IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

8 Pages: V « < 3 4 5 6 7 > »   
Reply to this topicStart new topic
> VềPHẬT (Của HOAHẠ)
hoaha
post Mar 17 2014, 10:20 AM
Gửi vào: #81


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Hãy chiến thắng con cháu của Ma Vương trong thời kỳ Mạt Pháp

Người đăng bài viết: Đặng Duy Trường

Đức Phật đã dùng định lực để thắng lực thần thông của ma vương trong khi đấu pháp với chúng. Lúc đó ma vương bèn nói với Phật rằng: “Bây giờ tôi không có cách gì để thắng được ông, nhưng chờ đến tương lai sau nầy, khi đệ tử của ông không có đủ định lực, tri kiến lại bất chánh, lúc đó tôi sẽ đục cửa chui vào nhà ông mà mặc áo của ông, ăn cơm của ông, sau đó tôi lại còn tiểu tiện vào trong bát của ông, thử xem ông sẽ làm sao!” Đức Phật Thích Ca điềm nhiên nói: “Thế thì ta không có cách gì cả.”

Rõ ràng hiện nay, đã có người xuất gia công khai nói Kinh A Di Đà là giả, với lý do là trong kinh có những câu không có căn cứ để khảo chứng như: “Từ đây đi về phương tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc.” Ông ấy hỏi rằng: “Vị quan địa phương nào đo vậy? So ra khoảng cách của mười vạn ức cõi Phật có lẽ là nhiều hơn một chút, hoặc cũng có lẽ là ít hơn một chút. Thế thì có chắc là mười vạn ức cõi Phật không?” Đúng là những lời lý luận ngu si xằng bậy, chỉ làm trò cười cho thiên hạ!


Gần đây, lại có vị xuất gia tuyên bố với mọi người rằng Kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, đừng nên tin. Bởi căn cứ vào đoạn kinh văn: “Nhân ngày húy kỵ của vua cha, vua Ba Tư Nặc thiết trai thỉnh Phật vào cung điện. Nhà vua đích thân nghênh đón đức Như Lai, và thiết bày đầy cả thức ăn quý,” vị đó cho rằng đoạn văn nầy không phù hợp với phong tục Ấn Độ lúc đương thời - bởi ở Ấn Độ không giảng về đạo hiếu. Nhân đó ông quyết đoán rằng Kinh Lăng Nghiêm là ngụy tạo, không phải do Phật thuyết giảng. Đó chính là hành vi hủy kinh báng Phật, và quả báo của sự hủy báng nầy khó mà tưởng tượng nổi. Tư tưởng của sư nầy thật quá ấu trỉ! Tâm sư ở đâu, quý vị có thể suy ra thì biết!

Trong Kinh Pháp Diệt Tận nói rằng: “Tương lai khi đến thời kỳ Mạt Pháp, bộ kinh Lăng Nghiêm sẽ bị hủy diệt trước hết.” Bởi vì Kinh Lăng Nghiêm là đại biểu cho thời đại Chánh Pháp. Nếu không có kinh Lăng Nghiêm, tức là không có Chánh Pháp. Hiện nay có rất nhiều sơn yêu thủy quái, chúng chủ trương là Kinh Lăng Nghiêm không phải do Phật nói, và muốn mọi người đừng tin. Nếu không tin Kinh Lăng Nghiêm, vậy bao nhiêu Kinh điển khác đều có thể lấy bút quẹt bỏ hết mà không tin luôn à! Vì sao? Bởi không có căn cứ chăng! Cho nên quý vị có thể thấy rằng tâm địa của ma vương quả thật quá cay độc!

Đây cũng bởi vì Kinh Lăng Nghiêm nói lên sự thật quá rõ ràng. Trong khi ma vương lại không thể giữ được Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối tức bốn lời răn dạy thanh tịnh, cũng không thể tu được Pháp Môn Viên Thông của hai mươi lăm vị Thánh, và càng không dám đọc về cảnh giới của Năm Mươi Loại Ấm Ma. Vì nó sợ bại lộ nguyên hình, khiến cho người ta biết được bộ mặt thật của nó, cho nên nó mới tìm cách hủy diệt Kinh Lăng Nghiêm. Hủy diệt đây không phải là đốt kinh điển, mà là hủy diệt kinh từ trong tâm chúng sanh, khiến cho mọi người mất lòng tin đối với Kinh Lăng Nghiêm.

Chuyện trên đời là kỳ diệu như thế đấy. Thật rất ít có ai nhận biết được. Cũng giống như nghề buôn, người bán thuốc giả thì rất đắc hàng, trong khi người bán thuốc thật lại chẳng có ai mua. Tại sao? Bởi không có người chân chánh nhận biết được giá trị của nó. Cho nên tôi bảo là sự thật thì không ai nhận biết, còn giả thì lại làm cho mọi người say mê. Đó là đạo lý rất dễ hiểu thôi!

Hiện nay là thời kỳ Mạt Pháp, có nhiều người phỉ báng và không tin các vị thầy chân chánh tu trì Phật Pháp. Nhưng các thầy giả, bởi giảng pháp quá náo nhiệt nên có rất nhiều người đến nghe Pháp, đến nỗi trong giảng đường không còn chỗ chứa, người ta chen chúc như hộp cá mồi, chật thở không ra hơi. Thế mà lại có người xuất gia đề xướng khẩu hiệu không ăn chay. Ông thầy nầy nói với mọi người rằng: “Phàm hễ là người ăn chay đều có tâm tham; còn người không ăn chay mới không có tâm tham.” Lý luận như vậy thật là chọc cười cho cả thiên hạ, là làm mù mắt người, khiến cho người ta hồ đồ - hồ đồ qua, hồ đồ lại, hồ đồ cho đến lúc xuống địa ngục, vĩnh viễn không bao giờ thoát khỏi.

Cho nên khi học Phật Pháp, chúng ta cần nên có trạch pháp nhãn, con mắt biết chọn lựa Pháp thì mới có thể phân biệt được phải hay trái, đúng hay sai và thiện hay ác một cách rõ ràng. Nếu không vậy, chúng ta chẳng khác gì như người mù sờ voi, mò không ra được đạo lý chân chánh. Người ta nói sao thì mình lập lại y như vậy, nghe rồi phụ họa theo. Người ta nói con voi như bức tường, mình cũng nói theo là voi như bức tường. Người ta nói con voi giống như cây cột, mình cũng phụ họa nói voi giống cây cột. Rốt cuộc thì con voi giống như cái gì? Chúng ta đều chẳng biết. Khi học Phật Pháp, chúng ta phải hiểu cho được đạo lý, chứ đừng đi theo một cách mù quáng. Mọi người nên đặc biệt chú ý điểm nầy!

HT Thích Tuyên Hóa

User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 25 2014, 11:29 PM
Gửi vào: #82


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Hòa Thượng Tuyên Hóa











Nếu như bạn chẳng tu hành thì dù đức Thích Ca Mâu Ni Phật có làm Sư phụ của bạn thì cũng chẳng có ích lợi gì.

Khi mình niệm danh hiệu đức Quán Âm Bồ Tát, chớ nên thấy ai mình cũng nhìn lỗi lầm của họ. Nếu mình cứ chuyên môn tìm chuyện xấu của người thì cái khổ của mình chưa trừ hết. Gốc khổ chưa dứt tận.

Lòng ham tiền làm người ta điên đảo. Lòng háo sắc cũng làm người điên đảo. Tham danh cũng làm họ điêu đứng. Tham ăn càng làm người ta đảo điên. Mà tham ngủ nghỉ hưởng thụ cũng làm người ta quay cuồng. Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ hưởng thụ là năm cái gốc của địa ngục. Song le chúng ta ai ai cũng chôn cái gốc ấy sâu trong lòng. Gốc lành thì mình chẳng trồng nó cho sâu trong khi lại trồng thật sâu năm thứ dục vọng.

Vì sao thế giới sẽ có ngày bị hủy diệt? Vì người ta có tâm niệm thiện thì ít, mà tâm niệm ác thì nhiều. Sinh một ý niệm tốt thì trời đất sinh thêm chính khí. Khởi một niệm ác thì trời đất tăng thêm độc khí. Mình phải biến khí xấu thành khí tốt lành.

Tu hành thì nơi nào mình cũng phải có đạo đức. Lấy sự không ngăn ngại đạo đức là căn bản của việc trì giới.

Những ai đối với mình không có thái độ từ bi, hoặc không nói chuyện đàng hoàng, đều là thiện tri thức của mình. Nếu bạn có gặp điều nghịch ý mà vẫn nhẫn chịu, tức là gặp chuyện trái ý khó chịu vô cùng mà bạn vẫn có thể an nhiên xử lý thì mới thấy được công phu nhẫn nhục của bạn. Ðừng nên vì một lời nói mà tâm mình liền bị dao động. Nếu bạn tu tới chỗ chẳng bị dao động, rằng có thể nhẫn nại điều người khác khó nhẫn nại, thì đó mới chính thật là công phu chân chính. Nếu chẳng được như vậy, bạn phải làm lại từ đầu.

Người tu đạo thì giống như nước, lúc nào cũng có lòng khiêm tốn hạ mình, chẳng tranh công, chẳng tham đức. Chuyện gì tốt thì nhường người khác, việc gì xấu thì mình nhận hết.

Vì sao người ta sinh làm người? Bởi vì có ái (lòng yêu đương) nên mới đầu thai vào thế giới năm trược này. Nếu lòng yêu đương ấy mà giảm thiểu thì mình mới sinh tới nơi khác được, ví như cõi Cực Lạc, cõi Lưu Ly hay thế giới khác. Người xưa nói rằng: Ái không nặng, không sinh Ta Bà; Nghiệp chẳng hết, chẳng sinh Tịnh Ðộ.
Tinh tấn là thân tinh tấn và tâm tinh tấn. Thân tinh tấn thì phải tụng kinh, lễ lạy, tọa thiền, trì chú, nghĩa là cần phải dùng thân thể để tu hành. Tâm tinh tấn thì trong mọi nơi mọi lúc, bạn phải siêng tu giới định huệ, ngừng bặt tham sân si. Ngày cũng tinh tấn mà đêm cũng tinh tấn, lúc nào cũng nhắm về phía trước mà tiến bước, chẳng hề lười biếng.
Đối với người tu, tinh tấn là yếu tố vô cùng quan trọng. Mình chẳng thể nào không tinh tấn, vì không tinh tấn thì chẳng thể thành Phật. Muốn thành Phật thì phải tinh tấn.

Thân thể của mỗi người chúng ta là một địa ngục, chẳng qua mình không biết đó thôi.

Quán Thế Âm Bồ Tát thì nhìn vào trong, còn mình thì nhìn ra ngoài. Quán Thế Âm Bồ Tát thì nhìn vào tự tánh; tự tánh của ngài và của mỗi chúng sinh thì như có nối giây điện: Chúng sinh nào khởi vọng tưởng gì, ngài đều biết cả.

Người trì giới thì làm tự tánh thanh tịnh: Quét sạch mọi thứ đen đủi xấu xa trong tự tánh đi.

Khi dụng công, mình đừng sợ khổ, sợ khó, sợ mệt mỏi, thì mới thành công đặng.

Tu hành thì hàng ngày phải giữ trạng thái quân bằng như cái cân vậy. Làm thế nào để quân bằng? Tức là lúc nào cũng giữ thái độ điềm đạm, yên tĩnh, chẳng một chút gợn sóng xao động trong tự tánh. Ðây chính là phiền não tức bồ đề, sinh tử là Niết bàn.

Người tu đạo thì càng tu càng giảm thiểu, giảm tới chỗ chẳng còn gì cả. Chớ nên theo thói người đời, cái gì cũng muốn cho nhiều.
Muốn dứt sinh tử thì phải đem hai chữ sinh tử mà treo nơi lông mày. Mở mắt nhìn thì thấy vấn đề sinh tử, mà nhắm mắt nhìn cũng thấy vấn đề sinh tử. Lúc nào nơi nào cũng dụng công tu hành thì mới cắt đứt được sinh tử.

Việc đầu tiên người học Phật phải làm là trừ bỏ tánh nóng giận. Tánh nóng giận không ngừng thì học bao nhiêu Phật pháp cũng chỉ là trồng nhân A Tu La, sau này quả báo là làm A Tu La.

Kẻ tu hành chẳng nên khi thấy kẻ khác thì làm ra vẻ trơ trơ chẳng thèm chú ý tới họ. Làm vậy là thiếu lễ độ. Người xuất gia và tại gia đều phải lịch sự trong cách đối xử. Thiếu lễ mạo tức là chẳng có văn hoá. Mình phải văn chất bân bân (khí chất nho nhã, ôn hòa, lịch sự), chẳng nên thô lỗ, man dã.

Nếu bạn chẳng khởi vọng tưởng dù chỉ trong một thoáng chốc, khiến tâm thanh tịnh thì trãi qua một thời gian lâu, tâm của bạn sẽ trở nên trạm nhiên, thường yên lặng.

Ðạo đức thì cũng như mặt trời mặt trăng, hay trời đất vậy. Nó cũng là tánh mạng của một người. Không đức thì người ấy cũng giống như chẳng có tánh mạng, chẳng có nhật nguyệt thiên địa vậy.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Mar 25 2014, 11:30 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 25 2014, 08:21 AM
Gửi vào: #83


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Namo Sakya Muni Buddha

Chuyện người mù và người què

Mời bạn cùng ngồi, tôi xin kể bạn nghe một câu chuyện:


Có một người bị mù và một người bị què chân sống chung với nhau trong một gia đình, trong đó có vài người khác cùng
chung sống để giúp đỡ cho họ. Song một hôm những người kia đều có việc phải ra ngoài, người đi câu cá, người đi mua
sắm, người đi chơi, người mù và người què là những người còn lại trong nhà. Trong cái ngày đặc biệt ấy căn nhà bỗng xảy
ra hỏa hoạn, người mù không thấy được đường nên không thể thoát ra được. Người què thấy được, nhưng không có đôi
chân lành lặn để đi ra. Thật nan giải! Chắc chắn họ sẽ bị chết cháy thôi!

Lúc đó, có một vị thiện tri thức cho họ lời khuyên: " Các anh đều có thể thoát được nạn cháy, có thể thoát ra được ngôi nhà
lửa này. Làm cách nào để thoát? Người mù hãy sử dụng đôi mắt của người què và người què sử dụng đôi chân của người
mù." Họ liền theo chỉ dẫn của thiện tri thức. - Có phải người què móc mắt của mình ra rồi gắn vào hốc mắt của người mù
chăng? Bất kỳ một cuộc giải phẫu với phương pháp ấy đều thất bại cả. Nếu như người ta tìm cách gắn đôi chân của người
mù vào thân của người què cũng đều là vấn đề nan giải, vượt qua ngoài quy luật tự nhiên. Thế thì họ làm sao?

Họ tạo ra một tình huống tốt nhất bằng cách người mù cõng người què. Người què có mắt nên hướng dẫn: " Quẹo phải,
quẹo trái, đi thẳng," người mù có đôi chân, tuy không thấy đường nhưng có thể ( Tin ) nghe được lời chỉ dẫn của người
què. Nhờ nghe lời khuyên đúng lúc và hợp lý, cả hai đều tự xoay xở để tự cứu được mình.

Thưa, nếu chúng ta chỉ đơn thuần có Niềm Tin mà không được Trí Tuệ soi sáng,chúng ta sẽ bước những bước chân
(hành động) mù lòa . Nếu chúng ta có Trí Tuệ mà không có Niềm Tin, chúng ta có cái'' thấy xa trong rộng '' nhưng lại hạn
chế bởi sự què ( không hành động ) nên rốt cùng cũng không có lợi ích chi. Niềm Tin & Trí Tuệ

là đôi cánh bất khả phân của người tu Phật vậy



Thích Tánh Tuệ

Photo

Sen nở hồ tâm



Thước đo của một người tu hay đang hướng tâm tu không phải là kiến thức nhiều, nghe nhiều, đọc nhiều, hoat động từ
thiện hay truyền bá Phật pháp nhiều. Mà là Chánh Niệm Tỉnh Giác, bớt tham-sân-si, chấp ngã, sống với bốn tâm cao thượng
Từ, Bi, Hỉ, Xã, và không phân tích, chỉ trích mọi người. Điều này được phản ảnh qua ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh,
lắng đọng của người đó.

Xin hiểu, '' Không phân tích, chỉ trích '' trong đoạn văn trên đây hoàn toàn khác với không góp ý xây dựng, cảnh tỉnh, khuyên nhắc..- Phân tích, chỉ trích thường là khuynh hướng của thói quen ưa soi mói và rêu rao lầm lỗi của người khác, đây là biểu
hiện của những tâm thái tiêu cực. Góp ý xây dựng, cảnh tỉnh, khuyên nhắc.. phải là hành động xuất phát từ lòng Thương Yêu Chân Thành, muốn người khác hoàn thiện và tốt hơn.

Vậy khi chuẩn bị góp ý, chỉ lỗi người khác, điều bạn cần làm trước tiên đó là xét xem những lời mình sắp nói ra được khởi đi
từ động cơ nào, nói ra với tâm thương yêu hay với tâm dè bỉu, chỉ trích.


Kinh Pháp Cú đức Phật có dạy:

Muốn khuyên, muốn dạy dỗ ai
Trước tiên hãy tự sửa nơi chính mình.
Đích thân gương mẫu thực hành
Rồi sau mới dạy điều lành, điều hay!
Sửa mình quả thật khó thay!

(Kinh Pháp cú 159)
Namo Buddhaya

Bodhgaya monk

Photo: Be positive about your life !

Làm việc gì thì cũng chỉ một tâm, một lòng.
Làm xong rồi liền buông tay.
Việc tới, thì ứng biến.
Việc qua rồi, lòng lại yên tĩnh.

(HT. Tuyên Hóa)

Photo: Thước đo của một người tu hay đang hướng tâm tu không phải là kiến thức nhiều, nghe nhiều, đọc nhiều, hoat động & truyền bá Phật pháp nhiều. Mà là Chánh niệm, Tỉnh Giác - bớt tham-sân-si, chấp ngã, sống với bốn tâm cao thượng Từ, Bi, Hỉ, Xã, & không phân tích, chỉ trích mọi người. Điều này được phản ảnh qua ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, lắng đọng của người đó. Namo Buddhaya __(())__

Khoảng Cách

Mình giống nhau đôi mắt
Mà khác nhau cách nhìn
Bức tranh đời thơ mộng
Anh thích, em phê bình.

Mình giống nhau đôi tai
Cách nghe không đồng điệu
Em thích nhạc u hoài
Anh chê buồn, không chịu.

Mình giống nhau đôi môi
Mà không cùng cách nói
Người chân thật từng lời
Người thường hay gian dối!

Mình giống nhau trái tim
Nhưng không cùng nhịp đập.
Em tìm kẻ chung tình
Anh ưa nhìn dáng dấp.

Mình giống nhau khối óc
Suy nghĩ hoài khác xa
Những điều làm em khóc
Anh lại cười ha ha..

Phải chăng vì như vậy
Vui, buồn riêng biết thôi
Vẫn chưa lần Hiểu lấy
Vẫn gần mà xa xôi..

- Chủ Nhật em đi lễ
Anh đến quán cà phê
Song hành trên lối nhỏ
Lối rẻ vào, cách chia .

Thích Tánh Tuệ

Photo: KHOẢNG CÁCH Mình giống nhau đôi mắt Mà khác nhau cách nhìn Bức tranh đời thơ mộng Anh thích, em phê bình. Mình giống nhau đôi tai Cách nghe không đồng điệu Em thích nhạc u hoài Anh chê buồn, không chịu. Mình giống nhau đôi môi Mà không cùng cách nói Em chân thật từng lời Sao anh thường gian dối ! Mình giống nhau trái tim Nhưng không cùng nhịp đập. Em tìm kẻ chung tình Anh ưa nhìn dáng dấp . Mình giống nhau khối óc Suy nghĩ hoài khác xa Những điều làm em khóc Anh lại cười ha ha.. Phải chăng vì như vậy Vui, buồn riêng biết thôi Vẫn chưa lần Hiểu lấy Vẫn gần mà xa xôi.. - Chủ Nhật em đi lễ Anh đến quán cà phê Cùng đi trên lối nhỏ Cuối con đường rẻ chia . (*__*) T Tánh Tuệ

Dù làm bao nhiêu việc
Ích lợi cho người khác
Cũng đừng quên "Giải Thoát"
Là mục đích cuối cùng .
(Kinh Pháp Cú )




Thưc hiện: Thích Tánh Tuệ






User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 25 2014, 08:31 AM
Gửi vào: #84


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35





LÀM GÌ CÓ CHẾT!





Thật ra không hề có cái gọi là Chết, bạn có tin không?

Giả dụ, khi bạn thay một chiếc áo mới thì chiếc áo vừa được thay ra bạn có nói rằng chiếc áo kia đã... ''chết'' không?*smile.gif happy

Cũng vậy, khi ''chiếc áo thân thể'' đã không còn dùng được, Nghiệp thức của chúng ta lại đi tìm một chiếc áo mới để mặc vào. Một người khi sinh tiền tạo nhiều thiện nghiệp, tức là người có Phước, cái tự do của người có Phước là có quyền lựa chọn những gì mình thích. Ví như một người có tiền bạc rủnh rỉnh trong túi, khi đi shopping vào một tiệm quần áo, người đó có thể mua hàng hiệu, mua những cái áo đắc tiền. Còn một người khi sinh tiền không làm lấy một điều thiện mà còn tạo nhiều ác hạnh, khi chiếc ''áo làm Người'' đã rách, người ấy như một người nghèo, chẳng những thế trên thân còn đầy các ung nhọt lỡ lói (ác nghiệp đeo mang), trong túi không còn lấy một xu, cái ăn còn không có, huống là sắm cho mình những chiếc áo đẹp. Cảnh giới Ngạ quỷ, Súc sinh, Địa ngục, dụ cho những người đã hết tiền (thiếu Phước) để mua áo mới, đành phải khoát lấy những manh áo lầm than.


Vì vậy, sự ''thay áo'' không phải là hoàn toàn mất hẳn, nên làm gì có cái gọi là Chết, nói rõ hơn, chỉ là sự CHUYỂN ĐỔI CẢNH GIỚI, chuyển đổi môi trường, hoàn cảnh sống theo Phước, Nghiệp của mình đã tạo. Hiểu được thế, bạn có thể ''để dành tiền'' bằng cách tu tập, hành thiện để có tiền (có Phước) tái sanh vào nhàn cảnh. Và hiểu được điều này bạn cũng thoát ly được nỗi sợ cũng là nỗi ám ảnh lớn lao của kiếp người, đó là cái Chết.

Bát Nhã Tâm Kinh có câu: ''Nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận'', (cho đến không có già chết, không có cái hết già chết ). Già, Chết chỉ là chuyện của chiếc áo hiện tượng còn bản Thể thì không, hoàn toàn không.

Đến, đi, sinh, diệt trò chơi!
''Bừng con mắt mộng'', thảnh thơi sống nhàn...

Bodhgaya monk



Chỉ Cần Thay Đổi Cách Nghĩ

*Nếu bạn thấy đêm nay khó ngủ
- Cứ nghĩ đến những kẻ không nhà chẳng nệm ấm chăn êm.

*Nếu bạn gặp một ngày tồi tệ nơi làm việc
- Hãy nghĩ đến những người đã mấy tháng nay không tìm được việc làm.

*Nếu bạn chán nản vì mối quan hệ xấu đi
- Hãy nghĩ tới những kẻ không bao giờ biết hương vị của thương yêu và được người yêu thương lại.

*Nếu bạn buồn phiền vì thêm một cuối tuần vô vị trôi qua
- Hãy nghĩ tới những người phụ nữ quẫn bách, quần quật cả ngày, suốt tuần không nghỉ, chỉ mong kiếm được chút tiền còm nuôi mấy miệng ăn.

*Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ
- Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

*Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người
- Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn.

*Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ. Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều.










User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jun 27 2014, 11:33 AM
Gửi vào: #85


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Phật ở quán café


Tựa bài viết này không là một ý thơ kiểu cọ thời đại, hay một tư tưởng lạ của mấy triết gia, mà chỉ là một sự thật tôi từng được biết nhân đọc báo mấy năm trước.

Trong bài viết tuần qua, nhân nói về một cô gái Việt sống ở Unalaska, tiểu bang Alaska, tôi có hứa kể bạn nghe chuyện một pho tượng Phật trắng toát đã phiêu lưu từ miền Trung Việt Nam đến tận thành phố Anchorage ở miền băng giá Alaska.

Tượng Phật này được an vị bất đắc dĩ trong một quán cà phê của người Mỹ, và trở thành một biểu tượng cho sự bình an đối với bất cứ ai từng ghé quán Side Street Espresso nằm trên đường G Street.

Tượng Phật ngồi bằng đá cẩm thạch này nặng gần 700 pounds, tức là hơn 310 kí-lô, cao chừng một mét. Sau khi tượng đến quán được
một thời gian khá lâu, mùa hè năm 2011, nữ ký giả Julia O'Malley đã viết bài đăng trên báo Anchorage Daily News về pho tượng và
người đã mang tượng đến Alaska.

Bà Julia kể rằng vài năm trước đó, ông Suel Jones, một thợ máy về hưu từng làm việc cho hãng dầu BP, đã có cảm tình với một pho tượng Phật được đẽo gọt bởi một nghệ nhân ở bên lề đường trên Núi Ngũ Hành Sơn (người Tây Phương gọi là Núi Đá Cẩm Thạch).

Ngày ấy ông Suel đã du lịch đến vùng ngoại ô Đà Nẵng.
“Tôi chỉ nhìn pho tượng và biết rằng mình muốn nó hơn những tượng khác nằm quanh đấy,” ông nói với bà Julia.

“Tôi không thể giải thích tại sao tôi thích tượng Phật ấy, có lẽ vì nét mặt, có lẽ vì chất liệu, tôi không thật sự hiểu.”

Thế rồi ông nói thêm rằng tượng gợi nhớ một thời quá khứ bất ổn khi ông là một người lính Thủy Quân Lục Chiến trẻ tuổi mới đến Việt Nam. Ông nhớ rõ một ngày nọ khoảng 40 năm trước, khi ông và các đồng đội tiến vào một ngôi làng gọi là Cam Lộ.
“Có một ngôi chùa bị bắn nổ tan tành,” ông kể.

Trong ngôi chùa tan hoang ấy, ông thấy một pho tượng Phật ngồi vững vàng, thanh tịnh giữa những đổ nát của chiến tranh.

Điều đó khiến ông nghĩ đến những gì đang xảy ra cho đất nước Việt Nam, cho con người và cho truyền thống từ ngàn xưa của họ.

Tượng Phật cẩm thạch trông quen thuộc với ông vì lẽ ấy. Có lẽ vì nụ cười của Phật, như là vị Phật mà ông từng thấy lần đầu 40 năm trước
nay bỗng trở về với ông. Cựu quân nhân này cảm thấy trong lòng một sự biết ơn mà ông không hề nghĩ mình có trước đây, về sự có mặt của Phật trong đời ông.

Thế là ông Suel đồng ý mua tượng Phật với giá $500. Ông tốn thêm gấp đôi số tiền để cho người ta chuyên chở tượng đến Alaska.

Khi mua tượng thì ông không thật sự biết mình sẽ làm gì với nó. Chắc đặt ở ngoài vườn tại căn cabin của ông ở Glacier View, ông nghĩ vậy. Căn cabin và cũng là nhà của ông nằm cách xa Anchorage khoảng 100 dặm nằm trên bang lộ Glenn Highway.


Khi tượng Phật đến Alaska, ông Suel đã lái một chiếc pickup và chở tượng ở đằng sau trong suốt mấy ngày. Lái xe đến đâu ông cũng gây chú ý. Ai ai cũng tò mò nhìn pho tượng Phật trắng ngần nằm trên xe của ông Suel. Ở các ngã tư đèn đỏ và ở trạm xăng, người lạ bước đến gần và hỏi ông về pho tượng ấy.

Ai cũng thắc mắc, không biết tại sao ông Suel này lại mang Phật đến Alaska.
“Họ không ngần ngại khi bước đến và sờ tượng Phật ở đằng sau xe của tôi,” ông kể.

Ông đã chở Phật xuống phố đến quán cà phê Side Street Espresso, nơi mà ông là một khách hàng quen mặt trong hơn 20 năm. Ông muốn hai chủ nhân George Gee và Deb Seaton được thấy tượng. Bà Deb cho rằng tượng này nên đặt trong bảo tàng viện.

“Tôi đã xúc động đến muốn khóc,” bà Deb kể với ký giả Julia. “Tượng Phật sao mà đẹp quá.”
Thế rồi ông Suel xét lại, nghĩ rằng tượng Phật này không thể đặt ở một khu vườn hẻo lánh.

Trong thời gian gần đây, ông sống nửa năm tại Glacier View và nửa năm còn lại ở Việt Nam, nơi ông làm việc với các hội cứu chiến binh của người Mỹ. Ông đã lập ra một hội chuyên trợ giúp các cựu chiến binh ở Alaska, bất kể họ trở về từ cuộc chiến nào trên thế giới.


Tại Việt Nam thì ông phụ giúp trong công tác tháo gỡ mìn, xây nhà chơi cho trẻ em.
Ban đầu ông nghĩ đến việc bán tượng Phật để gây quỹ cho hội, và dùng tiền để làm thêm việc thiện ở Việt Nam. Cặp chủ nhân George và Deb đề nghị ông để Phật ở trong quán cà phê trong lúc chờ người mua.

Xe cần cẩu từng được dùng để đưa tượng Phật lên xe của ông. Giờ đây ông và hai người bạn không có xe cần cẩu để mang tượng xuống. Họ vận động thêm vài người bạn đến giúp một tay. Thế nhưng pho tượng nặng 700 cân chỉ có thể được mang từ trên xe xuống mặt đất, không thể nào khiêng vào bên trong quán cà phê.


Mọi người nặn óc, đưa ra những sáng kiến. Thế nhưng đề nghị nào cũng thất bại. Tượng quá nặng so với sức của họ.
Thế rồi đúng lúc mọi người đành bó tay, chưa biết phải di chuyển Phật như thế nào, thì bỗng nhiên có hai ông lái xe mô-tô phóng qua.

Ông nào cũng có đôi tay vạm vỡ đầy bắp thịt rắn chắc như cầu thủ chơi football. Hai ông mặc áo da đi xe mô-tô này đã phóng xe qua và rồi vòng xe lại vì muốn quan sát một bức tượng mà họ thấy xuất hiện kỳ lạ ở nơi đây. Khi biết nhóm ông Suel cần khiêng tượng vào trong tiệm, hai ông lái xe mô-tô liền ra tay giúp.

“Hai người này gần như tự họ khiêng Phật vào bên trong, không cần ai giúp,” ông Suel nhớ lại.

Thế là Phật được an vị trong quán cà phê Side Street như vậy. Họ đặt tượng giữa một tủ lạnh và một chiếc bàn với khăn ca-rô phủ bên trên. Hai năm trôi qua.

“Chúng tôi không may mắn trong việc bán tượng,” ông Suel kể. “Giống như là tượng đã quyết định ở lại đây, không muốn đi đâu hết.”

Quán Side Street có rất đông khách lui tới thường xuyên, và hầu như ai cũng cảm thấy thân quen với tượng. Họ thường ve vuốt những nếp y trên tượng. Đôi vai của Phật không còn bóng loáng vì có quá nhiều dấu tay sờ bên trên. Thế rồi họ dần dần đặt thêm đèn cầy ở cạnh tượng, choàng thêm vòng hoa trên Phật và biến góc nhỏ này thành nơi thờ phượng.

Khi được hỏi ý ông nghĩ sao về việc bức tượng thu hút người ta đến như vậy, ông Suel trả lời

“Có lẽ nước Mỹ chúng ta đang trải qua quá nhiều vấn đề rối rắm.”

Ông nhắc đến nền kinh tế lúc ấy không được khá, chính trị bị chia rẽ, và có rất nhiều cựu quân nhân trở về từ hai cuộc chiến mới nhất. Ai cũng tìm cách thấu hiểu những gì đang xảy ra ở chung quanh họ.

“Họ cần bất cứ cái gì có thể cho họ một cảm tưởng bình yên, tĩnh lặng,” ông nhận xét.

Ông chủ George Gee dậy sớm mỗi ngày để vẽ chân dung và viết thực đơn cho món đặc biệt trong ngày trên một tấm bảng nhỏ.
Là một họa sĩ, ông thường vẽ khuôn mặt của những nhân vật thời sự trong ngày kèm thêm lời châm biếm hài hước để mua vui thực khách.

Chẳng hạn như mới đây ông George vẽ mặt anh chàng Edward Snowden để quảng cáo cho một món nước uống có pha thêm hương vị dừa “coconut,” để ám chỉ hành động dại khờ của anh khi tiết lộ hàng ngàn tài liệu mật của chính phủ Mỹ, để rồi phải trốn chạy qua Hồng Kông và nay bị mắc kẹt ở Nga.

George nói rằng tượng Phật đã trở nên quá thân thuộc với ông trong những lúc ông cần suy nghĩ nhất trong ngày. Ông nói quán cà phê luôn có một nguồn năng lực riêng của nó, và tượng Phật đã thật phù hợp trong không gian này.

“Tượng hình như đã có sẵn một năng lực huyền bí từ lâu,” ông nói. Lực đó đã khiến những tay anh hùng lái xe mô-tô phải rời xe của họ, và cũng có thể đã khiến một người quyết định đưa pho tượng nặng 700 cân đi nửa vòng trái đất đến đây, ông George nghĩ vậy.

Vào khoảng tháng Sáu năm 2011, những thân chủ của tiệm đã mau chóng truyền tin với nhau rằng có người đã trả giá mua tượng Phật và sắp mang tượng rời quán cà phê. Họ cảm thấy luyến tiếc khi nghĩ đến việc một ngày kia Phật không còn ngồi ở chỗ quen thuộc trong quán.

Thế rồi khoảng hai tuần sau đó, một thân chủ đến uống cà phê như mọi lần. Khi mở bóp lấy tiền trả nước uống, ông cầm ra $3,000.
Ông muốn mua tượng Phật với một điều kiện, ông George kể. Điều kiện duy nhất ấy là Phật phải ở trong tiệm này, không đi đâu hết.

Ông Suel đồng ý. Số tiền bán tượng ấy đã được ông Suel mang đến miền Trung Việt Nam để tiếp tục công tác từ thiện của hội Cựu Chiến Binh Cho Hòa Bình (Veterans for Peace).

“Tôi rất ngạc nhiên, bạn biết chăng,” ông Suel kể. “Nhưng rồi tôi cũng hiểu, tôi thấy rằng ông ấy cũng muốn chia sẻ tượng với mọi người.”

Thế nên giờ đây Phật vẫn còn an vị trong một quán cà phê nằm trên đường G Street ở Anchorage, Alaska, không ngồi trong một ngôi đền
hoặc một ngôi chùa nào xa thế gian.

Phật ngồi đó, tiếp tục thiền định với ánh mắt từ bi hướng về những người đang thảnh thơi thưởng thức một tách cà phê ấm hoặc bận chăm chú xem màn ảnh của điện thoại, với nét mặt đẹp sáng ngời, và với một nụ cười thân thuộc luôn mang đến sự bình yên.

Phúc Quỳnh/Viễn Đông
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 15 2014, 08:34 AM
Gửi vào: #86


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



HAI MƯƠI LĂM VỊ BỒ TÁT ĐẾN TIẾP DẪN


Hình tướng của hai mươi lăm vị Bồ-tát được mô tả như sau:

1. Quán Thế-âm Bồ-tát:Ngài hầu bên trái đức A-Di-Đà, hai tay bưng đài sen tiá, phần trên của thân hơi nghiêng về phía trước. Ngài đứng trên hoa sen. Có tượng ngồi, gương mặt mỉm cười, tỏ vẻ nghinh tiếp hành giả niệm Phật.

2. Đại Thế-chí Bồ-tát: song song với đức Quán Thế-âm, Ngài hầu bên phải Phật A-Di-Đà, hai tay chắp lại, đứng hoặc ngồi trên đài sen. Ngài chủ trì việc khen ngợi hành giả được vãng sanh thế-giới cực-lạc.

3. Dược-Vương Bồ-tát: tay trái cầm tràng phan, đứng trên đài sen, tỏ vẻ hoan hỷ nghênh đón hành giả được vãng sanh thế giới cực-lạc.

4. Dược Thượng Bồ-tát: hai tay cầm giữ ngọc-phan, như đang đứng hóng gió, mặt tươi cười.

5. Phổ-Hiền Bồ-tát: thông thường Ngài cưỡi voi trắng, trong số 25 vị Bồ-tát này, hình tượng của Ngài có hai tay bưng lọng che, tỏ vẻ tán thán hành-giả mới được vãng sanh.

6. Pháp Tự-Tại Bồ-tát: hai tay Ngài cầm chuỗi hoa, biểu-thị sự hoan-hỷ phát xuất từ đáy lòng, tỏ vẻ đến nghênh tiếp hành-giả với lời ca, điệu múa. Có thuyết nói: Ngài với Bồ-tát Văn-Thù chỉ là một, nhưng mà khác tên.

7. Sư-Tử hống Bồ-tát: Ngài đứng trên đài hoa sen, thổi nhạc khí, tỏ ra có đủ uy-đức vô-uý, giống như chúa tể của loài vật, dũng-mãnh.Trong kinh Duy-Ma, phẩm Phật-quốc, có nói: " Sư-tử hống… tên nghe khắp mười phương… hàng phục ma oán, chế-ngự ngoại-đạo, hết thảy đều đã thanh-tịnh, vĩnh viễn xa lìa các sự trói buộc, ngăn che, tâm thường an-trụ, giải-thoát vô-ngại" Do đó, có thể thấy rằng uy-đức của Bồ-tát này; mặc-dù ai đó là hạng siêu-phàm nhưng cũng khó lòng mà so- sánh được.

8. Đà-la-ni Bồ-tát: hai tay cầm nhẹ một góc áo trời, cất chân phải, tỏ vẻ rất khoan-khoái nên nhảy múa. Đà-la-ni là chữ Phạn, dịch sang Hán-Việt là tổng-trì, hoặc năng-trì. Trong Bí Tạng Ký Sao nói: Đà-la-ni là tổng-trì, một chữ Đà-la-ni bao gồm tất cả tư-tưởng, giống như trời đất bao hàm tất cả vạn-vật. Vì vậy, có thể nói sức bao-bọc của Thánh-tôn này rất to lớn; do đó mà có tên Ngài như vậy.

9. Hư-Không Tạng Bồ-tát: Ngài đứng trên đài hoa sen, hai tay đánh trống.

10. Đức-Tạng Bồ-tát: Ngài đứng trên đài hoa sen, hai tay làm động tác thổi cái sên2. Đức Thánh-tôn này có vô lượng bi-tâm, ứng với căn cơ của tất cả chúng sanh, mở kho báu công-đức đại-bi để làm lợi ích giáo-hóa tất cả.

11. Bửu-Tạng Bồ-tát: Ngài đứng trên đài hoa sen, làm động tác thổi sáo. Bí-tạng của Thánh-tôn này có bảy loại trân bảo, ứng với nguyện-vọng của tất cả chúng sanh. Tùy thời, Ngài đả-khai bửu-tạng, chia đều, cấp phát cho tất cả chúng sanh, khiến họ có thể đạt được các loại ân- huệ.

12. Kim-Tạng Bồ-tát: Ngài đứng trên đài hoa sen, làm các động tác như chơi đàn, chép sách. Dựa và công-đức như tên gọi, đức Thánh-tôn này gia-nhập thánh chúng của Tịnh-độ Cực-lạc. Công-đức của Ngài đầy đủ, giống như vàng ròng, nên gọi là Kim-cang bất hoại; nước lửa chẳng xâm phạm. Dùng các thí dụ đó để biểu-thị công-đức trong sạch bền vững của Ngài, không gì có thể làm dơ bẩn được.

13. Kim-Cang Tạng Bồ-tát:Ngài ngồi trên đài hoa sen, làm động tác đánh đàn cầm. Đức Thánh-tôn này có đủ trí-tuệ kim-cang chẳng hoại. Để dứt trừ hết các nghi-hoặc và phiền-não chướng của chúng sanh, Ngài lấy đại công-đức vô-tận cấp cho tất cả chúng sanh, nhân đó mà có tên như vậy.

14. Sơn-Hải Tuệ Bồ-tát:Tay trái dắt trên đầu một chiếc không-hầu có ba mũi nhọn; tay phải làm động tác từ bỏ nhẹ nhàng. Trí-đức cao khiết của Thánh-tôn này, giáo-hóa và làm lợi-ích cho tất cả chúng sanh. Trí-đức cao thâm của Ngài giống như núi cao, biển sâu, cho nên Ngài có tên như vậy.

15. Quang-Minh Vương Bồ-tát: Ngài ngồi trên đài hoa sen, làm động tác đang gẩy đàn Tên của Ngài được giải thích như sau: hai chữ Quang-Minh bày tỏ trí-tuệ sáng suốt; chữ Vương diễn tả ý 'hơn hết'; thành ra Quang Minh Vương là 'sáng suốt như ánh quang minh mặt trời mặt trăng của chư Phật, không gì vượt quá nổi. Vì vậy mà gọi Ngài là Quang-minh Vương Bồ-tát."

16. Hoa-Nghiêm Vương Bồ-tát: Ngài đứng trên đài hoa sen, hai tay làm động tác tán-thán. Nhan vì Ngài làm vạn hạnh như hoa, dùng hoa đó để trang nghiêm quả địa nên gọi là Hoa-Nghiêm, hoặc muôn đức của quả Địa như Hoa, lấy pháp thân để trang nghiêm quả địa ấy nên gọi là Hoa-Nghiêm.

17. Chúng-Bửu Vương Bồ-tát: Ngài đứng trên hai đài sen làm động tác đánh xập-xõa. Ngài có bảy loại trân bảo. Ngài tập họp được tất cả châu báu vào một thân, ứng hợp với các căn cơ của chúng sanh, cấp phát bình-đẳng cho tất cả. Đức Thánh-tôn này dùng tánh đức viên-mãn không khuyết như mặt trăng tròn sáng để làm lợi ích và hóa độ cho tất cả chúng sanh cho nên có tên như vậy.

18. Nguyệt-Quang Vương Bồ-tát: Ngài đứng trên hai đài sen, tay phải cầm trống rung, tay trái thì ngón giữa và ngón áp út cong lại cho ngón cái trải nhẹ qua, ngón trỏ và ngón út để đứng, cất nhẹ chân trái, tỏ vẻ rất vui thích làm động tác nhảy múa.

19. Nhật-Chiếu Vương Bồ-tát: Ngài đứng trên đài sen, làm động tác dánh chiêng. Ngài dùng trí-tuệ sáng suốt của mình soi phá hết thảy các chỗ u-ám của chúng sanh; ứng hợp với căn cơ của họ. Ngài lấy trí-đức ấy làm lợi-ích và hóa-độ cho tất cả chúng sanh.

20. Tam-Muội Vương Bồ-tát: Tay trái mang giỏ có nhiều hoa sen, tay phải như đang rải hoa, tỏ vẻ vui sướng ca ngâm. Đức Thánh-tôn này trong Tam-muội Sở-đắc có phần đức tự-tại, do đó mà có tên Ngài như thế.

21. Định Tự-Tại Vương Bồ-tát: Ngài ở phiá sau cái trống lớn, được trang sức bằng ánh lửa sáng tốt đẹp, hai tay đang làm động tác đánh trống. Ở trong thiền-định, Ngài có thể biến hóa tự-tại; trong định lực; Ngài hiện ra ánh lửa; trong định nước, Ngài hiện ra sóng, có đủ phần đức tự-tại vô ngại. Do đó, mà có tên Ngài như vậy.

22. Đại Tự-tại Vương Bồ-tát: Ngài đứng tên đài hoa sen làm động tác gảy một nhạc cụ nhỏ chế bằng kim-loại. Đức Thánh-tôn này dựa vào phần đức biến hóa tự-tại vô- ngại của mình mà cứu độ tất cả chúng sanh. Do đó mà có tên Ngài nhu vậy.

23. Bạch-Tượng Vương Bồ-tát: Ngài đứng trên đài hoa sen, làm động tác thổi sáo. Ngài có uy-lực lớn như một thớt voi trắng, đầy đủ muôn đức, hay phát sức đại-từ. Ngài dùng uy-lực đại từ-bi để cứu vớt tất cả chúng sanh. Do đó mà có tên Ngài như vậy.

24. Đại Uy-Đức Vương Bồ-tát: Ngài lướt nhìn chuỗi ngọc, có tướng trạng đang nói pháp. Tên Ngài là Đại Uy-đức Vương, vì chữ 'Đại' bày tỏ sự rộng lớn vô-biên; chữ 'Uy' tức là oai thế; chữ 'Đức' nói về công-đức; chữ 'Vương' diễn tả ý tự-tại. Ngài dùng uy-đức rộng lớn vô biên để cứu độ tất cả chúng sanh nên gọi như vậy.

25. Vô-Biên Thân Bồ-tát:Tay phải cầm nhành dương- liễu, tay trái bắt ngọc trai. Ngài đứng trên đài hoa sen. Ngài đồng thể nhưng khác tên với Địa-tạng Bồ-tát.
nammoadidaphat
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 17 2014, 08:54 AM
Gửi vào: #87


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Chuyện về sư thầy làm "cha" bảy con thơ

Ngọc Ánh

“Sinh con rồi mới sinh cha. Chứ lúc đầu đón đứa đầu tiên về, tôi cũng lúng túng lắm. Bảy ngày liền không dám bế con…”

Hơn hai mươi năm nương nhờ cửa Phật, nhưng sáu năm qua thầy Thích Thanh Lương (trụ trì chùa Sùng Nghiêm, xã Minh Đức, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương) lại mở rộng tấm lòng, sống chung với điều tiếng thị phi để làm "cha" của bảy đứa trẻ và ấp ủ ý tưởng tìm sự chia sẻ, giúp đỡ của các nhà hảo tâm cũng như toàn xã hội nhằm thành lập một trung tâm từ thiện.

Tôi đến thăm chùa vào một buổi sáng mùa xuân đẹp trời. Sau một hồi vòng vèo hỏi đường, cuối cùng, tôi cũng tìm đến được với cha con thầy. Trên một diện tích khá rộng, nhà chùa hiện đang xây dựng thêm một số dãy điện thờ. Tôi trộm nghĩ: “Thầy bận bịu lo việc nhà chùa là thế, vậy mà vẫn giang rộng vòng tay đón các em. Mà ở thôn quê thế này, cha con thầy chắc vất vả lắm!”.


Sư Thầy và con trai Tâm Hoà


Gặp thầy, tôi bất giác thốt lên: “Thầy trẻ quá!”. Mà đúng thật, nhìn thầy trẻ hơn cái tuổi 33 của mình nhiều lắm. Lại thêm cái dáng đi lúc nào cũng như vội vã. Vừa ở chỗ này chỉ đạo mấy người thợ xây, thoắt cái đã thấy thầy chạy xuống dãy nhà dưới dỗ con ốm khóc, rồi còn tiếp khách khứa đến thăm chùa ngày xuân... Tôi xin phép thầy xuống thăm các cháu. Khi mấy vị khách đã ra về hết, tôi mới có dịp được trò chuyện cùng thầy.

Xuất gia từ năm mười bốn tuổi, năm 1999, thầy Thích Thanh Lương về trụ trì chùa Sùng Nghiêm. Nhưng dưới bóng cửa Phật, thầy không dứt gánh lo đi để thanh thản với kinh kệ, mà hướng đạo vào đời, thường quan tâm đến những mảnh đời cơ cực. Trong một lần đến thăm Trung tâm bảo trợ trẻ em tỉnh Hoà Bình, trông cảnh một em bé khuyết tật bị bệnh đao, thầy rất xúc động và ám ảnh với suy nghĩ "Cứu một mạng người còn hơn xây ngàn tòa tháp". Tháng 8/2006, thầy Thích Thanh Lương bắt đầu nhận nuôi trẻ sơ sinh mồ côi. Khi ấy, thầy mới hai mươi bảy tuổi.

Bé đầu tiên được thầy Thích Thanh Lương đón về cho nương tựa cùng thầy nơi cửa Phật là bé Tâm Phúc. Lần ấy, một người bạn thầy là bác sĩ ở bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương thông báo: “Có một sản phụ đã bỏ con lại sau khi sinh”. Nhận được tin, thầy tìm đến nhận nuôi, đặt tên cho cháu rồi làm thủ tục cho cháu xuất viện.

Sau lần đó, thầy lại đón thêm sáu trường hợp trẻ mồ côi về nuôi dưỡng. Các cháu đến từ nhiều địa phương trong cả nước, gần thì ở Hải Dương, Thái Nguyên, Hoà Bình, Nam Định, xa thì ở Kiên Giang. Với mỗi trẻ, thầy đều giữ lại địa chỉ của người thân, để khi các cháu trưởng thành có thể tìm về với gia đình nếu muốn. Thầy bảo: “ Cũng có những người muốn đến xin các cháu về nuôi, nhưng tôi chỉ đồng ý khi các cháu 18 tuổi. Khi ấy các cháu có thể tự quyết định. Còn bây giờ, mình đã làm phúc thì phải làm cho tròn…”. Bảy trẻ được thầy đặt tên theo giáo lý nhà Phật: Tâm Phúc, Tâm Đức, Tiểu Thuý, Tường Linh, Tâm Hoà, Tường Vi, Tường Mai với mong muốn các bé trai sau này lớn lên sẽ làm những việc có tâm có đức, còn các bé gái sẽ được an lành.


Sư Thầy và con gái Tiểu Thuý


Kể từ khi làm “cha”, thầy và nhà chùa phải đón nhận bao điều tiếng thị phi quanh nơi thầy trụ trì. Một số người trong làng xôn xao những điều không hay về thầy. Mỗi khi thầy đi lễ xa, họ kéo đến chùa, gây sự với sư bác và các vãi, đòi trục xuất thầy khỏi chùa. Thầy phải đứng ra mời chính quyền và họp làng nhiều lần.

Việc chăm sóc các bé sơ sinh cũng không phải đơn giản. Thầy tâm sự: “Sinh con rồi mới sinh cha, cô ạ. Chứ ngày đầu đón Tâm Phúc về chùa, tôi cũng lúng túng lắm. Bảy ngày liền không dám bế con”. Nhưng sau tôi nghĩ, mình làm cha thì phải biết chăm con. Thế là nhân những ngày đi lễ, tôi tranh thủ học cách tắm cho bé sơ sinh từ những người có kinh nghiệm. Học cách bế ẵm, thay tã cho con…". Nhìn thầy bế trên tay bé Tường Vi mới được một ngày tuổi, tự tay băng rốn và tắm nước lá cho bé, ai cũng trầm trồ khen thầy khéo léo.

Một người “cha” trẻ, nuôi bảy đứa con trong một ngôi chùa nông thôn, ngoài điều tiếng thị phi, thầy và nhà chùa cũng đối diện với nhiều khó khăn về vật chất. Thầy kể, có lần hai ngày con hết sữa, mấy bà vãi bảo thầy mua, thầy hết tiền mà không dám nói. Đành bảo: “Thầy quên. Các già nấu tạm nước cháo cho mấy đứa ăn đỡ”. Nhiều đêm trời mưa, giá rét, các con đau ốm liên miên, thầy phải thức trắng trên bệnh viện để trông. Nhiều khi thấy nản, nhưng rồi thầy lại tự động viên bản thân cố gắng vượt qua.


Sư Thầy và con gái Tường Vi


Dưới sự chăm sóc của thầy, các trẻ dần khôn lớn và quấn quýt với thầy. Bảy trẻ, đứa lớn nhất hơn 40 tháng tuổi và nhỏ nhất chưa đầy 5 tháng. Các trẻ thường sà vào lòng thầy, tíu tít kêu: ba, ba...! Tối nào không bận lễ, thầy lại dạy các con học bài. Những khổ ải cũng qua đi khi người dân hiểu tấm lòng nhân ái của thầy và nhà chùa. Cô Nguyễn Thị Hà, giáo viên trường mầm non Sùng Nghiêm- nơi thầy gửi các con học chia sẻ: “Các cháu thiệt thòi nên chúng tôi thương chúng như con mình. Có lần, bé Tâm Đức ngồi lòng tôi nói: Cô ơi, con không có cha mẹ, con chỉ có ba Lương thôi! Nghe vậy mà mấy cô chúng tôi đều chảy nước mắt”. Nhiều khách thập phương đến viếng chùa, cũng dành nhiều tình cảm yêu thương cho các cháu.

Hiện nay, vừa lo việc nhang, kệ, vừa chăm lo cho các trẻ, thầy Thích Thanh Lương đang ấp ủ ý tưởng tìm sự chia sẻ và giúp đỡ của các nhà hảo tâm cũng như toàn xã hội nhằm thành lập một trung tâm từ thiện. Trung tâm sẽ mang tên Trung tâm từ thiện Lương Tâm để giúp các trẻ mồ côi giảm bớt thiệt thòi.


Bé Tiểu Thuý- con gái lớn nhất của Sư Thầy


Tôi chia tay cha con thầy khi trời đã chạng vạng tối. Một ngày hoà mình cùng không khí gia đình của thầy đã khiến tôi rút ra thật nhiều điều bổ ích. Hoá ra, không phải cứ xuất gia, cứ trở thành đệ tử nhà chùa là cuộc đời trần tục trở nên xa lạ, mà ngược lại. Đúng như lời thầy đã tâm sự, “nếu mình chỉ giảng đạo không thôi thì chưa đủ. Điều quan trọng là phải biết hướng đạo vào đời”.

Sau lần ấy, tôi giữ liên lạc và thỉnh thoảng lại đến thăm cha con thầy mỗi lần có dịp. Các bé đã ngày một lớn hơn, ngộ nghĩnh và đáng yêu hơn. Còn thầy, vẫn mãi miết lo công việc nhà chùa, và, mải miết dang rộng vòng tay đón những cuộc đời bé thơ...
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 18 2014, 04:00 AM
Gửi vào: #88


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




“Đây là một mẫu đối thoại ngắn giữa Thần học gia người Brazil,
Leonardo Boff, và Đức Đạt Lai Lạt Ma…


Tại một cuộc hội thảo bàn tròn về “Tôn giáo và tự do” có Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi cùng tham dự. Lúc tạm nghỉ, tôi hỏi ngài vừa tinh nghịch vừa tò mò:

“Thưa ngài, tôn giáo nào tốt nhất? ”

Tôi nghĩ ngài sẽ nói: “Phật giáo Tây tạng” hoặc “Các tôn giáo phương Đông, lâu đời hơn Ki-tô giáo nhiều”.

Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm giây lát, mỉm cười và nhìn vào mắt tôi…

Điều này làm tôi ngạc nhiên vì tôi biết đây là một câu hỏi ranh mãnh.

Ngài trả lời:

“Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng tối cao nhất. Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn”.

Để giấu sự bối rối của tôi trước 1 câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, tôi hỏi:

“Cái gì làm tôi tốt hơn? ”

Ngài trả lời:

“Tất cả cái gì làm anh

Biết thương cảm hơn

Biết theo lẽ phải hơn

Biết từ bỏ hơn

Dịu dàng hơn

Nhân hậu hơn

Có trách nhiệm hơn

Có đạo đức hơn”.

“Tôn giáo nào biến anh thành như vậy Là tôn giáo tốt nhất”.

Tôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác:

“Anh bạn tôi ơi! Tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh

Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng và đối với thế giới.

Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta. Quy luật của hành động và phản ứng không chỉ dành riêng cho vật lý.

Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người.

Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành,
Nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão.

Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy.

Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta mong muốn cho người khác.

Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh. Đó là vấn đề lựa chọn.”

Cuối cùng ngài nói:

“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư tưởng sẽ biến thành Lời nói,

Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời nói sẽ biến thành Hành động,

Hãy hành xử cẩn thận vì Hành động sẽ biến thành Thói quen,

Hãy chú trọng Thói quen vì chúng hình thành Nhân cách,

Hãy chú trọng Nhân cách vì nó hình thành Số mệnh,

Và Số mệnh của anh sẽ là Cuộc đời của anh.

… và …


"Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự thật."















User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 22 2014, 04:26 AM
Gửi vào: #89


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35





Ý Nghĩa Thâm Thúy Của 4 Chữ A Di Đà Phật


A Di Đà Phật, danh hiệu này là vạn đức hồng danh, tại sao vậy? Danh hiệu này là danh hiệu của tự tánh, là danh hiệu của tánh đức. Đây là tiếng phạn, nếu như theo ý nghĩa của mặt chữ mà dịch thì A dịch thành Vô, Di Đà dịch thành Lượng, Phật dịch thành Giác hoặc dịch thành Trí. Dịch hoàn toàn qua ý nghĩa tiếng Trung Quốc là Vô Lượng Trí, Vô Lượng Giác. Quí vị thử nghĩ về danh hiệu này, Vô Lượng Trí là bản thể của tự tánh, Vô Lượng Giác là đức dụng của tự tánh, bao gồm hết rồi! Đại đức xưa gọi đây là vạn đức hồng danh, danh hiệu của thể đại dụng chân như tự tánh toàn.

“Dĩ danh chiêu đức, khánh vô bất tận”. Danh và thực nhất định tương ưng. Chúng ta niệm cái danh hiệu này là chiêu đức của ai vậy? Chiêu tự tánh của chính mình, chiêu tánh đức của chính mình. Hay nói cách khác, dùng một câu danh hiệu này đánh thức tự tánh của chúng ta, tìm trở lại tánh đức của chúng ta. Thể dụng của tự tánh chúng ta hoàn toàn không bị mất, mà chỉ bị làm sao vậy? Chỉ mê mất mà thôi. Dùng một câu Phật hiệu này để phá vỡ cái cửa mê này, đánh thức trở lại thể dụng của tự tánh chúng ta. Nếu như bạn hiểu rõ đạo lý này, thì bạn sẽ quyết chí một lòng chấp trì danh hiệu, bạn mới hiểu được danh hiệu này, pháp môn này, không thể tìm ra thêm một pháp môn nào khác có thể thù thắng hơn nó được. Hơn nữa, nó rất dễ dàng, rất đơn giản. Tất cả mọi thứ của khắp pháp giới hư không giới toàn bộ bao gồm trong đó, khánh vô bất tận.

Ở trong Phật pháp có hai câu nói, nếu như chúng ta thật sự có thể thể hội được, bạn sẽ hiểu rõ, đó là: “Tâm bao thái hư, lượng khắp pháp giới”. Hai câu nói này chúng ta nghe rất quen, cũng nói được, nhưng có nghĩa là gì vậy? Người đích thực có thể thể hội được không nhiều. Đây là toàn bộ pháp giới, người hiện nay gọi là vũ trụ, trong Phật pháp gọi là pháp giới. Danh từ pháp giới này hay hơn vũ trụ, tại sao vậy? Vũ trụ thì không có linh tri, ở trong pháp giới có linh tri; Pháp giới là sống, còn vũ trụ không phải sống, cho nên danh từ pháp giới này hay hơn vũ trụ. Phạm vi của vũ trụ không lớn bằng pháp giới, vì pháp giới là trùng trùng vô tận, ở trong pháp giới không có lớn nhỏ, không có đến đi, không có trước sau, không có sinh diệt, không có có không, kỳ diệu tuyệt vời, không thể nghĩ bàn. Ở trong vũ trụ không hàm chứa những tư tưởng này ở trong đó. Danh tướng của Phật học thù thắng.

“Danh dĩ chiêu đức”. Danh hiệu A Di Đà Phật này là tổng danh hiệu, ở trong Phật pháp gọi danh từ thuật ngữ, đây là tổng danh hiệu. Tất cả mọi danh hiệu chư Phật đều từ đây lưu xuất ra, tất cả mọi danh hiệu Bồ-tát cũng từ đây lưu xuất ra, tất cả mọi danh hiệu của chúng sanh vẫn không lìa khỏi nó. Đây là trong kinh Hoa Nghiêm nói, chúng ta đã đọc qua ở trong phẩm danh hiệu Như Lai.

“Tức dĩ chấp trì danh hiệu vi chánh hạnh”. Pháp môn Tịnh-độ, vãng sanh thế giới Tây Phương Cực-lạc, phải tu như thế nào? Chánh hạnh. Tu hành chính thức chính là niệm Phật. Phật pháp phải phá chấp trước, pháp môn này vẫn cứ dùng chấp trước, chính là chấp trước danh hiệu; ngoài câu danh hiệu ra, tất cả mọi chấp trước khác đều buông xả, không chấp trước thêm nữa, chính là chấp trước danh hiệu này, gìn giữ cái danh hiệu này niệm niệm không mất, gọi là trì. Niệm niệm đều là A Di Đà Phật, đó chính là trì. Nhớ kỹ, A Di Đà Phật là vô lượng trí, vô lượng giác, niệm niệm giác chứ không mê, niệm niệm chánh chứ không tà, niệm niệm tịnh chứ không nhiễm, đây chính là tự tánh A Di Đà, tự tánh tam bảo. Tam bảo là một thể, một mà ba, ba mà một. Những quán tưởng, tham cứu, trì chú, nghiên cứu giáo lý khác thảy đều không cần, không nên xen tạp những thứ này, chính là một câu Di Đà niệm đến cùng, chí giản dị. Chí là đến chỗ tột cùng, đơn giản đến tột cùng, dễ dàng đến tột cùng. Đơn giản dễ dàng, hơn nữa nó còn trực tiếp, không vòng vo. Trực tiếp đến đâu vậy? Trực tiếp đến minh tâm kiến tánh, trực tiếp đến vô thượng chánh đẳng chánh giác, trực tiếp đến Phật quả cứu cánh viên mãn.
Có người hỏi, không phải người hiện nay, mà người xưa đã có người hỏi, đến thế giới Tây Phương Cực-lạc còn tu pháp môn gì nữa? Đậu cơ thuyết giáo, tức là bạn muốn tu pháp môn nào, bạn liền có thể thành tựu được pháp môn ấy. Ưa thích, vậy là quá hay. Thành thật mà nói với bạn, đến thế giới Tây Phương Cực-lạc rồi bạn sẽ thay đổi ý định. Đổi ý định gì vậy? Một câu A Di Đà Phật này niệm đến cùng, không tu thêm pháp môn khác nữa. Tại sao vậy? Một câu A Di Đà Phật này đã bao gồm tất cả pháp môn ở trong đó rồi. Cũng tức là nói, vạn pháp quy về một. Một chính là tự tánh. A Di Đà Phật chính là tánh thể, tánh đức, tánh tướng, tánh dụng, chỉ cần bạn khế nhập cảnh giới. Đây là kinh luận các tổ sư đại đức nói rất hay. Nếu như bạn niệm Phật, niệm đến lý nhất tâm bất loạn, thì tất cả pháp thế xuất thế gian tự nhiên thông đạt cả, bạn cần phải học nữa hay không? Bất kể pháp môn nào, có người thỉnh giáo bạn, bạn đều đối đáp trôi chảy, không cần phải suy nghĩ. Cái này kỳ lạ, cái này không thể nghĩ bàn. Trên thực tế không có gì kỳ lạ cả, nguyên nhân gì vậy? Pháp thế xuất thế gian đều do tự tánh biến hiện ra. Đã là tự tánh biến hiện ra, chỉ cần bạn kiến tánh được rồi thì đâu có lý nào mà không biết. Bạn đối với tất cả các pháp không hiểu, không biết, nguyên nhân căn bản là gì vậy? Là bạn đã mê mất tự tánh. Một câu A Di Đà Phật này khi niệm đến lý nhất tâm bất loạn, triệt kiến tự tánh, viên kiến tự tánh, thì vấn đề chẳng phải đã giải quyết rồi sao, bạn còn đi tìm phiền phức khác sao?

Thế gian này có một số người không biết, nên thiền tịnh song tu, mật tịnh song tu, còn có gì nữa vậy? Thiền mật tịnh tam tu. Thông thường người thế gian chúng ta nghe xong, mới nghe đến, cái này tuyệt quá, cao siêu! Kỳ thực, người trong nghề biết họ đang lòng vòng. Mặc dù có thể thành tựu, nhưng thành tựu của họ không đủ sâu, tại sao vậy? Tinh thần, sức lực của họ bị phân tán rồi. Họ phân thành hai mặt, phân thành ba mặt, họ không chuyên! Nếu bạn muốn nhanh, hãy chuyên công phu một môn, một mục tiêu, một phương hướng, sẽ nhanh! Không có gì nhanh hơn cái này. Cùng lúc đi hai đường, cùng lúc đi ba đường thì khó lắm, không dễ đâu, lại chậm chạp nữa! Pháp môn này đơn giản thẳng tắt thành đạo vô thượng. Chúng ta phải nhận thức rõ ràng, chỉ có thật sự hiểu rõ thì niềm tin mới kiên cố, nguyện mới không nghi, dứt khoát không đổi. Pháp môn không thể nghĩ bàn.

Chúng ta xem tiếp điều thứ hai: “Tịnh niệm tương tục, vô hữu gián đoạn, cố danh tư tuệ”. Ngẫu Ích đại sư ở trong đoạn này giảng văn tự hơi dài một chút: “Chấp trì là mổi niệm nhớ đến danh hiệu Phật, như vậy là tư tuệ”. Niệm Phật, niệm không phải niệm bằng miệng. Chữ niệm của niệm Phật không thể thêm chữ khẩu, có rất nhiều người đã thêm chữ khẩu cho nó, vậy là sai rồi, vậy là họ hoàn toàn không hiểu ý nghĩa của niệm Phật. Niệm Phật là trong tâm thật sự có Phật. Chữ niệm này của Trung Quốc là chữ hội ý. Bạn xem cách viết của chữ này, bạn phải hiểu được ý nghĩa của nó. Kim tâm, kim là hiện tại. Hiện tại trong tâm có Phật gọi là niệm Phật, không nhất định niệm bằng miệng, trong tâm bạn thật có. Trong tâm không có Phật, cửa miệng có Phật thì không linh, không có cảm ứng. Trong tâm thật sự có Phật, cửa miệng không có Phật, có cảm ứng. Thế thì tại sao niệm Phật vẫn phải niệm thành tiếng vậy? Trong tâm có Phật là tự lợi, niệm ra thành tiếng là lợi tha. Niệm Phật hiệu ra thành tiếng không phải niệm cho mình, mà niệm cho người khác nghe, niệm cho tất cả chúng sanh nghe. Ta hướng dẫn tất cả chúng sanh niệm Phật, nên niệm ra thành tiếng công đức rất lớn, tự lợi lợi tha. Không niệm ra thành tiếng, đối với người có công phu thiền định Bát-nhã tương đối sâu, họ có thể được lợi ích. Tại sao vậy? Họ thấy tướng được lợi ích. Người có trí tuệ Bát-nhã định lực rất sâu. Ở trong tâm có Phật, tướng của bạn sẽ khác. Cái gọi là: “một niệm tương ưng một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật”. Trong tâm bạn nhớ đến Phật, thì Phật ở trong tâm bạn. Phật ở trong tâm bạn thì Phật sẽ gia trì cho bạn, tự nhiên gia trì. Thân của bạn phóng ra hào quang kim sắc, tướng mạo của bạn đoan trang hiền từ, họ có thể nhìn thấy, có thể nhìn thấy thân bạn tỏa sáng, hào quang kim sắc, nên được lợi ích. Nhưng phàm phu không được lợi ích, phàm phu nhìn không thấy, không có năng lực này. Nhưng niệm Phật thì được, phàm phu nhĩ căn là lợi nhất: “Ta bà chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn”. Bạn niệm ra thành tiếng thì có rất nhiều chúng sanh được lợi ích, ngoại trừ người nghiệp chướng quá sâu thì vô phương, họ không tin, họ không thể tiếp nhận. Tuy là không tin, không thể tiếp nhận, nhưng họ nghe thấy rồi. Nghe thấy gì vậy? Gieo chủng tử vào trong A-lại-da thức. Nên niệm thành tiếng thì: “Ba căn trải khắp, lợi độn đều nhận”. Đây là chỗ hay của niệm Phật.

Trích Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Toàn Tập

Người giảng: Lão pháp sư Tịnh Không
Cẩn dịch: Vọng Tây cư sĩ, Viên Đạt cư Sĩ
Biên tập: Phật tử Diệu Hiền
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Jul 26 2014, 11:14 AM
Gửi vào: #90


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Đức Phật dạy con như thế nào

Written by Viên Minh
Sunday, 10 June 2012 18:13

Hoài Hương chuyễn ngữ

LTS: Tiến sĩ Gil Fronsdal hiện đang giảng dạy Thiền tại Insight Meditation Center ở Redwood City, California, Hoa Kỳ. Ông có vợ và hai con. Với ông, Đức Phật là một bậc thầy, một con người giác ngộ. Sự kiện Đức Phật giáo dưỡng La Hầu La trở nên giác ngộ được ghi chép trong Kinh tạng Pàli, theo Gil Fronsdal gần gũi và thân mật như cha dạy con, thầy dạy trò đã khơi nguồn cảm hứng cho ông hướng dẫn tu tập thiền định cho con cái và thanh thiếu niên. Xin giới thiệu bài viết Đức Phật dạy con như thế nào, nguyên tác The Buddha as a Parents, tạp chí Inquiring Mind xuất bản, (Hoài Hương chuyển dịch sang tiếng Việt) đến với bạn đọc...


Ngày nay, hầu như người Phật tử nào cũng biết rằng thái tử Tất Đạt Đa, sau này là Đức Phật, đã lìa bỏ tổ ấm của mình để đi tìm con đường giải thoát không lâu sau cái ngày La Hầu La, đứa con trai duy nhất của Ngài, chào đời. Nhiều người cảm thấy khó hiểu, thậm chí phẫn nộ, trước một hành động có vẻ “thiếu trách nhiệm” như thế. Song, ít ai biết rằng sau khi đạt Chánh đẳng Chánh giác, Đức Phật đã trở thành thầy dạy dỗ chính cho con trai của mình trong hầu hết quãng đời niên thiếu, kể từ khi La Hầu La lên 7 tuổi, và Ngài đã là một người cha rất mực mô phạm: La Hầu La đã đạt được giác ngộ viên mãn khi mới tròn 20 tuổi. Vậy, ta hãy tự hỏi, Đức Phật là một người cha như thế nào? Phương pháp dạy con của Ngài ra sao? Làm thế nào một bậc giác ngộ trao truyền những giá trị tâm linh của mình cho con cái?

Kinh điển không đề cập nhiều đến mối quan hệ cha-con giữa Đức Phật và La Hầu La, nhưng rải rác vẫn có để lại những dấu hiệu thú vị đáng lưu ý về việc Đức Phật đã dẫn dắt La Hầu La như thế nào trên con đường trưởng thành. Mặc dầu trước các kinh điển này đã có những mẩu chuyện nói về việc La Hầu La đã trở thành đồ đệ của Đức Phật như thế nào, nhưng phần lớn những chi tiết này nằm trong 3 bài pháp mà nếu ta gom cả lại với nhau, thì đó chính là một tiến trình liên tục của con đường dẫn tới giác ngộ: lúc La Hầu La 7 tuổi, Đức Phật dạy cho con về đạo đức; lúc La Hầu La 10 tuổi, Đức Phật dạy cho con thiền; và lúc 20 tuổi, Ngài dạy về tuệ giác giải thoát. Quá trình trưởng thành của La Hầu La, vì vậy, đi liền với tiến trình giác ngộ.

Khi con trai của tôi tròn 7 tuổi, tôi bắt đầu suy tư về việc làm thế nào để dẫn dắt nó và em trai của nó trên con đường tâm linh. Ít nhất, tôi muốn các con tôi học và thực hành Phật pháp đủ để sau này lớn lên chúng có thể trở về với những tiềm năng đó nếu chúng thích hay cần đến. Tôi cũng nghĩ rằng nếu các con tôi có thể nương tựa nơi Phật pháp, thì sau này, dù đang ở bất cứ nơi đâu, chúng cũng có thể quay về với cái mái ấm đó. Nhất là, vì đối với tôi, gia tài lớn nhất mà tôi có được qua sự thực tập Phật pháp là sự an lạc, thảnh thơi và lòng từ bi, tôi tự hỏi làm cách nào tôi có thể trao truyền cái gia tài tâm linh đó lại cho thế hệ sau. Được biết La Hầu La bắt đầu được Đức Phật dạy dỗ từ năm 7 tuổi, tôi lục tìm trong những bản kinh tiếng Pàli để học lấy những phương pháp mà Đức Phật đã sử dụng để dạy dỗ con của Ngài.

Tôi tìm thấy cách làm thế nào để lại một “gia tài tâm linh” qua những mẩu chuyện thật hay trong kinh điển về việc La Hầu La đã theo học với cha như thế nào. Sáu năm sau khi Đức Phật rời bỏ gia đình, và một năm sau khi đạt được giác ngộ, Ngài trở về kinh thành. La Hầu La, lúc ấy 7 tuổi, theo lời mẹ dạy, đã chạy đến bên cha để xin thừa hưởng gia tài. Nếu như ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa không bỏ kinh thành ra đi, thì bây giờ La Hầu La đã được truyền ngôi. Nhưng là một người đã buông bỏ hết tất cả, sống đời khổ hạnh, Đức Phật có thể trao lại cho con mình cái gì? Đáp lời La Hầu La, Đức Phật quay sang nói với Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputta), một đồ đệ thân tín của Ngài: “Hãy thâu nhận nó”. Như vậy, thay vì được ngôi vua, La Hầu La đã được thừa hưởng con đường đi của cha mình, con đường dẫn đến giải thoát.

Có lẽ còn lâu lắm con trai tôi mới cạo trọc đầu và khoác lên mình chiếc áo cà sa, nhưng tôi vẫn muốn cho con tôi tiếp xúc với những điều căn bản của Phật pháp, những điều đã chuyển hóa sâu sắc cuộc đời tôi. Khi tôi đọc những đoạn kinh về cách Đức Phật dạy La Hầu La, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng những điều này không những vẫn còn mới mẻ mà còn rất thích hợp với việc dạy con ở nước Mỹ này, trong thời hiện đại này. Thật vậy, những bài pháp này đã trở thành kim chỉ nam cho tôi trong việc dạy con.

ĐẠO ĐỨC

Câu chuyện đầu tiên kể về La Hầu La được Đức Phật dạy về lòng chính trực. Lúc lên 8 tuổi, La Hầu La đã có lần nói dối. Kinh Giáo giới La Hầu La (Trung Bộ kinh, 61) kể rằng sau khi tọa thiền xong, Đức Phật đến tìm con. La Hầu La lấy ghế mời Thế Tôn ngồi, rồi mang đến một thau nước cho Ngài rửa chân, theo phong tục thời ấy. Sau khi rửa chân xong, Đức Phật hỏi:

- Này, La Hầu La, con có thấy chút nước còn lại trong cái thau này không?

- Dạ, con có thấy. La Hầu La thưa.

- Đời của một người tu cũng chỉ đáng bằng một chút nước này thôi, nếu như người đó cố tình nói dối.

Tôi tưởng tượng La Hầu La đỏ mặt lên.

Sau đó, Đức Phật đổ hết nước trong thau ra và nói:

- Đời của một người tu cũng đáng vất bỏ đi như vầy nếu như người đó cố tình nói dối.

Xong, Đức Phật lật cái thau úp xuống và nói:

- Đời của một người tu sẽ trở nên đảo lộn như vầy nếu như người đó cố tình nói dối.

Và, để nhấn mạnh thêm nữa, Đức Phật lật ngửa cái thau trở lại và nói:

- Đời của một người tu cũng trở nên trống rỗng như cái thau này nếu như người đó cố tình nói dối.

Sau đó Ngài dạy La Hầu La:

- Đối với một người cố tình nói dối, không có một tội lỗi xấu xa nào mà người đó không thể làm. Vì vậy, La Hầu La, con hãy tập đừng bao giờ nói dối, cho dù đó là một lời nói đùa.

Câu chuyện trên đây nhắc nhở tôi rằng những lời la mắng giận dữ với con cái thực ra chỉ có sức mạnh mà không có nội lực. Đức Phật đã rất bình tĩnh, chọn thời điểm đúng lúc để dạy dỗ mà không trừng phạt hay nổi giận vớiLa Hầu La.

Sau bài thuyết giảng ngắn mà nghiêm khắc, rõ ràng về việc nói dối đó, tôi tưởng tượng La Hầu La đã lắng nghe hơn. Sau đó, Đức Phật chỉ dẫn La Hầu La làm sao để suy xét mọi hành động của mình.

- Cái gương dùng để làm gì? Ngài hỏi.

- Bạch Đức Thế Tôn, gương dùng để soi. La Hầu La đáp.

Đức Phật lại dạy:

- Trong khi chuẩn bị làm điều gì bằng thân, khẩu, ý, con phải quán chiếu: hành động này có gây tổn hại cho mình hoặc cho kẻ khác không. Nếu, sau khi suy xét, con thấy rằng hành động đó sẽ có hại, thì con hãy đừng làm. Còn nếu con thấy rằng hành động đó có ích lợi cho con và cho kẻ khác, thì con hãy làm.

Tôi chợt nhận ra rằng thay vì dạy cho con mình nhận biết sự khác biệt tuyệt đối giữa đúng và sai, Đức Phật đã dạy cho con suy gẫm về lợi ích và có hại. Điều này đòi hỏi cả sự tự tri lẫn lòng bi mẫn. Đặt nền tảng của đạo đức dựa trên “có lợi” hay “có hại” giúp giải thoát đời sống đạo đức của ta khỏi những khái niệm trừu tượng và những ý niệm chẳng ăn nhập gì tới hậu quả của việc ta làm. “Có lợi” và “có hại” cũng giúp cho con người nhận biết mục tiêu của mình. Những điều ta làm sẽ trở thành hoặc là nghịch duyên, hoặc là thuận duyên trên con đường ta đi.

Phương pháp giáo hóa của Đức Phật khiến cho tôi càng tin tưởng thêm rằng chúng ta cần gieo xuống nơi tâm hồn con trẻ những hạt giống của lòng bi mẫn, những hạt giống của ý thức về việc mỗi hành động của nó sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào. Sức mạnh của sự quán chiếu và lòng từ bi sẽ không có được nếu đứa trẻ chỉ biết vâng theo lời của người lớn: “Con hãy biết quán chiếu, và hãy có lòng từ bi!”. Những giá trị này chỉ có thể có được qua gương của người khác, nhất là của cha mẹ đứa trẻ.

Đức Phật cũng dạy La Hầu La hãy xem xét sau khi làm một việc gì đó, nó có gây tổn hại gì không. Nếu có, thì phải đến gặp một người có tuệ giác và sám hối để tránh lặp lại lỗi lầm trong tương lai. Tôi đã học được cách hướng dẫn con trẻ phát triển lòng chính trực bằng cách nhận ra lỗi lầm của mình. Và lòng chính trực đó tùy thuộc rất nhiều vào cách cha mẹ soi xét lỗi lầm của con mình ra sao. Cách hành xử của cha mẹ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển đạo đức của con trẻ: nếu cha mẹ cho con trẻ thấy được là nó có thể tin tưởng mình được, là mình chỉ muốn giúp cho con mình trưởng thành hơn là muốn trừng phạt con, thì con trẻ sẽ trở nên thành thật với cha mẹ của chúng hơn.

THIỀN ĐỊNH

Câu chuyện thứ hai nói về việc Đức Phật đã dạy thiền cho La Hầu La ra sao, nhằm phát triển nền tảng của nội tâm (Trung Bộ kinh, 62). Lúc đó La Hầu La được 10 tuổi. Câu chuyện bắt đầu trong lúc Đức Phật và La Hầu La đi thiền hành. Trong lúc đi, La Hầu La chợt thấy hãnh diện về vẻ đẹp của mình, và Đức Phật đã đọc được tư tưởng đó. Ngài nói với La Hầu La:

- Nhìn bằng con mắt của tuệ giác, cái thân này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Rồi Đức Phật giảng tiếp: Ta phải loại bỏ hết tất cả tưởng, hành, thức cũng như bất cứ ý niệm nào về tôi, của tôi, và tự ngã của tôi.

Nghe những lời dạy này xong, La Hầu La cảm thấy hổ thẹn, lui về tinh xá, và không thiết gì đến việc ăn uống suốt ngày hôm đó.

Tôi cho rằng đây là sự dạy dỗ căn bản cho con trẻ. Tôi không thể tưởng tượng được bản thân tôi lúc 10 tuổi có thể hiểu được những lời Phật dạy như thế. Tôi nhớ lại, rất rõ ràng, rằng ở vào tuổi đó, đầu óc tôi chỉ toàn lo nghĩ đến diện mạo của tôi ra sao. Tôi thường nghe nói rằng điều này rất là quan trọng cho tiến trình phát triển của các em về “cái tôi” và quá trình đi tìm kiếm bản thân mình. Có nên trách một em trai 14 tuổi về những ý tưởng phù du như vậy hay không? Có phải Đức Phật đã xen vào tiến trình phát triển bình thường của con trẻ, thay vì để chúng tự khám phá? Nếu không có hiểu biết về “cái tôi”, làm sao một thiếu niên có thể phát triển thành một người lớn với một tâm lý thăng bằng?

Câu trả lời nằm ở những gì Đức Phật dạy La Hầu La ở đoạn sau đây:

Tối hôm đó, sau khi bị Đức Phật quở trách, La Hầu La đến xin Ngài dạy cho mình phương pháp thiền quán hơi thở. Trước hết, Đức Phật dùng thí dụ để minh họa làm sao để buông xả trong lúc thiền định. Ngài dạy:

- Phải thiền làm sao giống như đất vậy: đất không cảm thấy phiền vì bất cứ một thứ gì đổ lên đó. Vì vậy, nếu tập thiền giống như đất, con sẽ không có cảm giác vui thích hay không vui thích về bất cứ một điều gì. Hãy tập thiền như nước, như lửa, như gió, và như không gian: tất cả đều không cảm thấy phiền bởi những cảm giác vui thích hay không vui thích. Thực tập được như nước, như lửa, như gió, như không gian, tâm của con sẽ không còn vướng bận gì cả.

Rồi, trước khi dạy cho La Hầu La phép quán niệm hơi thở, Đức Phật dạy về quán tâm từ như là một phương thuốc giải độc trừ khử ác tâm, về tâm bi để vượt thắng sự tàn ác, về tâm hỷ để thuần phục những sự bất toại nguyện, và về tâm xả để ngăn chặn những bất an, thương ghét.

Sau đó, Ngài mới bắt đầu dạy cho La Hầu La phép quán niệm hơi thở qua 16 giai đoạn. Những giai đoạn này chia làm 3 phần: a) Tịnh tâm và thân; cool.gif Định tâm để nhận biết thân tâm và phát triển tuệ giác; và c) Buông xả. Cuối cùng, Đức Phật lưu lại một dấu ấn đậm nét về giáo lý của Ngài với La Hầu La bằng cách nhấn mạnh rằng qua sự thực tập ý thức từng hơi thở của mình, ta sẽ có khả năng nhận biết hơi thở cuối cùng của mình vào giây phút cận tử một cách hoàn toàn bình thản.

Khi đọc về cách thức Đức Phật dạy La Hầu La phép thở để nhận biết thân tâm của mình, tôi nhận thấy đó cũng là một phương pháp để xây dựng một khái niệm vững chắc về “cái tôi”. Tôi tự nghĩ, phải chăng các em thiếu niên ở thời đại ngày nay hay chấp vào “cái tôi” của mình và có nhiều ý niệm phân biệt mình với kẻ khác, là vì các em không cảm thấy thoải mái với chính bản thân mình và với người khác? Và tôi tin rằng, cái chấp và sự phân biệt ấy sẽ không còn nữa nếu các em cảm thấy an vui được với chính mình cũng như thoải mái với người chung quanh.

Khi giảng dạy thiền cho thiếu niên, tôi nhận thấy khả năng thiền của các em vượt bậc vào khoảng 13-14 tuổi. Có nhiều em có thể nhập thiền rất sâu, tuy rằng các em không duy trì được trạng thái này lâu lắm. Tôi đã biết rất nhiều người trẻ dùng phương pháp thiền định để ổn định tinh thần và tìm về sự thảnh thơi an lạc giữa những thử thách của tuổi mới lớn.

Tuy nhiên, thiền quán hơi thở không chỉ ích lợi cho các em thiếu niên, mà nó còn là cuộc hành trình suốt đời. Đức Phật đã kết thúc bài giảng của mình bằng cách chỉ cho La Hầu La thấy giá trị của việc tập quán niệm hơi thở như thế nào đối với giây phút cuối cùng của cuộc đời mình.

TUỆ GIÁC

Trong bài pháp thứ ba và cuối cùng, Đức Phật đã hướng dẫn La Hầu La trả lời một loạt những câu hỏi về tuệ giác giải thoát (Trung Bộ kinh, 147). La Hầu La đã dâng trọn thời niên thiếu của mình cho con đường đạt đến giác ngộ; trong một đoạn kinh, Tôn giả được xem là một nhà tu gương mẫu và tinh chuyên. Khi La Hầu La tròn 20 tuổi, Đức Phật biết rằng La Hầu La đã gần đến bờ giải thoát. Ngài đã làm một việc hết sức cảm động: Ngài đi bộ cùng với La Hầu La vào sâu trong rừng. Ngồi dưới gốc một cây đại thụ già cỗi, Ngài đã hướng dẫn La Hầu La một cuộc pháp đàm rất kỹ về thuyết vô ngã. Đối với một người đã đạt đến trình độ tu tập cao như La Hầu La, thì những tư tưởng nằm sâu trong tiềm thức về cái ngã là chướng ngại cuối cùng của sự giải thoát. Ngồi nghe Đức Phật giảng, La Hầu La đã chứng đắc được tự tính vô ngã của vạn pháp, và đó chính là nấc thang cuối cùng giúp La Hầu La đạt đến sự giải thoát trọn vẹn.

Thuyết vô ngã của Đức Phật có thể khó hiểu. Người ta rất dễ ngộ nhận nó là một triết thuyết trừu tượng, mà không thấy được thực ra đó chính là những lời dạy rất thực tế về việc làm thế nào để tìm thấy hạnh phúc bằng cách buông bỏ hết tất cả. Đối với tôi, việc Đức Phật dạy La Hầu La về thuyết vô ngã trong rừng sâu rất cần thiết. Tôi thấy mình có cái nhìn khác khi ở giữa quang cảnh thiên nhiên so với khi ở giữa phố thị. Tôi nhận thấy cảm giác an lạc và thảnh thơi mà thiên nhiên mang lại giúp mình dễ thoát ra được ý niệm về ngã hơn. Quán chiếu về sự buông xả trong khi đọc một cuốn sách về Phật pháp khi ngồi ở trong nhà rất là khác với khi mình ngồi dưới một gốc cây. Trong khi đọc bài pháp thứ ba này, tôi chiêm nghiệm được sự quan trọng của việc biết mình (tự tri) giữa khung cảnh thiên nhiên.

Ngày xưa, lúc La Hầu La 7 tuổi, đến xin với cha được thừa hưởng gia tài, Tôn giả đã không hề tưởng tượng được là 13 năm sau đó đã được thừa hưởng một gia tài quý báu nhất mà một người làm cha mẹ có thể để lại cho con cái của mình. Trong Phật giáo, giác ngộ là hạnh phúc lớn lao nhất. Tôi ước mong con cái của tôi sẽ tìm thấy sự an lạc, thảnh thơi và an lành trên con đường đi tới giải thoát. Và có lẽ, trên con đường trở thành người lớn, chúng cũng sẽ được dạy về đạo đức, thiền định và tuệ giác (như La Hầu La vậy).
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Sep 19 2014, 07:45 AM
Gửi vào: #91


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Lục tổ Huệ Năng


1/ Tiểu sử:

Ngài Huệ Năng sanh giờ Tý ngày mồng 8 tháng 2 năm Mậu Tuất (638) tại Tân Châu, xứ Lãnh Nam. Khi Ngài mới sanh, có hai nhà sư đến nhà đặt tên cho Ngài là Huệ Năng. Thân phụ Ngài hỏi vì sao đặt là Huệ Năng? Nhà sư đáp: “Huệ nghĩa là đem Pháp làm ơn bố thí cho chúng sanh, Năng là nghĩa làm nỗi được việc Phật”. Như vậy họ tên Ngài là Lư Huệ Năng. Thân phụ Ngài là Lư Hành Thao, nguyên quán ở đất Phạm Dương làm quan bị giáng chức, lưu ra xứ Lãnh Nam làm thường dân, mẹ Ngài họ Lý. Cha mất sớm, mẹ già, thân côi cút dời qua xứ Nam Hải, cảnh đắng cay, nghèo thiếu phải bán củi ở chợ để nuôi mẹ.

Năm 24 tuổi (661) một hôm đem giao củi xong, nghe người ta tụng kinh Kim Cang, Ngài khai ngộ, hỏi người tụng kinh tu ở đâu, người ấy cho biết đã tu học với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn tại chùa Đông Thiền, huyện Hoàng Mai, xứ Kỳ Châu. Có một người khách cho 10 lạng bạc, bảo dùng tiền ấy xếp đặt việc ăn ở cho mẹ già, rồi tới huyện Hoàng Mai tham lễ Ngũ Tổ.

Sau khi an bề ăn ở của mẹ già, Ngài Huệ Năng đi không quá ba mươi ngày, đến nơi ra mắt Ngũ Tổ. Ngũ Tổ hỏi: “Người từ đâu lại, muốn cầu chi?”. Ngài Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân thường xứ Lãnh Nam, từ xa lại đây lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, không cầu chi khác!”

Ngũ Tổ nói: “Người Lãnh Nam là giống muông mọi làm sao làm Phật được?”. Huệ Năng đáp: “Người ta tuy có Bắc, Nam chớ Phật tánh vốn không Nam Bắc, thân muông mọi với thân Hòa thượng chẳng đồng, chớ Phật tánh có chi là khác biệt?”

Ngũ Tổ còn muốn nói nữa nhưng thấy môn đồ vây quanh, bèn sai đi làm phận sự. Ngài Huệ Năng thưa thêm: “Kẻ đệ tử này trong tâm thường sanh trí tuệ, chẳng rời khỏi tự tánh, tức là phước điền rồi, chưa hay Hòa thượng dạy làm việc chi?” Ngũ Tổ nói: “Chà quân man mọi này căn tánh nhậm lẹ, thôi đừng nói nữa, hãy đi xuống tào ngựa đi.”

2/ Sự thị hiện của Lục Tổ.

Ở ngoài thế tục, Lục Tổ là một người nghèo khó, bán củi nuôi mẹ độ nhật, vào chùa là phụ thung cư sĩ lo việc bửa củi, giả gạo, chớ chẳng có tụng kinh, nghe pháp. Hơn tám tháng chưa bước tới chánh điện, thậm chí đến việc Ngũ Tổ tập họp môn đệ lại, để dạy mỗi người làm một bài kệ trình kiến giải của mình về tánh Bát nhã, người ta cũng chẳng lưu tâm đến Ngài vì Ngài là người miền Nam được liệt vào loại man di mà lại không biết chữ nữa! Vậy mà Lục Tổ đã ngộ được Phật tánh, chứng đắc pháp Phật, được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trao truyền Y Bát. Việc này phá bỏ tất cả những quan niệm, nhận thức sai lầm từ trước là chỉ có những người có học, những người có trí tuệ mới có thể tu học, chứng đắc được Phật pháp. Trường hợp Lục Tổ chứng thực rằng từ kẻ trí cho đến phàm phu đều có Phật tánh, cho nên đều có thể thành Phật. Là một trường hợp thuyết phục mạnh mẽ cho mọi người dễ tin rằng chân lý của đức Phật rõ ràng “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính”.

Chúng ta thấy rằng đạo Phật được truyền bá vào Trung quốc từ những năm trước Công Nguyên, cho đến đời Vua Minh Đế nhà Hậu Hán năm 67 TL nhà Vua sai sứ sang Tây Vực thỉnh tượng Phật, dọc đường sứ rước được hai nhà sư Ấn Độ là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đưa về kinh đô, Vua mừng rỡ cho lập Bạch Mã Tự để hai nhà sư dịch kinh. Từ đó cho đến khi Ngài Huệ Năng cầu Pháp, đạo Phật đã truyền bá ở Trung Quốc trên 600 năm đã có những nhà sư Trung Quốc sang Ấn Độ thỉnh kinh như Ngài Pháp Hiển đi Ấn Độ từ năm 399 đến 414 và Ngài Trần Huyền Trang (600-664) đi Ấn Độ từ 629 đến 645, có nhiều Vua, quan đại thần đã quy y Tam bảo, dốc lòng phụng sự Phật Pháp như là Lương Võ Đế, một số nhà sư được phong làm Quốc Sư, cho thấy đạo Phật thời ấy ảnh hưởng mạnh mã đến Vua, quan và những nhà trí thức làm cho người ta có thể nghĩ rằng đạo Phật chỉ thích hợp cho hạng người trí thức, uyên thâm kinh điển, để nghiên cứu giáo lý. Trường hợp Ngài Huệ Năng là một biến cố, đạo Phật chân truyền từ đức Thế Tôn cho đến Ngài vẫn chỉ là một giáo lý, một chân lý. Tự tánh Bồ đề bổn lai thanh tịnh, bình đẳng với mọi người, ai ai cũng có thể đạt tới thanh tịnh, thanh tịnh thường hằng ấy là đạt đạo vậy.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Nov 18 2014, 10:53 AM
Gửi vào: #92


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




.
Niết Bàn Là Gì ?


Về mục tiêu cốt tủy của đạo Phật, đã được đức Phật tóm tắt bằng tuyên ngôn:

- "Này chư Tỳ kheo, bây giờ cũng như trước đây, Như Lai chỉ dạy về “Khổ” và về “Con Đường Diệt Khổ".

Tuyên ngôn này rút ra từ Bốn Chân Lý Thâm Diệu mà Ngài đã Chứng Ngộ, đó là :

- Thứ nhất là Chân Lý về Khổ (Khổ Đế)

- Thứ hai là Chân Lý về nguồn gốc của Khổ (Tập Đế)

- Thứ ba là Chân Lý về sự Diệt Khổ (Diệt Đế)

- Thứ tư là Chân Lý về Con Đường đưa đến sự Tận Diệt Khổ (Đạo Đế)

Bốn Chân Lý này tức là Tứ Diệu Đế ( Đế nghĩa là Chân Lý). Trong đó, Chân Lý thứ tư, Đạo Đế, là con đường Niết Bàn.

Vì từ ngữ Niết Bàn thường được thế gian dùng khi có tin buồn, xin nhắc lại rằng đó là điều hiểu lầm rất đáng tiếc.

Niết Bàn không phải là sự chết, mà là một trạng thái tâm thức đã hoàn toàn chấm dứt những ô nhiễm do Vô Minh mà duyên theo Tham Sân Si, tạo Nghiệp, chịu khổ, bị cuốn vào dòng đời sinh tử triền miên. Chứng ngộ Niết Bàn là tâm thức chuyển sang trạng thái khác, tạm nói là an lạc và giải thoát. Trạng thái này chỉ người đã Chứng Ngộ mới biết thực tế là thế nào, có thể dùng câu “như người uống nước, nóng hay lạnh ra sao, chỉ chính người đó tự biết” để nói lên tính cách không thể trình bày ra được. Các vị đã chứng Đạo thường dùng câu “như người câm muốn kể lại chuyện xảy ra trong giấc mộng” để mô tả tâm trạng của mình, muốn nói ra mà không có cách nào, vì nếu dùng thí dụ bằng những trạng thái tâm thức ở thế gian để mô tả thì không đúng, vì tất cả đều chỉ là những sự vui buồn trong điều kiện của đời sống quy ước, không có niềm an lạc vô biên của người đã giải thoát khỏi những ràng buộc của Tham Sân Si.

Chân Lý Thâm Diệu thứ nhất, Khổ Đế, đức Phật chỉ rõ cho chúng ta nhận ra sự thực, rồi tới Tập Đế, Ngài chỉ cho chúng ta thấy nguyên nhân, Diệt Đế, Ngài chỉ con đường cho chúng ta tận Diệt nỗi Khổ và Đạo Đế, là con đường Niết Bàn, tức là Chứng Ngộ thực tại, Phật Tánh, Giác Tánh, Buddha Nature, True Nature vân vân..., mà đức Phật đã cho biết rằng tất cả chúng ta đều có khả năng khiến cho hiển lộ y như Ngài, trong lời tuyên bố ngay khi Ngài mới bừng tỉnh, rằng:

- Lạ thay, tất cả chúng sanh đều có Trí Huệ Như Lai, mà để bị trôi giạt trong vòng Vô Minh, đến nỗi phải chịu biết bao thống khổ!

Trí Huệ Như Lai cũng còn được gọi là Trí Huệ Phật, là Giác Tánh, Phật Tánh. Đức Phật dạy Bốn Chân Lý Thâm Diệu để cuối cùng, do sự “Tự tịnh kỳ ý” mà Trí Huệ Phật hiển lộ.

Đạo Phật không hề chủ trương rằng công trình tu chứng của Phật tử chỉ thành tựu sau khi chết. Một hành giả chứng ngộ Niết Bàn ngay trong đời sống hiện tiền, nghĩa là trong lúc còn mang thân ngũ uẩn, thì gọi là "Hữu Dư Niết Bàn". Lúc đã chấm dứt đời sống của cơ thể vật lý thì gọi là "Vô Dư Niết Bàn".

Như thế, Niết Bàn không phải là chết, mà là tâm thức chuyển qua một bình diện mới.

Sau đây là một bài pháp trích từ cuốn The Tree of Enlightenment, tác giả là tiến sĩ Peter Della Santina, do thượng tọa Thích Tâm Quang dịch ra Việt ngữ.

Tiến sĩ Peter Della Santina sinh quán tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp cử nhân ngành tôn giáo tại Wesleyan University, tiểu bang Connecticut, và tiến sĩ Phật học tại University of Delhi, Ấn Độ. Ông đã có một thời gian dài dạy về triết học và Phật học tại các miền Đông và Nam Á Châu. Đồng thời, ông còn tích cực tới nhiều trường đại học và các Phật Học Viện tại Âu Châu và Á Châu để diễn giảng về Phật giáo. Ông cũng viết nhiều sách luận giải đạo Phật, trong số đó có cuốn The Tree of Enlightenment dạy những điều căn bản, được rất nhiều độc giả hâm mộ.

Vốn không phải là một Phật tử theo truyền thống gia đình, nhưng từ khi khám phá ra viên kim cương Phật giáo, ông tích cực học hỏi và hành trì theo lời đức Phật dạy. Ông từng là đệ tử của ngài Sakya Trizin, thuộc truyền thống Phật giáo Tây Tạng trong 25 năm. Từ những điều hiểu biết do học và hành, ông tận tụy trình bày ra sách báo, đi diễn thuyết vân vân, để giảng giải lại cho mọi người.

Ông qua đời ngày 14 tháng 10 năm 2006, trong khi đang đứng trên bục giảng về Phật giáo Đại Thừa cho sinh viên làm luận án cao học Phật học tại trường International Buddhist College, Penang, Malaysia.

Sau đây là luận giải của tác giả Peter Della Santina về Niết Bàn và Đạo Đế là con đường chấm dứt đau khổ, con đường Niết Bàn:

...”...Khi chúng ta nói về Niết Bàn, chúng ta gặp phải một số khó khăn trong việc diễn đạt vì bản chất xác thực của một kinh nghiệm không thể truyền đạt bằng cách nói về nó, đúng hơn là Niết Bàn phải được chứng nghiệm trực tiếp. Ðiều này rất đúng với tất cả kinh nghiệm, dù đó là kinh nghiệm về vị của muối, đường hay sô cô la hay lần đầu tiên bơi ở đại dương. Tất cả những kinh nghiệm ấy không thể diễn tả cho đúng được.

Ðể giải thích đầy đủ điểm này, thí dụ như tôi vừa tới Ðông Nam Á, và tôi được biết có một trái cây địa phương rất được ưa chuộng gọi là trái sầu riêng. Tôi có thể hỏi người dân trong vùng thường ăn và thích trái sầu riêng, nhưng làm sao họ có thể diễn tả thật đúng cho tôi hiểu, ăn trái đó giống như ăn gì? Ðơn giản là không có thể nào mô tả trung thực mùi vị của trái sầu riêng cho một người chưa bao giờ ăn trái đó.

Chúng ta cố gắng so sánh, tùy theo sự lựa chọn, hoặc phủ nhận; chẳng hạn chúng ta có thể nói rằng trái sầu riêng có chất như kem hay nó ngọt và chua, và có thể nói thêm nó cũng giống như trái mít và chưa hết nó không giống như trái táo tí nào. Nhưng vẫn không thể nào truyền đạt bản chất xác thực về điều đã kinh qua khi ăn trái sầu riêng. Chúng ta thấy mình cũng đương đầu với một vấn đề tương tự khi chúng ta cố gắng mô tả Niết Bàn.

Ðức Phật và các đạo sư Phật Giáo qua nhiều thời đại cũng dùng một phương sách tương tự để diễn tả Niết Bàn gọi là so sánh, và phủ nhận.

Ðức Phật nói rằng Niết Bàn là hạnh phúc, niềm an lạc tối thượng. Ngài nói Niết Bàn là bất tử, không có tạo tác, không hình tướng vượt ra ngoài đất nước gió lửa, mặt trời, mặt trăng, khó dò và không thể đo lường được.

Nơi đây chúng ta có thể thấy một số phương sách mà Phật Giáo dùng để miêu tả Niết Bàn, loại Niết Bàn giống như ta nếm trải trong thế giới này. Ðôi khi chúng ta đủ may mắn để nếm trải hạnh phúc to lớn kèm theo bởi niềm an lạc sâu xa trong tâm khảm, có thể tưởng tượng như chúng ta đang nếm trải một thoáng Niết Bàn.

Nhưng trái mít không thực sự giống trái sầu riêng, và Niết Bàn thực sự không giống một thứ gì trong thế giới này. Nó không giống như bất kỳ kinh nghiệm nào hàng ngày, vượt qua tất cả hình tướng và danh xưng chúng ta sử dụng để chỉ cái mà ta kinh nghiệm trên thế gian này.

Vấn đề là để hiểu Niết Bàn thực sự như thế nào, bạn phải tự mình nếm trải, giống như muốn biết trái sầu riêng như thế nào, bạn phải ăn nó. Không có một bài tiểu luận hay mô tả thi văn nào về trái sầu riêng có thể giống kinh nghiệm ăn nó.

Tương tự như vậy, chúng ta phải kinh qua việc chấm dứt khổ đau tự nơi chúng ta, đó là phương cách duy nhất để loại bỏ nguyên nhân của khổ đau - những tai họa của quyến luyến, chấp chặt, sân hận, và vô minh. Khi chúng ta loại bỏ được những nguyên nhân của khổ đau, chúng ta sẽ chứng nghiệm Niết Bàn cho chính mình.

Làm thế nào chúng ta có thể loại bỏ được những nguyên nhân của khổ đau ấy? Bằng những phương cách nào chúng ta có thể loại bỏ được những tai họa nguyên nhân của khổ đau? Ðó là con đường do Ðức Phật dạy, con đường Trung Ðạo, con đường tiết chế điều độ.

Các bạn sẽ nhớ ra rằng cuộc đời Ðức Phật trước khi giác ngộ được chia thành hai thời kỳ khác biệt. Thời gian trước khi từ bỏ trần tục của Ngài là thời gian mà Ngài vui hưởng cực kỳ xa hoa; thí dụ, những chuyện kể Ngài có ba lâu đài, mỗi lâu đài cho mỗi mùa, tràn đầy những nguồn vui không thể tưởng tượng nổi ở thời đó.

Theo sau thời gian vui hưởng này là sáu năm cực kỳ khổ hạnh và hành xác, khi ngài sống không tiện nghi căn bản của cuộc sống, màn trời chiếu đất, mặc quần áo thô sơ nhất, và nhịn ăn trong một thời gian dài. Thêm vào những sự thiếu thốn như vậy, Ngài hành hạ thân xác qua những sự tu tập như nằm ngủ trên giường gai và ngồi dưới cái nóng gay gắt như lửa của mặt trời lúc trưa hè.

Vì đã chứng nghiệm những xa hoa và thiếu thốn cực đoan này và vì đã tiến tới giới hạn của những cực đoan này, Đức Phật nhìn thấy sự phù phiếm của chúng và Ngài đã khám phá ra con đường Trung Ðạo, tránh cả nuông chiều cực đoan những dục lạc của giác quan và cực đoan hành hạ thân xác.

Nhờ có sự nhận thức bản chất của hai cực đoan này trong chính đời sống của Ngài mà Đức Phật đã có thể đi đến lý tưởng Trung Ðạo, con đường tránh cả hai cực đoan. Có nhiều giải thích đầy ý nghĩa và sâu xa về Trung Đạo, nhưng căn bản nhất là điều hòa lối sống và thái độ, đối với tất cả mọi sự vật.

Chúng ta có thể lấy thí dụ về ba sợi dây của một cây đàn để minh họa cho điều ta muốn nói về thái độ này. Ðức Phật có một người đệ tử tên là Sona tu tập thiền định rất hăng say nhưng không có kết quả gì mà lại còn gặp nhiều trở ngại. Sona bắt đầu có ý không giữ lời thệ nguyện và muốn từ bỏ đời sống của một thầy tu. Ðức Phật hiểu rõ vấn đề, liền nói với Sona rằng:

- " Sona con, trước khi con trở thành nhà tu, con là một nhạc sĩ phải không?"

Sona trả lời :

"Thưa đúng ạ".

Ðức Phật hỏi tiếp,

"Là một nhạc sĩ con biết cách phải làm sao cho dây đàn tạo ra âm thanh hay và du dương, dây đàn phải thật căng phải không?

Sona trả lời:

- "Thưa không, dây căng quá sẽ tạo ra âm thanh không hay và sẽ bị đứt bất cứ lúc nào ".

Ðức Phật tiếp:

- " Dây chùng quá thì sao?

Sona trả lời :

- “ Thưa không, dây chùng quá không tạo được âm thanh hay và du dương. Dây tạo được âm thanh hay và du dương phải không căng quá và cũng không chùng quá".

Trong trường hợp này, sống buông thả và xa hoa thì quá phóng túng bừa bãi, vô kỷ luật hay không chuyên tâm, trái lại sống hành xác thì quá khắt khe, quá khắc nghiệt và căng thẳng có thể gây ra sự suy sụp của tâm và thân xác, giống như dây đàn quá căng có thể đứt bất cứ lúc nào.

Ðặc biệt hơn nữa, con đường đi tới mục tiêu chấm dứt khổ đau trong Phật giáo giống như một toa thuốc. Khi một vị bác sĩ giỏi chữa một bệnh nhân có bệnh nặng, toa thuốc của ông không chỉ chữa thể xác mà còn tâm lý. Nếu bạn đang đau đớn, chẳng hạn, về bệnh tim, bạn không những được cho thuốc men mà bạn còn được yêu cầu phải kiêng khem trong việc ăn uống và tránh tình trạng căng thẳng.

Nơi đây cũng vậy, nếu bạn nhìn vào những chỉ dẫn đặc biệt để theo con đường chấm dứt khổ đau của Phật Giáo, chúng ta thấy chúng không chỉ đề cập đến thân xác - hành động và lời nói - mà còn đề cập đến tư tưởng.

Nói một cách khác, Bát Chánh Ðạo cao quý, con đường dẫn đến chấm dứt khổ đau, là một con đường toàn diện, một phương pháp chữa trị tổng hợp. Nó được đặt ra để chữa lành chứng bệnh về khổ đau bằng cách loại bỏ nguyên nhân của nó, và cũng chữa trị áp dụng không chỉ cho thân xác mà còn cho cả tinh thần...”...

Trên đây là bài luận giải của tiến sĩ Peter Della Santina về nội dung của Niết Bàn. Niết Bàn là một cảnh giới tâm thức đã có nhiều người kinh nghiệm và sống trong cảnh giới đó, thí dụ đức Phật, sau khi đắc đạo, Ngài còn trụ thế gần 50 năm nữa và như các vị A La Hán, các thiền sư Kiến Tánh, các tu sĩ đã xong việc, nghĩa là đã hóa giải được các ô nhiễm Tham Sân Si.
Bài kệ tóm tắt con đường tu hành của Phật tử là:

Không làm những điều ác
Siêng làm những việc lành
Tự thanh tịnh tâm ý
Lời chư Phật dạy rành.

“Tự thanh tịnh tâm ý” chính là con đường Niết Bàn. Tâm ý con người luôn luôn hoạt động, dòng tư tưởng trôi chảy triền miên khiến cho trí óc luôn bị dính mắc với hết chuyện này tới chuyện khác, nhà Phật gọi là vọng tâm sinh diệt.

Tất cả các pháp môn tu hành của nhà Phật đều để đạt mục tiêu chấm dứt tâm viên ý mã, tức là tâm ý nhảy nhót lung tung, từ chuyện này qua chuyện khác như con vượn con ngựa, không lúc nào yên. Chấm dứt được những trói buộc của sự suy nghĩ liên tục, vọng tâm sinh diệt, thì tâm hồn sẽ được giải thoát.

Có một câu chuyện Thiền như sau:

Một thiền sinh tới gặp vị thiền sư danh tiếng, xin làm đệ tử. Thiền sư liệng cái gối ngồi thiền ra ngoài hè rồi nói:

- Ông ra kia ngồi đi.

Thiền sinh hỏi:

- Ngồi rồi có làm gì nữa không ạ?

Thiền sư đáp:

- Không làm gì cả, có cái gì trong đầu thì ông xả bỏ đi.

Nhiều ngày trôi qua, một hôm thiền sinh bước vào gặp thiền sư:

- Bạch thày, con đã xả hết rồi.

Thiền sư nhẹ nhàng:

- Ông xả luôn cái ý nghĩ về xả đi.

Thiền sinh hỏi:

- Bạch thày, nếu con xả hết như thế thì con được gì ạ?

Thiền sư cười:

- Ông chẳng được gì cả, chỉ ra khỏi thùng rác thôi.

Nhà Phật coi những hoạt động của tâm ý thức, suy nghĩ triền miên là vọng tâm, không phải chân tâm. Nghĩ điều tốt là tạo ý nghiệp tốt, sẽ được hưởng thiện quả, nghĩ điều xấu thì tạo ý nghiệp xấu, sẽ lãnh quả báo xấu, đều trong vòng sinh diệt nhân quả của thế gian, thuộc về hai lời dạy của chư Phật là “Không làm những điều ác” và “Siêng làm những việc lành”.

Nhưng mục tiêu của hành giả tu thiền Phật giáo là ngộ Đạo, giải thoát khỏi mọi khổ não, cho nên phải giải quyết phần thứ ba là “Tự thanh tịnh tâm ý”. Đó là ý nghĩa câu “ra khỏi thùng rác” của vị thiền sư

Nơi kinh Viên Giác, đức Phật dạy:

- ....”...chúng sanh bổn lai thành Phật, sanh tử Niết Bàn đều như việc trong mộng.
Bồ tát Kim Cang Tạng thưa:

- Bạch Thế Tôn! Nếu các chúng sanh bổn lai thành Phật, tại sao lại có tất cả vô minh? Nếu chúng sanh bổn lai thành Phật, rồi sau mới khởi vô minh, vậy chư Như Lai đến lúc nào sẽ sanh khởi lại tất cả phiền não?

Phật dạy:

- Như luyện quặng vàng, vàng chẳng phải do luyện mà có, mà trong quặng vốn đã có vàng. Sau khi đã thành vàng ròng thì dù trải qua vô lượng kiếp tánh vàng chẳng hoại, chẳng thể trở lại làm quặng nữa; vậy chẳng nên nói rằng vàng ròng vốn chẳng thành tựu, Viên Giác của Như Lai cũng như thế...."....

Vàng quặng đã vốn có vàng, lọc bỏ tạp chất thì vàng ròng xuất hiện. Tâm ý thức của con người lăng xăng che mờ Giác Tánh, vì thế cần “thanh tịnh hóa” để Giác Tánh hiển lộ.

Khi thiền sinh xả bỏ được tất cả, là ông ta “thanh tịnh hóa tâm ý”. Cũng như vàng quặng lọc bỏ tạp chất sẽ xuất hiện vàng ròng. Hành giả ngưng dứt cuồng tâm bay nhẩy như vượn như ngựa, thì sẽ thể nghiệm được cảnh giới an lạc, giải thoát của Hữu Dư Niết Bàn.

Liên Hương (ĐPK)
Trích "Chương trình phát thanh Tìm hiểu Phật pháp Tuệ Đăng"
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Dec 30 2014, 08:40 AM
Gửi vào: #93


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




Vì sao ở hiền không gặp lành mà toàn đau khổ?


Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:
- Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt như vậy

Thầy hiền hòa nhìn tôi trả lời:
- Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.
Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.

Có cảm giác như bị xúc phạm, tôi không phục, liền nói:
- Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!

Thầy trả lời:
- Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.
Tôi nói:
- Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này; trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…
Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, người từ tốn nói với tôi:
Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy.
- Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm.

Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:
- Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.”
Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

- Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”
Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

- Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

- Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

- Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?
Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.

Ngồi im lặng hồi lâu…xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ ?
Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!
Sưu tầm
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Feb 10 2015, 07:24 AM
Gửi vào: #94


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




Sau Khi Chết Ta Đi Về Đâu - Thích Trí Huệ

Sau Khi Chết Ta Đi Về Đâu - Thích Giác Hạnh

Tùy theo nghiệp nhân con người đã gây tạo trong quá khứ có sai khác, mà đến khi lâm chung mỗi người hấp hối đều có những biểu hiện lâm chung khác nhau. Hoặc có người biết trước giờ chết vui vẻ niệm Phật mà chết, hoặc có người đầy sự thảng thốt, run sợ… thậm chí có người khi sắp chết đã có những tướng biểu hiện của các cảnh giới Ngạ quỷ, Súc sanh…

Như thế tùy theo nghiệp nhân thiện hay ác mà con người sắp chết có những biểu hiện lâm chung khổ đau hay hạnh phúc để rồi tái sanh về cảnh giới lành hay dữ. Chung quy, cảnh giới mà con người tái sanh là cảnh giới tương ưng với sự khao khát và thỏa mãn tự thân của mỗi người.

CÁC CẢNH GIỚI TÁI SANH

A. DẪN NHẬP:

Tựu trung các cảnh giới mà con người sẽ tái sanh vào là cảnh giới gì ? Do động lực căn bản nào dẫn dắt thần thức con người đi tái sanh? Sự thọ dụng khổ đau hay hạnh phúc của từng cảnh giới ra sao? Nỗi bình an hay hốt hoảng để tương ứng với từng cảnh giới chuẩn bị tái sanh của con người như thế nào? Các yếu tố cần và đủ để biện minh về sự hình thành một cảnh giới là yếu tố gì? Đó là những vấn đề mà người Phật tử chúng ta không thể không biết.


B. CHÁNH ĐỀ

I. NGHIỆP VÀ CÁC CẢNH GIỚI TÁI SANH

1. Nghiệp – Nhân tố quyết định cho sự tái sanh:

Theo quan điểm đạo Phật con người sau khi chết không phải là mất hẳn, đó chỉ là một trạng thái biến dạng của nghiệp thức. Thể xác phân tán nhưng phần tâm thức tiếp tục cuộc truy cầu trong sự khao khát được thoả mãn về đối tượng (cảnh giới) tương ứng. Và cứ như thế con người chúng ta khi chưa đạt đến Thánh vị, thì mãi luẩn quẩn trong cuộc rượt bóng bắt hình nơi trò chơi luân hồi huyễn mộng hư hư thực thực này.

Ai là tác giả của cuộc chơi hư hư thực thực này ? Đó chính là nghiệp - là nguyên động lực dẫn dắt con người đi vào tái sanh trong các cảnh giới luân hồi. Nghiệp là những hành động có tác ý, từ nghiệp tạo thành sức mạnh của nghiệp hay còn gọi là nghiệp lực. Nghiệp lực chi phối tái sanh của con người qua một trong bốn loại sau:

a. Cực trọng nghiệp : Nghĩa là những hành động trọng yếu hay là những hành nghiệp nhân cực trọng. Nếu Cực trọng nghiệp thuộc về loại bất thiện đó là những nghiệp như : Ngũ nghịch, Thập ác. Bằng như Cực trọng nghiệp thuộc về loại thiện đó là những nghiệp như: Người chứng đắc các quả vị tứ thiền sắc giới trở lên.

b. Tập quán nghiệp: Còn gọi là Thường nghiệp. Tập quán nghiệp là những việc làm, lời nói hàng ngày chúng ta hay làm và thường nhớ đến ưa thích hơn hết. Những thói quen lành hay dữ dần dần uốn nắn tạo thành bản chất của con người. Ngay trong lúc vô thức đôi lúc nó vẫn hiện khởi. Trong các loại nghiệp thì nghiệp này đóng vai trò rất quan trọng.

c. Tích lũy nghiệp: Đời sống của con người hôm nay là sự tích góp bởi vô số các nghiệp từ trong quá khứ đã tạo. Trong sự luân hồi bất tận con người ai cũng đã tích lũy cho mình một số lượng lớn tài sản nghiệp. Như thế, Tích lũy nghiệp là những nghiệp do tích lũy nhiều đời. Nghiệp này có công năng dẫn dắt con người đi tái sanh, khi ba loại nghiệp trên vắng mặt.

d. Cận tử nghiệp: là nghiệp nhân sau cùng con người nhớ tưởng lúc lâm chung. Tâm niệm sau cùng của con người nếu là niệm ác tức sẽ tái sanh vào một trong các cảnh khổ. Tâm niệm sau cùng của con người nếu là niệm thiện tức sẽ tái sanh vào một trong các cảnh giới lành, đây gọi là Cận tử nghiệp.

Khi con người lâm chung, nếu không có Cực trọng nghiệp hay Tập quán nghiệp nào làm động cơ cho sự thúc đẩy tái sanh thì Cận tử nghiệp sẽ dẫn dắt con người thọ sanh. Hoặc nếu không có cả ba loại nghiệp kể trên thì Tích lũy nghiệp sẽ dẫn dắt con người tái sanh.

2. Các cảnh giới tái sanh:

Trong vũ trụ mênh mông có tất cả mười cảnh giới mà tùy theo nghiệp lực của mỗi người tạo ra, tương ứng để tái sanh vào một trong mười cảnh giới đó. Mười cảnh giới đó bao gồm bốn cảnh giới Thánh và sáu cảnh giới phàm.

Thần thức con người sau khi chết sẽ có hai tình huống xảy ra. Nếu người nào có công phu tu hành đạt đến được cảnh giới nghiệp sạch tình không, tùy mức đoạn vô minh vi tế có sâu hay cạn hoặc dứt sạch mà sanh về một trong bốn cảnh giới Thánh là Phật, Bồ Tát, Duyên giác và Thanh Văn.

Hoặc như người nào tuy tu hành nhưng chưa đoạn được phiền não, chưa đạt đến cảnh giới nghiệp sạch tình không…nhưng do tâm nguyện khẩn thiết cầu sanh thế giới Cực lạc và thường trì Thánh hiệu Phật A Di Đà, người đó cũng được thoát ly sanh tử, khi lâm chung được vãng sanh về thế giới Tịnh độ của chư Phật, lần hồi tiến tu cho đến ngày thành Phật.

Còn bằng người nào còn nghiệp sau khi chết đều phải tái sanh vào một trong sáu cảnh giới luân hồi. Tuỳ theo nghiệp nhân quả của mỗi con người có sai khác mà họ phải sanh vào cảnh giới khổ đau hay hạnh phúc.

Sáu cảnh giới mà con người phải luân hồi qua lại đó là: Thiên đạo, Nhân đạo, A tu la đạo, Súc sanh đạo, Ngạ quỷ đạo và Điạ ngục đạo.

Trong đó hai cảnh giới đầu là cảnh giới thiện đạo đây là cảnh giới hạnh phúc, bốn cảnh giới sau là cảnh giới ác đạo là cảnh giới khổ đau. Chung quy, con người trong dòng sống bất tận, phần nhiều vì vô minh che lấp tạo ra các nghiệp lành hay dữ rồi phải tùy theo nghiệp lành hay dữ mà tái sanh vào một trong sáu cảnh giới luân hồi.

II. Luân hồi trong lục đạo

Trong phạm vi bài viết chúng tôi xin trình bày giản lược về cảnh giới thọ dụng và nghiệp nhân tái sanh, biểu hiện lâm chung… trong sáu cảnh giới luân hồi và cảnh giới Tịnh độ mà thôi. Nơi cảnh giới Tịnh độ chúng tôi triển khai về cảnh giới Tây phương Tịnh độ (thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà) làm đại biểu.

1. Sanh về ác đạo

a. Địa ngục đạo:

Địa ngục tiếng phạn là Nại lạc ca, có nghĩa là Khổ cụ, Phi đạo, Ác nhân… Địa ngục là cảnh giới trong đó không có hạnh phúc, nơi có đầy đủ muôn vàn sự khổ đau mà những người tạo ác nghiệp phải sanh về để trả lại những nghiệp nhân bất thiện trong quá khứ.

a.1 Cảnh giới thọ dụng:

* Khổ lạc thọ dụng:

Chúng sanh ở cảnh địa ngục phải chịu sự thống khổ vô cùng, như trong kinh Địa tạng có dạy: Chúng sanh ở cõi này, một ngày một đêm trải qua trăm vạn lần chết đi sống lại để chịu các khổ báo như ăn hoàn sắt nóng, uống nước đồng sôi, bị kéo lưỡi cho trâu cày…

* Ẩm thực thọ dụng:

Chúng sanh ở cảnh địa ngục đều dùng thức thực mà duy trì thân. Loại này cũng có thọ dụng phần đoạn thực vi tế, tạng phủ có hơi gió thoảng động, do nhân duyên này mà được sống lâu.

* Dục nhiễm thọ dụng:

Chúng sanh ở cảnh địa ngục không có hành dâm, vì bị quá nhiều sự hình phạt đau khổ.

a.2 Nghiệp nhân và biểu hiện lâm chung:

* Nghiệp sanh tái sanh:

Người nào hiện đời bất tín Tam bảo, tạo các nghiệp cực ác như ngũ nghịch, thập ác… sau khi chết sẽ đọa vào cảnh giới khổ đau này.

* Biểu hiện lâm chung:

Nếu ai lâm chung, đoạ vào cảnh giới địa ngục sẽ có những biểu hiện sau:

– Nhìn ngó thân quyến với con mắt ghét giận.

– Đi đại tiện, tiểu tiện mà không hay biết.

– Nằm úp mặt hoặc che dấu mặt.

– Thân hình và miệng mồm đều hôi hám.

– Cơ thể co lại, tay chân bên trái chấm xuống đất.

b. Ngạ quỷ đạo:

Ngạ quỷ tiếng phạn Preta, Ngạ là đói khát, Quỷ là khiếp sợ. Ngạ quỷ là chỉ những chúng sanh thường xuyên bị nạn đói khát và khiếp sợ đe dọa đời sống. Thân tướng Ngạ quỷ có nhiều hình thù rất xấu xa, mắt thường con người không thể thấy được. Ngạ quỷ không có một cảnh giới riêng biệt, mà sống trong rừng bụi, ở những nơi dơ bẩn…

b.1 Cảnh giới thọ dụng :

* Khổ lạc thọ dụng:

Chúng sanh ở cảnh giới Ngạ quỷ chịu nhiều phần khổ não về sự đói khát chỉ có chút ít phần vui. Đại để loài Ngạ quỷ phân thành ba loại là:

Quỷ đa tài, hạng Quỷ này do đời trước có tu phước nên hiện đời được ăn uống sung mãn có đầy đủ thần lực.

Loại thứ hai là Quỷ thiếu tài, hạng Quỷ này đời trước tuy có tu phước nhưng không nhiều, nên hiện đời tuy có đủ vật ăn uống nhưng không được như ý và thần lực kém cỏi;

Loại thứ ba là Quỷ Hy tự, hạng Quỷ này bụng to như cái trống cổ nhỏ như cây kim, bởi do đời trước tham lam bỏn xẻn, nên hiện đời luôn phải chịu cảnh đói khát liên tục…

* Ẩm thực thọ dụng:

Chúng sanh ở cảnh giới Ngạ quỷ đều dùng thô đoạn thực, tức ăn uống những vật thực như con người. Có điều, loài Ngạ quỷ Hy tự (Quỷ kém phước) chỉ ăn thuần đồ bất tịnh. Loài Ngạ quỷ này khi thấy nước hay thức ăn thì những vật này đều hóa thành máu lửa và cát sạn.

* Dục nhiễm thọ dụng:

Chúng sanh ở cảnh giới Ngạ quỷ do vì có khổ vui xen lộn nên có sự dâm dục. Ở cõi này khi hai giống giao hợp, trong tâm khoái lạc tột độ liền có chất bất tịnh chảy ra.

b.2 Nghiệp nhân tái sanh và biểu hiện lâm chung:

* Nghiệp nhân tái sanh:

Người nào hiện đời tạo những nghiệp ác cộng với tánh hay tham lam keo kiệt, không thích làm các việc lành bố thí, cúng dường…sau khi chết sẽ đọa vào cảnh giới đau khổ này.




* Biểu hiện khi lâm chung:

Nếu ai lâm chung đọa vào cảnh giới Ngạ quỷ sẽ có những biểu hiện sau :

– Thân nóng như lửa.

– Thường lo nghĩ đói khát, hay nói đến việc ăn uống.

– Không đại tiện nhưng đi tiểu tiện nhiều.

– Đầu gối bên phải lạnh trước.

– Tay bên phải nắm lại biểu hiện lòng bỏn xẻn.

c. Súc sanh đạo:

Súc sanh hay còn gọi là bàng sanh. Bàng sanh là loại chúng sanh có xương sống nằm ngang. Lại chữ bàng có nghĩa là “biến mãn” vì bàng sanh có nhiều chi loại và các cõi đều có loài này. Đây là cảnh giới thuần đau khổ, hình thù kỳ dị.

c.1 Cảnh giới thọ dụng :

* Khổ lạc thọ dụng:

Chúng sanh ở cảnh giới bàng sanh chịu nhiều phần khổ về ăn nuốt lẫn nhau, chỉ có chút ít phần vui. Chúng sanh ở cảnh này phải chịu nhiều sự đánh đập, cày bừa, bị banh da xẻo thịt và nấu nướng, bị người nhai nuốt… Nói chung, họ luôn sống trong tâm trạng si mê xen lẫn đầy nỗi sợ hãi.




* Ẩm thực thọ dụng :

Chúng sanh ở cảnh giới súc sanh đều dùng thô đoạn thực. Các loài rồng thường dùng rùa, cá, ếch, nhái… làm thức ăn, loài kim suý điểu dùng rồng làm thức ăn, những vị long vương có phước báo cũng thọ dụng các trân vị như hương phạn, cam lồ, nhưng miếng ăn sau cùng đều biến thành ếch nhái. Còn lại các loài bàng sanh khác đều ăn uống những vật bất tịnh.

* Dục nhiễm thọ dụng:

Chúng sanh ở cảnh giới Súc sanh, do vì có khổ vui xen lộn nên có sự hành dâm. Ở cõi này khi hai giống giao hợp, trong tâm khởi niệm khoái lạc tột độ liền có chất bất tịnh chảy ra.

c.2 Nghiệp nhân tái sanh và biểu hiện lâm chung:

* Nghiệp duyên tái sanh:

Người nào hiện đời tạo các ác nghiệp cộng với tánh si mê, ngu độn…bướng bỉnh không nghe theo lời dạy của các bậc trưởng thượng, cố chấp không chịu sửa sai, sau khi chết đọa vào cảnh giới khổ đau này.

* Biểu hiện lâm chung:

Nếu ai lâm chung đọa vào cảnh giới bàng sanh sẽ có những biểu hiện sau :

– Sanh lòng yêu mến vợ con đắm đuối không bỏ.

– Ngón tay và ngón chân đều co quắp.

– Ngu si mờ mịt như rơi vào mê sảng.

– Khắp trong thân mình đều toát mồ hôi.

– Tiếng nói khò khè miệng hay ngậm đồ ăn.

d. A tu la đạo

A tu la còn gọi là A tố lạc dịch là vô đoan chánh, phi thiên…. đây là hạng chúng sanh không bao giờ hớn hở tươi vui, đa số có hình tướng không được đoan chánh tâm luôn sân hận và hay sanh ái dục. A tu la có bốn bậc đó là Thiên A tu la, Nhân A tu la, Ngạ quỷ A tu la và Súc sanh A tu la.

d.1 Cảnh giới thọ dụng:

* Khổ lạc thọ dụng :

Chúng sanh ở cảnh giới A tu la thọ sự khổ vui xen tạp, hoặc nhiều hoặc ít tuỳ theo tội phước hơn kém của mỗi người. Nói chung, A tu la tùy theo ở cảnh giới nào thì có sự khổ lạc thọ dụng tương tự như ở cảnh giới đó, vì thế họ không có chủng loại và trụ xứ riêng biệt.




* Ẩm thực thọ dụng:

Chúng sanh ở cảnh giới A tu la thọ dụng có thô đoạn thực và tế đoạn thực. A tu la ở trong Súc sanh, Ngạ quỷ và cõi người dụng các vật bất tịnh. Riêng loài thiên A tu la dù có ăn các món ăn trân vị, song miếng sau cùng tự nhiên hóa ra bùn hay sâu nhái.

* Dục nhiễm thọ dụng :

Chúng sanh ở cảnh giới A tu la có sự hành dâm tương đồng như chúng sanh loài người, quỷ, bàng sanh.

d.2. Nghiệp nhân tái sanh và biểu hiện lâm chung.

* Nghiệp nhân tái sanh :

Người nào hiện đời tuy có tu ngũ giới nhưng tâm còn nhiều sân hận và lòng dục nhiễm, sau khi chết sẽ đọa vào cảnh giới khổ đau này.

* Biểu hiện lâm chung :

Có thể nói A tu la là một dạng khác của Ngạ quỷ, do vậy biểu hiện lâm chung của người nào sắp tái sanh về cảnh giới A tu la, thời có những biểu hiện như chúng sanh tái sanh về cảnh giới Ngạ quỷ.

Có điều, tại sao trong A tu la có thiên A tu la thế mà loại này vẫn xếp sau nhân đạo. Sở dĩ như thế do vì hạng A tu la ở cõi trời, do tâm sân hận và ái nhiễm của họ mà có sự việc kém hơn cõi người:

– Dù loài này có ăn các món ăn trân vị song miếng ăn sau cùng tự nhiên hóa thành bùn hay ếch nhái.

– Ở trong cõi trời mưa hoa hoặc châu báu, nơi cõi người mưa nước cõi A tu la mưa xuống những binh khí dao gậy.

– Loài người tâm điềm tĩnh nên dễ thực hành theo chánh pháp của Như Lai, loài A tu la tâm sôi nỗi hơn thua nên khó tu đạo giải thoát.

2. Sanh về thiện đạo

a. Nhân đạo:

Nhân đạo là nẽo người. Nhân có nghĩa là nhẫn chỉ cho loài người khi gặp cảnh thuận nghịch đều có năng lực nhẫn nại an chịu với duyên phần. Chúng sanh ở cảnh giới này sự thọ hưởng có hạnh phúc lẫn đau khổ chứ không phải thuần khổ như bốn cảnh giới trước. Ở loài này có đầy đủ những thuận lợi để học và thực hành các giáo lý của đức Phật.

a.1 Cảnh giới thọ dụng :

* Khổ lạc thọ dụng :

Chúng sanh trong cảnh giới nhân đạo thọ sự khổ vui xen tạp, hoặc ít hoặc nhiều tuỳ theo nghiệp nhân mỗi người đã tạo ra. Nói chung, bên cạnh sự hạnh phúc đôi chút con người phải bị chi phối tám nỗi khổ lớn. Đó là: Sanh là khổ, bịnh là khổ, già là khổ, tử là khổ, cầu bất đắc là khổ, ái biệt ly là khổ, oán tắng hội là khổ và ngũ ấm xí thạnh là khổ.

* Ẩm thực thọ dụng :

Chúng sanh trong cảnh giới nhân đạo về ẩm thực thọ dụng có tế đoạn thực và thô đoạn thực. Tế đoạn thực là khi ở trong thai thọ dụng huyết phần của mẹ. Thô đoạn thực là ăn những thức ăn như: cơm, rau, cá, thịt… Nói rộng ra, các sự thọ dụng khác như: phòng nhà, chiếu, gối, tắm… cũng gọi là tế đoạn thực.

* Dục nhiễm thọ dụng :

Chúng sanh ở cảnh giới nhân đạo vì có sự khổ vui xen lộn nên có hành dâm. Sự hành dâm tương đồng như loài bàng sanh, quỷ, thần… khi hai thân khác giống giao hợp, trong tâm khởi niệm khoái lạc tột cùng, liền có chất bất tịnh chảy ra.

a.2 Nghiệp nhân tái sanh và biểu hiện lâm chung:

* Nghiệp nhân tái sanh :

Người nào hiện đời có niềm tin kiên cố đối với Tam Bảo và giữ gìn năm giới cấm, có lòng nhân từ hiếu đạo, giúp đỡ yêu thương kẻ nghèo khó, phát tâm bố thí kẻ cúng dường… sau khi chết sẽ được tái sanh vào cảnh giới người.

* Biểu hiện lâm chung :

Nếu ai lâm chung được tái sanh vào cảnh giới nhân đạo sẽ có những biểu hiện sau :

– Khởi niệm lành sanh lòng hòa dịu ưa việc phước đức.

– Sanh lòng chánh tín thỉnh Tam Bảo đến đối diện quy y.

– Thấy bà con trông nom sanh lòng vui mừng.

– Tâm chánh trực không ưa dua nịnh.

– Dặn dò giao phó các công việc lại cho thân quyến rồi từ biệt ra đi.

b. Thiên đạo :

Thiên đạo là nẽo trời, chữ Thiên có nghĩa là thiên nhiên, tự nhiên, lại chữ thiên ở đây còn có bốn nghĩa ẩn: Tối thắng, tối thiên, tối lạc, tối tôn. Chúng sanh ở cảnh giới này thân tướng trang nghiêm hưởng phước lạc tự nhiên, sự ăn mặc thọ dụng đều tùy niệm hóa hiện.

b.1 Cảnh giới thọ dụng :

* Khổ lạc thọ dụng :

Chúng sanh ở cảnh giới này khổ ít vui nhiều. Chư thiên ở cõi dục thọ dụng nhiều phần vui, có ít phần khổ về sự suy não đoạ lạc. Chư thiên ở cõi sắc giới từ sơ thiền đến tam thiền lấy định cảnh làm vui, sự vui cùng cực duy ở cõi tam thiền. Từ tứ thiền cho đến chư thiên cõi vô sắc thì không có khổ lạc thọ.

* Ẩm thực thọ dụng :

Chư thiên ở cõi dục thọ dụng những trân vị như cam lồ, tô đà. Tuy nhiên, tuỳ theo phước báu của mỗi vị sai khác mà có vị thọ dụng đầy đủ có vị thọ dụng không đầy đủ, đồng thời mùi vị của thức ăn có sự hơn kém. Chư thiên ở cõi sắc giới thọ phần tư thực, dùng sự vui thiền định để nuôi sắc thân. Còn chư thiên ở cõi vô sắc thì chỉ có thức thực.
* Dục nhiễm thọ dụng :

Chúng sanh ở cảnh thiên đạo, chỉ có chư thiên ở dục giới là có sự hành dâm, còn chư thiên ở cõi sắc và vô sắc giới đều tu phạm hạnh không có dục nhiễm thọ dụng.

Thiên chúng ở dục giới khi gần gũi với nhau không có chảy ra chất bất tịnh, chỉ nơi căn môn có hơi gió nhẹ thổi ra dục niệm liền tiêu. Trời Tứ thiên vương và Đao lợi có sự giao cảm cũng như loài người. Trời Dạ ma nam nữ chỉ ôm nhau là đã thỏa mãn dâm dục. Trời Đâu suất hai bên nắm tay nhau dục niệm liền tiêu. Trời Hoá lạc hai bên nam nữ chỉ chăm nhìn nhau cười là dục sự đầy đủ. Trời Tha hoá chư thiên chỉ liếc mắt nhau là đã xong rồi dục sự.

b.2 Nghiệp nhân tái sanh và biểu hiện lâm chung :

* Nghiệp nhân tái sanh :

Người nào hiện đời tu Thập thiện và chứng đắc các thiền định, sau khi lâm chung sẽ được tái sanh về cảnh trời. Trong đó người nào thành tựu mười nghiệp lành, sẽ tái sanh về cảnh giới Dục giới, người nào tu mười nghiệp lành cọng với chứng đắc một trong bốn thiền định ( tứ thiền) sẽ tái sanh về cảnh trời Sắc giới, người nào tu mười nghiệp lành cọng với chứng đắc một trong bốn không định (tứ không) sẽ tái sanh về cảnh trời Vô sắc.

* Biểu hiện lâm chung :

Nếu ai lâm chung được tái sanh về cảnh trời sẽ có những biểu hiện sau :

– Phát khởi tâm lành.

– Chánh niệm rõ ràng.

– Đối với của cải, vợ con…lòng không lưu luyến.

– Không có những sự hôi hám.

– Ngữa mặt lên và mỉm cười, mà nghĩ tưởng thiên cung đến rước mình…

Lưu ý:

Biểu hiện lâm chung của sáu cảnh giới kể trên không phải con người khi sắp chết mỗi mỗi đều biểu hiện đầy đủ, mà đôi lúc chỉ có những điểm thiết yếu biểu hiện. Lại chúng ta cần phân biệt, ví như hai cảnh giới nhân đạo và thiên đạo thì tâm hồn họ đều trong sạch, nhưng một bên chỉ nghĩ đến thiên cung xao lãng việc đời, một bên thì thương nhớ bà con căn dặn việc nhà.

Còn hai cảnh Ngạ quỷ và địa ngục thì tâm hồn họ đều mê man, nhưng một bên thì sanh tâm nóng nảy mất hết sự từ hòa, một bên thì biểu hiện tham lam hay nói đến chuyện ăn uống. Đến như loài Súc sanh thì thân thể tháo mồ hôi tiếng nói khàn nghẹt nhưng còn luyến tiếc bà con…. đó là những điểm dị biệt trong sáu cảnh giới để chúng ta xác định rõ từng cảnh giới tái sanh.

Lại có đôi người đến khi chết tâm hồn trở thành vô ký (không biểu hiện lành hay dữ như thế nào). Hạng người này muốn dự đoán họ sẽ tái sanh về cảnh giới nào, chúng ta chỉ xác định dựa theo hơi nóng nơi nào trên thân mới có thể quyết đoán được.

III. BA YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THÀNH TỰU MỘT CẢNH GIỚI:

Xưa nay có một số người quan niệm rằng: Con người chúng ta khi tâm thanh tịnh chính là đang sống trong cảnh giới Tịnh độ, khi tâm đang ngu si, mê mờ…là đang sống trong cảnh giới địa ngục chứ không có cảnh giới Tịnh độ hay cảnh giới địa ngục nào khác. Quan niệm về cảnh giới như thế là hoàn toàn không chính xác, đôi khi dẫn đến nhiều sự ngộ nhận gây tác hại không nhỏ. Với những biểu hiện của tâm con người như thế, chúng ta chỉ có thể nói đó là nghiệp nhân Tịnh độ hay nghiệp nhân địa ngục mà con người đang tạo mà thôi.

Chung quy, cảnh giới mà mỗi khi chúng sanh thọ dụng phải đầy đủ ba yếu tố mới có thể thành tựu:

Vũ trụ quan: Là xác định vị trí địa lý của mỗi cảnh giới, như cảnh Tây phương Tịnh độ là cõi cực kỳ trang nghiêm nằm ở phía tây cõi Ta Bà, địa ngục là cảnh giới thuần khổ đau vị trí ở ngoài mé núi Thiết vi.

Nhân sanh quan: Là xác định thân tướng sai biệt của mỗi cảnh giới, bởi thân tướng của mỗi loài tùy theo phước báu có hơn kém mà mỗi loài đều có hình tướng sai biệt, như thân tướng của Thánh chúng cõi Tây phương Tịnh độ thì trang nghiêm đủ ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp, còn thân tướng của chúng sanh ở cảnh giới Ngạ quỷ thì bụng to như trống, cổ nhỏ như kim, thân tướng chúng sanh ở cảnh địa ngục thì xấu xa kỳ dị, đầu trâu mặt ngựa…

Tâm lý quan: Là xác định tâm lý sai biệt của mỗi cảnh giới, như tâm của Thánh chúng cõi Tây Phương Tịnh độ thì luôn thanh tịnh, tâm các Ngài luôn an trụ vào thiền định đồng thọ hưởng pháp lạc của thiền định tương đồng với Phật A Di Đà; còn tâm chúng sanh ở cảnh giới Ngạ quỷ luôn bị sự đốt cháy của đói khát… tâm của chúng sanh ở cảnh giới địa ngục luôn sân hận, sợ hãi…

Như thế, chúng sanh hiện đời gây tạo nghiệp nhân gì sau khi lâm chung sẽ tùy theo nghiệp nhân đó mà tái sanh về một trong sáu cảnh giới luân hồi. Do đó, cảnh giới tái sanh chỉ xác lập khi đã đầy đủ ba yếu tố kể trên, nếu chưa đủ ba yếu tố đó thì chưa có thể nói đó là cảnh giới chúng sanh đang thọ dụng. Hay nói một cách khác, ở mỗi cảnh giới đều có vị trí, thân tướng và tâm lý sai khác mà chúng sanh ấy phải thọ dụng.

C. Kết luận:

Tóm lại, bởi do vô minh và ái dục chi phối mà chúng sanh cứ sống rồi chết, chết rồi lại sống, cứ thế mãi mãi trối lăn vào một trong sáu cảnh giới luân hồi. Trong sáu cảnh giới đó, bốn cảnh giới trước hoàn toàn khổ đau, hai cảnh sau trời và người tuy có hạnh phúc nhưng xét lại vẫn thuần là khổ.

Ví như chúng sanh ở cảnh giới địa ngục, thì một ngày một đêm phải trải qua cảnh vạn lần chết đi sống lại bị sự tra tấn của vạc dầu hầm lửa. Chúng sanh ở cảnh giới Ngạ quỷ thì bị sự thiêu đốt của nạn đói khát, ngàn vạn năm cái tên cơm, nước chưa từng nghe huống gì là được ăn no. chúng sanh ở cảnh giới Súc sanh thì bị sự khổ của si mê dày vò, bị người khác banh da xẻo thịt nhai nuốt vào bụng.

Chúng sanh ở cảnh giới A tu la thì bị sự sân hận và tham dục chi phối, suốt ngày luôn đánh giết lẫn nhau để tìm cầu sự thoả mãn của xác thịt. Còn chúng sanh ở hai cảnh giới trời, người tuy có hạnh phúc xen lẫn khổ đau nhưng ở cảnh người, chúng sanh phải chịu tướng bát khổ; ở cảnh giới trời vẫn bị năm tướng suy hao.

Chi bằng muốn thoát ly sanh tử luân hồi tránh sự nhọc nhằn khi phải làm kẻ lữ khách qua lại nơi tam giới, chúng ta nên cố gắng phát tâm tín sâu, nguyện thiết, chuyên trì danh hiệu Phật A Di Đà. Chúng ta chỉ mong làm sao hiện đời trả chút nghiệp còn lại lâm chung sớm được vãng sanh về nước Phật mà thôi.

Trích Lâm Chung Những Điều Cần Biết
Thích Nguyên Liên soạn dịch
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Mar 21 2015, 09:39 AM
Gửi vào: #95


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Các Cõi Trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới...!

Tam Giới: Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới

Tam giới gồm Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới .

- Dục giới: nơi Tham Ái cai trị danh sắc (thân tâm) chúng sinh .
- Sắc giới: nơi thiền sinh còn dính mắc vào tứ đại: đất, nước, gió, lửa (tức "sắc").
- Vô sắc giới: nơi thiền sinh đã thoát khỏi "sắc" (đất, nước, gió, lửa), nhưng còn dính mắc vào "danh" hay còn gọi là "tâm" (tức "vô sắc") .

Con đường đi của Phật pháp là không còn luẩn quẩn trong Tam giới . Phật Pháp dạy chúng ta giải thoát khỏi Tam Giới, chứng ngộ Niết bàn .

- 5 tầng thiền Sắc giới còn nằm trong tứ đại .
- 4 tầng thiền Vô Sắc giới đã thoát khỏi tứ đại . Vì thế, khi các thiền sinh chứng các tầng thiền Vô Sắc không còn "thân"

Thế nào là Cõi ?

Cõi là nơi chúng sanh nương . Loài hữu tình ở Cõi có 3: 1) Cõi Dục Giới. 2) Cõi Sắc Giới. 3) Cõi Vô Sắc Giới.

(*) Chổ nương để sinh và trú gọi là Cõi (Bhavanti sattā cithāti: Bhūmi).

Cõi Dục Giới (Kàmàvacabhùmi) (*).

Thế nào là Cõi Dục Giới ?

Cõi Dục Giới là nơi chúng sanh phần lớn là hưởng cảnh ngũ dục (Sắc dục, Thinh dục, Hương dục, Vị dục và Xúc dục).

Cõi Dục Giới chia ra có 11:

1) Cõi Ðịa Ngục là cảnh giới bất hạnh, những chúng sanh ở trong cõi này hoàn toàn không có hạnh phúc.

2) Cõi Ngạ Quỷ là cảnh giới của những chúng sanh hằng chịu sự đói khát.

3) Cõi Bàng Sanh là cảnh giới của những chúng sanh có thân hình đầu đuôi ngang nhau.

4) Cõi A Tu La là cảnh giới của những người Tâm tánh hung dữ.

5) Cõi Nhân Loại là cảnh giới của loài người có trí tuệ thông minh được gọi bằng danh từ Manussàna.

6) Cõi Tứ Thiên Vương là cảnh giới của Chủ Thiên dưới quyền chủ trị của 4 vị Thiên Vương.

7) Cõi Ðạo Lợi là cảnh giới của Chư Thiên có 33 vị Trời làm chủ nên cõi này còn được gọi là cõi Tam Thập tam Thiên; theo tục truyền thì thờiquá khứ có chàng thanh niên Magha hướng dẫn 32 vị thanh niên khác làm những công tác từ thiện, phục vụ cho người nên sau khi chết được sanh về cõi này.

8) Cõi Dạ Ma là cảnh giới của Chư Thiên được nhiều sự an vui tiêu diệt những sự khổ (thông thường).

9) Cõi Ðâu Suất là cảnh giới của các vị Trời thọ hưởng Quả phước nhất là Quả phước của Ba La Mật, các vị Bồ Tát trước khi thành Phật sanh lên đây để chờ cơ hội đầy đủ căn duyên liền tái sanh lần chót chứng Quả Phật Toàn Giác. (Cõi trời này có hai viện, Đâu-Suất Ngoại Viện và Đâu-Suất Nội Viện)

10) Cõi Hóa Lạc Thiên là cảnh giới của các vị Trời khi nào muốn hưởng Dục lạc thì tự hóa hiện ra mà dùng.

11) Cõi Tha Hóa Tự tại là cảnh giới của các vị Trời khi nào muốn hưởng năm món Dục Lạc thì có kẻ khác đem đến dâng. Cõi này là trú xứ của Ma Vương.

(*) Cõi nào là nơi phát sinh phiền não và vật dục, cõi ấy gọi là Cõi Dục giới (Kamassabhavoti: Kamavacara).

Phước Bố Thí - Tỳ Khưu Hộ Pháp

"Phước thiện bố thí" chỉ có con người trong cõi Nam thiện bộ châu (trái đất chúng ta đang sống) có nhiều cơ hội thuận lợi để tạo nên phước thiện bố thí. Ngoài ra, còn các châu khác [Tây ngưu hoá châu, Bắc câu lưu châu, Ðông thắng thần châu] và 30 cõi khác [10 cõi dục giới, 16 cõi trời sắc giới, 4 cõi trời vô sắc giới] không có cơ hội thuận lợi tạo nên phước thiện bố thí như:

- Con người trong 3 châu khác [Tây ngưu hoá châu, Bắc câu lưu châu, Ðông thắng thần châu] đang hưởng quả báu an lạc phước thiện của mình, nên không có cơ hội thuận lợi tạo phước thiện bố thí.

- Chúng sinh trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sanh) đang chịu quả khổ do ác nghiệp của mình, nên cũng không có cơ hội thuận lợi tạo phước thiện bố thí.

- Chư thiên trong 6 cõi trời dục giới đang hưởng quả báu an lạc cõi trời do thiện nghiệp của mình đã tạo, nên cũng không có cơ hội thuận lợi tạo phước thiện bố thí. Chư thiên nào muốn tạo phước thiện bố thí, chư thiên ấy phải hiện xuống cõi người mới có cơ hội tạo phước thiện bố thí.

- Phạm thiên trong 16 cõi trời sắc giới và 4 cõi trời vô sắc giới đang hưởng quả báu an lạc trong bậc thiền sở đắc của mình, nên cũng không có cơ hội thuận lợi tạo phước thiện bố thí.

*Nên biết: Con người ở cõi Nam Thiện Bộ Châu này, có tính chất đặc biệt hơn tất cả mọi chúng sinh trong các cõi khác về 2 cực: là Cực thiện và Cực ác.

-Cực Thiện: Con người trong cõi Nam thiện bộ châu siêu việt hơn các chúng sinh khác, là có khả năng chứng đắc thành bậc Chánh Ðẳng Giác, Ðức Phật Ðộc Giác, bậc Thánh tối thượng Thanh Văn, bậc Thánh đại Thanh Văn thuộc về siêu tam giới pháp và có nhiều cơ hội làm phước thiện khi ở đây

-Cực Ác: Ngược lại chúng sinh ở trong cõi này có thể tạo ngũ ác nghiệp: như giết cha, giết mẹ, giết bậc Thánh A-ra-hán, làm cho Ðức Phật chảy máu, chia rẽ Tỳ khưu Tăng mà các cõi khác không thể làm được

SẮC PHÁP PHÂN THEO CÕI TÁI TỤC

* Cõi dục giới: có đủ sắc pháp (28 sắc) hay sắc pháp đều sinh đặng theo cõi dục giới dù là tứ sanh hay tam sanh tất cả hội đủ các sắc (sắc pháp).

Một vấn đề cần lưu ý là: nam giới không có sắc nữ tính, còn nữ tính thì không có sắc nam tính (bao gồm luôn các loài giống đực và giống cái,chỉ rõ ở đây là sắc tính tức giới tính từng loại chúng sanh). Điều lưu ý này là muốn nói về 28 sắc, tách ra ở phần sắc nam tính và sắc nữ tính, coi như hiểu xác vấn đề là mỗi chúng sanh thuộc về tính giới nào thì sử dụng sắc tính đó. Như vậy sẽ được hiểu mỗi nam hay nữ, giống đực hay giống cái có riêng 27 sắc (tạm nhận định).

* Cõi sắc giới:

- Cõi sắc giới hữu tưởng: có 23 sắc (đã trừ: tỷ, thiệt, thân, sắc tính (trạng thái nam nữ). Vì ở cõi này không còn phân biệt nam nữ, tức không có trạng thái nam hay trạng thái nữ (nên trừ sắc tính 2), và cũng không cần ngửi, nếm, xúc chạm chi (đụng)........Do nhân trước, khi đắc thiền không thích cách ngửi mùi, vị đụng chạm. Vì vậy cõi này chỉ sử dụng 23 sắc mà thôi.

- Cõi sắc giới vô tưởng: Sắc tái tục cõi vô tưởng, tức sự tái sinh ở cõi vô tưởng sắc giới toàn là hoá sinh (Opapatika). Do năng lực thiền (ngũ thiền) và lời nguyện "không tâm", nên không có sắc thanh triệt (sắc thần kinh).

Ba giới, sáu đường

Trong đạo Phật, chúng ta thường nghe câu "Ba giới, sáu đường luân hồi" (tam giới, lục đạo luân hồi). Ðây là một cách diễn tả quan niệm về các hình thái hiện sinh của mọi loài luân hồi trong cõi Ta-bà (Samsāra, Sa-bà). Ba giới là Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. Sáu đường luân hồi là sáu loài chúng sinh:

1) chư thiên,
2) loài người,
3) loài a-tu-la,
4) loài ngạ quỷ,
5) loài thú vật,
6) loài đọa địa ngục.

Hai loài đầu tiên - chư thiên và loài người, được xem như là loài có nhiều phước báu, còn bốn loài kia chịu những cảnh đọa đày, đau đớn.

Riêng chư thiên gồm 26 loài (có sách liệt kê 27 hoặc 28 loài), ở trong ba cõi giới khác nhau: Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. Loài người và bốn loài đau khổ thì ở trong cõi Dục giới. Như vậy, tổng cộng là 31 loài, theo quan niệm của đạo Phật.

Nếu phân loại theo nguồn gốc phát sinh, cõi Ta bà chia làm chín địa giới (Cửu địa): Dục địa, bốn Sắc địa do đắc bốn tầng thiền-na hữu sắc (rūpa jhāna), và bốn Vô sắc địa do đắc bốn tầng thiền-na vô sắc (arūpa jhāna) .

Tất cả các loài trong cõi Ta-bà này, kể cả chư thiên, đều phải qua cảnh Thành, Trụ, Hoại, Diệt, và cùng chịu tám loại khổ (bát khổ), dù rằng có thể có những cường độ và thời gian khác nhau. Đôi khi chúng ta thấy có cụm từ "tam đồ, bát khổ" dùng trong các kinh sách, trong đó, "tam đồ" đồng nghĩa với "tam giới" (dục giới, sắc giới, vô sắc giới). Tám loại khổ đó là:

1) Sinh khổ: khổ do sinh,
2) Lão khổ: khổ do già,
3) Bệnh khổ: khổ do bệnh,
4) Tử khổ: khổ do chết,
5) Ái biệt ly khổ: khổ do xa lìa những gì ta thích,
6) Oán tăng hội khổ: khổ do nối kết với gì ta không ưa thích,
7) Cầu bất đắc khổ: khổ do không được điều ta mong cầu,
8) Ngũ ấm xí thạnh khổ: khổ do hiện hữu năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).

Sau đây là bảng liệt kê 31 loài trong cõi Ta-bà, từ cao xuống thấp:

A. Vô sắc giới
(Formless World, Arūpa Loka)

31. Phi tưởng, phi phi tưởng thiên (Devas of Sphere of Neither-perception nor non-perception; Nevasaññā-nasaññā-yatanūpagā devā)
30. Vô sở hữu thiên (Devas of Sphere of No-thingness; Ākiñcañña-yatanūpagā devā)
29. Thức vô biên thiên (Devas of Sphere of Infinite Concsiousness; Viññānañca-yatanūpagā devā)
28. Không vô biên thiên (Devas of Sphere of Infinite Space; Ākāsānañca-yatanūpā devā)

B. Sắc giới
(World of Form, Rūpa Loka)

B1. Tứ thiền

27. Vô song thiên (Peerless devas; Akanitthā devā)
26. Thiện kiến thiên (Clear-sighted devas; Sudassī devā)
25. Thiện hiện thiên (Beautiful or Clearly Visible devas); Sudassā devā)
24. Thanh tịnh thiên (Untroubled devas; Atappā devā)
23. Vô đọa thiên (Devas not Falling Away; Avihā devā)
22. Vô tưởng thiên (Unconscious beings; Asaññā sattā)
21. Quảng quả thiên (Very Fruitful devas; Vehapphalā devā)

B2. Tam thiền

20. Biến tịnh thiên (Devas of Refulgent Glory; Subhakinnā devā)
19. Vô lượng tịnh thiên (Devas of Unbounded Glory; Appamānasubhā devā)
18. Thiểu tịnh thiên (Devas of Limited Glory; Parittasubhā devā)

B3. Nhị thiền

17. Quang minh thiên (Devas of Streaming Radiance; Ābhassarā devā)
16. Vô lượng quang thiên (Devas of Unbounded Radiance; Appamānabhā devā)
15. Thiểu quang thiên (Devas of Limited Radiance; Parittabhā devā)

B4. Sơ thiền

14. Ðại phạm thiên (Great Brahmas; Mahā Brahmā)
13. Phạm phụ thiên (Ministers of Brahmas; Brahma-Purohitā devā)
12. Phạm chúng thiên (Retinue of Brahma; Brahma-Parisajjā devā)

C. Dục giới
(World of Sense-Desires, Kama Loka)

11. Tha hóa tự tại thiên (Devas Wielding Power over Others' Creations; Paranimmita-vasavattī devā)
10. Hóa lạc thiên (Devas Delighting in Creation; Nimmānaratī devā)
09. Ðâu-suất thiên (Contented devas; Tusitā devā)
08. Dạ-ma thiên (Yama devas; Yāmā devā)
07. Ðao-lợi thiên (The Thirty-Three Gods; Tāvatiṁsa devā)
06. Tứ thiên vương thiên (Devas of the Four Great Kings; Catumahārājikā devā)
05. Loài người (Human beings; Manussā)
04. Loài a-tu-la (Titans; Asurā)
03. Loài ngạ quỷ (Hungry ghosts; Petā)
02. Loài thú vật (Animals; Tiracchānā)
01. Loài đọa địa ngục (Hells; Nirayā)

Bảng liệt kê trên được dựa theo hai tài liệu: quyển "Đức Phật và Phật Pháp" của ngài Hòa thượng Narada và phần giới thiệu trong bản dịch Anh ngữ Trường Bộ Kinh của ông Maurice Walshe (The Long Discourses of the Buddha: A Translation of the Digha Nikaya). Theo đó, loài người chúng ta chỉ đứng hàng thứ 5, trên 4 loài khác là địa ngục, thú vật (súc sinh), ngạ quỷ và a-tu-la. Bốn loài sau cùng này thường được gọi là những chúng sinh trong đọa xứ hay khổ cảnh. A-tu-la là loài có nhiều quyền lực nhưng không hạnh phúc vì có tánh sân hận, thường hay gây chiến với các loài khác. Đôi khi có sách không đề cập đến loài a-tu-la, và như thế cõi Ta-bà chỉ có 5 đường thôi (ngũ đạo luân hồi).

Loài người ở trong một cảnh giới có hạnh phúc và đau khổ lẫn lộn. Chư vị Bồ Tát thường chọn tái sinh vào cảnh nầy, vì ở đây có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để phục vụ và thực hành những Pháp cần thiết nhằm thành tựu Đạo Quả Phật. Kiếp cuối cùng của Bồ Tát luôn luôn ở cảnh người.

Chư thiên có mặt trong cả ba cõi giới. Có 6 loại chư thiên trong Dục giới (hạng số 6 đến 11 trong biểu đồ), trong đó kinh điển thường đề cập đến cõi trời Đao-lợi và Đâu-suất. Cõi trời Đao-lợi còn gọi là cõi trời Ba Mươi Ba vì ở đó có 33 vị trời mà ngài Đế-thích (Sakka) là thiên chủ. Chính ở nơi đây, theo truyền thuyết, Đức Phật giảng Vi Diệu Pháp trong 3 tháng hạ. Cõi trời Đâu-suất là nơi lưu ngụ của những vị Bồ Tát đã thực hành tròn đủ các Pháp cần thiết để đắc Quả Phật, chờ cơ hội thích nghi để tái sinh vào cảnh người lần cuối cùng. Ngài Bồ Tát Mettaya (Di Lạc), vị Phật tương lai, hiện đang ở cảnh trời nầy, chờ ngày tái sinh vào cảnh người để thành tựu Đạo Quả Phật. Theo truyền thuyết, hoàng hậu Maya (Ma-da, Tịnh Diệu), mẹ của ngài Bồ Tát Siddhattha (Sĩ-đạt-ta), sau khi chết, tái sinh vào cảnh trời Đâu-suất, và từ đó sang cung trời Đao-lợi nghe Đức Phật giảng Vi Diệu Pháp.

Trên Dục giới có Sắc giới (rūpa loka), cảnh giới các vị Phạm Thiên, những vị Trời đã từ bỏ tham dục và đang thọ hưởng hạnh phúc của thiền-na (jhāna). Có tất cả 16 cảnh (số 12 đến 27 trong biểu đồ), tương ứng với bốn tầng thiền-na hữu sắc (rūpa jhāna). Trong đó, 5 cảnh giới cao nhất (số 23 đến 27) thường được gọi chung là Vô Phiền Thiên (suddavasa) hay Tịnh Cư Thiên, cảnh giới hoàn toàn tinh khiết. Đây là cảnh giới tuyệt đối riêng biệt của các vị Bất lai (A-na-hàm, Anāgāmi). Chúng sinh ở trong một cảnh khác mà đắc quả Bất Lai thì tái sinh vào cảnh nầy. Tiếp tục tu tập, các vị ấy đắc quả A-la-hán và sống ở đó cho đến lúc hết tuổi thọ, nhập Đại Niết Bàn.

Cao nhất là Cõi Vô sắc giới (arūpa loka) gồm có 4 hạng chư thiên tương ứng với bốn tầng thiền-na vô sắc (arūpa jhāna).

Theo ngài Hòa thượng Narada trong quyển "Đức Phật và Phật Pháp", giáo pháp của Đức Phật không nhằm mục đích truyền bá một lý thuyết về vũ trụ. Dù những cảnh giới trên có thật hay không, điều ấy không ảnh hưởng gì đến giáo lý của Ngài. Không ai bị bắt buộc phải tin điều nào, nếu điều ấy không thích hợp với suy luận của mình. Nhưng chúng ta cũng không nên bác bỏ tất cả những gì mà lý trí hữu hạn của con người không thể thấu hiểu tường tận.

Lấp không đầy là vực sâu thương nhớ
Phá không vỡ là thành cổ u sầu
Hãy cho qua những điều còn lưu luyến
Giữ trong mình một chút đó an vui...!
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 27 2015, 10:02 AM
Gửi vào: #96


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Lời nói đầu
Phần 1
ANURUDDHA
[1] Thời niên thiếu và duyên lành xuất gia
[2] Ðắc "Thiên Nhãn Thông"
Phần 2
[3] A Nậu Lâu Ðà tiến lên Thánh Hạnh A-la-hán
[4] A Nậu Lâu Ðà và Thánh pháp Tứ Niệm xứ
Phần 3
[5] A Nậu Lâu Ðà và nữ phái
Phần 4
[6] Vài giải đáp và va chạm của Sa-môn A Nậu Lâu Ðà
[7] Tiền kiếp A Nậu Lâu Ðà
[8] A Nậu Lâu Ðà sau khi Phật nhập diệt

</b>Bài thơ cúng dường THÁNH TĂNG A NẬU LÂU ÐÀ

"Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammà Sambuddhassa".
Thành kính đảnh lễ đấng Toàn Giác
Ngài là bậc thân khẩu ý trọn lành, không còn luân hồi trong tam giới nữa.


Lời Nói Ðầu


Như chúng ta đã biết: Ðức Phật có năm thượng thủ đại Tôn đồ, sắp theo thứ tự là:
1. Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa).
2. Xá Lợi Phất (Sàrìputta).
3. Ðại Mục Kiền Liên (Mahà Moggallàna).
4. A Nậu Lâu Ðà (Anuruddha), và
5. A Nan Ðà (Ànanda).
Lịch sử của bốn vị: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, và đệ ngũ Tôn đồ kể trên, chúng tôi đã tùy duyên phiên dịch ra Việt ngữ, và phổ biến rồi.
Bây giờ đến sử tích của vị đại Tôn đồ thứ tư, tức thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà, một Thánh nhân rất thâm hậu trong thiền pháp, nhất là Ngài đã đắc "Thiên Nhãn Thông" siêu đẳng (Dibbacakkhu), nhờ thuần thục tuyệt diệu trong Chánh Ðịnh, trước khi đạt đến cứu cánh giải thoát.
Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà cũng là Sa-môn có đủ công phu tu luyện để dùng "Thiên Nhãn" theo dõi "Tịnh Quang" của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni khi đấng Toàn Giác thanh thoát xả báo thân, an nghỉ Niết Bàn.
Lúc còn sinh tiền, Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà tuy là người ít nói, ít tiếp xúc với các hàng tứ chúng, nhưng ông lại là một Sa-môn dễ hòa hợp với chư huynh đệ nhất, ngay cả trong các trường hợp đang bế môn tu luyện ở những nơi thanh vắng. Ðọc qua sử tích của Thánh Tăng, chúng ta không thể không chú ý đến đặc điểm này.
Do đó, cuộc đời của Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà đáng coi là một tấm gương sáng cho hậu thế noi theo. Vì quả lành noi gương ấy cũng chẳng kém gì hạnh phúc của sự thực hành đúng lời Phật dạy.
Chúng tôi cố gắng làm công tác của một cư sĩ nghiên cứu Phật học, và góp phần vào tủ sách dịch thuật. Khả năng của chúng tôi quả thật còn tương đối, khi đứng trước một rừng chân lý Phật giáo vi diệu mênh mông. Nếu có điều chi sơ sót, ngưỡng mong chư vị học giả niệm tình bổ túc cho. Chúng tôi vô cùng cảm tạ .
Quả phúc do sự phiên dịch này thật tế không phải hoàn toàn qui về dịch giả, mà là của tất cả những ai hằng giúp đỡ, sưu tầm tài liệu, hùn phước ấn tống, và nhất là do công đức của hai học giả Hellmuth Hecker và Nyànaponika Thera đã có công đi tiên phong trong việc tra cứu rất sâu vào Tam Tạng Kinh Ðiển chánh thống, bằng chữ Pàli và chữ Sanskrit, để biên soạn và chuyển ngữ ra hai bảng tiếng Ðức và tiếng Anh.
Dịch giả chân thành dâng hiến phước lành này đến hai vị tiền bối ấy, và cũng không quên hồi hướng công đức ấn tống đồng đều đến tất cả Phật tử hữu duyên, đã góp phần trong việc hoằng dương chánh pháp.
Một phần phước khác, dịch giả xin thành tâm cúng dường đến song đấng sinh thành, và các bậc ân nhân, thầy tổ của dịch giả.
Nguyện cho dân tộc Việt Nam nói riêng, và toàn thể nhân loại nói chung, đừng oan trái lẫn nhau, và hằng sống trong ánh đạo TỪ BI VÔ LƯỢNG của Ðức Phật.
Dịch giả Nguyễn Ðiều


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 27 2015, 10:12 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 27 2015, 10:04 AM
Gửi vào: #97


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Phần 2

[III]
A NẬU LÂU ÐÀ TIẾN LÊN THÁNH HẠNH A LA HÁN


Sau khi đắc được Thiên Nhãn Thông và các thần thông khác, nhờ tinh tấn thực hành Thiền định (Samàdhi), nhất là đã vượt lên các bậc Thiền Hữu sắc, A Nậu Lâu Ðà nguyện nhất tâm phát triển xa hơn nữa công phu thiền pháp của mình, hầu sớm đạt đến đạo quả giải thoát A-la-hán (Arahatta). Nhưng trước khi chứng thật cứu cánh ấy, ông đã phải rèn luyện thánh hạnh và đấu tranh rất nhiều với bản thân, để tẩy trừ mọi phiền não vi tế trong tâm, nhất là căn tính cuối cùng của cái "ta" là "không muốn hành động theo ý của người khác". Có ba thuật sự gương mẫu đáng kể lại cho đời sau là:
Một lần nọ, Thiền sư A Nậu Lâu Ðà tịnh tu cùng với Sa-môn Nandiya, vốn là anh em chú bác trong hoàng tộc, (theo Tôn Túc Kệ Ngôn câu 25: Theragàthà 25), và Tỳ-khưu Kimbila, em ruột của ông, (theo Tôn Túc Kệ Ngôn câu 118, và Tăng Chi A Hàm số 5/201, 6/40, 7/56, cũng như Tạp A Hàm số 54/10 = Theragàthà 118, Anguttara Nikàya 5/201, 6/40, 7/56, Samyutta 54/10).
Cả ba vị đã đến hành thiền giữa ngôi rừng phía Ðông vườn Trúc Lâm, một cách hoàn toàn "cô độc". Ý nói tuy họ có mặt đến ba người trong cùng một hoang địa. Nhưng hằng ngày họ chẳng bao giờ gặp nhau. Trình độ thuần thục thiền pháp của họ đã hoàn toàn vững chắc, khiến cả ba hành giả thật không cần sự hỗ trợ qua lại. Tuy nhiên, luật cộng đồng chẳng cho phép họ sống biền biệt, nên họ phải ước hẹn cứ mười lăm ngày hội họp một lần, để làm lễ "phát lồ" (sám hối) và luận đạo. Sự hội họp của họ cũng an lạc, hòa thuận một cách đặc biệt, đến đỗi biến thành ba huyền thoại phạm hạnh, loan truyền ra khắp vùng xung quanh, khiến cho ai nghe cũng khen ngợi! Không như nhóm Tăng sĩ luôn luôn gây gổ, chia rẽ nhau ở Kosambì!
Khi đức Phật đến thăm ba đệ tử ấy và hỏi Sa-môn A Nậu Lâu Ðà nhờ pháp gì mà ông sống hòa thuận một cách tuyệt đối với hai huynh đệ, thì được ông trả lời:
- Bạch đức Thế Tôn! Thật vậy, chúng đệ tử ba Tỳ-khưu ẩn tu trong ngôi rừng này, hằng ngày hành động qua thân, khẩu hay ý, luôn luôn dựa trên thiện pháp quên mình, dẹp bỏ cái "ngã" và làm mọi cách đem an vui đến những người xung quanh. Pháp ấy không bắt buộc chúng đệ tử phải thường xuyên gặp nhau bằng xương bằng thịt, mà vẫn gặp nhau bằng tâm hồn ôn hòa, từ ái. Không có một hành động, lời nói hay ý nghĩ nào của chúng đệ tử ba người mà bắt nguồn từ sự bất thiện cảm với đồng đạo, có thể phát sinh. Thành thử sự bình an và hòa thuận là một tịnh quả tất nhiên. Mỗi cá nhân trong chúng đệ tử luôn luôn tâm niệm rằng: "Khi ta muốn làm một điều gì, thì ta hãy dẹp cái điều ta muốn sang một bên, và ta phải cố gắng làm những điều mà huynh đệ ta muốn". Rồi chúng đệ tử cả ba đều hành động như thế, nên an vui vô cùng. Có thể nói là chúng đệ tử tuy ba người, nhưng chỉ có một tâm hồn thiện hạnh nằm trong ba thân thể tạm bợ này.
Tiếp theo đức Phật hỏi A Nậu Lâu Ðà về tiến bộ tu tập của cả ba Sa-môn ra sao, xem họ có thành quả tâm linh nào đáng kể, vượt khỏi khả năng trung bình phàm tình hay không, thì được A Nậu Lâu Ðà trả lời:
- Bạch đức Thế Tôn! Chúng đệ tử đã gặp nhiều chướng ngại pháp, nhất là "nội ma" trong tâm luôn luôn quấy nhiễu, nhưng nhờ tinh tấn và kiên trì dẹp bỏ cái "ta" mà chúng đệ tử đã vượt qua. Giờ đây chúng đệ tử đã củng cố được linh lực của trí tuệ, chứng thật sự bừng sáng của nội tâm - Obhàsa Sannà (1), thấy rõ nhiều "hình thái" vô cùng quang minh, kỳ diệu và vi tế - Rùpànaô Dassana (2) .
Nhưng bạch đức Thế Tôn! Kết quả siêu phàm ấy, chúng đệ tử chỉ chứng đắc trong khi hành thiền mà thôi, chứ bình thường không thể vận dụng được! Và chúng đệ tử không hiểu tại sao? Yêu cầu đức Bổn Sư chỉ dạy.
Ðức Phật liền giảng giải rằng:
- Một hành giả khi tham thiền, đối diện với trạng thái tâm linh biến hiện có điều kiện tiên lập như thế, mà muốn vượt qua thì phải tinh tấn loại trừ mười một Tùy phiền não (Ekadasùpakkilesà).
- Nầy A Nậu Lâu Ðà! Vậy chứ mười một Tùy phiền não ấy là gì? Là Hoang mang (hồ nghi), Lơ đãng (phóng tâm), Mỏi mệt (buồn ngủ) và Lo âu (hồi hộp) (3) v.v... Bốn chướng ngại pháp đầu tiên này nếu hành giả không vượt qua thì chẳng thể tu thiền được! Còn ngược lại nếu họ chiến thắng nổi chúng, thì bảy Tùy phiền não tiếp theo sẽ lần lượt phát sanh, hễ cái nầy bị loại thì cái kia hiện ra, như một hàng số lũy tiến, số sau là kết tập của số trước.
- Này A Nậu Lâu Ðà! Ví thử có một hành giả, nhờ tinh tấn tu thiền mà vượt thắng được bốn Tùy phiền não đầu tiên nói trên, thì họ sẽ thụ chứng rõ rệt một trạng thái Khoái cảm thuộc về thân thể rất đáng ưa thích. Sự "khoái cảm" ấy sẽ nhập vào ý thức, biến thành một thứ Phỉ lạc làm cho tâm tư nhẹ nhàng, ngây ngất, ngây ngất đến độ họ có thể bị mắc dính trong "phỉ lạc", không muốn mất "phỉ lạc". Tình trạng này làm cho nhiều thiền giả bị dừng lại ở đó, không tiến xa trên con đường tu thiền. Nhưng nếu có hành giả dũng mãnh tinh tấn hơn nữa, thì họ phải sử dụng một thiền lực Cực tịnh, tách rời mọi sự ưa thích phỉ lạc, để đưa tâm linh quán trú vào đề mục. Từ đó "thiền lực cực tịnh" ấy sẽ đẩy tâm tư của thiền giả vào một trạng thái mới gọi là Tán thức, tức là khi vượt qua giai đoạn "phỉ lạc", thiền giả vốn dùng quá nhiều "định lực" (Cực tịnh), nên thiền tâm lại rơi vào trong tình trạng "tán thức", nghĩa là như muốn bay bổng, hụt hẩng, như muốn khinh thân vậy. Và vì cường độ cảm nhận ngoại trần ở tình trạng "tán thức" này rất yếu, nhường chỗ cho những tỉnh niệm hướng thượng, nhất là hướng về Thiên giới, hay Phi địa tiên, hoặc hội tụ để phát sinh "nội quang" trong tâm thiền giả.
Nhưng này A Nậu Lâu Ðà! Khoảng giữa "Cực tịnh" và "Tán thức" lại có một giai đoạn mà thiền tâm của hành giả hội tụ ở nhiều "cảnh sắc" khác nhau, thường là thiền tâm ấy vừa hội tụ vừa tìm kiếm những cảnh sắc thích hợp để thử an trú nơi đó, nên cái " nội quang" nói trên chợt xuất hiện, chợt biến mất, và lập lại nhiều lần, khiến cho hành giả sinh lòng ham muốn nắm giữ. Kết quả, có một Tùy phiền não thứ chín xuất hiện là Dự tưởng. "Dự tưởng" này sẽ dẫn thiền tâm của hành giả đến nhiều "Nhiễu ấn" chập chờn, để cuối cùng chỉ có một "Ấn pháp" thích hợp ở lại để làm điểm tựa cho thiền tâm. Và sự thỏa mãn của hành giả cũng sẽ phát khởi để ôm chặt "Ấn pháp", rồi gia tăng tinh tấn. Mức độ gia tăng tinh tấn của Tùy phiền não thứ mười này sẵn được thỏa mãn của hành giả hỗ trợ, nên rất mạnh, có thể đưa đến Tùy phiền não thứ mười một là Chấp niệm.
Và này A Nậu Lâu Ðà! Một thiền giả khi rơi vào trong Tùy phiền não "Chấp niệm" mà không biết áp dụng pháp Tứ Vô Lượng Tâm, nhất là pháp Vô Lượng Tâm Xả, để giải trừ, thì sẽ bị lầm lạc.
(Lời thêm của dịch giả: Ðể cho quí vị dễ nhớ hơn, chúng tôi xin kê khai vắn tắt, tên của mười một Tùy phiền não theo thứ tự như sau: 1/ Hoang mang, 2/ Lơ đãng, 3/ Mỏi mệt, 4/ Lo âu, 5/ Khoái cảm, 6/ Phỉ lạc, 7/ Cực tịnh, 8/ Tán thức, 9/ Dự tưởng, 10/ Nhiễu ấn, 11/ Chấp niệm. Ngoài ra, ba ký số (1), (2) trong lời thưa của A Nậu Lâu Ðà và (3) trong lời giảng của đức Phật, cũng xin chú thích như sau:
(1) Sự bừng sáng trong tâm: Obhàsa Sannà, ám chỉ những ảnh tượng có hào quang. Nhưng theo chú giải, trạng thái ấy còn có tên là Parikammobhàsa, tức là thiền giả đã đạt được Cận định, gần đắc vào Nhất Thiền, nên mới có ánh sáng như thế.
(2) Rùpànâ Dassanâ ám chỉ sự thấy tương đương với bậc có Thiên Nhãn Thông.
(3) Lo âu là Tùy phiền não thứ tư, ám chỉ phản ứng của hành giả trước các quái tượng thường hiện ra, có đặc tính gây sợ sệt cho những ai tu thiền, đã cố gắng vượt qua ba Tùy phiền não đầu. Các quái tượng này hầu hết không phải do ma chướng trong tâm thiền giả hiển lộng, mà là do những chúng sanh vô hình, như ngạ quỉ hay A tu la chẳng hạn, sống trong môi trường của người tu thiền, đồng thời tịnh tâm của người tu thiền cũng thuần thục, có thể "giao kiến" được với những chúng sanh vô hình đó.)
Theo kinh Trung A Hàm số 128 (Majjhima Nikàya 128) thì khi ấy đức Phật đã giảng giải rõ mười một Tùy phiền não luôn luôn xảy ra cho một thiền giả nhiều quyết tâm, nhẫn nại và tinh tấn, đúng như kinh nghiệm bản thân của Phật đã từng trải qua, chứ không phải do Ngài dùng Thánh tuệ của một bậc Toàn Giác mà biết được.
Phần cuối, đức Phật lại dạy cho A Nậu Lâu Ðà cách áp dụng Vô Lượng Tâm Xả để giải trừ Tùy phiền não thứ mười một, và cũng là "Tùy phiền não chót" trong các chướng ngại pháp, hầu giúp ông tiến lên Thánh hạnh một cách vững chắc. Ðoạn đức Phật chúc lành cho ba đệ tử tinh tấn tu hành, rồi Ngài trở lại Trúc Lâm tịnh xá...
A Nậu Lâu Ðà, sau đó tuy đã tiến triển mỗi ngày một tinh vi trong các bậc thiền, và dù hoàn toàn thuần thục trong nhiều Tịnh pháp Hữu sắc, thế mà một hôm ông đã đến gặp Trưởng lão Xá Lợi Phất (Sàrìputta) và nói rằng:
- Này đạo huynh Xá Lợi Phất! Bằng "con mắt thanh tịnh" (Thiên Nhãn) đã được định lực rèn luyện, trở nên siêu phàm, tiểu đệ thường nhìn thấy hàng ngàn vạn chiều vũ trụ. Nhất thời nguyện lực của tiểu đệ rất hùng hậu và bất thối. Tinh thần của tiểu đệ luôn luôn giác tỉnh và sáng tỏ. Thể xác của tiểu đệ đang lành mạnh và không bị kích thích bởi bất cứ trần cảnh gì. Trí nhớ của tiểu đệ có thể gợi lại dễ dàng và rõ rệt trước mọi đề mục. Thế nhưng tâm linh của tiểu đệ hiện tại vẫn chưa được tự do, giải thoát khỏi những phiền não vi tế là nghĩa làm sao?
Trưởng lão Xá Lợi Phất liền trả lời:
- Này hiền đệ A Nậu Lâu Ðà! Khi hiền đệ nghĩ rằng hiền đệ đã đắc "Thiên Nhãn", có thể nhìn thấy ngàn vạn chiều vũ trụ, tức là sự tự phụ đang hiện diện trong tâm hiền đệ! Khi hiền đệ nghĩ rằng nguyện lực của hiền đệ đang bất chuyển, tinh thần của hiền đệ luôn luôn giác tỉnh, thân thể của hiền đệ vẫn lành mạnh, trí nhớ của hiền đệ hằng minh mẫn, tức là sự loạn động vì tự mãn (một loại tư duy ràng buộc) đang có mặt trong tâm hiền đệ đấy. Khi hiền đệ nghĩ rằng tâm linh của mình không được tự do với những phiền não vi tế, tức là hiền đệ bị chướng ngại pháp Hồ nghi quấy nhiễu. Tốt hơn hiền đệ nên xua đuổi ba thứ tư tưởng bất thiện ấy đi, rồi dồn hết mọi tư duy vào các pháp Vô thường, Khổ não và Vô ngã, nhất là dồn chú ý vào cứu cánh "Bất hữu", "Bất thủ", "Vô sinh", "Vô diệt", "Niết bàn".
Sau khi nghe những lời hướng dẫn của Trưởng lão Xá Lợi Phất (Sàrìputta), A Nậu Lâu Ðà (Anuruddha) liền trở về tịnh cốc, tiếp tục cuộc sống cô độc, tinh tấn hành thiền, cố gắng loại trừ ba chướng ngại ấy trong tâm. (theo Anguttara Nikàya 3: 128 - Tăng Chi A Hàm số 3: 128).
Một lần khác, A Nậu Lâu Ðà ẩn tu trong lãnh thổ bộ lạc Cetiya, nằm về hướng Ðông vườn Trúc Lâm. Một hôm trong khi đang hành thiền thì thiện tư duy sau đây bỗng hiện lên trong tâm ông:
- Bậc Ðại sĩ (Mahàpurisavitakka) là người phải có đời sống gồm đủ bảy phẩm cách cao thượng là: 1/ Thanh đạm, 2/ Tri túc, 3/ Ẩn dật, 4/ Quả cảm, 5/ Cảnh giác, 6/ Ðịnh tâm, 7/ Trí tuệ. Như thế một Sa-môn trong Phật giáo không nên thiếu bảy đức tính này.
Ðức Phật dùng Tha Tâm Thông biết rõ ý nghĩ ấy trong tâm vị Tỳ-khưu em họ, và cũng là đệ tử. Ngài liền hiện đến trước mặt A Nậu Lâu Ðà để tiếp độ và khen ngợi rằng:
- Này A Nậu Lâu Ðà! Lành thay là điều ông đang tư duy! Ông đã ngưỡng mộ bảy đức tính mà một vĩ nhân không thể thiếu được như thế nào, thì trong thiền pháp của Như Lai, một Sa-môn hành giả, chẳng những không thể thiếu bảy đức tánh ấy, mà họ còn phải có thêm đức tính thứ tám là Không phóng tâm vào trần cảnh nữa! Tỳ-khưu nào là người đã nghe hiểu giáo pháp của bậc Toàn Giác, mà còn có khuynh hướng để tâm duyên theo những thỏa mãn phàm tình, thì Tỳ-khưu ấy thật không xứng đáng làm đệ tử Phật dạy.
(Nhóm chữ "không phóng tâm vào trần cảnh" trên đây ám chỉ từ ngữ (Pàli) trong kinh Phật là "Nippapanca", tức không có khuynh hướng mắc dính vào Ngũ trần: sắc, thinh, hương, vị, và xúc. Hay sự giải thoát dứt khoát khỏi tham luyến xác thân hữu hình, đa tính và phức tạp của con người. Rồi "Hữu Dư Niết Bàn" bản chất vốn là trạng thái giải thoát khỏi khổ thân hiện tại nầy vậy! Ngược lại, cũng trong kinh Pàli, chữ "Papanca", không có tiếp đầu ngữ "NIP" có nghĩa là tâm mắc dính, đắm chìm trong các dục lạc ngũ trần, và chịu vô số thống khổ, tương đương với đặc tính đa dạng và phức tạp của những chúng sanh hữu thể luân hồi).
Ðức Phật còn nhấn mạnh với A Nậu Lâu Ðà rằng:
- Nếu trong khi hành thiền, phát triển được tám đức tánh ấy mà ông có thể đạt được Tứ Thiền dễ dàng, theo ý muốn, thì từ đó ông sẽ không còn bị Ngũ trần (sắc, thinh, hương, vị, và xúc) ảnh hưởng tới tâm nữa. Ðời sống thể xác của ông lúc ấy cũng sẽ an vui, tri túc với bốn món vật dụng tối thiểu là y phục, thực phẩm, chỗ ở, và thuốc trị bệnh... Trạng thái này có thể so sánh như một người trần tục hưởng thụ những xa xỉ phẩm vậy. Bốn món vật dụng đạm bạc ấy hằng ngày không làm cho ông mắc dính Ngũ trần, trái lại nhờ nó che chở thân thể mà ông có thể tinh tấn hành thiền để đạt đến đích giải thoát cao thượng.
Lúc đức Phật từ giã vị đệ tử nầy, Ngài cũng khuyên A Nậu Lâu Ðà nên tiếp tục ẩn tu trong vùng phía Ðông vườn Trúc Lâm. A Nậu Lâu Ðà cung kính vâng lời, và ông đã tịnh nhập một mùa an cư kiết hạ viên mãn ở đó. Theo kinh Tăng Chi A Hàm số 3/30 (Anguttara Nikàya 3: 30), thì A Nậu Lâu Ðà nhờ tinh tấn vượt bực, nên sau đó chẳng bao lâu ông đắc quả A-la-hán (Arahatta). Thành thử, lần Phật đến hỗ trợ ông ấy, cũng là lần tiếp độ sau cùng, bởi một Thánh nhân A-la-hán là bậc đã biến thành "Vô học", "Vô nhiễm" và "Bất đọa" vậy!
Ngay khi vừa đắc quả A-la-hán, Thánh nhân A Nậu Lâu Ðà đã ứng khẩu ngâm mấy câu kệ, cúng dường đức Phật rằng:
"Người đã biết tận tâm tư đệ tử
Ðức Bổn Sư, bậc Siêu Thế đến đây
Bằng linh ý, bằng khinh thân bí tự
Người khai quang tâm tánh cá nhân nầy.

Phật xuất hiện khi thiền tâm cần học
Ðem phúc ngôn cao ngất chín từng mây
Dạy cho thấy căn ngũ trần ô trọc
Diệt tư duy [1] dứt sinh tử đọa đày

Giờ đệ tử trong xứ thiền an trú
Không phân tâm ra ngoại cảnh vần xoay
Tuệ giải thoát và Tam Thông [2] tích tụ
Phật ngôn kia hành đắc chữ Không nầy.
(N. Ð. thoát dịch ra văn vần, theo các Tôn Túc Kệ Ngôn số 901-903 trong Tăng Chi A Hàm 8:0 = Theragàthà 901-903, Anguttara Nikàya 8:30).
[1] ] Tư duy ở đây ám chỉ sự vừa lòng, và trông đợi những gì phàm tình ưa thích, kể cả các kết quả tu thiền.
[2] Tam Thông là: 1/ Thiên Nhãn Thông (thấy hết mọi chúng sanh, vô hình lẫn hữu hình), 2/ Túc Mạng Thông (nhớ tất cả các tiền kiếp), 3/ Lậu Tận Thông (diệt tận phiền não của chính mình).


[IV]
A NẬU LÂU ÐÀ VÀ THÁNH PHÁP TỨ NIỆM XỨ (Catu Satipatthàna)

Con đường tu luyện viên dung của A Nậu Lâu Ðà có hai sắc thái nổi bật là thần thông tuyệt đỉnh (nhờ Thiền định) và giải thoát rốt ráo (nhờ pháp Tứ Niệm Xứ = Catu Satipatthàna).
Trong ba chương trước, chúng tôi đã đề cập về sự đắc các bậc Thiền định, đạt được nhiều loại thần thông hạn hữu, nhất là Thiên Nhãn Thông, của Thánh Tăng rồi. Bây giờ xin nói qua pháp Tứ Niệm Xứ mà ông cũng là bậc có khả năng rèn luyện thành công siêu đẳng.
Sách chép: Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà nhiều lần được hỏi nhờ đâu ông có một sự hiểu biết vô cùng "vĩ đại" (ám chỉ Linh tuệ trực giác: Mahàbhinnatà), bao gồm cả năm loại năng lực siêu phàm (như thấy xa vạn dặm, ngửi xa vạn dặm, nếm xa vạn dặm, và tàng hình, biến hiện thân xác ở bất cứ nơi nào mình muốn, để tiếp xúc với đối tượng) - Cùng phẩm cách tuyệt đỉnh thứ sáu là đắc quả A-la-hán, giải thoát?
Trong mỗi trường hợp A Nậu Lâu Ðà luôn luôn trả lời rằng:
- Bần Tăng nhờ thực hành thiền định không gián đoạn, và sống với bốn Thánh Pháp Niệm Xứ (Satipatthàna) mà đạt được một số Thần Thông và Thánh quả giải thoát". (theo Tạp A Hàm số 47/28, 52/3, 6 và 11).
Riêng các khả năng siêu phàm, nhất là khả năng nhớ lại đến hàng ngàn chu kỳ đại kiếp trước, thì câu trả lời của Thánh Tăng có nội dung tương tự, được tìm thấy trong hai đoạn kinh Tạp A Hàm số 52/12 và 52/11 (Samyutta Nikàya 52/12, 52/11).
Và để đề cao sự diệu dụng của riêng pháp Tứ Niệm Xứ, Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà còn nói:
- Niệm Thân, niệm Thọ, niệm Tâm, và niệm Pháp. Bốn thiền tác này hằng giúp cho bần Tăng kiểm soát được những phản ứng vi tế nằm sâu trong cảm thức hướng thiện, Ariya Iddhi.
(Chữ "Ariya Iddhi", học giả Hellmuth Hecker dịch ra Anh ngữ là: Emotive reaction, called "The power of the noble ones").
Tiếp theo, A Nậu Lâu Ðà còn giải rõ:
- Nhờ bốn Niệm ấy mà bần Tăng có thể giác tịnh, thấy được tâm nào là tâm thúc đẩy tạo nghiệp, và tâm nào là tâm không thúc đẩy tạo nghiệp, rồi bần Tăng vô tư, khách quan, xem nó như nhau, bình đẳng, và thực hiện pháp Xả. (theo Tạp A Hàm số 52/1: Samyutta Nikàya 52/1).
(Quí vị nào muốn nghiên cứu xa hơn về "Thiền Tâm Bình Ðẳng, và Pháp Xả" nói trên, hãy đọc cuốn "The Heart of The Buddhist Meditation" của Nyànaponika, do London Rider và Co. , xuất bản năm 1962, nhất là trang 181, đoạn 45).
Xa hơn nữa, Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thực hành Tứ Niệm Xứ như sau:
- Bậc xuất gia mà chểnh mảng việc tu hành pháp Tứ Niệm Xứ thì chẳng khác nào họ không muốn tiến bước trên con đường Bát Chánh. (theo Tạp A Hàm số 52/2). Vì rằng bốn Thánh Pháp Niệm Xứ này là ngọn đuốc soi đường, đưa hành giả đến mục tiêu cuối cùng giải thoát, chấm dứt mọi khát vọng, và tham lam. (theo Tạp A Hàm số 52/7: Samyutta Nikàya 52/7). Ví như dòng nước con sông Hằng, chảy qua Trung Ấn, không thể nào không ra biển, thì một Sa-môn khi thực hành Thánh pháp Tứ Niệm Xứ, cũng không thể nào rời xa đời sống phạm hạnh, thanh tịnh, để trở lại kiếp sống đau khổ trần tục. (theo Tạp A Hàm số 52/8).
Một lần nọ, A Nậu Lâu Ðà bị bệnh nặng, ông đã làm cho tất cả đồng đạo vô cùng ngạc nhiên về pháp thanh tịnh tâm thức của ông. Mức độ đau đớn thân xác do thân bệnh ông gây ra, nếu là người khác thì phải lăn lộn, quằn quại, hoặc ai gan lì lắm cũng phải run rẩy tay chân, nhăn nhó mặt mày. Thế mà A Nậu Lâu Ðà vẫn điềm tĩnh dịu hòa. Ông thản nhiên giữ tâm trong pháp thiền, như một nhà điêu khắc lộ thiên chăm chú tô điểm tác phẩm duy nhất của mình, mà không biết gì đến mưa nắng gay gắt, hay gió bão xung quanh. Ðược hỏi nhờ đâu ông có thể chịu nổi những khổ bệnh tàn khốc như thế, A Nậu Lâu Ðà liền trả lời:
- Bần Tăng nhờ để tâm thường trú trong Thiền Pháp Tứ Niệm Xứ." (theo Tạp A Hàm số 52/10).
Một hôm, Trưởng lão Xá Lợi Phất (Sàrìputta) đến thăm A Nậu Lâu Ðà vào buổi tối, và hỏi vị sư đệ này hiện tại đang thực hành thiền pháp gì, mà nét mặt ông luôn luôn tươi tỉnh và thanh tịnh, thì được trả lời:
- Bạch đại huynh! Tiểu đệ hằng giây hằng phút thường an trú tâm thức trong thiền Tứ Niệm Xứ! Vì niệm Thân, niệm Thọ, niệm Tâm, và niệm Pháp là bốn sinh hoạt trong đời sống tinh thần của một bậc giải thoát A-la-hán.
Nhờ đó Trưởng lão Xá Lợi Phất mới biết được sự đắc quả Thánh Bất Lai của A Nậu Lâu Ðà. Trưởng lão liền tỏ lòng hoan hỷ, và tán thán công phu của vị Thánh nhân sư đệ. (theo Tạp A Hàm số 52/9: Samyutta Nikàya 52/9).
Một lần khác, cả hai Trưởng lão Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên (Sàrìputta ca Mahà Moggallàno ca), nhân cùng dịp luận đạo với A Nậu Lâu Ðà (Anuruddha), bèn hỏi ông sự khác biệt giữa một bậc đang tu tập (Sekhà) để tiến lên Thánh quả A-la-hán, với một bậc đã hoàn toàn giải thoát, không còn rèn luyện tâm tánh nữa (Asekhà), thì cũng được ông trả lời như sau:
- Bạch nhị vị đại huynh! Sự khác biệt giữa hai bậc ấy có thể nhìn thấy rất rõ ràng trong tư cách thực hành Thiền pháp Tứ Niệm Xứ của họ! Bậc thứ nhất chỉ thuần thục một phần trong Thánh Pháp này, nên phải còn tu luyện thêm nữa, còn bậc thứ hai đã hoàn toàn thụ đắc, rồi đạo quả luôn luôn nằm trong tâm tư họ, khiến họ "sống bằng Tứ Niệm Xứ" chứ không phải cố gắng thực hành Tứ Niệm Xứ nữa (theo Tạp A Hàm các số 52/4 - 52/5: Samyutta Nikàya 52/4-5).
(Lời thêm của dịch giả: Theo kinh điển Phật Giáo Nam truyền thì chữ "Sekhà" thường được dịch là bậc "Hữu học", ám chỉ ba hạng Thánh đầu tiên là Tu Ðà Hườn, Tư Ðà Hàm, và A Na Hàm. Họ còn luân hồi từ một đến bảy kiếp nữa, mới được giải thoát, nên phải tiếp tục tu tập. Nhưng chữ "Asekhà" ám chỉ Thánh quả A-la-hán, nghĩa là bậc "hết học" hay "vô học", không bị luân hồi nữa. Hạng Thánh nhân A-la-hán này, khi hết tuổi thọ là nhập Niết bàn, giải thoát, như đức Phật vậy).
Ngoài ra, A Nậu Lâu Ðà cũng tiết lộ là ông đã đắc được "Thập Ðại Thần Công" (Dasatathàgatabàla) như một vị Phật. Tuy nhiên, chú giải lại ghi rằng "Thập Ðại Thần Công" của A Nậu Lâu Ðà không hoàn toàn như "Thập Ðại Thần Công" của một bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác. (theo Tạp A Hàm số 52/15-24: Samyutta Nikàya 52/15-24).


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 27 2015, 10:14 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 27 2015, 10:06 AM
Gửi vào: #98


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35




Phần 3

[V]
A NẬU LÂU ÐÀ VÀ NỮ PHÁI


Tuy hầu hết những mẫu chuyện của A Nậu Lâu Ðà, được thuật lại trong kinh điển, chỉ liên quan đến các đề tài Thiền pháp. Nhưng cũng có một số ít bản kinh nói về thái độ, hay tư cách, của vị Thánh Tăng này, đối với nữ giới.
Chẳng hạn như một bản văn đã kể lại giai thoại sau đây:
Một lần nọ, A Nậu Lâu Ðà ẩn tu đơn độc trong một ngôi rừng vắng. Lúc ấy có một tiên nữ tên là Jàlinì, từ cõi trời thứ ba mươi ba hiện xuống, cứ quanh quẩn bên ông.
Vị tiên nữ này vốn trong kiếp trước, khi tiền thân A Nậu Lâu Ðà làm vua trời Ðế Thích (Sakka), thì nàng chính là chánh cung Hoàng hậu. Vì tuổi thọ của loài người, so với tuổi thọ của cõi Trời rất ngắn, chỉ như chốc lát trên thiên giới mà thôi. Và nghiệp lực đưa "Thiên linh" đi đầu thai xuống trần gian cũng hằng làm cho "Thiên linh" ấy quên hết mọi việc kiếp trước, nên A Nậu Lâu Ðà đã không lập tức nhận ra nàng là ai. Còn vị tiên nữ Jàlinì kia thì cứ tưởng "Ðế Thích" chồng mình, mê ngao du địa giới bị đọa, để nàng đi tìm.
Kết quả, do tính luyến ái vợ chồng trên thiên cảnh trong lòng nàng chưa dứt, nên vị tiên nữ ấy, sau khi nhận ra A Nậu Lâu Ðà là hậu thân của Ðế Thích, bèn yêu cầu ông phát nguyện làm sao cho sớm hết tuổi thọ làm người, để thoát sinh lên cõi trời, sum họp với nàng.
Giọng yêu cầu của tiên nữ rất ngọt ngào tha thiết, hòa với nét đẹp của một đệ nhất hoa khôi thiên giới giáng trần, khiến cho bất cứ phàm nhân nào nghe cũng phải say đắm, huống chi "phàm nhân" ấy từ tiền kiếp, đã có duyên phu thê với nàng!
Thế nhưng A Nậu Lâu Ðà thản nhiên trả lời bằng câu kệ rằng:
"Này tiên nữ, đừng mê lầm vướng mắc
Nơi Thiên cung còn tội báo nghiệp thân
Nàng tăm tối nên tình tiên ôm chặt
Phu thê ư, hay nhân quả xoay vần?".
Tuy nhiên, tiên nữ Jàlinì vẫn không hiểu A Nậu Lâu Ðà nói gì, bèn dịu dàng phân bua, âm thanh ngọt ngào như tiếng đàn:
"Thiếp chẳng thấy trong cõi trần hạnh phúc,
Tại sao người không bỏ xác về tiên?
Nơi đó Thiên Vương cao cả uy quyền,
Ðầy phép lạ và tuổi đời vô tận!".
A Nậu Lâu Ðà lại phải giảng giải bằng ba câu kệ ngôn nữa rằng:
"Nàng đã bị lậu vô minh che áng
Chẳng hiểu thông lời chân thật Thánh nhân
Pháp vô thường không phân biệt tiên, trần
Duy điều kiện hợp tan là định luật!

Bốn giai đọan sinh, già, và bệnh, chết
Từ điểm "không", tạo khổ, để hoàn "không"
"Thân kiến" phù du như kiếp nắng hồng
Buổi trưa nóng, buổi chiều tàn lạnh ngắt.

Nàng có biết đường luân hồi muôn mặt
Bần Tăng giờ, tâm quyết dứt đăng trình
Kiếp chót này tu, tận diệt duyên sinh,
Vượt ba cõi, chỉ vào trong "không" tịnh".
(N. Ð. Thoát dịch ra văn vần, theo Tạp A Hàm, số 9/6 Samyutta Nikàya No. 9/6).
Một lần khác, một đám tiên nữ được mệnh danh là "Thiên Thần kiều diễm", rủ nhau xuất hiện trước mặt A Nậu Lâu Ðà. Sau khi đã chào kính vị Thiền Tăng, những tiên nữ này liền thay phiên nhau khoe khoang với A Nậu Lâu Ðà rằng họ có nhiều khả năng tuyệt diệu. Chẳng hạn như họ có thể trong nháy mắt, thay đổi màu da, mái tóc. Hoặc họ có thể tự biến giọng nói thanh tao, ngọt ngào, theo ý muốn v.v... Nghĩa là họ mỗi khi ao ước hưởng thụ một khoái lạc gì, thì tức khắc họ sẽ được toại nguyện.
Ðể thử xem những điều các tiên nữ vừa khoe là thật hay giả, A Nậu Lâu Ðà liền "nói" trong tâm tư rằng: "Vậy các nàng hãy hóa ra màu xanh đi!". Thì lập tức họ hóa ra màu xanh. Rồi Thiền Tăng muốn thứ lại một vài lần nữa, ông "đổi ý" bảo thầm với các tiên nữ chuyển ra màu đỏ, màu vàng, màu tím v.v... Thì họ cũng đều làm được. Ðặc biệt hơn, là họ còn có "Tha Tâm Thông", biết rõ những gì loài người đang suy nghi.
Chứng kiến sự thật ấy, Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà liền cảnh giác, để tâm hồn thanh tịnh, an trú vào thiền pháp "Phi Tưởng", không cho tâm mình tư duy bất cứ một chuyện gì cả, nên ông ngồi im.
Lúc bấy giờ các tiên nữ cảm thấy vô cùng sung sướng (vì đã chứng minh được phép thuật của họ). Ðoạn các tiên nữ vui thích, bắt đầu ca hát và khiêu vũ, xung quanh vị Thiền Tăng. Lời lẽ và điệu bộ vô cùng hấp dẫn, không kể là một phàm nhân, ngay cả các tiên nam trên cõi trời Dục giới nhìn thấy, cũng phải say đắm, mê mẫn!
Thế mà A Nậu Lâu Ðà vẫn ngồi im, bất động. Vì ông đã an trú vững chắc Lục thức vào trong một cõi thiền. (Lục thức là Nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức). Nhất thời tuy Lục căn của ông vẫn bình thường, nhưng "Lục thức" không có mặt để tiếp xúc với "Lục trần", nên ngoại cảnh chẳng thể nào quấy nhiễu tâm linh ông được. (Lục căn là Nhãn căn, nhĩ căn, tỵ căn, thiệt căn, thân căn, và ý căn. Lục trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, và pháp. Lục căn có thể ví như sáu cái cửa, và Lục trần là sáu đối tượng đập vào sáu cửa ấy).
Các tiên nữ, sau một hồi ca vũ, xét thấy A Nậu Lâu Ðà không chú ý đến họ. Do đó, ông cũng chẳng chiêm ngưỡng gì sắc đẹp và pháp thuật kỳ diệu của họ, nên tất cả tự động biến mất, quay về Thiên giới.! (theo Tạp A Hàm số 9/6: Samyutta Nikàya 9/6).
Nếu chúng ta nhớ lại thời A Nậu Lâu Ðà còn làm một Hoàng tử đẹp trai, sống trong nhung lụa vương cung, hằng ngày được nuông chìu, hầu hạ bằng ăn sung, mặc sướng, gái đẹp và nhạc hay, thì chúng ta sẽ hiểu sâu xa hơn, cái khung cảnh tiên nữ ca vũ, mơn trớn xung quanh ông, có thể là một thách đố đối với Thiền Tăng. Chính những gì ngày xưa, A Nậu Lâu Ðà đã say mê ưa thích, thì bây giờ ông lại dẹp bỏ. Phải chăng nhờ Phật giáo mà A Nậu Lâu Ðà đã sớm được giải thoát? Nếu không do thiện hạnh đã gieo trồng từ nhiều kiếp trước, ông có thể sẽ bị vướng mắc vào trong các lạc thú trên những cõi trời đầy quyền uy và hạnh phúc (Ám chỉ các tầng trời từ thứ ba mươi ba trở lên).
A Nậu Lâu Ðà sau đó nghĩ rằng sự xuất hiện cám dỗ của các tiên nữ vừa qua, đáng nhắc lại như một đề tài, để cho đức Phật chỉ dạy. Vì vậy, khi gặp Phật, ông đã tường thuật đầy đủ câu chuyện, và đặt câu hỏi rằng:
- Bạch đức Bổn Sư! Nhờ những đức hạnh gì, mà một người đàn bà có thể được sinh lên cái cõi Nữ Thần đẹp nhất Thiên giới?
A Nậu Lâu Ðà nêu câu hỏi ấy, không phải vì lòng còn ưa thích sắc đẹp của các tiên nữ, mà vì tính tò mò, muốn biết rõ nhân lành nào đã dẫn đến một kết quả đặc biệt như thế!
Ðức Phật từ bi trả lời:
- Này A Nậu Lâu Ðà! Có tám phẩm hạnh khiến cho một nữ nhân sẽ thoát sinh lên cõi trời mỹ sắc ấy là:
1. Người đàn bà sau khi lập gia đình, phải có nết hạnh chìu chuộng và thân ái đối với chồng.
2. Người nữ phải luôn luôn tỏ ra lịch sự, và hiếu khách đối với những thân nhân mà chồng mình quí mến, nhất là cha mẹ chồng và các hàng phạm hạnh đạo sĩ.
3. Người nữ phải chu toàn mọi việc gia đình một cách cẩn thận và siêng năng.
4. Người nữ phải biết chăm sóc và hướng dẫn kẻ ăn người ở trong nhà một cách có kế hoạch.
5. Người nữ phải có tính không phung phí tài sản của chồng, và biết cách gìn giữ an toàn.
6. Người nữ không thích cờ bạc rượu chè, và làm mọi cách để tránh cho chồng khỏi mắc phải tật rượu chè cờ bạc, nguyên nhân làm cho chồng sạt nghiệp.
7. Người nữ nếu không "xuất gia" thì phải biết qui y, nương nhờ nơi Tam bảo, và nhất là nghiêm giữ năm giới cấm, và
8. Người nữ phải có lòng rộng lượng, thương người, cũng như biết chia sớt sự sống của mình cho những ai đói rách (theo Tăng Chi A Hàm số 8/46 Anguttara Nikàya 8/46).
Ngoài hai câu chuyện nói trên, liên quan đến các tiên nữ hiện ra thân người trước mặt A Nậu Lâu Ðà, còn có nhiều điển tích trong kinh sách, thuật lại khả năng dùng "Thần nhãn" của ông, để nhìn thấy những "linh hồn nữ" thoát sinh lên Thiên giới, hay bị đọa xuống các cảnh khổ (nhất là cõi địa ngục) nhu thế nào.
Một lần nọ A Nậu Lâu Ðà cũng hỏi Phật, người nữ vì phạm trọng tội gì, mà họ phải sinh vào địa ngục, thì được Phật trả lời rằng:
"Này A Nậu Lâu Ðà! Có năm nguyên nhân làm cho một người đàn bà sẽ bị sa đọa là:
1. Thiếu niềm tin trong chánh pháp.
2. Không biết hỗ thẹn khi đã lỡ làm điều bất thiện.
3. Chẳng ghê sợ tội lỗi.
4. Người thường nóng giận.
5. Ðầu óc không bình tĩnh, dễ tin nhảm.
- Này A Nậu Lâu Ðà! Xa hơn nữa, một người đàn bà, do năm tật xấu nói trên, có thể sinh ra nhiều ác tính khác, như thù vặt, ganh tị, keo kiệt, lang chạ, vô luân lý, lười biếng, và đãng trí. Rồi khi hết tuổi thọ, họ chắc chắn sẽ bị đọa vào địa ngục.
Nhưng ngược lại, này A Nậu Lâu Ðà! Nếu một người đàn bà biết tu sửa, phát triển những đức tính đối trị như sau:
1. Vững niềm tin trong chánh pháp.
2. Tự hổ thẹn với lỗi lầm của mình.
3. Ghê sợ tội lỗi.
4. Hoà dịu không nóng giận.
5. Tinh thần bình tĩnh sáng suốt.
Rồi từ đó các nết tốt của họ cũng hiện ra, là không chấp nhất thù hằn, không ganh tị, không keo kiệt, trung thành với chồng, biết tôn trọng luân lý, siêng năng và chăm chỉ. Những đức tính ấy sẽ giúp họ tiến hóa lên thiên đường (theo Tạp A Hàm số 37/5-24: Samyutta Nikàya 37/5-24).
Và nhân một cuộc "Pháp đàm" khác, A Nậu Lâu Ðà lại thuật cho đức Phật nghe rằng: Trong đời sống hằng ngày có nhiều người đàn bà bề ngoài rất nghiêm trang, cử chỉ cũng hòa dịu, thế mà khi họ hết tuổi thọ thì ông "thấy" họ lập tức sinh vào địa ngục, là bởi làm sao?
Ðức Phật trả lời:
- Này A Nậu Lâu Ðà! Có ba nết xấu rất nguy hiểm trong một người đàn bà, luôn luôn dắt dẫn họ đi thẳng vào con đường địa ngục là: Buổi sáng họ keo kiệt, buổi trưa ham muốn của cải danh vọng, và buổi tối đòi hỏi tình dục (theo Tăng Chi A Hàm số 3/127: Anguttara Nikàya 3/127).
Ngoài ra, những thuật sự nói về kiếp trước của A Nậu Lâu Ðà cũng mô tả mối liên quan sâu xa của tiền thân ông với phái nữ. Tất cả đều chứng tỏ A Nậu Lâu Ðà, xuyên qua những kiếp xa xưa, đã được phái nữ ngưỡng mộ rất nhiều. Và trong những tiền kiếp ấy, ông đã bị đầu thai làm thú vật chỉ có một lần:
Khi ấy ông sinh làm chim câu rừng và bồ câu mái, bạn ông, đã bị một diều hâu sát hại. Ðể đối phó với nỗi khổ buồn thương, biệt ly bạn đồng hành, tiền thân làm chim câu trống của ông, đã quyết định nhịn đói cho đến khi vơi đi mọi cô độc sợ hãi.
Câu chuyện buồn thương và nhịn đói vì nhớ bạn của tiền thân làm chim ( A Nậu Lâu Ðà) đã được kể lại bằng những câu kệ sau đây:
"Trong kiếp ấy vì ham vui mà khổ
Tôi đã làm chim, cùng bạn bay xa
Gặp phải diều hâu, cái chết xóa nhòa
Một sinh mạng theo tử thần tan tác.

Sống thơ thẩn, nhớ bóng hình đã mất
Kiếp cô đơn, ngày tháng lạnh lùng trôi
Tuyệt thực cho vơi bất hạnh cuộc đời
Mong cái khổ đừng bao giờ trở lại...".
(N. Ð. thoát dịch ra văn vần, theo Túc Sinh truyện số 490)
Còn một câu chuyện tái sinh, rồi vì đa tình mê sắc, đã gây oan nghiệt, cũng xin kể ra đây, để quí vị Phật tử thấy rằng A Nậu Lâu Ðà trước khi trở thành Thánh nhân, trong vô lượng kiếp luân hồi, ông cũng đã từng có tâm ác độc, như bao nhiêu chúng sanh tội lỗi khác:
Kiếp ấy, tiền thân A Nậu Lâu Ðà sinh làm vua, trong khi săn bắn giữa rừng, ông gặp phải một người đàn bà cực đẹp, đẹp đến nỗi mà ông lập tức si tình.
Và để chiếm hữu giai nhân tuyệt sắc, nhà vua liền giương cung bắn vào chồng nàng, gây trọng thương. Nhưng người đàn bà đã không sợ sệt trước quyền uy của một vị vua, cũng như không mê mờ trước cảnh sống vương giả, mà nhà vua sẵn sàng cống hiến. Nàng mạnh dạn tố cáo sự ác độc của nhà vua, và tuyên bố quyết chết theo chồng, chứ không để tấm thân mình bị kẻ tàn bạo làm hoen ố. Kết quả, nhà vua đã thức tỉnh, rồi hối hận bỏ đi, để lại sau lưng một người đẹp, bên cạnh một nạn nhân của tính háo sắc. Cũng may là chồng người đàn bà ấy bị vết thương không ở chỗ tán mạng.
Và người đẹp trong "đoản kịch" nghiệt ngã ấy không ai khác hơn là tiền thân của Da Du Ðà La (Yasodharà), cùng chồng nàng là tiền thân đức Bồ Tát Sĩ Ðạt Ta, người mà trong kiếp chót đã viên tròn Phật quả, đồng thời trở thành Bổn Sư của Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà (theo Túc Sinh truyện số 485: Jàtaka 485).
Xong chuyện gây oán, giờ xin thuật qua chuyện tạo ân: Một kiếp nọ, tiền thân A Nậu Lâu Ðà sinh làm vua trời Ðế Thích, rồi tìm cách tiếp độ tiền thân đức Bồ Tát, tái sinh làm một nhạc sĩ, thổi tiêu rất hay, tên là Guttila.
Lúc ấy Ðế Thích dụng tâm khuyến khích cho ba trăm nữ thần giáng trần để luân vũ, theo giọng tiêu trầm bổng, réo rắt của Guttila. Và họ đã hòa điệu nhạc vũ một cách liên hoan như thế đến ba lần. Qua lần thứ tư theo lời yêu cầu của toàn thể tiên nữ, Ðế Thích đã mời và dùng thần thông đưa nhạc sĩ Guttila, lên thổi tiêu trên Thiên cảnh, do ông ngự trị.
Khi kết thúc âm nhạc, Guttila động tính tò mò bèn hỏi các nữ thần, do phước báu nào mà họ được sinh lên cõi trời, thì được trả lời rằng: "Chúng tôi sở dĩ hưởng được hạnh phúc này, là nhờ kiếp trước thường xuyên cúng dường các bậc phạm hạnh, cũng như thường xuyên nghe chánh pháp, thường xuyên bố thí đến kẻ nghèo, nhất là bố thí bằng sự kính trọng, không nóng giận và ngạo mạn.
Chỉ nghe câu trả lời ấy, nhạc sĩ Guttila (tiền thân đức Bồ Tát) liền sinh lòng thỏa thích, và hạt giống "thiên tánh" tự nhiên sống lại trong tâm hồn ông. Từ đó về sau, tuy làm người, nhưng nhạc sĩ Guttila vẫn thỉnh thoảng lên thổi tiêu trên cõi trời. (theo Túc Sinh truyện số 243: Jàtaka 243)
Trở lại đời sống Sa-môn hiện tại của A Nậu Lâu Ðà. Những đặc điểm nổi bật và những khả năng xuất chúng của ông, đã được đề cập rồi. Bây giờ xin nói qua một biến cố có liên quan đến ông, mà từ đó đức Phật đã chế ra một điều luật.
Số là A Nậu Lâu Ðà và sư đệ là Tôn giả A Nan Ðà (Ànanda) (tức hai trong số những đại đệ tử thân cận nhất của đức Phật), một hôm là duyên cớ để đức Phật chế ra hai điều luật. Cả hai điều luật ấy đều áp dụng cho Tỳ-khưu Tăng trước phái nữ. Ðiều luật thứ nhất gọi là Pàcittiya 83 (Ưng Ðối Trị 83), và A Nan Ðà là "chứng nhân" trong đề tài. Ðiều luật thứ hai do câu chuyện sau đây:
Một thời Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà có việc phải du hành xuyên qua vương quốc Kosala, hướng về thành Xá Vệ (Sàvatthì). Vào một buổi tối mưa gió, ông đến ngôi làng kia, và không tìm ra một tu viện, tịnh xá hay một nơi nào thích hợp cho các hàng đạo sĩ cư ngụ. Thiền Tăng bắt buộc phải xin tạm trú tại phòng ngoài của một quán trọ, do một người đàn bà xinh đẹp quản lý. A Nậu Lâu Ðà yên trí rằng "Phòng ngoài là một khoảng cách biệt, Tăng sĩ có thể tá túc qua đêm được".
Nhưng chẳng bao lâu sau, số người lỡ đường, xin vào ngủ trọ càng lúc càng đông, khiến cho nữ chủ nhân bỗng đổi ý mời Thiền Tăng vào nghỉ tận phòng trong. Bà viện cớ rằng ở đó yên tịnh, và giường chiếu cũng tươm tất hơn. A Nậu Lâu Ðà, trước hoàn cảnh đông người như thế vẫn trầm tĩnh, yên lặng, tức là ông mặc nhiên chấp thuận, chẳng tìm hiểu "ẩn ý" của nữ chủ quán. Tuy nhiên nữ chủ quán ấy trước khi mời Thiền Tăng vào nghỉ bên trong, bà đã quan sát thấy ông là một tu sĩ khôi ngô, tuấn tú, nên sinh lòng ái cảm.
Thế là, khi mọi người ai về giường nấy, nữ chủ nhân bèn vô tư phòng trang điểm, mình ướp đầy dầu thơm, và mang hết những nữ trang đẹp nhất. Ðoạn bà bước vào phòng A Nậu Lâu Ðà nhoẻn miệng cười, nói:
- Này đạo sĩ đáng kính! Ngài vừa hiền hậu, vừa anh tuấn, vừa khoẻ mạnh. Mới trông thấy Ngài là tiện nữ đã yêu mến rồi. Thật là một đại hạnh cho tiện nữ, nếu được Ngài xem như một hiền phụ.
A Nậu Lâu Ðà nhất lời ngồi im.
Nữ chủ quán thấy vậy tưởng lầm rằng sự "im lặng" ấy là chấp thuận. Bà lập tức mở hết đồ nữ trang, gom tất cả tiền bạc, đem để trước mặt A Nậu Lâu Ðà, rồi tiếp:
"Xin quí nhân hãy nhận lãnh những lễ vật mọn này, cho thiếp được an lòng.
Nhưng A Nậu Lâu Ðà vẫn ngồi yên. Vì Lục căn của ông lúc đó đã được an trú vững chắc trong một cõi Thiên, nên ông chẳng hay biết gì cả.
Sự "im lặng" lần thứ hai càng làm cho người đàn bà khích động. Bà vội vàng cởi hết quần áo ngoài ra, để lộ một tấm thân diễm kiều khêu gợi, rồi bắt đầu khiêu vũ xung quanh chiếc giường A Nậu Lâu Ðà.
Tuy nhiên, vị Sa-môn trước sau vẫn bất động. Ông như một tượng đá uy nghi trước mọi cám dỗ xác thịt, trước mọi vàng bạc hào nháng, và mê hoặc của cuộc đời.
Lần này nữ chủ quán bất chợt ngạc nhiên. Bà ngạc nhiên tột cùng vì nhận thấy không một cử chỉ lả lơi, mời mọc nào của bà được đối tượng chú ý! Thật là một chuyện phi thường, bởi bà rõ ràng là một giai nhân tuyệt sắc, chứ không phải là kẻ xấu xí hèn mọn.
Từ ngạc nhiên người đàn bà ngưỡng mộ. Bất thần bà quỳ xuống trước mặt A Nậu Lâu Ðà tán dương:
- Thật là thánh thiện! Thật là cao thượng! Này bậc đạo sĩ, Ngài là một siêu nhân, một Thiên thánh không lệ thuộc giác quan, mới có tư cách như thế đối với tiện nữ! Vì trên đời này từ trước tới nay, chỉ có những nam nhân giàu sang, quyền quí mang đầy của cải và danh vọng đến mọp bên chân của tiện nữ để xin xỏ tình yêu, chứ chưa bao giờ có một người thờ ơ, trước sự phủ phục của chính tiện nữ cả.
Sau đó người nữ chủ nhân quán trọ bỗng tỏ ra hối hận. Bà chậm chạp mặc tất cả quần áo, cùng đồ nữ trang trở lại, rồi một lần nữa phủ phục dưới chân A Nậu Lâu Ðà để xin Thiền Tăng tha thứ cho những hành động cám dỗ vừa qua.
Lúc bấy giờ A Nậu Lâu Ðà mới mở mắt ra và thanh tịnh xá lỗi cho người đàn bà lầm lạc. Ðồng thời ông cũng khuyên bà nên sáng suốt chỉ huy lấy tâm tư mình. Vì bà còn trẻ và rất đẹp, nếu không cẩn thận, bà có thể bị khổ lụy bởi tình yêu trong tương lai...
Tất nhiên vở kịch tình cảm bồng bột được kết thúc ở đó, và người đàn bà đã trở về phòng mình một cách yên tâm "giác ngộ".
Sáng hôm sau, mọi người đều thấy nữ chủ nhân quán trọ phong độ rất khiêm cung, nét mặt rất vui vẻ mang thức ăn điểm tâm đến cúng dường tận tay A Nậu Lâu Ðà. Vị Thiền Tăng cũng thuyết cho nàng một bài pháp khiến cho nữ chủ nhân quán trọ bỗng chốc trở thành Phật tử và tình nguyện suốt đời sống đúng theo lời Phật dạy.
A Nậu Lâu Ðà sau đó tiếp tục cuộc hành trình. Ông đến tu viện Phật giáo ở Xá Vệ (Sàvatthì) vào một buổi chiều. Khi ông thành thật kể lại chuyện ấy cho một đồng đạo nghe, thì được đức Phật kêu vào quở trách:
- Này A Nậu Lâu Ðà! Một Tỳ-khưu xuất gia theo Phật giáo không được ở đêm trong ngôi nhà do người nữ làm chủ, cũng không được ngủ chung phòng có nữ nhân! Như Lai chế ra luật cấm này kể từ ngày hôm nay, và gọi đó là giới Ưng Ðối Trị (theo Tạng Luật phẩm Vibhanga, phần điều răn Pàcittiya đọan số 6).
Thuật sự này chứng tỏ rằng Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà đã nhờ thiền pháp chỉ huy con tâm, mà ông tránh khỏi cảnh khổ làm nô lệ cho dục vọng. Sức mạnh an trụ của ông đã đánh thức và cảm hoá được người đàn bà lửa dục đang bừng cháy, khiến đương sự tỉnh ngộ, ăn năn, trở về với chánh pháp, rồi quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng. Do đó, chúng ta chúng sanh có thể nói rằng Thiền pháp của A Nậu Lâu Ðà, không những đem lại an vui cho chính ông, mà còn mang đến giác ngộ cho người khác. Người khác ở đây nếu căn cứ theo câu chuyện vừa kể là phái nữ vậy.
Tuy nhiên, khi đức Phật chế ra điều luật nói trên, Ngài đã "quở trách" A Nậu Lâu Ðà chỉ như một duyên cớ mà thôi, chứ không phải Phật chẳng tin vào đức hạnh của vị Ðại đệ tử này. Vì rằng, các phàm Tăng, tốt hơn là nên tránh trước, đừng để rơi vào một tình trạng cám dỗ không lối rút lui, như thế họ có thể gục ngã bởi dục vọng dễ dàng.
Nghĩa là đức Thế Tôn, do lòng từ bi, Ngài đã không muốn cho chư đệ tử sơ cơ, rơi vào vòng nguy hiểm. Nếu đọc kỹ trong kinh điển, chúng ta sẽ thấy rằng: Lúc sinh tiền đức Phật thường khi đã ngăn ngừa cho những phàm Tăng một số "trợ duyên" gây tội, hơn là để cho họ tự biết tự tu.
Câu chuyện định tâm của Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà ở phương Ðông, hơn 2500 năm trước, có nhiều điểm tương đồng với đức tánh của Thánh Bernard De Clairvaux trong sử Pháp. Vào đầu thế kỷ thứ XII, năm 1115: Một hôm, vị ẩn sĩ trẻ tuổi này (Bernard De Clairvaux) dừng chân nghỉ đêm trong một quán trọ. Ông đã được chủ quán dành cho một chiếc băng nơi phòng khách, vì những chỗ khác đã có người chiếm trước. Thình lình nửa đêm, cô con gái của chủ quán, vốn tính thích những nam nhân đẹp trai, tự mò đến tỏ tình. Nhưng Bernard De Clairvaux đã ôn hòa từ chối. Và vì trời rét, ông đã buộc lòng phải kéo lại tấm chăn bông, và nói với cô gái:
- Nếu cô chỉ cần một chỗ ngủ thì cái băng này có thể đủ cho hai người! Nhưng nếu cô tìm một cái gì khác thì cô sẽ thất vọng.
Sự thản nhiên hoàn toàn trước cám dỗ xác thịt của Bernard De Clairvaux đã làm cho cô gái kính trọng, và hổ thẹn bỏ đi. Ðiểm giống nhau của hai vị Thánh, một ở phương Ðông và một ở phương Tây, là họ tự chỉ huy được tâm hồn mình, rồi thuyết phục người khác bằng tinh thần và hạnh kiểm trong sạch, thánh thiện, chứ không phải bằng giảng đạo.


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 27 2015, 10:16 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 27 2015, 10:09 AM
Gửi vào: #99


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Phần 4

[VI]
VÀI GIẢI ÐÁP VÀ VA CHẠM CỦA SA-MÔN A NẬU LÂU ÐÀ


Một hôm nọ, vị kiến trúc sư (có sách gọi là viên thợ mộc cất nhà) của triều đình, tên là Pancakanga, đã mời Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà đến nhà để cúng dường thực phẩm. Ðây là một cư sĩ Phật tử mà căn cứ theo những kinh điển khác, là một người khá thông hiểu Phật giáo, và rất nghiêm túc trong việc tu hành.
Do đó, sau buổi trai Tăng, Pancakanga, liền vấn đạo Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà rằng:
- Bạch Thiền Sư! Ðệ tử có một thắc mắc vi tế, muốn nhờ Thiền Sư giảng giải. Ðó là việc một số Sa-môn đã khuyên đệ tử nên thực hành pháp thiền giải thoát bằng cách "Mở rộng tâm ra đến vô cực" (Appamanà Cetovimutti). Và một số Sa Môn khác lại khuyến khích đệ tử hãy tu pháp Thiền giải thoát cách "An trụ tâm vào một biên giới", hay một đề mục nhất định, tức là cho tâm "cô đọng" lại để "bành trướng", đồng hóa với một lãnh vực thiền định nào đó. (Mahaggatà Cetovimutti). Vậy đệ tử muốn biết hai cách tu tập thiền pháp ấy, tựu trung giống nhau hay khác nhau?
A Nậu Lâu Ðà vui vẻ phân tích rằng:
- Hai cách tu tập Thiền pháp này hoàn toàn khác nhau. Cách thứ nhất ám chỉ sự phát triển "Tứ Vô Lượng Tâm" (Brahma Vihàra), một khả năng diệu dụng, khi hành giả đã thuần thục trong các bậc Thiền (Jhàna). Tứ Vô Lượng Tâm là sự biểu lộ bốn phẩm tính, gồm: TỪ (Mettà), BI (Karunà), HỶ (Mudità), và XẢ (Upekkhà). Nhưng cách tu tập Thiền pháp thứ hai ám chỉ sự an trụ con tâm trong một Ðề mục hay "giới hạn" nào đó. Chẳng hạn như "đề mục" có thể là một trong Tứ Ðại, tức Ðất (Pathavì), Nước (Apo), Lửa (Tejo), hay Gió (Vàyo). Rồi khi tâm đã đắc định, an trú vững vàng trong các bậc Thiền (Jhàna), thì hành giả mới để tâm "hội nhập", "đồng hóa" hay "bành trướng" theo khuôn khổ hay giới hạn của đề mục ấy! Chữ Phạn gọi là trạng thái này là Patibhàgà Nimitta. Tỷ dụ Ðề mục (Kamatthàna) của hành giả là Nước, thì khi tâm của hành giả đã đắc Ðịnh, thuần thục trong các bậc Thiền rồi, "tâm định" ấy sẽ hội nhập, bành trướng và đồng hóa theo khuôn khổ hay giới hạn của tất cả nước trên mặt đất này, từ một điểm nhỏ nhất như bụi sương, cho đến toàn thể chất nước trên thế gian. Chữ Phạn đồng nghĩa với tính "Hòa nhập toàn thể" ấy là "Mahaggatà Cetovimutti".
Tình trạng hội nhập, bành trướng và đồng hoá của tâm định trong pháp thiền này, cũng không phải chỉ biểu hiện trên phương diện thể chất, dung môi, mà còn biểu hiện cả trên phương diện hình thức và sắc thái nữa. Sự đồng hóa toàn diện đó, trong kinh chữ Phạn gọi là Kasiịa.
Tiếp theo, A Nậu Lâu Ðà còn nhắc đến các loại chư thiên trên cõi trời Sắc giới (Rưpàvacara), để dẫn chứng và so sánh các bậc tu thiền khác nhau. Ông nói:
- Chư thiên trên cõi trời Sắc giới, tuy ở cùng một cảnh tượng, nhưng cũng có nhiều loại cao thấp khác nhau: Chư Thiên nào nhờ tu luyện từ kiếp trước thuần thục, mà mức độ định tâm hiện tại cao hơn, thì hào quang của họ sáng hơn. Còn vị nào mức độ định tâm tầm thường, thì hào quang của họ yếu ớt. Riêng những chư Thiên nào, trình độ định tâm đạt đến Tam Thiền, Tứ Thiền hay Ngũ Thiền, thì hào quang của họ tỏa mạnh và xa vô cùng, không thể đo lường được.
Mặt khác, sự mạnh hay yếu của các loại hào quang đó cũng chứng tỏ rằng giác linh của các hạng chư Thiên ấy rất trong sạch, hay tương đối trong sạch, thanh tịnh nhiều hay thanh tịnh ít.
Và để trả lời một câu hỏi khác, do một Sa-môn nêu ra, liên quan đến các hàng chư Thiên vừa nói, A Nậu Lâu Ðà còn xác nhận rằng ông sở dĩ biết rõ trình độ giác linh của chư Thiên chúng như thế, là bởi nhiều kiếp trước ông đã từng "sống" với họ, rồi kiếp này nhờ tu thiền tinh tấn, đắc được Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông, Tha Tâm Thông v.v... mà ông có thể "giao cảm", "nói chuyện" với họ. (theo Trung A Hàm số 127: Majjhima Nikàya 127).
(Ghi chú: Chư Thiên ở cõi trời Sắc giới, tiếng Phạn gọi là Àbhassarà Devà, có nghĩa là "Linh thức" sống trong một môi trường tuy còn sắc tố, nhưng rất tinh vi, thanh khiết, so với thân thể ô trược của loài người, và các giống sinh vật khác trên trần gian. Có sách nói "Sắc tố tinh khiết" ấy là các vi tử rất nhẹ, loãng trong ánh sáng, và có thể di chuyển ở ngoại tầng không khí một cách thần tốc. Thiên chúng ở cõi Sắc giới này, theo kinh điển ghi rõ, thì trình độ định tâm của linh thức họ, tối thiểu cũng tương đương với đệ nhị thiền trong "Thanh Tịnh Ðạo" của Phật giáo).
Một điển tích khác cũng thuật lại rằng: Khi ấy, đức Phật đang thuyết pháp cho các hàng đệ tử nghe, tại một quãng trường lộ thiên, nhân nói về hạnh tri túc, bỗng đức Phật quay sang hỏi A Nậu Lâu Ðà:
- Này A Nậu Lâu Ðà! Ông có hài lòng với đời sống Sa-môn hiện tại không?
- Bạch đức Bổn Sư! Ðệ tử hoàn toàn thỏa mãn, an vui với đời sống tri túc, giảm thiểu vật chất này.
Liền đó, đức Phật bèn tán dương:
- Này chư Tỳ-khưu Tăng! Ai là kẻ phát nguyện xuất gia ngay lúc còn trẻ, tuổi đời đang thanh xuân, quyền uy, tiền tài, danh vọng có đầy đủ, mà chối bỏ để chọn lấy đời sống phạm hạnh, là người đáng khen ngợi! Kẻ ấy xuất gia, không phải vì để tránh bị vua chúa gia hình, cũng không phải vì mất hết của cải rồi thất vọng, lo sợ nghèo đói, hay nợ nần, mà tìm nơi ẩn dật. Họ xuất gia vì muốn sống trong Pháp bảo nhiệm mầu, giải thoát! Do đó, những gì họ tinh tấn thực hành hằng ngày, vốn chẳng phải để khoe khoang, mà là để tìm thấy hạnh phúc chân thật, nhất là hạnh phúc an tịnh trong các bậc Thiền, hạnh phúc tẩy trừ được năm chướng ngại nội tâm, và hạnh phúc diệt tận những phiền não, ác pháp hằng làm cho họ sa đọa. Mục đích duy nhất của họ là tiến lên Thánh quả giải thoát.
Rồi trước khi chấm dứt lời tán dương, đức Phật còn nhấn mạnh:
- Này chư Tỳ-khưu Tăng! Vì vậy, mỗi khi Như Lai công bố sự đắc quả Bất Lai của một Sa-môn viên tịch, Như Lai không nói để đề cao một đệ tử Phật, mà là để khuyến khích những bậc phạm hạnh sinh tiền, nên theo gương giải thoát kia, mà tinh tấn đạt đạo quả cho chính mình.
Và những lời khen ngợi của đức Phật đó, đã làm cho Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà được khích lệ không ít. (theo Trung A Hàm số 68: Majjhima Nikàya No 68).
Riêng các câu chuyện nói về sự xuất hiện của A Nậu Lâu Ðà trên cõi trời, thì kinh Tạp A Hàm số 6/5 (Samyutta Nikàya No. 6/5) có đọan ghi lại như sau:
Khi ấy đức Phật phóng thần quang biết được một vị trời trên cõi Phạm Thiên (Brahma) đang lầm lạc, suy nghĩ rằng: "Các Sa-môn, đạo sĩ trần gian, dù tu tập tinh vi đến đâu, cũng không thể gia nhập vào cõi Phạm Thiên được!".
Ðức Phật liền hóa thân thành một vầng ánh sáng, bay thẳng lên cõi Phạm Thiên, và xuất hiện an tọa trước mặt vị trời đó. Thấy đức Bổn Sư tự nhiên biến mất, bốn thượng đệ tử là Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa), Ðại Mục Kiền Liên (Mahà Moggallàna), Ðại Ca Phi Na (Mahà Kappina), và A Nậu Lâu Ðà Anuruddha, vội dùng "Thiên Nhãn Minh" tìm xem Phật đang ở cảnh giới nào, thì họ được biết đức Phật đang ở cõi trời, để tiếp độ một Phạm Thiên lầm lạc. Cả bốn vị Ðại đệ tử không hẹn mà cùng hiển lộng thần thông bay lên hầu Phật. Khi đến nơi, họ đồng cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn, rồi tuần tự ngồi sau lưng đức Phật, chừa một khoảng cách vừa phải.
Vị Phạm Thiên đang tư duy tự đắc về sự cao cả của cõi trời mình, bỗng thấy xuất hiện không phải chỉ một đức Phật Cồ Ðàm, mà còn có cả bốn vị Ðại đệ tử thần thông siêu đẳng nữa, thì ông lập tức thức tỉnh, dẹp bỏ ngạo mạn, và tán dương oai lực của Phật Toàn Giác, cùng chư Ðại đệ tử.
Một lần khác, Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà theo thói quen, thức dậy vào nửa đêm để tụng "Kinh Cứu Khổ" cho đến sáng. Bất chợt ông "nghe" tiếng một nữ ngạ quỷ rầy đứa con trai rằng:
- Này con! Con hãy im lặng cùng mẹ nghe Phật ngôn! Nếu chúng ta hiểu rõ lời Phật dạy và cố gắng hành đúng theo, thì chúng ta sẽ được rất nhiều hạnh phúc, và sẽ được giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, nhất là được giải thoát khỏi kiếp làm ngạ quỷ này!
A Nậu Lâu Ðà lập tức dùng "Thần nhãn" quan sát, thì ông thấy hai mẹ con một nữ ngạ quỷ đang khép nép, cung kính đứng nhìn ông. (theo Tạp A Hàm số 10/6: Samyutta Nikàya No. 10/6).
Trở lại việc va chạm không thể tránh khỏi trong đời sống làm người, Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà cũng bị "chỉ trích" vì đám học trò:
Số là khi ấy xảy ra vụ tranh luận giữa hai nhóm tu sĩ tại Kosambì. Tôn giả A Nan Ðà (Ànanda) vào hầu Phật thì được Phật hỏi xem cuộc tranh luận ấy đã chấm dứt chưa. A Nan Ðà tình thật thưa rằng:
- Bạch đức Thế Tôn! Cuộc tranh luận vẫn còn tiếp tục, vì một đệ tử của sư huynh A Nậu Lâu Ðà, đang cứng đầu chia rẽ Tăng già, mà sư huynh (ám chỉ A Nậu Lâu Ðà) không khuyên răn lấy một tiếng.
Tôn giả A Nan Ðà sở dĩ chỉ trích như vậy, vì ông vừa hay tin rằng trong lúc có chuyện lộn xộn giữa Tăng chúng, thì Thiền Sư A Nậu Lâu Ðà lại cùng hai huynh đệ khác là Nandiya và Kimbila, bỏ vô rừng Gosinga để tu thiền nhập thất, chăm lo trau dồi thiền định của chính mình, chẳng ngó ngàng gì đến sự "xung đột" của những đồng đạo xung quanh.
Vì chỉ mới đắc quả Tu Ðà Hườn (quả Thánh thấp nhất), nên A Nan Ðà còn một ít phàm tính. Ðối với ông, trách nhiệm của một vị thầy rất quan trọng, bởi những Tỳ-khưu đang tranh chấp kia, có một số người, vốn là đệ tử của A Nậu Lâu Ðà.
Sự chỉ trích của Tôn giả A Nan Ðà sau đó được mô tả rõ rệt hơn nữa, qua câu nói ông đã "phàn nàn" với đức Bổn Sư:
- Bạch đức Thế Tôn! Sư huynh A Nậu Lâu Ðà cứ thu nhận đệ tử mà không chú ý gì đến việc hướng dẫn họ cả!
Nhưng đức Phật đã từ bi phân giải:
- Này A Nan Ðà! Ông chớ nên lẫn lộn giữa vai trò làm thầy với sự vô minh của một số học trò! A Nậu Lâu Ðà có thể có duyên lành cho các tu sĩ ấy xuất gia, nhưng ông lại không có "oai duyên" để quở trách! Vậy thì trong khi vắng mặt A Nậu Lâu Ðà, ba đại Sa-môn khác là A Nan Ðà, Ðại Ca Diếp, hay Ðại Mục Kiền Liên, đều có thể can thiệp, chấm dứt cuộc tranh chấp giữa các Tỳ-khưu Kosambì. Ngoài ra, này A Nan Ðà! Cũng có những hạng Tu sĩ không thể sửa đổi tật xấu, và họ rất hài lòng khi những đồng đạo xung quanh bị vướng mắc trong một cuộc tranh luận kéo dài. Nhờ thế, họ sẽ không bị các bậc Bổn Sư chú ý tìm ra ác tâm của họ, có thể trục xuất họ ra khỏi Tăng chúng (theo Tăng Chi A Hàm 4/241: Anguttara Nikàya 4/241).
Vả lại, hai người đệ tử trong hiện tại, có thể có hai ông thầy hướng dẫn hai cách khác nhau, nhưng hai người đệ tử đó, trong quá khứ lại có ác nghiệp đã tạo từ nhiều tiền kiếp giống nhau, nên kiếp này họ tự nhiên hành động như nhau. Ðây là trường hợp của hai Tỳ-khưu mất nết: một đệ tử của A Nan Ðà, và một đệ tử của A Nậu Lâu Ðà. Cả hai Tỳ-khưu ấy đều rất ngạo mạn, luôn luôn muốn tỏ ra mình là người hữu lý nhất trong các cuộc tranh luận. Kết quả, Tôn giả A Nan Ðà, dù thường xuyên quở trách đệ tử, vẫn không thay đổi hạnh kiểm học trò được. Còn A Nậu Lâu Ðà cứ lo tu thiền làm gương thì đệ tử cũng chẳng nhận ảnh hưởng gì! (theo Tạp A Hàm số 16/6: Samyutta Nikàya No. 16/6).
Thời đức Phật và chư đại Thánh Tăng còn tại tiền, mà vẫn có những tu sĩ như thế, huống chi là thời bắt đầu mạt pháp của chúng ta. Người Phật tử đọc đến đây chắc có thể cũng thấy được cái tính Tương Ðối trong mọi vấn đề.


[VII]
TIỀN KIẾP A NẬU LÂU ÐÀ


Ða số tiền kiếp của Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà đều được ghi trong Túc Sinh truyện (Jàtaka). Nhưng một ít cũng thấy xuất hiện trong Tôn Túc Kệ Ngôn (Theragàthà). Chẳng hạn như chú giải câu kệ ngôn số 910 thuật rằng:
Thuở giáo pháp của đức Phật quá khứ tên Kassapa (Ca Diếp), tiền thân A Nậu Lâu Ðà sinh làm một người nghèo, song thường xuyên cúng dường các bậc Phạm hạnh. Nhằm khi đức Phật đã viên tịch, người hằng ngày lo chăm sóc, nhang khói ngôi bảo tháp an trí Xá lợi Phật...
(Lời thêm của dịch giả: Phật quá khứ Ca Diếp (Kassapa) chỉ trùng tên với Thánh Tăng Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa), đệ tử đứng đầu của đức Phật Thích Ca trong giáo pháp hiện hành! Chúng tôi xin lưu ý quí độc giả hai nhân vật lịch sử này, sống hai thời khác nhau, kẻo sự trùng tên có thể gây ra ngộ nhận).
Nhân một hôm, tiền thân A Nậu Lâu Ðà tuy nghèo, nhưng đã nhịn ăn mua một lễ vật khá đắt tiền là "mỡ thơm" (rút ra từ sữa bò) để đốt đèn cúng dường ngôi Bảo tháp. Hạnh hy sinh cao quí ấy đã ăn sâu vào tiềm thức của tiền thân A Nậu Lâu Ðà, nên kiếp này nhờ tu thiền đắc quả, ông chợt nhớ lại và tự thuật, qua bài kệ ngôn sau đây:
"Tôi nhớ rõ cái kiếp xưa nghèo ấy
Sinh nơi nào và tâm tính làm sao.
Phật nhập diệt rồi, tôi chỉ ra vào,
Tháp Xá Lợi để cúng dường, chăm sóc!".
Còn liên quan đến những kiếp sống trên cõi trần, hay làm Thiên vương trên cõi trời, thì Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà đã nói trong ba "Tôn Túc Kệ Ngôn" các số 913, 914 và 915 rằng:
"Lên thiên cảnh, tôi từng là vua chúa,
Tuổi thọ dài không biết mấy triệu năm.
Ðâu Suất Ðà Thiên, Ðế Thích đã làm
Có phép lạ và chúng thần phủ phục.

Xuống trần thế quyền "Chuyển Luân Thánh Ðức
Lãnh thổ phú cường mở rộng bốn phương
Nam Thiệm Bộ Châu, uy thế khôn lường,
Dùng chánh pháp để an dân lạc nghiệp.

Lên với xuống: Trời, người... từng bảy kiếp.
Bảy kiếp trần gian, bảy kiếp thiên đường...
Mỗi kiếp đều ngồi ngôi báu đại vương.
Mười bốn kiếp, Túc Mạng Minh nhớ rõ!".
(N. Ð. thoát dịch ra văn vần, theo Theragàthà các câu 913, 914 và 915).
Còn tra cứu về phía Túc Sinh truyện (Jàtaka), thì các học giả sẽ thấy có ít nhất là hai mươi ba thuật sự, kể lại tiền kiếp của A Nậu Lâu Ðà. Hầu hết đều xác nhận rằng: Tiền thân A Nậu Lâu Ðà đã nhiều lần làm vua trời Ðế Thích (Sakka), nhất là các Túc Sinh truyện số 194, 243, 347, 429, 430, 480, 494, 499, 537, 540, 541, 545, 547.
Có một lần, tiền thân A Nậu Lâu Ðà sinh làm một vị sứ giả của vua trời Ðế Thích, tên là Paĩcasikha. Sứ giả ấy là một thiên thần rất giỏi về âm nhạc, nên luôn luôn được Ðế Thích ưa chuộng.
Riêng bảy kiếp sinh làm người, như đã nói ở đọan trước, thì tiền thân A Nậu Lâu Ðà thường xuyên sống hạnh hiền đức. (theo các Túc Sinh truyện số 423, 488, 509, 522: Jàtaka 423, 488, 509, 522). Hai trong số bảy kiếp ấy, tiền thân A Nậu Lâu Ðà và tiền thân đức Bồ Tát Sĩ Ðạt Ta đã sinh làm đôi anh em. Còn năm kiếp còn lại thì có ba kiếp, tiền thân ông sinh làm vua (theo Jàtaka 485), một kiếp sinh làm giáo sĩ của triều đình (theo Jàtaka 515), và một kiếp sinh làm xa phu hoàng gia (theo Jàtaka 276).
Cảnh bị đọa làm thú, tiền thân A Nậu Lâu Ðà chỉ bị một lần. Ðó là câu chuyện con chim câu rừng mất bạn, rất thương nhớ, rồi tình nguyện nhịn đói, như đã ghi ở đọan trước. (theo Jàtaka 490). Như vậy, nếu kê khai sơ lược, dựa trên Túc Sinh truyện (Jàtaka), thì tiền thân A Nậu Lâu Ðà đã có mười lăm lần sinh vào Thiên chúng, bảy lần sinh làm người, và một lần sinh làm thú. Tổng cộng là hai mươi ba thuật sự vậy.
Ðiểm làm cho chúng ta chú ý ở đây là trong các tiền kiếp tái sinh làm vua trời (hay vua trần gian) ấy, tiền thân A Nậu Lâu Ðà đã thường xuyên tỏ ra có nhiều sức mạnh thể xác, và được ngưỡng mộ tinh thần. Ðiều này chứng tỏ rằng tiền thân ông đã hưởng quả lành của thiện pháp, chứ không phải như vị vua trời trong thần thoại Hy Lạp Zeus bị chi phối bởi tình yêu và sự tranh ngôi trên thiên cung, cũng không như thần Jehovah (hay Yahavé), bậc thường "ứng lời" vào xác phàm được chọn lựa để tiết lộ "thiên ý" và nhân danh "thiên quyền" thưởng phạt con người, trong đạo Do Thái và Nhất Thần giáo.
Nhưng Ðế Thích trong Túc Sinh truyện đạo Phật thì hoàn toàn khác. Vị Thiên Vương này là chúa tể của cõi trời thứ ba mươi ba, bậc có nhiều thiện tâm, và luôn luôn tìm cách che chở những ai bất hạnh.
Câu chuyện đức Ðế Thích cứu nạn cho một vua lành trên thế gian, xin kể như sau:
Khi ấy đức Bồ Tát sinh xuống cõi trần làm một vị vua nhân từ. Vua ra lệnh nghiêm cấm toàn dân không được giết súc vật để lấy máu tế lễ thần linh. Kết quả, có một hung thần ngu muội đã nổi giận bắt vị vua nhân đức ấy đem hành hình hút máu. Hoàng hậu thấy chồng sắp bị lâm nguy, bèn cầu khẩn Thiên Vương Ðế Thích. Bà cất cao giọng ngay thật, hướng lên chín từng mây than rằng:
"Thiên Vương chúa tể cõi trời,
Hào quang người có sáng ngời hay không?
Thấy chăng những giọt máu hồng
Của người vô tội vào trong hung thần?
Nghiệp oan ma quỷ khôn phân
Càng gây càng vướng vào thân đọa đày!
Thiên Vương biết rõ duyên này,
Xin mau bảo vệ vua dày thiện tâm!"...
(N. Ð. thoát dịch theo Jàtaka số 347).
Ðế Thích nghe những lời cầu cứu ấy, liền lập tức hiện xuống thế gian, đánh đuổi hung thần chạy mất, rồi cứu mạng vị vua nhân từ, đem lại niềm tin bình an, và sự vui mừng cho toàn thể hoàng cung.
Về sau này, vua trời Ðế Thích chính là A Nậu Lâu Ðà, và vị vua nhân từ bị nạn cùng Hoàng hậu, chính là đức Thái tử Sĩ Ðạt Ta và Công chúa Da Du Ðà La (Yasodharà).
Mặt khác, tiền thân A Nậu Lâu Ðà tái sinh làm Ðế Thích đã không những chỉ cứu mạng đức Bồ Tát (là tiền thân Thái tử Sĩ Ðạt Ta) nhiều lần, mà ông còn che chở thanh danh, hay xuất hiện đưa đức Bồ Tát vượt qua những hoàn cảnh hiểm nghèo, không biết bao nhiêu lần nữa.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, Ðế Thích (tiền thân A Nậu Lâu Ðà) còn muốn kích thích đức Bồ Tát (tiền thân Phật Thích Ca), để vị này tinh tấn trau giồi đức hạnh giải thoát hơn lên. Chẳng hạn như trong Túc Sinh truyện cuối cùng, Ðế Thích đã hóa thân thành một ông Bà la môn già yếu, để hỏi xin người vợ của đức Bồ Tát, hầu thử thách hạnh bố thí Ba la mật của vị nầy. (theo Jàtaka số 547).
Rồi trong một hoàn cảnh khác, Ðế Thích đã thử lòng quyết tâm bố thí Ba La Mật (Paramità) của đức Bồ Tát, bằng cách hỏi xin đôi mắt của ông (theo Jàtaka số 499).
Còn để thử hạnh kiên nhẫn và hòa dịu, Ðế Thích đã bêu nhục, chê bai sự xấu xí của đức Bồ Tát khi kiếp nọ Bồ Tát sinh ra không được đẹp trai cho lắm. Trước sự chê xấu, bêu nhục ấy, đức Bồ Tát đã ôn hòa trả lời rằng:
Tôi sở dĩ chịu quả bất hạnh nầy là vì trong kiếp trước tôi đã tối tăm làm nhiều điều ác độc! Nhưng trong kiếp nầy, tôi đang tinh tấn trau dồi thân, khẩu, ý, cũng như khuyến khích, khen ngợi mọi người xung quanh làm như tôi, để kiếp sau khỏi bị nhiều quả khổ.
Kế đó, Ðế Thích bảo với đức Bồ Tát rằng:
- Ông muốn ban cho đức Bồ Tát một điều ước, thì đức Bồ Tát lập tức xin được giải thoát khỏi các tật xấu như ác tâm, thù ghét, tham lam và khao khát. Xa hơn nữa, đức Bồ Tát (tiền thân Phật) còn tâm nguyện đừng bao giờ làm hại ai, và Ngài tự giảng giải rằng:
Tất cả những điều mong ước ấy, nếu thành tựu là do công hạnh và thiện nghiệp của một người thanh tịnh đã tạo, chứ không phải được một vua trời nào có thể ban cho cả" (theo Jàtaka 440: Túc Sinh truyện số 440).
Riêng trong hai Túc Sinh truyện số 429 và 430, thì Ðế Thích đã thử tính ưa chuộng đời sống đạm bạc của đức Bồ Tát.
Nhóm thuật sự tiếp theo kể chuyện đức Ðế Thích mời đức Bồ Tát lên cõi trời để chứng kiến những khung cảnh kỳ diệu, huyền bí trên Thiên giới. Loại thuật sự nầy đã được mô tả tượng trưng trong câu chuyện nhạc sĩ thổi tiêu tên Guttila rồi, xin khỏi dài dòng ở đây (theo Jàtaka số 243).
Riêng hai Túc Sinh truyện các số 541 và 494, tiền thân đức Phật đã sinh làm hai vị vua nhân từ tên là Nimi và Sadhina, thì tiền thân A Nậu Lâu Ðà cũng tái sinh hai lần làm Ðế Thích. Và ông (Ðế Thích) đã mời và dùng thần thông đưa hai vị vua sống theo phạm hạnh ấy lên viếng cõi trời.
Bây giờ nói qua những tiền kiếp A Nậu Lâu Ðà tái sinh làm người, chúng tôi xin chọn những mẫu chuyện sau đây:
Một kiếp nọ, tiền thân A Nậu Lâu Ðà sinh làm quan Tư vấn Bà la môn trong triều, được nhà vua kính chuộng, và thường hỏi về những hành động lợi ích và công bằng mà một vị minh vương nên phối hợp để cai trị toàn dân cho được hiệu quả. Quan Tư vấn thành thực nói rằng:
Hạ thần không thể trả lời câu hỏi ấy một cách thông suốt được. Nhưng hạ thần hứa sẽ cố gắng tìm ra một người đại trí, có thể giúp cho bệ hạ những ý kiến chính trị rất hay.
Rồi ông đi tìm đức Bồ Tát (tiền thân Phật) để cầu xin những pháp lành trị dân. (theo Túc Sinh truyện số 515: Jataka N. 515).
Còn khi tiền thân A Nậu Lâu Ðà sinh làm viên xa phu hoàng gia, một lần vì muốn tránh trận mưa to sắp đổ xuống, xa phu đã dùng cây nhọn húc vào hông ngựa, để thúc chúng chạy thật nhanh. Về sau, mỗi khi đi ngang qua chỗ ấy, hai con tuấn mã tự động chạy thục mạng, in tuồng hoảng sợ một cái gì đó đã làm cho chúng đau điếng bên hông.
Hiểu được nguyên nhân gây ra kinh hoàng cho hai con ngựa quí, luôn luôn tận lực chạy theo lệnh của mình, viên xa phu bắt đầu hối hận, tự trách đã không hành động đúng theo tinh thần của kẻ kỵ mã. (theo Jàtaka số 276).
Nhiều sắc thái nổi bật và nhiều tư liệu khác nhau, trong toàn thể Túc Sinh truyện nói về tiền thân A Nậu Lâu Ðà, đã cho chúng ta thấy một số điểm quy nạp: Ðó là đặc tính, là nghị lực, và các khía cạnh tâm lý chân thành của tiền thân ông, lúc nào cũng lo làm tròn bổn phận, duy trì sự bình an, và biết tìm ra nguyên nhân đau khổ của kẻ khác, kể từ đó có thể sửa lỗi, hay chia xẻ nỗi khổ với đối tượng. Các đặc tính và nghị lực ấy cũng chứng minh rằng: Sự thuần thục trong thiền định, cùng với sự chứng đắc Thượng thừa trong các loại thần thông, của Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà, vốn bắt nguồn từ những công phu, hay những kinh nghiệm đã qua trong quá khứ, nhất là trong các tiền kiếp sinh làm vua trời Ðế Thích, hay vua người, mà được gần gũi với tiền thân Phật (Bồ Tát).


[VIII]
A NẬU LÂU ÐÀ SAU KHI PHẬT NHẬP DIỆT


Theo kinh Ðại Niết Bàn, trong bộ Trường A Hàm số 16 (Mahà Parinibbàna Sutta - Dìgha Nikàya N. 16) thì Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà đã có mặt bên cạnh Bổn Sư, lúc đức Phật nhập Niết Bàn.
Khi ấy đấng Toàn Giác biết rõ sự sắp lìa bỏ nhục thân nầy, Ngài bèn nhập định vi diệu vào các bậc thiền, nhất là các bậc thiền Hữu Sắc và Vô Sắc. Rồi Phật an trú vào trong một đại Thiền pháp, tên gọi là "Diệt Thọ Tưởng Ðịnh" (Tiếng Pàli gọi là Sannà Vedaniya Nirodha)...
Sa-môn hầu Phật là Tôn giả A Nan Ðà đang buồn rầu, chợt quay hỏi Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà rằng:
- Bạch sư huynh! đức Thế Tôn đã nhập Niết Bàn chưa?", thì được ông trả lời:
- Này A Nan Ðà! Sư huynh đã nhập định và dùng "Thiên Nhãn" theo dõi tâm Phật thì được biết Thần Quang của đức Bổn Sư đang an trú trong Vô Sắc thiền, bậc Diệt Thọ Tưởng Ðịnh.
- Kính bạch sư huynh! Sư huynh biết rõ đức Bổn Sư viên tịch, diễn tiến như thế nào, xin sư huynh từ bi thông báo cho.
"Này hiền đệ A Nan Ðà! Ðể theo dõi Thần Quang của đức Thế Tôn, tệ huynh đã phải nhập hết thiền Hữu Sắc (Rùpà Jhàna) đến thiền Vô Sắc (Arùpa Jhàna), vì trạng thái Phật tịch diệt không nằm trong phạm trù "Ngài muốn sống hay muốn chết", mà sự "nhắm mắt kỳ diệu" ấy hoàn toàn nằm trong diễn tiến tự nhiên của thân nghiệp cuối cùng, trước khi Phật trở thành vô sanh bất tử! Nghĩa là Phật không chối bỏ xác thân này, nếu những tế bào của sự sống còn hoạt động, đồng thời Ngài cũng không mắc dính, bám víu vào sự sống hữu hạn, phù du, và xoay vần ấy. Ngài an trú ở các bậc thiền, theo thứ tự từ thấp đến cao (Nhất thiền lên Tứ thiền), rồi từ cao đến thấp (Tứ thiền trở lại Nhất thiền). Hết lên đến xuống và hết xuống lại lên như vậy, cốt để giữ cho nhục thân được quân bình, vừa "chờ" cho những tế bào cuối cùng "chủ trương" sự sống, chấm dứt hoạt động.
Và xuyên qua sự thông báo từng giây phút ấy của A Nậu Lâu Ðà, mà những đệ tử có mặt bên cạnh nhục thân đấng Toàn Giác đã biết được khi nào đức Phật thực sự viên tịch.
Lúc đức Thế Tôn xả báo thân, vĩnh viễn an nghỉ Niết Bàn, thì trời Phạm Thiên (Brahmà) và Ðế Thích (Sakka), chủ tể cõi trời thứ ba mươi ba, đồng thanh cúng dường quả giải thoát của Bậc Thiên Nhân Sư, bằng những câu kệ, nói lên luật Vô Thường, bất di bất dịch như sau:
"Tử sinh là luật luân hồi,
Có sinh, ắt tử, trời người không qua".
Rồi người thứ ba tán dương sự nhập Niết Bàn linh diệu của đức Phật là A Nậu Lâu Ðà. Ông ứng khẩu ngâm mấy câu kệ rằng:
"Cao thượng thay là giờ nhập diệt,
Ðấng từ bi thanh khiết khôn lường.
Buồn, vui, sinh, tử... không còn,
Vượt ra tam giới, mười phương Niết Bàn".
Tuy nhiên, những phàm Tăng, và một số Thánh nhân bậc thấp (còn tái sinh lại tối đa bảy lần nữa), vì lòng ngưỡng mộ đức Phật còn "chủng tử" ràng buộc, nên họ buồn khổ khóc than thảm thiết. Nhất là khi họ nghe Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà chính thức công bố sự viên tịch của đức Phật.
Trước hoàn cảnh như vậy, Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà liền khuyên giải họ. Và bằng tâm từ bi, ông đã làm giảm lòng phiền muộn của các đồng đạo bằng cách lôi kéo họ chú ý đến sự có mặt (nhưng mắt phàm không nhìn thấy) của rất nhiều Thiên Chúng tới lễ bái nhục thân đức Phật lần cuối cùng A Nậu Lâu Ðà nói:
- Nầy chư huynh đệ! Các Thiên chúng cũng đang buồn rầu, đau xót, tiếc thương, chẳng khác nào những phàm nhân, khi vừa mất một vị Phật. Nhưng hỡi chư Sa-môn huynh đệ! Lúc đức Bổn Sư còn sống, Ngài đã chẳng dạy cho chúng ta pháp Vô thường gây ra khổ não là gì? Và giờ đây pháp ấy đang được chứng nghiệm trước mắt quí vị, tại sao quí vị không nhớ lại lời Bổn Sư để bình tâm niệm tưởng ân đức của bậc Giải Thoát?
Tiếp theo, Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà và Tôn giả A Nan Ðà đã thức trọn đêm hôm ấy để cung hầu nhục thân đức Phật. Sáng hôm sau, A Nậu Lâu Ðà bèn yêu cầu A Nan Ðà đi công bố tin đức Thế Tôn nhập Niết Bàn đến chư Phật tử trong các làng lân cận, nhất là trong thành phố Kusinàrà.
Thế là hầu hết dân chúng địa phương, kể cả những người chưa thấm nhuần Phật giáo, chỉ cảm kích đức hạnh của đấng Giải Thoát mà thôi, đã tự động tập hợp, rồi dựng lên một lễ đài, và một giàn hỏa vô cùng trang nghiêm lộng lẫy, bằng những loại gỗ quí và trầm hương, để cử hành lễ Trà tỳ đức Phật.
Có một điều lạ là khi tám người thanh niên lực lưỡng, đồng loạt nâng nhục thân đức Phật đặt lên giàn hỏa, thì họ dù rán sức đến đâu cũng không làm được. Bất chợt họ rùng mình kinh cảm, và lập tức đến hỏi Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà, vì sao nhục thân của đức Thế Tôn lại có một trọng lượng lạ lùng như vậy. A Nậu Lâu Ðà vốn biết rõ lý do, bèn nói cho họ biết rằng các hàng Thiên chúng ước muốn cho cuộc lễ hỏa táng được thực hiện dưới một thứ tự khác. Nghĩa là qua trung gian của Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà, chư Thiên đã đề nghị với toàn thể Tăng và tín đồ có mặt, một nghi thức lễ Trà Tỳ đúng theo nguyện vọng của các vị vua trời.
Kinh chép: Khi chư Thiên Vương "cầu nguyện" xong, thì nhục thân của đức Phật bỗng trở thành nhẹ nhàng vô cùng. Mọi người chỉ cần để một ngón tay lên kim quan... là thân Phật cùng với mọi vật che chở tự động nâng lên cao, và di chuyển an ngoạ ngay ngắn tại trung tâm giàn hỏa.
Nếu về phía Thiên chúng, A Nậu Lâu Ðà đã tự động "tiếp xúc" với họ trong suốt cuộc lễ Trà tỳ, thì về phía phàm nhân, Tôn giả A Nan Ðà cũng lo việc đôn đốc, cố vấn dân làng, để những vật liệu cúng dường, thiêu đốt nhục thân đức Phật, được họ chọn lựa tinh khiết, kỹ càng hơn. Nói vắn tắt là hai vị Sa-môn huynh đệ nầy, mỗi người trách nhiệm một cảnh giới: Thiền Tăng A Nậu Lâu Ðà giao cảm, nghinh đón các hàng Thiên chúng, và Tôn giả A Nan Ðà tiếp xúc với cộng đồng phàm nhân (theo Trường A Hàm số 16: Dìgha Nikàya N. 16).
Sau lễ Trà tỳ, hỏa táng nhục thân đấng Giải Thoát, dưới sự chủ tọa của Ðệ nhất đệ tử Phật, tức Thánh Tăng Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa), A Nậu Lâu Ðà tuy ở địa vị một thánh Bất Lai A-la-hán, và cũng là thân nhân gần nhất của Phật Tổ, nhưng Ngài đã không tự nhận mình ở vai trò thừa kế Bổn Sư, lãnh đạo Tăng Già. Bởi vì khi sinh tiền, đức Thế Tôn đã không di chúc một giáo quyền đến đệ tử nào hết.
(Quí đạo hữu nào muốn biết do kỳ duyên chi, Trưởng lão Ðại Ca Diếp đã đến đúng lúc vào giờ chót, để chủ tọa lễ Trà tỳ nhục thân đức Phật, xin hãy đọc cuốn Gương Lành Thánh Ðại Ca Diếp, đã được dịch ra Việt ngữ và ấn tống.)
Ngay như Thánh Tăng Ðại Ca Diếp là vị Thượng Thủ có nhiều phẩm hạnh giống đức Phật nhất, và ông còn được toàn thể Tăng chúng, cũng như tín đồ hiện diện, đồng tâm suy tôn lên ngôi vi chưởng môn, để thay Phật hướng dẫn Tăng Chúng, mà Ngài cũng thanh tịnh từ chối, huống chi là A Nậu Lâu Ðà. Bởi cốt lõi Phật giáo là làm cho người Phật tử phải "độc lập", tự mình hướng dẫn lấy mình, đi theo ánh sáng giải thóat của bậc Toàn Giác, chứ không cần một "giáo nhiệm" nào điều khiển cả. (Ý nói không trông chờ tha lực).
Tuy nhiên, Trưởng lão Ðại Ca Diếp cũng không phải không ý thức được trách nhiệm vô cùng quan trọng của mình trong thời "hậu Phật". Nên vừa chứng minh xong lễ phân phối Xá lợi Phật cho các hàng vua chúa xây tháp tôn thờ, Ngài liền dời gót hướng về phía Vương Xá thành, khởi xướng triệu tập Ðại Hội năm trăm Thánh nhân Bất Lai (A-la-hán), để nhắc lại tất cả những lời Phật dạy, hầu lưu truyền phúc âm đến các đời sau. Và đó là cuộc kết tập Kinh Ðiển Phật Giáo lần thứ nhứt.
Sách chép: Tôn giả A Nan Ðà (đại đệ tử hầu cận Phật cho đến giây phút cuối cùng) lúc ấy chưa đắc quả A-la-hán, có thể bị đại hội không mời dự, nên Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà đã thúc giục ông hãy tinh tấn vượt bực, để mau hội nhập vào Thánh giới Bất Lai, mới tham gia đóng góp cuộc kết tập Phật ngôn được.
Kết quả, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, Tôn giả A Nan Ðà, với sự quyết tâm tinh tấn, đã diệt tận tham sân si phiền não, đắc quả A-la-hán rồi dùng thần thông nương vào một tia sáng, bay vào tham dự hội nghị, trước sự hoan hỷ, tán dương của bốn trăm chín mươi chín vị Thánh nhân A-la-hán.
Diễn tiến cuộc kết tập Kinh Ðiển Phật Giáo lần thứ nhất, dưới sự chủ tọa của Thánh Tăng Ðại Ca Diếp, có thể trình bày tóm tắt như sau:
1. Tôn giả A Nan Ðà tụng lại tất cả những bài pháp dài ngắn khác nhau, đủ loại chủ đề khuyến thiện và phân tích, rồi sau đó ghi chép, kết tập thành một "rổ", gọi là Tạng Kinh (Sutta Pitaka).
2. Thánh Tăng Upàli thuật hết những điều Luật, và điển tích mà đức Thế Tôn đã căn cứ vào đó, để chế ra các phần răn cấm (như Tỳ kheo giới, Sa di giới, Tỳ kheo Ni giới, Sa di Ni giới cho các bậc xuất gia, và Thập giới, Bát giới hay Ngũ giới cho những hàng cư sĩ. Toàn thể luật cấm được kết tập chép lại thành một "rổ", gọi là Tạng Luật (Vinaya Pitaka).
Trong kỳ kết tập Kinh Ðiển Phật Giáo lần thứ nhất nầy, năm trăm vị A-la-hán chỉ thuật lại nguyên văn lời Phật nói, rồi lập thành hai Tạng là Tạng Kinh và Tạng Luật mà thôi! Riêng "Tạng Luận" (Abhidhamma Pitaka) về sau xuất hiện, là nhờ các cuộc kết tập Kinh Ðiển Phật Giáo nối tiếp, đã phân tích và xếp loại những Phật ngôn trong Tạng Kinh ra thành hai phần: Phần thứ nhất nặng vần khuyến thiện, được tiếp tục gọi là Tạng Kinh (Sutta Pitaka). Còn phần thứ hai dành phân tích tâm thức, được gọi là Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Pitaka), hay còn gọi là Tạng Luận.
Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng: Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà đã từ bi khuyến khích và tiếp độ vị sư đệ của ông (ám chỉ Tôn giả A Nan Ðà), ngay sau khi đức Thế Tôn tịch diệt, để đưa vị Sa-môn nầy vào thánh giới giải thoát, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi.
Và Phật giáo được kết tập thành Tam Tạng Kinh Ðiển có hệ thống đó, đã lưu truyền cho đến ngày nay, xuyên qua hơn hai mươi lăm thế kỷ, và sẽ còn tiếp tục lưu truyền, gieo phúc lành cho chúng sanh, nhân loại, mãi đến thời mạt pháp, sau năm ngàn năm.
Theo kinh Trường A Hàm thì trong đại hội kết tập Kinh Ðiển Phật Giáo lần thứ nhất ấy, Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà đã hợp tác một cách tích cực với sư đệ là Tôn giả A Nan Ðà, để thuật lại toàn thể bộ kinh Tăng Chi A Hàm (Anguttara Nikàya).
Sau cùng, liên quan đến sự viên tịch của A Nậu Lâu Ðà, chúng tôi không tìm thấy một chỗ nào trong điển tích Phật giáo, nói rõ tuổi thọ, ngày giờ và địa điểm nhắm mắt chính xác của vị Thánh Tăng nầy, ngoại trừ những câu kết thúc một loại hai chục bài kệ, do chính A Nậu Lâu Ðà thốt ra. Những câu kết thúc các kệ ngôn ấy, có vẻ gián tiếp nói về nơi nhập diệt của ông. Chúng tôi xin mạn phép phỏng dịch ra văn vần Việt ngữ, để cống hiến chư vị Phật tử xa gần, vài bài kệ ngôn ấy như sau:
"Niềm tin Phật, bần Tăng không lay chuyển,
Và Phật ngôn cũng thực hiện chu toàn
Cái ngã làm người, trời, thú... không còn.
Vòng sinh tử trọn kiếp nầy là hết.

Vườn "Vệ Lữ" (1) miền "Va Chân" (2) sẽ chết,
Xác thân nầy trả cát bụi, thời gian...
Dưới bóng tre xanh, nơi nhập Niết Bàn.
Sạch phiền não, ấy tận cùng giải thóat".
(theo hai Tôn Túc Kệ Ngôn số 918, 919: Theragàthà N. 918-919)
- Hai địa danh "Vệ Lữ" (1) và "Va Chân" (2) trên đây do dịch giả mạo muội "Việt hóa" do hai từ ngữ Pàli là "Veluva" và "Vajjian" để dễ diễn tả ra Kệ Ngôn. Vả lại, khi y cứ nơi bài kệ sau cùng nầy (do chính Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà nói, thì ông đã nhập diệt trong vườn Veluva, thuộc xứ Vajjian đó.
Ngày nay, nếu chúng ta nhìn vấn đề theo khía cạnh lịch sử địa phương và so sánh cách thức tổ chức xã hội thời cổ Ấn Ðộ, thì vùng Vajjian nói trên là nơi ngày xưa phát xuất nền "Cộng Hòa" đầu tiên trên thế giới. Vì thuở ấy lãnh thổ này đã được quản trị bởi một Hội Ðồng Bô Lão, do toàn dân bầu, dưới sự chủ tọa của một niên trưởng, chứ quốc gia không "được" cai trị bởi một tiểu vương như những nơi khác.
Và với tấm lòng chân thành ngưỡng mộ vị Thánh Tăng có THIÊN NHÃN THÔNG siêu đẳng, có trong các hàng cao đồ đại Thinh Văn, đệ tử của đức Phật, dịch giả xin kết thúc tập "A Nậu Lâu Ðà" độc đáo nầy.
Dịch xong tại Paris , ngày 17 tháng 12 năm 1993
Nguyễn Ðiều


Bài thơ
CÚNG DƯỜNG THÁNH ANURUDDHA (A NẬU LÂU ÐÀ)
Thiền tâm như đá, thân như núi
Núi, đá khôn lay giữa gió ngàn
Thánh định đắc rôi, thông tất cả
Luân hồi dứt nghiệp khổ lang thang.

Nhiều kiếp người làm vua Thiên giới
Lắm khi vương tước cõi trần gian
Hạnh phúc cũng từng hơn xã hội
Nhưng người không nhiễm tật tham, sân.

Ðời sống cuối cùng nhờ hướng thượng
Hành theo gương Phật, định tâm thần
Ánh sáng Bồ đề từ vô lượng
Bừng lên vẹt hết bóng vô minh.

Người đã nhập vào trong Thánh giới
Nhãn căn đắc chứng một thần thông
Ba cõi, sáu đường "tâm chỉ gợi"
"Hiện ngay trước mắt", diệu vô cùng!

Tuổi thọ hết rồi, người viên tịch
Trong vườn tre mát, lá mông lung
"Thần Nhãn Niết Bàn là ngọc bích
Ðưa người ra khỏi khổ xoay vòng.

Ðệ tử giờ đây lòng thanh tịnh
Cúng dường Thiền Thánh tánh như không
Người đã là Sen qua sử tích
Hương Thơm còn khắp cõi vô cùng.
(Nguyễn Ðiều cẩn đề)


Được chỉnh sửa bởi hoaha on Apr 27 2015, 10:18 AM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
hoaha
post Apr 27 2015, 11:07 AM
Gửi vào: #100


Advanced Member
***

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 2,559
Tham gia: 23-April 05
Thành viên thứ: 35



Câu chuyện định tâm của Thánh Tăng A Nậu Lâu Ðà ở phương Ðông, hơn 2500 năm trước, có nhiều điểm tương đồng với đức tánh của Thánh Bernard De Clairvaux trong sử Pháp. Vào đầu thế kỷ thứ XII, năm 1115: Một hôm, vị ẩn sĩ trẻ tuổi này (Bernard De Clairvaux) dừng chân nghỉ đêm trong một quán trọ. Ông đã được chủ quán dành cho một chiếc băng nơi phòng khách, vì những chỗ khác đã có người chiếm trước. Thình lình nửa đêm, cô con gái của chủ quán, vốn tính thích những nam nhân đẹp trai, tự mò đến tỏ tình. Nhưng Bernard De Clairvaux đã ôn hòa từ chối. Và vì trời rét, ông đã buộc lòng phải kéo lại tấm chăn bông, và nói với cô gái:

- Nếu cô chỉ cần một chỗ ngủ thì cái băng này có thể đủ cho hai người! Nhưng nếu cô tìm một cái gì khác thì cô sẽ thất vọng.

Sự thản nhiên hoàn toàn trước cám dỗ xác thịt của Bernard De Clairvaux đã làm cho cô gái kính trọng, và hổ thẹn bỏ đi. Ðiểm giống nhau của hai vị Thánh, một ở phương Ðông và một ở phương Tây, là họ tự chỉ huy được tâm hồn mình, rồi thuyết phục người khác bằng tinh thần và hạnh kiểm trong sạch, thánh thiện, chứ không phải bằng giảng đạo.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

8 Pages: V « < 3 4 5 6 7 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 19th September 2019 - 05:36 AM