IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

8 Pages: V « < 4 5 6 7 8 >  
Reply to this topicStart new topic
> VềPHẬT (Của HOAHẠ)
hoaha
post May 16 2015, 11:44 AM
Gửi vào: #101


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Văn Tế Thập Loại Cô Hồn

Nguyễn Du

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng...
Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh...
Thương thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người
Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên...
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cất gámh non sông
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởngn khi thế khuất vận cùng mà đau!
Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở
Khôn đem mình làm đứa thất phu
Giàu sang càng nặng oán thù
Máu tươi lai láng xương khô rụng rời
Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?
Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy
Phận đã đành trâm gãy bình rơi
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.
Đau đớn nhẽ không hương không khói
Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo một đêm một dài.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay
Kinh luân găm một túi đầy
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.
Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh
Ngàn vàn khôn đổi được mình
Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan khôn nhẻ tìm đường hóa sinh?

Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió mưa sấm sét đùng đùng
Phơi thây trăm họ nên công một người.
Khi thất thế tên rơi đạn lạc
Bãi sa trường thịt nát máu rơi
Mênh mông góc bể chân trời
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?
Trời thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn
Ruột rà khôngkẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dẫu có như không
Sống thời tiền chảy bạc ròng
Thác không đem được một đồng nào đi.
Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý
Dẫn mình vào thành thị lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.
Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng
Anh em thiên hạ, láng giềng người dưng
Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán
Đòn gánh tre chín dạn hai vai
Gặp cơn mưa nắng giữa trời
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm vắt gian nan
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời
Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh
Nắm xương chôn rấp góc thành
Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế xót xa
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người hay đẻ không nuôi
Có người sa sẩy có người khốn thương.
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọn suối chân mây
Hoặc là điếm cỏ bóng cây
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ
Hoặc là nương thần từ Phật tự
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

Sống đã chịu một bề thảm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu trong mấy mươi năm
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi bồng trẻ dắt già
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.
Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng:"Vạn cảnh giai không"
Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có khi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.
Ai đến đây dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ
Phép thiên biến ít thành nhiều
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài!


Được chỉnh sửa bởi hoaha on May 16 2015, 11:51 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 16 2015, 11:44 AM
Gửi vào: #102


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Đạo Phật trong cái nhìn của các nhà khoa học


Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó". [Albert Einstein]

1. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật

Ðức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của Đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến. [Giáo sư Max Miller, Học giả người Ðức]

Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ nơi Đức Phật trong cơn tức giận, chưa từng có một lời thô bạo được thấy trên môi Đức Phật kể cả trong lúc tình cờ. [- Tiến Sĩ S. Radhakrishnan]

Ðiều đáng chú ý nhất nơi Đức Phật là sự kết hợp gần như độc nhất của một đầu óc khoa học trầm tĩnh và thiện cảm sâu xa của lòng từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về Đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại. [ Moni Bagghee, "Ðức Phật Của Chúng Ta"]

Các bạn thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, đơn độc, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải là thần kỳ, tôi cảm thấy có một Người, đó là Ngài. Ngài đã gửi bức thông điệp cho nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài, tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy: là do lòng ích kỷ. Lòng ích kỷ có ba dạng: - Một là tham vọng thỏa mãn cảm giác; - Hai là tham vọng muốn bất tử; - Ba là tham vọng thành công và trần tục. Con người trước khi có thể trở nên thanh tịnh, người đó phải ngưng sống theo giác quan hoặc cho riêng chính mình. Rồi con người đó mới trở thành một bậc đại nhân. Ðức Phật, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, năm trăm năm trước Chúa Christ, đã dạy con người đức tính vị tha. Trong một số chiều hướng Ngài rất gần gũi với chúng ta hơn, và đáp ứng được nhu cầu của chúng ta. Ðức Phật cũng tỏ ra sáng suốt hơn Chúa Christ trong sự quan tâm phục vụ con người và ít mơ hồ đối với vấn đề trường tồn bất tử của kiếp nhân sinh. [- H.G. Wells]

Tôi càng ngày càng cảm thấy đức Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài, Ngài là Ðường lối, là Chân lý và là Lẽ sống. [- Giám mục Milman]

2. Trí tuệ siêu việt của Đức Phật

Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống của mình trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thánh thần nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không xâm nhập trong đời sống của Ngài được. [- Giáo Sư Eliot, "Phật giáo và Ấn Ðộ giáo"]

Ðức Phật không chỉ nhận thức được sự thực tối cao, Ngài còn biểu lộ kiến thức cao cả của Ngài, kiến thức cao hơn tất cả kiến thức của các "Thần linh và Người". Kiến thức của Ngài rất rõ ràng và độc lập không liên can gì đến thần thoại và hoang đường. Tuy nhiên, nơi đây lại còn cho thấy một hình thức vững vàng, tự nó biểu lộ được một cách rõ ràng và hiển nhiên để cho con người có thể theo Ngài. Vì lý do đó, Đức Phật không đòi hỏi phải tin nhưng hứa hẹn kiến thức. [- George Grimm, "Giáo Lý của Đức Phật"]

Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Đức Phật khuyến dụ, khẩn cầu và kêu gọi con người không nên làm hại một sanh mạng, không nên dâng lời cầu nguyện, lời ca tụng, hay hy sinh (sanh mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện trong sự thuyết giảng của Ngài, đấng Vô Thượng Sư có lần hùng hồn tuyên bố là Thần linh, nói cho đúng, cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ. [Giáo Sư Rhys Dadis]

Ðức Phật không giải thoát con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự chính mình giải thoát lấy mình, như chính Ngài đã tự giải thoát lấy Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này đến từ nơi Ngài, nhưng vì lòng xác tín cá nhân, thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình. [- Tiến Sĩ Oldenburg, Một học giả Ðức]

Dường như người thanh niên bất diệt, hiền lành, ngồi khoanh chân trên hoa sen thanh tịnh với bàn tay phải dơ lên như khuyên nhủ như trả lời: "Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy luyện tập trí tuệ và từ bi". [Anatole France]

Sự khác biệt giữa Đức Phật và một người bình thường giống như sự khác biệt giữa một người bình thường và một người mất trí. [- Một Văn Hào]

Nếu chúng ta hỏi, chẳng hạn, có phải vị trí một hạt nhân điện tử lúc nào cũng giữ nguyên không thay đổi, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải vị trí của một hạt nhân điện tử thay đổi theo thời gian, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải hạt nhân đó đang di động, chúng ta phải trả lời "không". Ðức Phật cũng đã giải đáp như vậy khi có người hỏi tình trạng bản ngã của con người sau khi chết; nhưng những câu trả lời như trên không phải là những câu trả lời quen thuộc theo truyền thống khoa học ở thế kỷ 17 và 18. [J.Robert Oppenheimer]

Nếu một vấn đề nào đó cần được đề ra, vấn đề đó phải được giải quyết trong hài hòa và dân chủ theo đường lối dạy bảo của Đức Phật. [- Tổng thống Nehru]

3. Cống hiến của Đức Phật với nhân loại

Trong thế giới giông tố và xung đột, hận thù và bạo lực, thông điệp của Đức Phật sáng chói như vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không bao giờ thông điệp của Ngài lại thiết yếu hơn như trong thời đại của thế giới bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm trăm năm qua đã tăng thêm sanh khí và chân lý của thông điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt này và hãy cố gắng thi triển tư tưởng và hành động của chúng ta trong ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải bình thản đương đầu cả đến với những khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ trong việc khuyến khích nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp). [Tổng thống Nehru]

Trên quả địa cầu này, Ngài đem ý nghĩa những chân lý giá trị trường cửu và thúc đẩy đạo đức tiến bộ không chỉ cho riêng Ấn độ mà cho cả nhân loại. Ðức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại kỳ tài chưa từng thấy có trên hoàn vũ. [Albert Schweizer, một nhà lãnh đạo triết học Tây Phương]

Sự thanh tịnh của tâm linh và lòng thương yêu tất cả sinh vật đã được dạy dỗ bởi Đức Phật. Ngài không nói đến tội lỗi mà chỉ nói đến vô minh và điên cuồng có thể chữa khỏi bởi giác ngộ và lòng thiện cảm. [- Tiến Sĩ Radhakrisnan, "Ðức Phật Cồ Ðàm"]

Ðức Phật không phải là của riêng người Phật tử, Ngài là của toàn thể nhân loại. Giáo lý của Ngài thông dụng cho tất cả mọi người. Tất cả các tôn giáo khai sáng sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều các tư tưởng hay của Ngài. [- Một học giả Hồi Giáo]

Khi chúng ta đọc những bài thuyết giảng của Đức Phật, chúng ta cảm kích bởi tinh thần hợp lý của Ngài. Con đường đạo đức của Ngài ngay trong quan điểm đầu tiên là một quan điểm thuần lý. Ngài cố gắng quét sạch tất cả những màng nhện giăng mắc làm ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân loại. [Tiến Sĩ S.Radhakrisnan, "Ðức Phật Cồ Ðàm"]

Ðức Phật là người cha nhìn thấy đàn con đang vui chơi trong ngọn lửa thế tục nguy hiểm, Ngài dùng mọi phương tiện để cứu các con ra khỏi ngôi nhà lửa và hướng dẫn chúng đến nơi an lạc của Niết bàn. [- Giáo sư Lakshimi Narasu, "Tinh Hoa Của Phật giáo"]

4. Giáo pháp của Đức Phật

Ðọc một chút về Phật giáo là đã biết rằng hai ngàn năm trăm trước đây, người Phật tử đã hiểu rõ xa hơn và đã được thừa nhận về những vấn đề tâm lý hiện đại của chúng ta. Họ đã nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và đã tìm thấy câu trả lời. [- Tiến Sĩ Graham Howe]

Phật giáo chưa bao giờ ép ai theo dù dưới hình thức nào - hoặc ép buộc ý tưởng và niềm tin đối với người không thích, hoặc bằng bất cứ một sự tâng bốc nào, bằng lừa gạt hay ve vãn, hầu đoạt được thắng lợi để gia nhập vào quan điểm riêng tư của mình. Những nhà truyền giáo của đạo Phật không bao giờ thi đua để dành người quy nạp vào Ðạo như nơi chợ búa. [- Tiến sĩ G. P. Malasekara]

Chỉ nói về Phật giáo thôi, ta có thể xác nhận là tôn giáo này thoát khỏi tất cả cuồng tín. Phật giáo nhằm tạo trong mỗi cá nhân một sự chuyển hóa nội tâm bằng cách tự chiến thắng lấy mình. Nhờ đến sức mạnh và tiền bạc hay cả đến sự chinh phục để tác động mọi người vào đạo thì sao? Ðức Phật chỉ rõ một con đường giải thoát duy nhất để cho cá nhân tự quyết định nếu muốn theo tôn giáo này. [- Giáo Sư Lakshmi Nasaru, "Tinh Hoa của Phật giáo"]

Không thể cho rằng Phật giáo bị suy yếu, ngay hiện tại, vì Phật giáo bắt nguồn trên những nguyên tắc cố định chưa bao giờ bị sửa đổi. [- Gertrude Garatt]

Mặc dù người ta có thể được thu hút từ nguyên thủy bởi sự khoáng đạt của tôn giáo này nhưng người ta chỉ có thể tán dương giá trị thực sự của Phật giáo khi người ta phán xét kết quả tạo ra của tôn giáo này thông qua đời sống của chính mình từ ngày này qua ngày khác. [- Tiến Sĩ Edward Conze, Một học Giả Phật giáo Tây Phương]

Phật giáo là một tôn giáo tự giác, ít lễ nghi. Một hành động được thực thi với chính sự suy tư thì tự nó đã điều kiện hóa để không còn là một nghi lễ. Phật giáo nhìn bề ngoài có vẻ nhiều nghi lễ nhưng thực ra không phải như vậy. [- Tiến sĩ W.F.Jayasuriya, "Tâm lý và Triết lý Phật giáo"]

Là Phật tử hay không phải là Phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra không một tôn giáo nào có thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt, Bát chánh đạo và Tứ diệu đế của Đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi theo con đường đó. [Giáo sư Rhys Davids]

Trên những giải đất mênh mông của thế giới, vận mệnh nhân loại vẫn còn tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây phương và cảm hứng bởi tinh thần lịch sử, giáo lý căn bản của Ðức Cồ Ðàm được phục hưng và thuần khiết, có thể chiếm một vị trí phần lớn trong hướng đi của vận mệnh nhân loại. [- H.G.Well]

Lý thuyết của Phật pháp vẫn đứng vững ngày nay không bị ảnh hưởng bởi tiến trình của thời gian và sự tăng trưởng kiến thức, vẫn giữ nguyên như lúc ban đầu bầy tỏ. Dù cho kiến thức khoa học tăng tiến đến thế nào trên chân trời trí óc của con người, trong phạm vi Giáo pháp (Dhamma) cũng vẫn có chỗ để thừa nhận và đồng hóa các khám phá xa hơn nữa. Về phương diện thu hút của lý thuyết nầy không dựa vào các khái niệm giới hạn của các tư tưởng sơ khai, về phương diện khả năng cũng không bị lệ thuộc vào những phủ định của tư tưởng. [- Francis Story, "Phật giáo, Một Tôn Giáo Thế Giới"]

Phật giáo là một phương thức làm sao để đạt được lợi lạc cao nhất từ cuộc sống. Phật giáo là một tôn giáo của trí tuệ mà ở đấy kiến thức và thông minh chiếm ưu thế. Ðức Phật không thuyết giảng để thâu nạp tín đồ mà là để soi sáng người nghe. [- Một Văn Hào Tây Phương"]

"Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học"…. "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó". [Albert Einstein]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post May 26 2015, 02:22 PM
Gửi vào: #103


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Sư Huynh Vô Định


Chuyện kể rằng :
Một hôm, một đệ tử đem đến cho vị thiền sư già , người đã sáng lập viện và dạy dỗ cho nhiều thế hệ thiền sinh một tin buồn như sau: “ Thưa sư phụ, đại sư huynh Vô Định , người môn sinh xuất sắc sẽ kế tục Ngài, đã lặng lẽ bỏ đi vào đêm qua”.

Nghe xong, vị thiền sư già bình thản trở lại với công việc đang làm. Ông chẳng để lộ mảy may xúc động hay buồn phiền .

Người đệ tử lòng chưa hết bang hoàng , liền hỏi :
“ Thưa sư phụ, sư huynh Vô Định là người đệ tử đầu tiên của Ngài. Sư huynh lại đức độ hơn người , có thể gánh vác trọng trách mai này. Nay sư huynh bất thần bỏ đi, sư phụ không thấy mất mát sao ?”

Vị thiền sư già ôn tồn giải thích :
“ Sư huynh của con chỉ dời chỗ ở chứ không bị tiêu diệt, sao gọi là mất mát ? ” .

Người đệ tử vẫn thắc mắc :
“ Nhưng thưa sư phụ, sư huynh ra đi mà không có lý do chính đáng, nếu mọi người biết được , đệ tử e rằng thiên hạ sẽ thị phi đàm tiếu nhiều điều gây tổn hại đến thanh danh của sư phụ , sư phụ nghĩ sao ?”.
“ Thanh danh thì cũng là Hư danh. Người ta sanh ra thanh danh rồi thì người ta cũng có thể đổi nó thành xú danh . Sao con lại quan tâm ?”

Người đệ tử vẫn chưa hết lo âu:
“ Vậy thì sư phụ không lo cho sư huynh sao ? Liệu sư huynh có an lạc khi rời bỏ nơi này chăng ?”

Vị thiền sư ung dung trả lời :
“ Sư huynh của con phải thấy rằng tâm không còn an lạc khi ở đây thì mới ra đi. Ta chẳng hề lo lắng. Nơi nào an lạc ắt đấy là nhà con ạ”.

Người đệ tử vẫn chưa hết ấm ức :
“ Thưa sư phụ, xin cho con hỏi một câu cuối: sư phụ không thấy một chút khó chịu nào hết khi sư huynh của con làm một quyết định quan trọng như thế mà không hề bàn bạc với sư phụ sao?

Vị thiền sư già cười một cách hiền hòa:
“ Con ơi, trên đời này chẳng có gì quan trọng hơn sự an lạc của mỗi chúng sanh. Con nên nhớ rằng, con phải tự đi tìm an lạc cho chính mình. Ta hiểu và thông cảm với sư huynh của con. Con nên nhớ rằng, trong cuộc đời của mỗi con người, có những quyết định mà ta không thể nào bàn bạc với ai khác ngoại trừ với chính cái TÂM của mình .

Bạn thân mến ,
Những lời khuyên nhủ minh triết và sâu sắc của vị thiền sư đối với người đồ đệ như một nhắc nhở cho chúng ta rằng, chúng ta không nên vội lên án hay kết tội một ai khi thấy đời sống của họ không tuân theo những lề luật thông thường của đạo hay của đời. Dù là một tạo vật nhưng Thiên Chúa vẫn ban cho con người một đặc ân rất cao quý đó là quyền tự do, và Ngài thực sự rất tôn trọng quyền tự do đó. Không một quyền lực nào có thể phủ nhận được sự tự do đó, kể cả quyền lực của Satan.

Thanh Ly sưu tầm
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 12 2015, 03:15 AM
Gửi vào: #104


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



ABHIDHAMMA LÀ GÌ?

Minh Đức Triều Tâm Ảnh


Người ta thường nói môn Abhidhamma rất khó học, và lại không thực tế. Rất khó học vì nó phân tích rất chi li, vi tế những vận hành, diễn tiến của tâm. Không thực tế vì nó bàn đến những vấn đề ở ngoài sự hiểu biết bình thường của con người; ở ngoài chuyện áo cơm, tiền bạc, thế sự và thế tình...

Nhận xét ấy không phải là sai. Tuy nhiên, nếu chịu khó nghiên cứu, học hỏi, làm quen một số thuật ngữ để vượt qua những giới hạn ban đầu thì chúng ta sẽ nhìn bộ môn này với đôi mắt khác thế.

Abhidhamma rất lợi ích cho người học Phật, tu Phật. Nhờ sự phân tích chi li ấy mà ta có thể thấy rõ những dấy khởi vi tế của tâm niệm; đồng thời thấy rõ những yếu tố tâm lý cùng sự phát sanh tương quan của chúng. Ở đây, ta sẽ có được cái nhìn nội quán, chiếu soi để thấy rõ mình một cách tận tường hơn. Còn vấn đề thực tế hay không thực tế thường tùy thuộc quan niệm, sự hành trì hoặc sự lập cước của kiến tri. Môn Abhidhamma, theo tôi, nó thực tế, thiết thực nhất trên đời này; vì tâm niệm, tư tưởng là cái đang là, đang vận hành, đang diễn tiến. Nó chính là sự sống, là dòng sống; và nó tạo nên thế gian, thế giới. Ngoài ra, đi sâu vào Abhidhamma, ta sẽ thấy ở đây trình bày, giảng nói về một sự thật khác xa với những sự thật ước lệ của thế gian. Nó là sự thật bất di dịch, không thay đổi dẫu trải qua sự biến thiên của thời gian, không gian, lịch sử, thời đại, và quốc độ. Nó là sự thật, nhưng mà là sự thật ở ngoài quan niệm thế tình, ở ngoài sự hiểu biết thường tục, vượt khỏi giới hạn của ý thức và trí năng quen thuộc của chúng ta.

Abhidhamma thường dịch là vô thượng pháp, thắng pháp, vi diệu pháp. “Abhi” nghĩa là cao thượng, cao cả, thù thắng, vi diệu. Do vậy, Abhidhamma nó cao hơn, lớn hơn, vi diệu hơn Kinh tạng và Luật tạng. Nói như vậy không có nghĩa Kinh, Luật tạng là thấp. Cao hơn, vi diệu hơn, hàm chỉ phương cách trình bày Pháp chứ không phải là nguyên nhân thù thắng đưa đến giác ngộ, giải thoát. Có một số người học Abhidhamma là nhằm để thu góp, tích lũy kiến thức, tăng trưởng bản ngã, rơi vào hý luận, huyền đàm, rơi vào chấp kiến và sở tri thì vẫn là những trình độ thấp thỏi, những đại họa, những căn bệnh trầm kha! Thời Phật tại thế, nhiều vị tỳ-khưu chỉ chấp trì Luật và nghe Kinh vẫn giác ngộ, giải thoát như thường. Thậm chí có nhiều vị chỉ nghe một câu kệ ngôn thôi đã đắc Thánh quả! Họ có cần gì môn học Abhidhamma đâu! Do vậy, Abhidhamma cao cả, thù thắng vì trình bày những pháp tế vi, sâu nhiệm, cần thiết và hữu ích cho những ai có đời sống tu học nghiêm túc, tinh cần thiền định và thiền tuệ, muốn trang bị cho mình những thấy biết chân xác, vi diệu, tinh tế về tâm và về pháp. Nó là thuốc bổ cho người trí nhưng lại là độc dược cho người ngu. Lợi cho Thiền sư chân tu và có hại cho một số Pháp sư huyên thuyên giảng nói mà không chịu thực nghiệm, tu tập.

Là môn tâm lý học của Phật giáo?

Abhidhamma thường được giới nghiên cứu, các nhà học giả xưa nay, đông cũng như tây xem như là môn tâm lý học của Phật giáo. Điều ấy có đúng chăng?

Môn tâm lý học tây phương là một bộ môn khoa học với nỗ lực khảo sát phần tinh thần của con người và giải mã nó bằng ức đoán, suy luận hoặc phương pháp kiểm chứng. Những hoạt động của lý trí, tình cảm, ký ức, vô thức, tiềm thức... đều được các nhà tâm lý đem ra phân tích, tổng hợp, trắc đạc, mổ xẻ, đào xới... rất chi li, thấu đáo. Sự nghiêm túc, tinh minh và phương pháp rất khoa học của các nhà tâm lý đã một phần nào giải thích được miền tâm bí hiểm của con người. Tuy nhiên, một phần không phải là tất cả. Đôi khi do suy luận, ức đoán hoặc kiểm chứng vội vã, nông cạn mà đưa ra những kết luận tưởng như là thực thấy, thực biết! Lại nữa, các nhà tâm lý đã coi tâm như một đối tượng khách quan để khảo sát. Họ tin vào tư duy ngã tính, dựa vào khả năng của người quan sát, tin vào giác quan trao cho thông số nên thường thiếu chính xác. Các ý niệm về chủ thể, khách thể như môn tâm lý học rất xa lạ với Abhidhamma - vốn dựa vào sự thật duyên khởi vô ngã tính.

Thế giới tâm của Abhidhamma, do vậy rất lung linh, ảo diệu, nhưng rất hiện thực (vijjamāna) nó không thể bị quy định, giới hạn trong những ý niệm và phạm trù bất xác. Nói rõ hơn, muốn thấy rõ thế giới tâm của Phật giáo, không thể dùng lý trí khoa học thực nghiệm, các loại trí (ñāṇa) thế gian mà phải có thắng trí (abhiñāṇa), hoặc rốt ráo hơn, phải có trí tuệ (paññā) trực giác chiếu soi. Vả chăng, không bao giờ tâm lý học tây phương biết rõ toàn bộ về tâm Dục giới. Còn tâm Sắc giới, Vô sắc giới, Siêu thế giới lại càng bất khả.

Như vậy, việc so sánh, xem Abhidhamma như môn tâm lý học Tây phương, xem ra có vẻ khiên cưỡng, áp đặt, chỉ tương hợp nơi danh từ hoặc vài trạng thái tâm lý hời hợt, thô tháo ở bên ngoài. Muốn thấy rõ thế giới tâm của Abhidhamma phải tu tập thiền định và thiền quán (samādhi và vipassanā), ấy là điều kiện cần và đủ vậy. Các bộ môn khoa học nỗ lực khảo sát về tâm đều bất khả.

Là môn siêu hình học của Phật giáo?

Môn siêu hình học Tây phương bàn về những lãnh vực siêu hình. Họ bàn về thượng đế, sự tạo thiên lập địa hoặc tìm hiểu các nguyên nhân sinh ra con người và vạn hữu. Họ cố đi tìm một thực thể đầu tiên, ví dụ là nước hay lửa... hoặc một nguyên lý siêu nhiên nào chi phối và điều hành vũ trụ! Như vậy, siêu hình học Tây phương nói về những lãnh vực mơ hồ, vô hình bằng khả năng của lý trí suy luận chứ không có thực kiện minh chứng. Ngay các môn về hình nhi thượng của đạo học Đông phương cũng hoàn toàn do con người đẻ ra, suy luận nên, và chúng đều là thế giới trừu tượng bất khả giác.

Abhidhamma không phải thế. Abhidhamma không bàn những vấn đề như siêu hình học Tây phương hoặc như hình nhi thượng của Đông phương.

Nếu hiểu siêu hình là bàn những vấn đề ở ngoài sự hiểu biết của con người; ngoài, trên kiến thức và trí năng thường nghiệm của con người thì tạm thời chấp nhận môn Abhidhamma là như thế. Tuy nhiên, khi Abhidhamma nói về những vấn đề vượt thế giới lý niệm của con người, không phải nói chỉ để mà nói, nói để chứng tỏ sự cao siêu, huyền bí... mà nói là để mà tu tập. Thế giới vượt thoát, ở ngoài lý niệm của Abhidhamma, con người có thể chứng nghiệm, thấy rõ ngay tại đây và bây giờ; tức vẫn là thế giới của khả chứng, khả giác và khả nghiệm. Sắc giới tâm, vô sắc giới tâm, siêu thế giới tâm là những tâm ở thế giới cao và xa – ngoài sự hiểu biết của con người – nhưng ai cũng có thể tu tập, thiền định và thiền quán để thực nghiệm nó ra sao. Chính do mặc cảm tự ti, sợ rằng Phật giáo không có bộ môn siêu hình học cao siêu như Tây phương mà các nhà học Phật đã làm một sự so sánh rất ngây thơ, đáng phàn nàn vậy.

Là môn đạo đức và luân lý của Phật giáo?

Ai cũng hiểu rằng, đạo đức và luân lý thế gian thường tùy thuộc tín ngưỡng, truyền thống văn hóa, tập quán, phong tục trải qua từng thời đại. Lại nữa, đạo đức, luân lý quốc độ này khác quốc độ kia, thời này không giống với thời nọ. Bộ môn đạo đức học và luân lý học cũng cố gắng tìm ra một tiêu chuẩn phổ quát, một thước đo chung cho con người. Cũng có một số giá trị tinh thần được tìm thấy, được đem vào nhà trường để giảng dạy, mang đến một số lợi ích nhất định cho thế hệ nào đó trong tương giao cộng đồng xã hội và con người. Tuy nhiên, bao giờ, các môn học này cũng không thể hoàn bị nhân cách con người, hoàn thiện trọn vẹn các giá trị nhân văn và mỹ học vì nó tùy thuộc tôn giáo, tín ngưỡng hoặc các thể chế chính trị. Bao giờ nó cũng cục bộ và phiến diện.

Đạo Phật trong Abhidhamma không nói đến đạo đức và luân lý. Nghĩa là không nói anh phải sống như thế này mới trở thành người tốt, sống như kia là xấu; không nói anh phải có bổn phận với dòng họ, gia đình, làng xóm; phải cần có nghĩa vụ này, nghĩa vụ nọ. Abhidhamma có nói đến thiện, ác nhưng không nói hành động như thế này là thiện, như thế kia là ác. Thiện, ác trong Abhidhamma không tùy thuộc xã hội mà tùy thuộc nơi con người. Tùy thuộc nơi con người nhưng không lấy con người làm tiêu chuẩn, làm thước đo, làm giá trị phổ quát. Vả chăng, con người vẫn hàm tàng một hầm thói hư, tật xấu và cũng có cả kho báu đức hạnh. Vậy, rõ ràng, tiêu chuẩn và giá trị ấy ở nơi tâm. Tâm nào khiến con người nhiễm nặng tham sân si, rời xa mục đích giác ngộ giải thoát; tâm ấy được gọi là bất thiện. Tâm nào khiến con người giảm nhẹ tham sân si, tiến gần đến mục đích giác ngộ, giải thoát; tâm ấy được gọi là thiện. Như vậy, rõ ràng, Abhidhamma khác xa đạo đức và luân lý thế gian.

Là luận tạng của Phật giáo?

Cần phải minh định rằng, những vấn đề được Đức Phật đề cập trong Abhidhamma là do sự thấy biết như thực của ngài, do sự sáng suốt giác ngộ của ngài. Chúng không phải được nói ra do lý luận, luận bàn, suy luận, luận giải, luận kiến, luận thức, luận tri...

Những kiến giải của chư tổ đại thừa thường y cứ từ kinh văn nguyên thủy, có tính cách triển khai tư tưởng, giảng rộng thêm những điểm quá cô đọng, hoặc quá giản đơn, quả thật là công đức lớn của quý ngài. Lại nữa, cũng nhờ những kiến giải sâu rộng của chư tổ, có khế lý, khế cơ mà Đạo Phật phát triển qua nhiều thời đại, nhiều quốc độ có văn hóa và tín ngưỡng đa dạng, bất đồng. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, do quyền biến phương tiện cho phù hợp với lý cơ, chư tổ khó tránh khỏi những kiến giải do sự thấy biết riêng tư hoặc do suy luận. Vì lý do đó, các luận của các tông phái phát triển đi sau không còn được gọi là như thị thuyết, như thực thuyết; mà được gọi là luận thì hoàn toàn chính xác. Ví dụ: “Duy thức luận” của Vô Trước - Thế Thân, “Đại thừa khởi tín luận” của Mã Minh, “Trung quán luận” của Long Thọ...

Abhidhamma không phải là những luận ấy, chỉ nên gọi là tạng Abhidhamma, vì nó là như thị thuyết, như thực thuyết.

Abhidhamma có phải do Phật thuyết không?

Có nhiều học giả, nhà nghiên cứu nghi ngờ là Abhidhamma không phải do Phật thuyết mà do các vị sư uyên bác về sau soạn thảo. Nhưng theo truyền thống Theravāda, Abhidhamma là do Đức Phật thuyết giảng tại cung trời Đao Lợi vào hạ thứ 7 để đáp đền ân cù lao huyết nhũ đến mẹ là bà Mahāmāyā; sau đó, Đức Phật thuyết tóm tắt tinh yếu cho Tôn giả Sāriputta (Xá-Lợi-Phất) nghe rồi Tôn giả giảng nói rộng rãi đến Tăng chúng.

Cũng có thuyết trung dung, cho rằng, những cơ bản của Abhidhamma có từ thời Phật, do Phật thuyết; nhưng hình thành nền văn học Abhidhamma là do chư Tăng bác học lập bút, sớm nhất là từ kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ ba, vào khoảng 218 năm sau Phật Nhập Diệt. Cụ thể là bộ Kāthāvatthu (Dị bộ luận) những điểm tranh luận giữa các bộ phái do ngài Moggallānaputta biên soạn.

Dù do tương truyền hoặc do sử liệu của các bộ phái có sự dị biệt, giá trị của Abhidhamma không vì vậy mà giảm sút; trái lại, càng tôn tầm mức quan trọng của Abhidhamma trong đời sống học Phật và tu Phật của nhiều thời đại. Các tông phái đều phải lấy Abhidhamma làm cơ sở để viết các bộ luận đi sau; ví dụ: Thành duy thức và A-tỳ-đàm-câu-xá (Abhidhammakosa)...

Cuối cùng, điểm đáng nói là văn học Abhidhamma rất chuyên biệt và đặc thù. Những thuật ngữ Đức Phật dùng ở đây rất khác so với Kinh tạng và Luật tạng. Trong Kinh, Luật tạng, Đức Phật thường dùng những danh từ tục đế, thường ngữ như người, loài vật, hữu tình, tự ngã, đàn ông, đàn bà... Nhưng trong Abhidhamma, mọi pháp được chia chẻ tỉ mỉ, tinh tế hơn; và những danh từ thuộc pháp ngữ, chân đế như uẩn, xứ, giới... lại được sử dụng.

Tóm lại, để kết luận, Abhidhamma là môn học về Tâm, cũng khảo sát những diễn tiến, vận hành của tâm lý mà không phải là tâm lý học. Nói về những vấn đề cao siêu vượt thế giới hữu hình, lý trí thường nghiệm của con người mà không phải siêu hình học. Nói về những trạng thái tâm thiện, tâm bất thiện, là tốt, là xấu mà không phải môn đạo đức, luân lý học. Giảng nói những vấn đề tương tự các luận của chư tổ mà không phải là luận...

Nói về Tâm nhưng không luận giảng một cách mơ hồ, trừu tượng. Vì do trí tuệ thấy như thực, biết như thực nên đức Phật đã nói về những sát-na tâm rất cụ thể và cặn kẽ. Chính những sát-na tâm ấy sinh diệt quá nhanh để cho chúng ta mang ảo giác về ngã, linh hồn, tự ngã. Sát-na tâm này máy móc, khách quan; sát-na tâm kia do Tư (cetanā) điều động nên tạo nghiệp... Học Abhidhamma, chúng ta sẽ thấy rõ chúng ta không có tâm mà chỉ có sát-na tâm. Nhưng sát-na tâm ấy cũng không thực tính, không có ngã tính vì nó vừa sinh lại vừa diệt trong thời gian 1/17 triệu giây! Rồi, 1/17 triệu giây ấy kết nối miên tục mà tạo nên các yếu tố tâm lý. Nếu các yếu tố tâm lý này được kết hợp bởi các tâm sở tốt lành thì ta sẽ trở nên con người tốt lành; được kết hợp bởi các tâm sở xấu ác thì ta sẽ trở nên con người xấu ác... Các tầng trời Sắc giới, Vô sắc giới, các tầng Thánh quả đều y như thế. Nó chính xác và hợp lý như sự phân tích của khoa học.

Người tu thiền định và thiền quán mà không học Abhidhamma, quả thật, như đi đêm mà không có đèn, ngoại trừ có thiền sư đích thực chỉ lối soi đường.

Minh Đức Triều Tâm Ảnh
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 5 2015, 12:45 PM
Gửi vào: #105


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




28 Cõi Trời, 5 Cõi Khổ và 1 Cõi Niết Bàn

Biên soạn và sưu tầm: Lê Nguyễn Quỳnh



Có nhiều luận thuyết, cách phân chia về các hiện hữu của vũ trụ hữu hình, vô hình.

Có thuyết chia thành 9 tầng tương ứng với 9 thừa,

Có thuyết chia thành 7 tầng ứng với 7 Luân Xa,

Có thuyết chia thành 13 tầng. (Về con số 13 thì trên tờ 1 đô la của Mỹ có rất nhiều biểu tượng có con số 13 này, có trường phái quan niệm con số 13 là siêu vượt lên mọi khái niệm âm dương của 12 con giáp, 12 nhân duyên, 12 tháng… Bên cạnh đó, trong Phật pháp có nhiều luận điểm về con số 13 – tương ứng với sau 49 ngày thành đạo của Đức Phật vì tổng 49 là 13; một luận điểm khác là cảnh giới A Tu La – cảnh giới Bán thần có trên dưới 120 bậc, được chia thành 13 tầng để gọi Chư Thần Giáng Nhập. Bậc 13 là A Tu La Vương – Vua Cõi A Tu La, thường do các Đại Bồ Tát thị hiện giáo hóa),

Có thuyết chia thành 5 tầng thế giới,

Có thuyết chia thành 3 Cõi lớn là: Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới v.v…

Ở đây trình bày 1 cách phân chia thế giới vũ trụ vô hình, hữu hình gồm có 3 cõi lớn là: Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới.

Trong 3 Cõi Lớn này lại chia thành 5 thế giới lớn. Các cảnh giới này biến hiện ra là do tâm thức, nghiệp lực của mỗi đối tượng trong sự đa dạng, phong phú vô cùng của Tâm.

Thế giới thứ 1: Gọi tắt là A Tu La thực chất gồm 5 cảnh: Người (thế giới hữu hình vật chất mà chúng ta vẫn nhìn thấy), Atula (thế giới vô hình, đặc điểm là thiện ác lẫn lộn, phước lớn như cõi Trời nhưng lòng đố kỵ, thù hận vẫn còn, chỗ thấp thì tin tà giáo làm hại người khác, ích kỉ, chấp trước, giận dữ, dở dở ương ương, lúc tốt thì rất tốt, lúc xấu thì rất xấu, quan điểm, chính kiến chưa rõ ràng), Súc sinh thú vật (đặc điểm mê mờ, không lí trí), Ngạ quỷ (đặc điểm tham lam, thèm khát), Địa Ngục (đặc điểm ác độc, thâm hiểm).

Thế giới thứ 2: Còn lòng Dục nhưng không còn ác tâm, ác việc nữa, là thế giới thuần thiện. Gồm 6 cõi Trời: Tứ Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên (trong Đao Lợi gồm 33 nước trời nhỏ, vua cõi này là Indra Đế Thích hay dân gian gọi là Ngọc Hoàng), Dạ Ma Thiên hay Tu Diệm Ma Thiên, Đâu Xuất Đà Thiên (cõi này do Bồ tát Di Lặc làm chủ), Hóa Lạc Thiên và Tha Hóa Tự Tại Thiên (cõi này do Thiên Ma làm chủ – thực chất là bậc Bồ Tát Thất Địa – Viễn Hành Địa thị hiện để thử thách, giáo hóa (Địa thứ 7 trong 10 Địa (thập địa) cuối cùng trước khi bước lên Đẳng Giác, Diệu Giác – Quả vị Phật Vô Thượng Bồ Đề. Để tới Phật quả Vô Thượng Bồ Đề phải trải qua 55 bậc Bồ tát: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh và Thập Địa. Quả vị Phật tiểu thừa như Bích Chi Phật hay A la hán thì không theo trình tự 55 bậc này).

(Thế giới 1 và 2 trong tu tập có đặc điểm là còn lòng Dục, ham muốn thô nên gọi chung là cõi Dục Giới. Riêng 6 cõi Trời thì giữ được 10 điều thiện trong đời được sinh lên là: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêm bớt, không nói hai chiều, không nói lời ác, không tham lam, không giận dữ, không si mê. Các cõi này đều chưa thiền định).

Thế giới thứ 3: Còn hình sắc nhưng hoàn toàn không còn lòng dục. Vì không còn ác tâm và không còn lòng dục nên được gọi là cõi Phạm hạnh. Người tu giữ trọn vẹn Ngũ giới: Không sát sinh, Không trộm cắp, Không tà dâm, Không Nói Dối, Không Say Nghiện và thực hành Thiền định mới lên được cõi này. Gồm 18 cõi Trời Sắc Giới, ứng với 4 cấp độ của Thiền. Đó là các cõi Trời:

– Sơ Thiền: Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên,

– Nhị Thiền: Đại Phạm Thiên (Brahma), Thiểu Quang Thiên (Vishnu), Vô Lượng Quang Thiên (Shankar), Quang Âm Thiên (Cõi này là quê hương của loài người – một không gian tĩnh lặng ngập tràn ánh sáng làm thể viên mãn – vua Trời là Đại Tự Tại Thiên (Shiva)

– Tam Thiền: Thiểu Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên,

– Tứ Thiền: Phước Sinh Thiên, Phước Ái Thiên, Quảng Quả Thiên cộng với 5 cõi được gọi là Ngũ Tịnh Cư là: Vô Phiền Thiên, Vô Nhiệt Thiên, Thiện Kiến Thiên, Thiện Hiện Thiên, Sắc Cứu Cánh Thiên,

Thế giới thứ 4: gọi là Cõi Vô Sắc Giới gồm 4 cõi Trời không hình tướng, không còn cảnh và thức tâm trong thiền. Cái Không ở đây không phải là vô tri vô giác như gỗ đá theo cách hiểu thông thường. Không tưởng mà vẫn sáng suốt như tấm gương lớn, thấu tỏ mọi điều. Cõi này ứng với các cấp Thiền:

– Ngũ Thiền: Không Vô Biên Xứ Thiên,

– Lục Thiền: Thức Vô Biên Xứ Thiên,

– Thất Thiền: Vô Sở Hữu Xứ Thiên,

– Bát Thiền: Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên,

Thế giới thứ 5: Vượt thoát Tam Giới – gồm các cõi Phật Thanh Tịnh, Trang Nghiêm thù thắng vi diệu, nhiều tài liệu mô tả cảnh giới này là thừa thứ 9 hay Cửu Thiền. (Thiền không chỉ có nghĩa là ngồi Thiền mà chỉ trạng thái Thiền).

Vậy, cách phân chia này chia thế giới vũ trụ quan hữu hình và vô hình tổng cộng gồm 33 cõi là: 5 cõi Khổ và 28 cõi Trời.

Siêu vượt lên khỏi 33 cõi này là Cõi Niết Bàn Linh Thánh (Nirvana) là con đường Đức Phật và Chư Phật 10 phương đi qua. Và từ lòng Từ Bi các Ngài xoay chuyển bánh xe Chính Pháp chỉ dẫn con đường này cho những ai muốn vĩnh viễn thoát khỏi khổ đau và sự ràng buộc của Sinh Tử Luân Hồi! Cõi siêu vượt này gọi là Cõi cho dễ hình dung nhưng thực chất vượt lên khỏi mọi khái niệm, hình tướng, định nghĩa!

Con đường tìm về chính mình là nhớ ra và trở về với cái tôi thật của mình là: Chân Tâm, Phật Tính, Chân Ngã – Nguồn Tính Không chiếu diệu trong suốt khắp 10 phương, lúc này là chúng ta làm chủ được Sinh Tử Luân Hồi và đắc quả Phật tiểu thừa là A La hán hoặc Bích Chi Phật!

Khi tìm được chính mình rồi, trí huệ phát hiện ra Chân Tâm, Phật Tính, Chân Ngã ngoài tính Không chiếu diệu còn có 1 tính chất nữa là Niết Bàn Diệu Tâm, tức là Không nhưng lại sáng tỏ hết mọi điều và từ đó sáng tạo nên mọi diệu dụng muốn sinh khởi. Điều này chính là câu nói thuộc vào trí tuệ Bát nhã, một trong những giáo lý khó nhất để hiểu, để ngộ và quan trọng là để chứng của Phật pháp là: Có là Không, Không cũng là Có (Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc) thì hành giả có ý nguyện phát Bồ Đề Tâm giúp đỡ những chúng sinh khác đạt được Niết Bàn Giải Thoát thì từ Chân Tâm, Phật Tính, Chân Ngã này phát sinh các diệu dụng vi diệu để trở lại 3 cõi hóa độ chúng sinh, làm tròn Phật Quả Vô Thượng Bồ Đề!

Hành trình chỉ có vậy, nói dễ nhưng làm mới nên chuyện!

Chúc hành trình của bạn tràn đầy ân phước và may mắn!

P/s: Tu tập thường có khái niệm không phân biệt. Đã không phân biệt sao còn có phân chia thì ở đây phải gẫy gọn, rõ ràng.

Không phân biệt hàm ý chỉ vào bên trong mỗi người đều bình đẳng, gần thì ”Máu ai cũng đỏ, Nước mắt ai cũng mặn”, ai cũng có Khổ Đau, Sung Sướng, Mơ Ước Hi Vọng, Mưu Cầu Hạnh Phúc, Mưu Cầu Sống như nhau mà 1 nhà tâm lý đã nói: Những cái gì riêng tư nhất lại là cái chung nhất!

Sâu xa của sự không phân biệt là ai ai cũng đều có Chân Tâm, Phật Tính, Chân Ngã bình đẳng chiếu diệu ở lớp bên trong của cái bên ngoài như thể xác, danh tính v.v…

Vậy bên trong sâu xa thì giống nhau, nhưng bên ngoài thì vẫn có khác trong nhận thức của cao thấp, xấu đẹp, sáng tối v.v… (Dẫu sai khác này là ảo ảnh, huyễn hóa của nhận thức, của tâm vọng tưởng và nghiệp thức nghiệp quả). Những người chấp Không quá (không phân biệt, cái gì cũng cho là như nhau…) thì thường gặp các trở ngại trong cuộc sống đời thường, sống với tập thể hay có mâu thuẫn; những người chấp Có quá thì thường cản trở và dễ gặp chướng ngại trên đường Đạo, cụ thể là các phiền não chướng, sở tri chướng làm cản trở cái nhìn chân thật về Chân tâm, Phật tính.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 28 2015, 01:36 AM
Gửi vào: #106


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Năm mức định

Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.

Bài hay đoạn này cần người am hiểu về chủ đề của nó biên tập lại.
Bạn có thể giúp chỉnh sửa bài hoặc nhờ một ai đó. Xem trang thảo luận để biết thêm chi tiết.

Bài viết này không được chú giải bất kỳ nguồn tham khảo nào. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ.
Ngoài bốn mức thiền và bốn thánh quả, ta còn nghe Phật nói về năm mức Định.

Tứ thiền thuộc về cõi sắc giới (có danh và sắc). Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thuộc về cõi vô sắc giới (chỉ có danh không có sắc). Phật giáo không khuyến khích các phật tử vào cõi vô sắc sau khi tịch, vì cõi này khó phát triển tu tập giải thoát trừ khi đó là bậc có biệt tài về thiền định.

Còn để thành tựu những tính chất của Định, hành giả phải buông tâm không trú vào đâu cả, và như thế, tâm dễ mở rộng thênh thang. Tu theo Thiền dễ nhiếp tâm hơn thu theo Định.

Mục lục
1 Không vô biên xứ định
2 Thức vô biên xứ định
3 Vô sỡ hữu xứ định
4 Phi tưởng phi phi tưởng định
5 Diệt tận định hay Diệt thọ tưởng định
6 Tham khảo
Không vô biên xứ định
Là tương đương với Sơ thiền, hành giả thấy tâm như là hư không trống rỗng thênh thang.

Thức vô biên xứ định
Là tương đương với Nhị thiền, hành giả thấy trong cái thênh thang trống rỗng đó đều có cái biết. Cả cây đá cũng có cái biết.

Vô sỡ hữu xứ định
Là tương đương với phần đầu của Tam thiền, hành giả thấy cả đất trời vũ trụ này không có gì hiện hữu cả.

Phi tưởng phi phi tưởng định
lúc này thân của mình như là cái bóng của hư không, hư không thì có nhựt nguyệt tinh tú,nên có sáng và tối, còn cái bóng của hư không, chỉ thiền định mới cảm nhận được, dù có trăm ngàn đệ nhất thần thông, để bay ra hư không tìm kiếm cái bóng của hư không chỉ phí sức, mà nó chỉ ngay trong một sát na này, sự thanh tịnh tức là cái bóng của hư không. nhưng nó vẫn còn ở trong thân tứ đại, bước tiếp theo là lìa luôn cả cái biết. [thích minh tỏa] hóa an

Diệt tận định hay Diệt thọ tưởng định
Là tương đương với Tứ thiền. Một vị thánh nhập vào định này tức là đang an trú vào cảnh giới của Niết bàn dù chưa bỏ thân. Đây cũng là bản thể của vũ trụ pháp giới. Chỉ ai chứng A-la-hán mới nhập được định này.

'Phi tưởng phi phi tưởng' là gì?


Từ điển Phật học Hán - Việt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Kim Cương Tử chủ biên (NXB Khoa học xã hội, 2002) giảng: “Cách gọi cũ là Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Cõi vô sắc thứ 4, là tầng cao hơn hết trong tam giới, do đó mà cũng gọi là Hữu đỉnh thiên. Phi tưởng phi phi tưởng là do đi vào thiền định của tầng trời này, cục kỳ tĩnh diệu, không như thô tưởng ở tầng dưới, nên gọi là phi phi tưởng”.

Mục “Chín cõi” của trang phathoc.net viết:

“Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa: Trên cùng của Vô-sắc giới là cõi trời Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ; nơi đó, chúng sinh an trú trong cảnh giới thiền định cao tột của ba cõi, không còn niệm phân biệt có tư tưởng hay không có tư tưởng, không thiên có, không thiên không, hoàn toàn bình đẳng, an tịnh, cho nên gọi là “Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ địa”.

Chương 11 (Đạt được tri kiến) của trang Đạo Phật ngày nay viết về “Phi tưởng phi phi tưởng”:

“Tầng thiền thứ bảy dẫn đến tầng thứ tám là tầng tương ứng với tứ thiền. Trong tứ thiền tâm được thư giãn, trong khi người quán sát vẫn còn hoạt động ở phía sau, nhưng ở tầng thứ tám, tâm không còn tỉnh thức và nhận biết như thế, thay vào đó nó trụ nơi bản thân. Cảm giác này thật khó giải thích. Nó bỏ lại đằng sau bốn uẩn thuộc về tâm (trong ngũ uẩn - khandhas). Tầng thứ tám cũng được gọi là phi tưởng phi phi tưởng. Tưởng là chi thứ ba sau sắc, thọ và là người quán sát của chúng ta. Trong tầng thứ tám này, người quán sát trở nên lu mờ đến nỗi nó không thể nói gì về chứng nghiệm này. Tuy nhiên, tâm trú ngụ trong sự an bình tuyệt đối và tiếp nhận một nguồn năng lượng khổng lồ. Nó cho chúng ta thấy đã có biết bao đau khổ trong tư tưởng và sự quán sát, ngay chính như khi ta nghĩ đến những điều tốt đẹp nhất. Kết quả của tầng thiền thứ tám là chúng ta nhận thức được rằng tâm hoạt động không ngừng đem lại đau khổ. Nếu thân phải làm việc cực nhọc như là chúng ta luôn đòi hỏi nơi tâm thì nó không thể chịu đựng nổi. Chỉ có người thực hành thiền quán mới có thể tạo được một ít thanh tịnh cho tâm trong thiền định”.

Chương 40.8 của SuttaCentral (do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch) viết:

“Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ”, như vậy được nói đến. Thế nào là Phi tưởng phi phi tưởng xứ?

Rồi này chư Hiền, tôi suy nghĩ như sau: “Ở đây, Tỷ-kheo vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Ðây gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Rồi này chư Hiền, tôi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này chư Hiền, do tôi trú với an trú này, các tưởng câu hữu với Vô sở hữu xứ được tác ý và hiện hành.

Rồi này chư Hiền, Thế Tôn với thần thông đi đến tôi và nói như sau: “Này Moggallâna, này Moggallâna, chớ có phóng dật Phi tưởng phi phi tưởng xứ! Này Moggallâna, hãy đặt tâm vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ! Hãy nhứt tâm vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ! Hãy định tâm vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ!”.

Rồi này chư Hiền, sau một thời gian, tôi vượt qua Vô sở hữu một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ”.

Mục “Phi tưởng phi phi tưởng xứ” của trang http://chonnhu.drupalgardens.com viết:

“Khi đức Phật rời khỏi đạo tràng của Alara Kalama rồi vượt sông Hằng tìm đến đạo tràng của Uddaka Ramaputta học đạo. Ở đây đức Phật cũng được vị thầy này sẵn sàng chỉ dạy. Đức Phật tu tập chẳng bao lâu liền nhập được định PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ. Định PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ là một loại định cao nhất của ngoại đạo lúc bấy giờ, nên các vị thầy ngoại đạo khó có ai tu đạt được thiền định này, nhưng chỉ có đức Phật nỗ lực tu tập trong một thời gian ngắn mà Ngài đã nhập được một cách dễ dàng. Khi nhập xong định PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ thì đức Phật được Ngài Uddaka Ramaputta chia cho nửa tòa để cùng lãnh chúng. Tuy đức Phật nhập được PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ nhưng cảm nhận tâm mình vẫn còn tham, sân, si, mạn, nghi, vì thế đức Phật xin từ giã vị thầy đã tận tình hướng dẫn tu tập để đi tìm một vị Thầy dạy tu tập làm chủ sự sống chết và chấm dứt luân hồi.

Từ vị thầy này đến vị thầy khác, nhưng đến đâu các vị thầy đều tu tập rèn luyện thần thông hơn là chú ý đến giải quyết mọi sự khổ đau của kiếp người. Vì thế đức Phật đi tìm mãi và gặp một số tu sĩ tu tập khổ hạnh để làm chủ sinh, già, bệnh, chết. Nghe thế đức Phật liền nhập vào số những người tu sĩ này tu tập”.

Tại trang Pháp hỷ thắng các hỷ, Thọ-Ái-Thủ phát biểu quan niệm của mình về “Phi tưởng phi phi tưởng”:

“Sống GIỐNG mọi người mà không NHƯ mọi người:

Người ta muốn ăn ngon mình cũng muốn ăn ngon, nhưng không chấp vào cái được ăn ngon mới vui.

Người ta tham mình cũng tham, nhưng khi tham biết mình đang tham.

Người ta sân hận mình cũng sân hận, nhưng khi sân hận biết mình đang sân hận.

Người ta si mê mình cũng si mê, nhưng khi si mê biết mình đang si mê.

Người ta sấu (sic) tính mình cũng sấu tính, nhưng khi sấu tính biết mình đang sấu (sic) tính.

Người ta nhỏ nhặt mình cũng nhỏ nhặt, nhưng khi nhỏ nhặt biết mình đang nhỏ nhặt.

Người ta háu (sic) sắc mình cũng háu sắc, nhưng khi háu sắc biết mình đang háu (sic) sắc.

Người ta háu (sic) danh mình cũng háu danh, nhưng khi háu (sic) danh biết mình đang háu danh.

Người ta tham giàu mình cũng tham giàu, nhưng khi tham giàu luôn nhớ cái mình cần rất ít, cái mình muốn rất nhiều.

Người ta sợ chết mình cũng sợ chết, nhưng khi sợ chết luôn nhớ cuộc đời rất là vô thường”.

A.C

* Trong bài, tác giả có dùng chữ “sic” trong ngoặc đơn sau chữ “sấu” và chữ “háu”. SIC có ý nói “sao y nguyên văn” chứ không tự ý sửa thành XẤU và HÁO theo đúng chính tả hiện hành.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Dec 28 2015, 01:45 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 28 2015, 01:51 AM
Gửi vào: #107


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



TỨ NIỆM XỨ
Khi tu tập TỨ CHÁNH CẦN thuần thục thì không còn ác pháp tới lui nữa, nên đức Phật cảm nhận được tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự. Nếu kéo dài trạng thái này ra thì cảm nhận như tâm đang quán sát bốn chỗ THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP theo nhịp hơi thở ra vô rõ ràng một cách cụ thể.
Cảm nhận được tâm quán sát bốn chỗ này nên càng quán sát tâm thì càng lúc tâm càng BẤT ĐỘNG. Thấy thế đức Phật cứ để tự nhiên cho tâm thường xuyên quán sát bốn chỗ này. Nhờ thường xuyên quán sát bốn chỗ này trên thân nên tâm ở trong trạng thái BẤT ĐỘNG dễ dàng hơn. Tâm càng ở trạng thái bất động thì tâm càng thanh tịnh và kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Đó là NIỆM GIÁC CHI xuất hiện. Khi NIỆM GIÁC CHI xuất hiện xong thì ĐỊNH GIÁC CHI xuất hiện. Khi ĐỊNH GIÁC CHI xuất hiện xong thì kế tiếp một trạng thái KHINH AN GIÁC CHI. Khi KHINH AN GIÁC CHI xuất hiện xong thì HỶ GIÁC CHI xuất hiện. Khi HỶ GIÁC CHI xuất hiện xong thì TINH TẤN GIÁC CHI xuất hiện. Khi TINH TẤN GIÁC CHI xuất hiện xong thì XẢ GIÁC CHI xuất hiện. Khi XẢ GIÁC CHI xuất hiện xong thì TRẠCH PHÁP GIÁC CHI xuất hiện. Khi TRẠCH PHÁP GIÁC CHI xuất hiện xong thì TỨ THẦN TÚC xuất hiện.
Đến đây đức Phật đã hoàn tất pháp môn TỨ NIỆM XỨ, một kết quả tâm VÔ LẬU hoàn toàn.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 28 2015, 01:54 AM
Gửi vào: #108


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Bốn sự thật của loài Người

Khi nghiên cứu về đạo Phật, các nhà học giả phần đông ai cũng ra công tìm hiểu TỨ DIỆU ĐẾ. TỨ DIỆU ĐẾ là pháp môn đầu tiên của đức Phật, từ khi tu chứng đạo và đem pháp môn này ra dạy cho năm anh em Kiều Trần Như. Đó là chuyển pháp luân lần đầu tiên trong lịch sử của Phật giáo. Pháp môn này không có một tôn giáo nào trên hành tinh này có được. Ngài dám khẳng định về con người có bốn sự thật cần phải hiểu rõ. Nếu không hiểu rõ bốn sự thật này thì con người không bao giờ thoát ra mọi sự đau khổ của cuộc đời.
Trước khi đem giáo pháp này ra dạy thì Ngài đã chọn những người nào đáng được nghe bài pháp đầu tiên nói về con người.
Sau khi quan sát Ngài thấy có năm anh em Kiều Trần Như đang tu hành trong núi gần bên Ngài. Vì thế bài pháp đầu tiên của Ngài được thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như nghe.
Bốn sự thật của con người mà đức Phật giảng dạy là bốn điều rất cần thiết cho con người. Vì vậy mọi người ai cũng cần phải thấu hiểu.
Từ xưa đến ngày nay đã có nhiều người nhưng chưa ai hiểu biết giáo pháp này, mặc dù đức Phật đã giảng nói cách đây 2550 năm. Bởi con người mãi chạy theo lòng dục lạc ham danh đắm lợi nên xem thường giáo pháp này, vì thế giáo pháp này đã biến dạng thành một pháp môn tha lực, nên việc cầu cúng bái, tế lễ càng ngày càng nhiều hơn, nên mọi người phải chịu luân hồi trong sáu nẻo khổ đau không sao kể siết. Nếu không thấu hiểu bốn sự thật này thì con người sống trong đau khổ mà cứ mãi chịu trong đau khổ.
Đức Phật, người đã thấy biết bốn sự thật này rất rõ ràng nên muốn giúp cho con người thấu hiểu, và nhờ biết rõ ràng thân phận của mình có bốn sự thật.
Trong bốn sự thật có sự thật thứ tư là phương pháp chỉ thằng đường lối tu tập làm chủ bốn sự đau khổ của kiếp người là sinh, già, bệnh, chết.
Đạo Phật bắt đầu tu tập từ chỗ khổ đau đến chấm dứt khổ đau; tức là bắt đầu tu tập bằng cách triển khai tri kiến giải thoát, nhờ có triển khai tri kiến hiểu biết nên mới có cách thức ly dục ly bất thiện pháp.
Hằng ngày dùng tri kiến giải thoát nên việc xả các chướng ngại pháp rất dễ dàng. Chính nhờ xả chướng ngại pháp dễ dàng nên việc bảo vệ tâm bất động không còn khó khăn nữa.
Sau khi giữ gìn tâm bất động được trọn vẹn thì tâm luôn luôn bám sát trên Tứ Niệm Xứ, thời gian suốt bảy ngày đêm thì tâm có đủ đạo lực làm chủ sinh, già, bệnh, chết. Khi tâm bất động thanh thản, an lạc và vô sự tức là tâm thanh tịnh. Khi tâm đã thanh tịnh thì tâm nhập Tứ Thánh Định rất dễ dàng không còn khó khăn và mệt nhọc nữa. Do nhờ tu tập đúng như vậy nên từ phàm phu đến chứng quả thánh .

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 28 2015, 02:01 AM
Gửi vào: #109


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Bài học thứ nhất: KHỔ ĐẾ

Khi nghiên cứu chúng ta phải bắt đầu từ chân lí thứ nhất. Chân lí thứ nhất đã xác định con người là một khối đau khổ, điều này không ai dám phủ nhận được.
Cho nên con người khổ đau từ lúc nằm trong bụng mẹ cho đến khi chết, rồi lại tiếp tục tái sinh vào bụng mẹ nữa, và như vậy sự khổ đau mãi mãi không bao giờ dứt, từ đời này kế tiếp đời khác như một vòng tròn khổ đau không có lối thoát ra.
Nhưng may mắn thay chúng ta đã nhờ ơn đức Phật, Người chỉ dạy đường lối tu tập để con người thoát ra khỏi vòng tròn đau khổ này. Nhưng có mấy ai đã hiểu biết như vậy và cố gắng thoát ra khỏi vòng tròn đau khổ. Con người ai cũng sợ khổ, ai cũng muốn thoát khổ, những họ không muốn lìa dục, không muốn xa ác pháp. Vì thế họ luôn luôn cứ làm ác sống trong ác thường làm khổ mình khổ người và khổ chúng sinh.
Dục chính là nguyên nhân sinh ra muôn vạn sự đau khổ, vì thế con người tu tập thì có tu tập mà cứ mãi mê ôm dục khư khư trong lòng không muốn lìa dục. Tu như vậy làm sao giải thoát được hỡi quý vị?
Tu mãi không đoạt được kết quả giải thoát rồi cho đó là con đường của đạo Phật khó tu. Sự thật con đường giải thoát của đạo Phật không phải khó tu mà khó hay dễ đều là do con người, nếu những ai muốn thoát khổ thì tu hành rất dễ dàng thoát khổ, họ chỉ cần ly dục ly ác pháp trong tâm của mình thì ngay đó là có giải thoát liền, chứ đâu phải ngồi lim dim như con cóc không niệm khởi như Thiền Tông Trung Quốc.
Cho nên những ai không muốn sống ly dục ly ác pháp là những người còn ham muốn sống trong đau khổ. Những người còn ham muốn sống trong dục thì rất khó tu tập theo đường lối của đạo Phật, dù có tu tập cũng không giải thoát. Bởi chính họ còn ưa thích dục.
Chân lí thứ nhất đức Phật đã xác định rõ ràng con người là một khối đau khổ như trên đã nói. Nếu người nào còn thích sống trong đau khổ, không muốn buông bỏ mọi sự đau khổ thì con đường đạo Phật họ không thể đi được. Và như vậy dù đạo Phật có đến với họ vẫn là vô ích.
Có người hỏi:
Con người là một khối khổ như thế nào xin chỉ rõ cho chúng con hiểu?
Xin quý vị hãy lắng nghe:
- Cái khổ thứ nhất: Thân con người là một khối khổ. Khổ từ khi còn nằm trong bụng mẹ, còn là một bào thai.
Bụng mẹ giống như một nhà tù và chỗ thai nhi nằm như một chuồng cọp trong nhà tù rất chật chội, vì vậy thai nhi xoay trở rất khó khăn, nhất là nơi thai nhi nằm toàn là nước nhờn nhớt bẩn thỉu uế trược. Đó là nơi bất tịnh nhất trên trần gian này, thế mà con người trước khi sinh ra không ai tránh khỏi bị giam mình trong ao tù bất tịnh này, đó là cái khổ thứ nhất.
- Cái khổ thứ hai: Khi xuất thai phải chui qua một cái cửa quá chật hẹp, thân người phải kéo nhẳn dài ra và nhờ người đỡ đẻ (bà mụ) kéo ra, cho nên khi qua cửa này đau đớn vô cùng, một còn mười mất. Đó là cái khổ thứ hai.
- Cái khổ thứ ba: Khi ra khỏi bụng mẹ, miệng mũi đều đầy nhớt nhao nên bà đỡ phải móc miệng, mũi làm cho sạch đờm nhớt nên rất đau khổ, thai nhi la khóc thét lên. Đó là cái khổ thứ ba.
- Cái khổ thứ tư: Cơ thể chưa giao tiếp khí hậu bên ngoài nên người lạnh run rất là khổ sở. Đó là cái khổ thứ tư.
- Cái khổ thứ năm: Cơ thể mới sinh ra giống như một cục thịt để đâu nằm đó nên bài tiết một chỗ, cơ thể nằm trên nước tiểu và phân của chính mình rất là hôi thối, vì vậy ngứa ngáy rất khổ sở. Đó là cái khổ thứ năm.
- Cái khổ thứ sáu: Cơ thể mới sinh ra giống như một cục thịt không lăn lộn trườn bò được nên bị mỏi và đau nhức khó chịu. Đó là cái khổ thứ sáu.
- Cái khổ thứ bảy: Khi cơ thể trườn bò được, nếu không người trông nom thì khi trườn bò trên giường ván thường bị rơi xuống đất nên đau đớn vô cùng. Đó là cái khổ thứ bảy.
- Cái khổ thứ tám: Khi cơ thể mới biết đứng thì đứng lên té xuống liên tục mà mỗi lần té là đau đớn. Đó là cái khổ thứ tám.
- Cái khổ thứ chín: Khi cơ thể mới biết đi, đi được vài bước liền té và mỗi lần té đều bị đau đớn khổ sở. Đó là cái khổ thứ chín
- Cái khổ thứ mười: Mỗi lần mọc răng là cơ thể bị bệnh nóng sốt bất an khó chịu. Đó là cái khổ thứ mười.
- Cái khổ thứ 11: Cơ thể sinh ra bị tật nguyền, tay chân không bình thường hoặc mù mắt. Đó là cái khổ thứ mười một.
- Cái khổ thứ 12: Trí óc đần độn ngu si, không nhớ thường quên trước quên sau, nên không được đến trường học hành. Đó là cái khổ thứ mười hai.
- Cái khổ thứ 13: Ham chơi không thuộc bài bị thầy cô giáo đánh phạt. Đó là cái khổ thứ mười ba.
- Cái khổ thứ 14: Theo bạn hư thân mất nết sinh ra trộm cắp đánh nhau nên bị tù tội. Đó là cái khổ thứ mười bốn.
- Cái khổ thứ 15: Khi lập gia đình hai vợ chồng thường hay cãi vã đánh nhau. Đó là cái khổ thứ mười lăm.
- Cái khổ thứ 16: Vợ chồng sinh con đẻ cái phải nuôi bồng ẵm. Đó là cái khổ thứ mười sáu.
- Cái khổ thứ 17: Khi con cái bệnh đau phải cho uống thuốc, ăn cháo, đi bác sĩ, đôi khi phải ở lại bệnh viện. Đó là cái khổ thứ mười bảy.
- Cái khổ thứ 18: Cơ thể già yếu đi đứng không vững vàng thường run rẩy. Đó là cái khổ thứ mười tám.
- Cái khổ thứ 19: Không tự ăn uống được, con cái phải đút từng muỗng cơm hay cháo. Đó là cái khổ thứ mười chín.
- Cái khổ thứ 20: Khi cơ thể sắp chết không chỗ nào không đau nhức. Đó là cái khổ thứ hai mươi.
Trên đây là 20 cái khổ khi có thân người, cho nên đức Phật dạy làm người khổ, chỉ khi nào chấm dứt không còn làm người, làm chúng sinh nữa thì mới hết khổ.
Nhưng muốn chấm dứt làm người, làm chúng sinh thì phải làm sao?
Phải theo đường lối Bát Chánh Đạo của Phật giáo tu tập thì mới chấm đứt mọi khổ đau này. Vậy xin mời quý vị hãy nghiên cứu tập sách “PHẬT GIÁO CÓ ĐƯỜNG LỐI RIÊNG” thì sẽ rõ.

Bài học thứ hai: TẬP ĐẾ


Tập đế là đế thứ hai trong bốn đế mà đức Phật đã xác định. Đó là nguyên nhân sinh ra muôn sự đau khổ của con người trên hành tinh này. Vậy nguyên nhân sinh ra đau khổ con người trên hành tinh này như thế nào?
Tập đế là lòng tham muốn của con người. Vậy làm người có ai không có lòng tham muốn không?
Không ai dám bảo rằng: Con người không có lòng tham muốn. Cho nên con người ai cũng có lòng tham muốn cả, tham muốn nhiều hay tham ít mà thôi, nhưng làm con người bảo rằng không tham muốn là sai không đúng. Chính vì lòng tham muốn mà con người phải chịu khổ vô vàn cay đắng. Bởi gốc khổ của con người là lòng tham muốn. Cho nên đức Phật dạy: Lòng tham muốn của con người là nguyên nhân sinh ra muôn sự khổ đau.

Bài học thứ ba: DIỆT ĐẾ

Diệt đế là một trạng thái tâm VÔ LẬU. Tâm vô lậu có nghĩa là tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa. Khi thân tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi nữa là tâm đã giải thoát.
DIỆT ĐẾ có nghĩa là diệt hết mọi sự khổ đau, tức là diệt tận gốc đau khổ. Trạng thái chấm dứt mọi khổ đau, đó là tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự. Tâm bất động, thanh thản, an lạc và vô sự là một sự thật. Vì mọi người dù chưa tu tập một pháp môn nào cả nhưng vẫn có trạng thái tâm này, nếu chúng ta cứ ngồi lại im lặng và lắng nghe sẽ nhận ra liền tâm bất động đó, mặc dù tâm bất động chỉ hiện tiền trong một phút giây rồi bị các niệm lăng xăng hiện ra làm mất tâm bất động đó.
Tâm VÔ LẬU này là một sự thật của con người nên đức Phật gọi nó là chân lí thứ ba trong đạo Phật.
Chân lý thứ ba của Phật giáo là một sự thật, nên đức Phật chỉ thẳng cho chúng ta biết để hộ trì và bảo vệ chân lý này.

Bài học thứ tư: ĐẠO ĐẾ

Đạo đế là một chương trình giáo dục đào tạo người tu chứng quả VÔ LẬU. Nó có tên riêng gọi là BÁT CHÁNH ĐẠO, tức là tám lớp tu học. Tám lớp tu học như sau:
1- Chánh kiến
2- Chánh tư duy
3- Chánh ngữ
4- Chánh nghiệp
5- Chánh mạng
6- Chánh tinh tấn
7- Chánh niệm
8- Chánh định
Tám lớp tu học này được phân chia ra làm ba cấp như sau:
- Cấp 1 tu học giới luật gồm có năm lớp, từ lớp Chánh kiến đến lớp Chánh mạng.
- Cấp 2 tu học thiền định gồm có hai lớp, từ lớp Chánh tinh tấn đến lớp Chánh Niệm.
- Cấp 3 tu học tuệ Tam Minh gồm có một lớp Chánh định.
Như trên đã trình bày, ĐẠO ĐẾ là một chương trình giáo dục đào tạo những bậc tu chứng thánh quả A La Hán. Đó là một sự thật chớ không dùng lời dối người.
Xin quý vị đừng nghĩ quả A La Hán là cao siêu vi diệu, nó chỉ là một trạng thái tâm vô lậu. Cho nên người tu chứng quả A La Hán không khác gì mọi người, nhưng tâm họ thì khác hơn, vì họ không còn ham muốn bất cứ một vật gì trên thế gian này, nhất là họ không phiền giận bất cứ một người nào. Tất cả ác pháp đến với họ không còn làm cho họ giao động tâm, họ sống rất thanh thản, an lạc và vô sự, lúc nào cũng có một niềm vui trong lòng, nhất là thể hiện nụ cười qua khóe mắt, trên môi.
Chân lí thứ tư của Phật giáo là một sự thật.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Dec 28 2015, 02:08 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 28 2015, 02:11 AM
Gửi vào: #110


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



BẢNG TÓM LƯỢC CÁC PHÁP MÔN TỪ THẤP ĐẾN CAO CỦA PHẬT GIÁO

Đường lối tu tập theo Phật giáo rất rõ ràng, bắt đầu từ giới luật đức hạnh.
Phần giới luật và đức hạnh gồm có:
Năm giới tại gia.
Mười giới xuất gia.
Ba đức hạnh tại gia: Nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng.
Ba đức hạnh xuất gia: Ăn, ngủ, độc cư.
Phần các pháp tu tập gồm có:
1- ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ
2- THÂN HÀNH NIỆM
3- NGŨ CĂN
4- NGŨ LỰC
5- TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
6- TỨ BẤT HOẠI TỊNH
7- TỨ CHÁNH CẦN
8- TỨ NIỆM XỨ
9- TỨ THÁNH ĐỊNH
10- TỨ THẦN TÚC
11- TAM MINH
Bảng tóm lược các pháp trên đây là chính những lời Phật dạy, mong quý vị trước khi tu tập cần nên nghiên cứu kỹ lưỡng các pháp này. Nếu không nghiên cứu kỹ lưỡng, quý vị tu tập từ pháp hành của Phật giáo sẽ rơi vào pháp hành của ngoại đạo, chỉ cần tu tập sai một li thì đi lạc đường một dặm. Xin quý vị lưu ý cho.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 31 2015, 10:11 AM
Gửi vào: #111


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Pháp Môn Niệm Phật | Những Chuyện Vãng Sanh
Đại Cư Sĩ LÝ BỈNH NAM - Vãng sanh lưu lại cả ngàn viên xá lợi.



Ngài Lý Bỉnh Nam là vị Thầy vĩ đại của hơn 200 ngàn đệ tử nói chung và của Hòa Thượng Tịnh Không nói riêng. Sau khi Ngài tịch, thiên hạ mến mộ công đức của Ngài nên mỗi ngày có khoảng 600 người đến hộ niệm. Tất cả đều tự động đến, không phải để chia buồn, nói lời rỗng tuếch mà đi xung quanh quan tài hộ niệm. Tiếng niệm Phật không ngừng nghỉ trong suốt 49 ngày.

Đại Cư Sĩ LÝ BỈNH NAM

Người tu theo pháp môn niệm Phật mà không biết gì về Ngài Lý Bỉnh Nam cũng là một điều đáng tiếc.
Ngày nay, đa số Phật tử Việt Nam ở nước ngoài biết được và theo học với một nhà sư Tàu – Hòa Thượng Thích Tịnh Không. Ngài là người đang hoằng dương pháp môn giải thoát mà Đức Phật Thích Ca đã dạy riêng cho chúng sanh thời mạt pháp này.
Chúng tôi dùng chữ nhà sư Tàu, chẳng phải là chúng tôi phân biệt Tàu hay Việt, nhưng để mọi người thấy, Phật tử Việt Nam không phân biệt Tàu hay Việt. Cũng như chúng ta tu theo Phật, là tu theo ông Phật là người Nepal. Chúng tôi viết điều này ra ở đây để chứng minh Phật tử Việt Nam không phân biệt chấp trước. Tàu, Ấn Độ hay Nepal cũng được, bất cứ ai thấu suốt pháp môn giúp chúng sanh thoát khỏi lục đạo luân hồi thì chúng ta tu theo học. Có dịp chúng tôi sẽ trình bày chỗ chấp của một số người Việt Nam, mà nhiều năm qua làm hại Phật tử Việt Nam rất nhiều.

Tài liệu chúng tôi viết về cư sĩ Lý Bỉnh Nam là do cư sĩ Trần Văn Tường ở Úc lấy từ mạng điện toán của chùa Quảng Đức ở Úc gởi tặng chúng tôi.
Lý Bỉnh Nam là một cư sĩ thôi. Nhưng là một cư sĩ vĩ đại đã đào tạo cho chúng sanh thời mạt pháp này một vị Pháp sư lỗi lạc, một Hòa Thượng được người Việt Hoa khắp thế giới ngưỡng mộ. Khi viết về Ngài Lý Bỉnh Nam, có người vẫn chấp, sợ giới thiệu Ngài là một cư sĩ thì làm nhẹ thể vị Hòa Thượng khả kính. Tại vị ấy chấp, chứ Hòa Thượng Tịnh Không vẫn hãnh diện nói, Thầy tôi là một cư sĩ, và khi tôi được ông chấp thuận cho làm học trò, ông buộc tôi phải bỏ tất cả những gì tôi đã học được với hai vị Thầy cũng danh tiếng, đó là Giáo sư Đông Phương Mỹ và Chương Gia Đại Sư, một đại Lạt Ma.
Người tu phải nhìn thấu và biết buông xuống. Nếu được như vậy là thấu được điều Phật dạy “Nhứt thiết pháp không! Nhứt thiết pháp tùy tâm tưởng!”.
Những điều chúng tôi viết, chúng tôi thường nói thẳng điều mình biết mà không nuôi tâm chê trách ai. Nói để mong Phật giáo Việt Nam ngày mai sẽ vượt lên và mọi người đều buông hết, không chấp trước để cùng lo cho chúng sanh. Cái ta hãy bỏ đi, cái chủng tộc cũng buông đi, để hướng chúng sanh đi đến một đại đồng và siêu thoát.

Đây, bài viết về Đại Cư sĩ Lý Bỉnh Nam
của chùa Quảng Đức - Úc Châu


Cư sĩ Lý Bỉnh Nam thời Dân Quốc, hiệu Tuyết Lư hay Tuyết Tăng; người thành phố Tế Nam tỉnh Sơn Đông. Tự bé, ông đã đỉnh ngộ, hiếu học. Ông chuyên học về pháp luật, chính trị và học cả Trung y, nghiên cứu Phật học: Giáo, Thiền, Tịnh, Mật, ông đều thường tu trì. Ông từng giữ chức giám ngục của huyện Lữ, nhưng nhân từ tột bực, chung thân ăn chay.
Ông quy y với vị Tổ thứ mười ba của Tịnh tông là Ấn Quang Đại sư, được ban hiệu là Đức Minh. Ông gắng sức tự hành, dạy người chuyên tu Tịnh nghiệp. Sau ông đáp lời mời, làm bí thư cho vị chủ nhiệm quản trị nhà thờ phụng Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư (Khổng Tử).
Ông theo chủ nhiệm Khổng Thượng Công (Khổng Đức Thành) thiên di theo chính phủ về Trùng Khánh, sống ở biệt thự Ỷ Lan thuộc núi Ca Nhạc. Mỗi sáng sớm, ông lên chùa Vân Đảnh để lễ tụng, niệm Phật. Ít lâu sau, ông lãnh trách nhiệm giảng dạy cho Phật Học Giảng Diễn Hội của chùa mấy năm, người tin theo rất đông. Năm Dân Quốc 45 (1946), theo Khổng Thượng Công trở về Nam Kinh, ông thường giảng Kinh tại chùa Phổ Tế và Chánh Nhân Liên Xã.
Tháng Hai năm Dân Quốc 38 (1949), vào lúc sáu mươi tuổi, ông theo Khổng Thượng Công qua Đài Loan, ngụ tại Thành phố Đài Trung. Vừa mới sắp xếp công vụ xong, ông đã tìm được chùa Pháp Hoa để làm cơ sở hoằng pháp và lập phòng chẩn mạch Trung Y, lập Bồ Đề Y Viện và Thí Y Hội v.v... để chữa trị, hốt thuốc miễn phí. Ông khởi xướng những sự nghiệp hoằng hóa, từ thiện để tiếp dẫn quần cơ đồng tu Tịnh Nghiệp.
Ông thường nhóm chúng niệm Phật; cử phái viên hoằng pháp đến thăm các nhà giam và những gia đình liên hữu. Do đó, pháp duyên ngày càng rộng rãi; tòa giảng kinh của ông mở rộng đến các chùa Linh Sơn, Bảo Giác, Bảo Thiện v.v... Ông còn khuếch trương những cơ sở truyền giáo khắp cả Tam Đài (Đài Bắc, Đài Trung và Đài Nam), chuyên hoằng dương Tịnh Độ phổ độ chúng sanh.
Mỗi năm, cử hành Phật Thất nhiều lần; lần nào ông cũng đích thân chủ trì, ân cần, thiết tha huấn thị. Ông thường soạn các tài liệu Phật học hàm thụ và vấn đáp, soạn các chương trình phát thanh miễn phí gởi tặng các đài phát thanh.
Về trước tác có: A Di Đà Kinh Trích Chú Tiếp Mông Kỵ Nghĩa Uẩn (lược chú Kinh Di Đà để những người kém hiểu biết lãnh hội được ý nghĩa sâu xa), Đại Chuyên Học Sinh Phật Học Giảng Tòa (tài liệu giảng dạy Phật học cho sinh viên chuyên ngành Phật học) gồm sáu quyển: Phật Học Vấn Đáp Loại Biên, Hoằng Hộ Tiểu Phẩm Vựng Tồn, v.v... hóa độ nhân gian.
Nhân đó, ở các nơi gần hay xa, mọi người đều được bình đẳng hưởng thụ pháp ích. Sau ông nghỉ việc để tăng thời gian hoằng pháp; luôn luôn khuyên người khác tin sâu nhân quả, già dặn, chắc thật niệm Phật.

Trong Pháp môn Niệm Phật có hai công phu để hành trì:
1- Tu Phật Thất, dành cho người căn cơ bình thường.
2- Ban Châu Tam Muội, dành cho người siêu việt xuất chúng, có sức khỏe dẻo dai.
Hành giả thực hành Ban Châu Tam Muội phải đứng hay đi kinh hành trong thời gian 90 ngày không hề nằm, thường xuyên đắp y hoặc mặc áo tràng. Theo lời kể lại, cư sĩ Lý Bỉnh Nam đã hai lần đạt được Ban Châu Tam Muội. Ngài đã được định rất sâu. Như vậy, có thể Ngài Lý Bỉnh Nam đã đạt được Lý Nhứt Tâm Bất Loạn hoặc Sự Nhất Tâm Bất Loạn.
Ngày mười hai tháng Tư năm Dân Quốc 75 (1986), ông bảo đệ tử hầu cận:
- Ta sắp đi đây!
Đến sáng hôm sau, ông niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, dặn dò đệ tử rồi nằm yên lành mà tịch. Thọ chín mươi bảy tuổi. Sau khi trà tỳ, thu được hơn cả ngàn viên xá lợi ngũ sắc.
(theo Lý Công Tuyết Hư Lão Cư Sĩ Lược Sự).

Hòa Thượng Tịnh Không nói về
Đại Cư sĩ Lý Bỉnh Nam


Như chư liên hữu thấy, sau khi vãng sanh, cư sĩ Lý Bỉnh Nam lưu lại hơn cả ngàn viên Xá Lợi ngũ sắc. Đó là kết quả của người thật sự có công phu tu tập trong nhiều năm niệm Phật.
Rải rác trong các băng giảng, Hòa Thượng Tịnh Không thường nhắc đến vị Thầy vĩ đại của mình. Chúng tôi chẳng nhớ trong băng giảng nào đã ghi ra tài liệu dưới đây:
Theo Hòa Thượng Tịnh Không, tướng của Lý Bỉnh Nam không phải là người trường thọ. Vì cái lỗ tai và cái càm ông ngắn không phải là người sống lâu. Nhưng nhờ ông biết làm việc thiện, như chữa bệnh miễn phí cho mọi người, dạy Phật pháp cho mọi người. Sự thu nhập tài chánh của ông rất dồi dào, nhưng ông đem bố thí cho thiên hạ. Ông sống trong một căn nhà nhỏ, không cần người giúp việc hầu hạ. Đến 90 tuổi, ông sống một mình với thân thể khỏe mạnh cường tráng.
Phước báu mà ông có chẳng phải là do đời trước mà có. Sau khi học Phật ông mới tu. Phước báu thọ mạng của ông là nhờ tu trong đời này. Đây là điều mọi người chúng ta cần tìm hiểu học hỏi. Nhiều vị chỉ biết khen người, mà không noi theo gương người để áp dụng cho mình, thì lời khen ấy trở thành rỗng không. Ngài Lý Bỉnh Nam vãng sanh vào lúc 97 tuổi. Điều đáng lưu ý, tuy không ai kêu gọi, thiên hạ mến mộ công đức của Ngài, mỗi ngày có khoảng 600 người đến hộ niệm. Tất cả đều tự động đến, không phải để chia buồn, nói những lời rỗng tuếch, mà đi xung quanh quan tài hộ niệm. Tiếng niệm Phật không ngừng nghỉ trong suốt 49 ngày.
Hòa Thượng Tịnh Không nói : kết quả mà Ngài Lý Bỉnh Nam đã tu trong đời này. Thông minh trí tuệ do Ngài bố thí pháp. Khỏe mạnh trường thọ là bố thí vô úy. Vô úy mà không não hại tất cả chúng sanh. Tất cả chúng sanh gặp ta có cảm giác an toàn. Đó là vô úy. Ngài Lý Bỉnh Nam có trên 200 ngàn đệ tử. Thật là vĩ đại!

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 4 2016, 09:51 AM
Gửi vào: #112


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35





Bốn Câu Chuyện Nhỏ Có Thể Giúp Bạn Hiểu Ra Được Nhiều Điều


Hạnh phúc hay khổ đau ở trên đời tất cả đều nằm ở một chữ “tâm”, vậy nên nếu có thể kiểm soát được cái tâm này, con người tất nhiên sẽ ung dung tự tạ
i.

Câu chuyện thứ nhất:
Thế gian không gì trân quý hơn cái ta đang có
Đức Phật hỏi: “Trên thế gian cái gì là trân quý nhất?”
Đệ tử trả lời: “Là cái đã mất đi và cái không đạt được”.
Đức Phật không nói gì…
Sau vài năm, ngài để cho đệ tử lăn lộn bể dâu, nếm trải cay đắng cuộc đời.
Khi này Đức Phật mới trả lời:
“Thế gian trân quý nhất chính là thứ ta đang có!”

Câu chuyện thứ hai:
Khả năng thành công quyết định bởi cách ta đối đãi với chính mình
Một thanh niên đến chỗ thiền sư xin thỉnh giáo:
“Đại sư, có người nói con là thiên tài, cũng có người mắng con đần độn. Con không biết mình thế nào nữa! Nếu là ngài, ngài nhìn nhận như thế nào về chính mình?”

Thiền sư nhìn vẻ mặt của cậu thanh niên và trả lời:
“Giả dụ như ta có nửa ký gạo;
Trong mắt người phụ nữ làm bếp, thì nó là mấy bát cơm;
Trong mắt người nướng bánh, thì nó là bánh mì;
Trong mắt người người nấu rượu, thì gạo ấy là rượu;
Nhưng, gạo vẫn là gạo.
Con người cũng vậy, tiền đồ như thế nào, cũng là quyết định bởi việc ta đối đãi với chính mình ra sao”.

Cậu thanh niên liền sáng tỏ vấn đề, cảm tạ đại sư rồi rời đi.

Câu chuyện thứ ba:
Vô ngã, từ bi, trí tuệ và tự tại
Một cậu thanh niên hỏi trí giả: “Làm thế nào để vừa có thể khiến bản thân vui vẻ, mà cũng khiến người khác được thoải mái?”

Trí giả cười đáp: “Có bốn loại cảnh giới mà cậu có thể học hỏi”.
Đầu tiên, coi mình là người khác, cái này là vô ngã;
Sau đó, coi người khác là mình, đây là từ bi;
Tiếp đến, coi người khác là người khác, ấy chính là trí tuệ;
Cuối cùng, coi mình là chính mình, thế mới là tự tại”.

Câu chuyện thứ tư:
Thống khổ trong đời là muối, mặn hay nhạt quyết định bởi vật chứa đựng
Một vị thiền sư có một đệ tử rất hay than phiền. Một ngày, thiền sư đem một nắm muối bỏ vào trong bát nước, rồi bảo đệ tử này uống bát nước đó.
Đệ tử nói: “Mặn không chịu nổi!”.

Thiền sư bốc thêm một nắm muối nữa vung vào trong hồ, rồi lại bảo cậu đệ tử múc nước hồ lên uống thử.
Đệ tử uống xong nói: “Thật ngọt ngào tinh khiết”.
Thiền sư nói: “Những thống khổ trong đời giống như là muối vậy, mặn hay nhạt quyết định bởi vật chứa nó. Con nguyện làm một chén nước, hay làm một hồ nước đây?”

Chuyện gì rồi cũng sẽ qua đi, chỉ có cái tâm là vẫn còn lưu giữ, thay đổi tâm của mình, sẽ được giải thoát khỏi những phiền muộn.
Lê Hiếu, dịch từ Cmoney.tw
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 6 2016, 06:41 AM
Gửi vào: #113


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Xin được chia xẻ Mandala


Check out this video on YouTube:

http://youtu.be/gjkkM8ocq5c



User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 27 2016, 10:08 AM
Gửi vào: #114


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



VŨ TRỤ QUAN VÀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI TRONG NGÀNH SINH HỌ
C
Thích Thông Kinh



Từ ngàn xưa đến nay, các trường phái triết học và tôn giáo từ đông sang tây đều có vũ trụ quan và nhân sinh quan riêng mình ; từ đó hình thành lẽ sống và lối sống muôn màu muôn vẻ của toàn nhân loại, theo quan điểm phổ thông người ta thường phân hai chủ thuyết: Thuyết duy tâm và duy vật , và từ hai khuynh hướng cực đoan này lịch sử ghi nhận lại chúng đã pha trộn , cọ sát hình thành nhiều tư tưởng, các hệ thống triết học, tôn giáo khác nhau, và đã tạo ra các mâu thuẫn nhiều khi không thể dung hòa và là một trong nhiều nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đôi khi dẫn đến những cuộc chiến tranh, thanh trừng thảm khốc và đẩm máu trên toàn thế giới không phải chỉ thời cổ đại mà ngay trong thời kỳ được gọi là văn minh hiện đại ngày nay.

Vào giữa thế kỷ 20 , nhà bác học Einstein đã ăn chay trường suốt cuộc đời còn lại của mình và phát biểu : "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn tâm linh, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, xuất phát từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên (vật chất và tâm linh) trong cái nhất thể đầy ý nghĩa, Phật giáo đáp ứng đủ các điều kiện ấy”(The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religion sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Busdhim answers this description)-Einstein Testament, và ông nhấn mạnh: “Nếu có một tôn giáo thỏa mãn được những yêu cầu của khoa học hiện đại, thì tôn giáo đó là Đạo Phật” –( If there is any religion that would cope with modern scientisfic needs, it would be Buddhism).-Trích từ ĐẠO PHẬT CÓ PHẢI LÀ TÔN GIÁO HAY KHÔNG? Huyền Chân, PHẬT HỌC CƠ BẢN-Tập 4, trang 311-Nhà xuất bản Tôn giáo-.

Năm 2008, Liên hiệp quốc đã chọn Phật giáo là tôn giáo chính thức của nhân loại và tổ chức đại hội Vesak tại Việt Nam kỷ niệm ngày đản sinh Đức Phật Thích Ca … đã đặt ra những yêu cầu cấp bách trong việc nghiên cứu và ứng dụng những ý nghĩa thâm sâu mà vũ trụ quan , nhân sinh quan mà Phật giáo đã đem lại cho các ngành khoa học hiện đại.

A VŨ TRỤ QUAN PHẬT GIÁO:

Theo quan điểm chúng ta hiện nay, thế giới này gồm có trái đất xoay quanh mặt trời, Thái dương hệ nằm trong hệ ngân hà, Ngân hà nằm trong hệ Thiên hà và vô số Thiên hà trong vũ trụ luôn di chuyển và biến dịch và ngành thiên văn học hiện đại đã phát hiện ra số lượng vô cùng lớn “lỗ đen” trong vũ trụ, được đánh giá là nhiều hơn thế giới quan sát được. Đó là “vĩ mô” còn “vi mô” đã có thời kỳ cùng với việc phát minh ra nguyên tử người ta tưởng đã tìm được “viên gạch cơ bản của vật chất” ,nhưng các phát hiện hiện đại đã xóa đi những ảo tưởng này nào epson, quarks (cái này Bố quên nhiều con bổ xung thêm), phản hạt, không gian nhiều chiều, “vật chất là năng lượng được đóng chai”…đã buộc con người phải xét lại triệt để quan điểm duy vật & thực dụng của mình. Theo ngành nhiệt động lực học: “năng lượng toàn vũ trụ không tăng không giảm mà chỉ biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác (điện năng, hóa năng, nhiệt năng…)”.

Các ngành khoa học khác cũng có những phát hiện vượt ngoài sức tưởng tượng trong đó đáng chú ý nhất là ngành Tâm lý và Phân tâm học hiện đại, ngoài việc ứng dụng khoa thôi miên vào việc chữa bệnh, đi sâu vào tiềm thức, vô thức ,các nhà thôi miên và phân tâm học đã đưa người bệnh trở về ký ức tuổi thơ và “việc gì đến nó sẽ đến” họ đã đưa người được thôi miên về kiếp trước ,các kết quả đã đụng chạm mạnh đến quan niệm “chết là hết”, Niềm tin vào sự Tái sinh (Rebirth), Luân hồi (Metempsychosis, samsara-eternal cycle of birth, suffering, death, and rebirth) một thời đã từng bị nhạo báng, mỉa mai, nay được các nhà khoa học nghiêm túc xem xét lại và thuyết Nhân quả (Nhân duyên) không còn được nhìn với góc độ khô khan duy vật, theo kiểu tam đoạn luận (O+H2=H2O)…mà được nhìn lại với góc độ tổng quát ứng dụng cả với tâm thức & vật chất, nhân quả và luân hồi của đạo Phật đã là cơ sở căn bản để các nhà khoa học ứng dụng và triển khai các nghiên cứu của mình theo nhận thức hiện đại.

Những ai đã từng tìm hiểu về Phật giáo đều choáng ngợp trước kho tàng Kinh, Luật, Luận …vô cùng phong phú của Đao Phật và từng có những trình bày khác nhau về Vũ trụ quan của Phật giáo, tuy nhiên “đại đồng tiểu dị”, tất cả đều công nhận “Ứng với hoạt động của tâm thức sẽ có những thế giới khác nhau tương thích với nó”,

Tổng hợp từ Kinh Phật, các thiền sư, luận sư (Đức Dalai Lama)…chúng ta có thể trình bày mô hình thế giới đó như sau, toàn bộ thế giới này (Pháp giới chúng sinh) được chia làm ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Toàn bộ chúng sinh của ba giới này vẫn phải sinh tử luân hồi,còn những chúng sinh đã tu luyện đủ công đức sẽ thoát vòng luân hồi từ Tứ Thánh, quả vị Bồ tát và cho đến khi đạt được sự toàn giác (quả vị Phật)-Chúng ta cũng cần hiểu rằng chúng sinh theo nghĩa của Phật giáo không chỉ riêng con người mà còn chỉ các chúng hữu tình có tâm thức từ con virus nhỏ bé đến các Atula(Thần) to lớn che được cả mặt trời, từ hữu hình đến vô hình, từ địa ngục cho đến cõi trời cao nhất Phi tưởng phi phi tưởng xứ nghĩa là vô tận, theo Kinh Kim Cang Đức Phật còn có mô tả các loại chúng sinh có lẽ là chính xác nhất: "Có tất cả các loài chúng sanh hoặc loài sanh bằng trứng, hoặc loài sanh bằng thai, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa sanh, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng có tưởng chẳng không tưởng, ta đều khiến vào vô dư niết bàn mà được diệt độ đó…" (Kinh Kim Cang giảng giải- H.T Thích Thanh Từ),nhưng thông thường các Phật tử hay gọi sáu cõi luân hồi(Trời, Atula, người, súc sinh, ngạ quỷ và Địa ngục), chia thành hai đường: tốt 3 cõi trên và xấu 3 cõi dưới

Có một cách trình bày khác là Dục giới có 6 cõi, Sắc giới có 4 tầng (sơ thiền, nhị thiền, tam thiền & tứ thiền chia ra đến 18 cõi. Cõi Vô sắc giới gồm 4 cõi là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Cõi Tứ Thánh gồm có: Tư đà hoàn (Nhập lưu,thất lai),Tư đà hàm(Nhất lai),A na hàm (bất lai) và A la hán chia ra khoảng 17 đến 18 tầng khác nhau, 55 cõi Bồ tát và vô số Phật sái (Cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà, cõi Lưu ly của Lưu ly Quang Vương Phật, cõi Ta bà của Đức Phật Thích ca …)

Nay ta sẽ điểm qua các thế giới mà các chúng sinh sẽ sống tương ứng với tâm thức của mình và cũng cần nói rõ theo quan điểm đạo Phật các chúng sinh theo kết quả của nghiệp mình đã tạo mà sinh ra trong các thế giới theo bốn cách khác nhau: sinh từ trứng gọi là noãn sinh, từ bào thai gọi thai sinh, từ ẩm ướt tăm tối sinh ra gọi là thấp sinh và do biến hóa sinh ra gọi là hóa sinh, Tam hữu hay còn gọi là Tam giới được trình bày như sau:

I/- DỤC GIỚI: Chúng sinh trong cõi này chưa đoạn được ái dục gồm sáu cõi:

1/- Cõi Thiên: gồm 6 bậc nữa khác nhau thường gọi là lục dục thiên được diễn
đạt bằng các từ dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán:
- Tứ Thiên vương Thiên.
- Tam thập tam Thiên.(Đao lợi Thiên)
- Tu diệm ma Thiên. - Đâu xuất Đà Thiên.
- Lạc biến Hóa Thiên.
- Tha hóa tự tại Thiên.

2/- Cõi Atula: gồm bốn giống:
- Từ trứng sinh ra, Thuộc loài quỷ.
- Từ thai sinh ra, thuộc loài người đã lên cõi trời nhưng đức kém
phải sa đọa.
- Từ biến hóa sinh ra, thuộc về loài trời.
- Từ thấp khí sinh ra, thuộc về loài súc sinh.

3/- Cõi Nhân(Người):

4/- Cõi Súc vật:

5/- Cõi Ngạ quỷ:

6/- Cõi Địa ngục: Theo Kinh Lăng Nghiêm mô tả khái quát có : Nặng nhất có Ngục A-Tỳ, 8 Địa ngục vô gián, Địa ngục hữu gián, Thập bát địa ngục(10), Tam thập lục địa(36) ngục, nhất bách linh bát địa ngục(108), còn Kinh Địa Tạng mô tả chi tiết hơn nữa các hình phạt của các địa ngục khác nhau khiến ai nghiên cứu đến đều cảm khái cho thân phận của các chúng hữu tình.

II/- SẮC GIỚI:

Các chúng sinh do tu thiền định mới đạt cảnh giới này, chúng sinh trong cõi này do Hóa sinh mà thành tựu, vẫn còn mang hình dạng thân người, kết cấu được Mật tông miêu tả bằng Tứ đại vi tế (Bốn chủng tử Đất, Nước, Gió, Lửa vi tế), gồm 04 bậc chia 18 cõi khác như sau:

a/-Sơ thiền: (Ly sinh hỷ lạc địa) có các cõi:
- Phạm chúng thiên.
- Phạm phụ thiên.
- Đại phạm thiên.

b/-Nhị thiền: (Định sinh hỷ lạc địa)
- Thiểu quang thiên.
- Vô lượng quang thiên.
- Quang âm thiên.

c/- Tam thiền: (Ly hỷ diệu lạc địa)
- Thiểu tịnh thiên.
- Vô lượng tịnh thiên.
- Biến tịnh thiên.

d/- Tứ thiền: (Xả niệm thanh tịnh địa)
- Phúc sinh thiên.
- Phúc ái thiên.
- Quảng quả thiên.
- Vô tưởng thiên.

Ngang cõi tứ thiền có năm cõi gọi là Tịnh cư thiên hay Bất hoàn thiên, là chỗ ở của các chúng sinh tu luyện đạt quả vị Thánh, bậc nhị thừa gọi là A na Hàm (Bất lai- không quay lại),Nghĩa là không sinh tử luân hồi nữa. gồm có:

a/- Vô phiền thiên.
b/- Vô nhiệt thiên.
c/- Thiện kiến thiên.
d/- Thiện hiện thiên.
e/- Sắc cứu kính thiên.

III/- VÔ SẮC GIỚI:

Từ cõi trời cao nhất của Sắc giới, các chúng sinh có hai đường trẽ:

- Các chúng sinh phát minh trí tuệ sáng suốt viên thông ra khỏi cõi trần đắc A-la-hán, vào Bồ tát thừa gọi là Hồi tâm Đại A-la-hán hoặc Bất hồi tâm độn Ala hán

- Còn lại có 4 cõi cho các chúng sinh chưa thoát sinh tử luân hồi, gồm có

1/- Không vô biên xứ.
2/- Thức vô biên xứ.
3/- Vô sở hữu xứ.
4/- Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Ngoài ra, theo Kinh Lăng Nghiêm còn liệt kê mười dạng Tiên (72 động, ba mươi sáu đảo), gồm có:

1/- Địa hành Tiên.
2/- Phi hành Tiên.
3/- Du hành Tiên.
4/- Không hành Tiên.
5/- Thiên hành Tiên.
6/- Thông hành Tiên.
7/- Đạo hành Tiên.
8/- Chiếu hành Tiên.
9/- Tinh hành Tiên.
10/- Tuyệt hành Tiên.

Những chúng sinh tu Tiên thường xa lánh sự ồn ào náo nhiệt, ưa thích nơi thanh vắng yên tĩnh để "Thanh tâm, quả dục", nhằm từng bước đoạn diệt "Thất tình, lục dục", "Luyện Tinh hóa khí, luyện khí hóa Thần, luyện thần hòan Hư", khi thành công có những hiệu quả phi thường tùy theo pháp môn đã chọn, những vị tu theo Đạo Lão, Yogi có thể liệt trong dạng này, theo nhận định nhà Phật những chúng sinh này gần gủi Đạo Phật nhất.

Mật tông Tây Tạng còn liệt kê và xem trọng một cõi nữa là cõi Trung giới hay còn gọi là Cõi Âm, nơi chuyển tiếp các tâm thức sau khi thác và trước khi tái sinh vào các cõi nêu trên.

Tóm tắt vũ trụ quan Phật giáo: “Thế giới này có nhiều chiều không gian khác nhau, các chiều không gian đó tương ứng với kết quả hành động (thân, khẩu ý) của từng cá nhân (biệt nghiệp), tập thể (cộng nghiệp) ; và chủ yếu là từng tâm thức của các chúng sinh, loài người của chúng ta là một trong những cõi đó, mỗi cõi đều có những quy luật, định luật khác nhau nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại, thế giới chúng ta nhận thức hiện tại bằng các giác quan(lục nhập:nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý) hoặc bằng trợ lực của máy móc thiết bị hiện đại…kính thiên văn, hiển vi,gia tốc …chỉ là những kiến thức “người mù sờ voi”"

Có một cách trình bày khác về vũ trụ có thể nói thuần vật chất; theo Kinh Phật đã phân loại các thế giới thành ba loại: Tiểu thiên thế giới, Trung thiên thế giới và Đại thiên thế giới (cần nói rõ chữ thiên ở đây hàm nghĩa số ngàn, không phải nghĩa trời) và vũ trụ có vô số vô biên các Đại thiên thế giới, thế giới theo nghĩa này chỉ một thiên thể, một ngàn thiên thể là Tiểu thiên thế giới, một ngàn Tiểu thiên thế giới là Trung thiên thế giới, một ngàn Trung thiên thế giới là Đại thiên thế giới. Như vậy Tiểu thiên gồm 1000 thiên thể, Trung thiên một triệu và Đại thiên là một tỷ.

Có người lại đặt vấn đề thế giới là một thiên hà vậy Tiểu thiên một ngàn Thiên hà, Trung thiên một triệu Thiên hà và Đại thiên một tỷ. Các cách trình bày này có phần hơi cực đoan, có lẽ cách trình bày của Bồ tát Phổ hiền trong Kinh Hoa Nghiêm là gần gũi với kiến thức ngành thiên văn học hiện đại nhất:

"Lúc đó Phổ Hiền lại bảo đại chúng rằng: Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn...hoặc hình nước xoáy...hoặc hình như hoa...có vô số vi trần sai khác như vậy"

Và trong phẩm "Hoa tạng thế giới" chúng ta sẽ xem lại các đoạn kinh văn sau:

"Chư Phật tử! Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu di... hoặc hình nước xoáy... hoặc hình trục xe... hoặc hình hoa sen..., có vô số vi trần hình trạng như vậy"

So sánh với hình trạng các chòm sao, các giải thiên hà, ngân hà mà khoa học khám phá gần đây người ta nhận thấy hình dạng giống một cách lạ lùng theo mô tả trên, thí dụ hình bánh xe, nước xoáy đã quan sát được trong các chòm sao: Cetus, Pegasus và Hercules, hình sông là giải ngân hà (Milky) và trong nhiều thiên hà khác; hình dạng hoa là những khối tinh vân trong không gian Liên thiên hà (intergalatic clouds of gas)... .-Trích từ PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI KHOA HỌC- Trần Chung Ngọc, PHẬT HỌC CƠ BẢN-Tập 4, trang 322,323,324-Nhà xuất bản Tôn giáo-

Như vậy ta không thể biết thiên hà chúng ta hình dạng gì, vì với khả năng hiện tại tàu vũ trụ chưa thể bay ra ngoài thiên hà này quan sát vì bay từ đầu thiên hà này sang bên khác phải mất hàng triệu năm ánh sáng, nhưng có một mô tả khác trong Kinh Phật: Cõi Ta bà "ngũ trược ác thế" này có hình dạng núi Tu di, Phía Bắc có Bắc câu lô châu, nam có Nam thiên bộ châu, đông có Đông thắng thần châu và tây có Tây ngưu hóa châu. Hình dạng Thiên hà chúng ta có dạng núi Tu-di một ý niệm đầy cảm hứng và dĩ nhiên còn chờ sự xác nhận của ngành Thiên văn học.

Đó là nói về không gian còn thời gian theo các nhà khoa học: " Thời gian là sự vận động của vật chất" và một năm tính theo chu kỳ trái đất quay đúng một vòng xung quanh mặt trời, như vậy thời gian của các thiên thể, ngân hà và thiên hà sẽ có những cách tính sai biệt rất lớn, vào thế kỷ 20 những phát hiện của nhà bác học lỗi lạc Einstein đã làm lung lay quan niệm phân chia không và thời gian một cách cơ học bằng công thức nổi tiếng E=mc2 , đã thiết lập mối tương quan mật thiết giữa năng lượng, vật chất và tốc độ (x/t) cũng có nghĩa là quan hệ chặt chẽ với thời gian, với c là tốc độ ánh sáng được tính tròn 300.000km/giây, một quan niệm mới ra đời với Hệ Không-Thời gian bốn chiều, khối lượng vật chất thay đổi khi tốc độ hay thời gian thay đổi, và tại sao không? dĩ nhiên đã có không gian bốn chiều thì sẽ có thể có nhiều chiều không gian khác nhau mà các nhà khoa học đang miệt mài khám phá...!

Phật giáo thì sao? đã có phân loại như sau: Tiểu kiếp có 16.800.000 năm, Trung kiếp có 336 triệu năm, Đại kiếp có một tỷ 334 triệu năm. Theo nhà Phật vũ trụ này luôn trải qua các thời kỳ sau: Thành nghĩa là sự bắt đầu hình thành vũ trụ tương đương vụ nổ Big Bang nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại, Trụ nghĩa các thiên hà, ngân hà và trái đất mới hình thành và là nơi cho các chúng sinh với muôn vàn sai biệt xuất hiện theo luật nhân quả, luân hồi và tiến hóa, Hoại nghĩa là vũ trụ đã già cỗi và chúng sinh cũng đi vào thời kỳ nhà Phật gọi là "Mạt Pháp", Không nghĩa là vũ trụ sụp đổ tương đương thời mặt trời đã phóng hết năng lượng vật chất của mình và "lỗ đen" xuất hiện, còn chúng sinh đi vào thời kỳ Ki tô giáo gọi là tận thế.

Nhà Phật cũng thường diễn đạt không gian bằng các câu "mười phương chư Phật" trong đó mười phương có nghĩa tám hướng cộng phương trên và phương dưới là mười phương, thật là một cách diễn đạt không gian chính xác không bắt bẻ vào đâu được dù đối tượng khảo sát tọa vị tại bất cứ điểm nào trong vũ trụ, còn "quá khứ, hiện tại. vị lai" diễn tả tình trạng "vô thủy, vô chung" của thời gian tương đương -∞ đến +∞ trên trục thời gian toán học hiện đại, hiện tại được phật tử quan niệm bao gồm một nửa là quá khứ và một nửa là tương lai...

Có một cách diễn đạt thời gian khác, nhất là Thiền và Mật tông, thời gian là một tiểu niệm tương đương một Sát-na, và cũng tuân theo quy luật Thành, Trụ, Hoại, Không nhưng với tốc độ cực nhanh trong tâm thức của mỗi chúng sinh, có thể ví như những sóng của điện não đồ, điều này không phải mơ hồ, thực tế có những người "Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại", có những người ngồi cạnh người yêu "Thời gian sao qua nhanh thế", hoặc trong khoa học độ dài được xác định bằng bước sóng... vvv và vvv. Theo Luật Tăng Kỳ thì: " Một khảy móng tay có 20 cái nháy mắt, một nháy mắt có 20 đại niệm, một đại niệm có 90 tiểu niệm(sát na)", tức là một khảy móng tay có 36.000 sát na đã trôi qua.

Với quan niệm thời gian là niệm(Sát-na) của tâm thức thì cùng với mô hình không-thời bốn chiều với mối liên quan giữa năng lượng, vật chất và tốc độ(Thời gian) đã biến đổi thành mối quan hệ mới và ta có thể nói là quan hệ giữa năng lượng, vật chất và tâm thức đã được thiết lập, điều này mới có thể lý giải vì sao có những chúng sinh tu luyện đạt các khả năng phải nói là phi thường, ngoài sức tưởng tượng (thần thông) không phải chỉ trong Kinh sách mà ngay trong thời hiện tại có người nhập định không ăn không uống trong một thời gian dài, hoặc có những người phủ đầy nước đá vẫn không hề hấn gì ..., nhận định này rất quan trọng- xin nhấn mạnh- vì nó sẽ là căn cứ để giải thích các phần sau.

Và toàn bộ vũ trụ này, theo Kinh Lăng Nghiêm chỉ là "Bọt nước trong biển lớn" xin trích nguyên văn: "Một phen lầm cái tướng ấy làm tâm thì quyết định lầm cho tâm ở trong sắc thân, mà không biết rằng cho đến núi sông, hư không, đất liền bên ngoài đều là những vật hiện trong tâm tính; ví như bỏ cả trăm nghìn biển lớn trong lặng, chỉ nhận cái bọt nước rồi cho nó là toàn hết cả nước, cùng tột biển lớn ...", (Trang..., KINH LĂNG NGHIÊM- Tâm Minh dịch-Nhà xuất bản Tp HCM), hoặc "Nên biết, hư không sinh ra ở trong tâm ông cũng như chút mây điểm trên vùng trời, huống là các thế giới ở trong hư không..." (Trang752, KINH LĂNG NGHIÊM- Tâm Minh dịch-Nhà xuất bản Tp HCM).

Hoặc theo Kinh Viên Giác chỉ là "hoa đốm" trong hư không và trong Kinh Kim Cương Đức Phật xác định:

"Nhất thiết hữu vi Pháp.
Như mộng, huyễn, bào, ảnh.
Như lộ diệc như điện.
Ưng tác như thị quán".

H.T Thích Thanh Từ người nối tiếp và phục hồi Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam đã
dịch:

"Tất cả pháp hữu vi .
Như mộng, huyễn, bọt, bóng.
Như sương cũng như điện.
Nên khởi quán như thế".

-Trích từ KINH KIM CANG Giảng giải- H.T Thích Thanh Từ,trang 247,248 -Nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh-

Pháp hữu vi ở đây có thể hiểu là toàn bộ thế giới (Tam cõi), bao gồm cả vật chất và tâm thức, hữu hình và vô hình còn trong cõi luân hồi.

Những bí ẩn của vũ trụ là vô tận so với khả năng và giới hạn của chúng ta, và vũ trụ này “vô tận cả về chiều sâu lẫn chiều rộng” theo cách diễn đạt của chủ nghĩa duy vật biện chứng và vũ trụ này luôn dịch chuyển theo Kinh Dịch -một bộ sách cổ Trung quốc được các nhà khoa học ca ngợi là công thức của vũ trụ, và Lão tử một triết gia cổ đại Trung quốc đã khẳng định trong Đạo đức Kinh:

Vô danh Thiên Địa chi thủy.
Hữu danh vạn vật chi mẫu.
Nguyên thủy của trời đất là không tên .
Có tên là mẹ của vạn vật.

Hoặc vũ trụ biến đổi biến đổi theo quy luật “Thành, Tựu,Hoại, Không” nếu nói theo ngôn ngữ Phật giáo mà các Phãt tử gọi là vô thường, một trong những phát hiện quan trọng nhất của Phật giáo là sự biến đổi trong tâm thức của chúng ta quyết định vận mệnh của chính mình và sự tương quan thế giới, và Áo nghĩa thư một bộ kinh văn cổ của Ấn độ đã xác định "sự xoay chiều của tâm thức" hay Đạo Phật; "Hồi đầu thị ngạn", quay lại là thấy bến bờ mới là mục đích của từng cá nhân, của cả dân tộc, của từng quốc gia, của toàn thể nhân loại và các thế giới khác còn trong vòng luân hồi sinh tử, sự tương quan giữa các tâm thức và thế giới theo kinh Hoa Nghiêm như lưới Phạm võng (lưới trời) có thể ví như mạng lưới kết nối của các phân tử và trước một vũ trụ quan sinh động như vậy Đức Phật vẫn tuyên bố "chân lý đó chỉ là lá trong nắm tay trước cánh rừng chân lý vũ trụ" nhưng cũng đủ "giúp các ngươi giải thoát" -xin nhấn mạnh- và mỗi cá nhân hay chúng sinh đều là một vị Phật tiềm năng.

Thông thường các Phật tử đều quan niệm vũ trụ kết cấu bởi Tứ đại: Đất, Nước, Gió, Lửa, nghĩa là thuần vật chất, nhưng nghiên cứu sâu Kinh Lăng nghiêm ta thấy Đức Phật đã xác định vũ trụ luôn tiềm ẩn và kết cấu bởi Thất đại (các chủng tử hình thành các thế giới): Địa đại, Thủy đại, Phong đại, Hỏa đại, Không đại, Kiến đại và Thức đại, trong đó Thức đại có vai trò cực kỳ quan trọng và quan niệm này gần gủi với khoa học nhất

Và để khỏi lạc đề chúng ta hãy xem xét trước cấu trúc vũ trụ quan bao quát như vậy Đức Phật đã xây dưng một nhân sinh quan cho nhân loại như thế nào? Tại sao mỗi người đều có tiềm năng Phật tính mà vẫn mãi trôi nổi luân hồi trong lục đạo?-"Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành".
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 27 2016, 10:16 AM
Gửi vào: #115


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



B/- NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO:

Nghiên cứu sâu các Pháp mộn tu của Đạo phật, có 84.000 pháp mộn tương ứng 84.000 tâm thức chúng sinh, dù là Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông... , ta nhận thấy Đức Phật đã vận dụng phương pháp mà khoa học hiện nay gọi là tối ưu hóa, vận trù học.. trong các pháp môn của mình, ứng dụng được cho bất cứ hoàn cảnh nào, và bất cứ cá nhân, hoặc tập thể nào khác.

Chúng ta có thể xem lại đoạn văn trong Kinh Hoa nghiêm Đức Phổ Hiền Bồ tát đã tuyên thuyết:

"Chư Phật tử! Nên biết rằng Thế giới hải có Thế giới hải vi trần số kiếp trụ, hoặc có A- tăng-kỳ kiếp trụ, hoặc có vô lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất khả sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ, hoặc có bất thuyết kiếp trụ ..., có vi trần số kiếp trụ như vậy".(Trang 323,PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI KHOA HỌC, Trần Chung Ngọc, PHẬT HỌC CƠ BẢN -Nhà xuất bản Tôn Giáo-

Với cách trình bày trên ngài đã cho ta thấy sự vô tận của vũ trụ, vi trần theo một số Kinh văn đã trình bày là lấy một hột cát sông Hằng chia nhỏ như toàn bộ số cát sông Hằng hiện có , và lấy hột cát đã được chia lại chia nhỏ như toàn bộ số cát sông Hằng lần hai , cứ thế tiếp tục gọi là "vi trần", với phương pháp sư phạm trực quan sinh động như vậy Đức Phật quả là nhà sư phạm tiêu biểu, và nếu chia như vậy vi trần có thể đã tiến đến đơn vị theo cách diễn đạt ngày nay là nguyên tử thậm chí là điện tử hoặc các hạt đã được phát hiện, Thế giới hải chúng ta có thể hiểu là mô hình vũ trụ quan đã nêu trên,Trụ là giai đoạn kế sau giai đoạn hình thành của quy luật Thành, Tựu(Trụ), Hoại, Không của vạn sự vạn vật, Kiếp khoảng thời gian của giai đoạn thành, trụ, hoại, không, A-Tăng-kỳ là con số vô cùng lớn, vô lượng không hạn về số lượng, vô biên là không hạn chế về không gian, vô đẳng là không bằng hoặc không giống nhau, bất khả sổ là không thể đếm hết được, bất khả xưng là không thể nêu hết được, bất khả tư không thể nghĩ nhớ hết được dĩ nhiên bằng trí óc thông thường của chúng ta, bất khả lượng không thể tính toán được, bất khả thuyết là không thể nói ra hết được.

Theo Kinh Phật :

- Lạc xoa = 100.000 = 105
- Câu chi = 10.000.000 = 107
- A-Giu-Da = 100.000.000.000.000. =1014
- Na-do-tha = 10 tỷ tỷ tỷ = 1028
- Tần-Bà-La = 1056

Và cứ tiếp tục như vậy là 123 lần, theo cách tính của các nhà khoa học, nếu chỉ
lấy 9 con số lẻ , A-Tăng-Kỳ khoảng = 107.098843361x10lũy thừa 3 nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi hơn 7.000 tỷ tỷ tỷ con số 0 ở sau !!!, trong khi con số các nhà khoa học hiện đại có lẽ chỉ dùng khoảng 40 số lẻ ở sau. (Trang 325,326, PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI KHOA HỌC, Trần Chung Ngọc -PHẬT HỌC CĂN BẢN- Nhà xuất bản Tôn Giáo-)

Và Ngài đã giải thích: "Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số, bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng", Rõ ràng "...bởi những tâm nguyện chẳng đồng" đã có nhiều "Thế giới hải" tương thích với nó xuất hiện, với vũ trụ quan đã trình bày, con người có nhiều lộ trình để tiếp tục đi sau khi thác, là con người dù tâm thức cực ác, ai cũng mong muốn điều tốt đẹp đến với mình, căn cứ bản đồ vũ trụ quan ta nhận ra rằng nhân loại nằm trong cõi Dục giới (Thiên, A-tu-la, Nhân, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục),

Theo Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật đã chỉ khái quát quá trình phát triển tâm thức chúng sinh như sau: (Tưởng có thể hiểu là lý tưởng và quá trình vô ngã là mục tiêu cao nhất của lý tưởng con người, Tình có thể hiểu là chấp ngã hay ái dục mỗi cá nhân).

"1/- Thuần là Tưởng bay lên sinh cõi trời, nếu tâm gồm có phúc đức trí tuệ cùng với tịnh nguyện, tư nhiên tâm khai ngộ thấy tất cả tịnh độ thập phương chư Phật, theo nguyện vãng sinh.(Chư Thiên, Cõi Tịnh độ...)

2/- Tình ít, tưởng nhiều, cất lên không xa làm phi Tiên, đại lực Quỷ Vương, phi hành Dạ xoa, địa hành La-sát, đi khắp bốn cõi trời, không bị ngăn ngại. Nếu nguyện, tâm tốt, hộ trì Phật pháp, hộ trì cấm giới, theo người trì giới, hộ trì thần chú, hộ trì thiền định, giữ yên Pháp nhẫn, thì những hạng đó, chính mình được ở dưới pháp tọa Như lai.(Atula)

3/- Tình và tưởng cân nhau, không bay lên, không đọa xuống, thì sinh nơi nhân gian; tưởng sáng suốt nên thông minh, tình u ám nên ngu độn.

4/- Tình nhiều, tưởng ít, đi vào các loại hoành sinh, nặng làm giống có lông, nhẹ làm giống có cánh (Súc sinh).

5/- Bảy phần tình, ba phần tưởng, chìm xuống dưới thủy luân, sinh nơi mê hỏa luân chịu khí phần của lửa hồng, thân làm Ngạ quỷ, thường bị đốt cháy, vì nước có thể hại mình, nên trải trăm nghìn kiếp không ăn, không uống(Ngạ Quỷ).

6/- Chín phần tình, một phần tưởng, xuống thấu qua hỏa luân, và giữa giao giới phong luân và hỏa luân, nhẹ thì sinh vào hữu gián, nặng thì sinh vào vô gián (Địa ngục).

7/- Thuần là tình, chìm sâu vào ngục A-tỳ; nếu trong tâm chìm sâu đó, lại có hủy báng Đại thừa, phá cấm giới của Phật, lừa dối nói Pháp để tham cầu tín thí, lạm nhận cung kính hoặc phạm ngũ nghịch, thập trọng thì lại còn sinh vào địa ngục A-tỳ thập phương. (ở ngục A- tỳ này nếu thiên hà sụp đổ, lại có thiên hà khác thành lập và một A-tỳ khác dành chỗ cho các chúng sinh này cho đến khi hết nghiệp tái sinh lại cõi giới khác)". (Trang 697,688,689- KINH LĂNG NGHIÊM- Tâm Minh dịch-Nhà xuất bản Tp HCM)

Để đạt các cõi giới tốt đẹp mà theo cấu trúc vũ trụ đã trình bày, thông thường nhà Phật có các Đạo lộ sau:

I/- Cõi Nhân:

Những chúng sinh thọ Tam quy(Phật,Pháp,Tăng); trì ngũ giới(sát, đạo,vọng, dâm, nghiện ngập) sẽ tái sinh cõi người, dĩ nhiên còn nhiều nhân khác quyết định từ hình dạng(thân, khẩu, ý hoặc tốt hoặc xấu) bao gồm Thân: đẹp, xấu; Khẩu: tiếng nói dịu dàng, thanh tao, sư tử hống hoặc Phạm âm;Ý có thể thông minh hoặc ngu dốt, và còn những nhân quả khác quyết định nơi chốn sinh ra từ gia đình(giàu,nghèo), đô thị hay thôn quê, rừng núi, từ dân tộc cho đến quốc gia, và từ trái đất thậm chí ngân hà hoặc thiên hà nếu hiểu theo nghĩa bao quát.

II/- Cõi A-Tu-La:

Những chúng sinh đã tạo ít nhiều công đức (bố thí, cứu người, chẩn tế ...), nhưng vẫn còn ít nhiều sân hận thì sau khi thác sẽ tái sinh cõi này, có lẽ các vị thần thuộc cõi này.

III/- Cõi Thiên: (Mười điều Thiện)

Những chúng sinh tu Thập Thiện sẽ tái sinh cõi này, cần nhấn mạnh các vị Thánh, Bồ tát cũng lấy Thập thiện làm căn bản tu tập của mình. Theo Kinh Thập Thiện gồm có các đề mục sau: "Những gì là mười? -Là hằng lìa sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, vọng ngữ, hai lưỡi,ác khẩu, ỷ ngữ. tham dục, sân khuể và tà kiến"(Trang 48, KINH THẬP THIỆN trong PHẬT TỔ NGŨ KINH- HT Thích Hoàn Quan-Nhà xuất bản Tp HCM).

Có một cách trình bày khác Thiện, ác khác:

1/- Thân: có ba không sát (giết hại chúng sinh), đạo (trộm cắp), dâm (tà dâm) là thiện, ngược lại là ác.

2/- Khẩu có bốn không vọng ngữ (nói dối...), hai lưỡi (đâm thọc ...), ác khẩu (nói với ý định não hại chúng sinh...), ỷ ngữ (nói thêu dệt, nhằm mục đích hại người lợi mình...)

3/- Ý : cũng có ba không tham (ái dục), sân (nóng giận) và si (tà kiến: chết là hết, không lo tu mong có vị thần toàn năng cứu rỗi...) là thiện, ngược là ác. (Trang 164, TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG KINH trong PHẬT TỔ NGŨ KINH- HT Thích Hoàn Quan-Nhà xuất bản Tp HCM).

IV/- Cõi Thánh (A-La-Hán):(Thanh văn thừa trước đây còn gọi là Tiểu thừa nghĩa là cổ xe nhỏ)

Những chúng sinh đi theo lộ trình này lấy mục tiêu giác ngộ bản thân là chủ yếu, có bốn quả vị là: Nhập lưu(Dự lưu, Nghịch lưu) hay còn gọi thất lai nghĩa là tái sinh bảy lần nữa(Tu đà hoàn), Nhất lai tái sinh một lần nữa(Tư đà hàm), Bất hoàn (A na hàm) không tái sinh thiết lập chỗ ở cõi trời cao nhất (cõi 19) của sắc giới để tu luyện, A la Hán (Vô sanh, Sát tặc, Ứng cúng) là "những vị có thể phi hành biến hóa, mạng sống lâu dài, an trụ ở đời động cả trời đất" (Trang 143, TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG KINH trong PHẬT TỔ NGŨ KINH- HT Thích Hoàn Quan-Nhà xuất bản Tp HCM)

Nền tảng căn bản đạo lộ này lấy Tứ Diệu Đế(Khổ, Tập, Diệt, Đạo) mà các nhà nghiên cứu phương Tây thường gọi là Tứ Thánh Đế làm đề mục căn bản, pháp môn tu tổng quát gồm 37 được gọi là ba mươi bảy phẩm trợ Đạo Bồ đề, trong đó Bát chánh Đạo và ngũ lực.chiếm vị trí quan trọng, theo Đức Đạt-lai Lạt-ma trong buổi thuyết giảng tại trường Đại Học Havard tháng 8 năm 1981, có khoảng 17 đến 18 cõi dành cho Đạo lộ này.

Ba mươi bảy phẩm trợ Đạo Bồ Đề chia bảy nhóm:

1/- Tứ niệm xứ: nghĩ bốn đối tượng quan trọng thân, thọ, tâm và pháp.
- Quán Thân bất tịnh.
- Quán Thọ thị khổ. - Quán Tâm vô thường.
- Quán Pháp vô ngã.

2/- Tứ chánh cần:
- Điều Ác đã sanh cần trừ dứt.
- Điều Ác chưa sanh đừng cho sanh. - Điều Thiện chưa sanh cho sanh ra.
- Điều Thiện đã sanh rồi làm cho lớn lên.

3/- Tứ như ý túc:
Gồm bốn phép thần thông do đại định sinh ra:
- Niệm: Nghĩ nhớ.
- Dục: Ưa muốn. - Tấn: Tinh tấn.
- Huệ: Trí huệ.

4/- Thất giác chi: Bảy món giác ngộ
a/- Trạch pháp: Lựa chọn pháp.
b/- Tinh tấn: siêng năng.
c/- Hỷ: Vui mừng.
d/- Khinh an: nhẹ nhàng, an tĩnh. e/- Niệm: Nhớ, nghĩ.
f/- Định: Thiền định.
g/- Hành xả: Lòng tu hành bình đẳng, không vướng mắc.

5/- Ngũ căn: Gồm có Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ.

6/- Ngũ Lực: Tức là Ngũ căn, nhưng đứng về phương diện tu hành đối trị

7/- Bát chánh Đạo: Tám con đường chân chánh, cũng gọi là Bát thánh đạo.
a/- Chánh kiến: Cái thấy chân chánh
b/- Chánh tư duy: Suy nghĩ chân chánh.
c/- Chánh ngữ: Lời nói chân chánh.
d/- Chánh nghiệp: Hành vi chân chánh e/- Chánh mệnh: Sinh hoạt chân chánh.
f/- Chánh tinh tấn: Siêng năng việc tốt.
g/- Chánh niệm: Nghĩ nhớ chân chánh.
h/- Chánh định: Thiền định chân chánh.

V/-Cõi Bồ Tát, Độc giác: (Duyên giác, Bích chi Phật)

- Duyên giác: Ra đời gặp Phật dạy, quán 12 nhân duyên mà được ngộ đạo.

Những chúng sinh tu theo Đạo lộ này, lấy mục đích "Tự giác, Giác tha" nghĩa là tu tập đạt giác ngộ và phát đại nguyện cứu giúp chúng sinh, pháp môn tu thường được gọi là Thập nhị nhân duyên gốm có:

1/- Vô minh
2/- Hành
3/- Thức
4/- Danh sắc
5/- Lục nhập
6/- Xúc
7/- Thọ
8/- Ái
9/- Thủ
10/- Hữu
11/ Sanh
12/- Lão tử

Nghiên cứu sâu xa hơn, những chúng sinh tu hành Bồ Tát đạo còn lấy sáu pháp Ba la mật đa làm tôn chỉ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ, theo Kinh Lăng nghiêm các vị này lần lượt tu đạt 55 quả vị sau:

1/- Càn tuệ địa:
Không quán thành tựu(A la hán), căn bản trí xuất hiện nhưng chưa viên mãn

2/- Thập tín:
- Tín tâm trụ.
- Niệm tâm trụ.
- Tinh tiến tâm.
- Tuệ tâm trụ.
- Định tâm trụ. - Bất thối tâm.
- Hộ pháp tâm.
- Hồi hướng tâm.
- Giới tâm trụ.
- Nguyện tâm trụ.

3/- Thập trụ:
- Phát tâm trụ.
- Trị địa trụ.
- Tu hành trụ.
- Sinh quý trụ.
- Cụ túc trụ. - Chính tâm trụ.
- Bất thối trụ.
- Đồng chân trụ.
- Pháp vương tử trụ.
- Quán đỉnh trụ.

4/- Thập hạnh:
- Hoan hỉ hạnh.
- Nhiêu ích hạnh.
- Vô sân hận hạnh.
- Vô tận hạnh.
- Ly si loạn hạnh. - Thiện hiện hạnh.
- Vô trước hạnh.
- Tôn trọng hạnh.
- Thiện pháp hạnh.
- Chân thật hạnh.

5/- Thập hồi hướng:
- Cứu hộ nhất thiết chúng sinh, Ly chúng sinh tướng hồi hướng.
- Bất hoại hồi hướng.
- Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng.
- Chí nhất thiết xứ hồi hướng.
- Vô tận công đức tạng hồi hướng.
- Tùy thuận thiện căn hồi hướng.
- Tùy thuận đẳng quán nhất chúng sinh hồi hướng.
- Chân như tướng hồi hướng.
- Vô phược giải thoát hồi hướng.
- Pháp giới vô lượng hồi hướng.

6/- Tứ gia hạnh:
- Noãn địa.
- Đỉnh địa. - Nhẫn địa
- Thế hệ đệ nhất địa

10/- Thập địa:
- Sơ địa, hoan hỷ địa.
- Ly cấu địa.
- Phát quang địa.
- Diệm tuệ địa.
- Nan thắng địa. - Hiện tiền địa.
- Viễn hành địa.
- Bất động địa.
- Thiện tuệ địa.
- Pháp vân địa.

11/- Đẳng giác: Đồng giác tính bình đẳng với Như lai.
12/- Diệu giác: Thành đạo vô thượng.

- Độc giác: ra đời không gặp Phật, hoặc quán 12 nhân duyên, hoặc quán hoa rơi, lá rụng mà tự ngộ đạo.

Các Đạo lộ trên đây cũng được gọi là ngũ thừa Phật giáo: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Bồ tát thừa và Độc giác.

Với người xuất gia chỉ có tam thừa: Thanh văn, Độc giác và Bồ tát.

Tại sao cùng với một tâm đó mà chúng sinh có quá nhiều hình trạng và thế giới khác nhau như vậy?, theo quan điểm nhà Phật, Điểm Linh quang(theo cách nói của Mật Tông) hay Phật tánh hoặc Tâm thức bắt đầu chấp ngã, mà Kinh Viên Giác gọi là Vô minh, thì với Tâm thức đó không gian được thành lập và Tâm hay thức phàm tình xuất hiện, một khi đã chấp ngã thì theo Kinh Kim Cang sẽ chấp Nhân, chấp Chúng sinh và chấp Thọ mạng, từ đó "thế giới hải" cũng thành lập.

Kinh Viên giác xác định rất rõ chấp ngã chính là vô minh, và chấp ngã nghĩa là nhận thân tứ đại và tâm đang suy nghĩ(tâm phàm tình) chính là mình(KINH VIÊN GIÁC Giảng Giải, Trang 22;23, HT Thích Thanh Từ, Nhà xuất bản Tôn Giáo) , từ chấp Ngã thì tất nhiên đối cảnh sinh tình, cái gì hợp thì yêu thích..., ngược lại thì ghét bỏ..., và đối tượng của chấp ngã chính là người(nhân) và mọi người(chúng sinh), và còn chấp thọ mạng(thời gian) nghĩa là phải có khởi đầu và có kết thúc. Từ đó con người đến một lúc nào đó tuyệt vọng như trong tác phẩm Hiệp khách hành: "Ta là ai, ta từ đâu tới và sẽ đi về đâu?" của Kim dung Tiên sinh, cũng là câu hỏi trăn trở ngàn đời của nhân loại.

"Tâm viên, ý mã", điều này khoa học và Đạo Phật đồng qui tại một điểm, tư tưởng chúng ta luôn biến động liên tục, nó làm chúng ta tiêu ma hết năng lương, có thể nói kết cấu suy tư chúng ta là âm thanh và hình tượng, ai sử dụng ngôn ngữ nào thì cũng suy nghĩ theo âm thanh ngôn ngữ đó, các hình ảnh của quá khứ, hiện tại và vị lai liên tục xuất hiện trong bộ óc chúng ta, ai chấp ngã càng nặng thì khi lục căn(nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân và ý) tiếp xúc sáu trần(sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp) thì hỉ, nộ, ái, ố, bi, ai, sầu, cụ; thể hiện tình cảm con người cũng xuất hiện, từ đó thông qua khẩu và thân chúng ta tạo nghiệp(tiếng Phạn gọi là Kama). Nó là nguyên nhân lôi kéo chúng sinh vào sinh tử, luân hồi.

Ngành Tâm lý học chúng ta thường phân ra: lý trí, tình cảm và ý chí, và Phân tâm học còn nghiên cứu thêm về Tiềm thức, Vô thức. Trong Đạo Phật có ngành Duy Thức học, tương truyền Đức Phật vị lai là Đức Di lặc và Duy Thức học sẽ là pháp môn chủ yếu của ngài, như tên gọi pháp môn này chú trọng về tâm, theo Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân thì tâm có Thức A-lại-da(Tàng thức) tương đương Tiềm thức hay Vô thức, theo nhà Phật thức này chứa đủ các việc thiện, ác và vô ký(không thiện, không ác) của chúng sinh từ vô thủy; Mạt-na thức tương đương tình cảm, ý chí; ý thức tương đương lý trí ngoài ra còn có các thức khác là Nhãn thức(do mắt tiếp xúc đối tượng sinh ý thức), Nhĩ thức, Tỉ thức, Thiệt thức và Thân thức, tổng cộng là bát thức. Nhà Phật xác định tuy nhiều Thức như vậy nhưng cùng một Tâm sinh ra, chia ra như vậy tùy vào công năng của chúng.

Theo nhà Phật khi Tâm càng lúc càng định thì Trí huệ, Từ bi và năng lực(thần thông) càng phát triển để đạt điều đó, nghiên cứu sâu vào các pháp môn chủ yếu hiện nay: Tịnh độ tông(Trì Kinh là chủ yếu, Thiền tông (Thiền định là chủ yếu) và Mật tông (Thiền, trì chú ...) ta nhận thấy các Bậc thầy đã áp dụng quy luật phản xạ có điều kiện cho chúng sinh tu tập: Tịnh thì miệng tụng kinh, tai nghe thân thúc liễm. Thiền thì Chỉ(cột tư tưởng vào đề tài) và Quán (luôn quán sát đối tượng, chẳng hạn quán thân bất tịnh...). Mật tông (Thiền, tay bắt ấn, miệng trì chú...), cho đến khi Tâm đã trở thành phản xạ vô điều kiện hay nói cách khác Tâm tự nhiên và trải qua các trạng thái tâm của Sắc giới(Ly sinh hỷ lạc, Định sinh hỷ lạc, Ly hỷ sinh diệu lạc và Xả niệm thanh tịnh địa), từ đó tiến tiếp trạng thái tâm của bốn quả vị Thánh, 55 quả vị Bồ tát hướng đến tâm Viên giác và quả vị Phật. Có người ví von người tu phải luyện tâm như luyện thân thể hàng ngày để sức khỏe của Thân, Tâm ngày càng tráng kiện.

Trong nhà Phật còn quan điểm có 3 lực : Tự lực( Tự thân tu luyện), Tha lực(Sự trơ lực các vị Phật, Bồt tát, Thánh) và Phương tiện lực(năng lực vũ trụ thông qua âm thanh, ấn quyết, các Mạn đà la...), và chúng ta thấy rằng trong Tịnh vẫn có Mật, Thiền và các Pháp môn khác cũng tương tự, nghĩa là tổng hợp và trong đó chú trọng Tự lực, "Các ngươi hãy tự thắp đuốc lên mà đi"."Chiến thắng vạn quân không bằng chiến thắng chính mình, chiến thắng chính mình là chiến công oanh liệt nhất". Và dĩ nhiện Phật tổ là con người đã chiến thắng chính mình oanh liệt nhất!.

Cần nói rõ hơn về Chú trong nhà Phật, những ai có kinh nghiệm cuộc đời đều công nhận bùa phép là có thật, dĩ nhiên chúng ta chỉ chứng kiến dạng bùa phép nhảm nhí, Đạo Phật cấm tu luyện thần thông, mà chú trọng tu đạt Trí huệ Vô ngã(Bát nhã), phát triển Bồ đề tâm(Bodhi Citta) còn các năng lực khác sẽ tự nhiện đạt đươc theo mỗi cảnh giới thực chứng. Quả thật một người chấp ngã nặng nề mà nắm quyền lực thì khác gì con nít cầm súng đạn.

Là Phật tử ai cũng biết thần chú Đại Bi của ngài Quán Thế Âm: Án Ma Ni Bát Di Hồng được phiên âm từ Hán tự Trung quốc, mà âm Trung quốc này lại được phiên âm từ tiếng Phạn: OM MANI PADME HUM do đó phát qua âm tiếng Việt hơi sai lệch, "sáu âm này tịnh hóa tất cả sáu phiền não gốc, biểu hiện của vô minh khiến chúng ta làm những ác nghiệp của thân, khẩu và ý tạo ra luân hồi, sinh tử trong đó: Kiêu mạn, ganh tị, dục vọng, ngu si, thèm khát và giận dữ, nhờ thần chú này mà được chuyển hóa về bản chất thực của chúng, trí giác của sáu bộ tộc Phật thể hiện trong tâm giác ngộ" . Tương tự Kinh Lăng Nghiêm:

"Mầu nhiệm thay là âm thanh siêu việt của Quán Thế Âm, Đấy là âm thanh tối sơ của vũ trụ... Đó là tiếng thì thầm âm ỉ của thủy triều trầm lắng. Tiếng nhiệm mầu ấy đem lại giải thoát bình an cho tất cả chúng hữu tình đang kêu cứu trong cơn đau khổ, và đem lại một sự an trú thanh tịnh cho tất cả những ai đang tìm sự thanh tịnh vô biên của Niết bàn". (Trang 444,445,446 TỬ THƯ TÂY TẠNG,quyển 2, Sogyal Riponche, Trí Hải dịch)

Tại sao Chú lại có hiệu lực như vậy, theo các Đại sư Ấn độ, tiếng Phạn(Sancrit) được các vị có công phu tu tập tạo ra theo hình tượng các Luân xa và âm thanh rung động của nó, do đó khi trì Chú âm thanh từ miệng và tâm thức sẽ rung theo khiến các Luân xa khai mở tiếp nhận những năng lực mà âm Chú đó đem lại nhằm kết nối Tiểu ngã với Đại ngã của vũ trụ. Chúng ta cũng nhận thấy tiếng và chữ Trung quốc chỉ tượng hình và tượng thanh trong bộ óc chúng ta và tiếng La tinh chỉ tượng thanh kèm theo ý nghĩa, rõ ràng chữ Phạn căn cứ trên kết cấu vi tế nhất của con người nên công năng đặc biệt khi sử dụng và làm chủ nó sẽ là điều tất nhiên.

Có một qui trình nghiêm ngặt mà người Phật tử khi tu tập dù bất cứ pháp môn nào phải thực hiện qua Ba giai đoạn chủ yếu: Tu tập(hoặc làm phước), hồi hướng và quán Không, điều này trong Tử Thư Tây Tạng (Sogyal Riponche, Trí hải dịch) ngài Longchenpa Riponche mô tả là: "trái tim, con mắt và sức sống của sự thực hành chân chính" và Nyoshul Khenpo: "Muốn đạt toàn giác, nhiều hơn thế thì dư, mà ít hơn thì thiếu", Phật giáo Việt Nam còn bổ xung thêm phần Chú Đại Bi của ngài Quán Âm trước thời kỳ tu tập nhằm phát triển Tâm bi, càng làm phong phú quá trình tu tập trên. trên bước đường tiến hóa Tâm linh mỗi người phải tự lựa chọn các pháp môn phù hợp căn cơ của mình.

Để hiểu điều này chúng ta sẽ tìm hiểu về hồi hướng, theo Kinh Kim cương đại thừa khởi tín luận và bài giảng của Đức Đạt lai lạt ma tại Havard, khi hồi hướng thì 6 đến 7/10 công đức thực hiện được sẽ chuyển hóa đến chúng sinh, có lẽ đây cũng là quy luật vũ trụ, nếu không có quy luật này chúng sinh sẽ mãi ân ân, oán oán không thể giải nghiệp thoát vòng luân hồi sinh tử. Nhà Phật còn phân biệt công đức do tu tập mà có(hướng nội), còn phước đức do : bố thí, tế bần, ....mà có(hướng ngoại) trong đó chú trọng phần tu tập, phần này Lục tổ Huệ Năng đã giải thích rõ trong tác phẩm Kinh điển --Pháp Đàn Bảo Kinh.- , nổi tiếng với pháp môn Thiền Đông Sơn, chú trọng Đốn ngộ với câu nói nổi tiếng: "Bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật" .

Tại sao phải quán Không? rõ ràng; ai hồi hướng? Ta . Ai nhận hồi hướng? Chúng sinh. còn chấp ngã là còn luân hồi, do đó Kinh Lăng Nghiêm vẫn liệt kê Bồ tát vào ngũ ấm dù đại nguyện các ngài vô cùng to lớn. Ai độ ai! Ta ! rõ ràng chấp ngã dù vi tế vẫn chưa đạt chân lý rốt ráo. Không ở đây không phải là không có gì mà là Tánh Không theo tinh thần Kinh Bát nhã, thậm chí những ai tu theo pháp môn: Cho và Nhận (Tonglen), nghĩa là nhận tất cả đau khổ của chúng sinh và cho đi tất cả công và phước đức của mình, có người còn gọi pháp môn này là pháp môn của Chúa, Ai cho; ai nhận? Ta và chúng sinh ! vẫn là chấp ngã do đó sau khi tu tập các pháp môn đó, phải hướng tiến trình tâm đến giai đoạn quán Không nhằm phát huy Trí tuệ vô ngã.

Tạm chấm dứt phần nhân sinh quan tại đây để chúng ta có thể đi tự định hướng cho mình và cho các ngành khoa học, dĩ nhiện có ngành Sinh học, nếu không có người quá sốt ruột!!!!!!!

C/- ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGÀNH SINH HỌC HIỆN ĐẠI:

Bồ tát Phổ Hiền: "Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số, bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng", Einstein : E = mc2 , quan hệ năng lượng, khối lượng và thời gian trong thể thống nhất; David Bohm cho rằng vũ trụ biểu hiện ba phương diện liên kết nhau Vật chất, Năng lượng và Ý nghĩa: "...Như vậy, một điều khá thông thường là năng lượng bao gồm vật chất và ý nghĩa, trong khi vật chất cũng bao gồm năng lượng, ý nghĩa ..., nhưng ý nghĩa cũng phải bao gồm vật chất, năng lượng...Vậy mỗi khái niệm căn bản ấy bao hàm luôn cả hai cái kia." (Trang 371 TỬ THƯ TÂY TẠNG,quyển 2, Sogyal Riponche, Trí Hải dịch từ Bohm,Unfolding Meaning, trang 90)

Nhà Phật có mô hình Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Cùng với cấu trúc của Einstein Năng lượng, vật chất và thời gian có mối quan hệ chặt chẽ, xin nhắc lại nhà Phật xem thời gian là sát-na(tiểu niệm) của tâm thức thì ta có mối quan hệ mới: Năng lương, vật chất và tâm thức, có thể thấy sự tương đương Pháp thân chính là Tâm thức, Ý nghĩa hay nói theo cách khác chính là Phật tánh, Viên giác, Như lai tạng tiềm ẩn của Vũ trụ và trong mỗi chúng ta, Báo thân chính là Tánh Không trong Kinh Bát Nhã (năng lượng chỉ là một thuộc tính của Báo thân), và Hóa thân chính là vật chất thì điều này sẽ làm đảo lộn các quan điểm vẫn tồn tại của các ngành khoa học trong đó có ngành Sinh học.

Nếu chúng sinh cùng một Thể tánh hay Ý nghĩa, quan niệm chỉ có con người "là động vật biết suy nghĩ" và loài vật chỉ hoạt động theo bản năng sụp đổ hoàn toàn, câu nói cửa miệng "Tôi tư duy , tôi tồn tại" mất ý nghĩa, đã đến lúc có cái nhìn toàn thể. Chỉ riêng hệ thống kinh mạch và huyệt đạo theo y lý Trung hoa đến nay ta vẫn trong dạng chấp nhận ứng dụng mà không giải thích được bản chất của hệ thống đó và hệ thống Luân xa và luồng kundalini (Hỏa xà) của các nhà yoga tu luyện vẫn còn là một bí ẩn, thì Hệ thống kinh mạch và khí mô tả của Mật Tông Tây Tạng còn xa tầm với của chúng ta như thế nào: "Tâm là người cưỡi ngựa, kinh mạch như đường giao thông thành phố...mai tiếp...!!!buồn ngủ rồi!!!) thì khoa học phải bó tay!!!!!!!!!!!

Cần nói thêm về Kinh mạch của Trung quốc gồm hai hệ thống chính: Kỳ kinh bát mạch và Thập nhị kinh mạch, trong đó cả hai hệ thông đều coi mạch Nhâm, Đốc là quan trọng, mạch Đốc bắt đầu từ Đan điền(Huyệt dưới rốn khoảng 3 phân) chạy vòng theo cột sống sau lưng lên huyệt Đốc (Một trong hai huyệt quan trọng để thông sinh tử huyền quan của các nhà luyện võ công), vòng qua huyệt bách hợp(đỉnh đầu) đến huyệt Nhâm (sinh tử huyền quan) trước ngực để vòng về đan điền cứ thế tiếp tục. (Hệ thống này là nguồn cảm hứng cho Kim Dung tiên sinh trong tác phẩm hư cấu Lục Mạch Thần Kiếm khi ông tách 6 kinh của tay liên quan đến tâm, can, tỳ, phế, thận,..để cấu tạo nên bộ võ công tuyệt đỉnh trong trước tác của mình), và trước đây các nhà Y lý của Trung quốc chỉ biết hơn 3000 huyệt đạo thì nay với sự trợ giúp của khoa học số huyệt đạo được phát hiện đã tăng lên rất nhiều lần, hiệu quả của nó đã được phát huy tối đa khi các nhà khoa học Trung quốc mổ sọ người, không cần gây tê và người bệnh vẫn nói chuyện được với bác sĩ, và điều này lý giải trường hợp Quan Thánh bị trúng tên độc vẫn tỉnh bơ đánh cờ để Hoa Đà nạo xương cho mình, trong tác phẩm Tam quốc chí. Nói đến hệ thống này là phải nói đến Kinh Dịch một trong tứ Thư và ngũ Kinh của Trung quốc: "Dịch quán quần Kinh chi thủ" nghĩa là Kinh Dịch đứng đầu trong các Kinh, dĩ nhiên là Kinh của Trung quốc, Kinh Dịch là cơ sở để các bộ môn Y lý, Phong thủy, Võ công, Thiên văn, Quân sự, Khí tượng, Hôn nhân, Triết học ... phát triển.

Hệ thống Kinh mạch theo các nhà Yoga gồm 3 kinh chính chạy theo cột sống, những nút thắt tạo thành thường là 7 Luân xa(Chakras) chính, khi tu luyện luồng Kundalini tức là hỏa hầu tiến lên mở khóa các luân xa sẽ đạt những khả năng thần thông như: Thiên nhãn thông, túc mạng thông ..., Dĩ nhiên các cách tu luyện vừa nêu đều phải có Sư phụ.

Hệ thống Khí theo mật tông Tây Tạng còn vi tế hơn nhiều, đã được mô tả trong tác phẩm Tử thư Tây Tạng của sogyal Riponche (Trí hải dịch, trang161, tập 2) như sau: "Thân người được các bậc Thầy ví như một đô thị, các kinh mạch giống như đường xá, gió(khí) như ngựa, tâm như người cỡi. Có 72.000 kinh mạch vi tế trong thân thể, nhưng có ba kinh mạch chính: Trung ương, chạy dọc cột sống , và trái phải có hai kinh chạy hai bên kinh trung ương. Hai kinh mạch phải, trái cuộn quanh kinh mạch giữa tại một số điểm để làm thành một dãy "gút". Dọc theo kinh mạch chính có một số "luân xa", trung tâm năng lượng, từ đây những kinh mạch phân ra như những cọng dù. Qua những kinh mạch ấy "khí" tuôn chảy, còn gọi là nội khí. Có năm khí gốc và năm khí ngành ngọn. Mỗi khí gốc nâng đỡ một đại chủng và chịu trách nhiệm về một vận hành của cơ thể con người. Những khí ngành ngọn giúp cho các giác quan hoạt động. Những khí nào chạy qua tất cả các kinh mạch ngoại trừ kinh mạch giữa, thì được gọi là bất tịnh, vì gợi lên những mẫu tư duy nhị nguyên, tiêu cực. Những khí ở huyệt đạo trung ương gọi là "khí của trí tuệ. Tinh chất chứa đựng trong các huyệt đạo. Có tinh đỏ và tinh trắng. Chỗ chứa chính thức của tinh trắng là cái đỉnh đầu, và tinh đỏ ở nơi lỗ rốn". (Trang 161,162 TỬ THƯ TÂY TẠNG, quyển 2, Sogyal Riponche, Trí Hải dịch) . Ngành Sinh học chúng ta có thể nghiên cứu vẽ bản đồ các kinh mạch đô thị như lập bản đồ gien được không?.

Theo Kinh Bát Nhã, có ngũ Ấm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức chia làm hai nhóm:

1/ Sắc: 2/- Thọ, tưởng, hành, thức
Tứ đại: đất, nước, gió, lửa
- Thọ: Ngũ quan tiếp ngũ trần có nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân thức
- Tưởng: lý trí,ý thức.
- Hành: Tình cảm, ý chí.
- Thức: A-lại-da thức, tiềm thức, vô thức.

Theo khoa học hệ thống con người chúng ta kết cấu bởi một hệ thống tâm-vật lý phức tạp, nhưng rõ ràng ngành sinh học mới chỉ nghiên cứu về sắc, hay vật lý nghĩa là thiếu một định hướng tổng thể trong nghiên cứu, thậm chí chúng ta ngày càng phân chia sắc ra nhiều ngành nhỏ hơn: sinh học phân tử, nguyên tử, sinh học cha,con,ông,bà,vợ,cháu,chắt gì đó cái này bố không rành nhưng chắc chắn là như vậy nhớ bổ xung............buồn ngủ thật rồi ,bai!!!!!!!3.30g sáng nguy thật? và các ngành khoa học khác cũng tương tự.

Cuối thế kỷ 20 ngành Sinh học đã có những bước tiến vượt bậc, đã có những công trình nghiên cứu về chu kỳ sinh học về sự tương tác giữa con người với mặt trăng, mặt trời và các hành tinh khác. Ảnh hưởng của các tia vũ trụ với con người , phát hiện ra Trường sinh học của không những động vật mà cả thực vật, ảnh hưởng của màu sắc, âm thanh, nhiệt độ, hương vị, đến sức khỏe của con người và động vật, một trong những phát minh quan trọng đó chúng ta đã nghiên cứu được cấu trúc và sự vận hành của gien di truyền và từng bước tiến hành lập bản đồ gien cho con người cũng như động vật, sự lai tạo vô tính đã đặt con người trước những thử thách về mặt đạo đức cũng như những ứng dụng thực tiễn của nó, Nhiên liệu Sinh học góp phần làm giảm áp lực năng lượng toàn cầu..., đã đến lúc nhân loại không thể coi thường những phát hiện trong kiến thức nhân loại cổ xưa của các bậc Thánh nhân bằng trí tuệ vô ngã đã lưu truyền đến ngày nay, nếu không muốn là "người mù sờ voi" và hiện rất nhiều nhà khoa học lớn đang tiến hành từng bước nối liền các tri thức đó với khoa học hiện đại.

Một trong những tác phẩm quan trọng là KINH DỊCH VÀ MÃ DI TRUYỀN được Bs Đỗ sơn và Đức minh biên dịch từ tác phẩm: "The I Ching & the Genetic code " của Dr .Martin Schoenberger" đã làm cầu nối đó, Kinh Dịch tương truyền của vua Phục hy sáng tạo, được xây dựng trên ký hiệu Dương và biểu diễn bằng một vạch liền(—) và Âm biểu diễn bằng vạch đứt (– –) gồm tượng và số, các chú thích của quẻ và hào tương truyền do Văn vương và Khổng tử san định. Hệ lưỡng cực Âm, Dương được thống nhất trong đồ hình tròn gọi là Thái cực và trong Thái Âm Có Thiếu dương, và trong Thái Âm có Thiếu Dương tạo ra Tứ tượng, chồng Tứ tượng lên nhau ta được bát quái, và chồng bát quái lên nhau theo qui luật thống kê ta được 64 quẻ biểu diễn mọi sự, mọi việc trên cõi đời này. Các nhà khoa học đã thấy cơ cấu trên tương ứng với cơ cấu nhị phân nếu coi số không là Âm và Dương là số 1, hệ nhị phân đọc từ trái qua, hệ quẻ đọc từ dưới lên, ví dụ quẻ khôn được biểu tượng sáu vạch đứt , nếu đọc từ dưới lên ta có hệ nhị phân 000000 tương đương số 0 hệ thập phân, quẻ Càn sáu vạch liền, nhị phân là 111111, tương đương số 63 thập phân. Sự tương thích Kinh dịch với Đại số làm kinh ngạc các nhà khoa học. Nếu âm là a, Dương là b ta có nhị thức Newton như sau:

- Thái cực (Âm,Dương): (a + cool.gif0 = 1
- Lưỡng nghi (Âm + Dương): (a + cool.gif1 = a+b
- Tứ tượng: (a + cool.gif2 = a2 + ab + ba + b2
- Bát quái: (a + cool.gif3 = a3 + a2b + aba + ba2 + bab + b2a + b3
- 64 quẻ : (a + cool.gif4 = a6 + 6a5b + 15a4b2 + 20a3b3 + 15a2b4 + 6ab5 + b6

Thay a và b bằng vạch liền và đứt ta sẽ có mô hình Kinh Dịch từ Thái cực đến 64 quẻ.

Và quan trọng nhất tác phẩm này đã so sánh mô hình Kinh Dịch với Mã di truyền có những sự tương đồng đáng kinh ngạc, Ký hiệu Kinh Dịch đồng thời cũng là hình ảnh cụ thể của vòng xoắn ADN, 32 từ mật mã của nửa vòng xoắn ốc đi xuống và 32 nữa bổ xung vòng xoắn kia có 12 tầng để chứa 32 codon và 32 anticodon tổng cộng 64 tương đương 64 quẻ của kinh dịch mỗi quẻ 3 tượng tương đương bộ ba codon trong trong 4 base căn bản U(T), C, G, A. rõ ràng Kinh Dịch có tính tổng quát hơn, sẽ khảo cứu sâu hơn sau này.

Tuy nhiên, chính mô hình Pháp thân, Báo thân và Hóa thân của Đạo Phật hay nói cách khác Năng lượng, khối lượng và tâm thức hoặc mô hình Ý nghĩa, Vật chất và năng lượng của Bohm mới là định hướng cho ngành Sinh học hiện đại, mối quan hệ tác động qua lại giữa tâm thức và vật chất có những biến đổi như thế nào?, sẽ là mục tiêu nghiên cứu cho ngành sinh học tương lai, trong đó ta không thể bỏ qua các phương pháp Thiền và sự cộng tác giữa các Thiền sư với các nhà Khoa học nhằm tiến hành các thí nghiệm thuyết phục nhất trên cơ sở các chúng sinh cùng một Thể tánh

Các nhà nghiên cứu khoa học Nhật bản đã cộng tác với các Thiền sư tiến hành nghiên cứu các trạng thái Thiền định, các kết quả thu được từ biểu đồ sóng của a,b,d thu đượclàm kinh ngạc mọi người, làn sóng đó được đánh giá là "dịu hơn" so với người không tu tập, vậy ta có thể tiến hành xa hơn khi dùng các thiết bị hiện đại nghiên cứu các trạng thái tâm của các tầng tâm thức từ Sắc giới: Sơ Thiền (Ly sinh hỷ lạc), Nhị Thiền (Định sinh hỷ lạc) ... và cao hơn nữa, và có các nghiên cứu tổng hợp ảnh hưởng tốt đẹp từ các tu tập này đối với thể chất con người, thậm chí các biến đổi về gien cùng các diễn biến Tâm sinh lý, các biến chuyển tốt hơn khi ứng dụng chữa bệnh, điều này sẽ thuyết phục hơn với mọi người khi ứng dụng nó trong cuộc sống hàng ngày.

Đã có các thí nghiệm ảnh hưởng người tu Thiền đến mội trường vật chất thậm chí động vật, thảo mộc ...của Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc ...

Còn nhiều ỳ tưởng hay nhưng ép quá đành chấm dứt....!!!!!!!!

Các sách tham khảo:

- Kinh Kim Cang giảng giải HT Thích Thanh Từ, Nhà XB Tôn Giáo.
- Kinh Viên Giác giảng giải HT Thích Thanh Từ, Nhà XB Tôn Giáo.
- Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Tâm Minh dịch, Nhà XB Tp HCM.
- Phật tổ Ngũ Kinh, HT Thích Hoàn Quan, Nhà XB Tp HCM.
- Tạng Thư Sống Chết, Sogyal Riponche Trí Hải dịch, Nhà XB Tp HCM.
- Tiền kiếp và luân hồi, Du hành qua các vùng Tâm thức, Bs Brain L. Weiss, Thích Tâm Quang Dịch. Nhà XB Tôn Giáo.
- Phật học cơ bản, 4 tập, Ban hoằng Pháp Trung ương, Nhà XB Tp HCM.
- Kinh Dịch và Mã Di truyền, dịch Đỗ văn Sơn và Đức Minh theo tác phẩm "I Ching & Geneticcode" của Dr Martin Schoeberger, Nhà XB Tp HCM.
- Einstein & Đức Phật gặp gỡ tư tưởng, Huy thông, Nguyên hạ, Nhà XB Văn nghệ HCM.
- Khi nào chim sắt bay, Ni sư Ayya Khema, Nhà XB Tổng hợp HCM.
- Kinh Pháp Bảo Đàn, HT. Thích Thanh Từ, Nhà XB Tp HCM.
- Qui trình tâm pháp-Ốc đảo tự thân, Ni sư Ayya Khema, Nhà XB Tổng hợp HCM.
-The key to Buddhism, HT Thích Thanh Từ, Phúc anh & Hiển Mật dịch,Free distributrion.



TrướcSau
In Trang
Ý KIẾN BẠN ĐỌC
31/08/201510:08 SALongKhách
https://www.youtube.com/watch?v=IfmhXh-hiwo
Nếu độc giả nào muốn tìm hiểu về nét tương đồng giữa khoa học và phật giáo thì hãy xem Nhà Vật Lý Ông Trịnh Xuân Thuận bàn về khoa học và phật giáo theo link trên.
Cảm ơn Thầy Thích Thông Kinh đã đăng bài.
28/08/20154:50 SAĐức DuyKhách
Khoa học dựa trên bằng chứng, nói có sách, mách có chứng. Không thể nói là sao chép sách vở được. Phải nói là người viết dựa trên sách vở để tổng hợp lên những kiến thức cơ bản nhất về Phật Giáo. Nhân đây, cũng xin hỏi các anh, các thầy một vài điều mà em( con) chưa hiểu rõ về Phật: Trời đất sinh ra thì đã có phật chưa ạ? trong các đức phật thì đức phật nào có trước ạ? Có sự liên hệ như thế nào giữa Nữ oa nương nương, Bàn Cổ... với trời đất, tiên phật ạ. Thực sự em( con) mới tìm hiểu về đạo phật, trước có xem các phim của Trung Quốc thấy nhiều điều chưa thấu được hết. Mong các anh( thầy) chỉ điểm giúp ạ!
23/08/20154:40 CHThiện TâmKhách
Tôi nghỉ đây là sự chấp vá của thầy Thích Thông Kinh đã diển giải, thầy nhận định về Nhân Sinh và Vũ Trụ quang không được chính xác như thầy nhận định và xin hỏi : Thầy có tin các Kinh Điển mà thầy liệt ở trên đa phần đều trước tác sau ngày phật diệt độ chăng ? vì vậy nếu muốn mọi người tôn trọng lời nói của người Xuất Gia tôi mong thầy cẩn trọng trong vấn đề nầy !
22/08/201512:02 CHThiện TâmKhách
Nhận thấy, trên sự nhận định của thầy Thích Thông Kinh là sao chép sách vỡ, không có một tí xíu hiểu biết về Nhân Sinh quan và Vủ Trụ quan, một luận cứ không nắm bắt được vấn đề chính, có nghĩa là lạc đề
18/04/20158:31 SAĐinh Hữu ThuậnKhách

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 27 2016, 10:40 AM
Gửi vào: #116


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Đức Đạt Lai Lạt Ma sang Mỹ kiểm tra sức khỏe
20/1/2016
Đức Đạt Lai Lạt Ma sang Mỹ kiểm tra sức khỏe
dalailama0182134Theo một số nguồn tin hiện đức Đạt Lai Lạt Ma đang trên đường tới Mỹ để kiểm tra sức khỏe mặc dù vị lãnh tụ tinh thần Tây Tạng khẳng định ông không có bất kỳ vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nào.
Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn thường tới Mỹ để kiểm tra sức khỏe (Ảnh: BBC)

Trong buổi trả lời phỏng vấn mới đây, đức Đạt Lai Lạt Ma cho biết ông sẽ tới khám tại viện Mayo Clinic tại Rochester, Minnesota – nơi ông vẫn thường đến kiểm tra sức khỏe của mình trong suốt 9 năm qua.

Được biết, tháng 9 năm ngoái đức Đạt Lai Lạt Ma đã phải hủy bỏ rất nhiều kế hoạch hoạt động tại Mỹ theo lời khuyên của các bác sỹ. Khi đó ông đã bước sang tuổi 80 và sau khi tiến hành kiểm tra sức khỏe các bác sỹ đã yêu cầu ông phải dành nhiều thời gian để nghỉ ngơi.

Sức khỏe của đức Đạt Lai Lạt Ma luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu đối với tất cả các tín đồ trên toàn thế giới, đặc biệt là đối với hàng trăm nghìn người gốc Tây Tạng hiện đang sinh sống tại Ấn Độ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma cho biết ông có thể sẽ trở lại nơi cự ngụ ở Dharmasala, Ấn Độ vào tháng 3 tới.

Kim Chi (Theo ABC)
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jan 28 2016, 08:15 AM
Gửi vào: #117


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



TThiền, Stroke, Và Trái Tim...

Cách đây vài năm, khi tôi đang còn chủ trương một chương trình có tính cách thiện nguyện và phải trang trải và chi tiêu rất nhiều cho chương trình này, trong khi không có sự trợ giúp nào từ phía chính phủ cả, tôi đã suýt bị “stroke” và chấm dứt cuộc đời ở đây, nếu không có Thiền.

Buổi tối hôm đó, tôi đang ngồi ở nhà, lo lắng khủng khiếp về số tiền mà mình phải chi gấp cho tiền nhà, tiền điện thoại, cũng như một số tiền linh tinh khác hầu giữ cho chương trình được tiếp tục, bất ngờ tay chân tôi tự nhiên rung giật khác thường. Mới đầu là rung nhẹ, sau giật liên hồi, không kiểm soát được nữa. Bắp thịt miệng tôi cũng giật luôn. Tôi hốt hoảng, cố gọi người con trai bằng một loại âm thanh đứt quãng của mình. May mắn cho tôi là anh con trai tôi vừa đi ngang qua, nhìn thấy tôi đang rung giật, vội gọi cậu em và hai anh em hốt hoảng chở tôi vào ngay bệnh viện UCI cấp cứu.

Ngay lúc đó, tôi cố gắng kiềm chế không cho tay chân rung giật, nhưng cơ thể tôi đã bắt đầu bất tuân lệnh, tôi đành chấp nhận các cơn run rẩy liên tục. May mắn cho tôi là trí óc còn tỉnh táo. Trong tình hình nguy kịch ấy, tôi chợt nhớ đến Thiền! Tôi nghĩ chỉ còn phương cách này mà thôi, vì từ nhà đến bệnh viện, khiêng ra khiêng vào cũng bao nhiêu phút, có thể từ liệt đến chết. Nhớ đến điều đó, tôi bình tĩnh ngay và bắt đầu hít thở thật dài, thật sâu.

Tôi nhắm mắt lại, mặc cho hai ông con trai lo bế ra xe, nổ máy và chạy đi, tôi chỉ tập trung tư tưởng, và hít thở theo Thiền. Từ từ hít vào bằng mũi, theo dõi hơi thở mình tới bụng, ngưng lại ba giây (đếm thầm 1,2,3), rồi từ từ thở ra, cũng thật chậm. Tôi cứ làm thế, không màng đến ngoại cảnh, chỉ trừ khi bác sĩ hỏi vài câu hỏi thì trả lời, sau đó, thì mặc họ, chụp phim X-Ray tại chỗ, rồi qua MRI, rồi Siêu âm, chích nước biển…

Cứ xong một việc, tôi lại nhắm mắt, hít thở. Suốt đêm như vậy, tôi không suy nghĩ gì, để cho óc não thoải mái, không tạp niệm, không run sợ, không lo âu, không phỏng đoán bất cứ điều gì. Trong óc tôi, chỉ có một tư tưởng chạy qua chạy lại: “Bình tĩnh, không nghĩ gì hết, tập trung tư tưởng hít thở. Hít vào….Thở ra… Hít vào….Thở ra ...”

Cứ thế, tôi dần dần đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng (một phần có lẽ (?) bệnh viện cho tôi thuốc ngủ chăng?) Đến nửa đêm tỉnh giấc, tôi lại tiếp tục hít thở.. Hít vào… thở ra… trong khi tay chân vẫn để xuôi thẳng theo thân người. Rồi lại ngủ. Đến sáng hôm sau, khoảng 11 giờ, thì bác sĩ trực đến, cho tôi biết là chẳng có gì quan trọng cả, chỉ là một cơn “stroke” nhẹ, đã qua khỏi rồi. Tôi hỏi ý kiến ông về việc tôi hít thở, tập trung tư tưởng, hít vào, nén hơi, rồi xả ra..

Ông bác sĩ người Mỹ giật mình, nhìn tôi: “A! Tôi biết rồi! Ông làm đúng đó! Ông đã Thiền để tự cứu mạng mình! Nếu ông không làm như thế, thì bây giờ ông đã gặp khó khăn rồi!” Bác sĩ còn cho biết cơn “light stroke” (Xuất huyết não nhẹ) đến trước, báo động cho cơ thể biết là nó sắp tấn công cơn thứ hai, mạnh hơn và đưa đến tử vong hoặc bại liệt! Nếu tôi tiếp tục lo lắng, sợ hãi, không biết Thiền thì nhất định một cơn nữa sẽ dứt điểm!

Sau này, tôi đọc trên Internet, thấy có lời khuyên của các Y Sĩ là khi có cảm giác sắp bị “nhồi máu cơ tim” (heart attack), thì việc đầu tiên cũng là ho vài cái rồi hít thở thật sâu và thật dài, tối thiểu 10 lần sẽ cứu được mạng.

Triệu chứng bị “heart attack” được thể hiện dưới hính thức sau:

-Đau thắt tim.
-Cơn đau chạy từ tim đến dưới cánh tay trái. Nói “dưới” nghĩa là cơn đau buốt chạy phía dưới bắp thịt cánh tay trái.
-Hơi thở gấp rút, ngắn và giật
-Mệt bất ngờ, lưỡi líu lại.
-Có thể muốn ói mửa.

Đó là những triệu chứng đầu tiên báo hiệu có thể có một cục máu bầm đang làm tắc nghẽn máu về tim, làm trái tim phải đập mạnh tối đa để làm tròn phận sự của nó là đẩy cục máu ra khỏi chỗ kẹt, nhưng vì không thể làm được chuyện đó, nên tim đành đứng lại.

Còn xuất huyết não, có thể một (hay tất cả) các triệu chứng sau:

-Mệt bất ngờ, lưỡi có thể líu lại, nói lăng nhăng, lắp bắp.
-Mất thăng bằng.
-Tê liệt một phần thân thể, tê một bên mặt.
-Có những cử động bất thường.
-Nhức đầu khủng khiếp.

Theo nguyên tắc bảo vệ sức khỏe, nếu thấy những triệu chứng này, lập tức gọi 911, bất kể đang ở đâu, đang làm gì. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp, việc tự gọi 911 không thực hiện được, vì ở xa máy điện thoại, hoặc tay chân run giật, ngã lăn xuống đất, hoặc đang lái xe… Vậy, phương pháp duy nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất trong khi chờ chữa trị là Thiền.

Thực hiện Thiền rất đơn giản, gồm hai việc: XẢ BỎ và tập trung HÍT THỞ.

-Xả bỏ: lập tức bỏ qua mọi suy nghĩ, lo âu, và tự mình “nói” (trong đầu) với mình là “không nghĩ gì hết, không nghĩ gì hết, không nghĩ gì hết, xả bỏ, xả bỏ, xả bỏ…”

-Tập trung hít thở: Trước hết là nhắm mắt lại, tay chân ở đâu, để đó, hít vào thật chậm, theo dõi hơi thở qua mũi, dồn xuống phía dưới bụng, nén hơi, đếm 1,2,3 rồi từ từ thở ra, theo dõi hơi thở đang đi qua mũi. Cứ thế mà lặp đi lặp lại nhiều lần. Trường hợp đang lái xe, mà thấy có triệu chứng gì bất thường như trên, lập tức tấp xe vào lề đường, bật đèn báo động lên, và nhắm mắt hít thở… Nhất định sẽ tự cứu được mạng sống mình.

Trong cuộc sống hiện tại, là một con người, ai không phải suy nghĩ. Người có cuộc sống đơn giản cũng suy nghĩ về ăn uống, sinh hoạt, nghĩ về gia đình, vợ chồng con cái. Người hay suy tư thì luôn nghĩ về ý nghĩa cuộc đời. Kẻ làm thương mại thì luôn luôn tính toán…

Khi suy nghĩ, suy tư, tính toán mà có tìm ra giải pháp, thì cơ thể vẫn chấp nhận được. Các nhà toán học, khoa học, triết học, chính trị gia luôn suy nghĩ. Nhưng nếu cường độ suy nghĩ tăng lên đến một độ cao, hầu như không nghỉ ngơi bất cứ lúc nào mắt mở, (có khi ngủ cũng vẫn suy nghĩ), mà nếu cảm thấy không tìm ra giải pháp, thấy “bí”, cùng đường tắc lối, thì có thể hệ thống thần kinh não bộ chịu không nổi, phải phản kháng lại, và lúc đó, sẽ gây rối loạn, hoặc biến thành trầm cảm, hoặc xuất huyết não.

Trước khi biến thành trầm cảm, có thể có một giai đoạn bị “sự kích thích tấn công” (anxiety attack). Điều này có khi nguy hiểm hơn bị nhồi máu cơ tim, vì nếu bị nhồi máu cơ tim mà chữa được, chỉ việc nghỉ ngơi, ăn uống cẩn thận trở lại, thì hết bệnh. Còn nếu bị “sự kích thích tấn công”, hậu quả sẽ rất lâu dài và khó chữa. Người bệnh luôn nhức đầu, thấy có “cái gì” chạy qua chạy lại trong đầu, tim luôn đập nhanh, ngủ hay giật mình, hoảng hốt, sợ hãi hoài, sợ chết, sợ bệnh, sợ đau, sợ cô đơn, sợ bị vợ chồng, con cái bỏ rơi, sợ mất việc.. và sức khỏe xuống thê thảm.

Không còn cử động mạnh và nhanh được, lúc nào cũng nghi tim mình có vấn đề, ăn uống không ngon, mất hứng thú xem phim, nghe nhạc, đọc báo. Nói chung là biến thành trầm cảm, suốt ngày lừ đừ, đặt đâu ngồi đấy, rồi chờ chết! Đi khám bệnh, thì sẽ không thấy toa nào ngoài các toa thuốc an thần, có tính chất gây nghiện. Nếu uống vào thì khỏe, không uống thì nhớ, rồi uống hoài, uống hoài… Ghiền!

Vậy, làm sao trị được hoặc ngăn chặn được hai căn bệnh này mà không dùng thuốc: Thiền! Nếu phối hợp được với các phương pháp khí công khác, như Yoga, Tài Chi, thì sức khỏe sẽ hồi phục nhanh hơn. Ngoài ra, nếu bệnh nặng, cần thêm rất nhiều Vitamin B1, vì Vitamin B1 làm lợi cho tế bào não, giúp trí nhớ và giúp cho việc suy nghĩ không bị trở ngại.

Tuy nhiên, theo luật Đời và luật Trời, cuộc sống, tự nó, mang rất nhiều giới hạn. Không có gì vĩnh viễn, không có chi gọi là trường tồn. Vậy, muốn sống khỏe với thiên nhiên, cần giới hạn nhiều thứ, nhất là giới hạn suy nghĩ, bởi tế bào não là hệ thống tế bào duy nhất, chết đi rồi thì không sản sinh thêm như các loại tế bào khác. Lớp tế bào da này chết rồi (biến thành “ghét”) thì lớp khác sinh ra.

Còn tế bào não, Trời sinh ra có nhiêu thì xài nhiêu, mình làm mất đi cho công việc rồi thì không có nữa. Nhiều nhà bác học về già thành lẩm cẩm, mất trí nhớ. Khoa học gia Einstein, một hôm ngồi xe lửa, để rơi cái mũ trên đầu gối xuống đất. Một cô gái ngồi bên canh nhặt lên và để lại trên đầu gối ông như cũ. Ông quay qua, cám ơn và hỏi: Cô bé họ gì? Cô bé trả lời: “Dạ, thưa ba, con có họ là Einstein.”

Chu tất Tiến.

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 9 2016, 03:00 AM
Gửi vào: #118


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chư Thiên vấn Phật

Một thiên nhân đến với Phật trong hóa thân một người Bà la Môn, với vẻ mặt rạng rỡ và bộ
trang phục trắng như tuyết. Vị thiên nhân hỏi những câu mà Ðức Phật trả lời sau đây.

Thiên nhân hỏi:
- Thanh kiếm nào sắc bén nhất?
Chất độc nào tàn hại nhất?
Ngọn lửa nào dữ dội nhất?
Bóng đêm nào đen tối nhất?

- Ðức Phật trả lời:
Lời nói trong lúc giận dữ là thanh kiếm sắc bén nhất,
dục vọng là chất độc tàn hại nhất,
đam mê là ngọn lửa dữ dội nhất,
vô minh là bóng đêm đen tối nhất.

- Vị thiên nhân lại hỏi:
‘’Ai là người lợi lạc nhiều nhất?
Ai là người chịu thiệt thòi nhất?
Áo giáp nào không thể bị xuyên thủng?
Vũ khí nào lợi hại nhất?’’

- Ðức Phật trả lời:
- Người lợi lạc nhiều nhất là người đã cho đi nhiều, mà không thấy đã cho.
Kẻ chịu thiệt thòi nhất là kẻ chỉ biết nhận một cách tham lam không chút biết ơn.
Nhẫn nhục là áo giáp không xuyên thủng được, và trí tuệ là vũ khí lợi hại nhất.

- Vị Thiên nhân hỏi:
‘’Ai là kẻ trộm nguy hiểm nhất? Cái gì là kho tàng quý báu nhất?
Ai đã thành công trong việc chiếm đoạt bằng vũ lực không chỉ trên thế giới này,
mà còn trên thiên giới? - Ðâu là nơi an toàn nhất để kho báu?’’

- Ðức Phật trả lời::
‘’Những tư tưởng xấu xa là kẻ trộm nguy hiểm nhất. Ðức hạnh là kho tàng quý báu nhất.
Tâm thức con người chiếm đoạt mọi sự không chỉ trên thế giới này,
mà còn trên thiên giới. Đất Vô Sanh là nơi an toàn nhất để kho báu.’’

- Thiên nhân hỏi:
‘’Cái gì là hấp dẫn? Cái gì là ghê tởm?
Cái đau nào thống thiết nhất? Cái vui nào lớn nhất?’’

- Ðức Phật trả lời:
‘’Thiện là hấp dẫn, Ác là ghê tởm;
một lương tâm bị dầy vò là nỗi đau thống thiết nhất,
sự giải thoát là cái vui lớn nhất.’’

- Thiên nhân hỏi:
‘’Cái gì gây ra sự tàn phá trên thế giới?
Cái gì làm tình bạn tan vỡ?
Cơn sốt nào mãnh liệt nhất?
Ai là vị thầy thuốc giỏi nhất?’’

- Ðức Phật trả lời:
‘’Sự tăm tối, vô minh gây ra sự tàn phá trên thế giới.
Sự ganh tị và ích kỷ làm tình bạn tan vỡ.
Hận thù là cơn sốt mãnh liệt nhất,
và Pháp vương là vị thầy thuốc giỏi nhất.’’

- Vị thiên nhân lại hỏi:
‘’Bây giờ con chỉ còn một thắc mắc, xin Ðức Thế Tôn giải đáp cho.
Cái gì mà không bị lửa đốt cháy, không bị nước làm mòn, không bị gió làm đổ, mà lại có thể cải cách cả thế giới?’’

- Ðức Thế Tôn trả lời:
‘’Phước đức. Không có lửa nào, nước nào, gió nào có thể hủy diệt được phước đức
của một việc thiện, và những phước đức đó cải cách cả thế giới.’’
(Trích Những lời Phật dạy - Mây Vô Danh dịch)

'Thân Giáo.Một gia đình có 3 người con trai, lũ trẻ từ nhỏ đã phải lớn lên trong tiếng cãi vã giữa cha mẹ, mẹ của chúng thường xuyên bị đánh tới mức thương tích khắp người. Người anh cả nghĩ:“Mẹ của mình thật đáng thương! Ta sau này nhất định sẽ đối xử tốt với vợ của mình”. Người anh thứ 2 nói: “Hôn nhân thật vô nghĩa, ta khi trưởng thành nhất định sẽ không kết hôn”.Người em út nói:“Hóa ra, làm chồng là có thể được đánh đập vợ mình như bố!”- Với cùng một hoàn cảnh nhưng mỗi người sẽ có những lối suy nghĩ khác nhau, và nhất định sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống sau này. Vì vậy, là cha mẹ ngoài việc giáo dục con cái bằng lời nói, thì những hành động gương mẫu của mình cũng vô cùng quan trọng mà ngôn từ nhà Phật gọi là Thân Giáo.Namo Buddhaya__(())__'

Hai Ngọn Sóng
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 23 2016, 09:23 AM
Gửi vào: #119


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



100 LỜI DẠY CỦA ĐỨC PHẬT GIÚP BẠN NHẬN
RA CHÂN LÝ CUỘC ĐỜI

1. Nguồn gốc mọi đau khổ của con người chính là luyến ái.
2. Dứt bỏ nóng giận, diệt trừ tính kiêu căng, không luyến ái vật chất, không còn
ham muốn dục vọng, sẽ giải thoát được mọi sự ràng buộc và không bao giờ bị phiền não.
3. Trong sạch và nhơ bẩn cũng đều tùy thuộc nơi mình. Không ai có thể làm cho người
khác trong sạch hay ô nhiễm.
4. Cuộc sống của chúng ta được định hình bởi chính tâm trí của chúng ta.
Chúng ta sẽ trở thành những gì chúng ta nghĩ.
5. Người chinh phục chính mình còn vĩ đại hơn một nghìn lần người chinh phục
ngàn người trên chiến trường.
6. Nếu không tìm thấy ai để hỗ trợ trên con đường tâm linh, hãy đi một mình.
Không ai đồng hành với người chưa trưởng thành cả.
7. Không có nỗi sợ hãi với những ai tâm trí không ngập tràn ham muốn.
8. Nếu có điều gì đáng làm, hãy làm nó bằng tất cả trái tim.
9. Chính bạn phải phấn đấu. Các chư Phật chỉ vạch ra con đường.
10. Những ai phá hủy được cội nguồn của sự ghen tị sẽ luôn bình yên trong tâm hồn.
11. Không có sự ô nhiễm nào lớn hơn sự thiếu hiểu biết.
12. Thế gian đau buồn bởi cái chết và sự tan rã. Nhưng người khôn ngoan không đau
buồn vì họ nhận ra bản chất của thế giới.
13. Một người không thể gọi là khôn ngoan vì anh ta nói điều hay.
Người khôn ngoan là những người kiên nhẫn và không bị ràng buộc bởi hận thù và sợ hãi.
14. Hàng ngàn ngọn nến có thể được thắp sáng bởi một ngọn nến và cuộc đời của ngọn nến ấy
không hề bị tàn lụi. Hạnh phúc không bao giờ cạn đi khi ta biết sẻ chia.
15. Người không cao quý làm tổn thương đến các sinh vật sống. Người cao quý không làm tổn thương ai cả.
16. Như cây nến không thể cháy mà không có lửa; người không thể sống nếu không có đời sống tâm linh.
17. Nếu tìm thấy một nhà phê bình khôn ngoan để chỉ ra những lỗi lầm của mình,
hãy làm theo anh ta vì bạn sẽ được hướng dẫn đến kho tàng bí ẩn.
18. Bình yên đến từ bên trong. Đừng tìm nó bên ngoài.
19. Khi đang sống trong bóng tối, tại sao bạn không đi tìm ánh sáng?
20. Bí quyết để có sức khỏe cho cả tinh thần lẫn thể xác không phải là hờn trách quá khứ hay
lo sợ về tương lai, mà là sống trong giây phút hiện tại một cách khôn ngoan và nghiêm túc.
21. Người có trí tuệ hãy thổi bay những cấu uế của bản thân mình, như một người thợ rèn
thổi sạch những cặn bã của chất bạc, từng tí một, từng cái một, và từng lúc một.
22. Đừng cố xây dựng hạnh phúc trên sự bất hạnh của người khác, bạn sẽ vướng vào lưới của hận thù.
23. Người khôn ngoan có tính kỷ luật về thân, khẩu, ý. Họ thực sự kiểm soát rất tốt những điều đó.
24. Không ai có thể cứu ta ngoại trừ chính ta. Không ai có thể và không ai sẽ làm thế.
Chúng ta phải đi trên con đường của chính mình.
25. Kiên quyết rèn luyện mình để có được sự bình yên.
26. Thiền định mang lại sự thông tuệ, không thiền định sẽ dẫn đến vô minh. Hiểu rõ những gì
dẫn dắt bạn hướng về phía trước, những gì cản trở bạn và lựa chọn con đường dẫn đến sự thông tuệ.
27. Hãy cho đi, ngay cả khi bạn chỉ có một chút.
28. Hãy vững như bàn thạch để không bị lung lay trước giông bão,
những người khôn ngoan cũng không bị ảnh hưởng bởi những lời khen chê theo cách đó.
29. Đừng lãng phí một phút giây nào, những phút giây lãng phí sẽ khiến bạn đi thụt lùi.
30. Nếu bạn quên niềm vui của cuộc sống và bị mắc kẹt trong những thú vui của thế gian,
bạn sẽ ghen tị với những người đặt thiền định làm đầu.
31. Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm.
32. Nếu bạn không muốn rước phiền não vào người, thì người khác cũng không cách nào
gây phiền não cho bạn. Vì chính tâm bạn không buông xuống nổi.
33. Bạn hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình.
34. Bạn phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu,
thậm chí họ đã làm tổn thương bạn, bạn phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực.
35. Khi bạn vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi bạn đau khổ,
bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn.
36. Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai.
37. Bạn có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên.
38. Đừng lãng phí sinh mạng của mình trong những chốn mà nhất định bạn sẽ ân hận.
39. Khi nào bạn thật sự buông xuống thì lúc ấy bạn sẽ hết phiền não.
40. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.
41. Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức được mình,
hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác.
42. Bạn đừng có thái độ bất mãn người ta hoài, bạn phải quay về kiểm điểm chính mình mới đúng.
Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính bạn.
43. Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không bao giờ được thanh thản.
44. Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không
bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.
45. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin bạn “Đa khẩu hạ lưu tình”.
46. Vốn dĩ không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa bạn là ai? Giả sử bạn bị chó điên
cắn một phát, chẳng lẽ bạn cũng phải chạy đến cắn lại một phát?
47. Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ đến người bạn không hề yêu thích.
48. Mong bạn đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình,
có như vậy người khác mới khả dĩ tiếp nhận.
49. Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao bạn lại chứa độc dược?
Cùng một mảnh tâm tại sao bạn phải chứa đầy những não phiền như vậy?
50. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì bạn hiểu nó quá ít,
bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc,
bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của bạn.
51. Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc,
tôi không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân.
52.Tốn thêm một chút tâm lực để chú ý người khác chi bằng bớt một chút tâm lực
phản tỉnh chính mình, bạn hiểu chứ?
53. Hận thù người khác là một mất mát lớn nhất đối với chính mình.
54. Mỗi người ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được điều đó,
thậm chí trân quý mạng sống của mình hơn. Người không hiểu được mạng sống thì
mạng sống đối với họ mà nói chính là một sự trừng phạt.
55. Tình chấp là nguyên nhân của khổ não, buông tình chấp bạn mới được tự tại.
56. Đừng khẳng định về cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đỡ phải hối hận hơn.
57. Khi bạn thành thật với chính mình, thế giới sẽ không ai lừa dối bạn.
58. Người che đậy khuyết điểm của mình bằng thủ đoạn tổn thương người khác là kẻ đê tiện.
59. Người âm thầm quan tâm chúc phúc người khác, đó là một sự bố thí vô hình.
60. Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu bạn không phán đoán
chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì mắc phải nhầm lẫn là lẽ thường tình.
61. Muốn hiểu một người, chỉ cần xem mục đích đến và xuất phát điểm của họ có giống nhau không,
thì có thể biết được họ có thật lòng không.
62. Chân lý của nhân sinh chỉ là giấu trong cái bình thường đơn điệu.
63. Người không tắm rửa thì càng xức nước hoa càng thấy thối. Danh tiếng và tôn quý đến từ
sự chân tài thực học. Có đức tự nhiên thơm.
64. Thời gian sẽ trôi qua, để thời gian xóa sạch phiền não của bạn đi.
65. Bạn cứ xem những chuyện đơn thuần thành nghiêm trọng, như thế bạn sẽ rất đau khổ.
66. Người luôn e dè với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa.
67. Nói một lời dối gian thì phải bịa thêm mười câu không thật nữa để đắp vào, cần gì khổ như vậy?
68. Sống một ngày vô ích, không làm được chuyện gì, thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm.
69. Quảng kết chúng duyên, chính là không làm tổn thương bất cứ người nào.
70. Im lặng là một câu trả lời hay nhất cho sự phỉ báng.
71. Cung kính đối với người là sự trang nghiêm cho chính mình.
72. Có lòng thương yêu vô tư thì sẽ có tất cả.
73. Đến là ngẫu nhiên, đi là tất nhiên. Cho nên bạn cần phải “Tùy duyên mà hằng bất biến,
bất biến mà hằng tùy duyên”.
74. Từ bi là vũ khí tốt nhất của chính bạn.
75. Chỉ cần đối diện với hiện thực, bạn mới vượt qua hiện thực.
76. Lương tâm là tòa án công bằng nhất của mỗi người, bạn dối người khác được nhưng không bao
giờ dối nổi lương tâm mình.
77. Người không biết yêu mình thì không thể yêu được người khác.
78. Có lúc chúng ta muốn thầm hỏi mình, chúng ta đang đeo đuổi cái gì? Chúng ta sống vì cái gì?
79. Đừng vì một chút tranh chấp mà xa lìa tình bạn chí thân của bạn, cũng đừng vì một chút oán giận mà
quên đi thâm ân của người khác.
80. Cảm ơn đời với những gì tôi đã có, cảm ơn đời những gì tôi không có.
81. Nếu có thể đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.
82. Nói năng đừng có tánh châm chọc, đừng gây thương tổn, đừng khoe tài cán của mình,
đừng phô điều xấu của người, tự nhiên sẽ hóa địch thành bạn.
83. Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.
84. Nhân quả không nợ chúng ta thứ gì, cho nên xin đừng oán trách nó.
85. Đa số mọi người cả đời chỉ làm được ba việc: Dối mình, dối người, và bị người dối.
86. Tâm là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dối bạn nhất thời, nhưng nó lại gạt bạn suốt đời.
87. Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng
nên thoát một mình.
88. Khi trong tay bạn nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì bạn chỉ có mỗi thứ này,
nếu bạn chịu buông xuống, thì bạn mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn
khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một
mức độ nào đó mà thôi.
89. Nếu bạn có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là một phúc phần rồi.
Biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương của ngày mai, biết bao
nhiêu người hôm nay đã trở thành tàn phế, biết bao nhiêu người hôm nay đã đánh mất tự do,
biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành nước mất nhà tan.
90. Bạn có nhân sinh quan của bạn, tôi có nhân sinh quan của tôi, tôi không dính dáng gì tới bạn.
Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được bạn. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu.
91. Bạn hy vọng nắm được sự vĩnh hằng thì bạn cần phải khống chế hiện tại.
92. Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu,
có ác bao nhiêu. Bạn càng nguyền rủa họ, tâm bạn càng bị nhiễm ô, bạn hãy nghĩ,
họ chính là thiện tri thức của bạn.
93. Người khác có thể làm trái nhân quả, người khác có thể tổn hại chúng ta, đánh chúng ta,
hủy báng chúng ta. Nhưng chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ, vì sao? Vì chúng ta nhất
định phải giữ một bản tánh hoàn chỉnh và một tâm hồn thanh tịnh.
94. Nếu một người chưa từng cảm nhận sự đau khổ khó khăn thì rất khó cảm thông cho người khác.
Bạn muốn học tinh thần cứu khổ cứu nạn, thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn.
95. Thế giới vốn không thuộc về bạn, vì thế bạn không cần vứt bỏ, cái cần vứt bỏ chính là
những tánh cố chấp. Vạn vật đều cung ứng cho ta, nhưng không thuộc về ta.
96. Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải
sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.
97. Lấy từ bi và ôn hoà để thắng nóng giận. Lấy hiền lành để thắng hung dữ.
Lấy bố thí và lòng rộng rãi để thắng tham lam. Lấy chân thật để thắng giả dối.
98. Lửa giận hờn một khi đã phát ra, có thể đốt cháy và làm tiêu tan muôn mẫu núi rừng công đức.
99. Hận thù diệt hận thù, là điều không thể có. Tình yêu diệt hận thù, là định luật ngàn thu.
100. Không có con đường dẫn đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường.

Chúc các bạn luôn sống hạnh phúc, tâm luôn bình an
và đạt được sự thông tuệ.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT !..
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT !..
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 26 2016, 07:21 AM
Gửi vào: #120


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



SỰ KHÁC BIỆT
GIỮA LỤC TỔ HUỆ NĂNG VÀ SƯ THẦN TÚ


Không biết những người tu Phật - kể cả những Phật Tử - có bao giờ mơ ước một ngày sẽ "Tới" không? Nếu hoàn toàn không mơ ước, và chúng ta tu hành chịu đựng kham khổ như thế để chẳng cầu được gì thì phải chăng là hơi phi lý, vì có ai đi mà chẳng mong đến? Đọc Pháp Bảo Đàn Kinh có lẽ không ít thì nhiều chúng ta cũng khởi thắc mắc vì sao Lục Tổ Huệ Năng chỉ mới vào Chùa của Ngũ Tổ có 8 tháng, lại không được lên nhà trên nghe giảng pháp, chỉ có giã gạo mà được truyền Y Bát, trong khi đó Sư Thần Tú đã học với Ngũ Tổ nhiều năm, làm đến chức Giáo Thọ hẳn là phải hiểu biết về Phật Pháp nhiều hơn, tại sao lại không được truyền? Do Lục Tổ Huệ Năng là "Người trở lại?" Nhờ Ngài dốt nát? Nhờ lao động miệt mài, hay do Ngũ Tổ ưu ái? Có công bằng hay không trong chuyện này? Vậy thì điều kiện gì để có thể Chứng Đắc? Làm cách nào để phân biệt người thật sự chứng đắc và người chưa chứng đắc? Liệu chúng ta có thể bắt chước Lục Tổ dù không phải là người "trở lại" hay không?

Về việc "trở lại" của Lục Tổ Huệ Năng thì trong "sự tích 33 vị Tổ" ta thấy có ghi lại một vài điểm rất là đặc biệt:

1/- Trước khi có nghén thì Mẹ Ngài chiêm bao thấy bông trắng đầy trước sân nhà, mùi hương bát ngát, lại có 2 con chim bạch hạc bay lượn ở trước nhà.

2/- Mẹ Ngài mang thai Ngài trọn 6 năm dài.

3/- Đêm mùng 8 tháng 2, khi sinh ra Ngài thì hào quang chói sáng cả trên hư không.

4/- Vừa sinh Ngài xong thì rạng sáng có một nhà sư đến xin gặp thân sinh của Ngài để xin đặt tên cho ngài là Huệ Năng. Thân phụ Ngài hỏi vì sao đặt tên đó? Vị sư bảo là: Huệ có nghĩa là lấy ơn pháp mà tế độ chúng sinh; còn Năng có nghĩa là: Có năng lực làm việc Phật.

5/- Từ khi sinh ra thì không phải bú mẹ mà đêm đêm có một thần nhân nhỏ nước cam lộ cho Ngài uống.

Chúng ta không thể biết được đó là sự thật hay là cứ mỗi vị giác ngộ thường được kèm theo một huyền thoại để tăng thêm phần linh thiêng. Dù sao thì những việc nêu trên tin hay không là tùy ở mỗi người. Tuy nhiên, nếu những niềm tin đó làm cho chúng ta nhụt chí, cho rằng chỉ có những người trở lại mới có thể học, hiểu Đạo thì không nên. Điều quan trọng là ta nên xét xem Ngài đã tu học như thế nào để được Đạo, bởi rõ ràng Ngài không thể tự mình giác ngộ, mà phải đến Chùa, gặp Ngũ Tổ để được nhắc nhở thì mới sáng tỏ. Đó mới là điều chúng ta cần tìm hiểu để học hỏi.

Sự "trở lại" của Ngài Huệ Năng được kể rõ: Khi Ngài lên 3 tuổi thì thân phụ qua đời, mẹ ngài nuôi con trong cảnh nghèo nàn, khó khăn. Mỗi ngày, Ngài phải vào rừng đốn củi gánh xuống chợ đổi gạo để mẹ con sống tạm. Một lần nọ đi ngang qua một nhà kia nghe tiếng tụng Kinh đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", Ngài ghé vô hỏi tụng kinh gì? Người tụng Kinh nói: " Đó là Kinh Kim Cang mà Hoằng Nhẫn Tổ Sư ở chùa Đông Thiền, Huyện Huỳnh Mai thường khuyên các vị tăng, tục, nếu ai trì tụng thì liền Thấy tánh và chắc Thành Phật". Nghe vậy, và nhờ nhân duyên có người giúp cho mười lượng bạc để lo cho mẹ, và khuyên Ngài nên đến gặp Ngũ Tổ. Trong vòng l tháng, thu xếp cho mẹ xong, Ngài đến ra mắt Ngũ Tổ.

Ngay phần đối đáp khi lần đầu tiên gặp Ngũ Tổ cho ta thấy Ngài Huệ Năng quả thật là một căn cơ đặc biệt:

Ngũ Tổ hỏi: "Người là người phương nào đến, muốn cầu việc chi?"

Huệ Năng đáp: Đệ tử là dân Huyện Tân Châu, xứ Lãnh Nam, ở phương xa đến lạy Tổ Sư, chỉ cầu thành Phật chớ chẳng cầu việc chi khác.

Tổ nói: Người là dân xứ Lãnh Nam, lại là giống man rợ, thế nào thành Phật được?

Huệ Năng đáp: "Con người tuy phân có Nam, Bắc chớ Phật Tánh vốn không có Nam Bắc. Cái thân man rợ này đối với Hòa Thượng tuy chẳng giống nhau chớ cái Tánh Phật nào có khác".

Ngũ Tổ còn muốn nói thêm, nhưng thấy các môn đồ kéo đến vây quanh nên bảo Huệ Năng đi làm công việc. Ngài huệ Năng còn hỏi thêm:

"Kính bạch hòa Thượng, tự tâm của đệ tử thường sinh trí huệ, chẳng lìa tự tánh, tức là phước điền, chẳng hay Hòa Thượng còn dạy làm việc chi nữa?"

Tổ bảo: Cái căn tánh của người man rợ này thật là sáng suốt. Thôi chớ nói nữa, hãy đi ra nhà sau.

Khi ra nhà sau rồi thì Ngài Huệ Năng được giao cho bửa củi và giã gạo suốt 8 tháng hơn.

Khi Ngũ Tổ họp tất cả môn nhơn lại, bảo cho biết mỗi người phải lấy trí huệ của mình để làm một bài Kệ trình cho Ngài xem. Nếu thấy hiểu được ý nghĩa của sự sống thác của người đời thì Ngài sẽ truyền pháp cho làm Tổ Thứ Sáu. Lúc đó những nguời trong Chùa đều nghĩ rằng Thần Tú là Giáo Thọ hẳn nhiên Ngài sẽ làm được nên mình khỏi làm. Riêng Thần Tú thì suy nghĩ mãi không biết tính cách nào, sợ trình lên mà bị chê thì mất mặt với tăng chúng nên lén biên bài Kệ lên vách nhà cầu, hy vọng nếu Ngũ Tổ nói là đúng thì sẽ ra nhận là mình làm. Nếu bị chê thì thôi. Bài Kệ đó như sau :

Thân là Bồ đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài
Giờ giờ cần quét phủi
Chớ để vướng trần ai.

Đề tài đã được nói rõ, nhưng bài Kệ của Sư Thần Tú mới chỉ đề cập đến Thiện, Ác, chưa thấy được ý nghĩa của vịệc sống thác. Ngài Huệ Năng thì không biết chữ, lẽ ra thì không thể làm Kệ được. Nhưng nhờ có bài Kệ của Sư Thần Tú, và Ngài biết bài Kệ đó chưa Thấy Tánh, nên chỉ cần sửa đi vài chữ đủ làm thay đổi nghĩa lý toàn bộ, nói lên sự hiểu biết của Ngài:

Bồ Đề bổn vô thọ
Minh cảnh cũng không đài
Bổn lai không một vật
Nào chỗ vướng trần ai.

Tức là Bồ Đề vốn không có cội, gốc. Tâm cũng không phải đài gương. Trước sau vốn không một vật thì đâu có chỗ để nhuốm được bụi trần?

Muốn hiểu được bài Kệ này, ta phải nương theo giải thích của Đạo Phật.

Theo Đạo Phật, mỗi con người đều có một cái Chân Tánh hay Bổn Tâm. Cái này vô tướng, thường hằng, thanh tịnh, như như, không ô nhiễm, không lớn nhỏ, cao thấp, dài ngắn, không sinh, không tử, không buồn vui, không bị ràng buộc… Nhưng từ khi mang lấy xác thân thì mỗi người đều lầm tưởng cái Thân Tứ Đại giả hợp là mình. Vì thế nên mới có thiện, ác, sinh, tử, lớn, nhỏ, cao thấp, xấu tốt vv... Tức là những đối đãi thuộc về Cái Thân, không dính líu tới cái Chân Tánh đó. Vì vậy, nếu người nào Thấy, Biết được cái Chân Tánh, quay trở về và Trụ được ở đó thì sẽ Thoát được mọi ràng buộc vốn dĩ thuộc về những gì Có Tướng, và bài Kệ của Ngài Huệ Năng mô tả được Cái Chân Tánh đó.

Việc tu hành chính là để "Thoát Sinh Tử", mà Sinh Tử chỉ tác động lên phần Hữu Tướng. Vì thế, người muốn thoát Sinh tử thì phải tìm về cái Chân Tánh. Do đó, trong lần tụ tập môn nhơn để kêu trình Kệ, Ngũ Tổ đã bảo: "Ta nói cho chúng đệ tử, Sự sống thác của người đời là việc lớn. Các ngươi trọn ngày chỉ cầu phước điền chớ chẳng cầu ra khỏi biển khổ sống thác".

Đã không cầu ra khỏi biển Khổ thì mọi công năng đâu có tập trung vào đó? Vì vậy đa số những người ở trong Chùa hầu như chỉ tập trung vào Y Bát. Sư Thần Tú cũng thế, khi trình Kệ chỉ mong được làm Tổ Thứ Sáu, và đám môn nhơn hàng mấy trăm người khi biết được y Bát đã trao cho Ngài Huệ Năng thì rần rần kéo nhau lập tức đuổi theo để tranh đoạt, không cần biết việc trao Y Bát là việc rất linh thiêng từ thời Đức Thích Ca tiếp nối nhau để chứng minh người nhận đủ trình độ thay người thầy cầm nắm giềng mối đạo!

Sự ham muốn làm thầy của Sư thần Tú càng thể hiện rõ ràng hơn: Dù không được truyền Y Bát, tức là Ngũ Tổ chưa xác nhận ông đủ trình độ để giảng pháp cũng tự mở ra giảng dạy! Đó là Vọng Hành, là một lỗi rất lớn của người tu Phật! Lẽ ra, nếu là người thật tâm tu hành và giữ Giới một cách nghiêm minh thì Sư phải đủ can đảm hạ mình tới gặp Lục Tổ để cầu học. Trái lại, Sư chỉ phái đệ tử đi trộm pháp rồi về kể lại cho mình, chứng tỏ cái Ngã Chấp vẫn còn nguyên đó. Đã không có pháp thì làm sao biết cách để hướng dẫn đệ tử. Cho nên chín năm Chí Thành học với Sư Thần Tú không bằng một thời pháp được nghe Lục Tổ khai mở! Đó là sự khác biệt giữa người đắc pháp và người không.

Tu Phật có nghĩa là TU TÂM. Người muốn Tu tâm phải Thấy nó. Vì vậy, khi giảng cho Ngài Huệ Năng, Ngũ Tổ dạy: "Nếu chẳng biết Bổn Tâm thì học pháp vô ích. Nếu biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh mình, tức gọi là trượng phu, là Phật, thầy cõi trời và cõi người vậy".

Do biết con người nhiều tham lam, mê đắm mà tạo Nghiệp rồi phải đọa, Đức Thích Ca phải bày ra nhiều phương tiện để dẫn dụ. Ngài phương tiện mô tả Tây Phương Cực Lạc có Đức A Di Đà tiếp dẫn với vô số bạc, vàng, châu báu, xa cừ mã não… là những thứ mọi người đều ham thích, để họ vì mong đến được cõi đó mà bớt đi tạo nghiệp trong kiếp sống. Thế là mọi người châm bẩm lo tụng Kinh, niệm Phật, mong được Đức A Di Đà rước về, mà không cần đọc Kinh để thấy Phật giải thích thêm: A DI ĐÀ là "Hào quang soi suốt không ngăn ngại", tức để nói về cõi tâm đã được thanh tịnh, sáng suốt. Không còn ba đường dưới u mê, ám chướng. Nói rằng tu học sẽ được "Làm thầy cõi trời, cõi người", thế là bao nhiêu người cố gắng để mong có ngày được như thế. Rồi thay vì điều phục cái Vọng tâm của mình - tức là làm thầy cõi trời, cõi nguời trong đó - thì lại chạy ra, đi tranh dành Y Bát để được làm thầy của mọi người bên ngoài! Những người cứ Y NGỮ mà hành, theo Kinh Phật, đó là những người Y KINH mà KHÔNG LIỄU NGHĨA!

Khi truyền phép Đốn Giáo và Y Bát cho Ngài Huệ Năng và Ngũ Tổ dặn dò: "Ngươi làm Tổ Thứ Sáu. Hãy giữ gìn và nhớ lấy đạo tâm của mình. Phải quảng độ chúng sinh hữu tình và truyền cái Chánh pháp cho đời sau, đừng để đoạn tuyệt. Và Ngài đọc kệ:

Hữu tình gieo giống xuống
Nhờ đất trái bèn sanh
Vô tình không có giống
Vô Tánh ắt không sanh

Cây, Ngói, Đá là giống vô tình, không có Cái Biết, không có cảm nhận, suy nghĩ nên không thể tiến hóa được. Con người là giống hữu tình, có suy nghĩ, vì thế mới có thể nhận được hạt giống Giải Thoát để ươm mầm trong mảnh đất Tâm mà tu hành được. Trái có nghĩa là Thành Quả Giải Thoát mà người tu sẽ đạt được. Tất cả đều nhờ ở Cái Đạo Tâm. Nên Ngũ Tổ nhắc nhở: "Hãy giữ gìn và nhớ lấy Đạo tâm của mình", cũng như Ngài khẳng định: "Nếu không Thấy Tâm thì học pháp vô ích". Đó là những câu khẩu quyết mà chúng ta cần lưu ý khi đi vào con đường tu hành.

Pháp của Đao Phật không có thiên vị. Nếu xem việc cầm đầu tăng chúng như một thứ danh vị và người Thầy thiên vị hẳn Đức Thích Ca đã truyền Y Bát cho Ngài Anan là em của Ngài, hoặc con ruột của Ngài là La Hầu La, đâu có truyền cho Đức Ca Diếp! Qua thái độ của những người đi tranh Y Bát, ta thấy một số người tu hành nhưng không thật tâm thời đó coi Y Bát quan trọng như thế nào. Cũng giống y như người đời tranh dành nhau ấn tín của vua để lên ngôi trị vì thiên hạ! Như vậy hóa ra mục đích tu hành của họ là để được ăn trên ngồi trước, được làm thầy chớ chẵng phải tu vì sợ sinh Tử! Mục đích đã khác với Đạo Phật thì con đường họ đến làm sao cùng với Đạo Phật? Chính vì vậy mà Ngũ Tổ dặn dò phải dấu Y Bát đi, bởi nếu họ đoạt được Y Bát thì đúng là cái họa của Đạo Phật! Dù vậy, tuy không còn nơi để noi dấu, nhưng Chánh Pháp vẫn có người nắm giữ và âm thầm lưu truyền đâu đó trên thế gian không bao giờ dứt diệt.

Nói về việc "trở lại" thi thật ra đây đâu phải là kiếp đầu tiên ta có mặt trên cuộc đời này? Kinh dạy "Này Thiện Nam! Nếu có người nghe kinh này mà tin tưởng, không nghi ngờ, thì biết đó là người trồng phước huệ không những ở một đời Phật hoặc hai đời Phật, mà người này đã trồng căn lành từ nhiều đời Phật như số cát sông Hằng cho nên nay nghe đến Kinh này mới hay tin thọ". Cho nên, không có gì phải lo ngại khi ta tu hành mà muốn đạt kết quả, vì nối tiếp những gì ta đã từng học hỏi, và nhờ đó khiến ta tinh tấn hơn. Tất nhiên kết quả đó phải phù hợp với mục đích của Đạo Phật, là được Giải Thoát, không phải là để làm thầy, được nhiều người hâm mộ, hay cất được nhiều kiểng chùa to đẹp để đời! Nếu gặp đúng thầy có pháp và thực hành theo những gì được dẫn giải trong Kinh theo đúng Nghĩa thì không có gì là quá khó khăn nhất định phải là người "trở lại" mới hiểu, mới hành được. Chỉ e ta thiếu quyết tâm, vẫn kiên trì đeo bám danh lợi vì chưa hiểu được cái lợi ích của con đường tu hành.

Qua hai tấm gương trong Pháp Bảo Đàn Kinh, ta thấy rằng không cứ tu lâu, nghe giảng nhiều, hiểu nhiều mà đã được Đạo! Cũng không phải do dốt nát, do lao động kiên trì, mà do Tư Duy đúng hướng cộng với quyết tâm nên Lục Tổ Huệ Năng đã Thành Phật như ý Ngài mong mỏi,là "Thành tựu con đường thoát khỏi sự ràng buộc của hữu tướng" tương ưng với câu Kinh Kim Cang: "Ưng Vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm".

Kinh cũng nêu trường hợp không " Điều Tâm" tức là không "vô sở trụ" được, mà trụ ở danh, sắc, sinh ra tội ác của một số người tu thời đó như sau:

Trong khi Lục Tổ còn đang ẩn lánh thì Sư Thần Tú đã mở ra giảng pháp ở Chùa Ngọc Tuyền. Đến khi thấy đủ duyên, Lục Tổ sửa sang Chùa Bửu Lâm để giảng dạy, được 9 tháng thì bọn ác nhơn lại tìm đến, phóng hỏa đốt trụi cỏ cây phía trước Chùa. Lúc đó nhờ Tổ chui vào kẹt đá mới thoát nạn. Tảng đá nơi Ngài ngồi Thiền để lánh nạn còn in lằn vải áo, nên sau đó mọi người gọi là "tỵ nạn thạch".

Tuy hai vị tông chủ không nhơn, ngã, nhưng các môn đồ cùng tăng tử hai phái thường sanh lòng cạnh tranh, yêu ghét nhau. Lúc bấy giờ môn phái Bắc Tông muốn tôn Sư Thần Tú làm Tổ thứ Sáu, nhưng còn hiềm Tổ Huệ Năng được truyền Y Bát mọi người đều biết, nên sai Hạnh Xương (tục danh của thầy tăng CHÍ TRIỆT) đến thích khách Tổ Huệ Năng, nhưng mưu sự không thành. Lục Tổ đã khuyên y trốn đi, sau này trở lại Ngài sẽ thâu nhận làm đồ đệ. Nhưng một số người phía Bắc Tông vẫn tiếp tục cưu mang lòng hận thù, mãi cho đến 16 năm sau, khi Lục Tổ viên tịch, Sư Thần Hội đứng ra chấn hưng pháp môn thì cũng bị họ vu cho vua bắt đày đi!

Qua đó, ta thấy những người tu đó đã không thực hành đúng như ý nghĩa của chiếc áo Cà Sa mà họ đang khoác trên người. Chiếc Y hoại sắc, tượng trưng cho cái thân, tâm không ô nhiễm danh, sắc của trần tục. Thế mà họ lại cử đồng môn đi giết người. Giết không được thì cáo gian để phe đối nghịch bị tù đày, dù cùng là những người tu với nhau, cho ta thấy cái Vọng tâm nó ghê gớm đến mức nào, nếu không chuyển hóa nó thì không biết nó sẽ dắt đi tới đâu!

Mang chuyện xưa hàng mấy trăm năm ra để bàn lại, chúng ta không nhằm mục đích nói chuyện đúng sai của lớp người đi trước. Nhưng vì con đường tu hành, dù Đức Thích Ca đã mở ra hơn hai ngàn năm trăm năm đến nay vẫn không có gì mới lạ. Bài học cũ ngàn đời vẫn áp dụng: vẫn chỉ là Tu, là Sửa cái Tâm, để được Giải Thoát. Trong cái Giải Thoát khỏi Sinh Tử Luân Hồi thì cũng gồm cả phiền não, cao, thấp, hơn thua, đố kỵ, tà tâm, ác tâm... mà người tu cần phải xả bỏ thì mới có được cái Tâm thanh tịnh, mà thanh tịnh chính là Phật Quốc, hay là Tịnh Độ mà nhiều người tu lại hiểu lầm tưởng là cõi đó của Đức Phật nào khác, rồi cố gắng ăn hiền, ở lành, tụng kinh, niệm Phật chờ được rước về sau khi chết! Họ không hiểu Thuyết Nhân Quả của Đạo Phật để biết rằng nếu cứ ăn hiền, ở lành, thì chính là họ đã "Tự Độ", đâu cần phải chờ Phật nào khác độ cho nữa! Những kiến chấp sai lầm như vậy là cũng do lớp người đi trước hiểu sai rồi truyền lại. Vì thế, phân tích ra để chúng ta thấy rằng nếu muốn tu hành thì không cần phải chay lạt, ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật giảng pháp cho hay, lôi kéo được nhiều người quy y theo Đạo Phật, mà quan trọng hơn hết là mỗi người chỉ cần Tìm, cần Thấy cái Vọng Tâm của mình, rồi xả bỏ những thứ chấp lầm để trở về với cái Chân Tâm. Hành động Xả bỏ mới gọi là TU, cũng gọi là " Điều phục chúng sinh" hay là " Độ Sinh" để hoàn thành Phật Quốc cho chính mình. Cứ kiên trì làm như thế thì việc "Tới" hay "Thấy Tánh" cũng chỉ là thời gian thôi. Kinh Viên Giác có KỆ để nói về công việc tu hành, thành Phật:

"NHỮNG NGƯỜI ĐOẠN THƯƠNG GHÉT
CÙNG VỚI THAM SÂN SI
CHẲNG CẦN TU GÌ KHÁC
CŨNG ĐỀU ĐẶNG THÀNH PHẬT"

Mấy câu ngắn ngủi trên đủ cho ta thấy vì sao nhiều người tu rất lâu, công phu miệt mài ngày đêm mà vẫn không thành tựu được vậy

Tháng 7-2009

Cùng đăng trong Nguyệt San Số 40 CLB Sách Xưa và

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 02.10.2010 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Feb 27 2016, 11:06 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

8 Pages: V « < 4 5 6 7 8 >
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 19th September 2019 - 04:40 AM