IPB

Chào mừng khách quý đã tới thăm ! ( Đăng nhập | Đăng ký )

 
Reply to this topicStart new topic
> BệnhCaoHuyếtÁp, BsNguyễnVănPhượng/BVChợRẫy
NguyenvanPhuong
post Aug 14 2006, 06:08 AM
Gửi vào: #1


Newbie
*

Nhóm: Members
Bài viết đã gửi: 1
Tham gia: 13-August 06
Thành viên thứ: 155



QUOTE
 


www.bentrehome.net hân hạnh giới thiệu nhiều loạt bài viết của:

Bác Sĩ Nguyễn Văn Phượng Rể BếnTre

Bác Sĩ điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy, SàiG̣n, Việt Nam.

Bác Sĩ Phượng thông thạo Anh và Pháp Ngữ hiện định cư tại San Jose

Bác Sĩ vừa đến Hoa Kỳ thời gian gần đây, đang dịch và phổ biến kiến thức

cùng kinh nghiệm trị liệu nhiều chứng bịnh trong quảng đại chúng ta ưu tư.

Các bài được đưa lên các tạp chí Y Học trong và ngoài nước.


Xin cám ơn sự cộng tác của Bác Sĩ






CAO HUYẾT ÁP Ở TRẺ EM VÀ THÀNH NIÊN

Bác Sĩ Nguyễn Văn Phượng/ Bv Chợ Rẫy


Việc tạo lập nên một cơ sở dữ liệu quốc gia về các mức độ huyết áp b́nh thường trong suốt thời kỳ c̣n là trẻ em đă góp phần nhận dạng cao huyết áp ở trẻ em và thành niên. Dịch béo ph́ ở trẻ em, nguy cơ phát triển dày thất trái và bằng chứng của sự phát triển xơ vữa động mạch ở trẻ em khiến cho việc phát hiện và can thiệp vào cao huyết áp trẻ em trở nên quan trọng nhằm làm giảm các nguy cơ lâu dài trên sức khỏe, tuy vậy, vẫn c̣n thiếu các dữ kiện hổ trợ. Cao huyếp áp thứ phát thường thấy ở trẻ em trước tuổi thành niên, và đa số là do bệnh thận gây nên. Cao huyết áp tiên phát hay cao huyết áp vô căn thường gặp ở trẻ thành niên hơn và có nhiều yếu tố nguy cơ, bao gồm béo ph́ và tiền sử gia đ́nh cao huyết áp.

Đánh giá bao gồm một bệnh sử đầy đủ, khám lâm sàng, các xét nghiệm labo, và các khảo sát đặc biệt. Xử trí đa diện. các trị liệu không dùng thuốc bao gồm giảm cân, tập thể dục và thay đổi chế độ ăn. Khuyến cáo trị liệu dùng thuốc dựa trên cao huyết áp triệu chứng, bằng chứng tổn thương cơ quan đích, cao huyết áp giai đọan 2, cao huyết áp giai đọan 1 không đáp ứng với các thay đổi lối sống, và cao huyết áp có thêm tiểu đường.

Tỉ lệ bệnh và tần suất chẩn đoán cao huyết áp ở trẻ em và trẻ thành niên dường như gia tăng. Điều này một phần là do tỉ lệ béo ph́ ở trẻ em gia tăng cũng như sự lưu tâm đến bệnh này ngày càng nhiều hơn. Có bằng chứng cho thấy cao huyết áp ở trẻ em có thể dẩn đến cao huyết áp ở người lớn. Cao huyết được xem là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành ở người lớn, và sự hiện diện của cao huyết áp ở trẻ em có thể góp phần vào sự phát triển sớm của bệnh mạch vành. Các báo cáo cho thấy trẻ em và người mới trưởng thành có thể bị xơ vữa động mạch sớm và điều này có liên quan với cao huyết áp trẻ em.

Ph́ đại thất trái là bằng chứng lâm sàng nổi bật nhất của tổn thương đich trong cao huyềt áp ở trẻ em. Các dữ kiện cho thấy có đến 41% trẻ cao huyết áp có dày thất trái. Trẻ bị cao huyết áp nặng cũng tăng nguy cơ bị bệnh năo do cao huyết áp, co giật, tai biến mạch máu năo và suy tim sung huyết.

Dựa trên các quan sát này, phát hiện và can thiệp vào cao huyết áp ở trẻ em rất có nhiều lợi ích nhằm ngăn ngừa các biến chứng lâu dài của cao huyết áp.

C̣n thiếu các dữ kiện liên quan giữa cao huyết áp trẻ em và nguy cơ tim mạch của người lớn. Cập nhật hóa các khuyến cáo về chẩn đoán, đánh giá và điều trị cao huyết áp ở trẻ em vả trẻ thành niên đă được cung cấp bởi National High Bood Pressure Education Program (NHBEP) Working Group On High Blood Pressure In Children And Adolescents.

V́ kích thước cơ thể là yếu tố quyết định chủ yếu đối với huyết áp, cần thiết phải bao gồm bách phân vị chiều cao của trẻ để xác định huyết áp b́nh thường. Các bảng huyết áp ở trẻ em đă được tái duyệt bao gồm các bách phân vị thứ 50, 90, 95 và 99 theo tuổi, phái tính và chiều cao dựa trên dữ kiện của 1999-2000 National Health and Nutrition Examination Survey (Phụ Lục 1 và 2).

Bảng 1 cho thấy phân loại cao huyết áp ở trẻ 1 tuổi hoặc lớn và trẻ thành niên với các huyết áp tâm thu và tâm trương tương ứng. Cần đo huyết áp ba hay nhiều lần hơn khác nhau truớc khi phân loại nhóm cao huyết áp.

user posted image



A=hằng định, bằng chứng tốt từ người bệnh; B= không phù hợp hoặc bằng chứng giới hạn từ phía người bệnh; C= đồng thuận, bằng chứng rút ra từ bệnh, thực hành thông thường, quan điểm của chuyên gia hoặc các loạt trường hợp. để có thông tin về hệ thống xếp loại bằng chứng SORT, xem trang 1495 hoặc http://www.aafp.org/afpsort.xml.


Các báo cáo cho thấy có sự liên quan giữa huyết áp và chỉ số khối cơ thể, chứng tỏ béo ph́ là yếu tố nguy cơ lớn của cao huyết áp trẻ em. Thiếu các dữ kiện định nghĩa vai tṛ của phái tính và chủng tộc trong cao huyết áp ở trẻ em, mặc dù kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ em da đen có huyết áp cao hơn da trắng. Tính di truyền của cao huyết áp trẻ em được ước lượng vào khoảng 50%. Một nghiên cứu ghi nhận 49% trẻ bị cao huyết áp tiên phát có người thân bị cao huyết áp tiên phát và 46% trẻ bị cao huyết áp thứ phát có người thân bị cao huyết áp thứ phát. Một báo cáo khác cho thấy có đến 86% trẻ thành niên bị cao huyết áp nguyên phát có tiền sử gia đ́nh cao huyết áp. Có bằng chứng cho thấy trẻ được nuôi bằng sữa mẹ có huyết áp thấp hơn.

user posted image



Chú thích: bách phân vị huyết áp được tính dựa trên phái tính, chủng tộc, được đo ít nhất trong 3 lần riêng biệt, nếu bách phân vị tâm thu và tâm trương khác nhau, phân loại dựa vào trị số nào lớn nhất.

Được phép phỏng theo từ High Blood Pressure Education Program Working Group on High Blood Pressure in Children and Adolescents. The Fourth Report On The Diagnosis, Evaluation And Treatment Of High Blood Pressure In Children And Adolescents. Pediatrics 2004; 114 (2 Suppl 4 Th); 560.


ĐO HUYẾT ÁP

Theo các khuyến cáo của NHBPEP, trẻ ba tuổi hoặc lớn hơn cần được đo huyết áp mỗi khi đến thăm khám ở một cơ sở y tế; tuy nhiên, theo khuyến cáo của U.S Preventive Service Task Force (USPSTF), thiếu bằng chứng để khuyến cáo nên hay không nên thường qui tầm sóat cao huyết áp ở trẻ em nhằm làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành.

Phương pháp chọn lọc để đo huyết áp là thính chẩn. Các máy đo bơm hơi được dùng để đo huyết áp ở trẻ em và thường là chính xác nếu được chuẩn mực lại 6 tháng một lần.

Để huyết áp ở trẻ em được đo đạc chính xác cần dùng một bao quấn thích hợp với phần trên cánh tay phải của trẻ. Đây là cánh tay thích hợp bởi lẽ huyết áp có thể giảm ở cánh tay trái do hẹp eo động mạch chủ. Theo qui ước, kích thước thích hợp của bao quấn là kích thước của một bao có một túi bơm hơi có chiều rộng bằng ít nhất 40% chu vi cánh tay ở tại điểm giữa mỏm cùng vai và mỏm khủy (h́nh 1).

Chiều dài của bao quấn phải chiếm 80% chu vi của cánh tay (h́nh 2). Một bao quá kich cở sẽ hạ thấp kết quả, trong khi một bao kém kích cở hơn sẽ thổi phồng kết quả đo đạc. Nên đo huyết áp trong môi trường có kiểm soát. sau 5 phút nghĩ ngơi ở tư thế ngồi với cánh tay phải giữ ngang mức trái tim. Nếu huyết áp lớn hơn bách phân vị thứ 90, nên đo lại 1 lần nữa trong cùng một lần thăm khám để phán xét giá trị kết quả đọc.

H́nh 1. Chu vi cánh tay nên được đo từ giữa mỏm cùng vai và mỏm khủy.

Chiều dài của bao quấn (80 đến 100% của chu vi cánh tay)
Chiều ngang của bao quấn (khỏang 40% của chu vi cánh tay)
H́nh 2. Bao đo huyết áp mô tả ước lượng kích thước dựa trên chu vi cánh tay.

Đo huyết áp lưu động đ̣i hỏi người bệnh mang một máy ghi xách tay ghi nhận huyết áp trong một thời gian qui định. Điều này cho phép có được các đo đạc ngoài bối cảnh khám chữa bệnh, nơi mà một số người bệnh có thể bị cao huyết áp do lo lắng (?cao huyết áp áo cḥang trắng?). Các ứng dụng khác của đo huyết áp luu động bao gồm cao huyết áp từng đợt, rối lọan giao cảm và bệnh thận măn tính. Đo huyết áp lưu động cũng có thể giữ vai tṛ trong phân biệt giữa cao huyết áp tiên phát và thứ phát cũng như phát hiện những người bệnh có thể có tổn thương đích do cao huyết áp. U.S Preventive Service Task Force (USPSTF) vẫn duy tŕ quan điểm cho rằng đo huyết áp lưu động vẫn c̣n tồn tại nhiều sai lầm như gặp phải tại pḥng khám.

CĂN NGUYÊN

Hầu hết cao huyết áp trẻ em, đặc biệt trẻ vị thành niên, là thứ phát của một bệnh lư nằm bên dưới (Bảng 2). Bệnh lư chủ mô thận là nguyên nhân thường gặp nhất (60 đến 70%) của cao huyết áp. Trẻ thành niên thường mắc cao huyết áp tiên phát hoặc cao huyết áp vô căn, chiếm 85 đến 95% trường hợp. Bảng 3 cho thấycác nguyên nhân của cao huyết áp trẻ em tính theo tuổi.

Hiếm khi thấy cao huyết áp vô căn ở trẻ dưới 10 tuổi và chẩn đóan là để loại trừ. Các yếu tố nguy cơ đáng kể của cao huyết áp vô căn là tiền sử gia đ́nh và tăng chỉ số khối cơ thể. Một số các rối lọan về giấc ngủ và chủng tộc da đen có thể là các yếu tố nguy cơ đáng kể của cao huyết áp vô căn. Cao huyết áp vô căn thường gắn liền với các yếu tố nguy cơ khác tạo nên hội chứng chuyển hóa và có thể dẫn đến bệnh tim mạch. Các yếu tố nguy cơ này của hội chứng chuyển hóa bao gồm HDL-C trong huyết tương thấp, triglycerides trong huyết tương cao, béo ph́ vùng bụng, và kháng insulin/tăng insulin trong máu. Tỉ lệ hội chứng chuyển hóa ở trẻ thành niên là giữa 4.2 đến 8.4%.

Cao huyết áp thứ phát thường gặp ở trẻ em hơn người lớn. Có thể gặp ở trẻ thành niên, đặc biệt nếu có các dấu hiệu thực thể không điển h́nh quan sát thấy trong cao huyết áp vô căn. Ở trẻ em, bệnh thận là nguyên nhân thường gặp của cao huyết áp thứ phát. Các nguyên nhân khác bao gồm bệnh nội tiết (ví dụ: pheochromocytoma, cường giáp) và do các dược phẩm (ví dụ thuốc ngừa thai uống, các thuốc cường giao cảm, một số chế phẩm bán không cần toa, các chế phẩm bổ sung chế độ ăn). Cao huyết áp thóang qua, có thể lầm với cao huyết áp, có thể gặp trong dùng caffeine và một số rối lọan sinh lư (ví dụ, lo lắng, ứng suất).

user posted image



ĐÁNH GIÁ

Một khi đă xác nhận có cao huyết áp, cần tiến hành khai thác chi tiết bệnh sử và thăm khám lâm sàng kỹ luỡng để xác định các nguyên nhân tiềm ẩn của huyết áp cao và để phhát hiện tổn thương cơ quan đích. Với thông tin thích hợp có thể tránh được nhiều thử nghiệm labo và các khảo sát h́nh ảnh học không cần thiết và thường là tốn kém. NHBBEP đă đưa ra một đồ thuật để giúp cho việc chẩn đóan và chọn lựa xử trí cao huyết áp trẻ em. (H́nh 3).

BỆNH SỬ VÀ KHÁM LÂM SÀNG

Như đă đề cập truớc đây, trẻ em bị cao huyết áp tiên phát thường có bệnh sử gia đ́nh cao huyết áp hoặc bệnh tim mạch. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm hội chứng chuyển hóa và hô hấp do rối lọan giấc ngủ (từ ngáy cho đến ngưng thở do tắt nghẽn khi ngủ) cũng thấy kết hợp với cao huyết áp tiên phát. Một bệnh sử tỉ mĩ sẽ bộc lộ những yếu tố quan trọng này. Cần nhớ là cao huyết áp thứ phát thường xảy ra ở trẻ nhỏ cao huyết áp giai đọan 2, v́ vậy dữ kiện về các t́nh trạng của hệ thống cơ thể gắn với cao huyết áp cần được làm sáng tỏ

user posted image


Bởi v́ phần lớn cao huyết áp bắt nguồn từ mạch máu thận, tập trung kiểm tra hệ thống này có thể soi rọi được căn nguyên khả dĩ. Bảng 4 là một tóm lược thông tin từ bệnh sử có thể giúp xác định được nguyên nhân. Bệnh sử về việc dùng thuốc cần bao gồm bất cứ thuốc dùng không cần toa, thuốc phải ghi toa, và thuốc bị cấm, v́ nhiều thứ thuốc có thể làm tăng huyết áp. Thầy thuốc cũng cần hỏi về việc dùng các thuốc làm tăng cường khả năng thi đấu của các vận động viên, các bổ sung dược thảo (ví dụ: ma-huang), và thuốc lá.

Khám lâm sàng cần tính chỉ số khối cơ thể (BMI) v́ có sự liên quan giữa béo ph́ và cao huyết áp. Nên khuyến cáo đo huyết áp ở cả chi trên lẫn chi dưới để loại trừ hẹp eo động mạch chủ. Cần bao gồm khám đáy mắt để đánh giá ảnh hưởng của cao huyết áp lên một cơ quan đích dễ bị tác động. Tuy nhiên, ở phần lớn trẻ em bị cao huyết áp, khám lâm sàng sẽ cho kết quả b́nh thường.

Bảng 4.

user posted image


THỬ NGHIÊM LABO VÀ H̀NH ẢNH HỌC

Thử nghiệm labo và h́nh ảnh học ở trẻ em bị cao huyết áp nhằm tầm sóat các nguyên nhân có thể xác định, phát hiện các bệnh trạng đi kèm và đánh gía tổn thương cơ quan đích (bảng 5). Các thử nghiệm tầm sóat nên được thực hiện cho tất cả các trẻ em được xác định chẩn đóan là cao huyết áp. Quyết định làm thêm thử nghiệm nào được dựa trên bệnh sử cá nhân và gia đ́nh, sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ, và kết quả của các thử nghiệm thăm ḍ. Trẻ nhỏ tuổi, những người cao huyết áp giai đọan 2, hoặc những người mà t́nh trạng hệ thống đáng để ngờ vực đ̣i hỏi phải được đánh gía rộng răi hơn v́ con cái họ có nhiều khả năng bị cao huyết áp thứ phát. Trẻ lớn tuổi hơn hoặc béo ph́, có tiền sử gia đ́nh tiểu đường hoặc các yếu tố nguy cơ tim mạch khác cần được tiến hành t́m hiểu thêm về các bất thường chuyển hóa đi kèm với cao huyết áp tiên phát.

Hầu hết các thầy thuốc đều có trong tay các khảo sát nồng độ kích thích tố trong máu và trong nước tiểu 24 giờ, nhưng các xét nghiệm chuyên biệt hơn như chụp mạch máu thận thường đ̣i hỏi phải chuyển đến một trung tâm có chụp quang tuyến nhi khoa, các cơ sở thận và tim mạch học. Khi nghi ngờ nhiều đến bệnh mạch máu thận, nên khuyến cáo chụp mạch máu qui ước hoặc chụp mạch máu xóa nền kỹ thuật số. Cũng có thể dùng nhấp nháy đồ có hay không có ức chế men chuyển đổi angiotensin. Các kỹ thuật h́nh ảnh học này khá xâm lấn. Dữ liệu của các khảo sát mới như chụp mạch máu cộng hưởng từ và chụp cắt lớp điện tóan không gian 3 chiều hoặc xoắn ốc ở trẻ em c̣n giới hạn, nhưng bằng chứng về sự hữu dụng của chúng ngày càng nhiều.

Measure blood pressure and height and calculate BMI. Determine blood pressure category for sex, age and height: đo huyết áp và chiều cao, tính chỉ số khối cơ thể (BMI). Xác định loại huyết áp theo phái tính, tuổi và chiều cao.

Stage 2 hypertension: Cao huyết áp giai đọan 2
Stage 1 hypertension: cao huyết áp giai đọan 1
Prehypertension: Tiền cao huyết áp
Normal blood pressure: huyết áp b́nh thường
Diagnostic work up including evaluation for end organ damage*: tiến hành chẩn đóan bao gồm đánh giá tổn thương cơ quan đích
Repeat blood pressure at 3 office visits; Đo lại huyết áp trong 3 lần thăm khám.
Secondary or primary hypertension: cao huyết áp thứ phát hoặc nguyên phát
95th percentile or higher: Bách phân vị thứ 95 hoặc cao hơn
Between 90th and 95th percentiles or 120/80 mm Hg: giữa bách phân vị thứ 90 đến 95 hoặc 120/80 mm Hg.
Consider referral to provider with expertise in pediatric hypertension: tính đến việc chuyển chuyên khoa về cao huyết áp nhi.
Recommend therapeutic lifetime changes (diet modification, physical activity): khuyến cáo các thay đổi lối sống nhằm mục đích trị liệu (thay đổi chế độ ăn, họat động thể dục)
Lower than 90 th percentile: thấp hơn bách phân vị thứ 90
Normal BMI: chỉ số khối cơ thể b́nh thường
Overweight: thừa cân
Prescribe medication: ghi toa cho thuốc
Weight reduction and medication prescription: giảm cân và ghi toa cho thuốc
Prescription addressing specific causes of hypertension: cho thuốc hướng về nguyên nhân đặc hiệu của cao huyết áp.
Repeat blood measurements in 6 months: đo lại huyết áp sáu tháng sau.
Educate on heart healthy life styles for the family: giáo dục gia đ́nh về các thay đổi lối sống ích lợi cho một trái tim khỏe mạnh.
95th or higher: bách phân vị thứ 95 hoặc cao hơn
Blood pressure still ≥95th percentile: huyếp áp vẫn ≥ bách phân vị thứ 95
Prescribe medication: cho thuốc*
Monitor blood pressure every 6 months: theo dơi huyết áp mỗi 6 tháng
Consider diagnostic work-up and evaluation for end organ damage if overweight or comorbidity exists: tính đến chuyện tiến hành chẩn đóan và đánh giá tổn thương cơ quan đích nếu thừa cân và có bệnh trạng đi kèm.

* đặc biệt khi người bệnh trẻ tuổi hơn, có huyết áp rất cao, không có hoặc có tiền sử gia đ́nh không đáng kể, có tiểu đường hoặc các yếu tố nguy cơ khác.

H́nh 3. Đồ Thuật đồ xử trí cao huyết áp ở trẻ em (BMI=chỉ số khối cơ thể)

Được phép trích dẫn từ High Blood Pressure Education Program Working Group on High Blood Pressure in Children and Adolescents. The Fourth Report On The Diagnosis, Evaluation And Treatment Of High Blood Pressure In Children And Adolescents. Pediatrics 2004; 114 (2 Suppl 4 Th); 571.

Ngoài các thử nghiệm chẩn đóan đă được nói ở trên, cần thực hiện đánh giá tổn thương cơ quan đích. Bệnh lư vỏng mạc, vi đạm niệu, dày động mạch cảnh, tất cả đều đă được công bố thấy ở trẻ em bị cao huyết áp. Đi t́m dày thất trái là một phần quan trọng của việc đánh giá cao huyết áp ở trẻ em. V́ siêu âm tim không xâm lấn, dể có và nhạy hơn điện tâm đồ, nó nên là phần đánh giá đầu tiên ở tất cả trẻ em bị cao huyết áp và có thể định kỳ lập lại.

XỬ TRÍ

Xử trí cao huyết áp ở trẻ em nhằm vào nguyên nhân của cao huyết áp và vào việc làm giảm nhẹ bất kỳ triệu chứng nào. Tổn thương cơ quan đích, các bệnh trạng đi kèm, và các yếu tố nguy cơ khác kết hợp cũng ảnh hưởng đến các quyết định trị liệu.

Các trị liệu dùng thuốc và không dùng thuốc được khuyến cáo dựa trên tuổi của trẻ, giai đoạn của huyết áp, và đáp ứng đối với trị liệu.

Trị liệu không dùng thuốc

Đối với trẻ em và trẻ thành niên tiền cao huyết áp hoặc cao huyết áp giai đọan 1, nên khuyến cáo thay đổi lối sống. Điều này bao gồm kiểm sóat cân nặng, tập luyện đều đặn, chế độ ăn ít mở, ít muối, ngưng thuốc lá và ngưng uống rượu.

Béo ph́ làm tăng khả năng xảy ra cao huyết áp gấp 3 lần trong khi làm thuận lợi cho sự phát triển của đề kháng insulin, tăng lipid máu, và sự nhạy cảm với muối. Béo ph́ đáng kể cũng có thể làm tăng khả năng xảy ra dày thất trái độc lập với mức độ huyết áp. Tập luyện thể dục được cho thấy làm hạ thấp huyết áp ở trẻ em nhưng không ảnh hưởng đến chức năng thất trái. Trẻ em bị tiền cao huyết áp, cao huyết áp giai đọan1, hoặc cao huyết áp giai đọan 2 đă được kiểm sóat, không có các triệu chứng và tổn thương cơ quan đích, được cho phép tập luyện các môn thể thao đối kháng.

Bảng 5

Xét nghiệm labo cho trẻ em cao huyết áp

user posted image
user posted image
user posted image



FDA= US Food and Drug Administration

*- Chống chỉ định khi mang thai; phụ nữ tuổi sanh đẻ cần được tham vấn khi dùng thuốc ngừa thai uống.

?-Kiểm tra kali và creatinine máu định kỳ để theo dơi tăng kali hoặc azot máu

?-FDA chỉ chấp thuận cho dùng đối với trẻ từ 6 tuổi trở lên có thanh thải creatinine thấp nhất 30 ml/phút/1.73 m2

§- Có thể bào chế dưới dạng huyền trọc

║ Chống chỉ định trong suyển và suy tim. Giới hạn liều tùy vào nhịp tim. Có thể ảnh hưởng xấu đến khả năng thi đấu của vận động viên. Không nên dùng cho người bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin. Hiện có dạng bào chế phóng thích chậm, dùng ngày một lần.

¶-Có thể làm nhịp tim nhanh

** Tất cả bệnh nhân dùng lợi tiểu nên được theo dơi điện giải một thời gian ngắn sau khi khởi sự trị liệu và định kỳ sau đó. Có ích lợi như là một trị liệu bổ sung dành cho người bệnh được điều trị với các loại thuốc thuộc nhóm khác.

Được phép trích dẫn từ High Blood Pressure Education Program Working Group on High Blood Pressure in Children and Adolescents. The Fourth Report On The Diagnosis, Evaluation And Treatment Of High Blood Pressure In Children And Adolescents. Pediatrics 2004; 114 (2 suppl 4 th); 568-9.

Thông tin lâu dài về cao huyết áp trẻ em không được trị liệu và tác động của thuốc hạ áp trên sự tăng trưởng và phát triển chưa nhiều. Theo NHBPEP, trị liệu dùng thuốc nên theo một kế họach từng bước tiến dần, bắt đầu mỗi lần bằng một thứ thuốc ở liều thấp nhất có hiệu quả, sau đó tăng dần lên cho đến khi đạt được các kết quả trị liệu, xuất hiện các tác dụng phụ hoặc đă đạt được liều tối đa. Chỉ khi đó mới bắt đầu một thuốc thứ hai, tốt nhất là thứ thuốc nào có cơ chế tác dụng bổ sung. Thuốc có tác dụng kéo dài có ích trong việc cải thiện sự tuân thủ của người bệnh và những vấn đề có thể tiên liệu được như dùng thuốc lợi tiểu cho các vận động viên trẻ th́ nên tránh.

Lựa chọn thuốc nào trước tùy thuộc phần lớn vào sự phán đóan của thầy thuốc. Lợi tiểu và chẹn ß được biết là an ṭan vả hữu hiệu đối với trẻ em. Nhu cầu chọn lọc các nhóm thuốc chuyên biệt đối với một bệnh lư bên dưới hoặc đi kèm đă dẫn đến việc sử dụng ức chế men chuyển đổi amgiotensin cho trẻ em bị tiểu đường hoặc đạm niệu, hoặc chẹn calcium cho bệnh nhân bị chứng đau nữa đầu. Thuần thục với các thuốc ở mỗi nhóm chính cùng với sự phối hợp có hiệu quả sẽ làm cho trị liệu trở nên dễ dàng. Nhiều dược phẩm ngày càng được nghiên cứu nhiều hơn để hổ trợ cho việc dùng chúng. Những thuốc được FDA chấp thuận cho dùng ở trẻ em được liệt kê trong bảng 6. Cũng giống như bất kỳ vấn đề nào của sức khỏe có tính chất măn tính, theo dơi nội khoa và giám sát thích hợp là ch́a khóa của sự thành công về lâu dài.


Được chỉnh sửa bởi NguyenvanPhuong on Aug 14 2006, 11:46 PM
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
bentre
post Aug 23 2006, 02:57 PM
Gửi vào: #2


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 380
Tham gia: 25-January 05
Đến từ: Sydney, Australia.
Thành viên thứ: 3



Rất cám ơn bài viết giá trị của Bác sĩ Nguyễn văn Phượng. Hi vọng Bác sĩ sẽ viết tiếp một bài về cao huyết áp (CHA) cho người già (50-60 trở lên).
Riêng cá nhân tôi từ nhỏ đến lớn chưa hề bị CHA. Năm nay vào mùa Đông (mùa Đông Sydney là mùa Hè ở Mỹ) tôi bị sưng đầu gối và đau nhức, không ngồi xỗm được. Tôi uống dầu Cá và Glucosamin (mỗi thứ 2 viên một ngày).
Cả tháng không giảm đau, tôi tăng liều lượng (v́ bao b́ của Glucosamin cho phép người lớn uống một ngày tối đa 4 viên) nên tôi uống tối đa (mỗi ngày 2 viên dầu Cá + 4 viên Gluco).
Hai tuần sau, khi đi bơi tôi bị ngộp thở. Bác sĩ bảo tôi bị Cao huyết áp cho đi Heart Specialist làm Stress Test - Tôi pass cái Test dễ dàng (đi bộ trên máy liên tục 10 phút đạt 100% điểm - tôi đ̣i đi thêm cho hết 15 phút nhưng Specialist bảo đủ rồi).
Thế là Specialist gởi trả tôi về Family Doctor và cho tôi uống thuốc hạ huyết áp Avapro 75mg. Tôi nghi ḿnh bị CHA chỉ v́ uống quá liều Glucosamin nên tôi lờ không uống Avapro.
Hiện nay tôi mua một cái máy Blood Pressure Monitor, và tự đo lấy mỗi ngày ba lần. Thấy huyết áp thường vào khoảng 125/85 có khi hồi hộp mệt th́ trên 135/90 (năm nay tôi đă 63 tuổi). Theo ư Bác sĩ th́ người già huyết áp dưới 140/90 có phải là CHA hay không?.
Riêng bà xă tôi thấy tôi mua cái máy cũng đo thử chơi th́ Huyết áp luôn luôn dưới 120/80 (cứ vào khoảng 105/75 hay hơn chút ít). Như vậy là Huyết áp thấp?.
Ăn uống ǵ hay làm sao để huyết áp lên cao b́nh thường (120/80)?.
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
kimngan
post Jan 26 2010, 12:49 AM
Gửi vào: #3


Advanced Member
***

Nhóm: Moderators
Bài viết đã gửi: 548
Tham gia: 13-February 05
Thành viên thứ: 21



Vài Cách Giản Dị Làm Giảm Áp Huyết Cao


Nguyễn Đức Trọng

Tin bạn Th. bị "stroke" làm tôi thật bàng hoàng, không tin là thật. Đến khi vào nhà thương nh́n thấy bạn nằm thiêm thiếp trong pḥng hồi sinh th́ mới chịu chấp nhận. Th. là một bạn học cũ ngày xưa, một người năng động, thể dục thể thao và tập vơ đều đặn, nay mới bước qua tuổi 50. Tụi tôi trong đám bạn đều lắc đầu v́ chẳng ai ngờ là hắn bị phải t́nh trạng thế này. Mặc dù không bị mổ sọ như vài người bạn khác, nhưng đây cũng là một ca khá nặng. Th. đă bị liệt nữa người, không nói được, và có lẻ phải học lại từ đầu các vần abc trước khi có thể viết xuống. Nh́n bạn nằm bất động trên giường thấy ḷng xốn xang quá!
Mới tuần trước đi ăn đám cưới cậu em, gặp lại hai bà chị, người gầy người hơi mập, thấy hai bà lui cui móc bóp lấy thuốc uống trước bữa ăn, hỏi thăm th́ mới hay hai bà bị áp huyết cao từ mấy năm nay và mỗi ngày đều phải dùng thuốc để ổn định t́nh thế. Nh́n qua lại chung quanh, sao thấy nhiều người cũng bị chung một t́nh trạng áp huyết cao. Nhân có bạn H. yêu cầu viết về chuyện này, tôi đọc lại sách vở, ghi lại những đặc tính của căn bệnh này và đưa ra vài phương thức để chúng ta có thể làm giảm hay dứt hẳn t́nh trạng khó ưa này. Những ǵ tôi viết ra trước hết là cho tôi, chứ không hẳn là cho các bạn đâu. Đây là một dịp cho tôi nh́n lại bản thân ḿnh, cảnh cáo tôi phải để ư về sức khoẻ. Lư do là tôi hảo ngọt thích ăn đủ loại chè, ăn hàng khắp chốn, và tiệc tùng th́....liên miên.

"Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng", đó là câu châm ngôn cho người lính ra trận, cũng như cho người sống trong thương trường. Điều này cũng đúng với các con bệnh muốn chiến thắng căn bệnh của ḿnh. Thay v́ chỉ biết chạy đến bác sĩ cầu cứu, uống thuốc để chống đở, chúng ta có thể tự ḿnh làm giảm bớt áp huyết, giử cho sức khoẻ được b́nh thường, hết âu lo. Chúng ta thử cùng nhau t́m hiểu về chứng bệnh này và t́m cách dứt điểm nó xem sao.

Áp huyết cao c̣n được gọi là tên giết người thầm lặng (silent killer) bởi v́ nhiều người mang chứng này trong người mà vẫn không biết. Ở Hoa Kỳ này, trong số 50 triệu người bị áp huyết cao, chỉ có 30 triệu người được xác định. Số c̣n lại th́ không biết măi cho đến một hôm đến gặp y sĩ v́ một chuyện ǵ đó như mệt trong người, đau tim, tai biến mạch máu năo, thận suy, v.v. Áp huyết trong người chúng ta tăng lên từ từ, trăi qua nhiều năm tháng, và cơ thể chúng ta cũng tự động điều chỉnh để thích nghi. Chúng ta cảm thấy "b́nh thường" măi đến khi nghe cô y tá, hay ngài y sĩ phán "áp huyết của ông/bà cao quá"! Tuy nhiên chúng ta cũng có thể biết là chúng ta có vấn đề nếu gặp những t́nh trạng sau:
- chóng mặt nhức đầu, thường vào buổi sáng,
- ù tai,
- xây xẩm mặt mày mà không biết tại sao,
- hay bị chảy máu mũi,
- lên và xuống tinh thần không có lư do,
- quáng mắt nh́n h́nh ảnh không c̣n rơ ràng.

T́m hiểu về áp huyết cao

Một khi hiểu rơ những ǵ tạo nên vào áp huyết, và thế nào là áp huyết cao, chúng ta có thể tuần tự t́m cách quân b́nh áp huyết của chúng ta. Đại khái là quả tim chúng ta bơm máu tinh lọc qua các động mạch chính, rồi vào các tỉnh mạch nhỏ đến khắp các tế bào. Hệ tuần hoàn trong cơ thể sẽ đưa máu dơ qua phổi để lấy thán khí ra khỏi máu, và qua thận để lọc các cặn bả khác. Máu sau khi lọc sẽ được đưa về tim để chờ được bơm lần tới. Giống như các máy bơm khác, trái tim của chúng ta bơm hay đẩy máu chạy quanh trong người bằng một lực mà chúng ta gọi áp huyết.

Do việc tim bơm máu đi trọn một ṿng trong người, nên khi đo áp huyết, người ta chia ra làm hai phần - phần đẩy ra (systolic) mạnh hơn, và phần nằm trong hệ thống (diastolic), yếu hơn, nghỉ ngơi chờ máu dội ngược về đầy đủ cho lần bơm tới.

Áp huyết b́nh thường là 120/80. Nhưng cũng tuỳ người, t́nh trạng mà áp huyết tăng hay giảm cách nhau rất xa. Có người áp huyết rất tốt vào khoảng 100/70, đôi khi xuống 100/60. Nhưng khi họ nóng giận hay chơi thể thao áp huyết có thể lên 130/90 dễ dàng. Con số chúng ta nhắm đến là 120/80, và hiểu rằng cao hay thấp hơn một chút cũng nằm trong phần an toàn.

Như đă biết, không bao giờ có chuyện áp huyết tăng từ b́nh thường lên thật cao qua đêm, nó chỉ có thể leo thang từ từ qua thời gian mà thôi. Khi thấy áp huyết khi đưa máu về tim (diastolic) cao hơn 80 th́ đấy chính là dấu hiệu cảnh báo chúng ta nên thay đổi lối sống và cách ăn uống. T́nh trạng áp huyết cao ít khi nào là do một nguyên nhân đơn thuần. Thông thường nó là hệ quả của nhiều nguyên do. Sau đây là vài nguyên do thông thường.

- Rượu,
- Ăn quá nhiều dầu mỡ,
- Số lượng muối tiêu thụ quá nhiều, lệch chỉ số K (K-factor = potassium/sodium balance, sự cân bằng giữa chất kiềm và muối,
- Dư cân,
- Di truyền,
- Chất insulin tạo ra nhiều quá,
- Kém dinh dưỡng,
- Ít tập thể dục,
- Áp lực đời sống nặng nề,
- Loại người hướng ngoại.

Theo các chuyên viên về y khoa và dinh dưỡng, 85% trường hợp áp huyết cao có thể trở lại b́nh thường bằng cách thay đổi thức ăn hàng ngày, và lối sống. Hai phần ba của nhóm 15% c̣n lại có thể cắt giảm số lượng thuốc men cần dùng với cùng phương pháp như trên. Dĩ nhiên là việc giữ ǵn sức khoẻ tốt cho bản thân, cho số mạng của ḿnh đ̣i hỏi một sự quyết tâm liên tục. Và sự quyết tâm này so ra với việc đi học ở nhà trường để học lấy một nghề kiếm sống th́ chẳng đáng chi hết. Tuy vậy, theo thống kê 93% những ngưỡi có bằng cấp cao khi đối diện với t́nh trạng áp huyết cao họ lại dùng thuốc thay v́ cố gắng kiểm soát áp huyết của ḿnh trở lại qua việc thay đổi thực phẩm ăn uống và cách sinh hoạt hàng ngày.

Nhưng ở mức nào th́ gọi là áp huyết cao? Sau đây là bảng sắp hạng/phân loại:
Đối với áp huyết trong hệ thống, phần thấp của chỉ số (diastolic):
- 85 hay thấp hơn = b́nh thường
- 85 đến 89 = b́nh thường ở mức cao
- 90 đến 104 = áp huyết cao hạng nhẹ (mild hypertension)
- 105 đến 114 = áp huyết cao hạng trung b́nh (moderate hypertension)
- 115 hay trên = áp huyết cao hạng nặng (severe hypertension)
Đối với áp huyết khi tim bơm ra, phần cao của chỉ số (systolic), khi chỉ số thấp dưới 90:
- 140 hoặc dưới = b́nh thường
- 140 đến 159 = gần có chuyện (borderline isolated systolic hypertension)
- 160 hoặc hơn = có vấn đề (isolated systolic hypertension)

Trước khi đi vào các phương thức làm giảm áp huyết, có lẻ chúng ta cũng nên biết sơ những yếu tố nào trong người đă làm áp huyết gia tăng. Sau khi nắm vững vấn đề, chúng ta sẽ dễ dàng mà chọn lựa những lề lối sinh hoạt và thức ăn phù hợp với cơ thể, t́nh trạng của ḿnh.

Áp huyết trong người chúng ta là thành quả của số lượng máu do tim bơm ra (cardiac output) và sức đề kháng của những thành phần nằm ṿng ngoài như các động mạch lớn, nhỏ, tỉnh mạch, mao quản, v.v.

Chúng ta thấy có hai thành phần quan trọng xác định áp huyết.
a) Lượng máu tim bơm ra (cardiac output) là số máu bơm ra mổi lần tim bóp lại nhân cho số lần nhịp đập của tim trong một phút (heart pulse rate). Thông thường nhịp đập này phải dưới 80 lần trong một phút, trung b́nh là 70. Người nào khoẻ hơn th́ nhịp đập c̣n xuống thấp hơn nữa như dưới 60 chẳng hạn.
cool.gif Lực đối kháng bên ngoài: một khi máu được bơm ra khỏi quả tim, lực đối kháng này tạo nên bởi 3 yếu tố.

Đó là mức độ luân lưu của máu, sự đàn hồi của mạch máu, và đường kính của các mạch.
Như vậy nhịp đập của tim, máu, mạch máu đều góp phần tạo nên áp huyết. Phần nào cũng quan trọng.

Cũng giống y chang như các máy bơm nước khác chúng ta có dịp xài qua, sau khi máu được bơm ra từ quả tim, sự di chuyển của máu được định bởi 3 yếu tố:

1) độ đậm đặc của máu (tạm dịch chữ Blood Viscosity): nếu máu quá đậm đặc th́ sẽ khó di chuyển, ví dụ như mật ong th́ khó luân lưu hơn so với nước;
2) độ co dản và sức chịu đựng của các động mạch và tỉnh mạch (elasticity and flexibility): sự mềm mại, co dản nhẹ nhàng của các mạch máu sẽ giúp máu lưu thông dễ dàng và nhanh chóng, có nghĩa là áp huyết sẽ thấp. C̣n ngược lại mạch máu bị căng cứng sẽ làm cho áp huyết tăng cao.
3) số động mạch nhỏ và đường kính của chúng: nếu số động mạch nhỏ ít và đường kính của chúng bị thu hẹp v́ lư do nào đó th́ phải cần một áp lực thật cao để có thể bơm số lượng máu đầy đủ trở về tim, cần thiết cho lần bơm tới. Đây là yếu tố chính trong việc qui định con số áp huyết chúng ta. Sự co dản dễ dàng của các động mạch nhỏ và sự uyển chuyển của hệ thống tỉnh mạch sẽ làm cho áp huyết hạ thấp xuống.

Trong phần kế, chúng ta sẽ cùng khảo sát những phương thức làm giảm áp huyết, và cùng lúc làm giảm nguy cơ bị kích tim (heart attack), cũng như nguy cơ bị tai biến mạch máu năo (stroke).

Cách đây vài hôm, sau khi thấy tôi bứt râu bứt tóc để viết bài, cô "hàng xóm" Thanh Đan của tôi trong lúc tản bộ đặt câu hỏi là "... khi nói đến áp huyết, tại sao cứ nghe người ta bị đau tim, và đứt mạch máu trên đầu mà không ở một nơi khác?..." Tôi giải thích tạm là:

- Trái tim của con người như một cái máy bơm trong một hồ nuôi cá, các mạch máu như các ống dây, quả thận như bộ phận lọc. Quả tim con người lúc c̣n trẻ và khoẻ mạnh giống y như máy bơm lúc mới mua về, ống dây mềm nhuyễn, bộ lọc chưa đóng cặn. Khi lớn tuổi th́ cái kẹt của con người là chúng ta không thể thay thế các bộ phận như chúng ta có thể mua mà thay thế các phần trong hệ thống bơm của hồ cá. Chúng ta cứ thử nghĩ máy nào mà chịu cho nổi khi cá càng lúc càng thải nhiều chất dơ vào trong nước; bộ phận lọc càng lúc càng đóng dơ; ống dẩn bị rong rêu đóng đầy, đường kính của ống càng lúc càng nhỏ lại; dây ống qua thời gian bị chai không c̣n đàn hồi như lúc đầu và các phần nối có thể bị hở; và máy bơm (quả tim) phải làm việc liên tục sau mấy mươi năm không được thay thế, bảo tŕ đúng mức th́ chắc chắn là không có cách ǵ kham nổi. V́ thế khi đề cập các hậu quả liên quan đến huyết áp, chúng ta thấy rơ ràng là vấn đề nằm ở chổ cái máy bơm hay quả tim, và các đường ống dẩn nước. Các bệnh dính đến quả tim thường là tim phải làm việc nhiều quá, chịu không nổi phải đưa đến việc thay tim, gắn thêm máy điều ḥa nhịp tim (page maker), các van tim bị hở phải thay, v.v. C̣n hệ thống mạch máu trong người th́ không thể thay được nên chúng ta đành chịu. Nơi nào bị nứt, hay đứt th́ nối hay vá nếu được, c̣n không th́ sinh mạng con người chúng ta "đi đứt". Tôi biện minh là tại sao hay bị nứt/đứt mạch máu trên đầu v́ đó là nơi mà mạch máu bị sử dụng nhiều nhất - sự suy nghĩ và tập trung của bộ óc, mà cùng lúc lại không được bảo tŕ đúng mức qua thể dục, nghỉ ngơi. Các mạch máu trên đầu so ra bị sử dụng nhiều và liên tục hơn nhiều lần so với các nơi khác trong cơ thể, từ đó đưa đến việc nó bị vở/nứt trong đầu chắc chắn phải chiếm đa số trong các trường hợp.

Nói tóm lại chúng ta hầu như chỉ biết xài mà không để ư đến việc châm thêm dầu nhớt vào máy, cho máy nghỉ ngơi, lọc sạch đường ống dẩn, v.v.

Câu tră lời dựa trên sự suy luận b́nh thường (common sense) của tôi có thể không đúng hẳn, vậy mong các bạn bổ túc thêm cho được đầy đủ.
Sau đây là vài đề nghị để giúp làm giảm áp huyết.

1) Mua máy đo áp huyết và nhịp đập của timViệc đầu tiên chúng ta cần làm là mua một đo "electronic sphygmomanometer". Máy này cho biết áp huyết độ bơm ra, trở về, và nhịp đập của tim trong cùng một lần đo. Giá của máy này vào khoảng $US 20-25, và có thể mua tại các tiệm thuốc, tiệm bán đồ dinh dưỡng (health food stores), các tiệm bách hoá lớn, qua thư tín, hoặc trên Internet. Vậy nhân dịp đầu năm bạn nào nghi ngờ là ḿnh có thể bị áp huyết cao th́ nên dùng tiền ĺ x́, hay tiền dằn túi mà sắm một cái trước khi ghé ngang thử thời vận tại ṣng bầu cua, hay Las Vegas nha. Các bạn nhớ đọc lời chỉ dẩn cách sử dụng cho rơ ràng. Nếu chưa nắm vững các bạn có thể nhờ những dược sĩ tại các tiệm thuốc tây chỉ dẩn.

2) Ghi chép
Muốn theo dơi, so sánh áp huyết với mục tiêu đề ra của ḿnh, chúng ta cần có một quyển sổ nhỏ để ghi lại áp huyết chúng ta đo hàng ngày. Các bạn đo mỗi ngày một lần, hay có làm biếng lắm là ba ngày một lần, vào cùng khoảng thời gian như buổi tôi trước khi đi ngủ chẳng hạn.
Đề nghị là các bạn mua một quyển sổ tay cở 3'x4' (7.5cm x 10cm) có ṿng xoắn ở trên để dể dàng biên chép. Mỗi ngày trên 1 trang, bạn ghi lại ăn sáng món chi, ăn chơi giữa buổi món chi, ăn trưa món chi, buổi chiều ăn chơi món ǵ, buổi tối ăn chi, trước khi ngủ ăn chi. Mỗi bữa như vậy là một hàng. Và cuối cùng là bạn ghi lại cảm nghĩ của bạn về các món đă ăn như có cần thiết cho sức khoẻ không, có ích lợi ǵ cho sức khoẻ không, hay chỉ là ăn cho có, cho vui với bạn bè. Phần ghi cảm nghĩ này, bạn chỉ biên tối đa là 3 ḍng mà thôi. Không nên dài hơn..
Các bạn đừng coi thường chuyện ghi chép này v́ đây chính là yếu tố quan trọng để bạn theo dơi sức khoẻ của ḿnh, là một khích lệ cho ḿnh khi thấy càng ngày sức khoẻ ḿnh càng khá hơn, và cũng để chứng minh với gia đ́nh, bạn bè chung quanh là ḿnh có thể kiểm soát lấy sức khoẻ chính ḿnh.
Nhớ nha, bạn đi mua liền các món kể trên đi trước khi tiêu hết tiền trong mấy ngày Tết sắp đến.

3) Uống nước cho đầy đủ - 2 lít trong một ngày
Đây là việc quan trọng nhất chúng ta phải làm hàng ngày. Không cứ ǵ người bị áp huyết cao mới cần uống đầy đủ nước trong ngày. Ai cũng đều cần uống đủ số lượng nước cần thiết - tối thiểu là 2 lít nước lọc hay nước suối hàng ngày. Ngoài chuyện làm máu kém tính chất luân lưu, thiếu nước trong người là đầu mối cho bao nhiêu chuyện như làm táo bón, người trở nên nóng nảy, tiểu tiện khó khăn, gan phải làm việc mệt nhọc hơn, v.v. Nhưng làm sao để nhắc nhở chúng ta việc uống nước cho đây đủ, nhứt là với những bạn măi mê làm việc và hay sợ uống nước nhiều lại đâm ra hay đi tiểu tiện. Thật ra chỉ có vài ngày đâu là bạn đi tiểu nhiều mà thôi, sau đó sẽ trở lại b́nh thường. Đề nghị cách uống nước cho dễ dàng:
- buổi sáng bạn uống liền 1 lít (khoảng 4 cups của Mỹ), sao đó vào sở uống 2, 3 ly, chiều tối về 2, 3 ly nữa là ngon lành rồi.
- nếu không thích uống ngay 1 lít vào buổi sáng, chúng ta có thể lấy b́nh nhựa 2 lít (b́nh sửa củ rữa sạch) để bên cạnh gần chổ làm việc, và sự hiện diện của b́nh nước sẽ nhắc nhở chúng ta uống cho đầy đủ, trăi dài suốt ngày. C̣n không đôi lúc bận chuyện, măi mê làm việc, chúng ta chỉ uống có một hoặc hai ly cà phê nguyên cả ngày. Tối về th́ mệt quá chẳng muốn uống, hay uống không nổi nữa rồi.
Và nếu bạn có uống hơn 2 lít như 2 lít rưỡi cũng không sao. Những bạn nào bí tiểu tiện, hay bị nóng mặt nhức đầu, chảy máu cam cứ thử uống xem. Bạn sẽ thấy vấn đề của bạn sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng.

4) Điều chỉnh lượng muối (sodium) thu thập vào người
Để cơ thể được hoạt động đúng mức, tỉ số giữa chất muối và chất kiềm (sodium & potassium) cần thiết là cứ một phần muối ba phần kiềm. Lệch lạc số lượng này đều không tốt cho sức khoẻ con người. Sự lệch lạc giữa chất muối và kiềm thường là không thành vấn đề, bởi v́ chúng ta có thể hấp thụ lượng muối hay kiềm cần thiết trong thức ăn. Nhưng khổ nổi là chúng ta tiêu thụ nhiều muối quá.
Khi lượng muối trong người quá nhiều th́ cơ thể làm thế nào để trở lại quân b́nh?
Đầu tiên, thận có nhiệm vụ thải ra số lọc và thải ra số muối thừa. Nhưng v́ số muối dư quá nhiều và thận lọc không hết, cơ thể chúng ta sẽ tự động gia tăng áp huyết để bắt quả thận thải ra nhiều chất muối hơn. Khi cơ thể cứ phải tăng áp huyết để lọc lượng muối thừa th́ càng ăn mặn chúng ta càng rút ngắn đường về thiên đàng. :-)

Vài cách giản dị làm giảm áp huyết cao


Viết đến đây, tôi sực nhớ đến tỉ số potassium/sodium (K-factor) mà giáo sư Oshawa đề nghị trong phương pháp dưỡng sinh do ông đề xướng là 5 - cứ 5 phần potassium cho 1 phần sodium, tức là c̣n hơn phần cần thiết tối thiểu cho cơ thể là 3 phần potassium cho 1 phần sodium. Có nghĩa là cách ăn của giáo sư Oshawa rất lạt. Chỉ có điều tôi không đồng ư với cách thức của phương pháp dưỡng sinh này là uống ít nước quá. Khi uống quá ít nước trong thời gian ngắn chữa bệnh th́ c̣n chấp nhận được, nhưng kéo dài hàng năm hay suốt đời th́ tôi không đồng ư. Quá ít nước trong thời gian dài chắc chắn sẽ làm hại gan v́ khó khăn trong việc thanh lọc, tiểu tiện khô và bí dễ đi đến ung thư bàng quang (prostate cancer), dễ làm cho con người trở nên nóng nảy, khô khan, v.v.

Các nhà khảo cổ cho biết tiền nhân chúng ta khoảng 10,000 năm trước tỉ số potassium/sodium thường là 16, hay trên 16. Trong các nước kỷ nghệ hiên nay như Mỹ, Âu châu hiện nay là 0.8. Cơ thể phải làm việc nhiều hơn để thải chất muối (sodium) dư ra ngoài, đồng thời giử lại potassium. Thông thường cơ thể khắc phục công việc này dễ dàng, chỉ tội là cùng lúc làm tăng áp huyết lên theo.

Cơ thể cần dùng hàng ngày vào khoảng 200-250 mg chất muối (sodium), tương đương với 650mg muối mỏ (salt), và khoảng 1,000mg chất kiềm (potassium). Và các bạn có biết là 1/4 muổng uống trà (teaspoon) muối mỏ dùng trong nhà có bao nhiêu "sodium" không? Câu tră lời sẽ làm bạn hết hồn 540mg "sodium", nghĩa là hơn gấp đôi số lượng cần dùng cho cơ thể trong một ngày. Trong khi đó hầu như muối được sử dụng vô tội vạ trong các món ăn bán chung quanh chúng ta. Các bạn cứ thử cầm 1 lon nước ngọt, 1 b́nh juice, 1 gói khoai tây chiên, 1 bịt phó mát, 1 cây xúc xích... và đọc thử xem số lượng "sodium" nằm trong đó là bao nhiêu. Đọc xong chắc bạn cũng đồng ư với tôi là chúng ta bệnh là phải thôi. :-)

Lư do ǵ đă khiến các nhà sản xuất thực phẩm dùng muối nhiều như vậy?

Lư do đầu tiên là v́ muối giúp cho thực phẩm đóng hộp lâu hư, thứ đến là giúp cho món ăn có khẩu vị đậm đà hơn, cuối cùng là giá phí của muối rẻ như bèo. Ngày xưa làm muối từ nước biển khó khăn biết bao, chuyên chở cũng khó nên các chính quyền thường độc quyền phân phối, hoặc đánh thuế trên muối rất nặng. Ngày nay th́ muối tràn đồng, bất cứ món ǵ cũng đều cho vào, nhiều khi không cần. Lấy ví dụ như bột ngọt chẳng hạn, chất sodium vẫn nằm trong thành phần cấu tạo.

Cơ quan FDA của Mỹ mô tả khoảng cách "đầy đủ và an toàn" cho cơ thể là 1,100 đến 3,300 milligrams chất sodium và 1,875 đến 5,625 milligrams chất potassium. Nhưng chữ "đầy đủ và an toàn" không có nghĩa là "cần thiết". Ư nghĩa của nó là đối với hầu hết các người, không bị áp huyết cao, họ có thể tiêu thụ chất sodium trong khoảng đó mà sức khoẻ vẫn tốt, b́nh thường (satisfactory health), tức là không có triệu chứng ǵ quá độ xảy ra.

Nhiều người đă đề nghị FDA viết lại lời khuyến cáo của họ là giới hạn số lượng sodium tối đa là 1,500 milligrams hàng ngày và chất potassium tối thiểu là gấp ba lần, nghĩa là 4,500 milligrams potassium. Đối với những người mà chỉ số áp huyết thấp (diastolic) lên đến 85 th́ chất sodium cần rút xuống c̣n 1,000 milligrams và chất potassium cần ít nhất là gấp bốn lần. Muốn nói ǵ th́ nói, điều chúng ta cần tâm niệm là cứ một phần sodium và tối thiểu là ba phần potassium trong các thức ăn chúng ta đem vào người.

Trong các loại thịt, gà, cá, tỉ số thường thấy là 1 phần sodium cho 3 đến 6 phần potassium. Trong khi đó th́ trong rau quả lượng potassium lại thường từ 10 trở lên.

So sánh giữa các thực phẩm, chúng ta thấy:
Một quả táo cho 1mg Sodium, 159mg Potassium, tức K=159
Một trái Avocado (bơ) cho 21mg Sodium, 1,097mg Potassium, K=52
Một trái bắp cho 4mg Sodium, 226mg Potassium, K=56
Một chén cornflakes (cerial) cho 351mg Sodium, 26mg Potassium, K=0.07
Một khúc Hot Dog cho 461mg Sodium, 71mg Potassium, K=0.15
Một lát Frozen Meat Loaf (5oz) cho 951mg Sodium, 196mg Potassium, K=0.20
Một miếng Apple Pie đông lạnh cho 298mg Sodium, 73mg Potassium, K=0.24

Tóm lại là trong rau cỏ, đậu, trái cây, lượng potassium thường nhiều hơn là sodium.
Vài lời khuyên trong việc cân bằng lượng muối (sodium) trong người:
a) tránh các món ăn làm sẳn nêm nếm bằng muối mỏ hay muối biển (salt/sea salt),
cool.gif tránh các món làm sẳn mà không ghi rơ lượng potassium, sodium trên nhản,
c) không ăn các loại thực phẩm có quá nhiều sodium,
d) không thêm muối vào các món ăn; hơi khó một chút nhưng chúng ta có thể thay thế bằng bột hành, bột tỏi, hay bằng "Mrs. Dash's nonsalt herbs and spices" chẳng hạn,
e) ăn tráng miệng bằng các loại trái cây, ăn cà rem cũng được nhưng nên tránh các nón bánh ngọt nướng (cakes, pies),
f) mua một quyển chỉ cách nấu các món ít muối "low-sodium cookbook", hay "macrobiotic cooking" để làm kim chỉ nam.
g) nên có một bảng liệt kê lượng potassium và sodium trong thực phẩm troong bếp, hoặc mỗi khi đi chợ.
Đọc đến đây hẳn các bạn hiểu tại sao những người cao huyết áp sau khi uống nước cốt 5 loại rau xanh, hay cần tây/tàu, sau vài ngày th́ áp huyết đi xuống rồi phải không? :-)
5) Gia tăng tiêu thụ thực phẩm có nhiều chất xơ (fiber)

Các nguyên nhân chính gây ra t́nh trạng áp huyết cao là do mập ph́, dư muối, căng thẳng trong đời sống (stress). Chất xơ không là nguyên tố trực tiếp nhưng đóng góp không ít trong việc phát triển bệnh trạng. Và trung b́nh cho người cân nặng 125lbs cần nên có 25 grams chất xơ trong các thức ăn hàng ngày, người nặng 200lbs cần khoảng 35grams chất xơ.
Chất xơ cần thiết cho việc tiêu hoá thực phẩm mà chúng ta đem vào người. Nhưng nó sẽ không thể làm việc đúng mức nếu thiếu nước đi kèm. Nhớ nha bạn, mỗi ngày bạn cần uống tối thiểu là 8 ly nước, tương đương với 2 lít đó nha.

6) Tập thể dục đều đặn
Nh́n lại ngày c̣n trẻ ở lứa tuổi 20, 30, chúng ta ăn ít mà lại tập thể dục thể thao cả mấy tiếng trong ngày. Cộng thêm đó lại đi cắm trại, sống ngoài trời thiếu thốn, cùng ca hát với bạn bè. Bây giờ ở vào số tuổi 50, 60, ngoài chuyện ăn uống quá nhiều, hết sinh nhật, đến lễ cưới, đầy tháng, chúng ta lại không để ư đến việc vận động cơ thể. Các bạn cứ ngồi nhắm mắt nh́n lại và so sánh sinh hoạt của thời 20/30 với hiện nay th́ biết tại sao ḿnh lại bị áp huyết cao, dư cân, cao mỡ, cao đường,...
Bằng cách thể dục đều đặn như 5 ngày/tuần, mỗi ngày đốt khoảng 300 calories, là bạn có thể xuống 1lb dễ dàng trong tuần, nếu lượng calories đem vào của bạn đúng hay dưới mức cơ thể đ̣i hỏi. Nếu chúng ta có mục tiêu là giảm 10lbs th́ chúng ta có thể thực hiện điều này trong 10 tuần một cách nhẹ nhàng.

7) Tập nghỉ ngơi (thiền, thư giản, tỉnh tâm, meditation, v.v.)
Qua nhiều thí nghiệm chúng ta đọc trên báo chí là nhờ vào các phương pháp thiền, tỉnh tâm, chúng ta có thể đem áp huyết xuống thấp hơn b́nh thường từ 5 đến 10mm.

8) Kiểm soát áp lực đời sống và phản ứng của ḿnh
Có vài điều mà chúng ta có thể áp dụng để giúp chúng ta bớt căng thẳng thần kinh (stress):
- chuyện ǵ xảy ra th́ cũng xảy ra rồi, ḿnh chẳng làm sao mà quay ngược thời gian,
- chấp nhận hoàn cảnh, không giận dử đổ thừa cho ai,
- nh́n sự việc xảy ra với khía cạnh lạc quan, và tếu với nó.
- nhắm mắt và thở sâu (deep breath) chừng năm, mười hơi.

9) Bớt/bỏ rượu, thuốc lá
Ngoài chuyện làm hại cơ thể, rút ngắn đời sống, chúng c̣n làm giảm phần thưởng thức cuộc đời của chúng ta. Nếu đang bị cao áp huyết, các bạn nên thử nghiệm bằng cách rút xuống số lượng hàng ngày từ 3, 4 xuống c̣n 1 lon bia/ly rượu. Nếu áp huyết vẫn không thay đổi th́ hay nhất là bạn bỏ hẳn.

Một khi đă hiểu biết về t́nh trạng sức khoẻ và nguyên nhân gây ra nó, bạn sẽ bỏ các thú vui tai hại này dễ dàng. Nếu bạn lại tập thiền và ăn uống ít muối, ít đường, bạn sẽ không c̣n cảm thấy sự cần thiết của rượu, thuốc lá để đạt đến trạng thái thoải mái, an lạc, v́ thiền (meditation) đă cho bạn đầy đủ hết rồi.

Hi vọng bài viết đem lại các bạn một cái nh́n rơ hơn về t́nh trạng áp huyết cao và chọn cho ḿnh một hướng đi thích hợp.

Thân ái,

Nguyễn Đức Trọng


--------------------
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
NhaQue
post Jul 2 2010, 07:31 AM
Gửi vào: #4


NhàQuê
***

Nhóm: Admin
Bài viết đã gửi: 4,618
Tham gia: 26-January 05
Thành viên thứ: 8



Sugar, not just salt, linked to high blood pressure

By Amanda Gardner, Health.com
July 1, 2010 6:46 p.m. EDT




A new study says that above-average glucose consumption could be associated with high blood pressure.


(Health.com) -- Eating too much sodium can push your blood pressure into the danger zone. Now, researchers are reporting that eating too many sweets--or drinking too much soda--may have a similar effect.

People who consume a diet high in fructose, a type of sugar and a key ingredient in high-fructose corn syrup, are more likely to have high blood pressure (hypertension), according to a new study.

Drinking 2.5 cans or more of non-diet soda per day--or consuming an equivalent amount of fructose from other foods--increases your risk of hypertension by at least 30 percent, the study found. What's more, the increased risk appears to be independent of other dietary habits, including sodium, carbohydrate and overall calorie intake.

Health.com: 25 Shockingly Salty Foods

The study, which appears in the Journal of the American Society of Nephrology, focused on foods containing high-fructose corn syrup and other added sugars, such as soda, fruit punch, cookies, candy and chocolate. (Although fructose occurs naturally in fruits, the researchers excluded them because they contain other nutrients that are difficult to measure.)

"High-fructose corn syrup is very prevalent," says Dr. Michel Chonchol, M.D., the senior author of the study and a blood pressure specialist at the University of Colorado Denver Health Sciences Center, in Aurora. "If you go to grocery stores, it's everywhere."

Chonchol and his colleagues analyzed the diet and blood pressure readings of more than 4,500 U.S. adults with no history of hypertension. The data used in the study was collected in nationwide surveys over a four-year period by the Centers for Disease Control and Prevention, and also included information on health measures such as physical activity and body mass index.

Health.com: 25 Diet-Busting Foods You Should Never Eat

The researchers estimated each person's fructose intake using detailed diet questionnaires and nutrition information from the U.S. Department of Agriculture. The average fructose intake was 74 grams a day, an amount roughly equivalent to that found in 2.5 cans of soda.

People who consumed more than the average amount were more likely to have high blood pressure than people who consumed less, the researchers found. Above-average fructose intake increased the likelihood of having blood pressure above 140/90 and 160/100 mmHg by 30 percent and 77 percent, respectively. (Normal blood pressure is 120/80 or below, while anything above 140/90 is considered high.)

Hypertension can affect the health of blood vessels and is a leading risk factor for heart disease, kidney disease, and other ailments.

Health.com: The 50 Fattiest Foods in the States

The findings don't prove that fructose actually causes hypertension, however. Although the researchers took various health factors and dietary habits besides fructose intake into account, it's always possible that other, unknown factors explain the apparent link between fructose and hypertension, says Dr. Cheryl Laffer, M.D., an associate professor of internal medicine at Texas A&M Health Science Center College of Medicine, in Temple.

The study "doesn't tell us anything about causation," she says. "People who have high blood pressure may eat more fructose. It can go either way."

One important drawback of the study is that the participants reported their own diets based on memory, which makes the estimates of fructose intake less accurate.

But the study's limitations don't mean that people should feel free to go on sugar binges, Laffer says. "I wouldn't discourage people from eating less fructose, because we have evidence that high fructose [consumption] is not particularly good for you," she says.

Health.com: The Best Foods for Your Heart

Animal studies have linked fructose consumption to higher blood pressure, for instance, and a study published earlier this year in the journal "Circulation" suggested that cutting back on sugar-sweetened beverages may lower blood pressure.

In a statement, the Corn Refiners Association, a trade group representing manufacturers of high-fructose corn syrup, said that Chonchol and his colleagues were drawing "inaccurate conclusions about fructose." The association challenged the authors' estimate that 2.5 cans of soda contain about 74 grams of fructose, and also highlighted the inaccuracies of diet surveys that rely on memory.

"The risk of hypertension from fructose is not a matter of concern for the overwhelming majority of Americans," the association stated.

Health.com: Tricks to Lower Blood Pressure

Chonchol and his colleagues acknowledge that more research is needed to confirm a link between fructose and hypertension.

It's still unclear how fructose might affect blood pressure, for instance. One theory is that fructose might make the body absorb sodium more readily, Chonchol says. Fructose intake may also increase levels of uric acid, which has been shown to contribute to high blood pressure.



--------------------


Bốn góc ta trồng cây bông sứ
Đêm đêm hương thoảng nhớ đường xưa
Một mai cuối hết vùi đâu đó
C̣n thấy mùi thơm thuở đứng chờ

NhàQuêHànhHương/NhàQuêTrungHọcBaTri/TuyểnTậpThơVăn HÀNHHƯƠNG/DiễnĐànThơVănTINHKHÔI
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 Người đang đọc chủ đề này (1 Khách và 0 Người dấu mặt)
0 Thành viên:

 



Phiên bản thu gọn Bây giờ là: 21st October 2014 - 04:08 AM