IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

2 Pages: V  1 2 >  
Closed TopicStart new topic
> Những "ngôi trường xưa Em học", (CóChỉnh Sửa-Trọn Bộ33Bài...)
NhaQue
post May 18 2005, 07:28 PM
Gửi vào: #1


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8









=> Phần 4: Đoản Văn



=> File: PDF


[pdf]http://www.bentrehome.net/trong/04TruongXuapdf.pdf[/pdf]



Những "ngôi trường xưa Em học"



Trong Tuyển Tập Thơ Văn HÀNH HƯƠNG của NhàQuê








NỘI DUNG


Phần 1: Mở Đầu

- Chiều Dọc

- Bài Thơ Thay Lời Tựa


Phần 2: Thơ


Phần 3: Tùy Bút

Những "con đường xưa Em đi"


Phần 4: Đoản Văn

Những "ngôi trường xưa Em học"


Phần 5: Bài Kết

Hát Bài Tạm Biệt






--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 8 2010, 09:05 PM
Gửi vào: #2


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"





Đoản 1- Cổ Thụ


Trừ những khi mây xuống thả vòi là đà thấp hơn ngọn cây, báo hiệu cơn mưa ập đến. Còn không, từ bên nầy của cánh đồng rộng tôi trông thấy làng Tân Thủy của tôi mờ mờ màu xanh núi, giăng ngang tựa tranh vẽ, bầu trời nhạt hơn phía sau.


Trên con đường dẫn từ quận lỵ Ba Tri về hướng Ðông băng qua cánh đồng ấy, tôi về trễ hơn các bạn khác mỗi ngày: Tôi đi bộ!

Khi bắt đầu vượt đoạn đường tôi luôn nhìn Cổ Thụ làng tôi vấn kế, Cổ Thụ nhìn thằng bé đi học về mỉm cười lúc trong lòng tôi vẫn còn rộn rã lời khen của thầy, âm vang chưa tan hết. Những lúc tôi đi đầu cúi thấp vô hồn chắc Cổ Thụ cũng rưng rưng.

Có khi tôi phải đứng chờ có người đi cùng mới dám vượt qua khu trâm bầu của chòm Ðìa Ðôi gần khoảng giữa, đám trâu đen, trâu cò đang cằn từng cọng cỏ gần đó cho biết rằng mấy đứa chăn lẩn khuất đâu đấy, sẵn sàng nhảy ra bắt nạt tôi: Thằng bé cũng đã giữ trâu cho người chú không con trai của mình, tựa chúng, nhưng tôi không hung hãn như.
Dù không nhìn thấy trâu, qua chòm Ðìa Ðôi tôi vẫn chạy hết tốc lực sau đó vừa đi vừa thở như người tập thể dục bất đắc dĩ; Những lần như vậy Cổ Thụ nhìn tôi dáng có chút đăm chiêu, nhưng cũng có vẻ ngầm khuyến khích.

Cổ Thụ đứng ven con lộ đất dẫn đến cuối làng, gần đoạn khởi hành hơn. Phải nói rằng con lộ đất đi dưới chân Cổ Thụ mới đúng, vì anh chàng cát bủng nầy né rẽ đi hướng khác mấy lần trong thời loạn lạc, nhường chỗ cho địa đạo, giao thông hào; Nhà tôi không xa nơi ấy.

Không ai biết Cổ Thụ bao nhiêu tuổi, Ba Má tôi nói hồi đó giờ vẫn vậy, không lớn thêm cũng không có dấu hiệu gì già cỗi. Có thể từ xa xưa lắm những hạt mầm bị sóng triều xô giạt vào cồn cát vừa nhô lên khỏi mặt biển đôi chút, bám được rễ bắt đầu sự sống: Cuối cùng chỉ một cây non thoát được các đợt tấn công liên tiếp của sóng triều.

Dấu chỉ bên dưới lớp đất nói rằng làng tôi là cồn cát càng ngày càng lấn biển ra xa. Khu rừng nước mặn mọc thêm dàn hàng ngang tiến về hướng Ðông lần sau khác lần thấy trước, củng cố thêm trong tôi lịch sử hình thành con giồng tên gọi Giồng Bông nơi tôi được sinh ra.

Cây xanh mơn mởn tín hiệu hứa hẹn về vùng đất tươi tốt, hấp dẫn nhóm người đầu tiên đến đây dựng lều cắm trại định cư ...

Theo Chúa Nguyễn "Nam Tiến" bằng cách nầy cách khác Tổ Tiên tôi xua dần lớp cư dân thời tiên khởi lập làng...Tôi, hậu duệ nhóm người lấn chiếm dựng nên quê tôi hiện giờ: Tôi nghĩ vậy!

Ðứng vươn cao, Cổ Thụ nhìn bao hưng phế đổi dời đời nầy qua đời khác: Ði xa Cổ Thụ đứng trông theo đến khi không còn chấm nhỏ, vui mừng gần như nhón gót cao thêm cho rõ, coi có đúng kẻ trở về đấy không.

Cổ Thụ hát reo bốn mùa gió lộng, ủ rũ u buồn vĩnh biệt mỗi lần đám tang đi qua dưới chân Người. Lo âu cho kẻ ra khơi sinh nhai giạt trôi không trở lại...
Từng mắt lá Cổ Thụ như nghe, như thấy bao khắp và xúc cảm với từng hơi thở nhẹ của quê tôi.
Cổ Thụ chắc cũng vui mừng mùa bội thu, rầu rầu những năm sâu rầy phá hoại.

Gần giáp Tết, Cổ Thụ nhìn gió chướng từng cơn lọc qua khu rừng nước mặn, nhìn từng đợt sóng bổ ghềnh hùng hổ ập vào rồi lại kéo ra như muốn xô ngã khu rừng chông chênh đang cố ráng sức chống chọi, chơi vơi chao đảo như người chỉ còn có một chân phải trụ lưng vào cồn cát phía sau phụ lực.

Có lẽ Cổ Thụ cũng nhìn thấy thằng bé trùm kín chăn nhai trộm bánh phồng sống mới phơi một nắng, bị Má bắt gặp lôi ra rửa miệng giữ răng. Mật chiếc bánh nếp trôi ngọt ngào qua cổ cùng âm vang tiếng sóng bổ ghềnh như rượt đuổi nhau luồn dưới lòng đất, không những qua tai mà ngấm sâu đưa tôi vào giấc ngủ nhẹ nhàng không mộng mị: Tuổi thơ tôi đấy!

Rồi một ngày kia, đao phủ thủ nghiện rượu về từ hướng Bắc, chém nhát đầu tượng trưng làm hồn tôi, người vốn buộc phải câm: Ðau rướm!

Làng tôi nghèo đến độ cần gỗ để đóng vài chiếc bàn ghế học trò cho trẻ em thế sao! Không! Cổ Thụ là cây củ chi, mã tiền,... độc dược, vô dụng từ nhánh tới lá, thân cũng nguy cơ ngộ độc. Sao lại mang ra làm thế chứ!

Sau mấy ngày đau đớn Cổ Thụ gục ngã: Ðám chim chóc đủ màu đủ loại sống chung bao đời hốt hoảng vội vàng rời tổ, đậu nhờ những cây lân cận ngơ ngác đứng nhìn lại. Rồi như đồng loạt kêu lên ai oán cùng lúc Cổ Thụ đổ nhào, âm thanh như một chấn động khác biệt chưa lần nào nghe thấy. Ðám chim chưa muốn tản mác bay đi, đám chim mỗi lần đi qua tôi dừng lại nhìn lên, không còn sợ trên ấy có người khuất mặt như ngày xưa còn nhỏ chẳng khi nào.

Từ đó làng tôi không còn như ca dao, có lũy tre xanh, có cây cổ thụ.
Cổ Thụ làng tôi cao nhất trong vùng, cao hơn bất kỳ cổ thụ những nơi tôi đã đi qua. Không còn dấu mốc nào để dễ dàng nhận biết từ xa, rằng gần đó có ngôi nhà lợp lá: Ba Má Anh Chị Em tôi, cái chùm hạnh phúc ấy quây quần bên nhau một thời.


Làm làn khói thoát ra từ lò hỏa thiêu, tôi hòa tan vào mây phiêu du về bên ấy, biết tôi có còn nhận ra được chốn xưa không. Cổ Thụ còn đâu để cho tôi xin mây một lần xà xuống thấp. Tôi chẳng có chút nào so được con chim nhỏ nhất ngơ ngác rời tổ ngày nọ.


NhàQuê May 19, 2005






--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 8 2010, 09:21 PM
Gửi vào: #3


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"


Đoản 2- Ðình Làng



Hai đình, bốn miễu và một lăng của làng tôi năm nào cũng có cúng kỳ yên, vía hay tương tự, những năm đặc biệt trúng mùa bao giờ cũng có rước hát bội về ít nhất là ba đêm diễn, đoàn hát xong nơi nầy dọn tiếp qua nơi khác; Ðó là dịp hẹn hò của trai gái làng quê tôi đang mùa đồng khô, trăng tỏ, tương đối rảnh rỗi trước mùa vụ mới.

Từ nhà tôi qua khỏi Cổ Thụ không xa, ngôi đình Tân Hòa mái ngói âm dương, cổng dáng hình lăng miếu, hai cây dương hai bên cao không đều nhau có lẽ một cây được trồng lại sau.
Đình tọa lạc trên phần đất độ hơn hai mẫu tây, có mấy cây sao thẳng hàng còn lại là vú sữa, gia đình Ông Từ chăm sóc quét dọn đình cũng được dành cho một phần vừa ở, vừa trồng trầu.
Không ai gọi tên đình Tân Hòa, thậm chí có người không biết; Ðó là trường vỡ lòng đầu đời của tôi: Ðình làng Tân Thủy.

Một buổi sáng tôi mặc quần áo mới chẳng khác nào ngày Tết, ôm cặp đệm cũng mới màu chiếu trơn, có viền bìa vải bông cho đừng vuột chỉ may, trong đó có nhiều thứ Ba Má tôi mua cho và dặn tên từng món, có vài món hơi lạ tôi chưa biết dùng để làm gì; Tuy nhiên tôi cũng trân trọng xếp chúng gọn gàng trong ấy. Ngày hôm trước Má tôi nấu chè cúng vái, cầu cho tôi học sáng láng, ăn chè xong tôi kiểm lại đồ đạc mấy lần sợ có ai mở ra coi thử làm lệch thứ tự theo ý tôi, tay kia tôi xách bình mực nâu đi theo Má: Tôi đi học không khóc như những đứa khác, trước khi đi tôi sợ Má quẹt lọ lên trán xin phép Ông Táo như những lần cũng đi hướng ấy về quê ngoại đám giỗ. Không, lần nầy Má tha!

Mấy đứa khác gặp trên đường không có vẻ lo âu như tôi, chúng đi một mình mà còn nhìn tôi chế nhạo, học trò mới: dốt!

Má nói chuyện với chú sáu Niên gì đó, Chú ghi ghi chép chép, tôi đứng bên cạnh có khi tôi nhìn xuống quyển sổ Chú ghi, có lúc tôi nhìn đám đông xếp ngồi từng nhúm đang xù xì to nhỏ nhau.
Chú ngưng viết, nhịp thước mấy lần lên bàn của Chú, tụi nó nín khe trở lại.

Mọi việc kết thúc khi Má dặn: Nó làm biếng Chú cứ việc uýnh! Mấy đứa dưới ra hiệu roi mây nẹt đít tôi thấy rõ ràng mấy giây trước đây khi tôi nhìn hướng chúng, làm tôi cũng hơi chùng xuống đôi chút.

Ðến khi Chú chỉ chỗ ngồi cho tôi, tụi nó lấn còn có chút xíu, tôi đặt đít vào như phải trướng lấn lại cả hai phía: lưỡng đầu thọ địch.
Trên mặt bàn hai đứa hai bên khuỳnh tay, cùi chỏ gần đụng nhau chừa chỗ nghiêng nghiêng vừa đủ tôi đặt bình mực, cặp tôi chỉ được ghé chút, còn phần dư phải tựa trên đầu gối.

Suốt buổi ấy sư phụ tôi chưa truyền phép mầu gì, quyển vở còn trắng tinh, bụng trống như lúc ra đi không chữ nào trong đó.
Lúc cho về tôi khoanh tay "Thưa thầy em về" như mọi đứa khác, từ nay tôi không gọi thầy tôi là chú nữa.

Má tôi qua khỏi Cổ thụ đôi chút đón tôi vinh qui, vì từ đoạn đó tới nhà tôi không có đứa nào cùng đường, chúng đã rẽ vào xóm trước khi.

Em tôi bỏ trò chơi bắn cu li một mình vừa một lúc làm hai vai, hai đối thủ. Em chạy lại chạm nhẹ tay tôi: Có gì hôn? Ý em tôi hỏi có bị đòn hay biến cố trọng đại nào không, tôi cười lắc đầu và nó an tâm hiểu rằng đi học là chuyện dễ dàng. Tôi giấu em cuộc chiến đấu từ cả hai cánh vừa qua của tôi.

Hai ông lấn tôi từ bữa sau trở đi dễ thương lạ, hai ổng nhường chỗ cho tôi thoái mái: Hai ông làm thầy kèm tôi; Làm thầy thì phải hy sinh chứ! Người lớn mà! Ðâu lại giành chỗ với trò hay ít ra là đàn em.
Thầy phóng mấy chữ cái trên tập bằng viết chì rồi hai thầy "lấn chỗ" chỉ tay vào chữ đọc trước tôi đọc theo kèm theo lời hăm dọa: Tụi tao đọc ba lần mà không đọc lại được như tụi tao hồi trước là đuổi học.
Tôi hiểu hai thầy xưa kia thông minh rất mực và nay có quyền tâu lại Thầy đuổi tôi.

May phước, sau lần thứ hai là tôi đi suông. Kế tiếp tôi còn được chừa chỗ rộng hơn, không bị thình lình đụng tay khi tôi dùng viết mực đồ theo lằn chì mấy chữ cái thầy phóng.

Vần xuôi: Bê a ba, bê á bá ...em mờ a ma, em mờ á má ... tôi thanh toán gọn mấy ngày kế tiếp và thêm ít ngày nữa tôi xong phần vần xuôi, phải từ giã hai thầy "lấn" để qua nhóm vần ngược ngồi góc bên kia. Hai thầy cũng tự hào dạy giỏi.


Tôi không nhớ rõ tôi học ở đó bao lâu nhưng tôi biết rằng tôi đã tiến qua giai đoạn tự chép theo bài thầy biên trên bảng vuông vức màu xám treo trên tường và làm toán cộng trừ không số giữ.

Thời gian đó tôi lần lượt được chuyển học chung nhiều nhóm khác nhau ngồi riêng góc tùy theo trình độ tôi tiến lên được, thuở ấy chúng tôi gọi là được lên lớp.

Thầy tôi bị ruồng bắt lính trong một đêm nào. Không còn ai thay thế dạy cái lớp học đủ mọi trình độ đó.
Một buổi sáng u buồn chúng tôi ra về, giã từ cái nhà đãi ăn của ngôi đình làng dùng làm trường lớp đầu đời của tôi và có lẽ cũng của các bạn cùng thuở.

Ngôi trường đình có cánh đồng rộng bên kia đường trước cổng chúng tôi cho diều hát vi vu mùa khô, trong lớp chúng tôi ngồi lắng nghe đoán biết được nó đang lên cao hay lượn xuống, tàn cây vú sữa cho chúng tôi bóng mát nô đùa mỗi lúc được ra chơi.
Tôi thấy mấy đứa con gái thường nhảy dây, đánh thẻ, ít khi thuộc bài lại khóc nhiều hơn hết trong buổi sáng lạc thầy đó.


Ít lâu sau Thầy tôi trốn về được. Ngang qua nhà, thấy Má tôi, Thầy nói vọng vào: Tui mới về nè chị Tư !
Má tôi dừng Thầy lại nói chuyện mấy câu, tôi chạy ra mừng, ngỡ thầy vài ngày nữa sẽ dạy lại.

Không, thầy tôi vĩnh viễn bỏ thiên chức khai hoang. Vĩnh biệt Thầy!


NhàQuê May 21,2005






Đình Làng, Ngôi Trường Đầu Đời

Mái vẫn rêu phong trước sau êm vắng
Uy nghi ngầm phảng phất nét hiển linh
Sắc vua phong thuở trước cẩn cung nghinh
Ơn đức bổn Thần tiếp nhau truyền rạng

Nhớ Má cúng cầu mong tôi sáng láng
Trước hôm nao dẫn đến gặp thầy xưa
Đứng khoanh tay, lắng tiếng dưới hăm đưa
Nhìn khúc roi xơ, lòng mình tự vấn

Rồi chút nữa đây “mấy ông” xúm lấn
Ngơ ngác trùng vây lọt thỏm giữa lòng
Xóm dưới đầu trên có vẻ đợi trông
Chờ thầy xếp cho tôi cùng chung dãy

Tàng lá xum xuê cánh tay rộng trải
Bóng mát rợp che trong ngõ lối ngoài
Nhớ buổi vỡ lòng… giờ tít chân mây
Mất dấu Trường xưa, Đình ngùi thế sự

NhàQuê


Bên Kia Đình Làng

Hai nhành rẽ phướng giữa tầng bay
Uống gió no đầy túy lúy say
Vụt thoắt lên cao tìm hướng núi
Vòng vèo lượn xuống bỡn vòm cây
Hồ pha giấy phất diều đâu sợ
Nhợ mảnh sườn oằn sáo lắc lay
Nhắc đến nơi xưa vui thú ấy
Trường ĐÌNH chạnh nhớ khóe mi cay

NhàQuê





Mời nghe: Quê Hương-nhạc phổ thơ Ðỗ Trung Quân/ Nhã Phương hát




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 8 2010, 09:40 PM
Gửi vào: #4


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"





Đoản 3- Qua Ðồi Cát Nóng



Vào mùa nắng, các làng ven biển quê tôi có thể nói gọn không ai muốn bước chân ra đường. Sức nóng làm đôi mắt lúc nào cũng chực khép vào giấc ngủ nặng nề nhơm nhớp mồ hôi đang xô tới; Tôi thằng bé đi học về dưới từng hạt nắng bốc lửa ấy!


Anh Mười và anh Út mặc áo dài trắng khăn đóng đen dạy học công quả cho chùa, chúng tôi học trong ngôi trường lợp lá mới cất theo chiều dọc con đường đi, mấy cây cột còn mùi cây rừng chưa khô hẳn, chưa tróc hết vỏ.

Trường mới của tôi bên trong rào của thánh thất Cao Ðài Thiên Tiên, các cơ sở phụ thuộc của chùa kể cả phòng thuốc nam làm thành các dãy tách biệt sau ngôi chánh điện nguy nga mái ngói, có hai tháp cao phía trước hình dáng quen thuộc như những chùa Cao Ðài trông thấy đó đây, chúng tôi thường gọi hai tháp ấy là lầu chuông lầu trống. Các loại cây, rễ, lá có thể làm thuốc thường được bọn học trò chúng tôi mang tới hiến, góp phần công quả và có lúc chúng tôi bỏ lớp vụt ra phụ khiêng, kéo các đệm, nia thuốc đang phơi khi cơn mưa đột nhiên ập nhanh đến.

Trường gần ranh giới làng tôi với làng kế cận: Thuộc làng bên. Tôi lại có thêm bạn mới, nhiều đứa sau nầy cùng tôi ra trường Tổng, nhưng trong những ngày nầy chúng không về cùng đường với tôi, vì tôi từ làng khác tới học nhờ. Sau mấy bài thử sức, tôi theo các bạn mới không vất vả gì.

Thế nhưng đến khi thầy cho về là lúc trí óc tôi phải hoạt động căng thẳng, nghĩ cách qua đồi, qua nổng cát nóng hừng hực, con đường duy nhất phải vượt qua, không cách nào khác. Trong lúc nổng cát dường như thu gom hết sức nóng từ mặt trời lên đến giờ, đem chúng trải dọc lối về của tôi.

Tôi nhẩm tính từ đám cỏ khô nầy đến đám gần nhất xem có thể chạy nổi một mạch không, nhẩm tính những đám cỏ nào còn sót lại chưa gãy rụm mấy ngày trước, lúc tôi nhào lên đứng bằng một bàn chân, bàn chân kia ghé tạm lên trên chờ đổi thế cho nhau, đến khi cả hai nguội để có thể chạy nhanh qua “đoạn đường chiến binh” kế tiếp.

Ðường đi dọc lưng đồi, hai bên lối đi cây xương rồng gai nhọn tua tủa còn sống nổi, nhưng xem ra chúng cũng bệ rạc, xen kẽ vài đám gò mả, nơi đó không có loại cây có khía nhiều gai ấy, đám mả còn chút ít cỏ khô cho chỗ đứng tạm.
Xa dưới triền đồi, mấy chòm tre gai mốc thít như ngủ gục, như trôi trên làn sức nóng chập chờn. Mặt trời cao vút bên trên mà sao sức nóng phả khí thế đáng sợ!

Phải chạy năm hơi mới tới cây keo già không còn cành nào phía đường đi, tàng lá đều nghiêng về một bên phủ kín cái giếng lạn chứa tạp nham đủ loại bị gió cuốn tới.
Ðứng trên rễ cây đảo mắt xem chừng trên ấy nghe nói thỉnh thoảng có bà mẹ xõa tóc nằm võng ru con.
Con tắc kè trong bọng cây không biết bao lớn, cất tiếng đến giật mình, tùng dấu hù dọa thằng bé, thúc nó bỏ chạy tiếp, vượt qua đám duối tháng trước còn rậm rạp, giờ xơ xác, bên trong nhiều lúc có ma chọi đất ra, người gan dạ dám lận theo mấy miếng gạch vụn chọi lại thì nghe tiếng ma bỏ chạy.

Cuối cùng tôi cũng nghĩ ra được miếng mo cau hay “thịnh soạn” hơn là một hộp giấy dày làm cứu tinh đem theo, khi không còn bụi cỏ khô nào.

Cơn mưa đầu mùa ập xuống, cũng chỉ làm đồi nổng cát phủ được lớp da ướt bốc khói râm rức, bên dưới lớp da ấy khi vít thử chân, lớp cát khô quánh vẫn đang nằm thách thức.


Ngôi trường thứ hai tôi đấy! Không có con chữ, phép tính nào mà tôi không đổi bằng gót chân mỗi ngày một chai dày thêm.

NhàQuê June 01, 2005


Con Lộ Đất

Em kể lại tôi nghe
Con đường xưa bây giờ tráng nhựa
Vẫn vắt ngang qua mấy ấp quê mình
Những cây cao cây còn cây đà đốn
Nhìn lạ làm sao!

Trong ký ức một mình tưởng lại
Con đường làng cát nóng vuột da
Tôi thằng bé chân trần đi học
Băng qua nổng cao khổ ơi là
Chạy từ đoạn một

Đầu trên kia có miễu Bà Bèo
Phía nọ giáp làng bên Giồng Nần, Đục Mộ
Người ở xa biết làm sao nhớ
Riêng tôi quen như từng ngón tay mình
Chia phe phục kích

Đi học sớm chun vô bụi núp
Đợi tụi nó ngang nhảy ra hù
Mới vô trường đà trèo lên một bậc
Sách chẳng nói nhất quỷ nhì ma đó ư
Đường thêm ma nữa

Con ma giờ đây nhớ thương đường cũ
Đêm chiêm bao đi lại bao lần
Vẫn y nguyền từng chùm cây dại
Nhàn hạ trổ hoa đâu chờ Xuân

Tôi thằng bé chân trần
Ước bỗng làm hạt cát!!

NhàQuê 2005




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 8 2010, 10:28 PM
Gửi vào: #5


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"





Ðoản 4: Cánh Chim Bay



Như sự giã từ trong âm thầm trước chuyến đi xa, tôi làm người say ghé những chỗ thân quen nói miên man chuyện trên trời dưới đất, mưa nắng, mùa màng...tất cả những thứ ấy và nhiều hơn nữa đã đóng gói vào một góc hồn tôi trong số hành lý không thể nào đong đếm được, có cái cùng có thứ chỉ riêng: Chúng là Quê Hương bây giờ tôi ngàn dặm.

Tôi đi lại đoạn tỉnh lộ 26, có cầu Bà Hiền bắt ngang con rạch tưới ngọt cánh đồng chỉ có vụ mùa. Những tháng nát rạ chờ mùa vụ mới, đám trẻ chúng tôi và xóm bên kia dàn trận đánh nhau chọi bùn chí chóe hai bên bờ rạch, ngay cả đứa ốm yếu cũng góp phần xắn bùn tiếp tế hay giữ quần áo, cập vở cho các tráng sĩ ra trận được an tâm.

Trận đánh lần sau mãnh liệt hơn lần trước, hai bên tìm cách qua sông chọc thủng phòng tuyến của nhau, bắt tù binh trát bùn, trấn nước...Những con người dũng cảm ngày nào đã trôi theo dòng thời gian và hai bờ cuộc chiến có thật, cuộc chiến kết thúc bi thảm không như...

Từ chỗ trống trải nhìn xuyên ruộng rẫy thấy được bến Ðường Tắt, nơi đó cùng các bạn trai khác, tôi đã phụ vác cây rừng vừa sức mình về làm vách cho trường mới cất chưa quá hai trăm thước gần nhà tôi.

Tôi nhớ hoài bữa cơm canh mướp tép rang ngon chi lạ ở nhà thầy sau buổi phụ vác cây ấy. Thầy vai em trong họ hàng, nhưng không vì thế mà được thiên vị.

Lớp tư thuở đó có vài bạn học chung vai cô chú tôi, cũng có mấy bạn vài năm sau có vợ lấy chồng, mấy bạn gái ngồi các bàn trước, lưng họ che chắn làm tôi vất vả phải đứng lên đọc chữ trên bảng rồi ngồi xuống chép, khi họ dựa vào bàn sau cũng làm chúng tôi khốn đốn, nét chữ răng cưa.

Gần cuối năm thầy bỏ đi kháng chiến thỉnh thoảng thầy ghé nhà thăm Ba Má và hỏi thăm sự học hành của tôi. Lâu sau trong trận đánh nào đó thầy tôi, viên Huyện Ðội Trưởng đã hy sinh cho lý tưởng của mình: Vĩnh biệt thầy Nguyễn Tấn Hồng!

Tôi lại hằng ngày qua cây cầu ván không lan can trên tỉnh lộ đến học tiếp ở trường "Nhà Việc Cháy". Trường gần công sở xã, nơi người dân thiếu thuế, thiếu xâu bị bắt "đóng trăn". Cái Nhà Việc được cất lại trên nền công sở cũ đã bị thiêu hủy thời Nhật Ðảo Chánh. Gần như những bạn trường ấy không nhớ gì khi tôi nhắc có lần tôi đã học chung với họ, vì tôi đến đó vài tháng cuối niên khóa. Không biết tôi có được kể là cựu học sinh trường sơ học Tân Thủy không nhỉ? Xin cho tôi với chứ! .......


Vào mùa vụ, sau buổi học tôi theo Ba Má sang bên kia rạch, đi phụ làm cỏ, bè dăm mạ, ôm đất đắp bờ ...Chiều nào bầy cò trắng cũng bay khoan thai về hướng rừng xa, chốc sau đám le le rợp trời diễn tập đội hình, khi bay chung khi tách riêng, đổi hướng rồi lại nhập vào. Không nhớ ngày đó tôi nghĩ gì khi ngắm nhìn chúng mà giờ nầy tôi là cánh chim lìa đàn bay đi. ./.


NhàQuê June 16, 2005






Thơ: NhàQuê
Phổ nhạc:Thanh Ngọc (Milano)




Click để nghe:





Theo Cánh Chim Bay/thơ NhàQuê/nhạc Thanh Ngọc





(Theo Cánh Chim Bay - Thơ: NhàQuê; Nhac:Thanh Ngọc) - Thân tặng nhà thơ NhàQuê



Theo Cánh Chim Bay

Có một dòng sông chảy tận đây
Trong tôi tưởng nhớ suốt từng ngày
Ra đi vẫy biệt lòng đau cắt
Gởi lại âm thầm dạ xát xay
Xứ lạ luôn dành nguyên góc nhỏ
Quê xa vẫn cất trọn tim nầy
Nghe ai nhắc đến tên dưng bỗng
Muốn được thành chim chớp cánh bay

Bay qua chốn cũ xóm nhà tôi
Nén những bâng khuâng cố tưởng hồi
Cổ Thụ vươn cao giờ hạ đốn
Đình xưa bóng rợp trước đùa chơi
Trông theo dáng nhỏ vừa tan học
Thấy lại y nguyên đủ khoảng đời
Ước được sau cùng nương cánh giạt
Lần nhìn trước lúc biệt xa khơi

NhàQuê




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 8 2010, 10:51 PM
Gửi vào: #6


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"





Ðoản 5: Vượt Cánh Ðồng Ma



Thế rồi tôi cũng học hết lớp tư, từ nhà tôi đến trường Tổng, trường dạy tới lớp ba, Trường Sơ Học Xã Diệu không xa lắm đi về hướng Quận.


Trường có hai phòng học vách ngăn bằng lá nằm dọc theo tỉnh lộ 26 bên ngoài vòng rào bót có cả nhà lồng chợ.

Mấy đứa bàn chót có thể thò tay qua chỗ rách khều ghẹo với mấy đứa lớp bên kia, có lần tôi bị méc và bị thầy đòn vì trò nghịch ngợm đó: Tôi lọt bẫy vì chúng quấy tôi trước, đến khi tôi thò qua thì chúng hè nhau giữ chặt tay tôi lại.

Trường nào cũng vậy, vẫn theo phong tục con gái ngồi hết mấy bàn đầu, vẫn theo truyền thống ngoại giao khép kín giữa trai gái cùng lớp, lằn ranh phân biệt ấy chưa bên nào vi phạm, điểm thấy rõ nhất là phía gái đã bắt đầu mang theo và ăn lén xoài ổi, kẹo bòn bon trong lớp mà không biết hối lộ bên trai chút nào, trả lễ chúng tôi cũng chẳng nương tay nên thỉnh thoảng "giới thiệu" các cô nàng tình nguyện trả bài lúc mấy trự chưa kịp nuốt hết, lắc lư, trợn trắng! Họ gọi chúng tôi là Ðồ Quỷ từ đó.

Trong lớp tôi có nhiều đứa là con các viên chức địa phương, họ thường chểnh mảng bài vở, nhưng thầy cũng "không nỡ" nặng tay. Bọn trai chúng tôi tiến tới giai đoạn cởi mở rủ bạn bè về nhà ăn cơm có gì ăn nấy, xong tắm ao tắm đìa, trèo cây hái trái...Ngôi trường qui tụ đủ học sinh các xã chung quanh, do nền ngoại giao phát triển đó nên chúng tôi thông thuộc mọi lối đi ngang đi tắt trong vùng.

Chỉ trong gần một năm lớp ba, chúng tôi học tới ba thầy khác nhau vì lần lượt mấy thầy bị gọi đi lính, sau nầy đọ lại với lịch sử đó là những năm chiến tranh Việt Pháp đi vào giai đoạn kết thúc (1953-1954). Do vô tư của tuổi trẻ chúng tôi chưa có mảy may nào quan tâm tới thời cuộc, vẫn thả dòng vui chơi học hành theo ngày tháng đi qua.

Ðã xong hai kỳ thi xét lên lớp , một biến cố xảy ra cắt ngang nếp sống đều đặn thường nhật của tôi: Anh tôi trốn lính, mấy ngày sau đó anh đi tu lánh nạn. Cái ông Cai Tổng hay dẫn đám lính đốt nhà những gia đình có người đào ngũ, có khi bắn giết cả nhà nếu người trốn mang theo vũ khí hay gây thiệt hại; Gia đình Ba Má Anh Chị Em tôi tức tốc rời bỏ ngôi nhà êm ấm, có giàn bầu tự tay tôi trồng chăm bón đang trĩu quả, trốn đến cuối làng gần rừng làm chòi sống tạm gần như màn trời chiếu đất mấy ngày đầu; Khổ nào cho xiết!

Mươi ngày sau tình hình lắng dịu, Ba xin Bác tôi một nền nhà cho gia đình trú ngụ vẫn cuối làng, xa nơi nhà chưa dám trở về của tôi. Má tôi lại dẫn tôi qua xã khác xin học lớp ba với người bác họ: Thầy Tô Văn On.

Mỗi sáng tôi đi ngược hướng mặt trời mọc băng qua cánh đồng rộng đến trường Vĩnh Hòa có cây duối cao trước cửa lớp, nơi ấy tôi có nhiều bạn mới chia phe bắn u du giữa hai buổi học sáng chiều, lần cuối cùng thằng Tín thọ tiển nơi mắt và trò chiến tranh nầy đi vào dĩ vãng chúng tôi. Mốc thời gian được nhắc lại cả Niêm và tôi nhận ra nhau có thời học chung lớp, tôi ở đó chỉ có mấy tuần lễ cuối niên học.

Tan học buổi chiều tôi lại đi ngược hướng mặt trời, băng qua cánh đồng ban sáng nổi tiếng ma, nhất là ngang đám cây chùm quân, nơi nghe đồn có người bị ma giấu cho ăn đất sét, qua đó đi càng lẹ tôi nghe hình như có người đang rượt theo.


Thời gian cuối năm lớp ba ấy tôi hai lượt đi về, ánh nắng sau lưng, tôi đuổi theo bóng của tôi đang đỗ dài phía trước như đuổi theo tương lai một cách vất vả nhưng không kém phần bền chí.

Con đường tôi qua không đoạn nào bằng phẳng cả!


NhàQuê June 24, 2005




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 8 2010, 11:04 PM
Gửi vào: #7


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"





Đoản 6: Bác Nông Phu


Ðời Bác chưa biết Sài Gòn, Bác chẳng có việc gì để tới chốn Trường An đó. Tuy thế Bác không như phần nhiều hàng xóm láng giềng quanh năm ôm khư khư vạt lúa mùa, chưa đi xa hơn các làng lân cận. Bác đôi lần tới thị thành tỉnh lỵ đó chứ! Dù ít ỏi vậy mà Bác vẫn đến đúng nơi đúng chỗ.

Bác dắt con lần đầu tiên của cả hai hành hương thánh địa Cao Ðài, viếng tịnh xá nơi Ðức Lý Giáo Tông Nguyễn Ngọc Tương nhập tịnh, rồi kế nữa khi Ngài qui tiên.

Lần đứng trước Chánh Án Tòa Hòa Giải Rộng Quyền Bến Tre tuyên thệ làm thế vì khai sanh cho con, qua đó Bác đã ký gởi ước vọng tỏa mát tựa bóng mây, tấm lòng người cha mong đứa bé sau nầy thoát khỏi vùng bao đời tăm tối. Không có lần đó một mảnh đời riêng đã rẽ đi hướng khác.

Thằng bé nhớ mãi ngày Bác đong đưa con cúi bện rơm, khói không tan được trong lớp sương dày đặc, vẽ thành vệt dài dọc theo con đường băng qua cánh đồng rộng dẫn về hướng Tây.

Vài giờ nữa mặt trời sẽ lên từ phía sau lưng; Cha con vượt ngang khoảng đêm sắp tàn, đến sớm ngồi chờ trong sân Trường Tiểu Học Bổ Túc Ba Tri ngày đầu tiên của niên khóa, nơi ấy cũng có lác đác vài cha mẹ dẫn con từ các xã xa tới.

Mãi tới học trò đã đâu đó vô lớp rồi, ông Ðốc Học Huỳnh Văn Chưng mới giải quyết đến nhóm người ngồi chờ.

Ông nhìn thằng bé nhỏ xíu nghi ngờ không biết Nó đủ sức học nổi lớp nhì, lớp moyen hay không?

Thằng bé gan dạ dám trình Ông tất cả bài thi đều đạt điểm cao. Thế rồi mọi chuyện cũng qua, thằng bé được xếp vô lớp nhì F chưa có thầy cô nào chánh thức phụ trách, quý thầy thay phiên dạy tạm hàng ngày trong mấy tháng liền.

Trong ba dãy trường, chỉ dãy lớp của nó lợp lá, phòng học có lần làm phòng bỏ thăm, trong xó góc Nó thấy được hàng đống hình Ðức Quốc Trưởng in sẳn mặt bị gạch tréo.

Ngài xấu xí quá nhiều so với hình chính Ngài ngự trên giấy bạc đang lưu hành.

Vị Vua mới không long bào, nguyên là vị tể tướng từng mấy lần quì nhận tước đã soán ngôi Ngài qua ấy...

Ông Hiệu Trưởng đã sửng sốt khi đến lớp nhất D công bố và nhìn mặt thằng bé "Thủ Khoa". Ông ngỡ rằng Nó ngồi đâu cuối lớp, ai dè Nó đứng dậy từ bàn đầu Ông không hay.

Từ đó thằng bé được cả trường biết mặt, thầy cô nhớ tên dù năm trước Nó cũng đã một lần lảnh thưởng nhất lớp.

Lần nầy Nó gom hết ba phần: nhất mỗi lớp, phần thưởng Tổng Thống và phần thưởng đặc biệt do một người địa phương có phương vị gần như thành viên Nội Các, gởi tặng cho học sinh đứng nhất qua kỳ thi riêng của tất cả học sinh được xếp nhất nhì ba trong mỗi lớp.

Phần thưởng đặt ra lần đầu tiên và có nhiều sách quý, đến ông Hiệu Trưởng phải nhắn thằng bé đem cho ông mượn đọc trong một thời gian, nhiều quyển còn bút tích ghi chú của ông.

Bác nông phu chân đất thật sự xúc động trong số khách dự lễ phát thưởng năm ấy, lần đầu tiên được danh dự nhận thơ mời. Cả hội trường ít nhất ba lần vỗ tay, nhìn thằng bé lên nhận thưởng rồi nhìn người cha; Bác nông phu áo vải ngồi lạc chung quanh những lụa là.

Bác nông phu thân phụ tôi, Ba tôi đó!

Trong tiềm ẩn Người có tất cả những đặc điểm anh hùng mà tôi tôn kính. Lần hãnh diện tôi mang lại cho Người chưa thấm vào đâu so với công mà tôi năm dài tháng rộng được hưởng dưới bóng mát mênh mông của Người.

NhàQuê 2005




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 9 2010, 08:47 PM
Gửi vào: #8


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi Trường xưa Em học"




Đoản 7: Muối




Thuở ấy tuổi hoa niên, tôi hòa nhập vào dòng chảy chính cùng các bạn khác mỗi ngày một đông dần thêm: Tôi là học sinh

Trường Trung Học Công Lập Bến Tre, Trường Trung Học Kiến Hòa tên gọi về sau. Tôi hãnh diện là!

Chúng tôi đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau, đến từ nhiều nơi chốn khác nhau, cách trú ngụ cũng khác nhau, đến từ nhiều giai tầng xã hội khác nhau, tuổi tác cũng khác nhau ...cái chung là chúng tôi theo đuổi cùng một chương trình giáo dục phổ thông đồng đều của chính phủ lần đầu tiên của tỉnh tôi: Tỉnh có ba dãy cù lao, có ngút ngàn dừa xanh lả ngọn quanh năm trỉu quả, có cánh đồng lúa hát vui mùa lên đòng ngậm sữa, có mấy cánh rừng nước mặn kiêu hãnh trực diện thách thức từng cơn sóng dữ biển Ðông...


Nếu có một thang biểu để xếp hạng có lẽ tôi ở trong nhóm thấp kém nhất về nhiều mặt, không hiểu sao tôi đã che dấu tung tích nghèo nàn thiếu thốn của mình suốt tháng năm ròng rã nơi “cửa Khổng sân Trình" ấy.

Tôi cố thủ trong vỏ ốc mặc cảm hàn vi của mình. Tuy nhiên tôi cũng có vài bạn để gần gũi, vì tôi đã có lần ngủ đêm trong cái nhà người bạn: Cái nhà trống trước trống sau, vách phên rách nát, bà mẹ phải tha phương làm mướn làm thuê, lâu lâu về cho chút tiền và anh em họ đùm bọc nhau giữa hai kỳ mẹ về với đàn con rồi lại ra đi.
Vài bạn khác mà em gái phải hy sinh việc học hành để hàng ngày vun xới mảnh vườn bên cạnh người cha không còn chân nào sau ngày hòa bình tạm thời lập lại...

So các bạn ấy tôi thầm nghĩ tôi còn diễm phúc ít ra là trong hai năm đầu tiên khi Ba tôi chưa đột ngột từ trần.
Sự ra đi của Người làm gia đình tôi nghiêng hẳn! Lần đó có vài bạn hay tin tới thăm trễ, nhưng làm tôi hổ thẹn thân thế mình trong thời gian dài trước khi tôi nhận ra nghèo không phải là một điều gì ghê gớm!
Bây giờ không trễ tôi xin tạ lỗi cùng các Bạn, vì những ý nghĩ chưa lần nào nói ra ấy và đã tiếp các bạn xơ xài, không xứng đáng những nghĩa cử ưu ái mà các bạn từ xa lặn lội đến thăm.
Các Bạn còn khuyến khích tôi đừng bỏ học...

Sau mỗi mùa Hè, tôi trở lại trường tóc hoe da nám của mấy tháng theo thuyền buồm ra biển, sang sông bắt xò nghêu, lặn lội vô rừng bắt cua bắt cá. Số tiền kiếm được phụ giúp một phần vào chi phí ăn ở cho năm học kế tiếp. Thiên nhiên thời ấy cũng góp phần...Các em tôi đều dừng lại ở tiểu học cùng Má tôi lo cái nguồn lợi huyết mạch: lò nấu muối.

Ba tôi một tá nông dành dụm mua được hai mẫu ruộng rẫy trước đã mướn. Mỗi năm có một vụ mùa vào những tháng nước ngọt, hai mẫu đất thiếu trước hụt sau vì gò và rạch xẽo cũng được tính vào diện tích chung, còn phần trằn thì năm nào lúa cũng bị nước chảy mẹp. Trúng mùa cho lắm cũng chỉ hơn trăm giạ đôi chút. Thế còn hơn nhiều gia đình khác chạy gạo từng ngày!

Từ tôi còn nhỏ lắm, Ba Má tôi đã làm thêm việc nấu muối, nấu nước mặn lọc ra từ đất nhiễm nước biển, lớp đất trắng mốc thít, công việc nầy đòi hỏi nhiều sức cần lao từ bước đầu tiên đi nạo vét lấy đất có chứa muối cho đến khi vớt được những hạt muối trắng ngần kết tinh từ lò nấu liên tục không ngừng nghỉ ngày đêm, bên cạnh đó phải có đủ củi đốt cho dù là cây tươi, chuyện nầy không phải dễ dàng!

Về sau nước mặn dùng để nấu thành, do lọc từ muối hột khi làng tôi đã được du nhập kỹ thuật làm ruộng muối từ Phan Thiết


và lò nấu được chụm bằng trấu làm cho công việc chế biến nầy đỡ vất vả hơn nhưng cũng phải liên tục ngày đêm. Muối hột và trấu đều mua thiếu được trả dần.

Muối bọt, thành phẩm đó phần lớn bán chịu cho đồng bào vừa di cư vào Nam, họ dùng trong khâu sản xuất mắm tôm, mắm ruốc (cho đến năm 1960 họ rời đi nơi khác vì cuộc sống đe dọa), mọi việc thiếu chịu vần lân dây chuyền như vậy dựa vào lòng tin lẫn nhau.
Ngoài việc đã có đủ lúa ăn, "kinh tế phụ" gia đình tôi như thế đó!

Sau khi Ba tôi mất, đáng lẽ tôi đã phải bỏ học, chuyện đó ắt phải vậy và tôi cũng sẳn sàng! Hàng xóm láng giềng và nhất là bên phía nội tôi khuyên Má tôi để tôi ở nhà phụ giúp gia đình: Lấy Giạ Ðong Lúa, Không Ai Lấy Giạ Ðong Chữ

Vâng, chính lời khuyên ngàn vàng ấy Má tôi nhất quyết hy sinh thêm nữa cho tôi theo đuổi việc học cho đến hết bậc đệ nhất cấp theo suy tính của Người.
Phải hiểu điều kiện sinh sống ngày đó ở nông thôn mới thấy hết gánh nặng trỉu vai của Má tôi vừa tự chất thêm lên cho mình.

Tôi lại đến trường lòng ngổn ngang không tả xiết!... Tôi đã chiến đấu không kém phần dũng cảm bên cạnh các bạn đồng song có cuộc sống an lành hơn tôi trong nhiều năm dài, tôi cho là thế!

Ðứng nhìn mặt đất tuyết phủ trắng, nhìn từng đống tuyết lem luốc bị ủi vào xó góc bãi đậu xe, tôi thường so sánh với màu muối bọt và muối hột thuở nào với nhà tôi đứng cạnh. Nàng hiểu tôi hơn tất cả, đã đi bên tôi suốt bốn mươi năm rồi. Thân Phụ nàng đã thi ân giúp tôi theo học được năm cuối cùng bậc trung học, mức thang chót tôi cơ hồ không với tới... Nàng chẳng khác là bao nấc thang tiểu thơ cao thẳm, vòi vọi về một bên ...

Trong trí tưởng hồ như Ba Má tôi mờ mờ mỉm cười nơi phía an nhiên...

Xin đời đời nhớ ơn! và tôi đã đến!

Tôi còn nhớ rõ lắm, lần đầu tiên bước lên bục giảng ở một tư thục, nơi học sinh không đồng phục, một thứ biểu tượng của kỷ luật mà tôi chỉ mới rời bỏ tháng trước đây. Tôi bắt đầu nghiệp dĩ bằng bài muối Clorua Natri: NaCl

NhàQuê 2005




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 18 2010, 06:32 PM
Gửi vào: #9


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"


Đoản 8: Trung Học Tư Thục Nguyễn Du




(Di ảnh Thầy Nguyễn Văn Phước, Hiệu Trưởng Trung Học Tư Thục Nguyễn Du, Ba Tri Kiến Hòa)



Nếu vị giám khảo không rộng lượng, chấm bài toán kỳ thi tuyển vào đệ thất trường công mà tôi làm bài sai từ đầu tới cuối, chắc tôi đã rơi đài .


Tôi cũng nhận biết ngay được vì kết quả toàn số lẻ thập phân, lúc đó tôi không còn đủ thì giờ để chép đầu bài rồi làm lại từ đầu trên tờ giấy khác.

Cách giải hoàn toàn đúng theo trình tự. Ðến nay, tôi vẫn thắc mắc là do tôi chép đầu bài thi sai vài con số nào đó hay lỗi do hai vị giám thị viết lên bảng sai.

Cũng may tôi trúng tuyển hạng thấp, nếu không tôi đã là học sinh trường trung học tư thục Nguyễn Du có lẽ.

Một cách rộng rãi, tôi cho 80m x 20m = 1600 m2 là các cạnh và diện tích toàn thể khuôn viên nhà trường gồm hai phòng học trong một thời gian dài và sân bóng chuyền có cái giếng hộc ở cuối, mỗi lần banh ra ngoài hoặc ra lộ hoặc va vào tường hoặc nóc nhà lân cận làm láng giềng thường xuyên méc với văn phòng dù họ cũng là phụ huynh học sinh.
Sự thực chưa chắc trường Nguyễn Du đạt được diện tích "lớn" như vậy!

Tôi đến lớp học của trường lần đầu tiên với sự hướng dẫn và giới thiệu của vị giám thị, khi ấy trường đã được mười tuổi trong suốt chiều dài chung hai mươi năm lịch sử của nó. Trước đó tôi chỉ ngang qua, dù rất nhiều bạn tôi theo học ở đây. Tôi chỉ nhận dạy ở đó nhiều nhất là 8 giờ mỗi tuần, thường thì 4 giờ cho đến ngày miền Nam đổi chủ và trường xóa sổ.

Một cạnh 20 mét vừa nói tiếp xúc với tỉnh lộ 26, đoạn đó tỉnh lộ theo hướng Nam Bắc trước khi nó quẹo đúng 90 độ đổi hướng Tây Ðông để ra biển cách nơi đây khoảng bảy cây số; Do đó kiến trúc chánh của trường là hai phòng học không hướng ra đường mà lại nhìn về hướng Nam, hướng ngôi Giáo Ðường. Tôi không tìm hiểu có phải phần đất trường tọa lạc được mướn của Nhà Thờ hay không.

Tôi quên chưa nói cho các bạn biết trường Nguyễn Du nằm gần rìa phía Bắc của quận lỵ Ba Tri, Quận quê tôi. Thầy hiệu trưởng gắn bó hai mươi năm thủy chung với nó, có người gọi thầy là chủ trường.

Chưa bao giờ tôi thấy thầy ăn mặc cẩu thả, bỏ áo ngoài quần hay mang dép, chưa bao giờ! Thầy mang giày da, áo veston, nón nỉ thoạt nhìn tưởng thầy sắp sửa đi đâu đó. Không, thầy sắp sửa bữa nhậu mỗi chiều ngay trên hàng hiên ngôi nhà lá của thầy gần căn chót của dãy trường hai lớp học, nhà thầy xa đường lộ hơn, cũng quay cửa về hướng Nam, tiếp theo nữa còn vài nhà khác hàng xóm thầy, họ không có đường nào tiện lợi hơn là qua cửa nhà thầy rồi qua sân các lớp học vốn hẹp lại còn lổm ngổm xe đạp trong những ngày có lớp để ra lộ cái, ra tỉnh lộ 26.

Thầy du học ở Pháp về, mấy năm đầu thầy dạy Pháp Văn sau chắc già yếu thầy không đứng lớp nữa.

Chiều nào khi hết giờ dạy ở phòng gần nhà thầy, cách mấy cũng không thoát được khi thầy gọi qua, cùng ngồi trên hàng hiên đó đối ẩm.

Khổ nỗi thầy không cần mồi, kiểu nầy tôi chịu không thấu nên thường phải có món nhấm riêng cho, có thể là sớt ra từ phần dành cơm chiều cho thầy, chí ít cũng là đậu phộng rang. Thầy không uống "sét" bao giờ, phải pha “sô đa” tuy chỉ là cognac nội hóa, thỉnh thoảng mới có Beehive hay Rivalet.

Thầy không ép nhưng theo thầy cho phải lễ, đã là chuyện vất vả dù tôi thuộc hạng cứng đang lên!

Dĩ nhiên rượu vào lời ra, thầy kể chuyện những ngày thầy còn là "dân cậu" con điền chủ, xó xỉnh hầm rượu nào ở Paris cũng có ít nhiều lần thầy đến đó. Thầy "kiên trì giáo dục" hoài đến nỗi tôi thuộc lòng, cộng thêm sách vở nên lần đến Paris tôi đã dễ dàng kiểm chứng vài điều thầy kể khi xưa.

Một món tôi không học được ở thầy là môn đá gà, thầy mê lắm. Nhiều lúc vị giám thị vào lớp nhắc nhở học sinh đóng học phí đúng hạn, phải dừng nói vì đám gà nòi trong chuồng sát vách gáy vang làm cả lớp cười rộ. Mùa lạnh lớp học um khói do đám gà nòi được sưởi ấm thêm cho dù đã nghệ ngãi đúng mức. Ðám học trò vẫn thường đổ thừa khói quá chúng làm bài không được chứ không phải do chúng không thuộc bài.

Chiếc xe lôi đậu chờ thầy và thằng "đệ tử" mang bịch đệm có gà chiến trong ấy đi theo, thì ai cũng biết hôm nay có nhiều trận gà hấp dẫn đâu đó.

Nhớ rằng thầy vẫn khoác veston như hằng ngày khi bước ra khỏi cửa, thầy là người duy nhất trong trường gà mặc như vậy, trong lúc giới mộ điệu có nhiều cụ ông bới tóc củ tỏi...

Các quán nhậu dã chiến di chuyển theo trường gà như vệ tinh không thể thiếu được, đo đó cũng tạo được hưng phấn như xem đá gà mà nhiều người cho đá gà là một nghệ thuật.

Sau 1980 tôi có vài lần thưởng thức món da gà nòi xào lăn và thịt gà nòi "hon đu đủ", thời gian nầy đá gà bị cấm, gà đá được tròng cựa sắt nên trận đấu diễn ra rất nhanh và bên thắng còn được "bắt xác" gà thua vì vậy có món nhậu hấp dẫn nầy: Da gà đã được nghệ ngãi dòn ngon thì phải biết!.

Trong chín năm đầu tiên, Nguyễn Du là trường trung học duy nhất toàn quận Ba Tri, học sinh của trường đủ loại "quốc tịch" của mười sáu xã trong quận và tương đối đông đúc, phải mướn thêm phòng học bên Nhà Thờ. Ðến năm thứ mười lăm cất thêm một phòng học thứ ba quay cửa ra sân bóng chuyền thay thế cho phòng mướn Nhà Thờ đã hết hạn.

Mỗi cấp có được hai lớp, nét đặc biệt là học sinh dù cùng lớp nhưng tuổi đời chênh lệch nhau nhiều, thời chiến tranh nên điều nầy dễ hiểu.
Ở quận miền quê như vậy, thầy cô đã có gia đình hay còn độc thân đi ăn cưới học sinh của mình là chuyện thường, thường như phụ huynh nhờ con mình "thỉnh" thầy tới ăn giỗ hay đám cúng kiến gì đó.

Ngoài vị giáo sư trụ cột sắp xếp môn dạy và thời biểu, con gái ông hiệu trưởng các buổi không học cùng phụ giúp vị giám thị lo việc sổ sách và được mấy thầy "cưng" lắm vì Bé chi xuất trả lương, có khi "kẹt" mấy thầy mượn trước nữa, thế mà vẫn bỏ bao thơ lịch sự đúng mức.

Trường dù nghèo, ở vị trí khiêm nhường nhưng đã hoàn thành vai trò của nó sau hai mươi năm giảng dạy.

Không có thống kê chính xác về tổng số học sinh đã học ở trường đệ nhất cấp nầy; Tuy nhiên tôi khẳng định là nhiều học sinh đã là Bác Sĩ, hoàn tất Cao Học, Sĩ Quan Võ Bị, Sĩ Quan Hải Quân, Sĩ Quan Không Quân, Sĩ Quan Thủ Ðức... đủ các binh chủng và chuyên môn kỹ thuật... có nhiều người mang cấp bậc Ðại Tá không kể chiến tuyến, cũng có nhiều cấp chỉ huy, viên chức thuộc ngành Cảnh sát Quốc Gia, đông nhất phải kể nghề giáo giảng dạy đủ các cấp lớp,... lại cũng có người đạt học vị Tiến Sĩ (Ph.D) tại Hoa Kỳ...Các cựu học sinh Nguyễn Du là doanh nhân thành đạt nhan nhản. Rộng lớn hơn phải kể từ cấp Xã Ấp cho đến Quận Huyện Tỉnh Thành đều có bóng dáng lãnh đạo mà ngày xưa đã có thời theo học Nguyễn Du.


Tất cả đều góp phần với đất nước trong phương vị của họ.

NhàQuê 2005




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 19 2010, 04:40 AM
Gửi vào: #10


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"

Đoản 9: Ban Khánh Tiết



Đình làng tôi cũng như tất cả các đình khác trong vùng, đều có cử ra Ban Khánh Tiết, quý cụ trong ban ấy đều là những người được kính trọng, uy tín đầy mình.

Ban Khánh Tiết họp nhau bàn định phân công, lo liệu công việc trong năm, cúng kiến, mời và trả lễ các đình làng bên khi được mời lại, trong đó lần quan trọng nhất là cúng kỳ yên của mỗi đình thường có rước hát bội về diễn ba đêm, vở tuồng nào kết thúc cũng rất có hậu.
Đình nào không làm đủ bài bản như vậy coi như " mất mặt" với các làng khác. Vì tôi đi học rồi mưu sinh nên thực sự không sống ở làng nhiều, chỉ hiểu lờ mờ như vậy. Có vài lần dự đám cúng nhưng là khách mời của đình.

Không hiểu gì cả mà có lần tôi làm trưởng ban khánh tiết mới tréo cẳng ngỗng. Khen ai khéo đặt ra cái ban nầy trong mỗi lớp của trường trung học. Tên thật sự của nó là Trưởng Ban Trật Tự Khánh Tiết và Vệ Sinh, nghe dài dòng văn tự quá cỡ thợ mộc!!

Số là mới lót tót từ dưới quê lên tỉnh học, đường xá ngang dọc còn chưa rành, còn sợ đi lạc vậy mà "có chức" liền, sướng không???

Trong lớp tôi có tới bốn đứa cùng quận nên sau khi các "chức vụ có ăn" đã bị phe thành thị chiếm hết rồi: Nào là Trưởng Lớp, Phó Lớp, Trưởng Ban Học Tập và Báo Chí, Trưởng Ban Thể Thao và Du Ngoạn, Thủ Quỷ...nên ba ông kia đẩy tôi ra kiếm chút cháo, vớt đỡ con vịt đẹt!!

Chắc là do ông "Ba Tri Thi Tập: Đào Phát Đạt" nhanh miệng giới thiệu người đồng hương là tôi vào "Chức Trưởng Ban Trật Tự Khánh Tiết và Vệ Sinh".

Tôi đắc cử dễ dàng nhờ tôi nhỏ con!! Cám ơn các bạn cùng lớp chỉ mới ngày đầu tiên chưa quen nhau mà tín nhiệm tối đa "trong cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp và kín"!
Các bạn tôi quả có đầu óc khôi hài!!

Năm sau tôi ngán quá, lớp lại cử bạn khác, ông "Hộ Pháp" làm trưởng ban nhiệm kỳ mới; Lại cũng óc khôi hài, phải to con mới giữ nổi trật tự!!

Tôi được xếp hàng trong giới lãnh đạo, trình diện "nội các" nhận tràng pháo tay có cả reo huýt sáo của mấy ông "trật búa" tôi biết về sau nầy .

"Nhậm chức" rồi tôi mới hiểu đây là chức vụ quan trọng vào hàng bậc nhất về nhiệm vụ: Tôi phân công quét lớp một cách "Quốc Pháp Bất Vị Thân" đồng đều và ai tới phiên cũng phải vì lợi ích tập thể mà thi hành.

Nghe nói ở các lớp nam nữ hổn hợp bọn con trai sướng lắm, khỏi làm vụ nầy, vì các cô nàng muốn chứng tỏ "ba đảm đang" nên làm tất, dịp cho người khác coi giò coi cẳng hiền thục, có thể sợ đám con trai khám phá ra "đồ chua" bánh kẹo giấu trong học bàn cũng nên. Lớp toàn nam chúng tôi thì rắc rắc!!

Chổi cùn phải báo cho Thủ Quỷ xuất tiền mua cây khác, việc giữ chổi mới là chuyện rắc rối, thượng phiên bàn giao hạ phiên, lỡ khi họ quên tôi phải đem về nhà ở trọ, chứ để góc lớp đã có mất rồi: Sách xưa có nói ăn cắp chổi thì nghèo mạt rệp vậy mà vẫn mất có tức hôn?!?!
Ở nhà cũng không hiểu tôi vô trường làm tới chức gì mà lảnh được nhiều "chổi chà" như vậy!

Rồi lại còn vụ lau bảng, phải nhúng ướt miếng bọt biển mỗi lần đổi giờ của Giáo Sư, mà hồ nước trong nhà vệ sinh ít khi đầy lại còn nhìn vô muốn phát ói... Bảng phải được lau sạch cuối giờ mà đứa nào cũng mới mười một, mười hai tuổi nên phải nhảy mới với tới mấy chữ thầy viết trên cao, làm như đang ôn các động tác tập thể dục!

Nói trưởng ban cho nghe gồ ghề vậy chớ trong năm chung quy chỉ có vụ quét lớp, lau bảng là thường xuyên các ngày học.

Trật tự thì đâu ai ớn cái thằng nhỏ con nhất, còn khánh tiết tôi chẳng biết làm gì trừ lần tổ chức tiệc chia tay nghỉ Hè mọi người hùn tiền đi mua kẹo bánh và nước ngọt, cái khó là đứa nghèo quá thì có bao nhiêu hùn bấy nhiêu, vậy mà tôi làm được dịp để cho ban văn nghệ hát xướng: Hôm nay đây còn vui trông thấy nhau...

Trong lớp cũng có vài người không biết học ở đâu cứ mỗi lần rảnh rỗi như tiệc chia tay Hè ngày hôm đó, lại ưa cầm tay người khác hành nghề.

Trước khi nó phán, nó bắt tự mình kiểm soát lại chỉ tay coi có đúng là : bàn tay trái nào cũng có chỉ tay hình chữ AI, bàn tay phải rõ ràng chữ ỈA.

Xong thủ tục rồi bắt đứng dậy xem tướng mạo: Tụi nó phán tôi rằng cuộc đời mầy không khi nào làm được cấp trưởng. Sách Tam Thế Diễn Cầm cũng nói tôi như vậy.


Tất cả đều trật: Tôi có làm Trưởng Ban Trật Tự Khánh Tiết và Vệ Sinh; Nghề của chàng!!!

NhàQuê 2005





--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 19 2010, 05:13 AM
Gửi vào: #11


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"



Đoản 10: Nhan Sắc


Em có thể cô bé cột hai tà nhảy cò cùng bạn là cụ bà quá sáu mươi hoặc lưng chừng khoảng giữa là nhân vật nữ một thời nào đó trong đời rụt rè bước qua ngưỡng cửa trở thành nụ hoa nức ra từ nách lá trang điểm tạo phấn hương quyến rủ ngẩn ngơ Anh hay Ta là một hoặc nhiều người lại cũng có thể là con đường góc phố em qua con đò em sang hàng bữa hay dòng sông dịu dàng có ai ngờ cuồn cuộn tự dưới sâu Em với Ta thuở nào ngờ nghệch.

Guốc mộc Em khua càng ngày thêm vần điệu nắng sớm nắng chiều toa rập cùng chiếc nón nhạc thơ mong manh đôi má ửng hồng ẩn náu làn môi giấu giếm thẹn thùng bất chợt Anh nhìn buâng quơ lời không rõ nghĩa giật mình mẹ hỏi mấy lần luýnh quýnh lời thưa cốc đầu em hăm he dấu nhẹm liếc chừng ai lảng vảng gần xa con chữ đọc qua đọc lại mấy lần khô khốc trôi biệt tăm tăm không dính lại chút nào chỗ chứa kia có gì rất mới bám chặt như keo trí khôn đi đâu mất biệt khù khờ đến chẳng dám nhìn nhau



Hoa phượng Hè nào cũng rực đỏ chói chang theo gió lay lay chẳng nói lời gì buồn mênh mông da diết khoảng cách không xa bên nào cũng ngơ ngơ ngẩn ngẩn trông hướng trời kia thơ viết hoài không dám gởi biết làm sao nhận lại hồi âm có dáng quen quen nháng tới nháng lui mấy lần đứng chờ góc phố giả bộ tình cờ huyên thuyên trời trăng mây nước không thấm vào đâu không dàn bài nhập đề đi đâu chưa tới kịp hay còn đang ấp úng



Em có thể đến từ Mõ Cày Thạnh Phú Giồng Trôm Ba Tri Bình Đại chiều em về Chợ Giữa Ba Lai Sơn Đông Cái Nứa Hữu Định Tú Điền mang ước mơ rộn ràng phố thị rải thơ lên những con đường mấy mươi năm có nhòe nhoẹt chút nào hai tà hãy để gió bay chấp chới cơn mơ trắng ngần ngăn nào vừa nhét vội phong thư thương nhớ một trời hồng cây cỏ xanh hơn làn sóng ngầm không dáng hình rõ rệt âm thầm lắc lư từng con đường góc phố

Phố thị rộn ràng dòng suối trắng chảy ngang qua những cây me sân trường bốn góc hồ kia làm sao quên em được có dù đóng kín gạo bài phờ phạc hao gầy phập phồng dò thấy tên em trên bảng hay nước mắt rơi thất thểu chẳng muốn bước ra hàng quán rất gần có biết Hè bên ngoài vẫn vậy nhiều thêm vài Hè nữa em rời nơi đó sang trang rẽ nhánh con phà phía Bắc chở giấc mơ em con đường Duy Tân cây dài bóng mát



Cổng trường xưa vẫn mở mỗi mùa đã là dĩ vãng chợt nhớ chợt thương về ngang quay lại thôi thì em vui màu áo mới có còn chăng bối rối nhìn nhau không hay giờ chỉ còn xả giao kiểu cách tiên nữ xuống phàm cổ tích đã xa đua chen ráo riết sóng cuốn ào ào mờ mờ dấu chân chim vội vàng khỏa lấp dáng hình đổi thay nhận ra đâu dễ tình cờ gặp lại bao năm có phải đấy không sao giờ lạ quá trao đổi dè chừng

Thiên Địa Phong Trần Hồng Nhan Đa Truân lòng thắt quặn đau nước non binh lửa mới đó khăn sô em chít Cổ Lai Chinh Chiến Kỷ Nhân Hồi em có mặc màu nào đi nữa có đổi thay được kiếp người đâu chăm bón cây non đứng thẳng trở mình xanh tươi hoa lá xum xuê ơn em vô cùng tận thấm thía Nước Trong Leo Lẻo Cá Đớp Cá Trời Nắng Chang Chang Người Trói Người em có vui lòng xương gởi nơi xa



Gọi tên nhau muốn rơi nước mắt mới đó mấy chục năm con đường xưa em đi thay đổi đã nhiều cứ khép đôi mi em vẫn rõ ràng hiện ra vẫn rộn ràng góc phố lung linh soi bóng hồ kia bởi em và ta có thật cõi phàm trần nầy xin ngợi ca em là Nhan Sắc đẹp vô ngần cám ơn Em

NhàQuê Sep 25, 2006





--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 19 2010, 08:49 PM
Gửi vào: #12


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"



Đoản 11: Monsieur RICHARD

Tây Tới, Tây Tới!!
Chạy, Chạy Bà Con Ơi !!!



"Ông Cụ" trạc năm mươi, gầy, đi hơi ngã về phía trước, mặc "côm bờ lê", thắt cà vạt đường hoàng, nách một đống giấy tờ bọc trong các bìa cứng, thường đi bộ đến trường. Đó là thầy hiệu trưởng thứ tư của trường tôi theo học: Thầy Bùi Văn Mạnh, Hiệu Trưởng Trường Trung Học Kiến Hòa.

Thuở ấy những năm 1960-1963, tôi qua các lớp đệ tam, đệ nhị rồi đệ nhất. Tôi không nhớ rõ Thầy từ Mỹ Tho sang nhậm chức vào tháng nào của niên khóa 1960-1961, có lẽ những tháng cuối của niên khóa nầy.
Tôi chưa thấy Thầy mặc áo sơ mi khác hơn màu trắng và để cổ hở bao giờ, "côm bờ lê" của thầy màu nhạt, thường là màu mỡ gà hay xanh bông phấn.

Đôi lần Thầy lái xe Traction màu đen đến trường, làm thầy "oai" ra phết: Đi làm bằng xế hộp! Tôi không nghĩ Thầy muốn "chơi nổi" như nhiều người đương thời, lối sinh hoạt trong trường của một nhà giáo mẫu mực hổ trợ cho sự suy nghiệm nầy của tôi. Những lần như vậy có thể là Thầy từ nhà bên Mỹ Tho sang trễ đôi chút nên đến thẳng cho kịp công việc. Cũng có thể vì giấy tờ hồ sơ quá nhiều không thể ôm đi bộ như hàng ngày, giờ hành chánh ở văn phòng không đủ cho Thầy giải quyết phải mang về làm thêm. Lại cũng có thể là sau khi rời văn phòng Thầy phải đi đâu đó gấp, không kịp trở về công xá dành cho để lấy xe.

Công xá vừa nói nằm trên đường Hai Bà Trưng, khoảng giữa đại lộ Phan Thanh Giản và đường Lê Văn Duyệt, ngôi công ốc nầy nhìn ra hướng Nhà Đèn, trong đó có cả phần của ông Quận Trưởng Trúc Giang.

Nhiều năm trước đọc trong Website Nguyễn Đình Chiểu-Lê Ngọc Hân, Mỹ Tho được biết sau nầy Thầy sống bên Cali. Tháng trước trong lúc phụ đưa danh sách Thầy Cô và Cựu Học Sinh vào trang Trung Học Kiến Hòa mới hay rằng Thầy đã qua đời.



Mấy ngày nay đọc đi đọc lại mấy lần bài "Thầy Bùi Văn Mạnh và Tôi" của Giáo Sư Huỳnh Chiếu Đẳng có thêm được vài chuyện xưa nay về Thầy, trong đó có chuyện về dạy tiếng Tây.
Nếu bài viết nầy có gì thất lễ, xin được tha thứ, tôi chỉ muốn gợi về một kỷ niệm vẫn còn hiện diện một cách rõ ràng trong trí nhớ ngày càng thất thoát của tôi, nhưng kỷ niệm ấy về Thầy thì không phai chút nào.

Là học trò, ai chẳng khoái các giờ trống (giờ permanent) hoặc giờ giáo sư thình lình vắng mặt, nếu được hai giờ liền nhau thì tuyệt vời. Dùng giờ "tự do" vàng ngọc ấy đi lang thang ra phố rửa mắt, rề rà quán nước nhả khói triết gia, đấu láo thiên hạ sự ở quán cà phê hay ít ra tụm năm tụm ba ngoài Bờ Hồ, cô nào đi ngang đúng giờ "hoàng đạo" đó coi như không cóng giò cũng rệu khóc.
Nhưng nếu nhìn thấy Thầy từ xa đi tới, tức thời "đơn vị" phân tán mỏng liền tù tì, sợ Thầy thì ít mà sợ Thầy kéo vô trở lại có được bao nhiêu đứa hay bấy nhiêu: Cho Thầy dạy tiếng Tây.

Thường thì Thầy dặn trước thầy cô giám thị nói lại trưởng lớp, bảo cả lớp chờ Thầy lên dạy, những lần như vậy không thoát được. Còn dịp bất ngờ giáo sư không đến, cả lớp còn đang lóng ngóng chờ người xuống văn phòng hỏi, sứ giả đi giữa đường gặp Thầy đang ôm một đống bài in ronéo đi lên, là được "Ê Trò" quay lại cùng Thầy.



(Dãy Lầu Thường Bị TÂY Ruồng Nhất)


Có đứa nào đó tinh mắt thấy trước la vang động cả hành lang: Tây Tới, Tây Tới, Tụi Bây Ơi, Chạy! Y như trong làng quê khi xưa báo động nhau khi lính Tây đi ruồng.
Thầy Cô đang dạy lớp bên cạnh lấy làm lạ ra cửa lớp nhìn, sau quen dần mỉm cười lắc đầu...

Có khi chúng tôi cũng chạy "gió", xộ!, vì tin tức do cảm tình viên cung cấp không đúng sự thật
:
Thầy cũng ôm xấp bìa cứng như hàng ngày, cũng đi ra khỏi văn phòng; nhưng lại đi họp với các cơ quan khác hay đi công việc gì đó ngoài trường.

Tóm lại Thầy ra khỏi văn phòng là có "báo động đỏ", mức thấp nhất cũng "báo động màu da cam".

Vậy mà có lần cả đám bị tóm mang trở lại, còn giả lả phụ ôm dùm bài cho Thầy rất ư ngoan học, chắc lâu ngày Thầy biết "mánh" đi lên bằng cầu thang chúng tôi thường chạy xuống.

Đoạn trên có nói về bài in ronéo, tôi xin nói với các bạn trẻ về chuyện nầy: Những năm tháng đó nhà trường chưa có máy photocopy, khi cần in nhiều bản phải dùng máy ronéo, nói là máy chứ thường quay bằng tay, sau có máy tự động quay bằng điện.
Tờ giấy sáp (stencil ??) được quýnh máy trực tiếp qua máy đánh chữ đã tháo ru-băng, những chữ được gõ vào đó làm cho giấy sáp bị lủng lỗ, nhờ vậy mực in xuyên qua được giấy sáp in thành chữ trên giấy, thường là loại giấy tái chế rẻ tiền màu vàng đất, tờ giấy sáp được móc cuốn tròn vào trục máy ronéo hình trụ nằm ngang và mực in đã được nạp vào máy.
Vậy là sang lắm rồi đó, chứ tụi tôi có khi phải dùng bàn chải phết mực in rồi quét qua giấy sáp cho mực xuyên qua và in xuống tờ giấy đặt bên dưới, cách thủ công nầy làm bản in không đều, chỗ đậm chỗ lợt...
Về máy đánh chữ, các bạn có tưởng tượng được rằng ngày đó và cho mãi đến năm 1975, ở một nước thuộc Thế Giới Tự Do như nước ta, vậy mà tư nhân muốn mua một máy đánh chữ phải xin phép chờ điều tra, thuận mới được mua và có máy rồi phải nạp bản chữ mẫu cho nhà chức trách Cảnh Sát Công An... Họ lượm được truyền đơn giống loại chữ máy của mình, người sở hữu gặp rắc rối không nhỏ... Không có máy chữ, chúng tôi có khi phải viết vào giấy sáp bằng cây viết có kim nhọn ở đầu, vẽ hình nhất là về Toán phải theo cách nầy....

Lúc đầu, cấp lớp nào Thầy cũng dạy một bài in sẳn y như nhau. Sau Thầy cho lớp tôi mượn mỗi đứa một quyển "Le Livre Unique", quyển sách bìa cứng màu rêu nhạt, chính gốc sách in bên Tây, người ta nói khỏi lo vụ in trật chính tả, sách in bên Tây không bao giờ có phụ bản đính chính.
Tôi nhớ nhất lần Thầy dạy bài "La Rentrée" trích của Anatone France, mở đầu: Je vais vous dire tout ce que.... khi đọc tới Le ciel agité de l'Automme, Thầy đang tìm chữ tiếng Việt cho từ agité, có đứa nào đó nói lớn "Trời Thu xao xuyến" Thầy ơi! Thầy ờ ờ khen giỏi có vẻ đắc ý....
Sau bài học nầy, tôi đâm ngờ bài "Tôi đi Học: Hằng năm cứ vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều, trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức,...." của Thanh Tịnh có thể là phóng tác???



(Trong Vườn Luxembourg)


Le sac au dos, Je traverse au jardin du luxembourg en sautigent comme un oiseau(moineau ??) dans le premier jour d'Octobre ....Les feuilles tombent une à une sur les épaules nues des statues...(Xin tha lỗi chánh tả vì lâu ngày quá viết lại không đúng văn phạm và ngữ vựng). Chính bài nầy đã là nguyên nhân tôi bỏ ra một ngày thay vì đi xem lâu đài Versailles bên ngoài thủ đô nước Pháp, tôi đi riêng viếng vườn Lục Xâm Bảo mò cho được bảng tên vườn nầy dịp tôi đến Paris.



(Rờ Bảng Tên Vườn Luxembourg)


Quyển sách Thầy cho mượn, không thấy kêu trả lại nên tôi giữ đến mãi sau 1975 bị toán truy quét Văn Hóa đến nhà bắt vợ con tôi nộp, vét hết sách tôi quý, Họ thu đem làm giấy đi đồng chắc!?!?

Bán niên thứ nhì của năm đệ nhị, chúng tôi không còn bị "Tây Ruồng" nữa, có ruồng chắc ai cũng trốn.
Và Thầy cũng biết "tụi nó" đang đứng trước ranh giới hoặc "Thượng Sĩ Gân" hoặc "Cánh Gà": Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ..., và ước mơ " Tiến Xa Hơn" có nguy cơ tan vỡ. Thầy dạy nhiều lần vậy mà Thầy không nhớ cũng chẳng hỏi tên đứa nào hết, khi truy bài Thầy chỉ tay: Trò! Vous!

Lớp chúng tôi đàn anh thoát rồi, nhưng các lớp sau "áp lực vẫn còn nặng nề" và học loạt bài mới hơn được đưa vào; Đó là chuyện về gia đình Richard: Monsieur RICHARD s'habite à Paris....
Nếu chúng tôi ám chỉ Thầy là Tây thì các bạn các năm sau đặt "bí danh" cho Thầy là Monsieur RICHARD.
Với Thầy đọc tiếng Tây mà đọc chậm là không được à nha! Thầy rầy làm líu lưỡi luôn! "Ngu Như Cá" là thành ngữ nghe các bạn trọ chung nhà nói lại vào lúc thầy giận nhứt (Thay vì thường nói Ngu Như Bò trong tiếng Việt).

Tôi xin ghép bí danh Monsieur RICHARD và TÂY TỚI ám chỉ Thầy Hiệu Trưởng Bùi Văn Mạnh của thời chúng tôi còn là học sinh "quần kaki xanh nước biển, áo sơ mi trắng ngắn tay cổ hở", làm tựa đề bài nầy. Những từ danh ấy có lẽ Thầy chưa hề hay biết!

Vĩnh biệt muộn màng Thầy: Vị Tướng Soái phương vị cao cả không muốn quên những ngày dẫn đại đội tấn công!

NhàQuê 2005





(Paris Có Gì Lạ Không Em)




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 20 2010, 08:28 AM
Gửi vào: #13


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"


Đoản12: Khung Cửa Sổ



Lần cuối cùng chúng tôi khép các cửa sổ lại và rời trường. Việc đóng các cửa sổ lớp học ra về, hằng ngày gần như không còn ai để ý hay có sự xúc động nào, vì nó nằm trong việc qui định cho toán trực mỗi lớp.

Các bạn có còn nhớ cửa sổ lớp mình màu gì không? Tôi tin rằng tất cả đều nhớ đúng!
Trường học nào cũng sơn cửa và cửa sổ màu xanh, màu của hy vọng ...! Qua bao nắng mưa, chúng được tu bổ, sơn phết lại nhiều lần, lớp sơn có mới cũ. Điều đó không xao động nhiều trong trí mỗi người khi chợt nhớ về.

Cửa sổ được đóng mở có ích lợi gì ai cũng biết, riêng chúng tôi việc ấy như dấu chỉ cứ lớn dần theo nhịp thể chất phát triển lên.

Ngày mới thành học sinh trung học, nhiều đứa trong chúng tôi đã không dễ dàng trong việc đóng mở bốn cánh lá sách ấy, vậy mà có tới hai khung như thế, có khi còn nhiều hơn tùy vị trí lớp dưới trệt hay trên lầu, ở khu trường cũ hay lúc đã dời về trường mới....

Tôi chưa bao giờ ngồi gần cửa sổ, lẽ dễ hiểu là tôi thuộc nhóm nhỏ con phải ngồi mấy bàn đầu, nơi các bạn gái thường chiếm trong các lớp hỗn hợp. Cũng không biết ai đặt ra qui luật như vậy, chưa chắc gì lúc đó chúng tôi đã biết "nịnh đầm" An Nam.
Ngồi mấy bàn đầu có lợi nhìn rõ những gì thầy cô ghi vẽ trên ấy, tai hoạt đông ít căng thẳng hơn, .... nhưng thường bị chiếu tướng, bị truy bài thường hơn, không rỉ tai nhau được khi tình cờ có ý nghĩ vui chợt đến!

Nếu các bạn có thử lần nào, thì rõ ràng ngồi cạnh cửa sổ nóng hơn, lảnh đủ sức nóng của nắng hắt vào; Nên chi các anh lớn như anh Triệu văn Hoa chẳng hạn, thường bị ngủ gật. Ngày chúng tôi vào đệ thất còn nhỏ xíu mà anh lấy vợ được rồi đó, chênh lệch rất xa! Anh và anh Tươi lớp trên hơn cũng cao lớn như vậy, được xếp trong đội hầu kỳ. Thầy Nho đặt tên là toán gỡ bóng đèn khỏi cần thang.

Cửa sổ chốc chốc lại mở ra, làm chúng tôi ngồi mấy bàn đầu bị lóa không đọc được chữ thầy biên trên bảng. Khiếu nại lại đóng, lại mở ... nhiều lần. Sau nầy khi đã bể giọng, đám nhỏ chúng tôi mới rõ lý do tại sao, bên cạnh lý do bị hắt nắng còn có một lý do "quan trọng" hơn; Ấy là tiếng tu huýt re rét của cô Liên đang dạy thể dục bên dưới sân.

Tôi mường tượng viết đến đây, khi các bạn đọc, thế nào cũng vỗ đùi mình một phát, đúng rồi! thằng NhàQuê nói đúng tim đen quá trời. Có đứa hông mắc mớ gì tới cửa sổ, ngồi tận đâu đâu cũng lò mò qua mở dùm...thấy thương.

Dưới sân bầy tiên nga đang tắm nắng, cánh trắng, quần đùi đen túm ống đang trong cuộc thi đoán hào hứng, trừ tóc ngoài ra trắng bốc đủ size, đủ code ... thôi thì đủ thứ ...Thôi tôi cũng không dài dòng chi cho lắm! (Vũ Trọng Phụng). Làm sao đóng cửa sổ cho đành!

Tôi không hoan nghinh cô Liên tí nào, cô ưa méc với phòng giám thị và chúng tôi lại nghe các thông cáo không được vui vẻ gì hết. Chán ngắt như thao diễn nghỉ, nghiêm, nhật lịnh...ở giai đoạn sau nầy kaki...
Cô ơi! Cô không thông cảm tụi em chút nào cả, tại cô chưa từng làm con trai mà ! Cô lại cứ méc: Monsieur Thắng, rầy học trò nghe, tụi nó chọc phá học trò "Mõa" đó nha! Và thầy Thắng của chúng tôi "Oui" lấy lệ.


Khung cửa sổ thuở hoa niên, thuở trái tim rung mãnh liệt của những tháng năm dưới mái trường Trung Học Kiến Hòa khép lại sau lưng, nhiều khung cửa sổ khác liên tiếp mở đóng: Những khung trời mới quang đãng có, u buồn có, mây đen vần vũ có...lần luợt đến đi; Nhưng có một ai hỏi những gì còn ghi đậm rõ trong trí nhớ, thì xin thưa đó là...

NhàQuê 2005






--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 22 2010, 04:41 PM
Gửi vào: #14


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"





Đoản 13: Bảng Tên Trường



Gần đây có bạn thắc mắc là không biết trường mình có lúc nào có tên thật sự là Trường Trung Học Công Lập Bến Tre hay không, tôi cũng có dẫn chứng để làm sáng tỏ chuyện nầy rồi, dù rằng tôi không có thẩm quyền gì để bảo đảm việc có tính cách hành chánh đó; chỉ hoàn toàn dựa theo trí nhớ của mình, tôi tự tin như vậy!

Làm thơ ký cho cô Chung Thủy trong việc lập danh sách cựu Giáo Chức và cựu Học Sinh trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa, đọc các tài liệu và hình ảnh do cô và nhóm bạn thiện chí của cô sưu tập được, sau đó chuyển Email hoặc Bưu Điện sang cho tôi. Thú thật tôi hân hạnh và xúc cảm mãnh liệt khi lần đầu nhìn, đọc các tài liệu tưởng chừng không cách nào tìm được.

Những điều tôi viết trước đây, gần như phù khớp, độ chính xác rất lớn. Rồi từ đó tôi nhớ lại một điều làm tôi mủi lòng, các bạn cùng khoảng tôi khi đọc bài nầy chắc có cùng cảm tưởng như tôi, tôi tin vậy!

Các bạn ơi, thế hệ học sinh 1956 chúng tôi là đợt học sinh đầu tiên học suốt liên tục bậc Đệ Nhất Cấp và Đệ Nhị Cấp tại chỉ một trường thân yêu Trung Học Công Lập Bến Tre rồi cải danh theo tên tỉnh trở thành Trung Học Công Lập Kiến Hòa. Về sau trường còn có tên Lạc Long Quân và cả Nguyễn Đình Chiểu nữa. Hai tên gọi về sau nầy, do tôi đọc được trong số tài liệu tôi có nói bên trên.

Dù danh xưng có là gì đi nữa, trong thâm sâu "Người" vẫn là một, mẫu số chung của chúng ta đó các bạn ta ạ!

Cái mủi lòng của thế hệ chúng tôi là từ năm 1954 đến 1964, khoảng 10 năm lịch sử ngôi trường chúng ta nhắc đến là thương ấy; Chúng Tôi bước qua mấy chiếc cổng khác nhau mà không có treo bảng tên. Không có bảng tên trường trong 10 năm đằng đẵng...Không có bảng tên trường...Không có bảng tên trường!!!



Những tấm ảnh các bạn tìm thấy rải rác trong BenTreHome có cổng và bảng tên trường đều được ghi lại sau năm 1964.

Thực ra có một lần có bảng tên trường, nhưng lần ấy bảng được treo ở cổng vào văn phòng, tọa lạc tại góc ngã tư đường Nguyễn Tri Phương và đại lộ Phan Thanh Giản.

Không có bảng tên trường cũng đồng nghĩa, chúng tôi học nhờ trường sở của trường khác, có thể so sánh với hình ảnh một người đã trưởng thành rồi mà chưa có nhà ở


. Không như các bạn về sau có được trường ốc khang trang, cổng thay đổi mấy lần, càng về sau càng uy nghi bệ vệ ...Tôi nghĩ nếu các bạn mường tượng lại chắc sẽ thông cảm với hồi cảm của chúng tôi.

Thời gian học nhờ trường Tiểu Học Phan Thanh Giản (trường Nam Tỉnh Lỵ), và trường Cộng Đồng Dẫn Đạo, trường không treo bảng tên đã đành! Khi dời về trường mới, khu vực Sở Thú cũ, trường có tới 2 cổng ra vào, do vì trụ cổng tạm quá thấp; Đó là lý do vì sao trong suốt 7 năm, chúng tôi mỗi ngày đi học ra vào không được đi ngang dưới bảng tên trường mình.

Nhưng tôi nhớ rất rõ tên trường và các con dấu ấn (mộc):

Trường Trung Học Công Lập Bến Tre có con dấu to hình tròn, trên vành khăn ngoài cùng có tên trường và tên tỉnh, chính giữa có huy hiệu Bụi Trúc. Thời kỳ nầy phù hiệu chúng tôi mang là miếng nỉ hình Oval, có thêu kim tuyến vàng hai bông lúa bao nâng niu 3 chữ THB viết tắt tên trường, bên dưới ba chữ đó có một hoặc nhiều dấu chấm tùy theo năm đang học (Đệ Thất, năm đầu có 1 chấm). Đồng phục áo bà ba trắng, nam quần trắng, nữ quần đen (phân biệt Giới Tính à ha !!!)

Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa có con dấu cũng in ra thành vòng tròn, vành khăn lớn ghi Quốc Hiệu và Bộ Quốc Gia Giáo Dục, vòng tròn giữa viết theo hàng ngang Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa . Về sau để thống nhất chung toàn quốc, con dấu được làm cùng khuôn khổ và cách trình bày. Phù hiệu kim loại có hình dáng chữ nhật 3 cạnh, cạnh thứ tư cong đều, nhọn phía dưới của dáng hình quả tim, nền xanh có hình quyển sách mở ra và chính giữa hơn cả có cây đuốc lửa đỏ đang cháy. Thời gian nầy, về đoàn ngũ học sinh nhà trường có tên là Hiệu Đoàn Trương Tấn Bửu và có bản nhạc làm Hành Khúc, đồng phục học sinh giống như trước 1975.
Như vậy tôi đã viết xong phần dang dở về phù hiệu Kim Loại rồi đó nghe các bạn, Huề nha!

Sau nữa là phù hiệu vải có tên trường, tên học sinh (tự viết lấy), đáng lẽ may hẳn vào ngực áo; nhưng phần đông chỉ kẹp, ra khỏi cổng trường tháo bỏ túi cho thành người lớn!!!

Xin xem đây là bài viết kỷ niệm chúng tôi vào trường hơn năm mươi năm, hơn nửa Thế Kỷ về trước! Ô Hô!!

NhàQuê 2006




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jun 23 2010, 06:29 PM
Gửi vào: #15


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"


Đoản 14- Tầng Thứ 11



Sau hai năm tôi ra trường, cái bằng cấp mỏng te, con dấu đỏ chói. Nhờ nó tôi "kiếm ăn" khấm khá sau nầy, không những cho bản thân tôi mà cho cả gia đình gồm vợ và các con cháu tôi nữa!

Ra trường rồi cuộc đời tôi thay đổi hẳn, bà con tôi ít tới lui chuyện vãn đã đành, trong đám giỗ đám cưới tôi ít thân mật với họ mà hình như họ cũng muốn xa cách tôi chẳng khác nào ý nghĩa thực của hai tiếng kỳ thị, phải khác nhau chứ vì tôi là người duy nhất học trường ấy mà! Có ai như tôi đâu!

Nói thật các bạn là ngay trong đám cưới thằng cháu tôi là đứa có chức vụ quan trọng không kém gì cha nó, anh rể tôi, tôi cũng chỉ đến gởi quà rồi ra về chẳng chờ tiệc và cũng trước khi lễ cử hành, tôi biết rằng chờ tới phần chánh nầy e rằng tôi phải lưỡng lự không biết đứng chỗ nào cho hợp.

Có nhiều đám cưới lãng nhách, tới rồi gia chủ không biết tôi là ai, nhưng tôi phải đi, không đi sau nầy sẽ gặp nhiều chuyện lãng nhách, như khi đêm họ bất chợt một cách cố tình ngang qua mà không nghe tôi ngáy. Có đám đòi tôi quà món nầy món nọ lạ lắm so với thời tôi cưới vợ.

Có khi ngồi gần nghe những người trẻ chung quanh nói chuyện mà tôi ngớ ngẩn không hiểu họ nói gì. Chẳng lẽ học trường đó ra tôi ngu đần vậy sao cà!

Với bạn bè thân xưa, tụi tôi đứa nào cũng kênh kiệu thấy rõ, đi ngang giữa đám đông hai đứa giả đò cố ý "chẳng thèm nhìn mặt nhau" nhìn đi nơi khác như chưa lần nào quen biết.

Thôi, không nói dong dài chi nữa, đó là trường tập trung cải tạo, nhờ có cái mà tôi gọi là bằng cấp thực sự nó là cái giấy chứng nhận (certificate), cái giấy ra trại, có cái ấy, cái "dài chỉ một gang thôi" đó, tôi chứng minh được rằng tôi không phải là tỵ nạn kinh tế với Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, cả thế giới lúc đó ai cũng biết người sở hữu cái bằng cấp ấy có cuộc đời "sung sướng, hạnh phúc" đến dường nào.

Tôi gọi là bằng cấp theo truyền thống chuộng học vấn từ nhiều đời ông cha ta vẫn vậy, chứ theo đúng nghĩa trường đó là nhà tù, hãy nhìn bảng hiệu người canh gác có chữ "Quản Lý Trại Giam" thì rõ. Và từ ấy chúng tôi thuộc về một sắc tộc mới gọi là Người Việt Gốc Trái Trắng, duy lụy nhiều đời sau.

Trong nhà tù kiểu mới, tôi được xếp ở tầng thứ mười một trong số mười ba tầng, đừng hiểu theo nghĩa nhà lầu mà hãy hình dung nó là địa ngục nên số càng lớn càng ở sâu không dễ gì thở nổi, kể như "muôn đời Lục Quân Việt Nam" rồi, trừ khi có phép lạ ngoài biển khơi theo tay chỉ của Ðức Thánh Trần.



Thế giải thích một trong muôn ngàn lý do đớn đau, vì sao cha con tôi gạt nước mắt nhào ra đại dương. Chúng tôi những người mang tên Ðối Tượng 11. Tôi chẳng còn chọn lựa nào khác sau hơn 11 năm cứ tưởng mình có thể lam lủ nông dân như ba má tôi đã là.

Bên kia bờ cuối hiểm nguy, tôi đã gặp tình nhân loại. Cái mà chẳng làm sao tìm được nơi tôi vừa bỏ ra đi, bỏ lại mọi thứ thiêng liêng.

Một ngày kia có dịp đi đó đi đây đôi chỗ, lần qua "cửa khẩu" Tân Sơn Nhất tận mắt thấy các lớp người gọi là có ăn có học hạch sách moi tiền, tự nhiên tôi buồn và thương hại họ một cách thành thật tự tâm tôi.

Gần đây một người quen khoe với tôi có con tốt nghiệp đại học vài năm rồi và đang xác minh chờ được kết nạp, bàn đạp để có phương vị chỉ huy dễ kiếm ăn hơn. Lớp trí thức thế sao, chẳng lẽ tôi "chúc mừng" cho anh.


Tôi thương đất nước tôi vô hạn: Mẹ Việt Nam ơi, giấc mơ bình thường còn xa!

NhàQuê Nov 28, 2005




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jul 14 2010, 05:14 AM
Gửi vào: #16


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"


Đoản Rời: B Ế N X E N G Ự A


Từ khi có xe lam ba bánh rồi sau đó xe Daihatsu, loại xe có động cơ chạy bằng xăng dầu làm phương tiện chuyên chở khách đường ngắn, đã chấm dứt nhiệm vụ lịch sử của xe ngựa hay ít ra xe ngựa không còn được dành riêng cho bến bãi để đưa rước khách như trước đó.

Như quê của NhàQuê cũng chỉ còn hai chiếc xe ngựa là cùng, mà xe cũng đã cải tiến dùng để chở nên không có mui và hai bánh bằng bánh xe Jeep có bạc đạn, đồng thời có nhíp nâng thùng xe lên vừa tầm ngựa, giúp cho công việc kéo xe của ngựa nhẹ nhàng hơn.



Khoảng năm 1961, NhàQuê được đứa bạn rủ đi SàiGòn thăm bà Ngoại của nó ở đường Bùi Hữu Nghĩa gần chợ Bà Chiểu Gia Ðịnh. Ðó lần thứ nhất NhàQuê đến Thủ Ðô và lần đầu tiên và duy nhất đi xe thổ mộ từ trước lăng Ðức Tả Quân Lê Văn Duyệt đến ngả tư Phú Nhuận, nhưng một đứa phải đứng đeo phía sau và một đứa ngồi vì chuyến xe chỉ còn có một chỗ.

Khi NhàQuê bắt đầu lên tỉnh học, nơi đây còn nhiều xe ngựa và có bến hẳn hòi. Bến xe ngựa là con đường ngắn nằm giữa chùa Viên Minh và đình An Hội, chùa và đình cùng quay cửa chánh ra cùng một con đường tấp nập bậc nhất tỉnh lỵ.

Ðình và nhà lồng chợ đối diện nhau qua con đường Nguyễn Ðình Chiểu tấp nập vừa nói. Từ hướng nhà lồng nhìn qua đình, chùa nằm về phía phải, về sau chùa Viên Minh có xây trường Trung Học Bồ Ðề quay cửa ra bến xe ngựa cũng là lúc xe ngựa lui vào quá khứ.
Riêng đình An Hội vì hùng cứ ở đô thị đầu não của tỉnh nên thần đình thế lực rất mạnh, được giao cho nắm hết lý lịch của mọi con dân trong tỉnh; Vì vậy toán căn cước bọc nhựa trú đóng ngay trong đình dưới sự bảo hộ của thần và ngày nay nghe nói còn lo luôn vụ xuất nhập cảnh nữa không biết có thật vậy không.
Ðình nào cũng có sắc phong của Vua cho vị thần được thờ.



Vào thời đó, nói bến xe ngựa thì ai cũng biết nó ở đâu, nơi chốn quýnh quá thì vén ống quần bà ba, mặt ngoảnh nhìn hai bên cho chắc ăn, trút xong nhẹ nhàng có khi huýt sáo như xong phận sự, mấy cây bã đậu rũ dần ai cũng đổ thừa tại ngựa, chỉ có ngựa biết mình hàm oan là mang tiếng đái bậy….
Ngẫm buồn nhớ thuở xa xưa:

Ðố mặt ai dài bằng mặt ngựa.…
Tuy rằng thú cũng hai giống thú
Thú như ta ai dám phen lê
Ta đã từng đi quán về quê
Ðã ghe trận đánh Nam dẹp Bắc
Mỏi gối nương phò xã tắc
Mòn lưng cúi đội vương công
Ngày ngày chầu chực Sân Rồng
Bữa bữa tựa kề Loan Giá
Hán Cao Tổ năm năm thượng mã
Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu Gia
Ông Quan Công sáu ải thoát qua
Nhờ cậy có Thanh Long, Xích Thố…

(trong Lục Súc Tranh Công)


Bác xà ích là người đánh xe ngựa, trong các chuyện kể thường gặp cô gái mặc áo dài trắng đón xe quá giang, nói chuyện một quảng tự nhiên cô khách dễ mến biến mất hoặc trả tiền mà sáng hôm sau xem lại toàn giấy tiền hàng mã. Ði chơi đêm qua các địa danh có mấy chuyện như vậy: Lạnh nổi da gà!

Thầy cảnh sát Paul bụng phệ nổi tiếng trấn thủ Bến Xe Ngựa nầy: Trong lúc mấy bác xà ích lo vô trong nhà lồng chợ phụ đem hàng hóa của bạn hàng mình ra xe, thầy tháo cương cho ngựa nhảy đực; Ngựa lỏng cốt thì làm sao kéo xe??? Mấy bác xà ích ớn thầy vụ nầy lắm!! Ðúng là thầy Paul, không hiền lành như tướng tá ục ịch đâu!!



Bến xe ngựa nầy đã cho NhàQuê một món quà quý giá tặng các bạn thời thơ ấu của mình, những người đã bao ngày chia xẻ buồn vui, chia nhau từng củ khoai cho đến vịt đấp bùn đem nướng, cùng lang thang chăn trâu cắt cỏ ở quê nhà của NhàQuê: Món quà đó là lông đuôi ngựa!
Chắc các bạn cho rằng món đó mà quý nỗi gì! Quý lắm đấy, không phải để làm hàm râu giả cho kép hát mang, khi thủ vai quan tướng trong các tuồng hát bộ vào mùa cúng kỳ yên của các đình miễu miền quê. Mà quý là dùng lông ngựa nầy vào việc bắt cá…

Quê của NhàQuê tận dưới Ba Tri lận! Dưới đó ít ngựa lắm! Lâu lâu mới thấy một con!

Nghe Ba kể khi xưa mỗi lần bà Cố (bà ngoại của Ba) sai đi công chuyện cho Bà, Ba đều cỡi ngựa đi cho mau, thuở đó còn hoang vu, các con đường ngày nay là hương lộ xe chạy thoải mái, ngày ấy còn là đường mòn quanh co những gai và trâm bầu. Nghe nói đi đâu mà được cỡi ngựa bắt ham! Ba là cháu ngoại nên hèn chi từ đó ….nghèo!

Lần đầu tiên NhàQuê thấy ngựa thiệt khi được lũ bạn rủ qua tận nhà ông Hù Ðê ở xã lân cận coi cho biết. Ông nầy lúc rảnh rỗi kiêm luôn thợ hớt tóc nên có tên kèm HÙ; Thầy hù là thợ hớt tóc, vậy là ông chuyên đè đầu thiên hạ vừa là thợ, vừa là thầy. Chứ không như ngày nay nhiều người làm thầy trước mới được làm thợ sau mà lại là thợ vịn chớ chưa được thợ chánh.

Mà mấy đứa bạn lớn rủ đi coi ngựa là có ý đồ sắp đặt sẳn, đứa nào muốn mấy con nhỏ bạn chú ý thì vô hớt tóc, chỉnh trang lại cái phần có cùng thành phần hóa học với sừng…an vị trên cái ghế đóng bằng cây tạp, quay được; Thế đã là khoa học kỹ thuật lắm rồi!
Ổng choàng cho một miếng vải trắng, thực ra nó màu cháo lòng! Không được giãy giụa à nha, dù có bị rệp lạ hơi bò ra cắn xả giao.
Kể từ đây muốn gãi hay chỉnh đổi thế ngồi phải “báo động” cho ổng trước vì món nào, món nấy của ổng cũng bén ngót. Trong lúc đó bọn còn lại ra chuồng ngựa của ông để coi ngựa.

Ðứa nào có đi học tới lớp ba mới biết được chuồng ngựa còn có tên đẹp hơn là TÀO, nhờ thầy cho tập viết và giải nghĩa thành ngữ: Một Con Ngựa Ðau, Cả Tào Không Ăn Cỏ. Giải nghĩa gì mà khó quá trời! Bịnh không chịu nói mà nói là đau, rồi tào không biết có phải cùng loại với ghe xuồng không đây hè!

Ra chuồng ngựa là thực hiện ý đồ đen tối, hớt tóc chỉ là cái cớ chứ gần nhà cũng có tới mấy thầy hù. Ý đồ đó là lén nhổ lông đuôi ngựa, có dám nhổ trực tiếp đâu! Nó đá giò lái có mà giập dái, dùng bửu bối nhánh tre tước đầu, quấn lông đuôi giựt. Con ngựa đau hí vang. Ổng bỏ tông đơ, kéo, dao cạo, kiếng lão, thằng đang thọ hình và gạt phăng thằng giả bộ chàng ràng chậm bước tiến…Rượt và chạy….

NhàQuê chưa hớt tóc ở nhà ông lần nào, ở nhà Má có dao cạo và viên đá bùn, Má liếc sơ là làm Hù ngay, cạo cho NhàQuê trắng bóc chừa chút xíu đàng trước cho ấm mỏ ác.

Lâu lâu có lạc loài chú ngựa “đường trường xa vó câu” tới, chú nầy lục lạc đồng đen hẳn hòi, còn được che mắt không được liếc ngang liếc dọc, chỉ thẳng một đàng mà đi, không được phát huy sáng kiến sáng tạo gì hết!



Vì ở xa tới nên không rành "phong tục", dịp đó tụi NhàQuê mới tha hồ. Xong, khi xe gần chạy mới cho xóm khác hay, ăn ké không được tiếc hùi hụi: Phải chi tụi bây cho hay sớm, bữa nào đám giỗ, tao lén cho cái bánh ích! Thôi lỡ rồi, bữa nào gánh hát Sơn Ðông lại tụi tao kêu liền đi coi voi ăn mía.

Không ai để ý đến “giá trị” và công dụng của lông đuôi ngựa nên NhàQuê đi ngang qua là chíp bụng liền, quay lại quả thật vô số, mặc sức chọn lựa thứ hảo hạng đen mướt dài phải trên hai tấc trở lên mới được chiếu cố, loại màu hoe đã bị loại rồi đừng nói chi đến lông ngựa bạch, muốn lượm bao nhiêu cũng có.

Kỳ về quê gần nhất NhàQuê đem về phân phát, mấy đứa bạn nhận quà cảm động, cục mịch hỏi: Chừng nào mầy dìa nữa? Chớ tụi nó đâu biết NhàQuê nhớ nhà khóc quá trời, nhất là đêm mưa nghe ếch, nhái, ễnh ương kêu, nhớ nhà muốn bỏ học về luôn.

Tụi bạn còn được vểnh tai đi tỉnh thành hàm thụ một cách say sưa, thỉnh thoảng có đứa dừng lại chất vấn rồi cuối cùng cũng phải công nhận: Trên đó cái gì cũng có, đã quá hén! Ðâu biết rằng NhàQuê có pha mắm muối, gáy nổ và chế thêm trong đó.

Chuyện có thể tin được là nếu không có chiến tranh, không bị bắt quân dịch thì nhiều bạn thuở nhỏ của NhàQuê tới nay chưa qua tới tỉnh lân cận, các cụ thế hệ trước NhàQuê nhiều người đã như thế.

Lông ngựa dùng để vòng các loại cá có đầu lớn hơn cái mình như cá kèo, cá bóng sao, cá thòi lòi….phổ thông nhất là vòng cá kèo.

Sau mùa gặt gần nát rạ, đám cá kèo cựu niên nổi đầu trông thấy phát ghét, Má cứ việc nấu cơm trước, NhàQuê xách cần đi vòng cá một chút là đem về kho ăn mệt nghỉ. Cần vòng cá là một cây trúc dài phơi héo và được đốt lửa để uốn chỉnh cho cây trúc thành thiệt thẳng băng, cắt bỏ một phần ngắn của ngọn to xù, chỗ đó được cắm vào một que tre chuốt nhỏ và thanh để cá nhìn thấy không hoảng sợ, nối vào bên dưới que tre là cọng nhợ màu càng trong càng tốt, cuối cùng mới tới sợi lông ngựa được làm thòng lọng.

Các chú cá vừa kể, nếu chưa bị giật hụt trở nên nhát, thì khi bị NhàQuê từ xa tròng thòng lọng vào cổ, chúng có khuynh hướng ngóc cổ thêm cho NhàQuê dễ "làm ăn" , tình hình rất thuận lợi. Chỉ cần gật nhẹ một cái đưa lên khô cho vào giỏ. Chú cá bị dính vùng vẫy thoát thân quyết liệt, nên đừng giật mạnh tay.

Cá thòi lòi có hai con mắt lộ ra, nên những người mang kiếng mát bị dân quê kêu là thòi lòi lên bờ. Cá nầy nhát hơn nhưng không phải là không vòng được, nếu nó chun xuống hang sâu rồi thì dùng tay hoặc chân phá bể nồi gọ là nơi nó trồi lên để thở, xong đặt vào miệng hang một cái xà di, thường làm bằng trúc kín một đầu, đầu còn lại mở lớn có một cái hom là độc đạo vô rồi ra không được. Cá ngộp trồi lên thở hoặc thấy yên tịnh ra khỏi hang phải chui qua hom, vào xà di và kẹt ở đó: Chào bạn thòi lòi, chờ bạn đây!

Cá thòi lòi kho sả ớt thì khỏi chê, lá gan và cặp trứng ngon độc nhất vô nhị. Thấy chưa việc bắt cá đơn giản như đang giỡn, làm chơi mà ăn thiệt! Tuy nhiên có khi trời gió, nước bị xao động cá đều vô hang không vòng được: Tổ trát, lèo, về không!

Có một lần NhàQuê lấy làm lạ, là một quân nhân thuộc cấp sao đêm nào cũng dùng đèn cầy hơ khắp mình kỹ lưỡng rất lâu trước khi đi ngủ, hỏi ra mới biết anh vốn là nài ngựa đua, tiếp tục giữ cho thân thể luôn gầy, ít ra không lên cân, một trong những yếu tố để thắng cuộc. Lúc đó trường đua Phú Thọ đã đóng cửa dùng làm nơi trú đóng của Liên Ðoàn 5 Biệt Ðộng Quân; Thế mà anh tiếp tục chuẩn bị trong hy vọng chờ ngày, anh cũng cho biết kỹ thuật nuôi ngựa đua rất phức tạp.

Nhiều môn thể thao có ngựa đã được thi tài trong các kỳ thế vận hội. Cỡi ngựa, đua ngựa hiện là môn thể thao được yêu chuông rộng rãi ở các nước không riêng gì Âu Mỹ: Từ trong trại Sungei Besi, ngoại ô Kuala Lumpur, Malaysia, NhàQuê thấy xe đủ màu đủ loại, đậu kín mít bãi xe trong những ngày có cuộc đua của trường ngựa lân cận, vang vội tiếng hò reo. Ðất nước thanh bình có khác!

Các danh tướng xưa tên tuổi sáng chói cũng được góp phần nhờ những chiến mã trở thành điển tích: Xích Thố, Long Câu, Ô Chùy ...Ngày nay các nhà bình luận thể thao trên các đài truyền hình không hết lời về các tuấn mã chuẩn bị ra sân đua. Dù không trực tiếp theo dõi, breaking news liền sau đó cũng cho ta sốt dẻo tin tức kết quả cuộc đua được chuẩn bị chu đáo trong sự mong đợi của giới mộ điệu lẫn dân “ghiền” cá độ.

Ngựa cũng được dùng trong các nghi lễ truyền thống của nhiều quốc gia, nhất là ở Anh quốc có cả nơi diễn tập hàng ngày cho đội ngự lâm quân, kỵ sĩ. Thao trường diễn tập có khán đài cho khách dự khán chỉ cách một khu vườn rộng là tới điện Buckingham, gần dinh Thủ Tướng hơn.
Ði từ Cambridge vào London, NhàQuê thấy nhiều đồng cỏ ngựa đang ăn mà lúc chưa nhìn kỹ, ngỡ là đàn bò: Nhiều đến như vậy!

Trong vùng Lancaster, Pennsylvania Hoa Kỳ có khu vực người Hòa Lan di cư, họ sinh sống chung, biệt lập với các sắc dân khác, không dùng các tiện nghi văn minh nên ngựa giúp ích cho họ rất nhiều. Ban đêm lỡ gặp họ đi ngựa chậm rãi trước mặt, bạn cần lái gấp. Bạn nghĩ sao nè??? NhàQuê chờ đến nơi gần nhất có chỗ là quẹo liền!
Nếu bài nầy kết thúc ở đây các bạn có phiền gì không? NhàQuê đã đưa các bạn từ quê ra tỉnh và viễn du bằng ngựa rồi đó. Chúc khi nào phát tài ngon lành, bạn sắm "xế hộp"để đi đó đây cũng đừng quên chọn nó bao nhiêu mã lực (HP,Horse Power)

NhàQuê chỉ trừ chưa chiêu đãi bạn món thịt ngựa mỡ ngà vàng chạy dọc từng thớ thịt; Ngon lắm! Ðã lắm!

NhàQuê 2005




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jul 15 2010, 07:03 AM
Gửi vào: #17


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Bài nầy viết năm 2005, dựng sườn từ bài: Những "con đường xưa Em đi"(Lộ Lạc Hồng)/Forum Tùy Bút/bentrehome.net

In vào Tuyển Tập nầy để:

- Tưởng Nhớ Má Tôi và kính Dâng Tặng các Bà Mẹ miền quê chỉ nhớ mang máng ngày sanh Âm Lịch của con mình.

- Thân mến tặng các bạn có lời chúc sinh nhật của NhàQuê.

- Tặng Nhà Tôi và các Con Tôi năm nào cũng tổ chức sinh nhật cho, theo kiểu hiện nay vào cuối tuần gần nhứt.

- Tặng chính tôi cho có ngày sinh nhật như mọi ngườị


Tác Giả



Những "ngôi trường xưa Em học"



Đoản rời: Cầu Bà Mụ


Hãy tưởng tượng tỉnh lỵ quê của NhàQuê hình vuông, cầu Bà Mụ nằm góc Ðông Bắc hình vuông đó, cầu ván nhỏ không lan can bắt ngang cùng một con rạch Cầu Cá Lóc, con rạch nầy chạy uốn éo từ sông vào đến đây tóp nhỏ lại sắp cùng. Ngày nay có lẽ cầu Bà Mụ đã được xây lại vì góc Ðông Bắc vốn là ngoại ô đó, đất còn rộng rãi, hấp dẫn lớp người mới phất lên, nhất là chiến tranh đã chấm dứt. Cái hình vuông tưởng tượng cũng lớn thêm lên theo tất cả các cạnh của nó; nên cầu Bà Mụ không còn là vùng ven, người xóm cầu Bà Mụ không còn là "Người Ven Ðô" nữa.

Theo như tên cây cầu thì ai cũng đoán ra được nơi đây trước kia có Bà danh tiếng giúp đỡ đẻ, tiếng bình dân là Bà Mụ. Rất lâu về trước, ở cấp Quận mới có trạm y tế và một nhà bảo sanh vài giường, sản phụ thường là cư dân lân cận.

Trong các vùng sâu hẻo lánh, hầu như nhà nào cũng sanh con năm một, đứa thôi nôi đứa đầy tháng mà chẳng có cái nhà sanh công tư nào; mỗi nhà tự làm nhà sanh lấy, một xóm ba mươi nhà dù ọp ẹp đi nữa cũng có ba chục cái nhà bảo sanh. Tiêu chuẩn nầy chưa nước nào đạt được!
Cưới vợ vài ba năm chưa có con, trong nhà bắt đầu lục đục. Mẹ chồng thấy con dâu lén giấu đồ chua trong kẹt khóe đã không còn rầy la, mừng là đàng khác, có khi lại cưng chìu. Anh chàng sắp làm cha hoặc sắp làm cha thêm bắt đầu lo lần cây lá chuẩn bị lợp vại: Vại như một cái chòi, cất nối thêm ra với nhà chánh, có tính cách tạm thời sẽ dẹp bỏ khi đứa con tròn tháng tuổi. Vại ngoài phần che chắn vách phên bốn bề tránh "gió mái", cửa vào hẹp vừa đủ ra vô quạt lửa, lợp lá hoặc tranh. Ðặc biệt cái "giường cữ”thời trang hơn bất cứ món nào trong mái nhà tranh có hai quả tim vàng tổ ấm ấy. Cái giường không có bản sao, chỉ giống với chính nó mà thôi. Thiết kế duy nhất!

Trong một tháng "nằm chỗ" bà mẹ dù sanh con so hay con rạ, phải nằm lửa, xông, tắm, ăn uống…trong phạm vi "Nhà Bảo Sanh" ấy. Vài ngày sau khi sanh có khi tự mình lo cơm nước vì ai cũng bận đồng áng. Nước uống nấu trong có “cây chó đẻ” luôn cả lá rễ gốc: Ðắng nghét!….Tới "bữa ngự thiện khô lân chã phụng" chỉ có muối tiêu nện dẽ nướng than; vậy mà "đàn bà đẻ" vét hết nồi cơm hai lon gạo, vượt chỉ tiêu bình thường: Ăn trung gian cho bé mà!

Mà Bé cũng tội nghiệp lắm: cùng chia cái giường gồ ghề và cái biệt thự um khói hừng hực trong tháng đầu tiên cuộc đời với mẹ và cùng chia sức nóng mẻ than kê dưới lưng của mẹ nữa, nên mấy ngày sau Bé "rỏ" lại nhỏ xíu đỏ hỏm! Bé có được nằm nôi như các bé thị thành đâu dù đã đầy tháng "lên trên".
Trước khi lên trên, bé được tắm tươm tất…để thực sự chào mừng một thế giới mới mà tháng trước đây vì kiêng cử nhiều người không vào chốn ô uế thăm Bé, nên chưa biết mặt Bé, chỉ nghe nói bé giống cha cái nầy, giống mẹ cái kia….Giờ đây “Mụ Bà Dạy" Bé cười chào mọi người trong cái gia đình đông đúc: Chào tất cả, Tôi đây!(Hello everybody, I am here! Nói theo cách trẻ sơ sinh Mỹ khi lần đầu từ bịnh viện về nhà).

Giáp năm theo cách tính gái bớt hai trai bớt một gì đó, Bé được “Tôi Tôi” chứ không phải thôi nôi vì Bé có nằm nôi bao giờ đâu. Dịp nầy Bé chọn nghề nghiệp tương lai cho mình: Bắt cây viết, gom cái kiếng tròn bọc cạnh đẹp đẽ, cạp miếng chè hay vắt xôi và lết về phía có tiếng cười reo của mọi người có mặt, Bé cười thấy đủ mấy cái răng sữa mới nhú. Tiệc thôi nôi có chè xôi, cháo vịt…bắt đầu bàn luận quanh đề tài các món đồ mà Bé hân hoan gom lúc nãy.

Ngày nay khó hình dung ra một loại nhà bảo sanh như vậy, khi mà trẻ con bây giờ được chăm sóc từ trong bụng mẹ cho đến lúc thai phụ có triệu chứng và lâm bồn bởi Bác Sĩ và Nữ Hộ Sinh là những người có trình độ và được huấn luyện chuyên môn trong lãnh vực nầy với tất cả tiện nghi y khoa không ngừng cải tiến.

Ngày xưa đó, Bà Mụ không xem đó là nghề mà tự Bà coi như được Ơn Trên sắp đặt sẳn cho bà nhận lảnh thiên chức ấy, bà không quản ngại đêm khuya, đường xa đã đến tận “Chòi Bảo Sanh” khi gia đình sản phụ đến nhờ Bà.

Khi ‘Bà Bầu" trệ và đau ngầm ngầm, người nhà sắp xếp cho người đi rước Mụ, thường thì hai hoặc ba người khỏe mạnh đến nhà Bà, mô tả tình hình và đốt nhang xin Tổ. Bà huỡn đãi ăn trầu xỉa thuốc ngồi nghe báo cáo. Nếu bà thấy "chưa có gì", Bà biểu: "dìa đi, ba bữa nữa qua".
Nhưng cũng có khi vừa thấy mặt Bà hô: "tới rồi hả!" và nhanh chóng gom góp vật dụng cần thiết, không quên giỏ xách trầu cau, leo lên võng nằm hoặc ngồi, có khi còn hối mấy người khiêng "lẹ lên, lẹ lên" ba người thay phiên gần như chạy lúp súp. Khi không "khẩn trương" lắm Bà kể chuyện nầy chuyện nọ xưa nay cho người khiêng quên đường xa.

Không những một xóm, một xã mà nhiều xã gần nhau đều thọ công ơn của Bà. Dưới bàn tay nâng ấy, các hài nhi cất tiếng khóc chào đời, chào biển khổ: "…Trót sanh ra miệng đà khóc chóe - Trần thế vui sao chẳng cười khì…"

Trước khi được võng đưa về, Bà dặn dò đủ thứ, đủ điều kiêng cữ từ ăn uống đi đứng, khăn choàng, nón đội, tai nhét chân guốc…Tuyệt đối bà không nhận tiền bạc gì của ai!….

Sau khi rụng rún, phần rún khô được bà mẹ gói kỹ nhét mái nhà, mé vách, cất trong hộc tủ…sau nầy đốt hòa chung cho anh em uống mỗi đứa một chút cho chúng thương yêu, hòa thuận lẫn nhau.

NhàQuê cũng trong trường hợp các bé ấy, lại còn thê thảm hơn, theo Má nói lại là NhàQuê lúc ra đời chưa nằm trong lòng mẹ được chín tháng mười ngày, sanh non ngày tháng, èo uột, thấy cả mấy khoanh ruột dưới làn da bụng, khóc mấy tiếng đầu thua mèo đói kêu ngao. Không ai kể là NhàQuê qua được ít con trăng. Xin cám ơn Thượng Ðế!

Vì trường hợp đặc biệt như vậy nên mỗi lần Bà Mụ có dịp ngang qua nhà, thấy Má đang lui cui, lần nào từ ngoài đường Bà cũng hỏi vọng vào "Tư à! Nó chơi hả?": Tư là thứ của Ba, Má theo thứ nầy khi về nhà chồng. Về quê bên vợ, Ba được gọi là dượng theo thứ của Má. Nó ám chỉ NhàQuê. Chơi ý nói mạnh giỏi, bình thường.

Bà quan tâm đến trường hợp sống sót kể là hy hữu của NhàQuê. Má bắt NhàQuê gọi Bà Mụ là bà ngoại, tới mấy năm sau má dắt NhàQuê đi "Giỗ Mụ Bà", vừa tới cửa NhàQuê khoanh tay thưa bà ngoại, Bà hỏi Má: Nó đó hả ? Ý nói thằng nhỏ tưởng đâu “xí lắt léo” rồi mà giờ còn sống nổi đi đám giỗ mụ. Má biểu NhàQuê lạy trang thờ bà Cửu Thiên Huyền Nữ, Tổ Mụ, trang thờ bà tiên khói hương nghi ngút. NhàQuê lạy búa xua theo Má.

Có một điều NhàQuê biết chắc rằng bà ngoại nầy không phải bà ngoại thiệt của NhàQuê, vì năm nào Má hoặc Ba cũng gánh anh em NhàQuê đi đám giỗ bà ngoại ở tận nơi xa. Mỗi anh, em một đầu thúng, đứa nào cũng được phết chút lọ bếp lên trán xin phép Ông Táo đi xa vắng nhà, đầu thúng NhàQuê phải thêm cục gạch hoặc khoai, bí, trái, củ gì đó, do em của NhàQuê sanh đủ ngày tháng nặng hơn, cồ lự hơn. Ðường về quê ngoại phải qua con đê, cũng có cầu bằng thân cây bắt ngang dòng nước chảy, qua đó ngồi trong thúng nhìn thấy rõ mấy con cá nhỏ bơi lội "vô tư" bên dưới.

Như bao trẻ khác trong hoàn cảnh đó làm sao mà NhàQuê có giấy khai sanh được, học đến lớp tư thầy đòi phải có khai sanh mới chuyển qua lớp ba trường Tổng ở xã lân cận, cả lớp bốn năm chục đứa như nhau, cuối năm nhiều đứa phải bỏ học.
Khoảng chục đứa may mắn được gia đình quan tâm, dắt lên tỉnh cùng lúc để làm thế vì khai sanh; đó là lần đầu tiên NhàQuê được ngồi trong lòng Ba "Ði Xe Hơi", mà mấy đứa cùng chuyến chắc cũng vậy thôi.

Ðợi tới lượt kêu tên vào đứng trước ông Tòa, người lớn đưa tay lên thề thốt sao đó, mấy người thơ ký, lục sự ghi ghi chép chép….Mấy gia đình thay phiên làm chứng cho nhau; Có lần ông Tòa hỏi thử xem đám dân quê nầy đối đáp ra sao “ Sao ông biết thằng nhỏ nầy sanh ngày tháng năm đó?- Ðáp: Bẩm quan Tà, tui có đi đám đầy tháng của nó!”. Ông tòa biết là phịa nhưng cũng thông cảm cho nhóm dân quê nghèo nàn làm chứng vần công cho nhau, thay vì phải mướn người đang thậm thụt chờ sẳn bên ngoài. Chuyện có thật là vào thời đó tại tòa án có hai nghề lạ đời: Làm đơn mướn và làm chứng mướn. Dưới quê của NhàQuê đâu có như vậy, việc gì giúp được người ta giúp thiệt tình!

Cái ông Tòa năm đó ngồi trong mát mà đen thui hà! Sau nầy lên tỉnh học, ông Tòa khác có hai cô con gái Quỳnh Dao và Minh Trân học chung trường với NhàQuê, cô nào cũng yểu điệu dễ thương mà không đứa nào dám hó hé, ngán ông Tòa lắm, Cụ đọc: Nay tuyên án…là bà cố hú!

Thế vì khai sanh dành cho những người sanh trước ngày "Nhật Ðảo Chánh và Việt Minh Cướp Chánh Quyền" vì trong biến động nầy có nơi tất cả giây tờ sổ bộ đã bị thiêu hủy, nay làm lại giấy khai sanh khác thay thế. Do không phải phần lỗi về mình, nên lần làm lại nầy không phải đóng phạt, miễn phí; nhưng chánh quyền địa phương phải xác nhận không còn sổ hộ tịch lưu trử.

Lên án thế vì khai sanh dành cho những ai sanh sau ngày Nhật Ðảo Chánh mà không làm khai sanh, lỗi do chểnh mảng, do đó phải đóng tiền phạt án phí.

Tên trong giấy khai sanh cũng trở thành một câu chuyện vì có đứa “Xấu Háy” khó nuôi bị đặt cho cái tên rất tục, phải sửa lại na ná như: Các, Lớn, Cử, Ðủ…NhàQuê may mắn nhờ Ba có học chữ Nho và Quốc Ngữ đủ đọc truyện Tàu và truyện xưa tích cũ nên ngoài không phải mướn làm đơn, tên anh em NhàQuê toàn tên tốt. NhàQuê được mang tên vị anh hùng mà Ba ngưỡng phục, đến nay xét cho cùng NhàQuê không xứng đáng làm cọng râu của Ngài.

Không như các bạn thành thị và ngày nay, khi sanh ra đã được ghi tên vào sổ bộ, còn dưới quê phải mấy ngày sau gia đình hội ý rồi mới đặt tên cho đừng trùng với tên người lớn trong thân tộc. Vậy mà chưa xong, cả hai ba năm sau có vợ chồng nọ ở cuối ấp, đến nói một cách nghiêm chỉnh, xin Ba Má đặt NhàQuê tên khác vì tên vị anh hùng trùng với tên ông cố ngoại vợ của ông, mà ông cố đó đã qua đời từ lâu, quê đâu tận Bình Ðại, Lục Tiên hay Hồ Cỏ, Cồn Rừng, Thạnh Phong, Thạnh Phú gì đó xa lắm! Ba Má cũng giữ hòa khí thôn lân, bèn đặt thêm cho NhàQuê tên gọi ở nhà; Chỉ ở nhà và trong xóm mà thôi. Do đó có bạn nào tình cờ tới xóm NhàQuê hỏi tên theo giấy tờ đi học thì không ai biết cả.

Chuyện về tên của NhàQuê là chuyện có thật 100% đó các bạn! Má cũng biết đọc biết viết qua xóa mù chữ Cóc a sa, cóc á sá, cóc ớ sớ, cóc e se vài bậc (Cóc Ếch gì cũng vậy mà thầy giáo!), nên Má cũng không chịu đặt tên xấu cho con.

Về ngày sanh cũng nhiều chuyện lạ bốn phương: Anh em sanh cùng ngày tháng khác nhau đúng một năm; Chuyện nầy chấp nhận được. trẻ nào cũng sanh ngày 30, 01, 15 hoặc sanh ngày 5 tháng 6 hay ngày 10 tháng 11…. tất cả phải cho dễ nhớ khi đứng trước tòa: Khớp lắm! Cũng có chuyện sanh ngày 30 tháng 2…tháng 2 làm gì có ngày 30, vì vô ý tòa cũng cho qua nhưng rắc rối về sau. Có tờ báo NhàQuê đặt mua, trong đó có bài khảo cứu của một cây viết lừng lẫy đã nghiên cứu được rằng ông hoàng Rainer xứ Monaco sanh ngày 31 tháng 4. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 chưa ai quên cả hai miền Nam Bắc. Tháng 4 bên Congo cũng chẳng có ngày 31. Xin chào thua và nghỉ mua luôn!

Má chỉ nhớ mang máng ngày rằm tháng tám âm lịch là ngày sanh NhàQuê, nên lấy ngày đó làm dương lịch trên khai sanh, chắc vì vậy mà mấy lần đem lá số tử vi nhờ thầy xem thấy không đúng về những việc quá khứ, suy ra làm sao đúng tương lai được. Tờ “Quy Kỳ” bỏ trong túi đến khi rách dần, mất cái góc có cung thiên di nên không thể nhờ giải đoán cầu may xem tốt xấu khi chuẩn bị ra đi khi trời vừa tối:

" Thùng thùng trống ngực ngũ liên…
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa".


NhàQuê 2005




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jul 16 2010, 09:00 PM
Gửi vào: #18


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"




Đoản Rời: Dục Mỹ! À! Chợt Nhớ



Với tôi, Dục Mỹ nơi chốn đầu tiên xa nhất của miền Trung mà tôi có đến và ở đó bốn tháng; Tôi là người miền đồng bằng sông Cửu Long, chính xác hơn tôi là người Kiến Hòa.

Nhân đọc thơ Quan Dương thấy có nét gì lạ lạ và truyện của ông gần gũi với xúc cảm thời học sinh và thời ngủ rừng, tôi bèn phăng tới và tìm ra Website Ninh Hòa. Cũng qua đó tôi đọc bài của cô Hà Thị Thu Thủy và bạn Phó Ðức Lâm nói về Dục Mỹ, cái Thành Phố Nhà Tranh Vách Ðất mà từ 19-08-1967 đến 05-01-1968 tôi đã thụ huấn pháo binh ở Huấn Khu đó.

* * *

Tôi trong số 36 mạng Khóa 25/SQTB Thủ Ðức được chọn đi học Pháo Binh, khóa trước đó không có người nào. Nằm vật nằm dựa ở phi trường Tân Sơn Nhất chờ chuyến bay, cuối cùng rồi cũng được leo lên chiếc C-130 của Mỹ, phi cơ đáp xuống phi trường Nha Trang đã nửa đêm, lần đầu tiên đi máy bay lại là phi cơ quân sự, ngồi bẹp xuống sàn lổm ngổm quân trang, lại đi ban đêm: Cũng như không! Kể như chưa biết đi máy bay là gì.

Phải thêm lo vì trước khi cất cánh, mỗi người được phát cho một miếng giấy nhỏ nói về ưu điểm của chiếc Hercule nầy cùng hướng dẫn an toàn: Nào là khi khẩn cấp sẽ đáp xuống biển và có 30 phút chưa chìm hẳn để mọi người thoát ra ngoài: Lạnh ót!

Thành phố "Thùy Dương Cát Trắng" tiếp đón chúng tôi ở khách sạn ngàn sao một góc nào đó trong khu quân sự phi trường. Rà hết băng tần duy nhất của cái radio bỏ túi không nghe được đài nào: “Buồn ơi là buồn!” Vậy là “Nước trôi ly biệt nguồn”.

Sáng hôm sau được GMC bỏ xuõng cuối đường Ðộc Lập chờ xe trường Pháo Binh đến rước. Chúng tôi cắt phiên canh giữ quân trang, thay nhau đi phố, có đứa mua mang về cuốn Ðời Pháo Thủ của Nguyên Vũ (K16/PB), chuyền tay nhau đọc; Thấm thía về tương lai nhà pháo của mình!

Mấy ông tài xế nhà binh lái xe thì phải biết, mấy Ổng leo và đổ dốc đèo Rù Rì không cho chúng tôi phút nào "xa quê hương nhớ mẹ hiền" được cả! Xón thật! Hai xe ngược chiều cơ hồ đâm vào nhau. Cuối dốc mới được thở ra, ngắm nhìn phong cảnh.

Trời về chiều, núi ngã màu xanh sẫm, mây xuống thấp la đà, xa hơn cái nhà ga xe lửa đứng đơn độc, là xóm làng gần giáp chân núi sương khói giăng giăng, con đường dẫn tới trông hiu hắt làm sao; Chúng tôi không còn pha trò nhau, im lặng, mỗi người chìm vào thế giới riêng.
Không biết do đâu, tự tôi đặt tên ga phía trái trước khi leo đèo Rọ Tượng là ga Diên.

Vậy là bây giờ tôi mới biết xóm nhà cuối khu rừng nước mặn thưa thớt toàn cây mắm trắng và ô rô về phía phải của Quốc Lộ 1 trước khi đến đèo là làng Tân Thủy, cùng tên với quê tôi và cũng sinh sống bằng nghề biển. Trước khi qua đèo, nghe nói Rọ Tượng nguy hiểm hơn Rù Rì làm tôi lo một phen nữa lên ruột , nhưng không chẳng có gì: An toàn trên xa lộ!

Có lẽ tôi ngồi bên băng phía lề mặt nên tôi nhìn thấy rõ trường Trung Học Trần Bình Trọng với hàng chữ tên trường màu đỏ, trường trệt không nằm cạnh đường mà xa bên trong, phía trái từ hướng Nha Trang tới.
Tôi lầm lẫn, tưởng rằng trường Pháo Binh gần trường Ðồng Ðế tức ngoại ô Nha Trang.
Khi đến ngã ba Ninh Hòa xe ngừng, tôi lại tưởng trường ở lòng vòng gần đây; Lại lầm! Ðường trường xa...

Ngừng ở ngã ba Ninh Hòa gần như thông lệ hay sao của mấy bác tài xế nhà binh, tôi khám phá ra điều nầy vì sau đó lần nào cũng vậy mấy ảnh bỏ đi đâu mất tiêu, tụi tôi biến thành người trông chừng xe cho mấy trự nầy.

Ở ngã ba đó, tiệm nem nướng Thái Thị Trực hấp dẫn tôi khiến sau đó mấy lần tôi trở lại có khi phải đi về trường bằng xe lam; Vậy mà có đứa lại nói có tiệm khác ngon hơn mà nó không chịu chỉ trước: Thế có ức không?

Mấy năm sau tôi trở về trường làm giám khảo kỳ thi mãn khóa, tôi lại có dịp cùng mấy sĩ quan giám khảo khác dùng chiếc Dodge 24 của trường để thăm Ninh Hòa. Lại đến Thái Thị Trực làm nem nướng rồi lái lòng vòng dọc Quốc Lộ.
Đám xe sư đoàn Mãnh Hổ hay Bạch Mã gì đó của Củ Sâm, gần như chẳng buồn tránh ai dù trục lộ khúc đó chẳng rộng rãi gì. Ninh Hòa tôi chỉ biết thế!

* * *



Trường Pháo Binh Dục Mỹ nằm sau lưng Trung Tâm Huấn Luyên Biệt Ðộng Quân, dẫn vào bằng con đường cặp hông hướng từ Ninh Hòa tới, ngăn bằng hàng rào kẻm gai đơn sơ.

Thế mà đấy là lằn ranh thiên đường địa ngục, chúng tôi cho là vậy: Ai có qua các khóa Rừng Núi Sình Lầy, Viễn Thám thì sẽ biết mức gian truân của Lò Luyện Thép nầy, trong lúc chúng tôi mỗi bước lên xe hơi, không uổng phí cuộc đời .

Ðã đi xe mà còn thêm ghế bố xếp xách tay. Thực ra chúng tôi không thể cuốc bộ vì đồ nghề lỉnh kỉnh, nào là: Bàn chân xếp đặt xạ bảng, GB là dụng cụ gióng hướng súng, ống dòm, la bàn, bản đồ, họa xạ biểu, họa tà biểu, quạt hướng tầm, cả lô kim mục tiêu và viết chì phải học cách chuốt từ ngày đầu tiên, chúng tôi giống như anh họa sĩ đi tìm cảnh đặt giá vẽ, móc thêm chú 105 hoặc 155 tùy theo buổi học.

Không sung sướng đâu các bạn ơi! Tụi tôi bù đầu vật lộn với các môn: Chiến Thuật, Ðịa Hình, Trung Ương Tác Xạ, Chiến Cụ & Ðạn Dược, Khẩu Ðội Vụ, Quân Xa, Truyền Tin và cả Chiến Tranh Chánh Trị nữa.

Bao nhiêu quyển Binh Thư có mã số riêng nặng chình chịch, từng quân trang quân dụng vũ khí chiến cụ phải nhớ một lô danh số và đặc tính, cách sử dụng và hiệu quả của chúng, rồi sử dụng bảng Lô Ga Rích giải địa hình .. và giải toán tác xạ chuẩn định chính xác, chuẩn định thời nổ, giải khí tượng, : Nhức đầu lắm! Nếu không thì rớt!

Bù lại, chúng tôi chiều nào cũng ra phố Dục Mỹ tự do trừ những khi dã trại đêm. Cuối tuần có xe đưa đi Nha Trang, chiều Chúa Nhật ruớc về.
Người thân một đứa bạn tôi, vốn là thầu khoán đó đây, có biệt thự bỏ hờ do một quản gia trông coi trên đường Biệt Thự, hai đứa tôi cuối tuần ra đó, được lo chăm sóc như ông chủ nhỏ.

Từ biệt thự đó lội bộ băng qua đường với khăn tắm vắt vai, là đã tới biển khu vực gần nhà hàng Kim Sơn có rào kẻm gai, nghe nói dành riêng cho Phó Tổng Thống Kỳ, chán về đã có cơm dọn sẳn sàng.
Đôi lần xuống tận chợ Chụt làm vài quả Phở, lại cũng nghe nói Phó Tổng Thống Kỳ ưa tới đây: Tôi cho phở Chụt đạt điểm A!; Nhưng tụi tôi vẫn thích khu vực đường Ðộc Lập hơn hẩu xực mì xào dòn đồ biển , đớp bún bò huế đường Hoàng Tử Cảnh và vài chuyện ai cũng biết .

Càng về sau chuyện đi Nha Trang thưa thớt dần vì tiền lính tính liền.
Ðầu tháng lảnh lương, bà Ðô chủ câu lạc bộ trường Pháo Binh, bắt ghế ngồi gần nơi phát ngân viên làm việc, bà thu không sót một xu các anh nào trong tháng Gô Sĩ Ghi Sổ ăn chịu bà ta. Con nhỏ Ngân Thủy con bà, thường gọi Ngân, đẹp không có chỗ nào chê được, nhỏ cười liếc ai cũng có cảm tưởng cô ta đang để ý tới mình. Lầm to! Nhỏ đi về đã có người đưa đón.

Có cái câu lạc bộ đó cũng đỡ lắm, mỗi sáng chúng tôi đến uống cà phê và xin một bi đông nước đun sôi chống sốt rét. Việc nầy nhỏ Thủy tử tế có thừa, chắc Nhỏ cũng sợ dùm các Quan tương lai dính chấu bệnh chưa chi đã run.

Phòng ăn dành cho SVSQ chúng tôi bàn ghế đóng bằng gỗ thông: Pháo Binh mà! Mỗi bàn bốn đứa bốn cạnh, trước mặt một dĩa ớt hiểm tươi rói, một gói thuốc nâu có, đỏ có, hai ba thứ ngừa sốt rét, món ăn có thịt, cá, bò thay đổi, nhưng món măng bao giờ cũng hiện diện mỗi ngày chưa có triệu chứng nào đào ngũ dù có khác cách chế biến.
Từ đó tôi bắt đầu ăn ớt nhất là hôm nào có món cá biển, cá tương đối còn tươi, nghe nói từ Vạn Giã chở lên.

Trừ những khi trời mưa, chiều nào chúng tôi cũng có mặt ở các quán cà phê Dục Mỹ, có khi đi lang thang chẳng có mục đích gì. Nay đọc lại các bài viết trong ninh-hoa.com mới nhớ ra rằng: À ! Ở Dục Mỹ các con đường mang số 1, 2, 3 ...

Lần đó tôi đến tiệm Tân An rửa hình , đúng lúc con nhỏ Yến con chủ tiệm bí toán, tôi thấy Nhỏ loay hoay quên cả hỏi tôi, khách hàng mới vào. Nhìn qua tôi ngứa nghề giải sơ cho Nhỏ, không biết Nhỏ có hiểu không? Nhưng lần đến lấy hình , Ba Má của Nhỏ mời uống nước và ngỏ ý nhờ dạy kèm cho Nhỏ. Tôi nhận lời và bảo Nhỏ tìm thêm vài người nữa.

Khi lớp bắt đầu tôi mới biết rằng họ mất căn bản rất nhiều, tôi phải ôn lại từ đầu cho họ. Tôi dạy giúp họ không nhận thù lao. Mỗi ngày học sinh ở đó có xe của các quân trường đưa đón tận Ninh Hòa, học sinh phần đông là con em của quân nhân của Huấn Khu.

Lúc ấy tôi vẫn tưởng ở Ninh Hòa chỉ có trường Trần Bình Trọng mà thôi. Gia đình tiệm hình Tân An có nói họ từ Diên Khánh ra. Ở đây người ta gọi đi Diên Khánh là đi Thành, tên gọi tắt. Cô Hà Thị Thu Thủy có nhớ tiệm hình Tân An và nhỏ Yến nầy không?

Có những đêm kéo súng lên Lam Sơn trực, tụi tôi cũng mò về chợ Dục Mỹ uống cà phê cho ấm lòng chiến sĩ, từ đó lên trung tâm huấn luyện Lam Sơn phải ngang qua phi trường Dục Mỹ, mà phía đối diện là bãi tập Ðịa hình và Chiến Thuật, cũng như nơi diễn tập và thao dượt cuối khóa chúng tôi.

Trong mé rừng bãi tập ấy, có cả một chợ nhỏ đủ loại thức ăn thức uống và đặc biệt mấy chị bán cháo gà chờ chúng tôi giờ xả hơi. Phải nói gà ở đây ngon tuyệt, tôi thường mua thêm một quarter leg mới đã! Mỗi lần tôi mua là chị hỏi: Nguyên đùi gà phải hôn? Trả lời: Yếu tố cũ, một tràng! Không biết nồi cháo còn lại chị bán làm sao đây? Thực khách đến sau chắc phải dùng loại không người lái.

Khi học các bài về Khẩu Ðội Vụ, có khi súng phải được kéo vào tận xạ trường xa trong núi, nơi đó nhìn rõ đỉnh Vọng Phu không cần phải dùng ống dòm. Trên đường đi, về xe ngang qua Buôn Sim, Buôn Lác lô nhô nhà sàn và mùi hăng gia súc, có những tối trên đoạn ấy, gặp các bạn bên Biệt Ðộng Quân lặng lẽ di chuyển trong đêm.
Còn trên quốc lộ 21 từ hướng Ninh Hòa đến, trước khi leo dốc Núi Ðeo, ai cũng thấy bảng to tướng "Nơi Ðây Lò Luyện Thép" , bao giờ cũng nghe tiếng la hét xung phong về phía có dây tử thần.

Cái đáng nhớ nhất là có một sáng chúng tôi ra chợ uống cà phê về, chuẩn bị hay đã ăn cơm xong, vì chúng tôi cứ đủ bốn người là mời các Quan cầm đũa chứ không cần đông đủ. Bỗng có kẻng báo động, mấy đứa về trễ hơn nói ngoài chợ đã lụt tới đầu gối rồi.
Tôi chưa tin vì trời chỉ lâm râm chứ không có trận nào mưa lớn từ mấy ngày qua và tôi cũng mới về từ ngoài ấy. Hướng núi có lẽ mưa mấy hôm nay, trời mù không nhìn thấy đỉnh Vọng Phu. Tôi cũng theo đoàn người đi, thực ra do hiếu kỳ chứ tôi không có nhiệm vụ gì.



Lụt thật! Lụt gì mà dễ vậy! Ðứng ở trụ cây số có chữ Nha Trang 47 Km, bên kia đường trước Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Ðộng Quân nhìn nước

đục ngầu đang chảy cuồn cuộn từ nguồn suối Dục Mỹ xuống, ngập mất lan can cầu, giòng nước hung hãn mang theo cây khô, nhánh to. Các bạn sau nầy thấy thành cầu Dục Mỹ có gãy một đoạn hay được vá lại là do trận lụt năm ấy. Các nhà vách đất rệu rã thãm hại. Dòng suối hàng ngày nước tận lòng lạch, đứng trên cầu nhìn xuống mấy cô ra lấy nước, giặt giũ ngồi trên mấy tảng đá trông nhỏ xíu, sâu bên dưới. Phút chốc con suối hiền hòa trở nên kẻ hung bạo.

Khí hậu Dục Mỹ rất bất thường, ban trưa nóng ngủ dậy không nổi, uống hai trái dừa lạnh do các anh quân nhân cơ hữu trường mang bán dạo, cũng chưa đã khát, dừa Ninh Hòa nhỏ và ngọt hơn dừa Bến Tre.
Ban tối lạnh khó lòng tắm được, từ đó tụi tôi sáng chế ra kiểu tắm rất Pháo Binh: Tắm trên miền (dựa theo tên một loại tác xạ: Tác xạ trên miền), tức chỉ tắm những phần cần tắm. Vậy chứ vẫn cứ tán nhỏ Ngân Thủy thơm tho dài dài, không thuyên giảm .

* * *

Ðầu năm 1968 tôi mãn khóa, sáng 06 tháng 01 năm 1968 tôi rời trường về Nam, lần nầy tôi mua vé hàng không Việt Nam: Nhớ nhà quá! Không chờ phương tiện nhà binh được. Dù có trở lại một lần vài năm sau đó, nhưng mấy chục năm qua tôi chưa gặp lại một ai kể cả các bạn cùng khóa ít ỏi chỉ có 36 người tính luôn tôi đã được rải ra khắp bốn vùng chiến thuật.

Nay đọc trong ninh-hoa.com gợi cho tôi nhớ một khoảng thời gian trong đời rằng có lần tôi đã đến đó: Vùng đất xem ra nghèo nhưng dễ thương!

NhàQuê

Connecticut Oct 06,2005



><><><><><


Kính anh NhàQuê,

Rất vui khi được biết anh gia nhập vào trang Ninh Hòa đồng hương của chúng tôi. Nhân dịp đọc bài viết của anh trên trang Web ninh-hoa.com về Dục Mỹ thật hay, gây cho tôi nhiều cảm xúc và xin có đôi lời nhờ trang Web gởi về anh .

Dù chỉ một thời gian ngắn nhưng anh đã có những kỷ niệm và yêu mến xứ nhỏ của chúng tôi vùng đất xem ra nghèo nhưng dễ thương. Cuộc sống nơi đó sau 1975 đã không còn được như trước vì chiến tranh tàn phá một phần nào và sự sinh sống của những người dân nơi đó xưa kia sống nhờ vào 3 trung tâm quân đội giờ đây cũng không còn nữa nên quang cảnh sinh hoạt hoang vắng hơn trước nhiều. Những hình ảnh cũ đã mất hết cả rồi. Nay được một người là quân nhân xưa kia, dù chỉ ghé qua một thời gian ngắn nhắc đến, tôi thật sự cảm động, thế mới biết những người đã sống từ thuở bé trong vùng quê nhỏ đó dành sự yêu thương cho nó nhiều biết dường nào. Cám ơn anh đã dành tình cảm cho quê nhỏ chúng tôi.

Qua lời hỏi thăm của anh về chị Yến con của bác Tân An tiệm chụp hình, tôi được biết ba má của chị vẫn còn ở Dục Mỹ tại căn nhà xưa, chị Yến đã lập gia đình và có 3 cháu, hiện chị đang sống tại Quảng Ngãi quê chồng, chị lớn hơn tôi hai lớp. Chị có người em gái tên Oanh đang sống tại Mỹ là bạn học với em gái của tôi, Oanh có về VN và ghé thăm chúng tôi vào tháng 9/2004.

Kính chúc anh và gia đình vui khỏe, hạnh phúc. Mong được đọc nhiều bài viết của anh gởi qua trang Web ninh-hoa.com, chúc anh sáng tác nhiều.

Kính thư.
Thu Thủy

><><><><

Vịnh Đỉnh Vọng Phu

Dặm tiễn lên đường nhắm hướng Đông
Người về chót đỉnh đứng chờ trông
Non thương giúp nhón … nâng tầng đá
Biển cảm dùm loang … dịu nắng hồng
Biểu tượng kiên trinh trong ngữ ngạn
Hình trưng tiết liệt giữa thinh không
Mây trôi vướng núi dừng lưu luyến
Hóa thạch "Vọng Phu" mãi đợi chồng

NhàQuê
(Được họa từ bài xướng Vọng Phu Thạch bên dưới)


Vọng Phu Thạch

Ngóng đợi phu quân cuối bể đông
Đăm chiêu thiếu phụ mỏi mòn trông
Bồng con rủ rượi hai hồn đá
Dẩm núi trơ vơ một bóng hồng
Đếm bước kim ô trầm đỉnh ngạn
Đong gương ngọc thổ ngự tầng không
Thoi đưa tạc dấu trang tình luyến
Khắc giữa nhân gian khổ vọng chồng

Đồng Lão



--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jul 17 2010, 08:51 PM
Gửi vào: #19


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"


Đoản Rời: Viên Sỏi



Tôi rời Ninh Hòa, quê hương các bạn, nơi có đủ núi non, sông ngòi, ruộng đồng và biển cả. Nơi đó xóm làng đồng ruộng làm tôi đỡ nhớ quê xa, nhưng núi non đem mây xuống thấp như gần, tôi dễ buồn hơn.

Tôi mong ngày về Nam, nên lần từ giã quê hương các bạn lòng tôi mừng, không giống như các bạn lúc khăn gói rời xa. Chắc ai cũng có lần xao động như thế!

Từ khi còn đi học, ao ước khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi nơi nầy, nơi nọ khi có dịp. Thế mà tôi đã bỏ nhiều cơ hội trong thời gian lưu ngụ nơi quê hương các bạn. Tôi đã không biết Vạn Giã, Vạn Ninh, Thành Diên Khánh, Suối Nước Nóng.

Xa hơn như Ban Mê Thuột phía Tây, Tuy Hòa phía Bắc, Cam Ranh Ba Ngòi phía Nam. Những nơi ấy bạn tôi có đến trong thời gian bốn tháng quân trường, tôi thì không. Họ về kể lại làm tôi ấm ách khi tôi hỏi Ðèo Cả cao thế nào, bị chúng trả lời: Ðã nói là Cả thì phải biết nó như thế nào rồi!

Nhủ thầm thôi để sau nầy! Cái sau nầy tôi chờ đợi, nuôi dưỡng khác xa cái sau nầy tôi nhận được, nên ước muốn đi đó đi đây cơ hồ không thực hiện được.

Ngày nay có dịp đi nhiều nơi, nhưng tôi biết rằng những nơi tôi ao ước ngày nào, giờ chỉ là phấn son. Cái hồn nhiên mộc mạc tôi yêu, ước muốn một lần được gặp đã vĩnh viễn của quá khứ. Cái háo hức ngày xưa thôi giờ để lại con cháu tôi mấy dịp chúng về thăm đất Tổ. Thế cũng đủ!

Khi đến nơi nào hay rời xa tôi đều mang về theo một vật kỷ niệm, vật kỷ niệm có khi cũng tức cười, vì đó là tờ thực đơn của nơi tôi đã ghé ăn.

Không phải chỉ có kẻ phàm phu như tôi mới có cái thú sưu tập vật kỷ niệm xem ra tầm thường như vậy. Ngay đến những tài tử, minh tinh, ca nhạc sĩ nổi tiếng khi được mời lên AirForce One, mấy vị nầy cũng đã xếp mấy tờ napkin có in huy hiệu cho vào túi làm kỷ niệm.

Xét ra từ quân tử chí ư thứ dân cũng vậy thôi!

Nhà tôi thỉnh thoảng phàn nàn tìm thấy trong túi tôi mấy vỏ sò vỏ ốc.

Theo thói quen đó, tôi cúi xuống nhặt viên sỏi nhỏ còn ấm quê hương Ninh Hòa các bạn, viên sỏi có thể không phải từ trong lòng đất nơi đó, nhưng nó đã hiện diện ở đây trước tôi.

Nó đã chứng kiến hôm qua, chúng tôi quỳ xuống dâng lời thề cùng sông núi:

TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC VIỆT NAM ! XIN THỀ!


NhàQuê Dec 04, 2005


><><><><><


Nếu Lại Có Lần

Tôi thuộc tên Ninh Hòa quê bạn
Con Sông Dinh ,Xóm Rượu, Đường Luồng
Thành phiên bản in đầy trí tưởng
Một mai kia có dịp đến cùng
Sẽ rất quen không gì bỡ ngỡ

Nơi ngã ba bồi hồi tưởng nhớ
Bốn mươi năm dấu tích đổi thay
Lần đầu tiên dừng lại nơi đây
Thêm thiện cảm ghi lòng từ đó
Giữ trong sâu bước mỗi dần xa

Rời Bùng Binh bóng chiều đã ngả
Màu núi lam càng lúc một gần
Mười bánh xe dừng hẳn vòng lăn
Tôi đứng giữa núi rừng Dục Mỹ
Bao nhiêu mới bắt đầu từ đấy

Chuyện kể ấy về xa xưa lắm
Chứ bây giờ tôi khách hành hương
Về nhìn lại dấu chân xuống núi
Trả chiếc gùi nay đã rách bương
Chỉ viên sỏi vẫn còn nguyên dạng

Mấy tảng đá dưới lòng suối cạn
Đấm vai nhau cười khách đứng nhìn
Chưa nhận ra hai bên cứ ngó
Cây cầu xưa chứng kiến lặng thinh
Tóc tôi bạc mà rong vẫn vậy

Hồi tưởng nhớ từng viên đá ấy
Dáng ai ngồi giặt giũ khoan thai
Nước từ nguồn miệt mài xuôi chảy
Như tôi xa biền biệt năm dài
Nay trở lại chung quanh đều lạ

Từ trên cầu tay buông hòn đá
Trả về lòng viên sỏi tôi vay
Đã đi theo gần suốt đời nầy
Cùng lạc bước theo dòng nghiệt ngã
Gợn sóng tăn như đã vẫy tay

Tôi còn muốn ghé thêm nhiều chỗ
Từng hàng dương vẫy gió đong đưa
Hương cà phê và làn khói quyện
Đưa tôi về cổ tích giăng mưa
Cài áo che … lạnh từ hướng núi

Sắp rời xa tôi gắng gượng cười
Chia tay nhé đã là phút cuối
Kỷ niệm xưa nầy dịp ghé thăm
Đỉnh núi cao cũng dường xúc cảm
Nhạt nhòa mây qua đó tần ngần



NhàQuê






--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jul 17 2010, 10:49 PM
Gửi vào: #20


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 5,548
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8





Những "ngôi trường xưa Em học"



Đoản Rời: Đại Bác Cướp Cò


Tưởng là chuyện giỡn chơi, có thiệt đó các bạn à! Bản thân NhàQuê tui trải qua ba trường hợp xin kể tặng người bạn tuy xa lại gần của tôi, dịp bạn quyết định nghỉ hưu cuối tuần nầy: Tôi nói xa là chúng tôi xa nhau ba mươi năm mới gặp lại, gần là nay trong số bạn cùng năm vào trung học chỉ có hai đứa tôi gần nhau nhất, cũng phải mất một giờ rưởi lái xe.

Tôi ra trường Pháo Binh sau bạn tôi ba khóa, thuộc đàn em, kể như lội mút chỉ, vì các phương vị chỉ huy có chữ THỌ đã được hàng hàng lớp lớp đàn anh nắm giữ rồi.
Không biết do đâu, vì sao, tôi lại được về Tiểu Đoàn Pháo Binh Hoàng Gia, gọi như vậy vì nó ở sát nách Nhà Vua tức Biệt Khu Thủ Đô, chứ đơn vị tôi có tên có số riêng như mọi đơn vị khác.

Xin nhớ tôi là một tên nhà quê mốc thít nhiều đời không có "gốc gác" gì cả! Chắc bản mệnh tôi "an tại Thiên Phủ Cung" nên phải ở gần Nhà Trời, mà đơn vị tôi cũng mới tinh, huấn luyện chưa xong, đại bác còn chưa lảnh hết bên Quân Cụ.

Tôi trình diện đơn vị trưởng đúng hai tuần là gặp trận Mậu Thân liền, quân số tại hàng lúc đó rất ít vì đang đi phép Tết và một số "dù" về thăm gia đình chung quanh SàiGòn.

Tiếng súng nổ vang mà tôi tưởng pháo tết hay phe ta bắn súng thay pháo, cứ tiếp tục ngủ một mình trong dãy phòng dành cho sĩ quan độc thân, may là tôi không nghe radio kiểu vừa nghe vừa ngủ.

Đến khi Đài Chỉ Huy cho người lên ruồng xem có còn ai trong phòng ngủ hay không, mới khám phá ra tôi là quân nhân gương mẫu không "dù", mà có "dù" cũng đâu biết đi đâu!

TĐT tôi bảo Kiến Hòa mất rồi! vì trên hệ thống Liên Quân báo như vậy, khi ông hỏi tôi quê ở đâu.

Không đầy mười phút sau đơn vị tôi bị tấn công trực tiếp, sau nầy tù binh khai là họ đã vào sát rào cả giờ rồi, nên tôi nói tôi ngủ không mở radio là may!

Dĩ nhiên là đơn vị tôi có tổn thất nhưng làm sao "Xơi" chúng tôi được! Trại Phù Đổng của Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp gần đó bị chiếm, Họ đã gây nhiều khó khăn tiếp tế đạn dược cho chúng tôi trong mấy ngày.

Đến khi đường đã giải tỏa, tôi được đưa đến trại Thiên Hộ Dương (căn cứ 30 Quân Cụ) nơi một pháo đội Đại Bác mới lảnh còn mùi dầu mỡ, trú đóng vị trí hành quân ngay bên trong căn cứ Quân Cụ nầy, trên khoảng trống gần Trường Quân Y, cạnh sân banh sau lưng "Lò Bát Quái" khám Chí Hòa và yểm trợ liền cho lực lượng bạn đang chạm địch nặng....

Khi được giao điều khiển cho pháo đội thi hành tác xạ, tôi vẫn hô khẩu lịnh y chang như những gì học trong quân trường không sai sót một chữ, làm ai cũng cười (lính mới mà em!):



** Pháo Đội điều chỉnh!
** Đạn nổ!
** Lô XXX!
** Đầu Nổ nhanh!
** Trung Tâm một quả!
** Pháo Độ 5 quả, Đầu nổ CVT khi bắn hiệu quả!
** Nạp...! ngưng ít giây, hô tiếp

** Độ Giạt ....!
** Góc Thăng Bằng...!

Chưa đầy phút sau khẩu đội báo cáo:

Khẩu 3 sẳn sàng!
Khẩu 4 sẳn sàng!

Tôi phất tay đồng thời ra lịnh:

Bắn! .....

Đến khi chuẩn bị bắn hiệu quả thì ngoài mặt trận xin ngưng tác xạ để họ chiếm mục tiêu.

Thay vì hô khẩu lịnh Ngưng Tác Xạ! hoặc Chấm Dứt Tác Xạ! Đàng nầy tôi "một cánh tay đưa lên" lại âm thầm bỏ cánh tay ấy xuống.

Các khẩu đội nhìn tưởng lệnh Bắn, họ chơi hết 30 quả.

Tôi xanh mặt! Chân đứng không vững nghe khẩu đội thứ tự báo cáo:

Khẩu 1 bắn xong!
Khẩu 2 bán xong!
Khẩu 3 bắn xong!
Khẩu 4 bắn xong!
Khẩu 5 bắn xong!
Khẩu 6 bắn xong!

Tôi uể oải ra lịnh: Chấm dứt tác xạ!

Ngoài mặt trận vừa định tiến lên phải dội lại, chửi thề ỏm tỏi trên hệ thống truyền tin. Kể như Đại Bác Cướp Cò "sĩ quan sữa" mới ra lò mà!....

***

Sau ba tháng nằm trong tiền đồn mật khu Lý Văn Mạnh nay là khu kinh tế mới Lê Minh Xuân, tôi trở về vị trí Pháo Ðội đang đóng tại quận Bình Chánh Gia Ðịnh, đi phép 24 giờ xong, cũng chưa có việc gì làm.

Trưa tà tà ra chợ thả dê tán dóc, tối không trực thì nằm nghe "đại bác ru đêm". Thời điểm ấy Bình Chánh bị pháo kích dài dài có khi cả ban ngày. Nơi đây Họ có lợi thế là ranh hai tỉnh thuộc hai khu chiến thuật khác nhau, nên mỗi lần xin Clear lãnh thổ rất nhiêu khê, rồi vụ đó cũng được khắc phục.

Riêng về phản pháo thì chúng tôi có toa độ hẳn hòi cho những chỗ nào thường là vị trí súng.

Hai khẩu đội nào tới phiên đêm trực thì ghi yếu tố sẳn trên súng, nạp đạn vào nòng, kéo dây giật vào tận trong phòng ngủ.

Khi nghe Bên Kia "đề pa" là cứ vừa nằm vừa giật dây phản pháo, cả hai quả hai hướng gần như một lượt: Đơn vị bạn khen nhanh ơi là nhanh!!!

Thế mới có chuyện là một đêm nọ khi không mà tự nhiên "phản pháo" một mình: Gì vậy Bây?? Em đi tiểu máng dây Ông Thầy ơi!!! Ðại Bác cướp cò!.......

***

Nhờ có số sống dai, trong lính rất cần cái số đó lắm!!! Nên đúng ngày tháng cũng được thăng cấp. Tiệc liên hoan cho các Sĩ Quan tân thăng trong lần có tôi, cũng được TĐ tổ chức trong Hội Quán Sĩ Quan của đơn vị như những lần khác.
Hội quán nầy không do Kiến Trúc Sư nào vẽ kiểu cả, do "lính thợ" có tay nghề được giữ lại hậu cứ xây nên.

Đây là hội quán rất đẹp nghe nói chỉ kém " Mây Bốn Phương Trời" Huỳnh Hữu Bạc bên Không Quân trong Tân Sơn Nhất, nên gần như được cho mượn rất thường.

Nói là cho mượn chứ chỉ cần cú điện thoại là TĐT tôi lo từ A đến Z và thuộc cấp chạy bắn khói từ Z trở lại A...



Khách mời lần đó Sao có, Trưởng có....về ca sĩ có Kim Loan, Giáng Thu, Giao Linh, Phương Hồng Quế, Anh Khoa, Phương Nga, Phương Khanh,... hú được một số bên TĐ50CTCT và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương... ca sĩ tới ca vài bản rồi chạy SÔ, Phương Hồng Quế thủ suốt, thân như ca sĩ cơ hữu...

Ban nhạc của đơn vị tôi tuần nào không ở nhà thì được mượn đi, ban nhạc rất khá vì qui tụ thành phần lính kiểng nhiều người gốc nhạc công...; Từ đó tôi nghĩ ra rằng: tôi ở đơn vị nầy từ ra trường cho đến ra khỏi lính mà không bị thuyên chuyển trong các đợt "bị" qua Pháo Binh Dù, là vì để những người như tôi dùng "Xỉ" đi mấy chỗ nguy hiểm, chứ còn lại đều là con ông cháu cha gốc to nhánh bự.....dễ mích lòng!!

Càng khuya chương trình càng hấp dẫn khi khách Lớn tới dự tiệc,



"nhảy" rồi về sớm hay đi "công vụ".
Phải nói rằng thằng bạn tôi quả là hay! Nó xứng đáng được rút về lo ban 5, nhờ vậy tôi trám chỗ của nó và khỏi lội nữa.

Nó và con bồ ca sĩ của nó "vận động ngoại giao" sao mà được một màn "thoát y" vào giờ chót. Tôi không nhớ rõ là do Xuân Trang hay Thu Thủy trình diễn. Hai cô tài danh đương thời đã từng làm cả khóa 25/SQTBTĐ chúng tôi suýt bị cúp phép, trong lần cả hai cô trình diễn ở Đại Giảng Đường dịp gắn Alpha.

Lúc màn nầy diễn ra, không còn ai ngồi ở các bàn, mà tất cả tập trung bao quanh kín cả piste. Cái làm ngạc nhiên là phía nữ lại ầm ĩ hơn bên mấy ông vốn háo hức.

Cô nàng diễn điệu nghệ kéo dài đứng ...tim, cởi từ từ...

cuối cùng 100% em ơi, đêm nay 100%! Nàng tỉnh bơ chậm chạp đi vào phòng thay đồ, nhìn từ sau cũng không biết diễn tả sao cho đúng những gì mắt thấy. Ước gì tôi là họa sĩ!! Đẹp vậy mới thoát y chứ!!

Suốt buổi cho đến hết màn vừa qua, kéo dài đến nghẹt thở, tôi "đành" vào phòng rửa mặt cho hạ hỏa. Lại gặp nàng chưa mặc lại gì trong đó. Thấy tôi vào nàng hỏi rất...: bộ Đại Bác Cướp Cò rồi sao mà vô đây vậy Quan?? Cưng làm tình hình Cuba căng thẳng quá đi!!
............................



NhàQuê March 17,2006




--------------------


Tự ví mình như chiếc nấm rơm
Không so với những cỏ hoa thơm
Sanh từ lớp rạ vươn xòe cánh
Chẳng độc mà hiền khó thứ hơn




NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

2 Pages: V  1 2 >
Closed TopicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 22nd October 2018 - 09:05 AM