theo gió đưa, biết đâu là bờ bến mà tìm! Ðành phó mặc cho bước chân tình cờ may rủi. Khi tới cuối làng, giữa vườn cây cối um tùm có một căn nhà lá nhỏ tồi tàn. Trước cửa treo một tấm bảng đen, với hàng chữ trắng viết to: “Tôi có nhặt được một túi vải bỏ quên trong chùa. Ai là chủ xin tới nhận lại.”


Người thương gia mừng quýnh đập cửa, gặp anh nông dân ra mở hỏi:
- Bác là chủ túi đồ bỏ quên trong chùa?
- Vâng, chính tôi. Tôi đã để quên trong chùa hồi xế trưa nay. Xin cho tôi nhận lại.
- Nếu đó là của bác thì bác phải nói xem túi đồ của bác như thế nào? Trong đựng những gì?
Người thương gia trả lời:
- Ðó là túi vải, trong đựng một ít lương khô đi đường.
Người nông phu nói:
- Thế thì không phải túi đồ của bác.
- Thú thật với bác, cũng còn một số vàng trong một gói vải khác màu đỏ.
Người nông phu nghe tả đúng các đồ vật và số lượng vàng đựng trong túi vải, biết chắc người tới hỏi là chủ nhân bèn mở rương ra, nói với người thương gia:
- Quả thật đó là túi đồ của bác. Xin mời vào nhận.
Người thương gia nhận đủ số vàng, lòng vui khôn tả. Bác thấy cảnh nhà người nông dân nghèo nàn mà lại không có lòng tham, để tỏ lòng biết ơn, bác chia đôi số vàng gói vào một miếng vải đưa cho người nông dân. Bác nói:
- Vàng của tôi tưởng đã mất, may sao lại gặp tấm lòng quý của bác. Tôi xin biếu bác một nửa để tỏ lòng thành thật biết ơn.
Người nông dân ngạc nhiên:
- Trả lại món vật không phải của mình chỉ là một việc bình thường, có ơn gì mà được đền?
- Bác đã làm một điều thiện. Ðược đền ơn là đúng lẽ.
- Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên. Đạo lý xưa nay vẫn dạy như vậy. Đó không phải là cái cớ để đòi hay nhận tiền thưởng. Cũng như lòng yêu dân tộc, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công. Vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng. Tôi có góp công lao gì vào đó mà chia phần? Thôi, xin bác hãy để tôi được sống yên vui trong cái nghèo của tôi hơn là sống giàu có nhờ vào của cải người khác. Như thế cũng là một cách ăn cắp.


Người thương gia không còn lý lẽ gì để nói thêm bèn khoác hành lý lên vai, bất thần vất gói vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy. Ý định của ông ta là bắt buộc bác nông dân phải nhận sự đền ơn, nhưng bác vội nhặt gói vàng rồi đuổi theo, miệng hô hoán:
- Bớ người ta, thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp.
Dân trong làng nghe tiếng hô hoán liền đuổi theo bắt được người thương gia dẫn trở lại trước mặt bác nông dân, hỏi:
- Hắn đã ăn cắp vật gì của bác?


- Hắn định ăn cắp cái tâm công chính và chân thật mà tôi có được từ ngày tôi học Phật!


Những người làm việc công mà đòi trả ơn, làm việc thiện chỉ do tư lợi, làm việc nước cốt vì quyền hành địa vị... thảy đều không hiểu chuyện nầy!!
(Không biết tên người kể.)

Gửi bởi: hoaha Jun 16 2010, 12:26 AM

Cho và nhận

Một hôm, một sinh viên trẻ có dịp đi dạo với giáo sư của mình. Vị giáo sư này vẫn thường được các sinh viên gọi thân mật bằng tên "người bạn của sinh viên" vì sự thân thiện và tốt bụng của ông đối với học sinh.

Trên đường đi, hai người bắt gặp một đôi giày cũ nằm giữa đường. Họ cho rằng đó là đôi giày của một nông dân nghèo làm việc ở một cánh đồng gần bên, có lẽ ông ta đang chuẩn bị kết thúc ngày làm việc của mình.

Anh sinh viên quay sang nói với vị giáo sư: "Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu giày của ông ta rồi thầy và em cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta ra sao khi không tìm thấy đôi giày."

Vị giáo sư ngăn lại: "Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra để trêu chọc mua vui cho bản thân. Nhưng em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãy đặt một đồng tiền vào mỗi chiếc giày của ông ta và chờ xem phản ứng ông ta ra sao."

Người sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó.

Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Người nông dân vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày thì cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong, ông ta cúi xuống xem đó là vật gì và tìm thấy một đồng tiền. Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai. Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày còn lại. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quì xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một món quà đúng lúc, cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn, người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn.

Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: "Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?" Người thanh niên trả lời: "Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: "Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về".

Không biết tác giả

Gửi bởi: hoaha Jul 1 2010, 08:56 PM

CHIẾT TỰ

Toại Khanh

Một anh Phật tử sau một tai nạn dập nát thân thể đã được ghép lại chiếc chân mới lấy từ di hài của một người hiến xác.
Không bị tàn tật, anh mừng lắm, nhưng đêm đêm nhìn lại cái chân ngoại lai kia, anh cứ rùng mình và nghĩ đến người nằm dưới mộ.
Một ngày, nhắm chịu không thấu, anh chạy lên chùa thăm sư phụ là một thiền sư và kể lại nỗi sợ của mình.
Vị hoà thượng nhìn anh rồi mỉm cười:

- Con thấy sợ cái chân đó vì cho rằng nó không phải là của con, nhưng thử hỏi, cái-chân-xưa-giờ-theo-con-từ-bé có đúng là của con không ?

Truyện kể rằng anh Phật tử từ đó ngủ ngon, hết sợ.
Và tôi từ lúc biết được câu chuyện này cũng thấy mình ít nhiều an lạc hơn xưa.
Tôi đã hiểu chữ CỦA một cách chu đáo hơn, thấm thía hơn.
Rồi cũng từ đó, tôi nghiệm ra một điều rằng ở đời nhiều lúc chỉ một chữ thôi cũng là một trời suy tư.

Chiều nay, một người Phật tử gửi tôi cái link để đọc bài viết của một người trẻ chẳng biết trong hay ngoài nước.
Họ nói thích bài đó, khen hay và giới thiệu cho tôi. Tựa đề bài viết đó là Tình Lỡ. Thiệt lạ, đọc hết bài, nhưng tôi không hiểu gì hết. Lòng tôi đã bị cái tựa đề Tình Lỡ kia níu kéo ngay từ phút đầu. Nói chính xác, tôi đã bàng hoàng, ngẩn ngơ chỉ vì một chữ LỠ kia thôi. Nào phải chỉ có tình mới lỡ.
Có gì trên đời này lại không bị lỡ chứ.
Nhìn quanh ta, rồi thì cả thế giới, hình như chẳng gì là trọn vẹn hết.
Này nhé, có ai trên đời này dám nhận đời mình là viên mãn đâu.
Cả một quốc gia cũng thế.

Nhiều kẻ giàu mà không sang, bởi họ chỉ phú mà không quý.
Tiền bạc rủng rỉnh mà kiểu xài tiền thì ngửi không vô, đó là giàu mà không sang, phú nhưng chưa quý.
Nhìn xa một chút, nước Tàu bây giờ có biết bao tỷ phú, nhưng ở một xã hội nghèo nàn nhân văn sau mấy chục năm (Không dùng từ này) thì khó mà kiếm ra một người thật sự phú quý.
Dám bỏ cả triệu Mỹ kim mua một con chó ngao Tây Tạng về cung phụng như đấng sinh thành, nhưng đố họ dám bỏ ra một phần trăm số tiền đó để làm từ thiện.
Đáng ngại là ở Việt Nam bây giờ cũng có rất nhiều kẻ chỉ phú mà không quý như thế.
Tôi muốn gọi đó là một trường hợp Lỡ: Lỡ làng, dở dang…


Rồi đến chữ An Lạc.
Biết bao người trên đời này ngó ngon lành vậy, nhưng thiệt ra họ chỉ được An (yên) mà chắc gì được Lạc.
Nhà cửa ổn định, thu nhập ổn định, sức khỏe ổn định, kể cả gia đạo cũng ổn định, nhưng liệu lòng họ có được vui không.
Tôi từng nói rồi, nhiều khi có chuyện để lo toan còn dễ sống hơn là những ngày tháng nhàn cư vô vị, không đắng không ngọt.


Viết đến đây tôi chợt nhớ đến mấy bài báo online gần đây nói về làn sóng thực phẩm độc hại của Trung Quốc và Việt Nam đang được xuất khẩu tứ tung thì càng thấm thía chữ Lỡ này.
Nhiều món trong đó là thứ khoái khẩu của người mình, nhưng ngon mà chẳng lành.
Không phải món nào ngon thì cũng lành.
Cũng như nhiều người tuy dễ thương mà cũng đáng sợ vậy.
Hai chữ ngon lành từ đó không phải dễ dùng.

Ngay đến một chữ rất phổ biến như Phúc Đức cũng khó mà tìm được chỗ dùng.
Nhiều kẻ đời nay chỉ có phúc mà không có đức.
Người học A-Tỳ-Đàm thường thích nói chặt chẽ nên khó chấp nhận điều tôi đang viết.
Một cách nôm na, tôi hiểu Đức ở đây là những đức tánh hàm dưỡng nhân cách của mình.
Một người tiện tay làm một hai chuyện giúp đỡ kẻ khác không sánh được một người thường ngày làm gì cũng biết nghĩ về kẻ khác.
Phúc thì ai cũng làm được, nhưng Đức thì phải là kẻ có tâm cơ.

Tôi không nhớ là Lão Tử hay Trang Tử đã có câu nói này:
Người thời nay quyền cao tước trọng đến mấy cũng chỉ là hàng quý nhân chứ không phải bậc đại nhân như thời trước.

*
Cứ theo kiểu chẻ chữ (chiết tự) đó mà nói thì ta có bao điều thú vị để mà suy gẫm.
Như thánh nhân chỉ có Đau mà không Khổ, phàm phu nhiều khi Thông nhưng chưa chắc đã Minh, Giải nhưng chưa chắc đã Thoát, Tình không hẳn là đi với Yêu, tôi còn muốn nói là Sung chưa chắc đã Sướng, nhưng thôi !

Chẻ chừng đó cũng đủ mỏi tay mòn búa rồi, chỉ mong người đời nhớ được bài học Chính Danh của thầy Khổng để mà sống trọn vẹn ngoài đời, trong đạo. Thế còn gì hơn được nữa. Mong thay !


Toại Khanh (Assam, 4/20/10).



Gửi bởi: hoaha Jul 19 2010, 12:08 PM

Từ bi với mình…
(BS Đỗ Hồng Ngoc )
Hình như ta chẳng bao giờ thực sống trong hiện tại cả! Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai.
Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có đựơc cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ
lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những phút giây hiện tại. Từ ngày “thế giới phẳng”, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với bạn nhưng trò chuyện với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện thì nhiều khi đã lỡ nhịp! Hiểu
ra những điều tầm thường đó, tôi biết qúy thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn.


Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ, vị lai. Dĩ nhiên, không phải là trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá. Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75! Vậy sao ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêuthích nó đi, sao cứ phải… nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!


Ta cũng có thể gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Cơ thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần biết có ta! Mà hình như, càngnguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ. Trái lại nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó mộtchút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn.

Anh chàng Alexis Zorba nói: “Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút. Cho nó ăn với. Cho nó nghỉ với. Đó là con lừa kéo xe của ta, nếu không cho nó ăn, nó nghỉ, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi” (Nikos Kazantzaki). Từ ngày biết thương “con lừa” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho con lừa của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá! Một người cô tôi “ăn không được”, ăn “không
biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương bà quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được? Giá nghèo một chút thì hay hơn! Cá kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn bà ăn thấy ngon, thấy sướng! Tôi cũng biết cho con lừa của mình ngủ hơn. Ngủ đẫy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được! Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: cơ tắc xan hề khốn tắc miên! Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền! trong bài Cư trần lạc đạo, ở đời mà vui đạo! Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nứơc ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp!


Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác!


Cũng nhớ rằng tới tuổi nào đó tai cũng sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe, không thì đóng lại; mắt kém
mà muốn thấy gì thì thấy, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!


Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành. Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.


Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả!

Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút vậy!




Gửi bởi: hoaha Jul 20 2010, 11:06 PM

Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.

Đến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn trong một tinh thần.

Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với lòng kiêu ngạo chen chân trong một ngôi nhà bản ngã; đến một lúc, chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để ngắm nhìn toàn bộ sự mênh mông và bát ngát của đất trời.
Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của tĩnh tại tâm hồn.

Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

Đến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước cuốn trôi.



Đến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.

Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.

Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một tuồng ảo hóa.

Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn trong cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức tiếc thương một dĩ vãng xa rồi. Trong đời người ngắn ngủi chúng ta đã lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.



Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không phải có bất cứ thứ gì khác giúp con người thiết lập được trật tự mới và hòa bình cho nhân loại.

Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc.

Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của mình còn hơn mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.

Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt biển.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm vui cho sự sống hàng ngày chứ không phải là sự bắt buộc hay là một tập quán khô khan, máy móc của đời mình.

Hiểu ra rằng ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, xấu xa của người khác hơn là chính bản thân. Chúng ta thường che đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất độc và giết chết bản thân.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô giá và cầ thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ cạn.

Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không phải là những gì có thể nắm bên ngoài mà đó là tâm linh bất diệt bên trong.

Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc, không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.



Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn còn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định được giá trị chân thật của một kiếp người.

Chúng ta hiểu rằng cần thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm thiên đường ở chốn xa xăm. Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng giác ngộ của chính mình.

Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau thương vì lòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có thể đưa chúng ta bến bờ rạng rỡ của ngày mai..

Không rõ tác giả



Gửi bởi: hoaha Aug 11 2010, 05:09 AM

chư tăng dùng thứ đó, không đòi hỏi chay mặn. Nhưng trong luật tạng có dạy nếu chúng sanh bị giết chết để lấy thịt cúng dường trai tăng thì không nên ăn.



Trên căn bản, thực phẩm chỉ là phương tiện nuôi sống con người không nhất thiết là vấn đề quan trọng. Kinh Lăng già (Lankavatara- sutra) thì tuyệt đối cấm tất cả mọi loài thịt thà cá mú, nhưng có những kinh khác lại không cấm cản gì cả.



Vùng miền núi phía đông Tây tạng, đất đai khô cằn không trồng trọt gì được, và lạnh lẽo tuyết giá, rất khó khăn, nên chư tăng phải ăn thịt. Đối với tôi, lúc 13, 14 tuổi vào những dịp lễ lạy của Tây tạng, quá nhiều thịt thà được trưng dụng, tôi bắt đầu chuyển và khuyến khích bớt dùng thịt súc vật từ đó. Khi trốn khỏi Tây tạng đến Ấn độ vào năm 1959, tôi ăn chay nhiều hơn. Và bắt đầu năm 1965, tôi tập ăn chay trường.



NDTV: Tại sao vậy ạ?



DL: Hay hơn, tốt hơn. Khoảng 20 tháng trời tôi ăn chay, tôi theo lời khuyên của những người bạn Ấn độ nên thay thế thịt bằng cách uống sữa, và dùng kem tươi… nhưng đến năm 1967, tôi bị chứng đau gan và túi mật.



Da trên người tôi đổi thành màu vàng nghệ - giống Phật (màu áo cà sa) - cả người màu vàng, móng tay cũng vàng, mắt cũng vàng, cũng cả 3 tuần lễ. Bác sĩ y học đông phương khuyên phải trở lại ăn thịt cá, thế là tôi phải nghe lời bác sĩ để khỏi bịnh.



Nhưng phần đông toàn thể các tu viện tại đây, cả tu viện Namying này đều chỉ có đồ chay. Phía miền Nam Ấn độ, ba bốn trăm tăng mỗi tu viện, chỉ có thể dùng rau cỏ mà thôi, không có thịt. Khi đi hoằng pháp ở nước ngoài, phần nhiều tôi đều ăn chay.

NDTV: Ngài có hối hận việc gì không ạ?



DL: Những điều nhỏ nhặt thì ngày nào lại chẳng có… Như hiện giờ nè, nóng quá, nếu bộ quần áo tôi vải mỏng hơn một tí đở khổ biết mấy… Nhưng lần khác tại Delhi, tôi tưởng trời Delhi nóng nên chỉ đem áo mỏng, lúc hội họp trong phòng có máy điều hòa không khí quá mạnh, lạnh run, cùng một câu hỏi “có hối hận gì không”, nhưng câu trả lời hoàn toàn trái ngược hôm nay.



Còn về hối hận lớn à – hình như khoảng thời gian tôi còn đi học, cả chục năm trời tôi rất là lười biếng, tôi thường nói với mọi người hồi đó tôi chỉ ngồi xuống học khi bị dọa đòn mà thôi… Ông thầy chịu trách nhiệm dạy tôi rất là khó và nghiêm nghị, không bao giờ cười, và có cái roi dài.



Có thời gian anh tôi cùng học chung, thế là 2 cái roi, một cái roi thường cho người thường, một cái roi màu vàng – roi thánh (holy whip) – cho người tu… nhưng roi thánh vẫn đem cái đau của chúng sanh (cười lớn)… tôi rất sợ cái roi.



Đó là một trong những hối tiếc lớn, hồi nhỏ không chịu siêng năng học hành… cho nên bây giờ 75 tuổi rồi, nhưng lúc nào rảnh rỗi có thì giờ thì tôi lại mang sách thánh ra học, học kinh, học chữ Tây tạng, những quyển kinh do chính tổ Long Thọ (skt: Nagarjuna) hay đệ tử của ngài soạn thảo.



Còn về vấn đề chính trị, và nhiều vấn đề khác nữa, từ khi tôi nhận lãnh trách nhiệm ở tuổi 16 đến giờ, rất nhiều quyết định quan trọng, nhưng không một hối hận nào.

NDTV: Như thế cũng rất là hi hữu rồi. Cuộc sống của Ngài thật là hi hữu.

DL: Tôi nghĩ có thể vì tôi là một người thích thảo luận, thích đặt nhiều câu hỏi, và biết tôn trọng quan điểm ý kiến của người khác, kể cả những bạn quét đường của tôi. Thí dụ như trong 50 vấn đề khó khăn phải cần giải quyết. Trước nhất tôi tham khảo ý kiến của những nhà chức trách có thẩm quyền, rồi tôi cũng thảo luận dò xét ý kiến của bạn bè thân thuộc, cả anh quét đường xem họ nghĩ sao.



Bất cứ đối với một quyết định quan trọng nào, trước nhất tôi cũng quan sát kỹ lưỡng bằng cái trí khôn của mình, nhìn tất cả mọi khía cạnh một cách bao quát, kế đến tôi đi thăm hỏi ý kiến người khác, từ nhà tiên tri, đến các cố vấn. Nếu chưa giải quyết được vấn đề, đôi khi tôi dùng tới biện pháp thiền tập để tìm hiểu, dĩ nhiên vì tôi là một tăng sĩ Phật giáo.



Ngài Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 cũng thường làm thế. Cứ như thế suốt quá trình từ năm 16 tuổi đến giờ, rất nhiều những quyết định tối quan trọng - nhiều khi tôi phải dùng đến cái tôi gọi là việc nghiên cứu huyền bí - đều được thông qua và giải quyết một cách đẹp đẽ - chưa có một sai lầm nào. Tôi cảm thấy hãnh diện.


NDTV: Chúng con kính tri ân Ngài, nguyện chúc an lành và sức khỏe.

Read more at: http://www.ndtv. com/article/ india/in- conversation- with-the- dalai-lama- 35955?cp









Gửi bởi: hoaha Aug 11 2010, 07:09 AM

<b>NDTV: Ngài vẫn có lòng từ ái đối với Hitler sao?

DL: Dĩ nhiên rồi. Thù giận ông ta làm chi, chẳng ích lợi gì. Ông ta đi lâu rồi.


NDTV: Nhưng lại có những Hitler hiện đại, những người ôm bom đi khủng bố chẳng hạn, họ mang hận thù đến cùng khắp mọi nơi. Ngài vẫn bao dung được sao? Chúa Giê-su nói nếu người ta tát bên phải, đưa luôn má bên trái, Giáo chủ Mahatma Gandhi cũng khuyên như thế, giờ đến Ngài nữa. Nhưng nhiều người thì cho đó là hèn nhát, đưa luôn má bên kia ra.


DL: Theo tôi nghĩ, lúc Mahatma Gandhi và những vị lãnh đạo đất nước ra công giải phóng dân tộc giành độc lập tự do cho Ấn độ, họ quyết chí áp dụng chính sách bất bạo động (tiếng Ấn độ gọi là ahimsa – tránh bạo động), thì có nhiều thế lực quyền hành Tây phương cho rằng như vậy là nhu nhược.



Nhưng hiện giờ, quan niệm đó đã được thay đổi. Trên thực tế dùng bạo lực, vũ khí để phản kháng mới là yếu nhược, và đầy sợ hãi. Bất bạo động mới chứng minh sức mạnh, lòng tự tin, và sự thật. Dùng chiến lược bạo động oanh tạc đánh đập cấu xé lẫn nhau tức là không hiểu sự thật nên mới vội vàng vơ cây súng, nắm quả bom.



Ngay cả trong liên hệ hôn nhân, khi vợ chồng không hoà hợp trong một vấn đề gì, nếu cả đôi bên đều ích kỷ chỉ nghĩ quyền lợi riêng mình, thì họ sẽ im miệng mà chỉ dùng tay chân đấm đá nhau, đó mới là nhu nhược yếu hèn.


NDTV: Vậy thì thế giới phải làm sao để đối trị những thành phần như Osama Bin Laden, hay Taliban? Chúng ta phải làm gì với những người chuyên tìm cách thảm hại kẻ khác? Có thật là phải đưa má bên kia không?


DL: Dĩ nhiên rồi. Như lời dạy của đạo Phật, mình phải thương lượng xem cách nào đưa lại nhiều lợi ích hơn, đôi khi phải nhìn cái lợi ích cho số đông, lúc đấy mình phải có quyền dùng lời nói hoặc biện pháp khắc nghiệt mạnh bạo hơn để đối phó.



Phương tiện chỉ là phụ. Đạo Phật dạy phải có trí tuệ trong những phương pháp đối trị này, phải biết đâu là mục tiêu và động cơ để hành sử. Nhưng khi dùng lời nói hay biện pháp mạnh này, động cơ không thể là giận dữ hay thù ghét, phải áp dụng lòng từ… nếu ai làm sai người ấy sẽ chịu quả báo… thí dụ như cha mẹ hay thầy cô đôi khi vì lòng từ bi mà la mắng dạy bảo những đứa con ngổ nghịch hư hỏng, nhưng không có ác ý, không hãm hại… cách đối trị có hơi mạnh tay nhưng không bạo động. Còn như lừa đảo, bốc lột, lợi dụng, gây thiệt hại, hay mua chuộc bằng lời ngon ngọt quà cáp là những cách bạo động không nên dùng.



Những thế hệ trước cổ điển lâu đời, người ta sống khó khăn khổ cực hơn nhưng có thăng bằng điều độ, và niềm tin trong cộng đồng cũng quan trọng. Vài thế kỷ vừa rồi, vì nhu cầu vật chất kỷ thuật khoa học tăng trưởng nên con người cũng theo đà đó mà xa đọa.



Tôi thường khuyến khích mọi người nên tu tập cầu nguyện, biết đâu đó ước nguyện có thể thành tựu vào kiếp tới. Nhưng cầu nguyện không cũng khó có thể mang lại kết quả ngay ở đời này… nhưng kỷ thuật khoa học đôi khi lại làm được, và làm được ngay lúc này. Tiền của cũng vậy, lợi ích ngay lập tức.



Trong khi tu tập thiền định không thu thập được kết quả tức thời. Nên người ta cứ quay về với kỷ nghệ và tiền tài vật chất… vì thế mới bị nhiều khủng hoảng đạo đức mà thôi.



Nhưng cũng may mắn là những thập niên cuối của thế kỷ 20, rất nhiều người biết tìm lại ổn định cho đời sống tâm linh của họ, không những chỉ giới trẻ, nhưng cả những gia đình giàu có, những ông chủ bà chủ của các xí nghiệp lớn.



Tôi cũng thường được mời đến giảng dạy, cho cả những nhà khoa học gia. Vào nhiều thế kỷ trước, khoa học hiện đại và vấn đề tâm linh không như ngày nay… nhưng bây giờ người ta thấy có sự tương quan giữa khoa học và tâm linh… bên Hoa kỳ nhiều cuộc thí nghiệm khoa học bắt đầu tìm hiểu về cảm xúc của con người và làm sao khắc phục cảm xúc qua thiền định, nhiều khoa học gia nổi tiếng trong ngành y dược đã có những dự án nghiên cứu thí nghiệm trong lành vực này.



Sẽ có nhiều thay đổi trong tương lai. Ngoài ra người ta cũng bàn luận vấn đề thiếu đạo lý luân thường trong đời sống con người ngày nay. Nhiều người cho rằng đạo lý luân thường phải có căn bản từ tín ngưỡng, nhưng lại bị hạn chế hơn bởi tín ngưỡng.



Tôn giáo rất tốt cho đạo đức con người nhưng không có tôn giáo tín ngưỡng thì cái căn bản của đạo lý, kể cả sức khỏe bản thân chúng ta, và sự thanh liêm minh bạch, lòng thành thật có thể gầy dựng và tạo ra niềm tự tin. Khi có tự tin, người ta sẽ bớt lo sợ, nội lực sẽ mạnh hơn, stress sẽ giảm đi, lo âu sẽ bớt lại, và cuộc sống được thanh thản hơn. Ngành y học bắt đầu nhận thấy ích lợi vả hiệu quả của nếp sống đạo đức. Đó là những tiến triển khả quan.



NDTV: Câu hỏi kế tiếp của Francisco, người Argentina đến đây từ một quốc gia ở Nam Mỹ.


Francisco: Kính bạch Ngài, gia đình con ở Argentina , con đang theo học ở Ấn độ được sáu tháng. Nước Argentina đã nằm dưới quyền thống trị rất lâu đời của chế độ quân sự chính chuyên độc tài chỉ biết dùng bạo lực cai trị nước. Tây tạng của Ngài cũng thế, cũng bị lực lượng quân đội Trung quốc đàn áp thống lãnh. Câu hỏi của con là với lịch sử vũ khí chiến tranh bạo tàn khắp nơi, kể cả nhiều quốc gia ở Nam Mỹ, với chính sách khủng bố ngày càng nhiều và tàn khốc, Ngài có nghĩ ngành quân đội của một quốc gia có thật sự đem lợi lạc tích cực đến cho quốc gia đó không?


DL: Có thể là trong một hoàn cảnh, một tình huống nào đó, qua một thời gian hay những nhu cầu khẩn cấp, ngành quân sự rất cần thiết và thích đáng. Cái đáng ngại là hầu như toàn thể ai trong quân đội cũng hơi thiếu cái yếu tố đạo đức. Họ quen với bạo hành, quyền lực, trách nhiệm nắm trong tay đến nổi quên luôn tự do dân chủ, họ chỉ chú trọng vào quyền lực của họ.



Cũng như nhóm dân quân Miến điện hay quân đội Pakistan vài năm về trước. Cứ nhìn vào nước Ấn độ mà xem, từ khi độc lập tự do, yếu tố dân chủ được nâng lên rất cao và rất cố định. Thì cũng có một vài trở ngại không thuận lợi đây đó - như tôi vẫn hằng chia sẽ với giới chức lãnh đạo quốc gia hay tôn giáo.



Khi tôi đi ngoại giao, tôi rất hãnh diện đem thông tin đại diện của Ấn độ đến mọi nơi – trong nước vẫn còn chế độ giai cấp từ ngàn xưa, và thể lệ đòi hỏi của hồi môn trong hôn nhân, v.v… những thứ mà chúng ta phải đối phó và giải quyết lấy, ngay trong nhà, trong nước mình. Tôi cũng tỏ bày nhiều lần mối quan tâm của tôi như gần đây ở Rishikesh, và đôi lần ở Delhi nữa. Nhưng chung chung thì Ấn độ là một quốc gia rất ổn định.


NDTV: Vậy theo Ngài thì quân đội của một quốc gia rất cần thiết nhưng họ phải biết buông bỏ bớt quyền hành của họ. Chắc là rất khó một khi đã nắm quyền trong tay.


DL: Chỉ cần thiết cho một thời gian ngắn khẩn cấp, không phải bất tận… và phải luôn cấu kết với yếu tố đạo đức.


NDTV: Bây giở con xin chuyển câu hỏi đến Bhuvnesh Dubay, một nhà giáo.



Bhuvnesh: Kính lễ Ngài. Ngài nói sứ mạng thứ nhất của Ngài là khuyến tấn một vài giá trị của con người. Ahimsa (có nghĩa là tránh bạo động) là một trong những giá trị đó. Ngày nay học thuyết Ahimsa có còn thích hợp với thế giới đầy bạo động và với chế độ Naxalism không? (note: Naxals hay Maoist là vùng phía tây Ấn độ vẫn còn theo lý tưởng (Không dùng từ này) và thường được xem là vùng “Hành lang Đỏ (Red Corridor)”) Tại sao lại có sự truyền bá của Naxalism trong quốc gia hoàn toàn độc lập tự do, và làm sao để đối phó với vấn đề nan giải này?



DL: Theo tôi nghĩ tất cả những bạo động trên toàn cầu kể cả biến cố 9-11 ở Hoa kỳ, chúng ta phải nhìn lại toàn diện những trận khủng bố này. Mỗi hiện tượng đều có nhân có quả. Tôi cũng đã từng nói thế với giới báo chí ngay sau khi biến cố xẩy ra tại Nữu-ước. Những quốc gia này có dầu hỏa, có nhiên lượng và thường bị khai thác hay bốc lột bởi những quốc gia chỉ nhắm vào đó để trục lợi. Thế nên cũng chỉ trở lại với vấn đề tiêu chuẩn đạo đức mà thôi.



Ngay thời gian đó tôi có bày tỏ ước nguyện là nếu muốn kháng cự lại phải áp dụng cả hai mặt - một là qua sự dàn xếp của của chính khách cấp đại diện với nhau, và hai là phải nghĩ đến về lâu về dài bằng cách giáo dục và phổ biến chính sách bất bạo động còn được biết đến bằng cái tên Ahimsa.



Trong thế giới hiện đại ngày nay, sự thật chỉ là một phần thực thể, sáu tỷ người trên các châu lục chỉ là một phần của vũ trụ thế gian. Tương lai của Đông Á phải phụ thuộc vào Tây phương và ngược lại, cả Phi châu nữa, phải nương tựa bảo hộ lẫn nhau, để cho thế giới trở thành một bánh xe sức mạnh đẩy được cả con tàu, không như những thế hệ trước.



Nếu cứ nghĩ đến “tôi và họ” “chúng ta và chúng nó” thì dĩ nhiên tình trạng phá hoại tiêu diệt lẫn nhau sẽ càng lan rộng. Cho nên nếu mọi người có thể nghĩ “tất cả chúng ta” thôi thì kẻ thù cũng thành một thành phần của loài người, và tương lai của loài người cũng nằm trong tay kẻ thù.



Có sát hại kẻ thù, đập phá tiêu diệt đất đai của kẻ thù cũng chỉ là phá hủy chính mình thôi. Cho nên Ahimsa rất có lý vì sẽ chẳng có vấn đề xung đột tranh giành hay va chạm nữa. Tôi thường nói chính mình tạo tác những khó khăn cho mình mà thôi.



Nếu loài người muốn sống bình an, thì tự mình phải biết nhường nhịn, buông bỏ. Nhất là những người có nhiều quyền lợi, nhiều kinh nghiệm, và sáng chói (Ngài dùng từ shine ở đây!!) thường tạo nhiều vấn đề hơn, trong đó có tôi đây (cười).



Cái khác biệt là ở đó. Phải dùng phương pháp nào để giải hòa mà không đụng đến súng ống bom đạn hay chiến lược bạo tàn. Chỉ còn cách đối thoại, đàm phán, ngồi lại nói chuyện với nhau.



Hãy nhìn lại Nam Phi với cuộc tranh đấu cho tự do dưới sự lãnh đạo của Nelson Mandela, quả thật họ đã áp dụng đường lối của Mahatma Gandhi. Bây giờ tại Nam Phi người da trắng và người da đen có thể chung sống một cách khá bình an, đó là hướng đi rất thực tế.

Gần đây tôi có đến Patna, hay hình như Orissa (tên những thành phố và tiểu bang ở Ấn độ), tôi có gặp một viên chức của Quốc hội, và có đặt vấn đề Naxal, cũng như hỏi về các bộ lạc tại đó.



Ông ta nói đúng ra chính sách trong hiến pháp rất là hoàn hảo về nhiều điểm quan trọng để đối phó với vấn đề Naxal này, nhưng người thi hành những điều lệ đó không làm tròn bổn phận một cách nghiêm nghị nên mới đưa đến nông nổi này.



Có những thôn xóm trong vùng Naxalite, dân chúng không có điện nước, và họ không mấy thân thiện hay tin tưởng chính quyền và cảnh sát địa phương. Tôi nói với ông là muốn đổi mới Ấn độ phải bắt đầu từ những thôn xóm này.



Việc cải trương những thành phố lớn như Hyderabad , Bangalore , hay Calcutta thôi vẫn chưa đủ, phải có sự thăng bằng, phải lo cho những thôn xóm nghèo nàn nữa.



Tôi cũng đề nghị với vài giới chức ở Delhi là phải đến tận nơi tham khảo và chứng kiến, đừng nên chỉ dựa vào những biên bản báo cáo của chính quyền địa phương.



Những nơi này thường bị bỏ rơi không ai để ý tới, nên người dân dễ bị thất vọng và bất mãn. Bất mãn thường đưa tới tức giận, và tức giận đưa tới bạo động.

Jessica: Ngài có nghĩ là chính phủ Obama quá nhu nhược với Trung quốc không?



DL: Không, tôi không nghĩ thế, nhất là sau Copenhagen chính phủ mới này đã học được thêm kinh nghiệm. Dầu gì cũng còn mới quá, để phải chờ từ từ xem. Chính ra thì cũng có nhiều sự thông cảm và ủng hộ, như thế cũng quá tốt rồi. Buổi nói chuyện của chúng tôi sau khi ông lên làm Tổng thống phải nói là rất bộc trực thẳng thắng và có kết quả tốt.



(Note của người dịch: Hiệp ước Copenhagen xẩy ra tháng 12 năm 2009 trong cuộc họp của nhiều tổng thống, thủ tướng và lãnh đạo nhiều quốc gia, về việc chống biến đổi khí hậu, nhưng thành quả không được như ý – tên gọi: Copenhagen Accord)

NDTV: Ngài không có tí thất vọng nào hết nơi Obama sao?

DL: Không, không.



NDTV: Ngài không nghĩ là Obama đang “nịnh” (thân mật với) Trung quốc?



DL: Tôi không nghĩ thế. Khi tôi gặp Obama, tôi có nhắc đến câu nói của Thủ tướng Ấn độ - Ấn độ vẫn không sao bằng Trung quốc về lãnh vực kinh tế, nhưng Ấn độ có nền độc lập, có toà án nhân dân, có tự do ngôn luận và báo chí, và chính sách công khai; đó là những giá trị căn bản của Ấn độ mà Trung quốc không có.



Đây không những chỉ là giá trị của nước Ấn độ thôi, mà còn là giá trị của toàn thế giới. Nên tôi có gợi ý với TT Obama về G-8 và G-20 cũng rất cần thiết đó nhưng chủ yếu chỉ là tiền bạc kinh tế



(Note của người dịch: G-8 Summit - phiên họp hằng năm của một nhóm các nhà lãnh đạo chính phủ từ 8 quốc gia Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Nga, Anh và Hoa Kỳ, và G-20 - Hội nghị thượng đỉnh của các nền kinh tế lớn của thế giới gồm 19 quốc gia và Liên minh Âu châu).



Nhưng không may tất cả mọi người và nhất là ngành thông tin báo chí đều hướng về những giá trị vật chất này thay vì chú trọng vào giá trị căn bản thiết yếu. Tôi nói nước tôi… ám chỉ Ấn độ, vì tôi đã sống hơn nửa đời người tại đây… hình như giới chức Trung quốc bất đồng dữ dội khi tôi gọi Ấn độ là ‘nước tôi’ (my country).



Nhưng nếu mở cái khối óc của tôi ra mà xem, 100% Ấn độ trong đó. Chúng tôi là những đạo sư (Ngài dùng chữ guru), nhưng chúng tôi cũng là đầy tớ người hầu (Ngài dùng chữ chela), nhưng là những “chelas” rất được tin cậy.



Nên tôi nhắc lại với Obama lời nhắn của Thủ tướng Ấn độ rất quan trọng: các nước Tây phương có thể đầu tư vào Trung quốc nhưng nếu chỉ chú trọng về tiền, tiền và tiền, bên kia sẽ bắt đầu khởi tính kiêu ngạo vì bản tính si mê sẳn có. Niềm hãnh diện thực sự phải có căn bản.



Bởi vậy nhiều dân buôn lậu ma túy thường kiếm đưọc khối tiền nhưng bằng sự bất lương, nếu họ còn tự hào nữa thì quá xấu xa không đúng không tốt. Tiền bạc rất quan trọng nhưng phải đặt trên căn bản đạo đức, như thế mới có hãnh diện được.



Ở Trung quốc tiền của vào từ Đài loan, Châu âu, Mỹ quốc, không bao nhiêu từ Ấn độ. Rồi họ lợi dụng nhân công rẻ mạt khai thát nguồn lợi. Bốc lột như thế xẩy ra vì không có liên minh lao động, không có tiếng nói của người làm công. Rốt cuộc cũng chỉ vì đồng tiền, vì kinh tế, vì khoa học, chứ chẳng bao giờ dựa trên căn bản giá trị nội tâm. Phương Tây cũng đang gặp phải tình trạng khủng hoảng.



Mới đây tôi vừa đi thăm Nhật bản, giới trẻ ở Nhật cũng than phiền cuộc sống của họ nhiễu nhương đầy ấp những khó khăn, khắc khoải lo âu, cô đơn hiu quạnh, và vì thế nên tỷ lệ tự vẫn đang trên đà tăng mạnh tại Nhật. Cuộc sống vật chất ở Nhật bản tương đối đầy đủ hơn so với Ấn độ, nhưng về tinh thần thì thế hệ trẻ người Nhật có rất nhiều vấn đề.



Ngay tiểu bang Sikkim miền Tây Ấn độ, một người bạn của tôi cho biết là trong vòng mười năm vừa qua Sikkim phát triển rất là tốt, mở mang về mọi mặt, nhưng đồng thời nhiều vấn đề xã hội như nghiện ngập, tình trạng khẩn trương, cuộc sống nhiều stress cũng theo đó mà tăng trưởng.



Như vậy rõ ràng thế giới vật chất và tiền tài danh vọng chi đem đến tiện nghi cho thân thể mà không giúp ích gì cho phần tâm linh cả. Chỉ bằng cách nương tựa vào tinh thần của tôn giáo tín ngưỡng nhưng không quá đặt trọng vào niềm tin mà phải có đạo lý luân thường và nguyên lý thế tục nữa.


NDTV: Kính thưa Ngài, bây giờ con xin nhường câu hỏi đến một người muốn biết về tiền bạc, nhân lúc đang thảo luận vấn đề này.



Wolfgang: Kính lễ Ngài, thật là một nhân duyên lành được trao đổi với Ngài hôm nay. Con từ nước Austria qua đây. Con nghỉ việc, bỏ gia đình, bỏ cuộc sống xa hoa tiện nghi của phương trời Tây tìm về đất Phật cũng như bao người trẻ khác có mặt ở đây.



Cuộc sống thoải mái hình như vẫn có cái gì đó thiếu sót, chưa đầy đủ trọn vẹn, chắc là cái giác ngộ tâm linh vẫn được nghe nhắc nhở đến. Nên con và các bạn tìm tới những nước Á châu, sống đời đạm bạc, làm việc từ thiện, đọc sách - rất nhiều sách của Ngài – và tìm kiếm một cái gì đó giá trị hơn.



Câu hỏi của con là khi mình nhận thức được ý nghĩa của cuộc sống không những chỉ căn cứ vào tiện nghi vật chất, thì có nên ghép chung cuộc sống vật chất này với nhu cầu tâm linh cần thiết, hay nên chối bỏ hẳn tất cả vật chất để có thể dễ dàng tìm con đường chân lý hơn?


DL: Ồ, phải có cả hai chứ. Giá trị vật chất nữa. Có bao giờ tôi khuyên ai đi tìm chân lý mà phải trở thành gã ăn mày đâu… như thế đâu có tốt lắm đâu. Dĩ nhiên là nếu đi sâu lên núi Hy-mã-lạp-sơn kia, có thể bạn cũng sẽ tìm được những vị ẩn cư, những bậc thánh tăng hoàn toàn trần truồng, không ăn uống mà vẫn sống.



Nhưng có bao nhiêu người làm được như thế. Phần đông sẽ chết đói chết lạnh hết. Cho nên việc khuếch trương vật chất cũng rất cần thiết. Dù vậy cũng vẫn chưa đủ để nuôi sống cả hằng 6 triệu dân, như tại vùng cực nam Phi châu và nhiều quốc gia Á châu nữa..



Chính cả Ấn độ đây, có những nơi cần phải phát triển kinh tế nhiều hơn nữa. Và đây cũng là dịp để chúng ta nhắc đến nguyên lý Marxist, trên nguyên tắc đạo đức, nó rất hữu hiệu… tức là chia đồng mọi người cùng hưởng.


Một vài trăm người trở thành triệu phú trong khi đó có hằng trăm ngàn người càng ngày càng nghèo hơn. Cứ thử nhìn hiệp chủng quốc Hoa kỳ mà xem… một cái khoảng cách thật là lớn… nhưng rồi nhìn lại những xã hội chủ nghĩa lừng danh coi, cũng có cái hố sâu thăm thẳm cách biệt một số người giàu sụ và đầy quyền lực với phần thường dân còn lại nghèo xác xơ, không đủ ăn đủ mặc.



Chúng ta vẫn còn cần rất nhiều phương tiện phát triển, nhưng đôi khi chúng ta cũng tin tưởng một cách mù quáng rằng nếu có đầy đủ tiện nghi vật chất là mọi khó khăn của loài người đếu biến mất.



Suy nghĩ như vậy là không thực tế, là sai lầm, và rất thiển cận. Vì chỉ nghĩ đến cái tiện nghi của cơ thể.. Chúng ta ai cũng có kinh nghiệm qua khi tâm bình an nhưng thân hơi chật vật khốn khổ một tí cũng không sao, cũng okay… nhưng khi tâm bất an cho dù đầy đủ xa hoa vật chất cũng không làm cho chúng ta vui được.



Một tinh thần bình thản an lạc có thể xoa dịu một thân xác ốm đau. Cho nên không thể lơ là cái tâm của ta. Đời sống tâm linh không có nghĩa là phải có Chúa, có Phật, chỉ cần làm sao để có bình an, thảnh thơi, điềm tỉnh. Thực tập hạnh từ bi sẽ đem lại an lạc cho tâm, lợi lạc vô cùng.


NDTV: Và bây giờ con xin để Ngài nghe một câu hỏi khác của một người không có mặt tại đây đã cho chúng con thâu câu hỏi của cô ta từ Delhi . Tên cô là Sonal Man Singh, cô là một vũ sư danh tiếng.


Sonal: Con xin cầu chúc Ngài vạn niềm an lạc, Ngày con còn là một cô bé mặc váy đầm đồng phục, Ngài lúc đấy mới 16 tuổi, Ngài đến thăm trường học của con, con khoe Ngài tấm ảnh của Ngài con cất giữ trong cặp, Ngài đã cười thoải mái giọng cười run run thánh thoát, rồi Ngài ôm con. Trời ơi, được Ngài choàng tay ôm, con như người vừa rơi xuống dòng nước xoáy cuồn cuộn của sông Hằng.



Kính lạy Ngài, Ngài là anekshatru (?), Ngài là yudhpurush (?), Ngài chính là tất cả. Con kính chúc Ngài sống thêm thật là nhiều năm nữa, đầy ấp với tiếng cười hồn nhiên truyền cảm của Ngài, để đem lại niềm vui và vẻ đẹp cho mọi người và cho cuộc đời.



Câu hỏi duy nhất của con là… làm sao Ngài giữ được như thế? mặc dù hằng ngày phải va chạm đối mặt với biết bao vấn đề khó khăn của cuộc sống thế gian. Thật là fantastic!

NDTV: Làm sao Ngài giữ như thế được?



DL: Tôi đâu có cách nào khác hơn đâu. Nếu dùng chất kích thích hay rượu bia thì chỉ tự hủy hại thân thể mình. Nhưng chúng ta có một cái trí óc thông minh tuyệt vời có thể suy nghĩ xét đoán cả về lý lẽ và sự thật. Phải trưng dụng nó tới mức tối đa và phải thành người thực tế.



Vào thế kỷ thứ 8, có một đạo sư Phật giáo thường khuyên: khi nào phải đối diện với khó khăn, nhìn thẳng vào khó khăn đó, nếu không giải quyết được nó, buông nó ra, không lo nghĩ đến nó nữa. Thế thôi, một lời khuyên rất là thực tế

NDTV: Cái nhìn lạc quan của Ngài thật là hi hữu.



NDTV: Con cũng muốn hỏi một câu. Con chưa từng gặp một vị lãnh đạo tinh thần hay lãnh đạo quốc gia nào mà được ưa chuộng thương mến bằng Ngài. Và thật là tài tình vì nhiều người khi được hâm mộ như thế thường trở nên hống hách, nhưng Ngài thì không bao giờ như vậy.

DL: Ồ tôi hiểu rồi… tự chủ… lại nữa có những câu thần chú mỗi ngày tôi đều phải tụng, như thế này: “khi mà mọi người tôn sùng, khen thưởng anh, anh phải nghĩ mình tồi tàn nhất” tôi luôn nhớ nghĩ đến câu kinh này. Ngoài ra một vị tổ trường phái Nalanda vào thế kỷ thứ 8 cũng có nói: “khi có ai đó khen bạn, thì cũng có người khác đang chê cười bạn” tôi rất thích chiêm nghiệm câu này.

NDTV: Ha, thế là huề cả làng…



DL: Đúng rồi, đó là thực tế.



NDTV: Bây giờ con xin được mời Tracy Chrisman đến từ Anh quốc, không biết Tracy đang ở đâu, xin cho biết… dạ mời.



Tracy: Kính bạch Ngài con muốn hỏi thể lệ nào được sử dụng để tuyển chọn một Đạt lai Lạt ma kế tiếp, Ngài có nghĩ là phải tiếp tục truyền thống để không xẩy ra một lần nữa như Ngài Panchen Lama bên Trung quốc.

NDTV: Dạ con muốn đuợc giải thích thêm về câu hỏi của Tracy, tức là dân Tây tạng đã chỉ định ngôi vị Panchen Lama rồi, nhưng Trung quốc không chấp nhận nên họ tự chỉ định một vị mới. Nếu Đạt lai Lạt ma không có kế thừa, hoặc giả, có vị kế thừa rồi mà Trung quốc lại cho ra một Đạt lai Lạt ma khác nữa thì làm sao?



DL: Vâng những người (Không dùng từ này) Trung quốc thật có quyền hành, họ quá chuyên môn trong vấn đề tạo thêm những thứ không cần thiết.



Bây giờ có hai Panchen Lama, một họ gọi là Penchen Lama “chính thức” (official), và một Panchen Lama của lòng người Tây tạng… chỉ thêm rắc rối, thêm phẫn uất bực bội…



Vậy mà cũng chưa đủ, họ nói sẽ tìm một đứa trẻ trong những gia đình biết tùng phục chế độ của họ để đưa lên thay thế tôi nếu tôi chết. Vậy là sẽ có thêm một Đạt lai Lạt ma “chính thức”, và họ sẽ lựa người Tây tạng, hoặc người vùng núi Hy-mã-lạp-sơn, hoặc người Mông cổ… thời gian sau này nhiều sắc dân cũng dựa theo truyền thống Phật giáo Tây tạng để cũng có tái sanh, nên họ có thể dễ dàng chọn lựa hơn nếu họ muốn có một Đạt lai Lạt ma tái sanh.

NDTV: Vậy ý tưởng của Ngài thế nào trong vấn đề phải chọn người kế thừa chứ ạ. Dạ… con biết con hỏi câu này hai lần, chắc số phận con giống người phóng viên tuần báo New York Times quá… xin Ngài đừng nổi cáu… nhưng con phải hỏi, ý của Ngài ra sao? định đoạt ngôi vị ngay trong đời này hay sao?

DL: Tôi không mấy lo lắng về vấn đề này. Hình như Đảng (Không dùng từ này) Trung quốc quan tâm đến trụ sở Đạt lai Lạt ma hơn tôi… vì chính trị, dĩ nhiên rồi, chuyện ngớ ngẫn quá đi thôi… Nhưng nói tóm lại chắc còn lâu, tôi vẫn còn khỏe mạnh mà, chỉ trừ phi tôi tự sát, hehehe… còn lâu, 15-20 năm, không sao, 30 năm không chừng…

NDTV: Dạ thưa bây giờ là câu hỏi cuối cùng, Cô Katherine Schwitz, cô có ở đầu giây không? Xin mời…



Katherine: Kính Ngài, trước nhất con xin kính mừng sinh nhật Ngài. Ngài vừa nói 10-20 năm nữa… làm sao đủ, thôi… ráng thêm 75 năm nữa đi ạ.



NDTV: À há, thêm 75 năm nữa… ý kiến hay đó.

DL: Chắc không được đâu, quá dài… không thể, nhưng 100 năm chắc được.

NDTV: Một thế kỷ.

DL: Vừa rồi tôi được diện kiến một cựu Tổng thống của Ấn đồ, ông là một khoa học gia rất giỏi…

NDTV: Abdul Kalam



DL: Ông nói bố ông sống đến 103 tuổi. Và trước đó tôi cũng có gặp một vài bộ tộc Tây tạng, có người 103, 104 tuổi… rất có thể con người sống được đến 110.



Tục truyền rằng có những đạo sư Tây tạng từ cả 200 năm về trước đã tiên đoán tôi sẽ sống đến 113 tuổi… cũng vậy có một lần vào khoảng thập niên 60, có lần tôi nằm mơ thấy mình ăn mừng sinh nhật thứ 113, hai năm sau đó tôi nghe về sự tiên đoán này, con số giống nhau… (cười). Tôi cũng có hỏi bác sĩ sau khi họ mổ tôi mấy năm trước đây.



Có lần giữa đại chúng đông người tôi nói câu chuyện sống 113 tuổi này, có người thật sự tin là Đạt lai Lạt ma có khả năng tự trị (healing power). Đùng một cái tháng 10, 2008, họ đưa tôi lên bàn mổ… (cười), còn đâu khả năng tự trị nữa, quá rõ ràng rồi, khoa học chứng minh Đạt lai Lạt ma chẳng có quyền năng chi hết.



NDTV: Chỉ có mình Ngài quá thành thật để nhất định nhận rằng mình không có khả năng gì hết. thiếu gì những giáo chủ, những “người của Thượng đế” vỗ ngực phô trương ta đây có khả năng huyền bí.



DL: Sau khi mổ, tôi trở lại để bác sĩ khám lần cuối, một ông bác sĩ gọi tôi bằng “người bệnh nhân trẻ” (young patient), tôi cãi lại tôi đã 73 tuổi, ông ta bảo “tôi biết tuổi của Ngài trong giấy tờ đây, nhưng tôi khám thấy thân thể của Ngài mới 60 tuổi mà, nên Ngài là bệnh nhân trẻ của tôi.”



NDTV: Hy vọng Ngài sẽ như thế mãi… Katherine, xin tiếp tục câu hỏi.



Katherine: Da thưa câu hỏi của con là thời gian gần đây có dư luận cho rằng người nữ sẽ được truyền Tỳ Kheo Ni giới (full ordination) trong truyền thống Phật giáo Tây tạng, nhưng chính Ngài có nói tại cuộc hội thảo Phật giáo ở Hamburg năm 2007 là việc truyền giới cho nữ tu sĩ chắc khó thành vì có rất nhiều những trở ngại, và vì cái tư tưởng cổ điển của xã hội không chấp nhận người nữ xuất gia.



Nhưng năm vừa rồi Ngài cũng có nói có thể Ngài sẽ tái sanh làm người nữ, và Đạt lai Lạt ma biết đâu chừng sẽ mang thân nữ trong kiếp tới. Ngài nghĩ thế nào? Truyền thống xã hội Tây tạng có chấp nhận một Đạt lai Lạt ma nữ giới không, trong khi họ chưa thể chấp nhận cho người nữ đi tu và thọ giới?

DL: Câu hỏi này không được chính xác cho mấy… Giới Tỳ kheo ni trong đạo Phật là giới cao nhất của một người nữ. Cũng có một vài lưỡng lự ngập ngừng trong vấn đề, nhưng không phải vì xã hội hay người đời không chấp nhận.



Phật cho phép cả hai, Tỳ kheo và Tỳ kheo ni được thọ giới, Phật cũng nói cả nam nữ đều có khả năng thành Phật. Cái phần kỷ thuật mới chính đáng. Giới ‘vinaya’ (trong Luật tạng – Vinayapitaka) phải được giữ và tôn trọng theo đúng luật ‘vinaya’, đó là phần kỷ thuật rắc rối và là nguồn gốc của những do dự đó.



Nhưng những kiếp sau nếu mang thân nữ nhân mà có hiệu lực hơn qua truyền thống và cách thức tâm linh, thì tôi không nghĩ có vấn đề gì, và chính tôi, tôi cũng không màng.

NDTV: Vậy là Đức Đạt lai Lạt ma thứ 15 có thể là người nữ. Ok Swati, xin đặt câu hỏi.



Swati: Kính mừng sinh nhật Ngài, con là một nhà tâm lý học sinh sống ngay tại Dharamsala, xin Ngài cho chúng con biết làm sao để chỉ dẫn giới trẻ Tây tạng sinh ra và lớn lên tại Ấn độ đầy dãy những ham muốn tham vọng, để họ có thể tự đối phó với mâu thuẫn, và giải quyết những rối loạn trong cuộc sống của họ.

NDTV: Giới trẻ sinh ra và lớn lên ở Ấn độ, đây là nhà… chưa bao giờ bước chân đến đất Tây tạng.



DL: Theo như tôi nghĩ, chung chung thì chính cái truyền thống văn hóa Tây tạng và giáo dục theo Phật giáo Tây tạng đều được xem rất quan trọng, như chính mẹ đẻ của mình, cho nên suy nghĩ như thế đưa đến những khác biệt đáng kể.



Nhiều người Tây tạng thế hệ đầu đều phải trải qua khổ hạnh, có người chết vì bị đánh đập, bỏ đói, ngục tù, như chính ông bác sĩ của tôi và nhiều người tôi quen, nhưng hầu như ai cũng giữ được một nội tâm khá vững chắc và điềm tĩnh.



Có một lần trong buổi hội đàm với các nhà khoa học về chủ đề “sự điềm tĩnh của tâm”, họ cũng đồng ý và rất là ngạc nhiên là các vị này, tuy thân xác trải qua nhiều hình phạt đớn đau, nguy hiểm cả đến tính mạng nhưng tâm họ rất an.



Có một vị thầy năm nay đã 93 tuổi, ngài trốn thoát khỏi gông cuồm (Không dùng từ này) và đến ở tại tu viện đây vào giữa thập niên 80. Ngài có kể cho tôi nghe 18-19 năm trong lao tù (Không dùng từ này) (gulakhs), đôi lúc ngài phải đối diện với nguy cơ – tôi hỏi nguy cơ gì, thì ngài bảo nguy cơ không còn giữ được lòng từ bi đối với bọn hung thần.

Chính thế, ngài chẳng lo cho thân mạng mình, mà chỉ lo mất đi lòng từ bi đối với những kẻ hành hạ mình. Rất là cần thiết phải cố gắng giữ được từ bi, mới có thể mang bình an đến cho tâm mình.



Giới trẻ Tây tạng hiện nay, sanh ra và lớn lên trong một môi trường chỉ có khí thế giống Tây tạng chứ không thật sự Tây tạng. Họ vẫn mang những đặc tính Tây tạng, nhưng những người đã từng sống bên Tây tạng, từng trải qua khó khăn khồ đau nhiều hơn (mới biết được).



Một số dân địa phương vùng Kulu Manali hay có thái độ giận dữ. Những thế hệ Tây tạng trước, cả ngàn người phải đi đào kinh làm đường, nhưng họ lại là những người rất điềm tĩnh, rất thanh bình. Còn giới trẻ thời nay có thái độ cư xử khác biệt. Nhưng vẫn không đến nỗi. Cả người dân tại Dharamsala đây cũng okay.


NDTV: Mọi người đều đang gật gù có vẻ đồng ý với Ngài.



DL: Đây là dấu hiệu suy đồi của những di sản văn hóa bên trong Tây tạng. Bên ngoài chính dân Tây tạng đang cố gắng thiết lập một cộng đồng Tây tạng cho dù cũng khả dĩ lắm rồi, nhưng vẫn còn cần rất nhiều công việc xây dựng.



Vào thập niên 60, chúng tôi được sự giúp đỡ tận tình của chính phủ Ấn độ và Thủ tướng Pandit Nehru, để tạo lập một hệ thống giáo dục cho thanh thiếu niên trẻ, bao nhiêu chi phí vận động đều do chính phủ Ấn đài thọ. Họ còn thiết lập một Ủy ban đặc biệt chuyên lo xây trường học cho người Tây tạng, ngõ hầu giúp cho Tây tạng giữ gìn nền văn hóa riêng biệt.



Nhưng cũng có bị ảnh hưởng của chương trình giáo dục cơ bản của Ấn độ, nên có người cho rằng cơ cấu này không được thích hợp cho lắm. Có nhiều dấu chấm hỏi.



Ngày xưa nền giáo dục của Ấn độ cũng theo lề lối tương tự như trong một tu viện, nhưng sau này với sự xâm nhập và thống trị của Anh quốc, lối giáo dục thời hiện đại cũng không còn mang tính cách thân mật thầy trò, nhiệt tâm trao truyền, và cũng chẳng nặng về đạo lý.



Bởi vì nền giáo dục này với một ngàn năm chịu ảnh hưởng của thực dân Anh, dựa trên luân lý Giáo hội (La mã). Với thời gian trôi qua đi, bây giờ Ấn độ không còn chịu ảnh hưởng của thực dân và Thiên chúa giáo nhiều nữa, nhưng giá trị gia đình cũng vẫn trên đà giảm suy.



Thời gian Thống đốc Indira Gandhi ji còn có thẩm quyền, tôi thường hay có dịp trò chuyện thân mật với bà và có đề nghị xem lại hệ thống giáo dục tại những cơ sở gần dẫy Hy-mã-lạp-sơn này. Bà đồng ý và có đề cử ba vị giáo sư từ những trường đại học Delhi về đây nghiên cứu và bổ túc cho chương trình, nhưng rồi bà bị ám sát, nên công việc chỉnh sửa lại bị đình trệ.



Hệ thống giáo dục của Ấn độ và Tây tạng cần được nghiên cứu và bổ túc thêm hơn, nhất là về vấn đề đạo lý luân thường, mà không dính dáng nhiều đến tôn giáo. Vì Ấn độ là một quốc gia đa tín ngưỡng nên không thể chọn một tín ngưỡng duy nhất nào hết.



Chỉ cần phát huy tình thương, lòng từ mẫn và tha thứ, phần đông tôn giáo nào cũng khuyên như thế. Cả những người không không theo tôn giáo nào cũng có thể thực tập những đức tính này. Nhiều kết quả từ các cuộc nghiên cứu xưa nay cho ta biết sự nhiệt tâm của mọi người là một yếu tố rất quan trọng trong cả đời sống gia đình và xã hội.



Ai cũng biết loài người là động vật xã hội, sống có tập thể. Phải có sức mạnh tình cảm đưa chúng ta gần nhau hơn. Hận thù chia rẻ không thể đưa đến chung sức hợp tác với nhau. Động vật xã hội mà không có sự hợp tác thì cũng bằng thừa, căn bản trường tồn phải dựa trên nền tảng của sự tin cậy và tình bằng hữu.



Tình bằng hữu phải có sự tín nhiệm. Tín nhiệm và nhiệt tâm với nhau. Nếu con người sống ích kỷ không nghĩ đến người khác thì thế nào cũng nẩy sinh ý tưởng và ý muốn lạm dụng bốc lột, ăn hiếp bắt nạt, và lừa đảo gian lận người khác.



Nếu có sự nhiệt tâm trong người, tất cả thành viên của một xã hội đều biết tôn trọng và quan tâm đến quyền lợi và hạnh phúc của mình và của người. Sẽ không ước ao lừa lộc, ăn gian hay lợi dụng người khác. Đây là những đạo lý thế tục, tuy rằng tôn giáo cũng không dạy khác hơn, nhưng cũng không nên đưa tôn giáo vào đó. Nếu được như vậy quốc gia sẽ tiến mạnh,



Giới trẻ ở Ấn độ chạy theo tiền tài vật chất nhiều hơn, cho nên cũng có tham nhũng thối nát nhưng Ấn độ tương đối không đến nổi tồi tệ như nhiều quốc gia khác. Ở đâu có tham nhũng, chứng tỏ là ở đó thiếu đạo lý luân thường. Những nhà lãnh đạo tôn giáo thường giảng dạy về đạo đức nhưng chỉ tôn giáo thôi sẽ không đủ để chuyển hướng. Phải giới thiệu bộ môn đạo đức vào trường học ngay từ lớp mẫu giáo đi lên, mà không cần đã động đến một tôn giáo nào. Chỉ dành cho đạo đức thế gian mà thôi là đủ rồi.

NDTV: Con xin được kết thúc buổi nói chuyện hôm nay với một vị khách cuối cùng - Giáo sư Chaman Lal Gupta – cũng là một người bạn thân của Ngài. Xin GS chia sẽ với đại chúng một mẫu chuyện mà chúng tôi chưa được biết.

Chaman Lal Gupta: Lần đâu tiên tôi biết Ngài là vào năm 1999 cũng nhân dịp sinh nhật của Ngài. Chúng tôi đến từ Bharatidas Sahiyog Math. Sau khi nói chuyện với nhau một hồi lâu, tôi hỏi Ngài tại sao Ngài là một tu sĩ Phật giáo, Ngài cũng rất quan tâm và chủ trương thể thức ahimsa, không dùng bạo lực, nhưng sao Ngài lại còn ăn thịt thú vật, làm sao Ngài giải thích mối tương quan giữa hai sự việc này.



Và câu hỏi thứ hai tôi hỏi Ngài có nhược điểm nào không. Ngài trả lời là có hai khuyết điểm: cái tính ham mê đồng hồ và thích bắt chước. Trên đường bước ra ngoài từ giả, Ngài nắm cánh tay tôi và nhờ anh thợ chụp hình chụp một tấm ảnh cả hai chúng tôi, tấm ảnh ấy vẫn nằm trên bàn viết của tôi, và là một bảo vật quý giá nhất trong đời tôi.



NDTV: Kính Ngài, Ngài vẫn còn nghĩ chỉ hai thứ đó, ăn mặn và ham mê đồng hồ đeo tay, là nhược điểm duy nhất của Ngài? Nếu như thế thì cũng không đến nỗi nào, không mang thiệt hại cho lắm.



DL: Mắt tôi rất ưa thích đồng hồ, một trong những khuyết điểm lớn của tôi. Tôi có rất nhiều đồng hồ, đi đến đâu người ta cũng tặng tôi đồng hồ, nhưng cái đồng hồ này được xử dụng nhiều nhất (khoe đồng hồ đang đeo).



Cái đồng hồ đầu tiên tôi nhận được là do Tổng thống Roosevelt gởi tặng năm 1942, lúc đó t

Gửi bởi: hoaha Aug 11 2010, 07:15 AM

DL: Dĩ nhiên là vậy. Trước khi chính thức gặp nhau, tôi đã có liên hệ bẳng thư văn và điện thoại với Tổng thống Hoa Kỳ. Ông là một người tốt, cuối cùng rồi Hoa Kỳ cũng có một tổng thống đảng Dân chủ nên rất tốt cho nhân dân Hoa kỳ.



Trong một nước dân chủ, tư tưởng của ngưòi công dân tác động mạnh đến Nghị viện, cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện, và như thế cũng ảnh hưởng đến toàn thể guồng máy thống trị. Cho nên tại Hoa kỳ, người dân có tiếng nói mạnh mẽ, nghị viện phải nghe theo và ủng hộ. Và chính ở nước Ấn độ cũng thế, chính phủ Ấn ủng hộ Tây tạng tối đa.


NDTV: Nhưng chính quyền Ấn đã không cho Ngài phát biểu tại bang Arunachal Pradesh khi Ngài đến viếng thăm Tamang, họ nói Ngài chỉ thăm với tính cách một lãnh đạo tôn giáo. Có thể nào chính phủ Ấn cũng hơi nể nang Trung quốc quá đáng không, bởi vì Ấn độ cũng đang có chiến lược bang giao song song với Trung quốc. Điều này có làm Ngài ái ngại không?


DL: Tôi vẫn thường trả lời những câu hỏi liên quan đến phản ứng của chính phủ Ấn độ đối với vấn đề Tây tạng chúng tôi, rằng tất cả những gì có thể làm được chính phủ Ấn đã làm rồi, đã giúp chúng tôi đến mức tối đa rồi, từ lãnh vực giáo dục, cho đến phục hồi xây dựng, v.v… Còn về lãnh vực chính trị, nhất là những gì liên quan đến Tây tạng, thì phải nói chính quyền Ấn rất thận trọng trong chính sách và thái độ của họ đối với Trung quốc. Nhất là dạo sau này, lập trường của chính phủ Ấn càng kiên quyết cứng rắn hơn trước bởi vì có những thành phần trí thức, học giả, bình luận gia và nhiều người bắt đầu quan tâm nhiều đến Tây tạng.


NDTV: Dạ vâng, Ngài vẫn giữ tầm nhìn rất lạc quan cho Tây tạng. Chúng con xin mạn phép nghỉ một chút xíu, sau đó sẽ mở diễn đàn cho mọi người có quyền đặt câu hỏi. Chúng tôi xin trở lại với quý vị khán thính giả trong một thời gian ngắn.



~ ~ ~ o0o ~ ~ ~


NDTV: Quý vị khán thính giả đang tham dự một chương trình rất đạc biệt mừng sinh nhật thứ 75 của Đức Đạt Lai Lạt Ma, chúng tôi đang có mặt tại tu viện của Ngài tại Dharamsala nơi Ngài gọi là nhà trong cuộc sống lưu vong hơn nữa thế kỷ. Có rất nhiều tín đồ Phật tử, cũng như khách thập phương ngưỡng mộ Ngài - một bậc lãnh đạo tối cao nhưng lúc nào cũng có thái độ bình dân trò chuyện thân mật cười đùa với mọi người. Chúng ta sẽ có nhiều câu hỏi và sẽ nghe chính Ngài Đạt lai Lạt ma thứ 14 trả lời, nhưng trước nhất con xin được đọc một lời nhắn rất đặc biệt từ Delhi gởi đến Ngài, do nhiếp ảnh gia Raghu Rai, người đã từng theo chụp ảnh Ngài từ nhiều thập niên qua.


Tin nhắn của ông Raghu Rai: Con xin quy kính đảnh lễ Ngài, và kính mừng sinh nhật thứ 75, và nguyện chúc Ngài luôn giữ tác phong oai hùng tráng kiện như dãy Hi-mã-lạp-sơn. Ngài biết chúng con rất yêu thương kính phục Ngài, nhất là con đây, mỗi khi được dịp kề cận bên Ngài.



Tất cả thân tâm con đều được vun bồi tưới tẳm bằng năng lực sức sống dồi dào tỏa ra từ Ngài. Một vị tăng cao thượng, một con người tiến hóa.



Đây là câu hỏi của con: “Kính xin Ngài làm sao hòa điệu giao kết với những năng lượng siêu phàm nào đó để vì chúng sanh, và vì dân Tây tạng, làm sao ấn định được khi nào mình có thể trở về Tây tạng trong huy hoàng, để con được phép đi theo hầu Ngài và chụp hình kỷ niệm chuyến đi vô tiền khoáng hậu này.” Con kính dâng tất cả lòng yêu thương và cầu chúc mọi an lành đến với Ngài.


NDTV: Và câu hỏi của Raghu cũng là câu hỏi của rất nhiều người. Vậy thì con xin được hỏi thêm là từ tận thâm sâu cùng cốc trong đáy lòng của Ngài - con hỏi thế vì con biết Ngài rất thực tế - Ngài có nghĩ là sẽ bước chân về nước Tây tạng trong kiếp này không?


DL: Nhất định là Yes!


NDTV: Ngài vẫn tin như thế à?


DL: Chắc chắn là như vậy. Trước nhất tinh thần của người Tây tạng vẫn còn bên trong xứ sở Tây tạng cho dù đã có biết bao thay đổi, phát triển, mở mang, cũng như sự nhồi sọ và nhiều cách trừng phạt tra tấn khác, tinh thần bất khuất của Tây tạng vẫn tồn tại mạnh mẽ và không suy thoái.



Ngoài ra Trung quốc cũng có hơn 200 triệu dân theo đạo Phật, theo một vài thống kê, trong đó cũng có những lãnh tụ đảng, và viên chức cao cấp, cho dù bên ngoài họ phải chịu nhận là “(Không dùng từ này) vô thần” nhưng bên trong họ hoàn toàn theo Phật giáo.



Trong bốn thập niên qua, nếu chúng ta xem xét kỹ lưỡng, thì cho dù chỉ có một đảng (Không dùng từ này), một chế độ, nhưng biết bao thay đổi, họ có làm được những gì như trong chủ trương của đảng đâu… thế nên cho đến giây phút này, chủ trương đó vẫn không thiết thực. Một ngày nào đó chẳng chóng thì chày họ cũng phải chấp nhận chủ trương của họ không thực tế, và còn rất là phản lao động nữa.


NDTV: Bạch Ngài có bao giờ Ngài cảm thấy – cho dù Ngài là một vị lãnh đạo tinh thần cho mọi người, nhưng tận bên trong trái tim, Ngài vẫn chỉ là một người phàm phu - Ngài có cảm thấy như trong việc tranh đấu cho tự do của dân tộc Tây tạng này, thời gian đã trôi qua quá nhiều rồi, không còn kịp nữa không?


DL: Có chứ. Đã hơn 50 năm trôi qua rồi. Nhưng như tôi đã nhắc lúc nãy, các bạn nên nhìn thấy là đã có rất nhiều những đổi thay trong vòng hơn 60 năm qua, và vẫn còn thay đổi rất nhanh trên đất nước Trung hoa, cho nên cuộc tranh đấu rất có triển vọng, không thể như thế này mãi hoài được. Chúng ta phải tin tưởng như thế, nhưng nếu hỏi thời gian bao lâu, thì không tài nào trả lời được thôi.


NDTV: Có thể nội trong kiếp này không?


DL: Năm, mười, mười lăm năm… biết đâu đó, rõ ràng sẽ có những đổi thay.


NDTV: Có một lần Ngài cũng nói đùa “Hưu trí dưỡng già cũng là một nhân quyền”, và Ngài cũng phải được nghỉ hưu – nhân quyền của Ngài.


DL: Vâng, rất đúng, từ năm 2001 đến nay, chúng tôi đã thực hiện và hoàn thành một số việc ủy nhiệm hành chánh lãnh đạo mới, nên cương vị của tôi hiện giờ như đang “bán hưu” (semi-retired), tôi đang chờ đợi một ngày nào đó được thật sự về hưu.


NDTV: Ngài có thật sự nghĩ là khi Ngài nghỉ hưu, thì cuộc tranh đấu này sẽ không còn tồn tại giống như bây giờ, vì có rất nhiều giới trẻ ở Tây tạng không đồng quan điểm với Ngài. Họ nghĩ phương kế bất bạo động đã chẳng khuấy động một tí xíu nào cái nhẫn tâm lạnh lùng của Bắc Kinh, Họ thường nói phải áp dụng một chiến thuật mạnh bạo hùng hổ hơn. Ngài có lo lắng là nếu Ngài bước xuống, sự gì sẽ xẩy ra cho cuộc tranh đấu này không?


DL: Tôi chẳng cần lo lắng gì, vì tôi biết bên trong Tây tạng và cả thành phần lưu vong bên ngoài, theo tôi nghĩ có 95%, không chừng đến 99% người ủng hộ đường hướng bất bạo động không dùng áp lực vũ khí chiến tranh này..



Chỉ có một số rất ít những tổ chức hoàn toàn muốn được tự do ngay bây giờ ngay lập tức, đó là cái khác biệt. Nhưng chúng tôi vẫn thường đưa ra những diễn đàn tranh luận bàn thảo và cho người dân Tây tạng có quyền phát biểu tư tưởng, nhất là bên ngoài này – vì chính yếu tố dân chủ đã được trưng dụng một cách hoàn hảo giữa những người dân Tây tạng với nhau, và vì công việc tranh đấu này là của người Tây tạng, cho dân Tây tạng. Nên chúng tôi cũng có trưng cầu dân ý, và để cho người Tây tạng có toàn quyền trong vấn đề này.


NDTV: Như vậy nếu thí dụ mọi người đều ước nguyện có sự tự do trọn vẹn bằng cách dùng chiến thuật mạnh bạo hơn, Ngài cũng sẽ không cản ngăn họ?


DL: Như tôi đã thưa, hầu như 99% người ủng hộ đường hướng bất bạo động. Chỉ một số ít người không ưng. Đôi khi cũng rất khó giải thích vì dĩ nhiên ai cũng thấy có những thất bại đau thương bên trong Tây tạng.



Lâu lâu chúng tôi lại phải hỏi người dân cho chắc chắn… như hồi tháng 11 năm 2008 chẳng hạn, chúng tôi tổ chức một cuộc họp quần chúng rộng lớn ngay tại đây để nghe tiếng nói của người dân Tây tạng… thì dĩ nhiên chúng tôi cũng nghe những chỉ trích, cũng có những đòi hỏi độc lập tự do trọn vẹn, nhưng sự có mặt của chúng tôi sau đó đã được mọi người nhiệt liệt tán đồng. Thế nên cả hai bên lại cũng cứ tiếp tục hướng đi đó.


NDTV: Nhưng nếu phần đông người dân chuyển hướng, Ngài cũng phải chuyên hướng theo?


DL: Bắt buộc thôi.


NDTV: Vậy nếu phần đông đòi quyền tự trị thì sao?


DL: Tôi đâu phải là một bạo chúa độc tài. Rất có lý khi chúng ta chỉ trích hành động và chính sách của những kẻ độc tài tuyệt đối này, vô lý tôi lại đi hành sử như họ vì tôi là người chỉ trích họ cơ mà.


NDTV: Tại sao Ngài lại muốn nghỉ hưu? Cuộc chiến đấu cho tự do này sẽ đi về đâu nếu không có mặt Ngài?


DL: Aaah, vì tuổi tác… phải áp dụng tư tưởng dân chủ và để cho người dân tự quyềt định và có trách nhiệm, không thể là công việc của chỉ một người mà thôi. Tôi đã 75 tuổi rồi, người ta nghỉ hưu sớm hơn cơ, tôi đang chờ đợi để được thực sự về hưu.


NDTV: Ngài nói thật hay giởn chơi vậy?


DL: Nói thật đó. Ai cũng biết tôi có ba sứ mạng:


Sứ mạng thứ nhất là khuyến tấn một vài giá trị cần thiết, bất kể là người có tín ngưỡng hay không. Bởi vậy tôi được mời đến thăm rất nhiều nơi trên thế giới. Họ không mời vì tôi là Đạt lai Lạt ma nhưng vì trọng vọng cái tư tưởng của Đạt lai Lạt ma - nó có cái gì đó rất thiết thực và phù hợp. Đó là sứ mạng quan trọng nhất của tôi.


Thứ hai, tôi mong muốn có được sự hài hòa giữa các tôn giáo với nhau. Cả hai sứ mệnh này tôi thường gọi chúng là tư tưởng cổ điển Ấn độ. Nên tôi cũng thường dựa vào đó mà nói tôi chỉ là sứ giả của tư tưởng cổ điển Ấn độ, và đi đến đâu tôi cũng muốn chia sẻ và củng cố hai điều này. Cho đến ngày tôi nhắm mắt nằm xuống không còn thở nữa.


Và thứ ba là vấn đề Tây tạng đây. Nhưng khi thật sự nghỉ hưu rồi, tôi sẽ không còn vướng bận với sứ mệnh thứ ba này nữa, tôi sẽ có nhiều thì giờ và tâm huyết cho hai sứ mệnh quan trọng ở trên.


NDTV: Ngài có dự tính khoảng thời gian nào để chính thức nghỉ hưu chưa ạ?


DL: Thưa chưa. Cái khó khăn nhất là người ta đặt nặng niềm tin, cảm tình và quá nhiều mong đợi nơi tôi.



NDTV: Người ta không muốn Ngài nghỉ hưu, phải không ạ?


DL: Thì đó là cái khó khăn. Nhưng tôi cũng chỉ là một con người bình thường, tôi cũng phải có quyền lợi cho cuộc sống của tôi.


NDTV: Dạ thưa đúng, đó là quyền lợi của mọi người, nhưng chắc đối với Ngài thì hơi khó đấy, chắc chưa xẩy ra được đâu. Bây giờ con xin được mời bà Catherine Levine với câu hỏi kế tiếp.


Catherine: Thưa con đến từ Gia-nã-đại. Con đã theo học ngành triết lý từ lâu. Con rất hân hạnh được có mặt nơi đây nghe Ngài giảng dạy, và kính chúc happy birthday. Ngài đã khẳng định là tương lai của Tây tạng rất có triển vọng. Xin Ngài cho đại chúng biết từ nguồn gốc nào, từ khía cạnh nào đã cho Ngài những hy vọng này?

DL: Sự thật (Truth), lòng chân thành (Honesty) và tính chất công khai không che đậy giấu diếm (Transparency). Tiếng nói của chúng tôi tuy nhỏ bé nhẹ nhàng nhưng người ta tin tưởng. Bên kia, ít người tin được. Cho nên chính cái sự thật, lòng thành, công khai chẳng có gì che giấu là những điểm gốc cho chúng tôi hy vọng, và cũng là nguồn năng lựợng để tiếp tục công trình. Tôi có nghe một chương trình trên đài BBC nói về sức mạnh của Thượng đế, sức mạnh của tiền bạc, và sức mạnh của sự thật. Những cái này rất quan trọng. Nhưng phần nhiều người ta chỉ biết có sức mạnh của súng ống bom đạn. Ngoài ra còn có sức mạnh của kinh tế - siêu mạnh nữa là đàng khác, và những sức mạnh của tham nhũng, của dối trá, của lừa đảo gian lận, mờ ám. Phải củng cố lại sức mạnh của sự thật, từ đó chúng ta sẽ tự tin hơn, và làm tăng trưởng sức mạnh của thẳng thắn không vẫn đục mờ ám để có được niềm tin, và tình bạn.


NDTV: Bao nhiêu năm trời nay, chưa bao giờ Ngài mất niềm hy vọng sao? Không có một phút giây nào tự ngờ vực chính mình? Không khi nào nghĩ “bao nhiêu thập niên rồi mà cũng chưa đi đến đâu, chưa thay đổi được gì”, Ngài không có một phút nào mất niềm tin hay sao?


DL: Không, dĩ nhiên là có một vài thất vọng nhỏ nhoi lâu lâu cũng lóe lên, nhưng chủ yếu là như tôi đã trình bày - chỉ có sự thật và lòng trung thực. Cho nên khi có những buổi họp với giới chức chính quyền của bên kia, chúng tôi một mực giữ vững lập trường với sự thật, với cái chân thành và tấm lòng trong suốt, nên rất dễ dàng đàm phán về phía chúng tôi, nhưng bên kia lúc nào cũng có vẻ căng thẳng.

NDTV: Đó là một cách nói rất hay, nhưng nhiều người trong chúng con vẫn thắc mắc làm sao Ngài cỏ thể mãi hoài lạc quan như thế được. Và kế tiếp là câu hỏi của Jeremy Russell.. Xin mời.


Jeremy: Hình như con có nghe trong những lời bàn luận trước đây là Ngài vẫn cho rằng sẽ có sự thay đổi toàn diện của Đảng (Không dùng từ này) Trung quốc. Vậy xin Ngài cho biết những thay đổi này sẽ đến từ từ hay nhanh chóng cấp thời?


DL: Một vài trường hợp hư hư thực thực của Xã hội Chủ nghĩa dạo này tạo cơ hội cho rất nhiều dư luận. Trong thời gian khai sơ khi cuộc cách mạng bắt đầu diễn tiến, tất cả đều phấn khởi, và cống hiến hết sức lực.



Khi tôi đến Trung quốc khoảng năm 54-55, tôi có dịp diện kiến Chủ tịch Mao Trạch Đông rất nhiều lần, cũng như đã gặp nhiều tướng lãnh và viên chức cao cấp ở nhiều lãnh thổ. Tất cả những người tôi gặp đều có ý chí cống hiến toàn vẹn cho nhân dân, cho xứ sở. Nên thời gian đầu, tôi cũng có ấn tượng tốt cho chủ trương Marxist này.



Tôi có đề nghị “cho tôi nhập đảng” nhưng dĩ nhiên họ đâu có cho. Tôi nghĩ chính họ cũng biết là chế độ của họ không trường tồn, nên may mắn thay họ không cho tôi gia nhập (cười). Lúc bấy giờ thật sự chế độ Chủ nghĩa xã hội rất có giá trị, một đảng của người lao động, của quần chúng.



Tôi nghĩ không những họ thông thái hiểu biết mà họ còn là những người lao động bình dân, trên lý thuyết… Bây giờ đã đến thời điểm tôi cần nghỉ hưu, nhưng trước khi bước xuống, tôi thật sự muốn nhắn gởi Trung quốc vài điều: Trung quốc cần phải thiết lập nền Dân chủ ngay lập tức.



Một tỷ ba triệu người Hoa chưa bao giờ được huởng dân chủ tự do, và một con số rất cao ngưòi dân hoàn toàn vô học, không đưọc giáo dục. Phải thành lập một chính quyền trung ương, và phải có những đổi thay trong chế độ, trong guồng máy chính trị của đảng (Không dùng từ này).

Tôi nghĩ cái cần thiết tức thời nhất là có sự công khai và tự do trao đổi thông tin tài liệu. Một tỷ ba triệu người dân phải được quyền biết sự thật. Mờ ám che giấu họ là sai lầm, là trái luân lý. Một tỷ ba triệu người đó phải có khả năng phán đoán đâu là phải đâu là trái.



Những tài liệu tuyên truyền bóp méo sư thật xưa nay đều hoàn toàn không trong dự đoán. Có thể nếu còn đang trong một cuộc chiến nào đó, nội chiến hay ngoại chiến, hay qua một thời gian nguy kịch chẳng hạn, thì sự kiểm duyệt chặt chẽ mọi thông tin như thế cũng có thể chấp nhận được, đàng này một quốc gia tự do, không chiến tranh, thì không thể nào làm như thế.



Tôi mạn phép khuyên những người bạn Trung quốc của tôi hãy nhìn nước Ấn độ mà xem - bắc Ấn, nam Ấn, tây Ấn, đông Ấn, họ không nói cùng một ngôn ngữ, không viết cũng một loại chữ, không chung văn hóa sắc tộc nhưng họ thống nhất, không phân ly chia cách.



Mỗi người có ngôn ngữ riêng biệt, đôi khi không ai hiểu ai, nhưng họ đoàn kết hợp nhất. Vùng Kashmir cũng hơi có bạo động nhưng là những xung khắc với người Pakistan , chứ không phải người Ấn với nhau. Cho nên Trung quốc phải theo gương học hỏi từ nước láng giềng này.



Vì Ấn độ có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, không bị cấm cản kiểm duyệt, và Ấn độ cũng có một guồng máy pháp luật độc lập tự do. Trung quốc cần phải nới rộng ra và bắt đầu cho phép công khai thông tin, rồi dần dần thiết lập một tòa án dân sự độc lập thì mới mong tiến hóa. Rất cần thiết, và đầu tiên là đảng và guồng máy cai trị phải sửa đổi dần dần.

NDTV: Như vậy có nghĩ là Ngài vẫn tôn trọng chế độ Marxist. Ngài còn muốn nhập đảng không ạ?

DL: Có chứ. Nếu chỉ áp dụng trong học thuyết kinh tế thôi, thì tôi là Marxist.

Như vậy để cho quý vị biết một tí về hoài bão của Trung cộng. Nhưng tiếc thay, Đảng (Không dùng từ này) Trung quốc không còn là (Không dùng từ này) nữa.



Một nhà lãnh đạo, đã đưọc trao giải thưởng Nobel hòa bình, mà cũng là một người bạn thân tôi rất cảm mến, ngày xưa đã ủng hộ mãnh liệt xã hội chủ nghĩa của Trung quốc, vừa rồi gặp lại ông ta hai năm về trước, tôi có hỏi ông “người Trung hoa có thật sự có chủ nghĩa xã hội không?” Ông ta trả lời: “Hết rồi, giờ chỉ là chủ nghĩa tư bản (capitalist) và chủ nghĩa độc đoán (authoritarian).”



NDTV: Cả hai chủ nghĩa đó chung với nhau mới thực sự là thuốc độc khó giải tỏa. Bây giờ chúng ta sẽ được nghe lời tâm tình của một người bạn chí thân rất lâu đời của Ngài – đó là Giáo Sư Sharma, cựu hiệu trưởng trường Đại học Dharamsala. Xin GS chia sẽ cho đại chúng biết một mẫu chuyện vui nào giữa hai vị mà chưa ai biết đến.

Sharma: Câu đó hơi khó trả lời…



NDTV: Tại vị mọi người không được thân thiện với Ngài bằng GS.


Sharma: Tôi có rất nhiều những kỷ niệm ấn tượng với Ngài. Nhưng cái kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất là khi một người bạn gọi phone cho tôi thông báo tin khẩn là Đức ĐLLM sẽ rời bỏ Dharamsala ngay lập tức..



Đó là năm 1989. Chuyện gì đã xẩy ra tôi cũng chẳng cần thiết phải nói ra tại đây. Lúc đó là 9g rưỡi đêm, tôi không ngủ được, sáng sớm tinh sương tôi lên đường về đến đây tới văn phòng của Ngài vào buổi xế trưa. Quang cảnh cả trăm phóng viên nhà báo thợ chụp hình đầy ấp từ trong ra ngoài làm tôi càng lo sợ.



Họ không cho tôi vào gặp Ngài, tôi nhất quyết ngồi ngay ngoài cửa cho đến khi nào Ngài xong việc và tiếp tôi. Ngài rất là từ bi, một chập sau thầy thư ký ra thông báo Ngài sẽ gặp tôi vào lúc trước 6g chiều.



Khi Ngài xuất hiện trước ngưỡng cửa và nói với tôi những lời mà tôi không thể chia sẽ được ở đây. Ngay lúc ấy tôi ước gì nền đất dưới chân tôi mở ra nuốt tôi ngấu nghiến vào trong cho tôi biến mất. Tôi bị sốc nặng và xin được ngồi xuống.



Không biết sao tôi đã khóc như một đứa con nít, và Ngài đã bước đến ôm tôi… đó là kỷ niệm không bao giờ tôi quên được.
Tôi cảm niệm ơn trên tôi được biết và làm bạn của Ngài suốt 40 năm qua..

NDTV: Chúng con mong rằng Ngài chẳng bao giờ rời khỏi Dharamsala chỉ trừ khi rời nơi đây đề về lại Tây tạng mà thôi.

DL: Khi tình trạng khó khăn này xẩy ra, lúc đấy tôi đang hoằng pháp tại Hoa kỳ; có người hỏi tôi tính làm sao, tôi trả lời là nếu họ muốn chúng tôi đi thì chúng tôi đi thôi. Nhưng khi tôi về đến đây thì nhiều người bạn cũ của tôi, nhất là người bạn chí thân này nè, tình cảm ướt át quá đổi, nói rằng chỉ trừ khi rời đây để về lại Tây tạng, tôi không được đi đâu hết.



Dĩ nhiên trong một cộng đồng tập thể, thể nào cũng nẫy sinh những bất đồng không ít thì nhiều, nhưng chủ yếu là những người dân địa phương ở đây rất thật thà, họ không quan trọng hóa tiền bạc, tình bạn được xây dựng trên lòng tín nhiệm, tin hiểu nhau.

NDTV: Như vậy Ngài sẻ không bỏ Dharamsala mà đi

DL: Không.

NDTV: Chắc cũng chẳng ai cho Ngài rời nơi đây. Và bây giờ đến một nhân vật cũng rất kỳ cựu của Dharamsala, ông Ajay Singh.

Ajay: Trên thế giới ngày hôm nay, Ngài là một trong những nhân vật sáng chói cho toàn dân Tây tạng và cho cả hằng triệu tín đồ Phật tử. Đối với họ Ngài biểu hiện cho niềm tin, cho hy vọng; bất kỳ nơi đâu Ngài bước chân đến, Ngài đem vui tươi, hạnh phúc, an bình đến đó. Làm sao Ngài lại có thể nghĩ đến phải tìm người thừa tự - làm sao ai đó có thể nối nghiệp thay thế Ngài được?



DL: Việc chọn người kế thừa ngôi vị Đạt lai Lạt ma thì từ năm 1969 tôi đã tỏ ý đó rồi. Cho nên sớm muộn gì rồi cũng phải như thế, không là vấn đề tối quan trọng ở đây.



Quan trọng là tinh thần Tây tạng và công cuộc tranh đấu cho tự do, dĩ nhiên là sẽ được tiếp nối bởi chính dân Tây tạng. Chúng tôi đã bắt đầu có một chính quyền lưu vong, được dân chúng bầu chọn cứ 5 năm một lần cho dù có mặt của Đạt lai Lạt ma hay không, chính tổ chức và sự lãnh đạo này sẽ tồn tại và tiếp tục nhu cầu của người dân Tây tạng.



Còn về phần tâm linh, Tây tạng có rất nhiều tông phái Phật giáo, và cũng có nhiếu những thế hệ lãnh đạo trẻ hơn khoảng hai mươi ba mươi tuổi đời hiện giờ, họ sẽ là những vị nối tiếp trách nhiệm về phần tâm linh cho dân tộc và cả về công cuộc đấu tranh này.



Nhưng đồng thời người Tây tạng cũng muốn phải có người kế thừa ngôi vị Đạt lai Lạt ma này, vì truyền thống, cho nên chúng tôi - những thành phần lãnh đạo các tông môn, các trường phái cũng đã nhiều lần hội họp bàn thảo vấn đề này nhất là vào những năm gần đây, nhưng sự việc chưa có kết quả, chưa đi đến đâu hết.



NDTV: Ngài nói khi nãy có thể truyền thống trụ sở Đạt Lai Lạt Ma sẽ dần phai mờ đi, Ngài thật sự nghĩ thế à?

DL: Đúng thế. Cũng như đức Phật vậy… đâu có “trụ sở Phật” đâu nhưng lời dạy của Ngài vẫn tồn tại, chỉ cỏ tổ chức không còn mà thôi. Dĩ nhiển không thể so sánh được, nhưng những gì tôi nói, tôi thuyết giảng, những sách báo tôi biên soạn cũng sẽ tồn tại trăm năm về sau, đâu cần có cơ quan hay “trụ sở” nào.


NDTV: Không hề hấn gì nếu không có một Đạt Lai Lạt Ma thứ 15 sau Ngài à?


DL: Nhiều người mang cái cảm tưởng là truyền thống hiện thân Đạt lai Lạt ma tối quan trọng đối với Phật giáo Tây tạng, nhưng sự thật là không như thế. Thật ra thì rất có ích lợi trong việc đấu tranh giành độc lập tự do cho nước nhà, nhờ đó mà Tây tạng có tiếng nói, nhưng sau đó thì cũng chẳng thành vấn đề…


NDTV: Lần cuối cùng con gặp Ngài, Ngài nói “tôi không phải là đấng tối cao.”


DL: Đúng vậy. Tôi chỉ là một con người bình thường. Chắc chắn không nghi ngờ gì cả. Trong chuyến viếng thăm Israel đầu tiên của tôi, có một vài phóng viên nhà báo đến phỏng vấn tôi, tôi nói “tôi là một con người hoàn hảo” thật ra tôi muốn nói tôi hoàn toàn là một con người, một người bình thường, nhưng tôi dùng sai chữ [I meant to say “perfectly human”, but I said it incorrectly as “perfect human being”].



Thế là khi đến Tel Aviv, có những tờ báo đăng câu nói của tôi một cách hơi tiêu cực là “Đạt Lai Lạt Ma tự xem mình hoàn hảo” và họ nói tôi không thể nào hoàn hảo được. Đó cũng là một bài học. Nếu ai hỏi tôi về Adolf Hitler và sự tàn sát khủng khiếp của ông, dĩ nhiên là một Phật tử, tôi vẫn trả lời, cả đến Hitler, ít nhất khi ông còn trẻ cũng là một con người bình thường và có lòng từ bi

Gửi bởi: hoaha Aug 11 2010, 07:27 AM


Moi doc cuoc phong van Duc Dat Lai Lat Ma.
Barkha Dutt, Updated: July 06, 2010 20:07 IST
Giáng Kiết Tường dịch từ Anh sang Việt



SOURCE: http://www.ndtv. com/article/ india/in- conversation- with-the- dalai-lama- 35955





Tin từ Dharamsala: Ngài được xem là hiện thân Đạt lai Lạt ma thứ 14 khi vừa mới tròn 2 tuổi, năm nay Ngài đã 75. Nhân ngày sinh nhật thứ 75 này, cả hằng triệu tín đồ trên toàn cầu tưởng nghĩ đến Ngài trong ngày trọng đại đó. Đức Đạt Lai Lạt Ma cho biết có thể vị kế thừa Ngài sẽ không tái sanh, mà là một người được trao trọng trách kế thừa ngay khi Ngài còn sinh tiền.

Chúng tôi – chương trình truyền hình NDTV - được duyên may phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma riêng tại Dharamsala, nơi Ngài tạm thời trú ngụ cuộc đời lưu vong. Ngài cũng cho biết nếu Trung Quốc chọn vị Đạt lai Lạt ma thừa hành, vị này sẽ không mang hiệu lực hợp pháp nào cả.


Sau đây là bài phỏng vấn của chúng tôi


Đài NDTV: Chúng tôi xin giới thiệu với khán thính giả một vị lãnh đạo được cả thế giới ưa chuộng, kính nể nhất trong tất cả mọi lãnh đạo từ chính trị cho đến tôn giáo.



Đó là Đức Đạt lai Lạt ma, người đã được chọn là hiện thân của các vị Đạt lai Lạt ma trước Ngài – Ngài là kế vị thứ 14 - từ lúc mới 2 tuổi. Năm lên 6, Ngài được tấn phong và bắt đầu cuộc sống tu tập trong tu viện Phật giáo.



Hôm nay, nhân kỷ niệm sinh nhật thứ 75, chúng tôi rất hân hạnh được diện kiến Ngài ngay tu viện tại Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, là nơi trú ngụ tạm thời trong suốt cuộc đời lưu vong không những chỉ của Ngài mà còn cả mấy chục ngàn người Tây tạng cũng lưu vong với Ngài từ nữa thế kỷ qua.



Tại đây chung quanh chúng tôi cũng có khách thập phương - Phật tử cũng như khách du lịch - từ mọi nơi trên thế giới đổ về thăm viếng thành phố Dharamsala. Thành phố có tiếng và được biết đến nhiều nhờ gắn liền với Đức Đạt lai Lạt ma. Chúng con rất hân hạnh có mặt hôm nay đảnh lễ Ngài.



Tất cả chúng sanh khi đối diện với ngày birthday của mình, có người hân hoan vui sướng, có kẻ buồn rầu vì thời gian trôi qua quá nhanh, mình đã già nua… thế nhưng chúng con thấy Ngài vẫn trẻ mãi. Xin Ngài cho chúng con biết làm sao để lúc nào cũng có được tâm hồn trẻ trung như thế?


DL: Tôi nghĩ là phải ngủ cho đủ…


NDTV: Chúng con thì lúc nào cũng thiếu ngủ, chắc vì vậy đó.


DL: Chư tăng chúng tôi không dùng bữa tối, chỉ ăn sáng và trưa cho đầy đủ. Tôi nghĩ sức khỏe rất cần thiết, vì chính khoa học hiện đại cũng chứng minh rằng phải có cái tâm thanh thản lành mạnh mới mong có được tấm thân khỏe mạnh an bình và ngược lại.



Chính tôi đây, tôi cảm thấy tâm tôi rất an. Khi nào phải đối diện với đau đớn hay một khó khăn nào, tôi thường nhìn sự việc bằng một tầm nhìn nới rộng hơn, tổng quát toàn diện hơn, như thế sẽ bớt đi cái băng khoăng lo âu và giữ cho tâm được yên ổn nhẹ nhàng hơn. Đó cũng là một yếu tố quan trọng.



NDTV: Nhiều người diễn tả Ngài như có những vì sao long lanh trong mắt, mà thật vậy, khi Ngài cười, lúc nào cũng cười, chúng con thấy như có ngôi sao trong mắt Ngài thật đó. Lúc nào Ngài cũng đem niềm vui đến cho mọi người làm cho người đối diện vui tươi hơn, an bình hơn… Có phải lúc nào Ngài cũng mang thái độ tích cực như thế từ nội tâm, hay chỉ vì sự cần thiết phải giữ phong độ như vậy vì cả hằng triệu người lúc nào cũng theo dõi Ngài khắp mọi nơi?


DL: Không có đâu… như tôi đã nói tâm tôi lúc nào cũng khá an bình. Vã lại tôi nhìn mọi người, mọi chúng sanh cũng như tôi, thân thể chúng ta chẳng khác gì nhau… ồ, thì cũng có hơi khác tí xíu - như màu da nè, như lỗ mũi hơi to nè… nhưng thật sự chúng ta giống nhau thôi.



Nếu hỏi những khoa học gia về bộ não hay những tế bào thần kinh của tôi và của quý vị có khác biệt nhau không… bảo đảm là không. Chúng ta cũng giống nhau về cảm xúc, và cả về tâm thần.



Nên tôi chẳng bao giờ nhìn ông này là Tổng Thống, ông kia là Vua, bà nọ là Thủ tướng, hay anh là gã ăn mày… trong nhãn quang của tôi mọi người đều bình đẳng như nhau.



Khi gặp ai tôi chỉ nghĩ “đó là một con người, một chúng sanh, và đó là anh tôi, chị tôi, em tôi, v.v…” Như thế tâm tôi được an. Nhưng đôi lúc tôi cũng có những phút giây bất an.


NDTV: Ngài có biết giận không?


DL: Dĩ nhiên, dĩ nhiên


NDTV: Ngài cũng biết giận à?



DL: Ồ, nhiều lần lắm, nếu cô cứ hỏi những câu vớ vẫn, có thể tôi sẽ không nhịn được đâu.


NDTV: Ái cha, con sợ quá!


DL: Thật sự thì có một lần, hình như là ở tiểu bang New Jersey Hoa Kỳ thì phải, một cô phóng viên ký giả đã hỏi tôi nhiều câu rồi, cuối cùng cô ấy hỏi thêm là tôi muốn danh tánh và quyền lợi kế thừa trong tương lai sẽ ra sao. Tôi trả lời tôi là một tu sĩ Phật giáo, tôi không nghĩ tới vấn đề danh vọng như thế. Rồi qua vài ba câu hỏi và chuyên đề khác, sau đó cô ta lại hỏi tôi y như ở trên, và tôi cũng trả lời giống như tôi đã trả lời. Vài phút sau cô ta hỏi lại lần thứ ba, tôi nổi cáu…


NDTV: Dạ, con hiểu rồi ạ, con sẽ hỏi chỉ một lần thôi.


DL: Tốt, tốt lắm.


NDTV: Nhưng khi nổi giận, Ngài có để lộ ra bên ngoài không? Với xã hội hiện đại và cuộc sống thành thị sô bồ hấp tấp vất vả này, người ta rất dễ nổi giận, nóng nẩy, cáu kỉnh. Làm sao để kiềm chế được cơn giận của mình, theo ý tưởng và lời khuyên dạy của một người tu đạo Phật, một vị lãnh đạo tâm linh?


DL: Nếu tôi có hơi cáu hay bực mình vì một chuyện gì đó do người khác làm, có thể tôi sẽ biểu lộ nó một chút rồi cho qua. Nhưng nếu là chuyện bực mình lớn hơn, tốt hơn hết tôi tách biệt ra khỏi cái giận đó, và nhìn nhận nó là một cảm xúc… ngay lúc đấy cái giận sẽ thuyên giảm, tôi kinh nghiệm như thế đó. Và rồi tôi sẽ trao đổi chia sẻ với bạn bè, như thế tôi tự mang lại bình an cho tâm tôi hơn.



Mỗi hoàn cảnh sẽ khác nhau, không thể dùng một phương thức đặc biệt nào cả. Chỉ có cách là phải cố gắng có một thái độ bình thản an nhiên để đối phó với hoàn cảnh đó. Cũng như nếu bạn có một thân hình khỏe mạnh và một sức đề kháng vững chắc thì làm sao con vi khuẫn vi trùng nào xâm nhập, làm gì được bạn; cũng vậy khi cái tâm của bạn an bình, thì nếu sóng gió có đến, cảm xúc có tiêu cực cách mấy đi nữa, nó cũng chỉ tạm thời, và chỉ thể hiện phớt bên ngoài, không làm giao động được nội tâm tuốt bên trong.


NDTV: Bây giờ xin Ngài cho chúng con biết lúc nãy Ngài có nhắc đến bộ não của con người, Ngài cũng nổi danh từ nhỏ là một người luôn mang tính hiếu kỳ muốn tìm hiểu khoa học, và hình như con cũng có đọc đâu đó là Ngài cũng có một mô hình bộ não người trong tư phòng và cũng hay tháo gở nó ra để học hỏi thí nghiệm xem xét tìm hiểu… rất hiếm khi có những vị lãnh đạo tâm linh mà lại thật sự quan tâm nhiều tới khoa học như thế, tính khí đó từ đâu mà ra ạ?


DL: Theo thiển ý của tôi thì nếu là một tu sĩ thuần thành, nhất là một tu sĩ Phật giáo nữa, thì điều trước tiên là ta phải biết sống thực tế. Cho nên để có được một phương pháp thực tế, một nhận thức thực tế, thì trước tiên ta phải nhận biết sự thật.



Như vậy thì theo cái nhìn khoa học và cách thí nghiệm tìm hiểu sự thật rất là quan trọng, thực tiễn, và hữu ích. Phần nhiều các bạn đều đã biết, theo cơ bản thì cái tư tưởng của Đạo Phật nói chung và truyền thống Na-lan-đà nói riêng rất có kỹ thuật khoa học.



Chính Đức Phật cũng đã từng dạy môn đồ của Ngài là không hoàn toàn chấp nhận những gì Ngài thuyết giảng chỉ vì có lòng tin nơi Ngài, nhưng phải tự tìm tòi học hỏi điều tra nghiên cứu. Đó là cách suy nghĩ rất khoa học. Thí dụ như Ngài Long Thọ (skt: Nagarjuna) một trong những vị tổ đầu tiên của trường phái Na-lan-đà – theo Phật tử chúng tôi Ngài là tổ sư, là cao tăng, nhưng dưới con mắt người đời Ngài chỉ là một giáo sư rất uyên thâm của trung tâm nghiên cứu Phật giáo Nalanda.



Và cũng tại đây còn lại dấu vết những dòng chữ viết “đừng tin vào ngôn từ Phật giáo, mà chỉ dõi theo những thử nghiệm và lô-gic nẫy sinh…” đó là tư tưởng của tông phái Nalanda, và cũng là ý hướng cơ bản của đạo Phật.


NDTV: Đúng là rất thiết thực và có tính cách khoa học.


DL: Vâng. Bởi vậy cho nên tôi được huấn luyện dựa theo đó. Nhưng ngay từ nhỏ, tôi vẫn hay có nhiều thắc mắc tò mò… muốn biết tại sao, làm sao, cách nào, v.v… Tôi còn nhớ hồi còn nhỏ xíu, mỗi khi Phái đoàn Ngoại giao Anh đến Lhasa thăm viếng, có một anh chàng trẻ lúc nào cũng mang cho tôi một vài món quà, lúc ấy còn bé tôi rất phấn khởi mong đợi mỗi khi có công việc được gặp anh ta để xem anh cho tôi món đồ chơi nào nữa.


NDTV: Vậy món đồ chơi nào Ngài thích nhất?


DL: Tàu lữa (động tác còi tàu) và xe ô-tô. Nhưng tôi chỉ chơi một tí xíu thôi, rồi tìm cách xem làm sao nó chạy được, và cuối cùng chỉ còn cách tháo tung nó ra. Tháo được nhưng đôi lúc không gắn lại được: thế là hư mất. Sau khi đến nhập cư tại Ấn độ, tôi có nhiều dịp gặp gỡ các vị lãnh đạo nhiều tôn giáo bạn, nhân viên của những ngành nghề khác nhau và nhất là được tự do tiếp đãi những khoa học gia lừng danh. Vì đã có ý thích riêng, nên gặp gỡ những chuyên gia nghiên cứu khoa học là một điều rất phấn khởi cho tôi, họ rất tận tâm chỉ dạy và chia sẽ nhiều thắc mắc của tôi.


NDTV: Kính Ngài, một đặc điểm hấp dẫn nhất của Ngài là lúc nào Ngài cũng mang dáng vẽ ngây thơ của một cậu bé, lúc nào cũng tươi cười vui tính, trong khi đó Ngài đã phải nhận lãnh trách nhiệm trọng đại của Đức Đạt lai Lạt ma lúc mới hơn 2 tuổi. Vậy hôm nay khi trò chuyện với chúng con đây, Ngài nói với tính cách một chúng sanh hay một cao tăng? Và có khi nào Ngài ngẫm nghĩ lại cuộc đời và thầm tiếc cho tuổi thơ đã mất?


DL: Không… à mà hình như cũng có, ở một mức độ nào đó. Lúc khoảng 2 tuổi, quý chư tăng đến xác nhận tôi, nhưng vài ba năm sau đó tôi vẫn ở nhà với bố mẹ và anh chị em tôi. Đến 5 tuổi tôi mới về Lhasa , và phải xa gia đình.


NDTV: Đối với đứa trẻ thơ như thế, chắc khó khăn lắm?


DL: Thời gian sống ở Potala có một căn nhà cũng gần gần đó dành cho gia đình tôi, nhưng mẹ tôi không muốn đến đó ở thường xuyên, chỉ về đó vào mùa hè. Tôi còn nhớ căn chung cư gia đình tôi sinh sống, bên ngoài sơn màu vàng, bên trong hoàn toàn trắng. Mùa hè đầu tiên cứ vài ba ngày gia đình đến thăm tôi, hay đôi khi họ đưa tôi về căn nhà vách vàng của ba mẹ tôi. Nhưng hai năm sau, quý thầy đảm trách việc dạy dỗ tôi hạn chế bớt sự thăm viếng này. Tôi nhớ nhà, nhớ mẹ, cũng hơi buồn, nhưng cam chịu và vâng lời thôi. Nhưng đôi lúc không học được, đôi lúc cũng hư đốn… có lần ngay sau giờ học tôi chạy ôm chầm lấy mẹ đòi về, và quyết chí không trở lại nữa. Nhưng đến giờ học ngày hôm sau tôi lại tự động bò vào lớp (động tác bò).


NDTV: Như vậy cũng chẳng khác gì mấy đứa trẻ khác phải đi học đi thi, cũng có cái khổ tương tự, nhưng cái đáng chú ý là…


DL: Thế nên, một đàng tôi phải sống xa bố mẹ, nhưng thời gian đầu ông bà vẫn đến thăm tôi. Sau đó bạn tôi là những người quét đường, thầy giáo và các vị tu sĩ, và thêm một cậu nhỏ như là người giúp việc cho riêng tôi.



Dĩ nhiên là lúc lễ lạy, nhất là những nghi thức trịnh trọng, bạn tôi rất kính trọng nhưng trong lúc nô đùa chơi với nhau, vì tôi nhỏ bé nên bị ăn hiếp, trò chơi nào cũng bị thua, bạn còn cười chế nhạo nữa, nên dĩ nhiên tôi khóc.



Tôi không muốn bị thua, nhưng nghĩ lại những người bạn này sau này vẫn là bạn tốt của tôi, đã đối xử rất bình thường với tôi, họ là những người ít học nhưng rất thanh liêm, trung thành.

NDTV: Ngài dùng chữ “thực tế” lúc nãy khi nói về tính khí khoa học, và câu nói “dùng phương cách thực tế đối phó với chính trị mưu mô xảo quyệt”. Như vậy Ngài đang đóng hai vai, hai nhân vật, một là lãnh đạo tôn giáo, hai là nhân vật chính trị của Tây tạng; vậy cái phương cách thực tế đó, khi Ngài đòi hỏi quyền tự trị cho Tây tạng thay vì giải phóng tự do - Ngài dạy đó là con đường trung đạo – nhưng nó đã chẳng dấy động được Bắc Kinh, Trung quốc vẫn tảng lờ trước lời yêu cầu của Ngài. Có bao giờ Ngài cảm thấy ân hận đã chọn con đuờng ôn hòa để đối lập chính trị không?


DL: Không, không bao giờ! Dĩ nhiên là một số dân Tây tạng, và cả nhiều người ủng hộ tán đồng chính sách này từ lâu nay, cũng hơi có thái độ phê phán chỉ trích phương pháp phải chăng không quá khích này. Nhưng nếu chúng ta nhìn tổng quát, thì cho dù có một ít kết quả tích cực từ phía Trung cộng, nhưng bên trong nước Tây tạng thì hoàn toàn thất bại.



Theo chính quyền thì chẳng có kết quả gì hết, nhưng một số đông người Trung quốc, dĩ nhiên là không phải hết 1.3 tỷ người ở đó, nhưng có những học giả, nhân tài, những giáo sư, tiến sĩ, và nhiều văn nghệ sĩ… trước biến cố tàn sát tại trung tâmTiananmen thì số người này rất it, nhưng sau đó, càng ngày càng nhiều người dân Trung quốc rất bất mãn, họ bắt đầu quan tâm hơn và tỏ mối liên kết hậu thuẫn cho dân Tây tạng.



Cho đến năm 2008, khi có những cuộc khủng hoảng đẩm máu mà dân Tây tạng không phản bác lại. Càng ngày càng nhiều người tỏ thái độ bất mãn với chính quyền Trung quốc và ủng hộ chính sách bất bạo động của Tây tạng. Tôi cho thí dụ, trong vòng hai năm qua, có hơn 1000 bài báo bằng tiếng Hoa, và hơn 100 tác giả những bài bào này sống ngay trên lục địa Trung quốc, tất cả đều viết với tính cách ủng hộ phương cách ôn hòa không bạo động của chúng tôi, và chỉ trích những mưu mô thủ đoạn của chính quyền của họ.



NDTV: Con đồng ý nhưng…


DL: Ngay chính trong chính quyền Trung quốc có những viên chức cao cấp đã tỏ thái độ ủng hộ chúng tôi, đó chứng tỏ phương cách này có đem đến những kết quả tích cực. Nhưng cũng có những vấn đề chúng tôi cần thương lượng với chính phủ Trung quốc, chúng tôi không tự giải quyết được.



Nếu là một cuộc nội chiến, có thể dễ dàng hơn để nói chuyện với nhau. Nhưng đây lại khác, tôi thường nói một cách đùa cợt rằng “họ là những người khách không được chính thức mời đến”, họ tự đến với súng ống đạn dược, sau khi đào hầm đào hố, họ bắt đầu điều khiển mọi việc: từ lối sống của người Tây tạng, đến cách làm một người Phật tử tốt, v.v… Đôi khi báo chí Trung quốc cũng loan báo là “Ông Dalai Lama không dạy về Đạo Phật chính thống”, tức là họ rành hơn, hiểu biết hơn, cho nên đó là cái khó khăn.



Họ nghĩ người Tây tạng lưu vong gây chiến làm phiền họ, nên chúng tôi muốn tìm cách giải quyết vấn đề với họ. Cho nên khi chính những người Trung quốc ủng hộ Tây tạng, chúng tôi rất hoan hỉ. Bên ngoài, dĩ nhiên Tây tạng được nhiệt liệt ủng hộ bởi nhiều thành phần rất có uy thế như Hoa Kỳ, chính phủ Ấn độ, nghị viện Anh và các nước Âu châu, v.v…


NDTV: Ngài vẫn còn tin tưởng Hoa Kỳ sao ạ? Con nhớ lần vừa rồi trò chuyện, Ngài cũng vừa từ Hoa-thịnh-đốn về, và không được diện kiến Tổng Thống Obama, lần thứ nhì đến đó mới được gặp, người ta đồn rằng hành vi của TT Obama như thế là vì ông chịu ảnh hưởng áp lực của Trung quốc. Thế mà Ngài vẫn đặt niềm tin vào Washington à?





Gửi bởi: hoaha Aug 17 2010, 09:41 AM

Sự Mầu Nhiệm và Nét Đẹp Của Niệm Phật
Đào Văn Bình, Aug 15, 2010

Cali Today News - Pháp môn niệm Phật, câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” họăc ngắn gọn hơn “A Di Đà Phật” đã hiện hữu với dân tộc Việt Nam hơn ngàn năm nay. Lúc tôi lên tám tuổi (1950), sống ở Hải Phòng, bà nội thường kể cho nghe Hội Chảy Chùa Hương lúc bà nội còn trẻ (thập niên 1920&1930). Lúc này đường đi còn khó khăn, đường lên Chùa núi dốc quanh co. Thế nhưng các cụ cứ chống gậy trúc mà miệng thì niệm “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”. Theo lời bà kể lại thì chẳng mấy chốc mà leo tới nơi, chẳng mệt nhọc gì cả. Đòan người lên núi gặp đoàn người xuống núi, đòan người đi ra gặp đòan người đi vào. Khi gặp nhau ai nấy đều cất tiếng chào “A Di Đà Phật! ”. Câu niệm, câu chào âm vang cả một vùng núi non hùng vĩ, biến cuộc hành hương thành một hành trình vừa linh thiêng vừa nên thơ có lẽ độc đáo nhất trên thế giới. Hình ảnh này đã được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi lại trong bài thơ Chùa Hương:



Mẹ bảo “ Đường còn lâu,

Cứ đi ta vừa cầu.

Quan Thế Âm Bồ Tát.

Là tha hồ đi mau.”



Trong đoàn người đi như nước chảy đó, giữa khói hương trầm nghi ngút, “Hương như là sao lạc” cô gái15 tuổi – nhân vật chính của bài thơ Chùa Hương, theo cha mẹ đi chảy hội, vì còn e thẹn cho nên:



Thẹn thùng em không nói.

Nam Mô A Di Đà.



Lúc còn nhỏ thì không để ý. Nay lúc tuổi già, hồi tưởng lại tâm linh dân tộc, suy nghĩ lại câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc “A Di Đà Phật” của dân mình mới thấy nó có một ý nghĩa linh thiêng và đẹp tuyệt vời. Nó không phải chỉ nằm trong phạm vi tôn giáo mà còn hòa nhập thành truyền thống văn hóa dân tộc. Nó trở thành phong cách sống hài hòa giữa đạo và đời. Khi đi chùa gặp nhau, hoặc trong các lễ hội Phật, chúng ta cất tiếng “A Di Đà Phật !” thì tiếng “A Di Đà Phật” trở thành một câu chào hỏi, một lời thân thiện, một lời mừng rỡ rằng ta còn có nhau, một lời chúc tụng, một sự kính trọng, một ước vọng sau này (khi vãng sinh) sẽ lại gặp nhau trên Quốc Độ Thanh Tịnh của Phật A Di Đà.



Đó là hình ảnh đẹp ngòai đời. Còn trong gia đình, mỗi tối chúng ta thấy bà nội, bà ngọai, mẹ ta ngồi lâm lâm lần chuỗi hạt niệm Phật. Các cụ niệm Phật để làm gì vậy? Đối với chư tăng ni, hoặc Phật tử tu tại gia chắc chắn ai cũng đã hiểu rõ mục đích của niệm Phật. Thế nhưng đối với thế hệ trẻ, người khác đạo có thể họ không hiểu ông/bà/cha mẹ hoặc chúng ta niệm Phật để làm gì? Hoặc giả nếu có hiểu thì cũng có thể hiểu sai cho nên chúng ta cần nói ra cho rõ. Chúng ta cần phân biệt đi chùa lễ Phật và niệm Phật là hai chuyện hòan toàn khác nhau. Đi lễ chùa có khi chỉ là hành vi hòan tòan tín ngưỡng, nhưng niệm Phật lại là hành vi huân tập, tu dưỡng bản thân. Ngòai ra chúng ta cần phải làm sáng tỏ cái Có và Không Có trong niệm Phật để cho thấy Đạo Phật không phải là Thần Giáo, chuyên cầu nguyện van vái để xin xỏ cái này cái kia, rồi trở thành tôi tớ cho Thần Linh.


Những Cái Không Có Trong Niệm Phật:

1) Niệm Phật không phải để cầu xin Phật ban cho một điều ước nào đó.

2) Niệm Phật không phải để tăng thêm sức mạnh, thêm can đảm để đối phó với kẻ thù. Cho nên trong Phật Giáo trải qua hơn 2500 năm, không hề có chuyện một đòan quân lâm trận dương cao biểu tượng hay hình Đức Phật để hăng máu, can đảm xông lên chém giết kẻ thù.

3) Niệm Phật không phải là để van xin Phật ban cho môt giải pháp để giải quyết một tình thế khó khăn.

4) Niệm Phật không phải để xin Phật ban bố phép mầu, vặn cổ kẻ thù giúp chúng ta.

5) Niệm Phật không phải là quỵ lụy khóc than, trở nên hèn kém đối với Phật.

6) Niệm Phật không phải xin Phật chỉ lối, đưa đường cho chúng ta buôn may, bán đắt.

7) Niệm Phật không phải để dông dài kể lể, tâm sự chuyện kín, chuyện riêng tư với Phật.

8) Niệm Phật không giống như cầu nguyện, van vái Thần Linh.

9) Niệm Phật không phải để trở nên đời đời kiếp kiếp làm tôi đòi cho Phật.

10) Niệm Phật nhất thiết không phải để quên đời.



Những Cái Có Trong Niệm Phật:



1) Niệm Phật để tâm hồn thanh thản.

2) Niệm Phật để an trụ tâm. Đang nóng nảy, niệm Phật lòng dịu hẳn xuống. Đang tức giận niệm Phật, lửa Sân từ từ hạ. Đang điên cuồng, niệm Phật tự nhiên bớt điên cuồng. Đang thù hận, niệm Phật hận thù hóa giải. Tham lam, niệm Phật bớt tham. Kẻ hung hăng, niệm Phật bớt hung hăng.

3) Niệm Phật để không cho niệm Ác nảy sinh. Nếu niệm Ác đã nảy sinh thì không cho nó phát triển. Do đó Chư Tổ nói rằng “Niệm Phật quên niệm Ma”. Khi niệm Phật thì tà ma, quỷ thần sẽ lánh xa.

4) Niệm Phật để giữ gìn Thân-Khẩu-Ý.

5) Niệm Phật là phương thuật giữ gìn Chánh Niệm.

6) Niệm Phật tới vô niệm chính là Thiền. Lúc đó sẽ không còn Chỗ Niệm (năng) và Người Niệm (sở), hành giả hiển lộ Phật tánh có sẵn trong con người mình và đi vào trạng thái Định.

7) Niệm Phật để nuôi dưỡng lòng Từ Bi.

8) Niệm Phật riết rồi trở thành Phật chứ không phải trở thành nô lệ hay tôi tớ cho Phật.

9) Niệm Phật cũng là phép điều hòa hơi thở cho nhẹ nhàng. Đi, đứng, nằm ngồi đều có thể niệm Phật. Cho nên niệm Phật cũng là phép trị liệu, bảo vệ sức khỏe.

10) Niệm Phật để giải trừ bớt Ác Nghiệp gây tạo trong quá khứ.

11) Niệm Phật để lúc lâm chung chẳng còn lo sợ. Chẳng cần phải nhờ ai cứu rỗi. Một mình thẳng tiến lên Thế Giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.

12) Càng niệm Phật đấu óc càng trong trắng, lòng dạ thảo ngay, tâm tính hiền từ.

13) Kẻ ác khẩu, nói năng hung dữ chuyên niệm Phật sẽ giải trừ được khẩu nghiệp. Niệm Phật khiến ta không vấp ngã trong lời nói. Một lời nói lầm lỡ có thể tiêu tan sự nghiệp.

14) Niệm Phật khiến lời nói dịu dàng, khiếm tốn do đó không gây thù chuốc oán, không bị “vạ miệng”.

15) Mặt mày hung dữ, niệm Phật trở nên hiền từ, dễ coi. Niệm Phật để chuyển nghiệp.

16) Niệm Phật khiến đi đứng dịu dàng, cử chỉ khoan thai.

17) Niệm Phật có thể ngăn chặn được cám dỗ điên cuồng.

18) Chán nản, thất vọng não nề, cùng đường không lối thoát muốn tự tử chết cho rồi, niệm Phật khiến tâm địa bình ổn từ đó mà tìm ra giải đáp hợp lý.

19) Lâm vào vòng lao lý, tù tội mỗi tối nên ngồi ở tư thế “bán già”, xoay mặt vào tường niệm Phật khoảng nửa tiếng đồng hồ, sẽ thấy tâm hồn thanh thản, thời gian ở tù qua nhanh, không phạm thêm tội lỗi, may mắn ân xá, giảm án sẽ tới. Nhờ niệm Phật mà sau khi ở tù ra lấy lại tự tin để xây dựng cuộc đời mới. Đây không phải là chuyện bịa đặt vì người viết bài này đã từng ở tù 9 năm. Những năm cuối cùng, tuyệt vọng, chán nản muốn tự tử chết, sau trở sang nghiên cứu Phật pháp, chuyên chú niệm Phật, kể cả tụng kinh và giờ đây dù bao gian khổ vẫn sống khơi khơi và sống đẹp.

20) Trong một đám đông hỗn lọan, đâm chém, phẫn nộ, cuồng điên, niệm Phật khiến ta bình tĩnh, không hăng máu lao vào chuyện thị phi, hoặc a tòng theo phe này phe kia, bênh-chống, khiến sau này hối không kịp. Tâm bình thế giới bình là như thế. Xin nhớ cho bình an là chân hạnh phúc.

21) Niệm Phật có thể trở thành Thánh Tăng. Cứ thử nhìn vào hình của Bồ Tát Thích Quảng Đức mà xem. Lúc nào trên tay ngài cũng có chuỗi hạt. Điều đó chứng tỏ ngài theo pháp môn Tịnh Độ tức tụng kinh, niệm Phật. Ai đã có lần gặp ngài phải ngạc nhiên, trong lúc ngồi hay đi, đứng, cả thân hình và khuôn mặt ngài ôn tĩnh như một pho tượng. Điều đó chứng tỏ ngài luôn luôn nhập Chánh Định, tức xác thân ngài ở đây nhưng thần thức ngài đã ở Quốc Độ tức ở Cõi Phật rồi. Chính vì thế mà vào năm 1963 để phản đối Ngô Triều đàn áp tôn giáo, ngài ngồi kiết già tại ngã tư Phan Đình Phùng –Lê Văn Duyệt, bật ngọn lửa để thiêu đốt thân hình, cả thân thể ngập trong biển lửa mà không hề lay động. Thế gới Phương Tây đã kinh hãi và kính phục gọi ngài là Bậc Đại Định. Đó là công năng của phép niệm Phật chứ ngài chẳng có phép mầu nhiệm của thần linh nào hết.



Tại sao niệm Phật lại có uy lực ghê gớm như vậy?


Niệm Phật phát xuất từ pháp môn Tịnh Độ mà pháp môn Tịnh Độ phát xuất từ bộ Kinh A Di Đà. Phật nói kinh này tại Thành Xá Vệ do tấm lòng thành của tỉ phú Cấp Cô Độc, dám trải vàng để mua vườn ngự uyển của Thái Tử Kỳ Đà làm đạo tràng cho Phật thuyết pháp. Trong pháp hội này Phật nói rằng Kinh A Di Đà còn có tên Nhất Thiết Chư Phật Hộ Niệm. Chúng ta hãy nghe lời Phật dạy ngài Xá Lợi Phất:



“ Này Xá Lợi Phất, ý ông thế nào? Sao gọi kinh này là Nhất Thiết Chư Phật Hộ Niệm? Xá Lợi Phất, nếu có thiện nam hay thiện nữ, nghe kinh này rồi mà chịu nhớ lấy, cả những danh hiệu, chư Phật sáu phương nghe rồi nhớ lấy, thì thiện nam ấy, thiện nữ ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm và được tới cõi A Nậu Da La Tam Miệu Tam Bồ Đề chẳng hề thối chuyển.“ Lại nữa, “ Xá Lợi Phất ơi, Phật kia sáng láng vô cùng, vô lượng, soi khắp các nước suốt cả mười phương, không đâu chướng ngại, vì thế nên gọi A Di Đà.” (1)



Chính vì thế mà khi chúng ta cất tiếng niệm “ Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc “A Di Đà Phật” thì chư Phật sáu phương cùng hoan hỉ và hết lòng trợ lực. Hơn thế nữa, vì hào quang của A Di Đà Phật chiếu xuyên suốt không chướng ngại cho nên, dù ở đâu, khi chúng ta niệm danh hiệu ngài thì Phật A Di Đà cũng sẽ hộ trì cho chúng ta đạt mục đích và không thóai chuyển.



Còn trong pháp hội ở Núi Kỳ Xà Quật, ông trưởng giả Diệu Nguyệt cũng là Phật tử tại gia (Ưu Bà Di) của Phật, từ trong đại chúng đứng lên khẩn thiết thưa thỉnh Phật như sau:



“Như Đức Thế Tôn từng chỉ dạy, đời mạt pháp các chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề cang cường, ngỗ nghịch, tâm tạp, nghiệp nặng, mê đắm ngũ dục, không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết cung kính sư trưởng, không thực lòng qui y Tam Bảo, thiếu năng lực thọ trì năm giới cấm, làm đủ mọi chuyện tệ ác, phỉ báng thánh nhân v.v.. Cho nên con suy gẫm như thế này, phải có một môn tu thật đơn giản, thật tiện lợi nhất, dễ dàng nhất để tất cả những chúng sanh kia khỏi đọa vào các đường ác, chấm dứt luân chuyển sanh tử trong ba cõi, được thọ dụng pháp lạc (pháp vui), sớm bước lên địa vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.” Sau lời thưa thỉnh tiếp theo của Quốc Mẫu – Hoàng Thái Hậu Vi Đề Hi, Đức Phật đã dạy như sau:



“Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát-na tâm sanh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp niệm Phật. Này Diệu Nguyệt cư sĩ, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, đủ lòng tin, thì chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi, thì hiện tiền chiêu cảm được y báo và chánh báo của Phật A-Di-Đà ở cõi Cưc Lạc.” Và Đức Phật nhấn mạnh thêm “ Đây là môn tu Đại Oai Lực, Đại Phứơc Đức.” (2)



Ngay các bậc thượng thủ như Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền cũng đều niệm Phật. Còn thiền sư Bách Trượng (720-814) cũng phải nhận định rằng “Tu hành, dùng pháp môn niệm Phật là vững vàng nhất.” (3)


Những oai lực và phước đức của phép niệm Phật nói ở trên thuộc về mặt kinh điển và tín niệm. Còn về phương diện lý giải khoa học. Khi chúng ta chí tâm, chí thành, chí thánh niệm Phật thì chúng ta sẽ phát huy hết năng lực của trí tuệ, tâm đại bi, sự dũng mãnh của chính chúng ta (Bi-Trí-Dũng). Đạt tới trạng thái này rồi thì ung dung tự tại, không còn lo sợ gì nữa (Vô hữu khủng bố) giống như sự “hành thâm” thực chứng Bát Nhã Ba-la-mật Đa Tâm Kinh của Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát. Đó cũng là trạng thái Vô Ngại và Tự Tại của Chư Phật ẩn dụ chư Phật ngồi tòa sư tử.



Do những kết quả tốt lành nói trên mà chúng ta:



- Buổi tối nên niệm Phật.

- Trước khi đi ngủ nên niệm Phật cho đến khi nào đầu óc thanh thản để từ từ đi vào giấc ngủ.

- Sáng thức dậy nên niệm Phật, dù vài câu, bởi vì sau giấc ngủ dài đầu óc con người thường hôn trầm. Niệm Phật vào đầu sớm mai cũng là dấu hiệu bắt đầu một ngày mới tốt lành.

- Khi nào thấy buồn chán nên niệm Phật.

- Thấy mất tự tin nên niệm Phật.

- Thấy long xao xuyến nên niệm Phật.

- Thấy có thể bị cám dỗ nên niệm Phật.

- Thấy thời gian kéo dài, vô vị nên niệm Phật.

- Gặp rắc rối về pháp lý nên niệm Phật để bình tĩnh ứng phó.

- Bị ai chọc giận, công kích nên niệm Phật.

- Tại đám đông tụ họp, ăn nhậu, vui chơi, thấy người ta nói chuyện “vô duyên”, tào lao, nhảm nhí mất thì giờ, nên niệm Phật để không giây dưa vào chuyện vô ích

- Các em khi vào thi, nên niệm Phật để đầu óc thanh thản, bình tĩnh. Thiếu bình tĩnh, quá lo âu, xao xuyến đưa đến việc không đọc kỹ câu hỏi, đề tài, tính tóan sai, lạc đề v.v..

- Đêm khuya thanh vắng một mình trên tàu, xe, trên sông nước nên niệm Phật.

- Khi bệnh tật, đau ốm nằm nhà thương nên niệm Phật để không mất tinh thần, không sợ chết. Càng rên la, càng mất tinh thần, càng chết sớm, làm khổ gia đình.

- Nếu niệm Phật cùng lúc lại quán sổ tức (theo dõi hơi thở) thì công năng rất lớn chẳng khác gì thiền định vậy.



Kết Luận:



Niệm Phật miễn phí, không phải trả tiền ( free) mà cũng không bị đóng thuế, đem lại tốt lành cho đời tại sao chúng ta không thử xem? (why not?). Xin quý vị, quý bạn mạnh dạn thực hành. Nếu thấy chẳng công hiệu gì cả thì bỏ đi cũng chẳng mất mát gì. Đức Phật cũng chẳng phiền trách hay trừng phạt bạn. Cuối cùng, xin thưa rằng như chúng ta đây- những con người gọi là trần tục, sống, thở hít không khí, gia đình đầy đủ và hưởng tất cả những lạc thú của kiếp người mà vẫn cảm thấy lo âu, xao xuyến, bất an và lo sợ ngày mai. Trong khi đó, hằng vài trăm ngàn, có khi hằng triệu tăng/ni trên khắp thế giới, sống đời âm thầm, đơn sơ, đạm bạc, không gia đinh, không của cải, không danh vọng, không quyền thế, không lạc thú trần gian như chúng ta…thế mà các vị lúc nào tâm hồn cũng thanh thản, cử chỉ dịu dàng, giới hạnh trang nghiêm, miệt mài đi tới mục đích cuối cùng: Giải thóat cho chính mình và cứu độ chúng sinh. Tại sao những vị này có thể “hy sinh” và sống đời cao thượng đến như thế? Các ngài có gì bí mật chăng? Xin thưa qúy ngài chẳng có lọai “vũ khí” bí mật nào cả. Các ngài cũng chẳng có phép mầu hoặc sự che chở của bất cứ thần linh mầu nhiệm nào cả. Hành trang duy nhất mà các ngài mang theo là giáo lý của Đức Phật và phương tiện tiến tu là Thiền Định hoặc Tụng Kinh, Niệm Phật…điều mà tôi và quý bạn đã thấy rõ như ban ngày.



Không còn bàn cãi gì nữa. Tụng kinh niệm Phật công năng ghê gớm và lợi lạc có thể nhìn thấy. Còn như chuyện tu hành như thế nào, hành trì như thế nào, giới luật như thế nào, phát nguyện lớn như thế nào mà có thể đắc đạo, ngồi yên trong biển lửa, cắt xẻ thân thể mà không kêu than như Đức Phật thường nói trong nhiều bộ kinh…thì hàng sơ cơ, thô thiển như tôi hòan tòan không biết. Không biết mà nói bừa sẽ mang tội vọng ngữ. Để nghiên cứu thấu đáo hơn về uy lực của Pháp Môn Niệm Phật, quý vị, quý bạn có thể tham khảo: Cuốn sách nhỏ nhan đề Nam Mô A-Di-Đà Phật: Tông Chỉ Pháp Môn Tịnh Độ của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh biên sọan năm 1956. Cuốn Niệm Phật Thập Yếu của Hòa Thượng Thích Thiện Tâm biên sọan hết sức công phu và cuốn Kinh Niệm Phật Ba-la-mật cũng do Hòa Thượng Thích Thiền Tâm dịch ra Việt Ngữ xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2001. Một Đời Vãng Sanh, Chấm Dứt Luân Hồi của HT. Tịnh Không xuất bản ở Hoa Kỳ năm 2010. Kính chúc quý vị, quý bạn thành công. Thành công ở đây có nghĩa là An Vui và Tự Tại - một giá trị tinh thần to lớn không gì đối sánh được trên thế gian này.



Đào Văn Bình

(California Tháng 8 năm 2554.PL – 2010.TL)



(1) A Di Đà Kinh Yếu Giải của Hòa Thượng Tuệ Nhuận.

(2) Kinh Niệm Phật Ba-la-mật.

(3) Một Đời Vãng Sanh Chấm Dứt Luân Hồi

Cước chú: Quý vị nào muốn đọc thêm những bài nghiên cứu khác về Phật Giáo của cùng tác giả xin vào Weblog Đào Văn Bình tại địa chỉ: http://daovanbinh.cattien.us

Gửi bởi: hoaha Aug 25 2010, 11:59 PM

Biện Pháp Chấm Dứt Chiến Tranh Hay Nhất

(Hòa Thượng Tuyên Hóa


giảng tại Chùa Hoa Nghiêm,


ngày 09 tháng 6 năm 1988.)



Tôi muốn nói qua về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Sau khi sang Mỹ, tôi có đến nước Việt Nam một lần. Ngay khi máy bay vừa hạ cánh, tôi có nói với những người tới đón tôi rằng: "Người Việt Nam khổ lắm đấy, tương lai sẽ còn khổ sở hơn nữa!"



Những người đến đón tôi thì không cho là như vậy, họ nói: "Tình hình tại Việt Nam hiện nay rất khả quan, rất thái bình. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho chúng tôi biết là sẽ có năm năm thái bình; thời gian năm năm không phải ngắn, chúng tôi còn có thể kiếm thêm được bộn bạc."





Tôi nói: "Chỉ e rằng chưa kiếm được đồng nào thì tánh mạng mình đã không còn!"



Ngày 14 tháng giêng năm 1975, tôi trở về Mỹ Quốc sau chuyến đi hoằng pháp ở các nước Á Châu. Ðến ngày 15 tháng giêng, lúc chiến tranh ở vùng cao nguyên Trung phần Việt Nam vừa mới bộc phát, tôi đánh điện tín cho một đệ tử đang sống tại Việt Nam (*), nội dung bức điện nói rằng: "Vợ chồng bà hãy lo thu xếp tài sản, sắp đặt mọi việc cho gọn ghẽ, mau sang Mỹ Quốc, không nên lưu lại Việt Nam nữa."





Bà ta dường như không hề lưu tâm gì cả, trời sập cũng không màng, đất lở cũng chẳng lo; nhưng chồng bà nhận được điện báo thì không yên tâm, bèn điện thoại hỏi tôi: "Thưa Thượng Nhân, Thầy muốn chúng con qua Mỹ hẳn có chuyện gì?"




Trong điện thoại không tiện giải thích dông dài nên tôi chỉ nói vắn tắt: "Cũng chẳng có chuyện gì, nhưng ông bà nên sang Mỹ, càng sớm càng tốt!"




Ngày 10 tháng 3, bà ấy đến Mỹ. Thật ra, bà ấy qua Mỹ không phải vì bức điện báo của tôi, mà là vì muốn dự đám cưới của cô con gái vào ngày 12 tháng 3. Chồng bà lúc ấy vẫn còn ở Hương Cảng, mải mê mua chứng khoán. Ðến trung tuần tháng tư, chồng bà điện thoại tìm tôi cả ba ngày và cứ hỏi: "Bây giờ con có thể về Việt Nam lại chưa?"




Lúc bấy giờ tại Việt Nam, Sài Gòn chưa thất thủ, chỉ có chiến tranh sôi động ở vùng cao nguyên; tôi bảo ông ta: "Sau ba tuần lễ nữa, nếu tình hình cho phép, có thể về Việt Nam được thì cứ về; nếu không thể về được thì đừng về!"




Rốt cuộc chỉ hai tuần rưỡi sau, tình hình chiến sự ở Việt Nam đã đổi sắc. Trước đây, trong chuyến đi hoằng pháp ở Việt Nam, lúc vừa xuống phi cơ tôi có nói: "Người Việt Nam khổ quá!" là do nguyên nhân như vậy.




Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu vấn đề nầy: Người Việt Nam lắm người tin theo đạo Phật, thế thì tại sao họ phải chịu cảnh lầm than như vậy?



Tôi nghe nói có nhiều người đi lánh nạn bằng thuyền bè, thuyền bị chìm xuống biển, rất nhiều người bị mất tích; nhưng cũng có người biết niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, nên trong lúc sắp chết lại may mắn tìm được đường sống.



Việt Nam vốn có nhiều người tin theo đạo Phật, thì tại sao lại gặp phải đại nạn như thế? Bây giờ tôi nói đến điểm then chốt của vấn đề: Người Việt Nam sát khí nặng nề, lòng hiếu sát rất lớn, cho nên tạo thành tai kiếp.



Người Việt Nam có lòng căm hận rất lớn—đó chính là tai họa lớn nhất cho họ. Nếu người người đều không có lòng căm hận thù hằn, thì tai nạn gì cũng không thể xảy ra được cả!


Người học Phật thì trước tiên là phải không giữ lòng căm hận, bởi hễ có một chút căm hận là sẽ có đấu tranh. Cổ nhân nói:


Thiên bách niên lai oản lý canh,
Oán thâm tự hải hận nan bình.
Dục tri thế thượng đao binh kiếp,
Thả thính đồ môn dạ bán thanh.
(Trăm ngàn năm nay trong bát canh,
Oán sâu như biển, hận khôn nguôi.
Muốn biết thế gian sao chinh chiến,
Hãy nghe lò thịt lúc nửa đêm!)
Cả trăm ngàn năm nay, trong bát canh thịt trên bàn ăn vẫn chất chứa một mối hận thù hờn oán thâm sâu như biển, khó thể san bằng, khó thể hóa giải. Ðó là ý nghĩa của hai câu đầu; còn hai câu sau, tôi muốn sửa lại như thế nầy:




Dục miễn thế thượng thủy hỏa kiếp,

Nhu yếu nhân nhân bất sát sanh.

(Thế gian muốn khỏi thủy hỏa kiếp,

Người người cần phải cấm sát sanh!)

Bài thơ thành ra:


Thiên bách niên lai oản lý canh,
Oán thâm tự hải hận nan bình.
Dục miễn thế thượng thủy hỏa kiếp,
Nhu yếu nhân nhân bất sát sanh.
(Trăm ngàn năm nay trong bát canh,
Oán sâu như biển, hận khôn nguôi.
Thế gian muốn khỏi thủy hỏa kiếp,
Người người cần phải cấm sát sanh!)
Ngày xưa chiến tranh thì người ta đánh nhau bằng dao, gươm, kiếm, kích, tên, thuẩn (dụng cụ đỡ tên). Nay là thời đại nguyên tử, người ta dùng súng cối, chất nổ, đạn nguyên tử để đánh nhau. Súng cối thuộc hỏa, nguyên tử thuộc thủy, cho nên nói rằng muốn tránh nạn thủy hỏa thì điều tiên quyết là mọi người phải không sát sanh.



Chúng sanh không sát sanh thì tai kiếp thủy hỏa sẽ không xảy ra; nếu chúng sanh thích sát sanh thì chiến tranh sẽ vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt cả.



Bởi người ta ăn nhiều thịt, một người không phải chỉ ăn thịt một con heo mà là rất nhiều con, thời những con heo nầy đến đòi nợ. Quý vị thiếu nợ tiền bạc rất nhiều, thiếu nợ nhân mạng cũng trả không xuể, trả nợ nầy còn nợ kia thời sao, thế là không công bình; bởi không công bình nên mới xảy ra chiến tranh.



Do đó, đối với những người học Phật, điều thiết yếu thứ nhất là không sân hận, và thứ hai là không sát sanh!




Chú thích của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ:

(*) Là bà Phương Quả Ngộ được Hòa Thượng đánh điện bảo phải thu xếp rời khỏi nước Việt Nam vào tháng 1 năm 1975. Nội dung bức điện tín ngày 25 tháng 1, 1975:



http://www.drbachinese.org/vbs/1_100/vbs60-62/news.html

Sau khi đến Mỹ bà Phương Quả Ngộ đã hết lòng giúp Hòa Thượng hoằng pháp.




Hình chụp lúc ký giấy tờ tạo mãi VPTT năm 1976


(bà Phương Quả Ngộ đứng ngoài cùng bên trái).




Bà Phương Quả Ngộ đã từ trần vào ngày 19 tháng 2 năm 1997 tại Singapore. Các con trai cùng cháu nội đã về đầy đủ bên bà lúc bà lâm chung.
Từ ngày 20 tháng 11 năm 1974 đến 12 tháng 1 năm 1975 Hòa Thượng Tuyên Hóa lãnh đạo cuộc hoằng pháp qua Đông Nam Á đến các nước như Hương Cảng, Ấn Độ, Tân Gia Ba, Việt Nam, Đài Loan...




Dưới đây là sơ lược bài thuyết giảng của Hoà Thượng tại Việt Nam:



“Trước khi buổi giảng bắt đầu, các vị làm ơn cho tôi xin vài điều nhé! Nghe tới đây, chắc có người thầm nghĩ: Tông chỉ của Hòa Thượng là:

Dù lạnh đến chết, cũng không phan duyên

Dù đói đến chết, cũng không xin xỏ.

Nghèo khổ đến chết, cũng không cầu cạnh.

Tại sao bây giờ mới đến Việt Nam mà Hòa Thượng lại xin nầy xin nọ; Vậy có phải là mâu thuẩn với những tông chỉ trên không?




Không phải đâu! Điều tôi xin đây khác với những gì các vị đang nghĩ, vì tôi không xin tiền hay phẩm vật chi cả. Vậy tôi muốn xin gì đây? Tôi chỉ muốn xin cái gốc phiền não của các vị thôi, làm ơn gom hết cho tôi.





Tôi có thêm nhiều phiền não chừng nào thì càng tốt chừng nấy, còn các vị thì nên giảm bớt phiền não đi. Một khi các vị trút bỏ những ưu phiền cùng ba độc tham sân si thì sau này tự nhiên các vị sẽ phát sanh đầy đủ giới định huệ. Đó chính là điều đặc biệt mà hôm nay tôi nhắc nhở đến cùng các vị.






Các vị nên tận dụng năng lực sẳn có của mình mà không nên gò bó trong khuôn khổ hạn hẹp như những hạt bụi li ti.





Vì tâm các vị vốn có công năng bao trùm tận hư không pháp giới, nó có thể to đến nổi chẳng vật gì mà chẳng dung chứa được; mặt khác nó cũng nhỏ đến nổi không thể đựng được vật gì. Với tâm diệu dụng, các vị nên mở tâm mình rộng khắp không gian, thâm nhập cùng cả hằng sa thế giới. Một khi tâm hòa đồng cùng pháp giới thì các vị có thể hóa độ chúng sanh.




Ngược lại nếu chúng ta không biết dụng tâm thì sẽ thấy đây là Việt Nam, đó là Nhật Bản, hay nọ là Trung Hoa, Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan... hoặc lãnh thổ này nhỏ, quốc gia kia to... Nếu như vầy thì chúng ta không thể nào cứu độ chúng sanh ở thế giới này.




Là Phật tử chúng ta nên xem xét tất cả pháp giới quốc độ như chính ngôi nhà chung đồng một thể tánh với mình. Đừng tạo nên những ranh giới cách biệt giữa ta và chúng sanh.





Cho dù các vị thuộc phái Bắc Tông hay Nam Tông nên phá bỏ những ranh giới phân biệt này để cùng nỗ lực hoằng truyền Phật pháp khắp mọi nơi, hòa hợp thành một Hội Phật Giáo Thế Giới. Không nên hạn cuộc vào quốc gia nhỏ bé của mình mà phải mở rộng tầm nhìn xa khắp cả hoàn cầu.






Đời nay khoa học thật hiện đại đã làm sáng tỏ nhiều điều nên không còn những tư tưởng suy đoán mập mờ cũ xưa.





Mỗi người chúng ta phải mở toang những cánh cửa sổ tâm hồn mình để thông hiểu thật đúng về sự hòa hợp này như: ‘Giúp đỡ người cũng chính là giúp chúng ta; chăm sóc người chính như chăm sóc bản thân ta.’




Chúng ta phải có phương pháp hợp nhất tất cả Phật tử thành một thể, lập một Hội Đoàn không phân biệt giữa các tông phái, đồng thời phá tan những quan niệm tu biệt lập. Đừng vướng mắc vào hình thức hay thành kiến về Đại hoặc Tiểu Thừa vì Đạo Phật vốn đồng một thể.





Chúng ta không những nhận riêng mình là một phần tử mà ngay cả những người không tin Phật cũng đồng một thể này.




Như lời Đức Phật Thích Ca: ‘Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có thể thành Phật nhưng chỉ vì vọng chấp mà không thành Chánh Giác.’






Quả thật vậy, chúng ta vì dính mắc, phân biệt: Tôi là người Tàu, anh là người Việt, người Thái, Miến Điện, Nhật Bản, Ấn Độ, hoặc Tích Lan...nên tâm không thể mở rộng được.





Nếu chúng ta không bỏ những chấp trước như thế tức không phụng hành lời Đức Bổn Sư Thích Ca. Phật pháp sẽ được hoằng hóa khắp nơi nếu chúng ta không còn những chấp trước này và lúc đó tâm chúng ta sẽ quảng khai trùm khắp pháp giới.





Đồng thời chúng ta cũng cần phải phá tan những ranh giới, vì Phật pháp bao la không giới hạn, nếu chúng vướng mắc vào đây thì không phải là Phật pháp.




Một lần nữa tôi xin nhắc lời Phật dạy: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có thể thành Phật có nghĩa là: Đối với người tin hay không tin Phật đi nữa thì Phật tánh của họ vẫn không bị mai một.





Chỉ vì hiện tại họ chưa phát lòng tin nhưng tương lai họ sẽ tin và nếu tương lai họ không tin thì những kiếp sau đó họ cũng sẽ tin, rồi cũng có một ngày họ sẽ tin Phật.





Tôi xin nhấn mạnh điểm chủ yếu là chúng ta là nên nhớ điều phục mình đừng cho đến gần những biên giới phân chia tức là đừng cô lập trong giáo lý Phật. Một khi khái niệm về Ngã và Chúng sanh hoàn toàn không còn thì những ranh giới phân biệt cũng không tồn tại."




Cư sĩ Quả Dụ đã theo Ngài trong suốt cuộc hoằng pháp, và ông ghi lại như sau:






“Thượng Nhân đi đến đâu là nơi đó đều có sự cảm ứng đặc biệt, thật khó mà tin được. Bất luận dù ở đâu, khi chúng tôi đến cũng đều thấy trong giảng đường đầy nghẹt người.





Tôi nhớ lúc tại Sài Gòn khi Sư phụ đối trước cả ngàn người thuyết pháp và cứ mỗi ba phút Ngài phải ngưng lại vì những tiếng hoan hô, vỗ tay ầm ỷ của thính giả.





Khởi đầu Ngài giảng bằng tiếng Hoa, kế đến được phiên dịch tiếng Việt. Giống như trong những trận bóng rỗ gay go, tiếng thính chúng reo hò, hồ hởi, phấn khởi vang rền cả hội trường.





Điều làm cho tôi cảm động nhất là lúc đó Sư phụ giống như máy phát năng lực, với khí lực sung mãn; không hề mỏi mệt dù đã gian lao trải qua một cuộc hành trình dài Ngài vẫn thuyết pháp không ngừng.





Không những vậy mà Ngài còn phải tiếp đãi những đoàn người không ngớt ào đến vây quanh chờ đợi, giáo cầu Ngài giúp đở. Sư phụ tâm quyết một lòng quảng độ chúng sanh dù phải hao mòn thân thể, rơi xương máu cũng không hề ngưng nghỉ.”







Ngài trở về Mỹ vào đầu tháng giêng năm 1975. Ngày 17 tháng 1, Ngài bảo một đệ tử gởi điện tín về Việt Nam cho cư sĩ Phương Quả Ngộ với nội dung:





“Nếu như các việc đã thu xếp xong, ta hy vọng vợ chồng con hãy đến Mỹ sớm một chút. Mong sẽ có ngày tái ngộ. Kim Sơn Tự.”




Khi nhận được điện tín, Quả Ngộ linh tính như có điều không lành, nên bèn điện thoại thỉnh vấn lý do tại sao Ngài muốn vợ chồng bà sớm qua Mỹ. Nhưng Sư phụ chỉ nói: “Không có gì!”




Cuối cùng Quả Ngộ đã vâng lời Ngài và đến Mỹ vào ngày 10 tháng 3 năm 1975. Chồng bà còn bận công việc làm ăn nên tạm tới Hồng Kông, lúc bấy giờ là thuộc địa Anh.





Đến ngày 17 tháng 4 năm 1975, ông nghĩ nước Việt cũng chưa có động tĩnh gì bèn gởi điện tín hỏi vợ có muốn về Sài Gòn không? Như thường lệ, Quả Ngộ lại thỉnh giáo Sư phụ, Sư phụ nói: “Con đợi ba tuần lễ sau rồi hãy quyết định.”




Nhưng chỉ đến hai tuần sau thì Sài Gòn tiếp quản. Kể từ đó Quả Ngộ thường lưu ngụ ở Mỹ nhiều hơn các nước khác. (Quả Ngộ là một thương gia thường du hành hầu như khắp thế giới.)



Hình chụp lúc ký giấy tờ tạo mãi VPTT năm 1976 (bà Phương Quả Ngộ đứng ngoài cùng bên trái)



Suốt trong những năm đầu mới thành lập Tổng Hội Pháp Giới Phật giáo, Quả Ngộ đã nhiệt tâm đóng góp công sức, hộ trì Tam Bảo.





Bà đã không chút quản ngại đời sống đạm bạc, quy củ của nhà Chùa mà thường lưu lại để phụ giúp biên thảo, kiểm duyệt trong việc kết tập những bài thuyết giảng của Sư phụ.





Ngoài ra bà còn khuyến khích và huấn luyện cho các vị thanh thiếu niên Mỹ đang học tập phiên dịch Kinh điển về những từ ngữ Phật học hay những thành ngữ Trung Hoa.




Thượng Nhân đã ái hộ và cứu trợ dân Việt thật tận tình. Ngài đã thành lập Trung Tâm Cứu Trợ Người Tỵ Nạn Đông Nam Á tại Vạn Phật Thánh Thành từ năm 1980 đến 1986.





Đồng thời được Chánh quyền Mỹ chấp thuận nên tại đấy đã mở lớp huấn luyện nghề nghiệp, cùng lớp dạy Anh Ngữ cho người tỵ nạn hầu giúp họ sớm thích ứng trong cuộc sống mới nơi đất Mỹ.

Gửi bởi: hoaha Oct 4 2010, 08:32 AM

VẠT NẮNG SÂN CHÙA

Neten Rinpoche- Người ta thường cho thày là một vị Tulku, chỉ cho những vị đã từng tu tập từ đời trước và có nguyện trở lại tái sanh trong cõi người. Do sự kính mến, ngoài cái pháp danh của thày là Neten, họ thường kèm theo chữ "Rinpoche" (có nghĩa là cao quý). Neten có phong tư rất hiền hòa và từ bi, thày có nhiều Phật tử, và những buổi lễ lớn thày ban thường có rất nhiều tín chúng tới tham dự.

Năm lên bảy. Một vị sư già đi ngang và quả quyết Neten là một vị Lama đã từng tu tập nhiều kiếp, nay có nguyện tái sinh trở về cõi người này. Sư còn bảo, trong tương lai, nếu Neten chọn đi trên con đường đời sẽ là một người rất thành công, còn nếu đi theo con đường tu hành thì sẽ trở thành một vị đại đạo sư nổi tiếng. Cha mẹ Neten rất hoan hỷ khi nghe tin này, lập tức họ đưa Neten đến một tu viện lớn nổi tiếng của người Tây Tạng ở Ấn và xin cho Neten được xuống tóc, quy y. Neten nhớ rõ lòng mình lúc ấy. Thật bồi hồi, sung sướng và xúc động tới độ không thể cầm được nước mắt.

Quả nhiên, thày rất thông minh, tựa như người đã từng học qua, nay chỉ ôn lại mà thôi. Dụ như một đoản kinh rất khó nhớ, đối với các vị tu sĩ khác cần phải một thời gian dài mới có thể lãnh hội được thì đối với Neten, chỉ khoảng vài ngày thày đã hiểu cặn kẽ và thuộc lòng. Vị bổn sư của thày rất hài lòng về việc đó, càng quý mến và kỳ vọng ở Neten nhiều hơn nữa.

Năm mười bốn tuổi, Neten thọ giới tỳ kheo. Năm hai mươi hai tuổi, thày xong bằng tiến sĩ Phật học (sau khi đã trải qua tất cả những sự thử thách và tranh luận). Thày được hội kiến với đức Dala Lama nhiều lần. Năm ba mươi tuổi, thày bắt đầu đi khắp nơi thuyết pháp ... Danh thày nổi như cồn, tín chúng còn gọi thày bằng một cái tên Lama thân mến...

Dòng đời cứ xuôi chảy...

Một hôm, thày bổn sư muốn ủy nhiệm Neten đến trụ trì một ngôi chùa mới xây ở tận một tiểu bang xa xôi bên nước Mỹ. Tâm thày dường như không vui. Có lẽ thày không muốn xa vị bổn sư mình. Ngoài lý do đó, hình như còn một lý do nào mà thày chưa biết rõ, chỉ thấy tâm xao động, mà sự sao động đó thày không sao dằn được. Chẳng biết điều lành hay dữ. Tối đó, thày ngồi nhập định, xem xét tìm hiểu nguyên nhân. Thày chỉ thấy một đám mây đen lởn vởn trên bầu trời. Nó mờ nhòa, không rõ. Chỉ biết sẽ có điềm họa sắp đến, mà chẳng biết đó là điềm gì. Định bụng, sáng ra thưa với thày bổn sư xin được ở lại học tiếp và xin ngài ủy nhiệm một vị khác. Nhưng, ngẫm nghĩ, nếu đó là nghiệp quả phải trả, thì cũng nên dứt khoát trả hết trong kiếp này... Vì ý nghĩ đó. Thày quyết định tuân hành bổn sư mình ..

*
Phái đoàn đi đón Neten Rinpoche ngoài phi trường gồm năm người. Ba nam, hai nữ. Họ đứng thành hàng dọc dâng tấm khăn trắng (một truyền thống của Tây Tạng khi gặp một vị Lama đạo hạnh). Thày nhận khăn rồi lần lượt quàng lại lên cổ để ban phước lành cho người dâng khăn. Tới người cuối cùng là một nữ nhân. Dù không nhìn rõ mặt, vì nàng dâng tấm khăn lên ngang mày . Thày chỉ nhìn thấy đôi bàn tay trắng mịn với những ngón thon dài, nhưng thày cũng nhận ngay rằng, đây chính là điềm họa cho mình. Thày hơi khựng lại một thoáng. Nhưng, tâm trở lại bình tĩnh, thày khẽ nhận khăn rồi choàng lại lên cổ nàng. Lập tức, nàng chắp hai bàn tay vào nhau, khuôn mặt nhìn xuống, lưng hơi khom lại tỏ một thái độ cung kính. Thấp thoáng, thầy thấy một khuôn mặt son trẻ, với đôi mắt đen nhánh như mắt con chim câu... Nàng khá đẹp. Nét đẹp dịu dàng của dân gốc Á. Mái tóc dài, mướt như một dòng suối. Trông nàng có một nét rất quen thuộc nào đó, nhưng tuyệt nhiên thày không nhận ra được mình đã gặp nàng ở nơi chốn nào. Năm người đi đón thày đều là người Việt. Họ vừa líu ríu theo chân thày vừa kể cho thày nghe những sinh hoạt ở Mỹ. Ông Đoàn, người trong ban chấp hành của chùa, tường trình ngay:

- Thưa Neten Rinpoche, vì còn một vài trục trặc về giấy tờ, hiện tại chùa chưa thể xin được để thày có thể thành thường trú dân tại đây. Nhưng chúng con xin được visa, thày có thể ở tại Mỹ sáu tháng. Trong khoảng thời gian này, chúng con sẽ cố gắng xin thẻ xanh cho thày.

- Được. Chuyện ở lại còn tùy có đủ nhân duyên không. Tôi hy vọng trong thời gian ở đâỵ Mọi sự sẽ tốt đẹp...

Con đường từ phi trường về chùa cũng khá xa, mọi người nói chuyện ríu rít. Nhưng nàng chỉ dõi mắt ra ngoài cửa kính xe, nhìn dòng xe cộ chảy ngược xuôi, tuyệt nhiên nàng chẳng nói lên lời nào. Hình như nàng cũng chẳng chú ý gì tới vị thày cho lắm. Ông ta trông còn quá trẻ - nàng nghĩ - chẳng biết sự tu chứng của ông tới đâu...

Những tuần lễ kế tiếp, Neten Rinpoche ban một loạt những buổi lễ quán đảnh. Tín chúng đi dự rất đông. Vì người thông dịch từ Anh ngữ sang Việt ngữ đi xa, nên tình cờ nàng lại được bầu làm thông dịch viên tạm thời trong khi chờ đợi. Nàng rất sung sướng vì được lựa chọn, đồng thời thật hãnh diện, vì từ hồi nào tới giờ, nàng chưa bao giờ làm được một việc gì hữu ích cho ai. Nay, tự dưng nàng lại được đề cử và nhất là được thân cận với một vị đại đạo sư đầy đủ phẩm hạnh, chẳng ít nhiều gì nàng cũng cảm thấy mình rất quan trọng ..

Trong việc thông dịch, thày dành rất nhiều thời gian để giải thích thêm những danh từ Phật học nàng chưa hiểu rõ, nên nàng thường dành một ít giờ trước buổi lễ, hay những buổi giảng lên gặp riêng thày, tóm tắt ghi chép những gì thày muốn giảng. Tuy chưa làm thông dịch viên bao giờ, đôi khi gặp những danh từ chuyên môn làm nàng lúng túng, nhưng vì có được một kiến thức rất khá về Đại thừa, và nhờ sự kiên nhẫn của Neten Rinpoche, cộng với lòng mong học hỏi, trí thông minh, chịu khó của nàng nên cũng hiểu được ít nhiều những gì thày muốn nói.

Tình thân giữa Thày, trò ngày càng đậm. Khác với ý niệm đầu tiên nàng gặp Neten Rinpoche tại phi trường. Ngược lại, nàng nhận ra rằng, cái ông thày này thật đáng nể. Ông có thể đọc suốt được tư tưởng của người đối diện. Hơn thế nữa, hình như ông có thể nhìn thấy được một vài điều của quá khứ và tương lai. Nhưng chẳng bao giờ ông nói, các nhóm đệ tử biết được đều do sự tình cờ rồi họ kháo nhau thêm, từ một thành mười, từ mười thành trăm, tô điểm vị thày mình thêm huyền hoặc... Nàng bắt đầu tâm phục, khẩu phục vị sư trẻ này. Lối hành xử của nàng cũng tỏ vẻ tôn kính và yêu mến thày hơn.

Một buổi sáng. Trong sân chùa ngập nắng, thày Neten thấy nàng mặc chiếc áo dài Á đông bước vào cổng chùa, khuôn mặt rạng rỡ... Nhìn thoáng, thày có cảm tưởng nàng chính là vạt nắng đầu ngày, thày thấy lòng rung động, bàng hoàng, cảm nhận pháp giới này không phải một, cũng không phải khác, nó thật chập trùng biến hiện. Có phải chăng, người thiếu nữ kia đang "biến" thành vạt nắng hòa nhập với bản thể nhất như của vạn pháp? Thày nghiêng tâm nghe lòng mình rung động, rồi với sự phản xạ máy móc của nghiệp dư còn đọng lại trong tâm, thày vội vã bước ra sân "đón" lấy vạt nắng ấy. Cả hai nhìn nhau. Kỳ diệu thay, thày có cảm giác mình cũng biến thành ánh nắng chan hòa, hợp với vạt nắng vừa xuất hiện thành nhất thể như nước hòa với sữa. Trong phút giây mầu nhiệm ấy, ngôn ngữ quả là "bất khả ngôn thuyết"... Hình như người nữ cũng cùng trong một tâm trạng ngây ngất ấy. Nàng thốt lên với một giọng tràn đầy xúc động:

- Thày ơi…

Nàng loạng choạng muốn té quỵ, thân người mảnh mai như muốn đổ ập về phía Neten. Bằng một phản xạ tự nhiên, máy móc, thày Neten vội đưa tay ra đỡ. Cùng lúc thày cũng đủ tỉnh thức để lùi lại một vài bước, tránh cho toàn thân nàng dựa hẳn vào mình, giọng thày lấy lại bình tĩnh, hỏi khẽ:

- Chị có sao không?

Thiếu nữ ấp úng:

- Không...không. ..!! Bỗng dưng..., con chỉ... thấy... một niềm... cảm động tới muốn... bật khóc...

Vì sự tự trọng. Nàng cũng vội vã lùi lại làm cho thân mình bị mất thăng bằng, lảo đảo. Hai bàn tay dơ ra gần chạm nhau lại bị vội vã rụt về. Cả hai đứng nhìn nhau trong suốt chiều sâu của tâm thức. Hốt nhiên, Neten Rinpoche đọc được trong ánh mắt nàng cả một khung trời vừa sụp đổ, trong đó cưu mang một nỗi đau đớn tận cùng của của sự thất vọng và yêu thương...

Sau buổi sáng hôm ấy, phong tư của Neten Rinpoche hình như không có gì thay đổi. Nhưng nếu để ý kỹ, trong những hành động và cách cư xử - tuy kín đáo - nhưng thày cũng dành cho nàng một sự chăm lo đặc biệt hơn, cùng với lòng bi mẫn như lúc nào cũng phủ chụp xuống nàng. Thày vẫn gặp nàng trước những giờ thuyết pháp. Nhưng có lẽ thày tránh không muốn gặp riêng nàng ở bất cứ chỗ nào trong chùa. Còn riêng nàng, gần như một huyền lực của nghiệp cũ đã chín mùi. Dần dà, nàng bỗng nhận ra một điều "khủng khiếp", nàng không thể sống thiếu thày, nàng bỗng thấy mình có một nhu cầu rất cần thiết mỗi ngày là phải được gặp thày, phải nhìn thày, nghe thày nói, ngắm thày cười, hay chẳng cần làm gì, chỉ cần phục dưới chân thày nghe thày lần tràng hạt với những câu chú như một chuỗi âm thanh dính liền nhau không dứt. Tệ hơn nữa, trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức, nàng khởi tâm muốn "chiếm hữu" thày cho riêng mình, cảm giác chiếm hữu ấy mạnh tới độ nàng nàng cảm thấy rất khó chịu và ghen tức khi thấy thày nói chuyện vui vẻ với những người khác. Những lúc như vậy, tâm nàng thật bồn chồn, không yên và cực kỳ đau khổ. Biết điều đó là xấu, nhưng nàng thực không thể cưỡng nổi sự ghen tuông.

Một hôm lên chùa sớm, định vào chào thày thì nàng đã thấy có một chị Phật tử khác đang trong phòng trò chuyện, chẳng biết chị nói chuyện gì mà nàng nghe tiếng thày cười hòa với tiếng cười ròn rã của chị. Buồn bã, nàng ra ngoài sau hè ngồi khóc. Khóc chán, nàng lại thò đầu vô xem chị Phật tử nói chuyện xong chưa. Vẫn thấy chị ngồi thụp dưới chân thày nói cười vui vẻ. Nàng thấy tim mình quặt thắt lại. Nàng cũng thấy mình thật vô lý khi cứ quẩn quanh trong một ngõ cụt như thế. Trong lúc này, hình như những giáo lý của Phật mà nàng học hỏi từ bao lâu, cứ chảy trôi theo dòng nước mắt, chẳng giúp được gì cho nàng mấy đỗi...

Nhưng nỗi buồn không hẳn mãi mãi sẽ là. Nó chính là "mặt bên kia" của niềm vui. Đôi khi nàng được thày cho tham gia vào công việc của chùa, như việc tô những bức tượng Phật. Thật lạ, chẳng hiểu những tượng Phật đó ở đâu ra mà đầy cả bàn. Mỗi bức cao khoảng một tấc, đủ các vị Phật với những thế ngồi khác nhau. Nàng ngồi xà xuống và hỏi thày với giọng đầy khích động và ngạc nhiên:

- Ôi chao... Tượng Phật ở đâu nhiều thế. Cho con tô với nhé?

Vị thày ngước nhìn người thiếu nữ đọc được tất cả sự khích động trên đôi mắt ngây thơ của nàng, thày cười:

- Được! Nhưng chị tô có khéo không? Tô tượng cũng là một hình thức thiền định và quán tưởng. Lại nữa, có một vài chỗ phải rất cẩn thận, không được tô lem nhem, nhất là điểm nhãn Phật thì lại càng phải khéo léo lắm!

Sợ thày đổi ý. Nàng nói ngay:

- Con làm được mà! Nàng sung sướng vô cùng khi được ngồi bên thày như thế. Ban đầu thày cho nàng tô những phần dễ, thấy nàng tô khéo, thày cho tô phần tóc (một chút xíu phần trên trán, nơi đó nếu không khéo sẽ bị lem qua vương miện trên đầu). Nàng thích nhất ngồi tô thân thể Phật một màu vàng ròng. Tô lớp đầu không thấy vàng mấy, nhưng nếu kiên nhẫn tô lên từng lớp chồng nhau, đợi lớp này khô, lại tô thêm lớp mới cho đến khi có một mầu vàng óng đẹp như một khối vàng thật. Nàng thích tới độ mê mải làm mãi tới gần bảy giờ tối mới chịu về. Trước khi về, nàng khoe với thày "công trình" mình vừa làm cả ngày. Một tượng Phật Thích Ca, một tượng của ngài Quán Âm. Cả hai tượng đều có một màu vàng óng trông rất đẹp mắt...

Niềm hạnh phúc của nàng bị cắt đứt khi người thông dịch viên cũ trở về. Nàng không còn có cơ hội gần gụi thày nữa. Nàng nhớ thày, sự nhớ nhung kỳ quặc đến độ nàng cảm thấy hổ thẹn và mặc cảm, nghĩ rằng, mình chính là con ma nữ đến quấy rối người tu hành. Lòng nàng luôn luôn cảm thấy đau khổ và buồn sầu. Đau khổ vì biết rằng, tình yêu (nếu có) của mình chính là một tình yêu bệnh hoạn và mù quáng vì nó đã đặt không đúng chỗ. Buồn sầu khi biết chắc rằng mình đã chẳng ít nhiều gì cũng đang tạo những nghiệp xấu, ác... Vì sự mặc cảm ấy, nàng thường có thái độ tránh né và không dám đến gần thầy nữa. Nhưng vì lòng nhung nhớ cứ dâng đầy, nên chẳng bao giờ nàng bỏ một thời thuyết pháp nào cả .

*
Một buổi chiều, sự nhớ thương gần như không còn chịu đựng được nữa. Nàng lang thang xuống phố, mua ba cành hoa Lilly trắng đem lên chùa dâng thàỵ Cảnh chùa vắng vẻ, nàng bước vào với nhịp tim đập thình thịch trong lòng ngực. Nàng ôm chặt ba cành hoa trước ngực như một sự chở che, ngăn cấm mình phạm tội. Các thày nhỏ chắc đang ở sân sau chùa trồng tỉa, chỉ còn lại Neten Rinpoche ngồi trong một phòng cạnh chánh điện đang tô các tượng Phật. Nàng bước vào với một thái độ của một kẻ phạm trọng tội, mặt người nữ tái xanh, rụt rè và lắp bắp:

- Con đem... dâng thầy mấy... cành hoa... Lilly... trắng...

Neten Rinpoche ngẩng lên, ánh mắt từ bi như thấy suốt được tâm tư nàng, thong thả đáp:

- Thật tuyệt diệu. Ta đang đợi chị đến... (Rồi ngắm nhìn ba đóa hoa trắng nuốt, đôi mắt lung linh, hoan hỷ, thày tiếp). Mấy đóa hoa mới đẹp làm sao!!. Chị hãy cắm vào bình dâng lên lễ Phật. Sau quay lại đây, ta muốn cho chị coi cái này...

Thiếu nữ líu ríu làm theo như một mệnh lệnh. Cắm những cành hoa trắng vào bình, xì xụp lạy trước những tượng Phật đang ngồi trên bệ thờ rất trang nghiêm. Chẳng hiểu sao lúc đó nàng cảm thấy xúc động lạ kỳ và nước mắt cứ tuôn như mưa...

Nàng phải đợi một lúc cho tâm lắng đọng mới dám bước qua phòng bên gặp Neten. Thày nhìn nàng chăm chú. Như người đã biết rõ được vấn đề, nhưng vẫn cứ hỏi:

- Chắc chị đang gặp chuyện... khó khăn?

Chỉ chờ có thế, nàng òa lên, nức nở:

- Phải. Xin thày ban bình an cho con...

Vị thày thở dài. Nhìn người nữ một đỗi rồi nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của nàng dịu dàng bảo:

- Có những điều ta cần phải nên buông bỏ thì sự khổ đau mới chấm dứt...

Vừa nói đến đó, Neten buông tay nàng, dùng cả hai bàn tay mình ôm lấy khuôn mặt người nữ, (dưới dạng hình thức ban phép lành), rồi thày cúi xuống, thấp dần...thấp dần... cho tới khi trán của Neten đụng lên trán nàng...

Do sự gia trì của vị đạo sư. Mọi sự như được hiển bày trước mắt. Nàng nhìn thấy rõ trong một kiếp quá khứ nào đó của chính nàng. Hình ảnh người nữ đang đứng với chiếc áo cánh trắng mong manh. Trên tay cầm ba cành hoa Lilly mầu trắng nuốt. Sau lưng nàng là một khung cửa chói lòa ánh nắng với vườn hoa muôn sắc. Đối diện là chồng nàng, họ đang trao nhau những ánh mắt thương yêu. Người nữ đặt ba cành hoa lên ngực người nam nhìn chàng say đắm nói khẽ qua hơi thở:

- Anh ạ. Em nguyện sẽ đời đời kiếp kiếp được làm vợ anh và được hạnh phúc như thế này mãi mãi...

Đôi mắt người nữ ngước lên long lanh. Mùi hoa Lilly thơm ngát đâu đây...

*
Vị đạo sư buông tay, rời trán mình khỏi trán nữ nhân. Nàng xúc động tới độ bật khóc. Nàng nhớ lại tất cả như chuyện mới xảy ra hôm qua. Tim nàng run run như con chim non bị lạnh. Giọng đạo sư trầm trầm:

- Đã vài đời, vài kiếp, chúng ta từng là vợ chồng và rất sung sướng, hạnh phúc, đã từng được làm thân người, thân chư thiên, nhẫn đến có được những thân vi diệu trên từng trời Phạm Thiên và đã từng hưởng tất cả những sung sướng của cõi nhân gian này... Dẫu vậy, chúng cũng chẳng đem lại hữu ích gì mấy đỗi.

Ngược lại, chúng ta cũng đã từng nhiều đời, nhiều kiếp - do sự vô minh, tham ái - mà phải chịu mang thân ngạ quỷ, súc sanh, nhẫn đến ở trong những địa ngục nóng, lạnh để phải chìm nổi trong luân hồi và thọ nhận tất cả những khổ đau. Nay, cơ may trở lại được thân người, tôi lại được gặp em, dẫu trong một hoàn cảnh hoàn toàn đổi khác, nhưng đó cũng là cơ may cho chúng ta gỡ những nghiệp quả từ kiếp trước. Sao em không nhân cơ hội có được thân người hiếm quý này tu tập cầu giải thoát? Sao cứ phải cam chịu loanh quanh trong luân hồi tạo thêm ác nghiệp? Hạnh Phúc ư? Thế nào là Hạnh phúc? Nếu lấy cái Hạnh phúc của trần gian này để làm niềm vui thì cái niềm vui ấy thật bọt bèo, dễ vỡ...

Vị đạo sư đứng lên. Ông mở tung cánh cửa sổ trông ra vườn. Nắng vẫn còn lung linh trên những đóa cúc vàng hắt lên những ánh sáng cuối cùng của ngày tàn. Ánh sáng bên ngoài tràn vào căn phòng bắt đầu tối làm thành một viền sáng quanh thân ông. Ông quay nhìn người thiếu nữ vẫn còn đầm đìa nước mắt thong thả nói rõ từng tiếng:

- Phải. Em vẫn còn vướng với tôi một lời nguyện ước. Thảo nào lần đầu tiên gặp em ở phi trường, tôi đã nhận ra được nét thân quen. Nhưng thực tâm tôi không muốn đòi, bởi mọi sự đều đã thay đổi. Tôi đang đi trên con đường tìm kiếm chân Hạnh phúc cho mình và cho người. Trong tôi, vẫn có tình yêu dành cho em, nhưng tình yêu tôi nay không còn ngừng trên một đối tượng, mà là trên toàn thể pháp giới... Từ sau buổi sáng tôi đón em như một "vạt nắng sân chùa", em luôn luôn hiện hữu trong tôi, là một điểm sáng, một sự thanh khiết, cao quý nhất. Em đi cả vào trong những buổi cầu nguyện của tôi. Tôi luôn nguyện em cũng sẽ đạt được chân Hạnh Phúc ấy. Muốn vậy, em nên xả bỏ tất cả. Có những điều ta cần phải nên buông bỏ thì sự khổ đau mới thực sự chấm dứt...

Thiếu nữ òa khóc. Nàng nghe trong tim một sự rạn vỡ... Trong cơn đau đớn tận cùng, nàng cảm nhận được tình yêu rộng lớn của vị đạo sư dành cho mình. Nàng hiểu rất rõ rằng nàng không còn một một sự chọn lựa nào khác. Người chồng năm xưa nay đã đổi hướng đi, không còn muốn đi chung với nàng trên con đường xưa cũ, mà ở đó, Hạnh Phúc hay Đau Khổ đều tùy thuộc vào sự vô thường, bèo bọt của kiếp người. Nay, nàng cũng phải thay đổi, nàng phải đi tận cùng nỗi khổ đau để vươn lên, để có thể trở thành một "giải nắng thênh thang". Nơi ấy, nàng sẽ gặp chàng ở đó...


CHIÊU HOÀNG








Gửi bởi: BàGiàNhàQuê Oct 6 2010, 05:37 AM

VẠT NẮNG SÂN CHÙA

................................................................................................................................................
đạt được chân Hạnh Phúc ấy. Muốn vậy, em nên xả bỏ tất cả. Có những điều ta cần phải nên buông bỏ thì sự khổ đau mới thực sự chấm dứt...

Thiếu nữ òa khóc. Nàng nghe trong tim một sự rạn vỡ... Trong cơn đau đớn tận cùng, nàng cảm nhận được tình yêu rộng lớn của vị đạo sư dành cho mình. Nàng hiểu rất rõ rằng nàng không còn một một sự chọn lựa nào khác. Người chồng năm xưa nay đã đổi hướng đi, không còn muốn đi chung với nàng trên con đường xưa cũ, mà ở đó, Hạnh Phúc hay Đau Khổ đều tùy thuộc vào sự vô thường, bèo bọt của kiếp người. Nay, nàng cũng phải thay đổi, nàng phải đi tận cùng nỗi khổ đau để vươn lên, để có thể trở thành một "giải nắng thênh thang". Nơi ấy, nàng sẽ gặp chàng ở đó...


CHIÊU HOÀNG


Chân thành cám ơn Hoaha.
Câu chuyện "Vạt Nắng Sân Chùa" thật hay và cảm động.


thụymai

Gửi bởi: hoaha Oct 6 2010, 09:30 PM

QUOTE(BàGiàNhàQuê @ Oct 5 2010, 03:37 PM) *

VẠT NẮNG SÂN CHÙA

................................................................................................................................................
đạt được chân Hạnh Phúc ấy. Muốn vậy, em nên xả bỏ tất cả. Có những điều ta cần phải nên buông bỏ thì sự khổ đau mới thực sự chấm dứt...

Thiếu nữ òa khóc. Nàng nghe trong tim một sự rạn vỡ... Trong cơn đau đớn tận cùng, nàng cảm nhận được tình yêu rộng lớn của vị đạo sư dành cho mình. Nàng hiểu rất rõ rằng nàng không còn một một sự chọn lựa nào khác. Người chồng năm xưa nay đã đổi hướng đi, không còn muốn đi chung với nàng trên con đường xưa cũ, mà ở đó, Hạnh Phúc hay Đau Khổ đều tùy thuộc vào sự vô thường, bèo bọt của kiếp người. Nay, nàng cũng phải thay đổi, nàng phải đi tận cùng nỗi khổ đau để vươn lên, để có thể trở thành một "giải nắng thênh thang". Nơi ấy, nàng sẽ gặp chàng ở đó...


CHIÊU HOÀNG


Chân thành cám ơn Hoaha.
Câu chuyện "Vạt Nắng Sân Chùa" thật hay và cảm động.


thụymai



Kính chúc "thụymai" thân tâm thường an lạc

...nơi ấy lòng tôi thật bình an ...!
HH.

Gửi bởi: hoaha Oct 9 2010, 01:53 AM

Bát mì của lòng tự trọng

Vào một buổi chiều mùa xuân lạnh lẽo, trước cửa quán xuất hiện hai vị khách lạ, có thể đoán là một người cha và một người con. Người cha bị mù, người con trai đi bên cạnh ân cần dìu cha. Cậu con trai trạc mười tám, mười chín tuổi, quần áo đơn giản, lộ rõ vẻ nghèo túng, nhưng từ cậu lại toát lên nét trầm tĩnh của người có học, dường như cậu vẫn đang là một học sinh.

Cậu con trai tiến đến trước mặt tôi. Cậu nói to: “Cho hai bát mì bò!”. Tôi đang định viết hoá đơn, thì cậu ta hướng về phía tôi và xua xua tay. Tôi ngạc nhiên nhìn cậu ta, cậu ta chỉ tay vào bảng giá treo ở trên tường, phía sau lưng tôi, khẽ bảo với tôi rằng chỉ làm một bát mì cho thịt bò, bát kia chỉ cần rắc chút hành là được. Lúc đầu, tôi hơi thắc mắc, nhưng sau đó chợt hiểu ra ngay. Hoá ra, cậu ta gọi to hai bát mì thịt bò như vậy là cố tình để cho người cha nghe thấy, tôi đoán cậu không đủ tiền, nhưng lại không muốn cho cha biết. Tôi cười thông cảm với cậu.

Nhà bếp nhanh nhẹn bê lên ngay hai bát mì nóng hổi. Cậu con trai chuyển bát mì bò đến trước mặt cha, thương yêu chăm sóc: “Cha, có mì rồi, cha ăn đi thôi, cha cẩn thận kẻo nóng đấy ạ!”. Rồi cậu ta tự bưng bát mì nước về phía mình. Người cha không vội ăn ngay, ông cầm đũa dò dẫm đưa qua đưa lại trong bát. Mãi lâu sau, ông mới gắp trúng một miếng thịt, vội vàng bỏ miếng thịt vào bát của người con. “Ăn đi con, con ăn nhiều thêm một chút, ăn no rồi học hành chăm chỉ, sắp thi tốt nghiệp rồi, nếu mà thi đỗ đại học, sau này làm người có ích cho xã hội”. Người cha nói với giọng hiền từ, đôi mắt tuy mờ đục vô hồn, nhưng trên khuôn mặt sạm nắng, nhăn nheo lại sáng lên nụ cười ấm áp và mãn nguyện. Điều khiến cho tôi ngạc nhiên là người con trai không hề cản trở việc cha gắp thịt cho mình, anh điềm nhiên nhận miếng thịt, rồi anh lặng lẽ gắp miếng thịt đó trả về bát mì của cha.

Cứ lặp đi lặp lại như vậy, dường như thịt trong bát của người cha cứ gắp lại đầy, gắp mãi không hết. “Cái quán này thật tử tế quá, một bát mì mà biết bao nhiêu là thịt”. Ông lão cảm động nói. Đứng bên cạnh họ, tôi chợt thấy tim mình thắt lại, trong bát chỉ có vài mẩu thịt tội nghiệp, quắt queo bằng móng tay, lại mỏng chẳng khác gì xác ve. Người con trai nghe vậy vội vàng tiếp lời cha: “Cha à, cha ăn mau ăn đi, bát của con đầy ắp không biết để vào đâu rồi đây này”. “Ừ, ừ, con ăn nhanh lên, ăn mì bò là bổ dưỡng lắm đấy con ạ”.
Hành động và lời nói của hai cha con đã làm chúng tôi rất xúc động. Chẳng biết từ khi nào, bà chủ cũng đã ra đứng cạnh tôi, lặng lẽ nhìn hai thực khách đặc biệt. Vừa lúc đó, cậu Trương đầu bếp bê lên một đĩa thịt bò thơm phức, bà chủ đưa mắt ra hiệu bảo cậu đặt lên bàn của hai cha con nọ. Cậu con trai ngẩng đầu tròn mắt nhìn một lúc, bàn này chỉ có mỗi hai cha con cậu ngồi, cậu ta vội vàng hỏi lại: “Anh để nhầm bàn rồi thì phải?, chúng tôi không gọi thêm thịt bò.” Bà chủ dịu dàng bước lại chỗ họ: “Không nhầm đâu, hôm nay chúng tôi kỉ niệm ngày mở quán, đĩa thịt này là quà biếu khách hàng”. Cậu con trai không hỏi gì thêm. Cậu lại gắp thêm vài miếng thịt vào bát người cha, sau đó, bỏ phần còn thừa vào trong một cái túi nhựa.

Chúng tôi âm thầm quan sát hai cha con ăn xong, tính tiền, rồi dõi mắt tiễn họ ra khỏi quán. Mãi khi cậu Trương đi thu dọn bát đĩa, chúng tôi bỗng nghe cậu kêu lên khe khẽ. Hoá ra, bát của cậu con trai đè lên mấy tờ tiền giấy xếp gọn, vừa đúng giá tiền của một đĩa thịt bò được viết trên bảng giá của cửa hàng./.

Ta vẫn gặp trong cuộc đời nhiều người rất nghèo về vật chất nhưng lại giàu lòng tự trọng. Lòng tự trọng giúp ta có thêm nghị lực để ngẩng cao đầu, vượt qua khó khăn, nghịch cảnh, sống hạnh phúc vì luôn vững tin vào chính mình.
Lòng tự trọng với ánh hào quang chói lọi của nó sẽ trở thành lương tri con người

Irving Layton

Gửi bởi: hoaha Dec 4 2010, 12:26 AM

Tài liệu do người chết hồi sinh kể lại


Hiện nay, luân hồi tái sinh là một đề tài nóng bỏng ở xã hội phương Tây nói chung và Mỹ nói riêng. Chương trình "60 minutes" ngày 30.10 cách đây vài năm có đề cập đến vấn đề luân hồi tái sinh và báo cáo hiện có đến 78% người Mỹ (vào khoảng 195.000.000) tin có kiếp trước kiếp sau. Raymond Moody, giáo sư triết học, bác sĩ y khoa, là một nhà nghiên cứu người Mỹ tiền phong về vấn đề luân hồi tái sinh, nói rằng, sự hiểu biết về hiện tượng có đời sống khác sau đời sống này (life after life) đã được giấu nhẹm rất kỹ cho đến bây giờ. Nếu ai muốn tìm hiểu xem người Mỹ nghĩ thế nào về luân hồi chỉ việc vào thăm Google, gõ chữ "book on reincarnation" thì sẽ thấy một con số khổng lồ, hơn 2.000.000 tài liệu gồm sách và các bài luận giải về nhân quả và luân hồi...

Cách đây 31 năm, khi cho in cuốn sách đầu tiên "Life After Life" sau nhiều năm tiếp xúc với những bệnh nhân chết đi sống lại, bác sĩ Moody nói, ông chỉ ghi lại trung thực những câu chuyện này mà không cố ý chứng minh là có một đời sống khác sau khi chết. Ông cũng nói thêm rằng, hiện nay chưa có ai có thể đưa ra một bằng chứng cụ thể để chứng minh có 1 cảnh giới bên kia cửa tử, nhưng người ta cũng không thể phủ nhận kinh nghiệm của hơn 8 triệu người lớn ở Mỹ và mấy triệu trẻ con nữa, những người sống lại sau cái chết lâm sàng đã kể những gì họ thấy được sau khi rời khỏi xác thân vật lý.

Bác sĩ Moodu kể, lần đầu tiên ông được nghe tả về cảnh giới bên kia cửa tử do người chết hồi dương kể lại (kinh nghiệm cận tử) là khi ông còn là một sinh viên y khoa triết học ở đại học Virginia. Một giáo sư dạy môn tâm thần học kể lại cho sinh viên nghe chính ông đã "chết" đi rồi sống lại 2 lần, cách nhau 10 phút. Ông kể lại những chuyện ly kỳ ông được chứng kiến trong thời gian ông "chết". Thoạt nghe thì anh sinh viên Moody cũng lấy làm lạ nhưng không có ý kiến gì. Anh chỉ giữ cái băng thu âm câu chuyện này để làm tài liệu thôi. Mấy năm sau, ông Moody bây giờ là giáo sư triết ở 1 trường đại học ở Bắc Carolina. Trong 1 buổi giảng dạy về thuyết bất tử (Phaedo) của Plato, nhà hiền triết nổi tiếng của Hy Lạp thời cổ đại, một sinh viên xin gặp riêng để hỏi thêm về vấn đề sống chết, vì bà của chàng ta đã "chết" trên bàn mổ, sau đó hồi sinh và kể những câu chuyện bà đã chứng kiến rất hấp dẫn. Giáo sư Moody yêu cầu anh sinh viên này kể lại từng chi tiết và ông rất đỗi ngạc nhiên khi thấy những chuyện xảy ra cho bà già này gần giống với những mẩu chuyện ông được nghe từ thầy của ông mấy năm về trước. Từ đó, ông cố ý thu thập tài liệu về hiện tượng chết đi sống lại. Ông cũng đưa vấn đề này vào trong các bài giảng của ông, nhưng không đề cập gì đến 2 trường hợp ông được nghe. Ông nghĩ rằng, nếu có nhiều người chết đi sống lại thì thế nào sinh viên cũng sẽ nói ra trong các giờ triết. Quả vậy, trong mỗi một lớp học chừng 30 sinh viên, khi nào cũng có một anh xin gặp riêng sau giờ học để kể cho ông nghe một câu chuyện chết đi sống lại. Có điều lạ là, những mẩu chuyện này có nhiều tình tiết giống nhau, tuy người có kinh nghiệm chết đi sống lại gồm nhiều thành phần khác nhau, khác về tôn giáo, về học vấn, và địa vị xã hội.

Khi Moody theo học y khoa năm 1972 thì ông đã có một hồ sơ dày cộm về những trường hợp chết đi sống lại. Ông bắt đầu nói đến công cuộc nghiên cứu của ông với những người ông gặp ở trường y. Sau đó, theo lời yêu cầu của một người bạn, ông nhận lời thuyết trình về hiện tượng chết đi sống lại tại 1 Hiệp hội Y sĩ và nhiều hội đoàn khác. Và sau mỗi buổi thuyết trình, thế nào cũng có người đứng lên kể lại kinh nghiệm chết đi sống lại của chính mình. Dần dà ai cũng biết tiếng ông, nên nhiều bác sĩ đã giới thiệu những bệnh nhân họ cứu sống được mà có những kinh nghiệm lạ lùng trong thời gian họ "chết". Sau khi vài tờ báo đăng tải tin tức về công cuộc nghiên cứu của ông thì nhiều người tự động gửi những mẩu chuyện tương tự xảy ra với họ. Ông quyết định chỉ chú ý đến trường hợp những người do bác sĩ chứng thực là đã chết lâm sàng (tim ngừng đập, thần kinh não ngưng hoạt động) rồi được cứu sống lại, và trường hợp những người bị tai nạn, hồn lìa khỏi xác ngay nhưng sau đó lại hoàn hồn, đã kể những sự việc họ chứng kiến.
Trong mấy trăm câu chuyện chết đi sống lại mà tác giả trực tiếp được nghe, Moody nhận thấy, tuy kinh nghiệm của mỗi người có điểm khác nhau nhưng tựu trung thì có thể nói có chừng 15 điểm mà ông thấy người ta hay nhắc nhở :

1. Ngôn ngữ bất đồng
Người nào cũng tỏ vẻ bực bội rằng, ngôn ngữ ở cõi trần không thể diễn tả đúng những sự việc xảy ra ở cõi giới bên kia. Một người trong số đó nói : "Tôi biết, thế giới mà tôi được thấy là một thế giới có hơn 3 chiều, nên không thể nào diễn tả được hết những điều tôi muốn nói với thứ ngôn ngữ 3 chiều của chúng ta".

2. Nghe tin mình đã chết
Nhiều người kể rằng, họ được nghe chính bác sĩ hay những người ở bên cạnh nói rằng họ đã chết. Bà Martin kể : "Tôi vào bệnh viện nhưng họ không tìm ra bệnh. Bác sĩ James đưa tôi sang phòng X quang để chụp ảnh gan tìm bệnh. Vì tôi bị dị ứng với nhiều thứ thuốc nên họ thử trên cánh tay tôi trước. Thấy tôi không có phản ứng gì, họ liền tiêm cho tôi thứ thuốc ấy. Nhưng lần này tôi bị phát dị ứng liền và chết ngay sau đó. Tôi thấy bác sĩ ở phòng X quang vừa chích thuốc cho tôi, bước đến nhấc máy điện thoại. Tôi nghe rõ ông quay từng con số và giọng nói của ông : "Thưa bác sĩ James, tôi đã giết bệnh nhân của ông. Bà Martin chết rồi". Nhưng tôi biết tôi không chết. Tôi cố cử động, cố tìm cách nói cho họ biết là tôi chưa chết nhưng tôi không thể làm gì được. Rồi thấy họ làm thủ tục cấp cứu. Tôi nghe họ nói cần bao nhiêu "cc" thuốc chích cho tôi, nhưng tôi không có cảm giác gì khi mũi kim chích vào da. Tôi cũng không có cảm giác gì khi họ chạm vào người".

3. Tâm an bình và tịch tịnh
Số đông kể rằng, họ tận hưởng được một cảm giác rất an lạc, thật khoan khoái khi mới thoát ra khỏi cái xác của mình. Một người bị bất tỉnh ngay sau khi bị thương nặng ở đầu kể rằng, khi mới bị chấn thương thì anh cảm thấy đau nhói, nhưng chỉ một thoáng thôi, rồi sau đó anh có cảm tưởng như mình đang bềnh bồng trôi trong 1 phòng tối. Mặc dù hôm ấy trời lạnh lắm mà anh cảm thấy rất ấm áp trong khoảng không gian âm u này. Anh thấy tâm thần mình bình an thoải mái lạ lùng và anh chợt nghĩ "chắc là mình đã chết rồi".

Một bà vật vã, đau đớn và ngất đi sau một cơn đau tim. Khi được cứu tỉnh bà kể : "Tôi bắt đầu thấy sung sướng lạ, mọi lo âu buồn phiền biến mất, chỉ còn lại một cảm giác bình an, thoải mái, thanh tịnh. Tôi không còn cảm thấy đau đớn nữa".

4. Âm thanh
Nhiều âm thanh lạ được tả lại, hoặc khi sắp chết hoặc khi vừa tắt thở. Một người đàn ông "chết" trong vòng 20 phút trên bàn mổ kể lại, rằng ông đã nghe một tiếng kêu ù ù rất khó chịu. Tiếng kêu như phát ra từ trong đầu mình chứ không phải từ bên ngoài. Một người đàn bà kể, khi vừa ngất đi thì bà nghe một tiếng rì rì lớn và bà cảm thấy đang chơi vơi bay lộn lòng vòng trong không gian. Bà còn nghe một thứ tiếng khác cũng khó chịu lắm, như tiếng động lạch cạch, tiếng va chạm hay tiếng rống mà cũng như tiếng gió hú. Những người khác thì nghe một âm thanh dễ chịu như âm nhạc, như trường hợp một bệnh nhân "chết" trên đường đi đến bệnh viện, khi được cứu tỉnh lại ông kể : Ông đã nghe 1 âm thanh như âm ba của nhiều cái chuông nhỏ từ đằng xa theo gió vọng lại, làm ông nghĩ đến mấy cái chuông gió của Nhật, và ông chỉ nghe 1 âm thanh này thôi.

5. Đường hầm tối
Ngay vừa khi nghe tiếng động thì người ta cảm thấy như bị hút mạnh vào một khoảng không gian tối. Người thì nói giống như một hang động; người thì bảo sâu hút như một cái giếng; người khác thì mô tả như một khoảng không, một đường hầm, một ống xoắn, một cái chuồng, thung lũng, ống cống, hoặc khoảng không của một hình vật thể hình trụ. Tuy được diễn tả khác nhau nhưng điều này cho thấy, người nào cũng trải qua kinh nghiệm này. Một bệnh nhân kể : Khi tim anh ngừng đập vì bị dị ứng với thuốc mê thì anh thấy mình như bay qua một khoảng không tối tăm như một đường hầm, với tốc độ cực nhanh như một con tàu đang lao đầu bay xuống ở 1 công trường giải trí.

6. Giây phút bước ra khỏi xác
Tuy ai cũng biết rằng, cái "Ta" gồm 2 phần : thân và thức, nhưng ít ai hiểu biết được phần Thức vì cho rằng, có thân xác vật lý thì trí óc mới hoạt động được, không thể nào có 1 đời sống nào khác ngoài đời sống với tấm thân vật lý này. Cho nên, trong quá trình chết đi sống lại, ai cũng bị ngạc nhiên quá mức khi họ được ngắm nghía thân xác bất động của họ.

Thực khó tưởng tượng được tâm trạng của những người này, khi họ thấy mình đứng đây mà sao lại còn có thân hình mình nằm bất động ở đằng kia ! Khi hồn vừa lìa khỏi xác, họ chưa ý thức được mình đã chết nên ngẩn ngơ không hiểu được hiện tượng này. Nhiều người muốn nhập vào xác mình lại nhưng không biết làm sao. Có người rất hoảng sợ nhưng cũng có người không sợ hãi. Một bệnh nhân nói : "Bệnh tôi trở nặng, bác sĩ buộc phải vào nhà thương. Sáng hôm ấy tôi thấy một lớp như sương mù bao phủ quanh tôi và cùng lúc ấy tôi thấy mình bước ra khỏi xác. Tôi thấy mình bềnh bồng bay lên phía trên và nhìn xuống cái xác mình nằm ở giường. Tôi không thấy sợ hãi chút nào, chỉ thấy một cảm giác bình yên trong một khung cảnh êm ả thanh bình. Và tôi nghĩ, có lẽ tôi đang đi về cõi chết. Tôi tự nhủ, rằng nếu tôi không nhập trở lại được vào cái xác kia thì tôi chết thật rồi, và như vậy cũng không sao".
Nhiều người nói rằng sau giây phút hoang mang lúc đầu, dần dà họ thấy giác quan mới của thể hồn bén nhạy hơn. Họ có thể nhìn thật xa, nghe thật rõ, đọc được ý nghĩ của người khác, và chỉ cần nghĩ đến chỗ nào họ muốn đi thì đã thấy mình ở đó rồi. Nhưng vì họ không trao đổi gì được với những người xung quanh nên họ thấy cô đơn buồn tủi.

7. Gặp những thể hồn khác
Nhiều người kể lại, họ chỉ cảm thấy cô đơn trong chốc lát thôi, sau đó họ được gặp gỡ và chuyện trò với những người thân, bạn bè quá cố. Một người phụ nữ kể lại cuộc vượt cạn khó khăn, bà bị mất máu rất nhiều trong khi sinh. Lúc đó bà nghe bác sĩ nói là bà không sống được nhưng bà thấy mình vẫn tỉnh táo và ngay khi ấy bà thấy nhiều người vây quanh bà nhưng chỉ thấy mặt thôi. Họ đông người lắm, lơ lửng ở trên trần nhà. Bà nhận ra đó là những người thân và quen đã qua đời, bà thấy bà ngoại của mình và một cô bé bạn học hồi nhỏ cùng nhiều người bà con quen biết khác. Ai cũng có vẻ tươi cười như chào đón bà ở xa về.

Một người khác kể rằng sau khi người bạn thân tên Bob chết vài tuần thì ông cũng suýt chết. Ông thấy mình bước ra khỏi thể xác vật chất và có cảm tưởng như Bob đang đứng cạnh mình. Ông biết đó là Bob nhưng lại trông không giống như hồi còn sống. Tuy nhìn thấy Bob, nhưng không phải nhìn bằng mắt vì chính ông cũng không có mắt ! Nhưng lúc ấy ông không nghĩ đến điều này là lạ vì ông không cần có mắt mà vẫn thấy. Ông hỏi Bob : "Bây giờ tôi phải đi đâu, chuyện gì đang xảy ra ? Có phải tôi chết rồi không ? Nhưng Bob không nói gì cả. Suốt mấy ngày tôi ở bệnh viện, Bob luôn ở bên cạnh tôi nhưng vẫn không trả lời những câu hỏi của tôi cho đến ngày bác sĩ tuyên bố là tôi đã thoát chết thì Bob bỏ đi".

8. Đối diện với người ánh sáng
Tuy tình tiết về kinh nghiệm "chết" của mọi người khác nhau nhưng ai cũng nói đến cuộc gặp gỡ một vị thân toàn ánh sáng. Đây có lẽ một chi tiết lạ lùng nhất đã làm thay đổi cuộc đời của những người chết đi sống lại. Lúc đầu, vị này hiện ra trong thứ ánh sáng lờ mờ, rồi ánh sáng trở nên rõ dần và sau cùng thì hiện toàn thân trong một thứ ánh sáng rực rỡ. Có điều lạ là, tuy rực rỡ nhưng không làm chói mắt. Tuy vị này hiện ra như một tòa ánh sáng mà ai cũng hiểu đây là một người với đầy đủ cá tính nhân phẩm của một cá nhân. Vị này đã ban phát cho họ một tình thương yêu không thể dùng lời nói mà diễn tả được và ai cũng quyến luyến muốn kề cận vị này. Có một điều lý thú là hầu hết mọi người đều tả dung mạo, phong cách của người ánh sáng này giống nhau nhưng khi được hỏi người ấy là ai thì mỗi người nói một cách khác, tùy theo niềm tin tôn giáo của họ.

9. Nhìn lui quãng đời mình
"Người ánh sáng" nhắc nhở người chết tự kiểm thảo đời mình, và cho người chết xem lại quãng đời của mình rõ ràng như được chiếu trên màn ảnh lớn, từ lúc còn nhỏ ở với cha mẹ, lớn lên đi học, đỗ đạt, công danh sự nghiệp ...đều hiện lên rất rõ. "Người ánh sáng" nhắc nhở rằng, ở trên đời không có gì quan trọng ngoài tình thương. Một người kể rằng, khi ông được xem quãng đời niên thiếu của ông với cô em gái, người mà ông rất thương yêu; "người ánh sáng" cho ông xem những lúc ông hành động một cách ích kỷ hay tỏ lòng trìu mến săn sóc em mình. "Người ánh sáng" nhấn mạnh đến việc nên giúp đỡ người khác. Dường như vị này rất chú tâm đến sự học hỏi, cứ nhắc nhở ông phải lo trau dồi sự hiểu biết của mình và nói rằng, sau khi thật sự giả từ thế gian để sang cõi này ông cũng vẫn phải tiếp tục học hỏi, vì đó là một qui trình không gián đoạn.

10. Ranh giới giữa hai cõi
Nhiều người nhớ rằng, họ đi dần đến một chỗ giống như một bờ ranh, một bờ sông, một cánh cửa, một vùng sương mù màu xám, một hàng rào, hay chỉ như một đường vẽ dưới đất. Một người bệnh tim kể : "Sau khi lìa khỏi xác, tôi thấy mình đang đi trên một cánh đồng thật đẹp, toàn một màu lục, nhưng khác hẳn màu lục của thế gian và chung quanh tôi tràn ngập một thứ ánh sáng kỳ diệu. Xa xa đằng trước là một cái hàng rào, tôi vội rảo bước sang về phía đó thì thấy một người phía bên kia đang tiến về hàng rào như để gặp tôi, nhưng bỗng nhiên tôi có cảm tưởng bị kéo thụt lùi, và người phía bên kia thì ngoảnh lưng lại đi về hướng xa hàng rào".

11. Trở lại cõi trần
Dĩ nhiên, tất cả những người có kinh nghiệm chết này đều sống lại. Và điều đáng nói là tất cả đều đổi khác sau khi nhìn thấy thế giới bên kia. Phần đông nói rằng, khi vừa tắt thở, họ tiếc nuối thân vật lý lắm, và cố tìm cách trở lại. Nhưng dần dà khi thấy nhiều điều mới lạ ở cảnh giới bên kia thì họ không muốn trở về nữa, nhất là những người đã được gặp gỡ "người ánh sáng" và được vị này ban cho một thứ tình thương bao la vô điều kiện. Nhưng có người thì muốn trở về để tiếp nối một công việc đang dở dang, hay vì các con đang còn nhỏ. Có người nghĩ rằng vì người thân của họ níu kéo, cầu nguyện nên họ không "đi" được như câu chuyện sau đây : "Tôi săn sóc một người cô già. Cô bệnh lần này khá lâu. Đã mấy lần cô tắt thở, nhưng lại được cứu sống, có lẽ vì mọi người trong gia đình ai cũng thương cô và cầu nguyện cho cô bình an. Một hôm cô nhìn tôi và bảo : "Joan, cô đã thấy cõi giới bên kia đẹp lắm. Cô muốn ở lại bên đó nhưng con và mọi người cứ cầu nguyện cố giữ cô lại bên này nên cô không đi được. Thôi, con nói mọi người đừng cầu nguyện cho cô nữa". Và chúng tôi ngưng cầu nguyện thì cô mất một cách bình yên sau đó".

Phần đông nói rằng, họ không nhớ đã "trở về" như thế nào. Họ nói, họ chỉ thấy buồn ngủ, rồi mê đi và khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm trên giường bệnh như trước khi được sang thế giới bên kia. Nhưng cũng có người nhớ rõ chi tiết khi được trở về. Một người kể, khi hồn vừa lìa khỏi xác, ông thấy mình bị cuốn đi nhanh qua con đường hầm tối. Khi sắp sửa ra khỏi đường hầm thì ông nghe ai gọi giật tên mình ở phía sau, và bất thần ông bị lôi tuột trở lại. Một ông khác kể là, hồn ông bay lên trần nhà nhìn xuống thấy bác sĩ, y tá đang cuống quýt cứu chữa. Khi bàn sốc đặt vào ngực, toàn thân ông giật nẩy lên và đúng lúc đó ông bị rớt xuống thẳng đứng như một tảng đá và chui tuột vào thân thể trên giường. Một người khác thì thấy hồn thoát ra từ đỉnh đầu, như được tả trong cuốn "Tử Thư Tây Tạng".

12. Kể lại kinh nghiệm "chết"
Những người đã trải qua kinh nghiệm này nhớ rất rõ là, họ đã ngạc nhiên sửng sốt khi chứng kiến những sự việc đang xảy ra cho họ. Họ bảo chúng đã thật sự xảy ra chứ không phải do trí tưởng tượng hay ảo giác. Tuy thế, nhiều người không dám kể hoặc chỉ kể cho một vài người thân mà thôi, vì họ biết ở xã hội này không ai tin những chuyện như thế, và còn cho là họ bị bệnh tâm thần. Một cậu bé kể cho mẹ nghe, nhưng vì em còn nhỏ nên bà mẹ không để ý đến những lời em kể, từ đó em không kể cho ai nghe nữa. Người thì cố kể cho mục sư của mình nghe nhưng bị vị này phê bình là mình bị ảo giác. Một cô học trò trung học muốn kể cho bạn nghe kinh nghiệm lạ lùng của mình nhưng bị cho là tâm thần nên đành nín lặng. Vì vậy, ai cũng cứ tưởng chuyện này chỉ xảy ra cho một mình mình thôi. Khi bác sĩ Moody nói với họ rằng, có nhiều người đã có kinh nghiệm tương tự thì họ có vẻ mừng, vì thấy không phải mình "điên", không phải chỉ một mình mình thấy những chuyện lạ lùng của cõi giới bên kia.

13. Thay đổi tâm tư
Như đã trình bày trên, những người trải qua kinh nghiệm này thường thường không muốn kể với ai, nhưng họ cảm thấy những gì họ kinh nghiệm đã để lại một dấu ấn sâu xa trong đời họ, đã mở rộng tầm mắt của họ, đã thay đổi hẳn lối nhìn của họ về cuộc đời. Một ông tâm sự : "kể từ ngày ấy, tôi thường tự hỏi, tôi đã làm gì với cuộc đời của tôi, và khoảng đời còn lại này tôi sẽ phải sống như thế nào. Ngày trước muốn gì là tôi làm liền, không suy nghĩ đắn đo. Nay thì tôi thận trọng lắm. Trước khi hành động tôi thường tự hỏi lòng mình xem việc này có đáng làm hay không hay chỉ có lợi cho bản thân thôi ? Nó có ý nghĩa gì, có ích lợi gì cho đời sống tâm linh không ? Tôi không phê phán người khác, không thành kiến, không tranh cãi. Và tôi thấy hình như mình hiểu rõ mọi sự việc chung quanh một cách đúng đắn hơn, dễ dàng hơn".
Nói chung, những người chết hồi sinh đều thấy đời mình có một mục đích rõ ràng hơn, tâm tư thoải mái hơn, đầu óc rộng rãi cởi mở hơn, tình thương yêu nhiều hơn, và nhấn mạnh đến đời sống tâm linh, cũng như một đời sống khác sau khi chết. Họ như sực tỉnh khi thấy xưa nay mình chỉ "mãi sống", và lúc nào tâm tư cũng lo lắng, mưu cầu, sắp đặt cho ngày mai, hay luyến tiếc quá khứ mà quên sống với giây phút hiện tại. Họ khám phá rằng, đời sống tinh thần thật sự quí báu hơn đời sống vật chất nhiều; rằng thân xác vật lý chỉ là nơi tạm trú cho phần tâm linh. Và họ đều nói đến bài học từ "người ánh sáng" : Ở trên đời, tiền tài, danh vọng hay bằng cấp cao cũng không đáng gì, chỉ có tình thương, ý tưởng phụng sự người khác mới đáng kể. Thông điệp thứ hai từ "người ánh sáng" là : Mọi người nên trau dồi trí tuệ và tình thương, vì sống và chết là một quá trình được tiếp nối không ngừng.

Một anh chàng trẻ tuổi đang học làm tu sĩ Tin Lành kể, trước kia anh nghĩ chỉ có những người theo giáo phái của anh mới được cứu rỗi, còn ngoài ra tất cả đều là tà đạo và sẽ phải xuống hỏa ngục hết. Sau khi gặp "người ánh sáng" thì anh thay đổi hoàn toàn. Anh thấy vị này hiền hòa, nhân từ chứ không như niềm tin về sự trừng phạt những người không tin mình như Thánh Kinh miêu tả. Vị này không hề hỏi han gì về giáo phái của anh đang theo mà chỉ hỏi anh có biết yêu thương người khác không.

14. Quan niệm mới về cái chết
Sau khi được thấy cảnh giới đẹp đẽ bên kia, không còn ai sợ chết nữa. Nói như thế không phải là họ chán sống và muốn đi tìm cái chết. Trái lại, họ thấy quý đời sống hơn và hiểu rằng đời sống này là một môi trường tốt cho họ học hỏi. Họ cho rằng, vì còn nhiều việc cần phải làm nên họ mới "bị" trả về và làm cho xong, để sau này được ra đi 1 cách nhẹ nhàng.

Một người kể : "Kinh nghiệm này đã thay đổi hẳn cả cuộc đời của tôi mặc dù chuyện này đã xảy ra lúc tôi mới 10 tuổi. Từ đấy tôi tin tưởng hoàn toàn rằng, có một đời khác sau đời sống này và tôi không hề sợ chết. Tôi thường tự cười thầm mỗi khi nghe có người cho rằng chết là hết".

Có người thì ví cái chết như là một sự di chuyển từ một nơi này sang một nơi khác, hay từ một con người vật chất sang một thể tâm linh cao hơn. Có một bà, sau khi thấy có nhiều người thân đến chào, có cảm tưởng như mình được đón tiếp về nhà sau một thời gian đi chơi xa. Người khác thì nói rằng, dùng từ "chết" để tả lại cảnh tượng này là không đúng, vì đây giống như một sự thay đổi chỗ ở. Một người khác nữa thì ví thân thể mình như là nhà tù, và khi chết thì được thoát ra khỏi cái ngục tù đó !

15. Chứng cớ cụ thể
Dĩ nhiên, có nhiều người đặt câu hỏi, những chuyện do người chết hồi sinh kể lại có thể tin được không, có chứng cớ gì không ? Câu trả lời là có. Thứ nhất, các bác sĩ thấy các bệnh nhân đã tắt thở, tim đã ngừng đập, nên họ mới dùng phương pháp cấp cứu, vậy mà sau khi hồi sinh, bệnh nhân đã dùng danh từ y khoa kể lại đầy đủ chi tiết những gì xảy ra trong khi họ nằm bất động trên giường !

Một cô gái sau khi lìa khỏi xác đã đi qua phòng bên cạnh và thấy chị mình đang ngồi khóc và kêu thầm "Kathy, đừng chết, em ơi đừng chết". Sau khi hồi tỉnh, cô kể lại chi tiết này và chị cô không hiểu sao cô lại biết rõ như vậy. Một nạn nhân kể lại đầy đủ tình tiết về những người chung quanh, họ đã nói những gì, ăn mặc ra sao..v..v... Một bà kể, khi hồn lơ lửng trên trần nhà, bà thấy một chùm chìa khóa trên một nóc tủ. Chùm chìa khóa này của một bác sĩ, trong lúc vội vàng đã vứt lên đó đã mấy ngày trước và quên bẵng đi...

Đó là toàn bộ những câu chuyện được bác sĩ Raymond Moody viết lại. Những ai muốn tìm hiểu chi tiết về cảnh giới bên kia cửa tử có thể tìm đọc tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả người Mỹ. Chỉ cần vào Google và ghi "the life beyond" thì sẽ thấy vô số tài liệu. Khi đọc cuốn "Tử Thư Tây Tạng" (Tibetan Book of The Death), tôi thấy có nhiều điểm tương đồng với cảnh giới được diễn tả trong cuốn "Life After Life" của bác sĩ Raymond Moody. Có một điều lạ là, những người chết đi sống lại đều nói đến một luồng ánh sáng, hay 1 người sáng, mà họ cho là thiên thần, tùy vào lòng tin tôn giáo của họ. Và cuốn Tử Thư Tây Tạng thì nói rất rõ đó là Đức Phật Tỳ Lô Giá Na ngự trong biển sáng.

Người ánh sáng được diễn tả trong cuốn sách của bác sĩ Moody không nói mình là ai. Vị này dường như thương mến tất cả mọi người và dạy mọi người rằng làm người phải biết thương thân mình và thương người khác; rằng hành trang mà người chết có thể mang theo chỉ là tình thương thôi, một thứ tình thương vô vị kỷ. Tôi thấy những lời dạy này cũng quen thuộc như những lời dạy của Đức Phật.










__._,_.___Reply to sender | Reply to group | Reply via web post | Start a New Topic
Messages in this topic (1)
Recent Activity: Visit Your Group

Switch to: Text-Only, Daily Digest • Unsubscribe • Terms of Use.

Gửi bởi: hoaha Jan 2 2011, 04:08 PM

CÂU CHUYỆN BÁT MÌ
Trong cuộc sống ngày nay, xin đừng quên rằng còn tồn tại lòng nhân ái. Đây là một câu chuyện có thật, chúng tôi gọi là "Câu chuyện bát mì". Chuyện xảy ra cách đây năm mươi năm vào ngày 31-12, một ngày cuối năm tại quán mì Bắc Hải Đình, đường Trát Hoảng, Nhật Bản.
Đêm giao thừa, ăn mì sợi đón năm mới là phong tục tập quán của người Nhật, cho nên đến ngày đó công việc làm ăn của quán mì rất phát đạt. Ngày thường, đến chạng vạng tối trên đường phố hãy còn tấp nập ồn ào nhưng vào ngày này mọi người đều lo về nhà sớm hơn một chút để kịp đón năm mới.
Vì vậy đường phố trong phút chốc đã trở nên vắng vẻ. Ông chủ Bắc Hải Đình là một người thật thà chất phác, còn bà chủ là một người nhiệt tình, tiếp đãi khách như người thân. Đêm giao thừa, khi bà chủ định đóng cửa thì cánh cửa bị mở ra nhè nhẹ, một người phụ nữ trung niên dẫn theo hai bé trai bước vào.
Đứa nhỏ khoảng sáu tuổi, đứa lớn khoảng 10 tuổi. Hai đứa mặc đồ thể thao giống nhau, còn người phụ nữ mặc cái áo khoác ngoài lỗi thời.
- Xin mời ngồi!
Nghe bà chủ mời, người phụ nữ rụt rè nói:
- Có thể... cho tôi một… bát mì được không?
Phía sau người phụ nữ, hai đứa bé đang nhìn chăm chú.
- Đương nhiên… đương nhiên là được, mời ngồi vào đây.
Bà chủ dắt họ vào bàn số hai, sau đó quay vào bếp gọi to:
- Cho một bát mì.
Ba mẹ con ngồi ăn chung một bát mì trông rất ngon lành, họ vừa ăn vừa trò chuyện khe khẽ với nhau.
- Ngon quá - thằng anh nói.
- Mẹ, mẹ ăn thử đi - thằng em vừa nói vừa gắp mì đưa vào miệng mẹ.
Sau khi ăn xong, người phụ nữ trả một trăm năm mươi đồng. Ba mẹ con cùng khen: “Thật là ngon! Cám ơn!” rồi cúi chào và bước ra khỏi quán.
- Cám ơn các vị! Chúc năm mới vui vẻ - ông bà chủ cùng nói.
Công việc hàng ngày bận rộn, thế mà đã trôi qua một năm. Lại đến ngày 31-12, ngày chuẩn bị đón năm mới. Công việc của Bắc Hải Đình vẫn phát đạt. So với năm ngoái, năm nay có vẻ bận rộn hơn. Hơn mười giờ, bà chủ toan đóng cửa thì cánh cửa lại bị mở ra nhè nhẹ. Bước vào tiệm là một người phụ nữ dẫn theo hai đứa trẻ. Bà chủ nhìn thấy cái áo khoác lỗi thời liền nhớ lại vị khách hàng cuối cùng năm ngoái.
- Có thể… cho tôi một… bát mì được không?
- Đương nhiên… đương nhiên, mời ngồi!
Bà chủ lại đưa họ đến bàn số hai như năm ngoái, vừa nói vọng vào bếp:
- Cho một bát mì.
Ông chủ nghe xong liền nhanh tay cho thêm củi vào bếp trả lời:
- Vâng, một bát mì!
Bà chủ vào trong nói nhỏ với chồng:
- Này ông, mình nấu cho họ ba bát mì được không?
- Không được đâu, nếu mình làm thế chắc họ sẽ không vừa ý.
Ông chủ trả lời thế nhưng lại bỏ nhiều mì vào nồi nước lèo, ông ta cười cười nhìn vợ và thầm nghĩ: “Trông bà bề ngoài khô khan nhưng lòng dạ cũng không đến nỗi nào!”.
Ông làm một tô mì to thơm phức đưa cho bà vợ bưng ra. Ba mẹ con ngồi quanh bát mì vừa ăn vừa thảo luận. Những lời nói của họ đều lọt vào tai hai vợ chồng ông chủ quán.
- Thơm quá! - Năm nay vẫn được đến Bắc Hải Đình ăn mì thật là may mắn quá! - Sang năm nếu được đến đây nữa thì tốt biết mấy!
Ăn xong, trả một trăm năm mươi đồng, ba mẹ con ra khỏi tiệm Bắc Hải Đình.
- Cám ơn các vị! Chúc năm mới vui vẻ!
Nhìn theo bóng dáng ba mẹ con, hai vợ chồng chủ quán thảo luận với nhau một lúc lâu. Đến ngày 31-12 lần thứ ba, công việc làm ăn của Bắc Hải Đình vẫn rất tốt, vợ chồng ông chủ quán bận rộn đến nỗi không có thời gian nói chuyện.
Đến 9g30 tối, cả hai người đều cảm thấy trong lòng có một cảm giác gì đó khó tả. Đến 10 giờ, nhân viên trong tiệm đều đã nhận bao lì xì và ra về. Ông chủ vội vã tháo các tấm bảng trên tường ghi giá tiền của năm nay là “200đ/bát mì” và thay vào đó giá của năm ngoái “150đ/bát mì”. Trên bàn số hai, ba mươi phút trước bà chủ đã đặt một tờ giấy “Đã đặt chỗ”.
Đúng 10g30, ba mẹ con xuất hiện, hình như họ cố chờ khách ra về hết rồi mới đến. Đứa con trai lớn mặc bộ quần áo đồng phục cấp hai, đứa em mặc bộ quần áo của anh, nó hơi rộng một chút, cả hai đứa đều đã lớn rất nhiều.
- Mời vào! Mời vào! - bà chủ nhiệt tình chào đón.
Nhìn thấy khuôn mặt tươi cười của bà chủ, người mẹ chậm rãi nói:
- Làm ơn nấu cho chúng tôi… hai bát mì được không?
- Được chứ, mời ngồi bên này!
Bà chủ lại đưa họ đến bàn số hai, nhanh tay cất tờ giấy “Đã đặt chỗ” đi, sau đó quay vào trong la to: "Hai bát mì”.
- Vâng, hai bát mì. Có ngay.
Ông chủ vừa nói vừa bỏ ba phần mì vào nồi. Ba mẹ con vừa ăn vừa trò chuyện, dáng vẻ rất phấn khởi. Đứng sau bếp, vợ chồng ông chủ cũng cảm nhận được sự vui mừng của ba mẹ con, trong lòng họ cũng cảm thấy vui lây.
- Tiểu Thuần và anh lớn này, hôm nay mẹ muốn cảm ơn các con!
- Cảm ơn chúng con? Tại sao ạ?
- Chuyện là thế này: vụ tai nạn xe hơi của bố các con đã làm cho tám người bị thương, công ty bảo hiểm chỉ bồi thường một phần, phần còn lại chúng ta phải chịu, vì vậy mấy năm nay mỗi tháng chúng ta đều phải nộp năm mươi ngàn đồng.
- Chuyện đó thì chúng con biết rồi - đứa con lớn trả lời.
Bà chủ đứng bên trong không dám động đậy để lắng nghe.
- Lẽ ra phải đến tháng ba năm sau chúng ta mới nộp hết nhưng năm nay mẹ đã nộp xong cả rồi!
- Hả, mẹ nói thật đấy chứ?
- Ừ, mẹ nói thật. Bởi vì anh lớn nhận trách nhiệm đi đưa báo, còn Tiểu Thuần giúp mẹ đi chợ nấu cơm làm mẹ có thể yên tâm làm việc, công ty đã phát cho mẹ một tháng lương đặc biệt, vì vậy số tiền chúng ta còn thiếu mẹ đã nộp hết rồi.
- Mẹ ơi! Anh ơi! Thật là tốt quá, nhưng sau này mẹ cứ để con tiếp tục nấu cơm nhé.
- Con cũng tiếp tục đi đưa báo. Tiểu Thuần, chúng ta phải cố gắng lên!
- Mẹ cám ơn hai anh em con nhiều!
- Tiểu Thuần và con có một bí mật chưa nói cho mẹ biết. Đó là vào một ngày chủ nhật của tháng mười một, trường của Tiểu Thuần gửi thư mời phụ huynh đến dự một tiết học. Thầy giáo của Tiểu Thuần còn gửi một bức thư đặc biệt cho biết bài văn của Tiểu Thuần đã được chọn làm đại diện cho Bắc Hải đảo đi dự thi văn toàn quốc. Con nghe bạn của Tiểu Thuần nói mới biết nên hôm đó con đã thay mẹ đến dự.
- Có thật thế không? Sau đó ra sao?
- Thầy giáo ra đề bài: “Chí hướng và nguyện vọng của em là gì?”, Tiểu Thuần đã lấy đề tài bát mì để viết và được đọc trước tập thể nữa chứ. Bài văn được viết như sau: “Ba bị tai nạn xe mất đi để lại nhiều gánh nặng. Để gánh vác trách nhiệm này, mẹ phải thức khuya dậy sớm để làm việc”. Đến cả việc hàng ngày con phải đi đưa báo, em cũng viết vào bài nữa. Lại còn: “Vào tối 31-12, ba mẹ con cùng ăn một bát mì rất ngon. Ba người chỉ gọi một tô mì, nhưng hai vợ chồng bác chủ tiệm vẫn cám ơn và còn chúc chúng tôi năm mới vui vẻ nữa. Lời chúc đó đã giúp chúng tôi có dũng khí để sống, khiến cho gánh nặng của ba để lại nhẹ nhàng hơn”. Vì vậy Tiểu Thuần viết rằng nguyện vọng của nó là sau này mở một tiệm mì, trở thành ông chủ tiệm mì lớn nhất ở Nhật Bản, cũng sẽ nói với khách hàng của mình những câu như: “Cố gắng lên! Chúc hạnh phúc! Cám ơn!”.
Đứng sau bếp, hai vợ chồng chủ quán lặng người lắng nghe ba mẹ con nói chuyện mà nước mắt lăn dài.
- Bài văn đọc xong, thầy giáo nói: anh của Tiểu Thuần hôm nay thay mẹ đến dự, mời em lên phát biểu vài lời.
- Thật thế à? Thế lúc đó con nói sao?
- Bởi vì quá bất ngờ nên lúc đầu con không biết phải nói gì cả, con nói: “Cám ơn sự quan tâm và thương yêu của thầy cô đối với Tiểu Thuần. Hàng ngày em con phải đi chợ nấu cơm nên mỗi khi tham gian hoạt động đoàn thể gì đó nó đều phải vội vã về nhà, điều này gây không ít phiền toái cho mọi người. Vừa rồi khi em con đọc bài văn thì trong lòng con cảm thấy sự xấu hổ nhưng đó là sự xấu hổ chân chính. Mấy năm nay mẹ chỉ gọi một bát mì, đó là cả một sự dũng cảm. Anh em chúng con không bao giờ quên được… Anh em con tự hứa sẽ cố gắng hơn nữa, quan tâm chăm sóc mẹ nhiều hơn. Cuối cùng con nhờ các thầy cô quan tâm giúp đỡ cho em con”.
Ba mẹ con nắm tay nhau, vỗ vai động viên nhau, vui vẻ cùng nhau ăn hết tô mì đón năm mới rồi trả 300 đồng, nói câu cám ơn vợ chồng chủ quán, cúi chào và ra về. Nhìn theo ba mẹ con, vợ chồng ông chủ quán nói với theo:
- Cám ơn! Chúc mừng năm mới!
Lại một năm nữa trôi qua. Bắc Hải Đình vào lúc 9g tối, bàn số hai được đặt một tấm giấy “Đã đặt chỗ” nhưng ba mẹ con vẫn không thấy xuất hiện. Năm thứ hai rồi thứ ba, bàn số hai vẫn không có người ngồi. Ba mẹ con vẫn không thấy trở lại. Việc làm ăn của Bắc Hải Đình vẫn như mọi năm, toàn bộ đồ đạc trong tiệm được thay đổi, bàn ghế được thay mới nhưng bàn số hai thì được giữ lại y như cũ.
“Việc này có ý nghĩa như thế nào?”. Nhiều người khách cảm thấy ngạc nhiên khi nhìn thấy cảnh này nên đã hỏi. Ông bà chủ liền kể lại câu chuyện bát mì cho mọi người nghe. Cái bàn cũ kia được đặt ngay chính giữa, đó cũng là một sự hy vọng một ngày nào đó ba vị khách kia sẽ quay trở lại, cái bàn này sẽ dùng để tiếp đón họ.
Bàn số hai “cũ” trở thành “cái bàn hạnh phúc”, mọi người đều muốn thử ngồi vào cái bàn này. Rồi rất nhiều lần 31-12 đã đi qua. Lại một ngày 31-12 đến. Các chủ tiệm lân cận Bắc Hải Đình sau khi đóng cửa đều dắt người nhà đến Bắc Hải Đình ăn mì. Họ vừa ăn vừa chờ tiếng chuông giao thừa vang lên. Sau đó, mọi người đi bái thần, đây là thói quen năm, sáu năm nay.
Hơn 9g30 tối, trước tiên vợ chồng ông chủ tiệm cá đem đến một chậu cá còn sống. Tiếp đó, những người khác đem đến nào là rượu, thức ăn, chẳng mấy chốc đã có khoảng ba, bốn chục người. Mọi người rất vui vẻ. Ai cũng biết lai lịch của bàn số hai.
Không ai nói ra nhưng thâm tâm họ đang mong chờ giây phút đón mừng năm mới. Người thì ăn mì, người thì uống rượu, người bận rộn chuẩn bị thức ăn… Mọi người vừa ăn, vừa trò chuyện, từ chuyện trên trời dưới đất đến chuyện nhà bên có thêm một chú nhóc nữa. Chuyện gì cũng tạo thành một chuỗi câu chuyện vui vẻ. Ở đây ai cũng coi nhau như người nhà.
Đến 10g30, cửa tiệm bỗng nhiên mở ra nhè nhẹ, mọi người trong tiệm liền im bặt và nhìn ra cửa. Hai thanh niên mặc veston, tay cầm áo khoác bước vào, mọi người trong quán thở phào và không khí ồn ào náo nhiệt trở lại.
Bà chủ định ra nói lời xin lỗi khách vì quán đã hết chỗ thì đúng lúc đó một người phụ nữ ăn mặc hợp thời trang bước vào, đứng giữa hai thanh niên. Mọi người trong tiệm dường như nín thở khi nghe người phụ nữ ấy nói chầm chậm:
- Làm ơn… làm ơn cho chúng tôi ba bát mì được không?
Gương mặt bà chủ chợt biến sắc. Đã mười mấy năm rồi, hình ảnh bà mẹ trẻ cùng hai đứa con trai chợt hiện về và bây giờ họ đang đứng trước mặt bà đây. Đứng sau bếp, ông chủ như mụ người đi, giơ tay chỉ vào ba người khách, lắp bắp nói:
- Các vị… các vị là…
Một trong hai thanh niên tiếp lời:
- Vâng! Vào ngày cuối năm của mười bốn năm trước đây, ba mẹ con cháu đã gọi một bát mì, nhận được sự khích lệ của bát mì đó, ba mẹ con cháu như có thêm nghị lức để sống. Sau đó, ba mẹ con cháu đã chuyển đến sống ở nhà ông bà ngoại ở Tư Hạ. Năm nay cháu thi đỗ vào trường y, hiện đang thực tập tại khoa nhi của bệnh viện Kinh Đô. Tháng tư năm sau cháu sẽ đến phục vụ tại bệnh viện tổng hợp của Trát Hoảng. Hôm nay, chúng cháu trước là đến chào hỏi bệnh viện, thuận đường ghé thăm mộ của ba chúng cháu. Còn em cháu mơ ước trở thành ông chủ tiệm mì lớn nhất Nhật Bản không thành, hiện đang là nhân viên của Ngân hàng Kinh Đô. Cuối cùng, ý định nung nấy từ bao lâu nay của chúng cháu là hôm nay, ba mẹ con cháu muốn đến chào hỏi hai bác và ăn mì ở Bắc Hải Đình này.
Ông bà chủ quán vừa nghe vừa gật đầu mà nước mắt ướt đẫm mặt. Ông chủ tiệm rau ngồi gần cửa ra vào đang ăn đầy miệng mì, vội vã nhả ra, đứng dậy nói:
- Này, ông bà chủ, sao lại thế này? Không phải là ông bà đã chuẩn bị cả mười năm nay để có ngày gặp mặt này đó sao? Mau tiếp khách đi chứ! Mau lên!
Bà chủ như bừng tỉnh giấc, đập vào vai ông hàng rau, cười nói:
- Ồ phải… Xin mời! Xin mời! Nào bàn số hai cho ba bát mì.
Ông chủ vội vàng lau nước mắt trả lời:
- Có ngay. Ba bát mì.
- o O o -
Thật ra cái mà ông bà chủ tiệm bỏ ra không có gì nhiều lắm, chỉ là vài vắt mì, vài câu nói chân thành mang tính khích lệ, động viên chúc mừng. Với xã hội năng động ngày nay, con người dường như có một chút gì đó lạnh lùng, nhẫn tâm.

Nhưng từ câu chuyện này, tôi đi đến kết luận rằng: chúng ta không nên chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xung quanh, chỉ cần bạn có một chút quan tâm dành cho người khác thì bạn có thể đem đến niềm hạnh phúc cho họ rồi. Chúng ta không nên nhỏ nhoi ích kỷ bởi tôi tin trong mỗi chúng ta đều ẩn chứa một tấm lòng nhân ái. Hãy mở kho tàng ấy ra và thắp sáng nó lên dù chỉ là một chút ánh sáng yếu ớt, nhưng trong đêm đông giá rét thì nó có thể mang lại sự ấm áp cho mọi người.

Câu chuyện này xuất hiện làm xúc động không ít độc giả Nhật Bản. Có người nhận xét rằng: "Đọc xong câu chuyện này không ai không rơi nước mắt". Đây chỉ là lời nhận xét mang tính phóng đại một chút nhưng nó không phải là không thực tế. Quả thật, nhiều người đọc xong câu chuyện đã phải rơi lệ, chính sự quan tâm chân thành và lòng nhân hậu trong câu chuyện đã làm cho họ phải xúc động.

Gửi bởi: hoaha Jan 5 2011, 01:00 AM

NAM MO DAI PHUONG QUANG PHAT HOA NGHIEM KINH.
HOA NGHIEM HAI HOI PHAT BO TAT.




Sự tích 18 vị A La Hán


Có một câu chuyện lịch sử nói về sự linh ứng của 18 vị A la Hán có liên quan đến sự nghịch khảo và thuận khảo. Khi xưa thành Cẩm Châu Trung quốc có hai ngôi Chùa. Một là Xuất thủy Tự, hai là Hương tích Tự cách nhau hơn mười dặm. Trong khuôn viên của Xuất Thủy Tự có một ao nước tốt, chứa nhiều linh khí. Nhiều người viếng Chùa uống thử nước chảy từ một khe đá trong ao thì lạ thay được lành bệnh. Có người không có con đến Chùa cầu xin nước uống thì sanh con trai, con gái đều như ước nguyện. Do vậy mà tiếng đồn lan ra rồi hàng ngàn nam nữ già trẻ lớn bé kéo nhau về Xuất thủy Tự để dự lễ và xin nước uống. Nhà vua lúc bấy giờ cũng được dâng nước uống thì thân thể trở nên khỏe khắn, trăm bệnh đều tan. Xuất Thủy Tự nổi danh như cồn. Ngày nào cũng có người đứng sắp hàng chờ vào Chùa xin nước chữa bệnh. Tiền cúng dường của đàn việt không thể kể hết. Lúc bấy giờ Chùa mới sửa sang lại điện đường nguy nga tráng lệ phòng ốc rộng rãi có khả năng chứa cả vạn vị tăng. Một hôm nọ chùa đang bận rộn đón khách hành hương đến lễ Phật. thì chợt xuất hiện 18 tên ăn mày quần áo mỏng manh rách nát và luôn than đói. Mười tám ăn mày này nói với các vị Tăng đang cai quản chùa ngỏ ý xin bố thí một bữa ăn. Các tăng nhân trong chùa thấy ăn mày quần áo rách nát lòng đã không thương hại, lại cố ý xua đuổi. Nhưng 18 ăn mày vẫn ở lỳ đó không chịu đi. Sau rốt trong Chùa cử một người có uy thế ra mắng bọn ăn mày rằng: “đây là cửa Phật đất Thánh làm sao chứa được bọn ăn mày đói cơm dơ dấy như các ngươi. Mau mau hãy ra khỏi cửa Phật”. Những ăn mày than thở trời tối rồi gió thì lạnh mà cơm không có ăn, chỉ xin Chùa cho ở một đêm rồi đi ngay. Vị tăng lớn nhất trong Chùa nói rằng: “Ở đây không có chổ cho các ngươi ngủ, muốn nghỉ ngơi thì đến Chùa Hương Tích mà ở”. Nói rồi sai mười mấy vị Tăng dẫn bọn ăn mày ra khỏi cổng. Bọn ăn mày bỗng dưng ngước mặt nhìn trời đồng hát to lên rằng. “Hồn nhiên mà đi, chừ tùy duyên độ người. Từ bi để lòng, chừ bổn phận thầy Tăng, Công danh lợi dưỡng chừ vốn thuộc nghiệp ma. Nhân quả rõ ràng chừ Phật tại Tâm.

Mười tám vị ăn mày đi rồi, các tăng nhân trở lại vào Chùa thì vô cùng kinh hãi khi thấy trên vách cửa Chùa có viết một câu: “Xuất thủy chẳng xuất tăng Chỉ lưu một tăng đốt nhang đèn”. Chủ chùa thất kinh sai người chùi bỏ các chữ ấy. Nhưng càng chùi thì chữ càng hiện rõ hơn. Thầy trụ trì sai người đập phá bức tường để xây lại mới nhưng khi xây xong thì câu chữ đó vẫn lại cứ hiện rõ ràng. Thế rồi từ ngày ấy nước trong ao bỗng đen ngòm không còn tinh khiết nữa và cũng không linh ứng như ngày xưa nữa. Ai uống phải nước ấy đều bị đau bụng thổ tả. Bị như thế rồi thì đàn việt không còn đến cúng dường nữa mà chùa lại phải ra bên ngoài cả vài dặm để xin nước về dùng. Tiếp theo trong chùa lại xảy ra tai họa liên miên nào là án mạng. Rồi kế đó bọn giặc bị bắt ở kinh thành cung khai ba năm trước tên thủ lãnh của chúng đã lọt lưới và xuất gia tại Xuất Thủy Tự cạo đầu làm tăng. Do lời cung khai này mà nhà vua truyền lệnh tịch biên hết của cải của Chùa xung vào ngân khố triều đình. Gần một ngàn tăng nhân không còn lý do được cúng dường nên lần lược bỏ Chùa đi hết. Điền sản, miếu đường to lớn bị quan phủ địa phương thu làm doanh trại cho lính ở. Chỉ lưu lại đại hùng bửu điện, để những tăng nhân còn lại làm Phật sự. Sau rốt vì không ai cúng dường nữa, nên chỉ còn một ông lão tăng già yếu tình nguyện ở lại lo hương quả trong Chùa. Từ đó Xuất thủy tự không ai nhắc nhở đến nữa.

Nói về Chùa Hương tích chỉ có ba vị tăng tu hành ở đó. Hàng ngày kinh kệ chuông mõ an phận sống đời đạm bạc. Tình hình bổn đạo cũng không có cùng dường nhiều nên Chùa trông rất xơ xác thiếu thốn. Tối đó 18 vị ăn mày bị xua đuổi ra khỏi xuất Thủy Tự thì thẳng đường đi đến Hương tích Tự. Ba vị Hòa thượng thấy ăn mày đói rách quá thì rất thương xót vội cùng nhau lấy củi đốt lên để sưởi ấm cho ăn mày. Một người xuống bếp nấu cơm tiếp đãi. Lại còn sửa soạn chỗ nghỉ ngơi. Trong chùa không có đủ chăn mền. Các hòa thượng mới tháo 18 cánh cửa trong Chùa làm giường để chung trong ba phòng rồi lấy rơm làm nệm cho các ăn mày nằm ấm đỡ lạnh. Các vị Hòa thượng lại bàn với nhau Hay là chúng ta chia nhau vào làng hóa duyên xem có nhà nào giàu có dư giả thì mượn ít chăn mền về cho các ăn mày ngủ đỡ. Nói xong thì chia hai người đi vào xóm. Một người ở Chùa lo dọn cơm.

Lúc bấy giờ trời cũng khuya rồi. Có một vị quan Sát Chánh đi ngủ sớm nằm mộng thấy có 18 vị A La Hán giáng lâm xuống phủ đệ. Các La Hán tay nâng một biển vàng vuông trên biển khắc tám chữ: “Lạc thiện hảo thí, tất hữu hậu phước” (vui làm lành ham bố thí thì ắt có phước về sau). Nằm mơ thấy như thế thì giựt mình tỉnh dậy, kế lại có gia nhân thông báo ngoài cửa có hai vị hòa thượng hóa duyên muốn xin bố thí mền. Quan Sát Chánh nghĩ đến điềm mộng vừa rồi liền ra lệnh cho gia nhân mau mau đem xe bò chở 13 mềm bông đến cúng dường Chùa Hương tích. Đêm đó các vị ăn mày được ngủ ấm ăn ngon trong Chùa.

Sáng sớm các vị Hòa thượng thức dậy vẫn băn khoăn bàn với nhau. Nếu các vị ăn mày này ở đây một đêm rồi đi thì không nói làm gì rủi các vị ở lại nhiều ngày thì làm sao đủ lo cơm nước. Trong chùa không có nhiều lương thực từ lâu. Gạo thì cũng giới hạn. Bàn xong thì cả ba đều một lòng nói rằng: nhân dịp các vị ăn mày còn ngủ mình nên vào thành hóa duyên nữa xem có được ít lương thực gì đủ làm thức ăn tiếp đãi ăn mày. Nói xong cả ba đều mau lẹ, phóng nhanh ra khỏi Chùa đạp tuyết nhắm hướng thành mà đi. Vì tuyết nhiều quá nên phải dùng xẻng mà hốt tuyết. Bỗng nhiên cả ba đều nghe tiếng nói từ hư không vọng lại: “đừng dẹp tuyết nữa chúng tôi đi đây”. Ba vị hòa thượng dừng tay thì thấy một đoàn người vút nhanh và mất dạng trong sương sớm. Ba vị nói với nhau: “những người ăn mày đã đi rồi chăng? hay là chúng ta vào Chùa xem lại”. Ba người không theo lối cũ mà hướng về cửa chánh để đi. Đó là chỗ các vị nhìn thấy bóng của đoàn người lướt đi. Kỳ quái là không nhìn thấy dấu chân trên tuyết. Hòa thượng trụ trì phóng nhanh vào các phòng ngủ nơi 18 ăn mày nằm thì càng kinh ngạc hơn!! Trên giường chẳng có bóng người.

Lại nói về vị quan Sát Chánh khi đi ngủ lại trong đêm đó lại nằm mơ tiếp: Ngài thấy 18 vị A La Hán hiện đến trước mặt. Một vị nói: “ngươi vốn một đời không có con trai. Vì ngươi có niệm lành nên ta ban cho ngươi một đứa con trai. Từ nay ngươi hãy thành tâm hộ pháp thờ Phật, con trai ông sau này tương lai sẽ rực rỡ làm vang danh dòng họ”.

Qua một đêm mà gặp hai điềm mộng thấy A La hán nên Quan Sát Chánh nhất định hôm nay phải đến Hương Tích tự hỏi thăm các vị Hòa Thượng cho biết sự tình thế nào? Tiếp đón quan Sát Chánh, các ngài kể lại việc mười tám vị ăn mày xin ngủ nhờ trong Chùa rồi bỗng nhiên không nói lời nào lại biến dạng đi mất. Thế rồi ba vị tăng đi thu thập mền để trả lại cho quan. Lạ lung thay! Các ngài nhìn thấy trên 18 tấm cửa làm giường hiện rõ lên hình ảnh của 18 vị A La Hán sống động như thật. Ba vị tăng và nhóm người của Quan Sát chánh cả kinh.

Quan Sát Chánh quyết không lấy lại mền và cũng bố thí luôn cả xe bò rồi ngay ngày hôm ấy ngài đề nghị cùng các Hòa thượng cho phép ông xuất tiền ra mượn thợ đúc thành 18 vị A La hán để thờ trong Chùa. Đồng thời quan cũng cho xây lại điện đường làm bảo tháp và sửa sang tất cả vườn tược già lam lại thật trang nghiêm. Từ đó Hương tích tự trở nên một thắng cảnh nổi tiếng và người ta đặt lại tên là La Hán Tự. Thiện nam tín nữ từ từ lại kéo nhau về chùa lễ Phật cúng dường hậu hỉnh không thua gì Xuất thủy tự năm xưa. Dù bây giờ Hương tích Tự trở nên huy hoàng lộng lẫy nhưng tâm các vị Hòa thượng tu hành ở đó vẫn thanh tịnh.

Ba năm sau cũng vào mùa đông giá rét, tuyết lớn bay tấp nập. Bỗng có một vị Hòa thượng đến La Hán Tự xưng tên và muốn gặp Hòa thượng trụ trì. Người này chính là Hòa thượng trụ trì cũ của Xuất thủy Tự năm xưa. Nghe sự tích của La Hán tự vị trụ trì Xuất thủy tự thở dài một tiếng mãi hồi lâu mới cất lời: “năm xưa Hương tích tự của quý thầy cùng với Xuất thủy tự của chúng tôi tuy gần trong gang tấc, tôi lại chưa hề bước chân qua, chỉ nghe đồ đệ nói hoài cười nhạo Hương tích tự hư hoại. Tôi cũng chỉ cười, thực tại có ý hý hửng mừng thầm. Lúc đó Xuất thủy tự chỉ nhổ một sợi lông cũng có thể giúp nhiều cho Hương tích tự, mà lão nạp tôi lại không hề có một chút ý này. Xuất thủy tự ngày một giàu có thì tâm Phật của tăng chúng ngày một tiêu ma. Cuối cùng chỉ còn có tâm tiền, mất sạch tâm Phật. Mỗi ngày đốt hương lễ Phật tụng niệm kinh điển cho đến khóa sớm khóa chiều, trong cốt tủy cũng đều muốn lừa gạt tín chúng, cầu lấy tiền tài. Nhìn thấy mười tám vị ăn mày, liền ghét bỏ họ bần cùng dơ dáy, không một mảy may có lòng lân mẫn hướng thiện. Nhìn không ra mười tám người áo đơn trời lạnh, lại gặp đêm tối, nếu đuổi họ đi sống chết thế nào? Tôi mấy năm nay hành cước bên ngoài, ăn gió nằm sương, vào khắp danh sơn chùa lớn. Khắp nơi nghe nói có La Hán tự nổi danh thiên hạ, tôi lại chẳng tin. Lão nạp này ở Cam Châu mấy mươi năm, chưa hề nghe có La Hán tự. Hôm nay trở về Cam Châu, muốn coi cho biết đầu đuôi thế nào? Mới hay La Hán tự chính là Hương tích tự năm xưa. Lão tăng vạn dậm hành cước, lại chẳng biết Phật sống ngay trước mặt. Đến nay nghĩ lại thật là hổ thẹn muôn bề”.

Hòa thượng trụ trì La hán tự nói: “Lão tăng đâu dám nhận hai chữ Phật sống. Một đời xuất gia chỉ là muốn rửa sạch ba chữ tham sân si mà thôi. Ít đi một chút ngã chấp, trừ đi tướng ngã nhân, tu được tâm địa một mảnh trời xanh, muôn dặm không mây. Chỉ thế mà thôi, thực tại khó theo kịp bóng dáng đại đức của tiền bối”. Hòa thượng nguyên trụ trì Xuất thủy tự nói: “Tôi đến La Hán tự đã im lặng xem xét nhiều ngày. Vì khí tượng ngày nay của La Hán Tự rất khác xưa. Lão Phật sống vẫn ở chiếc phòng cũ này ngày ngày đi canh tác, so với lão nạp năm xưa hào hoa thật là như trời với đất. Hạt rừng không lương thực, trời đất mênh mông. Bất kể bề ngoài giàu nghèo, trong lòng lão Phật sống cũng không lương thực. Hồi đó lão tăng đã để ngoại duyên nắm chặt hết nội duyên, mất hết bổn tâm, để tâm kim tiền đè chết tâm Phật, do đó mới kinh động chư vị A La Hán. Tôi nghĩ rằng các vị A La Hán giáng lâm đến Xuất thủy tự cũng là vì muốn cứu vớt chúng tôi nhảy ra khỏi hầm lửa, lại không dè chúng tôi thuốc lại chẳng cứu được như thế, ngược lại bị tăng nhân chùa tôi ác ý đuổi xô. Lúc đó nếu có được người nói với tôi, tôi cũng chẳng cho là đúng. Mỗi ngày tín chúng vạn người vào ra, mười tám người có đáng chi? Đợi đến lúc có chữ trên tường vôi ngoài cửa chùi chẳng đi, tôi mới suy nghĩ ra có chỗ chẳng ổn. Như nay Xuất thủy tự điêu tàn chỉ còn có một thẩy hương đăng. Bất luận làm cái gì, không chấp trước mới tốt. Chỉ một câu này của lão Phật sống đã là đến thẳng tâm Phật.- Lão trụ trì nói đùa! - Không phải.- Lão Phật sống một tâm lúc ở Hương tích tự và một tâm ở La Hán tự bây giờ, không biến đổi mảy may, trong sáng thanh tịnh, một hạt bụi chẳng nhiễm, đây há là việc mọi người dễ dàng làm được sao? Tôi trở về lần này, cũng chỉ vì muốn được ở La hán tự, làm một vị tăng tầm thường, theo hầu bên cạnh lão Phật sống, tu hành lại từ đầu, nếu ngày nào khai ngộ được chút ít, cũng chẳng phải là uổng một phen xuất gia, một đời làm tăng vậy”.

Lão trụ trì Xuất thủy tự lưu lại chùa, trụ ở phòng cũ bên cạnh lão Hòa thượng trụ trì La Hán tự. Lão Hòa thượng trụ trì đêm nằm không ngủ, Điều này khiến trụ trì Xuất thủy tự rất là khâm phục. Thường ngày, La Hán tự để lại hai ba tăng tiếp xúc với thiện nam tín nữ, mở trai phạn lớn tiếp tế người nghèo khổ. Còn các tăng nhân khác thì tĩnh tâm trong thiền phòng, trang nghiêm tu trì. Nguyên trụ trì Xuất thủy tự trải qua một phen khổ nhọc kiên định được tâm Phật, dũng mãnh tinh tấn. Cuối cùng đã cùng với Hòa thượng trị trì La Hán tự song song thành chánh quả. Chẳng qua, đây là chuyện thức ngộ bổn tâm.
Câu chuyện trên đây đã cho chúng ta một bài học về sự tu hành. Và cũng để cảnh cáo các bậc tăng sỹ hãy nên coi chừng danh hư lợi dưỡng. Chùa to tượng lớn không hẳn là phản ảnh được công đức tu hành. Chẳng qua là do một phước duyên nào đó thôi. Nếu không khéo tu trì thì một ngày kia luật vô thường cũng sẽ đào thải tất cả. Vì lẽ chúng ta đang sống trong một bối cảnh của cuộc sống hư ảo, phù phiếm giả tạm ( trích một đoạn nhỏ trong quyển sách " Giọt nước mắt của một thầy tu" sắp xuất bản nay mai)

Thích Trí Như


Gửi bởi: hoaha Feb 15 2011, 11:08 PM

Bầu Bí một giàn_
Tràm Cà Mau



Người xưa viết rằng, tha hương mà gặp người quen biết cũ là một trong bốn cái thú lớn nhất trong đời. Tôi nghĩ, cần chi phải là quen biết cũ, tha hương mà gặp một đồng hương, cũng mừng đến lịm người đi chứ. Đó là trường hợp của anh Hy và tôi, khi gặp nhau trong cái thành phố Morris nhỏ bé, có dân số bảy ngàn người nầy, vào năm 1981. Tôi vì cơm áo, mà trôi dạt đến đây, gặp anh Hy. Việt Nam trong thành phố nhỏ hiền hòa nầy. Không quen biết trước, mà chúng tôi quý và thân thiết nhau còn hơn cả anh em ruột thịt. Gia đình anh Hy có năm người, bà mẹ già, hai vợ chồng anh và hai đứa con nhỏ. Lần đầu tiên gặp chúng tôi, bà cụ mẹ anh Hy cầm tay vợ tôi mà mắt rưng rưng vì mừng, bà cứ vuốt ve lưng bàn tay vợ tôi mãi. Vợ tôi thân thiết ngồi ép sát vào bà.

Bà cười nói sung sướng, như vợ tôi là đứa con gái của bà thất lạc nhiều năm mới tìm lại được. Gặp người đồng hương là sung sướng thế đó. Chị vợ anh Hy thì không dấu được niềm vui, cười nói tíu tít, và nhìn hai vợ chồng tôi với ánh mắt đầy thiện cảm. Anh Hy hiền lành, ít nói, nhưng nụ cười trên môi nở mãi không tàn. Hai đứa con chưa biết gì, chạy nhảy, reo hò. Gia đình anh Hy sung sướng, chúng tôi cũng hân hoan mừng.

Một buổi tối, tôi đi làm về, được điện thoại của anh Hy, anh hớn hở báo cho tôi biết rằng, sắp có một gia đình Việt Nam tị nạn đến thành phố nầy. Giọng anh vui mừng ríu rít. Ông bà người Mỹ bảo trợ mới thông báo cho anh biết. Ông bà muốn anh xếp đặt thì giờ, để cùng mấy người trong họ đạo đi đón người mới đến, vào thứ tư tuần tới. Tôi vội vã báo tin mừng cho vợ, và trong lòng nghe lâng lâng vui. Có thêm càng đông đồng hương, càng đở buồn, và thỉnh thoảng qua lại chuyện trò cũng bớt cô đơn nơi quê người. Vợ tôi bàn thêm, nếu thuận tiện, thì chúng tôi cùng đi đón gia đình Việt Nam tị nạn nầy cho vui, và tỏ cái tình thân thiết lúc ban đầu.

Suốt trong tuần, vợ anh Hy và vợ tôi soạn nồi niêu, chén bát, ly tách, muỗng đủa, chia bớt các thứ cần dùng trong nhà, để dành mà tặng cho gia đình mới đến. Mỗi khi bà Mỹ bảo trợ tiết lộ một tin tức gì về người sắp đến, chị vợ anh Hy vội vã điện thoại báo cho chúng tôi biết ngay.

Máy bay sẽ chở gia đình người tị nạn đến phi trường Chicago vào hôm thứ tư, lúc mười một giờ đêm. Hôm đó anh Hy bị cảm mạo, lên cơn sốt, thân nhiệt nóng hơn một trăm độ F. Hai ông bà người Mỹ bảo trợ kêu điện thoại cho tôi lúc bảy giờ tối, khi tôi mới đi làm việc về. Họ yêu cầu tôi thay anh Hy, đi cùng họ, để đón người tị nạn mới tới. Bỏ tắm rửa, tôi ăn vội vã, để khởi hành lúc tám giờ rưỡi, phòng khi đường sá có gì bất trắc. Ông Mỹ bảo trợ tên là Gary có vợ là bà Eva, cả hai ghé nhà tôi để hướng dẫn và chỉ đường trên bản đồ. Tôi cũng run lắm, vì chưa bao giờ đi đến phi trường nầy, và thấy cái bản đồ ghi chằng chịt đường sá đan nhau, như cái nùi chỉ rối. Ông bảo tôi chạy bám sát xe ông, nhưng chưa được mười phút thì đã lạc nhau. Khi cách phi trường ba mươi dặm, thì xa lộ bị tắc nghẽn, vì chiếc xe vận tải hàng hóa bị lật, gây tai nạn dính chùm. Xa lộ bị đóng hoàn toàn. Khi vào đến phi trường, tôi bị lạc đường hai lần, chạy quanh mãi mới vào được nhà đậu
xe. Ông bà Gary cũng đi lạc, và đến sau tôi. Tuyết rơi quá dày, nên máy bay cũng đến trể. Ông Gary cầm cái bảng lớn, đề tên người chủ gia đình là Phan Ly, đưa lên cao trước cỗng đi ra của hành khách. Gặp dáng người Á Đông nào, tôi cũng chăm chắm dòm kỹ. Cho đến khi hành khách
không còn ai cả, thì ông bà Gary bối rối. Ông chạy đi hỏi hãng máy bay, họ bay xác nhận là có gia đình anh Phàn trên chuyến máy bay vừa rồi. Hai vợ chồng ông Gary và tôi, cầm cái bảng đề tên anh Phàn đi quanh các ghế chờ trên phi trường, thấy gia đình Á Đông nào, cũng chìa cái bảng tên ra trước mặt họ, để dò hỏi. Đi quanh ba vòng, mà không tìm được, ông Gary nhờ loa kêu, hỏi gia đình anh Phàn ở đâu, cho biết để người bảo trợ đón về. Cũng vô hiệu. Đi tìm gia đình anh Phàn cả
tiếng đồng hồ mà không kết quả, cả ba người chúng tôi ngồi xuống ghế nghỉ một chốc với lòng vô cùng chán nãn. Tôi bảo hai ông bà Gary ngồi chờ, tôi cầm cái bảng tên đi tìm một lần nữa. Tôi đi dò tìm tên từng gia đình trên cái túi ni lông mà họ xách trên tay, của cơ quan ICM phát, khi họ cho mượn tiền máy bay. Tôi đến gần một anh mang cà vạt đỏ, áo vét ba mảnh bên trong, bên ngoài khoác áo bành tô bằng dạ. Tôi nhìn tận cái túi, và thấy loáng thoáng tên Phàn, tôi đánh bạo hỏi:

"Anh là Phàn phải không"

"Vâng. Tôi tên là Phàn, anh là ai?"

"Tôi đi theo hai ông bà bảo trợ người Mỹ đến đón gia đình anh. Sao nãy giờ chúng tôi đi qua đây nhiều lần, đưa cái bảng tên anh ra, mà anh lại ngồi im?" - Tôi nói với giọng hơi mất kiên nhẫn.

Anh Phàn chỉ vào cái bảng và nói:

"Cái bảng nầy ấy à? Thấy ông Mỹ chìa ra trước mặt tôi ba lần, nhưng đâu phải tên tôi mà nhận. Tên ông Ly nào đó mà. Tôi là Phàn."

Tôi cười, nói nhỏ nhẹ:

"Đây là tên anh . Theo lối Mỹ, ghi tên trước, họ sau."

"Ngược ngạo thế thì 'bố giời' mới biết được".

"Thế thì loa kêu tên anh nhiều lần, sao anh cũng chẵng trả lời?"

"Nghe được cái quái gì đâu?"

Tôi chợt nghĩ ra, nếu người ta có gọi tên tôi trên loa, chưa chắc tôi đã nghe kịp, huống chi anh Phàn là người mới đến. Tôi quay lại báo tin cho hai ông bà Gary, và giải thích tại sao không tìm ra. Ông bà Gary mừng, và tôi đọc được sự kiên nhẫn, chịu đựng của hai ông bà, khi đêm khuya không ngủ, tuyết đổ, lái xe cả trăm đặm, đi đón một gia đình ngoại quốc, khác màu da, khác chủng tộc, không hề bà con, không hề quen biết. Và trước đó nữa, phải làm bao nhiêu giấy tờ, mất bao nhiêu bao nhiêu thì giờ, tốn kém đủ thứ. Chỉ vì trái tim biết thương người mà thôi.

Gia đình anh Phàn có hai vợ chồng, năm đứa con, đứa đầu mười bốn tuổi, đứa út còn ẵm trên tay. Anh Phàn người da sậm, gầy ốm, cái má thóp, răng cỏ đen điu vì khói thuốc. Vợ anh thấp, trắng hơn, có bề ngang. Chị mang váy đầm dạ xám, áo vét, ngoài khoác áo bành tô cứng ngắt. Gia đình anh còn có một bà già mù, mang váy nâu, đầu quấn khăn mỏ quạ, răng nhuộm đen, trên mắt có che miếng vải đen, gợi tôi nhớ rõ hình vẽ trong cuốn sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà ngày còn bé tôi hay đọc. Bà cụ y hệt cái hình vẽ bà già mù trong sách. Trang phục của vợ chồng anh Phàn có vẽ sang trọng hơn cả ông bà bảo trợ nhiều, nhưng cũng không dấu được vẻ quê mùa.

Hành lý được chất lên cao trên bốn chiếc xe đẩy. Ông Gary , tôi, vợ anh Phàn, và cháu bé gái mười bốn tuổi, mỗi người đẩy một chiếc xe. Anh Phàn đi tay không thong thả, rút thuốc lá châm mồi và hút trong hành lang, nhả khói mù làm bà Eva ho sặc. ( Dạo nầy, chưa có luật gắt gao cấm hút thuốc nơi công cộng). Bà Eva đi dang xa ra khỏi anh Phàn, và ghé lại chiếc xe của cháu bé gái, phụ đẩy. Thấy đi mãi trong hành lang dài, anh Phàn hất đầu hỏi tôi:

"Sao không kêu tài xế lái xe vào gần đây, mà phải đi xa quá vậy?"

Tôi cười và trả lời:

"Tài xế? Tài xế là ông Gary và tôi đây. Xe đậu trong ga-ra là nơi gần nhất rồi, không có nơi nào gần hơn nữa".

Anh Phàn hỏi tôi:

"Anh làm tài xế cho ông bà Mỹ nầy? Lương trả có khá không?"

"Không, tôi làm việc cho công ty tư vấn. Ông bà Mỹ nầy nhờ tôi đi đón, phụ đưa gia đình anh về. Đường xa, anh có mệt lắm không?"

"Cũng mệt, nhưng chẵng can gì cả."

"Có lẽ anh nên đẩy xe giúp cho cháu bé thì hơn"- Tôi nói.

"Kệ nó, để nó làm việc cho quen"

Hành lý quá nhiều, hai chiếc xe hơi không đủ chở. May mắn ông Gary gặp người quen, ông gởi bạn mang về nhà, hẹn ngày sau sẽ đến lấy.

Vào ngày chủ nhật đầu tiên của anh chị Phàn trên đất Mỹ, chúng tôi tổ chức một bữa tiệc lớn để chào mừng và đãi đồng hương. Anh Hy và tôi, mỗi gia đình đóng bảy mươi lăm đồng làm chi phí. Chị Hy và vợ tôi trổ tài nấu ăn, rộn ràng nấu nướng từ sáng sớm tinh sương. Anh Hy kê thêm thùng giấy làm bàn, mượn thêm ghế của các gia đình bên cạnh. Chai rượu nho hồng đậm đặt trên bàn bên cạnh bình hoa giả. Anh Hy và tôi lái xe đến tận nhà anh Phàn đón tất cả mọi người, cả cháu bé còn bế trên tay.
Ba gia đình vui vẻ nhập tiệc. Anh Phàn kêu bà cụ già mù bằng dì. Tôi cảm phục cái tình gia đình của anh Phàn, khi đem bà dì mù lòa di vượt biển. Anh Phàn uống rượu rượu nho như uống nước ngọt, tu một hơi hết nữa li lớn. Anh nói:

"Rượu nầy nhạt lắm. Có đế trắng hoặc rượu Tây mới đã miệng.

Anh Hy nghe vậy, vào bên trong lục tủ, lôi ra nữa chai Vodka, rót vào ly anh Phàn. Anh Phàn uống một hớp nói:

"Cái nầy mới thật là rượu."

Khi đã ngà ngà, anh Phàn hăng say kể về cuộc chiến anh hùng chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Hạ máy bay Con Ma, bắt giặc lái. Máy bay của ta núp trong mây, chờ máy bay Mỹ đến thì bắn hạ rụng như sung chín. Anh kể công ơn bác, đảng, văn minh tiên tiến. Những chuyện nầy, tôi đã nghe nhiều lần khi còn ở bên nhà. Chị vợ anh Hy giận, nói lớn, hỏi sao anh không ở lại với bác đảng anh hùng của anh, mà lại đi qua Mỹ làm chi. Anh trả lời là sống với bọn đó không được, sống không nỗi, đời sống thua con chó, khoai sắn còn không có mà ăn, chứ đừng nói đến cơm.

Khi vợ anh Phàn khoe cái hay của ông chồng, chị nói:

"Ông nhà tôi thế chứ khảnh ăn lắm. Chỉ thích ăn quà, chứ không thích ăn cơm."

Chị vợ anh Hy nói:

"Sống với bác đảng, đói cho rã họng ra, ở đó mà thích quà không thích cơm. Nói làm sao mà tôi không hiểu chi cả."

Mỗi tuần, các bà trong hội nhà thờ đến đưa vợ anh Phàn đi chợ hai lần. Họ nhờ chị Hy đi theo để hướng dẫn và thông dịch. Mỗi lần đi chợ về, thì chị vợ anh Hy cũng kêu điện thoại cho vợ tôi để than vãn:

"Chị biết không, lần nào em xấu hổ muốn độn thổ quách. Chị ấy lựa những tảng thịt bò đắt tiền nhất, lấy hai ba tảng to tướng. Lựa các thức ăn ngon nhất, đắt nhất trong chợ, chất đầy một xe cao nghệu. Em đoan chắc với chị rằng, cái bà bảo trợ chưa bao giờ dàm đụng đến các thứ thịt đắt tiền đó. Bà bảo trợ cứ chỉ vào thịt gà, thịt heo, mà chị ấy lờ đi. Em thấy cái mặt bà bảo trợ nhăn như cái bị rách. Khi trả tiền, mặt mấy bà tái ngắt vì số tiền phải trả."

Có lần vợ anh Hy khuyên vợ anh Phàn rằng, nên chọn các thức ăn có giá trung bình hoặc rẽ mà mua, vì chính ngay các bà bảo trợ, cũng rất ít khi dám ăn các thứ đắt tiền đó. Vợ anh Phàn lắc đầu mà nói rằng, mình không trả tiền, tội gì không lựa món ngon mà ăn. Từ đó, vợ anh Hy sinh ra có thành kiến với gia đình anh Phàn.

Các ông bà bảo trợ trong nhà thờ rất chu đáo. Mua cho các cháu bé áo quần, giày vớ, áo lót chống lạnh, áo khoác đi tuyết, sách vở, viết chì, viết màu, túi xách mang lưng để đi học, ghi tên cho các cháu đến trường. Khi họ đến thông báo cho gia đình anh Phàn, để hẹn ngày đem các cháu đến trường, thì anh Phàn phản đối, nhất quyết không cho cháu gái đầu mười bốn tuổi đi học. Anh lấy lý do là nhà đông con dại, cháu nầy đã lớn, cần ở nhà giữ em, làm việc vặt, giúp mẹ nấu nướng. Ba bà bảo trợ cố gắng giải thích, qua sự thông dịch lỏm bỏm của vợ anh Hy, rằng luật pháp ở Mỹ bắt buộc trẻ con dưới mười tám tuổi phải đi học. Nếu không được đi học, thì cha mẹ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Chị vợ anh Hy cũng chỉ hiểu lơ mơ lời các bà, và thông dịch cho anh Phàn. Anh Phàn cứ lắc đầu, nhất quyết không chấp nhận lời khẩn cầu của các bà Mỹ, cho cháu lớn đi học. Các bà cứ thuyết phục mãi làm anh Phàn nỗi giận nói gằn với chị vợ anh Hy :

"Con của tôi sinh ra, tôi muốn cho nó đi học hay không là quyền của tôi. Sao các bà ấy cứ muốn xía vào chuyện riêng của chúng tôi mãi thế."

"Pháp luật bắt buộc cho trẻ con đi học. Không phải các bà muốn đâu"

"Pháp luật nào mà lạ thế? Tùy hoàn cảnh gia đình mỗi người, mà cho con đi học. Nhà nước nào mà can thiệp vào? Đây là xứ tự do mà."

"Đúng, xứ tự do, nhưng không phải cha mẹ muốn làm gì thì làm. Pháp luật bảo vệ con trẻ dưới tuổi trưởng thành."

"Thôi, chị đừng nói nữa, tôi đã nhất quyết rồi. Tôi đã có phương án riêng cho gia đình tôi. Vô ích. Chị đừng tuyên truyền tôi nửa."

Vợ anh Hy tức cành hông, muốn khóc vì không phá vỡ được cái vỏ cứng rắn của anh Phàn. Chị cùng ba bà Mỹ chán nản ra về. Tối hôm đó, bà Eva điện thoại cho tôi, nhờ giải thích cho anh Phàn hiểu luật pháp Mỹ .

Tôi chưa kịp kêu cho anh Phàn để giải thích, thì điện thoại reo. Anh Phàn ở đầu dây bên kia. Anh than phiền là các bà Mỹ, và vợ anh Hy cứ ép anh, buộc phải cho đứa con gái đầu đi học. Anh nói là họ làm áp lực anh, họ vô lý. Còn bày đặt ra là luật lệ bắt buộc để dọa anh. Nghe giọng nói của anh, tôi cũng phải chùn lại, vì biết rất khó thuyết phục anh trong lúc nầy. Tôi chỉ ừ è cho qua chuyện, và giả vờ theo phe anh, mà nói :

"Anh nói đúng, mỗi gia đình có hoàn cảnh riêng, giải quyết theo cách riêng. Không ai có quyền ép ai cả. Về luật lệ xứ nầy, thì tôi cũng không được rõ lắm. Hay là anh thử kêu điện thoại qua Oklahoma hỏi những người anh quen biết từ ngoài Bắc, mà họ đã đến xứ nầy từ lâu rồi, để biết thêm cho rõ. Biết chắc luật lệ, mà thi hành. Không ai có quyền ép mình theo ý họ, nhưng mình cũng không nên làm trái luật. Có gì thì anh cho tôi biết với."

Không biết anh có kêu điện thoại cho người quen ở Oklahoma hay không, nhưng sau cùng, anh Phàn cũng phải nhượng bộ yêu sách của nhà thờ, để cho cháu gái mười bốn tuổi đi học. Anh nói rằng : "Thôi, thì tôi cũng tạm thời lui một bước, mình mới đến đây mà căng quá cũng không nên. "

Các ông bà bảo trợ để anh chị Phàn nghỉ ngơi cho hoàn hồn trong hai tháng. Trời tuyết đổ bên ngoài, trong nhà đóng cửa kín mít, lò sưởi mở tối đa, anh chị và bà cụ bó gối ngồi trên ghế bành . Cái máy truyền hình nhấp nhem, nói tiếng Mỹ ồn ào. Anh Phàn bảo rằng, không đi tù, mà cũng giống như bị giam lỏng, bị quản chế. Ra ngoài thì trời lạnh, tuyết ngập, đi gần cũng không biết đi đâu, đi xa thì không có xe cộ.

Khi hội nhà thờ muốn kiếm việc cho anh chị làm, thì anh gạt ngang. Anh nói với ông bà bảo trợ, qua thông dịch của vợ tôi:

"Chưa biết nghe, biết nói chi cả chưa thể đi làm được."

Bà bảo trợ thuyết phục:

"Công việc cần làm, không cần nói, cũng không cần nghe."

"Khi nào chúng tôi nói và nghe giỏi như các bà, chúng tôi sẽ đi làm việc. Gấp làm chi. Tôi cần đi học tiếng Anh cho giỏi."

Vợ tôi bảo rằng, dù anh học thêm năm ba chục năm nữa, cũng không thể nói và nghe bằng họ được. Đi làm việc, chỉ cần cố gắng làm. Còn nghe và nói, thì ai cũng lơ mơ, nghe một phần, đoán một phần. Mình không lớn lên tại Mỹ, thì hiếm hoi lắm mới nghe và nói giỏi tiếng Mỹ. Phải vừa làm, vừa học. Nhưng anh Phàn nhất quyết rằng, chưa nghe, chưa nói giỏi thì chưa chịu đi làm. Nghe vậy, mấy bà trong họ đạo, ngày nào cũng thay phiên nhau đến nhà anh Phàn dạy tiếng Mỹ. Mỗi ngày dạy bốn giờ liên tiếp. Các ông bà Mỹ tin tưởng rằng, trong vòng ít tháng, thì cả nhà sẽ giỏi tiếng Mỹ, không giỏi bằng họ, thì cũng một tám một mười. Trong những buổi học tiếng Mỹ, anh Phàn và vợ thấy buồn ngủ khủng khiếp, cứ rán chống mắt lên, mà cái đầu cứ gục lia lịa. Anh chị uống trà đậm chống cơn buồn ngủ cũng không hiệu quả. Anh chị thấy những buổi học nầy, như cực hình, như tra tấn, và nản lòng vô cùng.
Học được phút trước, thì phút sau quên béng đi. Không nhớ gì cả. Anh chị kết luận, là cái óc của anh chị đã hư rồi, không thể học được gì nữa. Sau một tháng dạy liên tục, các bà Mỹ cũng nản lòng, bỏ lớp dần dần, và không đến dạy nữa. Kết quả vượt bực. Anh Phàn thì chỉ ấp úng
nói được hai chữ "yes" và "no", vợ anh giỏi hơn, nói được rất ngọng thêm chữ "thank you". Vợ tôi cho rằng, các bà Mỹ không có phương pháp sư phạm, nên dạy không kết quả.

Từ đó, anh Phàn mới chấp nhận là không thể học nói học nghe cho giỏi bằng các ông bà Mỹ được, và anh chị cắn răng để cho nhà thờ thu xếp việc làm cho anh chị.

Mỗi buổi sáng tinh sương, anh Hy đến chở anh Phàn đi làm, buổi chiều chở về tận nhà. Có những buổi chiều, khi tan sở, xe anh Hy là một đống tuyết khổng lồ, anh phải vất vả đào tuyết moi xe ra. Trong khi anh Hy quần thảo với đống tuyết, với nước mãng nước đá đông cứng trên kiếng xe, thì anh Phàn đứng hút thuốc lạnh lùng nhìn. Anh Hy bất bình, nhưng không nói. Một lần, mệt quá, anh Hy không nín được, quay qua hỏi anh Phàn:

"Anh không giúp tôi một tay dọn tuyết cho mau mà ra về?"

"Xe anh chứ có phải xe tôi đâu!"

"Nhưng... anh có đi trên xe nầy không?"

"Anh lái xe mà, đâu phải việc của tôi"

Anh Hy giận lắm, im lặng, và không nói với anh Phàn trong nhiều ngày liên tiếp. Anh Hy nói với tôi rằng, vì đã lỡ nhận lời gởi gắm của bà Mỹ bảo trợ, nếu không, thì anh chẵng chở anh Phàn đi làm nữa. Tôi an ủi anh Hy, khuyên anh đừng giận anh Phàn, vì đồng hương còn có ai đâu, giận nhau nữa thì còn ai. Nhiều khi anh Phàn cự nự anh Hy vì đã đến đón sớm hơn giờ quy định. Những khi nầy, anh Phàn rề rà cho anh Hy phải ngồi chờ thật lâu trong xe dưới tuyết đổ. Có lần anh Phàn ngần ngừ hỏi:

"Tôi hỏi thật, anh đừng dấu nhé. Nhà thờ trả cho anh mỗi tháng bao nhiêu, để anh đưa đón tôi đi làm ?"

Anh Hy nghe mà buồn cười, hỏi lại:

"Anh hỏi làm chi vậy?"

"Hỏi cho biết bao nhiêu, nếu số tiền đó khá, thì tôi xin lảnh tiền, và kiếm chiếc xe đạp đi làm cũng được."

"Không có xu nào cả. Tôi chở anh miễn phí, vì anh là đồng hương, và vì tôi cũng đã từng qua thời kỳ mới đến định cư như anh. Đáng ra anh phải chia tiền xăng, tiền hao mòn xe với tôi mới phải lẽ."

"Tôi không tin."

"Không tin thì anh thử hỏi mấy ông bà bảo trợ xem."

Anh Phàn cười mũi:

"Có hỏi mấy ông bà Mỹ, thì vợ anh hay anh phiên dịch. Anh chị muốn nói chi mà không được. Thà đừng hỏi."

Anh Hy buồn lắm, nhưng không nỡ nói nặng lời, anh chỉ thở dài:

"Năm ba năm nữa, nếu nhớ lại chuyện nầy, anh sẽ biết rõ sự thực."

Mỗi ngày, có xe nhà trường đến tận nhà chở ba cháu bé đi học. Cháu lớn học ở trường xa hơn, hai cháu nhỏ học trường tiểu học gần nhà. Anh Phàn nói rằng, nhờ đấu tranh gay gắt với nhà thờ về vụ cho đứa con lớn đi học, mà nhà thờ phải nhượng bộ, bằng cách đem xe đón tận nhà, đưa luôn ba đứa đi học. Chị vợ anh Hy giải thích rằng, trẻ con ở thành phố nầy, em nào cũng được vậy, không riêng gì các cháu con anh Phàn. Anh Phàn không tin và chỉ cười ruồi đáp lại.

Mùa đông miền Trung Bắc nước Mỹ, như mọi ngày đông khác, tuyết đổ ngập đường trắng xóa. Xe cào và thổi tuyết hoạt động liên miên. Muối được rải ra những con đường chính cho xe chạy. Một cháu trai nhỏ con anh Phàn đang ngồi trong lớp học, bỗng đứng dậy ôm sách vở ra về. Cô giáo
cản lại. Hai bên trao đổi vài câu. Không ai hiểu ai. Cô giáo chỉ ra sân đầy tuyết trắng chất thành đống cao, như muốn nói cho em hiểu rằng không thể đi được, và dắt em về lại chỗ ngồi. Em rươm rướm nước mắt, và đứng dậy, nhất định ra về. Cản mãi không được, cô giáo kêu bà hiệu trưởng. Bà xuống lớp, khuyên bảo em. Hai bên cũng không hiểu nhau. Bà không thể để em bé bảy tuổi ra về một mình trong gió hú, trong tuyết cao chất đầy như thế. Bà cầm tay giữ em bé lại. Em khóc lớn. Hai bà giáo nhìn nhau thất vọng, không biết phải làm gì. Bỗng bà hiệu trưởng nhớ là em bé có con chị học trên nó hai lớp. Bà cho người đi kêu chị nó xuống. Con chị xuống gặp đứa em, nói vài câu. Xong, con chị nắm tay thằng em dẫn nó ra về. Hai bà giáo vội cản lại. Kéo hai em vào bên trong lớp. Cả hai đứa đều khóc ròng. Bà hiệu trưởng dẫn hai chị em đứa bé về phòng, và kêu điện thoại cho bà Mỹ trong gia đình bảo trợ, nhờ giúp đở. Bà bảo trợ vào trường ngay. Bà dắt hai chị em về lớp, hai đứa không chịu đi, mà nhất định kéo nhau ra sân, để đi bộ về nhà. Ba bốn cô giáo họp lại bàn cãi. Một hồi sau, bà bảo trợ theo yêu cầu của các cô giáo, chạy xe đến công ty anh Phàn đang làm, xin cho anh được tạm nghỉ, đến trường giải quyết việc học của hai cháu. Anh Hy phiên dịch cho anh Phàn biết, là hai cháu không chịu học, mà đòi đi bộ giữa mưa tuyết, để về nhà. Anh Phàn giận hầm hầm và nói với anh Hy : "Con cái mất dạy. Đề tôi đến cho chúng vài bạt tai, cho bớt biếng nhác."

Anh Hy vội vã níu anh Phàn lại, đặn dò: "Không được, đánh trẻ con thì cảnh sát còng tay đó . Đừng dại dột." Anh Phàn hất tay anh Hy ra, và chưa dứt cơn giận: "Vợ chồng anh được cái giỏi là hay hù họa tôi mà thôi. Con cái mà không đánh cho sợ, thì thành hư đốn. Dạy con từ thuỡ nên ba." Anh Hy biết khó thuyết phục anh Phàn, bèn nói vọng theo: "Bớt nóng giận. Đừng đánh con, tội nghiệp. Có chi thì từ tốn, dạy bảo." Anh Hy sợ anh Phàn bị cảnh sát còng tay. Khi xe đến trường, anh Phàn hùng hổ, xăm xăm đi theo bà Mỹ đến gặp hai đứa con. Hai đứa bé mặt xám ngắt, trên mắt còn ướt sũng lệ. Anh lớn giọng gằn hai đứa bé. Sau vài câu trao đổi giữa ba cha con, mặt anh Phàn dịu xuống, đến nắm tay hai đứa con, dắt chúng ra về. Tuyết ngập trời, tuyết cao nghệu, các bà giáo cản cha con anh lại không cho đi. Không ai cho anh dắt trẻ con đi trong mưa tuyết lạnh lẽo nầy. Anh kéo con đi, nhưng một ông giáo to lớn như hộ pháp đang giữ tay hai em bé lại. Các bà giáo đang vây quanh thì líu lường xôn xao. Anh Phàn nhìn đám thầy cô người Mỹ với ánh mắt tuyệt vọng, với nét mặt anh nhăn nhúm đầy đau khổ, anh vội cúi xuống, banh quần thằng bé ra, và òa khóc lớn. Cả ba cha con cùng khóc vang thảm thiết. Mùi thối tha bốc lên làm ngát mũi. Mấy ông bà giáo người
Mỹ cùng ồ lên một tiếng lớn, và cùng cười. Họ hiểu, em bé đã phóng uế ra cả quần. Em đã không biết nói sao để xin cô giáo đi ra phòng vệ sinh, và cũng không biết phòng vệ sinh ở đâu, rán sức cầm cự, và khi hết chịu nỗi, thì phóng ra quần.

Mỗi buổi chiều, sau khi anh Phàn đi làm về chừng một tiếng, thì có bà Mỹ đến chở vợ anh đi làm. Mấy ông bà Mỹ xin cho chị được chân rửa bát tại một khách sạn sang nhất trong tỉnh nhà. Khoảng mười giờ rưỡi đêm, thì mấy bà Mỹ trong họ đạo chia phiên nhau, lái xe trong tuyết lạnh, đến chở vợ anh Phàn về nhà. Mùa đông tỉnh lẻ, họ ngủ sớm, mười giờ đêm là đã say giấc, họ phải để đồng hồ báo thức. Vợ tôi thường biểu lộ sự cảm phục lòng tốt của các bà trong họ đạo. Khuya lạnh, ai mà không muốn thẳng giấc, phải thức dậy đội tuyết ra đi là một cực hình. Có nhiều đêm, vì lý do bất khả kháng, các bà kêu tôi, nhờ đến đón chị Phàn về. Thời đó, dù sáng phải dậy lúc năm giờ, để kịp năm giờ rưỡi khởi hành, đi làm, nhưng tôi vui vẻ nhận lời ngay, để cám ơn cái lòng tốt của các bà Mỹ, đã giúp cho người đồng hương của tôi. Có lần tôi bị cảm mạo, chóng mặt, mà không dám từ chối, sợ các bà cho là tôi không có lòng. Mỗi lần đi đón, thì tôi phải cào tuyết trên xe hơn mười lăm
phút, chờ máy nóng mới đi được. Bỡi thế, nên thường đến trể. Chi vợ anh Phàn giận, không vui, ngồi trên xe mà không nói một lời nào . Cả không một lời cám ơn, một lời chào khi được đón và khi về thấu nhà. Có lần chị nói :

"Nếu đón tôi, thì đừng đến trể. Ngồi chờ rất nản."

"Tôi được các bà Mỹ kêu, nhờ đi đón chị, thì tôi đi ngay. Phải mang áo, phải cào tuyết, phải chờ xe ấm máy, nên hơi trể, chị đừng buồn. Các bà người Mỹ tử tế quá, đêm nào cũng đi đón chị trong lạnh lẽo, mưa, tuyết."

"Tôi có nhờ các bà đâu. Họ bắt tôi phải đi làm việc đấy chứ. Hừ, tử tế!"

Tôi không buồn mà thương cho chị. Có lẽ anh chị Phàn hiểu lầm rất nhiều về lòng tốt của những người chung quanh.

Một hôm, anh chị Phàn mời vợ chồng tôi, và vợ chồng anh Hy đến nhà, để nhờ chúng tôi một việc quan trọng. Hỏi anh chuyện gì, anh nói sẽ cho biết sau. Anh Hy cười nói với tôi rằng, sao cái lối nói nầy giống hệt cách thức của công an nhà nước cọng sản hồi trước. Buổi chiều đi làm việc về, có "giấy mời" tối nay ra trụ sở công an, lý do "Cho biết sau". Cứ thế mà run, mà thắc mắc, không biết có chuyện gì, không biết có bị nhốt luôn hay không. Ra đi mà hồi hộp, mà dặn dò vợ con phải làm
gì để sinh sống, nếu bị nhốt tù. Chúng tôi rủ nhau cùng qua nhà anh Phàn mà không phải hồi hộp, không phải lo lắng. Anh Chị Phàn cùng bà cụ đã ngồi sẵn trong phòng khách. Họ rót nước trà mời chúng tôi, xem bộ trịnh trọng, không lạt lẽo như thường ngày. Sau một hồi thăm hỏi xả giao, anh Phàn tằng hắng nói:

"Tôi mời các anh chị đến đây, vì không còn ai có thể giúp cho chúng tôi được trong hoàn cảnh câm điếc này. Nhà thờ đã ăn chận của gia đình
tôi mỗi tháng hơn hai ngàn đô. Tôi van xin các anh chị, nói với các ông, các bà trong nhà thờ, cho chúng tôi lại số tiền đó, để tôi làm vốn, ra làm ăn buôn bán, kiếm sống, chứ đi làm cu-li cho hãng sửa tàu, cho khách sạn, thì biết bao giờ mới ngóc đầu lên nỗi? Chúng tôi van lạy các anh chị, xin giúp chúng tôi, và vì thương các cháu nhỏ ..."

Cả bốn người chúng tôi bàng hoàng, không tin vào lổ tai mình. Chị vợ anh Hy ấp úng hỏi lại:

"Nhà thờ ăn chận tiền của anh chị? Mỗi tháng hơn hai ngàn ? Sao? Anh nói rõ hơn được không?"

Anh Phàn gằn giọng, nói lớn, rõ ràng:

"Đừng vờ vĩnh. Gia đình tôi có tám người, nhà nước Mỹ cấp cho, ít nhất cũng trên ba ngàn bạc mỗi tháng. Cứ cho tiền chợ, tiền nhà mà mấy ông bà bảo trợ chi cho chúng tôi, chừng mấy trăm là cùng, thì cũng còn hơn hai ngàn đồng mỗi tháng, chứ có ít đâu. Nếu không ăn chận, thì tiền đó để đâu, vào túi ai?"

Chị vợ anh Hy tái mặt, hỏi:

"Ai nói với anh điều đó? "

"Chúng tôi biết rõ lắm, không cần ai nói cả."

Anh Hy ôn tồn giải thích rằng, anh cũng đã đến đây trước. Anh rõ thủ tục. Ban đầu hội nhà thờ thuê giúp nhà, cho tiền chợ, mua cho đủ các thứ cần dùng hàng tháng. Rồi họ kiếm việc cho mình làm. Khi đã có lương tiền, thì mình phải tự túc lấy. Đó là chính sách của nhà thờ."

Mặt anh chị Phàn và cả cụ già đều sậm lại. Giọng chị Phàn chua ngoét:

"Chúng tôi đâu có ngu. Tôi biết rõ hai ông bà Hy nầy là những con cò mồi của nhà thờ. Biết rõ đến mười mươi."

Anh Hy run lên vì giận, chị Hy thì mặt đỏ bừng, thét lên the thé:

"Làm cò mồi để được cái gì? Ăn nói như những kẻ vô ân bạc nghĩa. Nói như vậy mà không biết tự xấu hổ sao? Giao thiệp với hạng người nầy thêm xấu hổ, thêm nhục nhã cho cái giống nòi mình mà thôi."

Chị Hy kéo anh chồng đứng dậy, giận dữ ra về. Anh Hy quay lại nói với anh Phàn:

"Tuần tới, ông tự kiếm lấy phương tiện mà đi làm. Tôi không muốn làm mọi cho ông nữa."

Vợ tôi cũng giận và muốn ra về theo vợ chồng anh Hy. Tôi làm dấu, bảo ngồi yên. Anh Phàn phân trần tiếp:

"Chuyện trợ cấp cho người mới định cư là luật của nhà nước Mỹ. Rõ ràng, không ai chối được. Chúng tôi đã biết rõ từ hồi còn ở trại tị nạn Hồng Kông. Nay nhà thờ ăn chận tiền, rõ ràng thế, mà còn chối loanh quanh."

Tôi thấy tội nghiệp cho vợ chồng anh Phàn, vì hiểu lầm, nên có nhiều suy nghĩ và hành động đáng tiếc. Tôi cũng không dám nói thẳng là anh đã hiểu lầm luật lệ. Biết là khó mà giải thích cho gia đình anh Phàn hiểu, không chừng càng giải thích, thì càng gây thêm nhiều ngộ nhận khác. Tôi ngồi im một lúc suy nghĩ. Anh Phàn nói tiếp :

"Bây giờ chỉ còn hai anh chị. Tôi nhờ anh chị 'báo cáo' lại cho nhà thờ những đòi hỏi chính đáng của gia đình chúng tôi. Chúng tôi kiên quyết đấu tranh cho đến thắng lợi cuối cùng."

Vợ tôi nghe cái giọng điệu giống hệt những anh cán bộ trong các buổi học tập chính trị bên nhà, thì phì cười, hết giận. Vợ tôi nói:

"Xem bộ mấy ông mấy bà trong họ đạo nầy dư công rỗi nghề gớm nhỉ. Mình ở xa ngàn dặm, không bà con, không quen biết, không ân nghĩa, không nợ nần, lại nai lưng ra bảo lảnh mình vào đây, cho nhà ở, cho cơm ăn, cho áo mặc, lo cho đủ thứ. Lại bị ghét bỏ, thật đáng đời. Của nợ giữa đường mà mang cõng lên lưng. Anh chị xem, không biết họ bảo lảnh cho mình, thì được lợi lộc gì nhĩ ? "

Hai vợ chồng anh Phàn cùng nói lớn một lúc, với giọng chắc nịch:

"Để lập thành tích chứ để làm gì. Ai mà không biết."

Vợ tôi bật cười ha hả và nói tiếp:

"Đúng. Lập thành tích dâng lên đảng !"

Tôi ôn tồn bảo vợ tôi đừng đùa nghịch. Tôi hứa sẽ cố gắng giúp hai anh chị Phàn và gia đình. Chữ hứa của tôi, trong thâm tâm, là hứa cố gắng giúp anh chị giải tỏa những hiểu lầm đáng tiếc, nhưng có lẽ anh chị Phàn tưởng là tôi sẽ đến nhà thờ đòi tiền "ăn quỵt" giúp cho anh chị.

Chúng tôi về, ghé lại nhà anh chị Hy. Anh chị Hy chưa nguôi giận. Chị vợ anh Hy nói:

"Chúng nó là thứ vô ân bạc nghĩa, không biết đạo lý làm người. Khi nào cũng ngoác miệng ra nói lời dóc lác, đao to búa lớn, nào là đấu tranh, nào là thắng lợi, kiên quyết. Nghe mà ngứa lỗ tai, chịu không nỗi."

Vợ tôi nói:

"Họ còn cho rằng, nhà thờ muốn lập thành tích nên bảo lảnh họ đến đây."

Anh Hy phì cười, nói:

"Mấy ông bà trong họ đạo mà nghe câu nầy, chắc tức mà hộc máu chết hết không còn một mống. Thôi, anh chị cũng nên tránh xa gia đình anh Phàn, để tránh bực mình và rắc rối về sau. Những hạng người nầy, không chơi được."

Tôi nói:

"Thôi, anh chị bớt giận. Tất cả cũng do hiểu lầm. Người ngoài, không cùng màu da, không cùng dòng giống, mà họ còn tận tình giúp đở. Mình không giúp nhau, thì làm sao cho lòng yên ổn được."

"Nhưng họ nói cái giọng khó nghe của 'bọn dân tộc anh hùng', ngứa tai chịu không nỗi."

Tôi dịu giọng:

"Họ cũng là nạn nhân dài hạn của chế độ. Họ còn đáng thương hơn chúng ta nữa, vì chịu đã chịu đựng chế độ lâu dài hơn hai mươi mấy năm. Nếu chúng ta sống trong hoàn cảnh đó, được giáo dục theo lối đó, thì không chừng chúng ta tệ hại hơn anh chị Phàn bây giờ. Anh chị đừng buồn nữa.
Thứ hai nầy, anh cứ đến chở anh Phàn đi làm như thường nhé. Chúng ta không thương nhau, thì ai thương chúng ta được?"

Anh Hy im lặng. Chúng tôi ra về. Không biết nghĩ sao, vào tối chủ nhật, anh Hy nhờ tôi điện thoại báo cho anh Phàn biết là sáng thứ hai, sẽ đến đón anh Phàn đi làm như thường lệ. Tôi nghe mà mừng. Nhưng anh Hy và anh Phàn vẫn còn buồn nhau. Cùng đi cùng về mà giữ im lặng, không nói một lời. Sau nầy, anh Phàn nói với tôi rằng: "Bố bảo, thằng Hy cũng không dám thôi đưa rước tôi đi làm. Nó còn phải rình mò, dò xét tôi, để báo cáo cho nhà thờ nữa chứ."

Mỗi sáng Chủ Nhật, các ông bà Mỹ đến chở toàn gia đình anh Phàn đi nhà thờ xem lễ. Với ý nghĩa làm ơn, làm phước, cứu vớt linh hồn của một gia đình ngoại đạo tội nghiệp, chưa biết đến danh Chúa Trời, đem ơn phước đến cho họ. Nhưng gia đình anh Phàn cắn răng chịu đi nhà thờ, là để làm ơn cho các ông bà Mỹ, làm họ vui lòng, may ra họ nghĩ lại mà trả lui số tiền họ đã ăn chận. Chứ đến nhà thờ, theo anh Phàn nói, chỉ nghe xi-lô xi-la không biết họ nói gì, buồn ngủ lắm, ngồi lâu mỏi
lưng, tê chân. Anh Phàn nói với tôi rằng: "Mấy ông bà Mỹ sang trọng, giàu có nầy, nhưng keo kiệt không ai bằng. Mỗi khi lễ xong, có người cầm cái vợt đi thu tiền, tôi thấy họ chỉ cúng vào vợt tờ bạc một đồng thôi. Để cho họ xấu hổ, nhục nhã, khi nào tôi cũng bỏ vào vợt mười đồng." Tôi chỉ cười, không dám có ý kiến.

Một hôm anh Phàn lội tuyết qua nhà tôi vào buổi tối, đem tặng một gói trà Tàu bèo nhèo mà anh đã mua từ Hồng Kông. Sau một vài câu chuyện vu vơ, anh lôi trong túi ra một xấp điện tín có mười bốn tờ, đưa cho tôi xem, và hỏi những món hàng ghi trong điện tín có thể mua ở đâu, làm sao tìm ra tiệm bán giá rẻ. Tôi lật từng trang điện tín từ Hãi Phòng, Hà Nội. Móng Cáy điện qua, do nhiều người khác nhau đánh đi, yêu cầu gởi những món đồ gia dụng như máy nghe nhạc, máy chụp hình, xe đạp đua, vải vóc, bột ngọt, thuốc trụ sinh và những món linh tinh khác nữa. Anh nói :

"Bên nhà tưởng tôi qua đây đi ăn cướp tiền của thiên hạ anh ạ. Tiền đâu mà đòi hỏi đủ thứ như thế nầy? Tôi cũng nhức đầu về mấy cái điện tín và thơ từ liệt kê dài lòng thòng các món hàng họ đòi hỏi. Điên lên được đấy chứ ."

Tôi an ủi anh:

"Bên nhà họ khổ quá, mình giúp đở được ít nhiều chi, thì giúp trong khả năng của mình. Anh lo buồn làm chi cho khổ tâm vô ích."

"Người ta tưởng qua đến Mỹ là hốt tiền thiên hạ như hốt lá vàng. Mỹ nó ngu cả hay sao? "

Tôi hứa khi nào rảnh, sẽ lái xe đưa anh lên Chicago, tìm các tiệm bán hàng cần thiết để anh dò hỏi giá cả. Anh hỏi vay tôi năm trăm đồng, có tiền lời mười phân, và sẽ hoàn trả lại khi lảnh được tiền trợ cấp. Tôi cười bảo anh:

"Để tôi bàn lại với vợ tôi, thuyết phục vợ cho anh vay. Vì hầu bao trong gia đình do các bà nắm giữ, và giữ chặt lắm. Mỗi ngày tôi phải ngữa tay xin tiền quà, tiền xăng. Và nếu có cho anh vay, thì cũng
không dám lấy lời. Ở Mỹ mà cho vay cắt cổ, thì cũng dễ vác chiếu ra tòa lắm."

"Tiền lời là do tôi đề xuất, và bằng lòng, chứ anh có ép tôi đâu? Anh tự quyết định cho tôi vay không được sao? Các anh yếu đuối quá, anh Hy cũng vậy, để cho vợ lấn lướt, qua mặt. "

Tôi cười, nói đùa:

"Đàn ông miền Nam chúng tôi không được dũng cảm như các anh. Mà khi ở trên đất Mỹ nữa , thì chúng tôi càng xìu như sợi bún thiu."

Làm việc được bốn tháng, anh Phàn bỏ việc mà không thông báo cho công ty, nên anh bị sa thải. Mấy người bảo trợ trong nhà thờ đến nhà anh tìm hiểu sự việc để giúp đở. Họ kêu vợ chồng anh chị Hy đi thông dịch, nhưng anh chị Hy từ chối. Họ đến nhờ vợ tôi. Nhóm nhà thờ gồm năm ông bà, đi hai xe. Họ hỏi lý do thôi việc. Anh Phàn lừng khừng đáp:

"Không muốn làm việc nữa, thì nghỉ."

"Thế anh đã kiếm ra việc làm khác chưa ?"

"Chưa"

"Không có việc làm, lấy tiền đâu chi tiêu, thuê nhà, ăn uống?"

"Tôi không biết!"

"Tại sao anh không muốn làm việc đó nữa? Có vấn đề gì không? "

"Không có vấn đề chi cả. "

"Anh có muốn nhà thờ tìm việc khác cho anh không?"

"Chưa muốn. Khoan đã."

Mấy ông bà trong nhà thờ lắc đầu, nhìn nhau, rồi nhìn anh Phàn với ánh mắt thương hại. Các ông bà hỏi, bây giờ anh muốn gì không? Anh nhờ vợ tôi nói, là muốn nhà thờ trả lại cho anh số tiền hơn hai mươi ngàn mà họ đang giữ giúp, để anh tính kế làm ăn. Vợ tôi tái mặt, không biết phải nói làm sao, để hội nhà thờ không bất bình. Ngập ngừng, vợ tôi nói trại ra rằng, anh Phàn tha thiết muốn biết những chi phí của nhà thờ đã chi tiêu cho anh, và ai đã đóng góp bao nhiêu, quỷ nhà thờ bao nhiêu, và nhà nước cho bao nhiêu, để anh tri ân họ. Các ông bà khoát tay, bảo là không cần thiết, đừng nghĩ đến, đừng thắc mắc. Vợ tôi năn nỉ, nói rằng, nếu không được biết những điều đó, thí anh Phàn cứ thắc mắc mãi, không yên tâm để làm ăn. Các ông bà cười sung sướng, thoải mái.

Cuộc đấu tranh kiên cường của anh Phàn gần thành công mà anh không biết. Khi nhà thờ thấy anh chị đều thôi việc, không chịu đi làm nữa, họ cũng quýnh lên, lo lắng lắm. Họ đạo cũng nghèo, tín hữu cũng không giàu có chi, không thể đài thọ dài ngày cho cái gia đình đông đảo nầy được. Các ông bà bảo trợ chịu thua, định ngày đem gia đình anh Phàn lên sở xã hội xin trợ cấp của quận hạt. Nhưng anh Phàn loan báo rằng, anh sẽ dời nhà về Oklahoma City. Cả họ đạo thở phào. Anh Phàn có nhiều bạn bè quen biết trong trại tị nạn cũ, họ đã định cư ở Oklahoma, và biết rành mạch cách xin trợ cấp xã hội.

Anh Phàn nhờ tôi mua vé máy bay cho cả gia đình về Oklahoma City, đồng thời dàn xếp xe cộ để chở anh chị ra phi trường. Ông Gary và bà Eve hứa thuê một chiếc xe có thùng sau lớn, để chở hành lý cồng kềnh của gia đình anh. Tôi và anh Hy, hai xe sẽ chở người trong gia đình. Anh Phàn nói nhỏ với tôi rằng, trước khi đi anh sẽ đốt căn nhà để trừ vào số tiền nhà thờ đã ăn quịt của anh. Ăn của ai thì được, ăn của anh thì nuốt không trôi đâu. Tôi can gián, và dọa anh rằng FBI của Mỹ giỏi
lắm, thế nào họ cũng điều tra ra. Và tội chi đi tù cho khổ thân, con cái không ai nuôi. Mình đến đây, đời sống còn dài, còn sức thì còn làm ra tiền. Vã lại, có đốt căn nhà, mình cũng không đ

Gửi bởi: hoaha May 10 2011, 12:02 PM

MỘT KIẾP NGƯỜI




Cách mạng Mùa Thu 1945, tiếp theo là Toàn quốc kháng chiến 1946, là những thời điểm mà thế hệ lưu vong trên 70 tuổi nhớ đến với nhiều nỗi đau thương, ngậm ngùi. Riêng tôi kỷ niệm tản cư những năm kháng chiến chống Pháp thật khó quên. Gia đình tôi bỏ làng ở tỉnh Quảng Nam, chạy vào tận Bình Định. Lúc đầu sống ở Bồng Sơn sau dời lên Hội Yên, và sống ở đó cho đến ngày hồi cư về làng cũ. Một kỷ niệm khó quên là sông Lại Giang. Sông xuất phát từ thung lũng An Lão, chảy ra cửa biển Bàu Tượng, xuyên qua các cánh đồng phì nhiêu quận Hoài Ân, Hoài Nhơn. Về mùa đông, con sông thu hẹp, cạn dòng, trừ khi lũ lụt. Trái lại mùa nắng, mức nước sông lên cao, chảy chậm lại vì cứ độ một cây số thì có hệ thống dẫn thủy nhập điền gọi là “bờ xe gió” hay “dàn xe gió”(noria): Vào đầu Xuân, các làng ven sông bắt đầu đóng cừ ngang sông, ghép vỉ tre vào cừ, làm thành đập chắn, dồn nước vào một lạch chảy xiết sát bờ. Một giàn chừng 5 đến 10 bánh xe đặt ngang qua lạch. Giàn là một kiến trúc giống như sườn một căn lầu hai từng gồm những cột gỗ đóng sâu vào lòng lạch, và những xà ngang dọc, nối kết vào cột, bằng dây mây. Giàn có nhiều ngăn, và trong mỗi ngăn là một bánh xe. Xà ngang nâng bánh xe có khấc lót sắt cho trục tựa vào. Mỗi bánh xe, có trục gỗ bịt sắt hai đầu, từ đó các nan gỗ dài 3m tỏa ra nâng vành có bề ngang 1m. Tất cả đều ghép lại bằng những sợi mây, do những thợ chuyên nghiệp làm. Những tấm vỉ tre cản nước 1m X 1m, được cột, cách khoảng đều đặn, vào đầu mút nan, sát vành. Nước đẩy những tấm vỉ làm bánh xe quay trên trục. Các ống tre lồ ô, có đáy là mắt tre, và có miệng hướng lên cao khi vành xe được nâng lên khỏi mặt nước sông, cột nghiêng 45 độ trên vành, múc nước. Lên đến đỉnh, ống tre nằm ngang, trút nước vào các máng xối dẫn nước vào ruộng. Giữa các bờ xe gió, là những hồ nước xanh biếc, phẳng lặng. Bờ cừ cũng chừa một lối hẹp ở giữa dòng sông cho đò dọc đi lại. Hội Yên là một làng nông nghiệp ven sông Lại Giang, có xưởng dệt vải Ba-ta (của dân tản cư từ Phú bông, Quảng Nam vào), có xưởng giấy sản xuất loại giấy màu vàng sẫm (vì thiếu hóa chất tẩy bột giấy), có Ủy Ban Kháng Chiến Miền Nam (UBKCMN) trấn đóng, nên cuộc sống ở đây có phần náo nhiệt. Với tôi, Lại Giang thay thế Thu Bồn nơi quê cũ, cũng đầy ắp kỷ niệm thiếu thời: tắm sông, chèo thuyền...
Kháng chiến chống Pháp bước vào năm thứ sáu. Liên khu 5 từ Đèo Hải Vân vào đến Bình Thuận, gồm cả Cao Nguyên Trung Phần là một quân khu lớn. Từ Đèo Cả vào Nam, toàn bộ Cao Nguyên, và hơn nửa tỉnh Quảng Nam mạn Bắc, là vùng xôi đậu hoặc hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Pháp, và chính quyền Quốc gia thời Bảo Đại, nhất là các thị xã, quận lỵ, và thành phố. Vùng hoàn toàn do UBKC Liên khu 5 kiểm soát gồm nửa tỉnh Quảng Nam mạn Nam, tỉnh Quảng Ngãi và Phú Yên. Năm 1952 Liên quân Pháp và Bảo an Đoàn, trong chiến dịch Atlante, đổ bộ lên Qui-Nhơn, và Tuy hòa, (thành phố bỏ ngỏ do tiêu thổ kháng chiến), rồi lan tỏa ra các vùng phụ cận, thu hẹp phạm vi kiểm soát của UBKC. Vợ chồng Bác sĩ Hoa, làm việc ở Bệnh viện Song Thanh, gần Qui-Nhơn, phải di tản ra làng Hội Yên. Họ tá túc trong nhà ông Chánh Bích, một địa chủ giàu có trong làng. Trang trại ông Bích là một khu vườn rộng lớn gần một mẫu tây, có hàng rào xương rồng dày, kín, vây bọc bốn phía. Cổng vào là một ngôi nhà nhỏ, lợp ngói, khép lại bằng hai cánh cửa lim. Tiếp theo cổng là lối đi vào nhà, giữa hai hàng dâm bụt cắt xén đẹp mắt, và những chậu hoa lớn, trồng đủ thứ hoa nhiều màu, thơm ngát. Bóng mát những cây ăn quả làm lối đi mát rượi. Rời lối đi rợp mát, khách bước vào sân gạch rộng lớn, chan hòa ánh sáng, mà vào mùa gặt dùng để phơi lúa. Một dãy nhà dài, lợp ngói đỏ, có hàng hiên rộng, làm thành chữ U, bọc hai bên và chính diện sân. Vườn sau dãy nhà là thế giới êm mát, rợp bóng cây ăn quả. Gia đình tôi đã thuê một góc vườn, dựng một mái nhà tranh để ở. Chính vì thế mà tôi có dịp gần gũi hai ông bà Bác sĩ Hoa.
BS Hoa đã tốt nghiệp Y khoa, đại Học Paris năm 1942. Vợ ông, bà Khương Băng Tuyết, tốt nghiệp viện Quốc gia Âm Nhạc Paris khoa Dương cầm cùng năm ấy. Ông, quê Đà Nẵng, con một phú thương. Cha ông có tàu buôn lớn, chở hàng đi về các cảng Sài gòn, Hải Phòng,Vinh, và là chủ nhân những dãy phố cho thuê, dày đặc ở Đà Nẵng. Bà quê Sài gòn cũng con một đại phú gia. Hai người đã quen biết nhau ở Paris, trong một buổi họp mặt sinh viên du học, và một tình yêu lớn đã nảy nở, trong khung cảnh lãng mạn của kinh đô hoa lệ nhất Châu Âu. Sau ba năm say đắm, tràn đầy hạnh phúc, cộng với nỗi mừng vui đỗ đạt, công thành, danh toại, họ hối hả về Việt Nam để thành hôn cuối năm 1942. Lễ cưới được cử hành ở Sài gòn thật linh đình. Rước dâu về Đà Nẵng phải thuê bao cả hai toa tàu hạng nhất. Lễ ra mắt cô dâu ở họ nhà trai cũng linh đình không kém. Đám cưới xong, đôi tân hôn đi hưởng tuần trăng mật ở Ý, rồi ghé Paris để sống lại kỷ niệm thân thương. Ba tháng sau họ trở về Đà Nẵng. Nhưng không phải là để mở phòng mạch hành nghề. Cả hai ông bà đều là con một, và cùng kế thừa một sản nghiệp đồ sộ của đôi bên phụ mẫu đã qua đời vài năm sau. Các nghiệp vụ doanh thương đã có những gia nhân thân tín đứng cai quản, và hàng tuần báo cáo thu nhập. Vì thế BS Hoa thấy không phải hành nghề chi cho mệt, mà cùng vợ hưởng thụ cuộc sống thư nhàn, đi du lịch khắp nước, từ Bắc, chí Nam. Họ giao du rộng rãi và như Mạnh thường Quân, trong nhà lúc nào cũng đầy thực khách, và cả ba, bốn bàn mạt chược. Nhưng biến cố năm 1945 dồn dập đến: Cách mạng Mùa Thu rồi Toàn quốc kháng chiến. Pháp trở lại tái chiếm Đà Nẵng. Ông Cử Diện, cha BS Hoa, xưa kia đã từ quan thời Pháp để xoay qua kinh doanh. Ông đã giúp đỡ rộng rãi phong trào yêu nước Đông du, cấp học bổng cho học sinh giỏi và có chí hướng du học Pháp. Vì thế BS Hoa, cũng chẳng ưa gì chế độ thực dân, đã chọn lựa đi tản cư, khi thành phố lọt vào tay Pháp. Hai ông bà đã gói ghém vàng bạc, nữ trang đi vào tận Quảng Ngãi rồi Bình Định. Bà không quên mang theo đàn dương cầm, mà sự chuyên chở kềnh càng tốn tiền không ít. Ngày mà bà chở dương cầm về Hội Yên, ít nhất phải sáu người lực lưỡng mới đem được đàn xuyên qua cổng nhà ông Chánh Bích.
Ở lứa tuổi 16, lối sống của ông bà BS Hoa thu hút trí tò mò của tôi. Ông lúc ấy độ 30 tuổi, nét mặt nghiêm nghị, thanh tú, trí thức. Bà khoảng 25, với vẻ đẹp quý phái, cân đối, khỏe mạnh, đúng như lời thơ ông tặng bà lúc mới quen nhau:
...Xinh xinh sao thân nở đặn đầy
Xinh xinh sao đôi má hồng hồng
Xinh xinh sao nụ cười êm ái
Xinh xinh sao dáng đi quý phái
Xinh xinh sao vầng trán phẳng phiu
Xinh xinh sao mái tóc mỹ miều
Mái tóc xõa của tuổi xanh ngăn ngắt
Và đôi mắt, ồ đôi mắt
Là một trời tình tứ, ngây thơ..
Ngước nhìn, anh những thẫn thờ,
Nàng tiên tiền kiếp, trong mơ đây rồi...
Trong khi mọi người ăn mặc xuềnh xoàng với vải ta sần sùi, ông bà với áo quần vải vóc ngoại mượt mà, trắng tinh hoặc màu sắc óng ả. Ban ngày khi ông đi làm ở bệnh viện Liên khu cách Hội Yên một cánh đồng, bà ở nhà, làm bếp, trồng hoa, và nhất là đàn dương cầm cả giờ. Bà không đi chợ mua đồ ăn, mà gửi tiền, nhờ người khác mua. Để tránh con mắt tò mò, ông bà ít ra ngoài. Thảng hoặc có đi dạo trong làng thì lựa ban đêm, trên những hẻm mờ tối. Thấy tôi nghe lén bà đàn, bà nẩy ý dạy tôi đánh đàn. Nhờ cách dạy tận tâm và có phương pháp, tôi tiến bộ nhanh. Tôi bước vào thế giới huyền diệu của âm thanh qua các bài menuet đơn giản nhưng réo rắt, những bài Songe d'été, Princesse Czardas, La prière d'une vierge, La chapelle au clair de lune, Lettre à Élise, v.v... dịu dàng thơ mộng. Những bài bà đàn thì rất khó và dài dặc của những nhạc sĩ cổ điển nổi danh, như Beethoven, Bach, Mozart, Chopin, Mendelssohn, Brahms, cùng rất nhiều nhà soạn nhạc khác mà tôi không nhớ hết. Tôi nghe tâm tình bà qua bài “sonate au clair de lune” của Beethoven, lúc xao xuyến, lúc hối tiếc, giận dỗi và sự thanh thản cuối cùng. Bà kể tôi nghe Beethoven lúc nhỏ đã bị cha xiềng chân vào đàn, để tập đánh đàn cả ngày cho giỏi. Bà cũng kể uy lực của âm nhạc qua chuyện nhạc sĩ nầy có cô học trò cũ đến thăm, thổ lộ ông nghe nỗi buồn vô vọng vì đứa con mới chết. Ông không nói gì, ngồi trước dương cầm, dạo những khúc nhạc êm ái đến nỗi một giờ sau, người học trò thấy lòng thanh thản trở lại, vơi đi nỗi buồn mất con... Bà cũng kể khi mới về làm dâu, cha mẹ chồng nghe bà tốt nghiệp dương cầm, bèn bảo bà đánh đàn cho nghe. Ngồi trước phím đàn, bà e lệ hỏi:
-Thưa ba mẹ muốn con đàn bài gì?
Bà mẹ chồng âu yếm bảo:
-Con đàn sáu câu vọng cổ cho ba mẹ nghe.
Bà đã khóc thầm, trong bụng thấy tủi, vì công phu mình học thật quá thừa để đàn 6 câu vọng cổ đơn giản. Phải chi nói mình đàn sonate của Beethoven hay mazurkas của Chopin cho thỏa chí.
Qua những chuyện bà kể, qua đối thoại tâm tình của hai ông bà, tôi biết mối tình họ được xây đắp trong sự hài hòa, quên mình, lắng nghe nguyện vọng của nhau để đem lại niềm vui cho người mình yêu. Tôi biết được Paris có sông Seine chảy về hướng Tây (nước ta phần lớn sông đều chảy về Đông) và chia Paris thành hai phần Nam (tả ngạn), Bắc (hữu ngạn). Trung tâm thành phố là nhà thờ Notre Dame nằm trên cù lao giữa dòng sông Seine. Từ trung tâm ấy, Montmartre với đền thờ Sacré Coeur ở hướng Bắc. Hướng Nam là Montparnasse. Quảng trường Bastille ỏ hướng Đông. Tháp Eiffel cao vọi ở hướng Tây. Vì những cuộc hẹn hò trên các nẻo đường Paris, mà họ thuộc thành phố rộng lớn nầy như trong lòng bàn tay, chỗ nào có cà-phê ngon, chỗ nào có tiệm ăn Việt Nam, tiệm Mandarin bán tới con vịt số mấy. Họ tìm kỷ niệm nhiệt đới ở đường Cherche Midi. Họ đi trên “bâteau mouche” để nhớ lại kỷ niệm chuyến đi trước. Họ lang thang trên những nẻo đường ngoại ô, tay cầm tay, nói không bao giờ hết chuyện như: -“trời hôm nay đẹp”õ, -“ừ, trời hôm nay đẹp thật” –“anh có nhớ mình quen nhau lúc nào?”, -“Em có biết tối qua, nhớ em không ngủ được” v.v...
Ông Chánh Bích có một thuyền gỗ dài độ 10m. Giữa thuyền là một căn nhà nhỏ 3m X 4m có mái lợp cót che mưa nắng, có cửa sổ treo rèm hai bên, có cửa ra vào, đằng lái và đằng mũi. Trong nhà nhỏ có một bộ bàn ghế tiếp khách. Thời trước ông hay đi lại trên Lại giang, hoặc tiếp đãi bạn bè trên thuyền nầy. Nhưng từ ngày Cách mạng Mùa Thu, ông biết chính quyền không ưa gì lối sống tư sản, nên ông không dùng thuyền nữa, mà chỉ cho mượn đãi khách. Ông bà BS Hoa đã mượn thuyền để thưởng thức vẻ đẹp đêm trăng trên Lại giang, nhân kỷ niệm 10 năm thành hôn. Vì biết chèo thuyền nên tôi được tháp tùng hai ông bà. Hôm ấy cũng có BS Đồi, đi xe đạp trên 100km, từ Quảng ngãi vào thăm. Chúng tôi 4 người, đợi hoàng hôn xuống, mới rời nhà ra bến xưởng giấy, mang theo đèn cầy, trà, bếp cồn cùng đồ ăn. Trăng rằm đã lên ở chân trời, tròn, sáng. Hàng dừa hai bên bờ sông, lá đung đưa theo gió, lấp lánh ánh trăng. Mặt nước phẳng lặng in trăng xuống đáy, lan tỏa những vòng vàng rực. Chúng tôi xuống thuyền. Tôi mở dây buộc thuyền và ra sau lái khua chèo, nhẹ nhàng đẩy thuyền ra giữa sông. Đến nơi tôi thả neo, giữ thuyền đứng yên một chỗ. Tôi giúp khiêng bàn ra đằng mũi, chúng tôi ngồi vào bàn, im lặng ngắm vẻ đẹp chung quanh: Bầu trời có ít vẩn mây, sâu thẳm. Trăng lên cao một ngọn sào trên chóp hàng dừa, tỏa ánh sáng bàng bạc trên sông. Dàn xe gió lấp lánh dưới trăng, nước đổ ra trên máng xối như những dòng bạc sáng lung linh. Tiếng nước đổ rào rào, tiếng trục xe gió mài trên đà nâng, rên rỉ kéo dài nghe thật buồn. Tình tự xa quê nhà vì tản cư, nỗi khổ chiến tranh, làm chùng lòng mọi người. Bà BS Hoa lên tiếng trước phá tan im lặng: “Tôi vào trong pha trà, nấu chè và sửa soạn thức ăn.” Tôi vào giúp bà và để hai bác sĩ ngồi tâm sự với nhau. BS Đồi có mang theo một hộp phó mát Canembert và hai ổ bánh mì dài. Ông có người bà con, là gián điệp nhị trùng, đã lén mang những thức ấy từ Đà Nẵng vào cho ông. Vì muốn chia với bạn thân, ông phải giấu của “quốc cấm” ấy vào xách tay, và lặn lội đường xa. Tối hôm ấy, sau khi chúc vợ chồng BS Hoa tràn đầy hạnh phúc, chúng tôi bắt đầu ăn bánh mì với phó mát, mà gần 7 năm không được ăn, một món ăn không có gì đặc biệt ở Paris hoặc Đà Nẵng, song trong hoàn cảnh tản cư hiện tại, quả là ngon tuyệt, mặc dù bánh mì đã lâu ngày, không còn giòn và ngọt. Hai ông bác sĩ còn uống thêm rượu đế, để giải sầu. Sau đó tráng miệng với chè đậu xanh đánh, mùi vị rất ngon, mà bà BS Hoa đã nấu từ chiều với một “recette” đặc biệt. Cuối cùng là uống trà Bắc Thái, mà một cán bộ miền Bắc vào, tạ ơn BS Hoa đã chữa trị cho anh ta bệnh sốt rét. Trà ngon thơm, và làm mọi người tỉnh ngủ. Hai bác sĩ, ngồi giữa sông, không sợ tai vách, mạch rừng, đã phê bình những mưu toan UBKCMN che đậy dã tâm xích hóa cuộc kháng chiến, dành công đầu cho đảng Lao động, một đảng (Không dùng từ này) trá hình. Sự bất mãn của họ giải nghĩa vì sao họ trốn về thành, chừng sáu tháng sau cuộc gặp gỡ trên. Trăng đã xế về Tây lạnh lùng, xa vắng. Chúng tôi đi nghỉ. Hai vợ chồng BS Hoa trải chiếu nằm trong phòng nhỏ. Tôi và BS Đồi nằm dưới trăng ở mũi thuyền. Vì uống trà, tôi trằn trọc, khó ngủ, và nghe vợ chồng BS Hoa to nhỏ, âu yếm. Đến gần sáng thì tôi chợp mắt ngủ.
Cũng nhờ có tiền, ông bà BS Hoa đã móc nối với ngư dân ở Tam Quan. Một ngày cuối tuần họ giả đi tắm biển. Trong đêm tối họ xuống thuyền buồm, ra khơi. Chuyến đi trót lọt, và hai ngày sau họ đã về đến bãi biển Sơn Chà. Trình diện với cơ quan an ninh thành phố xong, ông bà được bạn bè cũ đến bảo lãnh. Vì ngôi nhà cũ bị lính Pháp trấn đóng, ông bà phải lang thang sống nhờ người quen, đồng thời mướn luật sư, tìm cách lấy lại tài sản cũ. Lúc ra đi tản cư vội vã, không mang theo giấy tờ sở hữu nhà đất. Giấy tờ của sở nhà đất chính phủ cũng bị cháy rụi, lúc giao tranh trong thành phố. Các nhà cho thuê nay có chủ mới. Riêng những tàu buôn thì phần bị phá hoại, lúc Pháp tái chiếm cảng Đà Nẵng, phần bị trôi dạt mất tăm. Tài sản bên bà BS Hoa ở Sài gòn lại càng khó thu hồi lại được, vì không tìm lại được gia nhân cũ, và những chứng từ sở hữu. Vì cứ đinh ninh sẽ trở về lối sống nhàn nhã trước kia, hai ông bà theo đuổi kiện tụng, cả ở Sài gòn và Đà Nẵng. Rốt cuộc chỉ đòi lại được hai căn nhà nhỏ, nhưng phải bán đi để lo luật sư. Thế là phải lang thang sống nhờ bạn bè. Nhưng tình bác ái lâu ngày rồi cũng mệt mỏi. Bạn bè xa lánh, và có người nói xúc phạm. Hai ông bà thấy tủi nhục, ôm nhau khóc lóc cho tình đời đen bạc. Ông bà bàn định sẽ cùng nhau tự tử. Thuốc ngủ đã mua hai liều mạnh. Trong tuyệt vọng não nề, bỗng ông sực tỉnh:
-“A quên mình còn cái bằng Bác sĩ.”
Thế là hai ông bà đứng lên, hăng hái kiến tạo cuộc đời mới. Họ vay mượn bạn bè ít vốn để mở phòng mạch. Ba năm sau họ đã trang trải được nợ nần, mua xe, mua nhà, có đời sống ổn định và tìm lại hạnh phúc ngày xưa. Gia đình có thêm hai đứa con, một trai, một gái. Ông không quên mua cho bà một đàn dương cầm mới. Trong nhà lại dập dìu tiếng nhạc rộn vui, thanh thản. Thời đệ nhất Cộng hòa ông làm ty trưởng y tế Đà Nẵng, đồng thời là giám đốc bệnh viện thành phố. Khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào Việt Nam và leo thang chiến tranh, có những đoàn văn nghệ từ Mỹ sang, đi khắp chiến trường, biểu diễn cho lính Mỹ xem, để nâng cao tinh thần chiến đấu của họ. Có một đoàn văn nghệ biểu diễn quanh Đà Nẵng trong nhiều tháng, trong ấy có một nhạc sĩ dương cầm Mỹ trẻ, tên gọi là Bill, tốt nghiệp âm nhạc viện Nữu Ước. Anh chỉ là Trung sĩ, chắc là để thi hành nghĩa vụ quân sự. Đoàn văn nghệ ấy, gồm nhiều ca sĩ nổi danh, có lần giúp vui cho bệnh nhân Bệnh viện Đà Nẵng trong dịp Giáng sinh. Phần lớn họ hát các bài thánh ca như Jingle Bell, Silent Night, v.v... Cảm động nhất là các ca sĩ ngoại đã hát những bài thánh ca Việt như bản “Đêm đông” của nhạc sĩ Hải Linh. Bill và bà Băng Tuyết đệm đàn, rồi không biết vì sao, hai người lại cho hội trường thưởng thức độc tấu dương cầm , bà với bản Rhapsodie Hongroise của Litz, Bill với bản Lieder của Brahms. Họ âm thầm so tài và mọi người đều bị lôi cuốn bởi dòng nhạc êm ái, điêu luyện. Sau đêm biểu diễn ông bà BS Hoa mời Bill đến tư gia ăn những món đặc sản Việt. Bà Tuyết và Bill lại có dịp bàn luận về âm nhạc. Bill xuất thân gia đình vọng tộc, nói tiếng Pháp thạo, vì đã từng qua Paris học hỏi dương cầm. Chàng lại đẹp trai, khiêm nhường, ăn nói có duyên và nhiệt tình. Bà Tuyết được trời ưu đãi, trẻ lâu, lúc ấy tuy gần 40, song da dẻ vẫn mịn màng, đẹp mà không cần son phấn. Hai người phục tài nhau, và cùng một mê say: nhạc dương cầm cổ điển. Từ đó, Bill thường đến nhà bà Tuyết và hai tâm hồn đa cảm làm giàu cho nhau bằng những khám phá lý thú bên đàn dương cầm, thâm nhập vào sự tinh anh, tài ba, xuất thần của các nhạc sĩ thiên tài.
Sở dĩ tôi biết được các chi tiết trên về gia đình BS Hoa vì sau khi ông bà về thành, gia đình tôi cũng hồi cư về làng cũ. Tôi ra Huế tiếp tục học, rồi vào trường Y Sài gòn. Khi đi học cũng như khi ra trường, tôi vẫn thường xuyên đến thăm ông bà. Lúc về Tổng Y Viện Duy Tân, cuối tuần tôi thường chơi mạt chược ở tư thất ông bà. Kết thúc bi thảm sau đây tôi đã cố tìm hiểu, và cho đến nay nghĩ đến tôi vẫn còn bàng hoàng:
Sự đi lại thân thiết giữa bà Tuyết và Bill đi vào một ngã rẽ định mệnh. Không hề nghi ngờ lòng chung thủy của vợ, bỗng một hôm, sau một ca mổ căn thẳng, BS Hoa đột nhiên muốn về nhà nghỉ ngơi. Mở khóa vào nhà, phòng khách không có ai, trong nhà im ắng. Ông đoán là vợ đi phố và các con đều đến trường. Ông lặng lẽ đi vào phòng ngủ và thấy Bill ôm vợ mình, hai người say sưa trong giấc ngủ. Ông choáng váng, lặng người, song cũng vẫn bình tĩnh, không làm ồn ào. Khóa cửa nhà lại như cũ, ông trở lại nhà thương làm việc. Chiều đến ông về nhà, xem như không có gì xảy ra. Trong bữa ăn tối ông vẫn vui vẻ trò chuyện với vợ và con. Nhưng tối đó ông không vào phòng ngủ như thường lệ. Bà Tuyết có trực giác là có điều gì nghiêm trọng. Bà trăn trở, và cuối cùng ra phòng làm việc của chồng. Đèn vẫn sáng. Đồng hồ phòng khách ngân nga điểm hai giờ. Chồng bà gục đầu trên bàn viết, thân thể bất động, chùng xuống trên ghế bành rộng. Hai cánh tay xoải trên bàn, đè một lá thư. Như cái máy, bà rút lá thư xem:
“Em thân yêu. Em hãy xem cái chết của anh như một tai nạn xuất huyết não cấp tính, và làm ma chay bình thường, để khỏi gây những lời dị nghị, có hại cho em và cho con cái chúng ta. Anh vẫn yêu em như thuở ban đầu, và cầu mong em thanh thản, yên vui trong hạnh phúc mới. Riêng anh đã ích kỷ chọn sự yên lặng của nấm mồ.”
Trong hốt hoảng bà điện thoại cho tôi đến gấp. Năm phút sau tôi đã có mặt ở nhà bà. Khám xác và nhìn lọ thuốc ngủ trên bàn, tôi biết BS Hoa đã dùng một liều cực mạnh, và đã tắt thở từ lâu. Thể theo lời người quá cố, tôi đứng ra lo việc ma chay long trọng, mà hầu hết những nhân vật tai mắt của thị xã đều đến phúng điếu, song không mảy may hay biết sự tình, chỉ thương tiếc BS Hoa đã sớm ra đi vì bạo bệnh.
Chừng ba tháng sau tang lễ, bà BS Hoa xuống tóc, vào tu ở một ngôi chùa gần nhà. Bà từ biệt thế giới dương cầm, âm nhạc. Bà buộc vợ chồng tôi dọn về ở nhà bà, tiếp tục coi sóc phòng mạch của chồng bà, và theo dõi hai con bà nay đã vào Đại học ở Sài gòn.
Vì sao BS Hoa đã chọn cái chết? Có lẽ vì quen sống trong tiện nghi, cuộc đời không có những thử thách, lao đao, nên sự thích nghi, đối đầu với biến cố rất yếu. Ông đã có một tình yêu lớn, ông trân quý, xây đắp, và là nơi trú ẩn an toàn cho ông . Ông đã tìm thấy ở đó hạnh phúc lớn nhất của mình. Nhưng biến cố xảy đến, làm cho lâu đài tình ái của ông sụp đổ tan tành. Những điều đẹp đẽ ông trân quý trở nên xấu xa, đen tối không phương cứu vãn. Ông thất vọng não nề. Ông quan niệm cuộc đời quá đẹp. Ông không chấp nhận sự yếu đuối, bội phản. Thật ra vợ ông chỉ là yếu đuối, mà không bội phản. Thiên chúa Giáo khác Phật Giáo ở điểm căn bản. Phật giáo hoàn toàn đặt sự giải thoát khỏi thất tình, lục dục bằng sự tự chủ bản thân, nghĩa là chỉ ta cứu lấy ta. Trái lại Chúa Jesus đã nói: “Linh hồn, thì siêu thoát, nhưng xác thịt yếu đuối.” Sai lầm là nhân bản (to err is human). Biết con người yếu đuối tội lỗi nên Chúa đã đổ máu ra cứu chuộc nâng đỡ, và sẵn sàng thứ lỗi, khi con người biết hối lỗi và trở về với đường ngay, lẽ thẳng. Sự cứu rỗi con người không thể tự người làm được, mà phải nhờ vào sự cộng tác, dẫn dắt của Thượng Đế. Bởi người là người, không phải là thần thánh. Tự biết mình yếu đuối, và thấy sự yếu đuối của người khác là sự cao cả của con người. (la grandeur de l'homme est grande en ce qu'il se connait misérable, et aussi en ce qu'il a vu la misère d'autrui). BS Hoa phải rộng lượng thứ lỗi cho sự yếu đuối của vợ. Sự im lặng của ông thật đáng ca ngợi, để tránh những đổ vỡ to lớn hơn nữa. Nhưng ông đã ích kỷ tìm sự im lặng của nấm mồ. Ông không biết như thế là làm tan nát tấm lòng yêu thương chân thật của vợ ông, và mối tình lớn mà hai người un đúc sẽ đứt đoạn. Ông phải chấp nhận đau thương, để tình yêu thêm sâu sắc và biết hy sinh hơn nữa. Ông đã làm vợ ông từ bỏ một sự phong phú, giàu có tâm hồn là âm nhạc, vì bà cho đam mê nầy là đầu mối của sự sa đọa.
Một tục ngữ Đức có nói:“Khi người ta đưa quỷ nắm ngón tay, nó sẽ chụp luôn cả cánh tay.” Một cách tránh xa quyến rũ tội lỗi, là đừng bao giờ thử xem một tí. Đây cũng là bài học quá muộn cho bà Tuyết. Trong thâm sâu tâm hồn, bà đau khổ biết bao, khi thấy chính lỗi lầm mình đã đưa chồng vào tuyệt vọng. Tôi thường hay đến chùa thăm bà và đàm đạo với bà về triết lý nhà Phật. Bà đã tìm lại được sự thanh thản tâm hồn ở cửa thiền, và sự tương thông với người chồng quá cố thân yêu. Bà tận tâm trong công việc từ thiện của Chùa. Nhưng điều làm tôi vui mừng nhất là bà đã cho mang đàn dương cầm của bà vào chùa. Bà đã trở lại với âm nhạc để tìm lại sự an bình mới. Bà đã sáng tác nhiều ca khúc thâm trầm siêu thoát, mà mỗi khi tôi vào thăm, bà đàn cho tôi nghe. Đó là những truyền cảm linh thiêng của người mẹ thứ hai trong đời tôi. Tôi ra về với tâm hồn thơ thới và những quyết tâm mới. Tôi đã cùng nhà chùa tổ chức các buổi trình diễn dương cầm của bà cho mục đích từ thiện. Chắc nhiều thính giả lúc ra về cũng thấy cõi lòng hân hoan thơ thới, ít nhất là vì dư âm của những dòng nhạc bất tận, huyễn hoặc, thâm trầm, và cũng có những tâm hồn đồng điệu nhập vào sự huyền nhiệm của tình yêu, sự sống và tài ba, qua sự sắp xếp thần kỳ của tiết tấu và âm thanh, thoát ra dưới ngón tay huyền diệu của ni-cô Băng Tuyết.
Riêng với Bill, tôi đã báo tin cho anh ta về cái chết của BS Hoa. Anh ta có gửi vòng hoa phúng điếu, và không dự đám tang theo lời khuyên của tôi. Sự có mặt một ngoại nhân có thể gây dị nghị. Thư anh gửi cho bà Tuyết sau đó, tôi đã hủy đi hết và dặn anh nên chỉ liên lạc với tôi. Anh có trao đổi với tôi nhiều ý kiến hay. Anh nói là những năm cuối trung học Loyola, tại thị trấn quê anh, do các linh mục dòng Tên (jesuites) cai quản, anh đã học qua nhiều khóa giáo lý. Khi nói đến hôn nhân, các linh mục giảng dạy nhấn mạnh, là phải giữ thanh khiết trước ngày thành hôn. Ở Mỹ hiện nay trong các trường trung học, có những hội đoàn thanh niên nam nữ, thệ giữ đồng trinh (virgin) trước khi lập gia đình. Giáo lý đưa ra nguyên tắc là không được tách rời tình yêu ra khỏi nhục dục (sex). Chỉ tìm thú vui xác thịt là tội lỗi. Anh nói:
-“Tôi đã xem thường điều giảng dạy trên, và hậu quả là đổ vỡ và hối tiếc không nguôi. Trong 10 giới răn mà Moise nhận lãnh từ Thượng Đế có điều: chớ lấy vợ chồng người. Tôi đã phạm tội trọng (péché mortel)”
Sau nầy khi tôi qua Mỹ, tôi có đến nhà anh chơi. Anh đã 60 tuổi. Anh kể là sau khi giải ngũ, anh trở về dạy âm nhạc tại trường trung học Loyola, ở Wichita, quê anh. Anh đổi qua chơi phong cầm cho các nhà thờ. Anh rất mộ đạo và đã yên vui xây dựng gia đình gương mẫu trong giáo xứ. Anh khoe với tôi, các con và cháu của anh đều là hội viên hội “Thệ giữ đồng trinh trước ngày thành hôn.” Trên góc bàn thờ Chúa trong nhà có để ảnh bà Tuyết ngồi trước dương cầm lúc ở Đà Nẵng. “Như thế để nhắc nhở gia đình tôi cầu nguyện cho bà”, anh nói. Trầm ngâm giây lát anh thêm: “Những tình cảm sôi nổi, những thị hiếu nhất thời, những say mê của trào lưu mới, những thú vui thân xác, theo thời gian sẽ qua đi, nhưng đạo đức, luân lý, bổn phận, trách nhiệm, tự chế, khắc kỷ, là trường cửu, và là những yếu tố tạo nên giá trị của con người.
Khánh Giao


Gửi bởi: hoaha May 10 2011, 12:26 PM

MẸ TÔI


Chủ nhật naỳ là ngày MOTHER'S DAY, đối với tôi, đây là ngày lễ ý nghĩa nhất trong năm cuả Mỹ. Dù đã được làm Mẹ 18 năm nay, tôi vẫn chưa có "thói quen" nghĩ mình là "nhân vật chính" trong ngày này, chưa có thói quen mong đợi những điều đặc biệt từ con cho mình. Tôi vẫn nghĩ nhiều hơn đến vai trò làm con, và luôn phải làm gì đó cho mẹ của mình. Vai trò này mình đã có được 47 năm nay rồi mà !

Mẹ tôi là một người đàn bà đặc biệt (có lẽ trong mắt con, mẹ mình bao giờ cũng đặc biệt cả!!), đặc biệt là ở chỗ Mẹ có được những khả năng, những nghị lực khác thường so với những người đàn bà Việt Nam cùng thế hệ. Mẹ tôi đã 85 tuổi, đã trải qua biết bao nhiêu cuộc chuyển mình của đất nước. Mẹ thuộc lịch sử, thơ văn, ca dao tục ngữ vanh vách, Mẹ hát nhiều bản nhạc tiền chiến, Mẹ hát cả những bài nhạc sinh hoạt hướng đạo học lóm từ các cậu em, Mẹ nói được tiếng Pháp, lõm bõm tiếng Anh (vì mới sang Mỹ sau naỳ). Sau 5 năm sống ở Mỹ, Mẹ đã "hiên ngang" đi thi quốc tịch bằng tiếng Anh, không cần thông dịch viên, và đã pass ngay lần đầu. Mẹ đọc báo, nghe tin tức từ radio, TV, và rất thích thú phân tích, bàn thảo chuyện chính tri, chuyện thời cuộc khắp nơi trên thế giới. Mẹ đã sinh ra, nuôi lớn và vẫn tiếp tục lo lắng cho 12 đứa con, 9 gái, 3 trai. Mẹ đã tròn bổn phận với chồng, với gia đình chồng. Cho đến khi bố tôi qua đời, lúc đó tuy đã ở tuổi 83, Mẹ vẫn là người chăm nom từ miếng ăn, tấm áo cho bố (đã bị stroke, hai chân không đi lại được) dù chính Mẹ cũng không còn khỏe khoắn, nhanh nhẹn như xưa.

Đó là chưa kể những bương chải của Mẹ trong thời gian bố đi học tập cải tạo. Nhờ sự tháo vát và hi sinh của Mẹ, các con vẫn no đủ, sung túc những năm vắng bố sau 1975. Mẹ đã biến chuyện bị đày đi kinh tế mới lao động nhọc nhằn thành một chuyến đi nghỉ mát lí thú cho các con. Năm 1978, khi gia đình tôi bị chính quyền ###### kiểm kê tài sản và bị đuổi đi kinh tế mới, Mẹ đã xoay sở mua được một miếng đất ở Long Thành, ngay cây số 76 trên đường Saigon-Vung Tau, và đăng kí đi hồi hương. Thế là muà hè năm đó cả nhà dọn về Long Thành, đối vời dân sinh ra và lớn lên ở SG thì đây đúng là một cuộc nghỉ hè thú vị, mấy chị em tôi được sống trong mái nhà tranh, vách đất, được cuốc đất, trồng khoai, uống nước giếng, thắp đèn dầu. Thú nhất là ban đêm được nhìn trăng sao lấp lánh, đom đóm bay lập lòe, nghe ếch nhái kêu inh ỏi (những thứ này ở SG làm gì có!!). Buồn buồn thì nhảy lên xe đò ra Vũng Tàu tắm biển. Hết một mùa hè, Mẹ lại lo được cho các con trở về mái nhà xưa, đi học trở lại, chứ không bi lam lũ, thất học cả đời. Nhắm tình hình không ổn cho lũ con với cái lí lịch “bố nguỵ, mẹ tư sản”, năm 1979, mẹ lo cho 3 chị tôi đi vượt biên. Sang năm 1980, mẹ cho tôi và em trai theo gia đình chị cả vượt biên. Một lần nữa, trong khi biết bao người gặp gian nan trên biển, nhọc nhằn ở trại tị nạn, thì đối với tôi, đây lại là một mùa hè thú vị khác. Sau 4 ngày đói khát, mệt nhòai nhưng bình an vô sự trên biển, chúng tôi đến Indonesia, sau đó sống ở trại tị nạn Galang đúng 4 tháng . Trong thời gian này, tôi đi dạy anh văn, tham gia sinh hoạt thanh niên, văn nghệ, văn gừng, tắm biển, và thương nhớ những người thân yêu còn kẹt lại. Ngày 17 tháng 8, 1980, tôi đến Mỹ, vừa đủ 2 tuần lễ để chuẩn bị vào niên học mới, không một chút gián đoạn nào. Trong suốt 10 năm sau đó Mẹ ở lại với cô con gái Út, một mình chống chỏi với bọn công an phường khóm tối ngày kiếm chuyện muốn cướp đoạt căn nhà của Mẹ. Một tay Mẹ không những đã lo thăm nuôi, tiếp tế cho chồng và em trai ở …. tù trong (trại cải tạo), mà còn cưu mang 17 người họ hàng thân thích ở …tù ngoài (xã hội Việt Nam).

Cuộc đời Mẹ đã trải qua 5 cái đại tang. Năm 19 tuổi, vừa sanh xong con trai đầu lòng, Mẹ đã ốm liệt giường vì ông bà ngoại đã theo nhau từ giã cõi đời trong vòng vài tháng . Năm 1965, khi gần đến ngày sanh đưa con thứ 11, mẹ phải vác bụng chửa thật to đưa bà nội tôi về nơi an nghỉ cuối cùng. Năm 2007, anh cả cuả tôi ra đi đột ngột vì bệnh tim. Tôi là người đầu tiên biết tin dữ này và đã không dám báo tin qua điện thoại cho Mẹ, phải nhờ các anh chị ở gần đến tận nơi lưa lời nói cho Mẹ biết. Nỗi đau cuả người tóc bạc đưa người tóc xanh đã khiến Mẹ tôi lịm cả nguòi, nhưng Mẹ đã chấp nhận sự mất mát này một cách hết sức kiên cường. Một năm trôi qua, sau mấy ngày vui tết Nguyên Đán với con cháu đầy đàn, bố tôi đã bình thản ngủ một giấc ngủ dài … bất tận. Lần này thì Mẹ thật sự… chới với. Người bạn đời chung sống 65 năm đã lìa xa mẹ. Mẹ cảm thấy cô đơn, hụt hẫng . Mẹ khóc, Mẹ than, Mẹ kể lại bao nhiêu kỷ niệm, Mẹ vuốt ve, âu yếm bố (lúc bố còn sống, thì Mẹ lại… mắc cỡ, chúng tôi chưa hề thấy Mẹ âu yếm bố như vậy bao giờ). Có lẽ vì bổn phận phải chăm sóc cho chồng, Mẹ đã cố gắng cầm cự suốt bao nhiêu năm qua . Có mệt cũng vẫng ráng, có mỏi cũng vẫn nhịn. Bố ra vào nhà thương , mổ xẻ khắp người, trong khi Mẹ tuy đã già yếu vẫn lo cho bố được . Thời gian đầu khi bố mới ra đi, sức khỏe Mẹ có phần lung lay, Mẹ bắt đầu nếm mùi nhà thương, ra vào phòng cấp cứu cuả bệnh viện vài lần. Lúc đó tôi rất lo là mất bố, Mẹ cũng mất đi động cơ để sống khỏe như xưa . Thế nhưng may quá, sau một thời gian ngắn, với nghị lực phi thường, Mẹ đã trỗi dậy, Mẹ lo chăm sóc bản thân mình, và Mẹ đã khoẻ lại… hơn xưa. Mẹ cứ nói đùa :”chiếc xe cũ kĩ này tuy caí xác xe đã rục tùng nhưng bộ máy còn chạy rất ngon lành”. Thật vậy, chân tay cuả Mẹ rất yếu vì bị rỗng xương, không đi đứng được, nhưng Mẹ vẫn còn vô cùng minh mẫn . Hàng ngày Mẹ tụng kinh niệm Phật, thắp hương cho ông bà và cho bố. Tới bữa ăn, mẹ vẫn để những món bố thích ăn lên bàn thờ để bố cùng dùng bữa với Mẹ . Tôi trước khi đi ngủ Mẹ lại đứng trước bàn thờ nói chuyện với bố một lúc. Thế mới biết Mẹ tôi yêu bố biết bao nhiêu .

Từ trước đến nay, tôi luôn cảm tạ thượng đế đã cho mình một cuộc đơì quá sức bình an. Tôi luôn biết mình may mắn hơn nhiều ngươì khác, và luôn cảm nhận được hạnh phúc cuả mình. Nhưng hôm nay, tôi thấy rõ ràng hơn, tất cả những gì mình có được đều do bàn tay, tấm lòng, quả tim và sự hi sinh cuả Mẹ mà ra.

Phải nói điều mà tôi thấy mình may mắn nhất là những bài học vô giá mà tôi học được từ Mẹ (tình yêu cuả mẹ thì hầu như ai cũng có rồi, phải không?). Từ khi bắt đầu biết nghe, biết nhớ, Mẹ đã không ngừng rót vào tai các con đủ mọi câu chuyện. Từ những kỉ niệm đẹp thời thơ ấu của Mẹ, những gian truân chạy loạn thời Tây, những tháng ngày Mẹ sống ở Hà Nội, cuộc di tản năm 54... Rồi thì cuộc đời làm dâu của Mẹ, cuộc sống mồ côi cuả các cậu vì ông bà ngoại mất sớm... Cho đến từng bước trưởng thành của các anh chị, và nhất là những đắng cay Mẹ phải trải qua sau năm 1975 khi bố phải đi tù cải tạo, gia đình li tán...Tôi còn nhớ mãi những ngày mới bước vào tuổi "teen', đêm nào Mẹ cũng mò vào giường thỏ thẻ những điều "cấm kị" , những điều phải "đề phòng", v.v... Qua những câu chuyện của Mẹ, tôi cũng thuộc lòng lịch sử đất nước, rất nhiều ca dao, tục ngữ. Tôi hiểu được vai trò, vị trí của mình, và nhất là có được một phong cách sống để không bao giờ phải hối tiếc vì mình đã vô tình để thời gian qua đi một cách vô ý nghĩa. Mẹ tôi là phật tử thuần thành, tuy không hay đến chuà, nhưng ngày nào Mẹ cũng thắp hương niệm Phật, quan niêm sống cuả mẹ là : khi cho tức là mình đã nhận được rất nhiều. Mẹ luôn luôn nhắc nhở con gái phải biết yêu thương, nhường nhịn chồng, phải hiếu thảo, chăm nom cha mẹ chồng, nhưng phải biết tự lập, để cuộc đời không hoàn toàn lệ thuộc vào ai. Phải tích phúc, để đức cho con cái sau naỳ

Bây giờ Mẹ đã già, "mắt mờ, chân chậm", "tóc bạc, da mồi", "chân yếu, tay mếm", "răng long, đầu bạc", gần đất xa trời"... tất cả những thứ này Mẹ đều có đủ. Người già sống ở Mỹ thường bị cô đơn vì cả ngày ra vào chỉ lủi thủi một mình, chiều tối về may ra mới có thêm người, vì thế, mỗi lần gặp con cháu về thăm, các cụ được dịp kể đủ thứ chuyện , nấu đủ thứ món ăn... Tôi xa Mẹ từ năm 16 tuổi, lúc gặp lại thì tôi đã có gia đình riêng, Mẹ ở miền Bắc CA, tôi ở miền Nam. Mỗi năm tôi chỉ găp Mẹ khoảng 3 lần, có nhiều lần cũng hơi "ớn" vì bị nghe và bị ăn nhiều quá. Từ giờ trở đi, tôi tư nhủ với lòng, sẽ hoan hỉ nghe tất cả những gì Mẹ muốn kể, và ăn tất cả những gì Mẹ nấu cho, bởi vì, tôi bắt đầu cảm thấy "sợ" rằng mình sẽ không còn nhiều cơ hội nưã.


Thiên Hương
Con gaí thứ 10 của Mẹ

Gửi bởi: hoaha Jun 3 2011, 09:49 PM

Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo
Đại sư Ngulchu Thogme Zangpo (Vô Trước)


Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát
Con đem thân khẩu ý chí tâm đảnh lễ vị đạo sư vô thượng và (thủ hộ chủ) ngài Quán Tự Tại Bồ Tát. Trong khi quán chiếu sự bất lai bất khứ của vạn pháp, ngài chuyên tâm nỗ lực đem lại lợi lạc cho chúng sinh.
Chư Phật toàn giác, cội nguồn của tất cả an vui hạnh phúc, là nơi phát sanh sự thành tựu các giáo lý tối thắng. Đấy là nhờ do sự hiểu biết các pháp hành đạo, bởi vậy tôi sẽ giảng giải về pháp hành Bồ tát đạo.
1/ Đã được thân người quý hiếm đầy đủ sự tự do và may mắn, vậy hãy chuyên cần lắng nghe, suy tư và thiền quán bất kể ngày đêm để giải thoát cho chính mình và chúng sanh khỏi biển khổ luân hồi – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
2/ Vì quyến luyến người thân, ta bị khuấy động như sóng nước. Vì hận ghét kẻ thù, ta bị thiêu đốt như lửa cháy. Bởi vậy trong bóng tối của sự hỗn độn, ta quên bẳng những gì nên làm và những gì không nên làm. Hãy từ bỏ bản ngã - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
3/ Xa lánh các đối tượng xấu, phiền não sẽ dần giảm thiểu. Gìn giữ không để thất niệm, các pháp thiện sẽ tự nhiên trong sáng, đức tin ở giáo lý sẽ phát khởi. Hãy tu tập thanh tịnh – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
4/ Thân bằng quyến thuộc lâu năm vẫn sẽ phải chia tay. Tài sản tạo dựng bằng mồ hôi nước mắt cũng sẽ phải bỏ lại. Thần thức, khách trọ trong căn nhà thân xác, rồi sẽ phải ra đi. Đừng bám víu vào kiếp sống này – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
5/ Liên hệ với ác tri thức/bạn xấu sẽ làm tam độc gia tăng trong những lúc ta học hỏi, suy tư và tu tập. Họ sẽ làm tâm từ bi của ta thối thất. Hãy tránh xa ác tri thức/bạn xấu – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
6/ Nương cậy nơi đạo sư/thiện tri thức, lỗi lầm của ta sẽ tiêu trừ, và đức hạnh ta sẽ viên mãn (tiến triển như trăng tròn). Hãy quý trọng các vị đạo sư hơn cả thân xác của mình - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
7/ Bị trói buộc trong ngục tù của luân hồi sanh tử, làm sao những vị trời phàm tục có thể mang lại sự hộ trì cho ta được? Bởi vậy có quy y thì hãy quy y nơi Tam Bảo, nơi nương tựa chân thật - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
8/ Đấng Toàn Giác từng nói tất cả những nỗi thống khổ không thể tả trong ba đường ác đều là hậu quả của ác nghiệp. Bởi vậy dù có mất mạng, ta quyết không làm điều ác [gây nghiệp xấu] - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
9/ Nhu giọt sương trên đầu ngọn cỏ, lạc thú trong ba cõi chỉ trong thoáng chốc rồi tan biến. Hãy phấn đấu đạt đến trạng thái tối thượng của giải thoát - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
10/ Khi những bà mẹ từng yêu thương ta từ vô thỉ đang chịu khổ đau, thì hạnh phúc của riêng mình có ích lợi gì? Bởi vậy muốn cứu độ vô lượng chúng sanh phải đào luyện chí hướng vị tha – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
11/ Tất cả khổ đau đều do sự ước muốn hạnh phúc cho bản thân, trong khi chư Phật toàn giác xuất phát từ tâm vị tha. Bởi vậy hãy đánh đổi hạnh phúc của ta lấy sự khổ đau của chúng sanh – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
12/ Mặc dù có kẻ vì lòng tham khôn cùng, thúc đẩy hắn trộm cắp hoặc bảo kẻ khác tước đoạt tài sản của ta, hãy tha thứ/hiến cho hắn thân thể, của cải và công đức ta đã góp nhặt, trong quá khứ, hiện tại và tương lai - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
13/ Mặc dù có kẻ muốn chặt đầu ta trong khi ta không hề làm điều gì sai trái, hãy phát tâm từ bi thọ nhận tất cả tội ác của họ - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
14/ Mặc dù có kẻ tuyên cáo cho cả ngàn thế giới những chuyện xấu xa về ta, hãy lấy tâm từ bi hoàn trả lại bằng cách tuyên dương những đức tính của họ - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
15/ Mặc dù có kẻ phỉ báng chế nhạo ta giữa công cộng trước đám đông, hãy cúi lạy và tôn kính họ, xem họ như một vị đạo sư - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
16/ Mặc dù kẻ mà ta chăm sóc thương yêu như con xem ta như kẻ thù, hãy đối xử với họ như một bà mẹ hiền yêu thương đứa con bệnh hoạn - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
17/ Nếu có kẻ ngang hàng hoặc thấp kém hơn ta, chỉ vì kiêu mạn, lại đi gièm pha ta, hãy đặt họ lên đỉnh đầu với sự tôn kính như ta làm đối với vị bổn sư – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
18/ Mặc dù sống trong nghèo khó và thường xuyên bị khinh miệt, mặc bệnh hiểm nghèo và bị tà ma quấy rối, nhưng ta không chút sờn lòng. Hãy gánh nhận tội ác và khổ đau của chúng sanh – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
19/ Dù ta có nổi tiếng và được mọi người trọng vọng, cũng như giàu có tương đương với Tỳ sa môn thiên vương [vị trời chủ về của cải], hãy nhận rõ sự phù phiếm của danh lợi, chẳng có gì đáng để tự phụ - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
20/ Khi mà sân hận là kẻ thù chính [nội ma] chưa thể khống chế được, thì dù có chinh phục được những kẻ thù bên ngoài, cũng chỉ làm cho chúng [kẻ thù bên trong ta] gia tăng mà thôi. Bởi vậy ta hãy điều phục tâm bằng hai đạo quân Từ và Bi – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
21/ Dục lạc cũng như nước muối, càng uống càng thèm khát. Hãy buông bỏ ngay những gì gây ra tham ái - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
22/ Vạn pháp đều do tâm tạo. Từ khởi thủy, bản tánh tâm không hề bị chấp trước trong các biên kiến [vọng tưởng cực đoan]. Hãy hiểu biết điều này như thế, và đừng để tâm bị lôi cuốn vào vòng nhị nguyên [chủ thể và đối tượng] năng sở đối đãi – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
23/ Khi đối diện với các đối tượng hấp dẫn, dù thấy chúng đẹp đẽ như cầu vồng giữa hạ, hãy biết rằng chúng không có tự tánh và hãy xả bỏ luyến ái chấp thủ - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
24/ Mọi hình thức khổ đau đều như mộng ảo (tựa cái chết của đứa con trong giấc ngủ của bà mẹ). Chấp các huyễn ảnh là thật có sẽ làm nhọc tâm ta. Bởi vậy khi gặp nghịch cảnh, hãy xem chúng như ảo huyễn - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
25/ Kẻ tầm cầu giác ngộ có khi phải xả bỏ cả thân mạng, vậy cần gì phải để ý đến vật chất bên ngoài. Hãy bố thí mà không cầu mong sự đền đáp – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
26/ Nếu không giữ giới, ta không thể gặt hái được thành quả gì, đừng nói chi đến ước muốn làm lợi ích chúng sanh, điều này thật đáng buồn cười. Bởi vậy hãy trì giới mà không có sự mong cầu của thế gian – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
27/ Đối với những vị Bồ tát muốn vun bồi công đức, thì những kẻ làm hại họ lại là những bảo vật quý báu. Bởi vậy hãy tập nhẫn nhục với tâm không hận thù - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
28/ Ngay như hàng Thanh văn và Độc giác, chỉ mong cầu tự giác, cũng gắng công tu tập miên mật như đang khẩn trương dập tắt lửa cháy trên đầu. Bởi vậy nỗ lực tinh tấn để lợi lạc cho chúng sanh là căn nguyên của mọi thiện căn – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
29/ Nên biết rằng các phiền não đều bị tiêu trừ bởi thiền chỉ và thiền quán. Hãy luyện tập chú tâm để siêu việt bốn cõi vô sắc - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
30/ Có năm Ba la mật mà thiếu Trí tuệ ba la mật thì không thể dẫn đến đạo quả. Bởi vậy hãy tập luyện các phương tiện thiện xảo cùng với trí tuệ để khỏi lạc vào ba cõi - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
31/ Nếu không chịu tự quán xét lỗi lầm, tức là ta chỉ mang danh là hành giả mà không có thực hành. Bởi vậy, hãy luôn luôn quán xét và loại trừ lỗi lầm của mình – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
32/ Nếu vì sự thôi thúc của phiền não mà ta vạch lỗi lầm của người khác, thì chính ta tự hại mình. Bởi vậy đừng khơi dậy lỗi lầm của những hành giả khác - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
33/ Danh lợi chỉ gây ra sự tranh chấp, làm cho sự học hỏi, suy tư và tu tập suy thoái. Bởi vậy hãy từ bỏ đừng dính mắc đến thân quyến bạn hữu, những mối tương quan, thí chủ, v.v… - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
34/ Ác khẩu làm xáo động tâm trí kẻ khác và làm hư hoại Bồ tát hạnh. Bởi vậy hãy tránh những lời lẽ khắc nghiệt gây ra sự bất an cho kẻ khác – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
35/ Phiền não khi đã được huân tập thì thật khó ngăn chận bằng các pháp đối trị. Hãy trang bị bằng các vệ binh chánh niệm và tỉnh giác, diệt trừ những phiền não như tham ái – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
36/ Nói tóm lại, bất luận đang làm gì, ta phải tự hỏi “Tâm ta đang ở trạng thái nào?” Hãy luôn giữ chánh niệm và tỉnh giác để lợi lạc cho chúng sanh – Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
37/ Giải trừ nỗi thống khổ của vô lượng chúng sanh, thấu suốt sự thuần tịnh của ba cõi. Hãy dùng công đức của những nỗ lực này để hồi hướng đến giác ngộ - Đấy là pháp hành Bồ tát đạo.
************
Tôi đã soạn ba mươi bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo cho tất cả những ai muốn đi trên con đường Bồ tát, theo lời giảng giải ý nghĩa kinh điển, mật điển và luận điển của chư vị tổ sư.
Vì trí tuệ kém cỏi cũng như sự hiểu biết thiếu sót nên lời lẽ tôi không được văn hoa hấp dẫn đối với các học giả, tuy nhiên tôi đã dựa trên kinh điển và lời giáo huấn của các bậc tổ sư nên tôi nghĩ rằng các pháp hành Bồ tát đạo này không có gì sai trái.
Tuy nhiên, đại hạnh của chư vị Bồ tát thật khó lường cho những người tâm trí thô thiển như con. Con cúi xin các ngài lượng thứ cho những khuyết điểm của con, chẳng hạn như sự mâu thuẫn và những ý nghĩa thiếu mạch lạc.
Công đức này nguyện chúng sanh đạt được Bồ đề tâm (chí hướng vị tha, chân đế lẫn tục đế) và nhờ đó sẽ trở thành Bồ tát Quán Tự Tại, vị Bồ tát thoát khỏi hai kiến chấp (chấp thế gian và chấp an lạc xuất thế gian).
Bài này được soạn ra bởi tỳ kheo Thogme, một luận sư về kinh điển và lý giải trong một hang động ở Ngulchu Rinchen để tự lợi và lợi tha.

Gửi bởi: hoaha Jun 21 2011, 06:04 AM



Đôi mắt Di Đà
Văn Học và Nghệ Thuật - Văn Thơ Phật Giáo
Viết bởi Hồ Trường An


Tôi có một người dì lấy chồng Chệt Quảng Đông. Dì sanh hai con, một trai và một gái. Trai tên Phá Lường (Hoa Lương), gái tên là Phá Lục Lìn (Hoa Ngọc Liên). Dượng rể tôi làm tài phú cho một chành lúa ngoài Cầu Dài, đối diện với Chợ Cá tỉnh Vĩnh Long, cách chợ bởi dòng rạch Long Hồ... Dì tôi là cô trưởng nữ, má tôi là cô gái út cách nhau mười bảy tuổi. Khi má tôi sanh ra tôi thì anh Lường của tôi bắt đầu đi hỏi vợ...
Chị Lìn thì mới sanh ra đời đã ngu khờ, câm điếc. Ba tôi khuyên dượng tôi nên đưa chị đi lên trường câm điếc ở Lái Thiêu, nhưng dì tôi không đành lòng. Người điếc thì không nghe tiếng thị phi, lại còn câm thì chẳng mắc khẩu nghiệp... Chị Lìn tôi đẹp, thần sắc rạng rỡ như gương. Má tôi xót xa cho phận cháu, nên lãnh chị Lìn về nhà dạy chị thêu đan, làm bánh, đem hết tài khéo léo để truyền cho cháu, hai chị tôi ít giống má tôi bằng chị Lìn... Nếu trời ban cho thần thái chị sáng láng, trong trẻo, thì lại ban cho má tôi tài ăn nói, tài nhứt hô bá ứng. Bởi đó, bà làm cho bên chồng phải nể nang, ba tôi phải khiếp phục, vì bà “hoàn toàn” quá, cư xử hợp tình, hợp lý, miệng dù có cười mà ánh mắt thật oai nghiêm.

Nhà chúng tôi ở gần Đình Khao. Từ Cầu Dài, ven theo sông Cổ Chiên đi thêm hai cây số là tới ngôi nhà từ đường của ba tôi. Nhà gồm năm căn rộng, phía sau, cách cái sân lót gạch tàu là dãy hậu viện, nhà bếp, có hai dãy bên hông nối liền với dãy nhà trên... Khi tôi lớn lên ông nội, bà nội tôi qua đời. Ba má tôi có căn buồng phía trái (từ ngoài nhìn vào). Ông anh kế tôi chiếm căn buồng bên mặt. Hai chị tôi có một căn ở dãy hậu viện. Còn chị Lìn thì có căn buồng hẹp gần nhà bếp. Còn tôi, năm đó mới lên tám, không được ngủ chung với mẹ, phải ở chung buồng với ông anh kế, hễ tôi lỡ làm ảnh phật ý ảnh, ảnh cứ hăm đợi tôi ngủ, khiêng tôi bỏ ra ngoài vườn cho ma xé xác...

Chị Lìn lớn hơn tôi mười tuổi, hiền hậu, học thêu đan làm bánh kiên nhẫn, khéo léo. Mỗi khi dì dượng tôi tới thăm, má tôi than:

- Em có thể dạy con Lìn tài làm khéo, chớ làm sao dạy nó chuyện đạo lý được? Đây rồi rủi nó lỡ dại bị tụi ác ôn dâm tặc làm ẩu... thì biết sao đây? Nó thanh cao trong trắng như bông sen, lại khờ khạo có hiểu phải trái ra sao, nếu lỡ mang bầu, mang cái thứ tạp chủng trong bụng thì...

Má tôi rưng rưng nghẹn lời, không dám nói tiếp, không dám vẽ thêm ác mộng...

Dì tôi lấy khăn chậm nước mắt, mà nước mắt cứ tuôn:

- Chị van vái trời Phật cho nó một là đi tu được, còn hai là có thằng nào hào hiệp chịu đi cưới nó, chị sẽ ăn chay trường.

Sau nầy, chị Hai, chị Ba tôi kể lại, vừa khi chị Lìn bắt đầu có kinh nguyệt, mỗi tháng má tôi bắt chị phải trình đồ lót cho bà xem. Đồ lót đó thường ngâm trong chiếc vịm sành, ra nước đỏ ối. Má tôi sợ chu kỳ đỏ hằng tháng của chị Lìn lỡ bặt ngang thì đổ nợ ra...

Điều má tôi sợ vậy mà ứng nghiệm hai năm sau.

Tôi thương yêu chị Lìn của tôi như thương yêu bà mẹ thứ hai của mình. Những lúc tôi lầm lỗi, chọc ba tôi nổi sùng là roi mây ông quất tôi túi bụi. Những lúc đó chị Lìn liều mạng giựt roi ông, bằng không chị nai lưng ra hứng... Sau đó, khi kéo tôi ra nhà sau, chị cởi áo, cởi quần tôi ra, lấy dầu phọng xức lên lằn roi, vừa xức vừa khóc tầm tã... Tuy nhiên, chị không phát biểu một cử động nào để “nói” với tôi. Chị kéo tôi vào phòng chị, cho tôi xem những bức tranh chị đã thêu, những mặt gối, những chiếc khăn tay... Tôi không ưa những thứ đó, nhưng phải chăm chú xem cho chị vui lòng.

Và cũng một hôm tôi làm bể chiếc dĩa vẽ mai hạc của ba tôi. Sợ ăn đòn, tôi trốn vào buồng chị Lìn.

Chị ngồi ở khung cửa sổ, mắt chăm chú nhìn qua bên kia con rạch, nhà chú Tám xưởng mộc. Thợ mộc về buổi chiều, sau khi nghỉ việc, xúm xít ở sàn nước, lấy gáo sọ dừa, lấy gàu tre múc nước tắm. Thiệt ra khuôn viên nhà tôi có bọc một lớp rào tre. Nhưng vào năm 1945, phong trào thanh niên Tiền Phong nổi lên. Tre, tầm vông đều đốn, vạt nhọn để làm khí giới, nên rào tre trở nên thưa, bên nầy và bên kia có thể trông thông thống lẫn nhau.

Má tôi quên dời buồng chị Lìn, có lẽ vì mắc nhiều công chuyện nên bả quên việc đề phòng cơ bản đó chăng?. Lúc đó trời hơi nhá nhem. Nhưng ánh trăng mọc sớm cũng đủ rọi từng tấm thân thể trần trụi vạm vỡ đẫm nước, lấp lánh ánh bạc. Tôi táy máy thắp ngọn đèn hoa-kỳ đặt trên bàn kê gần cửa vô. Chị Lìn không bằng lòng, thổi tắt đèn. Dù sao, tôi vẫn thấy rõ mắt chị sáng kỳ dị, đôi má rạo rực, vẻ mặt bất an...

Tuần sau, là ngày tựu trường. Anh tôi phải qua Mỹ Thọ học trường Trung học. Còn hai chị tôi cũng lên Sài gòn, chị Hai học nữ công ở trường Mỹ Ngọc, chị Ba học trường Áo Tím... tôi quên mất cử chỉ kỳ lạ của chị Lìn dần dần...

Ba tôi có nuôi con chó Vá mình trắng đốm đen. Chị em tôi có vẻ lơ là với nó, trong khi đó chị Lìn săn sóc nó chu đáo. Má tôi thấy ba con chó Vện đực ở lối xóm mà đâm ra lo cho cái cô chó mỹ miều của mình. Cứ vào gần tháng 7 là bà buộc nó trong nhà, sợ nó lẹo tẹo với ba con đực Vện xấu xí mà đẻ con lộn giống chăng? Chó cái rượng đực mà bị xiềng trong nhà cứ tru, cứ hú thảm thiết quá, nên tôi lén thả nó ra. Lứa chó con năm ngoái chỉ có một con cò, còn toàn là năm con Vện con. Má tôi cho hết lũ Vện nhỏ, chừa con chó cò thì đem tặng dì Hai tôi. Gần lối tháng năm, lườn sông, lòng rạch quê tôi đã có đầy ốc hến, thì con Vá của tôi có một chứng bịnh gì không biết mà mõm nó có nổi hai cục mụt lớn cỡ hột trai ửng màu hường. Má tôi lấy thuốc đỏ, thuốc pô-mat lưu huỳnh xức cho nó mà hai mụt ghẻ ấy không chịu lặn. Tuy nhiên, chị Lìn của tôi vẫn săn sóc, tắm rửa nó đều đặn như tự bao giờ.

Một bữa trưa, tôi vào vườn hái ổi rồi đem ổi vào buồng chị Lìn để tặng chị. Tôi đi từng bước nhẹ, đẩy cửa nhẹ vào căn phòng đã mở rộng cửa sổ và chan hòa ánh nắng. Chị Lìn ngồi ở chiếc ghế đặt bên cửa sổ, ngó trân trối qua bên kia con rạch. Ba anh thợ mộc trẻ cũng nhìn chị như muốn đấu nhãn. Chợt thấy tôi xuất hiện sau lưng chị, họ bỏ vào trong xưởng. Ba anh thợ mộc này ở miệt Cái Sơn Lớn hay An Hương, Hòa Mỹ gì đó lên đây học nghề từ bốn tháng nay.

Trai tráng ở miệt ruộng vườn thì thường có bắp chân chắc, đùi to. Nay làm nghề thợ mộc, họ đều có ngực nở, tay cuồn cuộn bắp thịt. Tôi không để ý lắm khuôn mặt của họ, chỉ biết anh nào cũng có vẻ láu lỉnh. Vào những đêm trời trong, trăng tỏ, họ lấy đờn kìm ra dạo, rồi thay phiên nhau ca vọng cổ mùi mẫn... chị Lìn dù không nghe được gì, nhưng đêm trăng cùng mùi dạ lý thường làm chị bứt rứt, xốn xang.

Một hôm, dì tôi từ Cầu Dài lội bộ xuống thăm, mặt mày lo lắng. Má tôi cùng dì vào buồng chị Lìn đóng cửa lại. Có tiếng ghế xô ngã. Tôi chạy lại áp tai vào vách ván. Má tôi can:

- Bây giờ làm sao ngăn ngừa là tốt hơn. Nó có biết nghe, biết nói gì đâu. Lỗi tại em ráo trọi.

Dì tôi vẫn vừa tát con gái vừa rên rỉ:

- May mà nó câm, nó điếc. Nếu nó “được” như người thường thì nó còn đĩ ngựa giàn trời mây.

Chị Lìn lí nhí rồi khóc hu hu. Tôi còn nhỏ chẳng hiểu gì hết. Sau buổi trưa đó, chị Lìn tỏ ra ghét bỏ con Vá. Nó cứ đứng ngoài rào tre sủa luôn. Có đêm, tôi đang ngủ mơ màng thì nghe con Vá sồ ra sủa thật hăng và hình như nó đâm bổ vào một vật gì để cắn xé. Rồi thì tiếng chân chạy thịch thịch ngoài hè. Tôi nhảy xuống giường. Con Vá rượt đuổi một ai đó về phía rạch. Quả nhiên có nhiều tiếng lỏm bỏm lội qua rạch. Trời đêm tối thui.

Má tôi chợt hiểu nên bắt chị Lìn dời buồng và cho rào chặt dọc theo rạch. Vậy mà có lần tôi cầm ná thun đi bắn chim trong khu vườn làng, tức là vườn thuộc về chính quyền địa phương, không ai săn sóc. Đi sâu vào chỗ trồng toàn cây dâu miền dưới, tôi đã gặp chị Lìn trong bụi rậm đi ra, tóc tai xụ xọp, áo hơi nhèo, chiếc nút ở gần cổ quên gài... Chợt thấy chị từ xa, tôi nép vào đám cỏ song chằng để trốn. Chị men theo con đường mọc lau cỏ rồng chắn đi về phía bờ sông... Mãi một lúc sâu, có tiếng hút gió từ trong bụi rậm tiến về phía tôi. tôi càng giấu mình thật kỹ. Trời ơi, té ra ba anh thợ mộc trẻ, ở trần trùng trục, quần xà lỏn sơ sài... Tôi biết là họ đã làm chuyện ám muội với chị Lìn tôi, nhưng không thể tưởng tượng sự ám muội ra sao. Tôi sực nhớ cái hôm dì tôi vừa đánh vừa chửi chị Lìn, đoán mang máng là sự việc hôm đó cũng liên quan với sự việc hôm nay chớ chẳng không.

Chị Lìn có chửa. Chị Lìn ôm hoang thai.

Phong trào thanh niên Tiền Phong cùng Việt Minh lên nắm chánh quyền đã lôi kéo ba anh trai tơ ra khỏi xưởng mộc. Họ đi đâu biệt tăm, biệt tích. Những cái miệng độc ác đổ hô ba tôi là tác giả cái bào thai chị Lìn. Nhưng tụi chăn trâu, tụi con nít lại quyết chắc thủ phạm là ba anh thợ mộc vì chúng đã bắt gặp cả bốn trong vườn làng. Dì tôi than thở với má tôi:

- Thằng tía nó, thằng tài phú Phá Cẩm Xạch (Hoa Kim Thạch) đó, cũng bởi hắn ta lường tro đãi trấu mới có đứa con gái báo đời. Con nhỏ mặt mũi ngây ngô như vậy mà dám “thiếm xực” một hơi ba trự. Biết ai là cha đứa nhỏ đây? Con gái tui khờ khạo mà sao Trời đành cho nó mang cái thứ tạp chủng trong bụng vậy cà?

Má tôi nói:

- Chị à, nó có biết cái gì là phải, cái gì là trái đạo lý luân thường đâu ? Hoặc cái gì là điếm nhục gia phong đâu ? Thôi thì mình phải chịu nuôi con giùm nó, để sau nầy nó có chỗ nương tựa lúc tuổi già. Coi vậy chớ lẩm rẩm cái may thì luôn luôn nằm trong cái rủi đó chị.

Dần dà, tôi mới hiểu tại sao dì tôi đánh và chửi chị Lìn tôi vào bữa trưa. Số là má tôi đã bắt gặp chị mấy lần lảng vảng trước xưởng mộc, mắt ngó lấm lét vào bọn thợ trẻ. Má tôi đã nhấn mạnh, mắt tuy lấm lét, nhưng là mắt mời, mắt gọi, mắt đẩy đưa của con Thị Mầu... Nhưng có ai nhét được vào đầu óc chị Lìn tôi rằng liếc trai như vậy là bậy, là xấu ?

Làm sao chị hiểu được cái giáo dục dành cho phụ nữ phải như thế nào? Chị tới tuổi thèm khát yêu, yêu đơn giản như con chó Vá cái đi tìm ba con chó Vện đực. Không ai dạy chị liếc, dạy chị tạo cặp mắt mời gọi, đẩy đưa hết. Chị chỉ làm theo bản năng, hoặc có thể được, theo cái trực giác thâm sâu của mình. Vậy mà khi khám phá được chị có thai, dì tôi chồm tới, nghiến răng, ghịt đầu chị, nguyền rủa:

- Con đĩ thúi thây lầy lụa!

Làm sao chị nghe được mấy tiếng đó ? Chị ngơ ngác như tự hỏi tại sao mình bị đòn, bị ghịt tóc ? Chị không hiểu gì hết. Dì tôi vừa tát chị vừa chỉ cái bụng chị, có thể chị hiểu tại có cái biến chuyển trong bụng chị nên chị bị đòn, nhưng chắc chị vẫn không hiểu tại sao người ta có thể đánh người khác về cái biến chuyển đó ?

Nét mặt trong sáng, ánh mắt loáng gương và hiền dịu của chị hiện rõ vẻ hãi hùng, bi thảm như ánh mắt đứa trẻ thơ bị xô ngã. Chị Lìn tôi chỉ thông minh (tuyệt vời là khác) khi ngó qua đường kim mũi chỉ do má tôi dạy là chị có thể làm y chang. Nhưng về thói đời, về phong hóa, lề thói, lễ giáo chị mù tịt. Dì tôi đã thấy ba anh thợ mộc trẻ là quân thô tục... Cũng như ba con chó Vện đực kia, dưới nhãn quan má tôi quá xấu xí. Chị Lìn không thấy những gì xấu mà dì tôi đã thấy ở ba anh thợ mộc. Con chó Vá cái dĩ nhiên là hoàn toàn không cùng một ý nghĩ về cái đẹp xấu của loài chó đực như má tôi nên nó luân phiên hết giao hoan từ con Vện thứ nhất, sang tới Vện thứ ba..

Đó là những ý nghĩ khi tôi lớn lên, lúc đó chị Lìn đã qua đời khá lâu. Hôm chị bị đòn, tôi nhào tới để hứng đòn cho chị, cũng như chị đã từng hứng đòn cho tôi. Tôi khóc tối trời mù đất, cảm thấy cuộc đời, không riêng gì dì tôi sao có thể tàn nhẫn như vậy? Dì tôi thật ra chẳng phải muốn đánh con mình, dì muốn đánh cái bất hạnh của mình dù nó đã thể hiện qua đứa con tàn tật. Đánh xong, dì tôi khóc ngất.

- Thà trời đày tôi xuống chín tầng địa ngục mà cho con Lìn nói được, nghe được, để nó hiểu cái gì phải, cái gì trái.

Chị Lìn vẫn ở nhà chúng tôi chớ không về Cầu Dài. Dì tôi không muốn ở chỗ buôn bán đông người mà chị lại mang cái bụng chửa bẹo hình bẹo dáng thiên hạ. Khi mùa mưa thoảng xa thì nước dòng sông Cổ Chiên xanh trong. Cây điều, cây lụa trong vườn nẩy lá non mỏng, tươi ngăn ngắt, đọt chiết phớt hồng, đọt lùa màu lá mạ. Hôm chị Lìn lặt lá bốn cây mai trong sân thì anh tôi ở Mỹ Tho cùng chị Hai, chị Ba tôi ở Sài gòn hẹn tháp tùng về nhà ăn Tết.

Không ai tỏ vẻ gì trước biến cố của chị Lìn. Anh chị thường xem sự hiện diện của chị Lìn như không có, từ bao lâu họ thỏa hiệp (có thể coi là quen thuộc) bóng dáng cần mẫn và yên lặng của chị Lìn vì chị Lìn không làm phiền lụy ai, luôn luôn làm lụng tận tụy, gương mặt tươi tỉnh, thản nhiên, cái nhìn lúc nào cũng trống vắng, vô hồn. Má tôi yêu chị Lìn như yêu một tác phẩm của mình. Sự hiện diện của chị Lìn làm bà vung vải được tấm lòng từ bi nhân đạo của mình. Mới khi nhìn những mũi thêu tinh vi của chị trên nền vải lụa, bà tỏ vẻ hả hê vì mình đã ra công biến cải một con ngốc nghếch, tàn tật thành “một kẻ không đến nỗi nào”.

Có thể là cha tôi si tình chị Lìn tôi, đôi lúc tôi thấy ông nhìn chị hơi lâu, lúc má tôi vắng nhà. Năm đó ông đã ngoại tứ tuần, còn tươi, còn rắn chắc. Nhưng vốn cầu an, quen sợ nể vợ nhà, lại không thích chuyện phiền phức nên ông không thích làm chuyện phiêu lưu đó thôi. Ông đành chọn vị trí người dượng rể, vui trong sự săn sóc và hiện diện cả dì lẫn cháu.

Còn tôi, tôi yêu thương chị như một bà mẹ thứ hai. Lúc tôi bị đòn, lúc tôi buồn là luôn luôn có chị. Những lúc đó, chị đến bên tôi nhẹ nhàng xoa đầu tôi, đôi mắt không còn trống rỗng nữa, cái nhìn buồn và “có hồn” hơn.

Khi chị qua đời, suốt quãng đời hoa niên của tôi, cái bóng ma và cuộc đời chị ám ảnh tôi không ngớt. Tôi cứ tự hỏi chị Lìn tôi hiểu cuộc đời như thế nào? Chị nhìn cuộc đời như nhìn qua một cuốn phim câm. Cả nhà dì dượng tôi, cả nhà tôi ai cũng làm biếng khoa chân múa tay để trao đổi ngôn ngữ tay chân với chị, dù có vung vít hoạt động song đó vẫn là ngôn ngữ câm thì làm sao để chị hiểu trọn vẹn?

Bộ óc của chị do đó mà lười hoạt động, cái nhìn thường trống vắng, vô hồn. Phải chi chị được học ở trường câm điếc, chị có một ngôn ngữ riêng để trao đổi với bạn bè đồng cảnh ngộ thì tâm hồn chị sẽ phong phú hơn.

Nhưng dù ba anh thợ mộc vốn “phường tạp chủng”, đen điu thô bạo, kệch cỡm (theo quan niệm của má tôi) lại chơi trò đoản hậu đánh trống bỏ dùi, nhưng họ đã nhóm trong mắt chị một ánh sắc rạng ngời hơn, truyền cảm hơn. Cái nhìn của chị không còn vô hồn nữa. Chị có vẻ suy nghĩ hơn, có vẻ buồn rầu uể oải hơn. Mỗi chiều chị men về dòng rạch, ngó qua xưởng mộc, nước mắt chị ứa ra, ướt đẫm má.

Hai mụt ghẻ trên mõm con chó Vá không chịu lặn mất. Rồi tuần tự những mụn ghẻ nối tiếp mọc lên kết thành một miếng dày nổi cộm tròn tròn, miếng thịt quái ác lớn dần thành một bàn tay.

Dù nó không chảy nước vàng, nhưng trông nó dễ khiếp. Má tôi sau một thời gian suy nghĩ, bà nhất định cột đá vào cổ con chó, chở nó bằng xuồng ra sông Cổ Chiên để bỏ nó chìm luôn trong đáy nước.

Hôm “thủy táng” con chó chỉ có chị Lìn và tôi. Nước lớn đầy sông, sóng vỗ ào ào, nhưng trời lại ngập tràn nắng đẹp. Con chó ngồi gần tôi, thỉnh thoảng liếm vào tay tôi... và trời ơi, trời đất ơi! Nước mắt nó chảy ròng ròng, dù tôi chưa tròng vào cổ nó cái bị có đựng cục đá xanh thật lớn. Khi tới giữa sông, tôi vừa khóc vừa tròng cái bị vào cổ con chó, nó không giẫy dụa gì hết, chỉ ngoắc đuôi.

“Um” một tiếng, con chó và cái bị đựng cục đá quăng vào nước. Sóng lấp xấp tràn tới xóa mọi dấu vết. Hình ảnh ghê tởm đã được con sông chôn vùi. Chị Lìn vừa bơi xuồng về bến nhà vừa khóc nức nở.

Sau buổi thủy táng đó, tôi bị trúng gió (có thể như vậy chăng?) ngã bịnh liệt giường. Trong những cơn mê, tôi thấy con chó ngoi lên từ mặt nước rập rờn sóng, lội qua bên kia sông, chỗ bãi cồn An Thành mọc đầy cây trầm thủy như cây bàn, cây muối, cây vạt sành. Lại có lúc, tôi thấy thây nó nổi phình lên tấp vào những giề rau mác, rau lục bình trổ hoa tím. Lại có lúc, tôi chỉ thấy cái lưỡi nó liếm vào tay tôi, hoặc chỉ thấy cái đuôi nó ngúc ngoắc.

Và cái ấn tượng mạnh nhất đã xâm vào ký ức tôi là đôi mắt tuôn lệ của nó. Đôi mắt đã lồng vào từng cơn chiêm bao của tôi.

Tôi nằm bịnh suốt tuần. Cả chị Lìn nữa. Nhà tôi không ngớt bà con họ hàng tới thăm. Dượng tôi đưa thầy Chín Đăng tới chẩn mạch cho hai chị em. Má tôi thì nghĩ rằng oan hồn con chó ám ảnh hai chị em nên bà xuống chùa Sơn Thắng ở làng Cái Sơn Bé cách nhà từ đường của ba tôi tụng kinh Cầu An cho hai chị em và tụng kinh vãng sanh cho con chó luôn.

Ni sư Diệu Pháp lúc đó sáu mươi ngoài, mặt hồng hào. Bà tu pháp môn Tịnh Độ, vốn là người dì họ của ba tôi. Nghe nói hồn còn nhỏ, bà ở trong nghề dao búa, trôi nổi từ Cái Vồn (tỉnh Cần Thơ) rồi lên miệt Tân Châu, Hồng Ngự, Nam Vang. Bà đã từng chém lính tàu tuần Pháp khi tụi nó ve vãn sàm sỡ với bà. Rồi bỗng dưng bà ta xuất gia, trường trai, tụng kinh và niệm Phật.

Trong thời gian ni sư Diệu Pháp ở nhà tôi, má tôi dành cho bà một gian phòng sạch sẽ, có giường gỗ trải nệm, có tủ áo, tủ “com-mốt”, bàn gỗ dài chất đầy lọ thuốc, hộp thuốc, lọ dầu, dĩa cam, hộp trà, ấm chén và cái rề sô để sư cô tự tay pha trà. Ni sư đem cuốn kinh Quán Vô Lượng Thọ chỉ cho cả nhà tôi xem hình về thế giới Cực Lạc do Phật A Di Đà cùng hai vị Bồ Tát là đức Quan Thế Âm và đức Đại Thế Chí trông coi. Chị Lìn lúc đó cũng nổi hứng xáp lại. Đôi mắt chị như van nài sư cô giải thích. Ni sư sau lúc giảng kinh cho mọi người nghe xong, kéo chị Lìn ngồi xáp lại gần cuốn kinh. Bà lật từng trang hình vẽ bằng nét tỉ mỉ, rồi bà khoa tay múa chân để “nói” với chị Lìn. Kỳ lạ, đôi mắt chị không còn có vẻ trống rỗng ngơ ngác như sau cơn bịnh nữa, trở nên sùng mộ vô biên. Ní sư và chị cứ múa tay. Cả hai cùng gật đầu theo từng giai đoạn diễn biến của cuốn kinh. Từng trang kinh cứ lật. Hai người đàn bà, một trẻ một già, một tục một tu, cứ trao đổi ngôn ngữ bằng cách khoa tay, đôi lúc múa chân.

Ai dám bảo là chị Lìn không hiểu những gì trong kinh Quán Vô Lượng Thọ ? Ai dám bảo ni sư không dìu dắt được chị Lìn vượt qua khỏi thế giới câm điếc để đi vào trang kinh? Lúc đó, có vài người chị họ (con của các cậu tôi) cùng vài bà hàng xóm.

Lúc đầu, ai cũng tưởng ni sư đùa giỡn với cô gái khờ khạo, dễ thương kia. Nhưng họ quên rằng một nhà tu làm sao có thể trửng giỡn như kẻ phàm phu thế tục được?

Nét mặt ni sư có vẻ cảm động, mắt có ngấn lệ trong khi nét mặt của chị Lìn càng phơi phới và trong sáng hơn. Khi quyển kinh lật tới trang cuối, bỗng dưng chị Lìn đổi sắc mặt, buồn rũ xuống và ôm mặt khóc, rút lui về buồng.

Cậu Sáu, người anh kế của má tôi từ Nha Mân lặn lội lên thăm hai cháu. Má tôi thuật hết tự sự cho cậu nghe. Cậu trầm ngâm một lúc lâu rồi trách:

- Em Bảy à, chị Hai và em thương con Lìn không phải cách. Thay vì em đưa nó vào trường câm điếc để nó học “nói”, học văn hóa để hiểu đạo lý, đàng nầy em bắt nó ở nhà học thêu, trong khi đó nó tiếp xúc cuộc đời chỉ bằng mắt, ngoài mũi lưỡi, miệng nếm đồ ăn. Nếu con Lìn hiểu rằng bị dụ dỗ làm chuyện dâm uế là nhục thì nó đâu có để cho ba thằng quỷ “xên” nó? Còn con chó, thay vì đem đến Sở Thú Y lúc đầu, em cứ trị nó bằng xức ghẻ thông thường...

Má tôi buồn lắm, dù sao bà cũng đã nuôi chị Lìn lâu năm, tấm lòng người dì cũng đổi dần thành tấm lòng người mẹ. Bà nói:

- Con Lìn đẻ xong, em cho nó vào trường câm điếc.

Ni sư Diệu Pháp trước khi về chùa Sơn Thắng, có tặng cho ba má tôi bức tranh A Di Đà Tam Tôn. Ba tôi cho đóng khung và lộng kiếng bức tranh, lập bàn thờ ở trung đường bức tranh ấy.

Chị Lìn cứ thắp nhang, trải chiếu quỳ khá lâu, tay chắp lại, thành kính chiêm ngưỡng. Nhưng ở trung đường thường có khách đến viếng nên rất ồn ào.

Ba tôi đành gửi người quen mua bức tranh A Di Đà khác rồi treo ở trong một căn phòng nhỏ, dành cho chị Lìn thắp nhang cúng nước và ngồi chiêm ngưỡng. Quả thiệt tôi chưa thấy tấm lòng sùng mộ của ai hơn tấm lòng sùng mộ của chị. Chị có thể quỳ hoặc ngồi tĩnh tọa mắt ngó hằng giờ lên tranh Phật, và lâu lắm mắt chị mới chớp. Cái nhìn của chị từ hôm ni sư Diệu Pháp đến tụng giảng Kinh Quán Vô Lượng Thọ trở nên rực rỡ kỳ lạ, giờ đây mỗi khi mường tượng lại, tôi có cảm tưởng nó có ngôn ngữ tha thiết để nhắn nhủ người đối diện: “Các người hãy xem đây, tôi cũng có một đời sống nội tâm. Mà bầu trời tâm cảnh của tôi đã thắp được một thứ ánh sáng lạ tự miền Cực Lạc !”

Nhưng cũng chính giờ đây làm sao tôi cắt nghĩa nổi sự sùng kính và niềm tin của người con gái tàn tật kia? Ai cũng thương xót cho chị Lìn bị ba tên thợ mộc trẻ làm hư hỏng nhưng có ai hiểu ý nghĩa hai dòng nước mắt của chị như thế nào vào lúc chiều chiều chị nhìn qua xưởng mộc? Và làm sao tôi hiểu thấu cuộc đàm thoại giữa sư cô Diệu Pháp và chị Lìn? Nhưng tôi nhận thấy từ lúc chị quỳ trông lên tranh Phật, chị như sắp biến thành pho tượng, gương mặt như lắng vào phút giây sùng kính ngưng đọng và im sững dần dần như gương mặt pho tượng.

Hầu như chị Lìn không để ý đến cái thai gần lâm bồn. Chị cứ thích chiêm ngưỡng tranh Phật. Có đêm tôi thức giấc, đi vòng ra sau hậu điện, đến dãy bồn, ảng, lu, kiệu, khạp, chóe nơi dãy nhà mới để tìm nước mưa uống giải khát,...
... thì thấy trong buồng đặt bàn thờ Phật nhỏ còn thắp ánh đèn. Tôi uống nước xong, chạy lại khe vách dòm vào. Trên bàn Phật, cây nhang đang cháy, tuôn khói, còn chị Lìn quỳ trước bàn Phật, chiếc gối tai bèo kê trên đầu gối.

Kỳ sanh nở, chị Lìn bị chứng nhau chằng, đau đớn từng cơn mệt lả... Suốt tám tiếng đồng hồ mà đứa con chưa chịu chui ra. Cô mụ hương thôn lấy mủ cây đu đủ phết lên gang bàn chân chị, mà vẫn không hiệu quả. Túng thế, má tôi đưa chị đi nhà thương. Cái nhau chằng vừa gỡ ra là chị sanh dễ dàng, chuyện đơn giản mà cô mụ không biết, để đến nỗi chị Lìn bị hành thân hoại thể khá lâu...

Bốn tháng sau, chị Lìn qua đời. Không rõ chị bịnh gì? Chị không nằm liệt, không lên cơn sốt gì hết. Nghe má tôi nói khoảng thời gian gần đây, ngày nào chị Lìn cũng ngồi chắp tay trước bức tượng đức Phật A Di Đà, chăm chú ngắm nhìn dường như không bao giờ mỏi mắt, đôi mắt chẳng lúc nào rời hình ảnh đức Phật cả. Bất cứ lúc nào, má tôi cũng bắt gặp chị Lìn “dán mắt” vào bức tượng, ngay cả khi thêu đan, tuy hai bàn tay của chị thoăn thoắt trên tấm vải nhưng đôi mắt vẫn luôn luôn hướng về đấng từ bi với niềm vui sướng hạnh phúc tột cùng.

Trong tuần lễ cuối đời cũng vậy, chị cứ hết thêu đan là chiêm ngưỡng tranh Phật.

Từ khi chị sanh nở, không hiểu sao chị không có sữa. Dì tôi đành đem đứa nhỏ đi ở nhà người vú. Lâu lâu chị Lìn tháp tùng mẹ đi thăm con, mắt chị rạng rỡ, chị hôn hít con như bao người mẹ khác. Trước khi ra về, chị cầm hai tay đứa nhỏ chắp lại và bắt nó xá xá...
Một sáng nọ, không thấy chị nấu nước cúng Phật, má tôi liền vào buồng tìm chị. Chị đã chết, nằm ngay ngắn, bức tranh Phật áp trên ngực, tay chị còn chắp lại. Dù thương tiếc chị, dì tôi và má tôi tỏ vẻ bằng lòng vì nét mặt của chị lúc chết êm đềm, hiền dịu như ngủ, mà có phần đẹp hơn ngày bình thường. Nụ cười của chị dù chỉ mỉm nhẹ nhưng lại tươi thật là tươi, môi mọng thắm.
Vì đỉnh đầu chị còn nóng rực, nên mãi tới ba ngày sau, má tôi mới cho tẩn liệm chị.
Cái chết của chị Lìn dường như đã ám ảnh cuộc đời tôi một cách lâu lắc, quá lâu. Có thể nói rằng trọn kiếp sống này tôi không bao giờ quên được hình ảnh chị an lành ngừng thở, đầu nóng như lửa, nhưng trên tay còn ôm ấp bức tượng A Di Đà, như muốn đức Phật truyền ban ánh quang minh vô lượng và sanh khí vĩnh cửu cho mình trong cõi sống âm u ngột ngạt của một người câm điếc. Bởi vì tôi chẳng có chút hiểu biết về Phật giáo cho nên tôi không tự mình giải thích nổi sự kiện tâm linh ấy, và tôi cũng luôn cảm giác lờ mờ về biến cố thiêng liêng mầu nhiệm đã đeo đẳng bản thân suốt mấy chục năm trường.
Cho đến ngày sang Mỹ định cư, mỗi lúc chiều buông, anh em rủ nhau nhâm nhi bên ly rượu, riêng tôi thường cầm ly mà không uống, và cũng chẳng nhắp.

Tôi thẫn thờ nhớ về hình ảnh chị Lìn. Chị nằm an lành, kính cẩn áp ngực vào bức tượng A Di Đà. Tôi không thể hiểu được đức Phật A Di Đà đã chiếu rọi vào thân tâm chị Lìn những năng lực mầu nhiệm nào để khiến chị từ giã cuộc đời này một cách an lành, hạnh phúc như vậy.

Gần đây, tình cờ gặp lại bác Tịnh Hải, tên thật của ông ta là V.Đ.P, trước là chủ báo nổi tiếng của Sài-gòn cũ, nay không hiểu vì sao chuyển sang ăn chay niệm Phật và nghiên cứu kinh điển. Tôi mừng húm, bèn đem tất cả mọi chuyện về cái chết kỳ lạ của chị Lìn thuật lại cho ổng nghe, rõ rõ ràng ràng từng chi tiết lớn nhỏ.

Nghe xong, ổng bảo :

- Mừng cho anh có người chị hết sức tuyệt vời. Chị Lìn đã giải thoát, đã đạt được thành quả mà vô số những người Phật tử luôn luôn khát khao mơ ước. Nói theo ngôn ngữ nhà Phật, thì chị Lìn đã vãng sanh.

Tôi gạn hỏi :

- Vãng sanh ? Nghĩa là làm sao? Xin bác làm ơn giảng rõ cho cháu đặng chăng?

- Vãng sanh ... là ... Chà, thiệt khó nói quá. Anh tạm thời cứ hiểu như vậy : vãng sanh nghĩa là tâm linh chị Lìn được chuyển đổi bởi năng lực bất khả tư nghị của đức Phật A Di Đà. Và qua năng lực vi diệu ấy, chị đã hoán cải tâm linh nhiễm dơ của mình trở thành “tâm thức giác ngộ”, ... ờ ờ, nhà Phật gọi là “hoa khai kiến Phật”, tạm thời phải diễn tả như vậy, như vậy, ...

Nói dài dòng là phải nói như vầy : Tuy chị Lìn là một người câm điếc hoàn toàn, vô văn hóa, vô lễ nghĩa, vô trí thức - nhưng ni sư Diệu Pháp đã nỗ lực và khéo léo “thuyết giảng” bằng ngôn ngữ đặc biệt nào đó, khiến cho chị ta thâu nhận, thấu hiểu ý nghĩa của kinh Quán Vô Lượng Thọ - rồi tuyệt đối tin tưởng vào năng lực cứu độ và lòng thương yêu chúng sanh vô hạn của đức A Di Đà cùng cõi Phật trang nghiêm vi diệu. Ni sư Diệu Pháp cũng đã giúp chị Lìn phát nguyện vãng sanh Cực Lạc bằng cách nhất tâm xưng niệm danh hiệu Phật. Cuối cùng chị Lìn đã đạt thực hành pháp môn Niệm Phật theo kiểu cách đặc biệt rất riêng của mình và đã đạt kết quả như ý. Với niềm tin, với trình độ Phật pháp của tui, với tất cả những điềm lành xuất hiện lúc lâm chung của chị, thì tui nghĩ, chị Lìn đã rốt ráo giải thoát, chứng ngộ ngay giờ phút lâm chung và đã được đức A Di Đà tiếp dẫn về thế giới Cực Lạc !

Tôi thắc mắc :

- Chị Lìn vừa câm vừa điếc, làm sao mở miệng niệm Phật cho đặng ?

Bác Tịnh Hải cười ngất :

- Thì ... chị Lìn niệm Phật bằng ... đôi mắt chứ sao ? Chúng ta có lổ miệng thì mình niệm Phật bằng môi, bằng miệng, bằng lưỡi. Người không có miệng để niệm ra tiếng như tụi mình thì niệm Phật bằng mắt ... Chính anh biết đó, chị Lìn đã niệm Phật bằng mắt bởi vì trong hoàn cảnh gọi là “thiếu căn” của chị, chị Lìn buộc phải niệm Phật bằng hai con mắt, vốn là khí cụ duy nhất để truyền thông và phát tín hiệu cho thế giới bên ngòai. Tuy có khó khăn nhiều đó, nhưng nếu chị không sử dụng cặp mắt thì biết làm sao bây giờ? Không được hay sao?

Điều đáng nói ở đây là : năng lực cứu độ của đức Phật quả thiệt là không thể nghĩ bàn ! (bất khả tư nghị !)

Tôi trở thành con người nhất tâm tin Phật từ đó, và bài viết này được xem như là một kỷ niệm trân trọng của một bước khởi đầu. Tôi về đâu ? Nếu không phải là mạnh dạn cất bước tiến vào hành trình trở về cõi Phật A Di Đà, như chị Lìn của tôi đã thành tựu trước đây mấy mươi năm ?

Xin xem bài viết này như một nén nhang cảm ơn đức Phật A Di Đà, cảm ơn ni sư Diệu Pháp. Xin cảm ơn chị Lìn và nhất là, xin cảm ơn những lời chỉ dẫn tận tình của cư sỹ Tịnh Hải. Cuối cùng, xin cảm ơn tất cả quý vị đã chịu khó bỏ thời gian quý báu mà đọc tới đây.

Gửi bởi: hoaha Jul 9 2011, 02:49 AM




Chuyện kể rằng, có hai người bạn thân cùng bị lạc đường trong sa mạc. Họ cứ đi, đi mãi và tới một lúc trong cuộc hành trình, họ bắt đầu tranh cãi với nhau nên đi về hướng nào để thoát ra. Không kìm chế được sự bực tức và tuyệt vọng, một người đã tát vào mặt người kia. Người bị đánh rất đau, nhưng không nói gì, chỉ viết một dòng lên cát: "HÔM NAY, NGƯỜI BẠN THÂN NHẤT ĐÃ TÁT TÔI".

… Họ lại tiếp tục đi, và gặp một ốc đảo với một hồ nước lớn. Người bạn bị đánh vì vội vàng uống nước và tắm rửa nên đã bị trượt chân và bắt đầu chìm dần. Người bạn kia vội nhảy xuống cứu anh ta lên. Khi mọi sự đã qua, người bạn bị đánh khắc một dòng lên một phiến đá: "HÔM NAY NGƯỜI BẠN THÂN NHẤT ĐÃ CỨU TÔI".

Người bạn đã đánh cũng đã cứu anh ta thực sự ngạc nhiên nên hỏi: "Tại sao khi tớ đánh cậu, cậu viết lên cát, còn bây giờ cậu lại khắc lên phiến đá?"

Người kia mỉm cười và đáp: "Khi một người bạn làm ta đau, hãy viết lên cát để ngọn gió của sự tha thứ thổi qua mang nó đi cùng. Còn khi điều tốt lành đến, chúng ta nên khắc nó lên đá, như khắc thành kỷ niệm trong tim vậy, không cơn gió nào có thể xóa đi được!"

Liệu chúng ta có thể học được CÁCH VIẾT LÊN CÁT VÀ LÊN ĐÁ như vậy chăng!



Nếu bạn có thực phẩm để ăn, có quần áo để mặc, có một mái nhà để che đầu, có một nơi nghỉ qua đêm... là bạn đã giàu hơn 75% dân số trên thế giới này.

Nếu bạn có tiền tiêu trong ví, có tiền bố thí cho người nghèo, có tiền gửi trong ngân hàng, bạn thuộc 8% những người giàu nhất thế giới.

Nếu sáng nay thức dậy bạn thấy khỏe hơn ngày hôm qua một chút thì bạn đã may mắn hơn một triệu người không thể sống hết tuần này.

Nếu bạn chưa bao giờ trải qua những nguy hiểm của chiến tranh, cô đơn của tù tội, đau đớn của tra tấn, hay vật vã của đói khát... bạn đã hạnh phúc hơn 500 triệu người trên thế giới này.

Nếu cha mẹ bạn còn chung sống và còn hạnh phúc bên nhau thì so với thế giới trường hợp của bạn không nhiều đâu.

Nếu bạn còn có thể tự do đến các tu viện, chùa chiền hay các đền thờ theo niềm tin tôn giáo của bạn mà không sợ quấy nhiễu, bắt bớ, tra tấn, hay mất mạng sống… bạn đang được may mắn hơn vô số người trên trái đất này.

Và cuối cùng, nếu bạn đọc được thông điệp này thì bạn đã sung sướng hơn hai tỷ người trên thế giới này rồi, họ chẳng bao giờ được đọc bất cứ thứ gì cả.

Vậy thì, hãy nâng niu những gì trong vòng tay bạn, bởi vì còn rất nhiều người trên thế giới này đang ước mơ được như bạn đấy!



- Nếu tôi biết đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với bạn, tôi sẽ nói ít hơn và lắng nghe nhiều hơn.

- Nếu tôi biết bạn chỉ có một mình trong ngày sinh nhật, tôi đã chạy đến bên bạn với một cây nến nhỏ...

- Nếu tôi biết đó là lần cuối cùng tôi được nghe giọng nói của bạn, thì tôi đã ghi âm để còn có thể nghe lại.

Hãy luôn quý trọng và nắm giữ những gì mình đang có… nếu không, có ngày vụt mất, bạn nhé!



Hãy luôn đặt mình vào vị trí người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ tổn thương người khác. Một lời nói vô ý là một xung đột nguy hiểm, một lời nói nóng giận có thể làm hỏng cả một cuộc đời, một lời nói đúng lúc có thể làm giảm căng thẳng, còn lời nói yêu thương có thể chữa lành vết thương và mang đến sự bình yên…



Cuộc sống ngon lành như một ly kem cocktail vậy. Dĩ nhiên là khi bạn biết pha chế và thưởng thức nó. Mỗi người chỉ có một cơ thể của riêng mình, bạn có thể làm gì tùy thích với nó, nhưng nên nhớ rằng nó là thứ duy nhất thực sự của bạn và ở bên bạn cho đến cuối đời. Vì thế hãy đối xử tử tế với nó.

Không có điều gì trong cuộc sống mà không hàm chứa trong đó những bài học. Có lúc bạn sẽ vô cùng thích thú, nhưng cũng có lúc bạn sẽ thấy chán phèo và có những bài học đã khiến bạn đau. Nhưng hãy hiểu rằng: Điều quan trọng là bạn rút được gì sau những bài học đó.

“Kia” không bao giờ tốt bằng “Đây”. Khi những cái “Kia” trở thành cái “Đây” của bạn, bạn sẽ dễ dàng để mắt tới những cái “Kia” khác vì nghĩ rằng nó sẽ tốt hơn cái “Đây” bạn đang có. Nên học cách bằng lòng với chính mình vì đôi khi thực chất những cái “Kia” không thể bằng những cái “Đây” được.

Tự bạn sẽ quyết định cuộc sống của mình. Bạn sẽ có những công cụ và nguyên liệu cần thiết, nhưng pha chế nó như thế nào là nhờ chính đôi tay, trái tim và khối óc của bạn. Vì vậy, đừng trông chờ vào may mắn mà hãy chú ý đến bản thân mình đi.

Bạn sẽ quên tất cả những điều tôi nói ở trên. Thật đấy, vì cũng không cần thiết phải nhớ quá nhiều như vậy. Hãy cứ nhìn đời như một ly cocktail đủ mọi hương vị và màu sắc. Chua vẫn có thể làm cho ngọt, ngọt vẫn có thể làm cho đằm, vì không một bartender nào có thể pha một ly cocktail thật tuyệt ngay từ lần đầu tiên. Và chắc chắn là bạn sẽ luôn có đủ nghị lực, niềm tin và lạc quan để pha ly cocktail cho cuộc đời mình!



Hãy thắp lên một ngọn đèn nhỏ thay vì ngồi đó nguyền rủa bóng đêm!



Một chàng trai sắp bước sang tuổi 34 nhưng luôn lo lắng về tương lai mình. Anh tự hỏi không biết giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời mình đang ở phía trước hay là những năm tháng đã qua rồi. Thói quen hằng ngày của anh là đến phòng tập thể dục trước khi đến sở làm.

Một buổi sáng, anh chú ý tới một ông lão đã lớn tuổi nhưng vẫn giữ được vẻ cường tráng và lạc quan. Anh đến làm quen và hai người trò chuyện với nhau về những kinh nghiệm trong cuộc sống. Cuối cùng, chàng trai hỏi:

- Đâu là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời ông?

Không chút lưỡng lự, ông lão đáp:

- Khi tôi còn là một đứa bé, tôi được chăm sóc, nuôi dưỡng bởi cha mẹ. Đó là giai đọan đẹp nhất của cuộc đời tôi.

- Ở tuổi đến trường, tôi học được những kiến thức mới mẻ từ thầy cô, bạn bè. Đó là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời tôi.

- Ngày tôi nhận được việc làm đầu tiên, được gánh vác trách nhiệm và trả luơng bởi những nỗ lực của mình. Đó là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời tôi.

- Khi tôi gặp vợ tôi, chúng tôi đã yêu nhau, cùng nhau xây dựng gia đình. Đó là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời tôi.

- Ngày tôi thực sự trở thành một người cha, rồi nhìn những đứa con của mình lớn lên theo năm tháng. Đó là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời tôi.

- Và bây giờ ở tuổi 79, tôi có sức khoẻ, tôi cảm thấy hạnh phúc và tôi đang yêu vợ tôi như lần đầu chúng tôi gặp nhau. Đây là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời tôi.

Mỗi giai đoạn của cuộc đời đều là những giai đoạn đẹp nhất nhất nếu chúng ta biết trân trọng và sống hết mình, đừng để thời gian trôi qua một cách vô ích.



Dễ là khi bạn có một chỗ trong sổ địa chỉ của một ai đó, nhưng khó là khi bạn tìm được một chỗ trong trái tim của người đó.

Dễ là khi đánh giá lỗi lầm của người khác, nhưng khó là khi biết kiểm soát lời nói của mình.

Dễ là khi nghĩ xấu về người khác, nhưng khó là khi cho họ một niềm tin.

Dễ là khi làm tổn thương một người mà bạn yêu thương, nhưng khó là khi làm lành vết thương đó.

Dễ là khi tha thứ cho người khác, nhưng khó là khi làm cho người khác tha thứ cho mình.

Dễ là khi đặt ra các nguyên tắc, nhưng khó là khi thực hiện chúng.

Dễ là khi nằm mơ hằng đêm, nhưng khó là khi chiến đấu vì một ước mơ.

Dễ là khi thể hiện chiến thắng, nhưng khó là khi nhìn nhận một thất bại.

Dễ là khi vấp phải một hòn đá và ngã, nhưng khó là khi đứng dậy và đi tiếp.

Dễ là khi hứa một điều gì đó với người khác, nhưng khó là khi hoàn thành lời hứa đó.

Dễ là khi chúng ta nói rằng chúng ta yêu thương, nhưng khó là khi làm cho người khác cảm thấy như thế hàng ngày.

Dễ là khi phê bình người khác, nhưng khó là khi cải thiện chính bản thân mình.

Dễ là khi để xảy ra sai lầm, nhưng khó là khi học từ những sai lầm đó.

Dễ là khi buồn bực vì một điều gì đó mất đi, nhưng khó là khi quan tâm đủ

đến điều đó để đừng làm mất.

Dễ là khi nghĩ về một việc, nhưng khó là khi ngừng suy nghĩ và bắt đầu hành động.

Dễ là khi nhận, nhưng khó là khi cho.

… và cuối cùng, dễ là khi đọc những điều này trên trang nhà www.phatgiaodaichung.com , nhưng khó là khi bạn thực hiện chúng.



* Ba điều trong đời một khi đã đi qua không thể lấy lại được:
- Thời gian
- Lời nói
- Cơ hội



* Ba điều làm nên giá trị một con người:
- Siêng năng
- Chân thành
- Thành đạt



* Ba điều trong đời không được đánh mất:
- Sự thanh thản
- Hy vọng
- Lòng trung thực



* Ba thứ có giá trị nhất trong đời:
- Tình yêu
- Lòng tự tin
- Bạn bè



* Ba thứ trong đời không bao giờ bền vững được:
- Giấc mơ
- Thành công
- Tài sản



* Ba điều trong đời làm hỏng một con người:
- Rượu
- Lòng tự cao
- Sự giận dữ



* Có bốn điều chúng ta không thể cứu vãn (There are four things that we can not recover...):

- Viên đá... đã ném khỏi tầm tay (the stone... after shot).

- Lời nói... đã thốt ra khỏi miệng (the word... after pronounced).

- Cơ hội... đã đánh mất (the ocasion... after lost).

- Thời gian... đã qua đi (the time... after gone).



- Đừng đợi phải nhìn thấy một nụ cười rồi mới mỉm cười lại.

- Đừng đợi đến khi được yêu thương rồi mới bắt đầu yêu thương.

- Đừng đợi đến khi cô đơn rồi mới nhận ra giá trị của những người bạn.

- Đừng đợi một công việc thật vừa ý rồi mới bắt đầu vào làm việc.

- Đừng đợi đến khi có thật nhiều rồi mới chịu chia sẻ đôi chút.

- Đừng đợi đến khi vấp ngã rồi mới nhớ đến những lời khuyên.

- Đừng đợi đến khi có thật nhiều thời gian rồi mới khởi đầu một công việc.

- Đừng đợi đến khi làm người khác buồn lòng rồi mới cố xin lỗi.

Và đừng đợi... Bởi vì chúng ta không thể biết sẽ phải đợi trong bao lâu cho những điều tốt đẹp...



Xin đừng ..........................

- Đừng quên hy vọng, sự hy vọng cho bạn sức mạnh để tồn tại ngay khi bạn đang bị bỏ rơi.

- Đừng đánh mất niềm tin vào bản thân mình. Chỉ cần tin là mình có thể làm được và bạn lại có lý do để cố gắng thực hiện điều bạn muốn.

- Đừng lấy của cải vật chất đo lường thành công hay thất bại. Chính tâm hồn của mỗi người mới xác định được mức độ “giàu có” trong cuộc sống của mình.

- Đừng để những khó khăn đánh gục bạn, hãy kiên nhẫn rồi bạn sẽ vượt qua.

- Đừng do dự khi đón nhận sự giúp đỡ, tất cả chúng ta đều cần được giúp đỡ, ở bất kỳ khoảng thời gian nào trong cuộc đời.

- Đừng chờ đợi những gì bạn muốn mà hãy đi tìm kiếm chúng.

- Đừng bao giờ cho là bạn đã thất bại khi những kế hoạch và giấc mơ của bạn đã sụp đổ. Vì biết được thêm một điều mới mẻ thì đó là lúc bạn tiến bộ rồi.

- Đừng quên mỉm cười trong cuộc sống. Nụ cười của bạn mang lại hạnh phúc cho những người xung quanh, và cũng mang lại hạnh phúc cho chính bạn.

- Đừng quên tìm cho mình một người bạn thật sự. Bởi bạn bè chính là điều cần thiết trong suốt cuộc đời.

- Và cuối cùng đừng quên ơn những người đã cho bạn cuộc sống hôm nay với tất cả những gì bạn cần. Bởi vì con cháu đời sau của bạn sẽ xem bạn như tấm gương của chúng.



Sáng hôm nay thức giấc, bỗng dưng tôi muốn nói: “Cám ơn đời…”

Cám ơn đời...

… Vì tất cả những gì cuộc đời đã ban cho tôi thật dồi dào: sức khoẻ, hạnh phúc, phồn vinh.

… Vì những bài học cam go, nhờ đó mà tôi hiểu rõ mình hơn và hiểu được tha nhân.

… Vì những thất bại tôi kinh qua, nhờ đó mà tôi học được lòng khiêm nhu, ý thức rằng mình không được ngủ say trên chiến thắng và hiểu rằng những người khác khi họ thất bại thì cũng cần được nâng đỡ tiếp tay.

… Vì những cơ hội để vun trồng đức nhẫn nại, lòng bao dung và niềm hy vọng…

… Vì bao nhiêu khám phá về thực tại và về chân lý.

… Vì những những vận may tôi đã gặp, những vận rủi tôi đã tránh, những giải pháp tôi đã tìm ra, những tài năng tôi đã phát triển, những thành công tôi đã đạt, những ngày đẹp tôi đã sống.

… Vì cha mẹ mà tôi có mặt trong cuộc đời, bạn hữu tôi đã gặp, thầy cô tôi đã học, những cuốn sách tôi được đọc, những chuyến đi tôi đã thực hiện, những bữa ăn tôi đã dùng.

… Vì cảnh quan tôi chiêm ngưỡng, mặt trời tôi thấy kia, bông hoa tôi ngắm nhìn, khí trời tôi hít thở.

… Vì càng ngày càng ý thức hơn rằng khi mình làm điều tốt lành thì tâm hồn sẽ thanh thản, hạnh phúc. Hạnh phúc chân thật như cơn gió mát muà xuân, khi mình thương yêu và được thương yêu.

… Vì niềm vui thật đơn sơ là thấy mình vẫn còn sống.

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy

Ta có thêm ngày nữa để yêu thương!



Cuộc đời giống như một chuyến du hành trên xe lửa: người này lên tàu người kia xuống ga, có những tai nạn, có những chuyện ngạc nhiên ở những trạm này, rồi chuyện buồn tột bậc ở những trạm khác.

Lúc ta chào đời cũng như khi ta bước lên xe lửa, ta gặp những người, ta đã tưởng rằng họ sẽ ở lại với ta suốt chuyến đi: đó là cha mẹ ta! Thật không may, sự thật lại khác hẳn. Song thân đã xuống một ga nọ, bỏ mặc chúng ta thiếu tình yêu thương và sự trìu mến, thiếu tình âu yếm và sự đồng hành của các đấng sinh thành.

Dù sao, lại có những người khác lên tàu, họ trở nên rất quan trọng đối với chúng ta: Đó là anh chị em ta, các bạn bè và những người tuyệt vời mà ta thương yêu.

Có những người xem cuộc hành trình như một buổi dạo chơi.

Có những người khác lại chỉ thấy buồn rầu trong suốt chuyến đi.

Có những người luôn luôn hiện diện và sẵn sàng giúp đỡ những ai cần.

Có những người, khi xuống tàu, đã để lại một nỗi nhung nhớ triền miên…

Có những người vừa lên đã xuống ngay, chúng ta chỉ vừa kịp thấy họ thôi…

Chúng ta ngỡ ngàng vì một vài hành khách mà chúng ta yêu mến lại ngồi ở một toa khác, bỏ mặc chúng ta trong hành trình đơn độc. Dĩ nhiên, không ai có thể cấm cản chúng ta đi tìm họ khắp nơi trên xe lửa.

Đôi khi, thật không may, chúng ta không thể ngồi bên họ bởi vì chỗ đã có người.

Không can chi… hành trình là như thế: đầy thách đố, lắm giấc mơ, nhiều hy vọng… với những lần từ biệt mà không biết bao giờ trở lại.

Hãy cố gắng thực hiện chuyến đi cho tốt đẹp.

Hãy cố gắng hiểu những người ngồi bên mình và tìm ra điều tốt nhất nơi mỗi người.

Hãy nhớ rằng vào mỗi khoảnh khắc của chuyến đi, một người đồng hành nào đó có thể chao đảo và cần được chúng ta thông cảm.

Chúng ta cũng thế, chúng ta có thể chao đảo và sẽ luôn có ai đó có thể hiểu chúng ta.

Mầu nhiệm lớn lao của cuộc hành trình là ta không biết được khi nào ta sẽ xuống tàu mãi mãi. Chúng ta cũng chẳng biết được khi nào các bạn đồng hành chúng ta cũng xuống tàu như vậy. Ngay cả người ngồi ngay bên cạnh chúng ta cũng thế.

Tôi nghĩ là tôi sẽ buồn khi rời con tàu... Chắc chắn như vậy!

Chia tay với tất cả bạn bè đã gặp trên chuyến tàu sẽ đau đớn đấy; để lại những người thân yêu trong cô đơn thì thật là buồn. Nhưng tôi chắc chắn rằng một ngày nào đó tôi sẽ đến ga trung tâm và tôi lại được thấy họ đều đến với một hành trang họ không hề có khi bước lên tàu.

Ngược lại, tôi sẽ sung sướng vì được góp phần làm cho hành trang của họ tăng thêm và phong phú hơn.

Các bạn mến! Tất cả chúng ta, hãy cố gắng thực hiện một cuộc hành trình đẹp và hãy để lại những kỷ niệm đẹp về chúng ta khi chúng ta xuống tàu.

Với những ai đang cùng tôi du hành trên chuyến xe lửa cuộc đời này, xin cầu chúc quý vị Thượng Lộ Bình An!



Bạn tôi mở ngăn tủ của vợ mình và lấy ra một gói nhỏ… Gói kỹ càng trong lớp giấy lụa. Anh bảo: «Đây không phải là gói đồ bình thường, đây là một chiếc áo thật đẹp».

Anh vứt lớp giấy bọc và lấy ra chiếc áo rất mịn màng: «Tôi mua chiếc áo này tặng cô ấy, lần đầu tiên chúng tôi sang New York, cách đây 9 năm rồi, nhưng cô ấy chưa bao giờ mặc. Cô ấy muốn dành cho một dịp nào đặc biệt. Vậy thì hôm nay, tôi nghĩ là dịp đặc biệt nhất rồi».

Anh đến cạnh giường và đặt gói áo ấy cạnh những món đồ mà tí nữa sẽ được bỏ vào áo quan mà liệm… Vợ anh vừa mới qua đời.

Quay sang tôi, anh bảo: «Đừng bao giờ giữ lại một cái gì mà chờ cơ hội đặc biệt cả. Mỗi ngày sống đã là một cơ hội đặc biệt rồi!»

Tôi suy đi nghĩ lại câu nói này, và câu nói đó đã làm thay đổi cuộc đời tôi.

Hiện nay tôi đọc sách nhiều hơn trước và bớt dọn dẹp nhà cửa. Tôi ngồi trước mái hiên mà ngắm cảnh chứ không buồn để ý đến cỏ dại mọc trong vườn. Tôi dành nhiều thời giờ cho gia đình và bạn hữu hơn là cho công việc. Tôi hiểu rằng cuộc đời là những cảm nghiệm mình cần phải nếm trải.

Từ ngày ấy, tôi không còn cất giữ một cái gì nữa. Tôi đem bộ ly pha lê ra sử dụng mỗi ngày; tôi mặc áo mới để đi siêu thị nếu mình bỗng thấy thích. Tôi không cần dành nước hoa hảo hạng cho những ngày đại lễ, tôi xức nước hoa khi nào mình thấy thích.

Những cụm từ như “một ngày gần đây” và “hôm nào” đang bị loại khỏi vốn từ vựng của tôi. Điều gì đáng bỏ công, thì tôi muốn xem, muốn nghe, muốn làm ngay bây giờ.

Tôi không biết chắc là vợ của bạn tôi hẳn sẽ làm gì nếu cô ấy biết trước rằng mai đây mình không còn sống nữa. Một ngày mai mà tất cả chúng ta đều xem thường!

Tôi nghĩ rằng cô ấy hẳn sẽ mời mọi người trong gia đình, mời bạn bè thân thích đến. Có thể cô sẽ điện cho vài người bạn cũ và làm hòa hay xin lỗi về một chuyện bất hòa trước đây. Tôi đoán rằng cô ấy sẽ đi ăn các món Tàu, vì cô rất thích ăn đồ Tàu.

Chính những chuyện vặt vãnh mà tôi chưa làm khiến cho tôi áy náy, nếu tôi biết rằng thời giờ tôi còn rất có hạn. Tôi sẽ rất áy náy vì không đi thăm một vài người bạn mình cần phải gặp mà cứ hẹn lần hồi. Áy náy vì không nói thường hơn với những người thân của tôi rằng thôi yêu thương họ. Áy náy vì chưa viết những lá thư mà mình dự định hôm nào sẽ viết.

Giờ đây, tôi không chần chờ gì nữa, tôi không hẹn lại và không cất giữ điều gì có thể đem lại niềm vui và nụ cười cho cuộc sống chúng tôi.

Tôi tự nhủ rằng mỗi ngày là một ngày đặc biệt. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút đều đặc biệt cả.

Nếu bạn nhận được những dòng chữ này từ ai đó, có lẽ người ấy đang muốn những điều tốt đẹp đến với bạn, và bạn cũng có quanh mình những người bạn quý yêu.

Nếu bạn quá bận đến độ không thể dành ra vài phút gửi đến cho ai khác và tự nhủ: “Mai mốt tôi sẽ gửi !”, thì mai mốt đó có thể là một ngày thật xa hoặc là bạn không bao giờ gửi được.

Chúc bạn một ngày vui!



Có những món quà mà bạn không cần phải tốn tiền mua. Có những món quà mà bạn luôn muốn được nhận. Có những món quà mà người khác chờ đợi bạn tặng...

- Lắng nghe: Bạn phải thực sự lắng nghe. Không ngắt lời, không nghĩ ngợi, không góp ý. Chỉ lắng nghe...

- Yêu thương: Hãy thân thiện với tất cả mọi người. Hãy để những hành động nhỏ như những cái ôm, bắt tay... biểu lộ tình cảm của bạn với người thân và bạn bè.

- Tiếng cười: Hãy chia sẻ những câu chuyện vui, thú vị; điều này có nghĩa là bạn đang muốn nói với họ: "Tôi thích lắm những lúc được cười đùa bên bạn".

- Viết ra những điều mình nghĩ: Có thể chỉ đơn giản là "Cảm ơn sự giúp đỡ của bạn" hay nhiều dòng hơn thế. Những dòng chữ ngăn ngắn này đôi khi lại làm cho người ta nhớ suốt đời, thậm chí có thể thay đổi cả một con người.

- Lời khen: Những câu nói chân thành như "Hôm nay sao bạn xinh thế!", "Bạn đang có một công việc thật tốt!", hay "Ôi, món ăn này ngon quá!" có thể làm cho một ngày của ai đó thêm niềm vui.

- Giúp đỡ: Mỗi ngày, hãy làm ít nhất một việc gì đó có ích.

- Một mình: Có những lúc trong cuộc sống bạn muốn được ở một mình. Hãy thông cảm với người khác trong những tình huống tương tự, hãy để họ một mình.

- Vui vẻ: Cách dễ dàng nhất để cảm thấy vui vẻ là hãy nói những lời tốt đẹp với mọi người. Thật không quá khó khi nói "Xin chào!" hay "Cảm ơn nhé!".

Hãy tặng những món quà này cho những người đang sống quanh bạn…



Càng có tuổi tôi càng thấy sự kỳ diệu của mỗi độ xuân về.

Càng có tuổi tôi càng khám phá những điều mà tôi không thấy truớc kia.

Càng có tuổi tôi càng thấy những mùa xuân còn lại không còn bao nhiêu nữa.

Càng có tuổi tôi càng sung sướng thưởng thức mỗi giây phút quý giá qua đi trong cuộc đời.

Càng có tuổi tôi càng thấy mùa xuân mang lại cho tôi sự ngất ngây và vui sướng.

Càng có tuổi tôi càng thích săn sóc cây và hoa của tôi… Và tôi thích tâm sự với chúng biết bao.

Càng có tuổi tôi càng thích nghe chim hót, mỗi tiếng chim là mỗi một giai điệu.

Càng có tuổi tôi càng uớc ao được thấy nhiều mùa xuân trở lại.

Càng có tuổi tôi càng thấy mình không nghĩ được như vậy khi còn trẻ.

Càng có tuổi tôi càng muốn cám ơn cuộc sống đã cho tôi thấy thêm một mùa Xuân trở lại.



Hồi còn trẻ, chúng ta thường nghĩ rằng cuộc sống sẽ tốt đẹp và có ý nghĩa hơn sau khi chúng ta lập gia đình, sinh con. v.v… Sau đó chúng ta vỡ mộng, vì con cái chúng ta còn quá nhỏ. Rồi tự nhủ rằng : Mọi việc sẽ tốt đẹp hơn một khi chúng lớn khôn.

Và chúng ta lại thất vọng khi con cái của mình đến tuổi niên thiếu vì chúng ta lại phải chăm sóc và lo lắng cho chúng. Chắc chắn chúng ta sẽ hạnh phúc hơn khi các con trưởng thành... Chúng ta lại tự nhủ rằng cuộc sống rồi sẽ tốt đẹp hơn một khi gia đình được ổn định, khi chúng ta tậu được một chiếc xe đẹp hơn, khi chúng ta đi nghỉ hè thoải mái, và cuối cùng là khi chúng ta được về hưu.

Sự thật là không có một thời điểm nào tốt đẹp và hạnh phúc bằng hiện tại cả!

Nếu không đúng, vậy thì thời điểm nào là hạnh phúc nhất?

Cuộc sống của bạn luôn bị quay cuồng bởi các thách đố, các đòi hỏi và nhu cầu. Tốt nhất là bạn nên nhận thấy rằng hiện tại là thời gian hạnh phúc nhất của mình, mặc dù cuộc sống đầy dẫy những khó khăn và muộn phiền.



Một thời gian rất lâu, tôi cứ ngỡ rằng cuộc đời của tôi sắp bắt đầu. Một cuộc đời, cuộc sống thật sự. Nhưng lúc nào cũng có nhiều việc xảy đến, một thử thách phải vượt qua, vài công việc còn phải hoàn tất, vài việc khác cần phải phân chia, còn vài hóa đơn phải thanh toán. Sau đó, thì cuộc sống của ta sẽ bắt đầu..

Cuối cùng tôi mới khám phá ra rằng, chính những sự việc này là một phần của đời sống chúng ta… Từ cái nhìn này tôi thấy được rằng không có con đường nào đi đến hạnh phúc cả.

Hạnh phúc chính là con đường chúng ta đang đi… Hãy trân quý và hưởng mọi phút giây mà chúng ta đang có!

Không nên chờ đợi nữa, chờ đợi tốt nghiệp ra trường, chờ đợi ngày trở lại trường, chờ đợi xuống thêm vài ký, lên thêm vài ký, chờ đợi việc làm mới, chờ đợi ngày kết hôn, mong đợi đến tối thứ sáu, sáng chủ nhật, một chiếc xe mới, đợi trả nợ xong, trông chờ xuân đến, hạ về, đợi đến đầu tháng, cuối tháng, đợi nghe bản nhạc hay trong radio, chờ ngày từ giã cõi đời, ngày tái sinh…… trước khi quyết định sống thật hạnh phúc.

Hạnh phúc là hành trình, chứ không phải là điểm đến!

Không có một giờ phút nào quý cho bằng… HIỆN TẠI!

Hãy sống và tận hưởng từng giây phút !



Chúng ta hãy suy nghĩ và cố gắng trả lời các câu hỏi sau đây:

1 – Bạn hãy nêu ra tên của 5 người giàu nhất thế giới hiện nay.

2 – Tên của 5 Hoa Hậu thế giới gần đây nhất.

3 – Tên của 10 người lãnh giải Nobel gần đây nhất.

4 – Tên của 10 người lãnh giải Oscar gần đây nhất.

Bạn không trả lời được? Có thật sự khó không? Không sao cả, không ai có thể nhớ những điều này.

Các tràng pháo tay rồi cũng chấm dứt.

Các giải thưởng cũng sẽ đóng bụi.

Các quán quân hoặc kẻ thắng cuộc rồi cũng sẽ bị quên lãng.



Chúng ta lại thử trả lời các câu sau đây:

1 – Bạn hãy nêu tên 3 thầy, cô giáo trong cuộc đời bạn.

2 – Tên 3 người bạn đã từng giúp bạn trong những giây phút khó khăn nhất.

3 – Hãy nghĩ đến vài người đã từng cho bạn những cảm giác đặc biệt.

4 – Và tên 5 người mà bạn lúc nào cũng muốn gần gũi.

Các câu này có vẻ dễ trả lời hơn, phải không bạn? Những người có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc sống của bạn, không phải là những người “giỏi nhất”, họ cũng không là người giàu nhất, và cũng không đoạt được một giải thưởng nào cả… Họ là những người nghĩ đến bạn, lo lắng cho bạn và luôn ở bên cạnh bạn khi bạn cần đến.

Hãy suy nghĩ về điểm này..

Cuộc sống rất là ngắn ngủi!

Và bạn được đứng trong danh sách nào của tôi? Bạn có biết không? Hãy cho tôi nắm lấy tay bạn. Bạn là một trong những người “nổi tiếng” nhất trong danh sách của tôi, mà tôi đã không quên để gửi đến bạn thông điệp này…



Cách đây rất lâu, ở một cuộc thi Thế Vận Hội tại Seattle, có 9 nhà điền kinh khoẻ mạnh và cường tráng tham gia, họ chuẩn bị bắt đầu cuộc thi chạy bộ cự ly 100 mét.

Tiếng súng nổ báo hiệu cuộc thi bắt đầu. Không phải tất cả mọi người đều chạy, nhưng tất cả mọi người đều muốn tham gia và muốn thắng cuộc đua.

Tất cả mọi người bắt đầu chạy nhưng có một thanh niên trượt chân và ngã quỵ xuống, và cậu ta bắt đầu khóc. Tám người kia nghe tiếng khóc… Họ chạy chậm lại, quay đầu lại nhìn… Cuối cùng họ ngưng chạy và quay trở lại… Tất cả 8 người…

Một cô gái ngồi xuống và hỏi chàng thanh niên bị trượt té: “Đã thấy đỡ chưa?”.

Sau đó, tất cả 9 người vai sánh vai cùng nhau bước đến lằn mức thắng... Tất cả khán giả đều đứng lên và đồng loạt vỗ tay. Và tràng vỗ tay đã kéo dài rất lâu. Tất cả mọi người chứng kiến sự việc ngày hôm đó, thường kể lại chuyện này cho người khác nghe. Tại sao vậy?

Vì tận cùng trong thâm tâm của chúng ta đều hiểu rằng, điều quan trọng nhất trong cuộc sống không phải là thắng cuộc. Điều quan trọng nhất trong cuộc sống là giúp kẻ khác thắng. Mặc dù việc này có làm chậm công việc của chúng ta hoặc thay đổi cuộc thi đua.

“Một ngọn nến không bị mất giá trị khi nó được dùng để mang ánh sáng đến cho người khác”.



Những đứa trẻ sống giữa những người phê phán thì học lên án.

Những đứa trẻ sống trong bầu không khí thù địch thì hay đánh nhau.

Những đứa trẻ sống trong sự hãi hùng thì học được thói sợ sệt.

Những đứa trẻ sống trong cảnh đau xót thì học được sự đồng cảm.

Những đứa trẻ sống trong bầu không khí đố kỵ thì học được thế nào là tham vọng.

Những đứa trẻ sống trong bầu không khí khoan dung thì học được sự nhẫn nại.

Những đứa trẻ sống giữa những nguồn động viên thì học được lòng tin.

Những đứa trẻ sống giữa những lời khen tặng đúng lúc thì học đánh giá cao những gì bao quanh chúng.

Những đứa trẻ sống trong niềm tự hào thì học được cách phấn đấu.

Những đứa trẻ sống trong sự san sẻ thì học để trở nên hào hiệp.

Những đứa trẻ sống trong sự trung thực và sự công minh thì học được chân lý và lẽ công bằng.

Những đứa trẻ sống trong hạnh phúc thì học được rằng thế giới là nơi tốt đẹp để sống.



- Có những ước mơ sẽ vẫn chỉ là ước mơ, dù cho ta có nỗ lực đến đâu nhưng nhờ có nó ta mạnh mẽ hơn, yêu cuộc sống hơn và biết cố gắng từng ngày.

- Có những lời hứa cũng vẫn chỉ là lời hứa, dù ta có mãi chờ đợi bởi người hứa đã không còn nhớ, nhưng nhờ có nó ta biết thế nào là hy vọng và mong chờ.

- Có những ước hẹn cũng sẽ chỉ là ước hẹn, nếu một mai một người đã bỏ đi, nhưng nhờ có nó đã có những giây phút thật sự tuyệt vời.

- Có những nỗi đau vẫn mãi là nỗi đau, một khi ta không thể thoát khỏi chúng, nhưng nhờ đó mà ta trưởng thành hơn.

- Có những sai lầm sẽ mãi là sai lầm, và ta đau khổ khi nhận ra mình sai lầm, nhưng nhờ đó ta bỗng giật mình: điều sai lầm duy nhất của ta là phủ nhận những gì trái tim ta thật sự cảm nhận.

- Có những lần tình cờ gặp nhau đơn giản chỉ biết mặt nhau, hay thậm chí chẳng để ý tới, nhưng nhờ đó ta chợt nhận ra: vô tình gặp nhau đó cũng là nhân duyên.

- Có những người bạn đơn giản chỉ là người quen, nhưng nhờ có họ ta nhận rằng tên bạn thân của ta tuyệt vời lắm.

- Có những cuộc tìm kiếm đơn giản chỉ là tìm kiếm, nhưng nhờ đó ta hiểu rằng tình yêu là giữa một biển người vẫn tìm thấy nhau.

- Và sẽ có những người làm nên tất cả vì họ có ước mơ, họ tin vào lời hứa, họ có những lời ước hẹn, họ đã trưởng thành từ nỗi đau, họ nhận ra sai lầm, họ có một người bạn thật sự, và vì bên họ còn có cả những tình thương...



Nếu bạn bị tắc đường và kẹt xe, đừng thất vọng. Còn rất nhiều người trên thế giới này, đối với họ, lái xe là một ước mơ không thể thực hiện.

Nếu bạn cảm thấy học hành thật chán ngán. Hãy nghĩ đến những người cả đời không được đến trường.

Nếu bạn buồn vì một cuối tuần nữa lại sắp trôi qua. Hãy nghĩ đến những người phụ nữ ở môi trường làm việc khắc nghiệt, phải làm việc 12 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần để nuôi con.

Nếu bạn cảm thấy mất mát và tự hỏi mình cuộc sống là gì, và có mục đích gì? Hãy nghĩ đến những người bệnh tật, biết trước mình không còn sống được bao lâu nữa, và không còn cơ hội để tự hỏi mình nữa.

Nếu bạn cảm thấy khủng khiếp khi là nạn nhân của những trò đùa ác ý, những sự nhỏ mọn… của người khác. Hãy nhớ: Thế vẫn chưa là gì đâu, vì tồi tệ hơn nữa là khi bạn có thể là chính những người đó.

…Và nếu như bạn trông chờ vào một cuộc sống luôn thuận buồm xuôi gió, không còn lo âu phiền muộn, thì bạn thật sự đang quá mơ mộng rồi đó. Bởi một lẽ đơn giản, những điều đó là một phần của cuộc sống, và ở một góc độ nhất định, chúng đã góp phần tạo nên cuộc sống của chúng ta.

Hãy biết cách để tiêu hóa những vấn đề tiêu cực, bạn sẽ thấy cuộc sống này tươi đẹp biết bao!



Đây là những điều giản dị nhưng cực kỳ hữu ích cho những ai muốn làm giàu thêm hành trang cuộc sống:

- Nổi giận là trạng thái cái lưỡi làm việc nhanh hơn cái đầu.

- Bạn không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể phá huỷ hiện tại bằng cách quá lo lắng cho tương lai.

- Hãy yêu thương đi... rồi bạn chắc chắn sẽ được đáp lại.

- Cuộc sống luôn ban tặng những điều tốt đẹp nhất cho những ai biết nhẫn nhịn.

- Tất cả nụ cười đều có chung một ngôn ngữ.

- Mọi người cần được yêu thương...

- Thước đo của cải của một con người là những gì anh ta đã cống hiến cho cuộc đời.

- Tiếng cười là mặt trời của cuộc sống.

- Ai ai cũng đẹp, có điều không phải ai cũng nhận ra nó.

- Điều quan trọng cho cha mẹ là sống theo những gì họ dạy.

- Cảm ơn cuộc sống về những gì bạn có, tin cuộc sống về những gì bạn cần.

- Nếu bạn tiếc nuối ngày hôm qua và lo lắng ngày mai, bạn sẽ không có ngày hôm nay để cảm tạ.

- Người bình thường trong hình thức, có thể là người thông thái ở nội tâm.

- Sự lựa chọn của bạn ngày hôm nay sẽ có tác động đến ngày mai.

- Dành thời gian để cười, bởi đó chính là điệu nhạc của tâm hồn.

- Nếu có ai nói xấu bạn, hãy sống làm sao để không ai tin điều đó.

- Kiên nhẫn là khả năng bạn hãm phanh khi bạn có cảm giác như đang tăng tốc.

- Sự yêu thương sẽ vững chắc hơn sau khi trải qua những xung đột mà không tan vỡ.

- Điều tốt nhất cha mẹ có thể làm cho con cái là yêu thương nhau.

- Những lời nói không tốt không làm gãy xương một ai, nhưng có thể làm vỡ trái tim ta của người khác.

- Để thoát khỏi gian nan, chỉ có cách đi xuyên qua nó.

- Yêu thương là từ duy nhất có thể chia mà không bị giảm.

- Hạnh phúc được tăng lên nhờ những người xung quanh, nhưng không phụ thuộc vào họ.

- Với mỗi phút bạn nổi giận, bạn mất đi 60 giây hạnh phúc mà không thể nào lấy lại được.



Có những điều hiển nhiên đến nỗi bạn không bao giờ bận tâm về nó. Có những điều tưởng chừng như rất nhỏ nhặt và bạn đã không làm từ rất lâu, vì nhiều lý do. Hãy bình tâm ngồi lại, bạn sẽ thấy những điều hiển nhiên ấy, những điều nhỏ nhặt ấy có rất nhiều điều để bạn suy gẫm lại bản thân mình:

- Chúng ta có ít nhưng xài nhiều, chúng ta mua nhiều nhưng sử dụng ít.

- Chúng ta có nhà rộng với mái ấm hẹp, có tiện nghi nhưng ít thời gian.

- Chúng ta có nhiều bằng cấp nhưng lại có ít tri thức.

- Chúng ta có nhiều kiến thức nhưng lại thiếu sự suy xét.

- Chúng ta làm ra những thứ lớn hơn nhưng chưa chắc chất lượng tốt hơn.

- Chúng ta làm giàu tài sản nhưng lại làm nghèo giá trị bản thân.

- Chúng ta nói quá nhiều, thương yêu quá ít và thường hay ghét người.

- Chúng ta kéo dài tuổi thọ, nhưng không sống đúng ý nghĩa đích thực của cuộc sống.

- Chúng ta chinh phục không gian vũ trụ, nhưng lại bỏ trống không gian tâm hồn.

- Chúng ta cố làm sạch không khí nhưng lại làm vẫn đục tâm hồn.

- Chúng ta biết đường đến mặt trăng nhưng lại quên đường đến nhà người hàng xóm.

- Chúng ta xây nhà cao hơn nhưng lại hạ thấp tâm tính, xây đường rộng hơn nhưng lại thu hẹp tầm nhìn.

- Chúng ta uống quá nhiều, hút quá nhiều, xài tiền không tính toán, cười quá ít, lái xe quá nhanh, hay cáu giận, thức khuya để rồi uể oải dậy sớm, đọc quá ít và coi TV quá nhiều.

- Chúng ta được học cách phải tiến nhanh về phía trước mà chưa học cách chờ đợi.

- Chúng ta được dạy cách kiếm sống nhiều hơn là cách sống.





Gửi bởi: hoaha Jul 11 2011, 08:28 PM

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
_QUYỂN THỨ BẢY_
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN
- PHẨM THỨ HAI MƯƠI LĂM_
Hán dịch: Diêu Tần Tam Tạng Pháp Sư CƯU MA LA THẬP dịch Trường Hàng
Đời Tuỳ_ Bắc Thiên Trúc Sa Môn XÀ NA QUẬT ĐA dịch Trùng Tụng
Việt dịch: HUYỀN THANH
Bấy giờ Vô Tận Ý Bồ Tát (Akṣaya-matirbodhisattva) liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
trật áo hở vai phải, chắp tay hướng về Đức Phật rồi nói lời này: “Thế Tôn ! Quán Thế
Âm Bồ Tát (Avalokiteśvara-bodhisattva) do Nhân Duyên gì mà có tên gọi là Quán Thế
Âm?”
Đức Phật bảo Vô Tận Ý Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử (Kulaputra)! Nếu có vô lượng
trăm ngàn vạn ức chúng sinh bị các khổ não, nghe được tên vị Quán Thế Âm Bồ Tát đó,
một lòng xưng tên gọi thời Quán Thế Âm Bồ Tát liền quán sát âm thanh ấy, và đi đến
giúp cho chúng sinh đó đều được thoát khỏi mọi khổ não.
Nếu có người trì niệm tên gọi của Quán Thế Âm Bồ Tát đó. Giả sử vào trong lửa lớn
thì lửa chẳng thể thiêu đốt. Do sức Uy Thần của Bồ Tát đó cho nên nếu bị nước lớn cuốn
trôi, hễ xưng danh hiệu ấy liền được gặp chỗ cạn.
Nếu có trăm ngàn vạn ức chúng sinh vì tìm cầu vàng (Survaṇa), bạc (Rūpya), Lưu
Ly (Vaiḍurya), Xa Cừ (Musāragalva), San Hô (Śaṅkha), Hổ Phách (Aśmagarbha), các
thứ Trân Châu (Lohita-mukta), vật báu (Maṇi-mukta)…mà đi vào biển lớn. Giả sử gió
lớn thổi chiếc thuyền ấy trôi nổi, tấp vào nước của Quỷ La Sát (Rākṣasa). Trong nhóm
ấy, nếu có, cho đến một người xưng tên gọi của Quán Thế Âm Bồ Tát thì nhóm người đó
đều được thoát khỏi nạn của La Sát. Do nhân duyên đó nên gọi là Quán Thế Âm
Nếu lại có người sắp sửa bị hại mà xưng tên gọi của Quán Thế Âm Bồ Tát thì dao
gậy mà kẻ kia đã cầm, bỗng bị gãy từng khúc…nhờ thế mà được giải thoát.
Nếu trong ba ngàn Đại Thiên quốc độ tràn đầy Dạ Xoa (Yakṣa), La Sát (Rākṣasa)
muốn đến hại người mà nghe người ấy xưng tên gọi của Quán Thế Âm Bồ Tát thì các
Quỷ ác đó còn chẳng dám dùng mắt hung ác nhìn vào người đó, huống chi lại hãm hại
được.
Giả sử lại có người, hoặc có tội hoặc không có tội mà bị gông cùm, xiềng xích…cột
trói thân ấy. Hễ xưng tên gọi của Quán Thế Âm Bồ Tát thì hết thảy gông cùm, xiềng xích
đều bị gãy nát, liền được giải thoát.
Nếu trong ba ngàn Đại Thiên quốc đỗ tràn đầy Oán Tặc. Có một vị Thương Chủ dẫn
các người buôn đem theo nhiều vật qúy báu vượt qua con đường nguy hiểm. Một người
trong nhóm đó xướng lên rằng: “Các người trai lành đừng có hoảng sợ, các ông cần
phải một lòng xưng danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát vì Bồ Tát đó hay đem sự không
sợ hãi ban cho chúng sinh. Nếu các ông xưng tên gọi của Ngài ắt sẽ được thoát khỏi nạn
oán tặc này”. Các người buôn nghe xong, đều phát ra tiếng nói rằng: “Nam mô Quán
Thế Âm Bồ Tát”. Do xưng tên gọi của Bồ Tát ấy cho nên liền được giải thoát.
Này Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức Uy Thần to lớn như vậy.
Nếu chúng sinh có nhiều lòng dâm dục mà thường niệm cung kính Quán Thế Âm
Bồ Tát, liền được lìa sự dâm dục.
Nếu nhiều giận dữ mà thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, liền được lìa
sự giận dữ
Nếu nhiều ngu si mà thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, liền được lìa sự
ngu si.
Này Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức Đại Uy Thần của nhóm như vậy, hay
ban cho nhiều sự lợi ích. Chính vì thế cho nên chúng sinh thường nên tâm niệm.
Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai thì nên lễ bái cúng dường Quán Thế Âm
Bồ Tát, liền sinh con trai có Phước Đức Trí Tuệ. Giả sử muốn cầu con gái, liền sinh con
gái có tướng đoan chính. Do đời trước đã giao trồng gốc Đức nên được mọi người yêu
kính.
Này Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức như vậy. Nếu có chúng sinh cung kính
lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát thì Phước Đức chẳng hề luống mất. Chính vì thế cho nên
chúng sinh đều nên thọ trì danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Này Vô Tận Ý ! Nếu có người thọ trì sáu mươi hai ức hằng hà sa số danh tự của Bồ
Tát. Lại suốt đời cúng dường thức ăn uống, quần áo, vật dụng nằm nghỉ, thuốc men…Ý
của ông thế nào ? Kẻ trai lành, người nữ thiện đó có Công Đức nhiều chăng ?”
Vô Tận Ý nói: “Bạch Đức Thế Tôn ! Phước Đức của người đó rất nhiều”
Đức Phật nói: “Nếu lại có người thọ trì danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát, cho
đến một thời lễ bái cúng dường thì Phước của hai người đó ngang bằng không có khác, ở
trăm ngàn vạn kiếp chẳng thể cùng tận.
Này Vô Tận Ý ! Thọ trì danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát được lợi của vô lượng
vô biên Phước Đức như vậy”
Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Quán Thế Âm Bồ Tát làm sao dạo
chơi ở cõi Sa Bà này ? Làm thế nào mà vì chúng sinh nói Pháp ? Sức của phương tiện
nào ? Việc ấy ra sao ?”
Đức Phật bảo Vô Tận Ý Bồ Tát: “Này Thiện Nam Tử ! Nếu có chúng sinh trong
quốc độ, cần phải dùng thân Phật (Buddha-rūpeṇa) để hoá độ được thì Quán Thế Âm Bồ
Tát liền hiện thân Phật mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Bích Chi Phật (Pratyekabuddha-rūpeṇa) để hoá độ được
thì liền hiện thân Bích Chi Phật mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Thanh Văn (Śrāvaka-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền
hiện thân Thanh Văn mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Phạm Vương (Brahma-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền
hiện thân Phạm Vương mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Đế Thích (Śakra-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền hiện
thân Đế Thích mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Tự Tại Thiên (Īśvara-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền
hiện thân Tự Tại Thiên mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Đại Tự Tại Thiên (Maheśvara-rūpeṇa) để hoá độ được
thì liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Thiên Đại Tướng Quân (Skandha-senāpatirūpeṇa) để
hoá độ được thì liền hiện thân Thiên Đại Tướng Quân mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Tỳ Sa Môn (Vaiśravana-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền
hiện thân Tỳ Sa Môn mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Tiểu Vương (Hīna-rāja-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền
hiện thân Tiểu Vương mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Trưởng Giả (Gṛhapati-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền
hiện thân Trưởng Giả mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Cư Sĩ (Dānapati-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền hiện
thân Cư Sĩ mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Tể Quan (Puruṣa-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền hiện
thân Tể Quan mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Bà La Môn (Brahman-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền
hiện thân Bà La Môn mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Tỳ Khưu (Bhikṣu-rūpeṇa), Tỳ Khưu Ni (Bhikṣunīrūpeṇa),
Ưu Bà Tắc (Upāsaka-rūpeṇa), Ưu Bà Di (Upāsīka-rūpeṇa) để hoá độ được thì
liền hiện thân Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân phụ nữ Trưởng Giả (Gṛhapati-bhāryā-rūpeṇa), Cư Sĩ
(Dānapati-bhāryā-rūpeṇa), Tể Quan (Puruṣa-bhāryā-rūpeṇa) để hoá độ được thì liền hiện
thân Phụ Nữ mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Đồng Nam (Putra-rūpeṇa), Đồng Nữ (Kanyā-rūpeṇa) để
hoá độ được thì liền hiện thân Đồng Nam, Đồng Nữ mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân của nhóm Trời (Deva-rūpeṇa), Rồng (Nāga-rūpeṇa), Dạ
Xoa (Yakṣa-rūpeṇa), Càn Thát Bà (Gandharva-rūpeṇa), A Tu La (Asura-rūpeṇa), Ca
Lâu La (Garuḍa-rūpeṇa), Khẩn Na La (Kiṃnara-rūpeṇa, Ma Hầu La Già (Mahoragarūpeṇa),
Người (Manuṣya-rūpeṇa), Phi Nhân (Amanuṣya-rūpeṇa) để hoá độ được thì
liền đều hiện ra thân ấy mà nói Pháp cho kẻ đó.
Người cần phải dùng thân Chấp Kim Cương (Vajrapāṇi-rūpeṇa) để hoá độ được
thì liền hiện thân Chấp Kim Cương mà nói Pháp cho kẻ đó.
Này Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm đó thành tựu Công Đức như vậy, dùng mọi loại hình
dạo chới các cõi nước, độ thoát chúng sinh. Chính vì thế cho nên các ông cần phải một
lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát đó ở trong các
nạn nguy cấp đáng sợ thì hay ban cho sự không sợ hãi. Chính vì thế mà Thế Giới Sa Bà
này đều gọi Ngài là bậc ban cho sự không sợ hãi (Thí Vô Úy Giả:Abhayaṃdada)
Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Nay con sẽ cúng dường Quán Thế Âm
Bồ Tát”
Liền cởi chuỗi Anh Lạc do mọi viên ngọc báu kết thành đeo ở cổ, trị giá trăm ngàn
lạng vàng, đem dâng cho Quán Thế Âm Bồ Tát rồi nói rằng: “Xin Ngài nhận chuỗi Trân
Bảo Anh Lạc này đúng như Pháp Thí”
Thời Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu nhận lấy
Vô Tận Ý lại bạch với Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: “Xin Ngài thương xót chúng tôi
mà nhận chuỗi Anh Lạc này”
Bấy giờ Đức Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát: “Ông nên xót thương Vô Tận Ý Bồ
Tát với bốn Chúng, Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La,
Ma Hầu La Già, Người, Phi Nhân… mà nhận chuỗi Anh Lạc đó”
Ngay lúc đó, Quán Thế Âm Bồ Tát xót thương các nhóm bốn Chúng với hàng Trời,
Rồng, Người, Phi Nhân… nhận chuỗi Anh Lạc ấy, rồi chia ra làm hai phần, một phần
dâng cúng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuṇi) một phần dâng cúng cái tháp của
Đức Phật Đa Bảo (Prabhūta-ratna). 
_ Này Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ Tát có Thần Lực tự tại như vậy mà dạo chơi ở
Thế Giới Sa Bà”
Khi ấy Vô Tận Ý Bồ Tát dùng Kệ hỏi rằng:
“Thế Tôn đủ tướng tốt
Nay con lại hỏi rằng
Phật Tử nhân Duyên gì
Tên là Quán Thế Âm ?”
_ Đấng đầy đủ tướng tốt
Kệ đáp Vô Tận Ý:
“Ông nghe Hạnh Quán Âm (Avalokite1svara-caryā)
Khéo ứng các nơi chốn
Thệ rộng sâu như biển
Muôn kiếp khó nghĩ bàn
Hầu nhiều ngàn ức Phật
Phát Nguyện đại thanh tịnh
Ta vì ông lược nói
Hay diệt khổ các cõi
_ Giả sử khởi Ý hại
Đẩy xuống hầm lửa lớn
Do sức niệm Quán Âm
Hầm lửa biến thành ao
_ Hoặc trôi trong biển rộng
Gặp nạn Quỷ, Rồng, cá
Do sức niệm Quán Âm
Chẳng chìm trong sóng nước
_ Hoặc tại ngọn Tu Di (Meru)
Bị người xô té xuống
Do sức niệm Quán Âm
Như mặt trời trên không
_ Hoặc bị người ác rượt
Rơi xuống núi Kim Cương
Do sức niệm Quán Âm
Chẳng mất một sợi lông
_ Hoặc bị Oán Tặc vây
Đều cầm đao hãm hại
Do sức niệm Quán Âm
Chúng đều sinh Tâm lành
_ Hoặc vướng nạn vua chúa
Bị hành hình sắp chết
Do sức niệm Quán Âm
Đao liền gẫy từng đoạn
_ Hoặc tù cấm, xiềng xích
Chân tay bị gông cùm
Do sức niệm Quán Âm
Được giải thoát nhẹ nhàng
_ Các thuốc độc, ếm đối
Muốn gây hại thân mệnh
Do sức niệm Quán Âm
Quay về hại người gây
_ Hoặc gặp La Sát ác
Rồng độc, các loài Quỷ
Do sức niệm Quán Âm
Chúng đều chẳng dám hại
_ Nếu bị thú dữ vây
Nanh vuốt nhọn đáng sợ
Do sức niệm Quán Âm
Chúng vội vàng bỏ chạy
_ Rắn độc với Bò Cạp
Hơi độc, khói, lửa đốt
Do sức niệm Quán Âm
Chúng theo tiếng tự đi
_ Mây sấm nổ, sét đánh
Tuôn mưa đá, mưa lớn
Do sức niệm Quán Âm
Tiêu tan ngay lập tức
_ Chúng sinh bị khốn ách
Vô lượng khổ ép thân
Sức Diệu Trí Quán Âm
Hay cứu khổ Thế Gian
Đầy đủ sức Thần Thông
Rộng tu Trí Phương Tiện
Các cõi nước mười phương
Không cõi nào không hiện
_ Mọi loại các nẻo ác
Địa Ngục, Quỷ, Súc Sinh
Khổ: sinh, già, bệnh, chết
Dần dần khiến diệt hết
_ Chân Quán (? kṛpalocana), Thanh Tịnh Quán (śuddhalocanā)
Quảng Đại Trí Tuệ Quán (prajñājñānaviśiṣṭalocanā)
Bi Quán (? śubhalocana: Hảo Quán) với Từ Quán (Maitra-locanā)
Thường Nguyện, thường chiêm ngưỡng
Ánh sáng sạch không dơ (amalāmalanirmalaprabhā)
Mặt trời Tuệ (jñānadivākaraprabhā) phá ám
_ Hay trừ nạn, gió, lửa
Soi sáng khắp Thế Gian
Thể Bi (? śubhaguṇa: Hảo Đức) răn sấm sét
Ý lành (maitramanā: Từ Ý) khéo như mây
Tuôn mưa Pháp (dharmavarṣaṃ) Cam Lồ (Amṛta)
Diệt trừ lửa phiền não (kleśāgni)
_ Kiện tụng đến cửa Quan
Trong quân trận sợ hãi
Do sức niệm Quán Âm
Mọi oán đều lui tan
[Bản Phạn ghi thêm một câu là: Vân Âm (meghasvara: tiếng của đám mây) với Cổ
Âm (duṇḍubhisvara: tiếng của cái trống)]
_ Diệu Âm (Susvara), Quán Thế Âm (Avalokiteśvara)
Phạm Âm (Brahmasvara), Hải Triều Âm (jala-dhara-garjita-svara)
Hơn hẳn tiếng Thế Gian
Vì thế nên thường niệm
Niệm niệm chớ nghi ngờ
Quán Âm, bậc Tịnh Thánh (śuddhasattvaṃ)
Nơi nạn chết khổ não
Hay làm nơi nương tựa
Đủ tất cả Công Đức
Mắt hiền (maitralocana: Từ Nhãn) nhìn chúng sinh
Biển gom Phước vô lượng
Vì thế nên Đỉnh Lễ”
Bấy giờ Trì Địa Bồ Tát (Dharaniṃ-dhara) liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước mặt
Đức Phật bạch rằng: “Thế Tôn ! Nếu có chúng sinh nghe được Nghiệp tự tại, Phổ Môn
(samantamukha) hiện bày sức Thần Thông trong Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát. Nên biết
người đó có Công Đức chẳng ít”
Khi Đức Phật nói Phẩm Phổ Môn (samantamukhaparivartaḥ) đó xong thời tám vạn
bốn ngàn chúng sinh trong Chúng đều phát Tâm Vô Đẳng Đẳng A Nậu Đa La Tam
Miểu Tam Bồ Đề (asamasamāyāmanuttarāyāṃ)
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN PHẨM

12 Lời Nguyện Lớn của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

Nam Mô Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát (Đọc 3 lần)

12 Lời Nguyện Lớn





1. Nam Mô hiệu Viên-Thông, danh Tự Tại, Quan-Âm Như Lai quảng-phát hoằng thệ nguyện. (Lạy)

Được xưng tặng là "Hiểu biết đầy đủ", "Thông dong hoàn toàn", Ngài đem pháp tu hành mà khuyên độ khắp cùng.



2. Nam-mô nhứt niệm tâm vô quái ngại, Quan-Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện. (Lạy)

Ở trong một niệm tâm được tự tại vô ngại, Ngài nguyện thường ở biển phương Nam (Nam Hải) để cứu độ chúng sanh.



3. Nam-mô trú Ta-Bà U-Minh giới Quan Âm Như-Lai tầm thanh cứu khổ Nguyện (Lạy)

Luôn Luôn ở cõi Ta Bà và cõi U-Minh, Ngài cứu độ kẻ nào kêu cầu tới Ngài.



4. Nam-mô hàng tà ma, trừ yêu quái Quan Âm Như-Lai năng trừ nguy hiểm nguyện. (Lạy)

Trừ khử loài tà ma, yêu quái, Ngài có đủ sức cứu người gặp nguy hiểm.



5. Nam-mô thanh tịnh bình thùy dương liễu, Quan Âm Như-Lai cam-lộ sái tâm nguyện. (Lạy)

Ngài lấy nhành dương liễu dịu dàng nhúng vào nước ngọt mát trong cái bình thanh tịnh để rưới tắt lửa lòng của chúng sanh.



6. Nam-mô Đại-Từ bi năng hỉ xả, Quan Âm Như-Lai thường hành bình đẳng nguyện. (Lạy)

Thương xót người đói và sẵng lòng tha thứ, Ngài không phân biệt kẻ oán người thân, tất cả đều coi như nhau.



7. Nam-mô trú dạ tuần vô tổn hoại, Quan Âm Như-Lai thệ diệt tam đồ nguyện. (Lạy)

Đêm ngày đi khắp đó đây để cứu giúp chúng sanh ra khỏi các sự tổn hại, Ngài nguyện cứu vớt chúng sanh ra khỏi ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh.



8. Nam-mô vọng Nam nham cầu lễ bái, Quan Âm Như-Lai, già tỏa giải thoát nguyện. (Lạy)

Nếu ai quay về núi hướng nam mà hết lòng cầu nguyện thì dầu có bị gông cùm xiềng xích cũng được thoát khỏi



9. Nam-mô tạo pháp-thuyền du khổ hải, Quan Âm Như-Lai độ tận chúng sanh nguyện. (Lạy)

Dùng phép tu hành để làm chiếc thuyền, Ngài đi cùng trong biển khổ để độ hết chúng sanh.



10. Nam-mô tiền tràng phan, hậu bảo cái, Quan Âm Như-Lai tiếp dẫn Tây Phương nguyện. (Lạy)

Nếu ai cầu nguyện và tu hành theo Ngài chỉ dẫn, khi rời bỏ xác thân này thì sẽ có phướng dài đi trước, tàng lọng quý giá theo sau, để rước về Tây Phương.



11. Nam-mô Vô Lượng Thọ Phật cảnh giới, Quan Âm Như-Lai Di Đà thọ ký nguyện. (Lạy)

Ở cảnh giới của Đức Vô Lượng Thọ (tức Phật A Di Đà), Ngày đã được cho biết trước là về sau Ngài sẽ thay thế Đức Phật A Di Đà ở ngôi vị đó.



12. Nam-mô đoan nghiêm thân vô tỉ trại, Quan Âm Như-Lai quả tu thập nhị nguyện. (Lạy)

Được thân hình nghiêm trang không ai so sánh được với Ngài, ấy là kết quả của sự tu theo mười hai lời nguyện lớn ấỵ





Nam-mô Đại Từ Đại Bi, cứu khổ, cứu nạn, Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần 3 lạy)




_ Hết_

Gửi bởi: hoaha Jul 13 2011, 09:01 AM

Bài rất lợi ích cho mỗi người chúng ta,

xin kiên nhẩn đọc chậm và đọc hết.



CÁI CHẾT



(Vô Thường)
Đức Dalai Lama 14



Đức Phật đã nói rằng trong tất cả những mùa khác nhau để cày cấy, mùa thu là mùa tốt nhất, trong tất cả những loại nhiên liệu để đốt, thì phân bò là tốt nhất, và trong tất cả những loại tỉnh giác khác nhau, sự tỉnh giác về sự vô thường và cái chết thì hữu hiệu nhất.

Cái chết là điều nhất định, nhưng khi nào nó giáng xuống thì bất định. Nếu chúng ta thực sự đương đầu với sự việc, chúng ta không biết được cái gì sẽ tới trước – ngày mai hay cái chết. Chúng ta không thể hoàn toàn quả quyết rằng người già sẽ chết trước và người trẻ còn ở lại phía sau.

Thái độ thực tế nhất mà ta có thể nuôi dưỡng là hy vọng điều tốt đẹp nhất nhưng chuẩn bị điều tồi tệ nhất. Nếu điều xấu nhất không xảy ra thì mọi sự đều tốt đẹp, nhưng nếu nó xảy ra, nó sẽ không tấn công chúng ta bất ngờ.


Điều này cũng ứng dụng cho sự thực hành Pháp: chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất vì không ai trong chúng ta biết được khi nào mình chết. Mỗi ngày chúng ta biết tin về cái chết trong báo chí hay cái chết của một người bạn, của người nào đó mà ta biết mang máng, hay của một người thân. Đôi khi chúng ta cảm thấy mất mát, đôi lúc chúng ta hầu như vui sướng, nhưng một cách nào đó, chúng ta vẫn còn bám chặt vào ý tưởng rằng điều đó sẽ không xảy ra cho ta.

Chúng ta nghĩ rằng mình được miễn trừ đối với sự vô thường, và vì thế chúng ta trì hỗn sự tu hành tâm linh (nó có thể chuẩn bị cho chúng ta trước cái chết), và cho rằng ta sẽ còn thời gian trong tương lai. Khi thời điểm không thể tránh khỏi xảy tới, điều duy nhất chúng ta phải mang đi là niềm hối tiếc. Chúng ta cần phải đi vào sự thực hành ngay lập tức để dù cái chết có tới sớm thế nào chăng nữa, chúng ta cũng sẽ sẵn sàng.

Khi cái chết đến, không điều gì có thể ngăn cản nó. Dù bạn có loại thân thể nào, dù bạn có thể trơ trơ đối với bệnh tật thế nào chăng nữa, cái chết sẽ chắc chắn giáng xuống. Nếu chúng ta ngẫm nghĩ về cuộc đời của chư Phật và Bồ Tát trong quá khứ thì nay các Ngài chỉ còn là một ký ức. Các Đạo sư Ấn Độ vĩ đại như ngài Nagarjuna (Long Thọ) và Asanga (Vô Trước) đã có những đóng góp to lớn cho Pháp và làm việc vì lợi lạc của chúng sinh, nhưng giờ đây tất cả những gì còn lại của các ngài chỉ là những cái tên. Đối với những nhà cai trị và các nhà lãnh đạo chính trị thì cũng thế.



Tiểu sử của các vị sống động đến nỗi hầu như họ vẫn còn sống. Khi chúng ta đi hành hương Ấn Độ, ta thấy những nơi như Đại Tu viện Nalanda, là nơi các bậc Thầy vĩ đại như Nagarjuna và Asanga đã học tập và dạy dỗ. Ngày nay Nalanda đã đổ nát. Khi nhìn những dấu tích để lại của những nhân vật vĩ đại trong lịch sử, cảnh điêu tàn chỉ cho ta thấy bản chất của sự vô thường.



Như những Phật ngôn cổ xưa nói, dù ta chui xuống lòng đất hay đi vào biển cả hoặc vào không gian, chúng ta sẽ không bao giờ tránh được cái chết. Những người trong chính gia đình chúng ta chẳng sớm thì muộn sẽ chia lìa nhau như đám lá bị gió thổi tung. Trong một hai tháng tới, vài người trong chúng ta sẽ chết, và những người khác sẽ chết trong ít năm.



Trong tám mươi hay chín mươi năm, tất cả chúng ta, kể cả Đạt Lai Lạt Ma sẽ chết. Khi ấy, chỉ có những sự thấu suốt tâm linh của ta là giúp ích được cho ta. Không ai sau khi sinh ra mà càng lúc càng cách xa cái chết. Thay vào đó, mỗi ngày chúng ta tới gần cái chết hơn, giống như súc vật đang bị dẫn tới lò sát sinh. Giống như những người chăn bò đánh đập bò của họ và dẫn chúng về chuồng, chúng ta cũng bị hành hạ bởi những nỗi đau khổ của sinh, lão, bệnh, tử, luôn luôn tiến gần tới lúc kết thúc của đời ta. Mọi sự trong vũ trụ này bị lệ thuộc vào lẽ vô thường và cuối cùng sẽ bị tan rã.



Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ bảy đã nói, những thanh thiếu niên trông rất mạnh mẽ và khỏe khoắn nhưng lại chết trẻ là những vị Thầy thực sự dạy cho chúng ta về sự vô thường. Trong tất cả những người chúng ta biết hay nhìn thấy, sẽ không ai còn sống trong một trăm năm nữa. Cái chết không thể bị đẩy lui bởi các mật chú hay bởi tìm kiếm sự nương tựa ở một nhà lãnh đạo chính trị tài ba. Trải qua những năm tháng cuộc đời, tôi đã gặp gỡ rất nhiều người. Giờ đây họ chỉ còn là những hình bóng trong ký ức tôi.



Ngày nay tôi lại gặp thêm những người mới. Thật giống như xem một vở kịch: sau khi đóng xong vai tuồng của mình, người ta thay đổi xiêm y và lại xuất hiện. Nếu chúng ta tiêu phí cuộc đời ngắn ngủi của mình dưới ảnh hưởng của sự tham luyến và oán ghét, nếu vì lợi ích của những cuộc đời ngắn ngủi đó mà chúng ta tăng trưởng những mê lầm của mình thì mối tai họa chúng ta tạo tác sẽ rất lâu dài, vì nó phá hủy những triển vọng thành tựu hạnh phúc tối hậu của chúng ta. Nếu đôi lúc chúng ta không thành đạt trong những vấn đề thế tục tầm thường, điều đó không quan trọng lắm, nhưng nếu chúng ta lãng phí cơ may quý báu có được nhờ đời người này, thì bản thân chúng ta sẽ bị trầm luân trong thời gian dài.



Tương lai ở trong tay ta – dù chúng ta muốn trải qua sự đau khổ cùng cực do rơi vào những cõi luân hồi phi-nhân, hay ta muốn thành tựu những hình thức cao hơn của sự tái sinh, hoặc ta muốn đạt tới trạng thái giác ngộ. Ngài Shantideva nói rằng trong đời này chúng ta có cơ hội, trách nhiệm, có khả năng lựa chọn và quyết định những đời tương lai của ta sẽ như thế nào.




Chúng ta nên tu hành tâm thức của mình để cuộc đời ta sẽ không bị lãng phí – không lãng phí ngay cả một tháng hay một ngày – và chuẩn bị khi cái chết đến. Nếu chúng ta có thể nuôi dưỡng sự hiểu biết đó thì động lực cho thực hành tâm linh sẽ phát sinh – đó là động lực mạnh mẽ nhất. Geshe Sharawa (1070-1141) nói rằng vị Thầy tốt nhất của ngài là sự thiền định về lẽ vô thường.



Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy trong giáo huấn đầu tiên của ngài rằng nền tảng của sự đau khổ là vô thường. Khi phải đối diện với cái chết, các hành giả lỗi lạc nhất sẽ hoan hỉ, các hành giả trung bình sẽ được chuẩn bị tốt đẹp, và ngay cả các hành giả hạ căn nhất sẽ không có gì để hối tiếc. Khi chúng ta đi tới ngày cuối cùng của đời mình, điều tối quan trọng là đừng có ngay cả một day dứt của sự hối tiếc, hoặc điều tiêu cực mà chúng ta kinh nghiệm khi hấp hối có thể ảnh hưởng tới sự tái sinh kế tiếp của ta.



Phương cách tốt nhất để làm cho cuộc đời có ý nghĩa là sống theo con đường của lòng bi mẫn. Nếu bạn nghĩ tưởng về cái chết và sự vô thường, bạn sẽ bắt đầu làm cho cuộc đời bạn có ý nghĩa. Bạn có thể cho rằng vì sớm muộn gì bạn cũng phải chết thì không cần cố gắng nghĩ về cái chết vào lúc này, bởi nó sẽ chỉ khiến bạn ngã lòng và lo lắng. Nhưng sự tỉnh giác về cái chết và lẽ vô thường có thể có những lợi lạc to lớn. Nếu tâm thức chúng ta bị vướng mắc bởi cảm tưởng rằng mình không bị lệ thuộc vào cái chết, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghiêm túc trong sự thực hành của mình và chẳng bao giờ tiến bộ trên con đường tâm linh.



Sự tin tưởng rằng bạn sẽ không chết là chướng ngại to lớn nhất cho tiến bộ tâm linh của bạn: bạn sẽ không nhớ tới Pháp, bạn sẽ không tuân theo Pháp mặc dù bạn có thể nhớ tới nó, và bạn sẽ không tuân theo Pháp hết lòng dù bạn có thể tuân thủ nó ở một mức độ nào đó. Nếu bạn không thiền định về cái chết thì bạn sẽ chẳng bao giờ thực hành một cách nghiêm cẩn. Chịu bó tay trước sự lười biếng, bạn sẽ thiếu cố gắng và xung lực trong việc thực hành, và bạn sẽ bị sự kiệt sức vây khốn. Bạn sẽ bị trói chặt vào danh vọng, của cải và sự thành đạt. Khi suy nghĩ quá nhiều về cuộc đời này, ta có khuynh hướng làm việc cho những gì mình yêu quý – những thân quyến và bằng hữu của chúng ta – và ta nỗ lực để làm vui lòng họ. Rồi khi có ai làm điều tổn hại cho họ, lập tức chúng ta liệt những người này là kẻ thù của mình.



Trong cách này các mê lầm như sự ham muốn và oán ghét tăng tiến như một dòng sông ngập lụt vào mùa hè. Một cách tự nhiên, những lầm lạc này khiến cho chúng ta mê đắm trong mọi thứ hành động tiêu cực mà hậu quả của chúng sẽ là sự tái sinh trong những hình thức thấp của sự sinh tử trong tương lai. Nhờ sự tích tập công đức nhỏ bé, chúng ta đã có được một đời người quý báu. Bất kỳ công đức nào đang tồn tại cũng sẽ biểu lộ như một vài mức độ thành đạt tương đối trong đời này.




Như vậy vốn liếng ít ỏi mà chúng ta có sẽ bị tiêu đi mất, và nếu ta không tích tập công đức nào mới thì giống như ta tiêu hết tiền để dành mà không có tiền mới gửi vào. Nếu chúng ta chỉ làm cạn kiệt sự tích lũy công đức của mình thì sớm muộn gì chúng ta sẽ bị đắm chìm vào một đời sau còn đau khổ ghê gớm hơn nữa.

Người ta nói rằng nếu không có một sự tỉnh giác đúng đắn về cái chết thì chúng ta sẽ chết trong sự áp chế của sợ hãi và hối tiếc. Mối xúc cảm đó có thể đưa chúng ta đi vào các cõi thấp. Nhiều người tránh đề cập tới cái chết. Họ tránh né nghĩ tới điều tồi tệ nhất, vì vậy khi nó thực sự xảy tới họ bị bất ngờ và hoàn toàn không sẵn sàng. Sự thực hành Phật giáo khuyên chúng ta đừng nên không biết tới các bất hạnh và phải hiểu biết và đối mặt với chúng, chuẩn bị cho chúng ngay từ lúc bắt đầu. Nhờ đó, khi chúng ta thực sự kinh nghiệm nỗi đau khổ thì nó không phải là cái gì hoàn toàn không chịu đựng được.



Chỉ né tránh một vấn đề sẽ không giúp giải quyết nó mà thực ra có thể làm vấn đề tệ hại hơn. Một số người nhận xét rằng thực hành Phật giáo dường như nhấn mạnh tới sự đau khổ và tính chất bi quan. Tôi cho rằng điều này thật sai lầm. Thực hành Phật giáo thực sự cố gắng để chúng ta có được một sự an lạc vĩnh cửu – là điều không thể suy lường nổi đối với một tâm trí bình thường

– và tiệt trừ những đau khổ một lần cho mãi mãi. Các Phật tử không hài lòng với sự thành đạt chỉ duy trong đời này hay triển vọng của sự thành đạt trong những đời sau, mà thay vào đó, họ tìm kiếm một hạnh phúc tối hậu. Vì đau khổ là một thực tại do đó quan điểm căn bản của Phật giáo cho rằng sẽ không giải quyết được vấn đề nếu ta chỉ tránh né nó qua quýt. Điều nên làm là đối mặt với đau khổ, nhìn vào nó và phân tích, khảo sát nó, xác định các nguyên nhân của nó và tìm ra phương cách tốt nhất để có thể đối phó với nó. Những người né tránh nghĩ tới điều bất hạnh thực ra lại bị nó tấn công, họ không được chuẩn bị và sẽ đau khổ hơn những người bản thân họ đã làm quen với những đau khổ, nguồn gốc của chúng và cách chúng phát khởi.



Một hành giả của Pháp nghĩ tưởng mỗi ngày về cái chết, quán chiếu về những nỗi khổ của con người, nỗi khổ của lúc sinh ra, nỗi khổ của sự già đi, nỗi khổ của bệnh tật, và nỗi khổ của sự chết. Mỗi ngày, các hành giả Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng. Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức mỗi ngày một lần. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Nếu bạn phải đi qua một vùng rất nguy hiểm và ghê sợ, bạn nên tìm hiểu về những sự nguy hiểm và cách xử sự với chúng trước đó. Không tiên liệu về chúng là ngu dại. Dù có thích hay không bạn cũng phải đi tới đó, vì thế tốt nhất là chuẩn bị sẵn sàng để biết cách xử sự khi những khó khăn xuất hiện. Nếu bạn có một sự tỉnh thức hoàn hảo về sự chết thì bạn sẽ cảm thấy chắc chắn rằng bạn sắp chết một ngày gần đây. Như vậy nếu khám phá ra rằng mình sắp chết trong ngày hôm nay hay ngày mai, nhờ sự thực hành tâm linh, bạn sẽ nỗ lực tự tháo gỡ mình ra khỏi các đối tượng trói buộc bằng cách vất bỏ những thứ sở hữu và coi mọi sự thành công thế tục như không có bất kỳ bản chất hay ý nghĩa nào.





Lợi lạc của sự tỉnh thức về cái chết là nó làm cho cuộc đời có ý nghĩa và nhờ cảm thấy hoan hỉ khi giờ chết tới gần, bạn sẽ chết không chút hối tiếc. Khi bạn quán chiếu về sự chắc chắn của cái chết nói chung và sự bất định của giờ chết, bạn sẽ làm mọi nỗ lực để tự chuẩn bị cho tương lai. Bạn sẽ nhận ra rằng sự thành đạt và những hoạt động của đời này không có bản chất và không quan trọng. Như vậy, sự làm việc cho lợi lạc lâu dài của bản thân bạn và những người khác sẽ có vẻ quan trọng nhiều hơn nữa, và cuộc đời bạn sẽ được dẫn dắt bởi nhận thức đó. Như Đức Milarepa đã nói, bởi chẳng sớm thì muộn bạn phải bỏ lại mọi sự sau lưng, thì tại sao không từ bỏ nó ngay bây giờ ?



Mặc dù mọi nỗ lực của chúng ta, kể cả việc dùng thuốc men hay việc cử hành những lễ trường thọ, không ai có thể hứa hẹn sẽ sống quá một trăm năm. Có một vài trường hợp ngoại lệ, nhưng sau sáu mươi hay bảy mươi năm nữa, hầu hết những người đọc quyển sách này sẽ không còn sống. Sau một trăm năm, người ta sẽ nghĩ về thời đại chúng ta chỉ như một phần của lịch sử. Khi cái chết đến, điều duy nhất có thể giúp ích là lòng bi mẫn và sự thấu suốt về bản tánh của thực tại mà người ta đã đạt tới. Về lãnh vực này, khảo sát xem có một đời sống sau khi chết hay không là điều hết sức quan trọng.



Những đời quá khứ và tương lai hiện hữu vì những lý lẽ sau đây. Những kiểu suy nghĩ nào đó từ năm ngoái, từ năm trước nữa, và ngay cả từ thời thơ ấu có thể được nhớ lại vào lúc này. Điều này chỉ rõ cho ta thấy là một cái biết đã hiện hữu trước cái biết hiện tại. Khoảnh khắc ý thức đầu tiên trong đời này không được sinh khởi mà không có một nguyên nhân, cũng không được sinh ra từ cái gì thường hằng hay vô tri. Một khoảnh khắc của tâm là cái gì trong sáng và thấu biết. Bởi thế cái có trước nó phải là cái gì đó trong sáng và thấu biết, là khoảnh khắc trước của tâm (tiền niệm). Chỉ có thể tin được rằng khoảnh khắc đầu tiên của tâm trong đời này đến từ không cái gì khác hơn là một đời trước.



Mặc dù thân xác vật lý có thể hành xử như một nguyên nhân thứ yếu của những biến đổi vi tế trong tâm, nhưng nó không thể là nguyên nhân chính yếu. Vật chất không bao giờ chuyển hóa thành tâm thức, và tâm thức không thể chuyển hóa thành vật chất. Vì thế, tâm thức phải đến từ tâm thức. Tâm thức của cuộc đời hiện tại này đến từ tâm thức của đời trước và là nguyên nhân của tâm thức trong đời sau. Khi bạn quán chiếu về sự chết và thường xuyên tỉnh thức về nó, đời bạn sẽ trở nên có ý nghĩa. Nhận ra những bất lợi to lớn của việc bám chấp có tính cách bản năng của chúng ta vào sự thường hằng, ta phải chống trả lại nó và tỉnh thức miên mật trước cái chết để ta sẽ được thúc đẩy thực hành Pháp nghiêm cẩn hơn nữa. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng tầm quan trọng của sự tỉnh thức về cái chết không chỉ hạn chế ở giai đoạn bắt đầu.



Nó quan trọng suốt mọi giai đoạn của con đường; nó quan trọng ở lúc bắt đầu, ở giai đoạn giữa và cả ở giai đoạn cuối. Sự tỉnh thức về cái chết mà chúng ta phải nuôi dưỡng không phải là nỗi sợ hãi thông thường, bất lực về việc phải chia ly với những người thân và tài sản của chúng ta. Đúng đắn hơn, chúng ta phải học sợ hãi rằng ta sẽ chết mà chưa chấm dứt được các nguyên nhân của sự tái sinh trong các cõi thấp của luân hồi và sẽ chết mà không tích tập những nguyên nhân và điều kiện cần thiết cho sự tái sinh thuận lợi trong tương lai. Nếu chúng ta chưa hoàn thành được hai mục đích này, thì vào lúc chết, chúng ta sẽ bị áp chế bởi nỗi sợ hãi và ân hận ghê gớm.



Nếu chúng ta tiêu phí toàn bộ đời mình để miệt mài trong những hành động xấu xa phát sinh từ sự oán ghét và ham muốn, thì chúng ta gây nên tai họa không chỉ nhất thời mà còn dài lâu. Đó là bởi ta tích lũy và tàng trữ một khối lượng khổng lồ những nguyên nhân và điều kiện (duyên) cho sự đọa lạc của chính chúng ta trong những đời sau. Nỗi sợ hãi về điều đó sẽ kích động chúng ta để biến mỗi ngày trong cuộc đời mình thành cái gì có ý nghĩa. Khi đã có sự thức tỉnh về cái chết, chúng ta sẽ thấy được sự thành công và mọi sự của cuộc đời này thì không quan trọng, và sẽ làm việc cho một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là mục đích của sự thiền định về cái chết. Giờ đây, nếu chúng ta sợ hãi cái chết, chúng ta sẽ nỗ lực tìm kiếm một phương pháp chiến thắng nỗi sợ hãi và hối tiếc của mình khi chết.



Còn ngay bây giờ, nếu ta cứ tránh né nỗi sợ chết thì khi chết, chúng ta sẽ bị trói chặt bởi nỗi ân hận. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng khi sự tham thiền của chúng ta về lẽ vô thường trở nên hết sức vững chắc và kiên cố thì mọi sự chúng ta gặp gỡ đều sẽ dạy chúng ta về sự vô thường. Ngài nói rằng tiến trình đi đến cái chết bắt đầu ngay từ khi thụ thai, và khi còn sống, cuộc đời chúng ta thường xuyên bị hành hạ bởi bệnh tật và sự già yếu. Khi còn khoẻ mạnh và tràn đầy sức sống, chúng ta không nên bị lừa phỉnh khi nghĩ rằng mình sẽ không chết.



Chúng ta không nên vui thú trong sự quên lãng khi chúng ta còn khoẻ; cách tốt nhất là chuẩn bị cho số phận tương lai của ta. Ví dụ như người đang rơi từ một dốc đá thật cao sẽ không sung sướng gì trước khi họ chạm đất. Ngay cả khi chúng ta còn sống, có rất ít thời gian cho sự thực hành Pháp. Dù cho chúng ta quả quyết là mình có thể trường thọ, có lẽ một trăm năm, nhưng ta đừng bao giờ nhượng bộ cái cảm tưởng là ta sẽ có thời gian để thực hành Pháp sau này. Chúng ta không nên bị chi phối bởi sự lần lữa, nó là một hình thức của tính lười biếng.





Một nửa đời người bị tiêu mất trong việc ngủ, và phần lớn thời gian còn lại chúng ta bị phóng tâm bởi những hoạt động thế gian. Khi ta già đi, sức mạnh thể chất và tinh thần giảm sút, và mặc dù chúng ta có thể mong muốn thực hành, nhưng đã quá muộn bởi chúng ta sẽ không có năng lực để thực hành Pháp. Đúng như một bản Kinh nói, nửa đời người tiêu phí trong giấc ngủ, mất mười năm khi ta còn nhỏ và hai mươi năm khi ta già, và thời gian ở khoảng giữa thì bị dày vò bởi những lo lắng, buồn phiền, đau khổ và thất vọng, vì thế khó có thời gian nào để cho sự thực hành Pháp. Nếu ta sống một cuộc đời sáu mươi năm và suy nghĩ về tất cả thời gian ta trải qua khi còn bé, tất cả thời gian dùng để ngủ, và thời gian khi ta quá già, thì ta sẽ nhận ra rằng chỉ còn khoảng năm năm để ta có thể hiến mình cho sự thực hành nghiêm cẩn Phật Pháp.





Nếu chúng ta không dùng một nỗ lực cẩn trọng để thực hành Giáo Pháp, mà cứ sống như ta sống đời thường, thì chắc chắn là ta tiêu phí đời mình trong sự lười nhác không mục đích. Gung-thang Rinpoche nói, có phần diễu cợt: “Tôi mất hai mươi năm không nghĩ gì về việc thực hành Pháp, và sau đó mất hai mươi năm nữa để nghĩ về việc sẽ thực hành sau này, và rồi mất mười năm nghĩ về việc đã bỏ lỡ cơ may thực hành Pháp như thế nào.” Khi tôi còn là một đứa trẻ, không có gì đáng nói. Vào khoảng mười bốn hay mười lăm tuổi, tôi bắt đầu quan tâm một cách đứng đắn về Pháp. Rồi người Trung Hoa đến, và tôi mất nhiều năm trong mọi thứ rối loạn chính trị.





Tôi đi Trung Hoa và viếng Thăm Ấn Độ năm 1956. Sau đó tôi trở về Tây Tạng và lại mất thêm một ít thời gian trong chính sự. Điều tốt nhất tôi có thể nhớ lại là cuộc thi tôi lấy bằng Geshe (học vị hàn lâm cao nhất trong các trường Đại học tu viện Tây Tạng), sau đó tôi phải rời bỏ quê hương mình. Giờ đây, tôi đã sống lưu vong hơn ba mươi năm, và mặc dù có được một ít học tập và thực hành, phần lớn đời tôi đã bị lãng phí một cách lười biếng không lợi lạc gì nhiều. Tuy nhiên tôi không đến nỗi phải hối tiếc rằng mình đã không thực hành.



Nếu tôi nghĩ về phương diện thực hành Tantra Du Già Tối thượng thì có những khía cạnh nào đó của con đường tôi không thể thực hành vì những cơ cấu thân thể của tôi bắt đầu suy thoái cùng tuổi tác. Thời gian để thực hành Pháp không đến một cách tự nhiên mà phải được sắp xếp có chủ đích. Nếu bạn phải khởi hành trên một hành trình lâu dài thì ở một lúc nào đó, cần phải làm những sự chuẩn bị. Như tôi thường thích nói, chúng ta nên dùng năm mươi phần trăm thời gian và năng lực cho những mối quan tâm về đời sau của mình, và khoảng năm mươi phần trăm cho những công việc của đời này.



Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết và rất ít nguyên nhân để sống còn. Hơn nữa, những gì chúng ta thường coi là để củng cố đời sống, như thực phẩm và thuốc men, có thể trở thành những nguyên nhân của cái chết. Ngày nay, nhiều bệnh tật được cho là do bởi chế độ ăn uống của chúng ta. Những hóa chất thường giúp tăng trưởng mùa màng và chăn nuôi súc vật đã góp phần làm sức khỏe suy yếu đi và gây nên sự mất quân bình trong thân thể. Thân người quá nhạy cảm, quá tinh tế khiến nếu nó quá mập thì bạn có mọi thứ vấn đề: bạn không thể đi đứng ngay ngắn, bị cao huyết áp, và thể bạn trở thành một gánh nặng.



Trái lại, nếu bạn quá gầy ốm, bạn ít mạnh khỏe hay khả năng chịu đựng, nó dẫn tới mọi thứ phiền não khác. Khi bạn còn trẻ, bạn lo lắng không được kể đến trong số những người lớn, và khi quá già thì bạn có cảm tưởng như bị xua đuổi ra khỏi xã hội. Đây là bản chất sự hiện hữu của chúng ta. Nếu mối họa hại là một thứ gì tác động từ bên ngoài, thì bạn có thể bằng cách này hay cách khác né tránh nó; bạn có thể chui xuống lòng đất hay lặn sâu trong đại dương. Nhưng khi hiểm họa đến từ bên trong thì bạn không thể làm gì hết. Trong khi chúng ta còn tự do đối với sự bệnh hoạn và khó khăn, và ta có một thân thể khỏe mạnh, chúng ta phải lợi dụng điều đó và rút ra được cốt tủy của nó. Rút ra được cốt tủy (bản chất) của cuộc sống là nỗ lực để thành tựu một trạng thái hoàn toàn giải thoát khỏi bệnh tật, cái chết, sự suy sụp và nỗi sợ – đó là, một trạng thái của giải thoát và toàn trí.



Người giàu có nhất trong thế giới không thể mang theo một vật sở hữu duy nhất khi chết. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng nếu chúng ta phải để lại đằng sau thân xác này, là thứ mà ta rất thân thiết, coi như của riêng mình và là cái từng đồng hành với ta từ lúc sinh ra như người bạn già nua nhất, thì làm gì có chuyện không phải bỏ lại những của cải vật chất. Hầu hết mọi người đều mất quá nhiều năng lực và thời gian chỉ để cố gắng có được một ít thành đạt và hạnh phúc trong đời này. Nhưng vào lúc chết, mọi hoạt động thế tục của ta, như sự chăm sóc những người thân và bằng hữu, và sự đua tranh với những đối thủ, đành phải bỏ lại dang dở.

Mặc dù bạn có thể có đủ thực phẩm để dùng trong một trăm năm, lúc chết bạn sẽ phải chịu đói, và mặc dù bạn có thể có quần áo đủ mặc trong một trăm năm, nhưng khi chết bạn sẽ phải trần truồng. Khi cái chết tấn công, không có sự khác biệt giữa cách chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc của mình, và cách chết của một người ăn mày, bỏ lại cây gậy. Bạn nên cố gắng tưởng tượng một tình huống trong đó bạn bị bệnh. Hãy tưởng tượng là bạn bị trọng bệnh và toàn thể sức khỏe thể xác đã ra đi; bạn cảm thấy kiệt sức, và ngay cả thuốc men cũng không giúp được gì. Đến lúc hấp hối bác sĩ sẽ nói bằng hai cách: với người bệnh thì ông nói: “Đừng lo lắng, bạn sẽ khá hơn.



Không có gì phải lo âu; chỉ cần tĩnh dưỡng.” Với gia đình thì ông nói: “Tình huống rất trầm trọng. Quý vị nên sắp xếp để cử hành những nghi lễ cuối cùng.” Vào thời điểm đó bạn sẽ không có cơ hội nào để hoàn tất công việc dở dang hay để hoàn thiện việc nghiên cứu của bạn. Khi nằm đó, thân thể bạn sẽ quá yếu khiến bạn cử động khó khăn. Rồi hơi nóng của thân từ từ phân tán và bạn cảm thấy thân mình trở nên cứng đơ, như một khúc cây rơi trên giường bạn. Bạn sẽ thực sự bắt đầu nhìn thấy tử thi của chính mình.



Những lời sau cùng của bạn nghe thều thào và những người ở xung quanh phải ráng sức mới hiểu bạn nói gì. Thực phẩm cuối cùng bạn ăn không phải là một bữa ăn ngon lành mà là một nắm thuốc mà bạn sẽ không còn sức để nuốt trôi. Bạn sẽ phải rời bỏ những bằng hữu thân thiết nhất, dường như phải mất nhiều kiếp bạn mới gặp lại họ. Cách thở của bạn biến đổi và trở nên ồn hơn. Từ từ nó sẽ trở nên bất thường, hơi thở vào hơi thở ra nhanh hơn, nhanh hơn nữa. Cuối cùng, sẽ có một hơi thở ra rất mạnh sau cùng, và đây sẽ là sự chấm dứt việc hô hấp của bạn. Điều đó đánh dấu sự chết như thường được hiểu như vậy. Sau đó thì tên của bạn, cái tên mà đã một thời đem lại niềm vui cho bằng hữu và gia đình bạn khi họ nghe tới nó, sẽ được thêm vào một từ “cố” ở trước nó.





Điều trọng yếu là vào lúc hấp hối, tâm phải ở trong một trạng thái tốt lành. Nó là cơ may cuối cùng mà chúng ta có, và là một dịp may không nên bị bỏ qua. Mặc dù chúng ta có thể sống một cuộc đời rất xấu xa, nhưng vào lúc hấp hối ta nên làm một nỗ lực vĩ đại để nuôi dưỡng một trạng thái đức hạnh (an bình) trong tâm. Nếu chúng ta có thể phát triển một lòng bi mẫn hết sức mạnh mẽ và tràn đầy năng lực vào lúc chết, thì có hy vọng rằng ở đời sau chúng ta sẽ tái sinh trong một đời sống thuận lợi. Nói chung, sự quen thuộc đóng một vai trò quan trọng trong việc này. Khi bệnh nhân sắp chết thì việc để cho người hấp hối cảm thấy ham muốn hay oán giận là điều bất hạnh.





Ít nhất, nên cho người bệnh ngắm nhìn hình ảnh các vị Phật và Bồ Tát khiến họ có thể nhận ra các Ngài, cố gắng phát triển đức tin mạnh mẽ nơi các Ngài, và chết trong một tâm trạng tốt lành. Nếu điều này không thể làm được thì điều tối quan trọng là những người chăm sóc và thân quyến đừng làm người sắp chết bối rối. Vào lúc ấy, một cảm xúc rất mãnh liệt như sự ham muốn hay oán giận có thể đưa người hấp hối tới một trạng thái đau khổ ghê gớm và hoàn toàn có khả năng đi vào một sự tái sinh ở cõi thấp. Khi cái chết đến gần, những dấu hiệu nào đó điềm chỉ tương lai có thể xuất hiện.



Những người có tâm thức tốt lành sẽ thấy là mình đang đi từ chốn tối tăm ra ánh sáng hay đi vào nơi quang đãng. Họ sẽ cảm thấy sung sướng, nhìn thấy những điều đẹp đẽ, và sẽ không cảm thấy bất kỳ nỗi đau khổ sâu sắc nào khi họ chết. Nếu lúc hấp hối người ta có những cảm xúc hết sức mãnh liệt về sự ham muốn hay oán ghét thì họ sẽ thấy mọi thứ ảo giác và sẽ cảm thấy đau buồn ghê gớm.





Một số người thấy như thể họ đang đi vào bóng tối, những người khác cảm thấy mình đang bị thiêu đốt. Tôi từng gặp vài người đang bệnh rất nặng, họ kể lại rằng khi đau nặng, họ thấy mình đang bị thiêu đốt. Đây là một biểu thị cho số phận trong tương lai của họ. Do những dấu hiệu như thế, người hấp hối sẽ cảm thấy hết sức bối rối, và sẽ kêu la, rên rỉ, thấy như thể toàn thân đang bị lôi kéo xuố
Họ sẽ đau khổ sâu sắc lúc hấp hối. Một cách rốt ráo, những sự kiện này phát xuất từ sự bám chấp vào bản ngã. Người hấp hối biết rằng kẻ mà mọi người rất yêu mến đó sắp chết. Khi những người đã miệt mài phần lớn đời mình trong ác hạnh ấy chết, ta được biết là tiến trình tan hoại hơi ấm của thân thể bắt đầu từ phần thân trên đi xuống trái tim. Đối với những hành giả thiện hạnh thì tiến trình tan biến hơi nóng bắt đầu từ phía dưới, từ bàn chân, và cuối cùng lên tới trái tim. Trong bất kỳ trường hợp nào, tâm thức cũng thực sự khởi hành từ trái tim. Sau khi chết, người ta đi vào trạng thái trung ấm, bardo. Thân thể trong trạng thái trung ấm có vài đặc điểm riêng biệt:

tất cả các giác quan đều đầy đủ, và nó có một hình tướng thể chất giống hệt với hình tướng của hiện thể mà nó sẽ tái sinh. Ví dụ, nếu nó tái sinh làm một con người, nó sẽ có một hình tướng thể chất giống hệt một con người. Nếu nó tái sinh là một súc sinh thì nó sẽ có hình tướng thể chất của súc sinh đặc thù. Thân trung ấm có thị lực mạnh mẽ đến độ có thể nhìn xuyên qua các vật rắn và có khả năng du hành bất kỳ nơi nào mà không bị ngăn ngại. Thân trung ấm chỉ có thể nhìn thấy những thân trung ấm cùng loại. Ví dụ, nếu một thân trung ấm được định là tái sinh làm một con người thì nó chỉ nhìn thấy những thân trung ấm đã được định để tái sinh làm người. Những thân trung ấm của cõi trời đi hướng lên, nhìn hướng lên cao, và các thân trung ấm của cõi người đi thẳng và nhìn thẳng.

Các thân trung ấm của những kẻ đã say đắm trong các ác hành và bị tái sinh vào các cõi thấp thì ta được biết là di chuyển hướng xuống dưới. Thời kỳ ở trạng thái trung ấm này là bảy ngày. Sau một tuần lễ, nếu thân trung ấm gặp được những tình cảnh thích hợp thì nó sẽ tái sinh trong cảnh giới luân hồi tương ứng. Nếu nó không gặp được thì sẽ lại chết một cái chết nhỏ và xuất hiện một lần nữa như một thân trung ấm.


Điều này có thể xuất hiện bảy lần, nhưng sau bốn mươi chín ngày thì nó không thể tồn tại như một hiện thể của trạng thái trung ấm nữa và phải tái sinh dù nó có muốn hay không. Khi đến thời điểm để tái sinh, thân trung ấm nhìn những hiện thể cùng loại với nó bay lượn, và nó sẽ phát triển một ước muốn nhập bọn với họ.

Những chất sinh nở của các cha mẹ tương lai, tinh dịch và trứng, trông khác biệt với nó. Mặc dù cha mẹ có thể không thực sự ngủ với nhau, thân trung ấm sẽ có ảo giác là họ đang làm việc đó và sẽ cảm thấy dính mắc với họ. Nếu thân trung ấm nào có thể sinh làm một bé gái, nó sẽ cảm thấy ghét bỏ người mẹ và bị cuốn hút bởi sự trói buộc, nó sẽ nỗ lực để ngủ với người cha.


Nếu thân trung ấm có thể sinh ra làm một bé trai, nó sẽ thấy ganh ghét người cha mà ràng buộc với người mẹ và cố gắng để ngủ với mẹ. Bị kích động bởi lòng ham muốn như thế, nó đi theo cha mẹ bất kỳ nơi nào. Sau đó, không có phần thân thể nào của cha mẹ xuất hiện ra trước thân trung ấm đó trừ những bộ phận sinh dục, do đó nó cảm thấy thất vọng và giận dữ.

Sự giận dữ đó là điều kiện (duyên) cho cái chết của nó từ trạng thái trung ấm, và nó tái sinh trong tử cung. Khi cha mẹ đang giao hợp và đạt tới khoái cảm cực độ, một hay hai giọt tinh dịch đậm đặc và trứng hòa trộn với nhau như kem trên lớp mặt sữa đun sôi. Vào lúc này, tâm thức của thân trung ấm ngừng dứt và đi vào hỗn hợp ấy.


Điều đó đánh dấu sự nhập thai. Mặc dù cha mẹ có thể không giao hợp, thân trung ấm có ảo tưởng là họ đang làm việc ấy và sẽ đi tới nơi đó. Điều này hàm ý rằng có những trường hợp, mặc dù cha mẹ có thể không giao hợp, tuy nhiên tâm thức vẫn có thể đi vào những yếu tố vật lý. Điều này giải thích cho việc những đứa trẻ sinh ra từ ống nghiệm ngày nay; khi các tinh chất được tập hợp lại từ cha mẹ, được hòa trộn và giữ gìn trong một ống nghiệm thì tâm thức có thể đi vào hợp chất đó mà không cần sự giao hợp thực sự xảy ra.


Ngài Shantideva nói rằng ngay cả các súc vật cũng hoạt động để cảm nghiệm niềm vui thích và tránh né đau khổ trong đời này. Chúng ta phải hướng sự chú tâm của ta về tương lai; nếu không, ta sẽ không khác gì những thú vật. Sự tỉnh thức về cái chết chính là nền tảng của toàn thể con đường. Trừ phi bạn phát triển sự tỉnh thức này, còn không thì tất cả những thực hành khác sẽ bị chướng ngại. Pháp là người hướng đạo dẫn dắt ta đi qua những địa hạt không được biết tới; Pháp là thực phẩm nuôi dưỡng ta trong cuộc hành trình;

Pháp là vị thuyền trưởng sẽ đưa chúng ta tới bến bờ xa lạ của Niết bàn. Vì thế, hãy đem tất cả năng lực của thân, ngữ và tâm bạn vào việc thực hành Pháp. Nói về sự thiền định về cái chết và lẽ vô thường thì rất dễ, nhưng thực hành thật sự thì quả là hết sức khó khăn. Và khi chúng ta thực hành, đôi lúc ta không nhận thấy có sự thay đổi nhiều, đặc biệt nếu ta chỉ so sánh hôm qua và hôm nay.


Đó là một mối nguy hiểm dễ làm ta mất hy vọng và trở nên thiếu can đảm. Trong những tình huống như thế, rất lợi lạc khi ta không so sánh từng ngày hay hàng tuần, mà đúng hơn, cố gắng so sánh tâm trạng hiện thời của ta với tâm trạng của năm năm hay mười năm trước; như vậy ta sẽ thấy rằng đã có một vài thay đổi.


Chúng ta có thể nhận ra một số chuyển biến trong quan điểm, trong nhận thức, trong thân tâm, trong sự hưởng ứng của chúng ta đối với các thực hành này. Chính nó là một suối nguồn nâng đỡ, động viên to lớn; nó thực sự ban cho ta niềm hy vọng, vì nó chỉ cho ta thấy nếu ta nỗ lực thì sẽ có khả năng để tiến bộ hơn nữa. Trở nên ngã lòng và quyết định trì hoãn thực hành của chúng ta tới một thời điểm thuận lợi hơn thì thực sự rất nguy hiểm.


Gửi bởi: hoaha Jul 13 2011, 09:29 AM

HÀNH TRẠNG BỒ-TÁT QUAN THẾ ÂM

(Avalokitesvara)

TT. Thích Phước Sơn


Nói đến Phật giáo, người ta nghĩ ngay đến đạo Từ bi cứu khổ. Mà hình ảnh cứu khổ tiêu biểu tuyệt vời nhất thiết tưởng không ai khác hơn là đức Bồ-tát Quan Thế Âm, hay Mẹ hiền Quan Âm. Vì vị Bồ-tát nầy có đầy đủ phẩm chất của một người mẹ trong tất cả những người mẹ. Hình như trong mọi trái tim của những người con Phật thuần thành - nhất là giới Phật tử bình dân - không ai là không không có hình ảnh đáng tôn kính của vị Bồ-tát giàu lòng bi mẫn nầy. Mỗi khi nói về Ngài, tựa hồ chúng ta ai cũng biết, nhưng có lẽ không ai dám cho là mình đã hiểu biết đầy đủ tất cả. Thế nên, trong bài nầy người viết xin giới thiệu cụ thể đôi nét chân dung của Bồ-tát một lần nữa, để giúp đại chúng quan chiêm.

Trước hết hãy nói về danh hiệu của Bồ-tát. Thông thường các kinh điển kể về 8 danh hiệu của Ngài như sau: 1/. Quan Thế Âm Bồ-tát; 2/. Quán Tự Tại Bồ-tát; 3/. Quan Thế Tự Tại Bồ-tát; 4/. Quan Thế Âm Tự Tại Bồ-tát; 5/. Hiện Âm Thanh Bồ-tát; 6/. Quan Âm(*) Bồ-tát; 7/. Cứu Thế Bồ-tát; 8/. Quan Âm Đại Sĩ.

Trên đây là những danh hiệu phổ biến mà nhiều người thường biết đối với vị Bồ-tát nầy. Thế thì có những kinh điển chủ yếu nào đề cập đến xuất xứ, vị trí và những hoạt dụng của Ngài?

I. Chúng ta thấy đại khái hành trạng của Bồ-tát qua các kinh:

1. Theo kinh Đại A-di-đà thì Ngài là Thị vệ bên trái, còn Bồ-tát Đại Thế Chí là Thị vệ bên phải của đức Phật A-di-đà lo việc cứu độ chúng sinh trong thế giới Ta-bà. Cả 3 vị được gọi chung là Tây phương Tam Thánh (3 vị Thánh ở phương Tây). Và trú xứ chính thức của các Ngài là cõi Tây phương Tịnh độ. Phàm khi chúng sinh gặp tai nạn mà chí thành niệm danh hiệu Quan Âm Bồ-tát, thì lập tức Ngài đến nơi cứu giúp. Do thế mà Ngài được đức hiệu là Quan Thế Âm Bồ-tát (Vị Bồ-tát chuyên lắng nghe âm thanh - cầu cứu - của thế gian).

2. Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn thì Ngài có 33 hóa thân, từ thân Phật, Độc giác… đến thân đồng nam, đồng nữ. Ngài thường vận dụng 14 năng lực vô úy để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi ách nạn, hoặc đáp ứng những yêu cầu chính đáng khi nào chúng sinh thành tâm niệm đến danh hiệu của Ngài.

3. Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm thì pháp môn tu của vị Bồ-tát nầy là Nhĩ Căn Viên Thông, nghĩa là tai Ngài có thể được sử dụng như năm căn khác. Ngài phát tâm tu hành nơi pháp hội của đức Phật Quan Thế Âm, và đức Phật nầy đã thọ ký cho Ngài khi thành Phật sẽ có Phật hiệu giống như mình. Do đó mà Ngài có hiệu là Quan Thế Âm. Đồng thời vị Bồ-tát nầy cũng có 32 ứng thân giống như kinh Pháp Hoa đã mô tả.

Chỗ khác nhau là kinh Pháp Hoa kể đến 33 ứng thân, còn kinh Lăng Nghiêm thì liệt kê 32 ứng thân. Ngoài ra, hai kinh nầy còn giống nhau một điểm nữa là cùng mô tả về 14 đức vô úy của vị Bồ-tát nầy. Số lượng và nội dung của các đức vô úy nầy gần y hệt như sau.

4. Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đà-la-ni thì Ngài đã thành Phật từ đời quá khứ cách nay vô lượng kiếp, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai, nhưng vì nguyện lực Đại bi, muốn làm lợi ích cho chúng sinh nên Ngài hiện thân Bồ-tát để dễ dàng hoàn thành đại nguyện. Thế nên, ngoài danh hiệu Bồ-tát Quan Âm như chúng ta thường nghe, có đôi chỗ còn gọi là Phật Quan Âm là vì vậy.

5. Theo kinh Nhất Thiết Công Đức Trang Nghiêm Vương thì Ngài là Thị vệ của đức Phật Thích-ca.

6. Theo Mật giáo thì Ngài là hóa thân của đức Phật A-di-đà.

7. Theo kinh Hoa Nghiêm thì đạo tràng của Ngài ở núi Bồ Đà Lạc trên biển Nam Hải. Đó là đôi nét sơ lược về hành trạng của Bồ-tát Quan Âm mà các kinh đã đề cập đến. Bây giờ chúng ta sẽ bàn rõ thêm một số vấn đề cụ thể khác.

II. Cuộc đời Ngài qua các phương diện:

1. Về tín ngưỡng Quan Âm


Tín ngưỡng nầy phát xuất từ Ấn Độ, Tây Vực, sau đó nhờ công tác phiên dịch kinh điển mà nó được truyền sang Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam v.v… Bản kinh có đề cập đến Bồ-tát Quan Âm là kinh Pháp Hoa Tam Muội, gồm 6 quyển, do Chi Cương Lương Tiếp dịch vào năm Ngũ phụng thứ 2 (255) triều đại nhà Ngô thời Tam Quốc. Đây là bộ kinh được dịch sớm nhất là loại nầy. Sau đó, Trúc Pháp Hộ dịch Chánh Pháp Hoa Kinh Quan Thế Âm Phổ Môn phẩm vào năm Thái Khang thứ 7 (286). Rồi Cưu-ma-la-thập dịch Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn phẩm vào năm Hoằng Thỉ thứ 8 (406) đời Diêu Tần.

Bắt nguồn từ các kinh được phiên dịch ra chữ Hán kể trên mà sự tín ngưỡng Quan Âm dần dần phát triển mạnh. Tại Tây Tạng, nền tín ngưỡng nầy rất thịnh hành. Lạt-ma giáo cho rằng đức Đạt-lai-lạt-ma được tái sinh nhiều đời chính là hình ảnh hóa thân của Bồ-tát Quan Âm. Ngoài ra, các nước khác tại Châu Á, chịu ảnh hưởng của Phật giáo Bắc truyền thì hình ảnh Bồ-tát Quan Âm tượng trưng cho mẹ hiền cứu khổ, được nhiều người thành kính tin tưởng và rất mực tôn sùng.

2. Về diệu dụng của Quan Âm

Về sức uy thần diệu dụng của vị Bồ-tát nầy theo kinh Pháp Hoa thì thường có 33 hiện thân như sau: 1/. Thân Phật; 2/. Thân Độc Giác; 3/. Thân Duyên Giác; 4/. Thân Thanh Văn; 5/. Thân Phạm Vương; 6/. Thân Đế-Thích; 7/. Thân Tự Tại Thiên; 8/. Thân Đại Tự Tại Thiên; 9/. Thân Thiên Đại Tướng quân; 10/. Thân Tứ Thiên Vương; 11/. Thân Thái tử của Tứ Thiên Vương; 12/. Thân Nhân Vương; 13/. Thân Trưởng giả; 14/. Thân Cư sĩ; 15/. Thân Tể quan; 16/. Thân Bà-la-môn; 17/. Thân Tỷ-kheo; 18/. Thân Tỷ-kheo-ni; 19/. Thân Ưu-bà-tắc; 20/. Thân Ưu-bà-di; 21/. Thân Nữ chúa; 22/. Thân Đồng nam; 23/. Thân Đồng nữ; 24/. Thân trời; 25/. Thân Rồng; 26/. Thân Dược-xoa; 27/. Thân Càn-thát-bà; 28/. Thân A-tu-la; 29/. Thân Khẩn-na-la; 30/. Thân Ma-hầu-la-già; 31/. Thân Người; 32/. Thân Phi nhân; 33/. Thân Thần Cầm Kim Cương.

Đó là những hóa thân của Quan Âm Bồ-tát. Đồng thời Ngài còn có 14 năng lực Vô úy khác nữa phát sinh hiệu dụng khi nào chúng sinh thành tâm niệm danh hiệu của Ngài, mà kinh Pháp Hoa cũng như kinh Lăng Nghiêm đã mô tả như sau: 1/. Chúng sinh khổ não trong 10 phương thành kính niệm danh hiệu Ngài, liền được giải thoát; 2/. Chúng sinh gặp lửa dữ…, lửa không thể thiêu đốt; 3/. Chúng sinh bị nước cuốn trôi…, nước không thể nhận chìm; 4/. Chúng sinh vào xứ ác quỉ…, ác quỉ không thể làm hại; 5/ Chúng sinh gặp đao trượng…, đao trượng liền gãy; 6/ Chúng sinh gặp ác quỉ, ác thần…, thì chúng khôngg trông thấy; 7/. Chúng sinh bị gông cùm, xiềng xích…, thì xiềng xích được tháo ra; 8/. Chúng sinh khi vào đường nguy hiểm…, giặc cướp không thể cướp đoạt; 9/. Chúng sin tham dục…, liền dứt khỏi tham dục; 10/. Chúng sinh nóng giận…, liền dứt hết nóng giận; 11/. Chúng sinh mê ám…, liền dứt hết mê ám; 12/. Chúng sinh muốn cầu con trai…, liền được con trai; 13/. Chúng sinh muốn cầu con gái…, liền được con gái; 14/. Chúng sinh niệm danh hiệu Quan Âm thì được lợi ích bằng niệm tất cả các danh hiệu khác.

Đó là 14 diệu dụng mà đức Bồ-tát nầy dùng để hóa giải ách nạn, ban phát ân huệ cho những chúng sinh nào có lòng thâm tín đối với Ngài.

3. Về hình tượng Quan Âm

Trước hết hãy nói về giới tính của Ngài, thông thường được thể hiện qua 2 hình thức, hoặc là Nam tính, hoặc là Nữ tính.

- Nam tính: Phật giáo Tây Tạng thờ Bồ-tát Quan Âm theo hình thức Nam tính. Đồng thời tương truyền từ đời Đường trở về trước các nước Phật giáo khác tại Châu A cũng tạc tượng Ngài theo hình thức Nam tính.

- Nữ tính: Theo sách Trang Nhạc Ủy Đàm thì từ đời Đường trở về sau, các nước chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Hoa, khi tạc tượng Ngài đều dùng hình thức Nữ tính.

Ngoài ra, 3 chi phần khác là đầu, mắt, và tay của Bồ-tát thông thường được minh họa như sau:

Đầu: Từ một đầu, 3 đầu, 5 đầu, nghìn đầu, cho đến 84.000 đầu.
Mắt: Từ 2 mắt, 3 mắt, cho đến 84.000 mắt.
Tay: Từ 2 tay, 4 tay, cho đến 84.000 tay.

4. Về những ngày kỷ niệm

Như tất cả chúng ta đều biết, đặc biệt vị Bồ-tát nầy hằng năm có đến 3 ngày kỷ niệm, đó là kỷ niệm các ngày sinh nhật, xuất gia và thành đạo:

Ngày sinh nhật: nhằm ngày 19-2 âl.
Ngày xuất gia: nhằm ngày 19-9 âl.
Ngày thành đạo: nhằm ngày 19-6 âl.

5. Về nơi cư trú

Tất nhiên, do sức thần thông diệu dụng và do bản hoài cứu khổ chúng sinh nên vị Bồ-tát nầy luôn luôn có mặt ở khắp mọi nơi mỗi khi có người thành tâm cầu nguyện, nghĩa là có cảm thì có ứng. Nhưng theo lẽ thông thường, chúng ta thấy các kinh ký tải về nơi cư trú của Ngài như sau:

Ở Tây phương Tịnh độ: theo kinh A-di-đà.
Ở núi Bồ-đà-lạc trên biển Nam Hải: theo kinh sớ Hoa Nghiêm sớ
Ở núi Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc: theo kinh Quan Thế Âm Bồ-tát cứu khổ.

III. Quan Âm liên hệ với Chuẩn-đề

Bây giờ xin trình bày về mối quan hệ giữa Bồ-tát Quan Thế Âm và Bồ-tát Chuẩn-đề. Chuẩn-đề là từ phiên âm của chữ phạn Cundi, chữ nầy còn được phiên âm là Chuẩn-chi, Chuẩn-nê, có nghĩa là thanh tịnh; nói cho đủ là Chuẩn-đề Quan Âm, Chuẩn-đề Phật Mẫu, Phật Mẫu Chuẩn-đề hay Thất Cu-chi Phật Mẫu. Như vậy, Chuẩn-đề hay Chuẩn-đề Quan Âm chính là một trong những danh hiệu của Quan Âm Bồ-tát. Theo Thất Cu-chi Phật Mẫu Chuẩn-đề Đà-la-ni kinh thì Thân vị Bồ-tát nầy có màu vàng trắng, ngồi kiết gia trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc, có 18 tay đều đeo vòng xuyến, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: "Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha".

Nếu ai chí thành trì tụng bài chú trên thì sẽ tiêu trừ tai họa, dứt hết bệnh tật, đạt được thông minh…, nhận được một luồng hào quang chiếu đến làm tiêu tan tội chướng, thọ mạng lâu dài, tăng trưởng phước đức: đồng thời được chư Phật, Bồ-tát gia bị, đời đời kiếp kiếp xa lìa ác thú, mau chóng chứng đắc Vô thượng Bồ-đề.(1)

Thiên tông xem vị Bồ-tát nầy chỉ là một danh hiệu khác của đức Quan Âm nên rất tôn sùng.. Còn tông Thai Mật ở Nhật Bản thì xếp Ngài vào địa vị Phật, xem là Phật mẫu. Nhưng tông Đông Mật ở Nhật thì thừa nhận Chuẩn-đề là một trong 6 danh hiệu Quan Âm, thuộc Liên Hoa bộ. Sáu danh hiệu nầy là: 1/. Thiên Thủ Quan Âm; 2/. Thánh Quan Âm; 3/. Mã Đầu Quan Âm; 4/. Thập Nhất Diện Quan Âm; 5/. Chuẩn-đề Quan Âm; 6/. Như Ý Luân Quan Âm.

Theo Chuẩn-đề Đại Minh Đà-la-ni kinh thì vì để hóa độ chúng sinh mà đức Quan Âm ứng hóa thân vào trong lục đạo. Ngài ngự trị ở Biến Tri Viện thuộc Hiện đồ Thai tạng giới Mạn Trà la(2).

Ở đây xin giải thích thêm về từ "Phật Mẫu" mà ở trên đã đề cập.

Phật Mẫu (Buddha-màtri, Budhdha-màtar) bao gồm 4 nghĩa như sau: 1/. Chỉ cho Ma-da phu nhân (Mahà-màyà) thân mẫu của Phật, hoặc chỉ cho Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahà-prajàpatì) di mẫu của đức Thích-ca; 2/. Chỉ cho Bát-nhã-ba-la-mật (pan??-paramita). Vì Bát-nhã (trí tuệ) có thể sinh ra tất cả chư Phật, nên Thiền tông xem Bát-nhã là Phật mẫu (mẹ của chư Phật); 3/. Chỉ cho pháp. Vì chư Phật lấy pháp làm thầy, do pháp mà thành Phật, cho nên gọi pháp là Phật mẫu; 4/. Chỉ cho Phật nhãn tôn. Theo Mật giáo, đây là một trong những hình thức thần cách hóa(3).

* * *
Qua hành trạng của Quan Thế Âm Bồ-tát được trình bày trên đây hình như hơi khó thuyết phục đối với nhãn quang của giới khoa học. Tin hay không tin là quyền của mỗi người. Nhưng nếu để ý một chút, chúng ta sẽ thấy rằng hằng ngày trên thế giới nầy không biết bao nhiêu Thiên tai, chiến nạn xảy ra, và cũng không biết bao nhiêu tấm lòng từ bi nhân ái sẵn sàng nhường cơm xẻ áo hầu xoa dịu phần nào những nỗi đau thương thống khổ của đồng bào, đồng loại. Chứng kiến những cảnh tượng ấy, hiển nhiên chúng ta sẽ không còn ngờ vực gì nữa về diệu dụng từ bi cứu khổ, cứu nạn của đức Bồ-tát Quan Thế Âm đối với thế gian nầy.

Chú Thích:

(*) Quan Âm: Tên Ngài gọi đủ là Quan Thế Âm, nhưng vì người đời Đường ở Trung Quốc kiêng húy chỉ "Thế" nên gọi tắt là Quan Âm. Rồi từ đó trở về sau, nhiều người gọi mãi thành quen, vì thế mà có danh hiệu Quan Âm Bồ Tát.


<b>THẦN CHÚ ĐẠI BI:
Viên Ngọc của Người Cùng Tử.
Tâm Hà Lê Công Đa

Cửa Phật có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn, một người học Phật dù cố gắng hành trì, tu tập trãi qua hằng hà sa số kiếp cũng không dễ gì có thể lãnh hội hết tất cả nội dung phong phú đó huống là chỉ một đời người. Cho nên, tùy theo căn cơ, duyên nghiệp, một khi đã phát tâm đi vào con đường giải thoát, hành giả hoặc nhờ phước duyên được chư Phật, chư Bồ Tát độ trì dẫn dắt, hoặc do minh sư chỉ bảo, mỗi người cần nên tự chọn cho mình một pháp môn để tu tập. Có rất nhiều pháp môn tu học phổ biến trong đại chúng hiện nay như Tịnh Độ, Mật Tông, Thiền Định... Pháp môn tuy có thể khác nhau, nhưng một khi đã tự xem mình là trưởng tử của Như Lai, hạnh nguyện của mỗi hành giả đều giống nhau, đó là noi theo ánh sáng của chư Phật, quyết tâm xé bỏ bức màn vô minh, đạp qua nẽo luân hồi sinh tử để đi vào con đường giải thoát, tiến đến đạo qủa bồ đề, hầu mang lại an vui, phúc lợi không những cho riêng mình mà còn cho toàn thể chúng sanh.

"Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ", đó là tâm nguyện chung của một người mang hạnh nguyện Bồ tát vào đời, dù khoác trên mình chiếc áo tăng sĩ hay hàng tại gia cư sĩ. Nhưng một người dù có thiện tâm, hảo ý đến bao nhiêu mà không có khả năng thực hiện được ý nguyện của mình thì thiện tâm hảo ý cũng trở thành vô ích. Như một người trông thấy kẻ bị nạn sắp chết đuối dưới dòng nước chảy xiết, nhảy xuống định cứu, thế nhưng bản thân mình lại không biết lội, chẳng những đã không cứu được người, vừa thiệt thân mạng mình một cách vô ích, lại còn gây trở ngại thêm cho công tác cứu hộ. Cho nên, muốn độ người trước hết phải độ ta, có nghĩa là phải xét xem ta có đủ khả năng, tư cách để độ người hay không? Muốn thế mỗi người phải luôn tích cực, tinh tấn tu tập không ngừng nghỉ mới có thể từng bước tiến dần đến ánh sáng giác ngộ.

Có thể nói một cách khẳng định rằng, để đạt được cứu cánh giác ngộ không có con đường tu tập nào khác hơn ngoài con đường Thiền định. Chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ cũng đều đã phải trãi qua con đường đó. Chính Đức Thế Tôn đã từng nhấn mạnh đến lợi ích quan trọng của thiền định: "Thiền định là phương tiện duy nhất để thanh tịnh nội tâm, tiêu trừ phiền não." (Samyutta, 16:13 - Tạp A Hàm), và chính Ngài cũng đã trải qua 49 ngày đêm thiền định rốt ráo trước khi chứng đạt được đạo quả bồ đề. Chúng ta, những người học Phật, dĩ nhiên cũng không có một lựa chọn nào khác hơn. Tuy nhiên, một vấn nạn lớn đặt ra cho những người mới tập tểnh bước chân vào cửa Thiền, là làm sao tìm ra cho mình một phương pháp thích ứng để con đường tu chứng của mình mau đạt được kết quả mà không bị lạc lối trong rừng Thiền mênh mông, chẳng những đã không đạt được cứu cánh giác ngộ mà đôi khi lại còn có thể bị rơi vào con đường ma đạo.